Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
‘Thư gửi các thành phần gây rối ở hải ngoại’
Tạp Ghi Huy Phương
Nhu cầu không thể thiếu của chúng ta trong thời đại hôm nay là mỗi ngày phải mở hộp thư internet để liên lạc với bạn bè, thăm hỏi, biết đến tin tức nhau cũng trao đổi cùng nhau những điều tốt đẹp.
Ngày xưa các cụ bảo: “Thư trung hữu nữ nhan như ngọc,” nhưng ngày nay trong Internet chúng ta tìm được mỗi ngày hàng triệu điều mới lạ từ hình ảnh, âm nhạc, thi ca, kiến thức trong mọi lĩnh vực mà vì tình bạn bè, quen biết, nhiều người đã có nhã ý hằng ngày chuyển đến cho chúng ta. Nơi chỗ ngồi mỗi ngày của chúng ta hoàn toàn trống vắng và tựa như có một nỗi cô đơn khi chiếc máy computer của chúng ta đang gặp nạn trơ ra một khuôn mặt vô hồn hay bệnh tật phải tạm xa nhà đi một nơi khác.
Từ ngày chiếc máy computer ra đời và nguồn Internet đến với mọi nhà, bộ mặt thế giới đã đổi thay, phải nói là thế giới nằm gọn trong bàn tay chúng ta, không còn khoảng cách và cũng không có gì bưng bít, giấu kín được. Theo tài liệu năm 2010 của ITU (Internationnal Telecommunications Union), trên thế giới có 5 quốc gia sử dụng Internet cao nhất theo tỷ lệ dân số, theo thứ tự là Anh (82%), Nam Hàn, Ðức, Nhật và Mỹ (78.2%.) Nơi có dân số đông nhất thế giới là Trung Cộng thì chỉ có 36.3% dân số sử dụng Internet, đông dân thứ nhì là Ấn Ðộ chỉ có 8.4%. Trên thế giới có gần 7 tỷ người dùng Internet mỗi ngày. Cộng đồng người Việt ở hải ngoại đông nhất hiện đang ở nước Mỹ, đương nhiên số người sử dụng không ít, nhưng trên net, chỉ thấy quanh quẩn một số người “nổi tiếng,” “quen tên,” “nhẵn mặt,” mỗi ngày thường “tống” lên net những thứ rác rưởi dơ bẩn khiến cho người có lòng liêm sỉ cảm thấy hổ thẹn chung cho danh từ đồng hương, đồng bào cho đến đồng môn, đồng ngũ...
Trước hết Internet là nơi để người ta chống phá, bêu riếu tôn giáo. Từ mấy năm qua, Phật Giáo cũng như Thiên Chúa Giáo, nhất là nhân biến cố 1 tháng 11, 1963, nên cứ đến những ngày đầu tháng 11 dương lịch mỗi năm, được bên này hay bên nọ, đem lên diễn đàn, mổ xẻ, nhiếc móc, kể tội kể tình nhau đủ lời. Chia rẽ tôn giáo là một tội nặng nhất để làm suy yếu sức mạnh của một dân tộc, trong giai đoạn này mà có người, trong nỗ lực chống Cộng còn phân biệt người này là đạo này, người kia là đạo khác. Ở đây chúng tôi không phê phán chuyện phải trái của những biến cố quân sự và chính trị trong lịch sử, không đứng về phía này hay phe kia, nhưng tệ hại nhất là chửi nhau bằng đủ thứ lời chưa đủ, người ta còn “hàm huyết phún nhân” dựng những câu chuyện tày trời để vu oan đến nhiều nhân vật, như bịa ra những câu chuyện giữa Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và bà Ngô Ðình Nhu, giữa Hòa Thượng Thích Ðôn Hậu và bà Tuần Chi.
Thứ đến là các cuộc tranh chấp bầu bán của các hội đoàn, đoàn thể đã xẩy ra trong cộng đồng người Việt của chúng ta không phải là ít. Sau cùng là những vụ vu cáo, mạ lỵ cá nhân mà người ta không ngần ngại bôi nhọ, đổi trắng thành đen, dùng những chứng cớ vu vơ không có một phần trăm sự thật để hạ nhục đối thủ. Nghe hoài cũng phải nửa tin nửa ngờ, người đọc đâm ra hồ nghi, mất lòng tin như mẹ chuyện thầy Mạnh Tử ngày trước. Lý luận “không có lửa sao có khói,” nói hoài cũng phải tin, được sử dụng kiên trì để đánh phá đối thủ.
Trong tinh thần “giỏ cua cộng đồng,” thấy ai hơn mình thì đem lòng ghen tức, triệt hạ, đánh phá cho đến cùng, dùng hết “bát ban võ nghệ,” “mười thành công lực” mà xuất chiêu! Người không vững lập trường chẳng biết đâu là chân là giả, ai là bạn ai là thù!
Trong tất cả ba địa hạt, tôn giáo, đoàn thể và cá nhân, “chụp mũ” cộng sản là phương thức, thủ đoạn được người ta dùng nhiều nhất trên Internet. Hầu hết chúng ta đều là người tị nạn cộng sản phải bỏ nước ra đi, không ai không thù ghét cộng sản, nên hô hoán, gán ép danh từ cộng sản cho người khác là món đòn độc hại nhất. Trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư có kể chuyện một người cỡi ngựa qua làng bị con chó chạy theo cắn sủa mãi, bực mình, y bèn lập mưu la lên rằng: “Chó dại! Chó dại!” Lập tức dân làng đổ xô ra giết chết con chó. Người ta dùng kỹ thuật “chụp mũ” cộng sản đến đỗi có lúc nhìn quanh trong cộng đồng người Việt chúng ta, giật thót mình thấy không còn ai là không cộng sản. Nhưng quả là đến hôm nay, trò “chụp nón cối” cho địch thủ không còn hữu hiệu nữa. Chụp mũ cộng sản cũng là một lối vu cáo, đổ tội không được chấp nhận gây chia rẽ, làm suy yếu hàng ngũ có lý tưởng chống Cộng của chúng ta ở hải ngoại. Lối vu cáo này dành cho cá nhân còn có thể hiểu được, người ta còn viết trên “net,” gọi đích danh một ngôi chùa là “một ổ Việt Cộng!” chỉ vì thù ghét, tranh chấp mà không nêu ra một bằng chứng nào. Nếu cứ mỗi điều bị xúc phạm, chúng ta vì danh dự phải đưa nhau ra tòa thì còn gì là bộ mặt của cộng đồng tỵ nạn Việt Nam nữa.
Có những vấn đề tế nhị hay gai góc nếu người đọc thấy quan tâm, thì nên từ tốn phân tích, thảo luận với nhau một cách đàng hoàng, chứ không phải chơi trò “cả vú lấp miệng em” đổ thùng phân vào Internet, vào trận là đã chửi phủ đầu. Ngay cả tác giả những bài viết gây bất lợi cho chế độ chuyên chế ở trong nước, cũng được chụp mũ là “đặc công VC nằm vùng,” làm cho người ta có cảm tưởng rằng ở hải ngoại luôn có một tổ chức của CS nhằm đánh phá và triệt hạ những ai có tinh thần chống Cộng.
Trên Internet của người Việt hải ngoại hiện nay mỗi ngày chúng ta phải đọc những chữ thô tục, bẩn thỉu nhất, những bộ phận sinh dục nam nữ được đem ra dùng, những phần thối tha nhất của con người được đem ra đổ lên đầu nhau không hề khoan nhượng, thương tiếc. Chúng ta vẫn không chấp nhận lối sống hay lời ăn tiếng nói gọi là “vô văn hóa” nhưng sao hải ngoại chúng ta lại có thể viết lên những lời, những chữ mà chúng ta không bao giờ muốn cho con cái chúng ta dùng đến và đỏ mặt xấu hổ khi nghe người khác nói. Nói dại, nếu con cháu quý vị đọc phải những lời như vậy, do chữ nghĩa nhờ công lao học hành của quý vị viết ra, chúng sẽ nghĩ thế nào về “văn hóa” các đấng sinh thành? Vậy mà chúng ta gặp nó hằng ngày bằng tiếng Việt yêu quý của chúng ta trên “in box” của mọi nhà. Nói là “thư rác” cũng còn quá nhẹ, vì có những thứ thối tha và dơ bẩn hơn cả rác vẫn hằng ngày hiện diện trước mắt chúng ta, dù đã mỏi tay cho vào “spam” hay “delete” mà vẫn không hết!
“Ném đá giấu tay” vẫn là chuyện thường ngày. Làm một địa chỉ hộp thư để viết thư nặc danh đâu phải là chuyện khó, cái khó trong lòng ta là liêm sỉ có cho chúng ta làm điều đó hay không? Vì sao những quân ăn cướp nhà băng phải đeo mặt nạ? Vì chúng sợ bị nhận diện. Nhưng những tấm mặt nạ này liệu che giấu được những khuôn mặt thật của chúng được bao lâu. Những “nick name” này tung hứng cho nhau, bàn tay phải viết ra và được bàn tay trái chuyển đi, đưa người nhận vào một trận địa mù mịt hận thù, gian trá.
Người Việt ở hải ngoại đã bỏ nước ra đi, ai cũng mang tinh thần chống Cộng, nhưng thay vì dùng internet như một vũ khí tranh đấu, đem sự thật về cho người trong nước, chuyển lửa cho quê hương, thì chúng ta dùng lại internet để chửi bới nhau tận tình, bôi bẩn khuôn mặt của nhau, chỉ làm lợi cho kẻ thù. Theo một thống kê mới đây thì số người sử dụng Internet ở Việt Nam khá cao, có 32.3% dân số, nên mỗi ngày nếu người dân trong nước đọc được những tin tức xác thực từ thế giới bên ngoài về chuyện tranh đấu cho dân chủ thì cũng thất vọng vì “trận chiến” Internet làm xấu đi khuôn mặt hải ngoại.
Chính ông Lý Ðông ở Hà Nội, ngày 18 tháng 2 nhân vụ Việt Khang đã có những suy nghĩ về chuyện Internet ở hải ngoại trong một bài nhan đề là: “Thư gửi các thành phần gây rối ở hải ngoại” như sau: “Vì không thể hành động chống Cộng trực diện, vì khó có thể về Việt Nam biểu tình bởi sự ngăn cấm của bạo quyền hiện tại, tôi thiết nghĩ ở hải ngoại, ngoài việc chống Cộng vận động về truyền thông, chuyển lửa về quê hương, hay đi biểu tình... thì quý vị cũng có những việc làm rất hiệu quả về phương diện vận động quốc tế về nhân quyền và gây áp lực về viện trợ kinh tế và giao thương lên nhà cầm quyền CSVN.”
“...Tuy nhiên bên cạnh đó, một số người vì những nghi kỵ cá nhân, hay vì tay sai của cộng sản... đã có những lời lẽ không mấy trong sạch, với những thắc mắc trái với con đường đấu tranh, quy chụp người tích cực đấu tranh, làm trái với niềm tin của người yêu nước đang ngồi tù mà nhạc sĩ Việt Khang là một...”
Hai tiếng “gây rối” của một người trong nước quả là còn quá nhẹ, cho những người trong cộng đồng hải ngoại, mỗi ngày đang chăm chỉ đổ những thứ dơ bẩn vào những hộp thư sạch sẽ của chúng ta.
Tạp Ghi Huy Phương
Nhu cầu không thể thiếu của chúng ta trong thời đại hôm nay là mỗi ngày phải mở hộp thư internet để liên lạc với bạn bè, thăm hỏi, biết đến tin tức nhau cũng trao đổi cùng nhau những điều tốt đẹp.
Ngày xưa các cụ bảo: “Thư trung hữu nữ nhan như ngọc,” nhưng ngày nay trong Internet chúng ta tìm được mỗi ngày hàng triệu điều mới lạ từ hình ảnh, âm nhạc, thi ca, kiến thức trong mọi lĩnh vực mà vì tình bạn bè, quen biết, nhiều người đã có nhã ý hằng ngày chuyển đến cho chúng ta. Nơi chỗ ngồi mỗi ngày của chúng ta hoàn toàn trống vắng và tựa như có một nỗi cô đơn khi chiếc máy computer của chúng ta đang gặp nạn trơ ra một khuôn mặt vô hồn hay bệnh tật phải tạm xa nhà đi một nơi khác.
Từ ngày chiếc máy computer ra đời và nguồn Internet đến với mọi nhà, bộ mặt thế giới đã đổi thay, phải nói là thế giới nằm gọn trong bàn tay chúng ta, không còn khoảng cách và cũng không có gì bưng bít, giấu kín được. Theo tài liệu năm 2010 của ITU (Internationnal Telecommunications Union), trên thế giới có 5 quốc gia sử dụng Internet cao nhất theo tỷ lệ dân số, theo thứ tự là Anh (82%), Nam Hàn, Ðức, Nhật và Mỹ (78.2%.) Nơi có dân số đông nhất thế giới là Trung Cộng thì chỉ có 36.3% dân số sử dụng Internet, đông dân thứ nhì là Ấn Ðộ chỉ có 8.4%. Trên thế giới có gần 7 tỷ người dùng Internet mỗi ngày. Cộng đồng người Việt ở hải ngoại đông nhất hiện đang ở nước Mỹ, đương nhiên số người sử dụng không ít, nhưng trên net, chỉ thấy quanh quẩn một số người “nổi tiếng,” “quen tên,” “nhẵn mặt,” mỗi ngày thường “tống” lên net những thứ rác rưởi dơ bẩn khiến cho người có lòng liêm sỉ cảm thấy hổ thẹn chung cho danh từ đồng hương, đồng bào cho đến đồng môn, đồng ngũ...
Trước hết Internet là nơi để người ta chống phá, bêu riếu tôn giáo. Từ mấy năm qua, Phật Giáo cũng như Thiên Chúa Giáo, nhất là nhân biến cố 1 tháng 11, 1963, nên cứ đến những ngày đầu tháng 11 dương lịch mỗi năm, được bên này hay bên nọ, đem lên diễn đàn, mổ xẻ, nhiếc móc, kể tội kể tình nhau đủ lời. Chia rẽ tôn giáo là một tội nặng nhất để làm suy yếu sức mạnh của một dân tộc, trong giai đoạn này mà có người, trong nỗ lực chống Cộng còn phân biệt người này là đạo này, người kia là đạo khác. Ở đây chúng tôi không phê phán chuyện phải trái của những biến cố quân sự và chính trị trong lịch sử, không đứng về phía này hay phe kia, nhưng tệ hại nhất là chửi nhau bằng đủ thứ lời chưa đủ, người ta còn “hàm huyết phún nhân” dựng những câu chuyện tày trời để vu oan đến nhiều nhân vật, như bịa ra những câu chuyện giữa Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và bà Ngô Ðình Nhu, giữa Hòa Thượng Thích Ðôn Hậu và bà Tuần Chi.
Thứ đến là các cuộc tranh chấp bầu bán của các hội đoàn, đoàn thể đã xẩy ra trong cộng đồng người Việt của chúng ta không phải là ít. Sau cùng là những vụ vu cáo, mạ lỵ cá nhân mà người ta không ngần ngại bôi nhọ, đổi trắng thành đen, dùng những chứng cớ vu vơ không có một phần trăm sự thật để hạ nhục đối thủ. Nghe hoài cũng phải nửa tin nửa ngờ, người đọc đâm ra hồ nghi, mất lòng tin như mẹ chuyện thầy Mạnh Tử ngày trước. Lý luận “không có lửa sao có khói,” nói hoài cũng phải tin, được sử dụng kiên trì để đánh phá đối thủ.
Trong tinh thần “giỏ cua cộng đồng,” thấy ai hơn mình thì đem lòng ghen tức, triệt hạ, đánh phá cho đến cùng, dùng hết “bát ban võ nghệ,” “mười thành công lực” mà xuất chiêu! Người không vững lập trường chẳng biết đâu là chân là giả, ai là bạn ai là thù!
Trong tất cả ba địa hạt, tôn giáo, đoàn thể và cá nhân, “chụp mũ” cộng sản là phương thức, thủ đoạn được người ta dùng nhiều nhất trên Internet. Hầu hết chúng ta đều là người tị nạn cộng sản phải bỏ nước ra đi, không ai không thù ghét cộng sản, nên hô hoán, gán ép danh từ cộng sản cho người khác là món đòn độc hại nhất. Trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư có kể chuyện một người cỡi ngựa qua làng bị con chó chạy theo cắn sủa mãi, bực mình, y bèn lập mưu la lên rằng: “Chó dại! Chó dại!” Lập tức dân làng đổ xô ra giết chết con chó. Người ta dùng kỹ thuật “chụp mũ” cộng sản đến đỗi có lúc nhìn quanh trong cộng đồng người Việt chúng ta, giật thót mình thấy không còn ai là không cộng sản. Nhưng quả là đến hôm nay, trò “chụp nón cối” cho địch thủ không còn hữu hiệu nữa. Chụp mũ cộng sản cũng là một lối vu cáo, đổ tội không được chấp nhận gây chia rẽ, làm suy yếu hàng ngũ có lý tưởng chống Cộng của chúng ta ở hải ngoại. Lối vu cáo này dành cho cá nhân còn có thể hiểu được, người ta còn viết trên “net,” gọi đích danh một ngôi chùa là “một ổ Việt Cộng!” chỉ vì thù ghét, tranh chấp mà không nêu ra một bằng chứng nào. Nếu cứ mỗi điều bị xúc phạm, chúng ta vì danh dự phải đưa nhau ra tòa thì còn gì là bộ mặt của cộng đồng tỵ nạn Việt Nam nữa.
Có những vấn đề tế nhị hay gai góc nếu người đọc thấy quan tâm, thì nên từ tốn phân tích, thảo luận với nhau một cách đàng hoàng, chứ không phải chơi trò “cả vú lấp miệng em” đổ thùng phân vào Internet, vào trận là đã chửi phủ đầu. Ngay cả tác giả những bài viết gây bất lợi cho chế độ chuyên chế ở trong nước, cũng được chụp mũ là “đặc công VC nằm vùng,” làm cho người ta có cảm tưởng rằng ở hải ngoại luôn có một tổ chức của CS nhằm đánh phá và triệt hạ những ai có tinh thần chống Cộng.
Trên Internet của người Việt hải ngoại hiện nay mỗi ngày chúng ta phải đọc những chữ thô tục, bẩn thỉu nhất, những bộ phận sinh dục nam nữ được đem ra dùng, những phần thối tha nhất của con người được đem ra đổ lên đầu nhau không hề khoan nhượng, thương tiếc. Chúng ta vẫn không chấp nhận lối sống hay lời ăn tiếng nói gọi là “vô văn hóa” nhưng sao hải ngoại chúng ta lại có thể viết lên những lời, những chữ mà chúng ta không bao giờ muốn cho con cái chúng ta dùng đến và đỏ mặt xấu hổ khi nghe người khác nói. Nói dại, nếu con cháu quý vị đọc phải những lời như vậy, do chữ nghĩa nhờ công lao học hành của quý vị viết ra, chúng sẽ nghĩ thế nào về “văn hóa” các đấng sinh thành? Vậy mà chúng ta gặp nó hằng ngày bằng tiếng Việt yêu quý của chúng ta trên “in box” của mọi nhà. Nói là “thư rác” cũng còn quá nhẹ, vì có những thứ thối tha và dơ bẩn hơn cả rác vẫn hằng ngày hiện diện trước mắt chúng ta, dù đã mỏi tay cho vào “spam” hay “delete” mà vẫn không hết!
“Ném đá giấu tay” vẫn là chuyện thường ngày. Làm một địa chỉ hộp thư để viết thư nặc danh đâu phải là chuyện khó, cái khó trong lòng ta là liêm sỉ có cho chúng ta làm điều đó hay không? Vì sao những quân ăn cướp nhà băng phải đeo mặt nạ? Vì chúng sợ bị nhận diện. Nhưng những tấm mặt nạ này liệu che giấu được những khuôn mặt thật của chúng được bao lâu. Những “nick name” này tung hứng cho nhau, bàn tay phải viết ra và được bàn tay trái chuyển đi, đưa người nhận vào một trận địa mù mịt hận thù, gian trá.
Người Việt ở hải ngoại đã bỏ nước ra đi, ai cũng mang tinh thần chống Cộng, nhưng thay vì dùng internet như một vũ khí tranh đấu, đem sự thật về cho người trong nước, chuyển lửa cho quê hương, thì chúng ta dùng lại internet để chửi bới nhau tận tình, bôi bẩn khuôn mặt của nhau, chỉ làm lợi cho kẻ thù. Theo một thống kê mới đây thì số người sử dụng Internet ở Việt Nam khá cao, có 32.3% dân số, nên mỗi ngày nếu người dân trong nước đọc được những tin tức xác thực từ thế giới bên ngoài về chuyện tranh đấu cho dân chủ thì cũng thất vọng vì “trận chiến” Internet làm xấu đi khuôn mặt hải ngoại.
Chính ông Lý Ðông ở Hà Nội, ngày 18 tháng 2 nhân vụ Việt Khang đã có những suy nghĩ về chuyện Internet ở hải ngoại trong một bài nhan đề là: “Thư gửi các thành phần gây rối ở hải ngoại” như sau: “Vì không thể hành động chống Cộng trực diện, vì khó có thể về Việt Nam biểu tình bởi sự ngăn cấm của bạo quyền hiện tại, tôi thiết nghĩ ở hải ngoại, ngoài việc chống Cộng vận động về truyền thông, chuyển lửa về quê hương, hay đi biểu tình... thì quý vị cũng có những việc làm rất hiệu quả về phương diện vận động quốc tế về nhân quyền và gây áp lực về viện trợ kinh tế và giao thương lên nhà cầm quyền CSVN.”
“...Tuy nhiên bên cạnh đó, một số người vì những nghi kỵ cá nhân, hay vì tay sai của cộng sản... đã có những lời lẽ không mấy trong sạch, với những thắc mắc trái với con đường đấu tranh, quy chụp người tích cực đấu tranh, làm trái với niềm tin của người yêu nước đang ngồi tù mà nhạc sĩ Việt Khang là một...”
Hai tiếng “gây rối” của một người trong nước quả là còn quá nhẹ, cho những người trong cộng đồng hải ngoại, mỗi ngày đang chăm chỉ đổ những thứ dơ bẩn vào những hộp thư sạch sẽ của chúng ta.

Sắc màu của tình bạn
Có một ngày sắc màu của thế giới này bắt đầu tranh luận với nhau xem ai có gam màu đẹp nhất, quan trọng nhất, hữu dụng nhất và được yêu thích nhất.
Xanh lá cây nói: "Tôi quan trọng nhất. Tôi là dấu hiệu của sự sống và hy vọng. Tôi được chọn màu cho cỏ cây, hoa lá. Không có tôi, tất cả mọi loài trên thế gian này sẽ không thể tồn tại. Cứ hãy nhìn về cánh đồng kia, bạn sẽ thấy một màu xanh bạt ngàn của tôi".
Xanh dương chen vào: "Bạn có nghĩ về trái đất. Vậy bạn hãy nghĩ về bầu trời và đại dương xem sao. Nước chính là nguồn sống cơ bản nhất, được tạo ra bởi những đám mây hình thành bởi những vùng biển rộng lớn này. Hơn nữa, bầu trời sẽ cho khoảng không rộng lớn, hòa bình và sự êm ả".
Màu vàng cười lớn: "Ôi các bạn cứ quan trọng hóa. Tôi thì thực tế hơn, tôi đem lạ tiếng cười, hạnh phúc và sự ấm áp cho thế giới này. Này nhé, mặt trời màu vàng, mặt trăng màu vàng và các vì sao cũng màu vàng. Mỗi khi bạn nhìn vào một đóa hướng dương, bạn sẽ cảm thấy cả thế giới này đang mỉm cười. Không có tôi cả thế giới này sẽ không có niềm vui".
Màu cam lên tiếng: "Tôi là gam màu của sự mạnh khoẻ và sức mạnh. Mặc dù lượng màu của tôi không nhiều bằng các bạn, nhưng tôi mới đáng giá nhất vì tôi là nhu cầu của sự sống. Tôi mang đến hầu hết các vitamin tối quan trọng như cà rốt, cam, xoài, bí ngô, đu đủ ...Tôi không ở bên ngoài nhiều nhưng khi bình minh hay hoàng hôn xuất hiện là màu sắc của tôi. Ở đây có bạn nào sánh kịp được với vẻ đẹp ấy không ?".
Màu đỏ không thể nhịn được cũng nhảy vào cuộc: "Tôi là máu, cuộc sống này là máu. Tôi là màu sắc của sự đe dọa nhưng cũng là biểu tượng của lòng dũng cảm. Tôi mang lửa đến cho con người. Tôi sẵn sàng chiến đấu vì mục đích cao cả. Không có tôi, trái đất này sẽ trống rỗng như mặt trăng. Tôi là sắc màu của tình yêu và đam mê, của hoa hồng đỏ, của hoa anh túc".
Màu tím bắt đầu vươn lên góp tiếng: "Tôi tượng trưng cho quyền lực và lòng trung thành. Vua chúa thường chọn tôi vì tôi là dấu hiệu của quyền năng và sự xuất chúng. Không ai dám chất vấn tôi. Họ chỉ nghe lệnh và thi hành!".
Cuối cùng, màu chàm lên tiếng, không ồn ào nhưng đầy quyết đoán: "Hãy nghĩ đến tôi. Tôi là sắc màu im lặng và hầu như không ai chú ý đến tôi. Nhưng nếu không có tôi thì các bạn cũng chỉ là vẻ đẹp bên ngoài. Tôi tượng trưng cho suy nghĩ và sự tương phản, bình minh và đáy sâu cả biển cả. Các bạn phải cần đến tôi để cân bằng cho bề ngoài của các bạn. Tôi chính là vẻ đẹp bên trong".
Và cứ thế các sắc màu cứ tiếp tục tranh luận, thuyết phục màu khác về sự trội hơn của mình. Bỗng một ánh chớp sáng lóe trên nền trời, âm thanh dữ dội của sấm sét và mưa bắt đầu nặng hạt. Các sắc màu sợ hãi đứng nép sát vào nhau để tìm sự ấm áp.
Mưa nghiêm nghị nói: "Các bạn thật là ngớ ngẩn khi chỉ cố gắng vật lộn với chính các bạn. Các bạn không biết các bạn được tạo ra từ một mục đính thật đặc biệt, đồng nhất nhưng cũng khác nhau? Các bạn là những màu sắc thật tuyệt vời. Thế giới này sẽ trở nên nhàm chán nếu thiếu một trong các bạn. Nào, bây giờ hãy nắm lấy tay nhau và bước nhanh đến tôi".
Các màu sắc cùng nắm lấy tay nhau và tạo thành những màu sắc đa dạng.
Mưa tiếp tục: "Và từ bây giờ, mỗi khi trời mưa tất cả các bạn sẽ vươn ra bầu trời bằng chính màu sắc của mình và phải hợp lại thành vòng để nhắc nhở rằng các bạn phải luôn sống trong hòa thuận, và ta gọi đó là cầu vồng. Cầu vồng tượng trưng cho niềm hy vọng của ngày mai".
Và cứ như thế mỗi khi trời mưa, để gội rửa thế giới này, trên nền trời sẽ ánh lên những sắc cầu vồng làm đẹp thêm cho cuộc sống, để nhắc nhở chúng ta phải luôn luôn tôn trọng lẫn nhau.
Đá Mòn Nhưng Dạ Chẳng Mòn
Tiểu Tử Vợ chồng tôi dọn về ở trong cái làng nhỏ này đã hơn ba tháng. Mấy đứa con của chúng tôi nói : ỡ Ba má già rồi mà ở trong Paris đâu có tốt. Nội cái không khí ô nhiễm cũng đủ làm cho ba má bịnh lên bịnh xuống hoài ữ. Vậy là chúng nó kiếm mua một cái nhà ở xa Paris . . .
Nhà có đất chung quanh, có mấy cây pomme, mấy cây cerise. Hồi dọn về là đầu mùa xuân , mấy cây đó trổ bông màu hường màu trắng đầy cành. Ở mấy nhà hàng xóm cũng vậy, hoa nở rộ hầu như cùng một lúc, nên trông thật là đẹp mắt.
Biết là mùa xuân nhờ hoa nở và chồi non, chớ thật ra thời tiết ở Pháp mấy năm gần đây đi . . . trật lất. Mùa xuân mà cứ tưởng như mùa thu, cứ mưa lất phất rồi hết mưa là trời đổ sương mù. Cứ như vậy kéo dài đến bây giờ, theo trong lịch, là đã đầu mùa hè mà vẫn còn nghe lành lạnh !
Hôm nay tự nhiên trời bỗng trở nắng. Nắng thật ấm, thật trong. Người ta vội vã mang đồ ra phơi đầy sân : quần áo, drap, mền . . . Đủ màu sắc, đủ cỡ, coi vui nhộn như một ngày lễ !
Tôi cũng thấy phấn khởi, bèn rủ nhà tôi đi chơi một vòng. Bởi vì từ ngày dọn về đây, ngoại trừ những lúc phải ‘xẹt’ ra tiệm thịt, lò bánh mì, hàng rau cải v.v. . . chúng tôi cứ ru rú ở trong nhà vì thời tiết xấu. Nhà tôi không chịu đi, nên tôi đi mình ên . . .
Làng này tuy nhỏ nhưng ngăn nắp, sạch sẽ. Ở đâu cũng thấy trồng bông : dọc theo vỉa hè, ở các ngã ba ngã tư, mặt tiền nhà phố . . . Giữa làng là một nhà thờ nho nhỏ nằm trên một vuông đất cao hơn mặt đường gần một mét, cũng trồng đầy bông.
Chảy ngang qua làng là một con suối nhỏ, rộng độ mươi thước, chui dưới cây cầu đá rối uốn khúc quanh quanh trước khi rời làng xuôi về phía dưới. Hai bên bờ suối là hai con đường tráng xi-măng chạy dọc theo hai hàng cây. Rải rác, có mấy băng gỗ đóng thô sơ, nhưng vẫn nằm giữa những lùm bông đầy màu sắc. Có nơi, không hiểu sao người ta đặt băng gỗ nằm cạnh bờ nước giống như làm chỗ ngồi cho người đi câu !
Tôi ngồi xuống một cái băng cạnh bờ nước. Vì không nằm dưới tàn cây nên ở đó đầy nắng. Tôi đốt điếu thuốc rồi nhìn quanh : chẳng có ai hết. Nhớ lại, dân trong làng chỉ đổ ra đường vào ngày chủ nhựt, bởi vì ngày đó nhóm chợ lộ thiên và lại là ngày phải đi Lễ nhà thờ. Còn ngày thường thì chỉ có mấy ông già bà già đi khệnh khạng trên hè phố hay dọc bờ suối khi nào trời tốt. Hôm nay, trời tốt đó chớ, nhưng sao chẳng thấy ai đi. Tự nhiên, tôi cảm thấy bơ vơ lạc lõng . . . Lại nhìn quanh, chỉ thấy xa dưới kia là gác chuông nhà thờ một mình đứng cao lêu nghêu !
Con suối không sâu, nước trong nhìn thấy đáy. Dòng nước chảy nhanh nhanh. Khi gặp mấy tảng đá lớn, nước bắn lên trắng xóa coi thật sinh động, nhìn không chán.
Lòng suối đầy đá cuội tròn tròn. Cũng có những cục đá to nhưng chẳng có viên đá nào còn góc cạnh. Viên nào cũng nhẵn thín.
Nhìn nước chảy, nhìn đá mòn, tôi bỗng nhớ đến hai câu chót của bài học thuộc lòng thuở nhỏ :
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ. . .
Hai câu thơ đó không có gì hết, vậy maụ nó làm tôi ứa nước mắt ! Không phải nó chỉ nhắc tôi thời thơ ấu, thuở học vui học buồn bằng quyển ỡ Quốc Văn Giáo Khoa Thư, mà nó còn nhắc tôi một cái gì sâu đậm hơn là kỷ niệm, một cái gì to rộng mênh mông hơn là không gian thời gian, một cái gì mà trong cuộc đời lưu vong này tôi vẫn mang mểnh trong tâm tư, giống như một chất ma túy : nó nhắc tôi quê hương, cái quê hương xa cách ngàn trùng !
Tính ra, tôi bỏ xứ ra đi đã hơn hai mươi bốn năm. Một phần tư thế kỷ ! Trôi nổi đó đây với nhiều âu lo dằn vật, thêm tuổi đời cứ chồng chất mãi lên. . . nên ký ức bị xói mòn theo năm tháng. Đến nỗi chuyện gì xảy ra hôm tuần rồi, hôm tháng trước. . . có khi không nhớ ! Vậy mà hình ảnh của quê hương vẫn còn nằm nguyên đâu đó ở trong lòng, với những kỷ niệm vụn vặt của năm sáu chục năm về trước ! Chỉ cần một chất xúc tác là nó bật lên rõ rệt, không thiếu một chi tiết, làm như mình đang sống trong đó mới hôm qua hôm kia. . . Tình yêu quê hương sao mà kỳ diệu như vậy được ?
Nơi tôi sanh trưởng cũng là một cái làng nho nhỏ. Nó không ngăn nắp sạch sẽ, không được trang hoàng bằng những bông hoa đầy màu sắc như ở đây. Cũng không có con suối nhỏ chảy ngang để hai bờ được nối với nhau bằng cây cầu đá. . .
Làng tôi nằm bên tả ngạn một con sông lớn, quá lớn nên thấy cái làng như nhỏ xíu ! Con sông đó có cái tên chẳng chút gì ‘văn chương’ : sông Vàm Cỏ. Trong làng chỉ có một con đường tráng nhựa : đó là đường liên tỉnh, cũng còn được gọi là ‘con lộ cái’ nối xóm trên xóm dưới. Ngoài ra, toàn là đường đất mà tiền thân của chúng nó là những con đường mòn, nối xóm Nhà Máy, xóm Lò Heo qua xóm Lò Gạch, xóm Chùa ... Cho nên những con đường trong làng đều chạy cong cong quanh quanh !
Làng tôi cũng có chợ nhà lồng, ngày nào cũng nhóm, nhưng chỉ nhóm có buổi sáng. Nằm cạnh chợ là ‘Nhà Việc’, nơi . . . làm việc của những ‘nhà chức trách’ trong làng. Xế xế về phía con lộ cái là trường tiểu học với hàng rào cây bông bụp, lá xanh um láng mướt.
Làng tôi không có nhà thờ nhưng có một ‘kiểng’ chùa nằm trên một khu đất cao, có rào tre xanh chung quanh. Hồi tôi còn nhỏ, thấy cũng nằm xa dân chúng, vắng vẻ u tịch (hồi đó, tôi ít dám đi ngang qua đó một mình vì . . . sợ ma ! ) Về sau, dân chúng càng ngày càng đông, nhà cửa cứ xây cất tiếp nối nhau kéo dài ra hướng chùa, rồi ‘đi’ xa hơn về phía con lộ cái. Vì vậy, chùa bị lọt trũm giữa khu nhà dân, không còn biệt lập như trước.
Nhà cửa trong làng nhỏ lớn gì cũng có hàng rào. Phần nhiều là hàng rào cây xương rồng và cây bông bụp (cũng gọi là bông lồng đèn) Xương rồng cũng trổ bông lai rai, hoa trắng nõn nà mỏng manh như lụa, khác hẵn với thân cây mang đầy gai góc ! Còn bông bụp thì cứ nở thè lè đỏ cây. . .
Đó ! Làng tôi đó ! Quê trân ! Chẳng chút màu mè. Vậy mà sao tôi vẫn thương.
. . .Thương những con đường đất mà hai bên là bờ cỏ may. Đến mùa, cọng cỏ may đưa bông lên tua tủa tím ngắt, chỉ chực bám đầy ống quần nào bất chợt đi ngang.
. . .Thương những đoạn đường quằn, mùa mưa nước ngập phải xăn quần tém áo để đi qua, trong lúc trẻ con một lũ ở truồng nằm lăn chập chũm, tóe nước nhau cười vui như hội.
. . .Thương bờ sông Vàm Cỏ với những cây dừa trồng không thẳng hàng, cũng không chia đều khoảng cách, giống như ‘mạnh ai nấy trồng’ ! Mấy cây dừa đó, nằm quá gần bờ nước nên rất nhiều cây thiếu đất để giữ gốc, chúng nằm dài ra phía sông cách mặt nước độ một đôi thước rồi uốn mình đưa ngọn đứng thẳng lên cao. Vậy mà cũng đơm bông kết trái ! Trẻ con thường trèo lên đó để phóng xuống nước nô đùa lặng hụp, và dân ở dọc bờ sông hay đem mền chiếu ra vắt lên đó để phơi.
. . .Thương con đường lên chùa có hai bờ tre xanh lả ngọn giao nhau làm cho con đường giống như một cái hang mát rượi. Ở đó, mỗi trưa đứng bóng, những người dọn hàng từ chợ về nhà thường dừng chân núp nắng, và chiều chiều đường vắng cũng thấy thẫn thơ một cặp gái trai . . .
. . .Thương cả cây phượng nằm bên bờ đường trước nhà ông Cả. Thân nó to bằng ba người ôm, gốc rễ lấn luôn ra mặt đường. Ai đi qua cũng phải bước vòng để tránh ! Đó là cây phượng độc nhứt ở trong làng. Không biết ai trồng và tại sao lại trồng ở đó ? Chỉ biết hằng năm vào mùa thi là cây trổ hoa đỏ trời. Sau đó là hoa rụng đỏ đất.
. . .Và còn thương nhiều thứ nữa, kể biết bao giờ cho hết !
Nhà tôi ở trong Xóm Mới. Gia đình tôi nghèo. Cha tôi trồng rau cải, mẹ tôi hằng ngày gánh xôi ra ngồi bán ngoài chợ. Cha mẹ tôi chỉ có hai đứa con trai : tôi và thằng Cu, nhỏ hơn tôi sáu tuổi. Cha tôi chết bịnh hồi mẹ tôi sanh thằng Cu . . .
. . .Nhớ hoài, thời tôi học tiểu học. Sáng nào, sau khi húp tô cháo với miếng đường thẻ, tôi ôm cặp đựng sách vở mà ông nội tôi làm bằng giấy dầu để khỏi bị ướt nước mưa, đi theo mẹ tôi ra chợ. Vì phải đem thằng Cu theo - lúc đó nó được hơn hai tuổi - mẹ để nó ngồi trong một cái thúng, gióng ở đầu đòn gánh phía trước, còn lá chuối, xôi, nhưn, dừa nạo v.v... vồn trong một thúng gióng ở đầu sau. Mẹ gánh như vậy mà bước chân đi sai sải. Đòn gánh nhún lên nhún xuống làm thằng Cu khoái lắm. Lâu lâu, mẹ đổi vai, đầu đòn gánh nhún xuống hơi sâu và tưng lên hơi cao làm anh ta cười hắc hắc để lòi bốn cái răng cửa nhỏ xíu. Những lúc đó, anh ta thuờng gọi tôi để khoe : ‘Hai ! Hai ! Coi nhè ! Coi nhè !’.
Tôi học chỉ có buổi sáng. Mẹ tôi bán ở chợ cũng vậy. Trưa, chợ tan sớm hơn trường học, mẹ gánh thằng Cu đến ngồi đợi tôi dưới cây trứng cá gần cổng trường. Thấy tôi ra, thằng Cu đứng lên, vừa nhảy tưng tưng trong cái thúng vừa la : ‘Hai ! Hai !’. Anh ta ở truồng - lúc nào cũng ở truồng - bên trên bận áo bà ba vải đen của bà nội may cho, đầu đội cái nón hình chóp bằng lá chuối mẹ xếp rồi ghim bằng cọng chân nhan . . . Mẹ đưa tôi gói xôi (đã thành lệ, ngày nào mẹ cũng chừa cho tôi một gói) tôi ngồi xổm cạnh mẹ, vừa ăn vừa đút cho thằng Cu. Ăn xong, tôi chạy qua bên kia đường xin một gáo nước ở nhà thầy giáo Hiển, rồi mang cho ba mẹ con uống (vì trong trường chỉ có một lu nước, không đủ cho đám học trò nên thầy Hiển đặt trước nhà thêm một lu. Vào giờ ra chơi, học trò bu qua đó đông như kiến) Uống xong, mẹ gánh thằng Cu bước đi thông thả, tôi lon ton chạy theo song song . . .
Hồi đó, vì phải chạy lúp xúp nên có lần tôi nhìn xuống bước chân của mẹ, coi mẹ đi cách nào mà mình cứ phải chạy theo lúp xúp ! Mẹ đâu có bước lẹ, mẹ bước đều. Mẹ đi chân không, mỗi bước chân của mẹ giậm xuống làm tung lên một chút bụi đường. Tôi nhìn chỉ thấy có như vậy. Bây giờ, hơn sáu chục năm sau, ngồi ở trời Tây này, tôi đâu cần nhìn mà sao vẫn thấy được - thấy rõ - hai bàn chân của mẹ. Hai bàn chân to bề ngang, mấy ngón chân chè bè không bao giờ xếp lại được. Hai bàn chân xấu xí đó chưa từng đụng tới đôi giày đôi dép. Hai bàn chân chỉ biết có đôi guốc dong khi rửa chân đi ngủ, hay khi đi dự dám giổ, đám tang . . . Hai bàn chân đó đã bám lấy đất để đứng vững một mình nuôi hai thằng con, hỏi sao không chè bè cục mịch cho được ?
Tôi bồi hồi nhớ lại lần tôi lau rửa đôi bàn chân của mẹ . Đó là hồi mẹ tôi mất sau một thời gian dài nằm bịnh ở nhà thương ( Mẹ ngã bịnh từ ngày hay tin thằng Cu chết trận ở Đắc Lắc… ) Tôi lau chân mẹ lần đó là lần đầu và dĩ nhiên cũng là lần cuối cùng . Tôi lau gót chân nứt nẻ . Tôi lau lòng bàn chân chai mòn . Tôi lau những ngón chân tròn cứng như những hòn sỏi . Tôi lau chân mẹ bằng suối nước mắt và bằng tất cả sự thận trọng như khi lau một món đồ thật là trân quí…
Tôi đốt điếu thuốc, thở một hơi khói dài. Lại nhớ hồi học lớp nhứt, có hôm tôi bắt chước bạn bè lén hút thuốc. Mẹ tôi thấy được, lôi tôi vào nhà bắt đứng khoanh tay để ‘hỏi tội’ : ‘Hai !
Ai cho mầy hút thuốc, hả ? Ai dạy mầy hút thuốc, hả ? Mầy bắt chước ai, nói tao nghe coi ? Mới có bây lớn đó mà bày đặt hút thuốc !’. Rồi mẹ chụp cây chổi chà dựng gần đó : ‘Tao phải đánh mầy cho mầy chừa’. Mẹ vừa nói ‘Chừa nè !’ vừa đập cây chổi lên đít tôi thật mạnh. Cứ mỗi một câu ‘Chừa nè ! ‘ là một phát chổi. Mẹ đánh một lúc rồi liệng cây chổi, trèo lên bộ ván, ngồi co chân, rút cái khăn rằn đấp lên mặt khóc. Tôi đứng chết điếng, nghe mồ hôi chảy dài theo xương sống, không thấy đau ở đít mà đau ở đâu trong lòng. Bởi vì đó là lần đầu tiên tôi làm cho mẹ tôi khóc. Tôi mếu máo, rặn ra mấy tiếng : ‘Dạ . . . con xin chừa . . .’
Vậy mà lớn lên, khi ra đời, tôi đã . . . không chừa ! Tôi tập tành hút thuốc hồi tôi đi lính, bởi vì ‘ở tiền đồn trời khuya đêm lạnh, ta chia nhau điếu thuốc ấm lòng’. . . Mỗi lần về phép, chẳng bao giờ tôi dám hút ở nhà vì trận đòn chổi chà thuở nhỏ vẫn còn đeo theo ám ảnh ! Tôi hút ngoài đường . . .
Một hôm, đang đứng hút thuốc với mấy thằng bạn cùng xóm, bất thần mẹ tôi đi qua. Tôi vội vã liệng điếu thuốc xuống đất. Mẹ tôi dừng lại, mỉm cười : ‘Mầy làm cái gì vậy, Hai ? Mầy lớn rồi chớ bộ còn con nít sao. Bây giờ, mầy có hút thuốc, tao cũng đâu có bắt mầy chừa !’ Rồi bỏ đi một nước !
Mẹ tôi như vậy đó. Quê mùa mộc mạc như làng của tôi, vậy mà tôi vẫn thương. Tôi thương, đâu cần mẹ tôi phải đẹp, quê hương tôi phải sang. Tôi thương, vì tất cả đều gắn liền với tôi từ thuở tôi ra chào đời. Tôi đã quen thở, quen sống trong vòng tay của mẹ, giữa lòng quê hương ; đã lớn lên trong cái thật thà chân chất đó. Cho nên hình ảnh của mẹ, của quê hương đã ghi sâu vào lòng tôi đến độ khi thiếu vắng, tôi thương tôi nhớ. Và tình thương đó vẫn chưa thấy mòn, mặc dầu bây giờ tôi đã ngoài bảy mươi . . .
Mặt trời đã lên cao. Thấy có vài người hứng nắng bên bờ suối. Tôi đứng lên đi về nhà mà miên man nghĩ : ‘Những hình ảnh mà mình vừa gợi lại khi nãy sao mà dễ thương như vậy. Mình phải viết ra để cho nó có chỗ đứng bên ngoài ký ức, cho các con các cháu của mình thấy và hiểu tại sao hơn hai mươi bốn năm sống trên đất Pháp, cha và ông của chúng nó không nói ‘thương nước Pháp’ mà cứ nhắc hoài người mẹ đi chân đất và cái làng quê mùa không có đến hai con đường tráng nhựa !‘
Vào nhà, tôi đi thẳng lại bàn viết. Vợ tôi chắc đang nấu bếp nên nghe phất ra thơm phức mùi thịt kho tiêu. Tôi lấy xấp giấy trắng, không cần đốt điếu thuốc, không cần hớp mấy ngụm nước trà để trợ hứng. Bởi vì cái hứng đang ở ngay trong tôi, căng đầy . . .
Tôi cầm bút nắn nót viết cái tựa bằng chữ hoa : ‘đá mòn nhưng dạ chẳng mòn’ . . .
Tiểu Tử Vợ chồng tôi dọn về ở trong cái làng nhỏ này đã hơn ba tháng. Mấy đứa con của chúng tôi nói : ỡ Ba má già rồi mà ở trong Paris đâu có tốt. Nội cái không khí ô nhiễm cũng đủ làm cho ba má bịnh lên bịnh xuống hoài ữ. Vậy là chúng nó kiếm mua một cái nhà ở xa Paris . . .
Nhà có đất chung quanh, có mấy cây pomme, mấy cây cerise. Hồi dọn về là đầu mùa xuân , mấy cây đó trổ bông màu hường màu trắng đầy cành. Ở mấy nhà hàng xóm cũng vậy, hoa nở rộ hầu như cùng một lúc, nên trông thật là đẹp mắt.
Biết là mùa xuân nhờ hoa nở và chồi non, chớ thật ra thời tiết ở Pháp mấy năm gần đây đi . . . trật lất. Mùa xuân mà cứ tưởng như mùa thu, cứ mưa lất phất rồi hết mưa là trời đổ sương mù. Cứ như vậy kéo dài đến bây giờ, theo trong lịch, là đã đầu mùa hè mà vẫn còn nghe lành lạnh !
Hôm nay tự nhiên trời bỗng trở nắng. Nắng thật ấm, thật trong. Người ta vội vã mang đồ ra phơi đầy sân : quần áo, drap, mền . . . Đủ màu sắc, đủ cỡ, coi vui nhộn như một ngày lễ !
Tôi cũng thấy phấn khởi, bèn rủ nhà tôi đi chơi một vòng. Bởi vì từ ngày dọn về đây, ngoại trừ những lúc phải ‘xẹt’ ra tiệm thịt, lò bánh mì, hàng rau cải v.v. . . chúng tôi cứ ru rú ở trong nhà vì thời tiết xấu. Nhà tôi không chịu đi, nên tôi đi mình ên . . .
Làng này tuy nhỏ nhưng ngăn nắp, sạch sẽ. Ở đâu cũng thấy trồng bông : dọc theo vỉa hè, ở các ngã ba ngã tư, mặt tiền nhà phố . . . Giữa làng là một nhà thờ nho nhỏ nằm trên một vuông đất cao hơn mặt đường gần một mét, cũng trồng đầy bông.
Chảy ngang qua làng là một con suối nhỏ, rộng độ mươi thước, chui dưới cây cầu đá rối uốn khúc quanh quanh trước khi rời làng xuôi về phía dưới. Hai bên bờ suối là hai con đường tráng xi-măng chạy dọc theo hai hàng cây. Rải rác, có mấy băng gỗ đóng thô sơ, nhưng vẫn nằm giữa những lùm bông đầy màu sắc. Có nơi, không hiểu sao người ta đặt băng gỗ nằm cạnh bờ nước giống như làm chỗ ngồi cho người đi câu !
Tôi ngồi xuống một cái băng cạnh bờ nước. Vì không nằm dưới tàn cây nên ở đó đầy nắng. Tôi đốt điếu thuốc rồi nhìn quanh : chẳng có ai hết. Nhớ lại, dân trong làng chỉ đổ ra đường vào ngày chủ nhựt, bởi vì ngày đó nhóm chợ lộ thiên và lại là ngày phải đi Lễ nhà thờ. Còn ngày thường thì chỉ có mấy ông già bà già đi khệnh khạng trên hè phố hay dọc bờ suối khi nào trời tốt. Hôm nay, trời tốt đó chớ, nhưng sao chẳng thấy ai đi. Tự nhiên, tôi cảm thấy bơ vơ lạc lõng . . . Lại nhìn quanh, chỉ thấy xa dưới kia là gác chuông nhà thờ một mình đứng cao lêu nghêu !
Con suối không sâu, nước trong nhìn thấy đáy. Dòng nước chảy nhanh nhanh. Khi gặp mấy tảng đá lớn, nước bắn lên trắng xóa coi thật sinh động, nhìn không chán.
Lòng suối đầy đá cuội tròn tròn. Cũng có những cục đá to nhưng chẳng có viên đá nào còn góc cạnh. Viên nào cũng nhẵn thín.
Nhìn nước chảy, nhìn đá mòn, tôi bỗng nhớ đến hai câu chót của bài học thuộc lòng thuở nhỏ :
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ. . .
Hai câu thơ đó không có gì hết, vậy maụ nó làm tôi ứa nước mắt ! Không phải nó chỉ nhắc tôi thời thơ ấu, thuở học vui học buồn bằng quyển ỡ Quốc Văn Giáo Khoa Thư, mà nó còn nhắc tôi một cái gì sâu đậm hơn là kỷ niệm, một cái gì to rộng mênh mông hơn là không gian thời gian, một cái gì mà trong cuộc đời lưu vong này tôi vẫn mang mểnh trong tâm tư, giống như một chất ma túy : nó nhắc tôi quê hương, cái quê hương xa cách ngàn trùng !
Tính ra, tôi bỏ xứ ra đi đã hơn hai mươi bốn năm. Một phần tư thế kỷ ! Trôi nổi đó đây với nhiều âu lo dằn vật, thêm tuổi đời cứ chồng chất mãi lên. . . nên ký ức bị xói mòn theo năm tháng. Đến nỗi chuyện gì xảy ra hôm tuần rồi, hôm tháng trước. . . có khi không nhớ ! Vậy mà hình ảnh của quê hương vẫn còn nằm nguyên đâu đó ở trong lòng, với những kỷ niệm vụn vặt của năm sáu chục năm về trước ! Chỉ cần một chất xúc tác là nó bật lên rõ rệt, không thiếu một chi tiết, làm như mình đang sống trong đó mới hôm qua hôm kia. . . Tình yêu quê hương sao mà kỳ diệu như vậy được ?
Nơi tôi sanh trưởng cũng là một cái làng nho nhỏ. Nó không ngăn nắp sạch sẽ, không được trang hoàng bằng những bông hoa đầy màu sắc như ở đây. Cũng không có con suối nhỏ chảy ngang để hai bờ được nối với nhau bằng cây cầu đá. . .
Làng tôi nằm bên tả ngạn một con sông lớn, quá lớn nên thấy cái làng như nhỏ xíu ! Con sông đó có cái tên chẳng chút gì ‘văn chương’ : sông Vàm Cỏ. Trong làng chỉ có một con đường tráng nhựa : đó là đường liên tỉnh, cũng còn được gọi là ‘con lộ cái’ nối xóm trên xóm dưới. Ngoài ra, toàn là đường đất mà tiền thân của chúng nó là những con đường mòn, nối xóm Nhà Máy, xóm Lò Heo qua xóm Lò Gạch, xóm Chùa ... Cho nên những con đường trong làng đều chạy cong cong quanh quanh !
Làng tôi cũng có chợ nhà lồng, ngày nào cũng nhóm, nhưng chỉ nhóm có buổi sáng. Nằm cạnh chợ là ‘Nhà Việc’, nơi . . . làm việc của những ‘nhà chức trách’ trong làng. Xế xế về phía con lộ cái là trường tiểu học với hàng rào cây bông bụp, lá xanh um láng mướt.
Làng tôi không có nhà thờ nhưng có một ‘kiểng’ chùa nằm trên một khu đất cao, có rào tre xanh chung quanh. Hồi tôi còn nhỏ, thấy cũng nằm xa dân chúng, vắng vẻ u tịch (hồi đó, tôi ít dám đi ngang qua đó một mình vì . . . sợ ma ! ) Về sau, dân chúng càng ngày càng đông, nhà cửa cứ xây cất tiếp nối nhau kéo dài ra hướng chùa, rồi ‘đi’ xa hơn về phía con lộ cái. Vì vậy, chùa bị lọt trũm giữa khu nhà dân, không còn biệt lập như trước.
Nhà cửa trong làng nhỏ lớn gì cũng có hàng rào. Phần nhiều là hàng rào cây xương rồng và cây bông bụp (cũng gọi là bông lồng đèn) Xương rồng cũng trổ bông lai rai, hoa trắng nõn nà mỏng manh như lụa, khác hẵn với thân cây mang đầy gai góc ! Còn bông bụp thì cứ nở thè lè đỏ cây. . .
Đó ! Làng tôi đó ! Quê trân ! Chẳng chút màu mè. Vậy mà sao tôi vẫn thương.
. . .Thương những con đường đất mà hai bên là bờ cỏ may. Đến mùa, cọng cỏ may đưa bông lên tua tủa tím ngắt, chỉ chực bám đầy ống quần nào bất chợt đi ngang.
. . .Thương những đoạn đường quằn, mùa mưa nước ngập phải xăn quần tém áo để đi qua, trong lúc trẻ con một lũ ở truồng nằm lăn chập chũm, tóe nước nhau cười vui như hội.
. . .Thương bờ sông Vàm Cỏ với những cây dừa trồng không thẳng hàng, cũng không chia đều khoảng cách, giống như ‘mạnh ai nấy trồng’ ! Mấy cây dừa đó, nằm quá gần bờ nước nên rất nhiều cây thiếu đất để giữ gốc, chúng nằm dài ra phía sông cách mặt nước độ một đôi thước rồi uốn mình đưa ngọn đứng thẳng lên cao. Vậy mà cũng đơm bông kết trái ! Trẻ con thường trèo lên đó để phóng xuống nước nô đùa lặng hụp, và dân ở dọc bờ sông hay đem mền chiếu ra vắt lên đó để phơi.
. . .Thương con đường lên chùa có hai bờ tre xanh lả ngọn giao nhau làm cho con đường giống như một cái hang mát rượi. Ở đó, mỗi trưa đứng bóng, những người dọn hàng từ chợ về nhà thường dừng chân núp nắng, và chiều chiều đường vắng cũng thấy thẫn thơ một cặp gái trai . . .
. . .Thương cả cây phượng nằm bên bờ đường trước nhà ông Cả. Thân nó to bằng ba người ôm, gốc rễ lấn luôn ra mặt đường. Ai đi qua cũng phải bước vòng để tránh ! Đó là cây phượng độc nhứt ở trong làng. Không biết ai trồng và tại sao lại trồng ở đó ? Chỉ biết hằng năm vào mùa thi là cây trổ hoa đỏ trời. Sau đó là hoa rụng đỏ đất.
. . .Và còn thương nhiều thứ nữa, kể biết bao giờ cho hết !
Nhà tôi ở trong Xóm Mới. Gia đình tôi nghèo. Cha tôi trồng rau cải, mẹ tôi hằng ngày gánh xôi ra ngồi bán ngoài chợ. Cha mẹ tôi chỉ có hai đứa con trai : tôi và thằng Cu, nhỏ hơn tôi sáu tuổi. Cha tôi chết bịnh hồi mẹ tôi sanh thằng Cu . . .
. . .Nhớ hoài, thời tôi học tiểu học. Sáng nào, sau khi húp tô cháo với miếng đường thẻ, tôi ôm cặp đựng sách vở mà ông nội tôi làm bằng giấy dầu để khỏi bị ướt nước mưa, đi theo mẹ tôi ra chợ. Vì phải đem thằng Cu theo - lúc đó nó được hơn hai tuổi - mẹ để nó ngồi trong một cái thúng, gióng ở đầu đòn gánh phía trước, còn lá chuối, xôi, nhưn, dừa nạo v.v... vồn trong một thúng gióng ở đầu sau. Mẹ gánh như vậy mà bước chân đi sai sải. Đòn gánh nhún lên nhún xuống làm thằng Cu khoái lắm. Lâu lâu, mẹ đổi vai, đầu đòn gánh nhún xuống hơi sâu và tưng lên hơi cao làm anh ta cười hắc hắc để lòi bốn cái răng cửa nhỏ xíu. Những lúc đó, anh ta thuờng gọi tôi để khoe : ‘Hai ! Hai ! Coi nhè ! Coi nhè !’.
Tôi học chỉ có buổi sáng. Mẹ tôi bán ở chợ cũng vậy. Trưa, chợ tan sớm hơn trường học, mẹ gánh thằng Cu đến ngồi đợi tôi dưới cây trứng cá gần cổng trường. Thấy tôi ra, thằng Cu đứng lên, vừa nhảy tưng tưng trong cái thúng vừa la : ‘Hai ! Hai !’. Anh ta ở truồng - lúc nào cũng ở truồng - bên trên bận áo bà ba vải đen của bà nội may cho, đầu đội cái nón hình chóp bằng lá chuối mẹ xếp rồi ghim bằng cọng chân nhan . . . Mẹ đưa tôi gói xôi (đã thành lệ, ngày nào mẹ cũng chừa cho tôi một gói) tôi ngồi xổm cạnh mẹ, vừa ăn vừa đút cho thằng Cu. Ăn xong, tôi chạy qua bên kia đường xin một gáo nước ở nhà thầy giáo Hiển, rồi mang cho ba mẹ con uống (vì trong trường chỉ có một lu nước, không đủ cho đám học trò nên thầy Hiển đặt trước nhà thêm một lu. Vào giờ ra chơi, học trò bu qua đó đông như kiến) Uống xong, mẹ gánh thằng Cu bước đi thông thả, tôi lon ton chạy theo song song . . .
Hồi đó, vì phải chạy lúp xúp nên có lần tôi nhìn xuống bước chân của mẹ, coi mẹ đi cách nào mà mình cứ phải chạy theo lúp xúp ! Mẹ đâu có bước lẹ, mẹ bước đều. Mẹ đi chân không, mỗi bước chân của mẹ giậm xuống làm tung lên một chút bụi đường. Tôi nhìn chỉ thấy có như vậy. Bây giờ, hơn sáu chục năm sau, ngồi ở trời Tây này, tôi đâu cần nhìn mà sao vẫn thấy được - thấy rõ - hai bàn chân của mẹ. Hai bàn chân to bề ngang, mấy ngón chân chè bè không bao giờ xếp lại được. Hai bàn chân xấu xí đó chưa từng đụng tới đôi giày đôi dép. Hai bàn chân chỉ biết có đôi guốc dong khi rửa chân đi ngủ, hay khi đi dự dám giổ, đám tang . . . Hai bàn chân đó đã bám lấy đất để đứng vững một mình nuôi hai thằng con, hỏi sao không chè bè cục mịch cho được ?
Tôi bồi hồi nhớ lại lần tôi lau rửa đôi bàn chân của mẹ . Đó là hồi mẹ tôi mất sau một thời gian dài nằm bịnh ở nhà thương ( Mẹ ngã bịnh từ ngày hay tin thằng Cu chết trận ở Đắc Lắc… ) Tôi lau chân mẹ lần đó là lần đầu và dĩ nhiên cũng là lần cuối cùng . Tôi lau gót chân nứt nẻ . Tôi lau lòng bàn chân chai mòn . Tôi lau những ngón chân tròn cứng như những hòn sỏi . Tôi lau chân mẹ bằng suối nước mắt và bằng tất cả sự thận trọng như khi lau một món đồ thật là trân quí…
Tôi đốt điếu thuốc, thở một hơi khói dài. Lại nhớ hồi học lớp nhứt, có hôm tôi bắt chước bạn bè lén hút thuốc. Mẹ tôi thấy được, lôi tôi vào nhà bắt đứng khoanh tay để ‘hỏi tội’ : ‘Hai !
Ai cho mầy hút thuốc, hả ? Ai dạy mầy hút thuốc, hả ? Mầy bắt chước ai, nói tao nghe coi ? Mới có bây lớn đó mà bày đặt hút thuốc !’. Rồi mẹ chụp cây chổi chà dựng gần đó : ‘Tao phải đánh mầy cho mầy chừa’. Mẹ vừa nói ‘Chừa nè !’ vừa đập cây chổi lên đít tôi thật mạnh. Cứ mỗi một câu ‘Chừa nè ! ‘ là một phát chổi. Mẹ đánh một lúc rồi liệng cây chổi, trèo lên bộ ván, ngồi co chân, rút cái khăn rằn đấp lên mặt khóc. Tôi đứng chết điếng, nghe mồ hôi chảy dài theo xương sống, không thấy đau ở đít mà đau ở đâu trong lòng. Bởi vì đó là lần đầu tiên tôi làm cho mẹ tôi khóc. Tôi mếu máo, rặn ra mấy tiếng : ‘Dạ . . . con xin chừa . . .’
Vậy mà lớn lên, khi ra đời, tôi đã . . . không chừa ! Tôi tập tành hút thuốc hồi tôi đi lính, bởi vì ‘ở tiền đồn trời khuya đêm lạnh, ta chia nhau điếu thuốc ấm lòng’. . . Mỗi lần về phép, chẳng bao giờ tôi dám hút ở nhà vì trận đòn chổi chà thuở nhỏ vẫn còn đeo theo ám ảnh ! Tôi hút ngoài đường . . .
Một hôm, đang đứng hút thuốc với mấy thằng bạn cùng xóm, bất thần mẹ tôi đi qua. Tôi vội vã liệng điếu thuốc xuống đất. Mẹ tôi dừng lại, mỉm cười : ‘Mầy làm cái gì vậy, Hai ? Mầy lớn rồi chớ bộ còn con nít sao. Bây giờ, mầy có hút thuốc, tao cũng đâu có bắt mầy chừa !’ Rồi bỏ đi một nước !
Mẹ tôi như vậy đó. Quê mùa mộc mạc như làng của tôi, vậy mà tôi vẫn thương. Tôi thương, đâu cần mẹ tôi phải đẹp, quê hương tôi phải sang. Tôi thương, vì tất cả đều gắn liền với tôi từ thuở tôi ra chào đời. Tôi đã quen thở, quen sống trong vòng tay của mẹ, giữa lòng quê hương ; đã lớn lên trong cái thật thà chân chất đó. Cho nên hình ảnh của mẹ, của quê hương đã ghi sâu vào lòng tôi đến độ khi thiếu vắng, tôi thương tôi nhớ. Và tình thương đó vẫn chưa thấy mòn, mặc dầu bây giờ tôi đã ngoài bảy mươi . . .
Mặt trời đã lên cao. Thấy có vài người hứng nắng bên bờ suối. Tôi đứng lên đi về nhà mà miên man nghĩ : ‘Những hình ảnh mà mình vừa gợi lại khi nãy sao mà dễ thương như vậy. Mình phải viết ra để cho nó có chỗ đứng bên ngoài ký ức, cho các con các cháu của mình thấy và hiểu tại sao hơn hai mươi bốn năm sống trên đất Pháp, cha và ông của chúng nó không nói ‘thương nước Pháp’ mà cứ nhắc hoài người mẹ đi chân đất và cái làng quê mùa không có đến hai con đường tráng nhựa !‘
Vào nhà, tôi đi thẳng lại bàn viết. Vợ tôi chắc đang nấu bếp nên nghe phất ra thơm phức mùi thịt kho tiêu. Tôi lấy xấp giấy trắng, không cần đốt điếu thuốc, không cần hớp mấy ngụm nước trà để trợ hứng. Bởi vì cái hứng đang ở ngay trong tôi, căng đầy . . .
Tôi cầm bút nắn nót viết cái tựa bằng chữ hoa : ‘đá mòn nhưng dạ chẳng mòn’ . . .
Đàn ông Việt thường quên nịnh vợ.
Nếu vợ đẹp thì khen đẹp, nếu quần áo đẹp thì khen quần áo, nếu ngoại hình không đẹp thì khen công dung ngôn hạnh... miễn sao phải chân thật.
...."Có gì đâu! Cứ khen nhiều vào"...
Có nghĩa là xấu thì khen đẹp, đẹp thì khen tuyệt đẹp, hoặc NGU thì khen thông minh, vô duyên thì khen có duyên, v.v… Đấy, quý vị nghĩ xem, đàn bà thích được nghe sự dối trá? Xin quý bà lên tiếng cho sáng tỏ việc này…!
Ai cũng biết “đàn ông yêu bằng mắt, đàn bà yêu bằng tai”.
Đàn ông Việt thường "quên" nịnh vợ. Có nhiều anh biết phụ nữ thích khen, cho nên, đến cơ quan hay gặp chị em ở đâu, anh ta cũng khen lấy khen để. Nhưng về đến nhà, anh ta lại để 'bảo bối' ấy ngoài cửa. Có anh lại sợ khen lắm, vợ phổng mũi, đâm ra tinhtướng.
Có một bà vợ thường làm các món ăn rất công phu, cầu kỳ, nhưng chồng lại tỏ ra không biết thưởng thức. Một hôm bà tức mình, luộc một mớ cỏ cho chồng ăn. Chồng ngạc nhiên:" Cái gì thế này? Không thể nào nhai được!" Bà vợ vui vẻ hẳn lên:" Thế ra ông cũng biết là không ăn được à? Vì mọi khi, tôi thấy ông ăn cái gì cũng như nhau cả mà!"
Ai cũng biết “đàn ông yêu bằng mắt, đàn bà yêu bằng tai”, nhưng hình như với các ông chồng đã kết hôn vài năm, câu nói đó bị họ quên mất. Có chị may được bộ váy mới, mặc thử vào, cứ đứng ngắm mãi trước gương, hết quay đằng trước lại quay đằng sau, mà chồng ngồi đọc báo ngay cạnh chẳng nói câu nào. Cực chẳng đã, chị phải cất lời hỏi:“ A nh thấy em mặc bộ này có được không?” A nh ta vẫn không rời mắt khỏi tờ báo:“ Cũng được”.
Đó là chưa kể còn có những anh, vợ mặc kiểu gì cũng chê không thương tiếc:“ Bộ này không được, trông buồn cười lắm!...”, khiến vợ ỉu xìu như bánh đa gặp nước. Có chị cảm thấy bất lực, dường như không thể làm đẹp để chồng hài lòng được. Và những ông chồng như thế, dẫu có tận tụy với vợ con đến mức nào cũng khó được vợ yêu, gia đình kém hạnhphúc.
Người phương Tây có một nét văn hóa truyền thống là khen phụ nữ, mà nhiều người gọi đùa là "nịnh đầm". Nó gần như một thứ "nghĩa vụ bất thành văn" của phái mạnh, không biết điều đó không phải là người lịch sự, văn minh. Chúng ta du nhập và ảnh hưởng khá đậm nét văn hóa phương Tây, nhưng "văn hóa nịnh đầm" rất đẹp này lại không vào được bao nhiêu.Ở Việt Nam, rất ít khi nghe chồng khen vợ. Ngay cả những người đàn ông, có thể nói là lịch lãm, hình như cũng nghĩ rằng, nói chung, phái đẹp cần được đàn ông tán thưởng, trừ... vợ anh ta. Liệu họ có biết, người vợ nào cũng sung sướng khi được chồng khen? Chắc anh nào cũng biết, bằng chứng là khi chinh phục nàng, chẳng anh nào lại không sử dụng thứ vũ khí này, nào là:“ Em có mái tóc rất đẹp! Em có giọng nói rất hay!...” Có anh còn "dẻo mỏ”:" Em hút hồn anh ngay từ lần đầu mới gặp. Đôi mắt em sao mà sâu thăm thẳm!"...
Thế nhưng, từ khi đã thành "của nhà”, họ không làm thế nữa. Họ xếp thứ vũ khí sắc bén đó vào kho, để cho nó hoen rỉ mà không biết người vợ vẫn rất cần những lời có cánh ấy. Có người còn đi tìm nó không phải từ chồng.
Có nhiều đàn ông biết phụ nữ thích khen, cho nên, đến cơ quan hay gặp phụ nữ ở đâu đó, anh ta cũng khen lấy khen để. Nhưng chỉ cần về đến nhà, anh ta lại để "bảo bối" ấy ngoài cửa. Có anh lại sợ khen lắm, vợ phổng mũi, đâm ra "tinh tướng". Cũng có thể họ nghĩ, đàn bà nào chẳng thích khen, nhưng thích lời khen "ngoại" chứ thích gì "của nội"? Nếu nghĩ thế, bạn đã lầm. Con khen cũng thích. Chồng khen lại càng thích. Lời khen chẳng bao giờ thừa cả. Bạn thử hỏi các ca sĩ xem, có ai thấy chán ngán cảnh khán giả vỗ tay nhiều quá không? Có ai khó chịu khi những "fan" hâm mộ vây quanh xin chữ ký không? Những người sống gần mình, quen biết với mình mà vẫn khen mình, thì càng có giá trị.
Người ta kể rằng, có một gã chiếm được hàng trăm trái tim phụ nữ, và sau đó chiếm đoạt luôn cả tài sản của họ, nên cuối cùng phải vào tù. Một nhà tâm lý tò mò đến tận nơi, xem hắn có bí quyết gì. Ông ta rất bất ngờ vì đó là một gã đã luống tuổi, hình thức bình thường, duy chỉ có cái miệng rất có duyên. Ông hỏi:" Làm thế nào anh chinh phục được nhiều phụ nữ như vậy?" Hắn trả lời cụt lủn:" Có gì đâu. Cứ khen nhiều vào…"
Nhà tâm lý nổi tiếng người Mỹ – Dale Carnegie – thường đi giảng ở các lớp học làm vợ, làm chồng. Một hôm, sau bài giảng về nghệ thuật làm chồng, ông ra bài tập cho học viên về nhà làm. Ông yêu cầu tất cả đàn ông thực hiện“ Một tuần lễ khen vợ”, ngày nào cũng khen từ sáng đến tối. Ông cam đoan sẽ thấy hiệu quả ngay. Học viên chẳng mấy người tin. Có người còn nghĩ là ông nói đùa, nhưng số đông vẫn thử “làm bài tập” xem sao…, và kết quả thật bất ngờ!
Một anh vừa ngủ dậy, nhớ đến bài tập, nói luôn:“ Nằm cạnh em sướng thật, mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát”. Vợ tát yêu một cái. Vợ tập thể dục xong, chồng lại khen:“ Hồi này trông thần sắc em rất tốt!” Vợ càng ngạc nhiên, vì chưa bao giờ thấy chồng để ý đến mình. Lúc dọn món ăn sáng ra, anh ta lại xoa hai bàn tay: “ Chà, em làm món gì trông ngon thế!” Vợ sung sướng nguýt yêu chồng một cái nữa. Ăn xong anh ta lại khen:“ A nh thấy đi ăn sáng ở đâu cũng chẳng bằng em làm!”
Trước khi đi làm, ngắm vợ một phút, anh lại thốt lên:“ Em mặc bộ này trông quá được!” Không ngờ, chỉ trong vòng một tiếng, mới khen có mấy câu, mà chưa bao giờ, anh ta thấy trên gương mặt vợ lại có những nét hạnh phúc ngời ngời đến thế! Ra đến cửa, anh còn quay lại:“ A nh đi nhá! Em rất tuyệt”. Hết tuần, có học viên báo cáo với thầy là, chỉ sau một “tuần lễ khen”, anh ta được hưởng hạnh phúc hơn 10 năm chung sống cộng lại.
Một khi đã kết hôn, ai chẳng muốn có hôn nhân hạnh phúc, muốn được vợ yêu. Và để đạt được mục đích ấy, nhiều người đã phải đổ biết bao công sức. Họ lao động cật lực hàng chục giờ mỗi ngày, mua tặng vợ những tặng phẩm đắt tiền, đưa cả nhà đi nghỉ cuối tuần…. Nhưng có một thứ, người vợ nào cũng khao khát, thì họ lại quên. Đó là lời khen.
Tuy nhiên, nếu vợ đẹp thì khen đẹp, nếu quần áo đẹp thì khen quần áo, nếu ngoại hình không đẹp thì khen công dung ngôn hạnh... miễn sao phải chân thật. Khen bừa lỡ thành mỉa mai, thì sẽ tác dụng ngược đấy!
(sưu tầm)
...."Có gì đâu! Cứ khen nhiều vào"...
Có nghĩa là xấu thì khen đẹp, đẹp thì khen tuyệt đẹp, hoặc NGU thì khen thông minh, vô duyên thì khen có duyên, v.v… Đấy, quý vị nghĩ xem, đàn bà thích được nghe sự dối trá? Xin quý bà lên tiếng cho sáng tỏ việc này…!
Ai cũng biết “đàn ông yêu bằng mắt, đàn bà yêu bằng tai”.
Đàn ông Việt thường "quên" nịnh vợ. Có nhiều anh biết phụ nữ thích khen, cho nên, đến cơ quan hay gặp chị em ở đâu, anh ta cũng khen lấy khen để. Nhưng về đến nhà, anh ta lại để 'bảo bối' ấy ngoài cửa. Có anh lại sợ khen lắm, vợ phổng mũi, đâm ra tinhtướng.
Có một bà vợ thường làm các món ăn rất công phu, cầu kỳ, nhưng chồng lại tỏ ra không biết thưởng thức. Một hôm bà tức mình, luộc một mớ cỏ cho chồng ăn. Chồng ngạc nhiên:" Cái gì thế này? Không thể nào nhai được!" Bà vợ vui vẻ hẳn lên:" Thế ra ông cũng biết là không ăn được à? Vì mọi khi, tôi thấy ông ăn cái gì cũng như nhau cả mà!"
Ai cũng biết “đàn ông yêu bằng mắt, đàn bà yêu bằng tai”, nhưng hình như với các ông chồng đã kết hôn vài năm, câu nói đó bị họ quên mất. Có chị may được bộ váy mới, mặc thử vào, cứ đứng ngắm mãi trước gương, hết quay đằng trước lại quay đằng sau, mà chồng ngồi đọc báo ngay cạnh chẳng nói câu nào. Cực chẳng đã, chị phải cất lời hỏi:“ A nh thấy em mặc bộ này có được không?” A nh ta vẫn không rời mắt khỏi tờ báo:“ Cũng được”.
Đó là chưa kể còn có những anh, vợ mặc kiểu gì cũng chê không thương tiếc:“ Bộ này không được, trông buồn cười lắm!...”, khiến vợ ỉu xìu như bánh đa gặp nước. Có chị cảm thấy bất lực, dường như không thể làm đẹp để chồng hài lòng được. Và những ông chồng như thế, dẫu có tận tụy với vợ con đến mức nào cũng khó được vợ yêu, gia đình kém hạnhphúc.
Người phương Tây có một nét văn hóa truyền thống là khen phụ nữ, mà nhiều người gọi đùa là "nịnh đầm". Nó gần như một thứ "nghĩa vụ bất thành văn" của phái mạnh, không biết điều đó không phải là người lịch sự, văn minh. Chúng ta du nhập và ảnh hưởng khá đậm nét văn hóa phương Tây, nhưng "văn hóa nịnh đầm" rất đẹp này lại không vào được bao nhiêu.Ở Việt Nam, rất ít khi nghe chồng khen vợ. Ngay cả những người đàn ông, có thể nói là lịch lãm, hình như cũng nghĩ rằng, nói chung, phái đẹp cần được đàn ông tán thưởng, trừ... vợ anh ta. Liệu họ có biết, người vợ nào cũng sung sướng khi được chồng khen? Chắc anh nào cũng biết, bằng chứng là khi chinh phục nàng, chẳng anh nào lại không sử dụng thứ vũ khí này, nào là:“ Em có mái tóc rất đẹp! Em có giọng nói rất hay!...” Có anh còn "dẻo mỏ”:" Em hút hồn anh ngay từ lần đầu mới gặp. Đôi mắt em sao mà sâu thăm thẳm!"...
Thế nhưng, từ khi đã thành "của nhà”, họ không làm thế nữa. Họ xếp thứ vũ khí sắc bén đó vào kho, để cho nó hoen rỉ mà không biết người vợ vẫn rất cần những lời có cánh ấy. Có người còn đi tìm nó không phải từ chồng.
Có nhiều đàn ông biết phụ nữ thích khen, cho nên, đến cơ quan hay gặp phụ nữ ở đâu đó, anh ta cũng khen lấy khen để. Nhưng chỉ cần về đến nhà, anh ta lại để "bảo bối" ấy ngoài cửa. Có anh lại sợ khen lắm, vợ phổng mũi, đâm ra "tinh tướng". Cũng có thể họ nghĩ, đàn bà nào chẳng thích khen, nhưng thích lời khen "ngoại" chứ thích gì "của nội"? Nếu nghĩ thế, bạn đã lầm. Con khen cũng thích. Chồng khen lại càng thích. Lời khen chẳng bao giờ thừa cả. Bạn thử hỏi các ca sĩ xem, có ai thấy chán ngán cảnh khán giả vỗ tay nhiều quá không? Có ai khó chịu khi những "fan" hâm mộ vây quanh xin chữ ký không? Những người sống gần mình, quen biết với mình mà vẫn khen mình, thì càng có giá trị.
Người ta kể rằng, có một gã chiếm được hàng trăm trái tim phụ nữ, và sau đó chiếm đoạt luôn cả tài sản của họ, nên cuối cùng phải vào tù. Một nhà tâm lý tò mò đến tận nơi, xem hắn có bí quyết gì. Ông ta rất bất ngờ vì đó là một gã đã luống tuổi, hình thức bình thường, duy chỉ có cái miệng rất có duyên. Ông hỏi:" Làm thế nào anh chinh phục được nhiều phụ nữ như vậy?" Hắn trả lời cụt lủn:" Có gì đâu. Cứ khen nhiều vào…"
Nhà tâm lý nổi tiếng người Mỹ – Dale Carnegie – thường đi giảng ở các lớp học làm vợ, làm chồng. Một hôm, sau bài giảng về nghệ thuật làm chồng, ông ra bài tập cho học viên về nhà làm. Ông yêu cầu tất cả đàn ông thực hiện“ Một tuần lễ khen vợ”, ngày nào cũng khen từ sáng đến tối. Ông cam đoan sẽ thấy hiệu quả ngay. Học viên chẳng mấy người tin. Có người còn nghĩ là ông nói đùa, nhưng số đông vẫn thử “làm bài tập” xem sao…, và kết quả thật bất ngờ!
Một anh vừa ngủ dậy, nhớ đến bài tập, nói luôn:“ Nằm cạnh em sướng thật, mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát”. Vợ tát yêu một cái. Vợ tập thể dục xong, chồng lại khen:“ Hồi này trông thần sắc em rất tốt!” Vợ càng ngạc nhiên, vì chưa bao giờ thấy chồng để ý đến mình. Lúc dọn món ăn sáng ra, anh ta lại xoa hai bàn tay: “ Chà, em làm món gì trông ngon thế!” Vợ sung sướng nguýt yêu chồng một cái nữa. Ăn xong anh ta lại khen:“ A nh thấy đi ăn sáng ở đâu cũng chẳng bằng em làm!”
Trước khi đi làm, ngắm vợ một phút, anh lại thốt lên:“ Em mặc bộ này trông quá được!” Không ngờ, chỉ trong vòng một tiếng, mới khen có mấy câu, mà chưa bao giờ, anh ta thấy trên gương mặt vợ lại có những nét hạnh phúc ngời ngời đến thế! Ra đến cửa, anh còn quay lại:“ A nh đi nhá! Em rất tuyệt”. Hết tuần, có học viên báo cáo với thầy là, chỉ sau một “tuần lễ khen”, anh ta được hưởng hạnh phúc hơn 10 năm chung sống cộng lại.
Một khi đã kết hôn, ai chẳng muốn có hôn nhân hạnh phúc, muốn được vợ yêu. Và để đạt được mục đích ấy, nhiều người đã phải đổ biết bao công sức. Họ lao động cật lực hàng chục giờ mỗi ngày, mua tặng vợ những tặng phẩm đắt tiền, đưa cả nhà đi nghỉ cuối tuần…. Nhưng có một thứ, người vợ nào cũng khao khát, thì họ lại quên. Đó là lời khen.
Tuy nhiên, nếu vợ đẹp thì khen đẹp, nếu quần áo đẹp thì khen quần áo, nếu ngoại hình không đẹp thì khen công dung ngôn hạnh... miễn sao phải chân thật. Khen bừa lỡ thành mỉa mai, thì sẽ tác dụng ngược đấy!
(sưu tầm)
ĐỪNG VỘI XÉT ĐOÁN
"Một người bạn của tôi trên chuyến trở về Nam Phi sau một thời gian sống ở Âu Châu, đã phải chờ khá lâu ở phi trường Heathrow của London. Sau khi mua một ly cà phê và một gói bánh quy, cô kéo lê hành lý lỉnh kỉnh tới một cái bàn trống để đọc báo và ăn bánh trong khi chờ máy bay.
Khi đang đọc tờ báo buổi sáng, cô nhận ra có người làm gì đó sột soạt ở bàn mình. Liếc nhìn qua tờ báo, cô sửng sốt thấy một anh chàng ăn mặc lịch sự đang với tay lấy bánh của cô, bỏ vào miệng. Không muốn làm ầm ĩ, cô chỉ nghiêng mình để lấy một cái cho mình.
Một phút sau, cô lại nghe tiếng sột soạt. Anh chàng kia lại lấy thêm bánh để ăn.
Cho đến lúc cả hai đã ăn đến cái bánh cuối cùng trong gói, cô đã tức giận hết cỡ nhưng vẫn không nói được câu nào. Rồi chàng trai bỗng bẻ cái bánh làm hai, đẩy một nửa về phía cô và ăn nửa còn lại, rồi bỏ đi.
Lát sau, khi loa phóng thanh gọi tên cô, và yêu cầu cô xuất trình vé, cô vẫn còn bừng bừng cơn giận và mạt sát thậm tệ , khinh bỉ đến tột cùng anh chàng kia . Tuy nhiên, các bạn hãy thử tưởng tượng sự xấu hổ của cô khi cô mở túi xách ra và khám phá ra rằng gói bánh của mình vẫn còn nằm nguyên trong đó. Thì ra từ nãy tới giờ cô đã ăn bánh của người ta. Chàng kia đã chia sẻ với cô đến miếng bánh cuối cùng. Thật là một con người tốt bụng"
Suy nghĩ:
Câu chuyện cho thấy cái nhìn của chúng ta về người khác không luôn luôn chính xác, thậm chí nhiều khi còn nhầm lẫn nữa. Vì thế đừng vội xét đoán, kết án. Và cũng phải sẵn sàng thay đổi cái nhìn của mình khi chúng không còn đúng với sự thật nữa. Quan trọng hơn nữa, nếu chúng ta muốn có những thay đổi lớn trong cuộc đời mình thì trước hết chính mình phải biết thay đổi cách nhìn về người khác. Hãy đeo cặp kính khác rồi mọi sự quanh ta sẽ thay đổi theo .
"Một người bạn của tôi trên chuyến trở về Nam Phi sau một thời gian sống ở Âu Châu, đã phải chờ khá lâu ở phi trường Heathrow của London. Sau khi mua một ly cà phê và một gói bánh quy, cô kéo lê hành lý lỉnh kỉnh tới một cái bàn trống để đọc báo và ăn bánh trong khi chờ máy bay.
Khi đang đọc tờ báo buổi sáng, cô nhận ra có người làm gì đó sột soạt ở bàn mình. Liếc nhìn qua tờ báo, cô sửng sốt thấy một anh chàng ăn mặc lịch sự đang với tay lấy bánh của cô, bỏ vào miệng. Không muốn làm ầm ĩ, cô chỉ nghiêng mình để lấy một cái cho mình.
Một phút sau, cô lại nghe tiếng sột soạt. Anh chàng kia lại lấy thêm bánh để ăn.
Cho đến lúc cả hai đã ăn đến cái bánh cuối cùng trong gói, cô đã tức giận hết cỡ nhưng vẫn không nói được câu nào. Rồi chàng trai bỗng bẻ cái bánh làm hai, đẩy một nửa về phía cô và ăn nửa còn lại, rồi bỏ đi.
Lát sau, khi loa phóng thanh gọi tên cô, và yêu cầu cô xuất trình vé, cô vẫn còn bừng bừng cơn giận và mạt sát thậm tệ , khinh bỉ đến tột cùng anh chàng kia . Tuy nhiên, các bạn hãy thử tưởng tượng sự xấu hổ của cô khi cô mở túi xách ra và khám phá ra rằng gói bánh của mình vẫn còn nằm nguyên trong đó. Thì ra từ nãy tới giờ cô đã ăn bánh của người ta. Chàng kia đã chia sẻ với cô đến miếng bánh cuối cùng. Thật là một con người tốt bụng"
Suy nghĩ:
Câu chuyện cho thấy cái nhìn của chúng ta về người khác không luôn luôn chính xác, thậm chí nhiều khi còn nhầm lẫn nữa. Vì thế đừng vội xét đoán, kết án. Và cũng phải sẵn sàng thay đổi cái nhìn của mình khi chúng không còn đúng với sự thật nữa. Quan trọng hơn nữa, nếu chúng ta muốn có những thay đổi lớn trong cuộc đời mình thì trước hết chính mình phải biết thay đổi cách nhìn về người khác. Hãy đeo cặp kính khác rồi mọi sự quanh ta sẽ thay đổi theo .
Trở lại San Diego

Giây phút khai mạc Lần thứ hai, kể từ ngày sang Mỹ tôi vinh dự được trở lại San Diego… Trong khi tại Sacramento tiết trời vẫn lạnh,vừa sương mù, vừa mưa nhẹ, hạt mưa cứ mỗi lúc một thu dần lại, cuối cùng chỉ còn là những đám bụi lơ lửng làm trắng mờ cả không gian. Lão già mùa đông giá lạnh đã chế ngự tất cả thiên nhiên, tước đoạt sự sống mơn mởn của những chiếc lá. Cây gầy guộc như người thiếu phụ vừa ốm dạy, không còn là nơi lý tưởng cho bầy chim hẹn hò, trú ngụ…thì ở San diego lại vô cùng ấm áp, nắng trải vàng trên những lối đi, cây vẫn xanh màu xanh bất tận, đồng điệu với làn gió xuân vi vút tơ tình
21 giờ 10 phút máy bay cất cánh, hai chị em tôi tranh thủ “củng cố” dạ dày trước khi lên…trời, vậy mà 23 giờ đêm, máy bay hạ cánh, anh Trần Trọng Nghĩa– trưởng đài Tiếng nước tôi tại San diego vẫn “bắt cóc” chúng tôi bằng được để “gia cố các vết lõm” còn sót trong dạ dày, sau đó mới chịu thả về nhà chị Hoài Hương- để nghỉ ngơi, dưỡng sức cho buổi trà đàm vào chiều ngày hôm sau
Gọi là trà đàm mà chẳng hề có “tea” nào cả, dù là “ti to” hay “ti nhỏ” ( như thể đã bị cánh chị em giữ chặt trong người từ trước khi đến đây vậy). Ngược lại thức ăn bày la liệt trên mặt bàn, cánh chị em trổ tài nấu nướng đã đành, cánh đàn ông cũng không chịu kém cạnh, “cùng nhau ra sức anh tài”, tay xách nách mang, từ bánh mì đến nước ngọt, đồ ăn… Ở Việt Nam chỉ trong đám cưới, giỗ tết sang trọng mới là 4 đĩa, 6 bát, hoặc 3 đĩa, 7 bát, gồm măng, miến, bóng bì, nem rán, chả lụa, thịt gà, thịt lợn v.v, còn ở Mỹ không thể tính đếm được, cứ bầy kín bàn, mỗi người một phong cách thể hiện, một sở thích khác nhau. Từ bánh bao, xôi vò, chả ốc, chả giò, bò bía, đậu hầm, súp chay, súp mặn, bánh mì, bánh ngọt, cơm rang thập cẩm v.v…ăn xong, bát, đĩa, thìa, nĩa ( bằng nhựa và giấy) vứt hết vào sọt rác. Riêng các món ăn còn lại, ai thích thứ gì cứ việc cầm về, không lích kích rối ren như ở Việt Nam, chỉ riêng khoản phân phát, hay rửa chén bát đã đủ mệt nhoài.
Bốn tiếng đồng hồ trôi nhanh như tên bắn, lòng ai cũng bừng bừng cơn hưng phấn trước bước chuyển ngoặt giao thời đang đến gần. Lời của cố tổng thống Ngô Đình Diệm văng vẳng bên tai: “Nếu không giữ được, để chế độ rơi vào tay cộng sản thì 36 năm sau mới có thể phục hồi ”. Nay thời gian đã lạnh lùng thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Kể từ mùa xuân uất nghẹn đầu tiên ( 1976) đến nay, 36 năm đã trôi qua, nhân thiên hợp nhất, (người với trời sắp hòa thành một) để những con giòi đỏ ở Ba Đình chui tọt vào hố xí xã hội chủ nghĩa, giải phóng cho người dân khỏi ách kìm kẹp của lũ mũi tẹt, da vàng ngu dốt, tham tàn
Biết tôi đến đài Tiếng nước tôi ở San diego, đông y sĩ Cảnh Thiên bày tỏ: “Triết gia Channing từng phát biểu: – Lời nói là một trong những động thái phân biệt lớn nhất giữa con người và thú vật.
Còn triết gia J.J Rousseau cũng dặn dò: – Giọng nói là linh hồn của bài diễn văn, nó cung cấp cho bài diễn văn tâm tư và phẩm giá. Vì vậy nói là một trong những phương tiện tốt nhất để gửi đến đối tượng những gì mà trí óc và trái tim mình muốn chia sẻ. Có miệng mà không nói , không ca hát hay la hét được có khác gì loài thú người, người thú? Tuy nhiên, nói chỉ là cách phát âm thành tiếng, giọng nói mới chính là linh hồn của lời nói. Trong chốn sâu thẳm của trái tim, người nghe yêu giọng nói đầy ngọt ngào, quyến rũ, thiết tha của người phát ngôn viên trong chương trình phát thanh trên làn sóng như có ma lực ám ảnh, nhất là lại nói bằng cái hồn, bằng trái tim mình nên đối tượng nghe đài càng khao khát muốn nghe…Chính vì thế, chìa khóa để truyền tải là sự thiết thực, cụ thể, tưởng đơn giản, nhưng giàu hình tượng để đáp ứng những nhu cầu đời thường…”
Có lẽ đáp ứng được số đông thính giả nghe đài, cũng là đạt được một vài thành quả trong vai trò mới của “đệ tứ quyền”* mà số người tham dự trong hai buổi trà đàm và gây quỹ khá đông. Từ Ban Chấp hành Cộng Đồng Việt Nam, Hội Đền Hùng; Hội cao niên đến Liên Hội Chiến sĩ; Hội hải Quân Hàng Hải; Hội Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức; Hội Cảnh sát Quốc Gia; Hội Nhảy Dù (San Diego) tới Ban Đại diện Cộng Đồng; Đại diện Tổng Hội Sinh Viên (Nam Cali) rồi Liên Hội Tuổi trẻ, Hội Ái Hữu Long An; Phòng Thương Mại Việt Nam(San Diego)– Cơ sở Đảng Viêt Tân; Đài Tiếng Nưóc Tôi- Điện Báo Hải Ngoại Phiếm Đàm; Hội Công Giáo, Hội Không Quân v.v cùng các nhân sĩ tại điạ phương như Cựu Thẩm Phán Trần Gia Tá – Nguyễn Nam Lê – Nguyện Lợi –Nguyên Văn Tấn- Trần Chấn Hải- Trần Văn Tiếng– Ông Bà Đỗ Đăng Gia, các chị: Miền Trung – Ngọc Lan- Diệu Kim–Minh Thiện–Kim Sơn–Hoài Nam– Hoài Hương– Mây Bạc – Anh Tráng–Thanh Thanh- Kim Dung- Cô Linh- Kim Duyên- Ốc Hương v.v
Bác Trường Giang, một vị cao niên 78 tuổi, cũng là người có tình cảm đặc biệt với “gia đình” Việt Tân và “nhà đài” Tiếng nước tôi, người tham gia đủ hai buổi trà đàm và gây quỹ. Tuy tuổi cao, sức yếu, không tự lái được xe, nhưng vẫn lặng lẽ di chuyển trên hai chặng xe buýt để gặp bằng được bộ “tứ tử trình làng” từ Bắc Cali tới, gồm chị Minh Thi- giám đốc đài Tiếng nước tôi, chị Mỹ Thanh-xướng ngôn viên, Phượng Dung– ca sĩ, và tôi- cựu tù nhân chính trị – một trong những tội mà chỉ có đầu óc bệnh hoạn, quái đản của bọn lãnh đạo cộng sản mới nghĩ ra…
Biết tôi mới thoát khỏi nanh vuốt công an, được anh em ưu ái cho đi đó đi đây để tố cáo tội ác của giặc đảng, bác tặng tôi một “bầu đàn thê tử” va li gồm cả va li “chồng”, va li “vợ” và va li “con”, với lời đề tặng thân thương:
Kính gửi chị Trần Khải Thanh Thủy
Tôi thân mến gửi tặng chị món quà nhỏ bé này để tỏ lòng mến phục chị về tinh thần bất khuất , khẳng khái chống lại bạo quyền cộng sản khi còn ở trong nước ,tức là cá nằm trên thớt. Hy vọng quả núi hỏa diệm sơn và quả cầu lửa trong tấm thân liễu yếu đào tơ của chị sẽ nổ tung và chụp lên đầu bọn Bắc bộ phủ Hà Nội để dân tộc ta sớm có độc lập tự do và dân chủ”.
Trong khi tôi còn dào dạt cảm xúc về hành động chí nghĩa, chí tình của bác, thì ngay ngày hôm sau, bác khệ nệ bê một bức ảnh lồng trong khung kính đem đến nhà hàng tặng tôi cùng những lời bày tỏ trân trọng : “Đây là bức ảnh chụp từ năm 2005 trước thềm nhà Quốc hội Mỹ, tôi tặng chị để minh chứng cho lòng yêu nước của cộng đồng Hải ngoại luôn hướng về Quốc nội. Mười nghìn người Việt từ khắp nơi trên thế giới đổ về, tụ tập dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ để hưởng ứng lời kêu gọi của Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường với tựa đề: “ Xuống đường tranh đấu cho tự do của Việt Nam” (Viet Nam Freedom March) tại Thủ đô Washington D.C
Sự hồn hậu, cởi mở của ông chiếm ngay được cảm tình của tôi và mọi người trong nhà hàng Lý Garden, đặc biệt là ban tổ chức, khi bức hình được đem ra “đấu giá” lấy tiền yểm trợ cho phong trào dân chủ ở Quốc nội được trả tới 500 đồng. Trong cả cây mùa xuân mọc trên nền đất giàu tình nghĩa của đồng bào hải ngoại năm Nhâm Thìn này, ông góp được một quả đáng kể. “Uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”…Tuy chỉ được ngắm “quả” do ông “trồng”, nhưng tôi vô cùng hãnh diện vì món quà của ông thực sự là dưỡng chất quý báu cứu giúp anh em mình trong cơn cuồng nộ của bạo tàn cộng sản, giúp anh em có thêm nghị lực, sức mạnh và niềm tin đi tơí ngày chiến thắng, chôn thây ma cộng sản ngay dưới gốc cây mùa xuân của Hải ngoại chuyển về.
Phó chủ tịch phân bộ 472 hội cựu chiến binh Hoa Kỳ tại Việt Nam- ngài Eddy L. Martiez làm tôi vô cùng xúc động khi ông hướng cái nhìn thiện cảm vào tôi, bộc bạch những lời gan ruột:
- Tôi rất buồn vì đã không ở lại Việt Nam với các bạn đến giờ phút chót, để cùng các bạn chống lại cộng sản Việt Nam, để các bạn phải chịu một kết cục đau đớn. Hàng nghìn người phải bỏ nước ra đi, hàng triệu người phải chìm trong nô lệ dưới sự cai trị của đảng cộng sản. Dù chúng tôi đã cố làm tất cả để cưu mang các bạn trong bàn tay rộng lớn của mình, nhưng nỗi buồn này vẫn theo tôi suốt cuộc đời, cho đến khi xuống tận đáy mồ”.
Với vốn tiếng Anh “cộc lốc, ngắn ngủn” của mình, tôi không biết nói sao trước sự chân tình, nhân hậu của ông, đành nhờ chị Kim Trang- phó Chủ Tịch Cộng Đồng dịch hộ: “Việt Nam chúng tôi luôn cần người Mỹ bên cạnh vì Mỹ là đồng minh lớn, nên có thể giúp Việt Nam trong nhiều lĩnh vực kinh tế cũng như khoa học, chính trị…Không ai có thể ngờ rằng: Giữa thời hội nhập toàn cầu này, kinh tế Việt Nam vẫn ở vị trí cuối bảng, còn lãnh thổ thì bị giặc Tàu xâm lấn. Chính sự “giàu tặc”*** của lãnh đạo cộng sản ( những kẻ bán mình và bán tất cả qúa khứ, tương lai, hương hỏa của tổ tiên cho giặc Tàu) đã gây nên thảm họa cho người dân Việt hôm nay. Lịch sử dân tộc tôi hiện tại tràn ngập đau thương và uất hận. 87 triệu dân trong ngôi nhà độc tài xã hội chủ nghĩa chưa bao giờ được sống theo đúng nghĩa của từ này mà ngược lại, tất cả vẫn chỉ là sự khao khát, ước muốn được sống cho xứng đáng với danh từ người mà thôi”.
Cuộc nói chuyện đang còn dang dở thì tôi được ban tổ chức mời lên phát biểu. Bằng chất giọng thoáng hài và thoáng buồn của mình tôi kể lại những ngày tết trong tù, vốn chỉ “no cậy nước” và “ấm nhờ da”. Từ khi sang Mỹ đến nay, qua bốn cái tết: Thank giving, Giáng sinh, Tết Mỹ và Tết cổ truyền Việt Nam, cơ thể tôi đã “dềnh” lên 5 ký. Cứ cái đà:Tiến lên, toàn…mỡ dưới thịt, da thì tôi thành Trương Mỹ Heo mất – một phá chủ tịt nước- mà nhan sắc đủ làm nhục toàn thể cánh chị em người Việt Nam, cho nên điều duy nhất đúng là phải stop lại, kẻo…hơn đời ở cái bụng to lúc nào không biết(!)
Cuộc gây quỹ đang ở cao trào xúc động, tất cả cùng đồng lòng hướng về Quốc nội, nơi 87 triệu “con rồng cháu tiên” đang quằn quại rên xiết dưới bàn tay hiếu chiến, hiếu sát của cộng sản.
Đôi thiên nga mà chị Hoài Hương tỉ mỉ cắt gọt từ đống củ, quả và rau, hạt, ngay từ phút đầu tiên đã thu hút sự chú ý của mọi người. Có ở trong ngôi nhà của chị, nhìn chị hì hục làm suốt đêm mới thấy phục sự cần cù chịu khó của chị, cũng là phục cái tài của tạo hóa, vì tạo hóa đã tạo nên đôi tay chị thật là hoàn hảo, chẳng trường lớp nào ngoài trường…đời dạy chị mà chị lại mày mò làm được. Từ đầu, cổ, mình cho tới thân và đuôi thiên nga đều là kết quả của một sự cắt, tỉa hoàn chỉnh, cách điệu, mềm mại, thơ mộng và chuẩn xác không chệch một ly. Đầu tiên là một đoạn củ cải làm thân , phía trên có cái cổ được cắt gọt tỉ mỉ, cặn kẽ. Hàng chục lá bắp cải xòe rộng gắn với củ cải bằng những đoạn tăm tre vót nhọn cả hai đầu để tạo thành bộ cánh, còn mỏ là một trái ớt chín đỏ sậm, ngay giữa đỉnh đầu gài một lát cà rốt mỏng làm mào. Đôi mắt đen nhỏ xíu lấp lánh sáng được tạo từ hai hạt tiêu tròn và dẹt, đôi tai được gắn thêm hai khuyên vàng lóng lánh, càng tôn lên vẻ đẹp óng ả, lộng lẫy của cặp vợ chồng thiên nga.
Ông bạn vàng người Mỹ thốt lên: – “Đẹp quá, một bụm tơ vàng bồng bềnh xinh xắn, một sự sống nhỏ nhoi hiện lên từ đống rau quả quen thuộc… Thật thần kỳ và ngộ nghĩnh! Sao Việt Nam chỉ chọn con rồng làm biểu tượng của năm mới mà không chọn thiên nga nhỉ?

Ông Eddy L . Martiez với chú thiên nga “nở” ra từ gốc cây mùa xuân Chị Kim Trang thận trọng từng bước, đặt thiên nga “chồng” trước mặt ngài Eddy… Thoạt tiên ngài Eddy nở nụ cười đầy thiện ý, rồi ngỡ ngàng, vui thích khi biết chàng thiên nga sau khi “bơi” một vòng xung quanh 15 bàn tiệc, đã trở về, ngậm ngùi rời chiếc mỏ dài xinh xắn của mình ra khỏi mỏ vợ để giã biệt, trở thành vật sở hữu cho người chủ yêu quý nó, trả giá đầu tiên và cũng là giá cao nhất cho cuộc gây quỹ để yểm trợ cho cánh anh em dân chủ trong Quốc nội.
Ngoài bức ảnh Viet Nam Freedom March được bán với giá 500 đô la, các bức còn lại như “Tượng đài Chiến sĩ Việt -Mỹ”; “Vá cờ” cùng hàng chục hình ảnh của các thính giả tại đài Tiếng nước tôi … đều được ủng hộ với giá từ một đến ba trăm đô la. Bốn câu thơ của nhà thơ Nguyễn thị Xuân Lộc cứ văng vẳng bên tai tôi, găm vào trí nhớ của tôi hình ảnh người thiếu phụ vá cờ, làm bức ảnh trở nên có hồn, sinh động hơn hẳn, như gợi lại cả một qúa khứ hào hùng, khốc liệt:
Huế, Phú Vân Lâu, ngày chiếm lại
Dựng cờ vàng ngạo nghễ khoảng trời xanh
Anh hy sinh thân cờ in vết đạn
Em vá cờ, em vá mảnh giang san…
Chủ tịch cộng đồng Nguyễn văn Lực cùng chủ nhân của bức ảnh “Vá cờ” kèm bài thơ của thi sĩ Xuân Lộc
Sẽ là sai lầm lớn nếu không nhắc đến tâm điểm của buổi gây quỹ, cũng là những đường vân quằn quại xoắn trong lòng “cây mùa xuân” tại San Diego, đó là hai bài hát của nhạc sĩ Việt Khang được hai chị Mỹ Thanh và Ngọc Lan thể hiện . Bản thân anh bị cộng sản nhốt trong lao tù nhưng lời bài hát thì vang khắp thế giới. Một điều chúng muốn làm là nhốt khối óc và trái tim anh thì chúng không thể làm được, bởi luật của nhà nát Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là: “Đem bục công an đặt giữa trái tim người .Tình cảm ngược xuôi theo luật côn đồ nhà nước”** đã không làm anh nao núng. Không thể ngồi yên được nữa, anh đã cất lên tiếng hát đau xót, oán hờn: “Việt Nam ơi, đau thương qúa nửa đời người, và ta đã tỏ tường rồi, ôi cuộc đời ngày sau tàn lửa khói..”
Chính câu hỏi: “Anh là ai” trong bài hát quật khởi của anh đã được bọn chó ác trả lời bằng một thứ ngôn ngữ bạo lực – cũng là tư tưởng Hồ Chí Minh-đó là dùi cui, còng sắt và trại giam. Những thứ mà bọn chúng nghĩ rằng bất kể ai nhìn thấy cũng phải “biết điều” câm miệng hoặc nhũn như chi chi…
Trên thực tế, tiếng hát của anh đã găm vào lòng hàng chục triệu người nghe những câu hỏi nhức buốt, xóc óc, xóc từ trong gan ruột xóc ra…Trớ trêu thay, điều thực sự có ý nghĩa với người Việt có lương tri khắp trong và ngoài nước, lại là điều vô nghĩa đối với công an, vì chúng sinh ra vốn đã là chó ác, khác loài nên không cùng chung ngôn ngữ. Chúng nguyên vẹn một thiên tính bẩm sinh: Vô cảm hoặc vô lương. Chúng chỉ biết gầm gừ trong cổ họng khi những người yêu nước lên tiếng đòi lại đất đai của Tổ Quốc. Chúng rin rít, ư ử khi báo công báo thưởng với con đầu đàn để được lên lương. Chúng la lối om xòm với những người dân vô tội mỗi khi nhận lệnh cưỡng chế. Chúng không thông tỏ ngôn ngữ trong hai bài hát của anh nên đánh bắt anh bằng lệnh miệng của quan thầy Trung Hoa.
Cuộc gây quỹ thực sự in dấu ấn trong tôi, để lại bao tình cảm thân thiết. Khi chia tay bốn chị em chúng tôi, từ chị Kim Trang đến các chị Miền Trung- Ngọc Lan – Diệu Kim – Hoài Hương- Ốc Hương… ôm ghì lấy chúng tôi như thể niềm thương, nỗi nhớ bị dồn nén cả năm trời không biết đến bao giờ mới tìm lại được? Còn tôi thì tràn trề hy vọng : Năm cũ đã qua, năm mới đã tới với cái tên khai sinh mô phỏng hình tượng con rồng. Một con vật thần linh, mạnh mẽ được người Việt ngưỡng mộ, yêu quí, tôn thờ, cũng là biểu tượng của sự cao cả, anh hùng, vĩ đại với sức mạnh phi thường. Năm mà 87 triệu “con rồng cháu tiên” (gắn với huyền thoại Âu Cơ – Lạc Long Quân) sẽ thoát được ách cộng sản qua “phép mầu” của rồng…
Sacramento đêm 1-3-2012
T.K.T.T
@Đàn Chim Việt

Giây phút khai mạc Lần thứ hai, kể từ ngày sang Mỹ tôi vinh dự được trở lại San Diego… Trong khi tại Sacramento tiết trời vẫn lạnh,vừa sương mù, vừa mưa nhẹ, hạt mưa cứ mỗi lúc một thu dần lại, cuối cùng chỉ còn là những đám bụi lơ lửng làm trắng mờ cả không gian. Lão già mùa đông giá lạnh đã chế ngự tất cả thiên nhiên, tước đoạt sự sống mơn mởn của những chiếc lá. Cây gầy guộc như người thiếu phụ vừa ốm dạy, không còn là nơi lý tưởng cho bầy chim hẹn hò, trú ngụ…thì ở San diego lại vô cùng ấm áp, nắng trải vàng trên những lối đi, cây vẫn xanh màu xanh bất tận, đồng điệu với làn gió xuân vi vút tơ tình
21 giờ 10 phút máy bay cất cánh, hai chị em tôi tranh thủ “củng cố” dạ dày trước khi lên…trời, vậy mà 23 giờ đêm, máy bay hạ cánh, anh Trần Trọng Nghĩa– trưởng đài Tiếng nước tôi tại San diego vẫn “bắt cóc” chúng tôi bằng được để “gia cố các vết lõm” còn sót trong dạ dày, sau đó mới chịu thả về nhà chị Hoài Hương- để nghỉ ngơi, dưỡng sức cho buổi trà đàm vào chiều ngày hôm sau
Gọi là trà đàm mà chẳng hề có “tea” nào cả, dù là “ti to” hay “ti nhỏ” ( như thể đã bị cánh chị em giữ chặt trong người từ trước khi đến đây vậy). Ngược lại thức ăn bày la liệt trên mặt bàn, cánh chị em trổ tài nấu nướng đã đành, cánh đàn ông cũng không chịu kém cạnh, “cùng nhau ra sức anh tài”, tay xách nách mang, từ bánh mì đến nước ngọt, đồ ăn… Ở Việt Nam chỉ trong đám cưới, giỗ tết sang trọng mới là 4 đĩa, 6 bát, hoặc 3 đĩa, 7 bát, gồm măng, miến, bóng bì, nem rán, chả lụa, thịt gà, thịt lợn v.v, còn ở Mỹ không thể tính đếm được, cứ bầy kín bàn, mỗi người một phong cách thể hiện, một sở thích khác nhau. Từ bánh bao, xôi vò, chả ốc, chả giò, bò bía, đậu hầm, súp chay, súp mặn, bánh mì, bánh ngọt, cơm rang thập cẩm v.v…ăn xong, bát, đĩa, thìa, nĩa ( bằng nhựa và giấy) vứt hết vào sọt rác. Riêng các món ăn còn lại, ai thích thứ gì cứ việc cầm về, không lích kích rối ren như ở Việt Nam, chỉ riêng khoản phân phát, hay rửa chén bát đã đủ mệt nhoài.
Bốn tiếng đồng hồ trôi nhanh như tên bắn, lòng ai cũng bừng bừng cơn hưng phấn trước bước chuyển ngoặt giao thời đang đến gần. Lời của cố tổng thống Ngô Đình Diệm văng vẳng bên tai: “Nếu không giữ được, để chế độ rơi vào tay cộng sản thì 36 năm sau mới có thể phục hồi ”. Nay thời gian đã lạnh lùng thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Kể từ mùa xuân uất nghẹn đầu tiên ( 1976) đến nay, 36 năm đã trôi qua, nhân thiên hợp nhất, (người với trời sắp hòa thành một) để những con giòi đỏ ở Ba Đình chui tọt vào hố xí xã hội chủ nghĩa, giải phóng cho người dân khỏi ách kìm kẹp của lũ mũi tẹt, da vàng ngu dốt, tham tàn
Biết tôi đến đài Tiếng nước tôi ở San diego, đông y sĩ Cảnh Thiên bày tỏ: “Triết gia Channing từng phát biểu: – Lời nói là một trong những động thái phân biệt lớn nhất giữa con người và thú vật.
Còn triết gia J.J Rousseau cũng dặn dò: – Giọng nói là linh hồn của bài diễn văn, nó cung cấp cho bài diễn văn tâm tư và phẩm giá. Vì vậy nói là một trong những phương tiện tốt nhất để gửi đến đối tượng những gì mà trí óc và trái tim mình muốn chia sẻ. Có miệng mà không nói , không ca hát hay la hét được có khác gì loài thú người, người thú? Tuy nhiên, nói chỉ là cách phát âm thành tiếng, giọng nói mới chính là linh hồn của lời nói. Trong chốn sâu thẳm của trái tim, người nghe yêu giọng nói đầy ngọt ngào, quyến rũ, thiết tha của người phát ngôn viên trong chương trình phát thanh trên làn sóng như có ma lực ám ảnh, nhất là lại nói bằng cái hồn, bằng trái tim mình nên đối tượng nghe đài càng khao khát muốn nghe…Chính vì thế, chìa khóa để truyền tải là sự thiết thực, cụ thể, tưởng đơn giản, nhưng giàu hình tượng để đáp ứng những nhu cầu đời thường…”
Có lẽ đáp ứng được số đông thính giả nghe đài, cũng là đạt được một vài thành quả trong vai trò mới của “đệ tứ quyền”* mà số người tham dự trong hai buổi trà đàm và gây quỹ khá đông. Từ Ban Chấp hành Cộng Đồng Việt Nam, Hội Đền Hùng; Hội cao niên đến Liên Hội Chiến sĩ; Hội hải Quân Hàng Hải; Hội Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức; Hội Cảnh sát Quốc Gia; Hội Nhảy Dù (San Diego) tới Ban Đại diện Cộng Đồng; Đại diện Tổng Hội Sinh Viên (Nam Cali) rồi Liên Hội Tuổi trẻ, Hội Ái Hữu Long An; Phòng Thương Mại Việt Nam(San Diego)– Cơ sở Đảng Viêt Tân; Đài Tiếng Nưóc Tôi- Điện Báo Hải Ngoại Phiếm Đàm; Hội Công Giáo, Hội Không Quân v.v cùng các nhân sĩ tại điạ phương như Cựu Thẩm Phán Trần Gia Tá – Nguyễn Nam Lê – Nguyện Lợi –Nguyên Văn Tấn- Trần Chấn Hải- Trần Văn Tiếng– Ông Bà Đỗ Đăng Gia, các chị: Miền Trung – Ngọc Lan- Diệu Kim–Minh Thiện–Kim Sơn–Hoài Nam– Hoài Hương– Mây Bạc – Anh Tráng–Thanh Thanh- Kim Dung- Cô Linh- Kim Duyên- Ốc Hương v.v
Bác Trường Giang, một vị cao niên 78 tuổi, cũng là người có tình cảm đặc biệt với “gia đình” Việt Tân và “nhà đài” Tiếng nước tôi, người tham gia đủ hai buổi trà đàm và gây quỹ. Tuy tuổi cao, sức yếu, không tự lái được xe, nhưng vẫn lặng lẽ di chuyển trên hai chặng xe buýt để gặp bằng được bộ “tứ tử trình làng” từ Bắc Cali tới, gồm chị Minh Thi- giám đốc đài Tiếng nước tôi, chị Mỹ Thanh-xướng ngôn viên, Phượng Dung– ca sĩ, và tôi- cựu tù nhân chính trị – một trong những tội mà chỉ có đầu óc bệnh hoạn, quái đản của bọn lãnh đạo cộng sản mới nghĩ ra…
Biết tôi mới thoát khỏi nanh vuốt công an, được anh em ưu ái cho đi đó đi đây để tố cáo tội ác của giặc đảng, bác tặng tôi một “bầu đàn thê tử” va li gồm cả va li “chồng”, va li “vợ” và va li “con”, với lời đề tặng thân thương:
Kính gửi chị Trần Khải Thanh Thủy
Tôi thân mến gửi tặng chị món quà nhỏ bé này để tỏ lòng mến phục chị về tinh thần bất khuất , khẳng khái chống lại bạo quyền cộng sản khi còn ở trong nước ,tức là cá nằm trên thớt. Hy vọng quả núi hỏa diệm sơn và quả cầu lửa trong tấm thân liễu yếu đào tơ của chị sẽ nổ tung và chụp lên đầu bọn Bắc bộ phủ Hà Nội để dân tộc ta sớm có độc lập tự do và dân chủ”.
Trong khi tôi còn dào dạt cảm xúc về hành động chí nghĩa, chí tình của bác, thì ngay ngày hôm sau, bác khệ nệ bê một bức ảnh lồng trong khung kính đem đến nhà hàng tặng tôi cùng những lời bày tỏ trân trọng : “Đây là bức ảnh chụp từ năm 2005 trước thềm nhà Quốc hội Mỹ, tôi tặng chị để minh chứng cho lòng yêu nước của cộng đồng Hải ngoại luôn hướng về Quốc nội. Mười nghìn người Việt từ khắp nơi trên thế giới đổ về, tụ tập dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ để hưởng ứng lời kêu gọi của Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường với tựa đề: “ Xuống đường tranh đấu cho tự do của Việt Nam” (Viet Nam Freedom March) tại Thủ đô Washington D.C
Sự hồn hậu, cởi mở của ông chiếm ngay được cảm tình của tôi và mọi người trong nhà hàng Lý Garden, đặc biệt là ban tổ chức, khi bức hình được đem ra “đấu giá” lấy tiền yểm trợ cho phong trào dân chủ ở Quốc nội được trả tới 500 đồng. Trong cả cây mùa xuân mọc trên nền đất giàu tình nghĩa của đồng bào hải ngoại năm Nhâm Thìn này, ông góp được một quả đáng kể. “Uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”…Tuy chỉ được ngắm “quả” do ông “trồng”, nhưng tôi vô cùng hãnh diện vì món quà của ông thực sự là dưỡng chất quý báu cứu giúp anh em mình trong cơn cuồng nộ của bạo tàn cộng sản, giúp anh em có thêm nghị lực, sức mạnh và niềm tin đi tơí ngày chiến thắng, chôn thây ma cộng sản ngay dưới gốc cây mùa xuân của Hải ngoại chuyển về.
Phó chủ tịch phân bộ 472 hội cựu chiến binh Hoa Kỳ tại Việt Nam- ngài Eddy L. Martiez làm tôi vô cùng xúc động khi ông hướng cái nhìn thiện cảm vào tôi, bộc bạch những lời gan ruột:
- Tôi rất buồn vì đã không ở lại Việt Nam với các bạn đến giờ phút chót, để cùng các bạn chống lại cộng sản Việt Nam, để các bạn phải chịu một kết cục đau đớn. Hàng nghìn người phải bỏ nước ra đi, hàng triệu người phải chìm trong nô lệ dưới sự cai trị của đảng cộng sản. Dù chúng tôi đã cố làm tất cả để cưu mang các bạn trong bàn tay rộng lớn của mình, nhưng nỗi buồn này vẫn theo tôi suốt cuộc đời, cho đến khi xuống tận đáy mồ”.
Với vốn tiếng Anh “cộc lốc, ngắn ngủn” của mình, tôi không biết nói sao trước sự chân tình, nhân hậu của ông, đành nhờ chị Kim Trang- phó Chủ Tịch Cộng Đồng dịch hộ: “Việt Nam chúng tôi luôn cần người Mỹ bên cạnh vì Mỹ là đồng minh lớn, nên có thể giúp Việt Nam trong nhiều lĩnh vực kinh tế cũng như khoa học, chính trị…Không ai có thể ngờ rằng: Giữa thời hội nhập toàn cầu này, kinh tế Việt Nam vẫn ở vị trí cuối bảng, còn lãnh thổ thì bị giặc Tàu xâm lấn. Chính sự “giàu tặc”*** của lãnh đạo cộng sản ( những kẻ bán mình và bán tất cả qúa khứ, tương lai, hương hỏa của tổ tiên cho giặc Tàu) đã gây nên thảm họa cho người dân Việt hôm nay. Lịch sử dân tộc tôi hiện tại tràn ngập đau thương và uất hận. 87 triệu dân trong ngôi nhà độc tài xã hội chủ nghĩa chưa bao giờ được sống theo đúng nghĩa của từ này mà ngược lại, tất cả vẫn chỉ là sự khao khát, ước muốn được sống cho xứng đáng với danh từ người mà thôi”.
Cuộc nói chuyện đang còn dang dở thì tôi được ban tổ chức mời lên phát biểu. Bằng chất giọng thoáng hài và thoáng buồn của mình tôi kể lại những ngày tết trong tù, vốn chỉ “no cậy nước” và “ấm nhờ da”. Từ khi sang Mỹ đến nay, qua bốn cái tết: Thank giving, Giáng sinh, Tết Mỹ và Tết cổ truyền Việt Nam, cơ thể tôi đã “dềnh” lên 5 ký. Cứ cái đà:Tiến lên, toàn…mỡ dưới thịt, da thì tôi thành Trương Mỹ Heo mất – một phá chủ tịt nước- mà nhan sắc đủ làm nhục toàn thể cánh chị em người Việt Nam, cho nên điều duy nhất đúng là phải stop lại, kẻo…hơn đời ở cái bụng to lúc nào không biết(!)
Cuộc gây quỹ đang ở cao trào xúc động, tất cả cùng đồng lòng hướng về Quốc nội, nơi 87 triệu “con rồng cháu tiên” đang quằn quại rên xiết dưới bàn tay hiếu chiến, hiếu sát của cộng sản.
Đôi thiên nga mà chị Hoài Hương tỉ mỉ cắt gọt từ đống củ, quả và rau, hạt, ngay từ phút đầu tiên đã thu hút sự chú ý của mọi người. Có ở trong ngôi nhà của chị, nhìn chị hì hục làm suốt đêm mới thấy phục sự cần cù chịu khó của chị, cũng là phục cái tài của tạo hóa, vì tạo hóa đã tạo nên đôi tay chị thật là hoàn hảo, chẳng trường lớp nào ngoài trường…đời dạy chị mà chị lại mày mò làm được. Từ đầu, cổ, mình cho tới thân và đuôi thiên nga đều là kết quả của một sự cắt, tỉa hoàn chỉnh, cách điệu, mềm mại, thơ mộng và chuẩn xác không chệch một ly. Đầu tiên là một đoạn củ cải làm thân , phía trên có cái cổ được cắt gọt tỉ mỉ, cặn kẽ. Hàng chục lá bắp cải xòe rộng gắn với củ cải bằng những đoạn tăm tre vót nhọn cả hai đầu để tạo thành bộ cánh, còn mỏ là một trái ớt chín đỏ sậm, ngay giữa đỉnh đầu gài một lát cà rốt mỏng làm mào. Đôi mắt đen nhỏ xíu lấp lánh sáng được tạo từ hai hạt tiêu tròn và dẹt, đôi tai được gắn thêm hai khuyên vàng lóng lánh, càng tôn lên vẻ đẹp óng ả, lộng lẫy của cặp vợ chồng thiên nga.
Ông bạn vàng người Mỹ thốt lên: – “Đẹp quá, một bụm tơ vàng bồng bềnh xinh xắn, một sự sống nhỏ nhoi hiện lên từ đống rau quả quen thuộc… Thật thần kỳ và ngộ nghĩnh! Sao Việt Nam chỉ chọn con rồng làm biểu tượng của năm mới mà không chọn thiên nga nhỉ?

Ông Eddy L . Martiez với chú thiên nga “nở” ra từ gốc cây mùa xuân Chị Kim Trang thận trọng từng bước, đặt thiên nga “chồng” trước mặt ngài Eddy… Thoạt tiên ngài Eddy nở nụ cười đầy thiện ý, rồi ngỡ ngàng, vui thích khi biết chàng thiên nga sau khi “bơi” một vòng xung quanh 15 bàn tiệc, đã trở về, ngậm ngùi rời chiếc mỏ dài xinh xắn của mình ra khỏi mỏ vợ để giã biệt, trở thành vật sở hữu cho người chủ yêu quý nó, trả giá đầu tiên và cũng là giá cao nhất cho cuộc gây quỹ để yểm trợ cho cánh anh em dân chủ trong Quốc nội.
Ngoài bức ảnh Viet Nam Freedom March được bán với giá 500 đô la, các bức còn lại như “Tượng đài Chiến sĩ Việt -Mỹ”; “Vá cờ” cùng hàng chục hình ảnh của các thính giả tại đài Tiếng nước tôi … đều được ủng hộ với giá từ một đến ba trăm đô la. Bốn câu thơ của nhà thơ Nguyễn thị Xuân Lộc cứ văng vẳng bên tai tôi, găm vào trí nhớ của tôi hình ảnh người thiếu phụ vá cờ, làm bức ảnh trở nên có hồn, sinh động hơn hẳn, như gợi lại cả một qúa khứ hào hùng, khốc liệt:
Huế, Phú Vân Lâu, ngày chiếm lại
Dựng cờ vàng ngạo nghễ khoảng trời xanh
Anh hy sinh thân cờ in vết đạn
Em vá cờ, em vá mảnh giang san…
Chủ tịch cộng đồng Nguyễn văn Lực cùng chủ nhân của bức ảnh “Vá cờ” kèm bài thơ của thi sĩ Xuân Lộc
Sẽ là sai lầm lớn nếu không nhắc đến tâm điểm của buổi gây quỹ, cũng là những đường vân quằn quại xoắn trong lòng “cây mùa xuân” tại San Diego, đó là hai bài hát của nhạc sĩ Việt Khang được hai chị Mỹ Thanh và Ngọc Lan thể hiện . Bản thân anh bị cộng sản nhốt trong lao tù nhưng lời bài hát thì vang khắp thế giới. Một điều chúng muốn làm là nhốt khối óc và trái tim anh thì chúng không thể làm được, bởi luật của nhà nát Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là: “Đem bục công an đặt giữa trái tim người .Tình cảm ngược xuôi theo luật côn đồ nhà nước”** đã không làm anh nao núng. Không thể ngồi yên được nữa, anh đã cất lên tiếng hát đau xót, oán hờn: “Việt Nam ơi, đau thương qúa nửa đời người, và ta đã tỏ tường rồi, ôi cuộc đời ngày sau tàn lửa khói..”
Chính câu hỏi: “Anh là ai” trong bài hát quật khởi của anh đã được bọn chó ác trả lời bằng một thứ ngôn ngữ bạo lực – cũng là tư tưởng Hồ Chí Minh-đó là dùi cui, còng sắt và trại giam. Những thứ mà bọn chúng nghĩ rằng bất kể ai nhìn thấy cũng phải “biết điều” câm miệng hoặc nhũn như chi chi…
Trên thực tế, tiếng hát của anh đã găm vào lòng hàng chục triệu người nghe những câu hỏi nhức buốt, xóc óc, xóc từ trong gan ruột xóc ra…Trớ trêu thay, điều thực sự có ý nghĩa với người Việt có lương tri khắp trong và ngoài nước, lại là điều vô nghĩa đối với công an, vì chúng sinh ra vốn đã là chó ác, khác loài nên không cùng chung ngôn ngữ. Chúng nguyên vẹn một thiên tính bẩm sinh: Vô cảm hoặc vô lương. Chúng chỉ biết gầm gừ trong cổ họng khi những người yêu nước lên tiếng đòi lại đất đai của Tổ Quốc. Chúng rin rít, ư ử khi báo công báo thưởng với con đầu đàn để được lên lương. Chúng la lối om xòm với những người dân vô tội mỗi khi nhận lệnh cưỡng chế. Chúng không thông tỏ ngôn ngữ trong hai bài hát của anh nên đánh bắt anh bằng lệnh miệng của quan thầy Trung Hoa.
Cuộc gây quỹ thực sự in dấu ấn trong tôi, để lại bao tình cảm thân thiết. Khi chia tay bốn chị em chúng tôi, từ chị Kim Trang đến các chị Miền Trung- Ngọc Lan – Diệu Kim – Hoài Hương- Ốc Hương… ôm ghì lấy chúng tôi như thể niềm thương, nỗi nhớ bị dồn nén cả năm trời không biết đến bao giờ mới tìm lại được? Còn tôi thì tràn trề hy vọng : Năm cũ đã qua, năm mới đã tới với cái tên khai sinh mô phỏng hình tượng con rồng. Một con vật thần linh, mạnh mẽ được người Việt ngưỡng mộ, yêu quí, tôn thờ, cũng là biểu tượng của sự cao cả, anh hùng, vĩ đại với sức mạnh phi thường. Năm mà 87 triệu “con rồng cháu tiên” (gắn với huyền thoại Âu Cơ – Lạc Long Quân) sẽ thoát được ách cộng sản qua “phép mầu” của rồng…
Sacramento đêm 1-3-2012
T.K.T.T
@Đàn Chim Việt
Đừng coi thường con muỗi!
Từ đầu tháng 9 năm nay, vùng El Monte và South El Monte, thuộc tiểu bang California, nơi mà đa số cư dân gồm đủ loại các sắc tộc
và rất ít người biết tiếng Anh, đã thấy xuất hiện một giống muỗi lạ có tên gọi là Asian Tiger Mosquito (muỗi sọc vằn Á Châu).

Muỗi sọc vằn Á Châu.
LOS ANGELES : “Má ơi, con muỗi nó cắn con...”.
“Trời sáng trưng giờ này làm gì có muỗi?”. Giọng mà mẹ lớn tiếng.
“Ái cha, đau quá. Nó cắn con nữa nè má”. Cậu bé la to.
Bà mẹ chạy lại, giơ tay đập cái chát. “Cho mày chết!”. Xác con muỗi giờ nằm gọn trong lòng bàn tay. Nhìn xuống, bà ngạc nhiên vì con muỗi này sao lại có hai chân dài thòng, chổng cao lên, trên mình nó lại có nhiều vằn trắng đen nhìn rất lạ, mà lần đầu tiên trong đời bà trông thấy...
Tối hôm đó, đứa bé lên cơn sốt cao. Khi mang con vào bệnh viện, bà kể lại câu chuyện trên. Lập tức, cơ quan Phòng Chống Bệnh Dịch Lây Truyền Qua Các Con Vật Trung Gian được thông báo và cuộc điều tra bắt đầu.
* Con muỗi này từ đâu tới?
Theo cô Trúc Dever, trưởng ban Phòng Chống Bệnh Dịch Lây Truyền Qua Các Con Vật Trung Gian thuộc địa hạt Los Angeles (Greater Los Angeles County Vector Control District - GLACVCD) thì từ đầu tháng 9 năm nay, vùng El Monte và South El Monte, thuộc tiểu bang California, nơi mà đa số cư dân gồm đủ loại các sắc tộc và rất ít người biết tiếng Anh, đã thấy xuất hiện một giống muỗi lạ có tên gọi là Asian Tiger Mosquito (muỗi vằn Á Châu).
Đây là loài muỗi thường sống ở các vùng nhiệt đới như Đông Nam Á, nhưng từ hơn 10 năm nay chúng đã xâm nhập vào các nước khác, trong đó có Hoa Kỳ, qua đường du lịch. Chúng có kích thước chừng 1/4 inch, với đặc điểm rất dễ nhận ra là các vằn trắng đen rõ rệt trên lưng, bụng và chân. Giống muỗi này khoái cắn và chích rất dữ, nhất là vào ban ngày khi trời sáng (khác với các loài muỗi thông thường khác). Chúng thích đẻ trứng ở các nơi có nước ứ đọng và trứng sẽ nở thành muỗi sau 7-12 ngày.
Loài muỗi này khi chích sẽ truyền một vài chứng bệnh, mà trong đó nguy hiểm nhất là bệnh Dengue và Chikungunya (gây bởi nhiều loại virus). Sau khi bị giống muỗi này cắn, thời gian ủ bệnh thường là từ 3-15 ngày.
* Làm sao biết mình bệnh?
Các triệu chứng như sau đối với bệnh Dengue: sốt cao đột ngột (trên 104 độ F hay 40 độ C), nổi mẩn làm cho ngứa gãi, nhức đầu dữ dội, ớn lạnh, mệt mỏi gần như kiệt sức, đau lưng, đau các cơ bắp và khớp xương. Cần để ý là thân nhiệt và các triệu chứng trên thường kéo dài khoảng 2-4 ngày, rồi lại giảm dần khi cơ thể tiết nhiều mồ hôi, làm bệnh nhân có cảm giác như sắp khỏi bệnh. Nhưng chỉ sau một ngày thì đâu lại hoàn đấy. Các triệu chứng cũ lại xuất hiện và lần này lại nhiều hơn và nặng hơn.
Còn bệnh Chikyngunya có những triệu chứng như sau: sốt cao, đau nhức các khớp dữ dội (đau hơn cả bệnh thấp khớp), đau các cơ bắp, nổi mẩn làm cho ngứa gãi, nhức đầu, mỏi mệt lả cả người, buồn nôn, nôn mửa. Cơn sốt trong bệnh này có thể kéo dài vài ngày, vài tuần và sẽ gây suy giảm hệ miễn dịch của bệnh nhân.
* Điều trị ra sao?
Vì bệnh gây ra bởi nhiều loại virus nên chưa có thuốc nào điều trị tận gốc, cũng như chưa có thuốc chủng ngừa. Phương pháp chữa trị hiện nay cũng chỉ là trị theo triệu chứng (đau đâu chữa đó).
* Cách nào để phòng ngừa?
Cơ quan Phòng Chống Bệnh Dịch Lây Truyền Qua Các Con Vật Trung Gian khuyên dân cư nên làm những việc sau đây:
- Mặc quần dài, áo dài tay, nhất là khi đi ra ngoài trời hay trong vườn nhà.
- Nên sử dụng các loại thuốc xịt muỗi.
- Cửa nhà và cửa sổ nên có màn lưới chống muỗi.
- Đổ sạch nước và giữ sạch sẽ các chậu hoa, các bình, các kệ trong nhà, và nhất là trong vườn, vì các nơi này là ổ đẻ trứng lý tưởng của bọn muỗi này. Tuyệt đối không để nước ứ đọng ở bất cứ nơi nào trong nhà và ngoài vườn.
- Dọn sạch đẹp khu vườn, không để các cây cối um tùm, ẩm thấp.
- Khi bị muỗi cắn, cần đi bác sĩ ngay, và càng cẩn thận hơn để tránh bị cắn lần nữa, nhằm hạn thiểu việc truyền lây bệnh cho người khác bằng ngòi chích của bọn muỗi.
Giống muỗi Asian Tiger Mosquito đã từng gây ra cơn sốt bệnh dịch Dengue tại các tiểu bang Florida, Hawaii và Texas thời gian gần đây. Việc phát giác sự có mặt của chúng từ hơn tháng nay tại vùng El Monte và South El Monte là một mối lo ngại lớn cho tiểu bang California. Nếu mỗi người dân Cali không nhận thức được sự nguy hiểm của giống muỗi này và hiểu rõ cách thức phòng chống, thì California không chóng thì chầy sẽ phải đương đầu với các bệnh dịch nguy hiểm lây truyền qua giống muỗi này.
Nếu ai thấy giống muỗi này, hay khi bị muỗi cắn vào ban ngày, xin gọi ngay số 562-944-9656 để trình báo.
Nguon Mail.
Từ đầu tháng 9 năm nay, vùng El Monte và South El Monte, thuộc tiểu bang California, nơi mà đa số cư dân gồm đủ loại các sắc tộc
và rất ít người biết tiếng Anh, đã thấy xuất hiện một giống muỗi lạ có tên gọi là Asian Tiger Mosquito (muỗi sọc vằn Á Châu).

Muỗi sọc vằn Á Châu.
LOS ANGELES : “Má ơi, con muỗi nó cắn con...”.
“Trời sáng trưng giờ này làm gì có muỗi?”. Giọng mà mẹ lớn tiếng.
“Ái cha, đau quá. Nó cắn con nữa nè má”. Cậu bé la to.
Bà mẹ chạy lại, giơ tay đập cái chát. “Cho mày chết!”. Xác con muỗi giờ nằm gọn trong lòng bàn tay. Nhìn xuống, bà ngạc nhiên vì con muỗi này sao lại có hai chân dài thòng, chổng cao lên, trên mình nó lại có nhiều vằn trắng đen nhìn rất lạ, mà lần đầu tiên trong đời bà trông thấy...
Tối hôm đó, đứa bé lên cơn sốt cao. Khi mang con vào bệnh viện, bà kể lại câu chuyện trên. Lập tức, cơ quan Phòng Chống Bệnh Dịch Lây Truyền Qua Các Con Vật Trung Gian được thông báo và cuộc điều tra bắt đầu.
* Con muỗi này từ đâu tới?
Theo cô Trúc Dever, trưởng ban Phòng Chống Bệnh Dịch Lây Truyền Qua Các Con Vật Trung Gian thuộc địa hạt Los Angeles (Greater Los Angeles County Vector Control District - GLACVCD) thì từ đầu tháng 9 năm nay, vùng El Monte và South El Monte, thuộc tiểu bang California, nơi mà đa số cư dân gồm đủ loại các sắc tộc và rất ít người biết tiếng Anh, đã thấy xuất hiện một giống muỗi lạ có tên gọi là Asian Tiger Mosquito (muỗi vằn Á Châu).
Đây là loài muỗi thường sống ở các vùng nhiệt đới như Đông Nam Á, nhưng từ hơn 10 năm nay chúng đã xâm nhập vào các nước khác, trong đó có Hoa Kỳ, qua đường du lịch. Chúng có kích thước chừng 1/4 inch, với đặc điểm rất dễ nhận ra là các vằn trắng đen rõ rệt trên lưng, bụng và chân. Giống muỗi này khoái cắn và chích rất dữ, nhất là vào ban ngày khi trời sáng (khác với các loài muỗi thông thường khác). Chúng thích đẻ trứng ở các nơi có nước ứ đọng và trứng sẽ nở thành muỗi sau 7-12 ngày.
Loài muỗi này khi chích sẽ truyền một vài chứng bệnh, mà trong đó nguy hiểm nhất là bệnh Dengue và Chikungunya (gây bởi nhiều loại virus). Sau khi bị giống muỗi này cắn, thời gian ủ bệnh thường là từ 3-15 ngày.
* Làm sao biết mình bệnh?
Các triệu chứng như sau đối với bệnh Dengue: sốt cao đột ngột (trên 104 độ F hay 40 độ C), nổi mẩn làm cho ngứa gãi, nhức đầu dữ dội, ớn lạnh, mệt mỏi gần như kiệt sức, đau lưng, đau các cơ bắp và khớp xương. Cần để ý là thân nhiệt và các triệu chứng trên thường kéo dài khoảng 2-4 ngày, rồi lại giảm dần khi cơ thể tiết nhiều mồ hôi, làm bệnh nhân có cảm giác như sắp khỏi bệnh. Nhưng chỉ sau một ngày thì đâu lại hoàn đấy. Các triệu chứng cũ lại xuất hiện và lần này lại nhiều hơn và nặng hơn.
Còn bệnh Chikyngunya có những triệu chứng như sau: sốt cao, đau nhức các khớp dữ dội (đau hơn cả bệnh thấp khớp), đau các cơ bắp, nổi mẩn làm cho ngứa gãi, nhức đầu, mỏi mệt lả cả người, buồn nôn, nôn mửa. Cơn sốt trong bệnh này có thể kéo dài vài ngày, vài tuần và sẽ gây suy giảm hệ miễn dịch của bệnh nhân.
* Điều trị ra sao?
Vì bệnh gây ra bởi nhiều loại virus nên chưa có thuốc nào điều trị tận gốc, cũng như chưa có thuốc chủng ngừa. Phương pháp chữa trị hiện nay cũng chỉ là trị theo triệu chứng (đau đâu chữa đó).
* Cách nào để phòng ngừa?
Cơ quan Phòng Chống Bệnh Dịch Lây Truyền Qua Các Con Vật Trung Gian khuyên dân cư nên làm những việc sau đây:
- Mặc quần dài, áo dài tay, nhất là khi đi ra ngoài trời hay trong vườn nhà.
- Nên sử dụng các loại thuốc xịt muỗi.
- Cửa nhà và cửa sổ nên có màn lưới chống muỗi.
- Đổ sạch nước và giữ sạch sẽ các chậu hoa, các bình, các kệ trong nhà, và nhất là trong vườn, vì các nơi này là ổ đẻ trứng lý tưởng của bọn muỗi này. Tuyệt đối không để nước ứ đọng ở bất cứ nơi nào trong nhà và ngoài vườn.
- Dọn sạch đẹp khu vườn, không để các cây cối um tùm, ẩm thấp.
- Khi bị muỗi cắn, cần đi bác sĩ ngay, và càng cẩn thận hơn để tránh bị cắn lần nữa, nhằm hạn thiểu việc truyền lây bệnh cho người khác bằng ngòi chích của bọn muỗi.
Giống muỗi Asian Tiger Mosquito đã từng gây ra cơn sốt bệnh dịch Dengue tại các tiểu bang Florida, Hawaii và Texas thời gian gần đây. Việc phát giác sự có mặt của chúng từ hơn tháng nay tại vùng El Monte và South El Monte là một mối lo ngại lớn cho tiểu bang California. Nếu mỗi người dân Cali không nhận thức được sự nguy hiểm của giống muỗi này và hiểu rõ cách thức phòng chống, thì California không chóng thì chầy sẽ phải đương đầu với các bệnh dịch nguy hiểm lây truyền qua giống muỗi này.
Nếu ai thấy giống muỗi này, hay khi bị muỗi cắn vào ban ngày, xin gọi ngay số 562-944-9656 để trình báo.
Nguon Mail.
10 "Kỷ Lục" ngược của Việt Nam
Thông thường, kỷ lục được thiết lập thì đó là niềm vinh quang, tự hào của một cá nhân hay cộng đồng. Bởi đó là sự nỗ lực và thành tích phi thường được cộng đồng, thế giới công nhận và tôn vinh. Những kỷ lục đó mang lại lợi ích và niềm hy vọng mới cho xã hội loài người, nhận được sự khâm phục của tất cả mọi người. Tuy nhiên bên cạnh những kỷ lục mang yếu tố tích cực đó lại cũng có những kỷ lục do người ta vô tình hay cố ý lập nên để lòe bịp mọi người, gây nên những hệ quả tệ hại. Điều tôi muốn nói ở đây là những kỷ lục do nhà nước Việt Nam lập nên. Những kỷ lục mà mới nghe qua, người dân Việt Nam chỉ biết âm thầm khóc than, người lạc quan hơn thì cười ra nước mắt.
Với một chế độ nhà nước ngược đời như vậy thì những câu chuyện phi lý xảy ra hàng ngày hàng giờ, không thể kể ra hết. Cùng với thời gian, những điều phi lý kia tích tụ để tạo nên những kỷ lục mà chỉ ở Việt Nam mới có, thế giới không thể bắt chước được. Sau đây người viết chỉ cố gắng đưa ra 10 kỷ lục tiêu biểu trong số trên, mà tạm gọi là những kỷ lục ngược:
1. Đảng cầm quyền đại diện cho nhiều tầng lớp, giai cấp nhất: Mà cụ thể ở đây là toàn thể dân tộc. Điều đó được ghi nhận tại điều 4 Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam. Theo đó, đảng Cộng sản là người đại diện cho toàn thể dân tộc để lãnh đạo đất nước. Thông thường thì một đảng phái chỉ có thể đại diện cho những giai cấp và tầng lớp nhất định, vì vậy mà một đất nước có nhiều đảng phái khác nhau cùng tồn tại bình đẳng. Vì rằng, ở trên đời không có sự vật nào là vẹn toàn, là tất cả được. Ngay cả Albert Einstein cũng chỉ dám đưa ra Thuyết tương đối mà thôi. Nhưng vì ở Việt Nam, để duy trì chế độ độc tài toàn trị nên người ta mới đưa ra quy định ngược đời trên, và nó xứng đáng đứng đầu trong bảng xếp hạng 10 kỷ lục. Bởi từ đó mà sản sinh ra tất cả những kỷ lục còn lại.
2. Đất nước có nhiều thắng lợi nhất: Đảng Cộng Sản tuyên bố là trong suốt thời gian cầm quyền, họ đã đưa đất nước và nhân dân “Đi từ hết thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Nhưng sự thật là họ đã đưa đất nước “Đi từ hết thất bại này đến thất bại khác”. Mấy ví dụ tiêu biểu sau: Cải cách ruộng đất, xây dựng hợp tác xã bình quân, kinh tế tập thể, xóa bỏ tư hữu, phân biệt giai cấp và ý thức hệ, quốc hữu hóa tài sản cá nhân và tổ chức, và bây giờ là xây dựng kinh tế thị trường hoang dã. Hậu quả là Việt Nam trở nên một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, các giá trị văn hóa và tinh thần bị đảo lộn nghiêm trọng.
3. Nhà nước có lý luận và thực tiễn mâu thuẫn nhất: Nếu không muốn nói là mâu thuẫn một cách tuyệt đối. Lịch sử thế giới và Việt Nam đã chứng minh cho sự phi lý và hoang tưởng của hệ tư tưởng Cộng sản. Chính vì đi theo và áp dụng cái học thuyết ngược đời đó mà nhà nước Việt Nam đã gây nên những mâu thuẫn tuyệt đối giữa lời nói và việc làm của mình: Trước đây họ đấu tố và đả phá giai cấp Tư sản, coi đó là kẻ thù của giai cấp vô sản, phải tiêu diệt tận gốc. Giờ đây họ lại chấp nhận giai cấp tư sản và quay sáng bóc lột giai cấp vô sản. Trước đây họ chỉ chấp nhận nền kinh tế tập thể, cấm đoán mọi hình thức kinh tế tư nhân, giờ đây lại chấp nhận thành phần kinh tế tư nhân. Trước đây họ lên án các nước Tư bản, coi đó là kẻ thù của các nước Xã hội chủ nghĩa anh em, nay lại đi quỵ lụy và van xin các nước Tư bản. Họ nói họ là nhà nước “Của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” nhưng người dân không có quyền gì cả...
4. Vinh Quang và Vĩ đại nhất: Ở đâu trên khắp đất nước Việt Nam chúng ta cũng bắt gặp nhan nhản những khẩu hiệu đỏ chót: “Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh muôn năm”. Ngày xưa thì còn có cả khẩu hiệu: “Chủ nghĩa Mác – Lê nin vô địch muôn năm”, nhưng từ khi hệ thống các nước cộng sản sụp đổ thì không thấy xuất hiện nữa.
5. Đất nước có nhiều Làng Văn hóa và Gia đình Văn hóa nhất: Trong các cuộc họp của chính quyền người ta đưa ra những phấn đấu để địa phương mình có nhiều làng và gia đình văn hóa. Với những tiêu chuẩn mà nếu xét thực ra thì chỉ có tìm ở hành tinh khác thì may ra mới có thể đạt được, chứ những con người trên trái đất thì khó mà thực hiện. Ấy vậy mà cũng có rất nhiều làng và gia đình văn hóa được bình bầu. Làng nào được bầu chọn sẽ được dựng một chiếc cổng chào, trên đó có ghi rõ “Làng Văn hóa”, hai bên cổng chào có hình sao vàng và búa liềm. Cũng đúng thôi, vì đây là sản phẩm của chế độ Cộng sản mà. Những chiếc cổng “Làng Văn hóa” đứng ngạo nghễ, trơ gan cùng tuế nguyệt.
6. Lạm phát cao nhất: Lạm phát cao đến nổi mọi nỗ lực tiến lên của xã hội không nhúc nhích được một chút nào, nếu không muốn nói là đi thụt lùi. Ví dụ lương của công chức tăng 1 đồng thì giá cả hàng hóa lại tăng ít nhất một đồng. Nghe đâu có một nước Châu Phi nào đó phải phát hành những đồng có bạc mệnh giá cao ngất ngưỡng, mấy triệu bạc mới mua được một mớ rau. Tuy vậy nước này cũng phải nhường kỷ lục cho Việt Nam, bởi tính độc đáo của một nước Cộng sản chủ nghĩa.
7. Giao thông tệ hại nhất: Điểm độc đáo của giao thông Việt Nam là không có luật lệ và quy luật. Người tham gia giao thông phải có đầu óc tính toán của một nhà Toán học thiên tài để có thể lường được những tình huống có thể xảy ra đối với mình. Bởi vậy mà thế giới công nhận người Việt Nam thông minh nhất. Một câu chuyện để chứng minh kỷ lục tệ hại của giao thông Việt Nam: Ở Hà Nội (Thủ đô Việt Nam), đường phố có sự tham gia giao thông của tất cả các phương tiện. Khi bạn ngồi trên ô tô thì có thể thấy những chiếc xe máy lao thẳng vào xe từ đủ mọi hướng, người và xe ken chặt vào nhau, cảnh sát giao thông có phát điên cũng không thể giải quyết được nạn kẹt xe giờ cao điểm. Có một Bà người Đức sang Việt Nam công tác, ngồi trên ô tô trên đường phố Hà Nội, bà liên tục đưa tay bưng mặt bởi thấy những chiếc xe máy cứ lao về phía mình từ mọi hướng như là đánh bom cảm tử. Ngay lập tức bà gọi điện về Đức cảnh báo: “Những người yếu tim thì nhất định không được sang Việt Nam”.
8. Tham nhũng phổ biến và trắng trợn nhất: Tham nhũng là ăn trộm, là ăn cướp và phải bị pháp luật và người dân trừng trị. Chí ít thì người tham nhũng cũng phải biết xấu hổ. Nhưng ở Việt Nam thì tham nhũng đã trở thành một lẽ đương nhiên, trở thành mốt và là niềm tự hào. Bởi những kẻ tham nhũng thì giàu có và được vênh vang, trong khi người dân thì không dám làm gì cả, không ai dám tố cáo hay phản đối. Nói theo ngôn ngữ chính trị thì tham nhũng ở Việt Nam trở thành một cơ chế, bởi có sự tham gia vận hành của cả một hệ thống chính trị. Điểm khác biệt ở Việt Nam là những kẻ tham nhũng lại được vẻ vang, vinh quang và được coi là thức thời.
9. Giữ hình thức canh tác nguyên thủy được lâu nhất: Với nền văn minh lúa nước thì quy trình canh tác từ xa xưa là: Ngâm giống, gieo mạ, nhổ mạ, cấy lúa, rồi đến chăm bón và thu hoạch. Ngày nay (thế kỷ 21), người Việt Nam vẫn trung thành với quy trình và lối canh tác này, đây là hình thức tồn tại ít nhất cũng mấy ngàn năm nay rồi. Trong khi người dân ở các nước họ đã cơ giới hóa nông nghiệp từ lâu. Có lẽ Việt Nam vẫn giữ hình thức canh tác này để phục vụ cho những chuyến du lịch tìm về cội nguồn?
10. Lãnh đạo ngồi ghế được lâu nhất: Hi hữu lắm mới có việc một ông lãnh đạo nào đó bị huyền chức, cũng do bởi ông ta ngồi nhầm phải cái ghế bị mối mọt, còn lại lãnh đạo ở Việt Nam yên trí lớn với cái ghế của mình. Khác với ở các quốc gia dân chủ là lãnh đạo do dân bầu nên, ở Việt Nam việc ngồi chiếc ghế lãnh đạo là do dây rợ và bè phái. Người dân không can thiệp được vào quy trình phân chia quyền lực lãnh đạo này. Vì vậy mới có chuyện cứ vị lãnh đạo nào bị phát hiện tham nhũng và làm sai thì lại leo lên làm chức lớn hơn, ngồi ghế cao hơn.
Cho dù Nhà nước hiện nay có cố gắng sửa chữa và thay đổi thế nào đi nữa, mà vẫn giữ nguyên chế độ độc tài Cộng sản thì đất nước vẫn không có lối thoát. Không những vậy mà ngày càng có nhiều “Kỷ lục” ngược sẽ được thiết lập. Vì rằng cái kiểu nhà nước này nó ngược đời quá, nói thẳng ra là không thể chấp nhận được. Nếu các vị sớm tỉnh ngộ và bớt đi lòng tham quyền lực thì thật may mắn cho đất nước. Khi không còn thể chế chính trị phi lý và ngược đời đó nữa thì nhân dân Việt Nam ắt sẽ lập nên những kỷ lục mới đúng với ý nghĩa tích cực và đáng tự hào.
Minh Văn
Với một chế độ nhà nước ngược đời như vậy thì những câu chuyện phi lý xảy ra hàng ngày hàng giờ, không thể kể ra hết. Cùng với thời gian, những điều phi lý kia tích tụ để tạo nên những kỷ lục mà chỉ ở Việt Nam mới có, thế giới không thể bắt chước được. Sau đây người viết chỉ cố gắng đưa ra 10 kỷ lục tiêu biểu trong số trên, mà tạm gọi là những kỷ lục ngược:
1. Đảng cầm quyền đại diện cho nhiều tầng lớp, giai cấp nhất: Mà cụ thể ở đây là toàn thể dân tộc. Điều đó được ghi nhận tại điều 4 Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam. Theo đó, đảng Cộng sản là người đại diện cho toàn thể dân tộc để lãnh đạo đất nước. Thông thường thì một đảng phái chỉ có thể đại diện cho những giai cấp và tầng lớp nhất định, vì vậy mà một đất nước có nhiều đảng phái khác nhau cùng tồn tại bình đẳng. Vì rằng, ở trên đời không có sự vật nào là vẹn toàn, là tất cả được. Ngay cả Albert Einstein cũng chỉ dám đưa ra Thuyết tương đối mà thôi. Nhưng vì ở Việt Nam, để duy trì chế độ độc tài toàn trị nên người ta mới đưa ra quy định ngược đời trên, và nó xứng đáng đứng đầu trong bảng xếp hạng 10 kỷ lục. Bởi từ đó mà sản sinh ra tất cả những kỷ lục còn lại.
2. Đất nước có nhiều thắng lợi nhất: Đảng Cộng Sản tuyên bố là trong suốt thời gian cầm quyền, họ đã đưa đất nước và nhân dân “Đi từ hết thắng lợi này đến thắng lợi khác”. Nhưng sự thật là họ đã đưa đất nước “Đi từ hết thất bại này đến thất bại khác”. Mấy ví dụ tiêu biểu sau: Cải cách ruộng đất, xây dựng hợp tác xã bình quân, kinh tế tập thể, xóa bỏ tư hữu, phân biệt giai cấp và ý thức hệ, quốc hữu hóa tài sản cá nhân và tổ chức, và bây giờ là xây dựng kinh tế thị trường hoang dã. Hậu quả là Việt Nam trở nên một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, các giá trị văn hóa và tinh thần bị đảo lộn nghiêm trọng.
3. Nhà nước có lý luận và thực tiễn mâu thuẫn nhất: Nếu không muốn nói là mâu thuẫn một cách tuyệt đối. Lịch sử thế giới và Việt Nam đã chứng minh cho sự phi lý và hoang tưởng của hệ tư tưởng Cộng sản. Chính vì đi theo và áp dụng cái học thuyết ngược đời đó mà nhà nước Việt Nam đã gây nên những mâu thuẫn tuyệt đối giữa lời nói và việc làm của mình: Trước đây họ đấu tố và đả phá giai cấp Tư sản, coi đó là kẻ thù của giai cấp vô sản, phải tiêu diệt tận gốc. Giờ đây họ lại chấp nhận giai cấp tư sản và quay sáng bóc lột giai cấp vô sản. Trước đây họ chỉ chấp nhận nền kinh tế tập thể, cấm đoán mọi hình thức kinh tế tư nhân, giờ đây lại chấp nhận thành phần kinh tế tư nhân. Trước đây họ lên án các nước Tư bản, coi đó là kẻ thù của các nước Xã hội chủ nghĩa anh em, nay lại đi quỵ lụy và van xin các nước Tư bản. Họ nói họ là nhà nước “Của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân” nhưng người dân không có quyền gì cả...
4. Vinh Quang và Vĩ đại nhất: Ở đâu trên khắp đất nước Việt Nam chúng ta cũng bắt gặp nhan nhản những khẩu hiệu đỏ chót: “Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh muôn năm”. Ngày xưa thì còn có cả khẩu hiệu: “Chủ nghĩa Mác – Lê nin vô địch muôn năm”, nhưng từ khi hệ thống các nước cộng sản sụp đổ thì không thấy xuất hiện nữa.
5. Đất nước có nhiều Làng Văn hóa và Gia đình Văn hóa nhất: Trong các cuộc họp của chính quyền người ta đưa ra những phấn đấu để địa phương mình có nhiều làng và gia đình văn hóa. Với những tiêu chuẩn mà nếu xét thực ra thì chỉ có tìm ở hành tinh khác thì may ra mới có thể đạt được, chứ những con người trên trái đất thì khó mà thực hiện. Ấy vậy mà cũng có rất nhiều làng và gia đình văn hóa được bình bầu. Làng nào được bầu chọn sẽ được dựng một chiếc cổng chào, trên đó có ghi rõ “Làng Văn hóa”, hai bên cổng chào có hình sao vàng và búa liềm. Cũng đúng thôi, vì đây là sản phẩm của chế độ Cộng sản mà. Những chiếc cổng “Làng Văn hóa” đứng ngạo nghễ, trơ gan cùng tuế nguyệt.
6. Lạm phát cao nhất: Lạm phát cao đến nổi mọi nỗ lực tiến lên của xã hội không nhúc nhích được một chút nào, nếu không muốn nói là đi thụt lùi. Ví dụ lương của công chức tăng 1 đồng thì giá cả hàng hóa lại tăng ít nhất một đồng. Nghe đâu có một nước Châu Phi nào đó phải phát hành những đồng có bạc mệnh giá cao ngất ngưỡng, mấy triệu bạc mới mua được một mớ rau. Tuy vậy nước này cũng phải nhường kỷ lục cho Việt Nam, bởi tính độc đáo của một nước Cộng sản chủ nghĩa.
7. Giao thông tệ hại nhất: Điểm độc đáo của giao thông Việt Nam là không có luật lệ và quy luật. Người tham gia giao thông phải có đầu óc tính toán của một nhà Toán học thiên tài để có thể lường được những tình huống có thể xảy ra đối với mình. Bởi vậy mà thế giới công nhận người Việt Nam thông minh nhất. Một câu chuyện để chứng minh kỷ lục tệ hại của giao thông Việt Nam: Ở Hà Nội (Thủ đô Việt Nam), đường phố có sự tham gia giao thông của tất cả các phương tiện. Khi bạn ngồi trên ô tô thì có thể thấy những chiếc xe máy lao thẳng vào xe từ đủ mọi hướng, người và xe ken chặt vào nhau, cảnh sát giao thông có phát điên cũng không thể giải quyết được nạn kẹt xe giờ cao điểm. Có một Bà người Đức sang Việt Nam công tác, ngồi trên ô tô trên đường phố Hà Nội, bà liên tục đưa tay bưng mặt bởi thấy những chiếc xe máy cứ lao về phía mình từ mọi hướng như là đánh bom cảm tử. Ngay lập tức bà gọi điện về Đức cảnh báo: “Những người yếu tim thì nhất định không được sang Việt Nam”.
8. Tham nhũng phổ biến và trắng trợn nhất: Tham nhũng là ăn trộm, là ăn cướp và phải bị pháp luật và người dân trừng trị. Chí ít thì người tham nhũng cũng phải biết xấu hổ. Nhưng ở Việt Nam thì tham nhũng đã trở thành một lẽ đương nhiên, trở thành mốt và là niềm tự hào. Bởi những kẻ tham nhũng thì giàu có và được vênh vang, trong khi người dân thì không dám làm gì cả, không ai dám tố cáo hay phản đối. Nói theo ngôn ngữ chính trị thì tham nhũng ở Việt Nam trở thành một cơ chế, bởi có sự tham gia vận hành của cả một hệ thống chính trị. Điểm khác biệt ở Việt Nam là những kẻ tham nhũng lại được vẻ vang, vinh quang và được coi là thức thời.
9. Giữ hình thức canh tác nguyên thủy được lâu nhất: Với nền văn minh lúa nước thì quy trình canh tác từ xa xưa là: Ngâm giống, gieo mạ, nhổ mạ, cấy lúa, rồi đến chăm bón và thu hoạch. Ngày nay (thế kỷ 21), người Việt Nam vẫn trung thành với quy trình và lối canh tác này, đây là hình thức tồn tại ít nhất cũng mấy ngàn năm nay rồi. Trong khi người dân ở các nước họ đã cơ giới hóa nông nghiệp từ lâu. Có lẽ Việt Nam vẫn giữ hình thức canh tác này để phục vụ cho những chuyến du lịch tìm về cội nguồn?
10. Lãnh đạo ngồi ghế được lâu nhất: Hi hữu lắm mới có việc một ông lãnh đạo nào đó bị huyền chức, cũng do bởi ông ta ngồi nhầm phải cái ghế bị mối mọt, còn lại lãnh đạo ở Việt Nam yên trí lớn với cái ghế của mình. Khác với ở các quốc gia dân chủ là lãnh đạo do dân bầu nên, ở Việt Nam việc ngồi chiếc ghế lãnh đạo là do dây rợ và bè phái. Người dân không can thiệp được vào quy trình phân chia quyền lực lãnh đạo này. Vì vậy mới có chuyện cứ vị lãnh đạo nào bị phát hiện tham nhũng và làm sai thì lại leo lên làm chức lớn hơn, ngồi ghế cao hơn.
Cho dù Nhà nước hiện nay có cố gắng sửa chữa và thay đổi thế nào đi nữa, mà vẫn giữ nguyên chế độ độc tài Cộng sản thì đất nước vẫn không có lối thoát. Không những vậy mà ngày càng có nhiều “Kỷ lục” ngược sẽ được thiết lập. Vì rằng cái kiểu nhà nước này nó ngược đời quá, nói thẳng ra là không thể chấp nhận được. Nếu các vị sớm tỉnh ngộ và bớt đi lòng tham quyền lực thì thật may mắn cho đất nước. Khi không còn thể chế chính trị phi lý và ngược đời đó nữa thì nhân dân Việt Nam ắt sẽ lập nên những kỷ lục mới đúng với ý nghĩa tích cực và đáng tự hào.
Minh Văn

Saigon ơi!
Ta đã mất người như người đã mất tên… Về gốc gác tôi không phải người Sài-gòn. Nhưng tôi đã sống và lớn lên ở đất Sài-gòn. Đã đổi đời với Sài-gòn. Rồi giã từ Sài-gòn. Sài-gòn đã trở thành máu thịt trong tôi, một thành phố đi xa thì nhớ, ở gần thì thương. Tất nhiên mối liên hệ được kết nối với những kỷ niệm, những ân tình, những cảm xúc, những trăn trở, những tiếc nuối, kể cả những tủi nhục đắng cay như bao cư dân khác. Nhưng Sài-gòn vẫn là Sài-gòn, một cái tên thân thương, dù vật đổi sao dời nó không thể có một cái tên khác, một cái tên mà những người đi mở đất đã đặt cho nó cách đây hơn ba trăm năm. Có người hỏi tại sao vậy, tôi xin dùng lý luận của nhà văn Nhã Ca trong một tiểu thuyết của bà. Bà yêu đường Tự Do cũng như tôi yêu Sài-gòn, bà giải thích đường Tư Do là Tự Do chứ không thể là Đồng khởi vì nó có tên là…Tự Do! Lối lý giải giản dị, tự nhiên như người Sài-gòn mà lại hợp lý, dễ hiểu cho người dân cả nước.
Nhớ lại sau 75, khi Sài-gòn không còn là những đề tài thời sự, với những nhóm từ như Sài-gòn hấp hối, Sài-gòn thất thủ, Sài-gòn di tản, Sài-gòn giải phóng, Sài-gòn tắm máu thì Sài-gòn bỗng trở thành một cái tên cho một kịch bản mang tựa đề, “Miss Saigon”, một kịch bản đã đi vào huyền thoại vì nó được diễn đi diễn lại liên tục mỗi đêm trên các sàn diễn nổi tiếng khắp năm châu cả hàng chục năm liền.
Mặc nhiên, Sàigòn đã trở thành một danh xưng quốc tế chẳng phải nhờ chiến tranh với sự hiện diện của những chàng G.I. của Mỹ, chẳng phải vì là trạm dừng chân của những chuyến đi con thoi cho những nhà mua bán chính trị của các phe, mà lịch sử của địa danh này đã sang trang khi có làn sóng di tản ồ ạt ra khỏi nước, làm tiền đề cho các Sàigòn Nhỏ mọc lên ở hải ngoại như một kiểu Chinatown của người Tàu rải rác khắp năm châu. Kể từ đó, ‘Little Saigon’ được hiểu như một biểu tượng văn hóa, có pha lẫn sắc thái chính trị hơn là một trung tâm thương mại cho các kiều bào người Việt xa quê hương.
Kể từ ngày 2-7-1976, khi quốc hội CSVN chính thức ra nghị quyết đổi tên Sài-gòn thành một thành phố có danh xưng mang tên người lãnh tụ CS đã qua đời của họ, thì sau một chu kỳ 30 năm, người ta lại nhắc nhiều đến Sài-gòn. Ở ngoài nước, một phong trào rầm rộ đã dấy lên để đòi nhà cầm quyền Cộng Sản hãy trả lại cái tên nguyên thuỷ của nó. Nhiều cuộc hội thảo, nhiều vòng hội thoại, nhiều bản kiến nghị, nhiều cuộc tập họp, với lối biểu dương thiện chí khá ôn hòa đa dạng được sự đồng tình ủng hộ cũa nhiều giới, nhiều tổ chức có uy tín của người Việt hải ngoại đã làm cho việc phục hồi tên (cũ) của Sàigòn (xưa) như một nhu cầu cấp thiết không nặng phần chính trị mà đậm nét văn hóa, lịch sử để xin trả về “những gì của Sai-gòn cho Sài-gòn” đúng với danh xưng của nó.
Trong khi đó thì chính quyền trong nước, do một sự tình cờ lịch sử, lại tưng bừng kỷ niệm 300 năm ra đời của một thành phố mà họ đã gán ghép cho một cái tên khác. Lẽ ra họ chỉ nên kỷ niệm 30 năm ngày thành phố đổi tên, làm như vậy, mặc nhiên cái tên “thật” của Sàgòn 300 năm lại đựơc đánh bóng và làm mờ đi lớp sơn mới của cái tên “giả” bị áp đặt có tuổi đời chỉ mới ba thập niên. Nói thế không có nghĩa ta bảo những người trong Thành ủy không có sự tính toán. Khi kỷ niệm Sài-gòn 300 năm, các cấp lãnh đạo thành phố đã nhìn nhận với bề dày lịch sử và quá trình phát triển của nó, Sài-gòn vẫn tiếp tục là ngọn cờ đầu trong cả nước về mọi lãnh vực từ chính trị, kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật đến văn hóa, văn học nghệ thuật, du lịch, giao lưu quốc tế…cho nên trong chiều hướng muốn quảng bá cho hình ảnh của Sài-gòn với cộng đồng thế giới thì họ không thể chối bỏ một điều là các kiều bào hải ngoại đa phần là những người “từ thành phố Sài-gòn này họ đã ra đi”, kể cả bến Nhà Rồng nơi Hồ cũng từ đây ra đi tìm đường… cứu nước (?)
Điều đáng mừng là song song với trào lưu đòi đổi tên từ các cộng đồng hải ngoại, thì cả chục năm qua ở trong nước Sài-gòn không còn là một cái tên ‘chui’. Các nhà văn, nhà báo, các bloggers, các thanh niên sinh viên, các doanh nhân, du khách, các cơ sở văn hóa nghệ thuật, các phương tiện truyền thanh truyền hình cả nước không còn coi hai chữ Sài-gòn như một danh xưng cấm kỵ. Thậm chí trong dân gian càng ngày càng xử dụng thoải mái cái tên Sài-gòn. Nhiều cán bộ Hà nội đã nói ‘vào Sài-gòn công tác’, nhiều các cháu dưới quê mong được ‘lên Sài-gòn tham quan’ v.v… Nhạc sĩ TCS lúc sinh thời qua ca khúc ”Em còn nhớ hay em đã quên” cũng viết ‘nhớ Sài-gòn mưa rồi chợt nắng…’(bài này TCS viết vào đầu thập niên ‘80 khi thành phố đã đổi tên. Bài hát với âm điệu trầm lắng, ray rứt gợi nhớ người miền nam về một thành phố không thể nào quên).
Mớì đây, tình cờ đọc một phóng sự của báo Thanh Niên, khi báo này thuật lại cảm tưởng của một nhà văn nữ nổi tiếng của Trung quốc sau khi du lịch Việt nam. Cô là một nhà văn trẻ có sách dịch sang tiếng Việt nhiều nhất và được đông đảo giới trẻ hâm mộ. Sau khi thăm cả hai miền nam bắc, được hỏi nơi nào cô cho là ‘ấn tượng’ nhất. Không do dự cô ca ngợi Sài-gòn như một khám phá mới “tiềm ẩn về phong cách văn hóa, mang tính đa dạng, năng động và hiếu khách, bỏ xa Hà nội, Huế, Hạ long…” Có điều lạ là toàn bộ nội dung phóng sự, bài báo đều xử dụng từ Sài-gòn và chỉ Sài-gòn mà thôi! Cũng vậy, cứ đọc báo Tuổi trẻ, Thanh niên, hai tờ báo dẫn đầu số độc giả trong cả nước, thì Saìgòn vẫn là danh xưng nhà báo và độc giả đều ưa thích. Chẳng cần úp mở, khi tuyến đường sắt huyết mạch Bắc Nam, được coi như phương tiện xử dụng của đông đảo bà con lao động mỗi khi di chuyển, thì lấp lánh ngay Ga Hàng Cỏ/ Hà nội người ta đã báo giờ cho lịch trình trong ngày bằng hàng chữ điện tử: “tuyến Hà nội – Sài gòn khởi hành lúc….” không hiểu sao lại không dùng tên Hồ như các năm trước đây, hay là để cho phù hợp với cung cách làm ăn thời hội nhập?
Vậy thì để danh chính ngôn thuận, người viết xin mạnh dạn đề nghị hãy trả lại tên Hồ cho thành phố Lăng Hồ vừa là một hình thức kỷ niệm sâu sắc sau dịp kỷ niệm Thăng Long một ngàn năm, vì Hà nội là nơi Hồ đã sống và làm việc trong những năm cuối đời toạ lạc trong một quần thể mang nhiều kỷ niệm, dấu chân của Bác từ nhà sàn Hồ đến Phủ Chủ tịch, từ viện bảo tàng Hồ đến quảng trường Ba đình, vừa là một việc làm nhằm giải tỏa cho cái tên xưa của thành phố phía nam VN, nơi Hồ chẳng hề có một liên hệ nào trừ một lần vãng lai trước khi xuống tàu vượt biên sang Pháp.
Cũng trùng dịp hai vị đứng đầu Nhà Nước đều gốc Nam bộ. xin các ‘vị’ hãy mạnh dạn vận động, can thiệp cho một nghị quyết mới trả lại cái tên Sàigòong cho người dân Bến Nghé, giống như hành động đầy thiện chí nhằm khép lại quá khứ một thời của quốc hội Liên bang Nga khi họ dũng cảm biểu quyết hoàn trả cái tên của thành phố cố đô từ Leningrad (tên gán) về cho Petersbourg (tên xưa). Chính Putin, tổng thống Nga, một cựu đảng viên cộng sản Liên xô cũng rất nhiệt tình vân động và tự hào khi ‘hometown’ của ông nhận lại cái tên lịch sử có từ ngàn năm trước.
Tại sao chuyện này lại không thể xảy ra ở Việt nam, một khát vọng mang tính văn hóa, một nhu cầu mang tính lịch sử, một việc làm chẳng ai mất mặt, môt món nợ cần phải trả và sự hoàn trả tuy có trễ còn hơn không. Mong lắm thay!
Người Bến Nghé (ĐXT)
Bà bán báo ở phố Bolsa:
Sống làm từ thiện, chết trong cô độc
Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - Tôi nhìn trân trối hình ảnh một đám tang.
Tôi nhìn trân trối hình ảnh hai người nhân viên nhà quàn
lấy tấm carton đậy lên chiếc quan tài - cũng bằng giấy carton - trước khi đẩy vào lò thiêu.
Tôi chưa từng nhìn thấy một chiếc quan tài bằng giấy - chiếc quan tài đơn điệu như một chiếc thùng giấy hình chữ nhật.
Tôi chưa từng nhìn thấy, một đám tang chỉ diễn ra vỏn vẹn trong vòng 35 phút, lượt người vòng quanh viếng đếm vừa hơn một bàn tay.
Tôi chưa từng nhìn thấy, một đám tang chỉ một người duy nhất chít khăn tang, một người duy nhất vừa cầm di ảnh người quá cố, cầm luôn bát hương chỏng chơ 3 nén nhang còn dang dở cháy.
Không một ai thân thích ruột rà, ngoài năm người bạn không cùng sắc tộc của con trai người nằm xuống, và tôi, một người xa lạ đến viếng một người xa lạ...
Tôi tham dự nhiều đám tang, nhưng có lẽ, đến giờ phút này, đám tang người đàn bà tôi dự sáng nay, là một trong những đám tang buồn nhất, quạnh quẽ nhất.
Ðó là đám tang của bà Hai, Nguyễn Thị Hai, 75 tuổi, người đàn bà bán báo trước tiệm chè Cali ở khu chợ ABC gần chục năm qua.
***
Hụt hẫng và hối tiếc. Là những cảm giác đeo bám tôi từ trưa ngày Thứ Bảy.
Tôi từng nói với sếp tôi rằng tôi sẽ viết một bài về bà - bà bán báo lạ lùng - bà bán báo mà trong bao nhiêu năm qua, những ai có dịp dừng chân nơi khu vực chợ ABC đều nhìn thấy. Bà bán báo từng chắt mót, xin bánh mì cũ để cho lũ chim ăn. Bà bán báo chắt chiu từng đồng, nhưng lại hào phóng chia cho từng người khất thực, từng người ăn xin, chung quanh bà. Bà bán báo để dành thức ăn thừa cho lũ mèo hoang nơi bà sống, khiến người ta cảm thấy sợ bà, xa lánh bà...
Tôi nói tôi sẽ viết, từ khi bà bán báo còn xuất hiện mỗi ngày trước tiệm chè Cali.
Khi bà bán báo bị người ta “đuổi,” phải chạy sang bán trước tiệm Phở Quang Trung.
Khi nhìn thấy bà bán báo còng lưng già cõi, đẩy chiếc shopping cart trên chất đầy báo, và thùng giấy, chậm chậm lê bước trên hè phố Bolsa.
Tôi nói tôi sẽ viết, khi...
Nhưng tôi biết, đến hôm nay, tôi chẳng bao giờ còn có thể nói “tôi sẽ viết” nữa. Bởi bà Hai bán báo chết rồi.
Bà chết tuần trước. Lúc 3 giờ 34 phút chiều Chủ Nhật, 4 tháng 3. Ung thư gan. Bà chết chỉ ba ngày sau khi vào bệnh viện.
Những người hàng xóm tốt bụng của bà đã nói với tôi như thế, khi họ tìm đến tòa soạn báo Người Việt vào trưa Thứ Bảy, mong tìm sự giúp đỡ.
Bởi, “Bà Hai chỉ có một đứa con trai duy nhất. Hôm qua, tôi nhìn thấy thằng nhỏ, đội trên đầu cái nón lá của má nó, đẩy chiếc xe bả vẫn thường chất báo đi qua chùa Ðiều Ngự, vừa đi nó vừa khóc. Tôi hỏi, nó nói má nó mới chết... Nó không biết lấy tiền đâu ra để trả tiền thiêu mẹ, vào trưa Thứ Hai, ngày 12 tháng 3 này.” Người đàn ông già nua và cằn cõi, xưng tên là Lê Ðình Phi, hàng xóm của bà Hai bán báo, miệng móm mém cố dằn những giọt nước mắt, gắng gượng kể cho xong câu chuyện.
Gương mặt ông Phi vừa chứa đựng nét mệt mỏi, vừa đầy vẻ đau thương. Ông Phi đến cùng một người đàn ông khác, trẻ hơn, tên Hoàng Huỳnh, cũng là láng giềng của bà Hai bán báo. “Bà Hai sống biệt lập và cô độc. Nhưng giờ bả mất rồi, thằng con không biết nói tiếng Việt, không biết nó sẽ làm gì trong những ngày tới.” Ông Hoàng buồn bã.
***
Tôi tìm đến nhà bà Hai, một căn apartment trên đường Village Way, thành phố Westminster, gặp con trai bà, James Nguyễn. James có vẻ gì “hiền lành” hơn tuổi 32 của mình.
Con trai bà bán báo nhường chiếc ghế sofa duy nhất trong nhà cho tôi ngồi, còn James quỳ dưới đất, bên cạnh bàn thờ, cứ hãy gọi đó là bàn thờ, nơi James để tạm vài ba tấm hình bà Hai, một tấm hình James thời thiếu niên, vài bức tượng Phật nhỏ cùng một chén gạo, hai trái chuối. Không hoa, không đèn, không nhang. Ðó là bàn thờ của một người vừa khuất.
“Tôi không biết mặt cha tôi. Mẹ tôi nói ba tôi là người Phi, bà quen ông ngày bà ở đảo Guam. Khi biết tin mẹ tôi có bầu, ông đuổi mẹ tôi đi. Mẹ sinh tôi năm 1979. Từ nhỏ tới giờ, tôi chỉ biết có mẹ, duy nhất chỉ có mẹ, không có bà con ruột thịt nào hết. Tôi đoán mẹ tôi có người thân ở Việt Nam, nhưng tôi không hề biết họ là ai, mẹ tôi chưa từng cho tôi nói chuyện với họ, mà tôi cũng không biết tiếng Việt.”
Vừa lục lọi chiếc rổ trong đó chứa nhiều những bì thư cũ kỹ, có những bức thư được gửi tới nhưng vẫn còn chưa bóc ra, một ít giấy tờ, một tấm bằng quốc tịch của bà bán báo, những mảnh giấy ghi số điện thoại,... xem có gì có thể đưa tôi xem, James vừa kể chuyện về mẹ mình.
“Tôi biết là có nhiều người biết mẹ tôi, thương mẹ tôi, vì bà tốt. Bà chăm sóc tôi từ xưa tới giờ. Bà từng mong muốn tôi sẽ đi học làm bác sĩ, học làm luật sư, nhưng tôi không làm được. Tôi theo học college một thời gian, rồi tôi đi làm, tôi bị tai nạn xe hơi,... Mẹ luôn ở bên tôi.” James cứ đều đều kể, cố ngăn không cho nước mắt chảy xuống trước mặt một người phụ nữ.
Ðiều James nói về mẹ mình, cũng là điều mà nhiều người từng đặt chân đến Bolsa, từng biết đến bà bán báo trước tiệm chè Cali, nhận xét.
Anh Khương Diệp, hiện đang sống ở Florida, chia sẻ:
“Bà bán báo cũng là một trong những kỷ niệm của vợ chồng tôi trong khoảng thời gian tôi còn lai vãng ở thủ đô tị nạn. Tôi thích mua báo nơi bà vì tôi thấy bà là một người dễ gần gũi, có nhiều điều làm cho mình kính trọng. Bà hay giới thiệu 'báo này có nhiều người mua chắc hay!', 'báo này họ cho tôi, nên tôi bán rẻ,' 'tờ đó toàn là quảng cáo hông, cậu ơi !'... Làm cho tôi quá đỗi ngạc nhiên vì hình như bà bán báo này không cần tiền hay sao ấy! Rất nhiều lần tui cố tình đưa nhiều hơn số tiền phải trả, vì ngầm muốn giúp đỡ bà. Nhưng bà đếm lại và gọi với theo để trả lại số tiền tôi đưa dư. Tôi năn nỉ bà nhận, nhưng theo bà bán buôn gì cũng vậy, cần phải thành thật, cái gì ra cái đó, ăn cho buôn so!”
Trong khi đó, ông Franklin Ðắc Nguyễn, một người đang sống tại thành phố Anaheim, thì “Cụ bà bán báo trước tiệm liquor khu Bolsa và 'mắt ngó lia'” là người mà ông có ấn tượng nhất ở vùng Little Saigon.
“Tôi thích mua báo của cụ bà đó thôi. Có lẽ một phần vì muốn giúp cụ mua mau bán đắt, và phần còn lại là cụ bà bán đầy đủ các tờ báo mà mình muốn tìm đọc. Nói chung lại mình rất thoải mái mua báo từ cái quầy báo của cụ, chỉ là chiếc xe đẩy của chợ. Cụ thì lúc nào cũng nhỏ nhẹ, giới thiệu tất cả những mặt hàng nào mà cụ có. Một đôi lần tôi cố tình giúp cụ bằng cách không nhận lại tiền còn dư, thối lại cho khách hàng, để làm món quà nhỏ biếu cụ. Nhưng với cụ thì tuyệt nhiên sòng phẳng, nghiêm túc trong vấn đề kinh doanh của cụ. Có những lúc không có tiền lẻ, cụ bà bảo 'cậu cứ mang về nhà đọc rồi hôm nào quay lại trả cho tôi cũng được. Tôi đứng ra bán báo là làm việc thiện cho chùa, cho các em trẻ mồ côi, giúp đỡ những người khốn cùng được tới đâu hay tới đó.'”
***
Theo lời người con trai, bà Hai là một người thương con nhưng cũng là một người “khá lập dị.”
Bà là người sùng đạo Phật và thích làm việc từ thiện. Có bao nhiêu tiền, bà đều mang đi làm từ thiện. Bà không bao giờ đi bác sĩ. Những khi bà bệnh, bà chỉ đến những tiệm thuốc đông y mua dược thảo và nhờ người cạo gió cho bà.
“Hơn hai tháng trước khi mẹ tôi mất, bà giống như người mất trí. Có những hôm bà cởi hết quần áo đi lang thang trong xóm. Có lúc bà sang nói với hàng xóm là tôi đánh bà. Và rồi bà không về nhà, bà ngủ ngoài xe, chiếc xe chất đầy thùng giấy và báo của bà chắc ai cũng biết. Tôi chỉ biết lái xe đi vòng vòng các chợ xem mẹ tôi đậu ở đâu, nhìn vào xem bà ở đâu. Tôi gọi bà về mà bà nhìn tôi như không hề biết tôi là ai.”
James tiếp tục câu chuyện.
“Ðến hôm gần cuối Tháng Hai đột nhiên tôi thấy mẹ tôi về trước nhà. Tôi gọi mẹ, mẹ lại nói chuyện rất bình thường. Mẹ kêu tôi đi mua cho mẹ ít rau củ, mẹ tôi ăn chay trường, vậy mà khi tôi mua luôn cả 'súp nuôi gà' về, mẹ tôi cũng ăn luôn. Nhưng đến ngày thứ hai sau khi về nhà thì mẹ tôi bắt đầu 'đi ngoài' không biết gì, rồi ói mửa. Tôi ẵm mẹ tôi lên lầu để tắm rửa cho bà. Ðến khuya đó bà run, sùi bọt mép, tôi gọi 9-1-1. Ngày đầu vào bệnh viện, mẹ vẫn còn nhìn tôi. Nhưng qua ngày hôm sau thì não bà đã chết, dù tim vẫn còn đập. Ðến ngày thứ ba ở bệnh viện, sau khi bác sĩ nói chuyện, tôi quyết định rút ống thở cho mẹ. Tôi không muốn mẹ tôi đau đớn hơn.” James chùi nước mắt.
Bà Hai mất chiều Chủ Nhật, 4 tháng 3.
“Mẹ tôi không có tiền để lại. Tôi cũng không có gì hết.” James cho biết.
Những người hàng xóm tốt bụng đã gom góp lại cho James tiền để làm lễ hỏa thiêu cho mẹ. “Thiêu và mang hài cốt về Việt Nam rải xuống biển là ước nguyện của mẹ tôi. Nhưng tôi không biết phải thực hiện điều đó như thế nào. Trước mắt, sau khi thiêu xong, tôi sẽ mang cốt mẹ tôi để vô chùa.”
***
Tôi dành một buổi chiều Chủ Nhật đọc sơ qua những lá thư của người thân bà Hai gửi cho bà. Hầu hết đều là là những lá thư thăm hỏi và cho biết đã nhận được tiền bà gửi về để cúng chùa, mỗi lần khoảng $2,000, trong nhiều năm. Lạ một điều là rất nhiều lá thư trong đó chưa hề được xé ra. Tuy nhiên, lá thư cuối cùng là từ năm 2003.
Theo lời nhờ của con trai bà Hai, tôi lần theo những số điện thoại có trong đống thư từ gọi về Việt Nam để báo tin cho thân nhân bà. Nhìn có vẻ như có rất nhiều số điện thoại ghi trên tờ giấy này, mảnh giấy nọ. Nhưng khi ráp hết lại, chỉ có 4 số, trong đó 3 số ở Việt Nam, một số ở Canada.
Tôi nói chuyện được với một người anh họ của bà bán báo ở Vũng Tàu, và một người em gái cùng mẹ khác cha với bà đã đi tu.
Mọi người ngỡ ngàng nhưng cũng không quá ngạc nhiên trước tin bà Hai mất.
“Lâu lắm rồi không thấy chỉ gọi điện thoại về, cũng nghĩ quẩn, nhưng không biết cách nào hỏi thăm.” Người đàn ông tên Phát, ở Vũng Tàu, xưng là anh em họ với bà, cho tôi biết.
Còn một người gọi bà bán báo bằng dì Hai, ở Sài Gòn, tâm sự, “Mẹ tôi là em cùng cha khác mẹ với dì Hai. Tên người ghi trên bì thư chị nhìn thấy là tên tôi. Thực ra không ai ở Việt Nam biết dì Hai làm gì, sống như thế nào. Chỉ biết dì có một người con trai tên là Thiện (tên Việt Nam của James-NV) mà gia đình cũng chưa thấy hình cũng chưa bao giờ nói chuyện. Từ hồi đó giờ dì Hai có về Việt Nam vài ba lần, nhưng dì về bất chợt mà đi cũng bất chợt. Nói tóm lại là bên này không biết chuyện gì ở bên kia hết.”
Theo lời của người cháu này, bà Hai còn một người em trai cùng mẹ khác cha sống ở Canada. Tuy nhiên, theo số điện thoại trong 1 bức thư viết năm 1993, tôi gọi đến thì không ai biết người tôi muốn hỏi là ai. Còn một số điện thoại ở Sài Gòn, tôi gọi, người bên kia trả lời, “Cô gọi lộn số.”
Khi tôi viết xuống những dòng này, nhiều người đã biết tin “bà bán báo mất” qua những dòng tôi viết vội trên trang blog của mình cuối tuần qua.
Nhiều người hàng xóm, nhiều người không quen biết từ nhiều nơi, đặc biệt trong đó có Trí Tạ, phó thị trưởng thành phố Westminster, đã kịp bày tỏ lòng mình đến với bà bán báo nơi phố Bolsa.
James Nguyễn, con trai bà bán báo, trước sau chỉ nói được, “Tôi không biết nói gì hơn là cám ơn, cám ơn tất cả những gì mà mọi người đã giúp đỡ về tinh thần cũng như vật chất cho tôi trong hai ngày qua. Tôi muốn cám ơn những người hàng xóm, cám ơn nhiều người tôi không hề biết mặt đã gọi điện thoại đến chia buồn với tôi, gửi tiền đến cúng mẹ tôi. Tôi nghĩ có lẽ mẹ tôi sẽ vui.”
Tôi nhìn hình ảnh người con trai duy nhất bà bán báo để lại trên cuộc đời, giữa lòng Little Saigon, nơi có đông đảo đồng hương của bà, tay bưng bát nhang, tay cầm di ảnh mẹ, bơ vơ, lạc lõng, trong ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ, mà nghe ra những trớ trêu của cuộc đời.
Tôi nhìn tôi, nhìn 5 người bạn con trai bà bán báo đến tiễn bà vào lò thiêu mà nghe cuộc đời vừa ấm áp vừa lạnh lẽo đến tái tê.
Sống làm từ thiện, chết trong cô độc
Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - Tôi nhìn trân trối hình ảnh một đám tang.
Tôi nhìn trân trối hình ảnh hai người nhân viên nhà quàn
lấy tấm carton đậy lên chiếc quan tài - cũng bằng giấy carton - trước khi đẩy vào lò thiêu.
Tôi chưa từng nhìn thấy một chiếc quan tài bằng giấy - chiếc quan tài đơn điệu như một chiếc thùng giấy hình chữ nhật.
Tôi chưa từng nhìn thấy, một đám tang chỉ diễn ra vỏn vẹn trong vòng 35 phút, lượt người vòng quanh viếng đếm vừa hơn một bàn tay.
Tôi chưa từng nhìn thấy, một đám tang chỉ một người duy nhất chít khăn tang, một người duy nhất vừa cầm di ảnh người quá cố, cầm luôn bát hương chỏng chơ 3 nén nhang còn dang dở cháy.
Không một ai thân thích ruột rà, ngoài năm người bạn không cùng sắc tộc của con trai người nằm xuống, và tôi, một người xa lạ đến viếng một người xa lạ...
Tôi tham dự nhiều đám tang, nhưng có lẽ, đến giờ phút này, đám tang người đàn bà tôi dự sáng nay, là một trong những đám tang buồn nhất, quạnh quẽ nhất.
Ðó là đám tang của bà Hai, Nguyễn Thị Hai, 75 tuổi, người đàn bà bán báo trước tiệm chè Cali ở khu chợ ABC gần chục năm qua.
***
Hụt hẫng và hối tiếc. Là những cảm giác đeo bám tôi từ trưa ngày Thứ Bảy.
Tôi từng nói với sếp tôi rằng tôi sẽ viết một bài về bà - bà bán báo lạ lùng - bà bán báo mà trong bao nhiêu năm qua, những ai có dịp dừng chân nơi khu vực chợ ABC đều nhìn thấy. Bà bán báo từng chắt mót, xin bánh mì cũ để cho lũ chim ăn. Bà bán báo chắt chiu từng đồng, nhưng lại hào phóng chia cho từng người khất thực, từng người ăn xin, chung quanh bà. Bà bán báo để dành thức ăn thừa cho lũ mèo hoang nơi bà sống, khiến người ta cảm thấy sợ bà, xa lánh bà...
Tôi nói tôi sẽ viết, từ khi bà bán báo còn xuất hiện mỗi ngày trước tiệm chè Cali.
Khi bà bán báo bị người ta “đuổi,” phải chạy sang bán trước tiệm Phở Quang Trung.
Khi nhìn thấy bà bán báo còng lưng già cõi, đẩy chiếc shopping cart trên chất đầy báo, và thùng giấy, chậm chậm lê bước trên hè phố Bolsa.
Tôi nói tôi sẽ viết, khi...
Nhưng tôi biết, đến hôm nay, tôi chẳng bao giờ còn có thể nói “tôi sẽ viết” nữa. Bởi bà Hai bán báo chết rồi.
Bà chết tuần trước. Lúc 3 giờ 34 phút chiều Chủ Nhật, 4 tháng 3. Ung thư gan. Bà chết chỉ ba ngày sau khi vào bệnh viện.
Những người hàng xóm tốt bụng của bà đã nói với tôi như thế, khi họ tìm đến tòa soạn báo Người Việt vào trưa Thứ Bảy, mong tìm sự giúp đỡ.
Bởi, “Bà Hai chỉ có một đứa con trai duy nhất. Hôm qua, tôi nhìn thấy thằng nhỏ, đội trên đầu cái nón lá của má nó, đẩy chiếc xe bả vẫn thường chất báo đi qua chùa Ðiều Ngự, vừa đi nó vừa khóc. Tôi hỏi, nó nói má nó mới chết... Nó không biết lấy tiền đâu ra để trả tiền thiêu mẹ, vào trưa Thứ Hai, ngày 12 tháng 3 này.” Người đàn ông già nua và cằn cõi, xưng tên là Lê Ðình Phi, hàng xóm của bà Hai bán báo, miệng móm mém cố dằn những giọt nước mắt, gắng gượng kể cho xong câu chuyện.
Gương mặt ông Phi vừa chứa đựng nét mệt mỏi, vừa đầy vẻ đau thương. Ông Phi đến cùng một người đàn ông khác, trẻ hơn, tên Hoàng Huỳnh, cũng là láng giềng của bà Hai bán báo. “Bà Hai sống biệt lập và cô độc. Nhưng giờ bả mất rồi, thằng con không biết nói tiếng Việt, không biết nó sẽ làm gì trong những ngày tới.” Ông Hoàng buồn bã.
***
Tôi tìm đến nhà bà Hai, một căn apartment trên đường Village Way, thành phố Westminster, gặp con trai bà, James Nguyễn. James có vẻ gì “hiền lành” hơn tuổi 32 của mình.
Con trai bà bán báo nhường chiếc ghế sofa duy nhất trong nhà cho tôi ngồi, còn James quỳ dưới đất, bên cạnh bàn thờ, cứ hãy gọi đó là bàn thờ, nơi James để tạm vài ba tấm hình bà Hai, một tấm hình James thời thiếu niên, vài bức tượng Phật nhỏ cùng một chén gạo, hai trái chuối. Không hoa, không đèn, không nhang. Ðó là bàn thờ của một người vừa khuất.
“Tôi không biết mặt cha tôi. Mẹ tôi nói ba tôi là người Phi, bà quen ông ngày bà ở đảo Guam. Khi biết tin mẹ tôi có bầu, ông đuổi mẹ tôi đi. Mẹ sinh tôi năm 1979. Từ nhỏ tới giờ, tôi chỉ biết có mẹ, duy nhất chỉ có mẹ, không có bà con ruột thịt nào hết. Tôi đoán mẹ tôi có người thân ở Việt Nam, nhưng tôi không hề biết họ là ai, mẹ tôi chưa từng cho tôi nói chuyện với họ, mà tôi cũng không biết tiếng Việt.”
Vừa lục lọi chiếc rổ trong đó chứa nhiều những bì thư cũ kỹ, có những bức thư được gửi tới nhưng vẫn còn chưa bóc ra, một ít giấy tờ, một tấm bằng quốc tịch của bà bán báo, những mảnh giấy ghi số điện thoại,... xem có gì có thể đưa tôi xem, James vừa kể chuyện về mẹ mình.
“Tôi biết là có nhiều người biết mẹ tôi, thương mẹ tôi, vì bà tốt. Bà chăm sóc tôi từ xưa tới giờ. Bà từng mong muốn tôi sẽ đi học làm bác sĩ, học làm luật sư, nhưng tôi không làm được. Tôi theo học college một thời gian, rồi tôi đi làm, tôi bị tai nạn xe hơi,... Mẹ luôn ở bên tôi.” James cứ đều đều kể, cố ngăn không cho nước mắt chảy xuống trước mặt một người phụ nữ.
Ðiều James nói về mẹ mình, cũng là điều mà nhiều người từng đặt chân đến Bolsa, từng biết đến bà bán báo trước tiệm chè Cali, nhận xét.
Anh Khương Diệp, hiện đang sống ở Florida, chia sẻ:
“Bà bán báo cũng là một trong những kỷ niệm của vợ chồng tôi trong khoảng thời gian tôi còn lai vãng ở thủ đô tị nạn. Tôi thích mua báo nơi bà vì tôi thấy bà là một người dễ gần gũi, có nhiều điều làm cho mình kính trọng. Bà hay giới thiệu 'báo này có nhiều người mua chắc hay!', 'báo này họ cho tôi, nên tôi bán rẻ,' 'tờ đó toàn là quảng cáo hông, cậu ơi !'... Làm cho tôi quá đỗi ngạc nhiên vì hình như bà bán báo này không cần tiền hay sao ấy! Rất nhiều lần tui cố tình đưa nhiều hơn số tiền phải trả, vì ngầm muốn giúp đỡ bà. Nhưng bà đếm lại và gọi với theo để trả lại số tiền tôi đưa dư. Tôi năn nỉ bà nhận, nhưng theo bà bán buôn gì cũng vậy, cần phải thành thật, cái gì ra cái đó, ăn cho buôn so!”
Trong khi đó, ông Franklin Ðắc Nguyễn, một người đang sống tại thành phố Anaheim, thì “Cụ bà bán báo trước tiệm liquor khu Bolsa và 'mắt ngó lia'” là người mà ông có ấn tượng nhất ở vùng Little Saigon.
“Tôi thích mua báo của cụ bà đó thôi. Có lẽ một phần vì muốn giúp cụ mua mau bán đắt, và phần còn lại là cụ bà bán đầy đủ các tờ báo mà mình muốn tìm đọc. Nói chung lại mình rất thoải mái mua báo từ cái quầy báo của cụ, chỉ là chiếc xe đẩy của chợ. Cụ thì lúc nào cũng nhỏ nhẹ, giới thiệu tất cả những mặt hàng nào mà cụ có. Một đôi lần tôi cố tình giúp cụ bằng cách không nhận lại tiền còn dư, thối lại cho khách hàng, để làm món quà nhỏ biếu cụ. Nhưng với cụ thì tuyệt nhiên sòng phẳng, nghiêm túc trong vấn đề kinh doanh của cụ. Có những lúc không có tiền lẻ, cụ bà bảo 'cậu cứ mang về nhà đọc rồi hôm nào quay lại trả cho tôi cũng được. Tôi đứng ra bán báo là làm việc thiện cho chùa, cho các em trẻ mồ côi, giúp đỡ những người khốn cùng được tới đâu hay tới đó.'”
***
Theo lời người con trai, bà Hai là một người thương con nhưng cũng là một người “khá lập dị.”
Bà là người sùng đạo Phật và thích làm việc từ thiện. Có bao nhiêu tiền, bà đều mang đi làm từ thiện. Bà không bao giờ đi bác sĩ. Những khi bà bệnh, bà chỉ đến những tiệm thuốc đông y mua dược thảo và nhờ người cạo gió cho bà.
“Hơn hai tháng trước khi mẹ tôi mất, bà giống như người mất trí. Có những hôm bà cởi hết quần áo đi lang thang trong xóm. Có lúc bà sang nói với hàng xóm là tôi đánh bà. Và rồi bà không về nhà, bà ngủ ngoài xe, chiếc xe chất đầy thùng giấy và báo của bà chắc ai cũng biết. Tôi chỉ biết lái xe đi vòng vòng các chợ xem mẹ tôi đậu ở đâu, nhìn vào xem bà ở đâu. Tôi gọi bà về mà bà nhìn tôi như không hề biết tôi là ai.”
James tiếp tục câu chuyện.
“Ðến hôm gần cuối Tháng Hai đột nhiên tôi thấy mẹ tôi về trước nhà. Tôi gọi mẹ, mẹ lại nói chuyện rất bình thường. Mẹ kêu tôi đi mua cho mẹ ít rau củ, mẹ tôi ăn chay trường, vậy mà khi tôi mua luôn cả 'súp nuôi gà' về, mẹ tôi cũng ăn luôn. Nhưng đến ngày thứ hai sau khi về nhà thì mẹ tôi bắt đầu 'đi ngoài' không biết gì, rồi ói mửa. Tôi ẵm mẹ tôi lên lầu để tắm rửa cho bà. Ðến khuya đó bà run, sùi bọt mép, tôi gọi 9-1-1. Ngày đầu vào bệnh viện, mẹ vẫn còn nhìn tôi. Nhưng qua ngày hôm sau thì não bà đã chết, dù tim vẫn còn đập. Ðến ngày thứ ba ở bệnh viện, sau khi bác sĩ nói chuyện, tôi quyết định rút ống thở cho mẹ. Tôi không muốn mẹ tôi đau đớn hơn.” James chùi nước mắt.
Bà Hai mất chiều Chủ Nhật, 4 tháng 3.
“Mẹ tôi không có tiền để lại. Tôi cũng không có gì hết.” James cho biết.
Những người hàng xóm tốt bụng đã gom góp lại cho James tiền để làm lễ hỏa thiêu cho mẹ. “Thiêu và mang hài cốt về Việt Nam rải xuống biển là ước nguyện của mẹ tôi. Nhưng tôi không biết phải thực hiện điều đó như thế nào. Trước mắt, sau khi thiêu xong, tôi sẽ mang cốt mẹ tôi để vô chùa.”
***
Tôi dành một buổi chiều Chủ Nhật đọc sơ qua những lá thư của người thân bà Hai gửi cho bà. Hầu hết đều là là những lá thư thăm hỏi và cho biết đã nhận được tiền bà gửi về để cúng chùa, mỗi lần khoảng $2,000, trong nhiều năm. Lạ một điều là rất nhiều lá thư trong đó chưa hề được xé ra. Tuy nhiên, lá thư cuối cùng là từ năm 2003.
Theo lời nhờ của con trai bà Hai, tôi lần theo những số điện thoại có trong đống thư từ gọi về Việt Nam để báo tin cho thân nhân bà. Nhìn có vẻ như có rất nhiều số điện thoại ghi trên tờ giấy này, mảnh giấy nọ. Nhưng khi ráp hết lại, chỉ có 4 số, trong đó 3 số ở Việt Nam, một số ở Canada.
Tôi nói chuyện được với một người anh họ của bà bán báo ở Vũng Tàu, và một người em gái cùng mẹ khác cha với bà đã đi tu.
Mọi người ngỡ ngàng nhưng cũng không quá ngạc nhiên trước tin bà Hai mất.
“Lâu lắm rồi không thấy chỉ gọi điện thoại về, cũng nghĩ quẩn, nhưng không biết cách nào hỏi thăm.” Người đàn ông tên Phát, ở Vũng Tàu, xưng là anh em họ với bà, cho tôi biết.
Còn một người gọi bà bán báo bằng dì Hai, ở Sài Gòn, tâm sự, “Mẹ tôi là em cùng cha khác mẹ với dì Hai. Tên người ghi trên bì thư chị nhìn thấy là tên tôi. Thực ra không ai ở Việt Nam biết dì Hai làm gì, sống như thế nào. Chỉ biết dì có một người con trai tên là Thiện (tên Việt Nam của James-NV) mà gia đình cũng chưa thấy hình cũng chưa bao giờ nói chuyện. Từ hồi đó giờ dì Hai có về Việt Nam vài ba lần, nhưng dì về bất chợt mà đi cũng bất chợt. Nói tóm lại là bên này không biết chuyện gì ở bên kia hết.”
Theo lời của người cháu này, bà Hai còn một người em trai cùng mẹ khác cha sống ở Canada. Tuy nhiên, theo số điện thoại trong 1 bức thư viết năm 1993, tôi gọi đến thì không ai biết người tôi muốn hỏi là ai. Còn một số điện thoại ở Sài Gòn, tôi gọi, người bên kia trả lời, “Cô gọi lộn số.”
Khi tôi viết xuống những dòng này, nhiều người đã biết tin “bà bán báo mất” qua những dòng tôi viết vội trên trang blog của mình cuối tuần qua.
Nhiều người hàng xóm, nhiều người không quen biết từ nhiều nơi, đặc biệt trong đó có Trí Tạ, phó thị trưởng thành phố Westminster, đã kịp bày tỏ lòng mình đến với bà bán báo nơi phố Bolsa.
James Nguyễn, con trai bà bán báo, trước sau chỉ nói được, “Tôi không biết nói gì hơn là cám ơn, cám ơn tất cả những gì mà mọi người đã giúp đỡ về tinh thần cũng như vật chất cho tôi trong hai ngày qua. Tôi muốn cám ơn những người hàng xóm, cám ơn nhiều người tôi không hề biết mặt đã gọi điện thoại đến chia buồn với tôi, gửi tiền đến cúng mẹ tôi. Tôi nghĩ có lẽ mẹ tôi sẽ vui.”
Tôi nhìn hình ảnh người con trai duy nhất bà bán báo để lại trên cuộc đời, giữa lòng Little Saigon, nơi có đông đảo đồng hương của bà, tay bưng bát nhang, tay cầm di ảnh mẹ, bơ vơ, lạc lõng, trong ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ, mà nghe ra những trớ trêu của cuộc đời.
Tôi nhìn tôi, nhìn 5 người bạn con trai bà bán báo đến tiễn bà vào lò thiêu mà nghe cuộc đời vừa ấm áp vừa lạnh lẽo đến tái tê.

