Mời xem video do Ngọc Đan Thanh đọc. Thật quả cảm ,dám làm xướng ngôn viên cho chương trình này.
Hoàn toàn xứng đáng hơn so với đám ca sĩ đã vì tham tiền về VN ca hát.
Ngô Nhân Dụng
Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã dùng công an trấn áp đồng bào Văn Giang, Hưng Yên. Ðồng bào đã thua một keo. Nhưng ai thắng? Thế lực kim tiền đã thắng. Nói như nhà báo tự do Huy Ðức, các “đại gia” đã thắng.
Cung cách đối xử với những đồng bào bị bắt chứng tỏ bản chất của chế độ Cộng Sản Việt Nam hiện nay như thế nào. Năm đồng bào được thả về. Các bà con này đều phải “ký khống” vào ba tờ giấy trắng, viết rõ “Tôi cam đoan lời khai trên là đúng,” mặc dù ký tên dưới trang giấy hoàn toàn bỏ trắng. Bắt người khác ký khống là một hành động phi pháp. Bất cứ ai buộc người khác phải ký tên đồng ý về một việc mà chưa biết mình đồng ý việc gì, dù là chịu nợ tiền hay hứa hẹn làm bất cứ việc gì, đều phạm tội trước pháp luật, bất cứ pháp luật ở nước nào. Công an Cộng Sản Việt Nam hành động bất chấp những quy tắc pháp luật cơ bản đó. Họ bất chấp các quy tắc đạo lý sơ đẳng của loài người. Ðể làm gì? Chỉ vì khẩu hiệu của công an hiện nay được nêu cao là: Ðảng còn thì mình còn!
Ðó là một khẩu hiệu làm cho tất cả những người công an phải cảm thấy nhục nhã, nếu họ dừng lại suy nghĩ một chút. Nỗi nhục nhã thứ nhất là nó đặt ra một điều kiện tồn tại cho bản thân mỗi người công an và tất cả lực lượng công an dính chặt với sinh mạng của một đảng chính trị chứ không nhân danh một nghĩa vụ nào cao hơn, lớn hơn. Mỗi đảng nào cũng chỉ là một nhóm người. Gắn bó sinh mạng của mình vào một nhóm người tức là chịu làm tay sai, làm “chó săn” cho bọn họ, chứ không phục vụ một lợi ích nào của chung quốc gia, dân tộc.
Nỗi nhục thứ hai là cái tiếng xấu “bất trung, bất nghĩa” không thể chối cãi được. Những người công an sống bằng đồng tiền do hơn 80 triệu người dân đóng góp, nếu không có người dân làm việc, tạo ra của cải, đóng thuế, thì tất cả cái đảng mà họ đang bảo vệ chỉ toàn những người chỉ tay năm ngón không thể làm gì ra của cải, tiền bạc, để trả lương cho họ nuôi vợ con. Nhưng họ lại đi lo bảo vệ một bọn ăn trên ngồi chốc đó, không cần biết đến nguyện vọng của người dân, giẫm chân trên nỗi thống khổ của người dân, tạo thêm bao nhiêu cay đắng khác cho dân. Tức là sống nhờ sức lực của dân nhưng lại phục vụ cho người khác. Cho nên gọi là bất trung, bất nghĩa. Con cháu họ sẽ lớn lên, có ngày chúng sẽ nhìn ra hình ảnh cuộc đời bất trung bất nghĩa của ông cha. Chúng sẽ cảm thấy nhục nhã, vì lương tâm con người ai cũng có, chúng sẽ xấu hổ mãi mãi.
Nỗi nhục nhã thứ ba là chính những người công an đang bị những kẻ nắm đầu họ coi họ chỉ toàn là một bọn không biết suy nghĩ; một đám ngu si. Ngu si vì chỉ biết tham lợi trước mắt mà không trông thấy mối nhục muôn đời; nhắm mắt nghe lệnh bảo vệ một chế độ mà không tự hỏi tương lai chính mình và con cháu mình sẽ ra sao.
Ðảng còn thì mình còn! Ngay trong khẩu hiệu đó đã chất chứa một nỗi sợ hãi đang cố dồn nén trong lòng. Nỗi sợ hãi của một đám người đang quyền oai chức trọng, tự tung tự tác, nhưng trong thâm tâm vẫn lo sợ, tự hỏi không biết mình sẽ được hưởng cho tới bao giờ! Nếu không sợ hãi thì người ta không bao giờ đặt vấn đề “còn” hay “không còn” cả. Chính đám người đó đang mắt trước mắt sau vơ vét cho đầy túi tham, họ đang sợ, họ không biết họ ngồi đó được bao lâu nữa. Cho nên họ mới đặt ra cái khẩu hiệu để dọa đám tay chân của chính họ. Nói “Ðảng Còn Thì Mình Còn” tức là đe dọa tất cả bọn tay sai coi chừng: “Ông mất thì chúng mày cũng mất!”
Họ lấy sự tồn vong của một đảng để kích thích người công an phải liều chết, phải chịu đựng bất cứ nỗi khó khăn, bất cứ nỗi nhục nhã nào, miễn là lo bảo vệ đảng! Một chính quyền tự tin mình có lẽ phải và được dân ủng hộ thì không bao giờ lại phải dùng thủ đoạn dọa nạt hèn hạ như thế. Hãy nhìn tất cả các nước dân chủ, văn minh trên thế giới, có nơi nào người ta phải dùng một khẩu hiệu đê tiện như thế để khích động quân đội, cảnh sát, công an hay không? Bọn người này đã bóp óc nặn ra cái khẩu hiệu như thế, ngày ngày hô to lên, để rót vào đầu đám công an họ nắm trong tay. Tức là họ khinh rẻ ngay cả đám tay sai của họ.
Không có gì làm hạ giá phẩm cách con người bằng cách khích lệ người khác với những nhu cầu hạ đẳng, là sự tồn tại của bản thân. Con người ta sinh ra ai cũng có những nhu cầu sơ đẳng như thế: Ăn, ngủ, truyền giống, hưởng lạc, miễn sao cho cái thân xác mình tồn tại. Nhưng ai cũng có những nhu cầu cao hơn sự tồn tại. Ai cũng muốn được người khác yêu thương, được kính trọng, được nâng cao khả năng, được phát huy óc sáng tạo; đó là những nhu cầu cao hơn nhu cầu tồn tại. Khi một người mẹ khích lệ con: “Nếu con vâng lời mẹ sẽ yêu con” thì câu nói đó nâng cao phẩm giá của đứa bé, làm cho nó biết tình yêu là một phần thưởng quý báu. Có bà mẹ nào lại dỗ con: “Nếu vâng lời mẹ sẽ cho ăn cơm, không thì cứ nhịn đói!” Nói như vậy là hạ thấp phẩm giá đứa con, làm mất luôn lòng tự trọng của đứa trẻ. Chỉ những người coi khinh một đứa bé thì mới dỗ dành như vậy! Ðưa ra khẩu hiệu “Ðảng Còn Thì Mình Còn” tức là coi khinh tất cả những người trong hàng ngũ công an. Ngẫm nghĩ lại, không thấy nhục sao được?
Nhưng đảng cộng sản còn tồn tại đến bao giờ? Các anh chị công an, quý vị có tin rằng chế độ này sẽ tồn tại vĩnh viễn, đến đời con cháu quý vị nó vẫn cứ như vậy hay không? Quý vị đã thừa biết chuyện gì đã xảy ra ở Liên Xô, ở Ðông Ðức chứ? Quý vị có thấy những gì mới xảy ra ở các nước Tunisie, Ai Cập, Libya hay không? Quý vị có biết bên Miến Ðiện người ta đã thay đổi hay không? Quý vị có tin rằng một chế độ ăn cướp trắng trợn công sức của những người nông dân, của Ðoàn Văn Vươn, của đồng bào Văn Giang, Ðông Anh, Dak Nông, Dương Nội, Gia Bình, trong khi phục vụ cho những thế lực kim tiền, sẽ cứ thế mà tồn tại mãi hay không? Chắc chắn những người biết suy nghĩ, hiểu cuộc đời đầy biến chuyển, đều biết rằng bất cứ chế độ nào độc đoán chuyên quyền sớm muộn cũng đến ngày phải chấm dứt. Trao sinh mạng của mình cho một chế độ như vậy, trao cả danh dự, phẩm giá ông bà cha mẹ mình cho một chế độ như vậy, là một điều quá dại dột. Chính những người đang sử dụng công an họ khinh rẻ cho nên mới đặt ra cái khẩu hiệu “Ðảng Còn Thì Mình Còn!”
Bởi vì người dân nước Việt Nam vốn không ngu. Nếu ngu thì đã không đấu tranh suốt một ngàn năm Bắc thuộc để giành quyền tự chủ. Một cơn nước lũ phẫn nộ đang trào dâng, bắt đầu từ trước, và nhất là sau vụ anh Ðoàn Văn Vươn liều chết chống bọn cướp ngày, hôm 15 Tháng Giêng 2012.
Dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy lòng dân đang sôi lên là những cuộc biểu tình liên tiếp nổi lên sau khi anh Ðoàn Văn Vươn liều mạng phản kháng cường quyền. Biến cố đó đã gây ra những cơn sóng, mỗi ngày lại dâng cao. Hơn một tháng sau anh Ðoàn Văn Vươn, chiều nay, 21 Tháng Hai 2012, hàng trăm nông dân Hưng Yên về thủ đô khiếu kiện đất đai, diễu hành thành từng đoàn qua các đường phố, ôn hòa, lặng lẽ, không ai nói với ai. Những ai cũng hiểu nỗi lòng của họ. Ngày 21 Tháng Ba 2012, nông dân từ các vùng Văn Giang (Hưng Yên), Ðông Anh (Hà Nôi), Gia Bình (Bắc Ninh), đã kéo về biểu tình trước số nhà 46 phố Trường Thi, Hà Nội, vì đất đai của bà con bị thu hồi một cách trái phép, giá đền bù rẻ mạt. Rồi hàng trăm dân oan mất đất từ tỉnh Dak Nông, Ðông Anh, Dương Nội (Hà Ðông, Hà Nội) và Văn Giang (Hưng Yên) tập trung tại Văn phòng Quốc Hội ở số 35 Ngô Quyền, Hà Nội. Người dân ở xã Ðại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh biểu tình phản đối việc chiếm đất nông nghiệp đem bán cho công ty Trung Quốc làm khu công nghiệp. Họ viết khẩu hiệu: “Bán đất cho doanh nghiệp nước ngoài là bán nước! Ngày 21 Tháng Ba 2012, dân xã Thiên Lộc (Can Lộc-Hà Tĩnh) bất ngờ kéo đến tấn công trụ sở công an vì phẫn nộ trước cái chết bất thường của nạn nhân Lê Quang Trọng hai hôm trước, được nói dối là một vụ tự sát.
Trước vụ anh Ðoàn Văn Vươn, đã nhiều người oan ức quá phải hành động, nhưng chưa tạo nên một phong trào. Tháng Hai 2012, kỹ sư trẻ tuổi Phạm Thành Sơn bị cướp đất, khiếu kiện nhiều lần vẫn tay không, quá uất ức đã tẩm xăng, đốt xe máy tự thiêu trước trụ sở thành phố Ðà Nẵng. Trước đó nữa, từ giữa năm 2011, mấy ngàn đồng bào thôn Vật Phụ, xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Nội đã biểu tình vì chính quyền lấy một vùng đất của dân bên quốc lộ 32 cấp cho một doanh nghiệp, mà phía sau doanh nghiệp đó là các cán bộ to nhỏ huyện và thành phố.
Một chế độ gây bao nhiêu nỗi uất ức như thế sẽ tồn tại cho đến bao giờ? Chế độ đó đã bày ra những đạo luật đất đai để tước đoạt quyền làm chủ ruộng, đất của người dân; để phục vụ quyền lợi của đám đại gia, trong đó có các đại gia ngoại quốc. Có chiếm đất của dân thì mới có những công trường xây dựng cho các doanh nghiệp khai thác rút ruột. Ðể cho những người như cô con gái của ông Tô Huy Rứa vắt giầy cao gót lên ngồi làm chủ tịch. Có việc xây cất đồ sộ thì mới tạo cơ hội để các ngân hàng cho vay tiền kiếm đồng lãi; các ngân hàng như cô con gái ông Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu. Họ làm ra luật để phục vụ các đại gia! Nhà báo Huy Ðức viết: “Luật 2003 gần như đã đặt những mục tiêu cao cả như ‘lợi ích quốc gia’ ngang hàng với ‘lợi ích của các đại gia’”.
Quý vị công an, có nên gắn chặt danh dự và cuộc sống của mình vào sự tồn tại của một chế độ như vậy hay không? Huy Ðức viết: “Hình ảnh cuộc cưỡng chế hôm 24 Tháng Tư 2012 ở Văn Giang đã trở thành một vết nhơ trong lịch sử.” Chúng tôi tin rằng trong số những người công an hiện nay phần lớn là những người biết suy nghĩ. Họ cũng được cha mẹ dạy dỗ phải sống theo đạo lý, không khác gì cha mẹ chúng tôi cũng dạy con cái như vậy. Làm sao quý vị có thể chịu để cho cuộc đời mình, danh dự gia đình mình dính vào một vết nhơ muôn đời không rửa sạch như thế?
Quan chức tình báo Mỹ cho biết gần một năm sau khi tiêu diệt được bin Laden, mạng lưới Al-Qaeda ở Pakistan về cơ bản đã không còn,
tuy nhiên các chân rết của tổ chức này trên toàn thế giới vẫn là mối đe dọa.
Al-Qaeda suy yếu nhiều sau cái chết của cựu thủ lĩnh Osama bin Laden. Ảnh: AP
Cái chết của Osama bin Laden hồi tháng 5 năm ngoái đã làm suy yếu tổ chức Al-Qaeda và nó dường như không còn là tổ chức khủng bố có thể tiến hành những vụ tấn công như vụ 11/9/2001 nữa, quan chức chống khủng bố của Mỹ tuyên bố.
"Al-Qaeda hiện tại rất khó để tập trung lực lượng, tiến hành huấn luyện, gom đủ tài chính để có thể thực hiện một vụ 11/9 khác. Tuy còn quá sớm để tuyên bố chiến thắng, nhưng có nhiều dấu hiệu chứng tỏ tổ chức gây ra thảm họa 11/9 cho chúng ta đã cơ bản bị tiêu diệt", AFP dẫn lời quan chức Mỹ nói.
Tuy nhiên, "phong trào của tổ chức này vẫn sống sót, tư tưởng thánh chiến toàn cầu vẫn còn tồn tại, 'tư tưởng' của bin Laden vẫn còn ở một số nơi bên ngoài Pakistan". Trong số các chi nhánh của Al-Qaeda, nhóm ở Yemen là mối nguy hiểm nhất đối với Mỹ và nhóm này ngày càng lớn mạnh với chiến dịch tuyên truyền "rộng lớn và có hiệu quả".
Ngoài ra, chuyên gia khác là ông Robert Cardillo, phó giám đốc Văn phòng Chỉ huy tình báo quốc gia Mỹ, cũng có nhận xét tương tự. Ông cho rằng sự phân hóa trong Al-Qaeda cho thấynhững cuộc tấn công khủng bố trong tương lai nhiều khả năng sẽ do các chi nhánh mang tính chất quốc gia thực hiện.
Khi mạng lưới này phát triển, sẽ xảy ra những bất đồng giữa những kẻ đứng đầu về việc theo đuổi một cuộc tấn công toàn cầu hay là tập trung vào các mục tiêu địa phương, nơi có sẵn những căn cứ của các tổ chức thành viên. Ông dự đoán một cuộc tranh luận kịch liệt về phương hướng hoạt động đang xảy ra trong nội bộ Al-Qaeda.
Bằng chứng rõ nhất về của sự thiếu hụt "nhân tố hạt nhân" của Al-Qaeda là việc giảm tần suất của những vụ tấn công liên hoàn thường xuyên. Ông Cardillo cũng lặp lại lời của quan chức tình báo kể trên rằng những cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học, sinh học hoặc phóng xạ nhằm vào nước Mỹ dường như khó có thể xảy ra trong thời gian tới.
Trong khi các cuộc tấn công phức tạp với quy mô lớn đã được loại trừ thì những cuộc tấn công được gọi là "con sói đơn độc" sẽ là mối nguy hiểm. Tuy không được chỉ đạo trực tiếp từ Al-Qaeda nhưng những cuộc tấn công này vẫn là thách thức lớn với lực lượng chống khủng bố, ông Cardillo nhận xét.
Chẳng hạn, vụ xả súng tại Pháp tháng trước của tay súng Mohamed Merah và cuộc tấn công của một người bản địa ở Fort Hood, Texas năm 2009 là những vụ tấn công khó lường.
"Những người hoạt động đơn lẻ như Merah, tự trang bị vũ khí cho mình, tự quyết định thời gian và địa điểm tấn công, là những mục tiêu khó khăn nhất mà chúng tôi phải đối mặt", quan chức tình báo cho hay.
Al-Qaeda cũng đã nhận thấy sự yếu thế của mình trong những cuộc nổi dậy như Mùa xuân Arab. "Tư tưởng" của bin Laden đã bị suy yếu tại các quốc gia Arab.
Tuy nhiên, những cuộc nổi dậy lật đổ chính quyền lại tạo ra những lỗ hổng của lực lượng an ninh và quân đội quốc gia. "Sự thay đổi chính quyền có thể là mối nguy hiểm vì sẽ xuất hiện thêm nhiều kẻ cực đoan trên đường phố trong khi lực lượng an ninh lại suy giảm", quan chức tình báo cho biết.
Tại Syria, Al-Qaeda hy vọng dựa vào các vụ bạo lực vẫn đang tiếp diễn để mong kiếm được một chỗ đứng, và Al-Qaeda không chỉ muốn khoa trương thanh thế khi đã thực hiện xong một cuộc tấn công mà còn rất hứng thú với việc xây dựng các kế hoạch chiến đấu.
Ngoài ra, những kẻ đứng đầu Al-Qaeda cũng muốn tránh các cuộc tấn công hàng loạt tại Iraq. Khác với Yemen, chi nhánh của Al-Qaeda tại Iraq, Somali và khu vực Sahel của châu Phi thường tập trung vào các đối thủ tại địa phương của tổ chức.
Mạng lưới Al-Qaeda tại khu vực Sahel của châu Phi đang cố gắng tạo nên tình trạng bất ổn ở Mali sau cuộc bạo loạn hồi tháng 3 và chiến đấu trong liên minh với phiến quân độc lập Tuareg.
Ở Somali, chi nhánh của Al-Qaeda, quân nổi dậy Shebab đã mất đi nhiều tiếng nói và động lực, lý do chính là bởi những nỗ lực của quân đội Somali đánh trả cũng như ngăn chặn tiếp tế lương thực cho quân nổi dậy từ bên ngoài Somali, quan chức này nhận định.
Viết Cho Tháng Tư
Tôi sinh trưởng sau năm 1975 và gia đình tôi không có liên quan gì nhiều đến cả hai phía trong cuộc chiến tranh Việt Nam vì thế mối tương quan tình cảm của tôi với những sự kiện lịch sử và hoàn cảnh chính trị xã hội trong cuộc chiến hầu như rất ít nếu không muốn nói là không có. Những gì ít ỏi mà tôi được hiểu biết về nó chỉ đơn thuần là kiến thức. Đứng trong vị thế đó, tôi tạm thời có thể yên tâm rằng lập trường của tôi, và những gì tôi nói ra sau đây sẽ được hiểu một cách thiện chí và không bị gán ghép hay chụp mũ. Tôi không sợ bị chụp mũ, nhưng thiết nghĩ điều đó cùng với những nguỵ biện không có lợi cho sự tiến bộ.
Gần đây, tôi tình cờ đọc được một nhận xét của tướng William Childs Westmoreland- Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam- về tướng Võ Nguyên Giáp của quân đội Bắc Việt như sau: "Of course, he was a formidable adversary.... By his own admission, by early 1969, I think, he had lost, what, a half million soldiers? He reported this. Now such a disregard for human life may make a formidable adversary, but it does not make a military genius...". Xin được tạm dịch là: "Dĩ nhiên, ông ta là một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm....Với sự thừa nhận của chính ông ta, đến đầu năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đã mất nửa triệu lính? Ông ta đã báo cáo điều này. Hiện tại, một sự coi thường mạng người như thế có lẽ sẽ tạo nên một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm, nhưng nó không tạo nên một thiên tài quân sự...."
Dù chúng ta là ai, đứng bên nào của cuộc chiến, chúng ta cũng phải đồng ý với Westmoreland rằng, một chiến thắng quân sự dựa trên chiến thuật đẫm máu, coi thường sinh mạng binh sĩ chỉ có thể tạo nên một kẻ thù nguy hiểm chứ không tạo nên một thiên tài quân sự như nhiều người vẫn rêu rao. Câu nói này của viên tướng Hoa Kỳ làm tôi suy nghĩ rất nhiều về sự "nguy hiểm" của những người Cộng sản Việt Nam. Họ nguy hiểm bởi họ là những người luôn hành động theo phương châm "mục đích biện minh cho phương tiện", nghĩa là bất chấp mọi thứ, miễn đạt được mục đích. Đối với tôi, nó không chỉ là lời nhận xét về tướng Giáp mà là một câu nói nêu bật lên bản chất của những người Cộng sản Bắc Việt, và cả chế độ mà họ dựng nên. Và những việc họ đã làm suốt từ những ngày đầu có mặt tại Việt Nam đến nay, từ việc "trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ" đến gần đây nhất là vụ cướp đất của nông dân đã chứng minh tất cả.
Một kẻ đối địch ghê gớm có thể được hiểu theo hai cách. Thứ nhất, đó là một kẻ thù đáng gờm, là đối thủ khó đánh bại vì có mãnh lực vũ trang, có chiến lược, chiến thuật hành động khôn ngoan... Nhưng khi nhìn xoáy vào chữ "formidable" mà Westmoreland đã dùng, tôi chú ý nhiều đến nghĩa "arousing fear"(gợi nên sự sợ hãi) . Với nghĩa này, nó gần giống với "terrorise" (làm cho sợ hãi). Mà làm cho người khác sợ hãi có nghĩa là "khủng bố". Chúng ta có thể hiểu theo hai cách về một "đối thủ ghê gớm" như tôi đã tạm phân tích ở trên. Nhưng biết đâu, cách hiểu thứ hai mới là điều mà ông tướng Mỹ kia ngụ ý? Xin hãy cho tôi tiếp tục trình bày mà tạm quên đi những mối thành kiến nào đó có thể đang dâng lên trong lòng quý vị.
Khi căn cứ vào những dữ kiện lịch sử- những điều không thể chối bỏ, những điều đã được trải nghiệm bằng chính xương máu của những người đã kinh qua cuộc chiến ấy- chúng ta sẽ có cái nhìn tường minh hơn. Riêng phần mình, với kiến thức ít ỏi về chiến tranh Việt Nam, tôi đã có thể tìm thấy những hình ảnh có khả năng "làm cho sợ hãi" của quân đội Bắc Việt qua nhiều biến cố như Tết Mậu Thân, và các "trận đánh" của đội Biệt động Sài Gòn như: "trận đánh" tàu nhà hàng Mỹ Cảnh, "trận đánh" cư xá Brinks...; và chưa kể đến những câu chuyện ghê gớm mà tôi từng được nghe những người già kể lại về vô số những "trận đánh" như thế vào trường học, khu dân cư, cầu cống....Đến nỗi, khi nghe nói quân đội Cộng sản Bắc Việt sắp vào đến ngã ba Cai Lang, thành phố Đà Nẵng, những người dân sống ở Đà Nẵng khi đó đã run cầm cập vì nghe tin đồn rằng người Cộng sản mà vào họ sẽ rút hết móng tay móng chân người dân. Đó có thể là điều sợ hãi thái quá, nhưng nó cho chúng ta thấy khả năng gieo rắc sợ hãi đến trình độ đỉnh cao của những người tự xưng là "quân giải phóng".
Những ai đọc lịch sử, những ai có đủ lương tâm và tầm tri thức trung bình, đều thấy rằng, những cái mà quân đội Bắc Việt và những người "nằm vùng" gọi là "trận đánh" gây nhiều tiếng vang đều không nhằm vào những mục tiêu trên tiền tuyến, để giành chiến thắng quân sự trực tiếp mà đánh vào những nơi ăn chốn ở cốt để gây sợ hãi. Gây sợ hãi cho người dân nhằm làm xáo trộn xã hội, gây sợ hãi đánh vào tâm lý Quốc hội và dư luận Mỹ.... Ngày nay, ai đi qua đường Hai Bà Trưng, đều nhìn thấy "Bia chiến công trận đánh cư xá Brinks". Cái mà người ta gọi là trận đánh thực ra là một cuộc đánh bom một nơi ở của cố vấn quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam do hai thành viên Biệt Động Sài Gòn thực hiện. Điều mà họ gọi là "trận đánh" sao tôi thấy nó hao hao giống cách làm của những kẻ khủng bố Hồi giáo cực đoan, chỉ khác một chỗ là họ không tự sát. Đối với thế giới ngày nay, những kẻ đánh bom như thế thật sự là những kẻ "nguy hiểm", "ghê gớm".
Ngoài cái cách thể hiện "formidable" như trên, quân đội Bắc Việt còn khiến người ta sợ hãi hơn gấp bội vì sự coi thường tính mạng binh sĩ của họ. Thông thường, con người sợ hãi những kẻ thù tấn công mình một cách tàn ác, nhưng người ta sẽ kinh hoàng đến rợn người khi biết về những hành động coi tính mạng của người phe mình như cỏ rác, cốt chỉ nhằm đạt được mục đích của kẻ chỉ huy. Người Cộng sản đã lấy chính nghĩa chống giặc ngoại xâm để lừa dối, tuyên truyền, kích động hàng triệu Thanh niên miền Bắc lao vào cuộc chiến như con thiêu thân. Chúng ta được nghe nói rất nhiều về những tấm gương đầy nhiệt huyết và sự hy sinh anh dũng của những người trẻ tuổi mới chập chững vào đời. Đối với những cái chết đó, tôi không có bất cứ tình cảm tích cực nào ngoài sự thương tiếc. Cả một thế hệ người đã bị lừa gạt vì không nhận chân được bản chất của chế độ, của cái chủ thuyết mà nó rêu rao. Âu tất cả cũng chỉ là những sản phẩm lịch sử của một thời đại!
Để rồi sau cái ngày "thống nhất" ấy là những chuyến vượt biên vượt biển của hàng trăm ngàn người, và đã có cả hàng ngàn người phải bỏ xác ngoài biển khơi; là những năm tháng bao cấp, đói khổ đến cùng cực; đến nay đỡ đói khổ một chút, nhưng dân Việt ta vẫn chưa thoát khỏi thân phận làm thuê, ở đợ cho thiên hạ; đặc biệt vẫn còn cam chịu làm thần dân phục tùng các ông vua Cộng sản. Thế nhưng bất chấp cái thực tế đau buồn ấy, nhiều ngụy biện về thống nhất, về "công lao chống Mỹ cứu nước của Đảng" vẫn tồn tại ngay cả trong lớp người "có học" ở Việt Nam.
Thiết nghĩ một sự hy sinh chỉ nên có và đáng được ngợi ca khi đánh đổi với nó là một giá trị to lớn hơn. Bằng lập trường đề cao cá nhân, tôi cho rằng, mọi ý niệm: thống nhất, giải phóng dân tộc, kẻ thù...phải được đặt trong mối tương quan của chúng với những giá trị an sinh hạnh phúc thực sự của người dân. Suy cho cùng, mọi thứ bao gồm: thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chính trị...chỉ là những phương tiện để đạt đến những giá trị nhân bản, để bảo vệ và phục vụ con người. Mọi định chế, mọi nỗ lực chính trị và xã hội đều nhằm vào cái đích đến quan trọng nhất của nó là CON NGƯỜI. Nếu mục đích cuối cùng ấy không đạt được thì mọi phương tiện kia chỉ là mưu đồ của kẻ lãnh đạo. Thật điên rồ thay cho những kẻ luôn hô hào "mục đích biện minh cho phương tiện". Chúng ta biết rằng, việc đánh giá tính chính đáng của phương tiện tuỳ thuộc vào mối tương quan về bản chất của nó đối với mục tiêu. Nói rõ hơn, chúng ta không thể dùng một phương tiện phi nhân để giành lấy một mục tiêu nhân bản.
Kết quả là, "sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước" đã không khiến Việt Nam trở nên hùng mạnh hơn, dân tộc ta trở nên kiêu hãnh hơn; mà đơn giản chỉ là biến một miền Nam trước "giải phóng" hơn hẳn Hàn Quốc, sau gần bốn mươi năm thống nhất, cùng với cả nước lẹt đẹt chạy theo sau cả Thái Lan. Nếu ta lấy cứu cánh là sự phồn thịnh của quốc gia, là an sinh hạnh phúc, là tự do nhân phẩm của mỗi một người dân làm chuẩn thì liệu sự thống nhất ấy có nghĩa lý gì?
Đó là khi vấn đề được đặt dưới lăng kính lý luận. Còn thực tế thì mọi sự đã quá rõ ràng. Cái mà người ta gọi là "kháng chiến chống Mỹ cứu nước" ấy thực chất chỉ là để giúp Trung Quốc "đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng". Hay như Lê Duẩn từng nói : "ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước XHCN, cho cả nhân loại". Nói cho rõ ra, đó là cuộc chiến giúp cho chủ nghĩa Cộng sản bành trướng xuống Đông Nam Á theo tinh thần Quốc tế Cộng sản bất chấp tinh thần dân tộc, là giúp cho Trung Cộng dễ dàng Hán hoá một Việt Nam suy yếu sau cuộc chiến tương tàn khốc liệt.
Đã ba mươi bảy năm trôi qua kể từ ngày "giải phóng", giải phóng miền Nam khỏi mối quan hệ đồng minh với Mỹ để trở thành chư hầu hèn mọn của Trung Cộng. Sự thống nhất, sự giải phóng đó mới đau đớn làm sao! Gần bốn thập niên đã qua đi, dấu vết chiến tranh trên mảnh đất quê hương Việt Nam đã dần phai nhạt, nhưng những tổn thương của lòng người vẫn còn hằn sâu, thậm chí ngày càng sâu hơn. Thống nhất hai vùng địa lý nhưng vẫn vắng bóng một sự Hoà hợp trong tình tự dân tộc. Vết thương cũ do cuộc tiến chiếm miền Nam chưa kịp lành thì chúng ta lại có thêm những chia cắt mới : chia cắt giữa một bên là một nhóm người cam phận làm tay sai cho ngoại bang, với một bên là những con người yêu nước không khoan nhượng; chia cắt giữa một phía là nhóm người lãnh đạo Quốc gia cùng những kẻ ăn theo cố gắng bám giữ ngôi vị độc tài để tiếp tục nô lệ hoá người dân, với một phía là những người đấu tranh và chấp nhận hy sinh cho tự do và phẩm giá con người. Tôi vẫn nghĩ rằng, một con người trở nên dũng mãnh nhờ có ý chí. Một dân tộc trở nên hùng mạnh, cũng như vậy, phần nhiều dựa vào tinh thần và khí chất. Nhưng tinh thần và khí chất ấy chẳng thể có được nếu dân tộc ấy chia rẽ. Chính sức mạnh của tinh thần đoàn kết, sự Hoà hợp dân tộc có thể góp phần giúp chúng ta tạo lập một mãnh lực mới cho dân tộc.
Chỉ e Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục bỏ lỡ những chuyến tàu thời đại nếu trong lòng dân tộc còn có những chia cắt chí mạng như thế. Nhưng thiết tưởng, sự Hoà hợp có khả năng xoá bỏ mọi ngăn cách, hàn gắn mọi vết thương, mang mọi người Việt về trong cùng một chí nguyện chỉ có thể đạt được trên tinh thần Hoà giải thiện chí, trên quyền lợi dân tộc và trên những nguyên tắc hướng thiện chứ không phải là sự thoả hiệp với cái xấu ác. Chỉ e những người Cộng sản Việt Nam quá u mê và tham lam để khởi động một chương trình Hoà hợp, Hoà giải và thay đổi chính trị đầy tham vọng như thế. Chỉ e những người Cộng sản chẳng thể làm nổi những gì mà nhà cầm quyền độc tài Miến Điện đã làm. Chỉ e.... Bởi đến hôm nay, họ vẫn một lòng một dạ coi mối quan hệ với Trung cộng là "chủ trương nhất quán", là "ưu tiên hàng đầu" như lời Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam đã tuyên bố mới đây tại Bắc Kinh.
Mỗi năm tháng Tư về, bao nhiêu lễ lạt, đình đám vẫn diễn ra bất chấp mối hoài niệm về quá khứ vẫn nặng trĩu trong lòng nhiều người Việt, bất chấp mối ưu tư về tương lai đất nước vẫn canh cánh trong lòng những người có tâm huyết với đất nước. Những con người có lương tâm và tự trọng không bao giờ vui sướng được trong nỗi thống khổ to lớn ấy của dân tộc. Thử hỏi xương máu của hàng triệu con người đã ngã xuống trong cuộc chiến chỉ để tạo nên một Việt Nam thống nhất trong chia rẽ, thống nhất trong sự Hán hoá, thống nhất trong sự mất tự do và quyền làm người hay sao? Ba mươi tháng Tư- xin cầu nguyện cho tự do và nhân phẩm, cho sự Hoà hợp dân tộc và nền công lý.
Cho Giới Trẻ: Y Nghĩa Của Ngày Quốc Hận 30/4
Nhân Ngày Quốc Hận 30 Tháng 4 sắp đến, trước hết xin nhắc giới trẻ sinh sau năm 1975, một ý nghĩa quan trọng mà nhiều em vẫn chưa biết: Ngày Quốc Hận là ngày buồn thảm, vì đó là ngày mà chúng ta, những người Việt ở Miền Nam Việt Nam, bị mất đất nước vào tay cộng sản Bắc Việt tàn ác, từ Hà Nội, bằng sự xâm lăng bạo lực và bất hợp pháp của bộ đội Miền Bắc vào lãnh thổ tự do của dân Miền Nam, năm 1975. Tóm tắt, Ngày Quốc Hận 30/4 là Ngày Mất Đất Nước, nói rõ hơn là Ngày mất nước Viet Nam cong Hoa, của tất cả những người Việt yêu tự do, nhân quyền, dân chủ, và hòa bình.
Vậy mà, có những em sinh viên ở Mỹ còn tụ tập thành nhóm, để ăn uống, vui chơi, và nhảy múa, ngay trong ngày và đêm 30/4, như đã thấy trong các năm qua. Năm nay, xin các cha mẹ nhắc nhở và giải thích cho con cháu hiểu về ý nghĩa lịch sử của Ngày 30/4 đau buồn này, vì sau ngày đó, vào khoảng nửa triệu dân Việt ở Miền Nam đã bỏ mình trên biển Đông do vượt biển.
Tôi mong các phụ huynh người Việt vẫn còn nhớ để dạy con cháu một câu tục ngữ Việt thông thường đã được phổ biến trong các trường học Miền Nam của chính thể Việt Nam Cộng Hòa, trước năm 1975: Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ. Chúng ta nghĩ sao khi thấy loài ngựa biết chia xẻ nỗi đau cho nhau và biết cư xử với đồng loại của chúng tốt hơn con người cư xử với nhau? Sự hy sinh can đảm và đầy nước mắt đó của nửa triệu đồng bào vượt biển, đã Thức Tỉnh Lương Tâm của Liên Hiệp Quốc. Nên Cao Ủy Tỵ Nạn của LHQ đã lo chi phí cho các Trại Tỵ Nạn Cộng Sản (CS) được dựng lên trên các đảo ở Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan… vào khoảng các năm 1978-1988, để đón nhận những người Việt Tỵ Nạn đến sinh sống tạm thời ở đó. Rồi những người Mỹ có lòng tốt và Quốc Hội Mỹ đã kêu gọi được chính phủ Mỹ chấp thuận cứu xét giấy tờ cho người Việt Tỵ Nạn CS được định cư với cuộc đời mới ở Mỹ. Dần dần, các nước Tự Do khác trên thế giới cũng ủng hộ và cho phép chúng ta định cư trên đất nước họ, với lý do tỵ nạn chính trị, như: Úc, Gia Nã Đại, Pháp, Đức, Anh, Tân Tây Lan, Bỉ, Đan Mạch, Na Uy… Đồng bào của chúng ta đã chết cho chúng ta được sống. Vậy nỡ nào bây giờ, cha mẹ, những người Việt tỵ nạn trước đây, thản nhiên (hoặc vô tình không biết) để cho con cháu mình tụ họp, vui chơi, nhảy nhót trong các buổi tối, gần Ngày Quốc Nạn 30/4?
Hình ảnh vượt biên, chìm ghe.
Kế đến, tôi muốn các em biết điều quan trọng thứ hai đã xảy ra vào hai năm 1988-1989: Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đã hoàn thành một việc vĩ đại, giúp các tù nhân chính trị của Miền Nam, đang thống khổ lúc đó, do bị kỳ thị và bị đàn áp bởi sự độc tài của chế độ CS độc đảng trong nước. Năm 1988, Tổng Thống Reagan đã ký lệnh cho phép tất cả các Quân, Dân, Cán, Chính, của VNCH, thuộc mọi cấp bậc và trình độ (đã bị tù tập trung khổ sai, ít nhất 3 năm trở lên, dưới chế độ CSBV) và gia đình của họ, được nộp giấy tờ xin đi Mỹ, hợp pháp. Nghĩa là, họ và gia đình, không phải đi trốn bọn công an VC một cách lén lút, đầy nguy hiểm, bằng cách vượt biên như đi bộ qua Thái Lan, Cam Bốt…, hoặc vượt biển với những con thuyền nhỏ bé như một chiếc lá mong manh và chết trên sóng biển đại dương nữa.
Trước đó một năm, vào năm 1987, nhiều Nghị Viên của Quốc Hội Mỹ thuộc cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, cùng với Phụ Tá Bộ Trưởng Ngoại Giao lúc đó, là ông Robert Funseth, đã nỗ lực hoạt động như những người điều đình để trình bầy Nghị Quyết 212. Khi họ mang nội dung của Nghị Quyết này đến thương lượng với VC trong việc thả tù chính trị của VNCH đang bị hành hạ trong các trai tù tập trung khổ sai (mà VC gian manh gọi là “học tập cải tạo”) thì bị VC chống đối mãnh liệt. Đảng CS Hà Nội nói rằng: “Không, chúng tôi không thả. Nếu thả hết bọn tù chính trị và tù quân đội VNCH này ra thì chúng đứng lên làm loạn cả nước, làm sao đảng cai trị dân được? Nước Mỹ của các anh có dám nhận hết tụi tù (dơ dáy) này qua Mỹ không thì chúng tôi mới thả…”
VC không ngờ TT Reagan đã nhanh chóng xác nhận là Mỹ sẽ nhận các tù nhân VNCH vào nước Mỹ ngay, vậy VC cứ thả họ đi. Nhờ vậy, một hiệp ước thỏa thuận đã được ký ngày 30/7/1989 bởi Hoa Kỳ và nhà cầm quyền VC. Nghị Quyết 212 hợp pháp đã giải thoát khoảng 300.000 tù nhân chính trị, và cùng với gia đình, họ được rời khỏi Việt Nam để định cư ở Hoa Kỳ.
Rõ ràng, đối với các cựu tù nhân chính trị VNCH: sau cơn mưa, trời lại sáng. Hãy hy vọng và cầu nguyện, ngay cả khi chúng ta bị phản bội, đang thất bại, hoặc gặp hoạn nạn… Tất cả rồi cũng trôi qua với cuộc đời tạm thời này … Và hãy tin rằng những ai làm việc cho chính nghĩa và nhân nghĩa, sẽ có cơ duyên hội tụ và ủng hộ nhau để thành công.
Hậu quả 30-4: tù cải tạo, công an đàn áp.
Viết Cho Ngày Quốc Hận 30/4 GS TRẦN THỦY TIÊN – M.S
Tác giả : Vi Anh
Ba Mươi Tháng Tư này là Ba Mươi Tháng Tư thứ ba mươi bảy. Ba mươi bảy năm niềm tin và hy vọng. Hy vọng vươn lên từ cuộc hành trình đầy gian khổ nhưng nhiều vinh quang.
Các cơ quan đoàn thể chánh trị, văn hóa, xã hội, và truyền thông đại chúng của người Việt Hải Ngoại ở Âu, Mỹ, Úc châu từ mấy tháng nay đã chuẩn bị tổ chức kỷ niệm rầm rộ. Ba mươi bảy năm trên ba triệu người Việt đã gạt nước mắt rời bỏ quê nhà đi tỵ nạn CS trên 60 quốc gia, trải rộng khắp năm châu, bốn biển. Tất cả đồng loạt, đồng lòng tổ chức ngày Ba Mươi Tháng Tư thật lớn.
Ba mươi bảy năm theo xã hội học là một thế hệ. Nhưng đối với người Việt tỵ nạn CS, đó là cả ba thế hệ - thế hệ thứ nhứt, một rưỡi, và thứ hai -- chụm lại thành một thực thể trong cuộc hành trình đầy gian khổ nhưng cũng đầy vinh quang với hy vọng đã, đang và sẽ vươn lên theo định luật của sự sống thành một thế lực lớn mạnh thấy rõ.
Gian khổ qua 6 giai đoạn của cuộc hành trình: Di tản, Vượt biên, ODP, Đi bán chánh thức HO, Con cái HO, Hồi Hương. Đó là máu, nước mắt, mồ hôi, vui buồn, vinh nhục, sướng khổ, thành bại của ba thế hệ, là sự nghiệp, là thành tích xuất sắc chung và lớn của quần chúng, là giai đoạn lịch sử bi hùng của dân tộc Việt. Thượng Đế cũng không thể đổi thay sự kiện lịch sử này. CS không thể và không bao giờ chối bỏ được.
Chính CS Hà nội cũng phải công nhận, từ chỗ ban đầu xem người “vượt biên” là “tội phản quốc, phản động, phản cách mạng” và chỉ một hai thập niên sau phải gọi là “khúc ruột ngàn dặm của quê hương, Việt Kiều yêu nước”, khan cổ kêu gọi đem kiến thức, tiền bạc về “xây dựng quê hương”, giúp cho chế độ CS đã từng lên án người Việt ra đi tỵ nạn CS.
Đó là cuộc di tản vô tiền khoáng hậu trong lịch sử VN và thế giới sử cho đến bây giờ. Tổng số sống trên ba triệu và chết không dưới một phần ba. Theo lượng định của Phủ Cao ủy Người Tỵ nạn của Liên Hiệp Quốc, có bao nhiêu thuyền nhân (boatpeople) đến được bến bờ tự do thì độ phân nửa chết dưới biển.
Máu, nước mắt, mồ hôi, gian nguy, khó khổ, số thương vong, số người, và dặm đường đi, đông hơn, nhiều hơn, xa đa dạng hơn cuộc di tản của dân Do Thái ra khỏi Cỗ Ai Cập trước Chúa Ky tô giáng sinh. Một cuộc di tản sau này trở thành linh hồn của văn minh Tây Phương với cỗ sử, niềm tin, và hy vọng của người Do Thái được đúc kết trong Kinh Cựu Ước và được chấp nhận như một phần quan trọng của Thánh Kinh (Bible) của Ky Tô Giáo.
Ba mươi bảy năm cuộc di tản của người Việt đã làm lương tâm Nhân Loại chấn động, Cộng đồng thế giới bàng hoàng. Liên Hiệp Quốc xem công tác giúp người Việt vượt biên, ra đi trong vòng trật tự là một công tác lớn nhứt thế kỷ của mình. Hầu hết các siêu cường trên thế giới, đặc biệt thuộc văn minh Tây Phương đều có nhận cho người Việt tỵ nạn CS đến định cư. Nước Mỹ là nước dang tay ra đón người Việt tỵ nạn CS nhiều nhứt. Trong thế giới sừ, chưa có một nước đồng minh nào như Mỹ, sau mấy chục năm chiến tranh chấm dứt mà còn cứu khổn phò nguy, cho định cư những đồng đội, đồng minh và gia đình sa cơ thất thế.
Nhưng ba mươi bảy năm cuộc hành trình ấy cũng đầy vinh quang, làm vẻ vang dân Việt. Một dân tộc VN yêu tự do, dân chủ, xây dựng nhân quyền đã rõ rệt trưởng thành trong lòng văn minh Tây Phương, trải dài từ Đông Tây Âu, sang Bắc Mỹ, xuống Úc Châu. Một VN Hải Ngoại (Việt Nam d'Outre Mer) đã thành hình, như một nước Pháp Quốc Hải Ngoại (France d' Outre- Mer) trong thời thời Đức Quốc Xã tạm chiếm nước Pháp, đã đấu tranh đem lại tự do, dân chủ cho nước nhà.
Về chánh trị, thế quốc tế của VN Hải Ngoại có chánh nghĩa hơn chế độ CS Hà nội vì CS Hà Nội chiếm được lãnh thổ, cướp được chánh quyền, mà không lãnh đạo được nhân dân, thống nhứt được non sông mà không thống nhứt được dân tộc. Quốc Hội Liên Âu, Mỹ, Úc, trái tim của nhân dân và chánh quyền tiến bộ các nước tự do, dân chủ trên thế giới đứng về phía chánh nghĩa đấu tranh cho tự do, dân chủ của người Việt Hải Ngoại, trong thời đại kinh tế toàn cầu và dân chủ hóa hoàn vũ được văn minh Tin Học yểm trợ.
Quốc kỳ VN Cộng Hòa đã được chánh quyền địa phương, hàng chục tiểu bang, hàng trăm quận hạt, thành thị Mỹ công nhận như biểu tượng tự do, dân chủ của người Mỹ gốc Việt. Người Việt tại nhiều nước trên thế giới đã đi vào dòng chánh chánh tri, chánh quyền, khoa học kỹ thuật, thể dục thể thao, nghệ thuật thứ bảy, truyền thông của Tây Phương.
Về kinh tế, ba mươi bảy năm hải ngoại, người Việt đã vượt qua thời kỳ chân ướt chân ráo nơi quê hương mới, một cách thần kỳ. Tự do, dân chủ rõ rệt là điều kiện tiên quyết của phát triển kinh tế. Mỗi năm người Việt Hải Ngoại chỉ gởi cho không để giúp bà con cô bác, bạn bè – chơi chơi thôi – con số đã trên bảy, tám tỷ Đô la. Theo thông lệ số tiền gởi cho của những người định cư ở Mỹ như dân Hispanics, Phi luật Tân, Trung Đông, số tiền cho chỉ chiếm dưới 5% của số tiền kiếm được. Điều đó cho thấy tổng sản lượng thuần của người Việt Hải Ngoại cao hơn của cả nước VN. Lợi tức đồng niên hải ngoại tính trên đầu người nhiều hơn cả trăm lần trong nước. Theo Ngân Hàng Thế giới trung bình một người Việt trong nước kiếm chưa đến 500 Đô/năm.
Về văn hóa xã hội, tại Mỹ cũng như tại Tây Âu, Úc Châu, tuy chưa có số thống kê khoa học, con số ước lượng người Việt Hải Ngoại tốt nghiệp đại học 4 năm trên 25% dân số hải ngoại. Nói gọn cứ 4 người Việt Hải Ngoại thì có 1 người tốt nghiệp đại học 4 năm tại các trương đại học trình độ giảng huấn văn hóa, khoa học, kỹ thuật tân tiến nhứt hoàn cầu. Chất xám của người Việt Hải Ngoại là cái mà CS Hà nội thèm muốn nhứt, nhưng dù khan cổ gọi mời, nhưng trí thức VN Hải Ngoại đi VN thăm quê hương, thăm người thân thì có, ở lại với CS thì không.
Tiếng Việt hải ngoại đã tiến triển theo dòng tiến hóa của ngôn ngữ, tiếp nối dòng ngôn ngữ Việt của bao thời kỳ độc lập VN, Ngô,Đinh, Lê, Lý,Trần, Lê, Nguyễn, đệ nhứt, đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa, và vẫn trường tồn và phát triển sau 3 lần Bắc Thuộc, 1 lần Pháp Thuộc, và CS đọa đày. Tiếng Việt Hải ngoại biến “từ của CS” như hồ hởi, phấn khởi, ưu việt, nhứt trí, đồng tình, thành tử ngữ. Đồng thời phát huy thêm những chữ nghĩa liên quan đến chánh trị tự do, dân chủ và khoa học kỹ thuật là những chữ VN còn thiếu vì hoàn cảnh lịch sử và chiến tranh của nước nhà trước năm 1975.
Kỷ niệm Ba Mươi Tháng Tư là cơ hội người Việt Hải Ngoại tự xét một cách nghiêm khắc, khách quan nhưng đầy tin tưởng lạc quan. Niềm vui và hy vọng vươn lên với niềm tin sẽ hoàn thành lời hứa đem lại tự do, dân chủ cho đồng bào còn bị kẹt ở lại, lúc gạt nước mắt rời đất nước ra đi.
Sau cùng, “Ra đi không phải là chết một hai phần nào” (Partir c'est mourir un peu) như một nhà thơ lãng mạn Pháp đã viết. Mà ra đi là để khôi phục niềm tin, chánh nghĩa đã bị tước đoạt, như Charles De Gaulle đã làm. Đó là tự do, dân chủ, nhân quyền VN cho quốc gia, dân tộc Việt. với hy vọng vươn lên dù bi quan cũng thấy đã, đang, sẽ lớn mạnh.
Ngô Nhân Dụng
Mấy năm trước tôi có dịp trò chuyện với một anh công an trẻ về “kinh tế tri thức.” Tôi cố giải thích với anh rằng không có dân chủ tự do thì kinh tế tri thức không phát triển được.
Tôi ước ao anh bạn này, và các bạn sinh viên ở Việt Nam hãy đọc bài báo trên tờ Economist trong tuần vừa qua, về “Cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba.” (The third industrial revolution.)
Cuộc cách mạng công nghiệp thứ nhất bắt đầu ở thế kỷ 18, khi các xưởng dệt ở Anh quốc dùng máy làm việc thay sức người. Ðầu thế kỷ thứ 20, công ty Ford làm cách mạng lần thứ nhì, chế tạo xe bằng phương pháp dây chuyền. Cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba đang diễn ra, do ảnh hưởng hỗ tương của nhiều hiện tượng: Tạo ra những vật liệu mới, phương pháp sản xuất mới, tổ chức việc sản xuất và phân phối theo lối mới.
Nghiên cứu, đầu máy của kinh tế tri thức, càng quan trọng hơn trong việc chế hóa. Ở Mỹ hiện nay kỹ nghệ chế hóa (manufacturing) chỉ đóng góp 11% trong tổng sản lượng nội địa; nhưng trong số tiền tiêu để nghiên cứu, phát minh, canh tân, thì 68% được dùng cho công nghiệp chế hóa. Người ta đầu tư vào trí não. Hiện nay số sản xuất hàng chế hóa của Mỹ và Trung Quốc trị giá ngang ngửa nhau; nhưng bên Mỹ người ta chỉ dùng đến một số nhân công nhỏ bằng 10% số công nhân bên Tàu; nghĩa là mười người Tàu làm ra bằng một người Mỹ. Trong tương lai, việc sản xuất hàng loạt sẽ lỗi thời, thay thế bằng phương pháp sản xuất theo nhu cầu, sở thích từng khách hàng. Chi phí vật liệu sẽ giảm bớt vì các vật liệu mới ra đời vừa rẻ, vừa nhẹ, vừa bền cứng hơn. Sản xuất một món hàng ở Mỹ hay ở Trung Quốc cũng không quan trọng nữa vì tỷ lệ chi phí về nhân công không đáng kể (hiện nay trong giá một cái iPad 500 đô la chỉ có 33 đô la trả cho công nhân khắp thế giới, mà trong đó lại chỉ có 8 đô la cho người Trung Quốc làm những việc dễ nhất). Tất cả các sáng kiến mới này không phải do một nhóm người nào nghĩ ra. Ðó là do đóng góp của rất nhiều người qua mạng Internet, chia sẻ ý kiến và phát minh trong một hệ thống mở, giống như Facebook vậy.
Một thí dụ, là công ty Quirky ở thành phố New York. Công việc của nó là biến sáng kiến của người khác thành sản phẩm bán được. Một học sinh trung học ở Milwaukee đưa sáng kiến đầu tiên lên mạng Quirky, về một con chấu cắm điện, có thể dùng ở Mỹ, Âu Châu, Á Châu, Úc, vân vân, vì lỗ để cắm điện mỗi nơi khác nhau. Cậu học sinh tên là Jake Zien đã vẽ kiểu một con chấu có thể dùng ở bất cứ nơi nào trên thế giới, tiện hơn những cái đang bán trên thị trường. Quirky đem chế thử rồi đưa lên mạng lưới của họ; có 709 người góp thêm ý kiến về vẽ kiểu, vật liệu, nghiên cứu thị trường, ước định giá cả, hệ thống phát hành, vân vân. Sau cùng, cái đầu cắm được đưa cho nhà máy sản xuất, với giá dưới 30 đô la Mỹ. Tới Tháng Tư năm 2012, đã hơn 200,000 người mua. Những người góp ý kiến được chia 30% số tiền công ty Quirky thua về, riêng cậu Jake Zien đã được trả 124,000 đô la, và còn sẽ được trả thêm.
Ðiều đặc biệt trong câu chuyện trên là một “hệ thống mở” để mọi người có thể cộng tác, chia sẻ sáng kiến, chia sẻ công trình và thành quả. Việc sản xuất trong nền kinh tế tương lai sẽ diễn ra mô thức đó. Một thí dụ khác: Công ty Shapeways ở Hòa Lan, chuyên sản xuất bằng “máy in 3 chiều” (3D-printing). Nếu chưa biết 3D-printer là cái gì thì các bạn là những độc giả hơi “chậm tiến” hơn người ta mất mấy năm rồi. Nó giống như cái máy in laser đi kèm các máy vi tính vậy. Máy in chỉ “đặt” mực lên trên tờ giấy, theo lệnh của một chương trình điện toán, tạo thành chữ, thành hình hai chiều. Máy 3-D đặt nhiều lớp chồng lên nhau, không dùng mực in mà dùng các vật liệu khác, như plastic, kim loại, bất cứ hợp chất nào có thể làm cho hơi “lỏng lỏng.” Cứ như vậy nó sẽ “in ra” bất cứ cái gì, như một hàm răng giả, một bộ phận tinh vi trong máy bay hoặc vệ tinh nhân tạo, một đôi giầy hay một cây vĩ cầm; miễn là cái họa đồ đã được mã hóa theo kỹ thuật số. Một bệnh nhân ở giữa rừng Phi Châu cần một bộ phận tinh vi chữa bệnh tim có thể được “in” ra ngay tại chỗ, thay vì chờ một công ty ở Ðức chế tạo, đóng gói, gửi máy bay chở qua. Công ty Shapeways ở Hòa Lan năm ngoái bán ra khắp thế giới 750,000 sản phẩm chế theo phương pháp 3-D, và số thương vụ còn gia tăng. Phương pháp “in 3-D” đã được phát bằng sáng chế từ năm 1986, đến nay ngoài những máy dùng trong kỹ nghệ giá hàng triệu đã có loại máy 3-D cá nhân bán với giá mấy ngàn. Năm 2010 mới có gần 6 ngàn người mua, năm sau số tiêu thụ đã lên gần 24 ngàn máy 3-D cá nhân. Shapeways được gọi là một “cộng đồng chế tạo trên mạng” (online manufacturing community) bởi vì người ta có thể upload (gửi) họa kiểu (design) món hàng mình cần tới, được cho biết ngay giá cả, tùy theo muốn làm bằng vật liệu nào. Người “mua” có thể rao bán món hàng đó trên cùng mạng lưới, món hàng có thể được thay đổi tùy theo ý kiến của khách hàng mới, vân vân.
Hai câu chuyện trên đây cho thấy việc sản xuất và tiêu thụ đang thay đổi. Mọi người cộng tác với nhau, trên những mạng mở cho công chúng. Xin kể một thí dụ thứ ba, về việc phát minh những vật liệu mới.
Một nhóm nhà nghiên cứu tại Ðại Học MIT đang tìm cách dùng vi khuẩn chế ra những vật liệu mới, sau khi quan sát những vỏ sò. Giáo Sư Angela Belcher thấy chính các vi khuẩn đã dùng các chất dưới đáy biển mà biến chúng thành những hợp chất rất cứng, như vỏ con bào ngư. Diễn trình này xẩy ra 500 triệu năm trước đây. Nhóm nghiên cứu của bà đã cố dùng những vi khuẩn vô hại này tạo ra những chất liệu mới dùng trong kỹ nghệ. Hiện họ đã thành công và áp dụng vào nhiều ngành công nghiệp, thí dụ, làm pin (battery). Từ các phát kiến đó bà Belcher đã lập ra hai công ty để dùng vi khuẩn trong việc chế ra những vật liệu. Trong nhóm này, ông Gerbrand Ceder đã dựng ra một tổ chức cung cấp tin tức về đặc tính của các vật liệu trên mạng, với mục đích trao đổi hoàn toàn miễn phí. Bao nhiêu người hăng hái tham dự trong vòng ba bốn tháng mạng này đã đăng tải các tính chất của 20,000 chất khác nhau. Thay vì phải đi tìm nhau, các nhà nghiên cứu có thể lên mạng và tìm thấy những chất gì mình cần, nếu hợp với chất khác thì kết quả ra sao.
Cộng tác qua Internet không phải chỉ ích lợi trong kinh tế, mà còn mang lại những kết quả lớn không ngờ trong cả công tác từ thiện nữa.
Hiện nay các tổ chức cứu trợ quốc tế đang sử dụng một mạng tên là Ushahidi, để thu thập, phổ biến và cập nhật các tin tức cần thiết khi muốn đối phó với các thiên tai. Ushahidi do bà Ory Okolloh, người Keynia lập ra năm 2008, sau những cuộc bạo loạn xẩy ra và nhiều phụ nữ bị cưỡng hiếp. Biết rằng các con số trên báo chí không đầy đủ, bà dùng blog của mình kêu gọi mọi người dân Kenya cho thêm các tin tức mới. Số thông tin tràn ngập, bà Okolloh phải mở ra một diễn đàn mạng (platform), và chỉ trong một ngày mạng Ushahidi đã nhận được đủ các thông tin liên can đến các nạn nhân của cuộc bạo loạn. Nhiều người tham dự vào mạng, gửi tin đến bằng điện thoại di động, cuối cùng mạng Ushahidi có những tin cập nhật hơn tất cả các cơ quan truyền thông và chính quyền. Năm 2010, khi cuộc động đất ở Haiti xẩy ra, anh Patrick Meier ở Mỹ đã dùng mạng Ushahidi để thiết lập một trung tâm thông tin mới, Ushahidi-Haiti, chỉ trong vòng mấy giờ là được người Haiti gửi cho bao nhiêu tin tức, hàng trăm người giúp việc thông dịch và kiểm tra các thông tin, nhờ thế các cơ quan cứu trợ quốc tế có thể điều hợp việc cứu trợ dễ dàng hơn - mặc dù anh Meier ở cách xẩy ra nơi động đất 2,500 cây số.
Qua các thí dụ trên, người ta thấy một hiện tượng chung: Người tiêu thụ tham dự việc sản xuất và phân phối; chính các nạn nhân tham dự vào việc cung cấp dịch vụ cứu trợ. Internet đang thay đổi thế giới; cả nền kinh tế lẫn việc quản lý công tác xã hội, mà yếu tố quan trọng nhất là sự tham dự của đông đảo mọi người. Ðiều kiện thiết yếu là người ta được sống trong những không gian mở rộng, được tự do tham dự và trao đổi thông tin.
Ðó là đời sống bình thường của loài người, trong tương lai. Nhờ sống trong những hệ thống mở, kinh tế sẽ tiến bộ nhanh, vì bao nhiêu bộ óc sáng tạo được quy tụ, phối hợp trên các mạng, việc kinh doanh sẽ dễ dàng hơn vì người tiêu thụ cũng tham gia trong việc sản xuất. Các tổ chức xã hội, các cơ quan chính quyền sẽ đáp ứng nhu cầu của “người tiêu thụ” một cách nhanh chóng và thích nghi hơn.
Ðiều kiện quan trọng nhất là mọi người được kính trọng, được cho phép tham dự vô điều kiện. Ðó là căn bản của các chế độ tự do dân chủ.
Trong khi cả thế giới đang tiến tới ào ào, nhờ các mạng lưới mở cho mọi người tham dự và cộng tác với nhau, thì ở một số nước chậm tiến người ta vẫn còn kiểm duyệt và cấm đoán những phương tiện truyền thông xã hội, như Facebook, Twitter, vân vân. Ðọc bản tin về cuộc đấu trí giữa giới trẻ ở Trung Quốc với nhà cầm quyền, khi họ tìm cách ngăn chặn các thông tin về Luật sư mù Trần Quang Thành, chúng ta không chỉ thấy buồn cười mà còn lo cho tương lai nước Trung Hoa. Cứ lo cấm đoán, ngăn chặn các mạng lưới trao đổi thông tin như vậy thì bao giờ người ta mới tiến được?
Dân chủ là điều kiện thiết yếu để phát triển, cả về kinh tế lẫn xã hội. Các chế độ độc tài thường nại cớ rằng dân chúng còn chưa đủ trình độ để bắt đầu dân chủ hóa. Nhưng nhìn sang một nước như Keynia, trình độ dân của họ có khá gì hơn dân Việt Nam hay Trung Quốc hay không? Tại sao người ta để cho dân được sống tự do hơn? Nếu không bắt đầu dân chủ hóa, thì đến bao giờ dân một nước mới đủ trình độ để sống tự do dân chủ?
Giống như một cô gái than, “Bố mẹ cháu cứ hỏi bao giờ cháu mới chịu lấy chồng. Nhưng hôn nhân là một quyết định phải tính toán cẩn thận. Cháu nghĩ nếu mình không biết cho rõ thì thà rằng đừng quyết định vội vàng.” Tôi hỏi: “Cháu có biết bơi không?” “Cháu đã tập bơi trước khi vượt biên.” “Thế thì chuyện lấy chồng cũng giống như tập bơi vậy. Nếu không nhảy xuống nước thì không bao giờ biết bơi cả.”
Dân chủ hóa cũng giống như tập bơi lội. Nếu không nhảy xuống nước thì không bao giờ biết bơi. Dân chủ hóa cũng giống như lập gia đình, cứ chờ mãi thì sẽ không bao giờ sinh con đẻ cái!
Nhưng có một điều khác biệt, là nhiều người có thể quyết định không lập gia đình, sống độc thân suốt đời vì lý tưởng tôn giáo chẳng hạn, mà vẫn sống hạnh phúc. Nhưng một quốc gia thì không thể nào không bước qua tiến trình dân chủ hóa. Vì nếu người dân không được tự do thì kinh tế không thể phát triển được. Kinh tế thế giới đang thay đổi lớn, trong vòng một thế hệ nữa cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba sẽ khiến các mô thức kinh doanh hiện nay trở thành lỗi thời hết. Các nước chậm chân trên đường dân chủ hóa sẽ chịu cảnh lạc hậu mãi mãi. Ðại Học Kỹ Thuật Vaal ở Nam Phi đã mở một khoa cho các sinh viên dùng máy in 3-D học nghề họa kiểu và sản xuất; họ đang mở thêm một chi nhánh tại miền quê. Không biết bao giờ các sinh viên Việt Nam mới được dùng các máy đó trong phòng thí nghiệm?
[center]Ai là kẻ khủng bố?[/center] Là một người dân sống trong nước Việt Nam, hay nói rõ hơn tôi đang phải sống trong gông cùm Việt Cộng. Tôi cảm thấy nhục nhã , rất nhục nhã cho luận điệu sặc mùi NGU DỐT của bọn Việt Cộng – bọn cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an - Chúng ăn phải bùa mê thuốc lú của Tàu nên nói ra những điều hết sức ngu xuẩn một cách rất trơ trẽn, trâng tráo. Thật đáng phỉ nhổ .“Nguyễn Quốc Quân,: “Ủy viên trung ương” của tổ chức khủng bố Việt Tân.”.Chẳng lẽ chúng không biết thế nào là khủng bố ư? Chẳng lẽ chúng đã quên hết rồi những hành vi tàn ác: “đắp mô” phá hoại đường xá, đánh bom trong thành phố, pháo kích vào các khu dân cư... nhằm giết hại đồng bào và vu vạ cho phía đối phương. Ai chặt đầu, đập đầu người dân bằng chày vồ…???Ai đã phá mô để cứu dân? Chính những kẻ mà chúng gọi là Ngụy, là Đế Quốc đã đến phá mô để trả lại sự an toàn cho dân lành trên khắp dãi đất Việt Nam. Ai gánh những thảm họa nếu xảy ra cho các nhân sự này? chưa ai gọi Mỹ-Ngụy là khủng bố!! Chính những nguời dân sống trong “vùng Việt Cộng ” địa ngục trần gian, họ bị khống chế , họ phải câm miệng cho Việt Cộng hoành hành, và lén lút kêu cứu đến “Mỹ, Ngụy ” cứu dânVà ai là kẻ khủng bố?Ai nhận thành tích khát máu dân lành vô tội này ??? CHÍNH CÁC CÁN BINH VIỆT CỘNG – NHỮNG KẺ KHỦNG BỒ ! - RẤT VUI SƯỚNG VỚI THÀNH TÍCH GIẾT HẠI DÂN LÀNH –Ngày nay sau khi chiếm quyền, đoạt nước …. chúng tự xưng là Nhà Nước. Nhà nước gì ? Nhà nước của bọn côn đồ, cướp cạn. Xin mọi người cứ nhìn vào các hình ảnh của các vụ cưỡng chế đất đai của dân cũng đủ rõ. Hàng ngàn Công An, Ủy ban thuộc băng đảng “Mafia đỏ” công khai cướp đất của dân. Yểm trợ cho chúng là lũ côn đồ khát máu, đâm thuê, chém mướn, đánh chết dân … vẫn được bình an vô sự.Chỉ có quỷ dữ mới vui sướng trên tang tóc, máu đổ, đầu rơi của đồng bào. Không chỉ một vài vụ mà kéo dài suốt các vùng miền đất nước Việt Nam. Cuộc cải cách ruộng đất – vụ nổi dậy Quỳnh Lưu – vụ giết người vô tội thảm thiết Tết Mậu Thân 1968 – giết hại đồng bào vượt biên suốt thập kỷ.Nôn nóng, đau xót cho dân oan rên xiết dưới ách Việt Cộng ngày nay, mà “ông Nguyễn Quốc Quân đã về Việt Nam” cùng đồng bào đòi hỏi lại quyền lợi mà người dân đáng được hưởng, có quyền hưởng …. Và đã bị Nhà Nước tước đoạt. Chúng lại gán ghép ông vào những hành động phá hoại, khủng bố hoàn toàn là những xuyên tạc vô căn cứ, là những lu loa, lấp liếm cho những tội ác tày đình của chúng đối với dân lành đang bị chúng kềm kẹp, vơ vét, cướp bóc có hệ thống. Một tiến sĩ Toán dạy về bảo mật thông tin lại kém cõi đến nỗi chứa thông tin trên máy vi tính để làm bằng chứng cho Việt Cộng bắt à ??? Và chỉ mới đến sân bay thì có hành động nào gọi là khủng bố được nhỉ ??? Đúng là “cả vú lấp miệng em” . Những gán ghép là hành động phá hoại, khủng bố hoàn toàn là những xuyên tạc vô căn cứ,… không hề được sự đồng tình của bất cứ ai biết yêu chuộng tự do và yêu thương đồng loại .Phải chăng Việt Cộng không phải đồng loại với NGƯỜI DÂN HIẾN LÀNH?Thật đáng phỉ nhổ cho bọn bồi bút, cho bè đảng Việt Cộng ….. theo đóm ăn tàn, nói những lời lẽ rặt luận điệu bọn Tàu mớm cho chúng suốt mấy chục năm qua. Luận điệu này của bọn Tàu nhằm xúi giục, chia rẽ dân tộc, giết hại bớt đi tiềm lực yêu nước của dân tộc ta nhằm chúng bớt đi phía đối đầu, để chúng dễ bề thôn tính nước ta khi có thể. Âm mưu này có phải bọn Việt Cộng không biết? Biết nhưng vẫn nhắm mắt làm ngơ, vẫn thừa cơ nước đục thả câu. Đó là phản quốc ! đó là phản động ! Những kẻ hại dân hại nước ngàỳ nay là ai? Ai khác hơn bọn Việt Cộng? Ngày xưa lợi dụng danh nghĩa người dân để cướp nước. Ngàỳ nay lợi dụng danh nghĩa ấy để vơ vét cho đầy túi tham, mặc tình cho dân điêu linh, thống khổMUÔN ĐỜI , VIỆT CỘNG KHÔNG THOÁT RA ĐƯỢC HAI CHỮ “DÃ MAN”NGÀY TÀN CỦA CHÚNG ĐÃ ĐẾN, CHÚNG ĐANG CUỒNG ĐIÊN GIẪY CHẾT - ĐÚNG VỚI QUY LUẬT CỦA SỰ ÁP BỨC
Tác giả : Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Tuần này một cuộc hội đàm hàng năm giữa Mỹ và Trung Cộng dự liệu về các vấn đề ngoại giao và kinh tế có vẻ lâm vào thế kẹt, vì một nhân vật đối kháng người gốc Tầu ở Bắc Kinh. đã trốn thoát từ tuần trước và hiện đang được Sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh che chở. Đầu tuần này, chính phủ của Tổng Thống Barack Obama đã nỗ lực vận động gỡ thế kẹt bằng cách phái một nhà ngoại giao cao cấp đến Bắc Kinh giải quyết vụ ông Chen Guangcheng bỏ trốn và hiện đang ở dưới sự che chở của Mỹ.
Trong khi vụ này nằm trong màn bí mật, không một lời giải thích của Sứ quán Mỹ, và cũng không ai biết ông Guangcheng có nằm trong tòa Đại sứ Mỹ hay không, Kurt M. Cambell, một phụ tá Ngoại trưởng Mỹ, đã đến Bắc Kinh hôm chủ nhật để hội kiến với nhà cầm quyền Trung Cộng về vụ ông Chen bỏ trốn trước khi có cuộc hội đàm chính thức giữa Trung Cộng và Ngoại trưởng Mỹ, bà Hillary Clinton cùng Bộ trưởng Tài chính Mỹ ông Timothy Geithner trong tuần này. Bà Clinton và ông Geithner đã rời Mỹ qua Trung Quốc từ đầu tuần.
Một giới chức ngoại giao Mỹ giấu tên nói hiện chưa rõ các giới chức Trung Cộng sẽ nói gì với bà Ngoại trưởng Clinton. Trong khi chờ đợi những diễn biến có thể sẽ xẩy ra trong tuần này, thiết tưởng cũng nên nói qua vài điều về thân thế nhà đối kháng Trần Quang Thành (Chen Guangchen). Năm nay ông 40 tuổi, mắt ông đã bị mù, và đã bị chính quyền Bắc Kinh giam lỏng tại gia,nhưng ông đã trốn thoát và hầu như chắc chắn, ông đã trốn vào tòa đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh. Và hôm Thứ Tư, luật sư mù Trần Quang Thành đã phải rời sứ quán Mỹ để vào một bệnh viện Bắc kinh vì công an hăm dọa giết vợ của ông. Ông Trần đã bắt đầu chống đối chính quyền Trung Cộng từ khi Bắc Kinh ra lệnh cưỡng ép phá thai, và ra lệnh cho mỗi cặp vợ chồng ở Trung Quốc chỉ được có một đứa con.
Cho đến nay nhiều chính khách Mỹ cho rằng mối quan hệ giữa hai nước lớn ở Thái Bình Dương là Mỹ và Trung Quốc là một vấn đề có tầm quan trọng hơn cả mọi chuyện khác, kề cả dân chủ và nhân quyền. Thế nhưng trên thực tế, nhân quyền và các vấn đề chính trị vẫn là những đề tài cốt lõi của hai nước lớn này ở chung trong một đại dương, không ai có thể chỗi cãi.
Hai điểm then chốt trong chính sách của chính phủ Mỹ dưới quyền TT Obama vẫn là nhân quyền và tư tuởng chính trị. Bởi vậy chính sách của Obama không phải chỉ gửi vài đơn vị Hải quân đến Úc châu. Obama đã nói rất rõ ràng mục tiêu chính của Mỹ đối với Trung Cộng là một chương trình dài hạn nhằm xây dựng tự do chính trị và tự do kinh tế ở vùng này.
Sự kiện chỉ có một nước lớn độc đảng thách thức chương trình của Mỹ thật ra không phải là chuyện bên lề, mà là mối quan tâm lớn của các chiến lược gia Mỹ. Ấn Độ có thể cũng đang làm những việc mà Mỹ thấy quan ngại như những việc Trung Cộng đang làm – đóng những hàng không mẫu hạm khổng lồ và các hệ thống phóng phi đạn tối tân. Nhưng Mỹ tin rằng Ấn Độ sẽ sử dụng những loại võ khí đó một cách có tinh thần trách nhiệm. Mỹ không tin Trung Cộng có tinh thần đó.
Đồng thời các tay lãnh tụ Trung Cộng không phải có chứng hoang tưởng khi họ dự liệu Mỹ có thể muốn họ mất luôn chính quyền. Cựu Tổng Thống Mỹ Bill Clinton đã từng có câu tuyên bố lừng danh, khi ông nói “Đảng Cộng sản Trung Quốc đi trật đường lịch sử!”.
Đầu tuần này, những tin tức tức và hình ảnh từ Bắc kinh phổ biến trên khắp thế giới cho thấy nhiều nhóm người mang hình ảnh ủng hộ Trần Quang Thành. Murong Xuecun, một nhà văn nổi tiếng, đã tranh đấu công khai đòi trả tự do cho ông Trần. Ông nói nhiều người dân đã phẫn nộ và bất chấp sự đàn áp của chính quyền, đã công khai lên tiếng phản đối vụ đàn áp ông Trần.
Ông Trần đã trở thành người của nhân dân, tiêu biểu cho những đau khổ của người dân.
Trong mấy tháng, hai người Trung Quốc trốn vô trụ sở ngoại giao Mỹ; đưa tới những biến cố bất ngờ. Tháng Hai, phó thị trưởng kiêm giám đốc công an Trùng Khánh lẻn tới tòa tổng lãnh sự Mỹ ở Thành Ðô (có lúc ông ta phải cải trang làm một bà già).
Sau khi hai bên chính phủ dàn xếp với nhau, ông Vương Lập Quân (Wang Lijun) đã đi ra, khi được Hồ Cẩm Ðào hứa bảo vệ, khỏi lo bị vợ chồng Bạc Hy Lai giết. Hậu quả là Bạc Hy Lai mất chức, vợ bị bắt vì tình nghi giết người. Ba tháng sau, luật sư khiếm thị Trần Quang Thành (Chen Guangcheng) trốn vô tòa đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh; đúng lúc bà ngoại trưởng và ông bộ trưởng tài chánh Mỹ sắp qua họp Hội nghị Cộng tác Chiến lược với Trung Quốc. Hai chính quyền phải dàn xếp để vụ này giải quyết êm thắm, nhưng đến nay vẫn chưa hết trắc trở.
Cả hai nhân vật, Vương Lập Quân và Trần Quang Thành đều lo bị ám hại. Họ đều muốn nhờ vào chính quyền Mỹ mong cầu thoát khỏi tay những người nắm toàn quyền ở địa phương. Vì họ không tin tưởng vào hệ thống pháp luật trong chính quốc gia họ sống. Nhưng tại sao lại nhờ nước Mỹ thay vì một nước nào khác? Bộ Ngoại Giao Trung Quốc yêu cầu Mỹ xin lỗi vì “can thiệp vào nội bộ” của nước Tàu trong vụ Trần Quang Thành. Nhưng chính quyền Mỹ đâu có mời ông Trần Quang Thành đến? Chính nhà “luật sư chân đất” này đã được bạn bè giúp trốn khỏi ngôi nhà ông ở đang bị phong tỏa, rồi bí mật chạy từ vùng Sơn Ðông lên Bắc Kinh, lẻn vào tòa đại sứ Mỹ.
Trần Quang Thành, 40 tuổi, vốn là con nhà nông nghèo nàn, bị mù, phải tự học để tiến thân. Ông đã tranh đấu cho những người bị khuyết tật được đối xử bình đẳng; và từng được chính quyền khen ngợi về tấm lòng vị tha của ông. Ông chỉ bị coi là “có tội” khi bắt đầu tranh đấu bền bỉ chống lại việc cưỡng ép các nông dân phải phá thai hay triệt sản, trong hàng chục năm qua. Bị giam lỏng một cách bất hợp pháp, lo gia đình mình không được an toàn, Trần Quang Thành phải tìm kế, trước hết là thoát ra khỏi gọng kìm của chính quyền làng xã.
Nhưng tại sao ông ta không “khiếu kiện” lên các cấp chính quyền cao hơn, từ tỉnh đến trung ương? Chắc ông biết là làm như vậy hoàn toàn vô ích; vì phủ bênh phủ, huyện bênh huyện. Ði vào tòa đại sứ Mỹ, gây một cuộc khủng hoảng ngoại giao giữa hai nước, đó là cách duy nhất để bảo đảm cả thế giới chú ý đến điều kiện sống an toàn cho gia đình mình. Kinh nghiệm giám đốc công an Vương Lập Quân có thể đưa Trần Quang Thành đến quyết định đó. Nước Mỹ trở thành một chương trình bảo hiểm. Hai người Trung Hoa đã nhờ chính phủ Mỹ đóng vai bảo đảm cho họ được đối xử một cách công bằng.
Bắc Kinh Nhật Báo (Beijing Daily) tố cáo ông đại sứ Mỹ là người “ngồi uống cà phê và gây rối ren” cho nước Tàu. Họ tố ông đại sứ Mỹ đã sử dụng Trần Quang Thành như một quân cờ để “bôi đen” bộ mặt Trung Quốc! Bộ mặt đó tự nó đã đen rồi, ai còn bôi cho đen hơn được nữa? Ông Ðại Sứ Gary Locke vốn là người Mỹ gốc Hoa, tổ ba đời đã chạy từ Quảng Ðông sang Ðài Loan rồi mới sang Mỹ. Cho đến lên năm tuổi, khi đi học ông ta mới bắt đầu nói tiếng Anh. Ðại Sứ Locke đã thân hành đưa Trần Quang Thành đến bệnh viện, vì mấy chỗ gẫy xương trên đường trốn chạy khỏi làng mình. Ông ta tưởng là đã làm xong hai nhiệm vụ: Giữ cho hai nước tiếp tục giao hảo; và tỏ ra chính quyền Mỹ vẫn quan tâm đến quyền làm người, quyền của một người Trung Hoa trong nước họ.
Nhưng câu chuyện chưa chấm dứt. Locke chắc phải biết hành động của ông cũng đầy rủi ro. Ai có thể bảo đảm chính quyền Sơn Ðông tôn trọng các cam kết với người Mỹ của Hồ Cẩm Ðào và Ôn Gia Bảo? Vụ Tiên Lãng ở Việt Nam cho thấy quyền hành của các lãnh chúa địa phương lớn như thế nào. Nếu Bạc Lai Hy còn tại chức, liệu Vương Lập Quân có được yên thân hay không? Trong mấy tháng tới, nếu Luật Sư Trần Quang Thành, hay vợ ông gặp tai nạn, thì Locke sẽ chịu trách nhiệm, đã bị lừa vì “nhẹ dạ cả tin”. Chính quyền Obama cũng chịu trách nhiệm; một điều rất bất lợi trong một năm bầu cử. Cho nên, khi Trần Quang Thành thấy bà vợ bị đe dọa, ông đổi ý, xin qua Mỹ tị nạn, thì được chấp nhận ngay. Trần Quang Thành sẽ được đi cùng vợ và hai con, được cấp học bổng tại một đại học, Bộ Ngoại Giao Mỹ có thể lo việc này. Nhưng nếu việc làm giấy tờ xuất ngoại bị Bắc Kinh trì hoãn, kéo dài, rồi vợ con của Trần Quang Thành bị tai nạn nào đó, thì chính phủ Mỹ vẫn mang tiếng đã đặt các quyền lợi kinh tế của nước Mỹ lên trên mối quan tâm về nhân quyền. Hôm qua, ứng cử viên tổng thống Cộng Hòa Mitt Romney đã bắt đầu tấn công, coi việc đưa ông Trần Quang Thành ra bệnh viện là một thất bại ngoại giao của chính quyền Barack Obama.
Bắc Kinh cũng điên đầu vì biến cố Trần Quang Thành. Tin tức về vụ này được truyền bá rộng và bàn tán sôi nổi trong 250 triệu mạng Internet, bao thanh niên bầy viết với lòng ngưỡng mộ. Khi đội công an kiểm duyệt mạng cấm không cho thông tin nào với tên Trần Quang Thành được chuyển đi, thì các công dân mạng đã đổi chiến thuật, chỉ gọi là Ông Mù, hay Luật Sư Mù. Công an lại cấm mấy chữ này, công dân mạng lại thay bằng tên A Băng, tức Phạm Băng Băng một ca sĩ khiếm thị nổi tiếng. Công an cấm luôn cái tên ca sĩ, các công dân bèn dùng tên tắt C-Guang-C. Cứ như thế, cuộc chạy đuổi giữa công an và giới trẻ trên mạng kéo dài cả cuối tuần trước, cho đến khi Trần Quang Thành được đưa tới nhà thương. Nhưng công an mạng còn cấm tất cả những trao đổi trên mạng có nói đến tên sứ quán Mỹ, hoặc tên người bạn đã giúp Trần Quang Thành trốn từ làng đi, cấm cả việc gọi tên làng của anh, đến cả mã số chuyến bay UA898 cũng bị cấm, vì đó là chuyến bay của hãng United từng chở nhiều người Trung Quốc đi tị nạn chính trị qua Mỹ! Chỉ một cá nhân Trần Quang Thành đã gây ra bao nhiêu xáo động trên mạng làm cho, không những các công an kiểm duyệt, mà cả chính quyền Trung Quốc phát mệt!
Chính phủ Trung Quốc không để cho vụ Trần Quang Thành ngăn cản việc hợp tác với Mỹ. Hôm qua ông Timothy Geithner, bộ trưởng tài chánh Mỹ cho biết Bắc Kinh đã chịu nhượng bộ trên vấn đề tỷ giá đồng tiền của họ, một cải tổ mà chính quyền Mỹ vẫn yêu cầu từ hàng chục năm qua. Trung Quốc cũng đồng ý cho phép các công ty Mỹ hùn phần vốn lớn hơn trong các công ty mua bán chứng khoán. Các công ty hợp doanh này cũng được tham dự trong các thị trường lai phiếu (futures), tức là các hợp đồng mua trước các chứng khoán tài chánh, cũng như các nông phẩm, kim loại, vân vân. Nhượng bộ này là một khúc quanh quan trọng, vì thị trường lai phiếu xưa nay Bắc Kinh vẫn dành riêng cho các công ty tài chánh, phần lớn là quốc doanh, vì tính chất đầu cơ có thể gây ra nhiều rủi ro.
Hai biến cố Vương Lập Quân và Trần Quang Thành đặt một câu hỏi cho đảng Cộng Sản Trung Hoa: Họ cai trị hơn một tỷ người dân như thế nào mà, một người thuộc thành phần thống trị, người kia tiêu biểu cho dân bị trị, cả hai phải chạy vào những cơ sở ngoại giao nước ngoài xin giúp bảo vệ sinh mạng và quyền sống tự do của họ? Ai đã bôi đen bộ mặt của nước Trung Hoa nếu không phải là chính chế độ độc tài đảng trị kéo dài hơn nửa thế kỷ?
Ðảng Cộng Sản Trung Quốc lo ngại là tấm gương Trần Quang Thành sẽ thành một ngòi nổ, khích lệ những người dân khác đứng lên đòi tự do; không khác gì biến cố Ðoàn Văn Vươn ở Việt Nam. Bao nhiêu năm qua, những người dân nghèo cô thế, những thanh niên thất nghiệp, các người tàn tật, vân vân, đã bị gạt ra bên lề xã hội, đứng ngoài cuộc chạy đua làm giàu của các cán bộ và các nhà tư bản đỏ. Một người dám đứng dậy, có thể ngàn vạn người khác vùng lên. Nhất là trong năm nay đảng Cộng Sản sẽ thay đổi lãnh đạo; kinh tế bắt đầu phải giảm tốc độ; trong khi nông dân đang phấn khởi vì thành công trong cuộc đấu tranh chống cường quyền ở làng Ô Khảm.
Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đang lâm vào thế bí. Muốn trấn an dân thì phải cởi trói cho họ, phải thi hành luật pháp công minh. Nhưng cho dân được tự do hơn thì quyền hành của các cán bộ, đảng viên phải bị giới hạn. Ðảng Cộng Sản không thể nào vừa bảo vệ quyền lợi băng đảng, vừa muốn dân chịu ngoan ngoãn khuất phục mãi. Những vết nứt rạn đã hiện ra rõ ràng qua hai vụ Vương Lập Quân và Trần Quang Thành. Guồng máy độc quyền chính trị và độc quyền kinh tế của đảng Cộng Sản đang lung lay.