Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

daudua
Posts: 77
Joined: Sat Oct 10, 2009 6:05 am

Post by daudua »

Chống tham nhũng: Làm sao cho hiệu quả?
Nguyễn Hưng Quốc
10.09.2012
Gần đây, ở Việt Nam báo chí lại làm ồn về phong trào chống tham nhũng.

Thật ra, đó cũng là chuyện... thường ngày ở huyện. Lâu nay vẫn thế. Lâu lâu đảng và chính quyền Việt Nam lại phát động các chiến dịch chống tham nhũng, và nói chung, lần nào họ cũng thành công về…cơ bản; để sau đó, họ lại có dịp tung ra chiến dịch khác và lại có dịp báo cáo là đã thành công, nếu không về “cơ bản” thì cũng “bước đầu”.

Tuy nhiên, lần này thì tiếng ồn về việc chống tham nhũng coi bộ lớn hơn những lần trước. Thứ nhất, nó ồn ở sự kiện Ban chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng và chống tham nhũng trực thuộc Bộ chính trị (nhưng người ta lại không giải thích gì về sự tồn tại của một Ban chỉ đạo cùng tên đã được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 10 năm 2005, trong đó ghi rõ Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng là do Thủ tướng cầm đầu! Nếu có sự hoán chuyển về cơ quan cầm đầu thì trên nguyên tắc, nó phải được Quốc Hội thông quan, nhưng Quốc Hội, đến nay, hoàn toàn không bàn gì đến chuyện ấy). Thứ hai, nó càng ồn hơn do các vụ bắt bớ các quan chức cao cấp trong ngành ngân hàng với lý do lạm dụng công quỹ và làm việc sai nguyên tắc tài chính. Thứ ba, rải rác trên báo chí, người ta cho đăng tải một số bài liên quan đến việc phòng chống tham nhũng ở…những nơi khác.

Ví dụ, về việc chính phủ Thái Lan kêu gọi dân chúng tham gia chống tham nhũng. Chống bằng cách nào? Bằng cách tích cực tố cáo tham nhũng với chính phủ. Để giúp việc tố cáo ấy được nhanh chóng và hiệu quả, chính phủ Thái Lan chủ trương (a) thành lập các dường dây nóng; (b) đặt các thùng thư ở các nơi công cộng; và (c) lập các trang mạng để mọi người đều có thể gửi đơn tố cáo thẳng đến văn phòng Thủ tướng. Cần chú ý: về các biện pháp chống tham nhũng ở Thái Lan, các phóng viên chỉ tường thuật chứ không ai dám đề nghị là nên được áp dụng ở Việt Nam. Còn chính quyền Việt Nam thì im lặng.

Thật ra, không ai bảo đảm hai biện pháp phòng và chống tham nhũng ở Việt Nam và ở Thái Lan đều có hiệu quả hoặc biện pháp nào tốt hơn biện pháp nào. Việt Nam thì chọn biện pháp phòng và chống từ trên xuống. Cái gọi là “trên” ấy, thoạt đầu nằm trong tay Thủ tướng; sau, có vẻ như người ta muốn nâng cấp lên Bộ chính trị, cao hơn phủ Thủ tướng. Ở Thái Lan, người ta chọn biện pháp từ dưới lên: chính dân chúng, những người thấp cổ bé miệng, đóng vai trò chủ đạo trong việc tố cáo, qua đó, một mặt, vạch trần; mặt khác, ngăn chận tham nhũng.

Cả hai biện pháp ấy đều bất cập.

Sự bất cập của biện pháp trên thì đã rõ: người ta vừa đá bóng vừa thổi còi. Ở Việt Nam, lâu nay nhiều người đã nói nhiều đến sự giàu có một cách bất bình thường của gia đình Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Sự giàu có ấy đến từ đâu? Chắc chắn không phải từ lương hay bất cứ một nguồn thu nhập hợp pháp và chính đáng nào cả. Mà không phải chỉ có Nguyễn Tấn Dũng. Hầu như người nào trong nhóm lãnh đạo cao cấp nhất của đảng và chính phủ cũng đều cực kỳ giàu có. Hiện tượng tương tự cũng từng được thấy ở Trung Quốc qua vụ án Bạc Hy Lai. Bây giờ, giao cho những người như thế nhiệm vụ chính trong việc phòng và chống tham nhũng, làm sao có tin cậy được? Cuối cùng, như cái điều mọi người đã từng nhìn thấy trong suốt nhiều năm qua: chỉ có những cán bộ nho nhỏ, cấp phường hay cấp xã, là bị bắt về tội tham nhũng. Còn những cán bộ cao cấp, ngay cả khi bị các công ty và chính phủ ngoại quốc nêu đích danh về việc nhận hối lộ, người ta cũng tảng lờ với lý do “để tìm thêm chứng cứ”. “Chứng cứ” ấy không bao giờ có; thậm chí, việc tìm kiếm cũng không bao giờ thực sự bắt đầu.

Việc tố cáo tham nhũng từ dưới lên, cũng vậy, cũng chỉ thành công với điều kiện: chính phủ, ở những cấp cao nhất, phải trong sạch. Bởi, nếu đơn tố cáo đến văn phòng Thủ tướng, nhưng văn phòng Thủ tướng lại bao che cho những con cá mập lớn nhất thì sao? Thì, không những việc tố cáo không có kết quả gì mà người tố cáo có thể mang họa, có khi đến mất mạng không chừng.

Cả hai biện pháp phòng chống tham nhũng nêu trên, muốn có hiệu quả, cần thêm biện pháp thứ ba: theo chiều ngang, với sự tham gia của Quốc Hội, của tư pháp, của xã hội dân sự và của các cơ quan truyền thông. Các tổ chức này không những đóng vai trò phát hiện và tố cáo tham nhũng mà còn theo dõi việc chống tham nhũng của chính phủ và bảo vệ những người tố cáo tham nhũng.

Tuy nhiên, tất cả các tổ chức này chỉ có thể thực hiện được sứ mệnh của họ với một điều kiện: độc lập. Đây chính là mấu chốt của vấn đề. Bởi, không độc lập, họ sẽ chẳng làm được gì cả, ngoài việc vâng lệnh những kẻ có chức quyền, nghĩa là, thành thực mà nói, những người tham nhũng nhất.

Ở Việt Nam, ai cũng biết, tất cả các tổ chức trên đều nằm hết trong tay của đảng. Vậy thì, một, ai sẽ tố cáo tham nhũng; hai, ai sẽ bảo vệ những người tố cáo ấy, nếu có; ba, ai sẽ kiểm tra việc xử lý các vụ tham nhũng? Câu trả lời đã rõ ràng: Không có ai cả.

Không thể không nghĩ đến vụ án nhà báo Hoàng Khương (Nguyễn Văn Khương) vừa mới xảy ra. Là phóng viên báo Tuổi Trẻ, Hoàng Khương viết loạt bài phóng sự về nạn tham nhũng của công an. Để có tài liệu và chứng cứ, ông tham gia vào một vụ hối lộ 15 triệu đồng (750 đô la) cho cảnh sát giao thông. Sau đó, ông viết bài đăng trên báo Tuổi Trẻ. Nhưng bài viết ấy lại trở thành chứng cứ để công an bắt ông về tội hối lộ. Đầu năm 2012, ông bị bắt. Trong phiên tòa diễn ra trong hai ngày 6 và 7 tháng 9, ông bị kết án 4 năm tù giam. Trong khi đó, hai công an nhận tiền hối lộ của ông chỉ bị 5 năm tù.

Nhân vụ án Hoàng Khương, nhà báo Minh Diện nhớ lại một việc liên quan đến bản thân ông cách đây 14 năm: Năm 1998, ông có bằng chứng cho thấy Ngân hàng Việt Hoa cấu kết với Công ty xuất nhập khẩu Tổng hợp Long An tham nhũng hàng trăm tỉ đồng và gần 90 triệu đô la Mỹ. Ông muốn xác minh các tài liệu ấy nên đến trụ sở Ngân hàng Việt Hoa, xin gặp Ban giám đốc. Không ai tiếp ông cả. Nhưng ngay sau đó, một cán bộ cao cấp trong Ủy ban an ninh của Quốc Hội liên lạc với ông và yêu cầu ông từ bỏ ý định điều tra vụ tham nhũng ấy. Chưa hết. Mấy ngày sau, Đào Duy Quát, Phó Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương kịch liệt lên án ông trong buổi giao ban hàng tuần của báo giới. Rồi tổng biên tập báo Tiền Phong, nơi Minh Diện đang làm việc, khiển trách ông và yêu cầu ông ngưng ngay mọi việc điều tra. Trước những áp lực nặng nề từ trên xuống dưới như vậy, nhà báo Minh Diện không những không thể tiếp tục điều tra vụ tham nhũng mà còn bị “treo bút”.

Từ kinh nghiệm của hai nhà báo Hoàng Khương và Minh Diện, ai còn dám chống tham nhũng nữa?

Và cũng từ đấy, người ta có thể tiên đoán ngay kết quả của các chiến dịch phòng và chống tham nhũng với những Ban này Ban nọ mà giới lãnh đạo Việt Nam đã hoặc đang thành lập.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Những cảm xúc chợt đến chợt đi

Cuộc đời mỗi người như một cuốn phim quay chậm và mỗi người là diễn viên chính trong bộ phim về chính cuộc đời mình.

Trong cuốn phim đó, có những diễn viên chính như ta, bên ta trọn đời, nhưng cũng có những người chỉ lướt qua đâu đó trong những chặng đường của cuộc đời ta. Những người ấy: Có khi mang đến cho ta niềm vui, có khi mang đến cho ta nỗi buồn và có khi cả sự chờ đợi. Cũng có những người xuất hiện chỉ để đau lòng vì ta, buồn khổ vì ta…

Khi viết những dòng này, ta hoàn toàn biết rằng, những cảm xúc kia sẽ mãi mãi chỉ một mình ta biết, những cảm xúc chợt đến và rồi sẽ đi qua trong cuộc đời ta. Có thể mãi sau này ta vẫn còn nhớ, nhưng cũng có thể ta sẽ nhanh chóng quên đi, bởi vì những cảm xúc ấy vốn chỉ là “ gió thoảng qua” để tưới mát, để làm cho ta biết rằng: ta vẫn còn có cảm xúc, vẫn biết rung động, vẫn còn biết nhớ, thương, giận, hờn… và tất cả làm cho cuộc sống của ta bớt cô đơn và nhàm chán.

Ta quá nhạy cảm, có lẽ vì thế ta hay vui, hay buồn và hay khóc...

Ta và người có thể cùng nhìn nhau thật lâu, có thể cùng nhau mỉm cười… nhưng chỉ có thế và chỉ là như thế…Ta là ta, người là người… ta và người mãi mãi sẽ không biết gì về nhau, mãi mãi chẳng là gì của nhau…mãi mãi chỉ là nhìn nhau để rồi “ không nói gì”.

Ta đôi lúc tự hỏi: Với người, ta là gì? Ta thực sự đã từng là người rất quan trọng trong lòng ai đó chưa? Ta cười trong chua chát, ta đau lòng nhưng hình như ta nhận ra: ta chẳng là gì trong lòng những ai đó?

Dường như ta nghe như lòng mình có nhát dao cứa mạnh khi phải nói rằng: có lẽ nếu một ngày ta ra đi, sẽ không có một bàn tay nào đưa ra muốn níu ta lại, sẽ không một ai vì ta mà rơi lệ, sẽ không một ai cần đến ta…

Ta mạnh mẽ hay yếu đuối, ta khôn ngoan hay ngốc nghếch, ta xinh đẹp hay xấu xí, ta cần gì và ta có được gì?

Có lẽ ta cần thời gian cho tất cả mọi chuyện, cần thời gian để sống thật với chính ta, cần thời gian để quên đi những “bong bóng xà phòng” mà ta đang theo đuổi. Cần thời gian cho chính bản thân ta suy nghĩ về ta, và rồi ta sẽ phải trở lại là một người khác!


Thu Thủy

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Nhà văn và nhà thơ

Xưa nay, bà con cứ tưởng ma hay quỷ trả thù là ghê gớm lắm. Thực ra họ nhầm to. Khi nghệ sĩ, đặc biệt là nhà văn hay nhà thơ trả thù, sẽ có nhiều biện pháp kinh khiếp và tinh vi hơn nhiều. Ví dụ như sau:

1. Nhà văn ghét ai sẽ lấy tên kẻ đó đặt cho nhân vật xấu xa rồi chuyển thành sách hay phim truyền hình. Cả nước sẽ căm ghét cái tên đó, rồi căm ghét kẻ đó ngoài đời. Sự trả thù này không thể kiện tụng được.

2. Nhà thơ ghét cô gái nào, sẽ làm bài thơ tỏ tình với cô gái ấy thật hay, sau đó không bao giờ lấy vợ nữa. Cô ta sẽ bị loài người lên án vì phản bội mặc dù chả phản bội ai.

3. Nhà văn sẽ viết một truyện kinh dị, rồi đề ở trang nhất: “Thân yêu tặng X. Cám ơn em đã giúp tôi cảm hứng để hoàn thành tác phẩm này”. Thế là đời X. toi.

4. Nếu nhà văn vào một nhà hàng ăn uống sau đó bị tính tiền đắt, ông ta sẽ viết một thiên phóng sự kể rằng bà chủ quán là một cô gái ế chồng, còn ông chủ quán xưa kia là dân đao búa. Tất nhiên tên quán thay đổi nhưng ai cũng chả khó khăn gì để nhận ra.

5. Nếu nhà thơ vào uống cà phê ở nơi sang trọng, sau đó bị tính đắt, anh ta sẽ viết rất nhiều những bài thơ ca ngợi cà phê vỉa hè là lãng mạn, thơ mộng, là nơi chốn cho kỷ niệm ùa về.

6. Khi một chương trình ca nhạc không mời nhà thơ làm MC, nhà thơ sẽ tuyên bố chương trình có tất cả nhưng không có hồn.

7. Khi nhà văn vay tiền ai mà không được, anh ta sẽ gọi kẻ đó là Sở Khanh. Nếu sau này kẻ ấy lại cho vay, anh ta sẽ bảo đó là Từ Hải. Còn khi vừa cho vay đã đòi, nhà văn bảo đấy là Mã Giám Sinh. Nhà văn không khi nào gọi ai là Kim Trọng vì tin chắc chỉ có mình mới xứng đáng với danh hiệu ấy.

8. Nếu một nhà thơ bị giật đồ, anh ta sẽ gọi bọn cướp là tệ nạn. Nếu giật xong được trả lại, anh ta nói bọn cướp là nạn nhân của hoàn cảnh. Nếu trả lại không đầy đủ, nhà thơ miêu tả lũ cướp trước sau gì cũng là cướp mà thôi.

9. Khi được một cô hoa hậu yêu, nhà văn sẽ bảo cô ta tuyệt đẹp, đậu rất xứng đáng. Còn khi hoa hậu không yêu, nhà văn nói cô ấy đậu vì ban giám khảo dốt. Còn khi cô ta yêu kẻ khác, nhà văn nói các cuộc thi hoa hậu đều đã lỗi thời.

10. Nhà thơ ra biển, gặp một cô gái mặc đồ tắm mỉm cười với mình, sẽ viết bài thơ Biển và em. Khi cô ấy không cười, sẽ viết Biển vắng. Còn khi cô ta cười với tên khác, sẽ viết bài thơ Biển chết chiều nay.

11. Nhà văn thấy bạn mình đoạt giải thưởng sẽ nói mình không còn quan tâm đến danh hiệu. Khi chính nhà văn lại đoạt giải sẽ bảo danh hiệu bao giờ cũng còn nguyên giá trị.

12. Khi nhà thơ hay lên ti vi, ông ta sẽ nói chất lượng các chương trình loại này được nâng cao. Khi nhà thơ không được mời, ông ta sẽ bảo truyền hình gần đây toàn chạy theo thị hiếu dễ dãi. Còn nếu được mời nhưng lúc phát sóng bị cắt bớt, nhà thơ tuyên bố đời sống văn hóa hôm nay có nhiều diễn biến phức tạp.

13. Khi nhà văn chưa mua điện thoại di động, ông ta bảo thứ đó làm mất tự do. Nếu được tặng điện thoại đắt tiền, ông ta phát biểu nhà văn không thể đứng ngoài sự phát triển của công nghệ. Còn nếu được tặng điện thoại rẻ tiền, nhà văn bảo nó chỉ là công cụ.

14. Gặp một cô gái khen mình trẻ, nhà thơ nói cô ta có mắt xanh. Gặp một cô gái bảo mình già, nhà thơ nói cô ta không biết cách nhìn cuộc sống, còn gặp một cô gái chê mình xấu, nhà thơ bảo cô ta nhìn cuộc đời với con mắt xám xịt.

15. Khi nhà văn trúng số, nhà văn bảo cuộc đời luôn có hy vọng. Khi nhà văn mua mãi không trúng, nhà văn nói xã hội còn thiếu niềm tin. Khi nhà văn trúng số nhưng làm mất vé, nhà văn bảo hạnh phúc nào cũng kèm theo đau khổ!

Lê Hoàng

User avatar
saulong
Posts: 114
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:02 pm

Post by saulong »

Than phan cua toi
Một bài viết dành cho những người Việt hải ngoại…

Phat Tran Nguyen
Có phải nếu mình ở một nơi nào trên dưới ba mươi năm thì mình là người thuộc địa phương đó, đúng không? Đã biết bao nhiêu lần tôi đặt ra câu hỏi đó sau một ngày nhìn vào lịch thấy con số ghi năm đã bước vào năm thứ ba mươi của một người tị nạn.

Bây giờ có ai mới quen gặp tôi, hỏi: Bà ở đâu đến vậy? Thì chắc tôi sẽ trả lời rất tự nhiên, tôi ở San Jose, hay khi đang đi du lịch thì sẽ trả lời, tôi ở Mỹ đến. Tôi sẽ không trả lời là tôi ở Việt Nam đến nữa, chỉ trừ người ta hỏi, bà là người nước nào? Thì lúc đó tôi chắc chắn nói, tôi là người Việt Nam, để cho họ không nhầm với người Trung Hoa, Nhật, hay Phi.


Đúng, tôi ở Mỹ trên dưới ba mươi năm rồi, tôi là một người Mỹ. Bây giờ thử xem lại con người Mỹ của tôi.

Trước tiên mặt mũi, chân tay tôi chẳng có gì thay đổi cả. Vẫn khuôn mặt cấu trúc ít góc cạnh của người Á Đông và cái mũi tẹt khiêm tốn, tóc sợi to và đen, khi có tóc bạc thì nhìn thấy ngay, muốn giấu thì phải nhuộm.

Đối với người Á Đông thì tôi được gọi là người có nước da trắng, nhưng mầu trắng này thực ra là mầu ngà, và đứng cạnh một ông Tây, bà Mỹ nào thì nó vẫn cho cái căn cước da vàng rất rõ rệt. Khi tôi nói tiếng Anh thì cách phát âm vẫn có vấn đề, đôi khi nói nhanh quá thì sẽ vấp phải lỗi nói tiếng Anh theo cách dịch tiếng Việt trong đầu. Như thế bị chê là nói tiếng Anh bể (broken English). Về cách phục sức, nhà ở, xe cộ bên ngoài, tôi có thể không kém một người Mỹ chính gốc.

Nhưng khi bước vào nhà tôi, từ những bức tranh treo ở phòng khách, bát đũa bầy ở bàn ăn, chai nước mắm, hũ dưa cải trong bếp và nhất là sách, báo tiếng Việt ở khắp nơi trong nhà, thì chắc ai cũng sẽ nhận ra ngay đó là một gia đình Việt Nam. Như thế thì tôi là người San Jose hay người Hà Nội, người Mỹ hay người Việt? Tôi ở đất này đến ba mươi năm rồi cơ mà.

Người ở Lạng Sơn, Thanh Hóa ra Hà Nội ở trên dưới ba mươi năm thì tự nhận mình là người Hà Nội; người ở Hải Phòng, Hải Dương vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 75, 76 tự nhận mình là người trong Nam.

Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan, có gặp lại họ hàng nước mắt khôn cầm thì khi thăm viếng, hỏi han, họ vẫn thỉnh thoảng nói rất tự nhiên: chị đâu có phải là người Việt nữa, bây giờ chị là người Mỹ rồi, chắc cái này không hạp với chị, cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu.

Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt, hay nhận đúng rồi tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả. Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc. Rằng tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi… nghĩ lại.

Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước, xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà, đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Không đủ hay sao?

Bây giờ tôi phải có bổn phận đóng thuế hàng năm ở đất nước tôi đang sống để phụ với chính phủ sửa đường, xây trường học và nuôi những người ở khắp nơi mới tới, như trước kia đất nước này đã nuôi người Việt, vì giấy tờ cá nhân hiện tại xác định tôi là người Mỹ. Tôi phải làm bổn phận công dân.

Có những ngày tôi lái xe bị kẹt ở xa lộ vào một buổi chiều mưa mùa thu; hay một buổi sáng mùa xuân vắng lặng, êm ả, đứng trong nhà nhìn ra mặt hồ, tôi cảm nhận được nơi mình đang hiện diện không phải là quê mình, không phải nước mình.

Chẳng có một lý do gì cụ thể, chỉ là những giọt mưa đập vào kính xe, chỉ là mặt nước hồ gờn gợn sóng. Mưa trên xa lộ Mỹ nhắc nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở Thị Nghè, nhà mình ở Trần Quý Cáp, nhà anh ở trước rạp ciné Eden đứng trú mưa với nhau.

Nước ở hồ San Jose trước nhà nhắc đến nước sông ở bến Bạch Đằng mỗi lần qua phà sang bên kia Thủ Thiêm chơi với bạn, hay sóng nước ở bắc Mỹ Thuận những lần qua phà đi thăm họ hàng ở tận Bạc Liêu. Những lúc đó tôi bất chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao, những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ. Chắc tại tôi là người Việt Nam.

Lại có những lần ở Việt Nam, tôi bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc. Tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình, hình như đã có điều gì rất lạ.

Ngôn ngữ Việt thì thay đổi quá nhiều, pha trộn nửa Hán nửa Ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “ấn tượng”. Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, và họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.

Ngửng mặt lên nhìn bầu trời, vẫn bầu trời xanh biếc của thời tuổi trẻ, cúi xuống nhìn mặt đất, vẫn mặt đất thân quen, nhưng sao lòng hoang mang quá đỗi, và thấy đã có một khoảng cách nghìn trùng vô hình giữa mình và quê hương đất Việt. Chắc tôi là người Mỹ!

So sánh thời gian tôi sinh ra, sống ở Việt Nam và thời gian tôi bỏ Việt Nam ra đi, sống ở Mỹ, hai con số đó đã gần ngang nhau. Tôi được học từ nhỏ quê hương là nơi tổ tiên lập nghiệp, là nơi chôn nhau cắt rốn. Ở trong nước có bài hát nổi tiếng “Quê hương mỗi người có một”, như là chỉ một mẹ thôi. Nhưng có người lại nói: Nơi nào mình sống ở đó suốt một quãng đời dài, có những người thân chung quanh mình, hưởng những ân huệ của phần đất cưu mang mình, thì nơi đó cũng được gọi là quê hương mình. Như vậy thì tôi có một hay hai quê?

Tôi sống ở Mỹ thì bạn bè gặp nhau thường nói: Cái này người Việt mình không hạp, hoặc người Mỹ họ mới thích nghi được việc này, người Việt mình không quen.

Khi đi dự buổi tiệc cuối năm của một công ty lớn ở Mỹ, toàn là những người Mỹ sang trọng thì thấy rõ ngay mình là người Việt đi lạc, dù mình có sang trọng, lịch sự như họ. Hóa ra ở Mỹ hay về Việt Nam mình đều lạc chỗ cả.

Tôi nhớ mấy năm trước có lần trò chuyện với mẹ của một người bạn, lúc đó cụ ngoài 80 hãy còn minh mẫn, cụ theo đạo Phật. Trưởng nam của cụ và con dâu cụ tự nhiên rủ nhau theo đạo Công giáo. Găp tôi, cụ hỏi: Không biết anh Bình nhà tôi khi chết thì đi đâu? Phật giận anh ấy, vì anh ấy bỏ đi, Chúa chắc gì cho anh ấy vào, vì anh ấy mới quá! Năm nay cụ ngoài 90 tuổi rồi và không may, cụ bị Alzheimer. Vậy là cụ không còn minh mẫn để lo con mình không có chỗ dung thân cho phần hồn. Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại những lời cụ nói, thấy mình ngay ở đời sống này cũng đã là một vạt nắng phất phơ bay. Quê nhà, quê người, quê Mỹ, quê Việt. Chao ôi! Cái thân cỏ bồng.

Nhưng lạ lắm, tôi biết chắc mình là người Việt, nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặp cha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam, gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt. Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui. Thấy nhớ quê nhà quá đỗi!

Tôi nhớ lại trong những truyện ngắn, những bài thơ Đường tôi đọc thời rất xa xưa về người bỏ làng đi xa lâu năm trở về không ai nhận ra nữa. Hồi đó sao mà mình thương những ông già trong thơ đó thế! Bây giờ nghĩ lại thì người trong sách đó còn may mắn hơn mình, họ đâu có đi đến tận một nước khác như mình. Họ chỉ bỏ làng, chứ không bỏ nước. Thế mà khi về còn ngơ ngác, bùi ngùi, tủi thân vì lạc chỗ ngay trong làng mình.

So sánh tôi với người bỏ làng ra đi trong những trang sách đó thì hoàn cảnh của tôi đáng buồn hơn nhiều. Không những đã bỏ làng, bỏ nước đi, còn nhận quốc tịch của một nước khác.


"Khi về đổi họ thay tên.
"Núi chùng bóng tủi, sông ghen cạn dòng".

lequyen
Posts: 300
Joined: Sun May 22, 2011 6:22 am

Post by lequyen »

Không thích nói chuyện chính trị

Jeffrey Thai (Danlambao)-
"Không thích nói chuyện chính trị" là câu nói cửa miệng từ bao lâu nay của hầu hết người dân Việt Nam sống trong nước, dưới chế độ hiện hành (kể cả bản thân tôi khi còn sống trong nước cũng vậy). Ai ai cũng nói như thế, từ người già đến thanh niên, từ người có học đến người ít học, và nó luôn được xem là câu nói an toàn nhất, hứa hẹn nhận được nhiều "đồng cảm".

Tôi vừa trực tiếp gặp một trường hợp nữa minh họa cho điều ấy. Số là tôi vừa gửi bài viết "Luận về thần tượng" của tôi cho tờ báo mạng VietNamNet và được đăng tải. Một bạn trẻ trong nước đọc xong rất tâm đắc và gửi email cho tôi, ngỏ ý muốn được kết giao trên Facebook. Tôi hồi đáp rằng tôi rất sẵn sàng, chỉ xin nói trước là trên trang Facebook của tôi, dù bản thân tôi rất ít khi đề cập đến vấn đề chính trị, nhưng các thành viên bạn khác thì lại chia sẻ rất thường xuyên thái độ chính trị của họ. Bạn ấy trả lời là bạn ấy rất muốn được trao đổi với tôi về mọi điều, nhưng bạn ấy đã được giáo dục là không được nói chuyện chính trị.

Câu nói "được giáo dục để không nói chuyện chính trị" ấy của người bạn trẻ đã làm tôi, một lần nữa, băn khoăn suy nghĩ thật nhiều. Chính trị là gì mà ghê gớm thế? Đáng kinh sợ thế? Tại sao lại phải giáo dục thế hệ trẻ để không nói chuyện chính trị? Nếu đó là sở thích cá nhân (không muốn nói đến hay không quan tâm đến), thì đó chỉ là lẽ thường: Những con người khác nhau có những sở thích khác nhau. Nhưng khi thái độ ấy đã được "giáo dục" hay nhắc nhở, trực tiếp hay gián tiếp, và đã dần hình thành nên một nếp hằn suy nghĩ trong tâm trí của mọi người dân thì nó không còn là điều đơn giản nữa, và kéo theo nó là những hệ lụy vô cùng to lớn.

Có thực sự phải "giáo dục" thế không? Và có thực sự nên "giáo dục" thế không?

Trước hết, xin được kể ra những điều tương phản mà tôi đã nhiều lần trải nghiệm trực tiếp trong cuộc sống cá nhân ở Mỹ. Tôi vốn không phải là người quan tâm nhiều quá đến vấn đề chính trị (mặc dù thường tìm hiểu, nhưng chỉ thỉnh thoảng mới nói đến). Thế mà, trong những lần thỉnh thoảng ấy, tôi đã vô cùng ngạc nhiên về cái cách người dân Mỹ (chỉ là những con người bình thường) đáp ứng khi tôi đề cập đến nó. Họ trả lời một cách sôi nổi và nhiệt tình. Họ nêu lên một cách rõ ràng và mạnh mẽ quan điểm của họ, những gì họ ủng hộ, những gì họ không tán thành về các chính sách kinh tế, xã hội và quân sự hiện hành, về xã hội Mỹ hiện tại, cũng như cả về những người đang lãnh đạo đất nước. Họ nói nhiều và hùng hồn đến nỗi tôi có cảm giác tôi vừa "bắt trúng đài" hay chạm phải "chỗ ngứa" của họ.

Thế đấy! Chính trị ở xã hội Mỹ là thế đấy! Nó phổ biến và được đề cập đến bình thường như mọi vấn đề bình thường khác. Người dân luôn nắm vững và quan tâm đến nó như nắm vững lịch sinh hoạt hàng ngày của mình hay thậm chí, như nắm vững tình trạng sức khỏe của bản thân mình. Từ đó, ta có thể nhận ra rất rõ rằng sinh mạng và hiện trạng của đất nước Mỹ hoàn toàn nằm trong tay người dân và do chính họ quyết định, chứ không phải là ai khác. Khi nhận thấy nó đi chệch quỹ đạo vận hành hay vận hành theo một cách không mang lại lợi ích cho số đông thì cũng chính là lúc họ sẽ cất lên tiếng nói - những tiếng nói rất mạnh mẽ và dứt khoát.

Thế thì tại sao người dân VN lại được "giáo dục" để không nói về chính trị? ("Giáo dục" ở đây phải hiểu là có nhiều cấp độ. Đầu tiên là nhắc nhở, uốn nắn. Kế tiếp là khuyến cáo và đe dọa. Mức độ cao nhất là trừng phạt và xử án). Lý giải được câu hỏi này cũng chính là đã trả lời được phần nào cho những hiện trạng nhếch nhác đang diễn ra trong xã hội VN ở mọi phương diện, cũng như trả lời được cho sinh mạng đang bị đe dọa của đất nước VN.

Khái niệm chính trị, thực ra, là một khái niệm đã hiện hữu từ ngàn xưa. Đức Khổng Tử (551-471 TCN) tin rằng có một mối quan hệ mật thiết giữa chính trị với luân thường đạo lý và đạo đức cá nhân. Theo quan điểm chính trị của ông, chỉ những người quân tử liêm khiết và tuân theo đạo của người quân tử thì mới được cầm quyền, và những tư cách của những nhân vật đó phải kiên định với địa vị trong xã hội. Triết gia Hy Lạp cổ đại Aristotle (384–322 TCN) cũng quả quyết rằng về bản chất, con người là một động vật chính trị, và luân thường và chính trị có liên kết chặt chẽ với nhau. Ông cho rằng mọi công dân chỉ có thể có được một đời sống hạnh phúc và đạo đức khi họ tích cực tham gia vào chính trị (citizens must actively participate in politics if they are to be happy and virtuous).

Trên trang Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia, ở chuyên mục Chính Trị, có viết: "Modern political discourse focuses on democracy and the relationship between people and politics. It is thought of as the way we "choose government officials and make decisions about public policy" (Tranh luận chính trị hiện đại tập trung vào dân chủ và mối quan hệ giữa con người và chính trị. Nó được coi như là cách chúng ta lựa chọn các quan chức chính phủ và đưa ra các quyết định về chính sách công cộng).

Dựa trên những lập luận đó, ta có thể suy ra rằng:

+ Khái niệm chính trị là một khái niệm cần thiết cho mọi công dân. Hiểu rõ về nó giúp con người ý thức nhiều hơn về những quyền hạn mình có, cũng như vai trò của mình trong mọi tổ chức, hội đoàn từ những cấp mực thấp đến cấp mực quốc gia.

+ "Giáo dục" cho người dân đừng nói về chính trị là cách được thực thi nhằm vào mục đích tước bỏ của người dân cái quyền vốn có (cũng như sự hiểu biết) trong việc "lựa chọn các quan chức chính phủ và đưa ra các quyết định về chính sách công cộng" - những điều có liên quan mật thiết đến sự tồn vong của một đất nước. Có nền tảng từ việc "giáo dục" đó, một số hiện trạng chua xót và đau lòng đã diễn ra trong xã hội VN (và hầu như chỉ có trong xã hội VN, trong thời gian gần đây): Lòng yêu nước trở thành đặc quyền của một nhóm người, những tiếng nói yêu nước bị vùi dập không thương tiếc...

+ "Không thích nói về chính trị" là thái độ mà một con người vô thức đã vô tình tước bỏ đi quyền hạn công dân của mình trong việc gìn giữ và phát triển xã hội cũng như đất nước, và ở một mức độ sâu xa hơn, tước bỏ đi cả quyền được sống như một con người đúng nghĩa của mình. Thái độ này lý giải cho việc phần lớn người dân Việt trong nước trở nên vô cảm với mọi thực trạng không hay đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong xã hội, và ở một mức độ cao hơn, vô cảm ngay cả với vận mệnh của đất nước. Hệ quả có thể thấy rõ của thái độ này chính là: Cả một dân tộc đang đắm chìm trong một nỗi sợ hãi... mênh mông.


Jeffrey Thai

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Image

Bảng Cấm Học Sinh Nam Nữ Ôm Hôn Nhau, Tụt Quần...”



HANOI -- Trong một sân trường tại thủ đô Hà Nội, các học sinh “tự hào là con cháu Bác Hồ” đã giở trò ôm nhau hun hít, và cả tụt quần quậy tưng bừng?Một trường học đã treo biển ghi rõ hiện tượng bi thảm này, theo báo Giáo Dục Việt Nam.

Bản tin Thứ năm 6/9/2012 của báo GDVN đã kể về tấm biển cấm lịch sử này như sau:“Công an phường cấm nam, nữ sinh tụt quần trong sân Đó là nội dung ghi trên một tấm biển báo cấm, được cho là treo ở một cụm dân cư trên địa bàn một phường ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.Bức ảnh chụp tấm bảng thông báo đăng trên một trang facebook có nội dung như sau (trích):

"Công an phường (chúng tôi xin không nêu tên)... Tổ dân phố 125c cum số 3... Cấm các cháu học sinh nam, nữ vào khu sân, ghế ngồi, cầu thang nhà 125c. 1/Cấm đá bóng... 2/Cấm cãi nhau, gây mất trật tự... 3/Cấm học sinh nam, nữ: ôm hôn nhau, tụt quần trong sân khu vực tổ 125c. 4/Cấm chơi bài bằng tiền... 5/Cấm ăn quà vứt giấy... Có thể hiểu đây là tấm bảng thông báo cấm các hành vi thiếu văn hóa của một bộ phận các bạn trẻ ở khu dân cư này. Nhưng điều khiến dân mạng "sốc" chính là nội dung cấm thứ 3. Không thể tưởng tượng được lại có hiện tượng "nam, nữ ôm hôn, tụt quần trong sân..." (rất thiếu văn minh và mất trật tự) ở một khu dân cư tại Hà Nội, nếu như không có tấm bảng này chỉ ra.

Khi đọc được những nội dung trong tấm bảng trên, rất nhiều dân mạng bình luận như: bó tay, chắc chỉ có ở Việt Nam, chịu không nổi, mê điều thứ 3 quá...”Bản tin của báo GDVN kế tiếp ghi lại một số lời bình từ mạng Facebook, kể cả từ Việt Kiều. Bản tin sau đó cũng kêu gọi trách nhiệm phụ huynh đoôi với con em mình.Tại sao học sinh Hà Nội “xã hội chủ nghĩa tiên tiến” như thế, hẳn là vượt xa học sinh Sài Gòn rồi.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Chửi, vũ khí của dân đen

Tạp ghi Huy Phương

“Mả cha cuộc đời quá vô hậu...”
(Trần Vàng Sao)


Trước hết phải nói “chửi” vũ khí của kẻ yếu mất hết lòng tin vào công lý và xã hội. Xã, ấp nào phân xử chuyện mất một con gà, nên nạn nhân giành quyền phán xét bằng cách chửi đứa ăn trộm gà, dù mười mươi biết rằng có chửi, thì con gà cũng đã được vặt lông, cho vào nồi lâu rồi, không còn hy vọng tìm lại được. Nhưng vẫn phải chửi, trước là cho hả giận, sau là để nguyền rủa năm mười đời thằng ăn trộm gà cho nó xót gan bào ruột.

Chửi cũng phải có nghệ thuật. Không phải cứ thấy mất gà là đã đong đỏng lên mà chửi, ai nghe? Thường thì người mất gà phát giác ra con gà “một đi không trở lại” trong thời điểm trời nhá nhem tối, nghĩa là giờ “gà lên chuồng.” Nhưng chửi vào giờ ấy, trong khi mọi gia đình, người đi làm chưa về, bữa cơm chưa dọn, kẻ còn cho trâu vào chuồng, người còn cho lợn ăn, thì ai nghe? Vậy nghệ thuật chửi là phải chọn đúng thời điểm khi hàng xóm, làng giềng đã yên lặng, có thể bắt đầu lên giường, như thời đại bây giờ người ta bắt đầu bật cái TV để nghe tin tức, cũng như bà vừa xong bữa cơm, nhai hết miếng trầu. Bốn bề vắng lặng, cuộc chửi rủa bắt đầu khi bà bước ra sân, mở đầu bài diễn văn hùng hồn, kiểu thưa gửi của một chính trị gia: “Kính thưa đồng bào...”

“Làng trên xóm dưới, bên ngược bên xuôi, tôi có con gà mái xám.”

Trước hết người chửi phải mở hết công suất của cái mồm, thứ đến phải hướng loa về căn nhà lối xóm bị tình nghi ăn trộm. Chửi không phải dễ, như thường ngày chúng ta vì bực tức buột miệng ra bằng một tiếng chửi thề, mà chửi đây phải có văn bản, nói theo lối thời thượng là phải có “biên tập.” Nội dung một bài “chửi” phải có “bới” và “rủa” như ta thường nói “chửi bới” hay “chửi rủa.”

Có người cho rằng người miền Nam có “chửi” chứ không hề “bới,” trong khi người miền Bắc nếu chửi nhau là đào bới cả tông ti họ hàng lên, đó là cái lối bới mả, đào mồ ông cha, tổ tiên mười đời lên mà chửi: “...bà đào mả thằng tam tứ đại nhà mày ra, bà khai quật bật săng thằng ngũ đại lục đại nhà mày lên...” Còn “rủa” là trù yếm: “Rồi ra, nhà chúng mày chết một đời cha, chết ba đời con, đẻ non, đẻ ngược, chân ra trước đầu bước ra sau, đẻ sót nhau, chết mau, chết sớm, chết trẻ, đẻ ngang!”

Ðể câu chửi được nhịp nhàng, người ta dùng thể văn “biền ngẫu,” từng câu từng chữ đối nhau chan chát: “Bố thằng chết đâm, cha con chết xỉa... chết một đời cha, chết ba đời con... ăn chó cả lông, ăn hồng cả hột... bốn thằng cầm cờ xanh đứng đầu ngõ, ba thằng cầm cờ đỏ đứng đầu làng...”

Bài chửi muốn hay lại có vần điệu, chửi lên nghe âm thanh trầm bổng, thì người chửi phải chửi cao hơn một bậc nữa, là chửi bằng... thơ:

“Hôm nay bà chửi một bài
Ngày mai bà sẽ chửi hai lần liền
Bà chửi cho mày hóa điên
Bà rủa suốt tháng liên miên không ngừng

Bây giờ bà mệt quá chừng
Bà về cơm nước, nhớ đừng quên a...
Muốn sống thì thả gà ra
Lạy bà hai lạy, bà tha cho mày.... ày ày ày...” (*)

Chửi không phải chỉ sử dụng cái mồm mà còn sử dụng tay chân, miệng chửi nhưng phải hoa tay múa chân, lâu lâu lại phải nhảy lên “đong đỏng” tay vỗ phành phạch vào hạ bộ để tỏ ra khinh miệt kẻ địch thủ chưa rõ mặt, là kẻ tình nghi ăn trộm gà. Có điều chắc chắn là người “chửi gà” không thể là đàn ông mà phải là đàn bà. Ðàn bà có nhiều năng khiếu văn chương, nhiều lời, biết “trình diễn” hơn đàn ông và cũng lại còn có cái để mà... vỗ.

Chống cường quyền ngày nay, con người bất lực không thể dùng dao, dùng búa, dùng gươm, dùng súng, dân đen chỉ biết dùng miệng lưỡi trời cho để... chửi, như bài “Vũ khí chửi” trên tờ Quân Ðội Nhân Dân của CS hồi tháng 8, 2012 cũng đã viết: “Ðành rằng, chửi 'đã mồm' cũng chẳng mấy khi tìm lại được gà, nhưng cái 'chửi' để hả giận, để đánh thức lương tâm, nuôi dưỡng công lý. Lương tâm và công lý sẽ lớn lên, chặn tay bọn ăn cắp những 'con gà vàng' thấm đẫm mồ hôi, nước mắt người lao động. Chửi là vũ khí của người nghèo.” Rõ ràng cơ quan ngôn luận này của “bộ đội CS” không thấy nhột nhạt khi đăng một bài “luận về chửi,” trong khi cả nước đang chửi chế độ vì bất mãn.

Chửi mất gà trong xóm làng Việt Nam là chuyện chửi nhỏ. Ngày nay trong xã hội có nhiều loại không những căn cắp vặt mà ăn cướp công khai vì có quyền lực trong tay, dân đã mất người, mất nhà, mất đất, có khi mất cả giang san, thì thấp cổ, bé miệng, không có gươm có súng để làm cách mạng, thì còn có cái mồm chửi, cho đỡ uất.

Trên Internet chúng ta đã xem người phụ nữ bị cướp đất, đến một đồn công an ở Hà Nội, tụt quần chửi cho đã giận. Người ta tập họp nhau ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng, chửi đảng, chửi nhà nước. Mẹ con cởi truồng chống cưỡng chế đất đai, chửi bới bọn tham quan, ô lại. Nhưng phải là người “ở trong chăn,” lớn lên từ chế độ đó, mất hết vì chế độ đó thì câu chửi mới hay, lời chửi mới sâu sắc.

Một nhà thơ của chế độ cộng sản đã chửi bằng thơ. Tác giả thuộc loại “sinh viên tranh đấu” ở miền Nam, mê cộng sản đến đỗi bỏ tên họ cha mẹ đặt, sửa lại thành Trần Vàng Sao. Ông nướng hết tuổi trẻ cho cộng sản, về già bất mãn, ngồi làm thơ chửi đổng cho sướng miệng. Bài thơ “Tau Chửi” không một chữ một lời chỉ đích danh thằng nọ con kia, nhưng đọc lên ai cũng hiểu là một bài thơ chửi đảng, chửi cha chế độ. Bài thơ chửi dài 156 câu, mà chúng tôi chỉ trích ra vài đoạn ngắn sau đây, trước tiên cũng là những lời “bới” và “rủa”:

“mười hai nhánh họ bây đem lư hương bát nước
giường thờ chiếu trải sắp hàng một dãy ra đây
đặng nghe tau chưởi

tau kêu thằng khai canh khai khẩn tam đợi mười đời
cao tằng cố tổ ông nội ông ngoại cha mẹ chú bác cô dì
con cháu thân hơi cật ruột bây tau chưởi
tau chưởi cho tiền đời dĩ lai bây mất nòi mất giống

hết nối dõi tông đường
tau chưởi cho mồ mả bây sập nắp
tau chưởi cho bây có chết chưa liệm ruồi bu kiến đậu
tam giáo đạo sư bây
cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây...”

“Bây” ở đây là ai? Trần Vàng Sao nói rõ:

“bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra
bây mang bí danh
anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường
lúc bây thật lúc bây giả
khi bây ẩn khi bây hiện
lúc người lúc ma
lúc lên tay múa ngón sủi bọt mép gào thét
lúc trợn mắt khua môi múa mỏ đả đảo muôn năm.”

Và đánh thẳng vào những tên cầm quyền đầu sỏ:
“bao nhiêu người chết diều tha quạ rứt xương

khô cốt tàn dọc bờ dọc bụi giữa núi giữa rừng
để bây xây lăng đắp mộ dựng tượng dựng đài cho
cha mẹ cố tổ bây...” (**)

Nhưng nói cho cùng phản ứng “chửi” vì mất mát, bất công, bị chèn ép là phản ứng tiêu cực của kẻ yếu, người nghèo. Những kẻ nghe chửi không phải ai cũng biết đau biết nhục, vì ca dao Việt Nam đã có câu:

“Quân tử ư hử cũng đau,
Tiểu nhân vác đá ném đầu chẳng sao!”

Cho nên, đối với bọn “cố đấm ăn xôi” này, nghe chửi đã quen, đứa nào cũng mang bí danh, tên giả, biết đâu bố mẹ mà sợ người ta nói đụng chạm đến cha ông, dòng tộc, động đến tổ tiên, mồ mả.

Người xưa nói “bất bình nhỏ thì dùng rượu, bất bình lớn thì dùng gươm.” Uống rượu là để nén bất bình xuống đáy lòng, không nén được thì văng tục hay lên tiếng chửi cho hả dạ. Bọn vô cảm không hề sợ chửi, chúng chỉ sợ con người dùng gươm để giải quyết khi không còn chịu được với nỗi bất bình lớn.

Chú thích:
(*) Không biết tác giả
(**) “Tau Chửi” của Trần Vàng Sao

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Phiếm Luận Về Thân Phận Đàn Ông
Tác Giả: Lý Lạc Long
Xót xa cho phận đàn ông
Còng lưng trả nợ "tổ tông" trẻ, già

Cho đến đầu thế kỷ thứ 21, thì trên địa cầu con người vẫn còn đúng như "con người" đã tự xếp hạng như là một sinh vật cao cấp nhất của mọi loài. Ở trên trái đất, sinh ra làm con người có lẽ vẫn là một đặc ân của tạo hóa ban cho. Nhưng sinh ra làm đàn ông có còn là một điều may mắn không? Vì theo thời gian "giá trị" của nam và nữ dường như đã thay đổi. Nhân dịp Lễ Từ Phụ (Father s Day), xin gởi đến các bậc mày râu (đang làm cha, sắp làm cha) chút suy tư vặt vảnh về "thân phận đàn ông" của chúng ta.
Khoảng 500 năm trước Tây lịch, Khổng Tử đã nhận xét: "Nhơn tối linh ư vạn vật" vẫn còn đúng. Nhưng những quan điểm của Nho giáo về nam và nữ, chẳng hạn như: "Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô"; "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tùng tử"... chắc phải được xét lại. Vì dựa trên thực tế thì "giá trị" của nam giới có lẽ đang trên đà xuống giá mau chóng

Từ như ông vua nho nhỏ:
"Đêm năm canh, năm vợ ngồi hầu
Vợ cả pha nước, têm trầu chàng xơi
Vợ hai trải chiếu, chia bài
Vợ ba coi sóc nhà ngoài, nhà trong
Vợ tư ấp lạnh quạt nồng
Vợ năm thức dậy trong lòng xót xa
Chè thang, cháo đậu bưng ra
Chàng xơi một bát kẻo mà công linh."

Xuống giá còn:

"Ba đồng một mớ đàn ông
Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một mụ đàn bà
Đem về mà trải chiếu hoa mời ngồi "

Nếu Khổng Tử còn sống không biết ông sẽ giải thích sao về hiện trạng này và ông có chấp nhận được không?
Theo Cơ đốc giáo, thì Eve được tạo ra từ xương sườn của Adam. Trong sách Ê-phê-sô chương 5, câu 22,23,24 như sau: "Hỡi kẻ làm vợ, phải vâng phục chồng mình như vâng phục Chúa, vì chồng là đầu vợ, khác nào Đấng Christ là đầu Hội Thánh. Hội Thánh là thân thể Ngài và Ngài là Cứu Chúa của Hội Thánh. Ấy vậy như Hội Thánh phục dưới Đấng Christ thì đàn bà phải phục dưới quyền chồng mình trong mọi sự". Đa số dân chúng ở các quốc gia Âu Mỹ theo Cơ đốc giáo, nhưng căn cứ theo thực tế thì phải nói là đàn ông Âu Mỹ đa số theo "đạo thờ bà". Như vậy thì Kinh Thánh không đúng hay vì con người sống sai? Theo tôi thì tại đàn ông Âu Mỹ (hậu duệ của Adam) sống không đúng theo Kinh Thánh răn dạy. Cũng giống như Adam ngày xưa không nghe lời Thiên Chúa (Đấng Jehovah) dặn bảo mà nghe lời của Eva ăn trái cấm (trái hiểu biết) để bị đuổi khỏi vườn địa đàng Eden. Vì sống trái với Kinh Thánh nên đàn ông ở Âu Mỹ hiện giờ mới bị sắp hạng thấp hơn chó nữa. Thứ nhất là phụ nữ, thứ nhì là trẻ em, thứ ba là chó và cuối cùng là đàn ông (first is lady, second is child, third is dog... and last is man). Câu nói "giỡn" nhưng phản ánh đúng một phần với thực tế thân phận đàn ông ở xứ Mỹ. Chó không phải hớt hải đi tìm việc làm, cũng không có cảnh mặt mày tái mét, ngơ ngác nghe chủ báo tin bị cho nghỉ việc. Chó không phải đóng thuế, không phải lao động mà đôi lúc còn được ung dung nằm ngủ trên giường bà chủ. Nhưng nếu căn cứ theo mực độ vi phạm lời dặn bảo của Kinh Thánh (và hình phạt tương xứng) để giải thích sự giảm giá trị của đàn ông thì nghe không có hợp lý lẽ lắm vì phụ nữ đã vi phạm "lời dặn bảo" trầm trọng hơn so với đàn ông. Xa hơn, nếu căn cứ theo giá trị để mà tính thì Eve (nữ) chỉ bằng 1 trong 36 xương sườn của Adam (nam) cũng không giải thích được hiện tượng biến đổi giá trị theo chiều hướng "nữ trọng nam khinh" hay "âm thịnh dương suy" hiện giờ. Suy luận dựa trên hiểu biết của cá nhân đã đi vào ngõ cụt. Thôi cách dễ nhất là đổ mọi tội lỗi cho ông Adam. Thế giới ngày xưa mới chỉ có hai người, thế mà Adam đã sợ Eve rồi. Trái cây "biết điều thiện và điều ác" Chúa đã cảnh cáo là không nên ăn mà Eve cũng bẻ ăn. Ăn rồi bắt Adam cùng ăn. Adam cũng nghe lời ăn theo. Việc ấy đã gây ra bao nhiêu điều rắc rối cho hậu duệ của ông. Phải chi lúc bà Eve vừa thò tay định bẻ trái cấm, Adam ngăn lại thì đàn ông chúng ta đâu có khổ. Đúng như vậy, vì nếu họ không ăn "trái cấm hiểu biết", thì có hiểu biết chi đâu để tòm tèm, và đâu có nhân loại. Nhưng chuyện đã qua, ngày nay trên trái đất đã có đến 6.5 tỷ con người và đang trên đà tăng trưởng thêm. Thời gian gần đây, căn cứ theo thống kê của số lượng trẻ sơ sinh chào đời thì tỷ lệ bé trai sinh ra lại cao hơn bé gái. Theo qui luật "của hiếm là quý" thì điều này chắc chắn sẽ làm giảm giá trị của nam giới thêm nữa. Không lẽ thân phận đàn ông cứ tuột dốc mãi như vậy sao? Không hẳn là như vậy. Nói đúng hơn có thể là "tuyệt vọng" cho thế hệ chúng ta nhưng hậu duệ của chúng ta vẫn còn hy vọng vì hết suy sẽ tới thịnh lại theo quan niệm của Lão giáo.
Theo Lão giáo mọi sự vật đều có hai mặt âm dương để tồn tại và phát triển. Loài người chắc cũng không ở ngoài quy luật này. Nói khác thì loài người cũng là sự kếp hợp và biểu hiện của dương (nam) và âm (nữ). Dựa theo thuyết âm dương và thực tại của thế kỷ 21 thì âm đang trên đà thịnh và dương đang trên đà suy thoái. Xem chừng thuyết âm dương có thể giải thích được một cách hợp lý sự biến đổi giá trị về giá trị giữa nam và nữ của nhân loại. Chúng ta thử "ngâm cứu" sâu thêm chút xem.

Âm và dương là khái niệm cốt lõi của nền triết học cổ Đông phương, âm và dương không phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng phần tử, từng chi tiết. Âm và dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống nhất, trong dương có mầm mống của âm và ngược lại. Để biểu thị sự biến hoá không ngừng và qui luật của sự biến hoá đó, người xưa đặt ra "thuyết âm dương" (thái cực sinh lưỡng nghi, lương nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Lưỡng nghi là âm và dương, tứ tượng là thái âm, thái dương, thiếu âm và thiếu dương. Bát quái là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn và đoài). Nói chung, phàm cái gì có tính chất hoạt động, hưng phấn, tỏ rõ, ở ngoài, hướng lên, vô hình, nóng rực, sáng chói, rắn chắc, tích cực đều thuộc dương. Tất cả những cái gì trầm tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, hữu hình, lạnh lẽo, đen tối, nhu nhược, tiêu cực đều thuộc âm.
Người xưa còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá không ngừng đó là ức chế lẫn nhau, giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau và theo tất cả mọi vật chất cụ thể được tạo nên trong thế giới này đều do năm yếu tố ban đầu là nước, lửa, đất, cây cỏ và kim loại (tức năm hành thủy, hỏa, thổ, mộc, kim). Từ những nhận xét này "thuyết ngũ hành" ra đời. Trên cơ bản, thuyết ngũ hành bao gồm hai phương diện tương sinh (giúp đỡ nhau) và tương khắc (chống lại nhau). Trên cơ sở sinh và khắc lại thêm hiện tượng chế hóa, tương thừa (thừa thế lấn áp), tương vũ (hàm ý khinh lờn). Chế hoá là một khâu trọng yếu trong thuyết ngũ hành, đây sự cân bằng tất nhiên phải thấy trong vạn vật. Nếu có hiện tượng sinh khắc thái quá hoặc không đủ thì sẽ xảy ra sự biến hoá khác thường. Chế hoá là chế ức và sinh hoá phối hợp với nhau. Trong chế hoá bao gồm cả hiện tượng tương sinh và tương khắc. Hai hiện tượng này gắn liền với nhau vì không thể không có sinh mà cũng không thể không có khắc. Không có sinh thì không có đâu mà nảy nở; không có khắc thì phát triển quá độ sẽ có hại. Cần phải có sinh trong khắc, có khắc trong sinh mới vận hành liên tục, tương phản, tương thành với nhau. Tóm lại theo thuyết ngũ hành thì tương sinh, tương khắc, chế hóa, tương thừa, tương vũ biểu thị mọi sự biến hóa phức tạp của sự vật. Thuyết ngũ hành là một bổ sung và làm cho thuyết âm dương hoàn bị hơn.
Cũng may mắn, căn cứ theo thuyết âm dương thì nam giới vẫn có thể hy vọng để mà sống, vì sống không có hy vọng là đang đứng bên thềm của sự chết. Dù hy vọng này rất là mong manh cho các thế hệ đàn ông sinh ra vào những thập niên của cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Sinh ra làm đàn ông (nhất là đàn ông VN) chắc chắn không phải là một sự may mắn trong giai đoạn này. Thế kỷ 21 có lẽ sẽ vẫn là thế kỷ của các bà. Đàn ông Âu Mỹ chịu đựng trước và dường như họ đã quen. Thiết nghĩ, chắc đàn ông Âu Mỹ cũng đặt hy vọng vào "ngày mai sẽ tốt hơn hôm nay" (tomorrow will be better than today) để mà sống. Đông hay Tây, có am tường thuyết âm dương hay không, dường như con người đều hy vọng vào ngày mai tươi sáng hơn cho số phận của mình.

Ở Việt Nam thì thời kỳ "phu xướng phụ tùy" cũng đã qua từ lâu. Cái hình ảnh người vợ lúc nào cũng vui vẻ, dịu dàng để chồng được hài lòng, lúc nào cũng cố gắng mang hạnh phúc đến cho chồng dù có chịu nhiều thua thiệt. Chỉ còn là một hình ảnh lịch sử qua thơ ca.

"Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười tủm tỉm rằng anh giận gì
Sao anh vội giận em chi
Muốn cưới vợ bé em thì cưới cho."

Sau tháng 4, 1975 một số đàn ông Việt theo vận nước đổi dời phải lìa bỏ quê hương sinh sống ở các nước Âu Mỹ thì càng thấm thía hơn với cái thân phận đang xuống giá của mình, cố tập theo "triết lý thờ bà" như đàn ông Âu Mỹ, bám víu vào cái hy vọng mong manh "ngày mai sẽ tốt hơn" để mà sống. Các bà biết "tỏng tòng tong" như vậy, nhưng nhiều phụ nữ Việt Nam dường như còn vượt qua xa lắc phụ nữ Âu Mỹ về việc thực thi quyền bình đẳng đến bất bình đẳng của nữ giới. Có lẽ mới có được "công cụ" mới nên phụ nữ Việt Nam sử dụng rất là hăng hái, thừa thắng xông lên và cho rằng: "Một trăm thằng đàn ông không bằng cái mông đàn bà", hoặc "một trăm thằng con trai không bằng cánh tay người con gái".... Thân phận đàn ông Á đông ở xứ Âu Mỹ đã xuống đến tận cùng đáy vực rồi thế mà thỉnh thoảng vẫn còn bị các bà đem ra đem dán ở sau xe so sánh với chó để chọc quê ở công chúng : "Càng biết nhiều về đàn ông, tôi càng thương con chó của tôi nhiều hơn" (The more I know the men, the more I love my dog). Đàn ông mà làm như vậy bị "kêu ca" là cái chắc hoặc dám bị rắc rối với pháp luật vì tội kỳ thị giới tính.

Cũng may là ở Bắc Mỹ, cũng còn có được một ngày vinh danh những người cha. Nhìn tấm thiệp và gói quà của con gởi, tôi tự an ủi. Ít ra thì giá trị đàn ông của mình với thế hệ tương lai vẫn còn rạng rỡ. Như một người đàn ông giác ngộ thân phận của mình tôi tự nhủ : "Sinh bất phùng thời... thân trai mười hai bến nước, trong nhờ đục chạy... không đủ can đảm chạy thì phải có can đảm chịu."

Xót xa cho phận đàn ông
Còng lưng trả nợ "tổ tông" trẻ, già
Lỡ tay ký giấy làm cha
Bịt tai, nhắm mắt qua phà cho xong.

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Kính gởi ban biên tập Hẹn Nhau Sài Gòn 2015, bài viết về một Việt kiều Đức không được cho nhập cảnh vào Việt Nam để đồng bào rõ vì trong thời gian gần đây CSVN đã không cho một số nhiều Việt kiều nhập cảnh với lý do tình hình VN không ổn định. Xin được ban biên tập Hẹn Nhau Sài Gòn 2015,đăng tải rộng rãi trong CĐ để chúng ta có một cách nhìn mới về chính sách giữ người vô điều kiện của CSVN. Thành thật cám ơn .Thân kính.

Việt Hoàng (Người Việt tại Đức)
Một cách giữ nguời kiểu mới của Cộng sản Việt Nam Bài này được viết với lý do thông báo cho người Việt, khi về VN nếu có xảy ra nhũng sự việc tương tự thì chúng ta biết cách sử trí.

Sau tin tức của đài RFA ngày 13 tháng 8 năm 2012 về việc một Việt kiều Đức về Việt Nam đã bị chặn ở cửa khẩu phi trường Tân Sơn Nhất mặc dù anh ta đã có Visa, tôi đã liên lạc được với anh và được anh cho biết sự thật như sau:

Vào ngày 9 tháng 8 năm 2012 anh Vương Trí Tín đã đáp chuyến máy bay của hãng hàng không Emirates đến phi trường Tân Sơn Nhất lúc 19:30 giờ, sau khi nhận Visa tại phi trường thì anh ta đến cửa khẩu để vào nước. ở đây họ không cho anh vào và nói là Visa bị trục trặc và yêu cầu anh quay trở lại văn phòng nơi đã cấp Visa để hỏi nguyên nhân. Tại nơi đây Công An cục xuất nhập cảnh đã mời anh vào phòng “làm việc”. Sau nhiều cuộc thẩm travới những câu hỏi được lập đi lập lại nhiều lần như:

“Anh tên gì ? ”

“Sinh năm bao nhiêu ?”

“Về Việt Nam có chuyện gì và dự định ở bao lâu ?”

“Anh về Việt Nam đã bao nhiêu lần rồi ?” và “Anh về VN sẽ ở đâu ?”

Mặc dù những câu hỏi này hành khách vào VN đã phải khai khi xin Visa, nhưng họ vẫn hỏi đi hỏi lại,

điều này sẽ làm cho người bị hỏi bị khủng hoảng tinh thần. Vì khi một người cứ phải trả lời những câu hỏi giống nhau thì sau một vài lần là họ bị nervous. Đây là một thủ đoạn của CSVN vẫn thường áp dụng để khống chế tinh thần người bị hỏi cung.

Sau hơn hai tiếng đồng hồ cứ lập đi lập lại những câu hỏi như thế qua nhiều người (tổng cộng là 4 nhần viên, họ lần lượt thay nhau ra hỏi cung). Trong thời gian này thì anh Tín đã điện thoại ra bên ngoài báo cho gia đình biết là Visa bị trục trặc còn đang chờ đợi để được giải quyết. Đến lượt người nhân viên thứ tư của CACK (công an cửa khẩu) sau khi hỏi những câu như thế ngoài ra ông này đã hỏi

mượn điện thoại di động của anh T. Vì nghĩ là họ đang giải quyết thủ tục Visa cho mình vào, nên nếu

họ hỏi mượn điện thoại mà mình không đưa họ mượn, thì đây có thể cũng là 1 cái cớ để họ kiếm chuyện, do đó anh T. đã đưa điện thoại của anh cho tên này. Sau khi cầm điện thoại của anh T. thì hắn mới nói:

“Xin thông báo cho anh được biết là, nhà nước VN không hoanh nghênh anh vào VN.” Anh T. mới hỏi: “Với lý do gì mà tôi không được vào ?”

Tên (công an cửa khẩu) CACK này trả lời: “Không có lý do !”

Anh T. “Vậy anh đưa lại điện thoại cho tôi để tôi thông báo cho gia đình tôi biết.”

CACK: “Không, anh không được sử dụng điện thoại.” Anh T. :”Ở VN cấm xài điện thoại hay sao ?”

CACK: “Việt Nam không cấm xài điện thoại, nhưng trường hợp của anh đặc biệt.”

Anh T.:”Nhưng anh phải trả lại điện thoại cho tôi để tôi báo gia đình chứ để họ đợi cả đêm hay sao.”

CACK: “Anh không cần phải lo, gia đình anh sẽ được thông báo.” Anh T. :”Nhưng tôi phải thông báo cho toà Đại Sứ Đức của tôi.” CACK: “Anh không được dùng điện thoại.”

Anh T.:”Nếu anh giữ điện thoại của tôi thì anh phải làm giấy biên nhận cho tôi.”

CACK: “Tôi đâu có giữ điện thoại anh làm gì, tôi chỉ mượn tạm thời, sau khi thủ tục giấy tờ của anh xong tôi sẽ trả lại.”

Sau đó thì tên CACK dẫn anh T. ra lại phía bên ngoài nơi có dãy ghế để khách xin Visa ngồi đợi và hắn dặn một nữ CA canh chừng không cho anh T. lien lạc với một ai để mượn điện thoại hoặc nhờ họ điện thoại dùm.

Nhưng sau nhiều lần cố gắng tìm cách liên lạc thì anh T. đã gặp hai anh chị ở Mỹ về chơi cũng nhận Visa tại phi trường, nên họ ngồi đợi nơi dãy ghế đó. Được biết là anh chị này sống ở Philadelphia, họ đã nhắn tin đến với gia đình anh T.

Tên CACK sau khi đi vào văn phòng khoảng nửa tiếng sau đó thì quay ra với bản quyết định không cho nhập cảnh, văn bản này được viết bằng hai thứ tiếng (Việt và Anh), nhưng được biết là bản bằng tiếng Việt có những điều không đúng với bản tiếng Anh nên anh T. không đồng ý ký tên. Họ cũng không đưa cho anh giữ một bản phụ nào, mặc dù trước đó anh T. có hỏi thì nhận được trả lời là: “Dĩ nhiên chúng tôi sẽ đưa anh giữ một bản.”

Một điều rất oái oăm nữa là, họ bắt giam anh T. và bắt anh phải trả 90 US Dollar, với lý do sử dụng phòng nghỉ. Ban đầu thì anh T. không chấp nhận điều này và nói sẽ ngồi lại ở dãy ghế nơi hành khách ngồi đợi Visa, đến lúc quay về Đức. Nhưng họ lại nói với anh rằng:

“Anh lên phòng nghỉ ngơi cho khoẻ, ở đó có điện thoại, anh muốn ăn gì thì gọi điện thoại đặt người ta sẽ đem tới cho anh.”

Họ giải thích : „90 Dollar là tiền để trả cho hai nhân viên phục vụ, mỗi giờ 9 Dollar, nếu ở chỉ 3 tiếng cũng phải trả 90, mà nếu ở đến 24 tiếng cũng trả 90 Dollar.“

Vì đang cần điện thoại để nhắn tin gia đình nên anh T. bằng lòng trả tiền để lên phòng. Ba nhân viên An Ninh có đeo súng đem anh T lên phòng và sau đó khoá cửa lại, trong phòng dĩ nhiên không có điện thoại như họ đã nói. Trong hơn 24 tiếng đồng hồ họ thay tất cả 5 ca gác, mỗi ca hai nhân viên An Ninh.

Nơi phòng giam có tất cả 6 giường, có một Menu để khách bị giam có thể đặt đồ ăn, nếu muốn ăn thì nhân viên AN sẽ gọi phone đặt. Anh T. cho biết là thực đơn ở đây đựơc tính bằng US Dollar, so ra mắc hơn cả đi ăn ở nhà hàng ngay Saigon, điều này nhân viên AN ở đó cũng xác nhận.

Trong thời gian CACK ở phi trường Tân Sơn Nhất giam giữ anh T. thì gia đình anh đã thông báo cho những người bạn Đức của anh để nhờ họ liên lạc với Toà lãnh sự Đức ở Saigon. Ở đây nhân viên Lãnh sự quán Đức đã nhiều lần liên hệ với các cấp thẩm quyền, nhưng họ trả lời là không có giữ ai tại phi trường với tên họ như thế. Những người bạn Đức của anh T. nhận được trả lời cùa LS Đức từ Saigon như thế thì họ quả quyết:

“Gia đình của ông T đã hơn 10 tiếng đồng hồ không liên lạc được với ông ta, chúng tôi cũng thế.”

LSQ Đức: “Việt Nam họ chỉ luôn luôn nói một nửa sự thật. Nhưng các ông yên tâm, đến ngày mai mà các ông cũng như gia đình ông ta vẫn chưa có tin thì chúng tôi sẽ làm việc trực tiếp với chính quyền VN.”

Trong thời gian bị giam giữ CACK đã giữ Vali của anh cũng như Passport, vé máy bay và điện thoại. Đến lúc ra phi cơ để bay trở về nước thì nhân viên An Ninh dẫn ra và giao anh cho nhân viên hãng hàng không Emirates, chuyến bay dừng ở Dubai trước khi về Đức tại đây cũng có nhân viên ra dẫn anh T về một nơi và dặn là không được đi đâu chỉ ngồi tại đó đợi đến giờ máy bay gần bay sẽ có người đến dẫn đi. Tại phi trường Frankfurt thì họ mới giao Passport, vé máy bay (thì mới lấy hành lý được)… điều này cho chúng ta thấy anh bị canh giữ như một tội phạm nguy hiểm.

Qua câu chuyện trên của anh Tín thì chúng ta thấy CSVN vẫn luôn gian xảo, lừa lọc và thủ đoạn mọi thứ, họ cứ cho người bị nạn hy vọng, nên vào bẫy lúc nào không biết.

- Trước khi tuyên bố không cho nhập cảnh thì lấy cớ là mượn điện thoại, sau khi nắm lấy được phương tiện liên lạc của người bị nạn thì lúc đó mới tuyên bố không cho nhập cảnh.

- Không có lệnh bắt giam mà lại thu giữ đồ dùng cá nhân (điện thoại di động cũng như Passport, vé máy bay, giấy tờ tuỳ thân) và cắt đứt liên lạc với người thân.

- Giam giữ người trái phép không có lệnh giam, với lý do là đễ phục vụ canh giữ anh ninh cho khách.

- Và vì nhân viên An Ninh phải bảo vệ an ninh cho “khách” nên “khách phải trả tiền phòng (phòng giam)

- Cho thông tin không đúng khi nhân viên Lãnh sự điện thoại hỏi. Theo luật Quốc Tế nếu giam trên 24 tiếng đồng hồ phải báo cho Lãnh sự quán, nếu giữ công dân của họ. Ở đây nhân viên Lãnh sự đã điện hỏi, nhưng họ lại đưa thông tin sai.

Trong lúc bị giam giữ anh T. đã được nhân viên AN cho biết là trong thời gian gần đây do ở Việt Nam tình hình không được ổn định (vì có nhiều cuộc biểu tình), nên những ai hay thường về Việt Nam hoặc mới về sẽ bị đặt nghi vấn, và nếu họ nghi thì sẽ không cho nhập cảnh VN và trục xuất về nước. Như thế thì qua điều này cho chúng ta biết được là tình hình đấu tranh trong nước đã có biến chuyển.

Trên đây là mẫu chuyện thật của anh Tín đã kể lại, khi tôi liên lạc với anh. Còn một điều rất đáng buồn khi nghe anh kể lại, sau khi trở về Đức và liên lạc với gia đình ở VN thì được biết bà mẹ của anh ta khi nghe con mình về thăm ngày hôm trước bà khoẻ và vui hẳn ra, đến hôm anh tới VN thì bà đòi đi đón con mình mặc dù bà bệnh nằm liệt giường cả hơn nửa năm nay, nhà anh phải chiều ý bà và bế bà cụ xuống duới nhà để chờ con, nhưng người con đã không được vào VN để về thăm mẹ mình. Xin cầu đấng thiêng liêng cho cụ có sức khoẻ để đợi ngày đứa con mình về thăm, ngày ấy không còn xa đối với anh cũng như đối với người Việt yêu chuộng Tư Do.

Việt Hoàng

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Image

Ca sĩ Khánh Ly: về, không về...

Song Chi
Tin nữ danh ca Khánh Ly sẽ trở về hát tại Việt Nam lần đầu tiên sau 37 năm rời xa quê hương đã thực sự gây chú ý đối với người Việt trong (và có lẽ) cả bên ngoài nước.

Nhất là khi những tin tức trái chiều Khánh Ly sẽ về, không về, rồi lại chắc chắn về, đăng trên báo này báo kia, càng làm cho mọi người quan tâm.

Sẽ là thừa để nói về giọng hát ma lực của Khánh Ly, nhất là qua những ca khúc của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Về mối quan hệ đặc biệt trong âm nhạc của hai người. Về ảnh hưởng, tầm vóc và những đóng góp của cả hai cho âm nhạc Việt Nam một thời bão lửa.

Từ Diễm Xưa, Hạ Trắng, Gọi Tên Bốn Mùa, Ru Mãi Ngàn Năm, Như Cánh Vạc Bay... Cho tới Ðại Bác Ru Ðêm, Hành Hương Trên Ðồi Cao, Hát Trên Những Xác Người, Ngày Dài Trên Quê Hương, Ngủ Ði Con, Hãy Sống Giùm Tôi, Xin Mặt Trời Ngủ Yên... Không ai hát nhạc Trịnh hay cho bằng Khánh Ly, trừ chính Trịnh.

Ðối với những người thuộc thế hệ lớn hơn ở miền Nam, đã từng trải qua những năm tháng chiến tranh, tiếng hát Khánh Ly và những ca khúc của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là một phần đời của họ, gắn với một giai đoạn đau thương của dân tộc.

Tâm lý con người, những cái gì đau thương mất mát thì thường hay nhớ lâu.

Nghe Khánh Ly hát nhạc Trịnh, vì vậy, còn là để nhớ và sống lại những kỷ niệm của một thời tuổi trẻ đã qua.

Ngay cả đối với những người thuộc thế hệ sinh sau đẻ muộn như người viết bài này, thì giọng hát của ca sĩ Khánh Ly qua những tình khúc và những ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn cũng đã kịp có một vị trí riêng không thể thay thế.

Vậy nhưng khi nghe tin Khánh Ly sẽ về hát trên quê hương, nhiều người mừng cho mình và vui cho nữ ca sĩ, nhưng cũng có nhiều người không biết có nên mừng hay không.

Bởi, ở một quốc gia nào khác, chuyện một ca sĩ, dù đã từng có những câu nói hay hát những bài hát không hợp lòng, thậm chí là chống đối, theo quan điểm của nhà nước hiện thời, thì cũng là chuyện nhỏ sau 37 năm. Một thời gian đủ dài cho bao nhiêu điều xảy ra.

Người Ðức hay những dân tộc thuộc các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu cũ còn làm được khối điều lớn hơn thế nhiều, mà đâu cần phải hô hào hòa hợp hòa giải. Ngay cả Miến Ðiện, một quốc gia từng nổi tiếng có một chế độ quân phiệt hà khắc, nhưng cứ nhìn cái cách mà chính phủ của Tổng thống Thein Sein và nhà lãnh tụ đối lập Aung San Suu Kyi đối xử với nhau cũng đủ làm cho người ta thán phục.

Mới đây, ngày 27 Tháng Chín trong bài diễn văn đọc tại Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc, Tổng Thống Miến Ðiện Thein Sein đã ca ngợi những nỗ lực to lớn của bà Aung San Suu Kyi, trong tiến trình cải cách chính trị, dân chủ hóa đất nước.

Tổng Thống Thein Sein nói, với tư cách là công dân Miến Ðiện, ông bày tỏ lòng biết ơn về “những nỗ lực của bà đóng góp cho nền dân chủ” của đất nước. Ông còn nhấn mạnh, đặc trưng của đời sống chính trị Miến Ðiện là sự khoan dung và cao thượng.

Nhưng đó là nước người ta. Còn Việt Nam mình... thì khác.

Nếu không khác, thì trong 3 quốc gia bị chia cắt sau chiến tranh Thế Giới Lần Thứ Hai là Ðức, Triều Tiên, Việt Nam, chỉ có Việt Nam nhất quyết hy sinh xương máu nhân dân trong suốt 20 năm để thống nhất đất nước.

Nếu không khác, thì sau khi thống nhất, đã không có quá nhiều hận thù, chia rẽ, ly tán, thậm chí máu đổ... Mãi cho đến tận 37 năm sau, vết thương lòng vẫn còn chưa khép kín trong lòng nhiều người. Dù cụm từ “hòa hợp hòa giải” đã được hô hào bao lần, nhưng ngay những hành động cụ thể nhỏ nhất thì vẫn chưa làm nổi.


Chính vì vậy, mà một chuyến trở về hát trên quê hương của một người nghệ sĩ với ít nhiều vướng mắc về tư tưởng, theo quan điểm của ai đó, có thể là một chuyện rất bình thường ở bất cứ quốc gia nào khác. Nhưng cũng có thể không bình thường nổi ở đất nước này.

Khi những bài viết có mục đích thóa mạ người nghệ sĩ ấy đã và vẫn xuất hiện ở báo này báo khác.

Khi chỉ cần bất cứ ai chạnh lòng, vì sao người nghệ sĩ này lại được công chúng ưu ái đến vậy, trong khi người khác, cả một đời cống hiến cho cách mạng, cho chế độ lại không được như thế.

Khi chỉ cần một ai đó có quyền trong việc cấp giấy phép biểu diễn, kiểm duyệt, muốn làm khó. Hoặc ngay cả khi trung ương đã duyệt cho phép mà địa phương lại không cho, như đã từng xảy ra với một nghệ sĩ khác trước đó, thì mọi chuyện cũng đủ trở thành bẽ bàng.

Ðó là chưa kể cộng đồng người Việt xa xứ, những người vốn càng khó quên hơn những gì đã xảy ra cho họ, cũng sẽ giận dữ hơn khi người nghệ sĩ họ yêu mến đã trở về cái nơi mà họ buộc phải bỏ ra đi nhiều năm trước, vì nhiều lý do.

Làm người Việt Nam có nhiều nỗi khổ vậy. Nên đừng đem những lý lẽ, lập luận hay cái nhìn của người sống ở các quốc gia tự do dân chủ áp dụng vào Việt Nam. Mà có khi lầm chết người, ngay cả với một người nổi tiếng như Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Lẽ đương nhiên, người nghệ sĩ bao giờ cũng nặng lòng với quê hương, đất nước. Nói bỏ nước mà đi nhưng nào có bỏ được. Quê hương vẫn nằm ở đó đau đáu trong tim.

Nhất là khi quê hương sau bao nhiêu năm vẫn ngổn ngang quá nhiều điều ngang trái, bất công, vẫn tụt hậu ngày càng xa so với thế giới, và khi người dân mình vẫn khổ quá, thiệt thòi quá.

Nên người nghệ sĩ có muốn trở về, dù một lần, hát trên quê hương cũng là điều dễ hiểu.

Còn nhà nước Việt Nam thì được thêm một cơ hội chứng tỏ “chính sách cởi mở, rộng lượng,” sự khoan dung... Những mỹ từ đẹp đẽ.

Trong khi mới trước đó vài ngày họ vừa tống 3 blogger yêu nước vào tù với bản án cộng thời gian quản chế lên đến 15-17 năm chỉ vì tội viết những bài về thực trạng xã hội, nạn tham nhũng hay cảnh báo về họa mất nước. Và tống thêm 3-4 năm tù cho 3 thanh niên Công Giáo yêu nước khác cũng chỉ vì họ đã thực hiện quyền tự do tư tưởng và phát biểu một cách ôn hòa.

Khi chính họ đang hàng ngày hàng giờ đàn áp, bịt miệng, cướp đoạt mọi quyền tự do dân chủ của người dân, chà đạp lên nhân quyền một cách tàn bạo nhất.

Khi chính họ, qua miệng một tay trung tá, đã ngang nhiên khẳng định đối với nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “Tự do là con c.”

Vậy thì sự khoan dung, cởi mở ở đây cũng chỉ để đánh bóng chế độ mà thôi.

Còn người nghệ sĩ, một khi đã chấp nhận phải xin phép để được trở về, chấp nhận chỉ hát những gì được cho phép, đã là “mất.”

Cái lợi cái hại, cái được cái mất của bao nhiêu năm gìn giữ, nặng nhẹ đến đâu, còn tùy vào thời tiết nắng mưa của lòng người - những kẻ có quyền ký vào những quyết định cho phép cái này cái kia. Nhiều khi không ngờ được.

Có lẽ cũng bởi vì thời gian không cho phép người nghệ sĩ chờ đợi nổi nữa, mà hiện thực một ngày được hát trên một quê hương hoàn toàn tự do, với nhân dân được trả lại đầy đủ quyền làm người thì còn lâu quá!

Post Reply