Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Nhân cách cần có của một nghệ sĩ
Ngô Nhật Đăng
“Tôi không muốn trong nhà tôi có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân” – Nguyễn Thị Kim Chi

BVN xin trân trọng đăng lại dưới đây bài viết trên facebook của bạn Ngô Nhật Đăng nói về Nghệ sĩ ưu tú, Đạo diễn điện ảnh Nguyễn Thị Kim Chi mà tác giả gọi bằng cô, và xin mượn comments của một vài người trên trang Ba Sàm sáng 9-1-2013 làm mấy câu đề dẫn:

“Nữ diễn viên – Đạo diễn điện ảnh, NSUT Nguyễn Thị Kim Chi từ chối Thủ tướng khen, vì “không muốn trong nhà có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân” và coi đó là một sự xúc phạm.

Hoan hô chị Chi, chị rất xứng đáng nghệ sĩ đích thực của NHÂN DÂN. Thái độ của chị là biểu hiện của nhân cách, lương tri và trách nhiệm.

Mong mọi người noi gương chị Chi, tẩy chay TT tệ hại và đốn mạt NTD”

Đặng Nhật Minh


“Một quyết định quá dũng cảm. Vote…” –
Người Xứ Quảng

“Đây là dòng tin ấm áp nhất trong ngày đông lạnh giá này…
Cảm ơn NSƯT Kim Chi!” –
Hà Văn Thịnh

“Nhất trí 100% với Hà Văn Thịnh trong sự kiện này!” –
Giang Nam

“Rất phục chị Kim Chi. Mạnh dạn như Chị để vạch mặt đám tham quan
phá hoại đất nước – báo hại dân lành – trơ trẽn bộ mặt” –
LN

Bauxite Việt Nam
Image
Nghệ sĩ ưu tú Kim Chi

Một chú gọi điện:
- Mày đi biểu tình bị bọn công an bắt hả? Đúng là con nhà nòi.
- Hì hì… sao chú biết?
- Chiều lên nhà ăn cơm rồi nói chuyện, cô đãi mày món đặc sản
Biển Hồ Cambodia.

Mình rủ thêm mấy bạn trẻ đi cùng, vừa bấm chuông thấy ông chú
chạy ra:

- Bọn nó cũng tử tế đấy chứ, thả mày ra sớm thế.
- Có gì đâu chú gặp nhau nói chuyện tâm tình thôi mà, mọi người
thấy bị xốc lên xe nên tưởng nhầm là bị bắt thôi.

Hóa ra hai cô chú đi chơi Angkor mới về nghe người bạn trong
Sài Gòn báo tin mới biết.

Mình hỏi cô (là một diễn viên điện ảnh khóa 1):

- Bộ phim cô làm xong chưa?
- Xong rồi cháu, đã công chiếu. Cô còn được giải nữa đấy.

Ông chú xen vào:
- Cục điện ảnh đề nghị Thủ tướng khen thưởng nữa đấy, em
đưa cho cháu xem lá thư trả lời của em đi.

Mình xem lá thư của cô, ngoài việc cám ơn bạn bè và từ chối nhận
khen thưởng cô viết:

“Tôi không muốn trong nhà tôi có giấy khen, với chữ ký của một kẻ
làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân. Đối với tôi đó là một sự xúc phạm….”


Cô bạn đi cùng vội nói:

- Cô cho cháu lá thư này được không, cháu có thể đăng lên facebook chứ? Và cháu muốn photo cho mấy đứa ở cơ quan đọc.

- Được chứ, với điều kiện phải đăng nguyên văn không cắt xén.

Thế mới là nghệ sỹ chứ.

Ngô Nhật Đăng

Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 2012
Kính Gửi Hội Điện Ảnh Việt Nam
Tôi có trao đổi với chị Hoàng Anh qua điện thoại về công văn của Hội gửi cho tôi yêu cầu báo cáo thành tích để được thủ tướng khen thưởng. Tôi thấy nói qua điện thoại không đầy đủ ý và có thể gây ra sự hiểu nhầm, nên tôi viết thư này gửi đến Hội. Lời đầu tiên tôi xin được cảm ơn Hội về sự quan tâm của Hội dành cho tôi, nhưng tôi xin được từ chối, lý do: Tôi không muốn trong nhà tôi có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân. Với tôi, đó là một điều rất tổn thương vì cảm giác của mình bị xúc phạm. Nếu như Hội Điện Ảnh Việt Nam khen tôi và có chữ ký của anh Xuân Hải, chị Hồng Ngát, chị Cẩm Thúy… thì tôi cũng đã thấy vui và hạnh phúc lắm rồi – Tôi nói thật tình từ tấm lòng tôi. Tuy các anh, các chị không có quyền cao chức trọng gì, nhưng là đồng nghiệp thân thương của tôi. Được các đồng nghiệp có tâm, có tài khen ngợi mới thật là điều vinh dự!

Mặc dù tôi từ chối làm hồ sơ thủ tướng khen, nhưng tôi đầy lòng biết ơn Hội Điện Ảnh Việt Nam đã luôn quan tâm tới đời sống tinh thần của tôi:

- Đã ủng hộ tôi để được phong tặng danh hiệu nghệ sĩ ưu tú.

- Đã cho tôi tham dự trại viết Điện Ảnh năm 2011

- Đã bình xét tôi được là cá nhân xuất sắc năm 2011

Hội viên Hội Điện Ảnh có hàng chục ngàn người trong cả nước. Tôi nghĩ mình được quan tâm như thế cũng đã nhiều và tôi thấy vui.

Xin gửi tới các anh chị lời chúc đầu năm mới nhiều sức khỏe và thành đạt

Đã ký

Nguyễn Thị Kim Chi
Image


Ha Noi 28 December, 2012
Dear Vietnamese Film Association,
I called and shared my thoughts to lady Hoang Anh about the official letter that Vietnamese Film Association asked me to report my achievements, and then I would be rewarded by the prime minister. I think it is not clear or uncompleted, or it may cause misunderstanding when we discussed by phone, so I write this letter. First of all I would like to thank what Vietnamese Film Association inspired me. But I would like to refuse for this reason:

I do not want in my house that must display the man’s signature who pushed our country to go down a miserable situation, and make our people have to be suffered by poor. In my own opinion, this problem hurts my feelings and make me have to be ashamed.

If Vietnamese Film Association give me the award and it includes Mr. Xuan Hai’s signature, and Ms Hong Ngat’s, Ms Cam Thuy’s… That’s enough let me be self-respect and so happy. Even though your are not senior officers, but your are my precious colleagues. I am so proud to receive my colleagues’ commends because all of you are both talent and virtue.

Although I refuse the prime minister’s award, but I am really overwhelmed with gratitude Vietnamese Film Association for The Asscociation always pay attention to my spiritual life, such as:

I was supported to received the elite artist.
I was supported to attend to Written Film Camp in 2011.
I was chosen the oustanding and prominent artist in 2011.
There are thousands of members in Vietnamese Film Association in our country. I think what I received were a lot, and I am happy.

I send my Regards and my Best Wishes to You with Peace, Happiness, Success For The New Year 2013

Nguồn: https://danluan.org/tin-tuc/20130109/to ... oc-lam-kho

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Hãy nói trước ngày chết
Trần Trung Đạo

(Danlambao) - Trong lịch sử nhân loại, không có một chủ nghĩa nào tàn bạo hơn chủ nghĩa Cộng Sản. Từ khi Tuyên ngôn đảng cộng sản ra đời năm 1848 cho đến khi bức tường Bá Linh bị đập đổ vào 1989, khoảng gần 100 triệu người từ nhiều quốc gia đã bị giết. Hơn hai mươi năm qua, mặc dù ngọn lửa vô thần đã tắt trên phần lớn quả địa cầu, một góc trời phương đông lửa vẫn còn đỏ rực, nhà tù vẫn còn giam giữ nhiều người bất đồng với chế độ độc tài toàn trị và tự do vẫn là một bóng mây xa.

Người đời có thói quen kết án Stalin đã gây ra tội ác tày trời đối với nhân dân Liên Xô, Mao Trạch Đông đã giết trên 30 triệu nhân dân Trung Quốc và Pol Pot tiêu diệt một phần tư dân tộc Khmer bằng súng và cả bằng dao phay, cán cuốc. Những chuyện đó ngày nay nhân loại đều biết và tội ác của chúng không còn là vấn đề tranh cãi nữa. Tuy nhiên, làm thế nào một nông dân có gốc gác bình thường, nếu không muốn nói là hiền lành như Mao lại có thể trở thành sát nhân của mấy chục triệu dân Trung Quốc? Làm thế nào Pol Pot, con của một điền chủ giàu có, được gởi sang Pháp ăn học, được bạn bè nhớ lại như một người nhã nhặn, lịch sự và được gọi là trí thức trong xã hội Khmer còn chậm tiến lúc bấy giờ, nhưng sau khi nắm chính quyền đã giết hai triệu dân Khmer bằng búa, dao và những cách giết người tàn bạo hơn cả trong thời Trung Cổ?

Bởi vì chủ nghĩa Cộng Sản trang bị cho chúng một quyền lực tuyệt đối, một niềm tin cuối cùng, một lối thoát tinh thần, một chỗ dựa lý luận để giải thích cho hành động bất nhân của chúng. Nuon Chea, người đứng hàng thứ hai của chế độ Khờ Me Đỏ chỉ sau Pol Pot, lạnh lùng trả lời báo chí, những kẻ bị giết chỉ vì “họ là kẻ thù của nhân dân”. Đơn giản vậy thôi. Chúng ăn rất ngon và ngủ rất yên dù sau một ngày ký hàng loạt bản án tử hình.

Giết một vài đối thủ thì không sao nhưng để loại bỏ hàng triệu người là chuyện khác. Stalin không thể lên tận các trại lao động khổ sai ở Siberia để bỏ đói những người chống đối y. Mao Trạch Đông không thể xuống từng trường học để tra tấn các thầy cô trong Cách Mạng Văn Hóa, Hồ Chí Minh không thể đích thân xử bắn bà Nguyễn Thị Năm trong Cải Cách Ruộng Đất. Nhưng họ có khả năng huấn luyện, đầu độc một thế hệ đao phủ thủ trẻ tuổi hăng say và cuồng tín để làm thay. Quyền lực đặt vào tay đám đao thủ phủ trẻ này chẳng khác gì con dao bén để chúng thanh toán những mối thù riêng và lập công dâng Đảng.

Tháng 10 năm 2002, nhà báo Mỹ Amanda Pike đến Campuchia để tìm hiểu nguyên nhân tội ác diệt chủng của Pol Pot đã không được làm sáng tỏ. Amanda Pike phỏng vấn bà Samrith Phum, người có chồng bị Khờ Me Đỏ giết. Theo lời kể của bà Samrith Phum, vào nửa đêm năm 1977 chồng bà bị một Khờ Me Đỏ địa phương bắt đi và giết chết vì bị cho là “gián điệp CIA”. Hung thủ chẳng ai xa lạ mà là người cùng làng với bà Samrith. Hiện nay, kẻ giết người vẫn còn sống nhởn nhơ chung một làng với bà cách thủ đô Nam Vang vài dặm nhưng không một tòa án nào truy tố hay kết án.

Với chủ trương “Dân tộc Khờ Me cần đào hố để chôn đi quá khứ” Hun Sen đã cản trở Liên Hiệp Quốc rất nhiều trong việc điều tra tội diệt chủng của chế độ Pol Pot. Hun Sen cản trở vì bản thân y cũng từng là một sĩ quan Khờ Me Đỏ. Hun Sen nhiệt tình với lý tưởng CS đến mức bỏ học theo Pol Pot khi còn trong tuổi thiếu niên. Nhiều chi tiết trong quảng thời gian từ 1975 đến 1979 của cuộc đời y vẫn còn trong vòng bí mật. Khi chôn quá khứ của Campuchia, Hun Sen muốn chôn đi quá khứ tội lỗi của mình.

Tình trạng kẻ sát nhân và gia đình những người bị sát hại vẫn còn sống chung làng, chung xóm, chung thành phố không chỉ phổ biến tại Campuchia nhưng cũng rất phổ biến tại Huế sau vụ Thảm sát Tết Mậu Thân 1968.

Số người bị giết trong vụ Thảm sát Tết Mậu Thân khác nhau tùy theo nguồn điều tra nhưng phần lớn công nhận số người bị giết lên đến nhiều ngàn người và “kẻ thù nhân dân” không chỉ là công chức chính quyền VNCH mà còn rất đông sinh viên, học sinh, phụ nữ, trẻ em và ngay cả một số giáo sư ngoại quốc. Ông Võ Văn Bằng, Nghị viên tỉnh Thừa Thiên và cũng là Trưởng Ban Truy Tìm và Cải Táng Nạn Nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân, kể lại: “Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạt trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng.”

Tài liệu liên quan đến Thảm sát Tết Mậu Thân rất nhiều, từ điều tra của các nhà nghiên cứu nước ngoài cho đến các nhân chứng sống Việt Nam. Đến nay, thành phần được nghĩ đã gây ra biến cố đầy tang thương cho dân tộc Việt Nam này là những người Huế “nhảy núi”. Họ là những người bỏ trường, bỏ làng xóm, bỏ cố đô lên rừng theo CS và Tết Mậu Thân đã trở lại tàn sát chính đồng bào ruột thịt của mình. Họ là những kẻ vừa được giải thoát khỏi nhà giam Thừa Phủ đưa lên núi huấn luyện vài ngày rồi trở lại giết chết những kẻ bị nghi ngờ đã bỏ tù họ. Không giống quân đội chính quy tấn công Huế, những du kích nằm vùng, những thanh niên, sinh viên, học sinh là những người sinh ra và lớn lên ở Huế, thuộc từng tên phố tên đường, biết tên biết tuổi từng người. Họ lập danh sách và đến từng nhà lừa gạt người dân bằng cách “mời đi trình diện” rồi sẽ trả về nhà ăn Tết. Những người nhẹ dạ đi theo. Mà cho dù không nhẹ dạ cũng chẳng ai nghĩ mình sắp bị chôn sống chỉ vì làm chức liên gia trưởng của năm bảy gia đình, ấp trưởng một ngôi làng nhỏ, xã trưởng của vài trăm dân. Kết quả, từng nhóm, từng đoàn người lần lượt bị đem ra “tòa án nhân dân” và kết án tử hình.

Người “nhảy núi” nổi tiếng nhất là Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Ngày 12 tháng 7 năm 1997, Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời câu hỏi của nhà văn Thụy Khuê về sự liên quan của ông đối với vụ Thảm sát Tết Mậu Thân: “Sự thực là tôi đã từ giã Huế lên rừng tham gia kháng chiến vào mùa hè năm 1966, và chỉ trở lại Huế sau ngày 26 tháng 3 năm 1975. Như thế nghĩa là trong thời điểm Mậu Thân 1968, tôi không có mặt ở Huế” và ông cũng thừa nhận Thảm sát Tết Mậu Thân là có thật chứ chẳng phải “Mỹ Ngụy” nào dàn dựng “Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng”.

Khi được hỏi ai là những người phải chịu trách nhiệm, Hoàng Phủ Ngọc Tường phát biểu “Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ, từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế” và tiếp tục nêu thêm chi tiết chính Đại tá Lê Minh, tư lệnh chiến dịch Huế Mậu Thân thừa nhận trong tạp chí Sông Hương “Dù bởi lý do nào đi nữa, thì trách nhiệm vẫn thuộc về những người lãnh đạo mặt trận Mậu Thân, trước hết là trách nhiệm của tôi.”

Tóm lại, Hoàng Phủ Ngọc Tường trong buổi phỏng vấn dành cho nhà văn Thụy Khuê xác nhận ông ta không có mặt ở Huế trong suốt thời gian Huế bị CS chiếm đóng và những kẻ sát hại thường dân vô tội là do các “lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế” chủ trương.

Tuy nhiên 15 năm trước đó, ngày 29 tháng 2 năm 1982, trong buổi phỏng vấn truyền hình dài 15 phút dành cho hệ thống WGBH, Hoàng Phủ Ngọc Tường thừa nhận việc dư luận đang tố cáo ông là đúng, nghĩa là chính ông đã có mặt tại Huế: “Tôi đã đi trên những đường hẻm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu... Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra...” và ông cho rằng một số người dân Huế chết thảm thương là do sự trả thù của chính người Huế với người Huế “chính nhân dân đã căm thù quá lâu, đó là những người đã bị chính nó tra tấn, chính nó đã làm cho tất cả gia đình phải bị đi ở tù ra ngoài đảo v.v... và đến khi cách mạng bùng lên họ được như là lấy lại cái thế của người mạnh thì họ đi tìm những kẻ đó để trừ như là trừ những con rắn độc mà từ lâu nay nếu còn sống thì nó sẽ tiếp tục nó gây tội ác trong chiến tranh.”

Nếu phân tích theo thời gian và diễn biến chính trị thế giới, đặc biệt sự sụp đổ của phong trào CS quốc tế, câu trả lời của Hoàng Phủ Ngọc Tường vào năm 1982 là thành thật và sát với thực tế Mậu Thân nhất. Trong giai đoạn chuyên chính vô sản vài năm sau 1975, không chỉ ông ta mà cả các lãnh đạo CSVN vẫn nghĩ “con đường tất yếu” là con đường “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Không có một thế lực nào cản trở sức chảy của “ba dòng thác cách mạng”. Vào thời điểm 1982, Hoàng Phủ Ngọc Tường chẳng những không sợ gì phải che giấu mà còn xem đó như một thành tích cần được nêu ra. Xem đoạn phim, khuôn mặt Hoàng Phủ Ngọc Tường đằng đằng sát khí khi diễn tả việc giết một viên chức VNCH: “chỉ lấy lại mạng sống của một người, giá đó rất nhẹ và công bằng”.

Thái độ đó hoàn toàn khác với giọng ôn tồn khi ông ta nhắc lại lời của Đại tá CS Lê Minh như thay cho chính mình 15 năm sau “bây giờ, là những người lãnh đạo kế nhiệm ở Huế, phải thi hành chính sách minh oan cho những gia đình nạn nhân Mậu Thân, trả lại công bằng trong sáng và những quyền công dân chính đáng cho thân nhân của họ”. Thời gian đổi thay, lịch sử đổi thay và con người cũng thay đổi. Không phải chỉ Hoàng Phủ Ngọc Tường mà cả những cựu lãnh đạo CS Đông Âu, một thời giết người không chút xót thương, sau 1990 cũng trả lời báo chí với giọng ngọt ngào như thế.

Nhiều bạn hữu của Hoàng Phủ Ngọc Tường như tác giả Ngô Minh viết trên talawas 2008, cho rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường “trong suốt những năm lên “xanh” ở A Lưới, Hoàng Phủ Ngọc Tường không được phân công về thành phố hay đồng bằng một chuyến nào cả” mà không biết hay cố tình bỏ qua sự kiện 26 năm trước chính Hoàng Phủ Ngọc Tường đã xác nhận mình ở Huế với những tình tiết mắt thấy tai nghe của một người trong cuộc.

Hai buổi trả lời phỏng vấn hoàn toàn trái ngược chứng tỏ Hoàng Phủ Ngọc Tường phải có một khó khăn để giải thích sự liên hệ của mình đến vụ Thảm sát Mậu Thân. Lời phát biểu của ông cho thấy một điều, ngoại trừ trẻ em quá nhỏ, những người bị giết chắc chắn biết người giết mình là ai.

Không giống Hoàng Phủ Ngọc Tường mâu thuẫn, hai ông Nguyễn Đắc Xuân và Hoàng Phủ Ngọc Phan từ trên núi theo đoàn quân CS đánh vào Huế. Hai ông không từ chối điều này nhưng đều phủ nhận đã có liên hệ gì với Thảm sát Mậu Thân. Trong bài viết Nhân đọc bài "Trịnh Công Sơn - Những hoạt động nằm vùng” Hoàng Phủ Ngọc Phan khẳng định: “Còn tôi thì có theo chiến dịch về hoạt động ở Thành nội Huế nhưng tôi không hề giết ai cả, suốt gần 10 năm đi kháng chiến cũng không hề làm thiệt mạng một con thú trên rừng chứ đừng nói là con người.”

Nhà văn Nhã Ca kết án ông Nguyễn Đắc Xuân trong Giải Khăn Sô Cho Huế vì đã “đích tay đào một cái hố, bắt một bạn học cũ có xích mích từ trước ra đứng bên hố để xử tử” và ông Nguyễn Đắc Xuân đáp lại trong bài Hậu Quả Của “Cái Chết” của tôi: “Còn tôi, một sinh viên Phật tử mới thoát ly chưa đầy một năm rưởi, không có quyền hành gì, nếu tôi muốn làm những việc như Nhã Ca viết thì cũng không thể làm được. Không ai cho tôi làm. Nếu tôi tự ý làm, làm sao tôi có thể thoát được sự phê phán của đồng chí đồng sự của tôi, đặc biệt là những người sau nầy không còn đứng trong hàng ngũ kháng chiến nữa...”

Chuyện “thoát ly chưa đầy một năm rưỡi” không chứng minh được ông ta không có quyền giết người, trái lại cũng có thể giải thích ngược, càng tham gia trễ càng phải chứng tỏ nhiệt tình cách mạng cao độ, càng phải giết nhiều người, càng phải lập nhiều công. Nói thế không phải để đánh bồi thêm một người đã ngã nhưng cho thấy lời biện bạch của ông không thuyết phục.

Trong tinh thần “Lợi ích của sự ngờ” (Benefit of the doubt), tạm cho những lời người khác kể về các ông chưa đủ bằng chứng kết tội, tuy nhiên, các ông Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân, những thành viên tích cực của phong trào đấu tranh đô thị, hoạt động 26 ngày trong lòng thành phố Huế bị rơi vào tay các ông với nhiều ngàn người dân vô tội bị giết bằng những cách dã man hơn cả bọn diệt chủng Pol Pot mà các ông nói rằng không biết gì, không thấy gì thì trẻ con ngây thơ cũng không tin được.

Và không chỉ ba ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan mà cả thế hệ “nhảy núi” ở Huế trong đó rất nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ cho đến nay vẫn không biết gì, không thấy gì, không viết gì về Thảm sát Tết Mậu Thân thì quả là chuyện lạ. Hãy thử đặt mình trong vị trí của gia đình các nạn nhân vụ Thảm sát Huế, các ông có nghĩ rằng chính Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân đã giết hoặc biết chắc ai đã giết thân nhân các ông các không? Chắc chắn là có, không thể có lời giải thích thứ ba.

Lẽ ra Thảm sát Tết Mậu Thân phải là nguồn thôi thúc cho nhiều tác phẩm văn học lớn nói lên sự đau khổ, sự chịu đựng tận cùng của đồng bào Huế nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Lẽ ra những người đang bị dư luận kết án, nếu thật sự không tham dự vào cuộc tàn sát, thay vì than mây khóc gió trong văn chương hay lao đầu vào cơm áo, nên dành phần còn lại của đời mình đi tìm cho ra cội nguồn gốc rễ để vừa giải oan cho đồng bào mà cũng minh oan cho chính mình. Gia đình nạn nhân còn đó, nhân chứng còn đó, hầm hố còn đó, bạn bè còn đó, chứng tích còn đó, chế độ còn đó. Có thể người đọc vì sự công phẫn chưa nguôi, sẽ không tin hết các điều các ông các bà viết nhưng nếu đúng rồi lịch sử sẽ tin. Nếu không làm thế, cơ chế độc tài này chắc chắn sẽ tàn lụi nhưng tên tuổi Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh v.v... mãi mãi vẫn là những dấu đen ngàn đời không phai.

Dư luận khắt khe nhưng không bất công. Suốt 42 năm, các ông các bà có rất nhiều cơ hội để làm sáng tỏ một sự kiện lịch sử mà các ông các bà từng tham dự, nhưng ngoại trừ việc phải trả lời vài buổi phỏng vấn rải rác đó đây, các ông các bà im lặng. Kết án lại những người kết án không phải là cách trả lời mà nhân dân Việt Nam đang muốn biết. Ông Nguyễn Đắc Xuân được gọi là “nhà Huế học” nhưng Huế không chỉ có sông Hương, núi Ngự, lăng tẩm, đền đài mà còn có Bãi Dâu, Khe Đá Mài, khu Gia Hội và hàng chục ngôi mồ tập thể khác. Đời sống của một dân tộc không chỉ gồm những thời đẹp đẽ, vinh quang mà còn cả những giai đoạn đau buồn, tủi nhục. Tại sao các ông các bà không viết? Phải chăng những người “nhảy núi” ở Huế cũng giống như Hun Sen hay tên Khờ Me Đỏ giết chồng bà Samrith Phum năm 1977, đang cố chôn đi quá khứ? Sự im lặng của các ông các bà không phải là một công án thiền mà là lời tự tố cáo lớn tiếng nhất.

Dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ suy vi và phân hóa nhưng sự kiện một số người dã tâm tàn sát nhiều ngàn người Việt khác trong chỉ vài tuần bằng các phương tiện phi nhân chưa từng có như ở Huế là lần đầu. Vết thương Mậu Thân sẽ không bao giờ lành một khi tội ác chưa được đưa ra ánh sáng. Nền tảng của hòa giải là công lý và sự thật chứ không phải che đậy và lãng quên.

Nhiều tác giả đã viết về Thảm sát Mậu Thân. Những dữ kiện trong bài viết này không có gì mới mà đã được nhắc đi nhắc lại. Dụng ý của kẻ viết bài này chỉ muốn nhấn mạnh một điều rằng, nhiều trong số những người “nhảy núi” còn sống ở Huế hay trong và cả ngoài nước, nhưng chắc không sống bao lâu nữa. Tuổi tác của các ông các bà đều trên dưới bảy mươi. Thời gian còn lại như tiếng chuông ngân đã quá dài. Tất cả sẽ là không. Các ông các bà ra đi không mang theo gì cả nhưng sẽ để lại rất nhiều. Vẫn biết con người khó tự kết án chính mình nhưng các ông, các bà vẫn còn nợ dân tộc Việt Nam, nhất là các thế hệ mai sau, câu trả lời cho cái chết của nhiều ngàn dân Huế vô tội.

Ngọn nến trước khi tắt thường bật sáng, vì tương lai dân tộc, các ông các bà hãy sáng lên sự thật một lần trước ngày chết.

Trần Trung Đạo

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Bệnh thắng cuộc
Trần Văn Giang

“The only good communist is a DEAD communist.”
(Cold War Quote)

“Bên nào thắng cuộc?”

Một cuộc chiến tranh, theo đúng nghĩa, chỉ được xem là thực sự chấm dứt, có bên thắng và bên thua khi một bên không còn đánh (fight) được nữa; hay ít ra những nỗ lực, những cố gắng tiếp tục đánh của một bên hoàn toàn không còn nữa (no longer exists).

Trong cuộc chiến chống cộng ở Việt Nam, mặc dù về mặt quân sự tiếng súng đã im từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhưng các nỗ lực chiến đấu của người Quốc gia trên nhiều địa bàn phi quân sự khác như chính trị, ngoại giao, văn hóa , kinh tế… không (chưa) hề có một dấu hiệu nào để khả dĩ gọi là đã “ngừng” lại. Thực tế, sự chiến đấu phi quân sự liên tục này của phe Quốc gia mỗi lúc thấy càng mạnh mẽ, qui mô, công khai hơn là đàng khác.

Tôi xin kể ra ở đây một vài thí dụ thắng-bại điển hình. Công luận thế giới đồng ý là năm 1945, đồng minh đã thắng Nhật và Đức quốc xã trong trận thế chiến thứ 2 bởi vì Nhật và Đức ngoài việc buông súng đầu hàng, đồng loạt ngừng tất cả những hình thức chống đối, bên thua cuộc, dân Nhật và dân Đức, còn sáng suốt, can đảm xin hợp tác và đón nhận sự giúp đỡ của bên thắng cuộc trong công cuộc canh tân đất nước họ từ đống tro tàn thành đại cường quốc. Kế đến, Bắc quân Mỹ thắng Nam quân trận nội chiến 1861-1865. Cuộc nội chiến đẫm máu đã làm cho hơn 750 ngàn lính của 2 phe bị chết, kết thúc bởi tướng Robert Lee của Nam quân chính thức đầu hàng tướng Ulysses Grant của Bắc quân vào ngày 9 tháng 4 năm 1865. Sự chiến thắng của Bắc quân trong cuộc nội chiến Nam-Bắc Mỹ này cũng cũng có thể so sánh với sự chiến thắng của quân đội đồng minh năm 1945. Bên thắng cuộc và bên thua cuộc đã được nhận diện rõ ràng. Sau các trận chiến, thế giới văn minh không hề có các đòn thù man rợ áp dụng cho bên thua cuộc.

Trường hợp chiến tranh Quốc-Cộng ở Việt Nam thì hoàn toàn khác hẳn. Tiếng súng đã ngưng 37 năm, nhưng sự chiến đấu của phe VNCH vẫn mỗi ngày mỗi mạnh mẽ thêm làm cho phe cs mặc dù đã vội vàng tự nhận mình là “bên thắng cuộc” phải lo sốt vó… Một ngày rất gần, đám lãnh đạo csvn sẽ lại phải theo chân Thoát Hoan tìm ống đồng để chui; hoặc Gaddafi tìm một ống cống để kết thúc cuộc đời một cách nhục nhã…
“Giải phóng cái gì?”
Động từ “Giải phóng” theo tự điển tiếng Việt phổ thông có nghĩa là:
1- Làm cho được tự do, cho thoát khỏi tình trạng bị nô dịch, chiếm đóng.
Thí dụ: Giải phóng thủ đô. Đất nước được hoàn toàn giải phóng.
2- Làm cho được tự do, cho thoát khỏi địa vị nô lệ hoặc tình trạng bị áp bức, kiềm chế, ràng buộc.

Thí dụ: Giải phóng nô lệ.

Từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, cs đã làm thay đổi ý nghĩa của hai chữ “giải phóng.” (và còn nhiều chữ khác mà cs gần như dành lấy làm của riêng như “nhân dân,” “tổ quốc.” “nhà nước, “ cán bộ,” “công an…”) Cs lạm dụng, “hấp diêm,” biến chữ “giải phóng” trở thành các nghịch lý trơ trẽn, hoàn toàn trống rỗng vô nghĩa. Thành ra khi nghe cs nói phải trái về vấn đề gì, chúng ta chỉ cần suy nghĩ ngược lại 180 độ là có phần đúng đến 99 phần trăm…

Ngay trong lời giới thiệu của cuốn sách “Bên thắng cuộc,” ông Huy Đức đã viết:

“Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975, ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc.”

Như vậy 3 chữ “Bên thắng cuộc” đã có hàm ý một sự mâu thuẫn, một sự mỉa mai: nói vậy mà không phải như vậy đâu. Hãy mở mắt ra là vừa, nếu đã bị đóng kín từ trước tới giờ..

Năm 1954, kết quả cs giải phóng miền Bắc là một triệu người miền Bắc phải di cư và miền Nam để tránh nạn cộng sản. Năm 1975, kết quả giải phóng miền Nam là có gần 3 triệu người dân Việt phải bỏ nước đi tị nạn cộng sản ở các nước trên thế giới, bất kể là nước nào… Các cuộc bỏ phiếu bằng chân vĩ đại này đã là bằng chứng sống giải thích rất thỏa đáng chữ “giải phóng” lập lờ của cs.

Cs chỉ dùng đúng nghĩa của chữ “giải phóng” khi cs đã tàn nhẫn “giải phóng” bao nhiêu sinh mạng đồng chủng chỉ vì họ không đồng ý hoặc ít ra không có ý kiến gì về cái thuyết khát máu cs.

Nhìn lại lịch sử Việt Nam cận đại, trong công cuộc tàn hại vô bờ bến gọi là “giải phóng,” cs đã “cướp” đi những con người giỏi nhất, lương thiện nhất, dũng cảm nhất của đất nước. Công cuộc “giải phóng” của cs đã làm cho cả một dân tộc bị bại trận chứ không phải chỉ riêng dân miền Nam và vài ba triệu dân tị nạn cs.

“Đánh Mỹ cứu nước nào?”

Mỹ không hề chính thức công nhận là họ thua ở Việt Nam. Theo họ, trong bàn cờ lớn thế giới, Mỹ chỉ bỏ một cuộc chiến mà họ thấy không còn cần thiết nữa. Trên phương diện quân sự, bên thua trận phải lâm vào một hay cả 2 trường hợp sau: Một là quân đội phải tan rã; Hai là không còn đủ khả năng để tài trợ (funding) cho một lực lượng quân sự chống đối. Cả hai lý do này đều hoàn toàn không áp dụng được cho Hoa kỳ. Hoa kỳ vẫn có một lực lượng quân sự lớn mạnh nhất hoàn cầu và họ thừa khả năng viện trợ quân sự cho nhiều nước, nhiều mặt trận khác nhau cùng một lúc trên thế giới như Nam hàn, Ai cập, Iraq, Pakistan, Afghanistan…

Nhìn lại “bên thắng cuộc” vi-xi hôm nay. Vi-xi mỗi ngày càng tỏ vẻ mà chẳng cần dấu diếm úp mở là cs muốn đến gần Mỹ hơn là Mỹ muốn đến gần vi-xi. Mặt khác, Mỹ lại càng làm tàng, cóc thèm đếm xỉa gì đến anh vi-xi trông rất xấu xí, buồn cười, đang “nhiệt liệt” tự sướng 24/7 cả ngày lẫn đêm. Đến giờ phút đang tụt hậu thê thảm hôm nay - đứng sau Singapore 97 năm - mà vẫn còn ráng ra rả “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam anh hùng” thì người nước ngoài họ tưởng cs bị khùng.

Nhìn lại lịch sử toàn cầu từ thế chiến thứ 2 đến nay xem Mỹ có chiếm lấy một tấc đất nào của các quốc gia trên thế giới mà họ đặt chân đến hay không mà cs bảo “nhân dân” phải hy sinh tận mạng chống giặc Mỹ cướp nước? Trong khi Trung công chưa kịp cướp thì csvn đã kính cẩn dâng đất, biển, đảo rồi còn lấy đâu ra mà cứu “lước”? Lê Duẩn đã từng công khai tuyên bố là “đánh Mỹ là đánh cho Liên sô và Trung quốc.” Còn việc “cứu nước” là chỉ một sự lừa phỉnh lấy thúng úp voi. Bây giờ không còn có Mỹ để đành vậy mà nước vẫn còn tệ hơn bao giờ hết… không cứu vãn được. Cứu làm sao được khi tập đoàn cs vẫn còn “cướp” chính quyền.

Thật buồn, thật khó hiểu khi thấy cả môt dân tộc cứ tiếp tục oằn oại chấp nhận một chính sách cai trị cs man rợ, dốt nát, ngang ngược, lếu láo. Có lẽ theo chu kỳ tuần hoàn của trời đất, vận nước chắc đã đến lúc phải thật mạt rồi mới lại ngóc lên được.

Tóm lại, bàn ra tán vào mãi về cuốn sách “Bên thắng cuộc” cũng chẳng tìm được ra cái giải rút gì. Sau bao năm “giải phóng,” “Bên thắng cuộc” với những chính sách từ “đổi mới” đến kinh tế thị trường định hướng XHCN…” vẫn chưa tạo được một tiến bộ, một xây dựng nào cho cuộc sống của người dân nghèo – cs không ngượng mồm gọi họ là “thành đồng cách mạng” - Những cái chúng ta nhìn thấy hôm nay chỉ là sự sa sút tột bực của giáo dục, văn hóa, xã hội, kinh tế… trong nước.

Tôi đề nghị là tựa cuốn sách nên được đổi thành “Bên thua cuộc” để các cụ không thích nó có lỡ phải vất vào thùng rác thì cũng đỡ làm bẩn cái thùng rác. Tôi cũng không hoàn toàn đồng ý với cái nhận định về cs ở thời chiến tranh lạnh (Cold War): “Chỉ có những tên cs chết rồi mới là cộng sản tốt.” (“The only good communist is a DEAD communist.”) bởi vì nói như vậy thì phải xem các trùm cs khát máu đã chết rồi như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Hồ Chí Minh. Lê Duẩn.. là người tốt hay sao? Theo như ý tôi, câu nói này nên sửa lại cho thích hợp là: “Dù sống hay chết, những tên cộng sản đều thối hoắc như nhau.” (No matter alive or dead, all communists stink).

Bây giờ, tôi xin mượn lời của một ông bạn thân của tôi để kết thúc bài này:

“Một khi đã là vi-xi thì sẽ mãi mãi muôn đời sẽ là vi-xi. Chớ vội vàng mà tin bọn vi-xi này. Thấy quan tài rồi hãy đổ lệ cũng không bao giờ muộn.”

Trần Văn Giang
Ngày 10 tháng 1 năm 2013.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Ủy ban Bảo vệ ký giả lên tiếng về vụ xâm phạm blogger ở Việt Nam

VOA Tiếng Việt
08.01.2013
Cơ quan bảo vệ nhà báo trên toàn thế giới mới lên tiếng trường hợp của blogger Nguyễn Hoàng Vi về việc cô cho là ‘bắt giữ tùy tiện, tra tấn và làm nhục công dân’.

Tổ chức có trụ sở ở New York cho rằng vụ làm nhục blogger này một lần nữa cho thấy sự đàn áp của giới hữu trách Việt Nam đối với các blogger.

Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ) dẫn lời kể của Hoàng Vi trên trang Dân Làm Báo, nói rằng cô đã bị cảnh sát ‘đánh đập, bắt cởi bỏ quần áo và xâm phạm chỗ kín’.

Trong đơn tố cáo đề ngày 4/1, Hoàng Vi cho biết vụ việc xảy ra hôm 28/12/2012, đúng ngày diễn ra phiên xử phúc thẩm 3 blogger Điếu Cày, Tạ Phong Tần và Anh Ba Sài Gòn.


Họ hành động như là những thành phần vô học thì làm sao trong đồn công an mình có thể có bằng chứng được. Em chỉ có thể nói sự thật thôi, tố cáo đúng sự thật thôi còn vấn đề họ giải quyết như thế nào là chuyện của họ...

Cô viết cô bị đưa về đồn công an phường Nguyễn Cư Trinh thuộc quận 1 ở TPHCM và cô bị ‘cướp mất 2 cái điện thoại, toàn bộ giấy tờ tùy thân, tiền bạc và bị đánh đập rất dã man’.

Cô cũng cho biết cô bị một nữ nhân viên an ninh mặc thường phục ‘bắt phải cởi hết quần áo để khám xét mà không có bát cứ lệnh nào’.

Trên các trang blog mới đây xuất hiện một bức ảnh được cho là ảnh Hoàng Vi mặc áo khoác ngược và để hở đầu gối.

Cô Hoàng Vi kể lại với VOA Việt Ngữ:

"Khi mà họ cưỡng chế, họ cởi đồ em ra như vậy thì em không cho họ mặc đồ lại. Em nói với họ rằng cởi đồ của em ra đã khó nhưng mà muốn mặc đồ lại cho em khó hơn. Khi họ mặc đồ lại thì hoàn toàn em không đồng ý và họ cưỡng chế họ mặc lại được cho em cái quần và họ không mặc áo được thì họ phải cưỡng chế lắm thì họ mới khoác được áo khoác và kéo ngược lên cho em như vậy. Em để nguyên tình trạng như vậy đi về. Khi mà về tới nhà thờ thì vô tình gặp chị Hằng (Bùi Thị Minh Hằng) chị cũng đi công việc qua nhà thờ và chị thấy như vậy thì chị chụp lại cái hình đó cho em."

Blogger Nguyễn Hoàng Vi cho biết cô chưa nhận được bất cứ phản hồi nào của cơ quan chức năng về lá đơn tố cáo của cô.

Đơn tố cáo của blogger 26 tuổi được gửi tới nhiều nơi trong đó có giám đốc Công an TP.HCM, Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM, Thanh tra công an TP.HCM, Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM và Hội Phụ nữ TP.HCM.

Cô cho biết thêm:

"Em làm đơn tố cáo ở đây hy vọng rằng bản thân họ tự điều chỉnh lại cái hành vi. Khi mà vào đồn, thực sự mà nói, họ làm như vậy thì làm sao mà tụi em có bất cứ bằng chứng gì để mà giữ lại, cho nên là em nói để mà họ phải tự thay đổi cái sai trái của họ, để mà tự điều chỉnh lại nhân viên của họ. Họ hành động như là những thành phần vô học thì làm sao trong đồn công an mình có thể có bằng chứng được. Em chỉ có thể nói sự thật, tố cáo đúng sự thật thôi còn vấn đề họ giải quyết như thế nào là chuyện của họ."

Tối 8/1 (giờ Việt Nam), VOA Việt Ngữ đã gọi điện tới đồn cảnh sát phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, TPHCM, một trong những cơ quan bị Hoàng Vi tố cáo.

Một người trực điện thoại nói vụ việc của nữ blogger này là do "bên an ninh họ làm, chứ không phải công an phường".

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Đọc toàn bộ Bên Thắng Cuộc:
"Sự Thật sẽ giải phóng con người"

Tiến sĩ Đinh Xuân Quân

LTS: TS Đinh Xuân Quân là một kinh tế gia về phát triển và tổ chức cơ chế (governance). Ông đã sống tại Việt Nam sau 1975, đã bị tù cải tạo, vượt biển tìm tự do. Và đặc biệt đã có dịp về làm việc tại Việt Nam trong chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) nhằm giúp cải tổ hành chánh và kinh tế từ năm 1994 đến 1997. Đó là một dịp rất tốt để Ts Quân hiểu bối cảnh và tư duy của lãnh đạo CSVN vào lúc đó.

Trước 1975 ông làm cho Quỹ Phát Triển Kinh Tế Quốc Gia và tham gia vào Nhóm kinh tế hậu chiến thuộc Bộ Kế Hoạch của VNCH. Ông là GS Kinh tế tại Đại Học Luật và ĐH Minh Đức. Cho đến nay ông đã làm chuyên gia cố vấn cho trên 20 nước trên thế giới, kể cả gần đây làm cố vấn kinh tế - hành chính cho Phủ TT Iraq và Phó TT tại Afghanistan dưới sự bảo trợ của World Bank, UNDP và USAID. Ông cũng tiếp tục làm GS tại nhiều ĐH mà ông có nhiệm sở.


*

Quyển “Bên Thắng Cuộc” số 1 của Huy Đức / [Published by OsinBook 2012 - Copyright 2012 by Huy Đức & OsinBook 2012 trên Amazon] gồm hai phần và 11 chương, "Bên Thắng Cuộc" cuốn 2 cũng gồm hai phần và 11 chương, cả hai cuốn 1&2 gộp lại dày 680 trang.
Hôm nay chúng xin có một số nhận xét về "Bên Thắng Cuộc" cuốn 2, nội dung cuốn sách (tiếp theo cuốn 1) như sau:

Phần III gồm:

Chương 12: Tướng Giáp– Tại sao có vụ án Năm Châu – Sáu Sủ nhằm hạ bệ tướng Giáp – Vai trò thực sự của tướng Giáp trong cuộc chiến tranh 1955-1975 như thế nào? Vì sao có vụ Maddox và vụ án “Chống đảng” năm 1967?
Chương 13: Cởi Trói Thời kỳ trăng mật của TBT Nguyễn Văn Linh, vai trò của ông trong việc mở ra một không gian tự do hơn cho báo chí, văn nghệ; xét lại vụ “Nhân Văn Giai Phẩm”.

Chương 14: Lựa Chọn – Việt Nam có một cơ hội để cải cách chính trị và chuyển quyết liệt nền kinh tế sang thị trường. Nhưng sự sụp đổ của Liên Xô đã làm cho Hà Nội hoảng sợ. Điều này khiến cho việc cải cách cả về chính trị và kinh tế bắt đầu từ thập niên 1990 trở nên nửa vời.

Chương 15: Linh – Kiệt – Thực chất mối quan hệ của ông Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt là gì? Vì sao ông Linh đưa ông Đỗ Mười lên làm Thủ Tướng năm 1988, thay Trần Xuân Bách, bài ông Kiệt?

Chương 16: Đa Nguyên – Trước những diễn biến trong nước và Đông Âu, ông Nguyễn Văn Linh nhanh chóng bộc lộ con người bảo thủ của ông: siết lại báo chí; cách chức Trần Xuân Bách; bắt Dương Thu Hương và những người bất đồng chính kiến khác.

Chương 17: Kinh tế thị trường – Đông Dương đã từ một chiến trường trở thành thị trường như thế nào? Những chuyển động trong xã hội sau khi chấp nhận kinh tế thị trường. Cách mà chính phủ VN và người dân tiếp thu các kiến thức về kinh tế thị trường.

Phần IV: Tam Nhân

Chương 18: Tam quyền không phân lập – Tranh cãi và tranh chấp chính trị trong quá trình hình thành Hiến Pháp 1992.

Chương 19: Tam nhân không phân quyền – Cho dù không chấp nhận tam quyền phân lập nhưng quyền lực nhà nước trong thập niên 1990 cũng có “check and balance” bởi sự phân quyền của tam nhân: Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Võ văn Kiệt.

Chương 20: Đại Hội 8 - Công cuộc chuyển giao thế hệ nửa thập niên 1990 diễn ra đầy kịch tính do những lãnh đạo lão thành chưa thực lòng muốn từ bỏ quyền lực.

Chương 21: Lê khả Phiêu và ba Ông Cố Vấn. Ông Lê khả Phiêu là người thế nào? Ai đưa ông lên và vì sao ông bị hạ bệ trong Đại Hội 9?

Chương 22: Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa: Ý thức hệ được sử dụng như là một quyền lực chính trị đã cản trở những cải cách kinh tế theo định hướng kinh tế tế thị trường. Tiến trình tư nhân hóa khu vực kinh tế quốc doanh gặp khó khăn và định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục ảnh hưởng đến “tương lai” dân tộc.


*

Thời gian qua đã có nhiều nhận xét khen và chê về quyển 1 “Bên Thắng Cuộc”. Có một số bài hay, ví dụ bài của Vũ Ánh, một nhà báo lão thành từ thời VNCH; hay bài của Đồng Phụng Việt phổ biến trên mạng gần đây. Đây là những tác giả có cái nhìn hiểu biết và đứng đắn, không có tính cách a dua của một số người bị khích động bởi tình cảm cực đoan hay vì những động lực riêng tư.

Chúng tôi nghĩ rằng ta cần biết lịch sử cận đại VN, nhất là quá trình “Đổi Mới” kinh tế từ bên trong và “những cơ hội bỏ lỡ” trong quá trình này. Ngày nay bao nhiêu tài liệu được giải mật về phía Mỹ đã cho thấy những bước đi chiến thuật và chiến lược của Mỹ và của VNCH, nhưng ít ai biết về các sự kiện hay các suy nghĩ về nhiều khía cạnh khác nhau của miền Bắc trong thời gian đó. “Bên Thắng Cuộc” đã cho thấy bao nhiêu dữ kiện lịch sử cận đại Việt Nam khi tác giả cố gắng có cái nhìn cân bằng, trung thực, mặc dù không phân tích. Đây là một sự cố ý của tác giả Huy Đức, khéo léo bày ra một bữa cỗ đầy sự kiện, đầy thông tin về quy trình lấy các quyết định (government and party decisions) ảnh hưởng đến tương lai Việt Nam, và dành sự đánh giá cho độc giả về những gì đã xẩy ra trên mảnh đất chữ S sau 1975. Quyển sách này sẽ là một “mỏ tài liệu” vừa quý giá vừa rất thích thú cho các học giả, các nhà khảo cứu, các chuyên gia hành chính công (về quy trình quản lý việc thay đổi – management of change), và nhất là các chuyên gia ngoại giao thế giới tìm hiểu và nghiên cứu về Việt Nam.

Quyển 1 có 3 chương (chương 3, 9 và 10) và quyển 2 cũng có 3 chương (14, 17 và 22) có chủ đề về kinh tế. Quyển 1 trình bày “quy trình phá hoại kinh tế miền Nam” qua việc áp đặt một cách máy móc guồng máy “tập trung bao cấp” vào kinh tế (xin xem bài trên Diễn Đàn Thế Kỷ: www.diendantheky.net.) [Các “Chiến dịch “Đánh tư sản” -“Chiến dịch X-2”, việc đổi tiền (X-3), việc đánh“Gian thương” hay việc “Cải tạo công thương nghiệp tư doanh.”] Hậu quả các chính sách kinh tế “tập trung bao cấp” là cuộc sống của những người dân trở nên trăm bề khó khăn.

Tác giả kể lại một cách bình thản một số sự kiện đã đưa đến sự phá hoại kinh tế miền Nam qua việc các chính sách “XHCN” được áp dụng một cách máy móc – nếu không nói là mù quáng trong chủ trương cải tạo công thương nghiệp tại miền Nam. Sau đó là phải tìm các giải pháp giải quyết khó khăn kinh tế qua các vụ xé rào.

Quyển 2 nói về "quy trình sửa đổi – tranh cãi về kinh tế thị trường" mà rốt cuộc là theo "kinh tế thị trường theo định hướng XHCN". Một cuộc Đổi Mới nửa vời mà tai hại còn kéo đến bây giờ, năm 2013.

Chương 14 kể lại quá trình lựa chọn trong tập thể Bộ Chính Trị về việc cải tạo kinh tế đi từ chỗ “cởi trói” các trạm kiểm soát trên cả nước. “Theo nhận thức của những người cộng sản, đánh đổ giai cấp tư sản là bước đi tất yếu, là nhiệm vụ của “cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”. Khi đối đầu với thực tế ĐCSVN phải tìm cách giải quyết, nhưng tư duy lãnh đạo vẫn coi trọng ý thức hệ - cố “bám vào XHCN”. Nhờ vậy khi giới lãnh đạo đi tìm giải pháp, lần đầu tiên người ta thấy các chuyên gia được tham khảo ý kiến. Nó cũng cho thấy tại sao các chính sách về nông nghiệp đã thất bại và phải “cởi trói”cho nông dân qua nghị quyết 10.

Chương 16 nói về Đa Nguyên kể lại quá trình tranh đấu trong nội bộ về “đa nguyên đa đảng” trong bối cảnh các thay đổi tại Đông Âu, Nga và Trung Quốc, các sự kiện đã khiến ông Nguyễn Văn Linh (NVL) tháo lui trong tiến trình cải cách. Chuyến thăm Gorbachev và thời gian nằm nhà thương tại Đông Đức đã làm cho NVL sợ, khi trở về nước đã siết lại báo chí; cách chức Trần Xuân Bách một nhà chính trị nói công khai về đa nguyên trong đảng; bắt Dương Thu Hương và những người bất đồng chính kiến khác. Các tranh chấp tư tưởng – trong đó có nhiều vận động “cởi mở” của Trần Xuân Bách làm cho NVL lo lắng. Ý của ông Trần xuân Bách là 1) Cần mạnh dạn thực hành chính sách kinh tế theo kiểu chính sách kinh tế mới của Lenin (gọi là kinh tế thị trường với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế; 2) Theo “kinh tế định luận” của Marx thì một khi đã đa nguyên kinh tế thì tất yếu sẽ dẫn đến đa nguyên chính trị, và 3) Thị trường và đa nguyên là những thành tựu của nhân loại. Ông Trần Xuân Bách vì muốn thay đổi quá sớm cho nên bị kỷ luật [điều chú ý trong XHCN khi chồng bị “hạ bệ” thì vợ cũng phải chịu trăm điều nhục – bị hạ tầng công tác, cho ra vỉa he giữ xe ngoài cửa cơ quan, đi làm giúp việc...].

Chương 17 nói về những bước đường đi đến Thị trường, trong đó có cả việc thương thuyết giữa Mỹ và VN về chương trình HO giúp cho hơn 380,000 cựu quân nhân cán chính VNCH sang Mỹ, mà chuyến đi đầu tiên vào ngày 13/1/1990 sau bao nhiêu vận động. Chương này đề cập con đường dài đi từ tình trạng khép kín đến chỗ cởi mở hơn, từ việc in lịch hoa hậu VN cho đến “xì-căn-đan” Thanh Hương mà chúng ta gọi là “pyramid scheme” làm chấn động Việt Nam, cho đến phong trào học tiếng Anh. Sau đó là những thành tựu đầu tiên của việc đoạn tuyệt với nền "kinh tế bao cấp". Kinh doanh tư nhân dần dần được cho phép, và trong thời gian này người ta chứng kiến vai trò ngày càng nổi bật của UNDP, của các cơ quan quốc tế giúp Việt Nam mở cửa qua việc gởi nhiều sinh viên đi du học, các phái đoàn tham quan nước ngoài, những dự án “tăng trưởng quản lý kinh tế,” v.v...

Quyển sách cũng cho thấy đời tư của một số lãnh đạo CSVN. Sách đưa ra những dữ kiện về con người của Lê Duẩn, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu, Phan Văn Khải, Nguyễn Tấn Dũng, vv., những người có ảnh hưởng đến các quyết định về tương lai Việt Nam. Nó cho thấy Đảng Cộng Sản là một tổ chức được quản lý bởi một số người rất nhỏ, rất quyết đoán và hầu như không cần đếm xỉa gì đến khía cạnh chuyên môn. Hậu quả là đảng đã phạm các lỗi lầm do sự kém hiểu biết của họ về thế giới bên ngoài, đã mang lại biết bao nhiêu tai họa cho Việt Nam. Sách thuật lại trong cuộc gặp TBT NVL và Đỗ Mười (1989) thì ông Linh nói “Mất chủ nghĩa xã hội tới nơi rồi còn nói về thành tích.” Việc này cho thấy các lãnh đạo còn rất quyết đoán theo quán tính, chưa thoát khỏi não trạng ý thức hệ. Trong một dịp khác, sách này thuật lại các cuộc gặp gỡ giữa Lê Khả Phiêu và Giang Trạch Dân (1999) và trách nhiệm trong việc thảo thuận về thác Bản Giốc, Hữu Nghị Quan, Bãi Túc Lãm và điểm cao 1509. Ngoài ra hai bên còn nói về Biển Đông. Trong cuộc gặp này Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm bị bỏ rơi. Theo ông Nguyễn Văn An thì "Đảng ta sai lầm về cán bộ rất nhiều". Ngay từ Đại Hội VI chọn ông Nguyễn Văn Linh là không đúng - ông không phải là người đổi mới. Ông Linh chọn ông Đỗ Mười cũng không đúng. Ông Mười chọn ông Lê Khả Phiêu cũng không đúng và đến khi chọn ông Nông Đức Mạnh thì quá sai. Về sau ông Nguyễn Văn An nhận ra vấn đề của ĐCSVN là “lỗi hệ thống.”

Nói về các “lãnh đạo tù nhân ý thức hệ” thì ngay phần mở đầu sách, tác giả đã cho thấy nhiều người trí thức trong guồng máy lãnh đạo thấy vấn đề, có thiện chí, cố gắng tìm các giải pháp khi đất nước bế tắc. Nói về chuyên môn hành chính thì “cách quản lý đóng” của ĐCSVN dựa trên người “đỏ hơn chuyên” đã mang tai hại cho đất nước và sẽ khó chữa vì dân chúng không được tham gia đóng góp ý kiến vào các quyếtđịnh.

Chương 21 quyển sách nói về quy trình thương thuyết – bở lỡ mất cơ hội sớm ký BTA và vào WTO trước Trung Quốc. Bill Clinton đã gặp lãnh đạo VN và sẵn sàng ký từ 1999 trong khi vì “bị lệ thuộc vào 16 chữ vàng” cho nên mãi đến 2006 Việt Nam mới gia nhập WTO. Cuộc trao đổi giữa Bill Clinton và ông Lê Khả Phiêu cũng đầy thú vị - như là một cuộc nói chuyện giữa người trên cung trăng. Quá trình trao đổi giữa các lãnh đạo – bộ ngoại giao, BCT cho thấy nhiều việc hỏng hay bị bỏ lỡ chỉ vì lãnh đạo Việt Nam “mù quáng – nô lệ về tư duy”, vẫn tưởng anh em XHCN Trung Quốc tốt với mình. Dựa vào thông tin của Tổng cục II nói Trung Quốc “sẽ phản ứng rất xấu” nếu VN ký Hiệp định thương mại. Trong khi Việt Nam không hiểu tầm quan trọng của giao dịch quốc tế thì Trung Quốc đã tận dụng tình trạng thụ động vụng về của kẻ đàn em để vào WTO sớm hơn. Nhiều người hiểu biết (thường thường thuộc Bộ Ngoại Giao vì có dịp tiếp xúc nhiều với bên ngoài) đã tỏ ra “tiếc đứt ruột.” [Đọc đến đoạn này người viết cảm thấy rất thấm thía, vì nhớ đến kinh nghiệm của bản thân khi được UNDP đưa vào làm việc giúp Việt Nam cải cách Hành chính và tân tiến hóa guồng máy chính quyền: lúc đó VN hoàn toàn có thể qua mặt TQ để vào WTO sớm, nhưng lãnh đạo VN cứ chần chờ không dám quyết định. Lúc đó người viết không biết là Việt Nam đã bị “16 chữ vàng” chi phối, đã bị chiếc “cùm tư tưởng” của TQ tròng vào đầu rồi!]

Trong một bài viết cho viện ISEAS - đại học Singapore xuất bản, chúng tôi đã chứng minh là đến 1972, không ai của “nhóm đỉnh cao trí tuệ”của Bộ Chính Trị tại Việt Nam có một mảnh bằng Đại Học. Hậu quả là việc quản lý yếu kém – các lãnh đạo có “Mác xít nhưng trình độ quá thấp” [đỏ hơn chuyên]. Tình trạng này đã mang nhiều tai hại trong việc quản lý đất nước, nhất là về kinh tế, đặc biệt từ khi có "16 chữ vàng" với Trung Quốc” thì mọi việc hầu như bị TQ kiểm soát. Tác giả Huy Đức cho thấy là Việt Nam đã bỏ lỡ quá nhiều cơ hội tốt để Đổi mới tư duy kinh tế - mang đất nước tiến đến giàu mạnh vì lãnh đạo không có tầm nhìn (vision), ít học, mà bị “tư duy lỗi thời kiềm kẹp” (Xem chương 21).

Chương 22 nói Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa sau những bước đi đến Thị trường. GS Đoàn Xuân Sâm hỏi ông Đỗ Mười: "Anh làm thủTướng có 60 triệu dân hay chỉ cho 6 triệu cán bộ quốc doanh… Quốc Hội bầu anh lên đứng đầu chính phủ để lo cho toàn dân đâu phải cho lo cho mấy triệu công nhân quốc doanh." Đỗ Mười nói “Các anh tìm cho tôi phương án cứu quốc doanh” đó cũng là một lệnh của NVL. Tại Đại Hội giữa nhiệm kỳ của đảng 1994, ông Đỗ Mười đọc diễn văn về 4 nguy cơ: tụt hậu, chệch hướng, tham nhũng và diễn tiến hòa bình. Cái đuôi “định hướng XHCN” được gắn vào kinh tế thị trường phản ánh "tương quan lực lượng" giữa hai sự việc trước đây xem ra không thể sống chung với nhau, là thị trường tự do và chủ nghĩa xã hội. Nói tóm ông Đỗ Mười còn có ảnh hưởng quyết định trong việc duy trì vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước. Nhiều đoàn Việt Nam đã đi tham quan nhiều nơi, trong đó có Singapore. Sau hơn hai thập niên đổi mới, so với các quốc gia mà giữa thập niên 1950 từng có mức độ phát triển tương đương, Việt Nam vẫn tụt hậu hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm so với họ. Nhớ thời kỳ câu khẩu hiệu “cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên XHCN” được hô hào mạnh nhất thì đó cũng đúng là thời điểm Việt Nam nhanh chóng trở thành một quốc gia kiệt quệ, dân chúng lầm than, hàng triệu người phải bỏ nước ra đi.

Hai quyển Bên Thắng Cuộc 1 & 2 nói lên được cái thâm ý của tác giả. Huy Đức bộc bạch: “Tôi không nghĩ là mình nằm trong phạm vi điều chỉnh các qui định đó. Tôi ý thức được những việc gì mình đang làm. Sự thật không chỉ giúp chúng ta tìm ra những phương thuốc đúng để chữa lành các vết thương cũ mà còn giúp những người đang nắm vận mệnh quốc gia không vi phạm những sai lầm mới. Không ai muốn hứng chịu những điều không hay nhưng nếu cứ trú ngụ trong sự sợ hãi thì sự thật sẽ không bao giờ được nói ra, bạn ạ!” Việt Nam XHCN lúc nào cũng tìm cách “lấp liếm” khi nói chuyện với dân và lúc nào cũng bưng bít thông tin. Huy Đức đã cố nói lên sự thật mà đa số người dân trong nước không biết, như chính vì các chính sách “duy ý chí” mà ĐCSVN đã phá nền kinh tế miền Nam, làm nghèo và bóc lột dân chúng qua những vụ đổi tiền, tranh cãi trong nội bộ về quy trình cải cách kinh tế và chính trị để cứu vãn tình thế, vụ Tết Mậu Thân, cần tiếp tục cải cách, đổi mới kinh tế và chính trị.

Theo chúng tôi, quyển sách này nói lên mục tiêu sâu xa của tác giả, là: “The Truth will set you free – Sự thật sẽ giải phóng cho con người”. Sống mãi trong sự dối trá, tinh thần con người được cấu tạo bởi toàn cái giả. Khi biết được Sự Thật, người ta được giải phóng ra khỏi khối sương mù giả dối. Quyển sách Bên Thắng Cuộc nhằm mang lại sự thật cho dân Việt Nam, nhất là khối dân đang ở trong nước, hằng ngày vẫn đọc vẫn nghe 800 tờ báo và các loại đài, nhưng tất cả đều đồng ca một điệu, vì được điều khiển chỉ bởi một tổng biên tập, là đảng CSVN. Trong lời mở đầu Huy Đức có nói “... chính những người cộng sản cũng không có điều kiện để hiểu những gì Đảng đã mang đến cho đất nước này. Những người cộng sản có lương tri chắc chắn sẽ đón nhận sự thật một cách có trách nhiệm. Không ai có thể đi đến tương lai một cách thành công nếu không hiểu trung thực về quá khứ.” Ngụ ý quyển sách cho thấy các giá trị như nhân quyền, tự do về tư tưởng và văn hóa, tự do tín ngưỡng, ngôn luận, cư trú và về kinh tế v.v. (những đặc điểm của nền tảng cho chế độ miền Nam) ngày càng là các đòi hỏi bức thiết của mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam.

Quyển sách cần được đọc nhiều lần vì nó giúp người đọc có một cái nhìn về chính trường – XHCN nhất là sau tháng 4 năm 1975. Người Việt Nam có thể nhìn một cách bao quát và hiểu rõ hơn về những chuyện đã xẩy ra mà “nhà nước” không muốn họ nghe hay hiểu.

Người đọc quyển sách này tin rằng “The truth will set you free - Sự thật sẽ giải phóng bạn” là mục đích của tác giả Huy Đức và điều này sẽ mang nhiều thay đổi tích cực cho VN vì họ có thể đánh giá lịch sử cận đại với một các nhìn tổng quát mà ĐCSVN không muốn họ thấy. Quyển sách này sẽ giúp hai phe (thắng và thua, nói tóm là dân VN) tái khẳng định sự thật qua những việc đã xẩy ra từ 1975 đến nay. Vì mù quáng hay ngây thơ theo một chủ nghĩa mà VN đã phải trải qua bao vấn nạn, bao khó khăn, một kinh tế thịnh vượng miền Nam bị phá hủy hoàn toàn chỉ vì … “quá ngu xuẩn vì duy ý chí.”

Sống trong lòng chế độ ở Việt Nam mà đề cập tới các sự kiện viết trong quyển sách này là một điều khó khăn và là mối đe dọa cho cá nhân Huy Đức. Tác giả, dù được đào tạo trong một thể chế độc tài, đã tự vượt ra khỏi đủ loại trói buộc để dũng cảm nói lên các ưu tư chân thật về những vấn đề của đất nước. Điều đó cho thấy sự đè nén và dối trá không thể nào đày ải con người lâu dài mãi mãi, phải có lúc ý thức và lương tri bùng lên để cất tiếng nói trung thực của mình.

Mong là qua quyển sách này sẽ có sự tái xác định về XHCN và mạnh mẽ tiếp tục “Đổi Mới” theo kinh tế thị trường, nhà nước đối sử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế, chấm dứt việc ưu đãi quốc doanh thối nát kém hiệu quả, và những nhóm tư bản bè phái (crony capitalism). Phải có quyền bình đẳng kinh tế trong việc sở hữu các phương tiện sản xuất, nhất là đất đai (nói là do dân làm chủ tập thể đất nhưng các quan trong bộ máy nhà nước được giữ quyền quản lý, đòi lại đất từ người nông dân bất cứ lúc nào. Việc này tạo ra nạn tham ô, oán hận và phản đối kéo dài).

Văn hào Nga Alexander Solzhenitsyn đã nói trong diễn văn nhận giải Nobel Văn Chương của ông: “Một lời nói của sự thật có trọng lượng hơn cả trái đất. One word of truth shall outweigh the whole world”.
Với Sự Thật, dân ta sẽ được giải phóng. Quyển sách này, như một bước mở đầu, đang làm công việc đó.

Ts. Đinh Xuân Quân

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Những cú tát để đời


Thật độc đáo ở một người nghệ sĩ
Đọc bản tin, tôi trân quí vô cùng
Kim Chi, người dám ngẩng mặt lên để nêu ra những cảm nhận chung
Nguyễn Tấn Dũng tên tội đồ, kẻ phá hoại làm bần cùng đất nước.

Bộ chính trị, trung ương đảng... loài đi ngược
Là những tên làm đất nước nghèo hèn
Là sâu
Là giòi
Là quà quạ
Là kênh kênh hút máu dân đen
Là đồ tể, hung hãn với dân nhưng hèn với giặc!

Là cướp của, hiếp lớp người trong tay không tất sắt
Là khóa mồm bịt mắt toàn dân
Là tham ô
Là lãng phí, gây nợ chuốc nần
Đi bằng đầu gối... dạ dạ vâng vâng hùa theo quân xâm lược

Là ngông nghênh
Là mê quyền uy chức tước
Là hôn quân, bán nước cầu vinh
Làm lãnh đạo cả nước mà để dân và cả thế giới đều khinh

Ai phản đối thì cho âm binh trấn áp
Biển đảo núi sông thì tự ý quì dâng cống nạp
Kinh tế, xã hội, độc lập, chủ quyền… thì bá láp ngu đần
Những tệ hại thì trút lên đầu dân vô tội

Bao che băng đảng, giở trò cha truyền con nối
Lừa mị nhân dân, gian dối lộng hành
Tiệc tùng tưng bừng... uống máu hôi tanh
Dân phản đối thì răng nanh nuốt chửng.


Ba mươi bảy năm... hận căm chịu đựng
Kim Chi thay người dân làm nhân chứng cho đời
Bộ chính trị, một đám dở hơi
Ý dân quyết là ý trời đã phán

Người nghệ sĩ cương trực giáng cái tát vào mặt Nguyễn Tấn Dũng và toàn đảng.


Nguyên Thạch

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Hai tử huyệt của chế độ

Hoàng Xuân Phú -

Có lẽ lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) quan niệm rằng:

- quy định về quyền lãnh đạo của ĐCSVN đối với Nhà nước và xã hội, và
- quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý

Tại Điều 4 và Điều 17–18 của Hiến pháp 1992 là hai tử huyệt của chế độ. Vì vậy, dư luận càng muốn hủy bỏ hoặc sửa đổi hai quy định đó, thì họ càng kiên quyết bảo lưu. Chúng nằm trong định hướng bất di, bất dịch của lãnh đạo đảng, và được tái thể hiện tại Điều 4 và Điều 57 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.

Tử huyệt độc quyền lãnh đạo

Trong thế giới văn minh, quyền lãnh đạo đất nước của một đảng chính trị chỉ có thể giành được thông qua tranh đấu và bầu cử dân chủ. Kể cả khi đang cầm quyền, đảng vẫn phải phấn đấu liên tục, để thuyết phục Nhân dân tin tưởng và tiếp tục trao cho quyền lãnh đạo.

Không thể lấy công lao trong một giai đoạn quá khứ để bù lại cho hiện tại yếu kém, với bao sai lầm, tội lỗi, và áp đặt cho cả tương lai vô định. Nếu cứ từng có công là được cầm quyền vĩnh viễn, thì ĐCSVN phải trả lại chính quyền cho triều đình nhà Nguyễn, và triều đình nhà Nguyễn lại phải trả lại chính quyền cho các triều đình trước đó. Thế là khởi động cho một quá trình truy hồi dằng dặc, mà không thể tìm được điểm kết thúc. Hơn nữa, thời gian qua đi, giờ đây nắm quyền lực bao trùm đất nước lại là những người vốn chỉ đi theo hoặc ăn theo cách mạng, hay từng được cách mạng o bế và cưu mang mà thôi. Nếu họ từng có công, thì chưa chắc bù nổi những lỗi lầm đã gây ra. Phần lớn những người có công đáng kể, những công thần của chế độ, đã qua đời, hoặc nếu còn sống thì đã về hưu, và có lẽ đang đau lòng vì phải chứng kiến sự nghiệp cách mạng của thế hệ mình bị phản bội.

Không thể coi quyền lãnh đạo đất nước của bất kỳ đảng phái nào là đương nhiên, và vì vậy không thể ghi điều đó vào Hiến pháp. Vả lại, nếu quyền đó đã là đương nhiên, được mọi người mặc nhiên thừa nhận, thì cũng chẳng cần ghi vào Hiến pháp làm gì, để khỏi gây phản cảm một cách không cần thiết. Nếu một điều không phải là đương nhiên và không được tất cả mọi người thừa nhận, mà vẫn bất chấp, áp đặt bằng được trong Hiến pháp, thì chỉ riêng việc làm đó đã khắc họa xong tính dân chủ và tính hợp pháp của đảng và chế độ.

Nếu ĐCSVN được đa số Nhân dân tin cậy và ủng hộ, thì bất cứ cuộc tổng tuyển cử dân chủ nào cũng đưa lại một kết quả tất yếu, đó là trao cho đảng quyền lãnh đạo đất nước. Cho nên, khi khẳng định rằng "bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát", thì có nghĩa đã mặc nhiên thừa nhận thực trạng tệ hại của đảng, khiến đa số Nhân dân không thể đồng tình ủng hộ và chắc chắn sẽ không bầu cho đảng. Nếu nghĩ là mình không còn xứng đáng, không còn được đa số Nhân dân tín nhiệm, mà vẫn dùng Hiến pháp để áp đặt bằng được vai trò lãnh đạo, thì có còn tử tế và vì Dân nữa hay không?

Con người muốn tồn tại và phát triển thì không thể khước từ thử thách, không thể lẩn tránh đối đầu. Ngược lại, phải chấp nhận thử thách, vượt qua thử thách mà vươn lên. Nếu một đứa trẻ luôn được o bế trong căn nhà vừa được vô trùng, vừa được điều hòa nhiệt độ một cách tuyệt đối, thì sẽ dễ bị đổ bệnh khi ra khỏi cửa. Nếu con cái được bố mẹ quá bao cấp, kèm cặp từng li từng tí, thì sẽ dễ ngã gục khi bước vào cuộc sống tự lập trong xã hội. Để tránh bệnh tật, hàng tỷ người trên thế giới chấp nhận tiêm vắc-xin, nhằm phát triển khả năng miễn dịch, tức là chủ động đưa cơ thể mình vào trạng thái thử thách. Muốn khỏe, con người không thể ỳ ra, mà phải thường xuyên khổ luyện dưới hình thức thể dục. Không có cạnh tranh, không có thi đua (thực chất), thì con người không thể khá lên được.

Không chỉ từng cá thể, mà cả quần thể, với tư cách tổ chức, đảng phái, hay cả xã hội, cũng phải biết đương đầu với thử thách. Vì biết tận dụng cuộc cạnh tranh giữa hai hệ thống chính trị trên thế giới để tự hoàn thiện, để giành phần thắng trong cuộc chiến tranh lạnh, nên các nước tư bản hàng đầu đã phát triển vượt bậc, không chỉ về kinh tế, khoa học và công nghệ, mà cả về dân chủ và phúc lợi xã hội, cũng như về quyền con người.

Ngược lại, các nước trong phe xã hội chủ nghĩa đã xử lý sai tình huống và quan hệ địch ta. Nhìn đâu cũng thấy địch, kể cả trong Dân, nên nhiều khi đối xử với Dân cũng giống như với địch, khiến dần dần mất Dân. Ỷ thế vào cường quyền, Đảng Cộng sản Liên Xô đã đầu têu trong việc cấm đảng phái khác hoạt động, để rồi sau này ĐCSVN cũng nối gót sai lầm. Các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa chấp nhận đa đảng, nhưng cũng chỉ là hình thức. Dân chủ xã hội và quyền con người bị bóp nghẹt, khiến tinh thần và trí tuệ cũng bị lụi tàn. Tưởng rằng như vậy thì các đảng cộng sản sẽ rảnh tay, có thể tập trung lực lượng chiến đấu với kẻ thù chính ở hệ thống bên kia, nhưng kết quả thì ngược lại. Kinh tế suy sụp, lòng Dân ly tán, khiến hệ thống chính trị được dày công xây dựng suốt hơn nửa thế kỷ bị phá từ trong phá ra, đổ rụp trong chốc lát, làm cho đối thủ cũng bị bất ngờ đến ngỡ ngàng.

Họa đôi khi cũng là phúc, nếu biết rút ra bài học hợp lý từ thảm họa. Nếu quay ra chấp nhận cạnh tranh một cách dân chủ trong xã hội đa đảng, đa nguyên, ĐCSVN sẽ buộc phải lựa chọn những người lãnh đạo thuộc loại ưu tú nhất, và chắc chắn sẽ chọn được hàng ngũ lãnh đạo tốt hơn gấp bội lần so với đội hình đương nhiệm, kể cả tài lẫn đức. Mọi phần tử thoái hóa, tham nhũng sẽ bị vạch trần và bị đào thải. Trong ba triệu đảng viên không thiếu người tài, người tốt. Vấn đề là phải dùng dân chủ để giải phóng tiềm năng bị độc quyền giam hãm bấy lâu. Không chỉ dựa vào nội lực, dân chủ xã hội còn cho đảng thêm cả sức mạnh từ ngoài đảng. Nếu đảng cầm quyền không tự nhận ra tồn tại yếu kém của mình, thì các đảng đối lập cũng sẽ vạch ra cho. Chẳng cần đến những nghị quyết vô dụng, những màn kịch phê bình – tự phê bình giả dối và lố bịch, thì ĐCSVN vẫn có thể vươn lên, tốt hơn hẳn hiện tại, để được Nhân dân tin tưởng mà trao quyền lãnh đạo.

Tiếc rằng, lãnh đạo của ĐCSVN lại phản ứng như gã tài xế ù lì, chỉ biết nghiến răng tăng ga, khi cỗ xe đang lao xuống đầm lầy. Một mặt, đảng càng suy sụp thì họ càng bóp nghẹt dân chủ trong đảng, dân chủ trong xã hội, và càng hạn chế quyền con người, nhằm duy trì quyền lực bằng bạo lực. Mặt khác, giới cầm quyền tranh thủ tham nhũng, đua nhau vơ vét, tước đoạt cả tài sản của Dân. Chính họ, chứ không phải thế lực thù địch nào khác, đã và đang phá nát ĐCSVN. Trạng thái độc đảng đã triệt tiêu sức chiến đấu và bản năng sống lành mạnh của đảng. Buông thả trong thế độc quyền, ĐCSVN đang tự tha hóa, tự hủy diệt, như cỗ xe không phanh, lao xuống dốc, hướng thẳng tới vực thẳm.

Có ý kiến đề xuất tăng cường dân chủ trong nội bộ đảng để bù lại, để tự gột rửa và điều trị căn bệnh ung thư đã bước sang giai đoạn di căn. Nhưng không thể tồn tại dân chủ trong một đảng độc quyền. Chỉ có dân chủ ngoài xã hội mới thúc đẩy dân chủ trong đảng, chứ không phải ngược lại.

Khước từ dân chủ xã hội, trong đó có thể chế đa đảng, ĐCSVN không chỉ gây thêm thù oán với Dân, mà còn tự tước bỏ khả năng đề kháng và hy vọng chữa trị căn bệnh nan y của chính mình. Sự bảo thủ kiêu ngạo đã bịt mắt giới lãnh đạo, khiến họ cố tình làm ngơ trước thực tế là: Đảng Nhân dân Camphuchia, một đảng từng được ĐCSVN nâng đỡ và phải đương đầu với hoàn cảnh khó khăn gấp bội, vẫn có thể giữ được quyền lãnh đạo đất nước thông qua bầu cử, mà không cần phải bức hại đa nguyên, không cần phải cưỡng bức Hiến pháp.

Cần phải nói thêm rằng: Quy định ĐCSVN là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không có nghĩa nó là lực lượng lãnh đạo duy nhất, càng không phải là đảng duy nhất được phép tồn tại. Do đó, kể cả khi duy trì Điều 4 của Hiến pháp 1992, thì việc ngăn cấm các đảng phái chính trị khác thành lập và hoạt động là vi phạm quyền tự do hội họp, lập hội, được quy định tại Điều 69, Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tử huyệt sở hữu toàn dân về đất đai


Hiến pháp 1946 không đề cập đến đất đai. Hiến pháp 1960 chỉ quy định đất hoang thuộc sở hữu của toàn dân. Nhưng Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 thì quy định (toàn bộ) đất đai thuộc sở hữu toàn dân.


"Sở hữu toàn dân" lại có nghĩa là chẳng người dân nào có quyền sở hữu. Trớ trêu thay, nhân danh "sở hữu toàn dân" để tước đi quyền sở hữu của toàn dân. Những mảnh đất vốn dĩ có chủ, được khai hoang, được trao đổi, mua bán, hay được thừa kế hợp pháp từ bao đời, nay bỗng nhiên trở thành vô chủ. Bộ máy cầm quyền, vốn dĩ chẳng có gì, mà nay lại chiếm được tất cả, trong đó có quyền quyết định về đất đai trong cả nước.

Để vận động hàng chục triệu nông dân giúp đỡ cướp chính quyền, ĐCSVN đã giương khẩu hiệu "dân cày có ruộng". Chữ "có ruộng" ở đây đương nhiên là "sở hữu ruộng đất", chứ không phải chỉ là "có quyền sử dụng đất". Sau khi giành được chính quyền ở miền Bắc, đảng đã lấy ruộng của người giàu chia cho người nghèo, rồi tiếp đó lại vận động nông dân góp ruộng để làm ăn tập thể, trong mô hình hợp tác xã nông nghiệp. Khi đã giành được chính quyền trong cả nước, lãnh đạo ĐCSVN quyết định quốc hữu hóa đất đai, dưới hình thức "sở hữu toàn dân". Nếu biết trước kết cục sẽ mất đất như vậy, liệu hàng triệu người có còn theo đảng, giúp đảng giành chính quyền nữa hay không?

Khi chính quyền tử tế, có khả năng sử dụng đất đai một cách vô tư, hợp lý và công bằng, thì sở hữu toàn dân về đất đai có thể tạo ra một sức mạnh cộng hưởng để xây dựng đất nước. Và người dân có thể tự an ủi rằng mình hy sinh bớt lợi ích cá nhân để phục vụ lợi ích cộng đồng, trong đó có cả bản thân và gia đình mình. Nhưng khi chính quyền tham nhũng thì sở hữu toàn dân về đất đai gây ra đại họa, không chỉ làm khổ muôn dân, mà phá nát cả chính quyền. Chỉ mất mấy giây hạ bút, kẻ mang danh "công bộc" đã có thể vơ về cả đống tiền của, mà một người lao động chân chính lăn lộn cả đời cũng không kiếm nổi. Chỉ với mấy chữ ký loằng ngoằng của mấy kẻ có chức quyền, hàng trăm, hàng ngàn người dân đã bị tước mất đất đai, nơi họ đang làm ăn, sinh sống, trở thành dân oan, lang thang khiếu kiện khắp nơi. Càng duy trì sở hữu toàn dân về đất đai, thì càng gia tăng oán hận của Dân, càng sinh sôi tham nhũng trong tầng lớp lãnh đạo, và càng đẩy nhanh quá trình tự hủy diệt của chế độ.

Bộ máy cầm quyền đầy ắp những kẻ tha hóa, cấu kết với bao kẻ vốn đã lưu manh từ trước khi chen chân vào chốn quan trường. Cái thứ "sở hữu toàn dân" ngon lành và dễ ăn như thế, làm sao kìm nổi lòng tham? Có thể những người đã no nê cũng tán thành tư nhân hóa đất đai, vừa giũ bỏ được cái nguồn kiếm chác béo bở đã trở thành "của nợ", vừa có được quyền sở hữu vĩnh viễn cho số đất đai đã thu gom bấy lâu. Nhưng những vị còn chưa thấy đủ no và những kẻ kế cận đang mong chờ đến lượt mình được vơ vét thì lại không dễ buông tha.

Muốn nuốt thì hóc, mà muốn nhả ra cũng không hề dễ. Tư nhân hóa đất đai thế nào? Trao quyền sở hữu cho ai và trao bao nhiêu? Khi còn là sở hữu toàn dân thì chủ đất cũ đành chịu lặng thinh. Nhưng khi mảnh đất vốn của mình lại được giao cho một người lạ hoắc sở hữu, thì chủ cũ đâu dễ chịu ngồi im. Đất đai vốn dĩ nằm trong trạng thái phân bổ tương đối ổn định và hợp lý về mặt lịch sử, mấy chục năm qua bị đẩy vào tình trạng hỗn loạn. Nếu bây giờ muốn sửa chữa sai lầm, lập lại trật tự, thì lại quá khó. Hoàn cảnh thực tại giống như gã phàm ăn nuốt phải lưỡi câu: Nuốt tiếp thì vướng cước và có thể bị chọc thủng dạ dày, mà lôi ra thì móc vào cổ họng.

Thách thức vượt quá năng lực tư duy và hành động của những đầu óc u mê, trí tuệ giáo điều. Biết làm gì ngoài việc câu giờ, dồn hậu họa lên đầu những người kế nhiệm?

Quả là rất khó để thoát ra khỏi tình trạng sa lầy về sở hữu đất đai. Sai lầm càng lớn thì khắc phục càng khó. Songlãnh đạo ĐCSVN cần xác định rằng họ có trách nhiệm giải thoát Dân tộc ra khỏi bãi lầy, mà chính đảng đã đẩy Dân tộc xuống. Nếu biết huy động trí tuệ của Dân tộc và tạo được sự đồng thuận của Nhân dân, thì khó mấy cũng làm được. Cách làm như thế nào không phải là chủ đề trao đổi của bài này.

Quy định trong Hiến pháp về quyền lãnh đạo đương nhiên của ĐCSVN đối với Nhà nước và xã hội tưởng để đảng trường tồn, nhưng lại là điều khoản khai tử của ĐCSVN, khai tử khỏi lòng Dân và khai tử khỏi cuộc sống chính trị.

Quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý như cỗ máy khổng lồ, từng phút từng giờ đùn ra hàng đống thuốc nổ, nén chặt vào lòng Dân. Nó giống loại ma túy cực độc, có thể thỏa mãn cơn nghiện tham lam vô biên của giới cầm quyền, nhưng cũng tăng tốc quá trình tự hủy diệt của ĐCSVN và chế độ do đảng dựng nên.

Vì vậy, nếu muốn bảo vệ ĐCSVN và chế độ này, thì cần phải nhanh chóng loại bỏ hai quy định đó ra khỏi Hiến pháp.

Ngược lại, nếu muốn gạt bỏ sự lãnh đạo của ĐCSVN, thì có thể sẽ sớm được toại nguyện, nếu tiếp tục duy trì hai quy định ấy trong Hiến pháp, bởi lẽ không có cách phá nào nhanh hơn là tự phá.

Hà Nội, 11/01/2013

Hoàng Xuân Phú
Nguồn: http://hpsc.iwr.uni-heidelberg.de/hxphu ... o-20130111

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

Pháp lên án Việt Nam về bản án đối với 14 nhà hoạt động Công giáo
VOA - Cùng với Hoa Kỳ, Liên hiệp quốc, và các tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới, chính phủ Pháp ngày 11/1 mạnh mẽ chỉ trích các bản án lên tới tổng cộng 83 năm tù mà Tòa án Nhân dân Nghệ An tuyên phạt 14 nhà hoạt động trẻ hôm 9/1 về tội ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’.

Thông cáo trên trang web Bộ Ngoại giao Pháp nêu rằng trong những tháng gần đây, nhà cầm quyền Việt Nam đã đưa ra các bản án nặng tay tương tự đối với các nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền.

Chính phủ Pháp nói những quyết định như thế xâm phạm nghiêm trọng nhân quyền, đặc biệt là quyền tự do bày tỏ quan điểm và tự do lập hội của công dân.

Pháp nhắc nhở Hà Nội các quyền tự do này được bảo đảm trong Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam là một thành viên ký kết. Chính phủ Pháp cũng lưu ý rằng Hiệp hội các nước Đông Nam Á cũng vừa thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền nhằm đảm bảo tôn trọng nhân quyền tại các nước ASEAN trong đó có Việt Nam.
Image
14 người Công giáo và Tin Lành bị cáo buộc 'thực hiện các hành động nhằm lật đổ chính quyền'
(ảnh: thanhnienconggiao).

Cùng ngày 11/1, Văn phòng Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền (OHCHR), cũng đã lên tiếng bày tỏ quan ngại sâu sắc về việc Việt Nam kết tội 14 nhà hoạt động Công giáo.

Trong cuộc họp báo tại Geneva, phát ngôn viên của OHCHR, ông Rupert Colville, kêu gọi chính phủ Việt Nam xét lại việc dùng Luật Hình sự để bỏ tù những người chỉ trích chính sách nhà nước và duyệt xét lại tất cả các trường hợp tương tự vi phạm quyền tự do ngôn luận và lập hội của công dân.

Ông Colville nói rằng vụ án của 14 thanh niên Công giáo cùng với việc bắt giữ luật sư nhân quyền Lê Quốc Quân là bằng chứng cho thấy Việt Nam cấm cản các tiếng nói chỉ trích nhà nước.

14 nhà hoạt động ôn hòa cổ xúy cho dân chủ và công bằng xã hội bị cáo buộc tham gia với đảng Việt Tân có trụ sở ở Mỹ, một tổ chức chính trị đấu tranh cho dân chủ Việt Nam mà Hà Nội gọi là một tổ chức ‘khủng bố’ dù Hoa Kỳ nói không có bằng chứng cho thấy Việt Tân cổ xúy bạo động.

http://www.voatiengviet.com/content/pha ... 83288.html

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Image

'Nhịn đến mức hèn là không được'

BBC -

Trước sự e dè của truyền thông Việt Nam không chỉ đích danh Trung Quốc trong các sự kiện lịch sử như chiến tranh biên giới năm 1979 hai các cuộc hải chiến trên Biển Đông, ông Dương Danh Dy, nguyên tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, cho biết ông cũng thấy bất bình. "Tôi không biết ai ra lệnh cấm. Tôi đang tìm hiểu để phê phán đích danh," ông nói và cho biết việc cấm kỵ về Trung Quốc đã trở thành 'bắt buộc không anh nào dám đụng đến cả'.

"Nó xâm lược mình, đánh mình như thế mà mình không dám nói đến là sao?," ông nói.

Theo ông Dy thì mặc dù Việt Nam e dè không dám đụng chạm đến Trung Quốc thì các trang mạng Trung Quốc mà ông theo dõi hàng ngày 'vẫn nói đó (chiến tranh biên giới) là cuộc chiến tự vệ do Việt Nam bài Hoa'.

"Trung Quốc nói thoải mái về cuộc chiến năm 1979. Quan điểm chính thức của họ coi cuộc chiến đó là chính nghĩa. Họ nói xấu m̀inh không còn trời đất gì cả và đến giờ cũng vẫn liên tục luận điệu đó mà phía ta vẫn im thin thít."

Theo ông thì các lãnh đạo Việt Nam 'biết quá nhưng giả điếc' và không ai 'dám bước qua ranh giới này', ông cho biết.

Khi được hỏi liệu đề cập thẳng thắn đến chiến tranh biên giới thì có làm Bắc Kinh mất lòng hay không, ông Dy nói rằng 'mất lòng hay không thì cũng phải nói'.

"Họ đem 60 vạn quân sang giết đồng bào ta, phá hoại nhà cửa của ta mà mình im lặng là hèn," ông nói, "Cũng như với Mỹ không đánh nhau nữa nhưng vẫn nói về Mỹ có sợ Mỹ mất lòng đâu mà tại sao lại sợ Trung Quốc".

Còn về sự đối xử với các liệt sỹ đã hy sinh dưới tay Trung Quốc, ông Dy nói rằng cách đối xử của Nhà nước 'không những không công bằng mà phải nói là vô ơn, bất nhân'.

"Cùng là hy sinh nếu hy sinh chống Mỹ chống Pháp thì được nói công khai gia đình là thương binh liệt sỹ còn hy sinh trong chiến tranh biên giới thì lại không được công khai," ông giải thích.

"Hoàng Sa và Trường Sa các chiến sỹ hy sinh các chế độ chính sách vẫn lặng lẽ thi hành nhưng không dám nêu gương công khai như là những anh hùng," ông nói thêm.

Ông cho rằng thái độ của Nhà nước đối với Trung Quốc có thể giải thích là 'nhẫn nhịn với Trung Quốc đến lúc không nhịn được thì thôi' và phải 'sau này nhìn lại thì mới phê phán được'.


"Nhưng nhẫn nhịn quá mức đến chỗ hèn là không được."

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multime ... _war.shtml

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image
Linh mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh

“Sống dưới chế độ độc tài toàn trị, ý chí người dân bị tê liệt vì sợ hãi”

Tối 26/2, tại Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp 38 Kỳ Đồng, trong thánh lễ cầu nguyện cho công lý và hòa bình, cha Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, Ofm. đã chia sẻ những suy tư và cả những ưu tư của mình về cách thức sống một mùa chay thánh ý nghĩa.

Bằng cung giọng mạnh mẽ vẫn thường thấy, sau khi cho thấy Kinh thánh nói gì về việc ăn chay và ăn chay sao cho đẹp lòng Chúa, bằng những minh chứng cụ thể, ngài kết luận: “Là tín hữu Chúa Ki-tô, bước vào Mùa Chay nếu ta đặt câu hỏi : ta phải làm gì đây, phải cố gắng sống thế nào cho đẹp lòng Chúa, thì quan ngôn sứ I-sai-a, Chúa đã cho chúng ta câu trả lời. Không những thế, Chúa còn cho ta những tấm gương sống động như đã nói trên đây, và còn biết bao nhiêu tấm gương khác nữa. Tất cả đang trả giá để bày tỏ lòng yêu nước trước hiểm hoạ xâm lăng, để nói lên khát vọng tự do dân chủ, để đấu tranh cho công lý, cho hoà bình. Họ không phải là những người ngồi trước bàn phím ung dung đặt câu hỏi : phải lên tiếng hay không lên tiếng. Họ cũng không dừng lại nơi những kiến thức thâu thập được từ những buổi tập huấn về học thuyết xã hội của Giáo Hội Công Giáo, và cứ coi như học thuộc bài để trả cho thầy là xong.’

Chúng tôi trân trọng gửi tới quý độc giả nội dung bài chia sẻ này.

Cầu nguyện cho Công Lý & Hoà Bình

Cũng như trong các thánh lễ 8 giờ tối Chúa nhật cuối mỗi tháng tại nhà thờ Kỳ Đồng này từ ít lâu nay, hôm nay chúng ta cầu nguyện cho Công Lý & Hoà Bình. Việc đạo đức này đặc biệt thích hợp trong Mùa Chay như chúng ta sẽ thấy.

Cao điểm của Năm Phụng Vụ chính là Tam Nhật Vượt Qua trong đó Hội Thánh họp mừng Chúa Ki-tô chết và phục sinh để hoàn tất công trình cứu độ. Và để chuẩn bị mừng biến cố trọng đại đó, chúng ta có đến 40 ngày, đó là Mùa Chay bắt đầu từ thứ Tư lễ Tro vừa rồi. Hai chữ “Mùa Chay” trong tiếng Việt chúng ta thì ngắn gọn, tiện dụng, nhưng lại nghèo về ý nghĩa, trong khi tiếng gốc La-tinh chỉ có nghĩa là Mùa 40. Con số này nhắc ta nhớ đến cuộc hành trình 40 năm của dân Do-thái từ nơi lưu đày về đất hứa, từ nô lệ đến tự do. Con số 40 cũng làm ta liên tưởng đến cuộc hành trình của ngôn sứ Ê-li-a lên đường đi gặp Chúa. Cuối cùng và đặc biệt hơn nữa con số 40 làm ta liên tưởng đến 40 ngày Đức Giê-su sống trong hoang địa để chịu ma quỷ cám dỗ như ta vừa thấy trong bài Tin Mừng hôm nay.

Thế nào là ăn chay ?

Trong bài Tin Mừng ngày thứ Tư lễ Tro Hội Thánh muốn chúng ta nghe chính Chúa Giê-su đề ra cho chúng ta những mục tiêu cần cố gắng đạt tới, đó là ăn chay, cầu nguyện và làm việc bác ái. Không những thế, Chúa Giê-su còn chỉ cho thấy người môn đệ của Ngài phải thực thi các việc đó như thế nào, theo tinh thần nào, mới đích thực là môn đệ của Ngài.


Linh mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh trong thánh lễ cầu nguyện cho công lý và hòa bình tối 26/2/2012, tại nhà thờ Kỳ Đông

Rồi tiếp theo sau những lời giáo huấn của Chúa Giê-su, ngày thứ Sáu vừa qua trong bài đọc 1 trong thánh lễ, Hội Thánh lại mời ta nghe ngôn sứ I-sai-a diễn giải thế nào là ăn chay. Tôi chỉ xin đọc mấy câu sau đây :

“Cúi rạp đầu như cây sậy cây lau,
nằm trên vải thô và tro bụi,
phải chăng như thế mà gọi là ăn chay
trong ngày các ngươi muốn đẹp lòng Đức Chúa ?
Cách ăn chay mà Ta ưa thích
chẳng phải là thế này sao :
mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc,
trả tự do cho người bị áp bức,
đập tan mọi gông cùm ?
Chẳng phải là chia cơm cho người đói,
rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ ;
thấy ai mình trần thì cho áo che thân,
không ngoảnh mặt làm ngơ
trước người anh em cốt nhục ?” (Is 58,5b-7)
Ăn chay sao cho đẹp lòng Chúa

Điều không thể chối cãi là hai chữ ăn chay làm ta nghĩ đến khổ chế, đến việc hy sinh hãm mình. Đó là những cố gắng nhằm giúp ta cụ thể hoá lòng thành của chúng ta khi muốn từ bỏ tội lỗi để trở về với Chúa. Thế nhưng điều Chúa muốn căn dặn chúng ta qua lời ngôn sứ I-sai-a là bấy nhiêu thôi thì chưa đủ, cũng chưa phải là việc chính yếu nếu ta muốn làm đẹp lòng Ngài, muốn tìm lại ân nghĩa xưa đã mất. Thế thì phải làm gì? Chúa dạy ta :

Cách ăn chay mà Ta ưa thích…

(là) mở xiếng xích bạo tàn, tháo gồng cùm trói buộc,
trả tự do cho người bị áp bức,
đập tan mọi gông cùm…
…chia cơm cho người đói v.v…

Những ý tưởng này sẽ được chính ngôn sứ I-sai-a lấy lại khi đề cập đến Người Tôi Trung. Và đến lượt Đức Giê-su thì chính Ngài sẽ dựa vào đó để minh định sứ mạng cứu thế của Ngài khi tuyên bố : “Thần Khí Đức Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Đức Chúa” (Lc 4,18-19).

Mùa Chay : Cầu nguyện cho Công Lý & Hoà Bình

Thế thì không có gì hợp lý hơn khi khởi đầu Mùa Chay mà chúng ta cầu nguyện cho Công Lý & Hoà Bình, vì sứ mạng người Ki-tô hữu chúng ta không là gì khác hơn là cộng tác vào công trình cứu độ của Chúa Giê-su. Do đó thật là thích họp khi chúng ta cử hành thánh lễ hôm nay mà tưởng nhớ đến tất cả những nạn nhân của tàn ác, bất công, gian dối trên thế giới, đặc biệt nơi chính quê hương yêu dấu của chúng ta. Đó là những người dân oan bị mất đất, mất phương tiện sinh sống do một chính sách mang dáng vẻ công bằng khi khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng thực chất chỉ tạo điều kiện cho đám quan tham thành những tên cướp ngày. Đó là những ngư dân bị giặc Tàu bắt ngay trong lãnh hải Việt Nam, những công nhân bị chủ nhân bóc lột tàn tệ mà không được bảo vệ, những người đi lao động nước ngoài bị lừa gạt, những phụ nữ, thậm chí trẻ em bị biến thành nô lệ tình dục, và còn biết bao thứ nạn nhân nữa, kể sao cho xiết !

Nhưng ở đây tôi muốn đặc biệt nói đến những người hiện đang bị giam cầm, tù tội. Đó là những người chấp nhận bao thiệt thòi, bao phiền toái cho bản thân và gia đình, chấp nhận hy sinh sự nghiệp, hy sinh hạnh phúc cá nhân, chấp nhận tù đày, thậm chí chấp nhận cả cái chết. Để làm gì ? Thưa để nói lên, để gào thét lên khát vọng thấy nhân quyền được tôn trọng, người dân sống tự do, đất nước có dân chủ, quốc gia được độc lập, lãnh thổ cũng như lãnh hải được bảo toàn. Những con người như thế, đúng là tinh hoa của dân tộc. Bất chấp những gì bị gán ghép cho họ, cái tội của họ là yêu tự do, yêu dân chủ, cái tội tày đình của họ là yêu nước, yêu một cách thiết tha, họ đã biểu lộ tình yêu đó một cách công khai, dũng cảm, và đã trả giá cho tình yêu đó bằng chính cuộc đời mình.

Những trường hợp điển hình

Có những tù nhân “chuyên nghiệp”, bởi sau khi được tha đã bị bắt trở lại như các ông Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Bắc Truyển, linh mục Nguyễn Văn Lý. Có những người ở độ tuổi trung niên như ông Vi Đức Hồi, tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, anh Điếu Cày, hay chị Bụi Thị Minh Hằng.

Điều đáng để ý là có một số khá đông bạn trẻ thay vì hưởng thụ hay chấp nhận sống an phận thủ thường đã dấn thân tranh đấu cho chính nghĩa. Chẳng hạn các bạn Nguyễn Tiến Trung, Phạm Thanh Nghiên, Đỗ Thị Minh Hạnh, Paulus Lê Sơn, Huỳnh Thục Vy, hay 17 bạn sinh viên gốc Vinh bị bắt từ nhiều tháng nay mà chưa ai rõ vì tội danh gì.

Đoàn Văn Vươn

Trong số những người bị bắt, có hai nhân vật nổi bật trong lúc này, trước hết là anh Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, người cựu quân nhân, kỹ sư nông nghiệp đã trắng tay sau 10 năm trời đầu tư tiền bạc và công sức, cuối cùng đã phải dùng đến vũ khí tự tạo để cất lên tiếng nói của con người chẳng còn gì để mất. Thật ra thì câu chuyện anh Đoàn Văn Vươn cũng không khác gì câu chuyện của bao nhiêu dân oan từ bắc chí nam mất nhà mất đất cách oan uổng, bất công, phi lý từ mấy chục năm nay rồi. Có khác chăng là anh Vươn dám phản ứng.

Nay thì đã rõ : việc thu hồi đất của anh Vươn là một việc làm sai luật pháp, do đó hành động của anh Vươn là một hành động tự vệ chứ không phải là chống người thi hành công vụ. Cần nói thêm rằng đây chỉ là mấy món vũ khí thô sơ, loại đạn hoa cải hoa cà gì đó, nếu trúng xa xa thì chỉ đủ làm trầy da, chảy máu là cùng. Thế nhưng mấy món đồ chơi đó đủ sức làm cho mọi người nghiệm ra sức mạnh của người dân khi bị đẩy đến bước đường cùng. Mai đây, khi không chỉ có một Đoàn Văn Vươn, nhưng cả trăm cả ngàn và nhiều hơn nữa, thì mọi thứ vũ khí trong tay nhà cầm quyền đều trở nên vô hiệu. Từ mấy chục năm nay đã có biết bao dân oan kêu ca, khiếu nại, hết địa phương tới trung ương mà tuyệt đại đa số các vụ khiếu kiện có được tích sự gì đâu. Nay phát đạn hoa cải của anh Đoàn Văn Vươn cho mọi người hiểu là tiếng kêu oan của anh đã vọng tới trời.

Có thể nói không quá lời rằng lần đầu tiên tiếng nói của dân oan Đoàn Văn Vươn đã tạo nên một dư chấn khiến chính quyền Việt Nam không thể tiếp tục chơi bài lỳ, nhưng đã buộc phải lên tiếng. Ai theo dõi tình hình cũng nhận ra rằng biến cố này là một cột mốc quan trọng trong cuộc đấu tranh đòi công lý. Chính vì vậy mà nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã vô cùng phấn khởi khi sáng tác bài thơ mang tựa đề “Gió Tiên Lãng”. Tôi xin trích một đoạn sau đây:

Lần đầu trong thời cộng sản
một người nông dân bắn vào chính quyền
đã chiến thắng.
Đoàn Văn Vươn,
gió Tiên Lãng thổi anh ra khắp nước
lấy mạng sống giữ ruộng vườn
khi chính quyền thành bọn cướp
từ thân phận con lươn
anh nổ súng trước
để được làm con người ;
đất của dân, máu và nước mắt
sao cướp ngày đến cướp mồ hôi ?
Chính quyền đối thoại với dân bằng súng,
cướp nhà cướp đất quen rồi ;
vụ cướp đầm tôm xã Vinh Quang, Tiên Lãng
súng của dân đã cất lời,
cả nước bênh người nông dân liều mạng,
lịch sử bừng hoa cải gió xuân ơi !…


Và bài thơ của Trần Mạnh Hảo kết thúc bằng mấy câu sau đây :

Đoàn Văn Vươn,
anh phải bắn để còn chân lý
chứng tỏ mình còn là người
khi lòng dân biến thành vũ khí
chính quyền sao nhốt được gió trời ?
Đoàn Văn Vươn
không ai nhốt được lịch sử
không ai bỏ tù được quê hương
gió Tiên Lãng dựng biển bờm sư tử
gió hoa cà hoa cải gió tình thương…


Chẳng phải ai cũng có tài làm thơ như Trần Mạnh Hảo, nhưng tiếng súng Đoàn Văn Vươn không chỉ gây hứng khởi cho Trần Mạnh Hảo, đó là điều ta không thể nghi ngờ.

Việt Khang

Nhân vật thứ hai tôi muốn đề cập tới hôm nay là anh Việt Khang, người nhạc sĩ trẻ miệt vườn tỉnh lẻ chí mới được biết đến thời gian gần đây đặc biệt qua hai bài hát mang tựa đề “Việt Nam tôi đâu ?” và “Anh là ai ?” Tác giả đã chứng kiến cảnh những người đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược bị săn đuổi, đấm đá, có người bị giẫm lên mặt, một số bị bỏ tù. Và rồi người nghệ sĩ của chúng ta vừa đau xót, vừa ngỡ ngàng, đã thảng thốt đặt câu hỏi qua bài hát :

Xin hỏi anh là ai ?
Sao bắt tôi, tôi làm điều gì sai ?
Xin hỏi anh là ai ?
Không cho tôi xuống đường để tỏ bày
tình yêu quê hương này,
dân tộc này đã quá nhiều đắng cay.


Và đến đây thì người nhạc sĩ như nghẹn ngào trước viễn tượng mất nước, đau đớn và kinh ngạc trước cách hành xử tàn ác thô bạo của những người tự nhận là “bạn dân”. Việt Khang tiếp tục đặt câu hỏi :

Xin hỏi anh ở đâu
ngăn bước tôi chống giặc Tàu ngoại xâm ?
Xin hỏi anh ở đâu
sao mắng tôi bằng giọng nói dân tôi ?
Dân tộc anh ở đâu
sao đang tâm làm tay sai cho Tàu
để ngàn sau ghi dấu
bàn tay nào nhuộm đầy máu đồng bào ?
Và những câu tiếp theo cũng na ná như một lời tuyên xưng đức tin :
Tôi không thể ngồi yên
khi nước Việt Nam đang ngả nghiêng,
dân tộc tôi sắp phải đắm chìm
một ngàn năm hay triền miên tăm tối !
Tôi không thẻ ngồi yên
để đời sau cháu con tôi làm người
cội nguồn ở đâu
khi thế giới này đã không còn Việt Nam ?


Bài hát này không chỉ gây cảm xúc cho người Việt mà còn cho cả người nước ngoài quan tâm theo dõi thời cuộc ở Việt Nam. Chính vì vậy mà bài “Anh là ai” đã được chuyển qua Pháp ngữ, và được ca sĩ Antoine Figali hát để những người sử dụng tiếng Pháp cũng hiểu được nỗi niềm của Việt Khang, của mọi người Việt yêu nước, yêu độc lập, yêu tự do dân chủ.

Tiếng hát của Việt Khang không hừng hực lửa đấu tranh, lời ca không cầu kỳ, mang dáng vẻ đơn sơ, bình dị nếu không nói là ngây thơ như lời thỏ thẻ của một em bé, nhưng đàng sau cái giọng hiền hoà gần như yêu đuối là cả một ý chí sắt đá không biết đến sợ hãi, bên cạnh cái ngỡ ngàng day dứt là cả một lòng yêu nước tha thiết nồng nàn. Chính vì vậy mà tiếng hát Việt Khang đã xé lòng người Việt tha hương đến độ chỉ riêng tại Hoà Kỳ và chỉ trong hơn 10 ngày đã có hơn 50.000 người ký thỉnh nguyện thư nhằm ủng hộ những người đang đấu tranh cho tự do dân chủ, đang đòi hỏi nhân quyền cho Việt Nam.

Thời sự dưới ánh sáng Lời Chúa

Qua những câu chuyện thời sự tôi vừa trình bày, rõ ràng là Lời Chúa toả ánh sáng lên những gì đang diễn ra trên đất nước chúng ta. Là tín hữu Chúa Ki-tô, bước vào Mùa Chay nếu ta đặt câu hỏi : ta phải làm gì đây, phải cố gắng sống thế nào cho đẹp lòng Chúa, thì quan ngôn sứ I-sai-a, Chúa đã cho chúng ta câu trả lời. Không những thế, Chúa còn cho ta những tấm gương sống động như đã nói trên đây, và còn biết bao nhiêu tấm gương khác nữa. Tất cả đang trả giá để bày tỏ lòng yêu nước trước hiểm hoạ xâm lăng, để nói lên khát vọng tự do dân chủ, để đấu tranh cho công lý, cho hoà bình. Họ không phải là những người ngồi trước bàn phím ung dung đặt câu hỏi : phải lên tiếng hay không lên tiếng. Họ cũng không dừng lại nơi những kiến thức thâu thập được từ những buổi tập huấn về học thuyết xã hội của Giáo Hội Công Giáo, và cứ coi như học thuộc bài để trả cho thầy là xong.

Kết luận

Sống dưới chế độ độc tài toàn trị, ý chí người dân bị tê liệt vì sợ hãi. Đó là lý do khiến nhạc sĩ Tô Hải trong cuốn Hồi Ký của ông đã tự nhận mình là một “thằng hèn”. Điều hiển nhiên là khi công khai nhìn nhận mình là một “thằng hèn”, Tô Hải không còn là một thằng hèn nữa. Có điều phải vượt qua tuổi 70 Tô Hải mới công khai nhìn nhận điều đó. Còn Việt Khang và những bạn trẻ tôi đề cập đến trên đây không chờ đến khi mắt mờ chân chậm mới bày tỏ khát vọng tự do, dân chủ, mới dấn thân đấu tranh cho công lý, mới tìm cách thể hiện lòng yêu nước và chấp nhận trả giá.

Hôm nay, chúng ta họp nhau để cầu nguyện cho công lý và hoà bình, để tôn vinh Thiên Chúa là Đấng làm Chủ lịch sử. Qua những diễn biến ở Bắc Phi và Trung Đông, điều hiển nhiên là khát vọng dân chủ tự do đang đẩy lùi các chế độ độc tài toàn trị, mời gọi chúng ta xác tín rằng không có gì mà Thiên Chúa không làm được. Có điều Thiên Chúa cần chúng ta tiếp tay với Ngài. Ước gì chúng ta đừng để cho Thiên Chúa thất vọng.

Post Reply