Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Ðảng Cộng Sản đang tan rã

Ngô Nhân Dụng


Các chế độ cộng sản chiếm được chính quyền theo phương cách giống nhau, nhưng khi suy tàn thì mỗi đảng cộng sản tan rã theo một cách khác nhau. Anh hay đọc Lev Tolstoi thì nhận ra ngay cả câu này nhại theo câu mở đầu một tiểu thuyết nổi tiếng của ông (Anna Karenina).

Các đảng cộng sản lên nắm quyền đều dùng vũ lực, như Lenin nói, “Chiến tranh là bà mụ đỡ cho cách mạng.” Hoặc Mao nói, “Súng đẻ ra quyền.” Nhưng các chế độ cộng sản ở Liên Xô và Ðông Âu khi sụp đổ thì mỗi nơi bể vỡ một kiểu. Ðảng Cộng Sản Ba Lan tự chuyển giao quyền hành cho Công Ðoàn Ðoàn Kết sau khi lâm cảnh hoàn toàn bế tắc. Ðông Ðức, Tiệp Khắc phải nhượng bộ ý nguyện của người dân, sau các cuộc biểu tình dồn dập. Hungary đã bắt đầu thay đổi từ vài chục năm rồi nhưng phải đợi đến năm 1989 mới sụp đổ, một cách ôn hòa. Cộng sản Rumania hoàn toàn nhắm mắt bịt tai, cưỡng lại đến cùng; đưa tới cái chết thảm khốc của vợ chồng lãnh tụ sau cùng. Cộng Sản Nga khởi đầu chuyện thay đổi, cốt tìm đường tự cứu vãn, hy vọng nhờ thế sẽ cai trị lâu dài hơn; nhưng cuối cùng không tự cứu nổi, biết là hết thuốc chữa. Một yếu tố quyết định tình trạng sụp đổ của các chế độ cộng sản trên là trình độ nhận thức của người dân trong các nước đó đã lên cao đến mức chín mùi. Khi chế độ cộng sản sụp đổ, mọi người đều thở phào nhẹ nhõm, kể cả các đảng viên. Không một chi bộ đảng nào đưa một ngón tay ra để cứu đảng.

Ðảng Cộng sản Việt Nam sẽ tan rã như thế nào? Ðây là một câu hỏi cần nêu lên, càng sớm càng tốt. Thứ nhất, vì điều đó chắc chắn xẩy ra, cứ theo như tình hình nội bộ ung thối của họ cũng như trình độ nhận thức của người dân Việt Nam đã lên cao. Thứ hai, vì cần đoán trước cảnh tan rã của đảng Cộng sản sẽ diễn ra làm sao thì người Việt mới có thể trù tính việc xây dựng chế độ dân chủ tự do sắp tới phải tiến hành thế nào. Cần chuẩn bị ngay từ trước, nếu không thì sẽ lúng túng kéo dài thời kỳ chuyển tiếp quá lâu, tại hại cho tương lai dân tộc. Phải nói rằng việc xóa bỏ chế độ cộng sản ở nước ta bây giờ không phải là điều khó nữa. Nhưng sau đó thì công việc xây dựng lại đất nước mới sẽ khó gấp trăm, gấp ngàn lần. Nhất là sau khi đất nước ta đã bị đảng Cộng sản phá cho hư nát từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới. Ðây là một đề tài người Việt Nam cần thảo luận với nhau, có thể nên viết thành cả cuốn sách ngay từ bây giờ.

Ðảng Cộng sản Việt Nam đang tan rã. Ðây là một sự thật.

Ðó là một tập đoàn tham nhũng, thối nát và hoàn toàn bất lực trước các khó khăn kinh tế của người dân. Nhưng họ nhất định khư khư ôm lấy chính quyền không chịu nhả ra. Họ sẵn sàng đàn áp những đòi hỏi của “dân oan” bị bóc lột và tiếng nói của giới trí thức trung thực muốn cứu vãn đất nước. Từ mấy năm nay trong đảng Cộng sản họ la hoảng về “diễn biến hòa bình,” chuyển sang báo động tình trạng “tự diễn biến.” Tất cả cho thấy chính họ biết ngày tàn đang sắp tới; hiện tượng tự diễn biến là có thật. Không phải tự diễn biến về tư tưởng, đường lối nào cả, vì bây giờ đâu còn ai chứa tí ti tư tưởng nào nữa! Tình trạng tự diễn biến xẩy ra trong lãnh vực cơ cấu quyền lực. Nói giản dị, là không biết ai có quyền gì, ai phải nghe theo ai; nói cách khác, thằng nào được ăn miếng lớn, thằng nào phải ăn miếng nhỏ. Nếu diễn biến hòa bình là may mắn. Bế tắc quá thì sẽ diễn biến mà không được hòa bình. Ðể giải quyết vấn đề cơ cấu quyền lực người ta đang sẵn sàng lên đài đấu võ chết thôi. Biết tình trạng suy tàn đang tiến tới trước mắt, nhưng đám người đang hưởng những đặc quyền đặc lợi không thể tự cởi các dây trói chằng chịt để thoát khỏi ngõ bí. Bởi vì hễ một tay đầu sỏ muốn cởi bỏ một chỗ này thì lập tức có tay đầu sỏ khác thấy sắp mất phần ăn, nhẩy vào phá đám, đòi cởi bỏ chỗ khác. Tóm lại, hết thuốc chữa.

Các tay đầu sỏ biết nạn tham nhũng là hố sâu sẽ chôn vùi đảng. Nhưng tham nhũng cũng là sợi dây liên kết cả đảng lại với nhau. Nếu không có tham nhũng, nếu không hy vọng dùng quyền lực để làm giầu cho gia đình, thì các đảng viên cầm quyền đâu còn thấy lý do nào để bảo vệ ách độc tài của đảng? Không thể nào chấm dứt tham nhũng nếu còn chế độ độc tài, cho nên họ chỉ còn cách dùng món võ tố tham nhũng làm khí cụ hại lẫn nhau.

Cuộc đấu đá công khai trong vụ Nguyễn Bá Thanh là một thí dụ dễ thấy nhất. Nguyễn Phú Trọng đưa Nguyễn Bá Thanh về Hà Nội coi Ban Nội Chính để dùng Thanh tấn công Nguyễn Tấn Dũng. Sau khi đem được ủy ban chống tham nhũng về trong tay, Nguyễn Phú Trọng thật ra cũng không biết có cách nào diệt phe Dũng hay không. Thanh có thể đóng vai tiên phong tấn công vào thành trì kiên cố của đồng chí Ếch.

Ðồng chí Ếch bèn ra tay trước. Thanh tra Nguyễn Ðức Hạnh tố giác những vụ thất thoát ở Ðà Nẵng, căn cứ địa của Nguyễn Bá Thanh làm thiệt hại công quỹ hàng ngàn tỷ đồng. Thủ đoạn tiết lộ bản báo cáo của thanh tra nhắm triệt hạ uy tín của Nguyễn Bá Thanh, giống như chặt chân ngựa trước khi tướng tiên phong này lên ngựa! Ngày hôm sau, phe Nguyễn Bá Thanh lập tức phản công, bác bỏ tất cả những kết luận của nhóm thanh tra.

Khi đọc cả bản báo cáo của Nguyễn Ðức Hạnh và lời phản công của đàn em Thanh là Văn Hữu Chiến, người ta thấy bản chất của chế độ trong việc bóc lột người dân. Vấn đề lớn nhất là của người dân là Ðất. Tai họa của bao nhiêu “dân oan mất đất,” của bao nhiêu anh Ðoàn Văn Vươn từ mấy chục năm nay là đảng Cộng sản đã có đủ cách bóc lột người dân qua chính sách ruộng đất để làm giầu cho nhóm lãnh tụ lớn nhỏ đang nắm quyền, từ trung ương xuống tới cấp thành phố, cấp huyện, cấp xã.

Ðọc những lời biện bạch của Văn Hữu Chiến, chúng ta thấy rõ mấy điều. Thứ nhất là các cán bộ địa phương nắm toàn quyền về việc phân phối quyền sử dụng đất. Họ định giá đất bao nhiêu, trao quyền sử dụng cho người nào, đó là lợi khí làm giầu mà họ chiếm độc quyền. Quyền của họ dựa trên Hiến Pháp, nói rằng tất cả đất, ruộng là của công, và đảng Cộng sản chiếm độc quyền lãnh đạo. Dựa trên hai điều đó, các cán bộ tha hồ thao túng các luật lệ về đất đai để làm giầu.

Nhưng luật lệ về đất đai lại thay đổi như tin khí tượng, có lúc nói thế này, có lúc nói khác đi. Luật lệ lại mơ hồ, như khi nói “tùy từng thời điểm,” để các cán bộ nắm quyền tha hồ giải thích theo quyền lợi của mình. Trong vụ tranh cãi về đất đai ở Ðà Nẵng ta thấy cảnh bên nào cũng có thể biện minh cho công việc cấp phát quyền sử dụng đất của họ. Nói là thiên vị, dĩ công vi tư, làm giầu cho phe đảng cũng đúng. Nói ngược lại, cũng đúng nốt!

Tất cả chỉ vì những luật lệ về đất đai luôn thay đổi chủ yếu là lúc nào cũng giữ một ý tưởng, là mọi quyền quyết định về giao đất cho ai sử dụng đều nằm trong tay nhóm cán bộ cầm đầu ở địa phương. Các luật lệ đặt ra lung tung, chằng chéo, nhưng các cán bộ lúc nào cũng nắm nắm quyền giải thích luật theo ý mình, tức là theo quyền lợi của phe mình. Văn Hữu Chiến nêu ra một thí dụ ai cũng phải thấy là “kinh khủng,” nếu không sống trong chế độ cộng sản. Một người được giao quyền sử dụng đất với giá là 100 tỷ đồng. Nếu đi vay ngân hàng thì chỉ vay được 60 tỷ thôi. Người đó chuyển quyền cho chị em ruột, với giá mới là 600 tỷ; để có thể tới ngân hàng vay được 360 tỷ!

Không có một nền kinh tế nào trên thế giới lại để xẩy ra hiện tượng kỳ lạ như vậy! Nên nhớ là những đồng tiền mà ngân hàng đem cho vay là tiền của người dân ký thác trong đó. Nên nhớ là đất công là của toàn dân, chứ không phải do đảng Cộng sản làm ra. Bây giờ đảng nắm quyền quyết định giá bán là 100 tỷ, rồi người mua vẫn dựa theo luật lệ dùng đất cầm thế mà đi vay được 360 tỷ. Họ dùng hàng trăm tỷ bạc đó làm gì, dân chúng không ai được biết hết! Sau cùng, họ có hoàn trả được ngân hàng món tiền vay hay không, cũng không người dân nào được biết. Một chính quyền thực sự do dân cử ra, trong một xã hội tự do dân chủ và nền kinh tế có luật lệ, sẽ không bao giờ cho phép những quái thai kinh tế như vậy xuất hiện! Còn ở nước ta, người ta kể ra những chuyện như vậy lại cốt để biện minh là mình vô tội!

Vậy nguồn gốc tội lỗi nằm ở đâu? Tại sao ở nước ta câu chuyện “khủng long thời tiền sử” này lại xẩy ra? Tất cả chỉ vì đảng Cộng sản nắm toàn quyền, quyền hành vô giới hạn; cho phép các cán bộ thao túng, sử dụng đất, sử dụng đồng tiền của người dân theo quyền lợi riêng của họ!

Các lãnh tụ cộng sản đã ngồi mát ăn bát vàng như vậy từ mấy chục năm nay. Vì họ tranh giành miếng ăn, xâu xé lẫn nhau cho nên người dân mới được thấy rõ những hiện tượng kỳ quái như thế. Cuộc đấu giữa các lãnh tụ cộng sản phơi bày bộ mặt thật của chế độ.

Không biết trong thời gian tới vụ cãi lộn giữa Nguyễn Ðức Hạnh với Văn Hữu Chiến và Nguyễn Bá Thanh sẽ đi tới đâu. Không biết cuộc đấu đá giữa Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng sẽ đi tới đâu. Tất cả là dấu hiệu cho thấy họ khó “tự diễn biến” trong hòa bình được. Chế độ đang trên đường tan rã.

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Rõ ràng, nó đã nói như thế: ‘Không nên biểu tình’
Võ Long Triều


Ðầu tháng 1 năm 2013, Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ, khẳng định:
“Biểu tình chống Trung Quốc là chuyện không nên, hoàn toàn không có lợi, sẽ gây mất ổn định.”
Ngoài ra “Việt Nam và Trung Quốc có di sản quí báu hàng đầu là sự tương đồng ý thức hệ.”

Image
Trong khi quan chức cao cấp của quân đội CSVN nói “biểu tình chống Trung Quốc là chuyện không nên...” thì người dân Việt Nam
vẫn luôn chống đối kẻ láng giềng phương Bắc. Trong hình, người biểu tình hôm 9 tháng 12, 2012 tại Hà Nội giương biểu ngữ đả đảo Tập Cận Bình.
(Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Tướng Vịnh còn phát biểu thêm rằng: “Nếu có một người bạn Xã Hội Chủ Nghĩa rất lớn bên cạnh ủng hộ mình và hợp tác cùng có lợi thì sẽ vô cùng thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam.” Nói như vậy mà ông Vịnh có hiểu được CNXH là cái gì không? Ông hãy nghe Giáo Sư Trần Phương, nguyên phó thủ tướng, nguyên phó chủ nhiệm Ủy Ban Kế Hoạch Nhà Nước, phát biểu trong hội thảo góp ý văn kiện Ðại Hội Ðảng XI như sau: “Các ông xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội từ năm 60 đến năm 80, các ông theo tư tưởng giáo điều, mà cái giáo điều nầy tôi nói là ông Mác sai. Tôi hỏi các anh đây, các anh là người đọc sách nhiều nhất, tôi hỏi các anh Chủ Nghĩa Xã Hội bây giờ là cái gì? Tôi đố các anh trả lời được đấy.”

Vậy thì Tướng Vịnh chỉ lập lại bài học thuộc lòng ca ngợi Trung Quốc và bênh vực cho sự hàng phục Bắc Kinh mà thôi.

Ngoài ra Tướng Vịnh còn lập lại nguyên văn câu nói của các cấp lãnh đạo Trung Quốc khi đề cập đến sự tranh chấp chủ quyền ở Biển Ðông là “đôi bên hợp tác khai thác cùng có lợi.” Ðiều mà kẻ cướp từ phương Bắc xâm chiếm biển, đảo của chúng ta rồi ngang nhiên yêu cầu đôi bên hợp tác khai thác cùng có lợi. Thật vô cùng phi lý.

Dư luận cho rằng ông Vịnh tuyên bố với báo chí như một người phát ngôn chính thức của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Xin nhắc lại ngày 15 tháng 7 năm 2011 tôi có viết bài báo tựa đề: “Chừng nào Việt Nam trở thành khu tự trị của Trung Quốc?” Tôi đã chứng minh bằng những lời tuyên bố và hành động của Hà Nội cũng như của Trung Quốc, những lời lẽ và hành động đó công khai xác nhận Việt Nam đã mất hết chủ quyền, đang lệ thuộc hoàn toàn Bắc Kinh thông qua 16 chữ vàng và 4 cái tốt. Ngoài ra trên đất nước Việt Nam, Trung Quốc làm chủ gần 90% các dự án kinh tế. Công nhân Tàu Cộng lập làng xã riêng biệt ở khắp nơi, và họ tự ý quản trị như đang ở xứ mình.

Trong một bài viết khác, tôi nhận định 14 ông ủy viên Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Hà Nội cai trị Việt Nam theo lệnh Bắc Kinh, nhân danh sự “hợp tác toàn diện để hướng tới tương lai.” Các ông còn được mẫu quốc bảo vệ bằng một thỏa ước “Hợp Tác Công Lực” phòng khi hữu sự sẽ có tiếp viện của quan thầy từ Trung Quốc.

Suốt mấy năm qua, những sự kiện xảy ra dồn dập cho thấy giới lãnh đạo Việt Nam tuyệt đối tuân phục Bắc Kinh. Chỉ cần nhắc lại một vài sự kiện quan trọng đủ thấy tổng bí thư, chủ tịch nước và thủ tướng Việt Nam Cộng Sản luôn luôn thực hiện theo ý đồ của Bắc Kinh. Nghĩa là trên thực tế Việt Nam đã mất về tay Trung Quốc rồi.

Vấn đề Bauxite, rõ ràng bất lợi về kinh tế và môi trường, tất cả chuyên gia kinh tế Việt Nam lên tiếng phản đối, nhưng Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn sang Tàu ký thỏa hiệp, giao Cao Nguyên cho Trung Quốc. Báo chí Mỹ nhận xét: Nguyễn Tấn Dũng “triều cống” Bắc Kinh. Trong khi đó chính Trung Quốc đóng cửa nhiều mỏ Bauxite của họ vì tác hại môi trường, để sang Việt Nam khai thác. Về phương diện an ninh quốc phòng, Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp, công thần kỳ cựu của CSVN, cản ngăn bằng văn thơ cũng không được.

Vấn đề ổn định xã hội, Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn, sang Trung Quốc nhận chỉ thị trở về thông báo: “Bắc Kinh yêu cầu Việt Nam phải điều hướng dư luận quần chúng trong nước.” Lập tức mọi cuộc biểu tình chống Trung Quốc đều bị công an đàn áp dã man.

Mặt khác, tàu Trung Quốc đụng chìm ngư thuyền Việt Nam, bắt ngư phủ, cướp tài vật... Hà Nội không dám chỉ đích danh tàu Trung Cộng mà phải nói là “tàu lạ”!

Việt Nam muốn ve vãn Hoa Kỳ, hy vọng Trung Quốc nới tay đàn áp thì Phó Chủ Tịch Trung Quốc ông Tập Cận Bình, sang Việt Nam tiếp xúc giới lãnh đạo công sản Hà Nội ngày 22 tháng 12 năm 2011. Dịp nầy ông Tập Cận Bình lập lại lời cảnh cáo đối với cả ba ông Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng rằng: “Việt Nam không được dựa vào Mỹ trong việc tranh chấp chủ quyền ở Biển Ðông.” Tờ báo Global Times của Trung Quốc đe dọa: Nếu Việt Nam dựa Mỹ để gây hấn với Trung Quốc thì sẽ “nghe tiếng súng đại bác.”

Ðể khẳng định bá quyền của kẻ mạnh, Bắc Kinh 3 lần cắt dây cáp tàu khảo sát địa chất của Việt Nam mà Hà Nội không dám phản ứng.

Việt Nam đã mất hẳn Hoàng Sa và một số đảo của Trường Sa do đồng chí “láng giềng hữu nghị” chiếm đoạt bằng vũ lực.

Các tỉnh miền Bắc cho Trung Cộng mướn rừng 50 năm, bằng phân nửa thời gian Anh Quốc thuê mướn Hồng Kông một trăm năm. Nhưng Anh Quốc đã giao trả Hồng Kông cho Tàu Cộng, còn rừng Việt Nam chắc gì Trung Quốc sẽ trả lại hay cướp luôn? Hiện tại, những khu rừng đó được rào lại kiên cố, không ai bên ngoài có thể tự tiện vào được.

Thái độ thuần phục Bắc Kinh còn do Ðại Tá Giáo Sư Tiến Sĩ Trần Ðăng Thanh thuộc Học Viện Chính Trị Bộ Quốc Phòng thuyết phục các đảng viên, cán bộ cao cấp rằng: “Trung Quốc đã từng nhường cơm xẻ áo, dành cho chúng ta từ hạt gạo, từ khẩu súng, từ đôi dép để chúng ta giành thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp và thắng Mỹ. Chúng ta không được quên ơn, chúng ta không thể vô ơn bội nghĩa.”

Trên đây chỉ là một vài sự kiện đủ chứng minh Việt Nam đã mất về tay Trung Quốc, do sự nhún nhường, ươn hèn, hoặc là Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Hà Nội cố tình cắt đất đổi lấy sự hỗ trợ của quan thầy, bảo đảm cho họ ngồi yên tại vị để tiếp tục cầm quyền hưởng lợi?

Cái tội hèn với giặc ác với dân, cái tội nhường đất dâng biển, cái tội bán nước cầu vinh của giới lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Hà Nội đang bị Linh Mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh lập một bản cáo trạng chính xác, đầy đủ, qua bài giảng của ông trong thánh lễ cầu nguyện cho công lý hòa bình ngày 30 tháng 12 năm 2012 tại nhà thờ giáo xứ Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Sài Gòn lúc 8 giờ tối. (Quí độc giả có thể nghe được bài giảng có giá trị của một bản cáo trạng Ðảng Cộng Sản Việt Nam bán nước, bằng cách bấm vào đường link: http://www.chuacuuthe.com/?p=44217)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Hoàng Sa, Trường Sa,
và bản đồ “Ðại Nam Nhất Thống Toàn Ðồ đời Minh Mạng” (1834)


LTS. Nhân kỷ niệm trận Hải chiến Hoàng Sa giữa Hải Quân VNCH và Hải Quân Trung Cộng từ 17 đến 19 tháng 1 năm 1974,
chúng tôi xin giới thiệu bài “Lịch Sử Hoàng Sa” của nhà biên khảo Võ Hương An cùng bản đồ chủ quyền hai đảo này thuộc Việt Nam
được vẽ từ năm 1834, dưới thời Vua Minh Mạng
.
Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo san hô nằm trên Biển Ðông mà Việt Nam đã thủ đắc từ thời các Chúa Nguyễn, vào giữa thế kỷ XVII.

Tài liệu xưa nhất của Việt Nam ghi nhận sự thủ đắc Hoàng Sa là bộ Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Ðôn (xem Phủ Biên I, tr.208-211) - bộ sách đầu tiên về lịch sử xứ Ðàng Trong - được viết năm 1776, trong thời gian ông vâng lệnh Vua Lê-Chúa Trịnh vào giữ chức Tham thị Tham tán quân cơ hai đạo Thuận Hóa, Quảng Nam. Các sách sử khác về sau, khi nói về Hoàng Sa-Trường Sa đều lấy Phủ Biên làm tài liệu căn bản rồi mới cập nhật sự kiện, điển hình là Ðại Nam Nhất Thống Chí đời Tự Ðức (1848-1883). Sách này đã đã mô tả hai quần đảo này như sau:

“Ðảo Hoàng Sa: ở phía Ðông cù lao Ré huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi). Từ bờ biển Sa Kì đi thuyền ra, thuận gió thì độ ba bốn ngày đêm có thể đến nơi. Có đến hơn 130 đảo nhỏ cách nhau hoặc một ngày đường hoặc mấy trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm, bằng phẳng, rộng rãi, tục gọi là “Vạn lý trường sa”: nước rất trong, trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển tụ tập không biết cơ man nào. Sản nhiều ốc hoa, hải sâm, đồi mồi, vích, cùng những hàng hóa của thuyền người Thanh bị bão, trôi giạt vào đấy.”

“Hồi đầu bản triều (Nhà Nguyễn), đặt đội Hoàng Sa, có 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm, cứ tháng 3 là ra biển kiếm hải vật, đến tháng 8 thì do cửa biển Tư Hiền (Thừa Thiên) về nộp; lại đặt đội Bắc Hải, do đội Hoàng Sa kiêm quản, để đi lấy hải vật ở các đảo. Phía Ðông đảo Hoàng Sa gần phủ Quỳnh Châu, đảo Hải Nam, nước Thanh. Ðầu đời Gia Long phỏng theo lệ cũ (thời Chúa Nguyễn) đặt đội Hoàng Sa, sau lại bỏ; đầu đời Minh Mệnh, thường sai người đi thuyền công đến đấy thăm dò đường biển, thấy một nơi có cồn cát trắng chu vi 1,070 trượng (4,280m), cây cối xanh tốt, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam cồn có ngôi miếu cổ, không rõ dựng từ thời nào, có bia khắc 4 chữ “Vạn lí ba bình” (muôn dặm sóng yên). Ðảo này xưa gọi là núi Phật Tự, phía Ðông và phía Tây đảo đều là đá san hô, mọc vòng quanh ở mặt nước; về phía Tây Bắc tiếp với đá san hô nổi lên một cồn chu vi 340 trượng (1,360m), cao 1 trượng 2 thước (4.8m) ngang với cồn cát, gọi là đá Bàn Than. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), sai thuyền chở gạch đá đến đấy xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả hữu và sau.” (ÐNNTC 2, Tỉnh Quảng Ngãi, Viện Sử Học, tr.422-423).

Hai quần đảo này được ghi rõ trên Ðại Nam nhất thống toàn đồ, vẽ năm 1834, triều Minh Mạng,
dưới hai tên Hoàng Sa (số 1 trên bản đồ) và Vạn Lý Trường Sa (số 2 trên bản đồ).

*Xin lưu ý rằng bản đồ xưa của Việt Nam chỉ vẽ với tính cách minh họa, gợi ý, chứ không vẽ theo sự đo đạc chính xác với tỷ lệ rõ ràng như kỹ thuật đồ họa phương Tây.
Image
Ðại Nam nhất thống toàn đồ đời Minh Mạng (1834) có ghi vị trí Hoàng Sa (số 1) và Trường Sa (số 2).
(Các số 1, 2 là do người viết đánh dấu)
1. Hoàng Sa

Quần đảo Hoàng Sa, Tây phương gọi là Paracel Islands, gồm 16 đảo chính, nằm trên Biển Ðông, cách Ðà Nẵng về phía Ðông 170 hải lý (khoảng 300km).

Giới đi biển Việt Nam thì đặt tên một cách đơn giản, ví dụ đảo Cát Vàng, đảo Cây nhưng khi đi vào sách vở thì đổi thành Hoàng Sa, Cù Mộc... Giới địa lý hàng hải Tây phương gọi bằng tên riêng của họ và chia quần đảo Hoàng Sa làm hai nhóm:

-Nhóm Tuyên Ðức (Amphitrite Group) gồm có một số bãi ngầm và 9 đảo chính là: đảo Cây (Tree Island), đảo Bắc (North Island), đảo Giữa hay đảo Trung (Middle Island), đảo Nam (South Island), đảo Linh Côn (Lincoln Island), đảo Phú Lâm (Woody Island), Cồn Cát Tây (West Sand), Cồn Cát Nam (South Sand), đảo Ðá hay hòn Tháp (Rocky Island).

-Nhóm Nguyệt Thiềm (Croissant Group) cũng gồm có một số bãi ngầm và có 7 đảo chính, là: đảo Cam Tuyền (Robert Island), đảo Hoàng Sa (Pattle Island), đảo Duy Mộng (Drummond Island), đảo Quang Hòa (Duncan Island), đảo Vĩnh Lạc (Money Island), đảo Bách Quy (Passa Keah Island), đảo Tri Tôn (Triton Island).

Cho đến tháng 3 năm 1938, Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 10 tháng 3, 1938, Toàn quyền Ðông Dương ra nghị định sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên. Năm 1938, với tư cách là nước bảo hộ Việt Nam, Pháp cho dựng chủ quyền, lập hải đăng, đặt trạm quan trắc khí tượng và quân trú phòng trên quần đảo Hoàng Sa (đảo Pattle Island). Trong Ðệ II Thế Chiến, Nhật chiếm đóng Hoàng Sa (1939-1945) để kiểm soát lưu thông trên Biển Ðông. Ngày 7 tháng 1, 1947, quân đội Trung Hoa Dân Quốc chiếm đảo Phú Lâm từ tay quân Nhật. Năm 1949, đảo Phú Lâm mất về tay Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc.

-Tại Hội nghị Cựu Kim Sơn để ký Hiệp ước Hòa bình San Francisco năm 1951 (San Francisco Peace Treaty 1951), Thủ Tướng Trần Văn Hữu của Quốc Gia Việt Nam tuyên bố chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp một phản đối nào từ các nước tham dự.

-Ngày 14 tháng 9, 1958, Phạm Văn Ðồng, thủ tướng Cộng Sản Việt Nam, ký công hàm công nhận hải phận 12 hải lý do Trung Quốc qui định. Với sự công nhận này, Phạm Văn Ðồng đã giao trọn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.

-Ngày 13 tháng 7, 1961, thời Ðệ I Cộng Hòa (Nam Việt Nam), Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ban hành sắc lệnh sáp nhập Hoàng Sa vào xã Ðịnh Hải, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Từ đó, Quảng Nam chịu trách nhiệm phái quân đồn trú thường trực trên đảo.

-Thời Ðệ Nhị Cộng Hòa (Nam Việt Nam), sắc lệnh ngày 21 tháng 6, 1969 sáp nhập xã Ðịnh Hải vào xã Hòa Long, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

-Ngày 19 tháng 1, 1974, sau một trận hải chiến ác liệt trên biển Ðông giữa Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt Nam) và Hải Quân Trung Quốc, nước này đã chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa. Mặc dầu vậy, Việt Nam Cộng Hòa vẫn khẳng định chủ quyền trên cả hai quần đảo.

Image
Hình phóng lớn vị trí của Hoàng Sa (1) và Vạn Lý Trường Sa (2) trên Ðại Nam Nhất Thống Toàn Ðồ, 1834, đời Minh Mạng.
2. Trường Sa

Tên chánh thức trong sử sách là Vạn Lý Trường Sa, như thấy ghi rõ bằng chữ nho trên Ðại Nam nhất thống toàn đồ vẽ năm 1834 (xem bản đồ). Quần đảo này nằm về phía Ðông-Nam Hoàng Sa, Tây phương gọi là Spratly Islands, gồm hơn 100 đảo lớn nhỏ. Con số 130 đảo mà Ðại Nam nhất thống chí đề cập là cộng số đảo của cả hai quần đảo. Hiện có 6 nước trong vùng chiếm hữu số đảo này, là Việt Nam, Trung Quốc, Ðài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei, trong đó Việt Nam làm chủ một số bãi đá chìm, bãi ngầm và 7 đảo, là: đảo An Bang (Amboyna Island), đảo Bãi Thuyền Chài (Barque Canada Reef), đảo Trường Sa Ðông (Central London Reef), đảo Sinh Tồn (Sin Lowe Island), đảo Sinh Tồn Ðông (Sin Cowe East Island), đảo Nam Yết (Nam Yit Island), đảo Song Tử Tây (Southwest Cay), đảo Trường Sa (Spratlly Island).

Năm 1933, chính quyền Ðông Dương sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Năm 1973, Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt Nam) sáp nhập Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy. Từ 1982, Trường Sa là một huyện thuộc tỉnh Phú Khánh, rồi nhập vào tỉnh Khánh Hòa năm 1989. Quần đảo Trường Sa hiện là điểm nóng tranh chấp quyền sở hữu giữa 6 nước kể trên.

(Trong Từ Ðiển Nhà Nguyễn của Võ Hương-An, Nam Việt xuất bản, 2012 - PO Box 14982 - Irvine, CA 92623)

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Image

Từ Bá Thanh, Ba Dũng đến... Kim Chi và Hiến Pháp

Vũ Đông Hà
(Danlambao) - Sau khi vở tuồng đấu đá Sang Trọng Dũng hạ màn với sự ra đời của đồng chí X thì chính/chiến trường của đảng yên ắng mùa đông được vài tuần. Khi con số 2013 hiện trên tờ lịch mới thì Ba Đình nóng lại với bàn cờ và con cờ mới: Trưởng ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh. Những tên trùm ăn cướp tiếp tục vừa nắm quyền, vừa bán nước, vừa kết án bỏ tù người yêu nước, vừa đánh đấm, đấu đá nhau trong sự nghiệp ăn cướp trường kỳ. Trong bối cảnh đó, bước sang 2013, hình như vẫn còn, vẫn có những con người bị cướp tiếp tục sống trong niềm hy vọng một cách tuyệt vọng rằng chúng đánh nhau thì chúng sẽ yếu. Bất chiến tự nhiên thành!?

Phe chống Dũng nêu lên những con số "tàn tệ" từ sự điều hành của Ba Dũng, bí danh mới X: 1,33 triệu tỷ đồng, tức hơn 60 tỷ đô la tổng nợ của doanh nghiệp nhà nước. Nợ vì tiền đã vào túi của chúng. Và ai sẽ là người phải trả món nợ khổng lồ này nếu không là 90 triệu người dân?

Phe X phản pháo công bố việc bỏ túi ngân sách của Bá Thanh tổng cộng 3434 tỷ đồng tức 165 triệu đô. Ngân sách cũng là tiền của dân mà đảng nắm quyền cùng nhau chia chác, đã biết từ lâu nhưng bây giờ vì muốn bôi đen nhau nên giải mật để làm dập mật nhau.

Trong hiệp đấu đá mới này, cuối cùng qua việc bạch hóa những bê bối cho nhu cầu làm xấu mặt đồng chí nhau, vẫn hiện hình nạn nhân là những người dân Việt khốn cùng; và họ - những kẻ cai trị thì cướp vẫn hoàn cướp.

Chỉ có khác với những tên cướp đầu đường xó chợ, đây là những tên cướp đang nắm quyền Thủ tướng, đang là lãnh chúa Đà Nẵng nay trở thành trùm chống tham nhũng; và chung quanh là một bộ phận không nhỏ thoái hóa, tham ô, một bầy sâu nhung nhúc theo đúng lời của Trọng Lú đầu đảng và Tư Sang trùm nước. Chỉ có khác, đây không phải là những lời vu khống của "các thế lực thù địch" mà do chính họ vạch áo lẫn nhau.

Ở đảng này, bạn nào đó còn tin tưởng trong băng của họ có những "tên cướp đàng hoàng" sẽ dẹp những "tên cướp không đàng hoàng" và sau đó đảng này sẽ "thôi là" đảng cướp? Bạn còn tin rằng khi chúng đánh nhau chúng sẽ yếu và chính quyền sẽ tự nhiên rơi trở lại vào tay nhân dân?

Một năm vừa qua và sự ra đời của "đồng chí X" vào ngày bế mạc đại hội đảng cướp 2012 chưa đủ để dân ta ngưng làm khán giả, cổ vũ bên này hoặc bên kia, hy vọng phe này thắng, phe kia thua thì đất nước sẽ khá hơn? Chưa đủ để nhận ra rằng, thay vào đó, chúng ta phải chủ lực tìm mọi cách cùng nhau vượt qua sợ hãi, từng bước xây dựng được sức mạnh quần chúng để bứng đám cướp ngày lẫn cướp đêm này ra khỏi vị trí cai trị hay sao?

Và trong sự tình cờ hay không tình cờ, giữa màn đấu đá mới của các trùm cộng sản ở tầng cao này cũng xuất hiện lạ lùng một chuyện nhỏ mà không nhỏ, lớn mà không lớn:

- “Tôi không muốn trong nhà tôi có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân. Với tôi, đó là một điều rất tổn thương vì cảm giác của mình bị xúc phạm.”

- “Tôi có thể không tin cá nhân ông thủ tướng nhưng mà tôi tin cái chung, còn nhiều cái điều tốt đẹp.”

- “Tôi cũng nói thẳng, tôi là nghệ sỹ cộng sản chính hiệu, và cho tới bây giờ, trái tim tôi là tim của một người cộng sản mong cái đất nước này sẽ hòa nhập được với thế giới, tốt đẹp hơn, giàu có hơn, và dân không khổ nữa.”

Những câu nói của Nghệ Sỹ Kim Chi đã làm nhiều người ca tụng, lẫn nghi ngờ, chê bai... Nhưng nó có nằm đâu trong bàn cờ thế sự của những người cộng sản ai cũng cho mình là chính hiệu này? Có gì khác / giống giữa bà Kim Chi và Bá Thanh, hai đồng chí cộng sản đang cùng nhau mần thịt đồng chí Ba Dũng bằng những góc cạnh, hình thức khác nhau?

Và ngày hôm nay, cùng lúc, giữa những màn đấu đá lẫn nhau không ngừng nghỉ, những kẻ cai trị lại đưa ra màn kịch đã được diễn tuồng nhiều lần: góp ý sửa đổi hiến pháp - một hiến pháp đã được tạo dựng, tùy nghi thay đổi, thao túng, khống chế bởi những người cộng sản chân chính trong suốt bao năm qua.

Đã bao lần dân ta mang thân phận "được" cho phép góp ý trong thể chế xin-cho này? Chưa đủ sao!

Đã bao lần kết quả cho thấy dân mình là nạn nhân của một trò lừa hay đúng hơn là diễn viên vô tình góp phần cho một màn kịch dân chủ giả hiệu của đảng cầm quyền, cầm tiền, cầm búa, cầm liềm, cầm chìa khóa nhà tù...? Chưa thấm sao!

Đã nhiều lần, và bây giờ nữa, nhiều người cho rằng dù sao góp ý cũng hơn là không nói gì để rồi sau mỗi một màn kịch như thế, đảng công bố văn bản theo ý đảng nhưng vẫn tuyên truyền với cả nước một "sự thật": có sự góp ý của mọi thành phần quần chúng.

Một chế độ độc tài khi đưa ra việc sửa đổi Hiến Pháp chỉ có một mục tiêu duy nhất: tìm cách củng cố khả năng cai trị và gia tăng vị trí độc tài cũng như khả năng trấn áp bằng văn bản cao nhất là Hiến Pháp. Kêu gọi góp ý có sự kiểm soát của đảng chỉ là trò dân chủ mị dân.

Vì thế, tại sao còn có thể hy vọng trong việc "góp ý" cho những kẻ mà chúng ta biết rõ ý thuận là ý đảng, ý nghịch là của thù địch. Sẽ được gì từ những người sẽ bằng mọi giá để nắm quyền sinh sát trong tay? Tin tưởng gì với những con người bất chấp dư luận của nhân dân 90 triệu người, lẫn cả thế giới? Mong mỏi gì ở những kẻ vừa ăn cướp vừa nghênh ngang giảng bài tự trọng, vừa bán nước vừa thuyết pháp đừng hỗ thẹn với tiền nhân?

Và chúng ta đang đứng ở đâu? Tiếp tay với những kẻ vẫn mang thẻ đảng, vẫn tự hào mình là những người cộng sản chân chính, vẫn nắm trong tay cái sổ hưu, đang tìm mọi cách gọi là "chỉnh đốn đảng" để đảng của họ tiếp tục là đảng lãnh đạo duy nhất và muôn năm theo điều 4 do chính họ đặt ra và áp đặt lên đầu cả một dân tộc?

Do đó, cần gì phải viết cả một bài dài dòng góp ý về Hiến Pháp. Cần gì phải lách qua lách lại để đòi hỏi những điều nhỏ bé và im lặng trước những điều không thể không thay đổi vì biết trước rằng... họ sẽ không chịu.

Kiến nghị, góp ý những gì mà đảng cầm quyền có thể "cho" và im lặng về những mà họ không "chịu cho" là một thái độ mà sau đó sẽ bị khai thác, lợi dụng tuyên truyền và bị xem là chấp nhận, đồng lòng với đảng cầm quyền về những điều mà ta im lặng.

Vận mạng của đất nước này khó mà thay đổi được bằng góp ý, kiến nghị, xin phép và mong rằng "họ sẽ chịu". Vận mạng của dân tộc này chỉ thay đổi bằng tranh đấu và tạo sức ép buộc những kẻ cầm quyền phải nhượng bộ hay tan hàng.

Do đó, nếu lên tiếng chỉ cần một câu: Chúng tôi, những công dân có tên sau đây không chấp nhận điều 4 trong hiến pháp. Và cùng nhau ký tên. Thái độ cần phải có của những công dân có trách nhiệm: đây không phải là một lời góp ý với ai cả mà là một khẳng định ý chí; đây là mục tiêu của tranh đấu chứ không phải mong mỏi của một sự xin cho.

Đã đến lúc cần ngừng những việc làm vô ích của góp ý, xin xỏ, thuyết phục, kiến nghị đối với tập đoàn thiểu số cai trị về nội dung của một văn bản mà đúng ra là của đại số nhân dân. Hãy bắt đầu chấm dứt tình trạng một tập thể 90 triệu người bị một thiểu số cộng sản đè đầu cưỡi cổ, hành xử theo sự xin-cho của họ. Có sự dứt khoát như thế thì mới còn có đầu óc và ý chí để tìm phương thức cùng nhau dẹp hẳn cái chế độ này.

Mọi cuộc cách mạng đều phải bắt đầu bằng một thái độ dứt khoát ngay cả vào những lúc mà ta cảm thấy tuyệt vọng và yếu đuối nhất.

Vũ Đông Hà

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Đừng tìm X nữa, thưa các ông lãnh đạo đảng & nhà nước

Tâm 8X
(Danlambao) - Trong lần trả lời phỏng vấn mới đây của ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang với TTXVN. Khi được hỏi: “Chủ tịch nước đánh giá như thế nào về sự tin tưởng của nhân dân đối với chế độ?”. Ông đã trả lời: “... Niềm tin đó đang bị thách thức và suy giảm do tệ tham nhũng, lãng phí, suy thoái đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Nhưng tôi tin, nhân dân bao dung vẫn tin và kỳ vọng vào đảng nếu đảng kịp thời chỉnh đốn, sửa chữa những yếu kém, khuyết điểm trong bộ máy của mình. Tuy vậy, không được lạm dụng lòng tin của nhân dân.”

Tôi cho rằng, với cái cương vị người đứng đầu nhà nước và cũng được xem là một đảng viên đảng cộng sản lão thành, câu trả lời có thể được xem xét như một sự suy tư, trăn trở của một người cộng sản về niềm tin của dân đối với bản thân ông và tổ chức của các ông.

Nhưng thiết nghĩ rằng, niềm tin đó không phải đang bị thách thức và suy giảm mà nó đã hoàn toàn biến mất ở đại đa số người dân và đảng viên. Chỉ những ai còn mang tư tưởng lạc quan tiếu mới nghĩ rằng nó còn đang ở quá trình “bị thách thức”.

Vì sao? Chính ông đã trả lời: “nhiều người mất việc, không có việc làm, nghèo đói; tham nhũng, lãng phí không kiên quyết ngăn chặn có hiệu quả thì làm sao tin”. Nhưng trên cả, theo tôi là dân đã mất hoàn toàn niềm tin vào hệ thống chính trị hiện thời, vào sự cái trò lừa bịp mang cái tên thật dài “kịp thời chỉnh đốn, sửa chữa những yếu kém, khuyết điểm trong bộ máy” nhà nước và chế độ hiện thời.

Cái khái niệm “dân chủ hóa, tự do hóa, nhân quyền hóa” được cái ông lắt léo theo nghĩa “chế độ XHCN ta” để rồi nó đẻ ra một loạt cái hình thức dân chủ quái thai như: bầu Quốc hội được đảng chỉ định và bộ máy sẽ dẫn dắt “chủ nhân” đi bầu như dẫn “lũ trẻ mẫu giáo nhỡ đến trường”; chỉnh sửa Hiến pháp thì được các ông phán không có vùng cấm sau lại răn đe cấm sửa những điều liên quan đến lợi ích của đảng với cái án treo lơ lửng trên 86 triệu dân là “tuyên truyền, kích động chống lại nhà nước XHCN”...

Vì thế, trong khi ông kỳ vọng được nhân dân “bao dung” để đảng cộng sản “kịp thời chỉnh đốn, sửa chữa những yếu kém” thì cá nhân tôi lại tự hỏi, cái “kịp thời” được tính bằng bao nhiêu năm, được trả giá bằng bao nhiều tài nguyên, được tính bằng bao nhiêu con người phải vào tù tội vì đòi quyền được làm người trong một xã hội văn minh, hiện đại, bao nhiêu tỉ đô la tiền thuế, tài nguyên quốc gia chảy vào túi các ông và ngự ở một ngân hàng trời Tây nào đó.

Tôi tự hỏi, ông quá ngây thơ hay cái lý luận Mác-Lenin khiến ông không mù trước thực tiễn xã hội đang diễn ra.

Ngay người đồng nghiệp của ông, người đứng đầu đảng cộng sản (một tổ chức mà ông đang trăn trở) là ông Tổng Nguyễn Phú Trọng trong bài trả lời TTXVN trước thềm năm Quý Tỵ đã nói về Nghị quyết 4 (Nghị quyết về chỉnh đốn đảng) nhấn mạnh "chủ yếu là để cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, ngăn chặn" và "nếu ai không chịu nhận khuyết điểm, không chịu sửa thì mới kỷ luật, xử lý".

Tôi tự hỏi rằng, nếu đảng viên, lãnh đạo mà sướng như thế này - gây ra hậu quả nghiêm trọng rồi nhận khuyết điểm và kết quả lại không bị xử lý thì quyền lợi của nhân dân đã bị vứt đi đâu rồi? Phải chăng đó là cách để các ông giữ được quyền lợi của đảng viên, của cái chế độ cộng sản mà các ông đang nắm quyền. Nói đúng hơn, các ông đã ích kỷ trong giai cấp nên không đủ nhân tâm để nhìn về phía nhân dân. Ông Tổng bí thư và cái trò hề “nghị quyết 4” đã tạo điều kiện cho bọn sâu mọt tàn phá nền kinh tế đất nước, làm băng hoại niềm tin vào xã hội, tạo ra một thế hệ thờ ơ với nền chính trị nước nhà và vật vờ trước tương lai.

Vậy mà đầu năm mới, các ông lại đòi hỏi nhân dân “vẫn tin và kỳ vọng” vào cái chế độ của 3 triệu người mục ruỗng, thối nát này.

Tôi xin ông! Xin các ông hãy đừng diễn cái trò hề dân chủ, trò hề niềm tin ở đất nước này nữa. Cũng như đừng đi tìm X nữa, X ở trong chính con người, chính cái thể chế này đấy thôi.

Hãy cắt đứt cục ung bưới chế độ mang tên “CHXNCN Việt Nam”, để một tương lai con cháu bớt lầm tham...

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Image


Đồng chí X vẫn thể hiện bản lĩnh và quyết tâm... phá!

Xứng đáng là chiến sĩ thi đua "làm nghèo đất nước, làm khổ dân"

Như Hà
(Danlambao) - Kể từ khi hội nghị TW 6 kết thúc cho đến nay, người ta thấy đồng chí X vẫn vênh vang cười tươi như hoa nở và nói năng trôi chảy, như không hề có chuyện gì xảy ra, cứ như thể đồng chí vẫn trong sách không hề mắc khuyết điểm gì - đấy là người ta nói ai chứ không phải đồng chí!

Thực vậy, thông qua những bức hình trên báo, trên tivi... chẳng thấy đồng chí X có biểu hiện gì gọi là ưu tư suy nghĩ, khiến cho ngoài những đồng chí "cùng cạ" với đồng chí X, thì... toàn dân đều căm ghét, phỉ nhổ đồng chí X. Ở khắp chợ cùng quê, từ vỉa hè, quán cóc, cho tới bên bàn cỗ đám cưới, đám ma... đâu đâu cũng thấy bàn dân thiên hạ ca thán, qui tội cho đồng chí X, vì đồng chí mà đời sống ngày một khó khăn và nhất trí bầu cho đồng chí X là "Chiến sĩ thi đua" vì có thành tích "làm nghèo đất nước, làm khổ dân" chứ không chỉ riêng nghệ sĩ Kim Chi bầu cho đồng chí X. Đúng vậy! Vì đồng chí X mà không một người nào, một gia đình nào cho đến hiện tại không gặp khó khăn. (Bản thân tôi cũng vậy, nên cũng thấy ghét cay ghét đắng, không muốn nhìn thấy mặt đồng chí X trên tivi, báo đài). Thế còn đồng chí X thì sao? Chúng ta hãy xem đồng chí tự phê bình và khắc phục khuyết điểm ra sao nhé!

Đồng chí X vẫn kiên định, thể hiện bản lĩnh vững vàng

Thật vậy! Bản lĩnh của đồng chí X được thể hiện qua phiên chất vấn thủ tướng hôm 14/11/2012. Sau khi trình bày các giải pháp có tính vĩ mô, nào là tái cơ cấu nền kinh tế, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô v.v... và v.v... đồng chí X hùng biện cứ trôi như cháo chảy. Nhưng nếu ai để ý sẽ thấy lời đồng chí nói cứ như thày chùa quốc doanh tụng kinh theo bài thuộc lòng đã ghi sẵn, chứ thực tâm đồng chí X cũng chẳng hiểu cái con... tự do gì về kinh tế vi mô với lại vĩ mô.

Nhưng điều làm cho thiên hạ sửng sờ nhất khi trả lời ông nghị Dương Trung Quốc. Đồng chí X đã chơi nước cờ quá cao tay, làm cho đảng thất kinh, khi đồng chí lấy đảng ra làm bình phong che đỡ, làm cho đảng trở tay không kịp, buộc phải nhậm bồ hòn che chắn. Thậm chí đồng chí X còn lấy việc phục vụ đảng từ lúc đúng 12 tuổi (17/11/1949-17/11/1961) kể công để kiên định đi theo và làm theo sự phân công của đảng đến hơi thở cuối cùng. Ấy là bản lĩnh hành động thứ nhất.

Và mới đây, trong buổi làm việc với các "quả đấm thép"đồng chí X, vẫn một mực kiên định, nhìn nhận một cách "khách quan". Sau khi "... khẳng định vai trò nòng cốt của các anh cả đỏ trong nền kinh tế. Với hàng loạt thành tựu của năm qua như góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện các công trình dự án trọng điểm quốc gia...", đồng chí X cho rằng các quả đấm thép "đóng góp lớn vào thành tựu chung". Đồng chí X còn mạnh mồm tuyên bố "Đây là thực tế không ai phủ nhận" và nhấn mạnh “Tôi đánh giá cao các thành tựu và mong các đồng chí tiếp tục phát huy, chúng ta kiên định theo định hướng của đảng. Kết luận mới đây của Hội nghị TƯ 6 cũng khẳng định vai trò của các DNNN".

Thật là hết thuốc chữa! Một người trong cuộc mà dám mở mồm nói là "đánh giá, nhìn nhận khách quan" thì quả là đồng chí X đã nhìn nhận quá rõ khuyết điểm bản thân, để phê bình và tự phê bình.

Mà giời ạ! Từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới nay, tôi chưa thấy ông bà doanh nghiệp nào, một năm chăn nuôi, do không biết cách nuôi, lợn gà bị chết gần hết, thua lỗ trắng tay mà vẫn nói là ổn định kinh tế, vẫn nói cho vợ con ăn ngon mặc đẹp, vẫn nói làm được quả nhà 5 tầng to đùng vật vã. Có lẽ chỉ thấy có đồng chí X là người dám coi giời bằng vung mới nói vung như vây.

Không những vô tư khách quan như vậy đồng chí X còn nên dây cót cho các đồng chí quả đấm thép: "Chuyên gia, nhân dân góp ý phê phán thì ta lắng nghe". Nhưng "không thể để tác động này khác của dư luận làm chúng ta dao động". Qua hành vi được thể hiện như trên, chứng tỏ quyết tâm của đồng chí X được ghi trong bộ luật hình sự là cực kỳ ngoan cố.


Cuối cùng là quyết tâm đến mức ngoan cố của đồng chí X lại được khẳng định, bởi trước những thông tin do báo chí lề đảng, thi nhau đăng tải ầm ỉ việc dư luận trông chờ và hy vọng ông "Bao Công" Thanh, ra kinh đô nhậm chức, ngồi vào chiếc ghế nóng để tiêu diệt bầy sâu, cũng như việc ông tân trưởng ban nội chính, hơi bị nhiệt tình đã thẳng thừng tuyên bố, sẽ nhằm vào hệ thống ngân hàng kiểm tra, nếu phát hiện "vị nào sai phạm là hốt liền, không nói nhiều" đã khiến cho đồng chí X và bộ sậu của đồng chí X là những con cá mập ngân hàng, không thể nào không lo lắng, bởi ngân hàng là lãnh địa hốt bạc của đồng chí, nếu bị phanh phui ra hết thì...

Bởi vậy, sau khi có cuộc họp báo của thanh tra chính phủ, với chiêu lấp lửng đóng dấu "mật" nhằm "rung cây dọa khỉ", rồi sai đệ tử bắn tin cho ông tân trưởng ban, "Mày không động đến tao, thì tao không động đến mày", hy vọng có sự thỏa hiệp ngầm trước khi ông ra Hà Nội.

Chỉ chờ có vậy, như tiếng ếch sau cơn mưa rào, báo chí cách mạng đua nhau ộp oạp. Thật kỳ lạ và buồn thay cho báo chí nước nhà. Khi cái gậy chỉ huy vung lên thì đồng thanh tuân chỉ ca bài "Chúng tôi là Robot của đảng". Làm dư luận lại được phen giật đùng đùng, trước sự kiện đồng chí X đã cho cái công cụ "thanh kiu" (Thanh Kill) công bố trên báo "lề đảng" tài liệu "mật" về cái gọi là kết luận thanh tra TP Đà Nẵng, làm thất thoát cho "ngân sách" những 3.434 tỉ VND. Mở màn cho cuộc chiến với ông tân trưởng ban nội chính

Nhưng lạ thay! Chỉ sau có một ngày, khi cái gậy hạ xuống, thì lại thấy báo "đảng doanh" im re và nhanh chóng gỡ bỏ những bài được đã đăng hôm trước. Có lẽ vì thấy phe địch phản pháo dữ dội ngay tức thì, có nguy cơ cuộc chiến lan rộng, nên tạm thời giương cờ trắng. Tài thật, y chang như Robot bị gỡ bỏ cục pin, hết nguồn nhiên liệu.

Khi đọc nội dung cái bản kết luận thanh tra, người ta thấy cái công cụ "thanh kiu" kia quá cùn, chứ không phải sắc bén như đồng chí X tưởng tượng, những người am hiểu thấy, mặc dù cố tình tìm lông bới vết, những kẻ tận tụy, coi "thanh kiu nặng hơn thanh tra" hết lòng tìm cách phục vụ đồng chí X. Với chiêu bài "thu hồi tiền thất thóat cho ngân sách nhà nước", cũng chỉ đưa ra những con số quẩn quanh, vớ vẩn, dựa vào số liệu lấy từ ngân hàng, do các con nợ nâng khống giá trị đất để được vay nhiều và chủ yếu muốn thu hồi tiền từ túi dân mà UBND Đà Nẵng đã trót dại giảm giá 10% cho dân, để trả cho nhà nước là chính. Với ý đồ và số liệu mơ hồ như vậy, mà họ lại chê Đà Nẵng là không có căn cứ, là tùy tiện và chứng cứ thiếu thuyết phục.

Các ông bà UB các tỉnh khi nhìn vào bản kết luận như vậy, chắc hẳn đều có suy nghĩ đồng chí X qui tội cho ông Đà Nẵng như vậy là không oan. Ai đời làm lợi cho dân, cho doanh nghiệp nhiều quá, làm thất thoát ngân sách lớn như vậy thì tội không tha là đúng.

Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, ông tân trưởng ban nội chính không phải là loại người sợ bóng vía đồng chí X, liền ngay sau đó, ông ta đã nã Rockét phản lại trúng mục tiêu, mở màn cho phần dạo đầu của cuộc chiến trên báo "lề đảng". Sau khi khẳng định TTCP đưa ra những kết luận không có căn cứ và việc giảm 10% tiền thuê và sử dụng đất, ông Văn Hữu Chiến chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, còn cho là có sự bất thường bởi công tác thanh tra CP đối với Đà Nẵng từ năm 2011, nhưng kết luận TT chỉ mới có cách đây 2 tháng.

Người ta những tưởng qua đợt kiểm điểm phê bình, tự phê bình của đảng và lời cảnh tỉnh của ông TBT là "Không xử lý phê bình một đồng chí UVBCT vì đồng chí đã thành khẩn nhận khuyết điểm và hứa sẽ cố gắng sửa chữa khuyết điểm và khắc phục những thiếu sót để hoàn thành tốt nhiệm vụ của đảng giao". Nhưng như mọi người đã thấy, không những đồng chí X không tỏ ra thành khẩn nhận khuyết điểm để ăn năn hối lỗi mà đồng chí tỏ ra coi thường thiên hạ, coi thường dân đã đành, mà đồng chí còn coi đảng chẳng là cái đinh gì!

Với những hành động kiên quyết, có quyết tâm cao như trên, chứng tỏ đồng chí X có thừa bản lĩnh, trước sau như một, vẫn kiên định lập trường nhất quán là tuân theo con đường của chủ nghĩa Marx, lạc quan tin tưởng vào quyền & tiền. Cho dù nước có nghèo, dân có khổ nhưng vẫn giữ vững vai trò lãnh đạo và quyết tâm PHÁ. Thật là một tấm gương tuyệt vời, đáng để toàn đảng, toàn dân noi theo.

Kết luận: Qua những gì đồng chí X đã thể hiện, cho thấy đồng chí X là hiện thân như ông Boris Ensin đã nói "không thể cải tạo, mà phải phế bỏ" như chính cái đảng mà ông ta đang núp bóng.

Nhân vật tiêu biểu và ấn tượng nhất của năm

Hàng năm, để ăn theo với báo chí phương tây, báo chí nước nhà cũng bình bầu nhân vật ấn tượng nhất năm. Vậy mà năm nay thấy lờ tịt, im phăng phắc, không thấy có cuộc bình chọn rầm rộ nào diễn ra? Lý do gì chăng? Xin thưa chẳng có lý do gì, nếu bình bầu thì chắc chắn người sẽ được bàn dân thiên hạ bình chọn, nhân vật nổi bật nhất năm là đồng chí... Bởi những thành tích của đồng chí quá nổi bật, không một ứng viên nào nặng ký hơn đồng chí. Nên báo đảng có ba chục cái đầu, sáu mươi cái tay cũng không dám mó...

Như Hà

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Huy Đức sẽ không đơn độc

Lương Kháu Lão

Là một trong những người sống gần trọn đời trong chế độ cộng sản, tôi chỉ đọc, chỉ biết những gì báo chí của Đảng viết ra . Một thời tôi đã từng say mê những bài viết của Thép Mới, Nguyễn Thành Lê, Nguyễn Hữu Chỉnh , Hữu Thọ, Hoàng Tùng, và cả Bùi Tín nữa khi anh ta còn làm Phó Tổng biên tập Báo Nhân dân phụ trách tờ Nhân dân chủ nhật . Có lúc chợt nghĩ nếu Olimpic có môn viết xã luận thì chắc chắn Việt Nam sẽ có huy chương vàng !

Sau năm 1975, một thế hệ các nhà báo trẻ xuất hiện. Họtrưởng thành ở một thành phố gặp muôn trùng khó khăn nhưng cũng mạnh mẽ trỗi dậy và đi đầu trong công cuộc đổi mới . Đó là Đỗ Trung Quân, Nguyễn Ngọc Châu, Lê Thọ Bình, Bùi Thanh, Thủy Cúc , Lưu Đình Triều ,Tâm Chánh, Đà Trang… ở tờ Tuổi trẻ, Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Văn Thịnh, Danh Đức … ở tờ Thanh Niên ; Trong số đó người nổi tiếng nhất là Huy Đức . Tôi đã có nhiều lần cộng tác với số nhà báo trẻ sớm thành danh nói trên nhưng với Huy Đức thì chưa một lần gặp mặt. Chỉ “ gặp” anh trên các bài viết nóng hổi tính thời sự và nhân văn . Sau khi buộc phải rời các tờ báo khá mạnh bạo ở Sài Gòn, Huy Đức nổi tiếng với blog “lề trái” Osin , nhưng tôi cũng ít đọc cho tới khi Bên thắng cuộc ra đời thì nó như một quả bom nổ giữa sự nhàm chán của dư luận làm rúng động cả “quân ta” lẫn “quân địch”.

Huy Đức tung ra ánh sáng biết bao chuyện được gọi là “thâm cung bí sử” mà cả hai bên chiến tuyến, hai bên cựu thù đều dấu kín . Huy Đức viết những điều mà nhiều người đương thời còn “sống nhăn răng” ra đó” nên người khen kẻ chê, người phản ứng gay gắt khi chạm nọc là điều không tránh khỏi .

Với một số bà con định cư ở Quận Cam và nhiều thành phố bên nước Mỹ xa xôi, những cay đắng họ phải gánh chịu từ chuyện cải tạo tư sản, cải tạo ngụy quân ngụy quyền, từ chuyện đổi tiền, chuyện vượt biên với biết bao rủi ro và mất mát … sẽ không bao giờ nguôi ngoai sự uất hận trong lòng họ cho dù hòa bình đã hơn ba chục năm rồi và nhiều người đã lần lượt trở về quê hương đoàn tụ gia đình tìm cơ hội làm ăn, thậm chí nhiều người già trong đó có những người nổi tiếng là tướng lĩnh là nhà chính trị trong quân đội Việt Nam cộng hòa, là văn nghệ sĩ nổi danh đã xin được về chết trên mảnh đất quê hương bởi vì như Đỗ Trung Quân đã viết khi còn là phóng viên Tuổi trẻ “Quê hương là chùm khế ngọt” . Ấy là lúc Trung Quân còn trai trẻ và tương lai của dân tộc cũng như tình yêu quê hương đất nước còn đang cháy bỏng trong trái tim anh chứ không phải của Đỗ Trung Quân chín chắn và trưởng thành như bây giờ .

Cho nên một số bà con Việt kiều dù chưa đọc một dòng Bên thắng cuộc nhưng nghe lời xúi dục của các phần tử quá khích đã đi biểu tình chống Bên thắng cuộc là một điều đáng tiếc . Nếu họ đọc , đọc thật kĩ và suy ngẫm về những điều Huy Đức nói về những “người thua cuộc” thì họ sẽ từ chối đi “biểu tình “ như vậy. Quả thật, nhờ những thông tin mà Huy Đức cung cấp trong kho sử thi đồ xộ của đất nước trong hơn ba chục năm qua , chúng ta bây giờ mới có thể biết được vì sao Cộng sản giải phóng được Sài Gòn và toàn Miền Nam. Không chỉ là chuyện hai miền “nội chiến”” nồi da xáo thịt” mà có sự can dự và hưởng lợi của các nước lớn mang danh đồng minh với cả hai phía của cuộc chiến dai dẳng ba chục năm

Tất cả các câu chuyện về thành phố Sài Gòn sau giải phóng đã được Huy Đức giải mã một cách đầy đủ và chân thực. Tại sao những người chịu đau thương và mất mát trong các sự kiện kể trên lại có thể phản đối tác giả khi anh đã giúp họ nói lên một phần sự thật để phần nào nguôi ngoai nỗi đau thương dấu kín bấy lâu. Có lẽ chỉ vì chuyện Huy Đức đã mô tả rất chi tiết việc quân đội Việt Nam cộng hòa tan rã nhanh chóng trước sức tấn công như vũ bão của quân đội miền Bắc chăng ? Lúc đó ở Hà Nội, tôi thắc mắc tại sao Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vốn là một vị tướng lại ra lệnh “tùy nghi di tản” dẫn đến cuộc tháo chạy ồ ạt từ Ban Mê Thuột, đến Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng …cho đến tận Sài Gòn. Nếu chỉ bằng những thông tin trên báo chí Miền Bắc thì ta có thể suy ra rằng quân đội cộng hòa Sài Gòn là đội quân bạc nhược sau khi bị Mỹ bỏ rơi. Nhưng Huy Đức đã chỉ ra rằng có rất nhiều tướng lĩnh và sĩ quan đã “tử vì đạo”. Có người đã bắn chết cả gia đình sau đó tự sát như các võ sĩ Nhật Bản . Đáng lẽ người Việt phải rời quê hương ra đi phải biết ơn Huy Đức đã cho tòan thế giới biết bên cạnh những tướng lĩnh bạc nhược vẫn có những người “anh hùng” như vậy chứ. Vậy thì cớ gì phản đối Bên thắng cuộc ?

Năm 1995, trên tờ Tuổi trẻ chủ nhật nhân kỉ niệm 20 năm ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước tôi đã viết bài “Sài Gòn 1975-1995 dưới con mắt một người Hà Nội” . Bài viết kể chuyện về ông chú vì đói thông tin đã bán hết hàng hóa ôm một đống tiền, khi chính quyền quân quản đổi tiền ông mất trắng. Trong khi người cháu là sĩ quan quân đội, là đảng viên cộng sản ngày 30-4 vào tiếp quản thành phố đã không dám đến gặp người chú vì sợ bị liên lụy. Chuyện của người anh trai của tôi với ông chú không chỉ là chuyện cá biệt trong trận chiến ba mươi năm giữa những người cùng dòng máu đỏ da vàng , cho nên chuyện cha con Lưu Quý Kỳ và Lưu Đình Triều cũng chẳng có gì là khó hiểu và anh Triều không nên có phản ứng với người đồng nghiệp một thời cùng chung lưng đấu cật làm nên thương hiệu của tờ Tuổi trẻ . Cuộc chiến Nam Bắc không chỉ hy sinh hàng triệu nhân mạng những người con ưu tú của dân tộc mà còn là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa một bên là cộng sản một bên là cộng hòa mà cuộc chiến về ý thức hệ này còn dai dẳng đến tận bây giờ. Nếu nó không chấm dứt với một bên thắng một bên thua hoàn toàn thì sẽ không bao giờ có hòa hợp dân tộc một cách đúng nghĩa

Nếu như phần I của Bên thắng cuộc với tiêu đề “ Giải phóng” làm cho ai đó bên thua cuộc phản ứng là điều có thể hiểu được thì phần II có tiêu đề “ Quyền bính” đã và sẽ làm cho nhà cầm quyền Hà Nội, bên thắng cuộc phát điên . Bao nhiêu chuyện thâm cung bí sử dấu lẹm đã bị Huy Đức phơi bày. Huy Đức “khôn “ lắm, anh chỉ cung cấp thông tin có dẫn chứng người nói, dẫn chứng từ các văn bản “mật” chứ không bình luận. Tự thân các sự kiện nói lên tất cả tùy nhận thức của người đọc. Cũng không ai có thì giờ và tâm huyết đi kiểm chứng xem những thông tin Huy Đức tung ra là đúng hay sai, đúng bao nhiêu phần trăm, sai bao nhiêu phần trăm. Cho nên nói như Bùi Tín rằng Huy Đức mới chỉ nói 30% sự thật là nói đại. Còn 70% nữa Bùi Tín có giỏi thì nói nốt đi. Cần biết rằng để viết Bên thắng cuộc, Huy Đức không chỉ dành 3 năm để viết và chỉnh sửa, anh đã dành gần cả trọn cuộc đời làm báo của mình để tích lũy sử liệu , để thẩm tra các dữ kiện, để phỏng vấn các nhân vật và nhờ có internet, anh đã lưu trữ được nó trong một chiếc laptop nhỏ bé để mang theo nó sang nước Mỹ rồi tung nó ra toàn cầu bằng giải pháp kĩ thuật số, điều mà ở trong nước anh không thể làm được.

Sau một thời gian im ắng, các báo trong nước chủ yếu là các tờ báo công an bắt đầu phản công Bên thắng cuộc và tác giả Huy Đức. Đọc qua một vài bài tôi thấy hình như họ viết theo sự chỉ đạo của cấp trên nên gò ép và thiếu sự thuyết phục. Những “dư luận viên” mà ông Trưởng ban tuyên huấn thành ủy Hà Nội nói theo sự chỉ đạo của cấp trên không đủ tâm và đủ tài để chọi với các bài phản biện của các tay bút bên lề trái. Nó tương tự như bài của ông nghị Hoàng Hữu Phước viết trên blog của mình đại ý rằng một thằng nhóc mới 13 tuổi khi Sài gòn giải phóng thì biết gì mà viết nhăng viết cuội. Cái ông nghị rởm này như có bạn viết trên Facebook là đã bị ung thư dây thần kinh giai đọan cuối này làm sao có đủ trình độ và tư cách phê phán Bên thắng cuộc .

Chúng ta phải cám ơn Bên Thắng cuộc và tác giả Huy Đức đã dũng cảm giải mã biết bao sự thật ở Ba Đình . Ví dụ người có công tiến hành đổi mới đất nước là ông Trường Chinh về lí luận và ông Võ Văn Kiệt về hành động chứ không phải ông Nguyễn Văn Linh với mấy bài “Những việc cần làm ngay”. Ví dụ vì sao các lãnh đạo Việt nam từ thời ông Lê Duẩn, ông Trường Chinh, ông Nguyễn Văn Linh, ông Đỗ Mười, ông Lê Khả Phiêu, ông Nông Đức Mạnh , đến ông Nguyễn Phú Trọng hôm nay đều “kiên trì” định hướng xã hôi chủ nghĩa cho dù mang tiếng là giáo điều . Bởi vì tuy Huy Đức không nói ra nhưng nếu không bám vào cái lí thuyết không tưởng đó thì không có lí do gì tồn tại Đảng Cộng sản mà nếu không còn Đảng thì còn đâu mảnh đất tham nhũng như ngày hôm nay . Cho nên nói chống tham nhũng mà vẫn khư khư theo đuổi định hướng XHCN một cái rất mơ hồ thì chỉ là nói chống cho vui vậy thôi. Bây giờ bên Đảng có Ban nội chính chống tham nhũng, bên chính quyền lại mới đẻ thêm Ban chỉ đạo gì đó tương tự thì chỉ là cuộc chiến giữa Đảng và Chính quyền chứ bè lũ tham nhũng vẫn phè phỡn ngoài vòng pháp luật vì các ông đang kềm chế nhau chứ có đánh gì tham nhũng đâu

Trong hai thứ những người cộng sản sợ nhất là chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa giáo điều. Xét lại hiểu theo một cách nào đó là một sự đổi mới chủ nghĩa Maxk đã lỗi thời còn giáo điều là cố níu kéo cái đã lỗi thời đó để thể hiện mình là người trung thành tuyệt đối với lí tưởng mà thời trai trẻ mình đã mù quáng tuyên thệ . Tất cả những gì làm trái quy luật dù cố níu kéo bằng lý thuyết ma giáo hay bằng chuyên chính vô sản tàn bạo , mà tàn bạo nhất là chiến tranh đều không thoát khỏi sự phán xét và trừng phạt của lịch sử mà lịch sử thì rất công bằng.

Nhiều thế hệ người Việt nam phải biết ơn “sử gia” Huy Đức bằng những thông tin mà anh cung cấp . Những đời tư của các nhân vật quyền thế từ Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Lê Đức Anh, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Văn Tiến Dũng, Đoàn Khuê, Võ Nguyên Giáp , Đinh Đức Thiện , Mai Chí Thọ, Nguyễn Hà Phan, Trần Xuân Bách, Nông Đức Mạnh … Tất cả những sự kiện hư hư thực thực kể cả chuyện Hồ Chí Minh có vợ đăng trên tờ Tuổi trẻ -lí do mà Tổng biên tập Kim Hạnh mất chức và suốt đời không được làm báo , những chuyện Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng có bố có mẹ chứ không phải là con ông nọ bà kia đều đã được Huy Đức công khai danh tính và có thể đó là lí do mà các “dư luận viên” viết theo Lề Đảng sẽ vin vào đó để kết tội Huy Đức làm lộ bí mật quốc gia và bí mật đời tư chiểu theo nghị định này nghị định nọ để có thể bỏ tù khi Huy Đức về tới sân bay Tân Sơn Nhất

Huy Đức đã không thể từ trong nước phát hành Bên Thắng cuộc, anh cũng chưa thể in thành sách . Anh lựa chọn phát hành trên mạng. Cách phát hành này có thể không mang lại cho anh nhiều tiền bạc tương xứng với công sức anh bỏ ra và giá trị của quyển sách mà anh mang đến cho độc giả nhưng bằng cách này sẽ có nhiều người trên thế giới tìm đọc quyển sách đang rất hot này. Càng có nhiều người khen kẻ chê càng có nhiều người tìm đọc. Đó là quy luật mà những người làm công tác tuyên giáo của Đảng Cộng sản rất biết nhưng họ vẫn cứ phải lên án nếu như không muốn bị cấp trên khiển trách , mắng mỏ . Và tôi nghĩ như ai đó đã từng viết rằng các lãnh đạo Việt nam, các Trung ương ủy viên, các ủy viên Bộ Chính trị càng nên đọc sách này để biết một phần sự thật mà họ chưa được biết . Biết để mà phòng thân và tránh các sai lầm khuyết điểm mà tư tưởng giáo điều đã ám ảnh họ , Trên hết ông Nguyễn Phú Trọng cần đọc quyển sách này . Và nếu là người thực sự cầu thị, thì ông phải khuyến khích các đảng viên của ông cùng đọc mới đúng . Và tôi tin lịch sử sẽ rất công bằng với Huy Đức, một nhà báo dấn thân.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Cám ơn “Bên thắng cuộc”

Nguyễn Bá Chổi

(Danlambao) - Nếu không có “Bên thắng cuộc” đưa “giang san về một một mối” thì làm gì có cảnh cả khối dân oan kéo nhau về “thủ đô của phẩm giá con người” và khắp mọi miền của nước CHXHCNVN để “khiếu kiện vì nhà cửa đất đai ruộng vườn bao đời nay bị “cưỡng chế” cướp trắng tay; đâu có đám sinh viên Sài Gòn ngày xưa xuống đường “chống Mỹ cứu nước” nay lại chưng hửng mất công xuống đường góp tiếng nói cảnh tỉnh có tác dụng hơn ai hết trước “đại cái lầm” về “Bên thắng cuộc”...

Đối với “Bên Thắng Cuộc”, người viết (Bá Chổi) xin tự thú bản thân không thuộc phe chống như đỉa phải vôi vì chạm nọc từ Hà Nội, cũng chẳng đứng trong hàng ngũ chống khơi khơi “không cần biết Huy Đức viết cái chi chi”, mà chỉ vì cái tội của tác giả (Huy Đức) là xuất thân từ Bộ độ cu Hồ; người viết chỉ tự xếp hàng vào phe cám ơn “bên thắng cuộc”.

“Bên thắng cuộc”, đối tượng mà người viết muốn “xin nhận nơi này làm... cám ơn” tuy một tên gọi nhưng là hai.

Một là, cuốn sách mang tên “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức với nội dung của những sự thật “không thể chối cãi” vạch rõ mặt thật của giới lãnh đạo, những chuyện thâm cung bí sử trong chủ trương đường lối của đảng CSVN, bấy lâu nay được núp kín dưới đủ thứ phấn son mỹ miều mê tơi. Cái mặt nạ ấy đã bắt đầu bị nghi ngờ với cậu bé 13 tuổi Huy Đức sinh ra, được giáo dục trong cái nôi “Dân Khu Tư, quê Bác...” khi cậu bắt gặp những thứ lạ lẫm như con búp bê biết nhắm mở mắt của Miền Nam sau ngày “giải phóng”.

Người viết (Bá Chổi) vốn là một người lính VNCH trước ngày 30/4/1975, xin bày tỏ lòng cảm động khi đọc anh tác giả cựu Bộ độ cụ Hồ - Huy Đức thuộc “bên thắng cuộc”, tuyên xưng hành động tự sát của các vị tướng VNCH là “tuẫn tiết”.

Hai là, bên đã “đại thắng mùa xuân” 1975:

- Nếu không phỏng được Miền Nam, “bên thắng cuộc” đâu có phải khốn đốn như hôm nay, vì không những chỉ đồng bào Miền Nam mà cả hai miền đã “sáng mắt sáng lòng”, và chóp bu đảng đâu có phải gọi nhau bằng nào “đồng chí X”, nào “một bầy sâu”, nào là “một bộ phận không nhỏ bị mất lập trường, tự diễn biến..”, đấm đánh nhau chí chóe;

- Nếu không “đưa giang san về một một mối” thì làm gì có cảnh cả khối dân oan kéo nhau về “thủ đô của phẩm giá con người” và khắp mọi miền của nước CHXHCNVN để “khiếu kiện vì nhà cửa đất đai ruộng vườn bao đời nay bị “cưỡng chế” cướp trắng tay; đâu có đám sinh viên Sài Gòn ngày xưa xuống đường “chống Mỹ cứu nước” nay lại chưng hửng mất công xuống đường góp tiếng nói cảnh tỉnh có tác dụng hơn ai hết trước “đại cái lầm” về “Bên thắng cuộc”.

Lại nhớ lời tướng độc nhãn Do Thái Moshe Dayan khi thăm Sài Gòn trước 1975 rằng “muốn thắng Cộng Sản phải để CS chiếm Miền Nam”. Nay rõ ràng “bên thắng cuộc” đang té ra thua cuộc.

“Bên-Thắng-Cuộc-té-ra-là-thua-cuộc” nằm phơi trắng bụng giữa ban ngày ban mặt. Chỉ có kẻ mù mới không hay!

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

'Hãy tôn trọng lịch sử,' nhưng lịch sử nào?

Trần Trung Ðạo

Tôi chưa đọc Bên Thắng Cuộc đầy đủ để viết về tác phẩm này. Có thể khi đọc xong cả hai cuốn, sẽ nhận xét Bên Thắng Cuộc với tư cách một người miền Nam đã sống những năm khắc nghiệt ở Sài Gòn, “sinh viên chế độ cũ,” đi kinh tế mới, vượt biển và trăn trở cùng đất nước. Bài viết này chỉ bàn đến luận điểm mà các báo lề đảng dùng khi viết về tác phẩm Bên Thắng Cuộc.

Hầu hết báo lề đảng đều đòi hỏi “Hãy tôn trọng lịch sử,” vâng, nhưng lịch sử nào?

Một trong những đề án lớn của các quốc gia thuộc khối CS Liên Xô cũ không chỉ phục hồi kinh tế, ổn định xã hội sau gần 80 năm sống trong chế độ toàn trị kinh hoàng, mà còn là viết lại lịch sử. Các nhà sử học Nga dành nhiều năm để đánh giá các sự kiện diễn ra từ thời Vladimir Lenin đến Mikhail Gorbachev và cho đến nay vẫn còn đang đánh giá. Nhiều chi tiết như các điều khoản bí mật trong hiệp ước Molotov-Ribbentrop, việc chiếm đóng các quốc gia vùng Baltic, sự giúp đỡ của đồng minh trong Thế Chiến Thứ Hai, v.v... đã bị xóa trong sử CS. Một số sự kiện có nhắc đến nhưng lại cố tình viết sai thủ phạm như vụ tàn sát 22 ngàn sĩ quan Ba Lan tại rừng Katyn vào tháng 3 năm 1940 được viết là Ðức Quốc Xã chứ không phải do mật vụ Xô Viết hành hình. Không chỉ sử Nga mà cả lịch sử thế giới, sự sụp đổ của đế quốc La Mã, các hình thái kinh tế cũng được giải thích theo quan điểm CS.

Các nhà sử học Việt Nam trong tương lai cũng sẽ nhức đầu như thế. Lịch sử không có một dòng chảy chính thống và trong suốt qua các thời kỳ đất nước. Lịch sử Việt Nam từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 trên phạm vi cả nước là lịch sử của kẻ thắng trận, được giải thích theo quan điểm của kẻ thắng trận và để phục vụ cho mục đích của kẻ thắng trận. Lịch sử Việt Nam mà sinh viên học sinh đang học là lịch sử được phát ra từ cái loa, biểu tượng cho bộ máy tuyên truyền của chế độ, giống như cái loa mà Huy Ðức có thể đã ám chỉ trong bìa sách Bên Thắng Cuộc.

Rất nhiều tranh luận về lý do tồn tại của chế độ CS tại Việt Nam. Trong cái nhìn của riêng tôi, chế độ CS tại Việt Nam chưa sụp đổ, không phải nhờ đổi mới kinh tế, ổn định xã hội nhưng chính là nhờ tác dụng của cái “loa lịch sử” đó. Ðảng CS ít nhiều đã thành công trong việc che giấu được tội ác và khoác cho mình chiếc áo chính danh, chính nghĩa, hay ít nhất không một thành phần dân tộc nào chính danh, chính nghĩa hơn đảng CS.

Ðảng Cộng sản tại năm quốc gia sót lại từ phong trào CS quốc tế, đặc biệt Trung Quốc và Việt Nam đã pha chế chủ nghĩa Dân tộc vào chủ nghĩa Cộng sản thành một loại hợp chất gây mê mang nhãn hiệu Dân tộc Xã hội chủ nghĩa. Ðảng CS lý luận rằng họ ra đời để đáp ứng một nhu cầu lịch sử và, như một tác giả viết trong báo Pháp Luật, “những người cộng sản chỉ nối tiếp sứ mệnh mà lịch sử giao phó.” Lịch sử nào giao phó?

Chủ trương nhuộm đỏ Việt Nam của đảng CS rõ như ban ngày khi đẩy hàng triệu thanh niên miền Bắc mang súng đạn của Nga, Tàu vào cưỡng chiếm miền Nam. Pháp rút sớm hay rút muộn, Mỹ đến hay không đến cũng chẳng ảnh hưởng gì đến mục tiêu thiết lập một nhà nước CS trên toàn lãnh thổ Việt Nam nhất quán từ ngày thành lập đảng CS vào năm 1930. “Ðộc lập dân tộc,” “Thống nhất đất nước” chỉ là những chiêu bài. Nếu không dùng khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước” bộ máy tuyên truyền tinh vi của đảng cũng thừa khả năng để nặn ra hàng trăm chiêu bài, khẩu hiệu hấp dẫn khác để kích thích và lợi dụng lòng yêu nước. Bộ máy tuyên truyền của đảng nhồi nhét vào nhận thức của các thế hệ Việt Nam, nhất là thế hệ sinh ra và lớn lên sau cuộc chiến, rằng cuộc chiến tranh gọi là “Chống Mỹ cứu nước” trước 1975 là cuộc chiến chính nghĩa, “đánh Mỹ” là bước kế tục của chiến tranh chống Thực dân Pháp. Ðó là lý luận của kẻ cướp. Ðảng CS không chỉ cướp đất nước mà cướp cả niềm tin và khát vọng của những người đã chết.

Như tôi đã viết trước đây, miền Nam có đàn áp chính trị nhưng cũng có đấu tranh chính trị, có ông quan tham nhũng nhưng cũng có nhiều phong trào chống tham nhũng hoạt động công khai, có ông tướng lạm quyền nhưng cũng có ông tướng trong sạch, có nghị gà nghị gật nhưng cũng có những chính khách, dân biểu, nghị sĩ đối lập chân chính. Xây dựng một xã hội dân chủ vừa bước ra khỏi phong kiến và thực dân là một tiến trình vinh quang nhưng cũng đầy trắc trở. Dân chủ ở miền Nam như một chiếc cây non lớn lên trong mưa chiều nắng sớm. Nhưng dù có khó khăn, tham nhũng thối nát bao nhiêu đi nữa, đó cũng là vấn đề riêng của Việt Nam Cộng Hòa không dính dáng gì đến đảng CS ở miền Bắc. Những ông như Trịnh Ðình Thảo, Lâm Văn Tết có đủ không gian và phương tiện để đấu tranh một cách hợp pháp tại miền Nam cho một xã hội tốt đẹp hơn như hàng trăm chính khách quốc gia khác. Dĩ nhiên, họ có thể thất bại, bị tù đày và ngay cả bị giết nhưng vẫn là những người quốc gia chân chính. Tuy nhiên, khi tham gia Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, chấp nhận làm công cụ cho đảng CS, họ đã tự chặt chiếc cầu biên giới giữa họ và nhân dân miền Nam.

Tác giả viết trong “Sài Gòn Giải Phóng” nhắc đến “10 cô gái Ðồng Lộc” mà không biết rằng nếu có thể hiện hồn về, công việc đầu tiên của các cô chết trong hố bom Ðồng Lộc là đi tìm lãnh đạo đảng CS để thanh toán cả vốn lẫn lời vì cái chết oan uổng của các cô chỉ để đổi lấy một đất nước nghèo nạn, lạc hậu, một chế độ độc tài, tham nhũng, phản văn minh tiến bộ như ngày nay.

Tác giả trên báo “Sài Gòn Giải Phóng” cũng nhắc đến đến “nhà tù Côn Ðảo,” “nghĩa trang Hàng Dương” làm tôi nhớ đến nơi này. Tôi cũng đã từng đến đó, không phải vì phải ở tù mà chỉ vì muốn biết một di tích lịch sử của dân tộc. Ðảng xem nhà tù Côn Ðảo như một “trường đại học CS,” tài sản riêng của đảng CS nhưng đừng quên nhà tù Côn Ðảo do thực dân Pháp lập ra năm 1862 tức 68 năm trước khi đảng CS ra đời. Năm 1945, đảng CS ước lượng có khoảng 5 ngàn đảng viên. Cho dù thực dân Pháp bắt và đày nguyên cả đảng ra Côn Ðảo cũng không thể so với số tù nhân thuộc các phong trào yêu nước khác. Với tôi, cuộc chiến chống thực dân Pháp là cuộc chiến chính nghĩa. Trong suốt gần một thế kỷ trong bóng tối thực dân, hàng vạn đồng bào thuộc nhiều thế hệ Việt Nam đã bị bắt, tra tấn và đã hy sinh trên Côn Ðảo. Những đồng bào đã hy sinh trong cuộc chiến chống Thực dân và bỏ xác trên đảo đều xứng đáng được tôn vinh.

Nếu họ đã từng là đảng viên Cộng sản thì sao? Không sao cả. Như tôi đã có dịp viết trong tiểu luận “Từ buổi chiều trên nghĩa địa Hàng Dương,” việc tham gia vào đảng Cộng sản của một số người Việt Nam, chủ yếu là để được tổ chức hóa nhằm mục đích hợp đồng chiến đấu, đạt đến chiến thắng dễ dàng hơn chứ không phải vì tin vào chủ nghĩa Cộng sản. Ngày đó, vì điều kiện giao thông khó khăn, núi non cách trở, sự phát triển của các đảng phái chống thực dân ít nhiều bị giới hạn bởi các đặc tính địa phương, bà con dòng họ, hoàn cảnh trưởng thành. Nếu họ sinh ra ở Quảng Nam họ sẽ gia nhập Việt Nam Quốc dân Ðảng, sinh ra ở Quảng Trị họ sẽ gia nhập Ðại Việt, sinh ra ở Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang họ sẽ gia nhập Dân xã Ðảng. Ðó là trọng điểm của các đảng phái chống Pháp trong những thập niên đầu của thế kỷ 20. Những người Việt yêu nước thời đó chọn lựa đảng phái như chọn một chiếc phao để đưa dân tộc sang bờ độc lập. Những nông dân hiền hòa chất phác, những công nhân đầu tắt mặt tối làm sao biết được con đường họ đi không dẫn đến độc lập, tự do, hạnh phúc mà dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, độc tài và làm sao biết được chiếc phao họ bám cũng là chiếc bẫy buộc chặt chẳng những cuộc đời họ mà còn gây hệ lụy cho cả dân tộc đến ngày nay. Ðảng Cộng sản như một tổ chức thì khác. Mục đích của đảng CS không chỉ nhuộm đỏ miền Nam, nhuộm đỏ Việt Nam mà còn nhuộm đỏ cả dòng lịch sử.

Tác giả viết trên báo “Pháp Luật” so sánh việc chính quyền miền Nam tra tấn các đảng viên CS và tù “cải tạo” sau 1975 khi kết án tác giả Bên Thắng Cuộc đã “Nhấn mạnh 'chế độ hà khắc' của các trại cải tạo nhưng cuốn sách lại không nhắc đến những trại tù và cách ứng xử của chế độ Sài Gòn cũ đối với những người yêu nước.” Những kẻ ném lựu đạn vào nhà hàng, ám sát, đặt mìn trên quốc lộ 1, quốc lộ 4, đặt bom trong sân vận động, đốt chợ, đốt làng, giết người vô tội không phải tù chính trị hay tù binh chiến tranh, mà chỉ là những tên khủng bố. Chúng là những kẻ yêu đảng chứ không phải là “những người yêu nước.” Bấm vào đây “Terrorist Attacks in Saigon 1960s-70s” để xem các “chiến công hiển hách” của Biệt động thành Sài Gòn Gia Ðịnh khi ám sát hàng loạt “Mỹ ngụy” còn mặc tã ở nhà hàng Mỹ Cảnh. Tội ác giết phụ nữ trẻ em của chúng phải được xét xử theo đúng luật pháp. Ðiều đó đã và đang được áp dụng tại mọi quốc gia trên thế giới không riêng gì Việt Nam Cộng Hòa.

So sánh tù CS ở Côn Ðảo và tù “cải tạo” là một cách so sánh vụng về và không cân xứng. Tổng số tù tại Côn Ðảo khác nhau tùy theo bên nào tổng kết, 5 ngàn theo con số của VNCH công bố và 17 ngàn theo con số của Hà Nội. Dù chọn con số 17 ngàn của đảng thổi phồng vẫn không thể so với hơn 200 ngàn công nhân viên chức và sĩ quan quân đội VNCH bị giam giữ trong 150 trại tù, đa số tận rừng sâu nước độc kéo dài từ 1975 đến 1992 mà chính Thủ tướng CS Phạm Văn Ðồng thừa nhận. Các tổ chức quốc tế ước lượng cho đến 1982 số viên chức và sĩ quan VNCH bị giam giữ vẫn còn lên đến 300 ngàn người. Theo tổng kết của báo chí Mỹ, khoảng 165 ngàn người đã chết trong các trại tù CS. Ngoài ra, hàng triệu thân nhân, gia đình, con cái họ bị đày ra các vùng kinh tế mới, bị bạc đãi như nô lệ thời CS chỉ vì lý lịch VNCH.

Một điều quan trọng mà người dân miền Nam sẽ không bao giờ quên, không giống tù Côn Ðảo xảy ra trong thời chiến, tội ác “tù cải tạo” vô cùng phi nhân đã được đảng thực thi sau khi đất nước đã hòa bình, sau khi Lê Duẩn ngọt ngào tuyên bố “chiến thắng này thuộc về nhân dân Việt Nam” và sau khi Trần Văn Trà, chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn Gia Ðịnh vuốt ve các viên chức VNCH còn trong Dinh Ðộc Lập “Nhân dân Việt Nam chính là người chiến thắng và chỉ đế quốc Mỹ mới thật sự là kẻ bại trận mà thôi.”

Phân tích như vậy để thấy lý luận trong bài viết trên báo “Pháp Luật” cho rằng cuộc chiến chấm dứt sáng 30 tháng 4, 1975 “không phải là chiến thắng của một 'bên thắng cuộc' hạn hẹp mà là chiến thắng của mọi người Việt Nam, trong đó cả những người từng ở phía bên kia” đúng là sản phẩm của chính sách tẩy não. Miền Nam sau 30 tháng 4, 1975 là một nhà tù và nhân dân miền Nam là tù nhân dưới nhiều hình thức khác nhau.

Từ 1983, để tồn tại, đảng CS phải tự diễn biến hòa bình bằng cách mở thêm một vài ô cửa sổ cho gió vào nhưng thực chất đất nước vẫn còn bị bao bọc bằng bức tường dày bưng bít thông tin và một chế độ trấn áp không thua tiêu chuẩn một nhà tù khắt khe quốc tế nào. Lý thuyết Mác-Lê có thể chỉ còn trong đầu môi chót lưỡi, trong các diễn văn, trong các bài ai điếu của các lãnh đạo đảng nhưng các phương tiện chuyên chính, toàn trị CS vẫn không khác gì nhiều so với thời triệt để cách mạng trước đây. Một nhạc sĩ trẻ Việt Khang chỉ viết hai bài hát chống Tàu bị kết án bốn năm tù. Một cô gái Ðỗ Thị Minh Hạnh mới ngoài hai mươi tuổi, đấu tranh cho quyền lợi công nhân phù hợp với luật pháp của đảng CS quy định bị kết án bảy năm tù, một thanh niên trẻ Lê Sơn chỉ đưa tin tức các cuộc biểu tình chống Trung Quốc và chống khai thác Bauxite tại Tây Nguyên bị kết mười ba năm tù. Và hàng trăm, hàng ngàn người khác đã sống và đã chết, nhiều trường hợp rất âm thầm, trong nhà tù CS chỉ vì dám nói lên khát vọng dân chủ tự do.

Tác giả trên báo “Sài Gòn Giải Phóng” viết, “Có thể lúc này lúc khác, Ðảng có sai lầm. Cuộc sống khó khăn, đôi khi tôi cũng mất lòng tin vào đường lối của Nhà nước.” Hãy chỉ giùm tôi, không phải một năm, một tháng mà chỉ một ngày thôi đảng CS đã “lúc này lúc khác.” Bản chất của chế độ chưa hề thay đổi dù chỉ một giờ.

Lãnh đạo đảng có 38 năm để chọn một hướng đi phù hợp với trào lưu tiến hóa của nhân loại, có hàng trăm cơ hội để sửa sai nhưng họ không làm. Tất cả chính sách của đảng chỉ nhằm một mục đích duy nhất là củng cố quyền cai trị mặc cho dân tộc bị bỏ lại phía sau một đoạn đường quá xa so với đà tiến của nhân loại sau cách mạng tin học và toàn cầu hóa kinh tế cuối thập niên 1980. Tội ác của đảng với “tù cải tạo,” “kinh tế mới,” “đổi tiền,” “đánh tư sản,” có viết hàng tủ sách cũng không hết. Nỗi đau và sự chịu đựng vô bờ bến của nhân dân miền Nam nói riêng và cả nước nói chung, không thể nào diễn tả cạn dòng. Hàng ngàn câu chuyện thật đau lòng đã xảy ra trên con đường máu nhuộm Việt Nam sau 1975 và chỉ được phơi bày khi bức tường chuyên chính CS bị đạp đổ.

Có hai cách để đạp đổ bức tường chuyên chính. Thứ nhất, đi mượn một cái búa lớn của các cường quốc đem về đập phá bức tường và thứ hai xói mòn bằng những bàn tay nhỏ Việt Nam kiên nhẫn. Sau 38 năm, những người đi tìm búa hoặc chết trên đường, hoặc trở về không. Còn lại hôm nay là những bàn tay Việt Nam nhỏ nhoi. Bàn tay Ðỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Ðoàn Huy Chương, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Ðịnh, Lê Quốc Quân, Ðặng Xuân Diệu, Hồ Ðức Hòa, Lê Văn Sơn và hàng ngàn người Việt Nam yêu nước khác. Dù đang ngồi trong bốn bức tường đen, họ mới chính là những người đang viết sử và thấy đâu là sự thật.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Ai là tác giả hiệp định Paris

Ngô Nhân Dụng

Khi hiệp định Paris được ký kết, trước đây 40 năm, nhiều người vui mừng, vì ít nhất dân Việt Nam sẽ không chết vì chiến tranh nữa. Nhiều người còn hy vọng đó là một bước rẽ, mở con đường mới cho miền Nam Việt Nam.

Sau cùng, ai cũng biết, đó chỉ là một thủ thuật, dùng trong một giai đoạn, của đảng Cộng Sản Việt Nam trong chương trình chiếm quyền cai trị trên cả nước Việt Nam, với mục đích “đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội”.

Nhưng ngay cả nỗi vui mừng vì cảnh chết chóc chấm dứt cũng biến mất. Người Việt Nam trong vài năm tiếp theo không chết vì chiến tranh thường xuyên nữa, nhưng nhiều người vẫn chết vì sau đó cuộc chiến lại tiếp tục. Số quân nhân hai bên bị tử thương trong cuộc tổng tấn công của Cộng Sản năm 1975 cũng lớn gấp nhiều lần so với khi chiến tranh còn tiếp diễn. Số người chết trên đường vượt biển còn lớn hơn số thường dân chết trong một năm chiến tranh. Chưa kể nỗi đau thương của bao nhiêu gia đình bị đẩy đi vùng kinh tế mới hoặc có người bị đi tù cải tạo. Và chiến tranh lại tiếp diễn ở Campuchia với 50 ngàn thanh niên Việt Nam bỏ xác, và ở biên giới Hoa-Việt, mà con số thương vong không bao giờ được công bố.

Số phận của những người dân miền Nam Việt Nam đã được quyết định trước đó nhiều năm. Năm 1968, trong khi đang tranh cử tổng thống Mỹ, ông Richard Nixon đã cho cố vấn là Henri Kissinger đến gặp đại sứ Nga ở Washington đề nghị giới lãnh đạo Nga Xô đừng làm trò gì ảnh hưởng đến cuộc chạy đua vào Tòa Bạch Ốc. Kissinger trình bày trước lập trường của ông chủ mình về bang giao Nga-Mỹ; trong đó ông ta đặc biệt nhấn mạnh: Nếu đắc cử, ông Nixon sẽ rút quân khỏi Việt Nam; sau đó chế độ chính trị ở miền Nam ra sao không quan trọng, dù có một chính quyền Cộng Sản. Ðiều này, ông Kissinger còn lập lại khi đến thăm Ðại Sứ Anatoly Dobrynin sau khi ông Nixon thắng và chưa tuyên thệ nhậm chức.

Hiệp định Paris cũng chỉ là một văn kiện để giúp Tổng Thống Richard Nixon rút quân ra khỏi Việt Nam một cách chính thức, nghĩa là vẫn giữ được thể diện. Năm 1972 nước Mỹ bầu tổng thống, và ông Richard Nixon cần tái đắc cử, nhờ thành tích chấm dứt cuộc chiến tranh quá dài mà dân Mỹ bắt đầu thấy chán. Nixon sai Kissinger thu xếp để tiến tới hiệp định Paris trước khi dân Mỹ bỏ phiếu.

Trong cuộc thu xếp này, Nixon được Mao Trạch Ðông hỗ trợ. Trước năm 1970, Mao rất căm hận Nixon vì ông tổng thống Mỹ chỉ chú ý nói chuyện với Moskva mà không quan tâm đến Bắc Kinh; coi Mao chỉ là một lãnh tụ Cộng Sản hạng nhì. Trong một cuộc chuyện trò với Phạm Văn Ðồng, Mao hỏi: “Tại sao bọn Mỹ không làm rùm beng lên về chuyện có 100,000 quân đội Trung Quốc đang xây dựng đường xe lửa, đường bộ, và phi trường ở Việt Nam, mặc dù chúng biết sự kiện này?” Phạm Văn Ðồng nói vuốt đuôi: “Vì chúng nó sợ!” Nhưng chúng ta cũng biết rằng ngay từ khi chiến tranh bắt đầu, các chính quyền Mỹ đã cam kết với Trung Quốc là họ sẽ không bao giờ gửi quân đội Mỹ và cũng không để cho quân đội miền Nam tiến ra Bắc Việt. Chính quyền Mỹ lờ đi như không biết có quân đội Trung Cộng ở ngoài Bắc, vì nói ra sẽ làm cho bài toán rắc rối hơn, ngay trong khung cảnh chính trị nội bộ của Mỹ. Mao Trạch Ðông còn tỏ ý bất bình, nói với Phạm Văn Ðồng rằng “Tại sao bọn Mỹ chúng nó lại ước tính số binh sĩ Trung Quốc ở Việt Nam ít hơn sự thật như vậy?”

Tháng 11 năm 1970 Chu Ân Lai được lệnh bắn tin qua các nhà ngoại giao Rumania là nếu Nixon muốn thăm Trung Quốc thì sẽ được mời. Nixon bảo Kissinger đừng tỏ ý muốn đi vội vàng quá, cuối tháng 2 Kissinger mới bắn tiếng lại, tỏ ý thân thiện nhưng không nói gì đến việc Nixon có thể sang Tàu. Tháng 3 năm 1971, các cầu thủ bóng bàn Trung Quốc gặp các cầu thủ Mỹ ở Nhật Bản, và khi đi chung một chuyến xe buýt, tay vợt Mỹ Glenn Cowan đã bắt tay nhà vô địch Trung Quốc Trang Tắc Ðống (Zhuang Zédòng), nói muốn sang thăm Trung Quốc. Mao Trạch Ðông đã bắt lấy ý đó, ra lệnh mời các cầu thủ Mỹ qua Tàu! Sau đó, Kissinger đi đêm để chuẩn bị chuyến Nixon sang Tàu năm đầu 1972.

Trong chuyến thăm bí mật năm 1971, Kissinger đã hứa hẹn với Chu Ân Lai rằng Mỹ sẽ cung cấp cho Trung Quốc các tin tức tình báo về hoạt động của quân Nga ở vùng biên giới Nga-Hoa. Ông cũng cam kết Mỹ sẽ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, mà ông phác họa một thời biểu là trong vòng 12 tháng. Lúc đó là tháng 7 năm 1971, sáu tháng trước khi Mỹ ký hiệp định Paris, mà chính Kissinger cũng không biết chắc là sẽ có một hiệp định hay không. Vì vậy, Kissinger đã nói thẳng với Chu Ân Lai là dù không có thỏa hiệp nào thì chính phủ Nixon cũng đơn phương rút quân, và không bao giờ trở lại Việt Nam nữa, bỏ rơi luôn chính quyền miền Nam Việt Nam. Kissinger nói rõ ràng: “Sau khi hòa bình rồi, người Mỹ chúng tôi sẽ ở xa Việt Nam cả vạn dặm, còn Hà Nội thì vẫn ở đó.” Những chi tiết này được kể lại trong một sách của William Burr, năm 2002 (The Bejing - Washington Back Channel); kể chuyện các chuyến đi bí mật của Kissinger năm 1970, 71; sách này nằm trong tài liệu điện tử của cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ NSA; được thuật lại trong sách MAO, của Jung Chang và Jon Halliday, 2005.

Nixon đã toại nguyện, vì Mao sẵn sàng giúp ông tái đắc cử. Dưới sức ép của Mao, Bắc Việt chịu ký tên vào bản hiệp định Paris. Quân Mỹ rút về “trong danh dự”. Nhưng số phận Nixon lại bị quyết định do một xì căng đan chính ông ta gây ra; khiến ông phải từ chức khi Quốc Hội Mỹ chuẩn bị đàn hạch và truất phế, vào năm 1974. Người thương tiếc Nixon nhất lại là Mao Trạch Ðông. Mao nhắn tin qua bà Imelda Marcos mời Nixon qua chơi. Năm 1975, Mao sai mời con gái Nixon là Julie và chồng qua Tàu, Mao lại nói với cô con bảo nói với bố rằng “Tôi nhớ ông ấy lắm.” Tháng 2 năm 1976, Mao đưa một chiếc máy bay Boeing 707 sang tận Los Angeles đón Nixon qua uống trà; bảy tháng sau thì Mao chết.

Bản hiệp định Paris cuối cùng là kết quả của cuộc gặp gỡ giữa Nixon và Mao. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không thể làm gì được, khi nước đồng minh lớn nhất đã bỏ rơi. Cộng Sản miền Bắc đã được Moskva và Bắc Kinh báo cho biết trước Mỹ sẽ rút quân, trong khi vũ khí của Nga vẫn đổ sang ngày càng nhiều, họ nắm chắc phần thắng. Nhưng họ vẫn phải đặt bút ký vì Mao Trạch Ðông muốn tặng Nixon một món quà. Cộng Sản miền Bắc cũng cần một thời gian chuẩn bị để đánh một trận chót, cho nên hiệp định Paris cũng là một bước nghỉ chân.

Những người lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa chắc không ai biết gì về những lời Kissinger đã hứa với Dobrynin hay với Chu Ân Lai. Người dân miền Nam lại càng không biết gì cả. Bao nhiêu chiến sĩ đã bỏ mình trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Bao nhiêu đồng bào tử nạn trên đường vượt biển. Nhắc lại 40 năm hiệp định Paris, chúng ta hãy thắp nhang tưởng nhớ họ, đó là cách kỷ niệm có ý nghĩa nhất. Bài học của một dân tộc nhược tiểu là đừng bao giờ vì các lý thuyết, tư tưởng trừu tượng, ngoại lai mà để đồng bào tàn sát lẫn nhau. Trong cuộc chiến tranh nào, người dân cũng đau khổ.

Post Reply