Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Việt Nam đề cập việc thay đổi quốc hiệu Chính quyền Việt Nam sẽ xem xét có nên thay đổi quốc hiệu ‘Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam’ để trở lại quốc hiệu cũ là ‘Việt Nam Dân chủ Cộng hòa’ hay không, báo chí trong nước đưa tin.

Đây là vấn đề mà Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp vừa đề xuất với Ủy ban Thường vụ Quốc hội và tiếp đó sẽ được đưa ra bàn thảo tại Hội nghị trung ương 7 sắp tới của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp thì việc sửa đổi này là ý kiến của nhiều người dân trong đợt góp ý cho Hiến pháp hiện đang diễn ra.

Bên cạnh vấn đề quốc hiệu, trong bản báo cáo tổng hợp các góp ý cho Hiến pháp được trình lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội hôm thứ Sáu ngày 12/4, Ủy ban này cũng nhắc đến một loạt đề xuất khác của người dân về một số chủ đề nhạy cảm khác như sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của quân đội và thu hồi đất đai.

‘Ý kiến khác nhau’Các vấn đề này được nhìn nhận là ‘còn nhiều ý kiến khác nhau’ nên sẽ được để ngỏ để Quốc hội và Đảng quyết định.

Theo đó, đối với từng vấn đề sẽ có hai phương án: giữ nguyên như trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi hoặc sửa lại theo góp ý của người dân.

Về Quốc hiệu được nêu trong điều 1, phương án 2 mà Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp đề xuất là:

“Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. Tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.”
Image
Đại biểu Dương Trung Quốc
Đại biểu Dương Trung Quốc nói với BBC ông mong muốn Việt Nam trở lại chế độ dân chủ, cộng hòa
Báo Dân Trí dẫn báo cáo của Ủy ban này phân tích rằng việc giữ nguyên quốc hiệu ‘xã hội chủ nghĩa’ có mặt lợi là khẳng định ‘mục tiêu phấn đấu đi lên chủ nghĩa xã hội’ đồng thời không cần phải thay đổi quốc huy và con dấu. Mặt khác, đối với người dân thì cách gọi ‘Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam’ đã rất quen thuộc.

Còn cách gọi ‘dân chủ cộng hòa’ phù hợp với tình hình thực tế của đất nước là ‘định hướng xã hội chủ nghĩa’ và có khả năng đoàn kết dân tộc cũng như thân thiện hơn với cộng đồng quốc tế, cũng theo báo cáo của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp được báo Dân Trí dẫn lại.

Với cách phân tích như vậy, có thể thấy Ủy ban này gián tiếp thừa nhận quốc hiệu ‘xã hội chủ nghĩa’ gây chia rẽ người dân Việt Nam và bị cộng đồng quốc tế ác cảm.

Trong một cuộc trao đổi gần đây với BBC, một đại biểu Quốc hội cũng lên tiếng cho biết quan điểm cá nhân của ông ủng hộ việc Việt Nam nên trở lại với chế độ "dân chủ, cộng hòa."

Đại biểu Bấm Dương Trung Quốc nói với BBC Việt ngữ: "Rõ ràng bản hiến pháp năm 1946 được xây dựng trên một nền tảng có một sự đồng thuận rất cao khi lựa chọn chế độ dân chủ cộng hòa.

"Còn mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội tôi nghĩ vẫn là mục tiêu có thể đặt ra, nhưng nó phải hết sức thực tiễn vì đó là mô hình chưa hề có.

'Mong muốn trở lại chế độ dân chủ cộng hòa'
Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc nói về việc sửa đổi hiến pháp đang diễn ra và cho hay ông mong muốn có sự trở lại với 'chế độ dân chủ, cộng hòa.'

"Vì thế tôi đề nghị, tôi mong muốn là ta trở lại với chế độ dân chủ, cộng hòa," đại biểu đồng thời là nhà sử học nói.

Tuy nhiên, về điều 4 khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản vốn gây tranh cãi, báo cáo của Ủy ban này cho biết ‘tuyệt đại đa số ý kiến người dân tán thành’.

Ý kiến của nhân dân về điều 4 này, có chăng, là viết gọn lại thành ‘Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội’ thay vì phải diễn giải rõ về bản chất và tư tưởng của Đảng.

Ngoài ra, theo Ủy ban này, người dân cũng yêu cầu Hiến pháp viết rõ trong điều 4 này là ‘Đảng chịu sự giám sát của nhân dân’ và sự lãnh đạo của Đảng ‘chịu sự lãnh đạo của nhân dân’.

Tuy nhiên ý kiến làm rõ cơ chế chịu trách nhiệm của Đảng và cơ chế để nhân dân có thể giám sát Đảng đã bị Ủy ban này bác bỏ với lập luận rằng quy định Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật đã là điều kiện đủ để dân giám sát Đảng, cũng theo Dân Trí.

Trung thành với ai?Ở điều 70 quy định về sự trung thành của quân đội, báo cáo tổng hợp ý kiến của người dân cho thấy có hai luồng ý kiến tán thành và phản đối việc quy định ‘lực lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam’.
Image
Giáo sư Đàm Thanh Sơn
GS Đàm Thanh Sơn cho rằng quân đội, lực lượng vũ trang phải trước hết trung thành với Tổ quốc và nhân dân
Tuy nhiên ở luồng ý kiến tán thành cũng yêu cầu sắp xếp lại thứ tự ưu tiên trong sự trung thành của quân đội là với Tổ quốc, nhân dân trước rồi mới đến Đảng.

Về vấn đề này, trong một trao đổi với BBC gần đây, Giáo sư Bấm Đàm Thanh Sơn đang giảng dạy tại Hoa Kỳ, thành viên khởi xướng nhóm "Cùng viết hiến pháp" bên cạnh Giáo sư Ngô Bảo Châu, trong một thư góp ý của mình gửi tới Quốc hội Việt Nam cho rằng:

“Các lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ chế độ dân chủ, cùng toàn dân xây dựng đất nước”.

Ông không tán thành bản dự thảo hiến pháp của chính quyền nói: “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân”.

Giáo sư nêu lý do: "Theo tôi, các lực lượng vũ trang của Việt Nam phải tuyệt đối trung thành với đất nước và nhân dân Việt Nam, do đó quy định như trong Hiến pháp hiện hành là đủ.

"Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là một bộ phận của nhân dân Việt Nam, do đó đặt cụm từ “Đảng cộng sản Việt Nam” lên trước hai từ “Tổ quốc” và “nhân dân” như trong dự thảo là không hợp lý."

"Trưng cầu dân ý đã được nêu lên từ lâu nhưng chưa được thực thi vì chưa có luật, vì vậy hãy nhanh chóng có luật về trưng cầu dân ý và đó là công cụ để đo được quyền phúc quyết của người dân khi bản dự thảo Hiến pháp được sửa đổi xong và để lấy ý kiến của người dân"

Đại biểu Dương Trung Quốc


Về việc thu hồi đất được quy định ở điều 58, báo cáo tiếp thu ý kiến người dân cũng đề xuất không tiếp tục thu hồi đất với cả ‘dự án phát triển kinh tế-xã hội’ và bổ sung quy định ‘thu hồi phải công khai, minh bạch, công bằng và do luật định’, báo Pháp Luật TPHCM cho biết.

Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp cũng tiếp thu ý kiến đóng góp về nguyên lý ‘vô tội’. Theo đó bị cáo ‘được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là có tội theo trình tự luật định và có bản án kết tội của tòa án’.

Có một thực tế ở Việt Nam là các nhân vật bất đồng chính kiến đang bị cáo buộc ‘chống Nhà nước’ mặc dù vẫn chưa ra tòa hoặc chưa bị tòa tuyên án thì đã bị các cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước khẳng định là ‘có tội’.

Một điểm đáng lưu ý nữa mà Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp cũng tiếp thu là quy định ‘Hiến pháp phải được trưng cầu dân ý’ để bảo điểm quyền lập hiến của nhân dân.

Về điểm này, trong cuộc trao đổi với BBC, Đại biểu Dương Trung Quốc cũng nói:

"Phải có thời gian để chúng ta sửa đổi Hiến pháp một cách hoàn thiện hơn, và trước khi có thể sửa đổi bản Hiến pháp một cách căn bản, thì nên giải quyết một vấn đề đã được đặt ra trong các bản hiến pháp trước đây. Đó là quyền trưng cầu dân ý.

"Trưng cầu dân ý đã được nêu lên từ lâu nhưng chưa được thực thi vì chưa có luật, vì vậy hãy nhanh chóng có luật về trưng cầu dân ý và đó là công cụ để đo được quyền phúc quyết của người dân khi bản dự thảo Hiến pháp được sửa đổi xong và để lấy ý kiến của người dân.

"Thì chắc chắn bản Hiến pháp sắp tới sẽ đảm bảo tính bền vững, vì nó kế thừa nền tảng vững chắc của chế độ dân chủ, cộng hòa được xác lập từ năm 1945 và nó cũng không thay đổi định hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội, nếu chúng ta còn mong muốn," ông nói với BBC.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Sống thật không sống giả

Ngô Nhân Dụng
Trước khi các chế độ cộng sản sụp đổ, ít người thấy được những nhược điểm căn cốt nằm bên trong chế độ, kể cả những lực lượng đối lập đang đòi dân chủ hóa. Ông Jan Urban, một người trong nhóm Hiến Chương 77 sau này cho biết vào mùa Hè năm 1989, nhà trí thức trong nhóm này đã có trong tay một bản báo cáo của cơ quan mật vụ StB trình lên Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Tiệp Khắc. Trong báo cáo này, StB cho biết “những nhóm chống Chủ nghĩa Xã hội” chỉ gồm có 60 người, và nhiều nhất là 500 người ủng hộ họ. Jan Urban đồng ý là các con số được StB ước lượng là đúng. Ông viết: “Chính chúng tôi cũng thấy mình không thể nào chống lại chế độ này được, cho đến khi nó sụp đổ còn ngạc nhiên.” Ðảng Cộng sản Tiệp Khắc sụp đổ vào mùa Thu năm đó.

Bởi vì mọi người chỉ được xem một tấn tuồng giả dối. Cố Tổng thống Václav Havel (1936-2011) cũng trong nhóm Hiến Chương 77, trong cuốn “Quyền lực cho những người Bất lực” (The Power of the Powerless, 1978) đã mô tả nước ông là nơi các công dân bị bắt buộc phải “sống trong một trò giả dối” (live within a lie). Năm 1984, ông đã đưa ra một lời kêu gọi đồng bào ông, “Hãy sống thật!”

Ở bên Nga trước đó, năm 1974 văn hào Aleksandr Solzhenitsyn cũng nhìn thấy cảnh tượng đó. Ông viết xong một bài tựa đề “Ðừng Sống Dối Trá” (Live Not By Lies) đúng vào ngày ông bị mật vụ đến bắt đem đi. Năm đó Solzhenitsyn còn bi quan hơn nhiều; ông viết: “Chúng ta đã bị mất nhân tính một cách tuyệt vọng đến mức sẵn sàng từ bỏ tất cả các quy tắc, từ bỏ tâm hồn mình, từ bỏ tất cả những nỗ lực của tổ tiên cũng như từ bỏ các cơ hội đáng lẽ con cháu chúng ta phải được hưởng; để đổi lại lấy mấy khẩu phần tem phiếu nhỏ nhoi, và chấp nhận đừng có làm gì hết khuấy động cuộc sống mong manh này.” Solzhenitsyn than: “Chúng ta đang chết về mặt tinh thần.... và chúng ta vẫn cứ thế mỉm cười một cách hèn nhát...”

Năm 1975 Havel đã viết một lá thư ngỏ gửi cho lãnh tụ đảng Cộng sản Gustáv Husák để trình bày cảnh tượng người dân chán nản trong một xã hội “phân biệt chính trị' (political apprtheid) không khác gì chế độ phân biệt chủng tộc đen trắng ở Nam Phi lúc đó. Ông nhìn thấy trong xã hội nước Tiệp Khắc những công dân “muốn sống trong sự thật” sẽ tự nhiên tách mình ra khỏi cái không khí tinh thần (ông gọi là một nền văn hóa) do chế độ ban bố. Havel nhìn thấy có hai đời sống văn hóa song hành, một đời sống giả do đảng và nhà nước cộng sản duy trì, và một nền văn hóa thật trong đời sống hàng ngày của người dân. Chế độ cộng sản ở Tiệp Khắc là một chế độ hà khắc kiểu Stalin nhất, so với những nước cộng sản cởi mở hơn ở Ba Lan và Hungary; tình trạng mà cũng vào năm 1984 nhà phân tích chính trị T. G, Ash nhận định trong một tựa đề rất thích hợp: “Nước Tiệp Khắc ướp đá,” (Czechoslovakia under the Ice). Nhưng chính lúc đó Ash cũng đã nhìn thấy, một số nhà trí thức can đảm cũng chứng tỏ có những đốm lửa nóng ngầm bên dưới đang đang làm tan cái khối băng đá khổng lồ là chế độ cộng sản. Bởi vì ai cũng còn nhớ, dân Tiệp Khắc đã có lúc vùng dậy, muôn người như một, chứng tỏ họ là một dân tộc hào hùng. Vì thế, giới trí thức phản kháng dù họ chỉ mới quy tụ được 60 người, vẫn tin tưởng, hy vọng, và tiếp tục hành động.

Tại Việt Nam ngày nay, người dân không phải hy sinh danh dự vì những phần ăn có thể mua bằng tem phiếu như ở Nga thời Solzhenitsyn nữa. Nhưng người ta vẫn có thể bỏ quên danh dự vì những lý do khác. Xã hội vẫn sống hai mặt, trong hai đời sống khác nhau. Một cuộc sống dối trá ở chỗ công khai, một cuộc sống thật khi quay về với chính mình. Ðó là “hai nền văn hóa song song,” như Havel diễn tả.

Trong nền “văn hóa sống giả,” ở trên cùng là đảng Cộng sản vẫn còn hô hào “xây dựng chủ nghĩa xã hội;” trong khi chính các lãnh tụ đảng cũng không ai còn tin vào cái chủ nghĩa mơ màng đó nữa. Còn bên dưới, cả guồng máy tuyên truyền hàng ngàn thứ báo, đài, vẫn được bộ máy văn hóa tư tưởng uốn nắn vào khuôn, không ai dám nói đến nhu cầu dân chủ tự do. Toàn dân không còn ai tin vào những lời hứa hẹn của đảng Cộng sản; mà cũng không ai tin đảng sẽ còn sống lâu được nữa. Nhưng cả bộ máy truyền thông vẫn tiếp tục vẽ một bộ mặt bình thường cho chế độ, loan tin những nghị quyết, những kế hoạch, những thành quả, làm như tương lai vẫn rất tươi sáng.

Năm 1975, ông Havel đã báo động với lãnh tụ cộng sản Husák rằng tình trạng “phân biệt chính trị” của chế độ đang gây ra một hậu quả là người dân Tiệp Khắc sẽ bị “phi chính trị hóa,” không còn ai quan tâm đến xã hội chung quanh mình nữa. Ở nước ta hiện nay chủ nghĩa “Mặc Kệ” cũng đang tràn ngập. Chế độ kinh tế tư bản rừng rú mở cửa cho lòng tham và óc hưởng thụ nổ bùng. Nhưng không thiết lập được những định chế để kiềm chế các hành động gian manh do lòng tham thúc đẩy. Nền văn hóa sống giả làm cho cả xã hội suy đồi. Ðến nỗi có nhà tư bản đỏ bỏ hàng tỷ đồng trùng giúp tu chùa chiền cho thật hào nhoáng, để đưa hình ảnh vợ con, gia đình mình vào đặt ngang với bàn thờ.

Nhưng trong “nền văn hóa sống thật” vẫn có những mạng lưới của giới trí thức, giới sinh viên, các nhà vận động dân chủ. Họ dám nói thẳng: Sống như thế này không thể chấp nhận được. Phải thay đổi, và thay đổi toàn diện.

Bên cạnh cuộc sống thật đó, xã hội vẫn may mắn vẫn còn các đoàn thể tôn giáo, những nhóm tư nhân, nghề nghiệp, đang tự tổ chức để hoạt động trong các phạm vi thuần túy tôn giáo, xã hội, khoa học, nghệ thuật, bên ngoài tầm kiểm soát của đảng. Họ đang xây dựng nền tảng cho một xã hội công dân tương lai, khi quyền hội họp tự do được chính thức công nhận. Ngoài ra cũng có những ý kiến lâu lâu xuất hiện trên báo chí công khai, chỉ mới dám vận động xin đảng Cộng sản nới lỏng một chút tự do cho họ được phép góp ý kiến một cách ôn hòa. Những hoạt động và các tiếng nói nhỏ đó giúp cho cuộc sống đẹp hơn. Nhưng chính họ vẫn phải chấp nhận chỉ đóng vai trò của mình, thu hẹp trong cả tấn tuồng giả dối do đảng Cộng sản đạo diễn.
Bây giờ là lúc người Việt Nam phải nói với nhau: Chúng ta quyết định không sống giả nữa. Nhiều người đã hành động như vậy. Thí dụ, ngay trong tấn tuồng “sửa hiến pháp” đang diễn ra. Trong nền văn hóa sống giả, đảng Cộng sản đang loan báo bao nhiêu tổ dân phố trên toàn quốc đã bầy tỏ ý kiến ủng hộ dự thảo tu chính hiến pháp của cái gọi là “quốc hội.” Cả bộ máy truyền thông của đảng loan tin hơn 50, 60 triệu người dân đã hoan nghênh bản dự thảo gia tăng quyền hành cho đảng. Nhưng trong nền văn hóa sống thật, đã có những nhóm như 72 nhà trí thức, có cả hội đồng giám mục, lên tiếng đòi bác bỏ điều 4, bãi bỏ các điều khoản phản dân chủ. Không phải chỉ có một Giáo hội Phật giáo Thống nhất dám nói công khai là phải xóa hẳn bản hiến pháp độc quyền chuyên chế, mà có cả những cá nhân cũng nói thẳng phải xóa đi làm lại, từ một nhà báo trẻ tuổi như Nguyễn Ðắc Kiên tới một đảng viên cộng sản lão thành như ông Lê Hồng Hà. Họ là những người đã quyết định phải sống thật.

Sửa Hiến pháp không phải là trò hề duy nhất trong cả cuộc sống giả dối từ hơn nửa thế kỷ nay vẫn còn đang diễn ra. Người Việt Nam đang hàng ngày phải sống với tấn tuồng giả dối khổng lồ. Sẽ đến lúc người ta phải tự thấy xấu hổ khi soi gương nhìn thẳng vào mặt mình.

Bởi vì trong nền văn hóa sống giả còn cả những vụ giết người nữa. Thử coi lại câu chuyện những người dân khỏe mạnh bỗng nhiên chết trong đồn công an. Năm 2011 có một công nhân ở khu công nghệ Shinec tại huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Rồi tới một thanh niên “bị tạm giam” tại Công an huyện Châu Thành A, Hậu Giang. Năm 2013 là cảnh một ông xã Phúc Thành, huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương bị bắt, ngày hôm sau thì công an báo cho gia đình biết là ông ta “thắt cổ bằng sợi dây điện” tự ải. Rồi một ông chết ở đồn công an thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Ðắc Nông; họ bảo là ông ta “tự đút tay vào ổ điện rồi ông ấy giật điện, tự tử” mặc dù trên đầu chảy máu thân thể nhiều vết tích bầm tím. Chúng tôi không nhắc đến tên quý vị trên vì lòng kính trọng các người đã khuất. Nhưng tại sao nhiều người Việt Nam lại chọn đồn công an làm chỗ chết hay chỗ tự vẫn như vậy? Nói dối đến thế thì còn ai tin được hay không?

Chúng ta phải sống giả dối mãi như thế bao lâu nữa? Bao nhiêu mạng người chết oan uổng nữa thì tấn tuồng giả trá mới chấm dứt? Hãy nhớ những lời chân thành của Václav Havel, của Aleksandr Solzhenitsyn. Cần sống thật. Không thể tiếp tục sống giả dối. Nghĩ đến tổ tiên, đến con cháu, ai cũng phải quyết định như vậy.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Mùa Hè nóng bỏng

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Hội nghị Trung ương lần thứ 5 - Khóa 11 năm 2012 - của đảng Cộng Sản Việt Nam đã báo động về sự thoái hóa của đảng về mặt đạo đức
và khả năng lãnh đạo, về sự sa sút chất lượng đảng viên dẫn đến tình trạng “nhạt đảng”, đặc biệt là sự sa sút niềm tin của nhân dân đối với đảng.

Image
Ðảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam bỏ phiếu bầu Ban Chấp Hành Trung Ương tại đại hội đảng lần thứ 11 hồi năm 2011.
(Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)
Tháng 5 tới dự kiến sẽ có cuộc họp lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa 11 nhằm kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết của Hội nghị Trung ương 5 nói trên, tổng kết việc tự phê bình và phê bình trong toàn đảng, chấn chỉnh sự lãnh đạo, có thể bổ sung 1 hay 2 ủy viên vào Bộ Chính Trị, thúc đẫy đà chấn chỉnh đảng. Tháng 5 cũng có cuộc họp Quốc Hội thường lệ, nổi lên là việc bàn tiếp về sửa đổi Hiến pháp năm 1992, về cải cách cơ cấu kinh tế-tài chính, về biện pháp khẩn cấp giải quyết “núi nợ” của nhà nước và của các ngân hàng quốc doanh, nay đã tương đương với 24 tỷ đôla.

Do đó, Mùa Hè sắp tới sẽ cực kỳ nóng bỏng đối với Bộ Chính Trị.

Ðại sự quốc gia trước hết là việc sửa đổi Hiến pháp. Lãnh đạo đảng đã không thật tâm khi mời toàn dân góp ý vào bản dự thảo sửa đổi, chỉ muốn ép toàn dân đồng ý với bản dự thảo đã được Quốc Hội thông qua. Trong thế bí, họ dùng cả những thủ đoạn ma giáo, vu cáo nhóm 72 trí thức là đã tạo ra con số giả tạo về hàng vạn người ký tên vào kiến nghị sửa đổi hiến pháp, trong khi chính họ tạo ra con số kỳ quái lên đến 20 triệu ý kiến tán thành bản dự thảo, rồi ngay sau đó bốc lên con số 44 triệu người tán thành.

Thêm nữa, các vụ giết người của ngành công an ngay trong trụ sở an ninh ngày càng chồng chất suốt mấy năm nay, trong khi bộ trưởng công an không hề có biện pháp ngăn chặn, lại còn được đưa lên chức thường trực ban bí thư, càng làm cho công an tha hồ lộng hành, ngang nhiên móc nối với bọn lưu manh xã hội đen để đàn áp dân chúng.

Các vụ xử án cực kỳ phi pháp, quá độc ác với dân, quá nhẹ tay với quan chức đảng càng làm nổi rõ sự mục nát của hệ thống cai trị và hệ thống tư pháp. Vụ án Cống Rộc phi lý là một thách thức đối với toàn thể bà con nông dân lương thiện. Toàn xã hội đã lên tiếng bênh vực người nông dân anh hùng lấn biển Ðoàn Văn Vươn và gia đình anh, nay lại cùng anh quyết đòi vụ án phải sớm được xét xử lại một cách công khai thật sự. Tưởng cũng cần nhắc lại là Tòa Án Tối Cao năm 2012 đã đồng tình với ý kiến của thủ tướng và nguyên chủ tịch nước là việc cưỡng chế, thu hồi này không có căn cứ pháp lý, việc dùng quân đội là tuyệt đối trái luật, và anh Ðoàn Văn Vươn đã phải có hành động tự vệ khi bị chính quyền địa phương dồn vào thế cùng, do đó các bị cáo phải được trả tự do ngay.

Thêm nữa vụ án Cống Rộc còn làm nổi bật một vấn đề cơ bản là tính chất phi lý của cái gọi là chế độ ruộng đất thuộc “sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý”. Tình hình này càng cho thấy việc sửa đổi Hiến pháp, ban bố chế độ đa quyền sở hữu (nhà nước, tập thể và tư nhân) về ruộng đất là cấp bách đến mức nào. Chỉ có như vậy mới chấm dứt được quốc nạn đã kéo dài mấy chục năm nay là cường hào CS ở khắp nơi ngang nhiên cưỡng đoạt ruộng đất của nông dân.

Mùa Hè này sẽ nóng bỏng, vì đất nước đang phải đối mặt với quá nhiều vấn đề cơ bản dây dưa, chưa được giải quyết trọn vẹn. Một cuộc đấu tranh lý luận giữa đảng trị và pháp trị; đảng quyền và nhân quyền; độc đoán và dân chủ; Quốc Hội của đảng, do đảng, vì đảng hay Quốc Hội của dân, do dân, vì dân; quân đội trung với đảng hay trung với dân, bảo vệ đảng trước hết hay bảo vệ dân trước hết; nền tư pháp xử án chỉ tuân theo pháp luật hay xử án theo chỉ thị của lãnh đạo; việc chống tham nhũng vẫn cứ gượng nhẹ, nể nang, bênh che cho nhau hay sẽ thật sự quyết liệt, theo đúng luật là những vấn đề rất thiết thực, sống còn trong cuộc đấu tranh sôi nổi trong Mùa Hè này.

Chỉ có một sự lãnh đạo kiên quyết, lấy quyền lợi toàn dân tộc làm trọng, lấy niềm tin của toàn dân làm mục tiêu, quyết tạo nên một đồng thuận dân tộc lành mạnh, từ bỏ những sai lầm của quá khứ, vứt bỏ những học thuyết hão huyền, áp dụng những giá trị của thời đại là nhân quyền, dân quyền và nền pháp trị dân chủ, với những quyết định táo bạo, hợp lòng dân, mới có thể mở ra một con đường tươi sáng, công bằng, ấm no và hạnh phúc cho toàn dân.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Thiên An Môn hay Dresden?

Ngô Nhân Dụng

Bài trước trong mục này đã đặt một câu hỏi về sự tan rã nhanh chóng của các chế độ cộng sản Ðông Âu: “Chế độ vững như bàn thạch, cho đến ngày nó sụp đổ. Tại sao người ta không thấy được những nhược điểm nằm bên dưới các chế độ tưởng như muôn năm trường trị như vậy?”

Một người đã nghiên cứu về trường hợp Ðông Ðức, còn gọi là Cộng Hòa Dân Chủ Ðức, là Daniel V. Friedheim, đã thấy rằng nguyên nhân chính khiến chế độ sụp đổ không phải chỉ vì áp lực của người dân từ bên dưới; cũng không phải vì giới lãnh đạo cao cấp đã chấp nhận chịu thua. Theo ông, nguyên nhân chủ yếu là vì chính hàng ngũ cán bộ cấp trung đã chán ngán hệ thống xã hội và chính trị mà họ đang góp công duy trì.

Trong một bài đăng trên tạp chí Chính Trị Ðức (German Politics) vào Tháng Tư năm 1993, Friedheim trình bày trình tự sụp đổ của Cộng sản Ðông Ðức. Ông ghi nhận ý kiến của nhà xã hội học nổi danh Max Weber, thấy rằng bất cứ một chế độ nào cũng phải dùng một “hệ thống thuộc lại.” Một chế độ sụp đổ từ bên trên nếu nhóm người lãnh đạo hết tin vào khả năng kềm hãm dân chúng, như chúng ta thấy ở Tiệp Khắc, Bulgaria, Nga. Nhưng ở Ðông Ðức, sự sụp đổ diễn ra ngay ở trong hệ thống cai trị, tức là những người cán bộ trung cấp không còn thấy mình có thể tuân lệnh đảng Cộng sản mà đàn áp người dân nữa.

Bài luận văn trên dựa trên luận án tiến sĩ của Daniel Friedheim tại Ðại Học Yale, sau khi tác giả đã thực hiện một cuộc phỏng vấn 119 quan chức và cán bộ thuộc chế độ cộng sản Ðông Ðức ngay sau khi nước Ðức thống nhất.

Những người được chọn để phỏng vấn đều thuộc thành phần bộ máy bí mật có nhiệm vụ trấn áp khủng hoảng (Eisatzleitungen), ở trung ương và địa phương. Họ đứng đầu những ban bí thư đảng bộ, chỉ huy mật vụ, chính quyền, cảnh sát và quân đội; chính họ phải quyết định có sử dụng vũ lực đàn áp dân biểu tình hay không; khi dân Ðông Ðức biểu tình đòi dân chủ vào mùa Thu năm 1989. Chúng ta cần nhớ lại là vào Tháng Sáu năm đó, Cộng sản Trung Quốc đã dùng quân đội tàn sát các công nhân và sinh viên biểu tình ở Thiên An Môn. Tổng bí thư đảng Cộng sản Ðông Ðức Erich Honecker cũng dọa sẽ dạy bài học Thiên An Môn cho dân chúng. Từ Tháng Ba năm 1989 cảnh sát công an đã dùng lựu đạn cay và dùi cui đàn áp biểu tình. Ðến Tháng Chín, người đứng đầu mật vụ (Stasi) là Erich Mielke đã báo động “tình hình vô cùng nghiêm trọng” và giải pháp duy nhất là phải “dùng bạo lực, chỉ có bạo lực thôi.” Trong Tháng Mười, dân đi biểu tình ngày càng đông ở Leipzig, Dresden, rồi Berlin.

Cuối cùng, chính một người trong hàng ngũ công an mật vụ đã mở cửa cho ngọn gió tự do dân chủ trỗi lên, trong một hành động bất ngờ, “đột hứng.” Ngày 8 Tháng Mười năm 1989, dân chúng tại thành phố Dresden đi biểu tình cùng với giới trí thức, nghệ sĩ, sinh viên, công nhân. Ðoàn người biểu tình đứng đối diện với đoàn công an võ trang hằm hè. Bỗng đoàn công an ngạc nhiên khi thấy một người dân tách ra, đi từ từ tiến dần về phía họ; rồi hỏi có ai ra để nói chuyện hay không. Một viên sĩ quan công an đã tiến tới. Hai người nói chuyện “giữa trận tiền” một hồi; và đi tới hai quyết định: Ðoàn biểu tình sẽ giải tán, và cử ra ngay 20 người đại diện. Họ sẽ họp bàn với phía công an; tối hôm đó sẽ công bố kết quả buổi họp tại bốn nhà thờ. Thế là 20 người bất ngờ được đề cử làm “đại biểu” của đoàn biểu tình. Trong đó có đủ thành phần: sinh viên, công nhân, thầy giáo, thợ mộc, thợ máy, y tá, vân vân, có cả một đảng viên cộng sản. Người nhỏ nhất là một thợ máy tập sự 17 tuổi, già nhất là một giáo sư về tôn giáo, 58 tuổi; đa số trong lứa tuổi 20, 30.

Biến cố được gọi là “Mô hình Dresden” sau đó đã được đem ra làm mẫu ở các thành phố khác khi công an mật vụ đứng trước đoàn biểu tình. Nhưng tại sao chính quyền Dresden sau đó lại chịu nhượng bộ, phải chấp nhận 20 công dân tình cờ thành những người đối thoại với họ? Friedheim đã tìm thấy chính các quan chức trung cấp trong guồng máy an ninh đã chán ngán vai trò đàn áp dân mà họ phải đóng. Người chỉ huy công an bỗng nghĩ ra đề nghị phái đoàn 20 người để thương thuyết, mặc dù không cấp trên nào cho phép anh ta làm như vậy. Lệnh trên là dùng vũ lực, chỉ dùng vũ lực! Sau này được phỏng vấn, anh nói rằng thực ra anh đã không đồng ý với lệnh trên bảo phải dùng vũ lực. Anh vẫn được lệnh đàn áp, nhưng bỗng nhiên nghĩ ra một cách trì hoãn lệnh. Khi anh ra lệnh các công an mật vụ buông cái khiên sắt họ ôm trước ngực, đặt tất cả xuống đất để bày tỏ thiện chí, tiếng vỗ tay hoan hô reo ầm lên trong đoàn biểu tình. Anh ta kể: Vai tôi bỗng nhẹ hẳn đi, trút được một gánh nặng! Tối hôm đó tôi về báo cáo, ông sếp tôi bảo: Bây giờ tao báo cáo lên trên chắc họ không tin có chuyện này!

Tại sao viên chỉ huy công an ở Dresden lại hành động như vậy; rồi các nơi khác cũng làm theo? Lý do chính là họ đã bớt tin vào chế độ cộng sản. Friedheim phỏng vấn các viên chức trung cấp trong guồng máy đàn áp cho thấy điều này. Một câu hỏi về chủ nghĩa cộng sản nói chung, viết: “Không có chế độ nào có thể đạt được những thành tựu về xã hội như chế độ cộng sản.” Với câu này, có 97% nói khi gia nhập đảng Cộng sản họ đã tin vào điều đó. Nhưng, tới mùa Thu năm 1989 thì chỉ có 65% nói họ còn nghĩ chế độ Cộng sản Ðông Ðức là tốt nhất thôi. Thật ra, tỷ lệ giảm từ 97% xuống 65% cũng không mất mát nhiều lắm, vì vẫn còn gần 2 phần 3 các quan chức trung cấp tin tưởng chế độ Cộng sản là con đường tốt nhất cho xã hội của họ.

Nhưng mặc dù đa số 65% vẫn tin ở chủ nghĩa cộng sản, đối với biện pháp đàn áp dân bằng bạo lực thì thái độ của các viên chức công an trung cấp lại thay đổi rất nhiều. Trong cuộc phỏng vấn trên, Friedheim hỏi họ: “Khi mới bước vào đảng, anh có tin rằng chính phủ có quyền dùng công an đàn áp các đám dân biểu tình hay không? Có 78% nói họ đã tin chính phủ có quyền đó. Tiếp theo là câu hỏi: “Sau khi đã chứng kiến các biến cố vào mùa Thu năm 1989, lúc đó anh còn tin chính phủ có quyền đàn áp hay không?” Số người vẫn tin tụt xuống, chỉ còn 8%. Chính các người công an trung cấp đã trưởng thành nên thay đổi thái độ.

Chúng ta càng thấy rõ điều này, khi họ được hỏi về vụ đàn áp kiểu Thiên An Môn. Yêu cầu họ chọn một câu đúng nhất để mô tả vụ đổ máu ở Thiên An Môn, Friedheim thấy: Chỉ có 1% các quan chức công an trung cấp nghĩ rằng vụ này “có thể diễn ra ở nước Ðức” của họ. Có 26% số người được phỏng vấn thấy “bảo vệ chủ nghĩa xã hội mà phải đổ máu như vậy là không đáng.” Trong khi đó có 42% phần trăm đồng ý với nhận định rằng “một vụ đổ máu như thế chỉ có thể diễn ra tại Trung Quốc hay một nước Á Châu thôi.” Trong nhận định này, chúng ta thấy ẩn tàng một thái độ khinh miệt, cho là người Châu Á thì khát máu, dễ giết nhau, hơn người Ðức.

Trong lịch sử vụ sụp đổ của chế độ Cộng sản ở Ðông Âu, chúng ta biết có nhiều nguyên nhân cùng họp lại gây ra; nhưng riêng tại Ðông Ðức thì có lẽ yếu tố quan trọng nhất là sự sụp đổ của cây cột trụ chống đỡ cho đảng Cộng sản: Giới chỉ huy trung cấp trong guồng máy đàn áp. Tại thành phố Dresden, chính viên sĩ quan chỉ huy mật vụ Stasi và cấp trên của anh ta đứng đầu về nội an, cả hai đã bí mật liên lạc với vị giám mục địa phương để cùng tìm cách tránh đổ máu.

Chúng ta không thể đoán hiện nay tâm trạng những người trong guồng máy công an mật vụ của cộng sản Việt Nam có còn tin tưởng ở chủ nghĩa cộng sản và chế độ đến mức nào. Nhưng họ cũng là người, là người Việt cả. Họ cũng biết chuyện gì đang diễn ra trong xã hội, họ còn biết nhiều hơn về sự thật đằng sau cuộc tranh chấp giữa các người lãnh đạo đảng. Khi phải chọn lựa, liệu họ sẽ theo “Mô hình Thiên An Môn” hay “Mô hình Dresden?”

Có một cách để giới chỉ huy công an ở Việt Nam tránh không phải lựa chọn giữa Thiên An Môn hay Dresden. Là họ từ chối không tham dự vào bất cứ một hành động đàn áp nào, nếu những người đi biểu tình có lý do chính đáng. Nông dân biểu tình đòi bồi thường đất, chống cướp đất là chính đáng. Dân chúng biểu tình chống ngoại bang xâm chiếm biển đảo, đất đai và cướp phá thuyền của ngư dân Việt Nam, đó cũng là một lý do chính đáng. Các người chỉ huy công an ở Việt Nam phải từ chối không tham dự các cuộc đàn áp biểu tình chính đáng, chắc chắn họ sẽ thành công.

Công an cũng có quyền từ chối không tham dự vào những vụ trục xuất người dân để chiếm đất trao lại cho các nhà thầu xây dựng. Họ có thể đến hiện trường, có mặt đúng giờ, với đồng phục tề chỉnh; họ cứ đứng đó chứng kiến cảnh các quan chức đưa giấy tờ trục xuất dân ra khỏi ngôi nhà họ ở, hay thửa ruộng họ đang cày. Cứ đứng yên chứng kiến hai bên cãi cọ nhưng nhất quyết không can thiệp vào các cuộc tranh chấp đó. Cam đoan đồng bào sẽ vỗ tay hoan hô! Mà sẽ không phải thắc mắc chọn giữa Thiên An Môn hay Dresden nữa!

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Luật Ðất Ðai dưới mắt một sinh viên trẻ
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)


Cô sinh viên luật Ðỗ Thúy Hường đã xuất hiện trên một blog tự do từ năm 2007. Bài báo đầu tiên của cô là “Tôi nghiên cứu về Luật Ðất Ðai.”
Cô thuộc gia đình trong giới cầm quyền.
Cô cho biết ông cô - không rõ ông nội hay ông ngoại - từng tham gia biên soạn Luật Ðất Ðai đầu tiên năm 1988.

Image
Ông Ðoàn Văn Vươn (giữa) bị đưa ra xử trước tòa án Hải Phòng vì bị tố cáo tấn công người thi hành công vụ,
mặc dù nhà ông bị cưỡng chế đất bất hợp pháp. (Hình minh họa: Vietnam News Agency/AFP/Getty Images)
Trong bài viết ấy cô Hường mạnh dạn nói lên chính kiến của mình, chỉ rõ cái hình thức “sở hữu đất đai là sở hữu của toàn dân” do đảng Cộng sản áp đặt cho nông dân là một điều phi pháp và trái đạo lý, vi phạm công bằng xã hội, cản trở con đường phát triển của nông nghiệp và đất nước. Lập luận của cô sâu sắc, tự tin.

Mới học năm thứ 2 trường Luật, chắc Hường lúc ấy chỉ mới 17, 18 tuổi. Hồi ấy đọc xong bài viết của cô, tôi nghĩ ngay đến câu thơ của nhà viết kịch Pháp Corneille, “Aux âmes bien nées la valeur n'attend point le nombre des années” (“Có những con người đặc sắc mà giá trị không chờ những năm tháng”).

Từ đấy tôi thường vẫn nhớ đến Hường. Tôi băn khoăn không biết cô tốt nghiệp ra sao? Có bị cản trở gì không? Ra trường cô làm việc ở đâu, có theo nghề luật sư không? Một sinh viên có tư duy độc lập như Hường ở trong nước còn rất hiếm, không hiểu có bị lãnh đạo nhà trường kỳ thị không? Cô là một hạt giống trí thức dân chủ quý của đất nước, của dân tộc. Nhân tài mà đất nước ta đang cần chính là những nam nữ sinh viên có lòng với dân, có trí tuệ khai phóng như Hường vậy.

Thế rồi hôm nay, 10 Tháng Tư, 2013, tôi mừng, mừng lắm, đọc được bài viết của Ðỗ Thúy Hường trên mạng Dân Luận, với tít in đậm: “Mệnh đề bịp - 'Ðất đai là sở hữu toàn dân'”. Bài viết vẫn nói về Luật Ðất Ðai.

Tác giả nhận xét: “Trong vòng 25 năm, Luật Ðất Ðai đã thay mới 3 lần, sửa 5 lần, năm nay định sửa nữa là 6 lần, sao mà phải thay đổi dữ vậy? Thay đổi “vì dân,” hay là để đối phó với sự chống đối của dân?

Bài viết tâm huyết, trí tuệ của nhà trí thức dân chủ rất trẻ Ðỗ Thúy Hường kết thúc bằng một câu gửi thẳng cho lãnh đạo đảng Cộng sản: “Ðảng ơi! Nếu còn chút lương tri nào, xin hãy tỉnh lại đi. Ít nhất đừng vu tôi là thế lực thù địch. Kẻ thù nhan nhản thế thì đảng sống sao nổi?”

Mong bài viết của Ðỗ Thúy Hường được bà con nông dân, trí thức, giới luật gia và sinh viên ngành luật trong và ngoài nước tìm đọc và tỏ rõ thái độ, đúng vào lúc vụ án Ðoàn Văn Vươn vừa được xét xử, việc sửa đổi Hiến Pháp đang là vấn đề nổi cộm gay gắt, cuộc đối thoại Việt-Mỹ về Nhân quyền đang diễn ra, Hôi nghị Trung ương lần thứ 7-Khóa 11 của đảng Cộng sản sắp họp để xem xét về cuộc tự phê bình và phê bình của các cấp lãnh đạo.

Bài viết của Ðỗ Thúy Hường chứng tỏ đất nước ta đang chuyển mình, những sinh viên rất trẻ cũng nhập cuộc và dấn thân, đấu tranh không khoan nhượng với những sai lầm của lãnh đạo, góp phần cứu dân cứu nước, và cứu bản thân mình.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Trí thức và độc tài

Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)

Ðọc lịch sử các chế độ độc tài, từ độc tài phát xít với những Hitler và Mussolini đến độc tài cộng sản với những Stalin, Mao Trạch Ðông, Pol Pot, Nicolae Ceaucescu, và Kim Chính Nhật (bây giờ là Kim Chính Ân) hay độc tài quân phiệt với những Saddam Hussein, Muammar Gaddafi, Robert Mugabe... chúng ta không thể không ngạc nhiên.

Có rất nhiều điều để ngạc nhiên.

Thứ nhất, tất cả các tên độc tài, dưới nhiều nhãn hiệu khác nhau, đều vô cùng tham lam và độc ác. Chúng thâu tóm toàn bộ quyền lực trong tay và với quyền lực vô tận ấy, giết vô số người, từ những kẻ thù thực sự đến những kẻ thù tưởng tượng, trong đó phần lớn là chính dân chúng ở nước chúng.

Thứ hai, tất cả đều mắc bệnh huyễn tưởng, tự xem vị thế và quyền lực của mình như một thứ gì thuộc về thiên mệnh; và vì thiên mệnh, chúng nằm ngoài hoặc nằm trên không những luật pháp mà còn cả các nguyên tắc đạo lý thông thường của con người. Giết người, thậm chí, giết vô số người, với người khác, là tội ác; với chúng, là thiêng liêng và cao cả.

Thứ ba, vì căn bệnh huyễn tưởng ấy, rất nhiều nhà độc tài trở thành lố bịch, không khác những tên hề. Ceaucescu tự xưng mình là “Thiên tài của vùng Carparthians,” một vùng núi rộng lớn ở Trung Âu, kéo dài từ Slovakia qua miền Nam Ba Lan, miền Tây Ukraine đến tận phía Ðông Bắc của Romania. Còn vợ của ông, Elena, người được cử làm phó thủ tướng, thì được tuyên truyền như một “Quốc mẫu,” một nhà khoa học vĩ đại (dù bà thực sự bỏ học từ năm 14 tuổi, và tất cả các cái gọi là “công trình khoa học,” kể cả luận án tiến sĩ của bà, đều do người khác viết). Rafael Trujillo, nhà độc tài ở Dominican Republic từ 1930 đến 1938 và từ 1942 đến 1952 thì tự xem mình là Thượng đế.

Ông ta ra lệnh cho mọi nhà thờ trong nước phải khắc câu “Chúa ở trên Trời, Trujillo ở dưới Thế” (God in Heaven, Trujillo on Earth) và mọi bảng xe đều khắc câu “Trujillo vạn tuế.” Francisco Macias Nguema, nhà độc tài ở Equatorial Guinea từ năm 1968 đến 1979 cũng thế. Cũng tự xưng mình là Thượng đế. Dưới thời ông, biểu ngữ chính trong nước ghi “Không có Thượng đế nào khác ngoài Macias Nguema.” Saparmurat Niyazov, tổng thống xứ Turkmenistan từ năm 1990 đến 2006 thì ra lệnh đổi tên 12 tháng trong năm theo tên ông và người thân trong gia đình của ông. Ông cũng viết sách và ra lệnh bất cứ người dân nào, để được thi lấy bằng lái xe, cũng phải thuộc lòng nguyên cả cuốn sách của ông.

Thứ tư, tất cả đều giả dối, đều sử dụng vô số huyền thoại láo khoét để biến mình thành thần tượng, thành những lãnh tụ anh minh, đầy viễn kiến, mở ra những chân trời mới cho đất nước hoặc cho cả nhân loại. Những huyền thoại ấy nhiều khi rất ngây ngô, ví dụ chuyện Kim Chính Nhật điều khiển đội tuyển bóng đá Bắc Triều Tiên trong giải World Cup 2010 bằng cách chỉ dẫn từng đường đi nước bước trong suốt trận đấu cho huấn luyện viên Kim Jong-hun qua một chiếc điện thoại di động vô hình!

Nhưng cả bốn điều “đáng ngạc nhiên” trên đều không đáng ngạc nhiên bằng hai điều này:

Một, mặc dù tham lam, độc ác, mắc bệnh huyễn tưởng và giả dối như vậy, những tên độc tài ấy lại cầm quyền, hơn nữa, cầm quyền một cách tuyệt đối, trong thời gian rất dài, có khi cả đời hoặc nhiều đời, hết đời con đến đời cháu, chắt.

Hai, dù đầy khuyết điểm như vậy, những tên độc tài ấy vẫn được nhiều người, kể cả giới trí thức, thậm chí là trí thức xuất sắc ở Tây phương, ngưỡng mộ và hết sức bênh vực cũng như góp phần tuyên truyền cho chúng một cách nhiệt tình.

Trong hai điều trên, điều thứ hai quan trọng hơn. Giải thích điều thứ nhất, người ta có thể nói: Bởi các nhà độc tài đã xây dựng được một bộ máy tuyên truyền hữu hiệu đủ để nhồi sọ tất cả mọi người và một bộ máy quyền lực mạnh mẽ đủ để nghiền nát bất cứ người nào dám chống đối. Nhưng không có một bộ máy xã hội và chính trị nào có thể tồn tại độc lập. Vấn đề chính là ở con người, tức ở khía cạnh thứ hai, chúng ta vừa nêu ở trên: Tại sao người ta lại khiếp sợ và ngưỡng mộ các tên độc tài đến như vậy? Tại sao người ta lại để cho các tên độc tài dễ dàng lừa dối mình đến như vậy?

Trên thế giới, cũng có nhiều người từng ngạc nhiên như vậy. Có thời, những kẻ như Hitler, Mussolini, Lenin, Stalin, Mao Trạch Ðông, Fidel Castro, thậm chí, Kim Chính Nhật đã trở thành thần tượng của nhiều trí thức và văn nghệ sĩ Tây phương. Ðạo diễn Oliver Stone khen Fidel Castro là một kẻ “rất vị tha và đạo đức, một trong những người khôn ngoan nhất trên thế giới.” Một đạo diễn khác, Steven Spielberg, cho “gặp gỡ Fidel Castro là tám giờ quan trọng nhất” trong cuộc đời của ông.

Trước đó, ở Ý, Gabriele D'Annunzio, một nhà thơ lớn, cũng như nhiều nhà thơ thuộc trường phái Vị Lai khác, từng là những kẻ ủng hộ nhiệt thành Mussolini. Ở Ðức, Hitler không thiếu người ngưỡng mộ, kể cả một trong những triết gia lớn nhất của thế kỷ, Heidegger; một trong những họa sĩ lớn nhất của thế kỷ, Salvador Dali; một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ, Ezra Pound. Nhà văn Na Uy từng đoạt giải Nobel năm 1920, Knut Hamsun, cũng rất ủng hộ Hitler.

Ðối với các nhà độc tài cộng sản, số trí thức ngưỡng mộ nhiều hơn hẳn. Nhà văn Anh George Bernard Shaw (1856-1950) suốt đời ủng hộ Lenin, Stalin, và cả Hitler nữa. Cả Andre Gide và Doris Lessing đều từng ủng hộ Stalin tuy cả hai, sau đó, tự nhận là mình lầm. Picasso, Bertolt Brecht, Pablo Neruda, W.E.B. Du Bois, Graham Greene, v.v... cũng đều ủng hộ Stalin; trong đó, có người vừa ủng hộ Stalin vừa ủng hộ Mao Trạch Ðông.
Jean-Paul Sartre cũng từng là người ủng hộ Stalin và chế độ cộng sản rất nồng nhiệt. Ông là tác giả của một câu nói gây rất nhiều tai tiếng: “Mọi kẻ chống Cộng đều là chó” (every anti-communist is a dog). May, sau đó, ông thay đổi thái độ. Khi quân đội Xô Viết xâm lăng Hungary vào Tháng Mười Một năm 1956, ông lên án Liên Xô kịch liệt.

Sự phê phán của Sartre đối với Liên Xô càng mạnh mẽ hơn nữa vào năm 1968 khi quân đội Xô Viết trấn áp dân chúng Czechoslovakia trong sự kiện được gọi là “Mùa Xuân Prague.” Trước năm 1975, trong chiến tranh Việt Nam, ông là người tích cực ủng hộ miền Bắc và lên án Mỹ một cách gay gắt. Sau năm 1975, chứng kiến thảm cảnh của người Việt Nam vượt biển, ông lại lên tiếng phê phán chính quyền Việt Nam và kêu gọi chính phủ Pháp cứu giúp người tị nạn.

Chúng ta lại phải tự hỏi: Tại sao nhiều người trí thức lại dễ dàng bị các nhà độc tài lừa bịp đến như vậy? Tại sao họ lại nhẹ dạ và cả tin đến như vậy?

Nhớ, trước đây, trong những lần về Việt Nam, tôi gặp khá nhiều văn nghệ sĩ và trí thức ở miền Bắc. Nhiều người kể lại, trước phong trào đổi mới, đặc biệt, trước năm 1975, họ gần như tuyệt đối tin tưởng vào giới lãnh đạo và chế độ. Trong các buổi học tập chính trị và văn hóa, họ lắng nghe cán bộ giảng bài như nghe những lời thánh phán.

Họ cắm cúi ghi chép rồi về nhà, đọc lại một cách thành kính. Sau này, cũng theo lời họ, đọc lại các cuốn sổ tay cũ, họ thấy những ý kiến trong ấy rất hời hợt, thậm chí, ngô nghê. Họ tự hỏi: Tại sao thời ấy họ lại xem những ý kiến ấy như những lời vàng ngọc như vậy? Chính họ, họ cũng không biết rõ câu trả lời. Tất cả đều cho: Ðó chỉ là hậu quả của việc nhồi sọ.

Lại nhớ, mấy năm đầu sau 1975, một số trí thức Việt kiều ở Pháp về thăm nước rồi viết bài đăng tải trên báo chí ở Paris. Họ khen Việt Nam không tiếc lời. Trong lúc người Việt Nam đói đến xanh xao mặt mũi, họ khen đời sống rất sung túc. Trong lúc cả hàng chục ngàn người bị bắt đi cải tạo và con cái họ không được vào đại học, họ khen “chính quyền cách mạng” thực tâm hòa giải, không có bất cứ một chính sách kỳ thị nào đối với những người thuộc chế độ cũ trước đó. Trong lúc cả hàng triệu người bất chấp nguy hiểm tìm cách vượt biên tìm tự do, họ cho Việt Nam là một quốc gia dân chủ và ao ước một ngày nào đó được về nước sống hẳn (dù trên thực tế, không bao giờ họ về cả!)

Trí thức trong nước bị nhồi sọ. Nhưng còn trí thức ngoài nước thì sao?

Trong lúc loay hoay tìm cách trả lời cho câu hỏi ấy, cũng như câu hỏi về sự nhẹ dạ và cả tin của trí thức thế giới nói chung, tự dưng tôi nhớ đến mấy câu thơ của Nguyễn Quốc Chánh trong bài “Tao là đứa bé ngoẻo trên lưng Linda Lê”:

“Có 3 thứ không thể kết hợp với nhau nổi. Ðó là: Thông minh, lương thiện và cộng sản.
Một người thông minh và lương thiện thì không thể cộng sản,
Một người thông minh mà cộng sản thì không thể lương thiện.
Một người lương thiện mà cộng sản thì chắc chắn không thông minh.”

Những câu thơ ấy ám ảnh tôi đến độ tôi không thể nghĩ tiếp được nữa.

Ðành dùng chúng thay cho lời kết luận của bài viết.

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Image

65 hộ dân Sài Gòn đồng loạt tố cáo Bí thư Lê Thanh Hải

Danlambao - Ngày 22/04/2013, 65 hộ dân quận 9 bị cướp đất trong cái gọi là "Dự án Khu công nghệ cao TP.HCM" đã đồng loạt ký tên, tố cáo đích danh ông Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy TP.HCM vI phạm pháp luật, bao che tham nhũng.

Ông Lê Thanh Hải hiện là Ủy viên Bộ chính trị, được cho là một nhân vật đầy quyền lực và ác ôn số một tại Sài Gòn. Hầu hết các phi vụ tham nhũng, đàn áp cướp đất dân nghèo đều có liên hệ trực tiếp đến gia đình và nhóm lợi ích do Bí thư Lê Thanh Hải cầm đầu.

Đơn tố cáo đích danh Lê Thanh Hải do 65 hộ dân quận 9 gửi đến Dân Làm Báo yêu cầu:

"Yêu cầu phải xử lý nghiêm minh về sai phạm của Ủy viên Bộ Chính trị Lê Thanh Hải – Bí thư Thành ủy TPHCM – yêu cầu không có rào cản, bao che".

"Sau khi lên UVBCT, Bí thư Thành ủy, Lê Thanh Hải đã chỉ đạo lãnh đạo quận 2 với câu nói nổi tiếng là phải dùng ‘bàn tay sắt’ để đàn áp nhân dân lấy đất", đơn tố cáo cho biết.

Nhiều năm nay, nhóm lợi ích dưới tay ông Hải đã gây ra bao thảm cảnh đau thương cho nhân dân Thành phố thông qua các vụ cướp đất, cướp nhà... Điển hình gần đây nhất là vụ cướp đất của nhân dân Quận 2.

Ngoài các phi vụ tham nhũng, cướp đất dân nghèo... Bí thư Lê Thanh Hải được cho là kẻ đã trực tiếp chỉ đạo đàn áp các cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược của nhân dân Sài Gòn.

Chính ông Hải là người đã chỉ đạo công an phải ‘tiêu diệt’ nhóm biểu tình cuối năm 2012. Một số người dân SG cho biết, em trai và con ông Hải thường xuyên xuất hiện và hỗ trợ đắc lực trong lực lượng đàn áp biểu tình tại Sài Gòn.

Sự kiện này đã được đăng tải trên Danlambao tại bài viết: Bí thư Lê Thanh Hải chỉ đạo ‘tiêu diệt’ nhóm biểu tình.

Sau khi các vụ vi phạm của Bí thư Lê Thanh Hải được công bố trên Danlambao, chính ông Hải đã khuyến cáo cán bộ dưới quyền phải 'đề kháng' với Dân Làm Báo. Được biết, nhân vật đầy quyền lực tại SG khi ấy đã vu khống, cáo buộc Dân Làm Báo là "nói xấu cán bộ" và "ảnh hưởng đến nhận thức thanh thiếu niên...”

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Văn Bình và những phiên chợ vàng
Vũ Đông Hà
(Danlambao) - Từ quyết định của Nguyễn Tấn Dũng 16/2013/QĐ-TTg sang đến 11 phiên chợ vàng của Nguyễn Văn Bình với 12 tấn vàng tống ra thị trường; Từ việc Ngân Hàng Nhà Nước cho tin đồn "không có đổi tiền vào thời điểm này" chính thức lên sân khấu lề đảng đến chuyện báo Thanh Niên tố cáo có 188.5 tấn vàng "chắc" được nhập lậu vào Việt Nam - chúng ta thấy gì?

Vào ngày 4-3-2013 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định 16/2013/QĐ-TTg (1) về việc mua, bán vàng trên thị trường trong nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Ngắn gọn: Nguyễn Tấn Dũng trao quyền hạn cho Nguyễn Văn Bình, Thống đốc NHNN, người được ông Dũng bổ nhiệm vào chức vụ này, quyết định phương án can thiệp thị trường vàng (điều 3 của quyết định).

Cũng trong văn thư này, Nguyễn Văn Bình/NHNN được toàn quyền mở tài khoản, mua vàng, bán vàng trên tài khoản ở nước ngoài hoặc mua vàng ở nước ngoài để nhập khẩu vàng hoặc bán vàng ra nước ngoài (Điều 3.2), cũng như quyết định việc áp dụng tỷ giá và giá vàng để quy đổi sang đô la Mỹ và đồng Việt Nam (Điều 4.8 ).

Từ Quyết định 16/2013/QĐ-TTg sang 11 phiên chợ vàng

Được Thủ tướng dọn đường mở lối, ngày 28 tháng 3 - gần 3 tuần sau khi Thủ tướng ký quyết định, - Thống đốc Nguyễn Văn Bình ra quân:

Ngày 28/3, phiên đấu thầu vàng thứ nhất, NHNN bán được 2.000 lượng.

Ngày 4/4, phiên đấu thầu thứ 2, NHNN bán được 25.700 lượng.

Ngày 5/4, phiên đấu thầu thứ 3, NHNN bán được 25.700 lượng.

Ngày 9/4, phiên đấu thầu lần thứ 4, NHNN bán được 25.600 lượng.

Ngày 10/4, phiên đấu thầu lần thứ 5, NHNN bán được 39.200 lượng.

Ngày 12/4, phiên đấu thầu lần thứ 6, NHNN bán được 40.000 lượng.

Ngày 16/4, phiên đấu thầu lần thứ 7, NHNN bán được 25.700 lượng.

Ngày 17/4, phiên đấu thầu lần thứ 8, NHNN bán được 37.900 lượng.

Ngày 18/4, phiên đấu thầu lần thứ 9, NHNN bán được 39.800 lượng.

Ngày 23/4, phiên đấu thầu lần thứ 10, NHNN bán được 26.000 lượng.

Ngày 24/4, phiên đấu thầu lần thứ 11, NHNN bán được 25.600 lượng.


Tổng cộng sau 11 phiên đấu thầu, Nguyễn Văn Bình và NHNN đã bán ra 313.200 lượng vàng - khoảng 12 tấn vàng.

Trong suốt 11 phiên bán, giá vàng trong nước luôn cao hơn giá vàng thế giới tại thời điểm bán. Vào phiên 1, giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới trên 3 triệu đồng/lượng. Phiên 2 khoảng 4,4 triệu đồng/lượng. Phiên 3 ở mức 4,1 triệu đồng/lượng. Phiên 6 là 3,6 triệu đồng/lượng. Phiên 7 vọt lên gần 5 triệu đồng/lượng. Phiên 9 tăng tiếp 6,15 triệu đồng/lượng và vẫn giữ ở mức 6 triệu đồng/lượng vào thời điểm của phiên đấu thầu lần thứ 11.

Nếu tính trung bình khác biệt giữa giá vàng mà NHNN bán ra cao hơn giá vàng thế giới khoảng 4.5 triệu thì chỉ trong vòng chưa đầy 1 tháng Nguyễn Văn Bình và NHNN đã thu lợi: 4,5 triệu x 313.200 lượng = 1.409.400.000.000 đồng (1409 tỷ).

Từ 11 phiên chợ vàng sang đến chiêu tung tin "đính chính" đổi tiền:

Ngày 22 tháng 4, ông Nguyễn Chí Thành - Cục trưởng Cục Phát hành và Kho quỹ NHNN đăng đàn trên truyền thông của đảng và nhà nước tuyên bố "không có chuyện ĐỔI TIỀN ở THỜI ĐIỂM này (2)


Cùng ngày, Thống đốc Nguyễn Văn Bình / NHNN ra thông báo chính thức bác bỏ tin đồn đổi tiền mới cũng như việc phát hành tiền mệnh giá 1 triệu đồng.

Theo NHNN, tin đồn đổi tiền lan đi từ giữa tuần trước, khi có nhiều ý kiến bàn luận xung quanh chủ đề sửa đổi Hiến pháp về việc đổi tên nước trở lại thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - một phương án đề nghị từ phe Nguyễn Tấn Dũng.

Thông tin này được hàng loạt các trang báo lề đảng đăng tải mặc dù trước đó trên toàn hệ thống truyền thông của đảng và nhà nước hoàn toàn không có một rò rỉ, thông tin gì về tin đồn đổi tiền.

Điều gì sẽ xảy ra, người dân sẽ phản ứng ra sao khi NHNN và báo lề đảng phổ biến tràn lan "tin tức... phủ nhận tin đồn" trong bối cảnh Nguyễn Văn Bình cứ vài ngày là rao bán vài chục nghìn lượng vàng?

Và... vàng ở đâu?

Câu hỏi được đặt ra là ông Nguyễn Văn Bình "đào" đâu ra 12 tấn vàng này đem bán? Từ năm trước bước sang năm nay Việt Nam đã không nhập một ký vàng nào chứ đừng nói đến cả tấn theo đường chính thức.

Để giải thích vàng từ đâu ra, Ngày 24/4/2013 báo Thanh Niên đăng bài viết "Từ thống kê về Việt Nam của Hiệp hội Vàng thế giới: "Rửa" vàng bằng cơ chế?" (bài viết này hiện không còn truy cập được nữa, xin xem lại ở đây (3)).

Theo bài báo, với những dữ kiện thông tin từ Hiệp hội Vàng Thế giới:

- Về số lượng vàng nữ trang - Trong năm 2011 VN nhập khẩu 13 tấn; năm 2012 nhập khẩu 12,5 tấn. Tổng cộng khoảng 1,3 tỷ USD nhập khẩu cho 25,5 tấn vàng nữ trang trong 2 năm.

- Về số lượng vàng thỏi - Trong năm 2011 VN nhập khẩu 87,8 tấn; năm 2012, số lượng là 75,2 tấn. Tổng cộng khoảng 8,6 tỷ USD nhập khẩu cho 163 tấn vàng thỏi.

- Và cho đến nay Ngân hàng Nhà nước chưa cấp phép cho bất cứ đơn vị nào nhập vàng nữ trang cũng như vàng thỏi. Do đó tổng cộng 25,5 tấn vàng nữ trang + 163 tấn vàng thỏi = 188.5 tấn vàng này là nhập lậu hoàn toàn.

Nhưng những cá nhân nào, tập thể mà không phải là cơ chế tổ chức có thể nhập lậu 188.5 tấn vàng trị giá 9.9 tỷ đô la trong một thời gian ngắn ngủi của 2 năm qua?

Ngay sau đó, NHNN đã ra Thông cáo báo chí phản hồi về bài báo của Thanh Niên. Lý do giải thích chính: con số vàng của Hội đồng Vàng Thế giới đưa ra chỉ là "ước tính nhu cầu vàng tiêu dùng" tại Việt Nam và "tác giả bài báo đã cố tình suy diễn, bóp méo hàng loạt chủ trương chính sách của Nhà nước về quản lý thị trường vàng, chuyển tải tới người đọc thông điệp sai về cơ chế, chính sách của Chính phủ, NHNN, tạo ra sự hoài nghi đối với các chủ trương, chính sách quản lý thị trường vàng và các nỗ lực phối hợp phòng, chống buôn lậu của các cơ quan Nhà nước."

NHNN cũng không thông báo minh bạch về tình trạng nhập vàng chính thức hay 12 tấn vàng đã bán (và những tấn vàng sẽ bán tiếp theo phiên chợ vàng thứ 11) là vàng nhập chính thức (nhập lúc nào?), hay vàng... tồn kho (từ lúc nào?).

Vàng nhập lậu hay "nhu cầu tiêu dùng vàng" hãy để hạ hồi phân giải. Trước mắt chỉ biết ông Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định cho đàn em Nguyễn Văn Bình, và ông Thống đốc đàn em này đã "rửa" được 12 tấn vàng, thu về khoảng 1409 tỷ đồng.

11 phiên vàng đã qua, còn bao nhiêu phiên sẽ đến sau khi Nguyễn Văn Bình gửi đến toàn dân thông điệp "Không có đổi tiền ở THỜI ĐIỂM NÀY"?

Vũ Đông Hà

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Tai hại của tư bản đỏ

Ngô Nhân Dụng

Trung Quốc đang qua mặt Hoa Kỳ, trở thành thị trường lớn nhất thế giới bán các món hàng xa xỉ: đồng hồ Rolex, túi xách tay Vuiton, các nhãn rượu Cognac, vân vân, đang chạy đua vào lục địa kiếm lời. Thị trường xe hơi ở nước Tàu gia tăng 8% một năm, nhưng riêng loại xe hạng sang như Mercedes, Audi, BMW, Rolls-Royce thì gia tăng với tốc độ 36% mỗi năm; đến năm 2020 thì Trung Quốc sẽ là nơi bán nhiều xe “de luxe” nhất thế giới.

Tất nhiên đại đa số khách hàng là các nhà tư bản đỏ.

Các nhà tư bản đỏ ở Việt Nam còn đang lạch bạch bước đằng sau trong cuộc chạy đua xa xỉ này. Trong việc khoe khoang tiền của và thế lực họ cũng có những “phong cách” riêng: Làm chùa! Xây nhà thờ tổ tiên. Làm đám cưới vĩ đại. Nhưng ai cũng thấy, đây là một “lực lượng xã hội” đang lên ở các nước cộng sản.

Nhiều người nhìn vào hiện tượng “tư bản đỏ” làm giầu nhanh chóng ở các nước “hậu cộng sản” như Nga, Ukraine, đã đem so sánh tầng lớp đại gia này với những “nhà quý tộc ăn cướp” (tạm dịch chữ robber barons) ở nước Mỹ vào thế kỷ 19; như J.P. Morgan, Rockefeller, Vanderbilt, vân vân. Cả hai nhóm đều tích lũy các tài sản khổng lồ, họ đều dùng tiền bạc để ảnh hưởng đến chính sách kinh tế của nhà nước để tiếp tục làm giầu,vân vân.

Nhưng có một điểm khác biệt sâu xa. Các nhà tư bản Mỹ vào thế kỷ 19, cũng như các gia đình Krupp ở Ðức, Agnelli ở Ý, và ngay cả các “chaebol” ở Nam Hàn vào cuối thế kỷ 20, đều khởi nghiệp bằng việc kinh doanh cạnh tranh thật sự, với những hoạt động tạo ra thêm giá trị kinh tế, tiếng chuyên môn gọi là “value-added.” Còn phần lớn các nhà tư bản đỏ khởi nghiệp không phải bằng kinh doanh cạnh tranh. Trái lại, họ dùng khả năng móc ngoặc để làm giầu nhờ được chế độ ưu đãi để tránh không phải cạnh tranh với ai hết.

Một gia đình Ðoàn Văn Vươn đổ công sức ra khai phá 40 mẫu đất ven biển thành đầm nuôi tôm cá là việc kinh doanh. Họ đã giúp “gia tăng giá trị kinh tế” cho khu đất hoang này. Một gia đình Trầm Bê dùng móc ngoặc để lấy giấy phép cho công ty chế biến lâm sản Ðông Anh phá rừng, chặt cây; được hưởng những món lợi khổng lồ so với công sức bỏ ra. Họ có thể “không gia tăng giá trị” mà lại làm “giảm giá trị” của một tài nguyên chung. Bởi vì nếu trong thị trường khai thác lâm sản có tự do cạnh tranh, ai cũng phải làm việc cho có hiệu năng hơn, sản xuất hàng tốt hơn, thì giá trị của những khối gỗ đó có thể còn cao hơn gấp bội. Nói chung, giới tư bản đỏ làm giầu nhờ những hoạt động “phi kinh tế,” có khi còn phản kinh tế.

Khi nói đến ưu điểm của hệ thống kinh tế tư bản, chúng ta biết nó nhờ hai cột trụ chính. Một là quyền tư hữu; hai là việc cạnh tranh tự do, trong luật lệ công khai minh bạch. Nếu chỉ có quyền tự hữu mà thiếu tự do cạnh tranh thì sẽ gây ra hiện tượng mà kinh tế học gọi là “rent-seeking,” tạm dịch là “thu tô,” giống như những chủ đất thời xưa ngồi mát ăn bát vàng “thu tô” của các nông dân, tá điền.

Ðể hiệu rõ hiện tượng thu tô này, có thể tìm thí dụ ngay trong một nước theo kinh tế tư bản lâu đời như nước Mỹ. Hiện tượng “thu tô” cũng diễn ra khi nhà nước can thiệp vào thị trường, vì thế đã ngăn cản hoặc giảm bớt sự cạnh tranh. Thí dụ như trong thập niên 1970, kỹ nghệ xe hơi ở Mỹ đang xuống dốc vì bị cạnh tranh bởi xe Nhật, họ bán xe bền, ít hao xăng, với giá rẻ. Ông Lee Iacocca, chủ tịch công ty Chrysler, đã bỏ thời giờ đi diễn thuyết khắp nơi về mối lo công nghiệp xe hơi Mỹ sắp bị xe hơi Nhật tiêu diệt. Ông cũng gặp các đại biểu Quốc Hội để vận động phục hồi ngành sản xuất xe, và để “cứu các công nhân” làm xe. Kết quả là, ngoài việc xin chính phủ bảo đảm để hãng Chrysler có thể đi vay nợ với lãi suất thấp, còn yêu cầu chính phủ ban hành lệnh “hạn chế tạm thời” việc nhập cảng xe Nhật. Chính sách đó được dân chúng và các nhà chính trị ủng hộ, vì tinh thần “bảo vệ quyền lợi quốc gia.”

Năm 1972, Quốc Hội Mỹ làm luật hạn chế xe Nhật “tạm thời.” Hậu quả là ngay sau đó giá mỗi chiếc xe hơi ở Mỹ đã tăng thêm từ 500 đến 1,000 đô la. Năm sau, công ty Chrysler đã báo cáo có lời một tỷ đô la, mà năm trước thì lỗ một tỷ! Ông Lee Iacocca được công ty thưởng “bonus” một triệu Mỹ kim, rất xứng đáng. Nhưng số chênh lệch hai tỷ đô la đó có thể gọi là “thu tô,” rents. Các công ty GM, Ford cũng được có lời.

Ở nước Mỹ, hiện tượng thu tô như vậy hiếm khi xẩy ra; vì chế độ dân chủ và tinh thần tôn trọng tự do cạnh tranh đã ăn sâu trong đầu óc người dân. Các công ty xe hơi Mỹ đã thành công trong thập niên 1970, sau khi đã thuyết phục được dư luận, nói rằng họ cần “có thời gian thở” để tái cấu trúc cho đủ sức cạnh tranh với xe Nhật; nếu không tất cả sẽ chết ngộp! Nhờ dân chúng Mỹ tin vào lý luận đó, các đại biểu Quốc Hội có lý do để “làm theo ý dân.”

Nhưng khi phá bỏ cả nguyên tắc tự do cạnh tranh thì người ta đã tạo cơ hội cho các nhà sản xuất xe “thu tô.” Người tiêu thụ phải trả tiền nhiều hơn khi mua xe. Các công ty xe hơi tiếp tục sống mạnh, nhưng họ vẫn chưa lo “cải tổ cơ cấu.” Một hậu quả tai hại là họ chỉ chú trọng đến việc vận động chính trị ngắn hạn mà không nghĩ tới kế hoạch kinh doanh lâu dài. Hệ quả tai hại khác là họ sẵn sàng ký những hợp đồng lao động “quá đắt” để làm vừa lòng các nghiệp đoàn. Sang thế kỷ 21, các công ty xe hơi Mỹ lại đứng trên bờ vực phá sản lần nữa, một phần vì không đủ tiền để trả bảo hiểm sức khỏe và hưu bổng cho những công nhân đã vào làm từ hơn hai chục năm trước, giờ đến tuổi về hưu. Một lần nữa, chính phủ Mỹ lại phải “ra tay cứu nguy” kỹ nghệ xe hơi! Trên đường dài, hiện tượng ‘thu tô” làm hại cho tất cả mọi người; người tiêu thụ thì phải trả giá đắt, nhà sản xuất thì yên tâm, nhắm mắt, không lo cải tổ cơ cấu. Chúng ta phải nhìn vào hiện tượng “thu tô” ngay trong một nước kinh tế tự do như ở Mỹ để thấy hiện tượng này có hại cho cả nền kinh tế, ở bất cứ nước nào.

Tại các nước cộng sản trong thời kỳ đổi mới kinh tế, hiện tượng thu tô diễn ra một cách công khai và thường xuyên, có khi vì chính những người đang chỉ huy bộ máy nhà nước muốn duy trì, hoặc vì các nhà tư bản đỏ đã lũng đoạn bộ máy nhà nước để tiếp tục hưởng lợi.

Tại sao ở các nước “hậu cộng sản” thường xẩy ra hiện tượng thu tô?

Vì khi “đổi mới kinh tế,” các nước này bắt đầu chỉ lo việc công nhận quyền sở hữu tư, cho phép tư nhân kinh doanh; thi hành các chương trình “tư nhân hóa” các xí nghiệp quốc doanh (ở Việt Nam gọi là cổ phần hóa). Công việc này có thể thực hiện rất nhanh, nhất là ở nơi nào chế độ cộng sản đã chính thức sụp đổ. Nhưng còn công việc thứ hai, rất cần thiết, là xây dựng nền tảng luật pháp cho một thị trường tự do cạnh tranh thì họ làm chậm chạp. Ở các nước còn chế độ cộng sản như Trung Quốc, Việt Nam (mà mai mốt sẽ đến lượt Cuba, Bắc Hàn) thì đảng cộng sản cố tình trì hoãn không đổi mới toàn diện và nhanh chóng. Họ không muốn hoàn thiện hệ thống thị trường, để tạo cơ hội cho chính các đảng viên cao cấp hưởng lợi nhờ thu tô. Nhưng ngay tại các nước chế độ cộng sản đổ rồi, tại Ðông Âu và Liên xô cũ, ở nhiều nơi hiện tượng thu tô vẫn phát triển mạnh.

Nói chung, tại các nước “đổi mới nhanh chóng” như Cộng Hòa Tiệp, Ba Lan, ba nước miền Baltics, thì nạn thu tô ít xẩy ra. Ở các nước “đổi mới chậm và đều” như Hungary, Croatia, Slovenia cũng vậy. Các chính quyền hậu cộng sản ở các nước này lo mau chóng thiết lập hệ thống luật pháp làm nền tảng cho kinh tế thị trường, đồng thời cải tổ hệ thống tư pháp, dân chủ hóa để tạo thói quen pháp luật công minh. Chính nhờ thiết lập nhanh các định chế thượng tôn luật pháp, kinh tế các nước trên đã tiến nhanh hơn và vững chắc hơn.

Ngược lại, một số nước Ðông Âu và phần lớn các nước trong liên bang Xô Viết cũ đã cải tổ kinh tế rất chậm chạp, hoặc tiến một bước lại lùi một bước. Khung cảnh “nửa kinh tế thị trường, nửa kinh tế chỉ huy” tạo cơ hội cho hiện tượng “thu tô” bùng nổ. Nhiều thứ “giấy phép,” những “quyết định” về cân bằng giá cả, về “kế hoạch phát triển,” vân vân, đã tạo cơ hội cho nhiều người làm giầu mà không cần thực sự sản xuất, không cần đóng góp với các hoạt động “gia tăng giá trị kinh tế.” Thay vào đó, muốn làm giầu tốt nhất là biết móc ngoặc, đi cửa sau, hối lộ, vân vân. Một bài sau trong mục này sẽ trình bày hiện tượng “thu tô” ở các nước đó; để rút kinh nghiệm cho Việt Nam.

Ðiều nguy hiểm nhất là trong khi luật lệ kinh tế thay đổi một cách chậm chạp, những nhà tư bản đỏ sẽ trở thành một lực lượng xã hội rất mạnh. Họ cản trở công việc cải tổ, không cho tiến những bước nhanh hơn. Bởi vì chính họ phất lên được là nhờ việc “thu tô” thay vì bằng việc kinh doanh cạnh tranh; nếu hệ thống kinh tế trở nên minh bạch, công khai và cạnh tranh ráo tiết hơn thì quyền lợi họ đang được hưởng lợi nhờ việc thu tô sẽ bị giảm bớt. Khi trì hoãn việc đối mới, họ cũng cản trở cả việc phát triển kinh tế chung của quốc gia.

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Sinh viên báo chí Mỹ bị 'sốc' với chính quyền CSVN

Kinh nghiệm từ một chuyến thực tập tại Việt Nam

Thiên An/Người Việt

FULLERTON (NV) - Một số sinh viên báo chí trường Cal State Fullerton vừa phát hành tập san đặc biệt ghi lại những điều nghe,
thấy được trong chuyến đi đến Việt Nam do giáo sư Jeffrey Brody dẫn đầu. Phim, hình ảnh, bài báo từ tập san này
vừa được triển lãm tại trường vào Thứ Ba, 23 Tháng Tư.

Image
Một số sinh viên ở Fullerton phát hành tập san ghi lại nhiều điều về chuyến đi Việt Nam, có việc chính phủ làm khó tình nguyện viên nước ngoài.
(Hình: Thiên An/NV)


Chuyến đi của các sinh viên trên thuộc chương trình Vietnam Project, do giáo sư Jeffrey Brody mở ra nhằm giúp các em tập làm quen với môi trường thực tế bên ngoài nước Mỹ, cụ thể là các vùng đất nghèo ở Việt Nam. Sinh viên theo chân nhóm tình nguyện viên Project Vietnam của Bác sĩ Quỳnh Kiều đến các trạm y tế, hoặc len lỏi trong các con hẻm Sài Gòn để lấy tin.

Tập san Vietnam Special Report 2013 ghi lại rõ nét việc chính phủ Việt Nam làm khó nhóm y tế tình nguyện Project Vietnam, không để họ tự do dù là làm việc thiện nguyện. Bản thân các sinh viên cũng bị chính quyền địa phương làm áp lực phải ngưng quay phim, phần tin này sẽ được đăng tải trên trang mạng riêng của nhóm trong thời gian sắp tới.

Trở lại với cuốn tập san, dù là dưới dạng bút ký trong bài “A First-hand Experience” hay một bài tường thuật như “Bracing for the Pain,” các em đều đề cập đến tâm trạng của các tình nguyện viên trong nhóm Project Vietnam, cũng là của chính các em, khi phải đối diện với sự khó dễ của nhà cầm quyền tại Việt Nam. Với nhiều em, lần đầu tiên thấy cách chính phủ Việt Nam xử lý với các hội đoàn nước ngoài, nói là “bị sốc”, “không hiểu nổi họ.”

“Mọi người bắt đầu mất bình tĩnh. Tôi có thể thấy sự hoài nghi trong mắt họ,” Vanessa Martinez ghi lại từng chi tiết mình trải qua vào ngày Thứ Ba của tuần đầu tiên theo chân Project Vietnam, trong bài A First-hand Experience (Kinh nghiệm lần đầu). Cô Vanessa viết:

“Sáng sớm Thứ Ba, các tình nguyện viên, trong đồng phục áo thun polo xanh da trời, lại tụ tập ở phòng ăn của khách sạn.

Bà Kiều, và ông Tom Trần, một thành viên quản trị, đứng đầu nhóm nha sĩ, thông báo rằng họ và một số người nữa sẽ gặp mặt chính quyền địa phương để hoàn tất thủ tục.

***

Hai giờ sau, vẫn chưa thấy bà Kiều, ông Trần, hay bất kỳ ai về. Mọi người bắt đầu mất bình tĩnh...

***

Tới giờ trưa, bà Kiều và ông Trần xuất hiện trước nhóm tình nguyện viên. Tôi nhìn quanh và thấy nhiều tình nguyện viên không mặc áo đồng phục nữa.

Tin cuối cùng cũng được xác nhận: nhóm không làm việc vào hôm nay.

Bằng một giọng nói căng thẳng, ông Trần nói với tình nguyện viên là chính quyền địa phương từ chối đơn của nhóm xin được làm y tế thiện nguyện ở Nha Trang.

Im lặng bao trùm. Mọi cặp mắt hướng về hai con người kia.

Bà Kiều và ông Trần đưa ra 'phương án B.' Phương án này là mọi người sẽ làm thiện nguyện tại các chùa, mỗi nhóm một vài người, đi riêng lẻ từng nhóm một.

Hai người nói xong, đám đông còn lại bắt đầu thì thào với nhau, ồn dần khắp căn phòng.

Một số tình nguyện viên biểu lộ sự thất vọng và giận dữ với chính quyền. Một số khác, những người Việt Nam lớn tuổi hơn, có vẻ bị tổn thương. Tôi thấy nước mắt họ chảy ra.

Một số khác nữa, trong đó có tôi, không nói gì cả. Tôi chỉ biết ngồi ra đó. Tôi thấy sốc.

Nguyên ngày hôm đó, tôi ngồi dọc hành lang với bạn bè và các tình nguyện viên. Ai cũng buồn vì cái tin kia. Không ai nói, cười, hay đùa giỡn. Mọi người lặng im.

Ông Trần nói sự can thiệp của chính quyền trong chuyến đi này là tệ nhất trong tám năm ông đi tình nguyện theo bà Kiều.

'Đã chuẩn bị mọi thứ, vậy mà đến phút cuối họ đổi ý.' Ông nói.

Dù mọi người trở nên bi quan, bà Kiều vẫn giữ nụ cười. Bà chưa bỏ cuộc. Bà nói đây không phải lần đầu tiên Project Vietnam bị chính quyền đẩy đi...”- trích A First-hand Experience.

Đó là một đoạn trong phần bút ký Vanessa ghi lại vào Thứ Ba, hai ngày sau khi nhóm Project Vietnam xin phép tiến hành công việc thiện nguyện, nhưng bất thành.
Image
Một trong những bài báo nói về việc chính phủ làm khó tình nguyện viên nước ngoài. (Hình: Thiên An/Người Việt)

Andrea Ayala, tác giả một bài báo khác có tên Bracing for the Pain, viết về tâm trạng của nhóm nha sĩ của Project Vietnam khi chờ đợi sự chấp thuận của chính quyền địa phương cho hoạt động của họ: “Sự căng thẳng bao trùm hành lang khách sạn. Chiến dịch thiện nguyện bị hủy bỏ hôm qua. Nếu bị hủy nữa thì là một tin thật xấu. Các thành viên ngồi trên các băng ghế dọc hành lang, vặn vẹo ngón tay, tự hỏi có nên lạc quan một lần nữa không...”- trích Bracing for the Pain.

Vào hôm sau, Thứ Tư, Project Vietnam cuối cùng “được cho phép” hoạt động ở trạm xá Cẩm Lai. Từ 10 giờ sáng đến 6 giờ chiều hôm đó, khoảng 500 người được khám và phát thuốc. “Khi chúng tôi đến bệnh viện vào hôm sau (Thứ Năm), một hàng dài với 500 người đã đợi sẵn. Có người chờ từ 7 giờ sáng.” Vanessa viết. “Họ cười, vẫy tay, chào chúng tôi, bằng tiếng Việt nên tôi không thể đáp lại.”

Giáo sư Jeffrey Brody, người sáng lập chương trình thực tập Vietnam Project, cho biết: “Sinh viên chúng tôi học được nhiều bài học trong chuyến đi. Bài học lớn nhất là sự khác biệt giữa đời sống trong xã hội dân chủ và đời sống dưới chính quyền độc tài. Dù Việt Nam cố gắng tự do hóa nền kinh tế, nó vẫn là một xứ công an trị.”

Các sinh viên - phóng viên ảnh David Le, Madeleine Skains, và Sima Sarraf cũng gặp phải sự trở ngại lớn khi muốn thu hình, chụp ảnh về đời sống của một người dân thường.

Theo lời Giáo sư Jeffrey Broody kể trong lá thư chủ nhiệm, các em này muốn ghi lại hình ảnh đời thường của một gia đình nghèo ở Sài Gòn. Các em làm quen với một bà ngoại bán hàng rong. Bà sống chung với các cháu trong một con hẻm nhỏ, nhiều cháu phải ngủ ở ngoài cửa vì nhà quá nhỏ. Khi các em bắt đầu lôi đạo cụ để chụp, quay hình, công an lập tức đến đòi xem tên tuổi, giấy tờ. Không muốn bị bắt và tịch thu tác phẩm, các em cố làm thật nhanh rồi rời đi.

“Bài học lớn nhất cho các sinh viên từ chuyến đi này là sự quan trọng của tự do, tự do báo chí, tự do xã hội.” Ông Jeffrey Broody kết luận.

Post Reply