Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Putin ca ngợi Obama 'ngăn chặn thảm kịch' ở Syria

Tổng thống Nga Vladimir Putin hôm qua ca ngợi người đồng cấp của Mỹ vì đã có những hành động mà ông cho là giúp ngăn chặn một thảm kịch ở Syria.

Image
Tổng thống Putin tại hội nghị APEC. Ảnh: RIA Novosti


Phát biểu với báo giới sau Hội nghị Cấp cao của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương APEC tại Bali, Indonesia, Putin cho hay dù ông và Tổng thống Barack Obama còn chia rẽ trong vấn đề Syria, họ vẫn có những mục tiêu chung.

"Những hành động này là nhằm dân chủ hóa tình hình, tạo điều kiện cho tất cả những người dân trên lãnh thổ này - những người từ các tôn giáo và sắc tộc khác nhau - được chung sống trong hòa bình", RIA Novosti dẫn lời ông Putin nói.

Phát biểu của nhà lãnh đạo Nga được đưa ra trong bối cảnh quốc tế đang bắt tay vào quá trình phá hủy kho vũ khí hóa học của Syria. Đây là giải pháp do Moscow đề xuất và được Washington ủng hộ, nhằm tránh cho chính quyền Damascus một cuộc không kích từ Mỹ.

Cuộc nội chiến Syria, với khoảng 100.000 người thiệt mạng, là một trong những vấn đề được ông Putin thảo luận với Ngoại trưởng Mỹ John Kerry ở Bali.

Chính quyền Obama cáo buộc lực lượng của Tổng thống Bashar al-Assad đứng sau vụ tấn công bằng khí độc ở ngoại ô Damascus hôm 21/8, làm hơn 1.400 người thiệt mạng.

Tuy nhiên, chính quyền Nga lại tuyên bố có bằng chứng cho thấy vụ tấn công do phe nổi dậy gây ra, nhằm khiêu khích sự can thiệp quân sự từ bên ngoài chống lại phe chính phủ.

Hôm qua, ông Putin đã hoan nghênh sự hợp tác của chính quyền Assad với nhóm chuyên gia vũ khí hóa học quốc tế.

"Chính quyền Syria đang hành động rất minh bạch và hỗ trợ các tổ chức quốc tế. Tôi hy vọng công việc sẽ tiếp tục tiến triển với tốc độ và tinh thần này", ông nói.

Putin cũng cho rằng nên có nhiều quốc gia hơn tham dự vào tiến trình hòa bình Syria, tại hội nghị quốc tế sắp tới dự kiến diễn ra ở Geneva vào tháng 11.

Indonesia, nước chủ nhà của APEC năm nay, là "một quốc gia Hồi giáo lớn" và việc tham gia vào hội nghị trên là "đương nhiên", ông Putin nói.

Kế hoạch tổ chức hội nghị mang tên Geneva II được Mỹ và Nga nhất trí từ hồi tháng 5, nhằm kế tiếp Geneva I đã diễn ra vào tháng 6 năm ngoái.

Anh Ngọc

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Đảng Cộng sản Trung Quốc đã rệu nát từ bên trong

Tú Anh RFI 08.10.13
Một sinh hoạt tưởng niệm tại Bắc Kinh, nhân ngày Quốc khánh Trung Quốc thứ 64 hôm 01/10/2013.

Một sinh hoạt tưởng niệm tại Bắc Kinh, nhân ngày Quốc khánh Trung Quốc thứ 64 hôm 01/10/2013. REUTERS/Jason Lee

Chế độ Trung Quốc không tránh được sụp đổ hay bị lật đổ . Trên đây phân tích của hai nhà trí thức có uy tín tại Bắc Kinh nhân 64 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa : một người là thư ký riêng của cố Tổng bí thư Triệu Tử Dương, một người là giáo sư đại học Bắc Kinh.

Trung Quốc dường như đang chiếm thế thượng phong trong mọi lãnh vực ngoại giao đến quân sự nhờ vào nền kinh tế được xếp vào hạng thứ hai trên thế giới. Tại thượng đỉnh APEC và ASEAN trong hai ngày 07 và 08 tháng 10, chủ tịch Trung quốc Tập Cận Bình nổi bật như ngôi sao sáng trong khi lãnh đạo siêu cường Hoa Kỳ, Barack Obama phải vắng mặt vì khủng hoảng chính trị và ngân sách.

Các nhà phân tích quốc tế không ngần ngại kết luận là chính sách « chuyển trục » sang Châu Á Thái Bình Dương của Mỹ gặp vấn đề và Trung Quốc với sức mạnh kinh tế, quân sự đang lên sẽ « lấp khoảng trống ».

Tuy nhiên đây không phải là nhận định của những nhà phân tích dám suy nghĩ độc lập tại Hoa lục : xem vậy mà không phải như vậy.

Công luận đã biết giải Nobel Hòa bình 2010 Lưu Hiểu Ba lãnh án 11 năm tù vì cùng với hơn 300 nhân sĩ (trong danh sách phổ biến đầu tiên) vào cuối năm 2008, công bố Hiến Chương 08 phân tích những nhược điểm của chế độ Trung Quốc và đề ra kế hoạch dân chủ hóa gồm 19 điểm để cứu nước, cứu dân và cứu đảng cầm quyền.

Vào lúc Trung Quốc rầm rộ kỷ niệm 64 năm chế độ được mệnh danh là « Cộng Hòa Nhân Dân » thì nhà ly khai Bào Đồng, nguyên là thư ký riêng của cố Tổng bí thư Triệu Tử Dương, nhà lãnh đạo cải cách bị cách chức vì chống biện pháp đàn áp phong trào Mùa Xuân Bắc Kinh năm 1989, khẳng định : Trung Quốc thực chất không phải là nền cộng hòa mà cũng không tôn trọng nhân dân.

Trong một bài phân tích dài với tựa đề : « Trung Quốc ăn mừng 64 năm chế độ xây dựng trên sự áp bức nhân dân » được phổ biến trên mạng của Asia News.it, nhà ly khai nhận định một cách thẳng thừng : Hệ thống chính trị Trung Quốc mang bản chất trấn áp, bất công và tham nhũng. Từ khi Trung Hoa được « giải phóng », quyền của công dân bị xem là « tà ngụy ». Dưới bảng hiệu « chuyên chế vô sản » một hệ thống độc tài khác khai sinh : đảng Cộng sản tự cho mình có toàn quyền thống trị mọi lãnh vực xã hội, kinh khiếp hơn bất kỳ chế độ phong kiến hay độc tài cá nhân nào. Nhân dân « được giải phóng » phải tuân thủ mệnh lệnh của đảng Cộng sản.

Nếu trước năm 1949, những hành vi áp bức, bóc lột được xem là phi lý thì sau ngày « giải phóng » hiện trượng thối nát đó được sống lại và được đảng tôn vinh : sau khi kích động bần cố nông tước đoạt tài sản của địa chủ thì tài sản khổng lồ này bị đảng tóm thu hết nhân danh hợp tác xã. Thực chất thì đất đai, công ty xí nghiệp được « biến hóa » thành tài sản riêng của những người gọi là cách mạng và con cháu họ dưới nhãn hiệu « tài sản xã hội chủ nghĩa » dù Mao không nói đến « chia chác » như vậy.

Đó chính là lý do sâu xa mà bộ máy tuyên truyền lờ đi giai đoạn « cướp chính quyền » mà tập trung vào chuyện bí ẩn « xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa ».

Về niềm kiêu hãnh « nhờ Đảng mà Trung Quốc lên hàng cường quốc kinh tế thứ hai thế giới » thì ông Bào Đồng nhắc dân Trung Hoa hãy nhớ là trước năm 1949, Trung Quốc đã chiếm thứ hạng này, và phải mất 64 năm mới trở về thứ hạng cũ. Ông bình luận một cách mỉa mai : Phải mất 64 năm học tập, người dân Trung Hoa mới ngộ ra « sự thật » là xứng đáng được những kẻ cầm quyền hiện nay lãnh đạo. Mà « sự thật » trong chế độ này là do đảng quyết định.

Hệ quả là người dân Trung Hoa từ thế hệ này qua thế hệ khác phải chịu đựng tệ nạn tham nhũng tràn lan, nạn ô nhiễm từ trên trên trời xuống lòng đất.

Đó là « mô hình » Trung Quốc được xây dựng trong 64 năm qua. Trong khi đảng cố gắng phô bày bộ mặt phấn son với quốc tế thì trong nội bộ, họ ý thức được các nhược điểm cốt lõi này với những lời « bôi nhọ lẫn nhau » hay biện minh là « cần học hỏi thêm ».

Để kết luận, nhà ly khai Bào Đồng khẳng định ông không có ý hạ nhục chế độ, nhưng một cơ chế chính trị không chấp nhận đối kháng là một cơ chế tiêu vong, trừ phi còn có những người có tinh thần can đảm cải cách nó.

Đây cũng là nhận định của giáo sư Hạ Vệ Phương. Ông không phải là nhà ly khai hay đối lập mà là một chuyên gia luật pháp của Đại học Bắc Kinh. Trả lời phỏng vấn của nhật báo South China Morning Post, giáo sư Hạ Vệ Phương cho biết ông Tập Cận Bình đã làm giới trí thức thất vọng. Nếu không chấp nhận tự do báo chí và tư pháp độc lập để trong sạch hóa guồng máy chính quyền, thì chế độ này, theo giáo sư Hạ Vệ Phương, sẽ bị cáo chung : « Khi dân chúng mất hết niềm hy vọng, khi không còn gì để mất, thì chỉ còn giải pháp sau cùng : nổi dậy làm cách mạng ».

Nguồn RFI

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Dân chủ từ dưới lên
Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Lâu nay, nói đến dân chủ (hoặc không dân chủ), chúng ta thường chỉ tập trung vào một góc độ: chính trị. Trong chính trị, chúng ta cũng chỉ tập trung vào một góc độ: thiết chế (cụ thể là bộ máy chính quyền). Trong thiết chế, chúng ta chỉ tập trung vào một góc độ: cá nhân những người lãnh đạo, và ở những người lãnh đạo ấy, chúng ta thường chỉ tập trung vào một góc độ: cách hành xử, đặc biệt là qua ngôn ngữ, thái độ và hành động của họ trong quan hệ với người dân.

Tất cả những cách nhìn trên dĩ nhiên là đúng. Nhưng thiếu. Vấn đề dân chủ hay không dân chủ không phải chỉ thể hiện trong phạm vi chính trị mà còn trong kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa và cả trong gia đình nữa. Chỉ giới hạn trong phạm vi chính trị, vấn đề dân chủ hay không dân chủ không phải chỉ ở thiết chế mà còn ở quan hệ giữa người và người; và ở con người, chúng còn tồn tại ở những nơi chúng ta khó thấy nhất: tâm lý.

Từ góc độ tâm lý, dân chủ và không dân chủ có thể được nhìn thấy ở mọi người, ví dụ, trong phạm vi gia đình, có những người bố hoặc chồng dân chủ và ngược lại, cũng có những ông bố hoặc chồng không dân chủ; trong giáo dục, cũng vậy, có những thầy cô giáo dân chủ hoặc không dân chủ; trong phạm vi kinh tế, có những ông/bà chủ, đủ mọi cấp, dân chủ hoặc không dân chủ; và cuối cùng, trong phạm vi quốc gia, có những người lãnh đạo các cấp dân chủ hoặc không dân chủ.

Ở những cương vị khác nhau, với những mức độ quyền lực khác nhau trong xã hội, người ta cũng đều có thể trở thành những người dân chủ hoặc những kẻ không dân chủ. Dân chủ khi người ta biết tôn trọng người khác và chấp nhận đối thoại và thương thảo để giải quyết các xung đột; ngược lại họ trở thành không dân chủ khi chỉ khăng khăng cho chỉ có một mình mình là đúng và người khác (từ vợ con đến học trò và nhân viên) đều sai; nếu người khác không chấp nhận cái sai của họ, tiếp tục phản đối, họ sẽ sử dụng các biện pháp trừng phạt hoặc trấn áp ngay tức khắc (với con cái, người ta bợp tai; với học trò, trừ điểm; với nhân viên, sa thải hoặc đe dọa sa thải; với dân chúng, bỏ tù hoặc giết chết).

Có thể nói, trong phạm vi chính trị, vấn đề dân chủ hay không dân chủ nằm ở nhiều cấp độ khác nhau: cơ chế, chính sách, cách hành xử, và, quan trọng không kém, trong tâm lý con người.

Nhìn từ góc độ tâm lý, vấn đề dân chủ hay không dân chủ có thể xuất hiện ở cả hai giới: lãnh đạo và dân thường.

Ở giới lãnh đạo, vấn đề ấy rất rõ và được nói đến rất nhiều: Là dân chủ, khi người ta biết tôn trọng những ý kiến khác, biết chia sẻ ý kiến và quyền lợi cũng như quyền lực với người khác, biết giải quyết các mâu thuẫn bằng sự thương thảo, kể cả việc thỏa hiệp với người khác, biết chấp nhận những luật lệ cũng như quy chế làm giới hạn quyền lực cũng như quyền lợi của chính mình, cuối cùng, biết chấp nhận quyết định của đa số dân chúng trong các cuộc bầu cử cũng như trưng cầu dân ý, kể cả những quyết định hoàn toàn bất lợi cho bản thân mình. Làm ngược lại là không dân chủ hoặc độc tài.

Ðối với người dân thường, chúng ta không cần đặt vấn đề không-dân-chủ hoặc độc tài bởi ở vị thế của những kẻ không có quyền lực, đó là một vấn đề vô nghĩa. Nhưng chúng ta có thể và, thật ra, nên đặt vấn đề dân chủ với họ. Nói một cách chính xác và ngắn gọn hơn: ở dân chúng, có những tâm lý phù hợp hoặc không phù hợp với dân chủ. Trong trường hợp không phù hợp, tâm lý ấy trở thành đồng minh hoặc trợ thủ của độc tài.

Dân chúng có tâm lý dân chủ hoặc phù hợp với dân chủ khi, thứ nhất, họ ý thức về quyền của mình và hành Dân chúng có tâm lý dân chủ hoặc phù hợp với dân chủ khi, thứ nhất, họ ý thức về quyền của mình và hành xử theo các quyền được quy định của mình; thứ hai, họ cũng ý thức về quyền của người khác và hành xử theo nguyên tắc tôn trọng các quyền của người khác; thứ ba, trong trường hợp xảy ra mâu thuẫn giữa các quyền giữa mình và người khác, người ta giải quyết theo một trong hai cách: hoặc dựa vào pháp luật hoặc tìm cách thương thảo, thậm chí, sẵn sàng thỏa hiệp và nhân nhượng; và thứ tư, sau khi đã đạt được một thỏa thuận chung, người ta phải chấp nhận và tuân thủ những điều mình đã cam kết.

Ví dụ, ở Úc, trong cuộc bầu cử vào ngày 7 tháng 9 vừa qua, tôi bầu cho đảng Lao Ðộng. Kết quả: đảng Liên Ðảng (bao gồm hai đảng Tự Do và Quốc Gia) thắng. Tôi, cũng như gần năm triệu người Úc khác (trên tổng số hơn 14 triệu cử tri), đã bầu cho đảng Lao Ðộng không thể lấy lý do mình không hề bầu cho Liên Ðảng để từ chối tư cách cầm quyền của Liên Ðảng. Không, luật chơi dân chủ đã định rõ: thiểu số phải phục tùng đa số. Khi kết quả bầu cử đã được công bố và khi mọi người biết Liên Ðảng chiếm đa số trong Quốc Hội, không ai - ngay cả các đảng đối lập - được quyền phủ nhận tư cách pháp nhân của Liên Ðảng trong vị thế một đảng cầm quyền. Tuy nhiên, dù bầu hay không bầu cho Liên Ðảng, người ta cũng có quyền phản đối các chính sách của Liên Ðảng khi thấy các chính sách ấy sai hoặc xâm phạm vào một số quyền của chính mình. Khi xuống đường biểu tình hay công kích một số chính sách của chính phủ, người ta chỉ hành xử theo các quyền công dân của mình.

Ðó là tâm lý dân chủ. Còn tâm lý không phù hợp với dân chủ, thậm chí, có thể nói tâm lý phản dân chủ là sao? Là:
Thứ nhất, không biết hoặc không tha thiết đến các quyền của mình. Cứ mặc kệ. Ai làm cũng được, kể cả việc chà đạp lên quyền công dân của mình và của người khác. Trong ý nghĩa này, có thể nói những người theo chủ nghĩa mackeno là những người phản dân chủ, ngay cả với tư cách công dân.

Thứ hai, không biết tôn trọng người khác, đặc biệt, không biết tôn trọng đa số. Không quan tâm đến quyền của mình, người ta dễ dàng biến thành nô lệ, nhưng không biết tôn trọng quyền của người khác, người ta dễ trở thành độc tài và độc đoán khi có cơ hội: Cả hai đều là những kẻ thù của dân chủ.

Thứ ba, không biết tôn trọng các luật lệ chung đã được quy định (dĩ nhiên một cách hợp pháp và minh bạch). Bản chất của dân chủ, thật ra, là sự tương nhượng để mọi người đều cùng được tôn trọng và cùng có lợi. Sự tương nhượng chỉ có thể đạt được hiệu quả khi có luật lệ rõ ràng.

Việc những người cầm quyền trở thành phi - hoặc phản - dân chủ bao giờ cũng là một việc làm có chủ đích, có ý thức và đầy tính toán, do đó, người ta không cần dạy các nhà độc tài cách thức để trở thành dân chủ. Dân chủ hay không dân chủ, từ phía những người lãnh đạo, phải là một sự bắt buộc, mang tính cưỡng chế, hoặc bằng luật pháp hoặc bằng áp lực từ những nơi khác. Nhưng việc người dân trở thành những nhà dân chủ hay không thì lại là một lựa chọn đầy ý thức: Người ta phải biết và phải cố gắng thì mới có được tâm lý dân chủ. Ðó là những vấn đề thuộc phạm trù giáo dục. Công việc giáo dục ấy được thực hiện bằng hai biện pháp chính: một, về lý thuyết, qua cách gia o dục; và hai, về thực hành, qua việc tập luyện cách suy nghĩ và hành xử như những nhà dân chủ. Trong việc tập luyện, cơ hội tốt nhất chính là xã hội dân sự, nơi người ta hành xử với tư cách những công dân.

Càng ngày người ta càng nhận thấy, một nền dân chủ thực sự và bền vững bao giờ cũng bao gồm một số điều kiện căn bản: Một, phải có thiết chế dân chủ; hai, phải có các điều kiện hỗ trợ cho dân chủ (ví dụ, về kinh tế, phải tương đối cao; về xã hội, tầng lớp trung lưu tương đối đông và mạnh); và ba, văn hóa dân chủ. Trong cái gọi là văn hóa dân chủ ấy, có cái gọi là tâm lý dân chủ chúng ta vừa bàn ở trên.

Tâm lý hoặc văn hóa dân chủ có hai chiều: ở trên, thuộc giới lãnh đạo, gồm những người có chức quyền; và ở dưới, gồm toàn bộ dân chúng.

Cách tốt nhất để xây dựng dân chủ là bắt đầu từ dưới lên: Chính dân chúng, những người bị trị, cần được trang bị ý thức dân chủ.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Huy Phương viết về TKTT

Gặp gỡ lần đầu tiên với nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, hình ảnh cô gái này không đem lại cho chúng ta một ấn tượng gì đặc biệt.
Theo tôi đó là một cô gái trẻ trung còn trẻ so với tuổi (cô sinh năm 1960), hiền lành, coi bộ nhút nhát, mặt thì buồn rười rượi
và có lẽ trong một lúc nào đó, bị phật ý, như một đứa trẻ được nuông chiều, sẽ bật khóc cũng nên!

Image
Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy
Nhưng không, sau bề ngoài đó, ít ai tưởng tượng ra nổi Trần Khải Thanh Thủy là một cô gái can trường, tuy tay yếu chân mềm, nhưng như một bậc anh thư trước thời loạn, biết dùng ngòi bút để chống lại bạo quyền, bị đánh đập, tra khảo, bị tù đày nhiều năm, chưa hết trên tinh thần còn bị lăng nhục, bôi nhọ, bị đổ phân vào nhà, bị khóa trái nhà không cho ra ngoài.

Ðẹp đẽ cho dân tộc chúng ta biết bao nhiêu, cũng với hình ảnh dịu dàng yếu đuối đó, ở trong thời đại nhiễu nhương của Việt Nam hôm nay, chúng ta có bao nhiêu bậc nữ nhi khí tiết như: Lê Thị Công Nhân, Ðỗ Minh Hạnh, Nguyễn Phương Uyên, Tạ Phong Tần, Hồ Thị Bích Khương, Bùi Thị Minh Hằng, Phạm Thanh Nghiên, Huỳnh Thục Vi... bao nhiêu người nữ dân oan chống bạo quyền, nằm đường ngủ chợ, chấp nhận bị bao nhiêu oan khuất, bị hành hung, mạ lỵ, vu oan để cất cao tiếng nói cho quyền làm con người mà những trang giấy này ghi không hết.

Cá nhân tôi, cũng như một số lớn người ở hải ngoại, nhiều khi tham dự được một cuộc biểu tình, viết được dăm ba bài báo chửi cộng sản, đã nghĩ mình là người chống Cộng ghê gớm, nhưng buổi tối về vẫn có giấc ngủ yên không sợ bị ai đập cửa, không bị ai chận đường lăng mạ, đạp vào xe gắn máy mình đang lái, mà vẫn ngồi trong xe hơi, ở nhà có máy điều hòa không khí, quả cảm thấy hổ thẹn, khi đứng trước những người đã dám đứng lên tranh đấu trong nhà tù lớn, dưới mạng lưới công an và côn đồ chìm nổi dày đặc, với những nhà tù từ xã ấp tới quân lỵ, với những thủ đoạn đê tiện, chịu bao nhiêu cảnh đớn đau thể xác và tinh thần.

Chỉ vì một bài hát yêu nước, Việt Khang chịu cảnh tù tội, gia đình bị làm khó dễ, vợ và con nhỏ lên bốn tuổi nheo nhóc. Ðỗ Thị Minh Hạnh, trong sáng như một mảnh trăng rằm, đã bị đưa đi nhiều nhà tù từ Lâm Ðồng đến Trà Vinh, Long An, Bình Thuận, Ðồng Nai... với bà mẹ lận đận chạy theo con, qua các nhà tù, suốt chặng đường gian khổ. Ðang sống trong tự do, no đủ, chăn ấm nệm êm, làm sao chúng ta có thể tưởng tượng ra nỗi những đau đớn, tủi nhục của những người đang chịu cảnh đày đọa.

Nhưng câu hỏi ám ảnh và dày vò chúng ta lâu nay, đặt ra mà không ai có can đảm trả lời?

Hải ngoại đã có bao nhiêu bài báo, bao nhiêu cuộc phỏng vấn, bao nhiêu bản nhạc bài thơ, bao nhiêu lần thắp nến cho những nhà tranh đấu, nhưng chúng ta đã tiếp đón những người này với thái độ như thế nào, khi họ ra hải ngoại, được hít thở bầu không khí tự do như chúng ta,?

Thay vì một vòng hoa tri ân, chúng ta gửi đến họ những quả trứng thối!

Họ đây là: Hoàng Minh Chính, Nguyễn Chính Kết, Ðoàn Viết Hoạt, Nguyễn Chí Thiện... và giờ đây một người đang có mặt trong căn phòng này là nhà văn Trần Khải Thanh Thủy.
Ðây là một người đang ở tù, thì Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã cầm lá thư có 19 chữ ký của các dân biểu Hoa kỳ, trong đó có bà Loretta Sanchez, can thiệp với CSVN và bức thư kêu gọi có 30,000 chữ ký của đồng bào hải ngoại chúng ta. Trần Khải Thanh Thủy được đưa từ nhà tù ra sân bay Nội Bài, với sự đồng hành yểm trợ của bí thư thứ nhất Tòa Ðại Sứ Mỹ là Christian Merchant nhân dịp ông mãn nhiệm kỳ hồi hương. Nhà Văn Trần Khải Thanh Thủy là hội viên danh dự của Văn Bút Quốc Tế, là một trong 45 người của 22 quốc gia được nhận giải Hellman/Hammett Grants.

Vậy mà chúng ta, những người nhân danh là những người Việt tự do chống Cộng ở hải ngoại đã đón tiếp những nhà tranh đấu cho dân chủ từ trong nước ra như thế nào?
Quả là chúng ta văn minh hơn cộng sản, chúng ta không có phân người, dầu cặn, không có roi diện, dùi cui để làm họ đau đớn phần thể xác, nhưng chúng ta làm cho họ đau đớn tinh thần bằng dư luận, qua báo chí, qua Internet. Chúng ta đón họ với những bài báo dè bỉu, tung lên mạng những lời lẽ vu cáo, lăng mạ, đặt điều, để cách ly họ ra với cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Tệ hại hơn nữa là có những người tự xưng là “làm văn hóa” ở hải ngoại này, đã không phải một, mà hơn một lần, tìm kiếm lợi nhuận trên những tác phẩm trí tuệ của những người đã có công tranh đấu, hy sinh cho quyền làm người, mới thoát cảnh tù đày này.

Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, dù đã đến Mỹ được hai năm, trong giai đoạn chân ướt chân ráo, gia đình đang sống nhờ sự cưu mang của nước Mỹ, không có việc làm, hai con còn đi học, chồng mới đoàn tụ, đang đi học nghề tóc! Chúng ta còn tin tưởng gì ở sự lương hảo của những người tự xưng là làm văn hóa, hay phát huy văn hóa dân tộc ở ngay trong cộng đồng người Việt chúng ta.

Những người chống Cộng ở hải ngoại đối với những người chống Cộng từ trong nước ra, với chúng ta như thế sao?

Nhiều người cho rằng việc đánh phá những người tranh đấu từ trong nước khi ra hải ngoại là chủ trương của cộng sản, nhưng tham gia công việc “giết người chẳng lọ gươm dao” này hôm nay lại là những người thường vỗ ngực cho mình là người chống Cộng.

Câu hỏi đã làm ám ảnh tôi: Rồi đây, nếu Lê Thị Công Nhân, Việt Khang, Ðỗ Minh Hạnh, Cù Huy Hà Vũ, Ðiếu Cày... những người chúng ta đang ca tụng, hoan hô hôm nay, được ra nước ngoài, số phận của họ có khác gì ông Nguyễn Chính Kết, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và cô Trần Khải Thanh Thủy đang chịu hôm nay không? Ðó là hình ảnh một miếng thịt tươi được vứt xuống một hầm cá sấu, và chính quyền cộng sản trong nước luôn luôn tìm cách đẩy họ ra khỏi nước để nhờ tay người khác giết họ để khỏi bị mang tiếng là đao phủ thủ!

Phải chăng đã có những nhà tranh đấu lưu vong, bỏ nước ra đi đã hối hận, mà con đường quay trở về là không thể!

Như vậy phải chăng thái độ của Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế khi từ chối ra hải ngoại là một thái độ khôn ngoan?

Chúng ta làm gì để xóa bỏ được thái độ vừa vô ơn, độc ác, vừa tiếp tay cho bọn sát thủ ở trong nước như trong những trường hợp đã nêu trên?

Huy Phương.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Khủng hoảng ngân sách và TNS Ted Cruz của Tea Party
Nguyễn Văn Khanh


Cả nước Mỹ ai cũng biết Thượng Nghị Sĩ Ted Cruz. Có người biết ông là biểu tượng của cánh Tea Party, cũng có người biết đến ông vì mới tháng trước ông đứng nói chuyện liên tục 21 tiếng đồng hồ trước diễn đàn Thượng Viện chỉ để bày tỏ lập trường chống Obamacare, cũng có người biết đến ông vì đồn đãi chính trị nói rằng sớm muộn gì ông cũng ra tranh cử tổng thống.

Ngay trong chính trường, cũng mỗi người nhìn ông một khác. Bên đảng Dân Chủ xem ông là nguyên nhân gây căng thẳng chính trị khiến chính phủ liên bang phải tạm thời đóng cửa, bên cánh Cộng Hòa thì thắc mắc không biết vị nghị sĩ trẻ tuổi đại diện cho tiểu bang Texas là người làm lợi hay gây tai hại cho đảng. Ðã từng có chính trị gia xem ông là người bướng bỉnh, ưa phá bĩnh, nhưng cũng có người lên tiếng ủng hộ thái độ cứng rắn để bảo vệ lập trường mà ông thể hiện trong 10 tháng vừa qua.
Image

Thượng Nghị Sĩ Ted Cruz (Cộng Hòa-Texas) tại cuộc biểu tình ở Ðài Tưởng Niệm Thế Chiến 2 ở Washington, DC,
đòi chính phủ liên bang mở cửa. (Hình: Andrew Burton/Getty Images)

Kể từ Tháng Giêng khi rời Texas để lên Washington D.C. làm việc đến giờ, Thượng Nghị Sĩ Ted Cruz là nhân vật nổi bật nhất và lớn tiếng nhất, lúc nào cũng lên tiếng đòi hỏi phải hủy bỏ Obamacare, đạo luật được ông gọi là “sẽ gây thảm họa cho nước Mỹ.” Trong những cuộc phỏng vấn dành cho giới truyền thông cũng như qua những bài nói chuyện, phát biểu đọc trước đám đông hay trong cuộc họp kín của đảng Cộng Hòa, vị nghị sĩ từng đoạt giải hùng biện lúc còn theo học ở Ðại Học Princeton đều nói “điều người dân Mỹ muốn thấy là phải hủy bỏ Obamacare, đạo luật gây tai hại cho nhiều triệu người. Ðạo luật này khiến người dân mất việc làm, khiến người đang làm full-time phải chấp nhận làm part-time, khiến người dân phải trả thêm tiền khi mua bảo hiểm y tế.” Những lời lẽ đanh thép ông đưa ra đã giúp ông có một tập thể quần chúng ủng hộ: tất cả đều những cử tri bỏ phiếu cho các ứng viên đại diện cho Tea Party - trong đó có ông - hoặc thành phần cử tri thuộc cánh bảo thủ Cộng Hòa - trong đó cũng có ông.

Chiến lược đánh Obamacare không chỉ giúp ông trở thành chính trị gia nổi bật trong chính trường, mà còn giúp ông tạo được thanh thế vững vàng trong đảng. Cuộc thăm dò do Pubic Policy Polling thực hiện cho thấy nếu cuộc bầu cử sơ bộ diễn ra ngay lúc này, ông dễ dàng vượt qua 2 chính trị gia nặng ký cùng đảng là Thống Ðốc Chris Christie của tiểu bang New Jersey và Thượng Nghị Sĩ Rand Paul của tiểu bang Kentucky. Ðiều đó cũng có nghĩa là cho dù mãi đến năm 2016 người dân Hoa Kỳ mới đến phòng phiếu để chọn vị tổng thống mới, nhưng ông đang là đối thủ đáng gờm nhất cho những ai nuôi mộng thay thế Tổng Thống Barack Obama.

Nhưng bên cạnh thuận lợi đó, những cuộc thăm dò công luận khác cho thấy dù đa số cử tri không hài lòng với Obamacare nhưng cũng không bằng lòng với chiến lược ông đang thực hiện khi nhất quyết đòi phải hủy bỏ đạo luật y tế được ban hành hồi 2010. Ngay chính những vị thượng nghị sĩ cùng đảng với ông cũng đồng ý với dư luận cử tri, chẳng hạn như Thượng Nghị Sĩ Rand Paul từng nói “loại trừ Obamacare là điều không tưởng,” Thượng Nghị Sĩ John McCain nói rõ hơn “thực tế cho thấy không thể nào có 67 phiếu (của Thượng Viện) để hủy bỏ luật này.” Tệ hơn nữa là sự kiện người dân không bằng lòng việc ông dẫn đầu các vị dân cử thuộc nhóm Tea Party đặt điều kiện gắn liền Obamacare với ngân sách. Chính đòi hỏi này là nguyên nhân khiến chính phủ liên bang phải đóng cửa, và cũng là lý do khiến Thượng và Hạ Viện không đạt được đồng thuận để tăng mức mợ trần.

Hầu hết những bài báo, bản tin và những nhận định của các nhà phân tích chính trị đều giống nhau ở một điểm: ông Cruz và các vị dân biểu Tea Party sẵn sàng đẩy chính phủ đến chỗ phải đóng cửa, trong khi các vị dân cử khác của đảng Dân Chủ, Cộng Hòa cũng như các vị dân cử thuộc khối độc lập không hề muốn thấy điều đó xảy ra. Tin hành lang Hạ Viện cũng cho thấy thoạt đầu ông Chủ Tịch John Boehner “không có ý định gắn Obamacare vào với cuộc bàn thảo về ngân sách” nhưng cuối cùng phải gật đầu vì áp lực của các vị dân biểu Cộng Hòa trong nhóm Tea Party “làm việc theo sự chỉ đạo của thủ lãnh Ted Cruz.”

Hành động của ông Ted Cruz khiến các đồng viện Cộng Hòa bực mình, nghe đâu đã có người gọi ông Cruz là “tế bào ung thư” tạo thành bế tắc chính trị hiện giờ. Trước diễn đàn Thượng Viện, Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Bob Croker của Tennessee công khai chỉ trích ông Ted Cruz là người “muốn đánh bóng cá nhân, muốn tạo thanh thế trên chính trường quốc gia” hơn là tìm phương cách để chính phủ không phải đóng cửa. Với giọng bực dọc, Thượng Nghị Sĩ Croker nói rằng “điều tôi mong muốn là chúng ta không bao giờ phải bận tâm, không phải chia trí (về chuyện ông Cruz), để còn lo giải quyết những vấn đề quan trọng hơn, như phải thương thuyết cắt giảm chi tiêu để tình trạng thâm thủng ngân sách không tiếp tục xảy ra ở mức đáng ngại như hiện giờ.”

Ngay trong những cuộc họp kín của đảng, ông Cruz cũng bị đồng viện chỉ trích, chẳng hạn như mới tuần trước thượng nghị sĩ nổi tiếng ít nói Kelly Ayotte giơ tay xin phát biểu, nói là “tôi không ngờ anh lại gắn chặt với những thành phần bảo thủ bên ngoài để tấn công chúng tôi, cho rằng chúng tôi không hết lòng với ý muốn của anh và của họ là phải dẹp bỏ Obamacare.” Vị nghị sĩ của tiểu bang New Hampshire nói thêm “tôi có cảm tưởng anh đang làm việc cho cá nhân hay cho một nhóm nào đó chứ không phải làm việc chung với mọi người.”

Trước những lời chỉ trích nặng nề đó, ông Ted Cruz vẫn bình tĩnh trả lời ông “đang làm việc cho người dân Hoa Kỳ, làm việc cho những phản ánh ông ghi nhận được từ người dân” cũng như “làm đúng những gì tôi đã hứa khi ra tranh cử hồi năm ngoái.” Tháng Tám vừa rồi ông cùng Cựu Thượng Nghị Sĩ Jim DeMint (hiện đang điều hành viện nghiên cứu The Herritage Foundation của cánh bảo thủ Cộng Hòa) đi vòng nước Mỹ nói chuyện với người dân, đồng thời cũng để gây áp lực với các chính trị gia Cộng Hòa: hoặc theo ông để chống Obamacare, hoặc sẽ không được sự ủng hộ của thành phần cử tri bảo thủ.

Lối làm việc cứng rắn đó cũng không được lòng của những vị dân biểu Cộng Hòa ở Hạ Viện. Dân Biểu Devin Nunes của California từng lắc đầu than “sau khi đẩy Quốc Hội vào thế khó khăn, không biết mai đây ông Cruz sẽ đưa ra chiêu gì nữa đây.” Một dân biểu Cộng Hòa khác là ông Michael Simpson vừa lắc đầu vừa nói “cách khôn ngoan nhất là đừng nói ra những gì tôi đang nghĩ trong đầu” khi được báo chí hỏi cảm tưởng về vị thượng nghị sĩ con cưng của Tea Party.

Những cũng đừng quên ông Ted Cruz đã tạo được một thế mạnh, tiếng nói của ông được lắng nghe, thế lực chính trị của ông ngày một vững hơn trước, chiến lược phải chống Obamacare cho đến cùng vẫn được sự ủng hộ của những vị dân cử có chung lập trường. Bằng chứng mới nhất là tối hôm qua (Thứ Ba 15 Tháng Mười 2013), dự luật do đảng Cộng Hòa soạn thảo đã không được đưa ra bỏ phiếu vì “không có đủ số phiếu ủng hộ” như văn phòng ông Boehner thông báo, dù dự thảo luật này dọn đường cho chính phủ liên bang mở cửa hoạt động trở lại và cho hành pháp tạm thời vay tiền để chi tiêu.

Tại sao vậy? Câu trả lời nghe được từ Dân Biểu Tim Huelskamp: “Chúng tôi không chấp nhận bất cứ dự luật nào trong đó có điều khoản cho phép thi hành Obamacare, không đồng ý cấp ngân khoản cho Obamacare trong khi chính phủ phải vay tiền để chi tiêu.” Vị dân biểu này nói thêm “chúng tôi làm điều này vì ý muốn của người dân, người dân không bằng lòng với Obamacare.”

Những điều ông Tim Huelskamp nói ra đều là những điều ông Ted Cruz từng nói trước đó. Ðây cũng chẳng là điều lạ vì 2 ông đều là những chính trị gia nòng cốt của Tea Party, nhóm được một số nhà quan sát xem là có chủ trương “thà để chính phủ đóng cửa còn hơn là thấy Obamacare xuất hiện.”

Ðiều đó cũng có nghĩa là chính phủ liên bang tiếp tục đóng cửa, ngày nước Mỹ hết tiền cũng đã thật gần kề.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Trả thù tù chính trị?
Gia Minh
biên tập viên RFA


Image
Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa (áo vàng) tại tòa án thành phố Hải Phòng hôm 08/10/2009 AFP photo

Những tù nhân lương tâm tại Việt Nam do không chịu nhận tội từ phía nhà nước qui kết tiếp tục chịu bao biện pháp hà khắc mà theo họ đó là sự trả thù.

Chuyển trại

Thông tin về hai nữ tù nhân Đỗ Thị Minh Hạnh và Mai Thị Dung bị chuyển trại từ K5 Xuân Lộc Đồng Nai ra đến tận trại Thanh Xuân ở Hà Nội được gia đình ngỡ ngàng cho biết vì họ không hề được cơ quan chức năng thông báo; chỉ đến khi đến trại năm nuôi theo định kỳ hằng tháng họ mới rõ.

Tình trạng này cũng tương tự đối với gia đình tù nhân nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa vào dịp thăm nuôi hôm 12 tháng 10 tại Trại giam Thanh Chương, Nghệ An.

Bà Nguyễn thị Nga, vợ ông Nguyễn Xuân Nghĩa cho biết về điều đó:

Thường thì vào mồng 5 hoặc mồng 7, nhưng tháng này gia đình đi muộn hơn mấy ngày. Lặn lội đến nơi vào khoảng 4 giờ chiều làm thủ tục thăm gặp xong, một viên công an từ trong đó ra báo anh ấy đã chuyển trại đi ngày hôm trước. Tôi bức xúc nói rằng các anh thật tệ, các anh biết rằng từ Hải Phòng vào trong này 400-500 cây số, tôi còn hàng hóa mang vào cho chồng tôi mà các anh chuyển không có thông báo gì cho gia đình biết. Họ nói mới chuyển hôm qua, nhưng chắc họ nói dối thôi. Họ không có trách nhiệm. Họ đầy đọa vào trong ấy rồi mới báo cho biết chuyển vào trại An Điềm, Đà Nẵng. Họ nói có thông báo về cho gia đình nhưng chắc gia đình chưa nhận được.

Tôi rất buồn nói với họ rằng chồng tôi đang bệnh tật, trước đây nửa tháng chồng tôi có gọi điện về đang làm đơn xin trại đi mổ khối u tiền liệt tuyến. Tôi cũng đã làm đơn gửi cho trại nửa tháng nay cũng không thấy hồi âm. Tôi biết rằng chỉ việc chồng tôi đưa tin Điếu Cày tuyệt thực ra thôi mà các anh đẩy anh đi xa thật xa để đày ải thật khổ.
Tôi nói với họ như thế, thì họ nói thừa lệnh trên, làm theo lệnh trên.

Trong kỳ thăm nuôi tháng trước về bà Nguyễn Thị Nga từng thông báo cho biết một tù hình sự khác bị phạm tội làm gián điện cho Trung Quốc đã được phân vào ở cùng nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và hành hung ông này cũng như đe dọa bằng lời không để ông Nghĩa toàn mạng trước khi mãn án.

Không cho thăm gặp

Một tù nhân khác cũng bị giam tại Trại Thanh Chương là ông Nguyễn Kim Nhàn, do cùng các tù nhân chính trị khác như ông Điếu Cày Nguyễn văn Hải, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa đấu tranh đòi hỏi những quyền lợi khác của tù nhân trong nhà giam nay bị cắt thăm nuôi. Bà Ngô thị Lộc, vợ không hôn thú của ông này cho biết:

Tôi với chị Nga, vợ anh Nghĩa ở Hải Phòng đi thăm, một cuộc hành trình rất vất vả: tôi phải thức từ 3 giờ sáng, đi xe máy ra Hà Nội, 7 giờ kém 15 lên xe, đến 3 giờ chiều đến trại. Tôi và chị Nga nội giấy chứng minh thư vào thăm gặp thì chị Nga được họ thông báo anh Nghĩa chuyển đi Quảng Nam- Đà Nẵng, còn tôi không được gặp anh Nhàn, chỉ được gửi quà thôi vì trong hồ sơ của anh Nhàn không có tên của tôi, họ không cho gặp.

Ở tất cả các trại tôi đều được gặp, thăm nuôi, đến trại này thì họ sinh sự ra như vậy. Tôi có trình bày thì người gác ở cổng nói chỉ tiếp cận, điền tên và các anh ở trong ra. Họ chỉ nói là thi hành công vụ.
Lý do theo tôi vì ở ngoài chúng tôi đấu tranh và ở trong đó các anh cũng đấu tranh cho quyền con người. Anh Nhàn họ còn lấy lý do trong thời gian bị kỷ luật nên họ lục hồ sơ ra và có quyết định như thế.

Bà Bùi Thị Minh Hằng, người giúp đỡ cho hai ông Nguyễn Văn Bửu, chồng tù nhân Mai thị Dung và ông Đỗ Ty, cha cô Đỗ thị Minh Hạnh, đi thăm người thân tại trại mới Thanh Xuân chia xẻ lại thông tin mà gia đình được hai tù nhân này cho biết xảy ra khi chuyển trại:

Bác Ty gặp Hạnh hơn một tiếng đồng hồ, sức khỏe của Hạnh tốt hơn. Sau khi gặp Hạnh, bác Ty nắm một số thông tin, nhưng có một thông tin rất quan trọng là trong quá trình chuyển tù họ còng tay, còng chân tù nhân trên xe. Đỗ thị Minh Hạnh không đi cùng chuyến xe với Mai thị Dung, có lúc Đỗ thị Minh Hạnh xỉu trên xe thùng.

Ý kiến

Ông Võ Văn Bửu cho biết tình trạng của vợ sau lần gặp 10 phút vào ngày 14 tháng 10 như sau:

Lúc đầu vào thì mấy viên công an trại giam ra nói theo luật đã thăm cách đây mấy bữa rồi, họ không cho thăm tiếp. Tôi có ý kiến rằng chắc người nhà tôi có vấn đề gì nên các ông không cho tôi gặp mặt. Cuối cùng họ chấp nhận nhưng chỉ giải quyết cho thăm 10 phút thôi. Tôi ngồi đợi 10 phút thì có một người ‘kè’ Dung ra. Sức khỏe Dung thì có tiến triển hơn so với ngày 10 khi tôi vào thăm. Lý do: sau khi được đưa đi khám bệnh về, hôm nay Dung bắt đầu húp nước cháo lại, bệnh xá của trại giam cũng truyền đạm, truyền nước biển cho Dung.

Theo lời Dung kể lại do thương lượng giữa ông Cường bên Tổng cục Bảo vệ Chính trị. Hôm ngày 10 tháng 10 khi tôi ra thăm nuôi cũng có viên an ninh này ở đó và cũng động viên tôi yêu cầu Dung ăn lại, ông nói muốn trị bệnh phải có sức khỏe mới trị được; họ vào thương lượng với Dung yêu cầu ăn lại rồi họ sẽ đưa đi khám bệnh, rồi điều trị bằng phác đồ của bệnh viện. Nếu sau này mà bệnh không có tiến triển thì sẽ tính những bước tiếp theo. Họ nói thế thôi, nhưng những bước tiếp theo họ có tính hay không thì mình chưa khẳng định được.

Blogger Người Buôn Gió ngay sau khi nghe tin một số tù nhân lương tâm bị chuyển trại tù người thì từ nam ra bắc, người thì từ bắc vào trung, đã có bài viết cho rằng hành vi chuyển trại như thế phải lên án.
Blogger này viết rằng ‘Việc di chuyển những phạm nhân này cách xa nơi họ cư trú cũng như nơi xét xử là hình vi vô nhân đạo, gây khó khăn cho việc thăm gặp của gia đình phạm nhân, gây cho phạm nhân nhiều trở ngại về phong tục, thổ ngữ, thổ nhưỡng.’

Những hành vi chuyển phạm nhân đến nơi chấp hành án phạt tù xa xôi như thế này không những cần phải lên án về mặt pháp lý theo Pháp luật thi hành án phạt tù mà ngay cả về mặt lương tâm cũng cần phải lên án.

Nguồn RFA

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Vì sao Mỹ trải qua khủng hoảng ngân sách và trần nợ?
Ðỗ Dzũng/Người Việt


Tối Thứ Tư vừa qua, hầu hết người dân Mỹ thở phào nhẹ nhõm, nhất là công chức liên bang, sau khi lưỡng viện Quốc Hội bỏ phiếu thông qua
dự luật ngân sách tạm cho tới ngày 15 Tháng Giêng, 2014 và nâng trần nợ lên đến ngày 7 Tháng Hai năm sau.
Ngay lập tức, dự luật được Tổng Thống Barack Obama ký ban hành.

Ngày hôm sau, hàng trăm ngàn công chức liên bang được gọi trở lại làm việc.

Thế nhưng, từ giờ đến đầu năm tới, mọi người e ngại các chính trị gia lại có một trận “đấu đá” nhau nữa,
có thể là dữ dội hơn, hoặc nhẹ nhàng hơn, hoặc giống như ba tuần vừa qua.

Image
Khuôn mặt vui vẻ của Tổng Thống Barack Obama sau khi biết Quốc Hội thông qua ngân sách tối Thứ Tư. (Hình: Saul Loeb/AFP/Getty Images)

Câu hỏi ở đây là tại sao chuyện ngân sách và trần nợ lại làm nước Mỹ lao đao như vậy?

Câu trả lời là luật nước Mỹ, dù hoàn hảo đến đâu, vẫn có những điều bất cập. Và các chính trị gia lợi dụng “kẽ hở” này để bắt bí với nhau khi cần.

Và chuyện này ngày càng được cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa tận dụng để có lợi cho đảng mình.

Ngân sách

Theo luật hiện hành, ngân sách nước Mỹ cung cấp tiền cho chính phủ liên bang chi tiêu, từ ngày 1 Tháng Mười mỗi năm cho đến 30 Tháng Chín năm sau, gọi là “tài khóa.” Vì ngân sách “choàng” qua hai năm, nên thường có con số hai năm đi kèm. Ví dụ, tài khóa hiện nay gọi là “tài khóa 2013-2014,” vì nó bắt đầu từ 1 Tháng Mười, 2013 và kết thúc vào ngày 30 Tháng Chín, 2014.

Nếu không có ngân sách, chính phủ phải đóng cửa. Ðó là điều tất nhiên.

Cũng theo luật, Quốc Hội (lập pháp) là nơi quyết định chi tiền cho ngân sách, nhưng phải được tổng thống (hành pháp) chấp thuận thì mới có giá trị.

Quốc Hội có Hạ Viện và Thượng Viện, nhưng ngân sách phải bắt đầu từ Hạ Viện, rồi sau đó chuyển qua Thượng Viện.

Nếu cả hai viện đều đồng ý với nhau, tức là Thượng Viện không điều chỉnh gì cả, thì đưa qua tổng thống, và nếu tổng thống đồng ý, thì ký thành luật, coi như xong ngân sách.

Tất cả phải hoàn tất trước 0 giờ ngày 1 Tháng Mười mỗi năm.

Nếu ngân sách do Hạ Viện thông qua, mà Thượng Viện không đồng ý, cơ quan này có thể điều chỉnh, rồi trả lại Hạ Viện để điều chỉnh cho phù hợp. Tiến trình này cứ thế qua lại giữa hai viện, cho tới khi thống nhất, bỏ phiếu thuận, ngân sách sẽ được chuyển qua tổng thống để ký thành luật.

Ngoài ra, trong tiến trình lập ngân sách, để giải quyết khác biệt, mỗi viện có thể cử ra một số người đại diện, cùng ngồi lại với nhau, để giải quyết, rồi đưa ngân sách sang Tòa Bạch Ốc.

Nếu không đồng ý, tổng thống không thể điều chỉnh ngân sách, mà phải phủ quyết toàn bộ, rồi trả lại Quốc Hội, để hai viện tiếp tục điều chỉnh, cho tới khi cả Hạ Viện, Thượng Viện, và Tòa Bạch Ốc đồng thuận với nhau.

Nếu Quốc Hội không đồng ý với Tòa Bạch Ốc, họ có quyền bác phủ quyết của tổng thống, nhưng phải hội đủ 2/3 số phiếu, một điều ít khi đạt được.

Nhưng tại sao ngân sách lại bắt đầu từ Hạ Viện, mà không phải là Thượng Viện?

Hiến Pháp quy định, vì toàn thể Hạ Viện được bầu hai năm một lần, trong khi chỉ có 1/3 Thượng Viện được bầu mỗi hai năm. Vì thế, Hạ Viện chịu trách nhiệm trực tiếp với người dân nhiều hơn là Thượng Viện, nên ngân sách phải xuất phát từ Hạ Viện để người dân “dễ thở,” vì ngân sách có được là do tiền thu thuế của người dân.

Tuy nhiên, Hiến Pháp không bắt buộc phải có ngân sách, nhưng bắt buộc ngân sách phải xuất phát từ Quốc Hội.

Thành ra, Quốc Hội có thể cấp ngân sách cho chính phủ hoạt động cả năm, vài tháng, hoặc từng tháng, miễn là chính phủ có hoạt động.

Ðây chính là điều mâu thuẫn mà các nhà lập quốc của Mỹ không mường tượng ra được cách đây hơn 230 năm!

Hiện nay, Hạ Viện do đảng Cộng Hòa chiếm đa số, nên có quyền quyết định đưa ngân sách ra. Còn Thượng Viện, do đảng Dân Chủ chiếm đa số, có quyền không chấp thuận ngân sách do Hạ Viện đưa ra.

Vì thế, đảng Cộng Hòa, mà chủ yếu là thành phần bảo thủ thuộc Tea Party, đã lợi dụng “kẽ hở” này để “bắt bí” Tổng Thống Barack Obama và đảng Dân Chủ phải hủy bỏ, hoặc trì hoãn thi hành, Ðạo Luật Bảo Hiểm Y Tế Toàn Dân (Affordable Care Act), hay còn gọi là “Obamacare,” đã được ký ban hành hồi năm 2010, và được Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ cho là hợp hiến, thì họ mới thông qua dự luật ngân sách.

Tuy nhiên, Tổng Thống Obama, cũng thuộc đảng Dân Chủ, và Thượng Viện không chịu, lập luận rằng, Hạ Viện không có lý do gì để mang ngân sách quốc gia ra làm áp lực để hủy bỏ ột bộ luận hợp hiến.

Và cứ thế hai bên “đưa banh” qua lại cho tới khi bên nào mệt mỏi và chịu áp lực của dân chúng nhiều hơn thì đành phải chấp nhận đề nghị của bên kia.

Trong trường hợp năm nay, rõ ràng phía Cộng Hòa ở Hạ Viện đã bị thất bại, đành phải chấp nhận ngân sách của Dân Chủ, sau khi chính phủ liên bang bị đóng cửa 16 ngày.

Tuy nhiên, ngân sách này chỉ kéo dài 3 tháng rưỡi, từ 1 Tháng Mười, 2013 đến 15 Tháng Giêng, 2014, để bên Cộng Hòa “tái phối trí lực lượng” rồi tính tiếp.


Trần nợ

Bắt đầu từ năm 1917, Hoa Kỳ có luật giới hạn mức nợ quốc gia, “debt ceiling,” mà truyền thông Việt Nam thường gọi là “trần nợ” hoặc “nợ trần.”

Bộ Tài Chánh là cơ quan chịu trách nhiệm vay và trả nợ cùng với lãi nợ hàng năm. Khi món nợ quá lớn, tức là sắp “đụng trần,” cơ quan này phải báo cho Quốc Hội biết.

Sau đó, Quốc Hội sẽ quyết định có cho Bộ Tài Chánh vay thêm nữa không, hoặc vay bao nhiêu.

Hoa Kỳ chưa bao giờ phải đến mức vỡ nợ, tức là không vay được tiền để trả nợ, cho đến gần đây, nhất là sau hai cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan quá tốn kém.

Vì thế, những năm trở lại đây, Bộ Tài Chánh thường “báo động” vấn đề này trước để Quốc Hội chuẩn bị.

Ðiều đáng chú ý ở đây, trần nợ là một vấn đề riêng rẽ, không liên quan gì đến ngân sách, nhưng tiến trình cho phép vay nợ cũng giống y chang tiến trình duyệt ngân sách.

Năm nay, Bộ Tài Chánh báo cho Quốc Hội biết nợ sẽ đụng trần vào ngày 17 Tháng Mười, đúng ngay thời điểm hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đang “đấu đá” với nhau về ngân sách.

Vì thế, nhóm Tea Party trong đảng Cộng Hòa ở Hạ Viện cũng “kèm” trần nợ vào luôn, để gây sức ép bắt đảng Dân Chủ phải bỏ hoặc hoãn thi hành “Obamacare.”

Hồi năm 2011, Hạ Viện do đảng Cộng Hòa kiểm soát cũng từng “gài” trần nợ vào việc thông qua ngân sách, đẩy kinh tế Hoa Kỳ đến bợ vực thẳm, làm S&P 500 hạ điểm tín dụng chính phủ. Chỉ đến phút chót, hai đảng mới đạt được thỏa thuận ngắn hạn, để Hoa Kỳ không bị vỡ nợ.

Biết trước điều này sẽ được phía Cộng Hòa sử dụng trở lại, lần này, ngay từ đầu, Tổng Thống Obama tuyên bố không nhân nhượng, nếu trần nợ lại được “kèm” vào ngân sách để gây sức ép lẫn nhau.

Ông Obama đã “cương tới bến” và liên tục đổ lỗi cho đảng Cộng Hòa.

Với 28% dân chúng ủng hộ, thấp nhất trong 21 năm qua, đảng Cộng Hòa đành chấp nhận thối lui tạm thời cho tới ngày 7 Tháng Hai năm tới, rồi tính tiếp.

Dân chúng Mỹ bây giờ đang lo ngại, nếu sau này đảng Dân Chủ nắm đa số Hạ Viện và đảng Cộng Hòa kiểm soát Thượng Viện và Tòa Bạch Ốc, liệu những chuyện này có lập lại.

Nếu còn sống đến ngày nay, các nhà lập quốc Hoa Kỳ chắc phải chào thua các hậu duệ của họ!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Mỹ Yên, vùng đất chưa yên!
Bảo Giang

Mỹ Yên,
Một vùng đất vẫn bình Yên
Một hôm giặc cộng đến,
Mỹ Yên thành vùng đất chẳng yên.


Trong bài “Cồn Dầu, nắng mới vươn lên” vào tháng 10-2011, tôi có viết là: GM Nguyễn thái Hợp đã không nhân danh GM Vinh, không nhân danh HĐGMVN. Nhưng nhân danh một người dân, là GM tại Vinh, là chủ tịch UBCL / HB trực thuộc HĐGMVN mà lên tiếng. Trong sự kiện lên tiếng, Ngài không có ý bênh vực cho giáo dân Cồn Dầu, nhưng là đặt ra vấn đề Công Lý xã hội với nhà nước trong việc hành xử trách nhiệm của họ với đồng bào Việt Nam, mà Cồn Dầu, chỉ là một thí dụ điển hình! Cũng như trước đó, khi giáo dân và TGM Hà Nội đi đòi lại Công Lý thì nào có phải là đi đòi đất, đòi Công Lý và Sự Thật về cho một cá nhân nào đâu. Có chăng là vì quyền sở hữu của người dân mà họ dấn thân!

Sụ việc hiển nhiên là thế. Văn thư chẳng có gì biểu tỏ cho mình. Trái lại, chỉ là những lý lẽ đoan chính như là một đề nghị, một ý kiến, gởi đến phía nhà lãnh đạo hơn là một bài trong giáo khoa thư. Thẳng thắn đề nghị chính quyền địa phương và Trung ương, nên theo nguyên tắc hành xử trong nền Công Lý của Con Người trong các xã hội nhân bản, tiến bộ, để đem lại phúc lợi cho người dân. Bởi vì, nhà nước có được chính quyền trên cả nước hôm nay, dù chiếm bằng bạo lực hay bằng, “dân chủ kiểu áp đặt” của mình thì trong đó người dân Việt vẫn cần có quyền để sống và sống với phẩm giá làm người. Họ không phải là “tập đoàn” nô lệ mà là những con người, là những phần tử ưu tú Việt Nam! Chính nhà nước đã nhiều lần, ngay trong bản văn gọi là Hiến Pháp, cũng khẳng định nhân dân là những người làm chủ đất nước. Phần các cán bộ, đảng viên chỉ là những đầy tớ! Như thế, đã là thành phần của dân tộc, gánh chung một gánh giang sơn Việt Nam thì dù là quan, là quân hay dân đều phải tôn trọng quyền làm người và cuộc sống của nhau.

Điều ấy ai cũng biết. Bởi trong tương quan về nhân sinh, cổ ngữ cũng đã chỉ ra rằng “Khi vua quan coi dân như cỏ rác, người dân sẽ coi vua quan như kẻ thù” (MT). Dĩ nhiên, không ai muốn tình trạng này xảy ra cho đất nước mình hay thời mình đang sống. Bởi đó là họa, không phải là phúc cho cả đôi bên. Theo đó, nếu vì an ninh, trật tự của đất nước, Nhà nước có nhu cầu thu hồi đất đai, là tài sản vốn thuộc về người dân theo truyền thống, theo luật định thì cũng phải ứng xử theo nhân cách làm người. Nó không thể là một thứ quy hoạch với phương cách chiếm đoạt hay bồi thường theo dạng bố thí trên mồ hôi, nước mắt và máu của đồng bào. Nó càng không thể là một cuộc diễn tập bằng súng đạn, xe kéo và chó nghiệp vụ đến ủi bừa theo lệnh của nhà nước. Để một bên thì vênh vang trong chiến thắng hoành tráng, một bên thì mất nhà mất nghiệp, thậm chí vào tù! Trái lại, nó phải được đối thoại, đáp ứng với sự hài hòa của một nền công lý pháp trị.

Nhìn lại văn thư, cũng như trường hợp trước đó với TGM Kiệt, mọi người đều thấy là, văn thư, lời nói ấy như một khát vọng, khởi đi từ những tâm hồn lớn vì quê hương, vì đất nước và vì dân tộc của mình. Không một ai có thể nghi ngờ, hoặc phủ nhận về lòng trung trinh của các vị này trong việc họ muốn góp phần xây dựng, kiến tạo một đất nước, một xã hội phồn vinh trên nền tảng của công lý, của tự do, nhân quyền, ngõ hầu mang lại phúc lợi, no cơm ấm áo, tiến bộ cho người dân. Tiếc rằng, những thiện chí của họ, vẫn có những cái nhìn thiếu đứng đắn để đưa một số người đọc, người hữu trách đến những ý nghĩ thiển cận, xấu xa, tiềm ẩn trong bụng hay là lộ ra bên ngoài. Chà, những “cái gai” này nhọn quá, để lâu sẽ đâm thủng cả tim gan của đảng mình đây!

Nay lại đến lá thư mang tính cảm nghiệm hay lời chứng của GM Oanh ở Kontum, viết gởi đến chính quyền Nghệ An, nhân vụ chính quyền sở tại vừa muốn chiếm đoạt tài sản của người, lại còn vu chụp cho các nạn nhân nhiều thứ “tội” khác. Nhà nước sẽ nghĩ gì, làm gì khi nhận được lá thư này? Phần cá nhân, tôi nhớ đến một câu chuyện trong Hán Sở tranh hùng. Đoạn nói về việc Hàn Tín, viên “chấp kích lang” nhận lệnh của Hạng Vũ đưa Hàn Sinh ra chợ, nấu vạc dầu vì cái tội dám trực ngôn để... can vua! Trên đường bị dẫn giải, Hàn Sinh không sợ hãi, còn bảo với những người đứng bên đường xem đoàn tù bị áp giải vào vạc dầu là: “Hỡi người Hàm Dương ta ơi, Ta vì trung với nước mà bị nấu dầu, chứ xét chẳng có tội chi. Ta chắc không quá một trăm ngày nữa, quân Hán Vương sẽ ra đánh Tam Tần, lấy Hàm Dương, chừng ấy các người sẽ thấy chuyện loài khỉ đội mũ.”

Nghe thế, chẳng một ai trả lời, riêng quan chấp kích lang Hàn Tín trước khi hành hình Hàn Sinh đã bảo:
- Xin quan Gián Nghị chớ nói nữa. Ông bảo là bị chết oan ư? Nhưng theo tôi, Ngài có ba tội đáng chết!

- Tại sao ta lại có tội đáng chết?

Hàn Tín trả lời:
- Thứ nhất. Ngài làm chức quan Gián Nghị, sao lúc giết tướng Tống Nghĩa, ông không can? Thứ hai, lúc chôn hai mươi vạn hàng binh sao ông không can? Lúc giết Tử Anh, đào mả Thủy Hoàng, đốt cung A phòng ông cũng không can. Nay bệnh trạng đã quá trầm trọng, dẫu trời cũng chẳng cứu được thì ông lại nhảy vào mà can!
Lời luận tội nghe ra ê chề, đau đớn làm sao chứ! Kết quả, Hàn Sinh bị luộc trong chảo dầu, và quân Hán Vương thì sau đó một thời gian ra đánh lấy Tam Tần. Hạng Vũ đã không giữ được nghiệp mà còn mất mạng bên bờ sông Cai Hạ!

Trở lại chuyện nước ta. Chuyện cái “Gai Nhọn” ở Vinh, không phải đến hôm nay mới có! Nhưng từ khi nhà nước qua chuyến gọi là “đến thăm, hòa giải với Tổng Giám Mục Kiệt của TT Dũng” rồi lừa dối Ngài, nuốt trửng khu TKS, kế đến là chiếm gọn linh địa Thái Hà, phá Thánh Giá Đồng Chiêm, chiếm đoạt luôn đất đai của giáo xứ Tam Tòa, Loan Lý... Cồn Dâu. Sau đó, còn cho cánh báo chí, truyền thông, lên diễn đàn phỉ báng một chính nhân là Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt thì cái gai ở Vinh bắt đầu lộ diện. Từ kịch bản của tuyên giáo đảng - ở đâu cũng thấy đoàn sinh viên học sinh Công Giáo thuộc giáo phận Vinh xuất hiện, phản kháng nhà nước! Nay chuyện Thái Hà, mai chuyện Đồng Chiêm, mốt chuyện Tam Tòa. Đã thế, Tòa GM Xã Đoài còn vận động, đưa hàng chục ngàn người rầm rập kéo nhau về Xã Đoài mà lên án cái bạo lực của nhà nước dưới thời của GM Nguyễn Ngọc Thuyên! Còn “bao che” cho hàng chục sinh viên khác kéo nhau xuống đường, biểu tình chống nhà nước, lên án Tàu cộng xâm lăng nước ta, với mưu đồ phá hỏng tình hữu nghị đời đời giữa hai bên! Với những “tội riêng”, “tội chung” ấy, nhà nước có khi nào quên! Nhà nước không quên, nên chuyện xứ Mỹ Yên, yên thế nào được! Nói cách khác, cái gai ở Hà Nội, ở Vinh không thể để nó nhọn thêm. Trái lại phải tìm cách cắt bỏ nó đi.

Vì nhà nước CHXHCN/VC vốn đã có một ý đồ như thế. Nên không lạ gì việc họ cứ lần lượt, hết chỗ này, rồi đến chỗ khác, luôn theo vết dầu loang mà làm càn. Hết đất của tôn giáo ở nơi này, lại đến đất của tư nhân như ở nơi khác (như đầm tôm với Đoàn Văn Vươn hay ở Văn Giảng, Văn Điển). Bài bản “đánh” xem ra giống hệt nhau. Chẳng một nơi nào mà không có công an, xe ủi, chó nghiệp vụ. Những thứ này xem ra nhà nước nuôi nhiều, nếu không cho ăn, không cho tập dượt, chúng bị chồn chân! Kết quả, chuyện ủi càn, làm bừa là chân lý của nhà nước nên không bao giờ có thể ngừng lại, hay thay đổi được.

Chuyện nhà nước CS không thể dừng bạo lực và gian dối lại, thật ra không khó hiểu. Trước hết, đây là một trong những phương châm cơ bản của cộng sản là phải luôn tạo ra sự bất ổn, hoặc tạo ra chiến tranh. Khi không có chiến tranh để tạo ra những khẩu hiệu hỏa mù, lừa bịp. Họ bó buộc phải tự tạo ra những cuộc chiến cục bộ, dù là cuộc chiến cướp giật đất đai của người dân, phải luôn đẩy người dân vào thế bị động, bất ổn. Nhờ đó, cộng sản mới có cơ hội dùng bạo lực để tạo ra hoang mang, sợ hãi trong dân để nuôi sống chế độ. Kế đến, tiêu diệt tôn giáo luôn là một sách lược hàng đầu khác của cộng sản. Chừng nào các nhà thờ còn kinh lễ, còn các cố đạo rao giảng về đạo đức về luân lý, về niềm tin, về nhân bản xã hội thì ngày ấy sách lược gây hấn với nhà thờ này, hay nhà thờ khác vẫn được CS tiếp tục thi hành. Các chùa chiền, các nơi thờ phượng tôn nghiêm của các tôn giáo khác cũng chung số phận. Nơi đâu có những nhà tu chân chính đem được niềm tin, gây được ảnh hưởng vào đời sống đạo nghĩa của xã hội, đối nghịch với nền “đạo đức” vô luân, vô đạo của Hồ chí Minh trong phương cách đối xử với đồng bào, với cha mẹ, với chính vợ con mình như HCM đã từng làm, là nơi đó bị dòm ngò, bị bóp nghẹt, bị triệt hạ.

CS phương tây, tuy với chủ trương vô tôn giáo, nhưng họ còn biết phân biệt lằn ranh giữa tôn giáo và chính trị. Theo đó, dù là Lê Nin, Stalin, hay những kẻ tôn thờ cộng sản điên cuồng, cũng không bao giờ toan tính tới việc đưa những thành phần này vào nhà thờ, vào các nơi thờ phượng nghiêm trang của tôn giáo. Nhưng một thứ cộng sản vay mượn, kiểu thiếu văn hóa như ở Việt Nam lại khác. Chúng không ngừng tìm phương cách để đem cái đầu lâu của Hồ Chí Minh lọt vào khu vực nhà thờ nhà chùa. Tại sao lại có sự kiện CS muốn đưa ác quỷ dựa hơi thần thánh?

Câu hỏi đã gói ghém nửa câu trả lời. Bởi cái bản chất của nó là tồi tệ, là xấu xa nên ai ai cũng phải xa lánh. Phần còn lại là, Trung cộng và có thể, một số chóp bu đời trước trong tập đoàn CS Việt Nam biết Hồ chí Minh không phải là Nguyễn Tất Thành, mà là Hồ Tập Chương, do Tàu xây dựng, tác tạo. Bởi bút tích của Hồ chí Minh vẫn còn đây. Vào tháng giêng 1949, trong tạp chí “ sinh hoạt nội bộ” Hồ chí Minh viết dưới bút hiệu Trần Thắng Lợi đã viết bài “đảng ta”. Sau này nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã đưa “đảng ta” của Hồ chí Minh vào trong “Hồ chí Minh toàn tập” tập 5, trang 547, có ghi rõ ràng như sau: “Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn ái Quốc trở lại Tàu, cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng. Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám.. ”. “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi” ("Nguyễn Ái Quốc đồng chí hòa ngã" trong "Hồ Chí Minh sinh bình khảo"). (Hồ chí Minh: đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi, Trần Việt Bắc). Tôi đây chính là Hồ tập Chương, là Hồ chí Minh sau này, là một trong tám ủy viên đầu tiên trong đại hội ở Hương Cảng. (chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau).

Vì Hồ chí Minh có một cái gốc như thế, nên CS, đặc biệt là Tàu cộng, không ngừng thúc đẩy CSVN phải biến HCM thành một nhân vật thần thánh của tôn giáo, và xây dựng cho Y thành một “cha già dân tộc” như cuốn sách của Trần Dân Tiên đạo diễn. Khi hai ngôi vị này đã yên, Hồ đã được vào các chùa, vào nhà thờ, dù chỉ là năm bảy nơi thôi, thì sẽ không còn một ai dám động đến Y, không còn một ai dám lên tiếng đòi Chôn Nó Đi nữa. Dĩ nhiên, xây dựng xong việc này thì Tàu đã là chủ thể của Việt Nam mà chả cần phải đánh đấm xâm lấn làm chi cho tốn hơi tốn sức. Hãy nhìn Việt Nam hôm nay, xem ra đã có câu trả lời. Với dáng cong lưng, quỳ không mỏi của tập đoàn cộng sản tại VN, con đường Tàu hóa đã đi được nửa vời. Người Hoa kiều tự do ra vào Việt Nam, tự do xây dựng làng mạc riêng, chợ búa, khu phố riêng mà chả có một tên cán cộng nào dám hé răng nói ra nửa lời. Nếu cứ thế mà đi, qua vài ba thế hệ nữa, Việt Nam còn không?

Tại sao lại đi như thế được? Tại vì đa phần dân ta nhắm mắt lại. Trong khi đó, cái hệ thống Tàu đã ăn chặt vào lòng tổ chức của đảng CSVN 80 năm qua. Ngậm miệng thì có quyền có lộc, há miệng ra thì chết. Kết quả là, từ trên xuống dưới đều phải thi hành chỉ đạo của Tàu. Vẽ, tạo cho HCM vai tuồng thần thánh. Coi tôn giáo là cái bình phong để bảo vệ nhà nước bằng cách “quy hoạch” rồi đưa cái đầu lâu của Hồ Chí Minh vào nhà thờ, vào các chùa chiền, vào các nơi thờ phượng, nơi trang nghiêm mà thêm lộc. Chẳng một đảng viên nào dám đi ngược đường. Trừ khi là bỏ đảng cộng.

Với chủ trương trước sau như thế, nên không bao giờ CS ngừng lại việc gian dối và bạo hành. Bởi lẽ, nếu đất nước Việt Nam có cuộc sống của hòa bình, của yên ổn, của pháp trị, của công lý, giá trị nhân bản và luân lý của xã hội được tái tạo, Cộng sản tức khắc bị tiêu diệt. Đó cũng là lý do tại sao những lá thư bằng cả khát vọng của dân tộc kia, không có giá trị với cộng sản. Trái lại, nó như những cái gai, những chướng ngại trên con đường xây dựng chủ nghĩa gian dối, vô đạo. Họ phải nhổ đi.

Trở lại Mỹ Yên, lá thư của GM Oanh ở trên đỉnh cao nguyên Kontum gửi phó Chủ tịch tỉnh Nghệ An, nơi được nhà nước cộng sản ưu ái gọi là cái nôi đẻ ra chế độ cộng sản ở Việt Nam, ra sao? Mở đầu, ngài viết là “không ngỡ ngàng” mà thật ra, qua ba lần nhắc lại dòng chữ “không ngỡ ngàng” Ngài đã làm cho mọi người đọc, không phải chỉ ngỡ ngàng, nhưng còn là một bàng hoàng đáng quan ngại nữa! Ngài viết:



“Không ngỡ ngàng: vì chúng tôi đã theo dõi biến cố Mỹ Yên và gặp nhiều nhân chứng trong cuộc nhân dịp ra dự lễ tấn phong GM phụ tá hôm 4. 9. 2013.
Không ngỡ ngàng, vì chúng tôi đã từng là nạn nhân của những vụ việc như Mỹ Yên như vụ nhà thơ Hiếu Đạo, vụ nhà thờ Ninh Đức... hay vụ Dak Pran, mãi tới nay vẫn chưa ổn. Chỗ nào, lúc nào cũng giống nhau; phía chính quyền luôn tốt, luôn đúng. Còn dân thì “phạm đủ mọi thứ tội” như quấy rối, chống người thi hành công vụ, âm mưu lật đổ chính quyền...

Không ngỡ ngàng, nhưng rất cảm thông, vì ở vào cương vị phó chủ tịch tỉnh, cũng như các cộng sự viên trong chế độ hôm nay. Quý vị không thể nói khác, viết khác và làm khác. Bao lâu vẫn còn chủ trương các quyền của con người là ân huệ “ban cho”, bấy lâu còn những vụ như Mỹ Yên”.

Quả thật, Ngài đã làm ngỡ ngàng người đọc, khi ngài mô tả những hành động chăn dân, lãnh đạo của nhà cầm quyền như những thói quen, như những hành động vô cảm không hề thay đổi. Nghĩa là những việc làm của nhà nước này đối với người dân của mình giống như việc làm tắc trách của một gã tá điền hung bạo, hay của một tên đầy tớ bất lương khi họ hằn học, đặt cái ách vào cổ con trâu, con bò. Rồi nhắm mắt lại, hành hạ một con vật đang giúp chính bản thân y có một cuộc sống no ấm hơn, nhàn nhã hơn bằng cái roi cứng ở trong tay. Bắt nó lầm lũi kéo cày, kéo xe, không được nghỉ ngơi, không kể gì ngày mưa, ngày nắng. Không kể gì những lúc nó yếu đau, bụng đói. Mặc, cứ dùng cái roi vô lương trong tay như là một thứ bạo lực sắc bén nhất để buộc nó kéo cày theo hiệu lệnh! Không hề tìm hiểu xem vì lý do gì hôm nay nó bước đi không nổi. Và không hề có lấy một chút lòng thương xót cho nó. Cứ dục đi, đi cho đến lúc nó gục xuống mới thôi.

Hãy hỏi thử xem. Hành động ấy tốt xấu ra sao? Hãy hỏi xem, khi cái ách được tháo bỏ ra. Chuyện gì sẽ đến? Tên đầy tớ bất lương kia sẽ bị chủ nhân của nó trách mắng, sa thải chăng? Tên đầy tớ sẽ ăn năn, hối hận chăng? Hay có khi nào, tên đầy tớ bất lương kia nhận được cú trả đòn từ cặp sừng cứng như thép là sức lực cuối cùng của con trâu khi nó vừa đứng lên chăng? Nếu có, cái kết quả ấy có là ngỡ ngàng không?

Như thế, câu chuyện của những lá thư hay chính bản thân của TGM Kiệt, GM Hợp và nay là GM Oanh, không phải là sự muộn màng lên tiếng. Trái lại, nó luôn hiện diện và chỉ ra ý nghĩa cao cả, bao dung, tương trợ và đồng hành vì tương lai của đất nước và của dân tộc. Những lá thư ấy rõ ràng không dành cho riêng ai. Không cho anh, không cho tôi, nhưng cho mọi người. Đặc biệt là cho những người đang giữ trách nhiệm với đất nước tự hiểu. Phần các vị, có tiếc chi chính bản thân mình trong công cuộc bảo vệ cho Công Lý, cho Hòa Bình, cho Sự Thật? Có chăng là một sẵn sàng hy sinh. Tuy nhiên, các Ngài không hề muốn nhìn thấy cảnh máu đổ lệ rơi làm tổn hại máu xương của đồng bào Việt Nam. Ai chả biết, “Tự Do, Nhân Quyền” không tự nhiên mà có. Nhiều khi nó phải trả bằng nhiều máu xương mới có được. Nhưng không có nghĩa là bắt buộc phải trả bằng máu xương, vì người ta vẫn có thể mở ra một con đường đối thoại bằng sự “Từ Bỏ”, bằng “Thay Đổi” để đưa đất nước một lối đi tốt đẹp.

Tôi viết thế, không có nghĩa là tôi ủng hộ hay muốn nói đến việc hòa giải, hòa hợp với cộng sản. Cũng không có ý bẻ cong những Văn Thư, những lời nói của các Ngài thành những mềm yếu “Xin Cho”, hoặc cho rằng các Ngài ủng hộ hay muốn sống chung với cộng sản. Trái lại, là một truyền đạt rõ ràng, dứt khoát. Phải là một sự thẳng thắn trong cuộc Từ Bỏ và Đổi Thay toàn diện. Bởi vì, điều ấy đã được dẫn giải, được chỉ đường bằng Boris Yelsin, bằng Mikhai Gobachev, bằng Putin... những bậc thầy, đẻ ra cả cái chủ nghĩa mà đảng và nhà nước cộng sản tại Việt Nam đang tôn thờ hôm nay. Điều ấy không tốt hơn là đổi bằng máu xương ư? Điều ấy không tốt hơn là việc đẩy nhau vào cuối đoạn đường? Nhà nước đương cuộc tiếp tục dùng bạo lực với Tam Tòa, Cồn Dầu, Mỹ Yên, Đầm Tôm, Văn Giảng... coi cuộc sống của người dân như cỏ rác. Tiếp tục bắt bớ và tù đày những thanh niên, sinh viên Việt Nam yêu nước như 14 bạn trẻ ở Vinh, như Lê Quốc Quân, như Minh Hạnh, Điếu Cày, Duy Thức, Việt Khang, Nguyên Kha, Phương Uyên... thì có khác chi chính họ đã buộc người dân phải nhìn đảng cộng sản và nhà cầm quyền của đảng này như là một loại ký sinh đáng phải loại trừ ra khỏi xã hội. Phải chôn nó đi.

Tại sao phải loại trừ nhau, phải chôn nó đi ư? Có lẽ nào, nhà nước này không biết rằng, họ không thể vay mượn được sức mạnh qua những lần đi Tây đi Mỹ, hoặc giả, là đi Trung quốc với phương thuốc: “bốn tốt, mười sáu chữ vàng” hay theo kiểu “ môi hở răng lạnh” để tiếp tục đặt ách lên cổ người dân? Có lẽ nào họ không hiểu rằng, không có một sức mạnh nào lớn hơn, mạnh hơn mà không đến từ người dân, dù trong tay họ không có lấy một tấc sắt? Nếu họ chỉ muốn nương tựa vào sức mạnh từ ngoại bang để chà đạp nhân dân thì cái chuyện con trâu bị gục xuống trên cánh đồng chắc phải đến. Khi ấy sẽ là bi thảm không? Có thế là một bi thảm. Nhưng sẽ là cái bi thảm cuối cùng để người dân Việt Nam và con cháu của họ bước sang một cuộc sống đáng sống. Cuộc sống yên ổn trong một đất nước có chủ quyền. Ở đó người dân có được sự Tự Do, và những quyền hạn của con người được công lý bảo vệ. Hơn thế, ở nơi đó không còn bóng tối của gian dối và bạo lực của cộng sản phù lấp lên cuộc sống của người dân.

Đó là kết quả phải đến, kết quả từ bài học từ TKS, Thái Hà, Tam Tòa, Đồng Chiêm, Cồn Dầu, Mỹ Yên, Văn Giảng, Tiên Lãng... là những bài học bằng máu và nước mắt mà người dân đã học được. Tuy thế, máu và nước mắt ấy sẽ không là đau thương hận thù. Trái lại là một sức sống mãnh liệt, bao dung và nhân ái, có khả năng giúp dân tộc ta trưởng thành, vững mạnh trong công việc xây dựng lại đất nước trong ngày mai.

Bảo Giang

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

Món nợ khó trả của một Tổng tư lệnh
Bùi Tín (Blog VOA)

Sau mấy bài về tướng Võ Nguyên Giáp trên VOA, một số bạn hỏi tôi vì sao ông không có dịp thăm Pháp và Hoa Kỳ như nhiều lần dư luận đã đưa tin. Ðây cũng là một vấn đề hệ trọng trong quan hệ Việt - Pháp và Việt - Mỹ. Tôi phân vân khi viết về chuyện này. Không lẽ im lặng. Ðã viết về tướng Giáp, tôi tự bảo hãy ngay thật, viết cho hết lẽ, với công tâm. Ðây là chuyện về tù binh chiến tranh, tù binh của quân đội Pháp và của quân đội Hoa Kỳ bị bắt trong chiến tranh. Ðây là dịp tôi thấy cần nói rõ để bà con ta cùng biết.

Hồi cuối năm 1988, sau khi đi dự họp tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New York về, trong một dịp gặp tướng Giáp, tôi kể lại cho ông biết chuyện các nhà báo Mỹ nhiều lần nêu lên, chất vấn tôi về vấn đề tù binh và người mất tích POW-MIA. Sau chiến tranh đây là vấn đề nổi cộm trong xã hội Mỹ. Sau Hiệp định Paris, Mỹ đã nhận về 591 tù binh, nhưng theo danh sách số người mất tích còn lại lên đến 1.350 hoặc 1.469 người, theo tài liệu của phía Mỹ. Phía Mỹ đặt ra nhiều giả thuyết: Phải chăng phía Việt Nam đã che dấu một số tù binh còn sống, đưa đi đâu để dùng làm thí nghiệm vũ khí mới? Ðã tra tấn đến chết rồi phi tang? Ðưa sang nước khác, như Liên Xô, Cuba? Giữ lại để đào tạo làm gián điệp?

Theo công ước quốc tế và các văn kiện chính thức của Liên Hiệp Quốc, chính phủ nước tham chiến, Bộ Tổng tư lệnh, đặc biệt là người chỉ huy tối cao - Tổng tư lệnh mỗi bên chịu trách nhiệm về số phận tù binh bị bắt giữ, không được dùng nhục hình, chửi bới, phải có thái độ nhân đạo, có trách nhiệm, để trao trả đầy đủ khi chiến sự kết thúc.

Báo chí Mỹ, công luận Mỹ hồi ấy - từ năm 1975 đến gần năm 2.000 - có lúc sục sôi. Họ lập hội, lập quỹ tìm kiếm tù binh, treo giải thưởng lớn cho ai phát hiện ra tù binh Mỹ còn sống; có người tình nguyện sang Thái Lan, Lào, bí mật đột nhập Việt Nam tìm trại giam tuyệt mật.

Với xã hội Mỹ và phương Tây, mạng sống con người là vô giá, không thể mất tăm mất tích mà không có lý giải, chứng cớ. Thêm nữa, giấy tờ, công văn, tài liệu, báo cáo của phía Việt Nam tùy tiện, không cụ thể, không chính xác, nhiều mâu thuẫn, không sao chấp nhận được, kể cả những báo cáo của Quân ủy gửi Bộ Chính trị về vấn đề này. Có nhà báo ở New York nói: Tướng Giáp mà có dịp sang đây thì sẽ có hàng ngàn gia đình quân nhân Mỹ kéo đến đòi nợ, chất vấn về POW - MIA đó!

Hồi đó tướng Giáp tỏ ra quan tâm, nhưng than rằng chuyện này là do Tổng cục chính trị, Cục địch vận, các Quân khu lo, luộm thuộm, vô trách nhiệm trong thời chiến, cán bộ thay đổi, luân chuyển, không ai hiểu biết rõ cả. Thế rồi chuyện chìm đắm dần. Thỉnh thoảng 2 bên Việt và Mỹ hợp tác khai quật trong rừng, ngoài biển tìm hài cốt lính Mỹ, lên đến năm trăm lượt. Nhưng hoài nghi, khó hiểu, phiền muộn vẫn còn dai dẳng.

Khi tôi sang Pháp, vấn đề tù binh mất tích cũng là vấn đề khá lớn trong quan hệ Pháp - Việt. Tháng 11/1990, sau khi dự lễ hội hằng năm của báo l'Humanité, tôi dự hội thảo về tướng Philippe Leclerc, khi chết được phong là Nguyên soái. Trong buổi kết thúc hội thảo, nguyên thủ tướng Pierre Messmer nhờ tôi chuyển tay một lá thư ngỏ cho tướng Giáp bày tỏ lòng mong muốn có dịp đón ông sang thăm hữu nghị nước Pháp qua lời mời của hội hữu nghị Pháp - Việt. Ðồng thời bà Leclerc cũng nhờ tôi chuyển về mấy lá thư của một số cựu sỹ quan vừa tham dự hội thảo, gửi “tướng Giáp - Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng tư lệnh”, hỏi về người nhà của họ tham chiến ở Việt Nam bị bắt ở Ðiện Biên Phủ rồi không được trao trả, mất tích. Tôi đưa ngay cho đại sứ Phạm Bình. Ông Bình cho biết Hội hữu nghị Pháp - Việt có lời mời tướng Giáp, nhưng ở bên nhà còn lưỡng lự lắm, vì có một bộ phận dư luận Pháp, nhất là nhiều Hội Cựu chiến binh, như Cựu chiến binh Ðông Dương, Cựu chiến binh Ðiện Biên Phủ có nhiều chi nhánh trên đất Pháp tỏ ra bực bội, giận dữ cho rằng phía Việt Nam đã dã man, tàn ác trong đối xử với tù binh, tỷ lệ tù binh bị chết trong trại giam quá cao, vi phạm công ước quốc tế về tù binh. Họ coi tướng Giáp là người chịu trách nhiệm chính. Ông Bình cho biết mấy tháng trước, khi kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh ông Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/1990), việc UNESCO của Liên Hiệp Quốc bàn về chuyện này, coi ông Hồ là danh nhân văn hóa thế giới, các hội Cựu chiến binh Pháp đã phản đối rất mạnh, việc tổ chức kỷ niệm ở Paris bị phá, một trong những lý do là vấn đề tù binh Pháp. Về sau tôi được biết việc tướng Giáp sang thăm hữu nghị Pháp được coi là hành động hòa giải Pháp - Việt không đặt ra nữa, cũng do trở ngại về món nợ tù binh.

Có lần tướng Guy Simon, Chủ tịch Hội cựu chiến binh Ðông Dương, gặp tôi tại trụ sở của hội ở Paris vào năm 1995, khi trò chuyện ông cũng nhắc lại vấn đề tù binh Pháp mất tích, thuộc nhiều nước gốc: Việt Nam, Algerie, Maroc, Tunisie, Senegal...

Ông cho vài con số chính, tôi ghi lại làm tài liệu. Số quân nhân phía Pháp bị phía Việt Nam bắt ở các trại giam được ghi nhận là 5.782, số được trao trả trong nhiều lần, nhiều nơi là 3.290, như vậy là còn thiếu đến 2.492 người. Cho đến nay không ai lý giải được số mất tích này ra sao, chết ở đâu, lúc nào, trong trường hợp nào, có dấu tích gì để lại không? Người thân họ vẫn còn những câu hỏi không ai trả lời, lơ lửng mãi.

Tôi biết rõ tướng Giáp rất mong muốn có dịp đi thăm nước ngoài, nhất là Pháp, Hoa Kỳ. Có hồi ông hỏi tôi rất cặn kẽ về xã hội Pháp, Mỹ, ý kiến các học giả, nhà báo nước ngoài về ông, ông đã có cả một chương trình dự kiến, như thăm mộ Napoléon, thăm di tích chiến trường Waterloo, nói chuyện ở một số học viện quân sự, trả lời phỏng vấn... Nhưng sau khi biết rằng vấn đề quân nhân mất tích với con số quá lớn, còn là vướng mắc không nhỏ trong quan hệ với 2 nước ấy, rồi tuổi cao sức yếu, ông từ bỏ dần ý định. Tôi hiểu niềm luyến tiếc của ông vì ông được nuôi dưỡng bằng nền văn hóa Pháp, ông nói tiếng Pháp khá trôi chảy, và tôi cũng từng biếu ông không ít sách và báo tiếng Pháp. Anh bạn nhà báo - làm phim Jérôme Kanapa gọi tướng Giáp là “Chú” (Oncle), rất thân với cả gia đình, trước đây cũng nuôi ước vọng được có dịp đón ông và gia đình ở Paris. Ở bang Maryland - Hoa Kỳ, có nhà báo kỳ cựu Stanley Karnow từng phỏng vấn tướng Giáp 3 lần ở Hà Nội, cũng từng hy vọng có dịp tiếp ông trên đất Mỹ. Ông có cô con gái, Catherine Karnow, là phóng viên nhiếp ảnh rất trẻ, từng chụp hàng trăm bức ảnh tướng Giáp và gia đình, hiện ở Los Angeles, cũng mong gặp lại “bác Giáp”.

Thật ra trở ngại cho các chuyến viễn du - vấn đề quân nhân mất tích - một món nợ dai dẳng cồng kềnh của tướng Giáp - ông chỉ chịu trách nhiệm một phần, theo các văn kiện quốc tế. Ở Việt Nam, đó là do nếp sống nông nghiệp, thời chiến, chiến tranh du kích liên miên, chiến trường đan xen nhau, trong chiến tranh bằng không quân, đất liền nhỏ hẹp, kẹp giữa núi rừng nhiệt đới và đại dương, máy bay trúng đạn lao xuống rừng hay biển đều dễ mất biến, khó còn vết tích. Cuộc sống gian khổ, dinh dưỡng thấp, các bệnh sốt rét, kiết lỵ dịch tả tràn lan, người phương Tây dễ suy sụp sức khỏe trong môi trường chiến trận và nghèo đói, thiếu thuốc men. Lại còn căn bệnh xã hội, quan liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm, sổ sách qua loa, đại khái, tùy tiện và tắc trách, cá nhân ích kỷ, thiếu trách nhiệm rõ ràng.

Riêng về nước Việt Nam ta, ở cả 2 phía, số mất tích cũng là rất lớn, rất khó xác định cho chính xác. Riêng phía miền Bắc, con số đưa ra là chừng 30 vạn. Còn phía miền Nam, con số liệt sỹ mất tích cũng lớn. Một số nhà ngoại cảm đã giúp tìm ra vài trăm trường hợp, chỉ là vài phần trăm trong tổng số.

Có lần tôi đã yêu cầu, gợi ý với tướng Giáp suy nghĩ cho sâu về câu “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”, để ủng hộ phong trào đòi dân chủ, chống bành trướng, mong ông tỏ thái độ bênh vực các ông Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, hoặc là ông đưa ra ý kiến khôi phục sửa sang nghĩa trang cũ của quân đội Cộng hòa ở Thủ Ðức, gần Sài Gòn, nhưng ông làm ngơ. Thật đáng tiếc! Nay ông đã đi xa, sau khi được hưởng vinh hoa phú quý, hưởng lộc đời cực hiếm là thọ trên 102 tuổi, Vị Tổng tư lệnh Việt nam mang theo món nợ không nhỏ lơ lửng không có lời giải.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Kẻ nhốt người hóa ra cũng bị nhốt
Bùi Tín (Blog VOA)


Nhà chính trị lão thành Lý Quang Diệu, được coi là cha đẻ của nước Singapore hiện đại, một thời được mời làm cố vấn
cho các nhà lãnh đạo Việt Nam khi bắt đầu đổi mới và hội nhập vào cuối thế kỷ trước.
Ông vừa ra mắt cuốn sách One man's view of the world (Nhìn thế giới của một con người).

Image
Cựu Thủ Tướng Singapore Lý Quang Diệu. (Hình: Wikipedia)


Cuốn sách có một đoạn ngắn nói đến Việt Nam. Ngắn nhưng rất bổ ích, rất đáng để những người lãnh đạo của Việt Nam tham khảo, cũng như rất đáng để mỗi ủy viên Trung Ương đảng CS, mỗi đại biểu Quốc Hội cùng mọi người Việt Nam suy ngẫm.

Chúng ta còn nhớ từ đầu năm 2011, nhân đại hội đảng CS VN lần thứ XI, “Ông già Lý” - như dân Singapore thường ông Lý Quang Diệu một các thân mật - đã trả lời phỏng vấn trên báo Straits Times tỏ ý nản lòng, thất vọng về Việt Nam, khi ông cho rằng những góp ý của ông ở Hà Nội những năm xưa đã không được lắng nghe và thực hiện. Hồi đó ông giới thiệu cho ông Võ Văn Kiệt và các đồng sự rằng muốn chống tham nhũng có hiệu quả, phải có 3 điều: pháp luật rất nghiêm (để không ai dám tham nhũng), tiền lương viên chức tạm đủ cho họ và gia đình (để không ai cần tham nhũng để sống) và dư luận xã hội trong sáng lên án mạnh tệ tham nhũng (để không ai nỡ tham nhũng do tự trọng). Nhưng VN đã không làm được cả 3 điều ấy, để cho quốc nạn nội xâm ấy trở thành một căn bệnh trầm kha đe dọa sự tồn vong của chế độ độc đảng, làm nhân dân căm giận, vì bất công xã hội là một điều rất đáng sợ, một nhân tố nguy hiểm cho mọi chế độ.

Qua quyển sách mới này, Ông Già Lý nói rõ thêm quan điểm của ông về Việt Nam. Ông nản chí, ông không góp ý kiến xây dựng gì nữa. Ông mất tin tưởng vào những người lãnh đạo hiện nay. Ông nói thẳng ra rằng họ đã không còn có khả năng đổi mới bản thân, đổi mới tư duy chính trị cho kịp thời đại. Ông có nhận xét thâm thúy, “Họ là những kẻ bị cầm tù trong một ý thức hệ cũ” (imprisoned in an old ideology).

Ông Lý thú nhận:”Tôi không còn lạc quan như những lần đầu thăm nước này trong những năm 90. Giờ đây tôi tin rằng những người lãnh đạo VN kỳ cựu không thể khai phá với cái tư duy xã hội chủ nghĩa cố hữu.” Ông khẳng định: “Những vị lãnh đạo lão thành cách mạng này làm cho Việt Nam trì trệ.” Ông nhấn thêm rằng “chỉ khi nào các vị này không còn thì Việt Nam mới có thể đột phá theo hướng hiện đại hóa.”

Ðọc đến đây tôi bỗng như nghe thấy tiếng kêu của em Nguyễn Phương Uyên: “Ðảng Cộng sản, đi chết đi.” Tự đáy lòng em, đây không phải lời chửi rủa, mà là lời cầu mong, vì đảng không còn gì là động lực, đã hiển nhiên biến thành một chướng ngại ngăn chặn còn đường xây dựng một nước VN dân chủ hiện đại, phát thiển, hội nhập, với thành quả được chia chung cho toàn dân thụ hưởng.

Ông Lý nhận định: “Ở VN, các nguyên lão thăng tiến trong hệ thống đảng nhờ chiến tranh hiện giữ các vị trí trong chính quyền, thăng quan không phải giỏi giang trong quản lý kinh tế hay trong quản trị kinh doanh. Họ thăng tiến vì đã đào hầm, từ ngoài Bắc và trong Nam trong 30 năm dài, họ có ý chí nhưng thiếu tiềm năng.” Và ông chỉ ra nguyên nhân cốt lõi của tình trạng này: “Vì họ bị ý thức hệ cũ cầm tù.”

Quả thật, họ bị cầm tù, và họ đã nhốt theo cả dân tộc. Tôi muốn góp thêm một ý: Họ tự nhốt mình vào nhà tù ý thức hệ Mác xít-Lê nin nít, Cộng sản, Xã hội chủ nghĩa của họ. Có ai bắt họ đưa vào nhà tù như họ đang làm với những chiến sỹ dũng cảm đòi tự do cho nhân dân đâu, như họ đã bỏ tù Cù Huy Hà Vũ, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Ðinh Nguyên Kha, Nguyễn Phương Uyên, Lê Quốc Quân,...

Ðã có bao nhiêu người CS trót lầm lỡ chọn sai ý thức hệ Mác xít-Lê nin nít đã nhận ra sai lầm để đoạn tuyệt với nó. Ðó là Gorbachev, là Havel, là Trần Ðộ, là hàng chục triệu đảng viên CS khắp các lục địa nhận ra sai lầm, đưa hàng trăm đảng CS của mình vào các nghĩa địa chính trị chỉ trong hơn 20 năm nay. Gần đây là Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Phạm Ðình Trọng, là Lê Hiếu Ðằng... và hàng ngàn, hàng vạn đảng viên CS nhạt đảng, chán đảng, bỏ sinh hoạt, bỏ đảng, nghĩ đến thành lập đảng khác có bản chất dân tộc, có gốc gác từ nhân dân, lương thiện, trong sạch, tự mình giải phóng khỏi nhà tù ý thức hệ.

Mong rằng Bộ Chính Trị và Trung Ương đảng CS, các đại biểu Quốc Hội trong đó 90 % là đảng viên Cộng sản, sớm nhận ra thân phận tự nhốt mình trong nhà tù ý thức hệ cổ hủ trong hơn 80 năm qua để tự giải thoát, từ đó giải thoát cả dân tộc khỏi thân phận tôi đòi, nô lệ cho một học thuyết đã phá sản triệt để, đã bị coi là sai lầm lịch sử lớn nhất, là tội ác đẫm máu nhất của Thế kỷ XX.

Post Reply