Bình Luận Thời Sự
Bị nhiều phản đối, Hà Nội vẫn được vào Hội Ðồng Nhân Quyền
Võ Long Triều Ngày 28 tháng 7 năm 2013, Cộng Sản Hà Nội nộp đơn ứng cử vào Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2014-2016, cuộc bầu cử thành viên mới diễn ra ngày 12 tháng 11. Hội Ðồng Nhân Quyền là hậu thân của Ủy Ban Nhân Quyền LHQ, có nhiệm vụ thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người được bảo hộ trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền do Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948.
Bản Tuyên Ngôn là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi quốc gia và mọi dân tộc. Hội đồng có trách nhiệm giám sát công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.
Mặc dù Hà Nội đã luôn luôn chà đạp nhân quyền, bị nhiều cơ quan tranh đấu cho nhân quyền phê bình và tố cáo, thế mà Liên Hiệp Quốc vẫn cho phép Hà Nội ngồi vào ghế của Hội Ðồng nhân quyền, một thứ Biện Lý luận tội và Thẩm Phán xử những vi phạm nhân quyền, thay vì Hà Nội phải đứng trước vành móng ngựa với tư cách là Bị Cáo. Cho nên dư luận thế giới cho rằng sự lựa chọn nầy của LHQ thật đáng chê trách.
Thử nhìn lại thực tế về tình trạng nhân quyền tại Việt, chưa nói đến các nước Trung Quốc, Cuba, Nga và Saudi Arabia cũng đắc cử vào Hội Ðồng.
Hà Nội đã từng bị dư luận trong nước và thế giới phê bình, tố cáo vi phạm trắng trợn bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mà nay lại không ngại ngùng, trơ trẽn xin ứng cử vào hội đồng kèm theo những lời hứa hẹn giả dối làm cho người ta thấy rõ sự gian manh tráo trở đúng theo thói thường của các quốc gia độc tài cộng sản. Tài liệu của nhà cầm quyền Hà Nội trình lên chủ tịch Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc viết rằng: “Việt Nam cam kết bảo vệ nhân quyền trong tư cách ứng cử viên vào Hội Ðồng như, quyền tự do căn bản của người dân Việt Nam được tôn trọng và bảo đảm, quyền tự do biểu đạt ý kiến trên Internet được tăng cường.” Thật là gian manh dối trá quá trắng trợn! Ngay cả Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang cũng thuộc bài dối gạt khi ông tuyên bố với Tổng Thống Barack Obama hồi tháng 7, 2013 rằng: Chính quyền của ông “đã thực hiện những nỗ lực lâu dài để bảo vệ và cổ vũ cho nhân quyền.” Ngược lại, ngày 7 tháng 11, 2013, phó trợ lý ngoại giao Hoa Kỳ đặc trách dân chủ nhân quyền và lao động Scott Busby nói với VOA, Việt Nam cần chứng minh có những dấu hiệu tiến bộ về nhân quyền trong tương lai nếu muốn thắt chặt quan hệ với Hoa Kỳ.
Tại Việt Nam, 100 blogger đã ký bản tuyên bố 258, và đã tìm mọi cách đưa đến văn phòng đại diện Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ tại Bangkok cùng các tòa đại sứ tại Hà Nội, tố cáo điều hình luật 258 vi phạm quyền tự do ngôn luận của công dân và kêu gọi nhà nước phải sửa đổi luật pháp để trở thành một thành viên có trách nhiệm của Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ. Sau đó một số blogger chủ trương bản tuyên bố này bị công an bắt bớ hành hung.
Trong khi đó phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Lương Thanh Nghị lên tiếng quảng cáo với cả thế giới rằng sở dĩ Việt Nam muốn tham gia vào Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ là để đóng góp tích cực hơn và thúc đẩy nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người trên thế giới. Ông Nghị còn rao thêm nhiều lời khẳng định nhằm mục đích vận động xin phiếu. Gần đây nhứt ngày 5 tháng 11, 2013, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký nghị quyết 118/NQ-CP ủy quyền cho trưởng phái đoàn đại diện thường trực tại LHQ ký công ước về “chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng trị tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người,” sự ký kết đó chứng tỏ Hà Nội quyết tâm bảo vệ nhân quyền.
Trong khi đó, công an và bọn côn đồ, được nhà nước thuê mướn, hành hung dân chúng dã man, tra tấn, ép cung dân lành cho đến chết một cách vô tội vạ. Gần đây nhứt báo chí tố cáo 7 tên công an mang tội ép cung một dân lành buộc phải nhận tội và tòa án thông đồng xử án chung thân, nay được minh oan trả tự do. Như vậy đủ thấy Cộng Sản Hà Nội vừa tàn ác với dân vừa dối gạt dư luận quốc tế, mà đôi khi vì lợi ích chính trị hay kinh tế cũng có nhiều quốc gia trên thế giới cố tình chấp nhận bị gạt!
Tuy nhiên, một số dân biểu nhiều nước, Anh, Canada, Úc, Mỹ và các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền ký tên gởi một thư phản đối Việt Nam ứng cử vào Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ. Kháng thư kêu gọi đại sứ Hoa Kỳ tại LHQ, đại diện cao cấp của Liên Hiệp Châu Âu hãy lên tiếng vì hàng triệu nạn nhân trên thế giới đang cần một cơ quan nhân quyền quốc tế hiệu quả và khả tín hơn. Theo quyết nghị của đại hội đồng thì ứng cử viên phải là các quốc gia duy trì các tiêu chuẩn cao nhứt trong việc thăng tiến và bảo vệ nhân quyền. Vậy thử hỏi Việt Nam có xứng đáng không?
Ông Ruppert Abbott, nhà nghiên cứu về Việt Nam của Hội Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International), nhận định Việt Nam là nhà tù lớn nhứt của giới bảo vệ nhân quyền. Ông nói thêm, một khi bị tống giam, các tù nhân lương tâm phải đương đầu với những điều kiện vô cùng khắc nghiệt, một số bị tra tấn và phải chịu những hình thức ngược đãi tàn bạo khác. Thế mà Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn ủy quyền cho Ðại Sứ mình ký bản công ước về “chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng trị tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người”. Bản phúc trình của Ân Xá Quốc Tế công bố ngày 7 tháng 11, 2013 báo động tình hình nhân quyền tại Việt Nam rất tồi tệ.
Ông Benjamin Ismail, đứng đầu Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, nói: “Bản án của Ðinh Nhật Uy chứng tỏ Cộng Sản Việt Nam không hề bảo vệ và tôn trọng nhân quyền.”
Ông Phil Robertson, phó giám đốc phụ trách khu vực Châu Á thuộc Human Rights Watch, phát biểu với VOA: Chiến dịch đàn áp nhân quyền của Hà Nội vẫn tiếp tục và gia tăng. Việt Nam không xứng đáng có một ghế tại Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ. “Tôi kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam rút lui ý định tranh cử vào Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ vì họ không thích hợp và không xứng đáng.”
Ðối với người dân Việt Nam, Cộng Sản Hà Nội chẳng những chà đạp nhân quyền một cách thô bạo, mà còn theo lệnh Bắc Kinh ngăn cấm quần chúng bày tỏ tư tưởng và quyền tự do ngôn luận của mình. Còn đối với quốc tế, cho dù Hà Nội có tuyên truyền dối trá đến đâu các chính trị gia và cơ quan tranh đấu cho nhân quyền vẫn biết rõ hành tung của họ.
Dù vậy các nước thành viên LHQ vẫn cho phép Hà Nội ngồi vào ghế của Hội Ðồng Nhân Quyền nhiệm kỳ 2014-2016. Sự kiện này đánh dấu một vết nhơ cho Hội Ðồng! Bởi vì cơ quan của LHQ không tôn trọng quy tắc của chính mình đặt ra: “Ứng cử viên phải là các quốc gia duy trì các tiêu chuẩn cao nhứt trong việc thăng tiến và bảo vệ nhân quyền.”
Ông Hillel Neuer, giám đốc cơ quan UN Watch, có nhiệm vụ theo dõi các quy định của LHQ, cáo buộc cơ quan nầy đã lựa chọn một cách phi lý, một sự sỉ nhục những nạn nhân đang cần sự bảo vệ của LHQ. Nhiều quan sát viên tại LHQ nhận định rằng Hội Ðồng Nhân Quyền đang phạm một sai lầm quan trọng như tiền thân của mình là Ủy Ban Nhân Quyền LHQ, do cố Tổng Thống Libya Mouamma Kadhafi điều khiển. Có người nói thẳng thừng: “LHQ 'giao chuồng gà cho con chồn', như người mình thường nói là 'giao trứng cho ác.'”
Toàn bộ các cơ quan tranh đấu cho nhân quyền và một số quốc gia trên thế giới đều cho rằng Hà Nội không xứng đáng là ứng cử viên, nói chi đến việc đắc cử. Sự đắc cử của Hà Nội làm cho người ta đánh giá Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ chỉ là một hội trường để những nghệ sĩ hài, diễn kịch nhân quyền cho các nạn nhân của độc tài áp bức vừa xem vừa nguyền rủa!
Hay là theo ngôn ngữ chính trị là nơi tuyên truyền, tố cáo lẫn nhau, đổi chác lợi ích, mua chuộc sự ủng hộ các nước độc tài gian ác, miệng hô hào tôn trọng nhân quyền triệt để, trong khi họ dùng bạo lực đàn áp thẳng tay. Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ mất hết sự khả tín và hy vọng của dân chúng các nước đang gánh chịu sự bất công và sự đàn áp của bạo quyền. Tiếc thay!
Võ Long Triều Ngày 28 tháng 7 năm 2013, Cộng Sản Hà Nội nộp đơn ứng cử vào Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2014-2016, cuộc bầu cử thành viên mới diễn ra ngày 12 tháng 11. Hội Ðồng Nhân Quyền là hậu thân của Ủy Ban Nhân Quyền LHQ, có nhiệm vụ thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người được bảo hộ trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền do Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948.
Bản Tuyên Ngôn là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi quốc gia và mọi dân tộc. Hội đồng có trách nhiệm giám sát công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.
Mặc dù Hà Nội đã luôn luôn chà đạp nhân quyền, bị nhiều cơ quan tranh đấu cho nhân quyền phê bình và tố cáo, thế mà Liên Hiệp Quốc vẫn cho phép Hà Nội ngồi vào ghế của Hội Ðồng nhân quyền, một thứ Biện Lý luận tội và Thẩm Phán xử những vi phạm nhân quyền, thay vì Hà Nội phải đứng trước vành móng ngựa với tư cách là Bị Cáo. Cho nên dư luận thế giới cho rằng sự lựa chọn nầy của LHQ thật đáng chê trách.
Thử nhìn lại thực tế về tình trạng nhân quyền tại Việt, chưa nói đến các nước Trung Quốc, Cuba, Nga và Saudi Arabia cũng đắc cử vào Hội Ðồng.
Hà Nội đã từng bị dư luận trong nước và thế giới phê bình, tố cáo vi phạm trắng trợn bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mà nay lại không ngại ngùng, trơ trẽn xin ứng cử vào hội đồng kèm theo những lời hứa hẹn giả dối làm cho người ta thấy rõ sự gian manh tráo trở đúng theo thói thường của các quốc gia độc tài cộng sản. Tài liệu của nhà cầm quyền Hà Nội trình lên chủ tịch Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc viết rằng: “Việt Nam cam kết bảo vệ nhân quyền trong tư cách ứng cử viên vào Hội Ðồng như, quyền tự do căn bản của người dân Việt Nam được tôn trọng và bảo đảm, quyền tự do biểu đạt ý kiến trên Internet được tăng cường.” Thật là gian manh dối trá quá trắng trợn! Ngay cả Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang cũng thuộc bài dối gạt khi ông tuyên bố với Tổng Thống Barack Obama hồi tháng 7, 2013 rằng: Chính quyền của ông “đã thực hiện những nỗ lực lâu dài để bảo vệ và cổ vũ cho nhân quyền.” Ngược lại, ngày 7 tháng 11, 2013, phó trợ lý ngoại giao Hoa Kỳ đặc trách dân chủ nhân quyền và lao động Scott Busby nói với VOA, Việt Nam cần chứng minh có những dấu hiệu tiến bộ về nhân quyền trong tương lai nếu muốn thắt chặt quan hệ với Hoa Kỳ.
Tại Việt Nam, 100 blogger đã ký bản tuyên bố 258, và đã tìm mọi cách đưa đến văn phòng đại diện Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ tại Bangkok cùng các tòa đại sứ tại Hà Nội, tố cáo điều hình luật 258 vi phạm quyền tự do ngôn luận của công dân và kêu gọi nhà nước phải sửa đổi luật pháp để trở thành một thành viên có trách nhiệm của Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ. Sau đó một số blogger chủ trương bản tuyên bố này bị công an bắt bớ hành hung.
Trong khi đó phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Lương Thanh Nghị lên tiếng quảng cáo với cả thế giới rằng sở dĩ Việt Nam muốn tham gia vào Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ là để đóng góp tích cực hơn và thúc đẩy nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người trên thế giới. Ông Nghị còn rao thêm nhiều lời khẳng định nhằm mục đích vận động xin phiếu. Gần đây nhứt ngày 5 tháng 11, 2013, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký nghị quyết 118/NQ-CP ủy quyền cho trưởng phái đoàn đại diện thường trực tại LHQ ký công ước về “chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng trị tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người,” sự ký kết đó chứng tỏ Hà Nội quyết tâm bảo vệ nhân quyền.
Trong khi đó, công an và bọn côn đồ, được nhà nước thuê mướn, hành hung dân chúng dã man, tra tấn, ép cung dân lành cho đến chết một cách vô tội vạ. Gần đây nhứt báo chí tố cáo 7 tên công an mang tội ép cung một dân lành buộc phải nhận tội và tòa án thông đồng xử án chung thân, nay được minh oan trả tự do. Như vậy đủ thấy Cộng Sản Hà Nội vừa tàn ác với dân vừa dối gạt dư luận quốc tế, mà đôi khi vì lợi ích chính trị hay kinh tế cũng có nhiều quốc gia trên thế giới cố tình chấp nhận bị gạt!
Tuy nhiên, một số dân biểu nhiều nước, Anh, Canada, Úc, Mỹ và các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền ký tên gởi một thư phản đối Việt Nam ứng cử vào Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ. Kháng thư kêu gọi đại sứ Hoa Kỳ tại LHQ, đại diện cao cấp của Liên Hiệp Châu Âu hãy lên tiếng vì hàng triệu nạn nhân trên thế giới đang cần một cơ quan nhân quyền quốc tế hiệu quả và khả tín hơn. Theo quyết nghị của đại hội đồng thì ứng cử viên phải là các quốc gia duy trì các tiêu chuẩn cao nhứt trong việc thăng tiến và bảo vệ nhân quyền. Vậy thử hỏi Việt Nam có xứng đáng không?
Ông Ruppert Abbott, nhà nghiên cứu về Việt Nam của Hội Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International), nhận định Việt Nam là nhà tù lớn nhứt của giới bảo vệ nhân quyền. Ông nói thêm, một khi bị tống giam, các tù nhân lương tâm phải đương đầu với những điều kiện vô cùng khắc nghiệt, một số bị tra tấn và phải chịu những hình thức ngược đãi tàn bạo khác. Thế mà Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn ủy quyền cho Ðại Sứ mình ký bản công ước về “chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng trị tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người”. Bản phúc trình của Ân Xá Quốc Tế công bố ngày 7 tháng 11, 2013 báo động tình hình nhân quyền tại Việt Nam rất tồi tệ.
Ông Benjamin Ismail, đứng đầu Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, nói: “Bản án của Ðinh Nhật Uy chứng tỏ Cộng Sản Việt Nam không hề bảo vệ và tôn trọng nhân quyền.”
Ông Phil Robertson, phó giám đốc phụ trách khu vực Châu Á thuộc Human Rights Watch, phát biểu với VOA: Chiến dịch đàn áp nhân quyền của Hà Nội vẫn tiếp tục và gia tăng. Việt Nam không xứng đáng có một ghế tại Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ. “Tôi kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam rút lui ý định tranh cử vào Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ vì họ không thích hợp và không xứng đáng.”
Ðối với người dân Việt Nam, Cộng Sản Hà Nội chẳng những chà đạp nhân quyền một cách thô bạo, mà còn theo lệnh Bắc Kinh ngăn cấm quần chúng bày tỏ tư tưởng và quyền tự do ngôn luận của mình. Còn đối với quốc tế, cho dù Hà Nội có tuyên truyền dối trá đến đâu các chính trị gia và cơ quan tranh đấu cho nhân quyền vẫn biết rõ hành tung của họ.
Dù vậy các nước thành viên LHQ vẫn cho phép Hà Nội ngồi vào ghế của Hội Ðồng Nhân Quyền nhiệm kỳ 2014-2016. Sự kiện này đánh dấu một vết nhơ cho Hội Ðồng! Bởi vì cơ quan của LHQ không tôn trọng quy tắc của chính mình đặt ra: “Ứng cử viên phải là các quốc gia duy trì các tiêu chuẩn cao nhứt trong việc thăng tiến và bảo vệ nhân quyền.”
Ông Hillel Neuer, giám đốc cơ quan UN Watch, có nhiệm vụ theo dõi các quy định của LHQ, cáo buộc cơ quan nầy đã lựa chọn một cách phi lý, một sự sỉ nhục những nạn nhân đang cần sự bảo vệ của LHQ. Nhiều quan sát viên tại LHQ nhận định rằng Hội Ðồng Nhân Quyền đang phạm một sai lầm quan trọng như tiền thân của mình là Ủy Ban Nhân Quyền LHQ, do cố Tổng Thống Libya Mouamma Kadhafi điều khiển. Có người nói thẳng thừng: “LHQ 'giao chuồng gà cho con chồn', như người mình thường nói là 'giao trứng cho ác.'”
Toàn bộ các cơ quan tranh đấu cho nhân quyền và một số quốc gia trên thế giới đều cho rằng Hà Nội không xứng đáng là ứng cử viên, nói chi đến việc đắc cử. Sự đắc cử của Hà Nội làm cho người ta đánh giá Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ chỉ là một hội trường để những nghệ sĩ hài, diễn kịch nhân quyền cho các nạn nhân của độc tài áp bức vừa xem vừa nguyền rủa!
Hay là theo ngôn ngữ chính trị là nơi tuyên truyền, tố cáo lẫn nhau, đổi chác lợi ích, mua chuộc sự ủng hộ các nước độc tài gian ác, miệng hô hào tôn trọng nhân quyền triệt để, trong khi họ dùng bạo lực đàn áp thẳng tay. Hội Ðồng Nhân Quyền LHQ mất hết sự khả tín và hy vọng của dân chúng các nước đang gánh chịu sự bất công và sự đàn áp của bạo quyền. Tiếc thay!
Dân đã mất hết niềm tin ?
Nam Nguyên,
phóng viên RFA

Kỳ họp thứ 6 Quốc hội Việt Nam khóa 13 hôm 21 tháng 10 năm 2013 tại Hà Nội. AFP Đạo đức suy đồi, xã hội bất an, người dân mất niềm tin vào Nhà nước là những vấn đề được đại biểu Quốc hội báo động trong các phiên thảo luận trong tuần.
Nghĩ đến công quyền là nghĩ đến tham nhũng
Báo Tuổi Trẻ trích lời ông Nguyễn Ngọc Bảo đại biểu Vĩnh Phúc phản ảnh: “Tham nhũng khiến người dân ngày càng không tin vào công quyền, mà người ta cứ nghĩ đến công quyền là nghĩ đến tham nhũng.”
Bà Lê Hiền Đức một giáo viên về hưu ở Hà Nội và từng được giải thưởng Liêm chính của Tổ chức Minh bạch Quốc tế phát biểu với Đài Á châu Tự do:
“Với tôi thì bao nhiêu chuyện tham nhũng phải nghiêm túc giải quyết thì mới lấy lại được niềm tin cho dân. Một điều rất đơn giản là tất cả những gì dân kiến nghị tố cáo phải lắng nghe ý kiến dân, phải nghiêm túc xử lý những người tham nhũng thì mới lấy lại được niềm tin. Chứ còn bây giờ cứ bao che cho nhau bênh vực nhau không giải quyết cho dân thì không bao giờ dân có thể tin tưởng được cả.”
Thời báo Kinh tế Việt Nam bản tin trên mạng ngày 30/10, trích lời ông Bùi Đặng Dũng, phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội báo động là chưa bao giờ lòng dân bất an như thế này. Ông nhấn mạnh: “ Trước tự hào ra ngõ gặp anh hùng thì giờ cử tri nói ra ngõ gặp tội phạm, kẻ cướp mà thậm chí giờ nó còn vào từng nhà, sờ từng người để lấy trộm, lột tài sản, uy hiếp. Từ nông thôn đến thành thị, công sở đến những nơi trang nghiệm như trường học, bệnh viện…đều có tội phạm cả.”
Mục sư Nguyễn Trung Tôn hiện sống và phụng vụ đức tin ở Thanh Hóa, bản thân sinh ra sau Cách Mạng Tháng Tám 1945, một thời kỳ đầy khó khăn. Mục sư phát biểu với Đài ACTD:
“Cha mẹ tôi, các cụ ngày xưa thì sống cuộc sống khổ sở, đói khát và nghèo nàn hơn so với bây giờ, nhưng các cụ vẫn nói với tôi rằng, nhìn vào con người ngày hôm nay mới thấy đạo đức con người càng ngày càng xuống cấp: Con có thể chửi cha mẹ, chữ hiếu không còn, đạo đức chẳng còn đâu cả. Con người đi ra đường, không nhìn người ta thì người ta bảo mình khinh, nhưng nếu không may vô tình nhìn họ thì họ bảo là mình nhìn đểu! Đây là người dân đối với người dân thôi. Bây giờ ra đường có thể chỉ vì một cái nhìn, chỉ vì một câu nói có thể dẫn tới án mạng; con có thể giết cha, vợ có thể giết chồng, anh em có thể chém giết lẫn nhau.”
Báo điện tử Người Lao Động tường thuật phiên họp ngày 31/10 trích lời đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng đơn vị Bình Dương mô tả tâm trạng bất an và sự suy giảm niềm tin của người dân với Nhà nước mà đỉnh điểm là hiện tượng người dân tự xử. Nhìn nhận đời sống văn hóa xã hội của đất nước càng ngày càng thêm bức xúc, đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng cho rằng tự xử là quan niệm và hành vi xấu đáng lên án vì vi phạm pháp luật. Theo lời ông, thật xấu hổ và lo lắng với những sự kiện tiêu cực đó nhưng về mặt chính trị và pháp lý cho thấy đang xuất hiện những lo ngại mới về lòng dân. Đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng nhấn mạnh tới nguyên nhân chính của tâm trạng xã hội này bắt nguồn từ vai trò quản lý của Nhà nước còn mờ nhạt yếu kém.
Dân tự xử

Hình ảnh các công an bị người dân trói lan truyền trên trang mạng xã hội facebook hôm 08/10/2013. Trong khi đó VnExpress ngày 30/10 có bài Dân tự xử vì mất niềm tin. Tờ báo mạng dẫn nhập: “Trước tình trạng dân trói công an và đưa clip lên mạng xã hội, đánh chết người trộm chó, đưa quan tài diễu phố…nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng niềm tin của nhân dân vào chính quyền địa phương ngày càng suy giảm.
Trò chuyện với chúng tôi, bà Lê Hiền Đức, một nhà hoạt động dân sự bảo vệ dân oan, đã gắn kết tình trạng xã hội nhiễu nhương với điều bà gọi là ru ngủ giới trẻ và sự hướng dẫn dư luận lệch lạc. Từ Hà Nội bà Lê Hiền Đức phát biểu :
“Cướp-Hiếp-Giết, cướp của, hiếp dâm và giết người, những chuyện ấy hở ra một tí có một chuyện gì dù rất nhỏ, nhưng báo chí xô nhau vào để làm rùm beng lên. Tôi muốn nói là những chuyện lớn phải cần cho thanh niên, giáo dục thanh niên cho thấy được cái nguy cơ của đất nước hiện nay là Trung Quốc lăm le xâm chiếm, đảo biển mất gần hết rồi thì không bao giờ nhắc đến cả. Rồi nữa đất nước của mình kinh tế lụn bại như thế này, thì cũng không nói đến chỉ đưa ra những việc theo tôi là nó làm ru ngủ thanh niên, đấy là điều rất đáng lo ngại.”
Tuổi Trẻ Online bản tin trên mạng ngày 30/10 trích lời Đại biểu Thạch Dư (Trà Vinh) khi báo động tình trạng tội phạm nghiêm trọng tràn làn trong xã hội đã khuyến nghị: Cần xem xét lại hệ thống giáo dục, từ gia đình đến nhà trường. Phải chăng theo chỉ đạo chú trọng dạy kiến thức mà lại buông lỏng giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, giáo dục về lòng nhân ái, tình thương yêu giữa con người với con người. Đại biểu Thạch Dư cho rằng, nền giáo dục Việt Nam đang buông lỏng trong việc giáo dục nhân cách con người.
Cũng liên quan tới kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 đang diễn ra ở Hà Nội, theo VietNamNet GSTS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường kêu gọi Quốc hội cần minh bạch hơn trong quá trình sửa đổi Hiến pháp liên quan tới qui định đất đai. GS Đặng Hùng Võ góp ý rằng, nguyên tắc “Quyền sử dụng là quyền tài sản được pháp luật bảo hộ” cần được đưa trở lại Hiến pháp sửa đổi. Việc Ủy ban sửa đổi Hiến pháp tự ý đưa nguyên tắc này ra khỏi Dự thảo Hiến pháp sửa đổi bản mới nhất trình ra Quốc hội cần được giải thích rõ ràng, minh bạch trước nhân dân.
Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế nguyên thành viên ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ từng nhiều lần bày tỏ sự quan tâm đến quyền lợi của nông dân về đất đai. Bà nói:
“Nếu như trong trường hợp không thể sửa được Hiến pháp và Luật Đất đai lần này theo hướng công nhận quyền sở hữu tư nhân của nông dân đối với đất đai nông nghiệp, thì ít nhất cũng phải đảm bảo quyền sử dụng của họ dài hạn thay vì 20 năm như trước lên 50 năm. Thứ hai phải bảo đảm quyền sử dụng đó là quyền được luật pháp công nhận như là một quyền tài sản và đã là quyền tài sản thì là bất khả xâm phạm. Ai muốn sử dụng tài sản của họ kể cả Nhà nước thì phải mua chứ không phải thu hồi. Vì vậy cho nên trong Hiến pháp điều qui định vể đất đai cũng như Luật Đất đai phải rất chú trọng điều về thu hồi đất.”
Theo bài viết của Giáo sư Đặng Hùng Võ trên VietNamNet, ở dự thảo Hiến pháp đưa ra lấy ý kiến nhân dân đã có qui định tại khoản 2 Điều 58: “Quyền sử dụng đất là quyền tài sản được pháp luật bảo hộ. Đến nay, trên bản Dự thảo mới nhất trình Quốc hội ngày 17/10 lại có qui định: “Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ.” Giáo sư Đặng Hùng Võ cho rằng việc bỏ đi ba từ ‘quyền tài sản’gây lo ngại lớn cho người dân.
Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 được cho là đầy những phiên thảo luận gai góc, câu chuyện quốc nạn tham nhũng, xã hội xuống cấp, đạo đức suy đồi, người dân bất an, được các đại biểu báo động một cách nghiêm trọng. Tuy vậy để khôi phục niềm tin của nhân dân thì cả hệ thống chính trị phải được đổi mới, một điều mà các chuyên gia cho rằng khó thể xảy ra.
Nguồn RFA
Nam Nguyên,
phóng viên RFA

Kỳ họp thứ 6 Quốc hội Việt Nam khóa 13 hôm 21 tháng 10 năm 2013 tại Hà Nội. AFP Đạo đức suy đồi, xã hội bất an, người dân mất niềm tin vào Nhà nước là những vấn đề được đại biểu Quốc hội báo động trong các phiên thảo luận trong tuần.
Nghĩ đến công quyền là nghĩ đến tham nhũng
Báo Tuổi Trẻ trích lời ông Nguyễn Ngọc Bảo đại biểu Vĩnh Phúc phản ảnh: “Tham nhũng khiến người dân ngày càng không tin vào công quyền, mà người ta cứ nghĩ đến công quyền là nghĩ đến tham nhũng.”
Bà Lê Hiền Đức một giáo viên về hưu ở Hà Nội và từng được giải thưởng Liêm chính của Tổ chức Minh bạch Quốc tế phát biểu với Đài Á châu Tự do:
“Với tôi thì bao nhiêu chuyện tham nhũng phải nghiêm túc giải quyết thì mới lấy lại được niềm tin cho dân. Một điều rất đơn giản là tất cả những gì dân kiến nghị tố cáo phải lắng nghe ý kiến dân, phải nghiêm túc xử lý những người tham nhũng thì mới lấy lại được niềm tin. Chứ còn bây giờ cứ bao che cho nhau bênh vực nhau không giải quyết cho dân thì không bao giờ dân có thể tin tưởng được cả.”
Thời báo Kinh tế Việt Nam bản tin trên mạng ngày 30/10, trích lời ông Bùi Đặng Dũng, phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội báo động là chưa bao giờ lòng dân bất an như thế này. Ông nhấn mạnh: “ Trước tự hào ra ngõ gặp anh hùng thì giờ cử tri nói ra ngõ gặp tội phạm, kẻ cướp mà thậm chí giờ nó còn vào từng nhà, sờ từng người để lấy trộm, lột tài sản, uy hiếp. Từ nông thôn đến thành thị, công sở đến những nơi trang nghiệm như trường học, bệnh viện…đều có tội phạm cả.”
Mục sư Nguyễn Trung Tôn hiện sống và phụng vụ đức tin ở Thanh Hóa, bản thân sinh ra sau Cách Mạng Tháng Tám 1945, một thời kỳ đầy khó khăn. Mục sư phát biểu với Đài ACTD:
“Cha mẹ tôi, các cụ ngày xưa thì sống cuộc sống khổ sở, đói khát và nghèo nàn hơn so với bây giờ, nhưng các cụ vẫn nói với tôi rằng, nhìn vào con người ngày hôm nay mới thấy đạo đức con người càng ngày càng xuống cấp: Con có thể chửi cha mẹ, chữ hiếu không còn, đạo đức chẳng còn đâu cả. Con người đi ra đường, không nhìn người ta thì người ta bảo mình khinh, nhưng nếu không may vô tình nhìn họ thì họ bảo là mình nhìn đểu! Đây là người dân đối với người dân thôi. Bây giờ ra đường có thể chỉ vì một cái nhìn, chỉ vì một câu nói có thể dẫn tới án mạng; con có thể giết cha, vợ có thể giết chồng, anh em có thể chém giết lẫn nhau.”
Báo điện tử Người Lao Động tường thuật phiên họp ngày 31/10 trích lời đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng đơn vị Bình Dương mô tả tâm trạng bất an và sự suy giảm niềm tin của người dân với Nhà nước mà đỉnh điểm là hiện tượng người dân tự xử. Nhìn nhận đời sống văn hóa xã hội của đất nước càng ngày càng thêm bức xúc, đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng cho rằng tự xử là quan niệm và hành vi xấu đáng lên án vì vi phạm pháp luật. Theo lời ông, thật xấu hổ và lo lắng với những sự kiện tiêu cực đó nhưng về mặt chính trị và pháp lý cho thấy đang xuất hiện những lo ngại mới về lòng dân. Đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng nhấn mạnh tới nguyên nhân chính của tâm trạng xã hội này bắt nguồn từ vai trò quản lý của Nhà nước còn mờ nhạt yếu kém.
Dân tự xử

Hình ảnh các công an bị người dân trói lan truyền trên trang mạng xã hội facebook hôm 08/10/2013. Trong khi đó VnExpress ngày 30/10 có bài Dân tự xử vì mất niềm tin. Tờ báo mạng dẫn nhập: “Trước tình trạng dân trói công an và đưa clip lên mạng xã hội, đánh chết người trộm chó, đưa quan tài diễu phố…nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng niềm tin của nhân dân vào chính quyền địa phương ngày càng suy giảm.
Trò chuyện với chúng tôi, bà Lê Hiền Đức, một nhà hoạt động dân sự bảo vệ dân oan, đã gắn kết tình trạng xã hội nhiễu nhương với điều bà gọi là ru ngủ giới trẻ và sự hướng dẫn dư luận lệch lạc. Từ Hà Nội bà Lê Hiền Đức phát biểu :
“Cướp-Hiếp-Giết, cướp của, hiếp dâm và giết người, những chuyện ấy hở ra một tí có một chuyện gì dù rất nhỏ, nhưng báo chí xô nhau vào để làm rùm beng lên. Tôi muốn nói là những chuyện lớn phải cần cho thanh niên, giáo dục thanh niên cho thấy được cái nguy cơ của đất nước hiện nay là Trung Quốc lăm le xâm chiếm, đảo biển mất gần hết rồi thì không bao giờ nhắc đến cả. Rồi nữa đất nước của mình kinh tế lụn bại như thế này, thì cũng không nói đến chỉ đưa ra những việc theo tôi là nó làm ru ngủ thanh niên, đấy là điều rất đáng lo ngại.”
Tuổi Trẻ Online bản tin trên mạng ngày 30/10 trích lời Đại biểu Thạch Dư (Trà Vinh) khi báo động tình trạng tội phạm nghiêm trọng tràn làn trong xã hội đã khuyến nghị: Cần xem xét lại hệ thống giáo dục, từ gia đình đến nhà trường. Phải chăng theo chỉ đạo chú trọng dạy kiến thức mà lại buông lỏng giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, giáo dục về lòng nhân ái, tình thương yêu giữa con người với con người. Đại biểu Thạch Dư cho rằng, nền giáo dục Việt Nam đang buông lỏng trong việc giáo dục nhân cách con người.
Cũng liên quan tới kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 đang diễn ra ở Hà Nội, theo VietNamNet GSTS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường kêu gọi Quốc hội cần minh bạch hơn trong quá trình sửa đổi Hiến pháp liên quan tới qui định đất đai. GS Đặng Hùng Võ góp ý rằng, nguyên tắc “Quyền sử dụng là quyền tài sản được pháp luật bảo hộ” cần được đưa trở lại Hiến pháp sửa đổi. Việc Ủy ban sửa đổi Hiến pháp tự ý đưa nguyên tắc này ra khỏi Dự thảo Hiến pháp sửa đổi bản mới nhất trình ra Quốc hội cần được giải thích rõ ràng, minh bạch trước nhân dân.
Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế nguyên thành viên ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ từng nhiều lần bày tỏ sự quan tâm đến quyền lợi của nông dân về đất đai. Bà nói:
“Nếu như trong trường hợp không thể sửa được Hiến pháp và Luật Đất đai lần này theo hướng công nhận quyền sở hữu tư nhân của nông dân đối với đất đai nông nghiệp, thì ít nhất cũng phải đảm bảo quyền sử dụng của họ dài hạn thay vì 20 năm như trước lên 50 năm. Thứ hai phải bảo đảm quyền sử dụng đó là quyền được luật pháp công nhận như là một quyền tài sản và đã là quyền tài sản thì là bất khả xâm phạm. Ai muốn sử dụng tài sản của họ kể cả Nhà nước thì phải mua chứ không phải thu hồi. Vì vậy cho nên trong Hiến pháp điều qui định vể đất đai cũng như Luật Đất đai phải rất chú trọng điều về thu hồi đất.”
Theo bài viết của Giáo sư Đặng Hùng Võ trên VietNamNet, ở dự thảo Hiến pháp đưa ra lấy ý kiến nhân dân đã có qui định tại khoản 2 Điều 58: “Quyền sử dụng đất là quyền tài sản được pháp luật bảo hộ. Đến nay, trên bản Dự thảo mới nhất trình Quốc hội ngày 17/10 lại có qui định: “Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ.” Giáo sư Đặng Hùng Võ cho rằng việc bỏ đi ba từ ‘quyền tài sản’gây lo ngại lớn cho người dân.
Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 được cho là đầy những phiên thảo luận gai góc, câu chuyện quốc nạn tham nhũng, xã hội xuống cấp, đạo đức suy đồi, người dân bất an, được các đại biểu báo động một cách nghiêm trọng. Tuy vậy để khôi phục niềm tin của nhân dân thì cả hệ thống chính trị phải được đổi mới, một điều mà các chuyên gia cho rằng khó thể xảy ra.
Nguồn RFA
Kính gửi ông ăn trộm
Ngô Nhân Dụng
Một điều tôi vẫn tin tưởng là con người ta có thể sống tử tế với nhau. Ông Mạnh Tử nổi tiếng khi tuyên bố loài người có tính lành (thuyết tính thiện). Nhưng không cần đọc sách ông; mình chỉ cần nhìn chung quanh cũng nghiệm thấy không sai.
Hãy cứ tự hỏi như thế này: Nếu không có tính lành thì làm sao loài người đạt được những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật, cả đến văn chương, nghệ thuật; trong trăm ngàn năm ở trên trái đất, từ thủa ăn lông ở lỗ cho đến bây giờ? Lắm lúc đi máy bay tôi lại nghĩ đến người đầu tiên chế ra cái máy nổ, không có ông ấy thì mình đâu có thể ngủ một giấc, thức dậy bỗng thấy mình đang ở London, hay Moskva? Nhưng sau nhà phát minh đó, còn biết bao nhiêu người nghĩ ra những thứ lặt vặt khác, để cho cái máy bay có tốc độ nhanh mà đi lại êm như thế! Mọi tiến bộ đều là kết quả của những cộng tác giữa người với người, giữa những người hoàn toàn xa lạ, có khi sống cách nhau mấy thế kỷ! Chắc hẳn loài người phải rất tử tế; những người không tử tế ít lắm, không đáng kể.
Nói chuyện triết lý như vậy, để kể chuyện ăn trộm. Tôi chắc số người đi ăn trộm trên thế giới này rất ít. Cả đời tôi, sống đã 74 năm, bị ăn trộm chỉ có hai lần, cách nhau mươi năm, vụ sau cùng đã năm bảy năm nay rồi. Sự kiện xảy ra hiếm như vậy chứng tỏ số các người làm nghề ăn trộm chẳng có bao nhiêu. Tội nghiệp những anh chị em đã bẻ khóa cửa để vào nhà tôi ăn trộm; cả hai lần chẳng ai lấy trộm được cái gì cả. Phải nói lại: Chẳng lấy được thứ gì ráo trọi. Vì trong nhà không có gì có thể lấy đem bán được vài chục đô la hết. Tội nghiệp họ lắm chứ. Họ làm việc suốt mấy tiếng đồng hồ, một công việc khá nặng nhọc. Công việc căng thẳng (stressful) hơn cả việc viết báo bị chủ bút giục nộp bài (trước sáu giờ chiều và phải từ 1500 tới 2000 chữ). Có ông ăn trộm vào nhà tôi mở toang các cửa tủ, kéo hết các thứ hộp, thứ lọ chứa trong đó ra lục soát; rồi lôi tất cả các ngăn kéo ném xuống đất; thấy cái bao thư, cái gói vải, túi ni lông nào cũng banh ra coi. Họ đi khắp các phòng, trong bếp, trong hành lang, phòng sách, cho đến các kệ tủ trong garage. Mấy tấm đệm nặng trịch trên giường, như sức tôi phải hai người khiêng, cũng được lôi xuống đất. Công việc chắc phải mất vài ba tiếng. Thế mà chẳng lấy về được một thứ gì cả. Nếu đi làm, lương tối thiểu, cũng được mấy chục đô la, ăn được ba tô phở, mà lại đỡ bị “stress.”
Không những căng thẳng mà còn làm mình chán đời nữa. Khi nhìn thấy mấy món nữ trang giả ném bừa trên mặt đất, càng thấy tội nghiệp. Chắc họ phải thất vọng kinh lắm. Còn chúng tôi thì nhân khi dọn dẹp lại có dịp lựa ra những món đáng lẽ phải vứt đi từ 20 năm trước mà vẫn chất trong nhà, đem cho hay vứt vào thùng rác.
Khi cảnh sát đến, họ hỏi có nghi ngờ ai không, tôi nói không nghi ngờ ai cả. Nghi oan thì có tội, nghi đúng rồi để cảnh sát điều tra, bắt được người ta thì cũng tội, vì các thủ phạm có lấy được gì đâu? Nhưng cảnh sát họ nhận xét rằng đây có vẻ là người Á Châu (Họ không nói người Việt Nam). Vì di dân gốc Châu Á hay cất tiền mặt ở trong nhà, và cũng thích trưng diện đồ trang sức đắt tiền; tâm lý này thường chỉ dân gốc Á biết với nhau chứ bọn ăn trộm người Mỹ hay Mễ không biết.
Nghe cũng có lý. Một chị bạn chúng tôi bữa rồi mới đem cho một thúng đầy trái hồng. Chị hẹn đến ngày nhãn chín sẽ đem cho thúng nữa. Chị kể, hai cây trồng ở vườn sau nhà chị sai trái quá đi. Nhưng cứ đến mùa trái chín là có người vào ăn trộm. Tôi hỏi: Ðâu phải kẻ trộm nào cũng biết ăn hồng với ăn nhãn? Chị nói ngay: Khu nhà em ở nhiều người Việt mình lắm. Ðồng bào mình cả, có thế chứ! Chị lại than: Không những họ lấy trái ăn mà còn vứt rác ra đầy cả vườn cho mình phải dọn nữa! Thế thì không tốt. Tôi đề nghị nếu bà con đến ăn trộm thường xuyên như vậy chị viết tấm bảng treo lên cây.
Viết: Xin ai hái trái cây ăn xong thì làm ơn đem vỏ và hạt bỏ vô thùng rác, thứ thùng mầu xanh lá cây dành cho rác thảo mộc. Nếu lễ phép thì trên cùng viết: Kính gửi các ông bà ăn trộm.
Cách cư xử này không có gì mới lạ. Nhiều người bị trộm đã từng viết thư hay lời nhắn gửi cho kẻ trộm. Ở Toronto, nước Canada, có một anh bị mất chiếc xe đạp khá đắt tiền. Sau nhờ một người bạn chỉ cho, anh tìm thấy lại xe mình khóa, dựng ở ngoài đường, anh đã nhờ anh bạn cắt cả dây khóa sắt, lấy về. Rồi anh vẽ hình một cái xe đạp trên bìa cứng lớn bằng cái xe thật để lại chỗ cũ. Anh viết lá thư cho người ăn trộm như thế này: “Ðồ chó! Anh cầm nhầm cái xe đạp của tôi hôm đầu tuần mà quên không nói tôi biết anh để nó ở đâu. May là có người bạn tôi thấy nó ở đây. Thôi, tôi rất cần cái xe này, tôi lấy lại. Hãy dùng tạm cái xe đạp vẽ này, cho tới khi anh có tiền mua xe thật!” Ký tên: metrocycleto. Tái Bút: Cái xe bên trái này cũng khóa bằng cái dây khóa giống hệt, có phải anh cũng ăn trộm nó không? Người bạn anh chụp hình, đưa lên mạng, cả thế giới ai cũng biết được.
Báo Telegraph ở bên Anh mới kể một câu chuyện bữa Chủ Nhật tuần này. Có hai vợ chồng trên 30 tuổi ở Northampton, Anh quốc, đi vắng buổi tối, về nhà thấy trộm đã phá cửa kính vào lấy đồ và làm nhà cửa tung tung lên. Thay vì than thở với nhau, họ đã viết cho bọn ăn trộm một lá thư, gắn trước cửa và đưa lên mạng. Thư viết:
Các bạn ăn trộm thân mến,
Cảm ơn các bạn đã ghé thăm hôm rồi và chúng tôi rất tiếc không có gì nhiều hơn để bạn lấy. Bạn thấy đó, chúng tôi không xài sang, cho nên xin đừng tới nữa; trừ khi bạn muốn lấy bộ băng video VHS và các cassettes của tôi - Dan rất buồn vì các bạn coi thường không lấy mấy cái băng đó. Nếu bạn thích chúng thì cứ đến gõ cửa mà hỏi - không cần phải phá cửa ra vườn sau, vì phải dọn đống kiếng bể cực lắm. Cảm ơn bạn đã để lại các dấu ngón tay - chúng tôi rất vui khi được thấy những dấu tay này.”
Ký tên Kate và Dan sau hàng chữ “Thương nhiều”(Lots of love).
Dan kể với nhà báo, Kate rất thích mấy cuốn băng VHS và các cassettes nên chất đầy nhà làm anh phát chán chỉ muốn tống khứ hết, mà bọn trộm lại không giúp anh!
Hồi Tháng Tám năm 2013 vừa rồi, có một cô ở thành phố Vancouver bên Canada đã làm như vậy. Cô Kayla Smith mất một cái xe đạp, giá tới cả ngàn đô la. Hôm sau có người bạn mách cô rằng trên mạng bán đồ cũ Craigslist có đứa rao bán một cái xe đạp mô tả giống hệt xe của cô. Thứ xe đắt tiền này không nhiều người mua. Cô Kayla bèn viết cho người bán xe đạp theo địa chỉ email trên Craigslist, hẹn gặp nhau để coi xe. Hai người gặp nhau ở chỗ đậu xe ngoài một quán ăn.
Nhìn cái xe, Kayla nhận ra ngay đây là xe mình. Cô hỏi: Cho đạp đi thử nhé? Sau giây lát ngần ngừ, anh ta bằng lòng, còn dặn: Cô không đi luôn nghe! Nhưng chạy xe một quãng rồi Kayla đạp đi luôn không sợ hắn rượt theo. Cô đã gọi điện thoại cho mấy người bạn, nhờ đến chỗ hẹn để canh chừng. Anh bán xe ngó quanh thấy có biến, tự động co giò chạy.
Craigslist là thứ Chợ Giời thời mạng máy vi tính, Internet. Tại thành phố New Haven, tiểu bang Connecticut hôm rồi, vợ chồng anh Rabbi Noah Muroff đi mua một cái bàn giấy trên Craigslist. Không đưa được cái bàn vô phòng, họ tháo gỡ để sau ráp lại. Khi mở ra, họ khám phá sau cái ngăn kéo có một gói, đựng 98,000 đô la. Hai vợ chồng nhìn nhau; quyết định phải đem trả. Họ tìm được chủ nhân cái bàn, đem tiền đến tận nhà, mang theo cả bốn đứa con cho chúng được học phải giữ đức lương thiện và thành thật.
Ở Việt Nam cũng nhiều người lương hảo như thế. Hai năm trước có chuyện cô Phạm Thị Lành, 29 tuổi, ở Bến Lức, tỉnh Long An, đi bán vé số. Ðến ngày sắp mở số còn một sấp vé chưa bán được, đã gọi điện thoại cho một khách mua quen thuộc, nài nỉ ông mua giùm. Ông Ðỗ Ngọc Tuấn, 41 tuổi, làm nghề chạy xe ba gác đã từng hứa mua như vậy nhiều lần và sau ngày mở số vẫn trả tiền sòng phẳng dù không vé nào trúng. Lần này, ông Tuấn hứa mua cả sấp 20 cái vé. Ðến khi mở số, cô Lành thấy trong sấp vé đó có 10 vé vừa trúng độc đắc vừa giải an ủi tổng cộng 6.6 tỉ đồng (khoảng 330,000 đô la).
Cô Lành gọi điện thoại nói, “Anh cầm 200,000 đồng tới quán cà phê Cây Mai trả cho tui đi. Mấy tờ anh mua trúng độc đắc rồi nè!” Rồi cô đem trả sấp vé cho ông Tuấn.
Tóm lại, trong thế giới này ở đâu cũng đầy những người tử tế. Nếu mình ăn ở tử tế, thế nào cũng sẽ gặp nhiều người tử tế. Không những thế, mình có thể giúp những người chưa tử tế sẽ trở về với lối sống tử tế. Tổ tiên người Việt mình còn tin rằng ai ăn ở tử tế sẽ giúp cho con cháu sau này sẽ được gặp những người tử tế. Niềm tin đó gọi là “Phúc đức ông bà.” Tôi vẫn tin nhờ phúc đức ông bà để lại nên trong đời mình đã gặp nhiều may mắn. Cho nên trong cuốn sách Ðứng Vững Ngàn Năm mới xuất bản, ở bài chót tôi đã đề nghị người Việt mình hãy sống tử tế với nhau đi, để xây dựng tương lai. Có người bạn hỏi tại sao lại kết thúc một cuốn sách về ngàn năm Bắc thuộc như vậy. Tôi viết bài này để trả lời bạn. Nếu mình không tin người Việt Nam có thể sống tử tế với nhau thì còn tin cái gì nữa?
Ngô Nhân Dụng
Một điều tôi vẫn tin tưởng là con người ta có thể sống tử tế với nhau. Ông Mạnh Tử nổi tiếng khi tuyên bố loài người có tính lành (thuyết tính thiện). Nhưng không cần đọc sách ông; mình chỉ cần nhìn chung quanh cũng nghiệm thấy không sai.
Hãy cứ tự hỏi như thế này: Nếu không có tính lành thì làm sao loài người đạt được những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật, cả đến văn chương, nghệ thuật; trong trăm ngàn năm ở trên trái đất, từ thủa ăn lông ở lỗ cho đến bây giờ? Lắm lúc đi máy bay tôi lại nghĩ đến người đầu tiên chế ra cái máy nổ, không có ông ấy thì mình đâu có thể ngủ một giấc, thức dậy bỗng thấy mình đang ở London, hay Moskva? Nhưng sau nhà phát minh đó, còn biết bao nhiêu người nghĩ ra những thứ lặt vặt khác, để cho cái máy bay có tốc độ nhanh mà đi lại êm như thế! Mọi tiến bộ đều là kết quả của những cộng tác giữa người với người, giữa những người hoàn toàn xa lạ, có khi sống cách nhau mấy thế kỷ! Chắc hẳn loài người phải rất tử tế; những người không tử tế ít lắm, không đáng kể.
Nói chuyện triết lý như vậy, để kể chuyện ăn trộm. Tôi chắc số người đi ăn trộm trên thế giới này rất ít. Cả đời tôi, sống đã 74 năm, bị ăn trộm chỉ có hai lần, cách nhau mươi năm, vụ sau cùng đã năm bảy năm nay rồi. Sự kiện xảy ra hiếm như vậy chứng tỏ số các người làm nghề ăn trộm chẳng có bao nhiêu. Tội nghiệp những anh chị em đã bẻ khóa cửa để vào nhà tôi ăn trộm; cả hai lần chẳng ai lấy trộm được cái gì cả. Phải nói lại: Chẳng lấy được thứ gì ráo trọi. Vì trong nhà không có gì có thể lấy đem bán được vài chục đô la hết. Tội nghiệp họ lắm chứ. Họ làm việc suốt mấy tiếng đồng hồ, một công việc khá nặng nhọc. Công việc căng thẳng (stressful) hơn cả việc viết báo bị chủ bút giục nộp bài (trước sáu giờ chiều và phải từ 1500 tới 2000 chữ). Có ông ăn trộm vào nhà tôi mở toang các cửa tủ, kéo hết các thứ hộp, thứ lọ chứa trong đó ra lục soát; rồi lôi tất cả các ngăn kéo ném xuống đất; thấy cái bao thư, cái gói vải, túi ni lông nào cũng banh ra coi. Họ đi khắp các phòng, trong bếp, trong hành lang, phòng sách, cho đến các kệ tủ trong garage. Mấy tấm đệm nặng trịch trên giường, như sức tôi phải hai người khiêng, cũng được lôi xuống đất. Công việc chắc phải mất vài ba tiếng. Thế mà chẳng lấy về được một thứ gì cả. Nếu đi làm, lương tối thiểu, cũng được mấy chục đô la, ăn được ba tô phở, mà lại đỡ bị “stress.”
Không những căng thẳng mà còn làm mình chán đời nữa. Khi nhìn thấy mấy món nữ trang giả ném bừa trên mặt đất, càng thấy tội nghiệp. Chắc họ phải thất vọng kinh lắm. Còn chúng tôi thì nhân khi dọn dẹp lại có dịp lựa ra những món đáng lẽ phải vứt đi từ 20 năm trước mà vẫn chất trong nhà, đem cho hay vứt vào thùng rác.
Khi cảnh sát đến, họ hỏi có nghi ngờ ai không, tôi nói không nghi ngờ ai cả. Nghi oan thì có tội, nghi đúng rồi để cảnh sát điều tra, bắt được người ta thì cũng tội, vì các thủ phạm có lấy được gì đâu? Nhưng cảnh sát họ nhận xét rằng đây có vẻ là người Á Châu (Họ không nói người Việt Nam). Vì di dân gốc Châu Á hay cất tiền mặt ở trong nhà, và cũng thích trưng diện đồ trang sức đắt tiền; tâm lý này thường chỉ dân gốc Á biết với nhau chứ bọn ăn trộm người Mỹ hay Mễ không biết.
Nghe cũng có lý. Một chị bạn chúng tôi bữa rồi mới đem cho một thúng đầy trái hồng. Chị hẹn đến ngày nhãn chín sẽ đem cho thúng nữa. Chị kể, hai cây trồng ở vườn sau nhà chị sai trái quá đi. Nhưng cứ đến mùa trái chín là có người vào ăn trộm. Tôi hỏi: Ðâu phải kẻ trộm nào cũng biết ăn hồng với ăn nhãn? Chị nói ngay: Khu nhà em ở nhiều người Việt mình lắm. Ðồng bào mình cả, có thế chứ! Chị lại than: Không những họ lấy trái ăn mà còn vứt rác ra đầy cả vườn cho mình phải dọn nữa! Thế thì không tốt. Tôi đề nghị nếu bà con đến ăn trộm thường xuyên như vậy chị viết tấm bảng treo lên cây.
Viết: Xin ai hái trái cây ăn xong thì làm ơn đem vỏ và hạt bỏ vô thùng rác, thứ thùng mầu xanh lá cây dành cho rác thảo mộc. Nếu lễ phép thì trên cùng viết: Kính gửi các ông bà ăn trộm.
Cách cư xử này không có gì mới lạ. Nhiều người bị trộm đã từng viết thư hay lời nhắn gửi cho kẻ trộm. Ở Toronto, nước Canada, có một anh bị mất chiếc xe đạp khá đắt tiền. Sau nhờ một người bạn chỉ cho, anh tìm thấy lại xe mình khóa, dựng ở ngoài đường, anh đã nhờ anh bạn cắt cả dây khóa sắt, lấy về. Rồi anh vẽ hình một cái xe đạp trên bìa cứng lớn bằng cái xe thật để lại chỗ cũ. Anh viết lá thư cho người ăn trộm như thế này: “Ðồ chó! Anh cầm nhầm cái xe đạp của tôi hôm đầu tuần mà quên không nói tôi biết anh để nó ở đâu. May là có người bạn tôi thấy nó ở đây. Thôi, tôi rất cần cái xe này, tôi lấy lại. Hãy dùng tạm cái xe đạp vẽ này, cho tới khi anh có tiền mua xe thật!” Ký tên: metrocycleto. Tái Bút: Cái xe bên trái này cũng khóa bằng cái dây khóa giống hệt, có phải anh cũng ăn trộm nó không? Người bạn anh chụp hình, đưa lên mạng, cả thế giới ai cũng biết được.
Báo Telegraph ở bên Anh mới kể một câu chuyện bữa Chủ Nhật tuần này. Có hai vợ chồng trên 30 tuổi ở Northampton, Anh quốc, đi vắng buổi tối, về nhà thấy trộm đã phá cửa kính vào lấy đồ và làm nhà cửa tung tung lên. Thay vì than thở với nhau, họ đã viết cho bọn ăn trộm một lá thư, gắn trước cửa và đưa lên mạng. Thư viết:
Các bạn ăn trộm thân mến,
Cảm ơn các bạn đã ghé thăm hôm rồi và chúng tôi rất tiếc không có gì nhiều hơn để bạn lấy. Bạn thấy đó, chúng tôi không xài sang, cho nên xin đừng tới nữa; trừ khi bạn muốn lấy bộ băng video VHS và các cassettes của tôi - Dan rất buồn vì các bạn coi thường không lấy mấy cái băng đó. Nếu bạn thích chúng thì cứ đến gõ cửa mà hỏi - không cần phải phá cửa ra vườn sau, vì phải dọn đống kiếng bể cực lắm. Cảm ơn bạn đã để lại các dấu ngón tay - chúng tôi rất vui khi được thấy những dấu tay này.”
Ký tên Kate và Dan sau hàng chữ “Thương nhiều”(Lots of love).
Dan kể với nhà báo, Kate rất thích mấy cuốn băng VHS và các cassettes nên chất đầy nhà làm anh phát chán chỉ muốn tống khứ hết, mà bọn trộm lại không giúp anh!
Hồi Tháng Tám năm 2013 vừa rồi, có một cô ở thành phố Vancouver bên Canada đã làm như vậy. Cô Kayla Smith mất một cái xe đạp, giá tới cả ngàn đô la. Hôm sau có người bạn mách cô rằng trên mạng bán đồ cũ Craigslist có đứa rao bán một cái xe đạp mô tả giống hệt xe của cô. Thứ xe đắt tiền này không nhiều người mua. Cô Kayla bèn viết cho người bán xe đạp theo địa chỉ email trên Craigslist, hẹn gặp nhau để coi xe. Hai người gặp nhau ở chỗ đậu xe ngoài một quán ăn.
Nhìn cái xe, Kayla nhận ra ngay đây là xe mình. Cô hỏi: Cho đạp đi thử nhé? Sau giây lát ngần ngừ, anh ta bằng lòng, còn dặn: Cô không đi luôn nghe! Nhưng chạy xe một quãng rồi Kayla đạp đi luôn không sợ hắn rượt theo. Cô đã gọi điện thoại cho mấy người bạn, nhờ đến chỗ hẹn để canh chừng. Anh bán xe ngó quanh thấy có biến, tự động co giò chạy.
Craigslist là thứ Chợ Giời thời mạng máy vi tính, Internet. Tại thành phố New Haven, tiểu bang Connecticut hôm rồi, vợ chồng anh Rabbi Noah Muroff đi mua một cái bàn giấy trên Craigslist. Không đưa được cái bàn vô phòng, họ tháo gỡ để sau ráp lại. Khi mở ra, họ khám phá sau cái ngăn kéo có một gói, đựng 98,000 đô la. Hai vợ chồng nhìn nhau; quyết định phải đem trả. Họ tìm được chủ nhân cái bàn, đem tiền đến tận nhà, mang theo cả bốn đứa con cho chúng được học phải giữ đức lương thiện và thành thật.
Ở Việt Nam cũng nhiều người lương hảo như thế. Hai năm trước có chuyện cô Phạm Thị Lành, 29 tuổi, ở Bến Lức, tỉnh Long An, đi bán vé số. Ðến ngày sắp mở số còn một sấp vé chưa bán được, đã gọi điện thoại cho một khách mua quen thuộc, nài nỉ ông mua giùm. Ông Ðỗ Ngọc Tuấn, 41 tuổi, làm nghề chạy xe ba gác đã từng hứa mua như vậy nhiều lần và sau ngày mở số vẫn trả tiền sòng phẳng dù không vé nào trúng. Lần này, ông Tuấn hứa mua cả sấp 20 cái vé. Ðến khi mở số, cô Lành thấy trong sấp vé đó có 10 vé vừa trúng độc đắc vừa giải an ủi tổng cộng 6.6 tỉ đồng (khoảng 330,000 đô la).
Cô Lành gọi điện thoại nói, “Anh cầm 200,000 đồng tới quán cà phê Cây Mai trả cho tui đi. Mấy tờ anh mua trúng độc đắc rồi nè!” Rồi cô đem trả sấp vé cho ông Tuấn.
Tóm lại, trong thế giới này ở đâu cũng đầy những người tử tế. Nếu mình ăn ở tử tế, thế nào cũng sẽ gặp nhiều người tử tế. Không những thế, mình có thể giúp những người chưa tử tế sẽ trở về với lối sống tử tế. Tổ tiên người Việt mình còn tin rằng ai ăn ở tử tế sẽ giúp cho con cháu sau này sẽ được gặp những người tử tế. Niềm tin đó gọi là “Phúc đức ông bà.” Tôi vẫn tin nhờ phúc đức ông bà để lại nên trong đời mình đã gặp nhiều may mắn. Cho nên trong cuốn sách Ðứng Vững Ngàn Năm mới xuất bản, ở bài chót tôi đã đề nghị người Việt mình hãy sống tử tế với nhau đi, để xây dựng tương lai. Có người bạn hỏi tại sao lại kết thúc một cuốn sách về ngàn năm Bắc thuộc như vậy. Tôi viết bài này để trả lời bạn. Nếu mình không tin người Việt Nam có thể sống tử tế với nhau thì còn tin cái gì nữa?
Bão Haiyan sẽ 'thổi' Hải Quân Mỹ trở lại Subic?
Võ Long Triều
Ngày 8 tháng 11 năm 2013 một cơn bão mạnh chưa từng thấy, tên gọi Haiyan, còn gọi là Hải Yến, tiếng Phi gọi Yolanda, với sức gió ước lượng 360 cây số giờ, quét các tỉnh ven biển Leyte và Samar, tàn phá Philippines một cách khủng khiếp, biến Tacloban với 200,000 dân số thành bình địa, gây thiệt hại lớn cho tỉnh Samar và nhiều nơi khác.
Cơn bão còn được mang tên là “Quái Vật” lớn mạnh nhứt, kinh hoàng nhứt, gieo chết chóc nhiều nhứt trong lịch sử. Tỉnh trưởng Tacloban, ông Tescon Lim, tuyên bố trong cơn hốt hoảng có tới 10,000 người tử nạn. Sau đó vài hôm, chính quyền Philippines điều chỉnh lại còn 4,460 người chết, 2,623 người bị thương, khoảng 11 triệu người đang chịu cảnh màn trời chiếu đất, vật lộn với đói khát và bệnh tật. Con số tử vong và nạn nhân kể trên còn có thể tăng. Tổng thống Philippines lên tiếng kêu gọi thế giới trợ giúp.
Lập tức Mỹ ra lệnh cho hàng không mẫu hạm nguyên tử USS George Washington với 5,000 thủy thủ và hai tàu tuần dương hỗ trợ, từ Hong Kong gấp rút tới Philippines vào chiều ngày 14 tháng 11, 2013, để bắt đầu chuyển hàng cứu trợ. Hàng không mẫu hạm Washington có máy lọc nước tạo khoảng 100,000 gallons nước uống mỗi ngày. Số máy bay và trực thăng chuyên chở, tìm kiếm người mất tích, tăng gấp 3 lần. Tin tức cho biết sẽ còn thêm 2,000 lính Thủy Quân Lục Chiến nữa, đến tăng cường trợ giúp. Cộng thêm 20 triệu Mỹ kim cứu trợ cho nhà nước Phi mua vật dụng và thực phẩm.
Ngày 13 tháng 11, Hải Quân Mỹ ra lệnh cho tàu bệnh viện USNS Mercy chuẩn bị lên đường trong vài ngày tới, sẽ đến Philippines vào tháng 12. Chuẩn Tướng Paul Kennedy, chỉ huy Lữ Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến ở Nhật nói với Radio 5 live của BBC: Nỗ lực cứu trợ của Mỹ tới mức độ chưa bao giờ thấy áp dụng cho các cuộc khủng hoảng nhân đạo nào.
Biên tập viên Châu Á của BBC, Charles Scanlon nói, công cuộc cứu trợ của Hoa Kỳ bằng quân sự nhấn mạnh tầm vóc hoạt động quân sự và quan hệ lịch sử của Washington và Manila.
Trong khi đó, ngày 11 tháng 11, Trung Quốc nhanh chóng trích ra từ kho dự trữ tiền tệ của mình, lớn nhứt thế giới trị giá 3.7 ngàn tỷ Mỹ kim, vỏn vẹn có 100,000 Mỹ kim để trao cho Philippines với mục đích cứu trợ. Tạp chí Time của Mỹ phẫn nộ cho đây là một số tiền “đáng sỉ nhục.” Số tiền hỗ trợ lấy lệ này quá thảm hại so với tiền viện trợ của các quốc gia khác, kể cả các nước nghèo, khiến cho cộng đồng quốc tế chê cười Bắc Kinh không ít. Ðáng chê trách hơn nữa là Trung Quốc đã từng nhận của Philippines món tiền cứu trợ 450,000 Mỹ kim cho nạn nhân động đất ở Tứ Xuyên năm 2008.
Những con số cứu trợ sau đây, không thống kê chính thức nhưng có thể giúp hiểu được tầm quan trọng của sự tàn phá và sự hỗ trợ vì tình đồng loại giữa các quốc gia không cộng sản:
-Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (BDA): 500 triệu Mỹ kim cho vay lãi suất thấp, cho không 23 triệu.
-Úc: 9.3 triệu Mỹ kim bao gồm nhân viên y tế và hàng cứu trợ.
-Liên Minh Châu Âu: 17 triệu Mỹ kim. Cộng thêm một bệnh viện dã chiến của Pháp và Bỉ.
-Vatican: 4 triệu Mỹ kim.
-Nhật: 10 triệu Mỹ kim, trong có lều trại và chăn chiếu. Cộng thêm đội y tế 25 người.
-Nam Hàn: 5 triệu và 40 nhân viên y tế.
-Indonesia: 2 triệu và viện trợ hậu cần gồm máy bay, lương thực, máy phát điện và y phẩm.
-UAE: 10 triệu hàng viện trợ nhân đạo.
-Hoa Kỳ: 20 triệu và hỗ trợ hậu cần. Ðó là chưa kể các tổ chức phi chính phủ tại Mỹ đã quyên góp được 300 triệu Mỹ kim trị giá viện trợ.
-Anh: 16 triệu, trong đó có hàng viện trợ khẩn cấp.
Phóng viên R. Ranoco của thông tấn xã Reuters chê Trung Quốc “bần tiện” với Philippines, Bắc Kinh đang bỏ lỡ cơ hội mở mang “quyền lực mềm” của mình ở Ðông Nam Á.
Lúng túng vì bị kẻ chê người cười, và để tự chữa sự ngượng ngùng, Trung Quốc thông báo sẽ tăng số tiền “sỉ nhục” này lên 10 triệu nhân dân tệ, bằng 1.8 triệu Mỹ kim.
Ông Mark Beeson, giáo sư môn chính trị Ðại Học Murdoch ở Perth (Úc) cho rằng các quan chức trong Quân Ðội Nhân Dân còn hận Philippines đã kiện Bắc Kinh ra tòa án quốc tế về vấn đề tranh chấp chủ quyền trên bãi đá Scarborough. Một số người Hoa trên mạng có đầu óc dân tộc chủ nghĩa, cho rằng Philippines là một nước thù địch, “không nên cho họ một xu nào.” Một số người khác cam đoan một cách khờ khạo rằng Manila sẽ không biết ơn, mà còn dùng tiền viện trợ đó để mua vũ khí đánh lại Trung Quốc. Tờ Global Times, nhật báo chính thức có khuynh hướng cực đoan cho rằng Washington và Tokyo có những “mục đích khác” khi viện trợ ồ ạt là chủ trương mở rộng vùng ảnh hưởng chớ không phải vì nhân đạo.
Nhiều chuyên gia trên thế giới nhận định, Trung Quốc để cho yếu tố chính trị ảnh hưởng tới viện trợ nhân đạo là tự làm giảm uy tín của mình và làm mất sự tin cậy của các quốc gia khác trên thế giới. Ông Joseph Cheng, giáo sư khoa chính trị tại đại học City University ở Hong Kong cũng đồng ý như vậy. Thực tế Philippines đang chìm trong thảm họa thiên nhiên, và Trung Quốc cũng đang chìm trong thảm họa danh dự. Ông Jim Schoff, chuyên gia Quỹ Carnegie Vì Hòa Bình nhận định: Bắc Kinh cho họ là một đại cường quốc mạnh ngang với Hoa Kỳ, nhưng Bắc Kinh hoàn toàn không chứng minh được họ là cột trụ của khu vực, đó là một thất bại của họ.
Trung Quốc không biết và cũng không muốn sử dụng “quyền lực mềm”? Nó là một quá trình thu phục lòng người bằng những phương tiện khác hơn là quân sự và bạo lực. Trong khi đó, đầu óc của giới lãnh đạo Bắc Kinh chỉ nghĩ bành trướng, thu phục bằng cách lợi dụng, dối gạt, mua chuộc hoặc răn đe đàn áp với vũ lực. Ðầu óc của một tên Cộng Sản không hiểu được nhân đạo là gì? Tình đồng loại không có nghĩa đối với họ, bởi vì chủ thuyết Mác-Lê đã dạy, chỉ có bạo lực cách mạng mới chiếm được quyền bính và duy trì được sự cai trị.
Ðối với Trung Quốc chỉ có “ăn miếng trả miếng” không khi nào cho mà không có tính toán thu lợi. Cũng như Trung Quốc viện trợ cho Hà Nội với ý đồ thôn tính về sau. Bằng cớ là Hà Nội chưa kịp lấy trọn miền Nam thì Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa trước, và Phạm Văn Ðồng đã phải công nhận cái bản đồ lưỡi bò từ lâu.
Với cách suy nghĩ đó Trung Quốc cho rằng Washington cứu trợ ồ ạt Philippines là có “mục đích khác” như báo Global Times đã ám chỉ. Bắc Kinh lo ngại Mỹ sẽ trở lại Vịnh Subic, một căn cứ hướng ra Biển Ðông, sẽ tác hại đến kế hoạch của Bắc Kinh quyết định gồm thâu 80% vùng biển do cái lưỡi bò của họ liếm gọn.
Thực tế tháng 11 năm 1992, Thượng Viện Philippines đã quyết nghị chấm dứt hợp đồng cho Mỹ thuê căn cứ Subic rồi.
Với tinh thần dân tộc thiển cận, Thượng Nghị Sĩ Aquino, nay là tổng thống, cho đó là một sự “giải thoát đất nước ra khỏi sự kềm kẹp” của những ông chủ thực dân.
Giờ đây, giới lãnh đạo Philippines lại muốn quân đội Mỹ trở lại Vịnh Subic, ngõ hầu tăng cường cho họ sức mạnh trong cuộc đương đầu với Trung Quốc trên Biển Ðông, nơi mà các tàu chiến Trung Quốc đã lập rào cản chắn bãi cạn Scarborough, một ngư trường giàu có nhứt thế giới.
Do đó, kể từ năm 1999, Philippines thông qua một thỏa thuận về những chuyến viếng thăm quân sự với Mỹ, cho phép hai nước tập trận chung với quy mô lớn. Dù không nói ra, nhưng Philippines mở rộng cửa đón tàu chiến Mỹ ra vào căn cứ Subic chủ yếu là ngầm đối phó với Trung Quốc.
Tướng Edilberto Adan, đã về hưu, nhưng hiện phụ trách ủy ban có trách nhiệm giám sát các cuộc tập trận chung Mỹ-Phi nói: Khi Mỹ bắt đầu thực hiện chiến lược “xoay trục sang Á Châu” thì căn cứ Subic sẽ đóng một vai trò quan trọng. Theo ông Adan, căn cứ nầy có thể cung cấp những dịch vụ mà tàu chiến hoặc máy bay của Mỹ cần. Những lời phát biểu mang đầy tính gợi ý được ông Adan đưa ra ngay trên tàu chiến USS Bonhomme Richard của Mỹ, tàu đổ bộ tấn công, đang tham gia tập trận chung kéo dài 10 ngày với các lực lượng Philippines.
Báo chí quốc tế đưa tin Bộ Ngoại Giao Philippines xác nhận việc khai triển luân phiên các lực lượng Mỹ tại Subic đã được tiến hành từ năm 2011. Ðồng thời báo giới cũng đặt câu hỏi liệu Philippines sẽ cho Mỹ thuê lại căn cứ hải quân Subic không?
Ngũ Giác Ðài không thấy có lợi trong việc trở lại căn cứ Subic; thứ nhứt là quá tốn kém trong bối cảnh phải cắt giảm ngân sách như hiện nay; thứ hai căn cứ cố định nói theo ngôn ngữ của giới quân sự là “con vịt buộc” làm mồi ngon cho tên lửa Trung Quốc, nhứt là sự nổi dậy mãnh liệt về quân sự của Bắc Kinh với hạm đội tàu chiến hiện đại, tàu ngầm hạch nhân, tên lửa đạn đạo, máy bay tàng hình, buộc các chiến lược gia Mỹ phải tính toán lại. Thay vì lập căn cứ bất lợi, thà ký hiệp ước thân thiện với các nước cho phép Mỹ được quyền tự do tiếp cận phi trường và hải cảng của họ khi tình huống bắt buộc.
Cho nên giới quân sự Hoa Kỳ nói: “cần một chỗ đứng, không cần một căn cứ”. Subic đã là một chỗ đứng từ năm 1999 rồi. Mỹ không đứng về phe nào nhưng khi xẩy ra xung đột thì đương nhiên Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ Philippines chiếu thỏa ước quân sự ký kết giữa đôi bên.
Ngoài ra, Hoa Kỳ còn chưa muốn làm cho Trung Quốc lo ngại quá đáng bởi vì Trung Quốc còn là đối tác thương mại và là ông chủ nợ lớn nhứt của Mỹ và Bắc Kinh còn là điểm quan trọng cho những mối đầu tư của các công ty xe hơi, máy bay, và bán lẻ của Mỹ.
Cho nên các chuyên gia quân sự, và nhà báo quốc tế tiên đoán Hoa Kỳ sẽ mướn lại căn cứ hải quân Subic, xét ra khả năng đó không có nhiều triển vọng.
Võ Long Triều
Ngày 8 tháng 11 năm 2013 một cơn bão mạnh chưa từng thấy, tên gọi Haiyan, còn gọi là Hải Yến, tiếng Phi gọi Yolanda, với sức gió ước lượng 360 cây số giờ, quét các tỉnh ven biển Leyte và Samar, tàn phá Philippines một cách khủng khiếp, biến Tacloban với 200,000 dân số thành bình địa, gây thiệt hại lớn cho tỉnh Samar và nhiều nơi khác.
Cơn bão còn được mang tên là “Quái Vật” lớn mạnh nhứt, kinh hoàng nhứt, gieo chết chóc nhiều nhứt trong lịch sử. Tỉnh trưởng Tacloban, ông Tescon Lim, tuyên bố trong cơn hốt hoảng có tới 10,000 người tử nạn. Sau đó vài hôm, chính quyền Philippines điều chỉnh lại còn 4,460 người chết, 2,623 người bị thương, khoảng 11 triệu người đang chịu cảnh màn trời chiếu đất, vật lộn với đói khát và bệnh tật. Con số tử vong và nạn nhân kể trên còn có thể tăng. Tổng thống Philippines lên tiếng kêu gọi thế giới trợ giúp.
Lập tức Mỹ ra lệnh cho hàng không mẫu hạm nguyên tử USS George Washington với 5,000 thủy thủ và hai tàu tuần dương hỗ trợ, từ Hong Kong gấp rút tới Philippines vào chiều ngày 14 tháng 11, 2013, để bắt đầu chuyển hàng cứu trợ. Hàng không mẫu hạm Washington có máy lọc nước tạo khoảng 100,000 gallons nước uống mỗi ngày. Số máy bay và trực thăng chuyên chở, tìm kiếm người mất tích, tăng gấp 3 lần. Tin tức cho biết sẽ còn thêm 2,000 lính Thủy Quân Lục Chiến nữa, đến tăng cường trợ giúp. Cộng thêm 20 triệu Mỹ kim cứu trợ cho nhà nước Phi mua vật dụng và thực phẩm.
Ngày 13 tháng 11, Hải Quân Mỹ ra lệnh cho tàu bệnh viện USNS Mercy chuẩn bị lên đường trong vài ngày tới, sẽ đến Philippines vào tháng 12. Chuẩn Tướng Paul Kennedy, chỉ huy Lữ Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến ở Nhật nói với Radio 5 live của BBC: Nỗ lực cứu trợ của Mỹ tới mức độ chưa bao giờ thấy áp dụng cho các cuộc khủng hoảng nhân đạo nào.
Biên tập viên Châu Á của BBC, Charles Scanlon nói, công cuộc cứu trợ của Hoa Kỳ bằng quân sự nhấn mạnh tầm vóc hoạt động quân sự và quan hệ lịch sử của Washington và Manila.
Trong khi đó, ngày 11 tháng 11, Trung Quốc nhanh chóng trích ra từ kho dự trữ tiền tệ của mình, lớn nhứt thế giới trị giá 3.7 ngàn tỷ Mỹ kim, vỏn vẹn có 100,000 Mỹ kim để trao cho Philippines với mục đích cứu trợ. Tạp chí Time của Mỹ phẫn nộ cho đây là một số tiền “đáng sỉ nhục.” Số tiền hỗ trợ lấy lệ này quá thảm hại so với tiền viện trợ của các quốc gia khác, kể cả các nước nghèo, khiến cho cộng đồng quốc tế chê cười Bắc Kinh không ít. Ðáng chê trách hơn nữa là Trung Quốc đã từng nhận của Philippines món tiền cứu trợ 450,000 Mỹ kim cho nạn nhân động đất ở Tứ Xuyên năm 2008.
Những con số cứu trợ sau đây, không thống kê chính thức nhưng có thể giúp hiểu được tầm quan trọng của sự tàn phá và sự hỗ trợ vì tình đồng loại giữa các quốc gia không cộng sản:
-Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (BDA): 500 triệu Mỹ kim cho vay lãi suất thấp, cho không 23 triệu.
-Úc: 9.3 triệu Mỹ kim bao gồm nhân viên y tế và hàng cứu trợ.
-Liên Minh Châu Âu: 17 triệu Mỹ kim. Cộng thêm một bệnh viện dã chiến của Pháp và Bỉ.
-Vatican: 4 triệu Mỹ kim.
-Nhật: 10 triệu Mỹ kim, trong có lều trại và chăn chiếu. Cộng thêm đội y tế 25 người.
-Nam Hàn: 5 triệu và 40 nhân viên y tế.
-Indonesia: 2 triệu và viện trợ hậu cần gồm máy bay, lương thực, máy phát điện và y phẩm.
-UAE: 10 triệu hàng viện trợ nhân đạo.
-Hoa Kỳ: 20 triệu và hỗ trợ hậu cần. Ðó là chưa kể các tổ chức phi chính phủ tại Mỹ đã quyên góp được 300 triệu Mỹ kim trị giá viện trợ.
-Anh: 16 triệu, trong đó có hàng viện trợ khẩn cấp.
Phóng viên R. Ranoco của thông tấn xã Reuters chê Trung Quốc “bần tiện” với Philippines, Bắc Kinh đang bỏ lỡ cơ hội mở mang “quyền lực mềm” của mình ở Ðông Nam Á.
Lúng túng vì bị kẻ chê người cười, và để tự chữa sự ngượng ngùng, Trung Quốc thông báo sẽ tăng số tiền “sỉ nhục” này lên 10 triệu nhân dân tệ, bằng 1.8 triệu Mỹ kim.
Ông Mark Beeson, giáo sư môn chính trị Ðại Học Murdoch ở Perth (Úc) cho rằng các quan chức trong Quân Ðội Nhân Dân còn hận Philippines đã kiện Bắc Kinh ra tòa án quốc tế về vấn đề tranh chấp chủ quyền trên bãi đá Scarborough. Một số người Hoa trên mạng có đầu óc dân tộc chủ nghĩa, cho rằng Philippines là một nước thù địch, “không nên cho họ một xu nào.” Một số người khác cam đoan một cách khờ khạo rằng Manila sẽ không biết ơn, mà còn dùng tiền viện trợ đó để mua vũ khí đánh lại Trung Quốc. Tờ Global Times, nhật báo chính thức có khuynh hướng cực đoan cho rằng Washington và Tokyo có những “mục đích khác” khi viện trợ ồ ạt là chủ trương mở rộng vùng ảnh hưởng chớ không phải vì nhân đạo.
Nhiều chuyên gia trên thế giới nhận định, Trung Quốc để cho yếu tố chính trị ảnh hưởng tới viện trợ nhân đạo là tự làm giảm uy tín của mình và làm mất sự tin cậy của các quốc gia khác trên thế giới. Ông Joseph Cheng, giáo sư khoa chính trị tại đại học City University ở Hong Kong cũng đồng ý như vậy. Thực tế Philippines đang chìm trong thảm họa thiên nhiên, và Trung Quốc cũng đang chìm trong thảm họa danh dự. Ông Jim Schoff, chuyên gia Quỹ Carnegie Vì Hòa Bình nhận định: Bắc Kinh cho họ là một đại cường quốc mạnh ngang với Hoa Kỳ, nhưng Bắc Kinh hoàn toàn không chứng minh được họ là cột trụ của khu vực, đó là một thất bại của họ.
Trung Quốc không biết và cũng không muốn sử dụng “quyền lực mềm”? Nó là một quá trình thu phục lòng người bằng những phương tiện khác hơn là quân sự và bạo lực. Trong khi đó, đầu óc của giới lãnh đạo Bắc Kinh chỉ nghĩ bành trướng, thu phục bằng cách lợi dụng, dối gạt, mua chuộc hoặc răn đe đàn áp với vũ lực. Ðầu óc của một tên Cộng Sản không hiểu được nhân đạo là gì? Tình đồng loại không có nghĩa đối với họ, bởi vì chủ thuyết Mác-Lê đã dạy, chỉ có bạo lực cách mạng mới chiếm được quyền bính và duy trì được sự cai trị.
Ðối với Trung Quốc chỉ có “ăn miếng trả miếng” không khi nào cho mà không có tính toán thu lợi. Cũng như Trung Quốc viện trợ cho Hà Nội với ý đồ thôn tính về sau. Bằng cớ là Hà Nội chưa kịp lấy trọn miền Nam thì Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa trước, và Phạm Văn Ðồng đã phải công nhận cái bản đồ lưỡi bò từ lâu.
Với cách suy nghĩ đó Trung Quốc cho rằng Washington cứu trợ ồ ạt Philippines là có “mục đích khác” như báo Global Times đã ám chỉ. Bắc Kinh lo ngại Mỹ sẽ trở lại Vịnh Subic, một căn cứ hướng ra Biển Ðông, sẽ tác hại đến kế hoạch của Bắc Kinh quyết định gồm thâu 80% vùng biển do cái lưỡi bò của họ liếm gọn.
Thực tế tháng 11 năm 1992, Thượng Viện Philippines đã quyết nghị chấm dứt hợp đồng cho Mỹ thuê căn cứ Subic rồi.
Với tinh thần dân tộc thiển cận, Thượng Nghị Sĩ Aquino, nay là tổng thống, cho đó là một sự “giải thoát đất nước ra khỏi sự kềm kẹp” của những ông chủ thực dân.
Giờ đây, giới lãnh đạo Philippines lại muốn quân đội Mỹ trở lại Vịnh Subic, ngõ hầu tăng cường cho họ sức mạnh trong cuộc đương đầu với Trung Quốc trên Biển Ðông, nơi mà các tàu chiến Trung Quốc đã lập rào cản chắn bãi cạn Scarborough, một ngư trường giàu có nhứt thế giới.
Do đó, kể từ năm 1999, Philippines thông qua một thỏa thuận về những chuyến viếng thăm quân sự với Mỹ, cho phép hai nước tập trận chung với quy mô lớn. Dù không nói ra, nhưng Philippines mở rộng cửa đón tàu chiến Mỹ ra vào căn cứ Subic chủ yếu là ngầm đối phó với Trung Quốc.
Tướng Edilberto Adan, đã về hưu, nhưng hiện phụ trách ủy ban có trách nhiệm giám sát các cuộc tập trận chung Mỹ-Phi nói: Khi Mỹ bắt đầu thực hiện chiến lược “xoay trục sang Á Châu” thì căn cứ Subic sẽ đóng một vai trò quan trọng. Theo ông Adan, căn cứ nầy có thể cung cấp những dịch vụ mà tàu chiến hoặc máy bay của Mỹ cần. Những lời phát biểu mang đầy tính gợi ý được ông Adan đưa ra ngay trên tàu chiến USS Bonhomme Richard của Mỹ, tàu đổ bộ tấn công, đang tham gia tập trận chung kéo dài 10 ngày với các lực lượng Philippines.
Báo chí quốc tế đưa tin Bộ Ngoại Giao Philippines xác nhận việc khai triển luân phiên các lực lượng Mỹ tại Subic đã được tiến hành từ năm 2011. Ðồng thời báo giới cũng đặt câu hỏi liệu Philippines sẽ cho Mỹ thuê lại căn cứ hải quân Subic không?
Ngũ Giác Ðài không thấy có lợi trong việc trở lại căn cứ Subic; thứ nhứt là quá tốn kém trong bối cảnh phải cắt giảm ngân sách như hiện nay; thứ hai căn cứ cố định nói theo ngôn ngữ của giới quân sự là “con vịt buộc” làm mồi ngon cho tên lửa Trung Quốc, nhứt là sự nổi dậy mãnh liệt về quân sự của Bắc Kinh với hạm đội tàu chiến hiện đại, tàu ngầm hạch nhân, tên lửa đạn đạo, máy bay tàng hình, buộc các chiến lược gia Mỹ phải tính toán lại. Thay vì lập căn cứ bất lợi, thà ký hiệp ước thân thiện với các nước cho phép Mỹ được quyền tự do tiếp cận phi trường và hải cảng của họ khi tình huống bắt buộc.
Cho nên giới quân sự Hoa Kỳ nói: “cần một chỗ đứng, không cần một căn cứ”. Subic đã là một chỗ đứng từ năm 1999 rồi. Mỹ không đứng về phe nào nhưng khi xẩy ra xung đột thì đương nhiên Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ Philippines chiếu thỏa ước quân sự ký kết giữa đôi bên.
Ngoài ra, Hoa Kỳ còn chưa muốn làm cho Trung Quốc lo ngại quá đáng bởi vì Trung Quốc còn là đối tác thương mại và là ông chủ nợ lớn nhứt của Mỹ và Bắc Kinh còn là điểm quan trọng cho những mối đầu tư của các công ty xe hơi, máy bay, và bán lẻ của Mỹ.
Cho nên các chuyên gia quân sự, và nhà báo quốc tế tiên đoán Hoa Kỳ sẽ mướn lại căn cứ hải quân Subic, xét ra khả năng đó không có nhiều triển vọng.
Món nợ không thể quịt
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Thế là Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hội Ðồng Nhân Quyền của LHQ. Nhân dân ta vui hay buồn? Tùy lập trường chính trị, cách suy nghĩ, trên tư cách công dân.
Có người thông tin cho nhau, ngỡ ngàng, khó hiểu. Có bạn còn bực bội, “không sao hiểu nổi,” nước nổi tiếng chà đạp nhân quyền bỗng nhiên được khen thưởng, vinh dự gia nhập cơ quan có sứ mệnh cao quý là phổ cập quyền sống có nhân phẩm khắp nơi trên trái đất. Cứ như một học sinh kém, xếp loại cuối lớp được bằng khen. Có bạn trách móc LHQ với uy tín quốc tế lớn để xảy ra một việc bất xứng, phi lý, ngược ngạo ngay giữa một phiên họp của Ðại Hội Ðồng.
Rất cần bình tâm để đánh giá đúng tình hình, không rơi vào bi quan nản chí, thậm chí hoang mang, cay cú.
Vì sao báo chí chính thức trong nước lại không tỏ ra vui mừng, hồ hởi như thường lệ? Vì sao những báo Nhân Dân, Quân Ðội Nhân Dân, Công An Nhân Dân, Tiền Phong, Lao Ðộng... lại chỉ đưa tin một cách hình thức, qua loa, nhạt nhẽo, ở vị trí rất thấp, thậm chí không một lời bình.
Chỉ có mỗi một ông đại biểu Quốc Hội Trần Văn Hằng cao hứng, huênh hoang với phóng viên đài Hà Nội ngày 17 tháng 11 vừa qua rằng “đây là đòn đánh mạnh mẽ vào các đối tượng bấy lâu cố tình bôi nhọ chúng ta.” Ông Hằng là chủ nhiệm Ủy Ban Ðối Ngoại của Quốc Hội, vẫn giữ kiểu ăn nói lấy được, vẫn theo kiểu cách dọa nạt, vu cáo các công dân đứng dậy đòi lại nhân phẩm cho toàn dân. Ông hý hửng hơi bị sớm quá đấy!
Thật ra Bộ Chính Trị, Ban Chấp Hành Trung Ương đảng, Ban Thường Vụ Quốc Hội vừa mừng vừa lo khi được tin Việt Nam vào được Hội Ðồng Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc. Nếu họ biết điều, tỉnh táo, họ sẽ vui một, lo đến mười phần.
Nếu như hàng ngũ anh chị em công dân trong ngoài nước hiến thân cho tự do, dân chủ và nhân quyền tỉnh táo nhìn rõ tình hình một cách chân thực, sẽ thấy nhiều điều kiện thuận lợi mới chưa từng có đang mở ra cho chúng ta, chỉ cần chúng ta biết tận dụng một cách sáng tạo và sâu rộng.
Bởi lẽ chính quyền đảng trị trong nước đã buộc phải đưa ra một loạt lời hứa và cam kết với Liên Hiệp Quốc, với Hội Ðồng Nhân Quyền mà Việt Nam nay là một thành viên, nghĩa là với toàn thế giới và với toàn dân Việt Nam. Ðây là lời hứa danh dự của một chính quyền của một nước gần 100 triệu dân, long trọng cam kết thực thi không chậm trễ một loạt việc làm, bước đi, cải cách, đổi mới, dưới sự kiểm soát, thanh tra, quan sát thường xuyên tại chỗ của Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế liên quan, cũng như dưới sự theo dõi, quan sát, kiểm tra của toàn dân VN.
Ðiều cực kỳ hệ trọng là tất cả 14 điều “hứa hẹn và cam kết” (Pledges and Commitments) đều là những vấn đề chính quyền toàn trị xưa nay cố tình tránh né, trì hoãn, khi thì viện cớ chủ quyền quốc gia bất khả xâm phạm, khi thì vin vào điều kiện kinh tế xã hội chưa chín. Cho đến nay nhờ sự phối hợp chặt chẽ của các tổ chức Liên Hiệp Quốc, các tổ chức nhân quyền quốc tế với các chiến sĩ dân chủ và nhân quyền VN, đã tạo nên sức ép đủ mạnh buộc chính quyền trong nước không thể nào không lùi bước, nhượng bộ, chịu hứa hẹn và cam kết công khai long trọng trên giấy trắng mực đen.
Xin kể ra dưới đây những lời hứa và cam kết quan trọng nhất.
Trước hết Việt Nam hứa và cam kết thúc đẩy việc thực thi và bảo vệ những giá trị nhân quyền do Liên Hiệp Quốc đề xướng, và tuyên bố tự nguyện ứng cử để thành một thành viên của Hội Ðồng Nhân Quyền.
Do đó, Việt Nam cam kết thực hiện những điều sau:
1-Tuân theo và áp dụng những chuẩn mực phổ cập về nhân quyền của LHQ trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và quan hệ quốc tế.
2-Thực thi những mục tiêu được LHQ đề ra cho thiên niên kỷ.
3-Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tư pháp theo tiêu chuẩn của Nhà nước pháp quyền, trong đó có nội dung tôn trọng nhân quyền.
4-Bảo đảm an ninh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo đảm công lý cho những người dễ bị tổn thương như: phụ nữ, trẻ em, người già, người khuyết tật, dân tộc thiểu số.
5-Quan tâm tuyên truyền, giáo dục, đào tạo cán bộ, nhân viên về thực thi nhân quyền trong xã hội.
6-Thực hiện các khuyến cáo về mục tiêu nhân quyền theo các chu kỳ kiểm điểm 1 và chu kỳ 2 của UPR ( Universal Periodic Review). Chu kỳ 1 đã thực hiện năm 2009, chu kỳ 2 sắp tới.
7-Thực hiện nền dân chủ từ cơ sở, huy động toàn dân tham gia cùng các tổ chức xã hội trên tinh thần chủ dân nhằm phổ cập nhân quyền sâu rộng.
8-Tích cực hoạt động có trách nhiệm trong Hội Ðồng Nhân Quyền nhằm thúc đẩy việc tôn trọng nhân quyền trên thế giới, với tinh thần minh bạch, trong sáng, khách quan.
9-Mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác, đối thoại với LHQ, với các cơ quan của LHQ, với Cao ủy Nhân quyền của LHQ, kể cả việc mời thăm Việt Nam để quan sát.
10-Thực hiện sự hợp tác liên chính phủ nhằm tôn trọng và bảo vệ nhân quyền.
11-Thực hiện hợp tác với các nước ASEAN trên lĩnh vực nhân quyền, thúc đẩy việc thực thi Tuyên bố về nhân quyền của ASEAN.
12-Mở rộng hợp tác song phương với các đối tác nhằm thực thi nhân quyền rộng rãi.
13-Sớm tham gia Công ước Chống tra tấn.
14-Tham gia việc hoàn thành Công ước về Quyền của người khuyết tật.
Có thể nói từ nay, theo lý lẽ và pháp lý, sau khi nhà cầm quyền CS tuyên bố tự nguyện tích cực truyền bá, bảo vệ nhân quyền một cách có trách nhiệm, họ phải nhận ngay các chiến sĩ bảo vệ nhân quyền đang bị cầm tù là đồng minh, đồng chí của họ.
Nếu họ tự trọng, giữ đúng lời hứa và cam kết, họ phải nhận những Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Ðinh Nguyên Kha, Nguyễn Phương Uyên cùng biết bao chiến sĩ nhân quyền khác là bạn thân, là bạn đồng minh, mới phải lẽ.
Ai cũng biết họ không làm thế. Vì họ không thật lòng. Họ chỉ hứa và cam kết để tiếp tục được nhận những khoản tiền FDI và ODA cực lớn, không thì chết cả nút. Vì họ không thể sống một mình, quay lưng với LHQ. Họ sẽ giở nhiều thủ đoạn, ù lì, ngụy biện, có khi trâng tráo, như ông Trần Văn Hằng nói trên, mua thêm thời gian để hưởng đặc lợi.
Nhưng lần này họ bị kẹt đủ thứ. Việc thông qua Hiến Pháp mới khó bề trôi chảy. Bởi lẽ học thuyết Mác-Lênin, chủ nghĩa CS, khái niệm kinh tế nhà nước là chủ đạo đều đi ngược với nhân quyền. Luật đất đai sửa đổi cũng đầy vướng mắc. Nợ quốc gia chạm đáy. Xã hội băng hoại do quan chức mọi cấp bất tài tham nhũng hư hỏng tận cùng. Có tử hình vài tên chỉ càng lộ là nước cờ hạ sách, thí tốt đen, vì những vụ to hơn nhiều, khủng hơn nhiều vẫn ở ngoài pháp luật. Họ thí vài tên làng nhàng, chừa ra khối kẻ tham ô loại bự, không bận tâm đến bầy sâu lúc nhúc khắp nơi.
Ðặt bút ký lời thề và cam kết về nhân quyền, chế độ toàn trị đã sa vào bẫy tự hủy diệt, nếu không tự thay đổi về bản chất, để trở thành một chính quyền dân chủ, lương thiện, tôn trọng nhân quyền một cách tự giác.
Ðã thành quy luật nhân quyền càng mở rộng, chế độ độc đảng toàn trị càng teo quắt lại. Ðã hứa, đã cam kết phải giữ lời hứa, phải tôn trọng 14 lời cam kết. Ðó là món nợ không thể quịt được.
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Thế là Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hội Ðồng Nhân Quyền của LHQ. Nhân dân ta vui hay buồn? Tùy lập trường chính trị, cách suy nghĩ, trên tư cách công dân.
Có người thông tin cho nhau, ngỡ ngàng, khó hiểu. Có bạn còn bực bội, “không sao hiểu nổi,” nước nổi tiếng chà đạp nhân quyền bỗng nhiên được khen thưởng, vinh dự gia nhập cơ quan có sứ mệnh cao quý là phổ cập quyền sống có nhân phẩm khắp nơi trên trái đất. Cứ như một học sinh kém, xếp loại cuối lớp được bằng khen. Có bạn trách móc LHQ với uy tín quốc tế lớn để xảy ra một việc bất xứng, phi lý, ngược ngạo ngay giữa một phiên họp của Ðại Hội Ðồng.
Rất cần bình tâm để đánh giá đúng tình hình, không rơi vào bi quan nản chí, thậm chí hoang mang, cay cú.
Vì sao báo chí chính thức trong nước lại không tỏ ra vui mừng, hồ hởi như thường lệ? Vì sao những báo Nhân Dân, Quân Ðội Nhân Dân, Công An Nhân Dân, Tiền Phong, Lao Ðộng... lại chỉ đưa tin một cách hình thức, qua loa, nhạt nhẽo, ở vị trí rất thấp, thậm chí không một lời bình.
Chỉ có mỗi một ông đại biểu Quốc Hội Trần Văn Hằng cao hứng, huênh hoang với phóng viên đài Hà Nội ngày 17 tháng 11 vừa qua rằng “đây là đòn đánh mạnh mẽ vào các đối tượng bấy lâu cố tình bôi nhọ chúng ta.” Ông Hằng là chủ nhiệm Ủy Ban Ðối Ngoại của Quốc Hội, vẫn giữ kiểu ăn nói lấy được, vẫn theo kiểu cách dọa nạt, vu cáo các công dân đứng dậy đòi lại nhân phẩm cho toàn dân. Ông hý hửng hơi bị sớm quá đấy!
Thật ra Bộ Chính Trị, Ban Chấp Hành Trung Ương đảng, Ban Thường Vụ Quốc Hội vừa mừng vừa lo khi được tin Việt Nam vào được Hội Ðồng Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc. Nếu họ biết điều, tỉnh táo, họ sẽ vui một, lo đến mười phần.
Nếu như hàng ngũ anh chị em công dân trong ngoài nước hiến thân cho tự do, dân chủ và nhân quyền tỉnh táo nhìn rõ tình hình một cách chân thực, sẽ thấy nhiều điều kiện thuận lợi mới chưa từng có đang mở ra cho chúng ta, chỉ cần chúng ta biết tận dụng một cách sáng tạo và sâu rộng.
Bởi lẽ chính quyền đảng trị trong nước đã buộc phải đưa ra một loạt lời hứa và cam kết với Liên Hiệp Quốc, với Hội Ðồng Nhân Quyền mà Việt Nam nay là một thành viên, nghĩa là với toàn thế giới và với toàn dân Việt Nam. Ðây là lời hứa danh dự của một chính quyền của một nước gần 100 triệu dân, long trọng cam kết thực thi không chậm trễ một loạt việc làm, bước đi, cải cách, đổi mới, dưới sự kiểm soát, thanh tra, quan sát thường xuyên tại chỗ của Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế liên quan, cũng như dưới sự theo dõi, quan sát, kiểm tra của toàn dân VN.
Ðiều cực kỳ hệ trọng là tất cả 14 điều “hứa hẹn và cam kết” (Pledges and Commitments) đều là những vấn đề chính quyền toàn trị xưa nay cố tình tránh né, trì hoãn, khi thì viện cớ chủ quyền quốc gia bất khả xâm phạm, khi thì vin vào điều kiện kinh tế xã hội chưa chín. Cho đến nay nhờ sự phối hợp chặt chẽ của các tổ chức Liên Hiệp Quốc, các tổ chức nhân quyền quốc tế với các chiến sĩ dân chủ và nhân quyền VN, đã tạo nên sức ép đủ mạnh buộc chính quyền trong nước không thể nào không lùi bước, nhượng bộ, chịu hứa hẹn và cam kết công khai long trọng trên giấy trắng mực đen.
Xin kể ra dưới đây những lời hứa và cam kết quan trọng nhất.
Trước hết Việt Nam hứa và cam kết thúc đẩy việc thực thi và bảo vệ những giá trị nhân quyền do Liên Hiệp Quốc đề xướng, và tuyên bố tự nguyện ứng cử để thành một thành viên của Hội Ðồng Nhân Quyền.
Do đó, Việt Nam cam kết thực hiện những điều sau:
1-Tuân theo và áp dụng những chuẩn mực phổ cập về nhân quyền của LHQ trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và quan hệ quốc tế.
2-Thực thi những mục tiêu được LHQ đề ra cho thiên niên kỷ.
3-Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tư pháp theo tiêu chuẩn của Nhà nước pháp quyền, trong đó có nội dung tôn trọng nhân quyền.
4-Bảo đảm an ninh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo đảm công lý cho những người dễ bị tổn thương như: phụ nữ, trẻ em, người già, người khuyết tật, dân tộc thiểu số.
5-Quan tâm tuyên truyền, giáo dục, đào tạo cán bộ, nhân viên về thực thi nhân quyền trong xã hội.
6-Thực hiện các khuyến cáo về mục tiêu nhân quyền theo các chu kỳ kiểm điểm 1 và chu kỳ 2 của UPR ( Universal Periodic Review). Chu kỳ 1 đã thực hiện năm 2009, chu kỳ 2 sắp tới.
7-Thực hiện nền dân chủ từ cơ sở, huy động toàn dân tham gia cùng các tổ chức xã hội trên tinh thần chủ dân nhằm phổ cập nhân quyền sâu rộng.
8-Tích cực hoạt động có trách nhiệm trong Hội Ðồng Nhân Quyền nhằm thúc đẩy việc tôn trọng nhân quyền trên thế giới, với tinh thần minh bạch, trong sáng, khách quan.
9-Mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác, đối thoại với LHQ, với các cơ quan của LHQ, với Cao ủy Nhân quyền của LHQ, kể cả việc mời thăm Việt Nam để quan sát.
10-Thực hiện sự hợp tác liên chính phủ nhằm tôn trọng và bảo vệ nhân quyền.
11-Thực hiện hợp tác với các nước ASEAN trên lĩnh vực nhân quyền, thúc đẩy việc thực thi Tuyên bố về nhân quyền của ASEAN.
12-Mở rộng hợp tác song phương với các đối tác nhằm thực thi nhân quyền rộng rãi.
13-Sớm tham gia Công ước Chống tra tấn.
14-Tham gia việc hoàn thành Công ước về Quyền của người khuyết tật.
Có thể nói từ nay, theo lý lẽ và pháp lý, sau khi nhà cầm quyền CS tuyên bố tự nguyện tích cực truyền bá, bảo vệ nhân quyền một cách có trách nhiệm, họ phải nhận ngay các chiến sĩ bảo vệ nhân quyền đang bị cầm tù là đồng minh, đồng chí của họ.
Nếu họ tự trọng, giữ đúng lời hứa và cam kết, họ phải nhận những Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Ðinh Nguyên Kha, Nguyễn Phương Uyên cùng biết bao chiến sĩ nhân quyền khác là bạn thân, là bạn đồng minh, mới phải lẽ.
Ai cũng biết họ không làm thế. Vì họ không thật lòng. Họ chỉ hứa và cam kết để tiếp tục được nhận những khoản tiền FDI và ODA cực lớn, không thì chết cả nút. Vì họ không thể sống một mình, quay lưng với LHQ. Họ sẽ giở nhiều thủ đoạn, ù lì, ngụy biện, có khi trâng tráo, như ông Trần Văn Hằng nói trên, mua thêm thời gian để hưởng đặc lợi.
Nhưng lần này họ bị kẹt đủ thứ. Việc thông qua Hiến Pháp mới khó bề trôi chảy. Bởi lẽ học thuyết Mác-Lênin, chủ nghĩa CS, khái niệm kinh tế nhà nước là chủ đạo đều đi ngược với nhân quyền. Luật đất đai sửa đổi cũng đầy vướng mắc. Nợ quốc gia chạm đáy. Xã hội băng hoại do quan chức mọi cấp bất tài tham nhũng hư hỏng tận cùng. Có tử hình vài tên chỉ càng lộ là nước cờ hạ sách, thí tốt đen, vì những vụ to hơn nhiều, khủng hơn nhiều vẫn ở ngoài pháp luật. Họ thí vài tên làng nhàng, chừa ra khối kẻ tham ô loại bự, không bận tâm đến bầy sâu lúc nhúc khắp nơi.
Ðặt bút ký lời thề và cam kết về nhân quyền, chế độ toàn trị đã sa vào bẫy tự hủy diệt, nếu không tự thay đổi về bản chất, để trở thành một chính quyền dân chủ, lương thiện, tôn trọng nhân quyền một cách tự giác.
Ðã thành quy luật nhân quyền càng mở rộng, chế độ độc đảng toàn trị càng teo quắt lại. Ðã hứa, đã cam kết phải giữ lời hứa, phải tôn trọng 14 lời cam kết. Ðó là món nợ không thể quịt được.
Đảng Cộng Sản Việt Nam vừa bước vào giai đoạn cuối của chế độ?
Ngày 28/11/2013 được tiên đoán sẽ là ngày đẹp, ngày vui đối với lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam như ông Nguyễn Sinh Hùng tuyên bố sau khi Quốc hội bỏ phiếu thông qua bản dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992. Tuy nhiên, đối với dư luận chung thì kể từ ngày 28/11 trở đi, đảng CSVN sẽ bắt đầu tiến trình phân hóa do hậu quả chấn thương từ cuộc bỏ phiếu này.
Ngày 28/11/2013 được tiên đoán sẽ là ngày đẹp, ngày vui đối với lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam như ông Nguyễn Sinh Hùng tuyên bố sau khi Quốc hội bỏ phiếu thông qua bản dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992. Tuy nhiên, đối với dư luận chung thì kể từ ngày 28/11 trở đi, đảng CSVN sẽ bắt đầu tiến trình phân hóa do hậu quả chấn thương từ cuộc bỏ phiếu này.
Hai Hội Nghị Rối Trí
Trong hai tháng 10 và 11 năm 2013, đảng Cộng sản Việt Nam đã có hai Hội nghị thu hút nhiều sự chú ý của dư luận. Hội nghị Trung ương đảng 8 khóa 11 từ ngày 30/9 đến 9/10 và kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 từ ngày 21/10 kéo dài đến đầu tháng 12.
Tuy bản chất của hai Hội nghị có khác nhau, nhưng mục đích chính vẫn là tập trung vào việc tìm ra những giải pháp để cứu nguy tình trạng xuống cấp nhanh chóng của bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước.
Qua hai cuộc họp nói trên, người ta thấy là thành phần ưu tú nhất đang nắm trong tay vận mệnh của đảng Cộng sản và đất nước Việt Nam hoàn toàn hết sáng kiến, loay hoay và rối trí.
Rối trí là vì lãnh đạo đã không dự kiến được những bước chuyển hóa quá nhanh của thời cuộc, chỉ lo đến số phận của riêng họ trên hết, không dám tin vào bất kỳ mô thức nào, và vì thế chỉ biết cố kiềm chế xã hội đi theo khuôn khổ của những chủ trương đã lỗi thời.
Chỉ cần nhìn vào cách lãnh đạo Hà Nội hành xử lúng túng trong việc để các đại biểu Quốc hội thảo luận và thông qua bản dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992, đã biểu hiện một sự cực kỳ lo lắng của bộ chính trị về kết quả bỏ phiếu.
Mặc dù ai cũng biết là nội dung dự thảo hiến pháp sẽ được thông qua vào ngày 28 tháng 11 tới đây, nhưng tỷ số bỏ phiếu sẽ không còn “nhất trí” như những lần tu sửa trước.
Tác động tạo ra hiện trạng này chính là nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam đã không còn là một khối. Nó đã bị chấn thương trầm trọng từ khi Hà Nội đưa ra việc kêu gọi góp ý dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992 vào đầu năm nay rồi lại tung ra các mẹo vặt để chận đứng và phỉ báng các đóng góp nghiêm chỉnh là "suy đồi đạo đức chính trị". Họ thẳng tay ném bỏ những tiếng nói chung đầy tâm huyết vì tương lai đất nước, trong đó, có bản lên tiếng yêu cầu quốc hội hoãn bỏ phiếu thông qua của thành phần trí thức, cựu cán bộ khởi xướng Kiến nghị 72. Chính thái độ khinh thường này đã làm giao động tinh thần của khá nhiều đảng viên vốn thờ ơ trước đây.
Đây là nguy cơ mà lãnh đạo Hà Nội đang rất lo ngại cho sự tồn vong của chế độ hiện nay.
Nguy Cơ Bùng Vỡ Nội Bộ
Cách đây hơn 2 thập niên, sau khi khối Liên Xô tan rã vào năm 1991, đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra bốn nguy cơ làm thước đo sự tồn vong của chế độ.
1/ Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.
2/ Nguy cơ sai lầm về đường lối, đi chệch định hướng XHCN.
3/ Nguy cơ về sự suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
4/ Nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Cứ mỗi 10 năm, Hà Nội lại lượng duyệt các nguy cơ này một lần. Tại Hội nghị 8 khóa IX vào tháng 7 năm 2003, Trung ương đảng dưới thời ông Nông Đức Mạnh làm Tổng bí thư đã dành ra nhiều ngày đánh giá về cái gọi là chiến lược bảo vệ tổ quốc và bốn nguy cơ nói trên.
Mặc dù lúc đó vấn đề tham nhũng, sự lên tiếng cổ súy dân chủ hóa của một số đảng viên có tạo ra sự nhức nhối cho chế độ, nhưng lãnh đạo lại coi sự tụt hậu kinh tế là nguy hiểm nhất nên đã tập trung vào việc xây dựng các tập đoàn kinh tế, tổng công ty với ước mơ đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp tiên tiến vào năm 2020.
Mười năm sau, Hội nghị 8 vào đầu tháng 10 năm 2013 vừa qua, cục diện đã hoàn toàn thay đổi. Mặc dù kinh tế đang gặp khó khăn vì những khuynh loát của các nhóm lợi ích, nhưng theo đánh giá của ông Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu lúc bế mạc Hội nghị 8, nguy cơ sinh tử nhất của chế độ hiện nay, không phải là kinh tế mà chính là hiện tượng tự diễn biến trong nội bộ.
Ông Nguyễn Phú Trọng cho rằng chính nó là chỗ dựa để cho bên ngoài tấn công vào đảng CSVN và là mảnh đất để thế lực thù địch gieo mầm diễn biến hòa bình.
Tuy lãnh đạo Hà Nội xem đó là vấn đề, nhưng giải pháp chọn lựa của họ cũng lại tiếp tục loay hoay giống như 10 năm trước.
Thay vì chấp nhận một số cải cách chính trị theo trào lưu dân chủ hóa toàn cầu, Hà Nội lại cương quyết ngăn chận mọi xu hướng hình thành tổ chức chính trị đối lập, tiếp tục cố thủ trong lô cốt độc tài bằng hai biện pháp phòng và chống tham nhũng, phê và tự phê hoàn toàn mang tính hình thức.
Hai biến cố lớn xảy ra trong lúc Hà Nội kêu gọi góp ý tu sửa hiến pháp là sự kiện ông Lê Hiếu Đằng, một đảng viên cao cấp có 45 năm tuổi đảng kêu gọi bỏ đảng Cộng sản, tham gia lập đảng đối lập, và sự kiện một số trí thức tuyên bố thành lập diễn đàn xã hội dân sự để làm cầu nối cổ súy cho sự phát triển các đoàn thể xã hội dân sự tại Việt Nam, vốn bị chế độ coi là điều cấm kỵ trong nhiều thập niên qua.
Tự thân hai biến cố nói trên là những chuyển biến bình thường trong một xã hội mở; nhưng vì Hà Nội cố tình kiềm chế, thậm chí còn phơi bày những chủ trương phi lý và độc đoán qua việc dùng bộ máy truyền thông của đảng tấn công vào các đoàn thể xã hội, khiến cho nhiều đảng viên chán nản và sẽ lặng lẽ bỏ đảng Cộng sản ra đi.
Ba Kịch Bản Của Nội Bộ Đảng.
Ngày 18 tháng 11 vừa qua, sau khi nghe ông Phạm Trung Lý, trưởng ban soạn thảo dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992 trình bày về cách tiếp thu, chỉnh lý những ý kiến đóng góp của các đại biểu, ông Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội tuyên bố rằng ngày 28 tháng 11 sẽ là “ngày đẹp”.
Ông Nguyễn Sinh Hùng cho đây là “ngày đẹp” vì nghĩ rằng chính ông và bộ chính trị sẽ không còn phải sống trong tâm trạng hồi hộp khi “hộp giun” của bản hiến pháp đã được đóng lại. Nhưng muốn biết viễn cảnh của “ngày đẹp” 28 tháng 11 và tương lai đảng Cộng sản Việt Nam ra sao, chỉ cần nhìn vào sự biến thái về nội dung của các Hội nghị Trung ương đảng trong 2 năm 2012 và 2013 sẽ thấy.
Hội nghị Trung ương 5 và 6 tập trung vào những xung đột thượng tầng lãnh đạo với sự tấn công nhằm triệt hạ uy tín lẫn nhau giữa hai người đứng đầu đảng và chính phủ. Kết quả là bất phân thắng bại.
Hội nghị Trung ương 7 và 8 tập trung vào các vấn đề nội bộ, qua đó các phe tạm thời ngưng chiến để tập trung vào việc củng cố lô cốt độc đảng hầu có thể chuẩn bị suông sẻ đại hội đảng lần thứ 12 vào đầu năm 2016.
Chính vào lúc Bộ chính trị muốn kiềm chế xã hội để tổ chức thành công đại hội đảng kỳ 12 trong hai năm tới, thì sự kiềm chế này đang dẫn đảng Cộng sản Việt Nam vào một trong ba kịch bản.
Tức Nước Vỡ Bờ: Đây là hiện tượng nhiều hỗn loạn nhất khi mà các phe nhóm lãnh đạo vì những kèn cựa quyền lực mà không dám lấy những quyết định quan trọng, thả nổi và tạo ra tình trạng bùng vỡ từ trong đảng ra ngoài xã hội. Đây là tình huống bùng nổ như Tunisia, Ai Cập khi mà người dân và các đảng viên xé rào, bất chấp lệnh lạc từ trung ương.
Đảo Chánh Nội Bộ: Đây là hiện tượng mà một phe tìm cách liên kết với các thế lực bên trong hay bên ngoài đảng, tạo phản bằng một cuộc truất phế phe đang nắm quyền để giành lấy quyền lực. Ngay lúc này còn nhiều người cho rằng xác suất đảo chánh khó xảy ra vì phe nhóm nào cũng quá yếu, chưa đủ điều kiện ra tay. Nhưng tình hình này sẽ thay đổi nhanh sau vụ bỏ phiếu thông qua Hiến Pháp nói trên.
Chấp Nhận Thay Đổi: Đây là hiện tượng mà lãnh đạo CSVN phải thoái lui, chấp nhận một số thay đổi trước các đòi hỏi của lực lượng dân chủ. Dư luận cho rằng việc Hà Nội cử ông Nguyễn Thiện Nhân, ủy viên bộ chính trị sang nắm Chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc là chuẩn bị cho thế vớt vát để vẫn kiểm soát các đoàn thể quần chúng dù phải chấp nhận nhượng bộ. Dấu hiệu rõ nhất là khi họ bị đẩy vào thế chấp nhận sự hình thành và hiện hữu công khai của xã hội dân sự.
Trong ba kịch bản nói trên, kịch bản chấp nhận thay đổi mang tính "hạ cánh an toàn" nhiều nhất cho giới lãnh đạo Hà Nội; nhưng với bản chất độc tài toàn trị, CSVN vẫn không muốn tiến hành vì vẫn ôm tham vọng độc tài vĩnh viễn. Họ biết là khi có thay đổi chính là lúc khởi đầu của sự sụp đổ.
Tóm lại, đảng Cộng sản Liên Xô đã tan rã sau 70 năm thống trị (1921-1991), và đã tan rã từ bên trong sau cuộc đảo chánh bất thành của phe giáo điều vào mùa hè năm 1991. Năm 2015 tới đây, đánh dấu đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền thống trị cũng vừa đúng 70 năm (1945- 2015).
Đảng CSVN đã có nhiều cơ hội thay đổi để cứu chính họ và cứu đất nước nhưng họ đã không làm. Những suy thoái trong nội bộ đảng, cùng với sự xung đột giữa các phe nhóm trong bộ chính trị hiện nay, cho chúng ta thấy là đảng CSVN khó tránh khỏi cuộc đổ vỡ từ bên trong nếu họ tiếp tục cố thủ trong lô cốt độc tài, tiếp tục quay lưng lại với tất cả những áp suất thay đổi cấp thời của xã hội bên ngoài lẫn hàng ngũ đảng viên bên trong.
Lý Thái Hùng
Ngày 24/11/2013
(Dân luận)
Ngày 28/11/2013 được tiên đoán sẽ là ngày đẹp, ngày vui đối với lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam như ông Nguyễn Sinh Hùng tuyên bố sau khi Quốc hội bỏ phiếu thông qua bản dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992. Tuy nhiên, đối với dư luận chung thì kể từ ngày 28/11 trở đi, đảng CSVN sẽ bắt đầu tiến trình phân hóa do hậu quả chấn thương từ cuộc bỏ phiếu này.
Ngày 28/11/2013 được tiên đoán sẽ là ngày đẹp, ngày vui đối với lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam như ông Nguyễn Sinh Hùng tuyên bố sau khi Quốc hội bỏ phiếu thông qua bản dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992. Tuy nhiên, đối với dư luận chung thì kể từ ngày 28/11 trở đi, đảng CSVN sẽ bắt đầu tiến trình phân hóa do hậu quả chấn thương từ cuộc bỏ phiếu này.
Hai Hội Nghị Rối Trí
Trong hai tháng 10 và 11 năm 2013, đảng Cộng sản Việt Nam đã có hai Hội nghị thu hút nhiều sự chú ý của dư luận. Hội nghị Trung ương đảng 8 khóa 11 từ ngày 30/9 đến 9/10 và kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13 từ ngày 21/10 kéo dài đến đầu tháng 12.
Tuy bản chất của hai Hội nghị có khác nhau, nhưng mục đích chính vẫn là tập trung vào việc tìm ra những giải pháp để cứu nguy tình trạng xuống cấp nhanh chóng của bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước.
Qua hai cuộc họp nói trên, người ta thấy là thành phần ưu tú nhất đang nắm trong tay vận mệnh của đảng Cộng sản và đất nước Việt Nam hoàn toàn hết sáng kiến, loay hoay và rối trí.
Rối trí là vì lãnh đạo đã không dự kiến được những bước chuyển hóa quá nhanh của thời cuộc, chỉ lo đến số phận của riêng họ trên hết, không dám tin vào bất kỳ mô thức nào, và vì thế chỉ biết cố kiềm chế xã hội đi theo khuôn khổ của những chủ trương đã lỗi thời.
Chỉ cần nhìn vào cách lãnh đạo Hà Nội hành xử lúng túng trong việc để các đại biểu Quốc hội thảo luận và thông qua bản dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992, đã biểu hiện một sự cực kỳ lo lắng của bộ chính trị về kết quả bỏ phiếu.
Mặc dù ai cũng biết là nội dung dự thảo hiến pháp sẽ được thông qua vào ngày 28 tháng 11 tới đây, nhưng tỷ số bỏ phiếu sẽ không còn “nhất trí” như những lần tu sửa trước.
Tác động tạo ra hiện trạng này chính là nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam đã không còn là một khối. Nó đã bị chấn thương trầm trọng từ khi Hà Nội đưa ra việc kêu gọi góp ý dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992 vào đầu năm nay rồi lại tung ra các mẹo vặt để chận đứng và phỉ báng các đóng góp nghiêm chỉnh là "suy đồi đạo đức chính trị". Họ thẳng tay ném bỏ những tiếng nói chung đầy tâm huyết vì tương lai đất nước, trong đó, có bản lên tiếng yêu cầu quốc hội hoãn bỏ phiếu thông qua của thành phần trí thức, cựu cán bộ khởi xướng Kiến nghị 72. Chính thái độ khinh thường này đã làm giao động tinh thần của khá nhiều đảng viên vốn thờ ơ trước đây.
Đây là nguy cơ mà lãnh đạo Hà Nội đang rất lo ngại cho sự tồn vong của chế độ hiện nay.
Nguy Cơ Bùng Vỡ Nội Bộ
Cách đây hơn 2 thập niên, sau khi khối Liên Xô tan rã vào năm 1991, đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra bốn nguy cơ làm thước đo sự tồn vong của chế độ.
1/ Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.
2/ Nguy cơ sai lầm về đường lối, đi chệch định hướng XHCN.
3/ Nguy cơ về sự suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
4/ Nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Cứ mỗi 10 năm, Hà Nội lại lượng duyệt các nguy cơ này một lần. Tại Hội nghị 8 khóa IX vào tháng 7 năm 2003, Trung ương đảng dưới thời ông Nông Đức Mạnh làm Tổng bí thư đã dành ra nhiều ngày đánh giá về cái gọi là chiến lược bảo vệ tổ quốc và bốn nguy cơ nói trên.
Mặc dù lúc đó vấn đề tham nhũng, sự lên tiếng cổ súy dân chủ hóa của một số đảng viên có tạo ra sự nhức nhối cho chế độ, nhưng lãnh đạo lại coi sự tụt hậu kinh tế là nguy hiểm nhất nên đã tập trung vào việc xây dựng các tập đoàn kinh tế, tổng công ty với ước mơ đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp tiên tiến vào năm 2020.
Mười năm sau, Hội nghị 8 vào đầu tháng 10 năm 2013 vừa qua, cục diện đã hoàn toàn thay đổi. Mặc dù kinh tế đang gặp khó khăn vì những khuynh loát của các nhóm lợi ích, nhưng theo đánh giá của ông Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu lúc bế mạc Hội nghị 8, nguy cơ sinh tử nhất của chế độ hiện nay, không phải là kinh tế mà chính là hiện tượng tự diễn biến trong nội bộ.
Ông Nguyễn Phú Trọng cho rằng chính nó là chỗ dựa để cho bên ngoài tấn công vào đảng CSVN và là mảnh đất để thế lực thù địch gieo mầm diễn biến hòa bình.
Tuy lãnh đạo Hà Nội xem đó là vấn đề, nhưng giải pháp chọn lựa của họ cũng lại tiếp tục loay hoay giống như 10 năm trước.
Thay vì chấp nhận một số cải cách chính trị theo trào lưu dân chủ hóa toàn cầu, Hà Nội lại cương quyết ngăn chận mọi xu hướng hình thành tổ chức chính trị đối lập, tiếp tục cố thủ trong lô cốt độc tài bằng hai biện pháp phòng và chống tham nhũng, phê và tự phê hoàn toàn mang tính hình thức.
Hai biến cố lớn xảy ra trong lúc Hà Nội kêu gọi góp ý tu sửa hiến pháp là sự kiện ông Lê Hiếu Đằng, một đảng viên cao cấp có 45 năm tuổi đảng kêu gọi bỏ đảng Cộng sản, tham gia lập đảng đối lập, và sự kiện một số trí thức tuyên bố thành lập diễn đàn xã hội dân sự để làm cầu nối cổ súy cho sự phát triển các đoàn thể xã hội dân sự tại Việt Nam, vốn bị chế độ coi là điều cấm kỵ trong nhiều thập niên qua.
Tự thân hai biến cố nói trên là những chuyển biến bình thường trong một xã hội mở; nhưng vì Hà Nội cố tình kiềm chế, thậm chí còn phơi bày những chủ trương phi lý và độc đoán qua việc dùng bộ máy truyền thông của đảng tấn công vào các đoàn thể xã hội, khiến cho nhiều đảng viên chán nản và sẽ lặng lẽ bỏ đảng Cộng sản ra đi.
Ba Kịch Bản Của Nội Bộ Đảng.
Ngày 18 tháng 11 vừa qua, sau khi nghe ông Phạm Trung Lý, trưởng ban soạn thảo dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992 trình bày về cách tiếp thu, chỉnh lý những ý kiến đóng góp của các đại biểu, ông Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội tuyên bố rằng ngày 28 tháng 11 sẽ là “ngày đẹp”.
Ông Nguyễn Sinh Hùng cho đây là “ngày đẹp” vì nghĩ rằng chính ông và bộ chính trị sẽ không còn phải sống trong tâm trạng hồi hộp khi “hộp giun” của bản hiến pháp đã được đóng lại. Nhưng muốn biết viễn cảnh của “ngày đẹp” 28 tháng 11 và tương lai đảng Cộng sản Việt Nam ra sao, chỉ cần nhìn vào sự biến thái về nội dung của các Hội nghị Trung ương đảng trong 2 năm 2012 và 2013 sẽ thấy.
Hội nghị Trung ương 5 và 6 tập trung vào những xung đột thượng tầng lãnh đạo với sự tấn công nhằm triệt hạ uy tín lẫn nhau giữa hai người đứng đầu đảng và chính phủ. Kết quả là bất phân thắng bại.
Hội nghị Trung ương 7 và 8 tập trung vào các vấn đề nội bộ, qua đó các phe tạm thời ngưng chiến để tập trung vào việc củng cố lô cốt độc đảng hầu có thể chuẩn bị suông sẻ đại hội đảng lần thứ 12 vào đầu năm 2016.
Chính vào lúc Bộ chính trị muốn kiềm chế xã hội để tổ chức thành công đại hội đảng kỳ 12 trong hai năm tới, thì sự kiềm chế này đang dẫn đảng Cộng sản Việt Nam vào một trong ba kịch bản.
Tức Nước Vỡ Bờ: Đây là hiện tượng nhiều hỗn loạn nhất khi mà các phe nhóm lãnh đạo vì những kèn cựa quyền lực mà không dám lấy những quyết định quan trọng, thả nổi và tạo ra tình trạng bùng vỡ từ trong đảng ra ngoài xã hội. Đây là tình huống bùng nổ như Tunisia, Ai Cập khi mà người dân và các đảng viên xé rào, bất chấp lệnh lạc từ trung ương.
Đảo Chánh Nội Bộ: Đây là hiện tượng mà một phe tìm cách liên kết với các thế lực bên trong hay bên ngoài đảng, tạo phản bằng một cuộc truất phế phe đang nắm quyền để giành lấy quyền lực. Ngay lúc này còn nhiều người cho rằng xác suất đảo chánh khó xảy ra vì phe nhóm nào cũng quá yếu, chưa đủ điều kiện ra tay. Nhưng tình hình này sẽ thay đổi nhanh sau vụ bỏ phiếu thông qua Hiến Pháp nói trên.
Chấp Nhận Thay Đổi: Đây là hiện tượng mà lãnh đạo CSVN phải thoái lui, chấp nhận một số thay đổi trước các đòi hỏi của lực lượng dân chủ. Dư luận cho rằng việc Hà Nội cử ông Nguyễn Thiện Nhân, ủy viên bộ chính trị sang nắm Chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc là chuẩn bị cho thế vớt vát để vẫn kiểm soát các đoàn thể quần chúng dù phải chấp nhận nhượng bộ. Dấu hiệu rõ nhất là khi họ bị đẩy vào thế chấp nhận sự hình thành và hiện hữu công khai của xã hội dân sự.
Trong ba kịch bản nói trên, kịch bản chấp nhận thay đổi mang tính "hạ cánh an toàn" nhiều nhất cho giới lãnh đạo Hà Nội; nhưng với bản chất độc tài toàn trị, CSVN vẫn không muốn tiến hành vì vẫn ôm tham vọng độc tài vĩnh viễn. Họ biết là khi có thay đổi chính là lúc khởi đầu của sự sụp đổ.
Tóm lại, đảng Cộng sản Liên Xô đã tan rã sau 70 năm thống trị (1921-1991), và đã tan rã từ bên trong sau cuộc đảo chánh bất thành của phe giáo điều vào mùa hè năm 1991. Năm 2015 tới đây, đánh dấu đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền thống trị cũng vừa đúng 70 năm (1945- 2015).
Đảng CSVN đã có nhiều cơ hội thay đổi để cứu chính họ và cứu đất nước nhưng họ đã không làm. Những suy thoái trong nội bộ đảng, cùng với sự xung đột giữa các phe nhóm trong bộ chính trị hiện nay, cho chúng ta thấy là đảng CSVN khó tránh khỏi cuộc đổ vỡ từ bên trong nếu họ tiếp tục cố thủ trong lô cốt độc tài, tiếp tục quay lưng lại với tất cả những áp suất thay đổi cấp thời của xã hội bên ngoài lẫn hàng ngũ đảng viên bên trong.
Lý Thái Hùng
Ngày 24/11/2013
(Dân luận)
Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam
Ngô Nhân Dụng
Chính quyền cộng sản nước ta mới được vào ngồi trong Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc; mặc dù cả thế giới biết họ vẫn liên tục vi phạm tất cả những quyền làm người trong những năm qua. Nhưng khi biết các chính quyền cộng sản độc tài ở Cu Ba, Trung Quốc cũng được vào ngồi trong đó, thì chúng ta có thể hiểu.
Theo quy tắc của Liên Hiệp Quốc, Châu Á được cử 13 nước vào trong hội đồng gồm 47 nước, các nước Á Châu cứ thế thay phiên nhau, mua bán và trao đổi lá phiếu với nhau, chính quyền nước nào cũng đến lượt được vô ngồi trong hội đồng này, sau khi đã ký giấy cam kết sẽ thi hành các điều khoản trong những tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền.
Vì vậy, nhiều người Việt trong nước thấy đây là một cơ hội để công khai đòi hỏi chính quyền cộng sản phải tôn trọng quyền làm người, thực hiện đúng các điều họ đã cam kết. Tại Sài Gòn, một nhóm 40 nhà trí thức đã ký kiến nghị yêu cầu thành lập những hội đồng để thúc đẩy nhân quyền. Ngoài những tên tuổi quen thuộc hay ký tên trong các bản tuyên bố, có nhiều người tư cách đáng kính trọng mà ít khi thấy ký kiến nghị, như nhà báo Huy Ðức và Giáo Sư Ðào Công Tiến. Họ đề nghị hãy lập những “hội đồng nhân quyền,” lập ngay trong guồng máy nhà nước, trong các tổ chức được nhà nước bảo trợ hoặc cho phép. Ðặc biệt họ còn đề nghị tổ chức những nhóm bảo vệ nhân quyền của nhân dân nữa. Họ muốn các nhóm đó sẽ lo phổ biến, truyền đạt kiến thức, tổ chức hội thảo về nhân quyền cho dân Việt Nam hiểu; đồng thời, “cập nhật và quảng bá thông tin về tình hình thực thi nhân quyền tại Việt Nam, dựa vào “14 điều cam kết” mà chính quyền đã ký kết khi nộp đơn ứng cử vào Hội Ðồng Nhân Quyền. Ðây là một ý kiến đáng hoan nghênh; nếu nó được thực hiện mà không để chìm vào quên lãng như bao nhiêu sáng kiến đã đưa ra trong mấy năm qua.
Nhưng một nhóm phụ nữ Việt Nam còn tiến bộ hơn 40 nhà trí thức ở Sài Gòn. Họ không viết kiến nghị xin cho tổ chức những nhóm bảo vệ nhân quyền. Chính họ đứng lên tổ chức lấy; 34 người họp lại, tự đặt lấy danh hiệu là Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam!
Những vị trong nhóm 40 nhà trí thức có tên tuổi đã làm kiến nghị trên đây chắc chắn phải hoan nghênh sáng kiến mới này. Phải hoan nghênh ngay lập tức và ủng hộ hết mình. Bởi vì khi đề nghị tổ chức những nhóm bảo vệ nhân quyền của nhân dân, thì chính họ cũng là nhân dân, chứ có ai không phải là nhân dân đâu? Toàn là những người đã trưởng thành, có trí tuệ và tin tưởng vào giá trị của những quyền con người; chính mình là nhân dân. Tự mình tổ chức được thì tại sao phải xin ai cho phép, hay chờ coi có ai làm giúp cho mình? Hồi còn sống, Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ đã nói một câu đầy ý nghĩa, rằng người dân không thể xin ai ban cho tự do dân chủ mà phải tranh đấu đòi tự do dân chủ. Ông Nguyễn Hữu Thọ hồi đó chỉ nói mà không thấy làm gì. Ông đang làm phó chủ tịch nhà nước, tức là làm quan chứ không còn làm dân nữa; cho nên ông chỉ cổ động người khác thôi. Bây giờ chính các bà, các cô trong nhóm Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam đang thực hiện câu nói của ông Thọ.
Cô Huỳnh Thục Vy là một trong chín người đầu tiên vận động thành lập Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam. Cô nói rằng những nhà đấu tranh bảo vệ nhân quyền trong nước luôn đóng vai thụ động, bị động trước những việc đàn áp của chính quyền. “Từ nay, chị em chúng tôi muốn chủ động.” Rất nhiều người đã tự đóng vai chủ động trong việc bảo vệ quyền làm người của họ, trong đó có hai phụ nữa. Mẹ con Bà Phạm Thị Lài đã khỏa thân để ra đứng giữa mảnh đất đang bị chính quyền cướp chiếm giao cho nhà đầu tư khai thác. Họ đau đớn sau khi chồng bà phải tự tử vì không giữ được mảnh đất sinh nhai. Bà Ðặng Thị Kim Liêng đã tự thiêu khi quyền sống, quyền cư trú bị xâm phạm chỉ vì cô con gái bà là Tạ Phong Tần chống Trung Cộng xâm lăng và bị đàn áp. Ông Ðoàn Văn Vươn tự mình bảo vệ đất đai và công lý cho gia đình mình, dù phải bạo động, khi bị đám tham quan chiếm đoạt. Các bà Phạm Thị Lài, Ðặng Thị Kim Liêng không có khả năng dùng chất nổ, nhưng họ chứng tỏ tinh thần bất khuất không khác gì. Nếu tất cả mọi người dân Việt Nam đều can đảm, không chịu khuất phục như hai bà, thì chắc chắn nước ta không lo sẽ bị nước láng giếng phương Bắc bắt nạt mãi.
Người Việt Nam không quên rằng những cuộc khởi nghĩa đầu tiên “chống Trung Quốc xâm lược” đều do phụ nữ lãnh đạo. Hai Bà Trưng ở Mê Linh cầm đầu cuộc dấy binh kéo theo 65 thành cùng nổi dậy chống quân Hán. Hai thế kỷ sau, bà Triệu Thị Trinh ở Cửu Chân được quân và dân suy tôn là Bà Vua, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô. Hai Bà Trưng và Bà Triệu là những phụ nữ dưới 30 tuổi; riêng Bà Triệu tuổi mới ngoài 20. Các cô Huỳnh Thục Vy, Lê Thị Công Nhân, Trịnh Kim Tiến cũng bắt đầu biết tranh đấu cho quyền làm người vào lớp tuổi đó. Các nữ tướng của Hai Bà Trưng ngày nay còn được dân thờ làm thần trong các làng, thần phả ghi lại sự tích cho biết đa số họ còn trẻ dưới 20 tuổi; trẻ hơn cả cô Nguyễn Phương Uyên.
Cho nên chúng ta có thể tin tưởng vào vai trò đứng đầu sóng ngọn gió của 35 người phụ nữ mới thành lập Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam. Họ đủ trí sáng suốt, thông minh, và thừa can đảm để lãnh đạo công cuộc tranh đấu cho quyền làm người của dân Việt Nam.
Bà Dương Thị Tân, vợ của nhà báo tự do Ðiếu Cày đang bị tù, đã nhắn với các quốc gia trong Liên Hiệp Quốc, qua một nhân viên Tòa Ðại Sứ Úc tại Hà Nội, bà nói rằng: “Quý vị biết Việt Nam có một hồ sơ nhân quyền tồi tệ nhưng quý vị đã bỏ phiếu cho Việt Nam vào Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc thì quý vị phải chịu trách nhiệm về lá phiếu của mình. Từ nay trở đi, nếu có một trường hợp người Việt Nam nào, đặc biệt và phụ nữ Việt Nam, bị sách nhiễu hoặc bỏ tù thì người đó chính là nạn nhân của Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc.” Câu nói này cần được dịch sang đủ các ngôn ngữ trên thế giới để phổ biến.
Cô Huỳnh Thục Vy biết sẽ phải vận dụng các phương pháp đấu tranh như thế nào. Trước hết là phải quảng bá cho thế giới biết tổ chức mới này. Cô nói: “Chúng tôi đã có những kênh liên lạc cần thiết với các tổ chức phi chính phủ (NGO) bảo vệ Nhân quyền quốc tế, với các tòa đại sứ và các báo đài. Việc lên tiếng với giới truyền thông và các nhà ngoại giao là việc vô cùng quan trọng.” Vận động ngoại giao quan trọng thật. Bởi vì chính quyền cộng sản Việt Nam không sợ dân chúng mà chỉ sợ dư luận thế giới tạo áp lực cắt bớt viện trợ hoặc đầu tư. Dùng công an chó săn đánh đập, bắt bớ người dân thì dễ, nhưng không thể đánh hay bắt những người cho tiền hoặc đem tiền đến nước ta làm ăn! Nếu thiếu viện trợ và bị giới đầu tư tẩy chay thì công cuộc kiếm tiền, làm giầu cho gia đình các quan chức sẽ bị đình trệ!
Khác với 40 nhà trí thức Sài Gòn chỉ viết kiến nghị xin lập ra các hội đồng nhân quyền mà không nói rõ các hội đồng này phải làm gì nếu chính quyền không tôn trọng quyền làm người của dân; 35 phụ nữ biết công việc của họ là phải làm gì. Và họ nêu lên những việc rất cụ thể và hữu ích.
Cô Huỳnh Thục Vy nói đến những việc làm như: “Trợ giúp tài chính, viếng thăm thân nhân của người bị đàn áp là việc tiếp theo. Cuối cùng nếu một người bị bắt, chúng tôi sẽ tìm kiếm luật sư và vận động các nhà ngoại giao các quốc gia tự do tạo áp lực chính quyền trả tự do cho người bị bắt.”
Những công việc trên đây là việc chung của tất cả mọi người dân Việt Nam, ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Cộng sản ở bên Nga, bên Tàu đều phải hỗ trợ những nhà tranh đấu đòi dân chủ tự do ở trong nước và gia đình họ. Phải tạo dư luận trên trường ngoại giao khắp thế giới để đòi chính quyền cộng sản tôn trọng những điều họ cam kết khi xin vào ngồi trong Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc.
Vì vậy, chúng ta cần nhiệt liệt hưởng ứng những người đang đi tiên phong, Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam. Họ là những bà Aung San Suu Kyi của nước Việt Nam.
Ngô Nhân Dụng
Chính quyền cộng sản nước ta mới được vào ngồi trong Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc; mặc dù cả thế giới biết họ vẫn liên tục vi phạm tất cả những quyền làm người trong những năm qua. Nhưng khi biết các chính quyền cộng sản độc tài ở Cu Ba, Trung Quốc cũng được vào ngồi trong đó, thì chúng ta có thể hiểu.
Theo quy tắc của Liên Hiệp Quốc, Châu Á được cử 13 nước vào trong hội đồng gồm 47 nước, các nước Á Châu cứ thế thay phiên nhau, mua bán và trao đổi lá phiếu với nhau, chính quyền nước nào cũng đến lượt được vô ngồi trong hội đồng này, sau khi đã ký giấy cam kết sẽ thi hành các điều khoản trong những tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền.
Vì vậy, nhiều người Việt trong nước thấy đây là một cơ hội để công khai đòi hỏi chính quyền cộng sản phải tôn trọng quyền làm người, thực hiện đúng các điều họ đã cam kết. Tại Sài Gòn, một nhóm 40 nhà trí thức đã ký kiến nghị yêu cầu thành lập những hội đồng để thúc đẩy nhân quyền. Ngoài những tên tuổi quen thuộc hay ký tên trong các bản tuyên bố, có nhiều người tư cách đáng kính trọng mà ít khi thấy ký kiến nghị, như nhà báo Huy Ðức và Giáo Sư Ðào Công Tiến. Họ đề nghị hãy lập những “hội đồng nhân quyền,” lập ngay trong guồng máy nhà nước, trong các tổ chức được nhà nước bảo trợ hoặc cho phép. Ðặc biệt họ còn đề nghị tổ chức những nhóm bảo vệ nhân quyền của nhân dân nữa. Họ muốn các nhóm đó sẽ lo phổ biến, truyền đạt kiến thức, tổ chức hội thảo về nhân quyền cho dân Việt Nam hiểu; đồng thời, “cập nhật và quảng bá thông tin về tình hình thực thi nhân quyền tại Việt Nam, dựa vào “14 điều cam kết” mà chính quyền đã ký kết khi nộp đơn ứng cử vào Hội Ðồng Nhân Quyền. Ðây là một ý kiến đáng hoan nghênh; nếu nó được thực hiện mà không để chìm vào quên lãng như bao nhiêu sáng kiến đã đưa ra trong mấy năm qua.
Nhưng một nhóm phụ nữ Việt Nam còn tiến bộ hơn 40 nhà trí thức ở Sài Gòn. Họ không viết kiến nghị xin cho tổ chức những nhóm bảo vệ nhân quyền. Chính họ đứng lên tổ chức lấy; 34 người họp lại, tự đặt lấy danh hiệu là Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam!
Những vị trong nhóm 40 nhà trí thức có tên tuổi đã làm kiến nghị trên đây chắc chắn phải hoan nghênh sáng kiến mới này. Phải hoan nghênh ngay lập tức và ủng hộ hết mình. Bởi vì khi đề nghị tổ chức những nhóm bảo vệ nhân quyền của nhân dân, thì chính họ cũng là nhân dân, chứ có ai không phải là nhân dân đâu? Toàn là những người đã trưởng thành, có trí tuệ và tin tưởng vào giá trị của những quyền con người; chính mình là nhân dân. Tự mình tổ chức được thì tại sao phải xin ai cho phép, hay chờ coi có ai làm giúp cho mình? Hồi còn sống, Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ đã nói một câu đầy ý nghĩa, rằng người dân không thể xin ai ban cho tự do dân chủ mà phải tranh đấu đòi tự do dân chủ. Ông Nguyễn Hữu Thọ hồi đó chỉ nói mà không thấy làm gì. Ông đang làm phó chủ tịch nhà nước, tức là làm quan chứ không còn làm dân nữa; cho nên ông chỉ cổ động người khác thôi. Bây giờ chính các bà, các cô trong nhóm Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam đang thực hiện câu nói của ông Thọ.
Cô Huỳnh Thục Vy là một trong chín người đầu tiên vận động thành lập Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam. Cô nói rằng những nhà đấu tranh bảo vệ nhân quyền trong nước luôn đóng vai thụ động, bị động trước những việc đàn áp của chính quyền. “Từ nay, chị em chúng tôi muốn chủ động.” Rất nhiều người đã tự đóng vai chủ động trong việc bảo vệ quyền làm người của họ, trong đó có hai phụ nữa. Mẹ con Bà Phạm Thị Lài đã khỏa thân để ra đứng giữa mảnh đất đang bị chính quyền cướp chiếm giao cho nhà đầu tư khai thác. Họ đau đớn sau khi chồng bà phải tự tử vì không giữ được mảnh đất sinh nhai. Bà Ðặng Thị Kim Liêng đã tự thiêu khi quyền sống, quyền cư trú bị xâm phạm chỉ vì cô con gái bà là Tạ Phong Tần chống Trung Cộng xâm lăng và bị đàn áp. Ông Ðoàn Văn Vươn tự mình bảo vệ đất đai và công lý cho gia đình mình, dù phải bạo động, khi bị đám tham quan chiếm đoạt. Các bà Phạm Thị Lài, Ðặng Thị Kim Liêng không có khả năng dùng chất nổ, nhưng họ chứng tỏ tinh thần bất khuất không khác gì. Nếu tất cả mọi người dân Việt Nam đều can đảm, không chịu khuất phục như hai bà, thì chắc chắn nước ta không lo sẽ bị nước láng giếng phương Bắc bắt nạt mãi.
Người Việt Nam không quên rằng những cuộc khởi nghĩa đầu tiên “chống Trung Quốc xâm lược” đều do phụ nữ lãnh đạo. Hai Bà Trưng ở Mê Linh cầm đầu cuộc dấy binh kéo theo 65 thành cùng nổi dậy chống quân Hán. Hai thế kỷ sau, bà Triệu Thị Trinh ở Cửu Chân được quân và dân suy tôn là Bà Vua, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô. Hai Bà Trưng và Bà Triệu là những phụ nữ dưới 30 tuổi; riêng Bà Triệu tuổi mới ngoài 20. Các cô Huỳnh Thục Vy, Lê Thị Công Nhân, Trịnh Kim Tiến cũng bắt đầu biết tranh đấu cho quyền làm người vào lớp tuổi đó. Các nữ tướng của Hai Bà Trưng ngày nay còn được dân thờ làm thần trong các làng, thần phả ghi lại sự tích cho biết đa số họ còn trẻ dưới 20 tuổi; trẻ hơn cả cô Nguyễn Phương Uyên.
Cho nên chúng ta có thể tin tưởng vào vai trò đứng đầu sóng ngọn gió của 35 người phụ nữ mới thành lập Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam. Họ đủ trí sáng suốt, thông minh, và thừa can đảm để lãnh đạo công cuộc tranh đấu cho quyền làm người của dân Việt Nam.
Bà Dương Thị Tân, vợ của nhà báo tự do Ðiếu Cày đang bị tù, đã nhắn với các quốc gia trong Liên Hiệp Quốc, qua một nhân viên Tòa Ðại Sứ Úc tại Hà Nội, bà nói rằng: “Quý vị biết Việt Nam có một hồ sơ nhân quyền tồi tệ nhưng quý vị đã bỏ phiếu cho Việt Nam vào Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc thì quý vị phải chịu trách nhiệm về lá phiếu của mình. Từ nay trở đi, nếu có một trường hợp người Việt Nam nào, đặc biệt và phụ nữ Việt Nam, bị sách nhiễu hoặc bỏ tù thì người đó chính là nạn nhân của Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc.” Câu nói này cần được dịch sang đủ các ngôn ngữ trên thế giới để phổ biến.
Cô Huỳnh Thục Vy biết sẽ phải vận dụng các phương pháp đấu tranh như thế nào. Trước hết là phải quảng bá cho thế giới biết tổ chức mới này. Cô nói: “Chúng tôi đã có những kênh liên lạc cần thiết với các tổ chức phi chính phủ (NGO) bảo vệ Nhân quyền quốc tế, với các tòa đại sứ và các báo đài. Việc lên tiếng với giới truyền thông và các nhà ngoại giao là việc vô cùng quan trọng.” Vận động ngoại giao quan trọng thật. Bởi vì chính quyền cộng sản Việt Nam không sợ dân chúng mà chỉ sợ dư luận thế giới tạo áp lực cắt bớt viện trợ hoặc đầu tư. Dùng công an chó săn đánh đập, bắt bớ người dân thì dễ, nhưng không thể đánh hay bắt những người cho tiền hoặc đem tiền đến nước ta làm ăn! Nếu thiếu viện trợ và bị giới đầu tư tẩy chay thì công cuộc kiếm tiền, làm giầu cho gia đình các quan chức sẽ bị đình trệ!
Khác với 40 nhà trí thức Sài Gòn chỉ viết kiến nghị xin lập ra các hội đồng nhân quyền mà không nói rõ các hội đồng này phải làm gì nếu chính quyền không tôn trọng quyền làm người của dân; 35 phụ nữ biết công việc của họ là phải làm gì. Và họ nêu lên những việc rất cụ thể và hữu ích.
Cô Huỳnh Thục Vy nói đến những việc làm như: “Trợ giúp tài chính, viếng thăm thân nhân của người bị đàn áp là việc tiếp theo. Cuối cùng nếu một người bị bắt, chúng tôi sẽ tìm kiếm luật sư và vận động các nhà ngoại giao các quốc gia tự do tạo áp lực chính quyền trả tự do cho người bị bắt.”
Những công việc trên đây là việc chung của tất cả mọi người dân Việt Nam, ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Cộng sản ở bên Nga, bên Tàu đều phải hỗ trợ những nhà tranh đấu đòi dân chủ tự do ở trong nước và gia đình họ. Phải tạo dư luận trên trường ngoại giao khắp thế giới để đòi chính quyền cộng sản tôn trọng những điều họ cam kết khi xin vào ngồi trong Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc.
Vì vậy, chúng ta cần nhiệt liệt hưởng ứng những người đang đi tiên phong, Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam. Họ là những bà Aung San Suu Kyi của nước Việt Nam.
Mất Nước Là Mất Tất Cả
Tác giả : Vi Anh
Thông tấn xã Pháp AFP ngày 24/11/2013 loan tải Đảng Hồi giáo Đông Thổ nhận là tác giả vụ tấn công Thiên An Môn xảy ra vào ngày 28/10/2013, ba người Duy Ngô Nhĩ cùng một gia đình ở Tân Cương đã tấn công cảm tử, lao chiếc xe jeep chở đầy các bình xăng vào Tử Cấm Thành, 5 người chết và 40 người bị thương, sập lan can cầu vào Tử Cấm Thành, dưới chân dung của Mao trạch Đông, một địa điểm biểu tượng quyền lực bất khả xâm phạm của TC.
Theo Đài RFI của Pháp, tin này AFP khai thác từ một băng video 8 phút được mạng lưới Mỹ chuyên giám sát các trang mạng Hồi giáo phát giác. Thủ lãnh đảng này là Abdullah Mansour đeo mặt nạ nói bằng tiếng Duy ngô nhĩ, khẳng định vụ tấn công Thiên An Môn hồi cuối tháng 10 là một «hoạt động thánh chiến» và cảnh báo sẽ còn xảy ra nhiều vụ khác nữa. Vụ tới sẽ nhắm vào Đại sảnh đường Nhân dân cũng nằm tại quảng trường Thiên An Môn. Ông cảnh cáo “bọn phản đạo Trung Quốc, các người đã lường gạt Đông Thổ trong 60 năm qua, nhưng chúng tôi đã thức tỉnh». Chữ Đông Thổ Ông dùng là nước Đông Turkestan của người Duy ngô nhĩ, đại đa số theo Hồi Giáo, nói tiếng Thổ nhĩ kỳ, bị TC thôn tính, sáp nhập vào nước Trung Quốc, thành một tỉnh gọi là Tân Cương, biến người Duy Ngô Nhĩ mất quê hương trên quê cha đất tổ của mình.
Nhìn người Duy ngô nhĩ và nước Đông Thổ chạnh nghĩ đến Việt Nam với CS Trung Quốc và CS Việt Nam mà lo sợ cho số phận tương lai của quốc gia dân tộc Việt nếu người Việt không làm một cái gì đó để cứu nguy quốc gia dân tộc.
Trong thi văn giáo lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ của Phật Giáo Hoà Hảo có câu: “Bắc Kỳ sau hoá ruộng sâu, Tàu man nó đến giăn câu đặt lờ.” Thảm cảnh người Việt mất quê hương trên quê cha đất tổ của mình, mất giang sơn gấm vóc nước nhà vào tay Trung Cộng, người dân Việt Nam thiệt hại, thiệt thòi, đau khổ tận cùng như người Duy ngô nhĩ nếu người dân Việt bây giờ không lo chống thù trong, giặc ngoài.
Bây giờ nếu người dân Việt không chống thù trong là CS Hà nội hay Việt Cộng và giặc ngoài là CS Bắc Kinh hay TC; bây giờ nếu người dân Việt còn có thể làm được một cái gì cho quê cha đất tổ mà không làm đợi khi TC liên kết chặt được với thù trong giặc ngoài thì TC nạn Hán hoá VN của Bắc Triều sẽ làm cho người dân Việt sẽ mất tất cả vì mất nước là mất tất cả.
Lúc đó muốn không mất gốc phải cảm tử, muốn đánh động lương tâm đồng bào, lương tâm Nhân Loại trước hành động cào bằng văn hoá VN, biến người Việt thành sắc tộc thiểu số, biến nước Việt thành quận huyện của nước Tàu, người Việt phải đổ máu như người dân Duy Ngô Nhỉ ở Tân Cương, phải quyết tử để Tổ Quốc tái sinh như người Duy ngô nhĩ. Mà than ôi, kết quả của những hy sinh cao quí, lớn lao đó không bao nhiêu vì nội lực dân tộc bi kẻ thù phân tán và chánh nghĩa của một quốc gia dân tộc yếu thường bị quyền lợi vật chất của các siêu cường bỏ quên.
Như ngay tại Tân Cương từ lâu người Duy ngô nhĩ gần như phải đổ máu hàng tuần, mà có siêu cường nào can thiệp. Báo Le Monde của Pháp cho biết, hai người Duy Ngô Nhỉ đã liều mạng đêm 30/07/2011đâm chết 8 người và gây thương tích cho 28 nhân viên công lực của TC tại thành phố Kashgar (Khách Thập), Tân Cương. Trước đó hai tuần, người Duy ngô nhĩ tấn công cảm tử vào trụ sở công an ở Hòa Tân, giết 20 công an và 14 người Duy ngô nhĩ bị công an bắn chết. Kể từ năm 2009 tới ngày 30/07/2011hơn 200 người đã thiệt mạng trong các cuộc xô xát giữa hai nhóm người Hán thân TC và người Duy Ngô Nhĩ.
TC lúc nào cũng lợi dụng cuộc chiến chống khủng bố trên thế giới chụp mũ mọi cuộc chiến đấu đòi độc lập và tự trị của người Duy ngô nhĩ kể cả nhưng tăng ni phật tử Tây Tạng tự thiêu chống TC cũng bị TC chụp mũ là quân khủng bố.
Tổ chức bảo vệ nhân quyền thế giới đã hơn một lần vạch trần và tố cáo âm mưu chụp mũ khủng bố người Duy ngô nhĩ chống Hán hoá là khủng bố.
TC đã đùa đẩy người Duy ngô nhĩ vào chân tường, phải dùng vũ khí vật chất hay tinh thần để chống lại kẻ thù cướp đạt quên hương, xứ sở, cào bằng văn hoá của quốc gia dân tộc mình.
Ngay như đất nước và nhân dân Trung Hoa hay Hoa kỳ rơi vào trường hợp này, người dân cũng phải dùng vũ khí tinh thần hay vật chất chống lại kẻ thù xâm lược, đem xương trắng máu đào, hy sinh núi xương sông máu ra để chống quân thù – triệu tỷ lần bạo lực hơn người Duy ngô nhĩ, Tây Tạng nữa.
Chớ không phải như những chánh trị gia thiên tả, giả đạo đức và thực dụng của các siêu cường Tây Phương như Mỹ vì mải mê quyền lợi kinh thương với TC, bày đặt khuyên người dân bị áp bức, bóc lột, bi cướp quê hương, cướp quyền sống nên bất bạo động, bảo ôn hoà. Tại sao những kẻ sống dư thừa trong phòng điều hoà không khí này lại câm họng trước những hành động tội ác diệt chủng, tội ác chống nhân loại của TC đối với người Duy ngô nhĩ, người Tây Tạng?
Tại sao câm họng trước hành động khủng bố nhà nước của TC. Bắc Kinh thường ra lịnh thiết quân luật ở Tân Cương để cấm truyền thông quốc tế đến đây và cấm các cuộc tụ tập của người Duy ngô nhĩ.
Tại sao những chánh trị gia Tây Phương không thể mở những cuộc điều tra và tố cáo cho thế giới biết như nhà báo Pascale Nivelle, thông tín viên của báo Liberation của Pháp liều mình lên lỏi tìm hiểu và nói lên cho thế giới biết. Từ năm 2009 TC ra lịnh tiêu hủy tất cả những kiến trúc cỗ truyền, đặc sắc của nền văn minh Duy ngô nhĩ để xây dựng lên một thành phố tân kỳ nhưng vô hồn. Như Đức Quốc Xã ra lịnh triệt hạ Tour Eiffel của Pháp ở Paris với lý do để tránh bị sấm sét. Nhà báo hỏi như vậy để trả lời tại sao người Duy ngo nhĩ làm một cuộc chiến tranh văn hoá chống lại ý đồ của TC Hán hoá một cách có hệ thống đất nước của người Duy ngô nhĩ.
Trước thánh thất linh thiêng Id Kah của người Duy ngô Nhĩ, TC cho mở rạp hát của người TC, treo hình quảng cáo phim hở hang, phát thanh ồn ào những bài hát trong giờ cầu nguyện của người Hồi Giáo.
Trường đạo Hồi Xanliq nổi danh thế giới ở Kashgar, xây cất từ năm 1442, qua một đêm TC san bằng thành bình địa.
Cũng như bao đế quốc thực dân, TC bô bô biện minh TC đem văn minh đến khai hoá cho người dân địa phương. Nhưng TC bòn vét tài nguyên của các nước bị thôn tính chở về Tàu, đưa dân Tàu qua định cư chiếm lấy các nguồn tài nguyên và guồng máy cai trị, biến thuộc địa thành lãnh thố, quận, huyện của nước Tàu. Chưa vừa lòng TC cào bằng văn hoá dân bản địa và áp đặt văn hoá Hán tộc lên để thay thế./.(Vi Anh)
Tác giả : Vi Anh
Thông tấn xã Pháp AFP ngày 24/11/2013 loan tải Đảng Hồi giáo Đông Thổ nhận là tác giả vụ tấn công Thiên An Môn xảy ra vào ngày 28/10/2013, ba người Duy Ngô Nhĩ cùng một gia đình ở Tân Cương đã tấn công cảm tử, lao chiếc xe jeep chở đầy các bình xăng vào Tử Cấm Thành, 5 người chết và 40 người bị thương, sập lan can cầu vào Tử Cấm Thành, dưới chân dung của Mao trạch Đông, một địa điểm biểu tượng quyền lực bất khả xâm phạm của TC.
Theo Đài RFI của Pháp, tin này AFP khai thác từ một băng video 8 phút được mạng lưới Mỹ chuyên giám sát các trang mạng Hồi giáo phát giác. Thủ lãnh đảng này là Abdullah Mansour đeo mặt nạ nói bằng tiếng Duy ngô nhĩ, khẳng định vụ tấn công Thiên An Môn hồi cuối tháng 10 là một «hoạt động thánh chiến» và cảnh báo sẽ còn xảy ra nhiều vụ khác nữa. Vụ tới sẽ nhắm vào Đại sảnh đường Nhân dân cũng nằm tại quảng trường Thiên An Môn. Ông cảnh cáo “bọn phản đạo Trung Quốc, các người đã lường gạt Đông Thổ trong 60 năm qua, nhưng chúng tôi đã thức tỉnh». Chữ Đông Thổ Ông dùng là nước Đông Turkestan của người Duy ngô nhĩ, đại đa số theo Hồi Giáo, nói tiếng Thổ nhĩ kỳ, bị TC thôn tính, sáp nhập vào nước Trung Quốc, thành một tỉnh gọi là Tân Cương, biến người Duy Ngô Nhĩ mất quê hương trên quê cha đất tổ của mình.
Nhìn người Duy ngô nhĩ và nước Đông Thổ chạnh nghĩ đến Việt Nam với CS Trung Quốc và CS Việt Nam mà lo sợ cho số phận tương lai của quốc gia dân tộc Việt nếu người Việt không làm một cái gì đó để cứu nguy quốc gia dân tộc.
Trong thi văn giáo lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ của Phật Giáo Hoà Hảo có câu: “Bắc Kỳ sau hoá ruộng sâu, Tàu man nó đến giăn câu đặt lờ.” Thảm cảnh người Việt mất quê hương trên quê cha đất tổ của mình, mất giang sơn gấm vóc nước nhà vào tay Trung Cộng, người dân Việt Nam thiệt hại, thiệt thòi, đau khổ tận cùng như người Duy ngô nhĩ nếu người dân Việt bây giờ không lo chống thù trong, giặc ngoài.
Bây giờ nếu người dân Việt không chống thù trong là CS Hà nội hay Việt Cộng và giặc ngoài là CS Bắc Kinh hay TC; bây giờ nếu người dân Việt còn có thể làm được một cái gì cho quê cha đất tổ mà không làm đợi khi TC liên kết chặt được với thù trong giặc ngoài thì TC nạn Hán hoá VN của Bắc Triều sẽ làm cho người dân Việt sẽ mất tất cả vì mất nước là mất tất cả.
Lúc đó muốn không mất gốc phải cảm tử, muốn đánh động lương tâm đồng bào, lương tâm Nhân Loại trước hành động cào bằng văn hoá VN, biến người Việt thành sắc tộc thiểu số, biến nước Việt thành quận huyện của nước Tàu, người Việt phải đổ máu như người dân Duy Ngô Nhỉ ở Tân Cương, phải quyết tử để Tổ Quốc tái sinh như người Duy ngô nhĩ. Mà than ôi, kết quả của những hy sinh cao quí, lớn lao đó không bao nhiêu vì nội lực dân tộc bi kẻ thù phân tán và chánh nghĩa của một quốc gia dân tộc yếu thường bị quyền lợi vật chất của các siêu cường bỏ quên.
Như ngay tại Tân Cương từ lâu người Duy ngô nhĩ gần như phải đổ máu hàng tuần, mà có siêu cường nào can thiệp. Báo Le Monde của Pháp cho biết, hai người Duy Ngô Nhỉ đã liều mạng đêm 30/07/2011đâm chết 8 người và gây thương tích cho 28 nhân viên công lực của TC tại thành phố Kashgar (Khách Thập), Tân Cương. Trước đó hai tuần, người Duy ngô nhĩ tấn công cảm tử vào trụ sở công an ở Hòa Tân, giết 20 công an và 14 người Duy ngô nhĩ bị công an bắn chết. Kể từ năm 2009 tới ngày 30/07/2011hơn 200 người đã thiệt mạng trong các cuộc xô xát giữa hai nhóm người Hán thân TC và người Duy Ngô Nhĩ.
TC lúc nào cũng lợi dụng cuộc chiến chống khủng bố trên thế giới chụp mũ mọi cuộc chiến đấu đòi độc lập và tự trị của người Duy ngô nhĩ kể cả nhưng tăng ni phật tử Tây Tạng tự thiêu chống TC cũng bị TC chụp mũ là quân khủng bố.
Tổ chức bảo vệ nhân quyền thế giới đã hơn một lần vạch trần và tố cáo âm mưu chụp mũ khủng bố người Duy ngô nhĩ chống Hán hoá là khủng bố.
TC đã đùa đẩy người Duy ngô nhĩ vào chân tường, phải dùng vũ khí vật chất hay tinh thần để chống lại kẻ thù cướp đạt quên hương, xứ sở, cào bằng văn hoá của quốc gia dân tộc mình.
Ngay như đất nước và nhân dân Trung Hoa hay Hoa kỳ rơi vào trường hợp này, người dân cũng phải dùng vũ khí tinh thần hay vật chất chống lại kẻ thù xâm lược, đem xương trắng máu đào, hy sinh núi xương sông máu ra để chống quân thù – triệu tỷ lần bạo lực hơn người Duy ngô nhĩ, Tây Tạng nữa.
Chớ không phải như những chánh trị gia thiên tả, giả đạo đức và thực dụng của các siêu cường Tây Phương như Mỹ vì mải mê quyền lợi kinh thương với TC, bày đặt khuyên người dân bị áp bức, bóc lột, bi cướp quê hương, cướp quyền sống nên bất bạo động, bảo ôn hoà. Tại sao những kẻ sống dư thừa trong phòng điều hoà không khí này lại câm họng trước những hành động tội ác diệt chủng, tội ác chống nhân loại của TC đối với người Duy ngô nhĩ, người Tây Tạng?
Tại sao câm họng trước hành động khủng bố nhà nước của TC. Bắc Kinh thường ra lịnh thiết quân luật ở Tân Cương để cấm truyền thông quốc tế đến đây và cấm các cuộc tụ tập của người Duy ngô nhĩ.
Tại sao những chánh trị gia Tây Phương không thể mở những cuộc điều tra và tố cáo cho thế giới biết như nhà báo Pascale Nivelle, thông tín viên của báo Liberation của Pháp liều mình lên lỏi tìm hiểu và nói lên cho thế giới biết. Từ năm 2009 TC ra lịnh tiêu hủy tất cả những kiến trúc cỗ truyền, đặc sắc của nền văn minh Duy ngô nhĩ để xây dựng lên một thành phố tân kỳ nhưng vô hồn. Như Đức Quốc Xã ra lịnh triệt hạ Tour Eiffel của Pháp ở Paris với lý do để tránh bị sấm sét. Nhà báo hỏi như vậy để trả lời tại sao người Duy ngo nhĩ làm một cuộc chiến tranh văn hoá chống lại ý đồ của TC Hán hoá một cách có hệ thống đất nước của người Duy ngô nhĩ.
Trước thánh thất linh thiêng Id Kah của người Duy ngô Nhĩ, TC cho mở rạp hát của người TC, treo hình quảng cáo phim hở hang, phát thanh ồn ào những bài hát trong giờ cầu nguyện của người Hồi Giáo.
Trường đạo Hồi Xanliq nổi danh thế giới ở Kashgar, xây cất từ năm 1442, qua một đêm TC san bằng thành bình địa.
Cũng như bao đế quốc thực dân, TC bô bô biện minh TC đem văn minh đến khai hoá cho người dân địa phương. Nhưng TC bòn vét tài nguyên của các nước bị thôn tính chở về Tàu, đưa dân Tàu qua định cư chiếm lấy các nguồn tài nguyên và guồng máy cai trị, biến thuộc địa thành lãnh thố, quận, huyện của nước Tàu. Chưa vừa lòng TC cào bằng văn hoá dân bản địa và áp đặt văn hoá Hán tộc lên để thay thế./.(Vi Anh)
'Vùng Phòng Không,' sai lầm chiến lược của Trung Quốc
HOA KỲ (NV) - Cuối tuần qua, Trung Quốc tuyên bố một “khu vực phòng không” (ADIZ) mới, có hiệu lực vào lúc 10 giờ sáng thứ Ba,
23 tháng Mười Một, 2013. Khu vực này bao phủ một phần lớn ngoài khơi vùng biển đang tranh chấp giữa các nước Á Châu.
Khu vực phòng không này nằm trong vùng Biển Đông, kéo dài khoảng 900 km từ Bắc xuống Nam, theo một bản đồ do Trung Quốc công bố,
trong đó bao gồm cả quần đảo Senkaku.

Vùng “không phận phòng thủ” của Trung Quốc trên máy điện toán thuộc Bộ Quốc Phòng Trung Quốc. (Hình: AP Photo/Ng Han Guan)
Mặc cho Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đưa ra những lời giải thích bài bản, rằng đây là hành động phòng vệ để bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ trên vùng trời của họ, hành động này được xem là tạo thêm áp lực lên cuộc tranh trấp biển đảo trên quần đảo Senkaku với Nhật Bản, một đồng minh thân thiết của Hoa Kỳ.
Trung Quốc cũng cảnh báo, tất cả máy bay bay qua khu vực phòng không này phải thông báo lý lịch và tuân theo mệnh lệnh của Bắc Kinh.
Việc làm của Trung Quốc lập tức tạo ra nhiều phản ứng của nhiều nước trên thế giới.
Hoa Kỳ, dĩ nhiên thách thức ngay khu vực phòng không này bằng cách cho quân đội Mỹ đưa hai chiếc oanh tạc cơ B-52 không vũ trang bay vào vùng này, mà không thèm thông báo cho Trung Quốc.
Trung Quốc tuy không gây trở ngại này cho hai chiếc oanh tạc cơ của Mỹ, nhưng sau đó nói rằng họ “theo dõi toàn bộ chuyến bay” của các máy bay đó và kịp thời nhận dạng.
Trong khi đó, qua một tuyên bố ngày 25/11, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe phản đối kịch liệt hành động của Trung Quốc, nhấn mạnh rằng “Nhật Bản sẽ làm tất cả để bảo vệ chủ quyền.”
Quan trọng hơn, các chuyên viên phân tích và quan sát tình hình thế giới cho rằng đây là hành động "không khôn ngoan" của Trung Quốc.
Bà Bonnie Glaser, chuyên gia về Á Châu vụ tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế ở Washington, DC, nhận định là quyết định của Trung Quốc tạo ảnh hưởng bất lợi cho chính họ trong khu vực.
Trong khi đó, ông Michael Mazza, một thành viên của viện nghiên cứu tại American Enterprise Institute, lên tiếng cảnh báo, sự kiện này sẽ tạo ra nhiều diễn tiến khiến Trung Quốc sau này có thể sẽ hối hận.
Theo ông Mazza, Trung Quốc có thể sẽ hối hận không chỉ vì việc tuyên bố khu vực phòng không mới tạo thêm nguy cơ có những đụng chạm nẩy lửa ở Biển Đông, mà là có những ảnh hưởng chính sách lâu dài của những nước liên quan.
Láng giềng bực mình
Chuyên gia nghiên cứu Mazza cho rằng, trước hết khu vực phòng không tạo ra những “mâu thuẫn không cần có với Đài Loan và Nam Hàn,” tạo một nếp nhăn vào quan hệ đang phẳng lặng tại một eo biển đang ổn định, vì hiện Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền trên một phần của đảo Senkaku (được gọi là Diaoyutai ở Đài Loan), và giờ đây Đài Loan có khu vực phòng không chồng chéo với Trung Quốc.
Trong bối cảnh quan hệ hiện đang rất ấm áp giữa Trung Quốc và Hàn Quốc, theo Mazza thì khu vực phòng không mới của Trung Quốc còn đáng ngạc nhiên hơn. Gần đây Nam Hàn có những tranh cãi kịch liệt với Nhật Bản, và Bắc Kinh chính là thủ phạm khơi lên ngọn lửa căng thẳng đó.
Khu vực phòng không mới của Trung Quốc chồng chéo với khu vực phòng không của Nam Hàn, vì bao phủ cả vùng tranh chấp Socotra Rock (mà cả hai nước tuyên bố là nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của mình), và có thể kéo dài quá gần đến quần đảo Jeju, nơi Nam Hàn đang thiết lập một căn cứ hải quân lớn. Chỉ trong một lời tuyên bố ngắn ngủi, Bắc Kinh vô tình nhắc nhở Seoul rằng Nam Hàn có nhiều điểm chung với Nhật Bản hơn nước này muốn thừa nhận.
Hoa Kỳ có thể xét lại?
Nguy hiểm hơn, vẫn theo nghiên cứu gia Mazza, thay vì để yên cho Washington ở trạng thái e ngại không muốn dính vào tranh chấp Biển Đông, khu vực phòng không mới của Trung Quốc được xem là một thách thức với việc Hoa Kỳ hỗ trợ Nhật Bản, và quyền tự do hoạt động của Hoa Kỳ trong không phận quốc tế trên vùng biển đầy tranh chấp này.
Những ai nghi ngờ lập luận của Michael Mazza, chỉ cần phân tích kỹ những lời tuyên bố của cả Ngoại trưởng John Kerry và Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel, thì sẽ thấy sự thật.
Bày tỏ sự quan ngại của mình, Ngoại trưởng John Kerry mô tả việc Trung Quốc tuyên bố khu vực phòng không mới như một sự "leo thang" và "hành động đơn phương" nhằm mục đích "thay đổi hiện trạng" khu vực.
Trong khi đó, mô tả hành động của Trung Quốc là "gây bất ổn," Hagel cảm thấy cần phải khẳng định rằng việc thiết lập khu vực phòng không "sẽ không ảnh hưởng gì đến việc Mỹ tiến hành hoạt động quân sự trong khu vực" và "tái khẳng định" "Điều V của Hiệp ước Quốc phòng giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ áp dụng cả lên quần đảo Senkaku."
Nhìn xa hơn, nhiều phân tích gia cho rằng tình hình thậm chí còn có thể trở nên tệ hại hơn cho Trung Quốc nếu hành động này dẫn đến việc Hoa Kỳ xét lại vị trí đứng ngoài tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, vị trí mà từ trước đến nay Hoa Thịnh Đốn hết sức cố gắng duy trì.
Trong tuyên bố của mình, Kerry lưu ý Trung Quốc: "Chúng tôi không hỗ trợ những nỗ lực của bất kỳ quốc gia nào áp dụng thủ tục khu vực phòng không của mình cho máy bay nước ngoài không có ý định nhập không phận quốc gia của họ."
Điều này đặt ra một câu hỏi thú vị: Nếu máy bay Mỹ hoạt động trong vùng lân cận của quần đảo Senkaku, và từ chối yêu cầu phải thông báo lý lịch của Trung Quốc, thì hành động này có được xem là một sự ngầm phản đối tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo này không?
Đối với Nhật Bản, chính sách của Mỹ liên quan đến quần đảo Senkaku trước đến giờ hơi khó hiểu: Hoa Kỳ một mặt công nhận quyền quản trị của Nhật Bản trên các hòn đảo ở quần đảo Senkaku, nhưng không có ý kiến gì về tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, nhưng lại xem việc bảo vệ những hòn đảo này là một nghĩa vụ hiệp ước giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản. Lập luận bênh vực cho việc duy trì chính sách mơ hồ này đang yếu dần. Một chính quyền Obama hiện đang ngày càng mệt mỏi trước những thách thức của Trung Quốc, có thể sẽ phải tìm cách để cho Trung Quốc biết một cách rõ ràng rằng liên minh Mỹ-Nhật là một một điều không thể lay chuyển.
Thật ra không ai có thể biết chính xác tại sao Trung Quốc đi đến quyết định được xem là có vẻ đánh giá sai lầm về phản ứng của thế giới.
Tuy còn quá sớm để kết luận, đa số giới quan sát đồng ý với nhau rằng khu vực phòng không mới của Trung Quốc có thể là một sai lầm chiến lược, một động thái gây nhiều bất lợi cho chính họ, và gây hậu quả lâu dài trong sự ổn định tình hình ở Châu Á. (H.G.)
HOA KỲ (NV) - Cuối tuần qua, Trung Quốc tuyên bố một “khu vực phòng không” (ADIZ) mới, có hiệu lực vào lúc 10 giờ sáng thứ Ba,
23 tháng Mười Một, 2013. Khu vực này bao phủ một phần lớn ngoài khơi vùng biển đang tranh chấp giữa các nước Á Châu.
Khu vực phòng không này nằm trong vùng Biển Đông, kéo dài khoảng 900 km từ Bắc xuống Nam, theo một bản đồ do Trung Quốc công bố,
trong đó bao gồm cả quần đảo Senkaku.

Vùng “không phận phòng thủ” của Trung Quốc trên máy điện toán thuộc Bộ Quốc Phòng Trung Quốc. (Hình: AP Photo/Ng Han Guan)
Mặc cho Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đưa ra những lời giải thích bài bản, rằng đây là hành động phòng vệ để bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ trên vùng trời của họ, hành động này được xem là tạo thêm áp lực lên cuộc tranh trấp biển đảo trên quần đảo Senkaku với Nhật Bản, một đồng minh thân thiết của Hoa Kỳ.
Trung Quốc cũng cảnh báo, tất cả máy bay bay qua khu vực phòng không này phải thông báo lý lịch và tuân theo mệnh lệnh của Bắc Kinh.
Việc làm của Trung Quốc lập tức tạo ra nhiều phản ứng của nhiều nước trên thế giới.
Hoa Kỳ, dĩ nhiên thách thức ngay khu vực phòng không này bằng cách cho quân đội Mỹ đưa hai chiếc oanh tạc cơ B-52 không vũ trang bay vào vùng này, mà không thèm thông báo cho Trung Quốc.
Trung Quốc tuy không gây trở ngại này cho hai chiếc oanh tạc cơ của Mỹ, nhưng sau đó nói rằng họ “theo dõi toàn bộ chuyến bay” của các máy bay đó và kịp thời nhận dạng.
Trong khi đó, qua một tuyên bố ngày 25/11, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe phản đối kịch liệt hành động của Trung Quốc, nhấn mạnh rằng “Nhật Bản sẽ làm tất cả để bảo vệ chủ quyền.”
Quan trọng hơn, các chuyên viên phân tích và quan sát tình hình thế giới cho rằng đây là hành động "không khôn ngoan" của Trung Quốc.
Bà Bonnie Glaser, chuyên gia về Á Châu vụ tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế ở Washington, DC, nhận định là quyết định của Trung Quốc tạo ảnh hưởng bất lợi cho chính họ trong khu vực.
Trong khi đó, ông Michael Mazza, một thành viên của viện nghiên cứu tại American Enterprise Institute, lên tiếng cảnh báo, sự kiện này sẽ tạo ra nhiều diễn tiến khiến Trung Quốc sau này có thể sẽ hối hận.
Theo ông Mazza, Trung Quốc có thể sẽ hối hận không chỉ vì việc tuyên bố khu vực phòng không mới tạo thêm nguy cơ có những đụng chạm nẩy lửa ở Biển Đông, mà là có những ảnh hưởng chính sách lâu dài của những nước liên quan.
Láng giềng bực mình
Chuyên gia nghiên cứu Mazza cho rằng, trước hết khu vực phòng không tạo ra những “mâu thuẫn không cần có với Đài Loan và Nam Hàn,” tạo một nếp nhăn vào quan hệ đang phẳng lặng tại một eo biển đang ổn định, vì hiện Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền trên một phần của đảo Senkaku (được gọi là Diaoyutai ở Đài Loan), và giờ đây Đài Loan có khu vực phòng không chồng chéo với Trung Quốc.
Trong bối cảnh quan hệ hiện đang rất ấm áp giữa Trung Quốc và Hàn Quốc, theo Mazza thì khu vực phòng không mới của Trung Quốc còn đáng ngạc nhiên hơn. Gần đây Nam Hàn có những tranh cãi kịch liệt với Nhật Bản, và Bắc Kinh chính là thủ phạm khơi lên ngọn lửa căng thẳng đó.
Khu vực phòng không mới của Trung Quốc chồng chéo với khu vực phòng không của Nam Hàn, vì bao phủ cả vùng tranh chấp Socotra Rock (mà cả hai nước tuyên bố là nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của mình), và có thể kéo dài quá gần đến quần đảo Jeju, nơi Nam Hàn đang thiết lập một căn cứ hải quân lớn. Chỉ trong một lời tuyên bố ngắn ngủi, Bắc Kinh vô tình nhắc nhở Seoul rằng Nam Hàn có nhiều điểm chung với Nhật Bản hơn nước này muốn thừa nhận.
Hoa Kỳ có thể xét lại?
Nguy hiểm hơn, vẫn theo nghiên cứu gia Mazza, thay vì để yên cho Washington ở trạng thái e ngại không muốn dính vào tranh chấp Biển Đông, khu vực phòng không mới của Trung Quốc được xem là một thách thức với việc Hoa Kỳ hỗ trợ Nhật Bản, và quyền tự do hoạt động của Hoa Kỳ trong không phận quốc tế trên vùng biển đầy tranh chấp này.
Những ai nghi ngờ lập luận của Michael Mazza, chỉ cần phân tích kỹ những lời tuyên bố của cả Ngoại trưởng John Kerry và Bộ trưởng Quốc phòng Chuck Hagel, thì sẽ thấy sự thật.
Bày tỏ sự quan ngại của mình, Ngoại trưởng John Kerry mô tả việc Trung Quốc tuyên bố khu vực phòng không mới như một sự "leo thang" và "hành động đơn phương" nhằm mục đích "thay đổi hiện trạng" khu vực.
Trong khi đó, mô tả hành động của Trung Quốc là "gây bất ổn," Hagel cảm thấy cần phải khẳng định rằng việc thiết lập khu vực phòng không "sẽ không ảnh hưởng gì đến việc Mỹ tiến hành hoạt động quân sự trong khu vực" và "tái khẳng định" "Điều V của Hiệp ước Quốc phòng giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ áp dụng cả lên quần đảo Senkaku."
Nhìn xa hơn, nhiều phân tích gia cho rằng tình hình thậm chí còn có thể trở nên tệ hại hơn cho Trung Quốc nếu hành động này dẫn đến việc Hoa Kỳ xét lại vị trí đứng ngoài tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, vị trí mà từ trước đến nay Hoa Thịnh Đốn hết sức cố gắng duy trì.
Trong tuyên bố của mình, Kerry lưu ý Trung Quốc: "Chúng tôi không hỗ trợ những nỗ lực của bất kỳ quốc gia nào áp dụng thủ tục khu vực phòng không của mình cho máy bay nước ngoài không có ý định nhập không phận quốc gia của họ."
Điều này đặt ra một câu hỏi thú vị: Nếu máy bay Mỹ hoạt động trong vùng lân cận của quần đảo Senkaku, và từ chối yêu cầu phải thông báo lý lịch của Trung Quốc, thì hành động này có được xem là một sự ngầm phản đối tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo này không?
Đối với Nhật Bản, chính sách của Mỹ liên quan đến quần đảo Senkaku trước đến giờ hơi khó hiểu: Hoa Kỳ một mặt công nhận quyền quản trị của Nhật Bản trên các hòn đảo ở quần đảo Senkaku, nhưng không có ý kiến gì về tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, nhưng lại xem việc bảo vệ những hòn đảo này là một nghĩa vụ hiệp ước giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản. Lập luận bênh vực cho việc duy trì chính sách mơ hồ này đang yếu dần. Một chính quyền Obama hiện đang ngày càng mệt mỏi trước những thách thức của Trung Quốc, có thể sẽ phải tìm cách để cho Trung Quốc biết một cách rõ ràng rằng liên minh Mỹ-Nhật là một một điều không thể lay chuyển.
Thật ra không ai có thể biết chính xác tại sao Trung Quốc đi đến quyết định được xem là có vẻ đánh giá sai lầm về phản ứng của thế giới.
Tuy còn quá sớm để kết luận, đa số giới quan sát đồng ý với nhau rằng khu vực phòng không mới của Trung Quốc có thể là một sai lầm chiến lược, một động thái gây nhiều bất lợi cho chính họ, và gây hậu quả lâu dài trong sự ổn định tình hình ở Châu Á. (H.G.)
Trung Cộng Lầm Mỹ
Tác giả : Vi Anh Thời sự và sự kiện liên quan đến TC đánh võ mồm với các nước Á châu Thái bình dương, bị mất mặt với Mỹ một cách thê thảm vì hành động của Mỹ. Nguyên người khổng lồ chân đất sét là Trung Cộng mới đây đơn phương, ngang ngược tuyên bố mở rộng ‘vùng nhận dạng phòng không’ của mình trên phần lớn không phận, hải phận của vùng biển đảo Senkaku của Nhựt, bắt buộc máy bay các nước phải trình báo cho TC lý lịch phi cơ, lộ trình di chuyển, tầng số truyền tin và xin phép TC bay ngang qua, nếu không sẽ bị TC đáp trả bằng biện pháp quân sự. Trước một quyết định ngang ngược như vậy dĩ nhiên có rất nhiều phản đối. Trước nhứt là phản đối có tính ngoại giao. Nhật Bổn và Nam Hàn tuyên bố bác bỏ. Đài Loan ra thông báo «không liên hệ» gì với quyết định của Hoa lục. Mỹ, Phủ Tổng Thống coi đó một “diễn tiến leo thang” của TC, Bộ Trưởng Quốc Phòng gọi đó là “một nỗ lực gây bất ổn nhằm xáo trộn hiện trạng‘ trên Biển Hoa Đông. Kế đó là hành động phủ nhận. Mỹ đi đầu. Mỹ tỉnh bơ cho hai phản lực cơ chiến đấu B52 bay qua vùng trời mà TC tuyên bố là vùng phòng không của TC; Mỹ chẳng thèm cho TC hay biết gì. TC không có hành động đối phó nào cả. Xin nói rõ là ‘hành động’ chớ không phải lời nói đánh giặc miệng hay võ mồm mà TC thường tuyên bố như ‘long tranh, hổ đấu, hăm doạ rùm beng đối với các nước khi bất bình TC. Báo chí thế giới đánh giá TC thấy mềm thí nắn, rắn thì buông, chớ không dám đụng chạm Mỹ. Mất mặt quá, TC tuyên bố có theo dõi, giám sát phi hành của hai B52 này của Mỹ. Và báo chí bán chính thức của Đảng Nhà Nước TC, là tờ Hoàn Cầu Thới báo ấn bản tiếng Anh, Global Times gỡ gạt mặt mày cho TC, theo thói quen đổ tội cho kẻ khác, tránh cho Đảng, phê bình quân lực TC phản ứng quá chậm trước B-52 của Mỹ.
Không bao lâu sau, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ tuyên bố Điếu Ngư là thuộc Nhựt, Mỹ có nghĩa vụ giúp Nhựt khi bị tấn công. Nhựt bổn và Nam Hàn, hai đồng minh chí thân của Mỹ, hai nước hiện có mấy chục ngàn quân Mỹ hiện diện, hai đối tượng chánh mà TC hù doạ để nắn gân Mỹ, cũng điều máy bay quân sự của riêng họ vào không phận mà TC tuyên bố là vùng nhận dạng phòng không của TC. Báo bán chính thức của TC ấn bản tiếng Anh lại nói mục tiêu của vùng nhận dạng phòng không là nhắm vào Nhựt, nhằm chia rẽ Mỹ Nhựt, một cách trơ trẻn và trẻ con.
Tiềp theo có tin Phó TT Mỹ Biden công du Á châu, trong đó thế nào cũng ghé Bắc Kinh, và thế nào cũng có bàn với các giới chức Đảng Nhà Nước TC về thời sự và sự kiện này. Chánh quyền Mỹ yêu cầu hàng không dân sự Mỹ phải báo cho TC khi qua vùng nhận dạng hàng không. Đó là thông lệ hàng không dân dụng chính máy bay Nhựt và Nam Hàn cũng làm thế khi mới có lịnh của TC nhưng sau đó không thi hành. Nhưng Mỹ cho hàng không mẫu hạm diễn tập với Nhựt cách vùng TC tuyên bố 300 km thôi.
Thì một Thiếu tướng Không Quân của Trung Quốc là Kiều Lương, một người CS quá nhỏ như một lâu la so với Đảng Nhà Nước TC nói với thông tấn xã Chinanews, rằng: “Trung Quốc sẽ bắn hạ bất cứ máy bay nào bị coi là 'thù địch' và coi thường cảnh cáo của nước này, khi cố tình xâm phạm vùng nhận diện phòng không mà Trung Quốc mới xác lập”. Nhưng y còn đưa ra những dè dặt coi như không dám làm, mà chỉ đánh võ mồm, bằng cách nói trước khi bắn, trước tiên sẽ xác định máy bay đối phương có thù địch hay không, tiếp đó sẽ điều máy bay bám theo và giám sát chặt chẽ, sau đó là đánh chặn và trục xuất, và bước cuối cùng là "bắn hạ máy bay đối phương trong trường hợp cần thiết”.
Tổng hợp thông tin, nghị luận trên thế giới, đối chiếu cuộc đánh võ mồm này của TC với các cuộc khác trước đây, không ai tin đây là hành động ngẩu hứng của những người quân nhân hay giơi chức của Đảng Nhà Nước quá khích, có tiền cừu hậu hận với Nhựt. Mà đây là mặt trận tuyên truyền, một loại chiến tranh tâm lý, chiến tranh chánh trị của TC trong chiến thuật, chiến lược bành trướng chiếm biển đảo của các nước láng giếng cũa TC.
Đây là hành động chánh trị có tính toán, có hệ thống mà tân Chủ Tich Tập Cận Bình là người chủ xướng. Mùa hè năm ngoái, Chủ tịch Tập Cận Bình đã đánh dấu thời triều đại của mình, bằng lời kêu gọi toàn đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện ‘giấc mơ Trung Hoa’ trên thế giới. Ông kêu gọi huy động tổng lực để Trung Quốc trở thành một đại cường trên biển.
Đây là việc làm có tính toán, TC dựa vào thời cơ thuận lợi cho TC. Trung Cộng tuyên bố vùng nhận dạng phòng không này trong lúc chánh quyền Mỹ, nhứt là Ngoại Trưởng Kerry đang quá bận bịu, hầu như dành hầu hết thì giờ cho Trung Đông, cho các cuộc dàn xếp ngoại giao hoà đàm cho Syria, giảm thiểu mối nguy nguyên tử ở Iran, và chương trình rút quân, để quân lại cho Afghanistan với rắc rối là TT Karzai chưa chịu ký hiệp ước, hội đồng trưởng tộc không nhượng bộ cho toà án Mỹ được xét xử quân nhân Mỹ phạm tội tại nước Afghanistan.
Từ lâu cả hai năm nay Mỹ tuyên bố chuyển trục quân lực sang Á châu Thái Bình Dương mà chưa thấy Mỹ có một bước ngoặt cụ thể nào đáng kể. Trái lại chánh quyền Mỹ gặp nhiều rắc rối trong nước đến đổi có lúc phải đóng cửa một phần, TT Obama phải huỷ chuyến công du Á châu, không dự được hội nghị thượng đĩnh APEC, để vận dộng cho hiệp ước TPP bao vây kinh tế TC. TT Mỹ bỏ trống sân chơi mặc cho Chủ Tịch TC Tập cận Bình vai mang túi bạc kè kè, giương oai diệu võ với các nước Á châu Thái bình Dương.
Trong chiến dịch giương oai diệu võ, tạo trận võ mồm này, TC chẳng những làm ở bắc Á châu Thái bình dương với lời tuyên bố mở rộng chủ quyền ‘nhận dạng phòng không’ của TC mà TC còn quậy đục nước vùng Nam Á châu Thái bình Dương nữa. Gần như song hành, TC tung hàng không mẫu hạm duy nhứt có ba hộ tống hạm đi theo vào vùng Biển Đông của VN nơi mà TC đã tuyên bố bản đồ hình lưỡi bó liếm mất 80% Biển Đông của VN, trong đó có Hoàng sa và Trường sa của VN mà TC đã xâm chiếm, thôn tính, sáp nhập thành huyện Tam sa trực thuộc tỉnh Hải Nam của TC.
Nhưng Đảng Nhà Nước TC nói chung và Tập cận Bình nói nói riêng đã hiểu lầm Mỹ. Mỹ không khoa trương vì là một siêu cường già dặn lâu đời từ sau Thế Chiến 2. Mỹ hành động là chánh yếu. Mỹ hành động bằng quyên lực vừa cứng vừa mềm để tạo thế lực và uy tín đệ nhứt siêu cường, giữ thế vượt trội trên đại dương và không trung, trong Thế Giới Tự do lâu rồi.
Mỹ biết chắc còn lâu TC mới dám dùng biện pháp quân sự đối với hai máy bay B52 của Mỹ bay qua cái gọi là vùng nhân dạng phòng không của TC. Mỹ bất cần lời tuyên bố phòng không của TC. Mỹ biết TC chỉ dùng lời mạnh bạo để thăm dò, thử nắn gân Mỹ coi dám đối phó với TC hay không, thử đánh giá tương quan quân sự của Mỹ trong việc bảo vệ đồng minh Nhựt ra sao. Nếu Mỹ tỏ ra yếu xìu, bất động, tỏ ra không đứng vào phe nào trong tranh chấp biển đảo, cứ để cho TC cưỡng hành lịnh mở rộng phòng không, thì TC sẽ làm tới. Bằng không thì thôi, TC tìm lời viện lẽ cho đỡ mất mặt. Rồi có dịp tiếp tục đánh trận giăc mồm khác nữa, để tuyên truyền với ‘quần chúng nhân dân TQ’ trong nước, rằng Đảng Nhà Nước CS ‘thời đại’ Tập cận Bình ‘hạ quyết tâm, tiến mạnh, tiến vững chắc’ vào ‘giấc mơ Trung Hoa’ Cộng sản.
Nhưng chuyện chánh trị ngoại giao quốc tế không giản dị như vậy. Chính TC đã giúp cho Mỹ có thêm chính nghĩa, thế chánh đáng trở lại Á châu và ngăn chận đà bánh trướnng của TC. Chính TC đã đùa đẩy các nước láng giềng gắn mình vào vòng tay Mỹ, giúp họ tin Mỹ hơn, xem Mỹ là lá chắn, là điều kiện trật tự ổn định trong vùng./.(Vi Anh)
Tác giả : Vi Anh Thời sự và sự kiện liên quan đến TC đánh võ mồm với các nước Á châu Thái bình dương, bị mất mặt với Mỹ một cách thê thảm vì hành động của Mỹ. Nguyên người khổng lồ chân đất sét là Trung Cộng mới đây đơn phương, ngang ngược tuyên bố mở rộng ‘vùng nhận dạng phòng không’ của mình trên phần lớn không phận, hải phận của vùng biển đảo Senkaku của Nhựt, bắt buộc máy bay các nước phải trình báo cho TC lý lịch phi cơ, lộ trình di chuyển, tầng số truyền tin và xin phép TC bay ngang qua, nếu không sẽ bị TC đáp trả bằng biện pháp quân sự. Trước một quyết định ngang ngược như vậy dĩ nhiên có rất nhiều phản đối. Trước nhứt là phản đối có tính ngoại giao. Nhật Bổn và Nam Hàn tuyên bố bác bỏ. Đài Loan ra thông báo «không liên hệ» gì với quyết định của Hoa lục. Mỹ, Phủ Tổng Thống coi đó một “diễn tiến leo thang” của TC, Bộ Trưởng Quốc Phòng gọi đó là “một nỗ lực gây bất ổn nhằm xáo trộn hiện trạng‘ trên Biển Hoa Đông. Kế đó là hành động phủ nhận. Mỹ đi đầu. Mỹ tỉnh bơ cho hai phản lực cơ chiến đấu B52 bay qua vùng trời mà TC tuyên bố là vùng phòng không của TC; Mỹ chẳng thèm cho TC hay biết gì. TC không có hành động đối phó nào cả. Xin nói rõ là ‘hành động’ chớ không phải lời nói đánh giặc miệng hay võ mồm mà TC thường tuyên bố như ‘long tranh, hổ đấu, hăm doạ rùm beng đối với các nước khi bất bình TC. Báo chí thế giới đánh giá TC thấy mềm thí nắn, rắn thì buông, chớ không dám đụng chạm Mỹ. Mất mặt quá, TC tuyên bố có theo dõi, giám sát phi hành của hai B52 này của Mỹ. Và báo chí bán chính thức của Đảng Nhà Nước TC, là tờ Hoàn Cầu Thới báo ấn bản tiếng Anh, Global Times gỡ gạt mặt mày cho TC, theo thói quen đổ tội cho kẻ khác, tránh cho Đảng, phê bình quân lực TC phản ứng quá chậm trước B-52 của Mỹ.
Không bao lâu sau, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ tuyên bố Điếu Ngư là thuộc Nhựt, Mỹ có nghĩa vụ giúp Nhựt khi bị tấn công. Nhựt bổn và Nam Hàn, hai đồng minh chí thân của Mỹ, hai nước hiện có mấy chục ngàn quân Mỹ hiện diện, hai đối tượng chánh mà TC hù doạ để nắn gân Mỹ, cũng điều máy bay quân sự của riêng họ vào không phận mà TC tuyên bố là vùng nhận dạng phòng không của TC. Báo bán chính thức của TC ấn bản tiếng Anh lại nói mục tiêu của vùng nhận dạng phòng không là nhắm vào Nhựt, nhằm chia rẽ Mỹ Nhựt, một cách trơ trẻn và trẻ con.
Tiềp theo có tin Phó TT Mỹ Biden công du Á châu, trong đó thế nào cũng ghé Bắc Kinh, và thế nào cũng có bàn với các giới chức Đảng Nhà Nước TC về thời sự và sự kiện này. Chánh quyền Mỹ yêu cầu hàng không dân sự Mỹ phải báo cho TC khi qua vùng nhận dạng hàng không. Đó là thông lệ hàng không dân dụng chính máy bay Nhựt và Nam Hàn cũng làm thế khi mới có lịnh của TC nhưng sau đó không thi hành. Nhưng Mỹ cho hàng không mẫu hạm diễn tập với Nhựt cách vùng TC tuyên bố 300 km thôi.
Thì một Thiếu tướng Không Quân của Trung Quốc là Kiều Lương, một người CS quá nhỏ như một lâu la so với Đảng Nhà Nước TC nói với thông tấn xã Chinanews, rằng: “Trung Quốc sẽ bắn hạ bất cứ máy bay nào bị coi là 'thù địch' và coi thường cảnh cáo của nước này, khi cố tình xâm phạm vùng nhận diện phòng không mà Trung Quốc mới xác lập”. Nhưng y còn đưa ra những dè dặt coi như không dám làm, mà chỉ đánh võ mồm, bằng cách nói trước khi bắn, trước tiên sẽ xác định máy bay đối phương có thù địch hay không, tiếp đó sẽ điều máy bay bám theo và giám sát chặt chẽ, sau đó là đánh chặn và trục xuất, và bước cuối cùng là "bắn hạ máy bay đối phương trong trường hợp cần thiết”.
Tổng hợp thông tin, nghị luận trên thế giới, đối chiếu cuộc đánh võ mồm này của TC với các cuộc khác trước đây, không ai tin đây là hành động ngẩu hứng của những người quân nhân hay giơi chức của Đảng Nhà Nước quá khích, có tiền cừu hậu hận với Nhựt. Mà đây là mặt trận tuyên truyền, một loại chiến tranh tâm lý, chiến tranh chánh trị của TC trong chiến thuật, chiến lược bành trướng chiếm biển đảo của các nước láng giếng cũa TC.
Đây là hành động chánh trị có tính toán, có hệ thống mà tân Chủ Tich Tập Cận Bình là người chủ xướng. Mùa hè năm ngoái, Chủ tịch Tập Cận Bình đã đánh dấu thời triều đại của mình, bằng lời kêu gọi toàn đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện ‘giấc mơ Trung Hoa’ trên thế giới. Ông kêu gọi huy động tổng lực để Trung Quốc trở thành một đại cường trên biển.
Đây là việc làm có tính toán, TC dựa vào thời cơ thuận lợi cho TC. Trung Cộng tuyên bố vùng nhận dạng phòng không này trong lúc chánh quyền Mỹ, nhứt là Ngoại Trưởng Kerry đang quá bận bịu, hầu như dành hầu hết thì giờ cho Trung Đông, cho các cuộc dàn xếp ngoại giao hoà đàm cho Syria, giảm thiểu mối nguy nguyên tử ở Iran, và chương trình rút quân, để quân lại cho Afghanistan với rắc rối là TT Karzai chưa chịu ký hiệp ước, hội đồng trưởng tộc không nhượng bộ cho toà án Mỹ được xét xử quân nhân Mỹ phạm tội tại nước Afghanistan.
Từ lâu cả hai năm nay Mỹ tuyên bố chuyển trục quân lực sang Á châu Thái Bình Dương mà chưa thấy Mỹ có một bước ngoặt cụ thể nào đáng kể. Trái lại chánh quyền Mỹ gặp nhiều rắc rối trong nước đến đổi có lúc phải đóng cửa một phần, TT Obama phải huỷ chuyến công du Á châu, không dự được hội nghị thượng đĩnh APEC, để vận dộng cho hiệp ước TPP bao vây kinh tế TC. TT Mỹ bỏ trống sân chơi mặc cho Chủ Tịch TC Tập cận Bình vai mang túi bạc kè kè, giương oai diệu võ với các nước Á châu Thái bình Dương.
Trong chiến dịch giương oai diệu võ, tạo trận võ mồm này, TC chẳng những làm ở bắc Á châu Thái bình dương với lời tuyên bố mở rộng chủ quyền ‘nhận dạng phòng không’ của TC mà TC còn quậy đục nước vùng Nam Á châu Thái bình Dương nữa. Gần như song hành, TC tung hàng không mẫu hạm duy nhứt có ba hộ tống hạm đi theo vào vùng Biển Đông của VN nơi mà TC đã tuyên bố bản đồ hình lưỡi bó liếm mất 80% Biển Đông của VN, trong đó có Hoàng sa và Trường sa của VN mà TC đã xâm chiếm, thôn tính, sáp nhập thành huyện Tam sa trực thuộc tỉnh Hải Nam của TC.
Nhưng Đảng Nhà Nước TC nói chung và Tập cận Bình nói nói riêng đã hiểu lầm Mỹ. Mỹ không khoa trương vì là một siêu cường già dặn lâu đời từ sau Thế Chiến 2. Mỹ hành động là chánh yếu. Mỹ hành động bằng quyên lực vừa cứng vừa mềm để tạo thế lực và uy tín đệ nhứt siêu cường, giữ thế vượt trội trên đại dương và không trung, trong Thế Giới Tự do lâu rồi.
Mỹ biết chắc còn lâu TC mới dám dùng biện pháp quân sự đối với hai máy bay B52 của Mỹ bay qua cái gọi là vùng nhân dạng phòng không của TC. Mỹ bất cần lời tuyên bố phòng không của TC. Mỹ biết TC chỉ dùng lời mạnh bạo để thăm dò, thử nắn gân Mỹ coi dám đối phó với TC hay không, thử đánh giá tương quan quân sự của Mỹ trong việc bảo vệ đồng minh Nhựt ra sao. Nếu Mỹ tỏ ra yếu xìu, bất động, tỏ ra không đứng vào phe nào trong tranh chấp biển đảo, cứ để cho TC cưỡng hành lịnh mở rộng phòng không, thì TC sẽ làm tới. Bằng không thì thôi, TC tìm lời viện lẽ cho đỡ mất mặt. Rồi có dịp tiếp tục đánh trận giăc mồm khác nữa, để tuyên truyền với ‘quần chúng nhân dân TQ’ trong nước, rằng Đảng Nhà Nước CS ‘thời đại’ Tập cận Bình ‘hạ quyết tâm, tiến mạnh, tiến vững chắc’ vào ‘giấc mơ Trung Hoa’ Cộng sản.
Nhưng chuyện chánh trị ngoại giao quốc tế không giản dị như vậy. Chính TC đã giúp cho Mỹ có thêm chính nghĩa, thế chánh đáng trở lại Á châu và ngăn chận đà bánh trướnng của TC. Chính TC đã đùa đẩy các nước láng giềng gắn mình vào vòng tay Mỹ, giúp họ tin Mỹ hơn, xem Mỹ là lá chắn, là điều kiện trật tự ổn định trong vùng./.(Vi Anh)

