Bình Luận Thời Sự
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
“Thoát Trung”, “thoát Cộng” và “thoát Sợ”, cái “thoát” nào là nền tảng?
Nguyễn Chính Kết "...Một trong những khẩu ngôn rất giá trị nói lên bí quyết để “thoát Cộng” là: “Đừng sợ những gì cộng sản làm, hãy làm những gì cộng sản sợ”. Khẩu ngôn này gồm hai vế “Đừng sợ” và “Hãy làm”. “Đừng sợ” là nội dung chính của cả bài này. Còn “Hãy làm” thì chúng ta cần xác định xem cộng sản sợ gì nhất. Thưa: điều cộng sản sợ nhất hiện nay, chính là sợ người dân không còn sợ khủng bố nữa, nghĩa là CSVN rất sợ chính sách khủng bố của mình bị vô hiệu hóa, không còn hữu hiệu hay tác dụng nữa. Cộng sản tồn tại được là nhờ người dân sợ khủng bố. Khi người dân không còn sợ khủng bố nữa, thì đó là lúc nỗi sợ hãi sẽ quay ngược trở lại để trở thành nỗi kinh hoàng cho chính kẻ khủng bố. Và đó là lúc chính thức báo hiệu “hết thời” cho cả một chế độ phi nhân tàn bạo..."
Chuyện “thoát Trung” là điều mà đảng CSVN cần thiết phải làm, có trách nhiệm phải làm và có thể làm được để đất nước thoát khỏi hiểm họa Bắc thuộc lần thứ năm đang có nguy cơ rất lớn trở thành hiện thực. Tuy nhiên, cho tới nay, nhà cầm quyền CSVN chưa hề tỏ một dấu hiệu nào đáng tin tưởng chứng tỏ thiện chí thật sự muốn “thoát Trung” để cứu nguy đất nước cả.
Hiện nay, qua việc bỏ tù những người chống Trung Cộng xâm lược như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Việt Khang, Bùi Minh Hằng, Phương Uyên, Nguyên Kha, v.v... và qua việc đàn áp mạnh tay những người biểu tình chống Trung Cộng xâm lược, ta thấy rõ ràng rằng những người dân yêu nước, muốn bảo vệ lãnh thổ lãnh hải, chống Trung Cộng xâm lược... đều không chỉ bị Trung cộng mà ngay cả CSVN coi như kẻ thù cần phải tiêu diệt.
Hành động của Trung cộng xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam, bắn giết ngư dân Việt Nam, đặt nhiều giàn khoan dầu vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, rõ ràng là hành động xâm lược Việt Nam cách nghiêm trọng, thế mà CSVN không hề có một hành động nào mạnh mẽ và hữu hiệu ngăn cản hành động xâm lược đó cả. Chính vì thế, hành động xâm lược của Trung cộng có điều kiện để càng ngày càng leo thang. Qua thái độ của CSVN đối với Trung Cộng và đối với người dân yêu nước, ta có thể đoán ngay được rằng CSVN vẫn sẵn sàng làm công cụ cho Trung cộng, tiếp tay với Trung cộng trong mưu đồ thôn tính Việt Nam.
Nếu tình trạng này cứ tiếp diễn, ắt hẳn đất nước Việt sẽ không thoát khỏi tình trạng bị Trung Cộng thôn tính. Đừng chờ khi Việt Nam đã trở thành một tỉnh của Trung cộng rồi, chúng ta mới dám xác định những điều vừa kể.
Ý thức được nguy cơ ấy, chẳng lẽ dân Việt lại phó thác số phận dân tộc mình cho đảng CSVN quyết định ra sao cũng được? Chẳng lẽ cả một dân tộc có lịch sử chống Tàu rất anh hùng lại phó mặc để CSVN dâng đất nước cho Tàu? Chẳng lẽ chúng ta lại sẵn sàng cúi đầu chấp nhận làm thân phận người dân thuộc địa của Trung cộng?
Trong hoàn cảnh này, người dân Việt Nam nếu không tự cứu mình thì chẳng ai có thể cứu mình được. Toàn dân chúng ta phải dành lại quyền quyết định số phận của mình chứ không thể phó thác quyền ấy cho đảng CSVN, vốn đã từng nhiều lần bán đất bán biển của tổ tiên cho kẻ thù dân tộc. Vì thế, vấn đề trước mắt của người dân Việt trong và ngoài nước hiện nay không phải là chuyện “thoát Trung”, mà là “thoát Cộng”. Nghĩa là phải thoát khỏi ách thống trị của chế độ CSVN, không để cho CSVN đè đầu cưỡi cổ và toàn quyền định đoạt số phận cho cả dân tộc nữa. Một khi đã “thoát Cộng” thì việc “thoát Trung” cũng trở nên rất dễ dàng.
Đối với nhà cầm quyền CSVN, “thoát Trung” vốn chỉ là cái ngọn, còn cái gốc của vấn đề này là CSVN có chấp nhận từ bỏ tham vọng muốn “muôn đời trường trị” trên dân tộc Việt Nam hay không, có sẵn sàng từ bỏ quyết tâm bám lấy quyền lực để cưỡi cổ đè đầu người dân Việt Nam hay không, có thật sự từ bỏ ý định làm công cụ cho tham vọng bành trướng của Trung Cộng hay không. Nếu không, việc “thoát Trung” chỉ là ảo tưởng!
Tương tự như vậy đối với người dân Việt Nam, “thoát Cộng” cũng chỉ là cái ngọn, còn cái gốc của vấn đề là người dân Việt có thoát được nỗi sợ hãi mà chế độ CSVN đã gieo vào lòng mỗi người dân từ nhiều thập niên qua hay không. Nếu không, việc “thoát Cộng” cũng chỉ là ảo tưởng! Nỗi sợ hãi này đã trở thành “cố hữu”, đã ngấm vào mạch máu của từng người dân Việt; vì ngay từ khi cướp được chính quyền năm 1945, CSVN đã áp dụng ngay chính sách khủng bố để giết hại, bỏ tù, xách nhiễu, đe dọa bất kỳ người dân nào dám nói hay dám làm điều gì bất lợi cho tham vọng “muôn đời trường trị” của họ. Vụ Nhân Văn Giai Phẩm là một điển hình. Nỗi sợ hãi đối với sự khủng bố của CSVN vẫn luôn luôn đè nặng trên tâm thức của rất nhiều người Việt, kể cả trong nước lẫn hải ngoại, khiến họ không dám làm những gì mà lương tâm, lòng yêu nước hay sự hợp lý đòi hỏi. Đây là thành công rất lớn của cộng sản, nhờ vậy mà chế độ CSVN vẫn tồn tại suốt gần 70 năm qua, dù đảng này từ rất lâu đã trở nên bất xứng trong việc lãnh đạo đất nước, dù đảng này đã làm đất nước tụt hậu hàng trăm năm so với những nước chung quanh, dù dân chúng từ lâu rất căm phẫn trước những hành vi vô cùng tàn bạo của đảng này đối với người dân...
Đừng nói gì đến nỗi sợ của người dân trong nước là những người đang trực tiếp sống dưới sự cai trị hà khắc của CSVN, mà ngay cả người Việt ở hải ngoại, dù sống trong những đất nước tự do, vẫn có rất nhiều người bị nỗi sợ ấy ám ảnh. Thật vậy, nhiều người ở hải ngoại không dám nói gì đụng chạm đến chế độ cộng sản dù điều nói đó là sự thật hay là điều cần thiết phải nói. Hoặc họ không dám công khai đi biểu tình để lên tiếng thay cho người dân trong nước đang bị CSVN bức hại cách bất công và bị bịt miệng không nói lên được nỗi uất ức của mình.
Ở những đất nước tự do như thế, tại sao họ lại sợ CSVN vốn cách xa có khi tới nửa vòng trái đất? họ sợ những gì? − Thưa: họ sợ không được toà đại sứ hay lãnh sự CSVN tại đất nước họ đang sống cấp giấy phép cho họ về Việt Nam; họ sợ khi về thăm quê hương sẽ bị công an CSVN mời làm việc, gây phiền nhiễu cho họ, vân vân và vân vân. Nếu người dân của một đất nước cứ chấp nhận “cúi đầu”, “khom lưng” như vậy, thì dân tộc ấy có bị những chế độ bất lương cưỡi lên đầu lên cổ mình hẳn nhiên không có gì là lạ?!
Nỗi sợ bị CSVN khủng bố khiến rất nhiều người dân không dám phản đối những tội ác của các cán bộ CSVN. Ngay cả những vị rao giảng những tôn giáo có chủ trương chống ác khuyến thiện, cũng vì sợ mà đành phải chấp nhận cái nguỵ biện này: “Từ bản chất, tôn giáo nào cũng có sứ mạng chống ác và khuyến thiện; tuy nhiên chống lại những tội ác do ai làm thì cũng đều tốt, đều nên làm và phải làm; nhưng chống lại tội ác do CSVN gây nên thì không được phép, vì chống ác trong trường hợp này là làm chính trị, mà tôn giáo thì không làm chính trị!” Nhiều vị hùng hồn rao giảng chủ trương “vô úy” hay khuyến khích hành vi “vô úy thí” của Phật, hay cổ võ lời khuyên “Đừng sợ những kẻ chỉ làm hại được thân xác mà không làm hại được linh hồn...!” của Đức Giêsu [1], nhưng chính bản thân họ lại rất sợ bị công an CSVN phiền nhiễu, đến độ không dám nói sự thật, không dám chống bất công, đành chấp nhận nói sai sự thật, sẵn sàng dung dưỡng bất công!
Nhưng rất may cho dân tộc ta là hiện nay xuất hiện càng ngày càng đông những người dân vượt thắng sợ hãi, không sợ khủng bố, nhất là giới trẻ. Họ dám mạnh mẽ lên tiếng tố cáo tội ác của CSVN, kể cả tội của những lãnh đạo cao cấp nhất chế độ, dù biết rằng sau đó họ có thể bị CSVN bỏ tù hoặc mưu hại. Trong số đó có nhiều người rất trẻ tuổi và là phái yếu như Công Nhân, Thanh Nghiên, Thục Vy, Hoàng Vy, Minh Hạnh, Phương Uyên, v.v... Bí quyết gì khiến họ dám “thoát Sợ”, dám lên tiếng cho sự thật, cho công lý, dám làm những hành động mà lòng yêu nước đòi hỏi?
Bí quyết để “thoát Sợ” chính là sẵn sàng chấp nhận chính những gì mà bản năng khiến mình sợ sẽ xảy ra. Thật vậy,
− Ai sẵn sàng chấp nhận chết sẽ không còn sợ chết nữa.
− Ai sẵn sàng chấp nhận vào tù sẽ không còn sợ tù nữa.
− Ai chấp nhận bị công an liên tục mời “làm việc”, bị công an bắt cóc giữa đường, bị công an hành hung... thì sẽ không còn sợ những thứ ấy nữa.
Hiện nay, biết bao người thuộc đủ mọi giới, mọi tầng lớp đã thoát được những nỗi sợ cố hữu ấy, lẽ nào người khác lại không? Nhất là những người tự hào có bản lãnh, những người đáng lẽ phải làm gương về điều này!?
Sống trong một chế độ phi nhân, chủ trương khủng bố như chế độ CSVN, những ai không chấp nhận bị đau, bị khổ, bị phiền nhiễu, bị bạc đãi, bị tù đày, thậm chí bị giết... thì luôn luôn phải triền miên sống trong sợ hãi. Trong đó, có những người rất khổ tâm, bị lương tâm thường xuyên cắn rứt, vì họ bị sợ hãi khống chế nên đã làm nhiều điều hèn nhát, trái với những gì lương tri hay lương tâm đòi hỏi.
Nói chung, do bản năng ham sống sợ khổ, chẳng ai tự nhiên lại chấp nhận cái chết, chấp nhận đau khổ, chấp nhận tù đày, chấp nhận bị phiền nhiễu cả... Người ta chỉ chấp nhận những thứ đáng sợ ấy khi người ta muốn đạt được những giá trị rất lớn, hoặc muốn tránh khỏi những tai họa đáng sợ hơn gấp bội, chỉ lúc ấy người ta mới sẵn sàng trả giá bằng cách chấp nhận những điều đáng sợ kia.
Xin lấy một minh họa cho dễ hiểu. Chẳng hạn, chẳng ai muốn mất tiền, mất của, mất nhà mất cửa cách phi lý, thậm chí mất như thế là một nỗi sợ. Nhiều người đã ngất xỉu khi bị mất một món tiền thật lớn. Nhưng nếu mất tiền để đạt được một điều gì có giá trị lớn gấp bội thì người ta sẵn sàng chấp nhận mất. Thậm chí họ còn vui mừng khi đã đạt được cái giá trị mà mình đã bằng lòng trả giá bằng sự mất mát kia. Người ta cũng sẵn sàng chấp nhận mất một món tiền rất lớn để khỏi mất đi một số tiền lớn hơn, hoặc để tránh được một tai hoạ nào đó.
Tương tự như thế, các nhà đấu tranh dân chủ trong nước sẵn sàng chấp nhận vào tù, chịu thiếu thốn, đau đớn, nhục nhã, thậm chí cả cái chết là để đạt được một giá trị lớn hơn gấp bội, đó là sự tự do và hạnh phúc của cả một dân tộc. Nếu không nhắm cái giá trị cao cả đó, không ai dại gì dấn thân vào con đường nguy hiểm ấy cả.
Chẳng hạn Kỹ sư Đỗ Nam Hải đã tuyên bố: “Tôi sẵn sàng bước vào một nhà tù nhỏ để dân tộc này sớm bước ra khỏi nhà tù lớn. Nhà tù lớn ấy hiện nay mang tên là Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” [2]. Hay như chị Bùi Thị Minh Hằng đã thét lên trong một cuộc biểu tình: “Chúng tôi nằm xuống để dân tộc này đứng lên; chúng tôi chết để dân tộc này được sống” [3].
Hoặc có người sẵn sàng chịu đau khổ hay chết đi để các thế hệ con cháu mình được sống yên vui, thoải mái hơn mình, như một người biểu tình ở Bắc Phi đã nói: “Tôi sẵn sàng chết để ngày mai con tôi không phải sống như tôi” [4]. Hay để công lý và sự thật được thực hiện, như tinh thần của một câu ví dụ trong một tự điển Pháp nọ: “Tôi không quan tâm chính quyền làm gì mình. Tôi sẵn sàng vào tù miễn là sự thật được phơi bày” [5]. Hay để bảo vệ nhân quyền như Voltaire: “Tôi có thể không đồng ý những điều anh nói nhưng tôi sẵn sàng chết để bảo vệ quyền anh được nói những điều đó” [6].
Tóm lại, muốn “thoát Trung” thì phải “thoát Cộng”. Muốn “thoát Cộng” thì phải “thoát Sợ”. Muốn “thoát Sợ” thì phải sẵn sàng chấp nhận những điều tệ hại có thể xảy ra. Muốn chấp nhận những điều tệ hại có thể xảy ra thì phải ý thức được một giá trị thật lớn, thật cao cả mà mình cần đạt tới, hay phải ý thức được một hiểm họa khủng khiếp mà mình phải tránh, xứng đáng để đánh đổi bằng cách chấp nhận những điều tệ hại kia xảy đến.
Trường hợp của dân tộc Việt Nam hiện nay, muốn được tự do, muốn thoát khỏi nguy cơ bị Trung cộng thôn tính, muốn cho con cháu mình mai hậu không phải làm thân trâu ngựa cho ngoại bang, người dân phải chấp nhận “tìm cái sống giữa cái chết”. Tương tự như những người vượt biên tìm tự do sau 1975.
Khi chấp nhận vượt biên tìm tự do, người ta đã phải chấp nhận những bất trắc mà họ biết có thể xảy đến hoặc chắc chắn phải xảy đến như:
− bỏ nhà bỏ cửa, bỏ người thân ở lại,
− gia đình bị ly tán,
− bị lường gạt mất vàng, mất của (do bị lừa đảo),
− bị công an bắt và bị tù,
− bị chết ngoài biển làm mồi cho cá, hay chết trong rừng làm mồi cho thú dữ,
− bị cướp biển, phụ nữ bị cướp hãm hiếp,
− phải sống thiếu thốn nhiều năm trong các trại tị nạn,
− v.v...
Những điều bất hạnh đó ai cũng sợ, nhưng những người vượt biên sẵn sàng chấp nhận tất cả chỉ vì mong đạt được một giá trị lớn hơn, đó là TỰ DO. Thật vậy, chỉ vì tự do, người ta sẵn sàng trả giá rất đắt, như tác giả Nam Lộc đã nói lên trong bản nhạc “Xin Đời Một Nụ Cười”:
“Tự do ơi tự do! tôi trả bằng nước mắt
“Tự do hỡi tự do! anh trao bằng máu xương
“Tự do ôi tự do! Em đổi bằng thân xác.
“Vì hai chữ tự do! Ta mang đời lưu vong.” [7]
Người Mỹ có câu nói nổi tiếng: “Freedom is not free” (tạm dịch “Tự do không phải là thứ cho không”). Muốn có tự do thì phải trả giá. Tự do rất xứng đáng được trả giá rất cao vì nó quý giá vô cùng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đối với cá nhân cũng như đối với cả dân tộc. Nó là thứ quý nhất, không có gì quý hơn, kể cả mạng sống; vì sống mà không có tự do thì “thà chết sướng hơn!” (nhiều người nói như thế!).
Hiện nay, đa số người dân chưa ý thức được nỗi khổ của mình, của con cháu mình, của cả dân tộc mình khi đất nước bị Bắc thuộc lần nữa. Nếu họ ý thức được nỗi đau và nỗi nhục vô hạn mà người dân Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông đang phải chịu kể từ khi đất nước họ trở thành thuộc địa của Trung cộng, nếu người dân Việt ý thức được Trung cộng đã đối xử tàn bạo thế nào đối với các học viên Pháp Luân Công vốn cùng một giòng máu Hán tộc với họ, thì họ sẽ hiểu được nỗi đau và nỗi nhục của mình lớn thế nào khi đất nước mình lọt vào tay Trung cộng. Lúc đó, họ mới có cảm nghĩ và thái độ “không thể ngồi yên” như nhạc sĩ Việt Khang:
“Tôi không thể ngồi yên khi nước Việt Nam đang ngả nghiêng,
Dân tộc tôi sắp phải đắm chìm, một ngàn năm hay triền miên tăm tối!
“Tôi không thể ngồi yên, để đời sau cháu con tôi làm người!
Cội nguồn ở đâu, khi thế giới này đã không còn Việt Nam?”
Lúc ấy họ mới thấy tội ác của CSVN “tày trời” như thế nào khi hiện nay CSVN đang sẵn sàng làm công cụ cho Trung cộng, đồng lõa, tiếp tay giúp Trung cộng xâm lược và thôn tính Việt Nam.
Do đó, chuyện cần thiết phải làm cho kịp thời hiện nay là phải “thoát Sợ” để có thể “thoát Cộng” hầu có thể “thoát Trung”!
Một trong những khẩu ngôn rất giá trị nói lên bí quyết để “thoát Cộng” là: “Đừng sợ những gì cộng sản làm, hãy làm những gì cộng sản sợ”. Khẩu ngôn này gồm hai vế “Đừng sợ” và “Hãy làm”. “Đừng sợ” là nội dung chính của cả bài này. Còn “Hãy làm” thì chúng ta cần xác định xem cộng sản sợ gì nhất. Thưa: điều cộng sản sợ nhất hiện nay, chính là sợ người dân không còn sợ khủng bố nữa, nghĩa là CSVN rất sợ chính sách khủng bố của mình bị vô hiệu hóa, không còn hữu hiệu hay tác dụng nữa. Cộng sản tồn tại được là nhờ người dân sợ khủng bố. Khi người dân không còn sợ khủng bố nữa, thì đó là lúc nỗi sợ hãi sẽ quay ngược trở lại để trở thành nỗi kinh hoàng cho chính kẻ khủng bố. Và đó là lúc chính thức báo hiệu “hết thời” cho cả một chế độ phi nhân tàn bạo.
Houston, ngày 11-7-2014
Nguyễn Chính Kết
danlambaovn.blogspot.com
Nguyễn Chính Kết "...Một trong những khẩu ngôn rất giá trị nói lên bí quyết để “thoát Cộng” là: “Đừng sợ những gì cộng sản làm, hãy làm những gì cộng sản sợ”. Khẩu ngôn này gồm hai vế “Đừng sợ” và “Hãy làm”. “Đừng sợ” là nội dung chính của cả bài này. Còn “Hãy làm” thì chúng ta cần xác định xem cộng sản sợ gì nhất. Thưa: điều cộng sản sợ nhất hiện nay, chính là sợ người dân không còn sợ khủng bố nữa, nghĩa là CSVN rất sợ chính sách khủng bố của mình bị vô hiệu hóa, không còn hữu hiệu hay tác dụng nữa. Cộng sản tồn tại được là nhờ người dân sợ khủng bố. Khi người dân không còn sợ khủng bố nữa, thì đó là lúc nỗi sợ hãi sẽ quay ngược trở lại để trở thành nỗi kinh hoàng cho chính kẻ khủng bố. Và đó là lúc chính thức báo hiệu “hết thời” cho cả một chế độ phi nhân tàn bạo..."
Chuyện “thoát Trung” là điều mà đảng CSVN cần thiết phải làm, có trách nhiệm phải làm và có thể làm được để đất nước thoát khỏi hiểm họa Bắc thuộc lần thứ năm đang có nguy cơ rất lớn trở thành hiện thực. Tuy nhiên, cho tới nay, nhà cầm quyền CSVN chưa hề tỏ một dấu hiệu nào đáng tin tưởng chứng tỏ thiện chí thật sự muốn “thoát Trung” để cứu nguy đất nước cả.
Hiện nay, qua việc bỏ tù những người chống Trung Cộng xâm lược như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Việt Khang, Bùi Minh Hằng, Phương Uyên, Nguyên Kha, v.v... và qua việc đàn áp mạnh tay những người biểu tình chống Trung Cộng xâm lược, ta thấy rõ ràng rằng những người dân yêu nước, muốn bảo vệ lãnh thổ lãnh hải, chống Trung Cộng xâm lược... đều không chỉ bị Trung cộng mà ngay cả CSVN coi như kẻ thù cần phải tiêu diệt.
Hành động của Trung cộng xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam, bắn giết ngư dân Việt Nam, đặt nhiều giàn khoan dầu vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, rõ ràng là hành động xâm lược Việt Nam cách nghiêm trọng, thế mà CSVN không hề có một hành động nào mạnh mẽ và hữu hiệu ngăn cản hành động xâm lược đó cả. Chính vì thế, hành động xâm lược của Trung cộng có điều kiện để càng ngày càng leo thang. Qua thái độ của CSVN đối với Trung Cộng và đối với người dân yêu nước, ta có thể đoán ngay được rằng CSVN vẫn sẵn sàng làm công cụ cho Trung cộng, tiếp tay với Trung cộng trong mưu đồ thôn tính Việt Nam.
Nếu tình trạng này cứ tiếp diễn, ắt hẳn đất nước Việt sẽ không thoát khỏi tình trạng bị Trung Cộng thôn tính. Đừng chờ khi Việt Nam đã trở thành một tỉnh của Trung cộng rồi, chúng ta mới dám xác định những điều vừa kể.
Ý thức được nguy cơ ấy, chẳng lẽ dân Việt lại phó thác số phận dân tộc mình cho đảng CSVN quyết định ra sao cũng được? Chẳng lẽ cả một dân tộc có lịch sử chống Tàu rất anh hùng lại phó mặc để CSVN dâng đất nước cho Tàu? Chẳng lẽ chúng ta lại sẵn sàng cúi đầu chấp nhận làm thân phận người dân thuộc địa của Trung cộng?
Trong hoàn cảnh này, người dân Việt Nam nếu không tự cứu mình thì chẳng ai có thể cứu mình được. Toàn dân chúng ta phải dành lại quyền quyết định số phận của mình chứ không thể phó thác quyền ấy cho đảng CSVN, vốn đã từng nhiều lần bán đất bán biển của tổ tiên cho kẻ thù dân tộc. Vì thế, vấn đề trước mắt của người dân Việt trong và ngoài nước hiện nay không phải là chuyện “thoát Trung”, mà là “thoát Cộng”. Nghĩa là phải thoát khỏi ách thống trị của chế độ CSVN, không để cho CSVN đè đầu cưỡi cổ và toàn quyền định đoạt số phận cho cả dân tộc nữa. Một khi đã “thoát Cộng” thì việc “thoát Trung” cũng trở nên rất dễ dàng.
Đối với nhà cầm quyền CSVN, “thoát Trung” vốn chỉ là cái ngọn, còn cái gốc của vấn đề này là CSVN có chấp nhận từ bỏ tham vọng muốn “muôn đời trường trị” trên dân tộc Việt Nam hay không, có sẵn sàng từ bỏ quyết tâm bám lấy quyền lực để cưỡi cổ đè đầu người dân Việt Nam hay không, có thật sự từ bỏ ý định làm công cụ cho tham vọng bành trướng của Trung Cộng hay không. Nếu không, việc “thoát Trung” chỉ là ảo tưởng!
Tương tự như vậy đối với người dân Việt Nam, “thoát Cộng” cũng chỉ là cái ngọn, còn cái gốc của vấn đề là người dân Việt có thoát được nỗi sợ hãi mà chế độ CSVN đã gieo vào lòng mỗi người dân từ nhiều thập niên qua hay không. Nếu không, việc “thoát Cộng” cũng chỉ là ảo tưởng! Nỗi sợ hãi này đã trở thành “cố hữu”, đã ngấm vào mạch máu của từng người dân Việt; vì ngay từ khi cướp được chính quyền năm 1945, CSVN đã áp dụng ngay chính sách khủng bố để giết hại, bỏ tù, xách nhiễu, đe dọa bất kỳ người dân nào dám nói hay dám làm điều gì bất lợi cho tham vọng “muôn đời trường trị” của họ. Vụ Nhân Văn Giai Phẩm là một điển hình. Nỗi sợ hãi đối với sự khủng bố của CSVN vẫn luôn luôn đè nặng trên tâm thức của rất nhiều người Việt, kể cả trong nước lẫn hải ngoại, khiến họ không dám làm những gì mà lương tâm, lòng yêu nước hay sự hợp lý đòi hỏi. Đây là thành công rất lớn của cộng sản, nhờ vậy mà chế độ CSVN vẫn tồn tại suốt gần 70 năm qua, dù đảng này từ rất lâu đã trở nên bất xứng trong việc lãnh đạo đất nước, dù đảng này đã làm đất nước tụt hậu hàng trăm năm so với những nước chung quanh, dù dân chúng từ lâu rất căm phẫn trước những hành vi vô cùng tàn bạo của đảng này đối với người dân...
Đừng nói gì đến nỗi sợ của người dân trong nước là những người đang trực tiếp sống dưới sự cai trị hà khắc của CSVN, mà ngay cả người Việt ở hải ngoại, dù sống trong những đất nước tự do, vẫn có rất nhiều người bị nỗi sợ ấy ám ảnh. Thật vậy, nhiều người ở hải ngoại không dám nói gì đụng chạm đến chế độ cộng sản dù điều nói đó là sự thật hay là điều cần thiết phải nói. Hoặc họ không dám công khai đi biểu tình để lên tiếng thay cho người dân trong nước đang bị CSVN bức hại cách bất công và bị bịt miệng không nói lên được nỗi uất ức của mình.
Ở những đất nước tự do như thế, tại sao họ lại sợ CSVN vốn cách xa có khi tới nửa vòng trái đất? họ sợ những gì? − Thưa: họ sợ không được toà đại sứ hay lãnh sự CSVN tại đất nước họ đang sống cấp giấy phép cho họ về Việt Nam; họ sợ khi về thăm quê hương sẽ bị công an CSVN mời làm việc, gây phiền nhiễu cho họ, vân vân và vân vân. Nếu người dân của một đất nước cứ chấp nhận “cúi đầu”, “khom lưng” như vậy, thì dân tộc ấy có bị những chế độ bất lương cưỡi lên đầu lên cổ mình hẳn nhiên không có gì là lạ?!
Nỗi sợ bị CSVN khủng bố khiến rất nhiều người dân không dám phản đối những tội ác của các cán bộ CSVN. Ngay cả những vị rao giảng những tôn giáo có chủ trương chống ác khuyến thiện, cũng vì sợ mà đành phải chấp nhận cái nguỵ biện này: “Từ bản chất, tôn giáo nào cũng có sứ mạng chống ác và khuyến thiện; tuy nhiên chống lại những tội ác do ai làm thì cũng đều tốt, đều nên làm và phải làm; nhưng chống lại tội ác do CSVN gây nên thì không được phép, vì chống ác trong trường hợp này là làm chính trị, mà tôn giáo thì không làm chính trị!” Nhiều vị hùng hồn rao giảng chủ trương “vô úy” hay khuyến khích hành vi “vô úy thí” của Phật, hay cổ võ lời khuyên “Đừng sợ những kẻ chỉ làm hại được thân xác mà không làm hại được linh hồn...!” của Đức Giêsu [1], nhưng chính bản thân họ lại rất sợ bị công an CSVN phiền nhiễu, đến độ không dám nói sự thật, không dám chống bất công, đành chấp nhận nói sai sự thật, sẵn sàng dung dưỡng bất công!
Nhưng rất may cho dân tộc ta là hiện nay xuất hiện càng ngày càng đông những người dân vượt thắng sợ hãi, không sợ khủng bố, nhất là giới trẻ. Họ dám mạnh mẽ lên tiếng tố cáo tội ác của CSVN, kể cả tội của những lãnh đạo cao cấp nhất chế độ, dù biết rằng sau đó họ có thể bị CSVN bỏ tù hoặc mưu hại. Trong số đó có nhiều người rất trẻ tuổi và là phái yếu như Công Nhân, Thanh Nghiên, Thục Vy, Hoàng Vy, Minh Hạnh, Phương Uyên, v.v... Bí quyết gì khiến họ dám “thoát Sợ”, dám lên tiếng cho sự thật, cho công lý, dám làm những hành động mà lòng yêu nước đòi hỏi?
Bí quyết để “thoát Sợ” chính là sẵn sàng chấp nhận chính những gì mà bản năng khiến mình sợ sẽ xảy ra. Thật vậy,
− Ai sẵn sàng chấp nhận chết sẽ không còn sợ chết nữa.
− Ai sẵn sàng chấp nhận vào tù sẽ không còn sợ tù nữa.
− Ai chấp nhận bị công an liên tục mời “làm việc”, bị công an bắt cóc giữa đường, bị công an hành hung... thì sẽ không còn sợ những thứ ấy nữa.
Hiện nay, biết bao người thuộc đủ mọi giới, mọi tầng lớp đã thoát được những nỗi sợ cố hữu ấy, lẽ nào người khác lại không? Nhất là những người tự hào có bản lãnh, những người đáng lẽ phải làm gương về điều này!?
Sống trong một chế độ phi nhân, chủ trương khủng bố như chế độ CSVN, những ai không chấp nhận bị đau, bị khổ, bị phiền nhiễu, bị bạc đãi, bị tù đày, thậm chí bị giết... thì luôn luôn phải triền miên sống trong sợ hãi. Trong đó, có những người rất khổ tâm, bị lương tâm thường xuyên cắn rứt, vì họ bị sợ hãi khống chế nên đã làm nhiều điều hèn nhát, trái với những gì lương tri hay lương tâm đòi hỏi.
Nói chung, do bản năng ham sống sợ khổ, chẳng ai tự nhiên lại chấp nhận cái chết, chấp nhận đau khổ, chấp nhận tù đày, chấp nhận bị phiền nhiễu cả... Người ta chỉ chấp nhận những thứ đáng sợ ấy khi người ta muốn đạt được những giá trị rất lớn, hoặc muốn tránh khỏi những tai họa đáng sợ hơn gấp bội, chỉ lúc ấy người ta mới sẵn sàng trả giá bằng cách chấp nhận những điều đáng sợ kia.
Xin lấy một minh họa cho dễ hiểu. Chẳng hạn, chẳng ai muốn mất tiền, mất của, mất nhà mất cửa cách phi lý, thậm chí mất như thế là một nỗi sợ. Nhiều người đã ngất xỉu khi bị mất một món tiền thật lớn. Nhưng nếu mất tiền để đạt được một điều gì có giá trị lớn gấp bội thì người ta sẵn sàng chấp nhận mất. Thậm chí họ còn vui mừng khi đã đạt được cái giá trị mà mình đã bằng lòng trả giá bằng sự mất mát kia. Người ta cũng sẵn sàng chấp nhận mất một món tiền rất lớn để khỏi mất đi một số tiền lớn hơn, hoặc để tránh được một tai hoạ nào đó.
Tương tự như thế, các nhà đấu tranh dân chủ trong nước sẵn sàng chấp nhận vào tù, chịu thiếu thốn, đau đớn, nhục nhã, thậm chí cả cái chết là để đạt được một giá trị lớn hơn gấp bội, đó là sự tự do và hạnh phúc của cả một dân tộc. Nếu không nhắm cái giá trị cao cả đó, không ai dại gì dấn thân vào con đường nguy hiểm ấy cả.
Chẳng hạn Kỹ sư Đỗ Nam Hải đã tuyên bố: “Tôi sẵn sàng bước vào một nhà tù nhỏ để dân tộc này sớm bước ra khỏi nhà tù lớn. Nhà tù lớn ấy hiện nay mang tên là Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” [2]. Hay như chị Bùi Thị Minh Hằng đã thét lên trong một cuộc biểu tình: “Chúng tôi nằm xuống để dân tộc này đứng lên; chúng tôi chết để dân tộc này được sống” [3].
Hoặc có người sẵn sàng chịu đau khổ hay chết đi để các thế hệ con cháu mình được sống yên vui, thoải mái hơn mình, như một người biểu tình ở Bắc Phi đã nói: “Tôi sẵn sàng chết để ngày mai con tôi không phải sống như tôi” [4]. Hay để công lý và sự thật được thực hiện, như tinh thần của một câu ví dụ trong một tự điển Pháp nọ: “Tôi không quan tâm chính quyền làm gì mình. Tôi sẵn sàng vào tù miễn là sự thật được phơi bày” [5]. Hay để bảo vệ nhân quyền như Voltaire: “Tôi có thể không đồng ý những điều anh nói nhưng tôi sẵn sàng chết để bảo vệ quyền anh được nói những điều đó” [6].
Tóm lại, muốn “thoát Trung” thì phải “thoát Cộng”. Muốn “thoát Cộng” thì phải “thoát Sợ”. Muốn “thoát Sợ” thì phải sẵn sàng chấp nhận những điều tệ hại có thể xảy ra. Muốn chấp nhận những điều tệ hại có thể xảy ra thì phải ý thức được một giá trị thật lớn, thật cao cả mà mình cần đạt tới, hay phải ý thức được một hiểm họa khủng khiếp mà mình phải tránh, xứng đáng để đánh đổi bằng cách chấp nhận những điều tệ hại kia xảy đến.
Trường hợp của dân tộc Việt Nam hiện nay, muốn được tự do, muốn thoát khỏi nguy cơ bị Trung cộng thôn tính, muốn cho con cháu mình mai hậu không phải làm thân trâu ngựa cho ngoại bang, người dân phải chấp nhận “tìm cái sống giữa cái chết”. Tương tự như những người vượt biên tìm tự do sau 1975.
Khi chấp nhận vượt biên tìm tự do, người ta đã phải chấp nhận những bất trắc mà họ biết có thể xảy đến hoặc chắc chắn phải xảy đến như:
− bỏ nhà bỏ cửa, bỏ người thân ở lại,
− gia đình bị ly tán,
− bị lường gạt mất vàng, mất của (do bị lừa đảo),
− bị công an bắt và bị tù,
− bị chết ngoài biển làm mồi cho cá, hay chết trong rừng làm mồi cho thú dữ,
− bị cướp biển, phụ nữ bị cướp hãm hiếp,
− phải sống thiếu thốn nhiều năm trong các trại tị nạn,
− v.v...
Những điều bất hạnh đó ai cũng sợ, nhưng những người vượt biên sẵn sàng chấp nhận tất cả chỉ vì mong đạt được một giá trị lớn hơn, đó là TỰ DO. Thật vậy, chỉ vì tự do, người ta sẵn sàng trả giá rất đắt, như tác giả Nam Lộc đã nói lên trong bản nhạc “Xin Đời Một Nụ Cười”:
“Tự do ơi tự do! tôi trả bằng nước mắt
“Tự do hỡi tự do! anh trao bằng máu xương
“Tự do ôi tự do! Em đổi bằng thân xác.
“Vì hai chữ tự do! Ta mang đời lưu vong.” [7]
Người Mỹ có câu nói nổi tiếng: “Freedom is not free” (tạm dịch “Tự do không phải là thứ cho không”). Muốn có tự do thì phải trả giá. Tự do rất xứng đáng được trả giá rất cao vì nó quý giá vô cùng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đối với cá nhân cũng như đối với cả dân tộc. Nó là thứ quý nhất, không có gì quý hơn, kể cả mạng sống; vì sống mà không có tự do thì “thà chết sướng hơn!” (nhiều người nói như thế!).
Hiện nay, đa số người dân chưa ý thức được nỗi khổ của mình, của con cháu mình, của cả dân tộc mình khi đất nước bị Bắc thuộc lần nữa. Nếu họ ý thức được nỗi đau và nỗi nhục vô hạn mà người dân Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông đang phải chịu kể từ khi đất nước họ trở thành thuộc địa của Trung cộng, nếu người dân Việt ý thức được Trung cộng đã đối xử tàn bạo thế nào đối với các học viên Pháp Luân Công vốn cùng một giòng máu Hán tộc với họ, thì họ sẽ hiểu được nỗi đau và nỗi nhục của mình lớn thế nào khi đất nước mình lọt vào tay Trung cộng. Lúc đó, họ mới có cảm nghĩ và thái độ “không thể ngồi yên” như nhạc sĩ Việt Khang:
“Tôi không thể ngồi yên khi nước Việt Nam đang ngả nghiêng,
Dân tộc tôi sắp phải đắm chìm, một ngàn năm hay triền miên tăm tối!
“Tôi không thể ngồi yên, để đời sau cháu con tôi làm người!
Cội nguồn ở đâu, khi thế giới này đã không còn Việt Nam?”
Lúc ấy họ mới thấy tội ác của CSVN “tày trời” như thế nào khi hiện nay CSVN đang sẵn sàng làm công cụ cho Trung cộng, đồng lõa, tiếp tay giúp Trung cộng xâm lược và thôn tính Việt Nam.
Do đó, chuyện cần thiết phải làm cho kịp thời hiện nay là phải “thoát Sợ” để có thể “thoát Cộng” hầu có thể “thoát Trung”!
Một trong những khẩu ngôn rất giá trị nói lên bí quyết để “thoát Cộng” là: “Đừng sợ những gì cộng sản làm, hãy làm những gì cộng sản sợ”. Khẩu ngôn này gồm hai vế “Đừng sợ” và “Hãy làm”. “Đừng sợ” là nội dung chính của cả bài này. Còn “Hãy làm” thì chúng ta cần xác định xem cộng sản sợ gì nhất. Thưa: điều cộng sản sợ nhất hiện nay, chính là sợ người dân không còn sợ khủng bố nữa, nghĩa là CSVN rất sợ chính sách khủng bố của mình bị vô hiệu hóa, không còn hữu hiệu hay tác dụng nữa. Cộng sản tồn tại được là nhờ người dân sợ khủng bố. Khi người dân không còn sợ khủng bố nữa, thì đó là lúc nỗi sợ hãi sẽ quay ngược trở lại để trở thành nỗi kinh hoàng cho chính kẻ khủng bố. Và đó là lúc chính thức báo hiệu “hết thời” cho cả một chế độ phi nhân tàn bạo.
Houston, ngày 11-7-2014
Nguyễn Chính Kết
danlambaovn.blogspot.com
Cái ác
Nguyễn Thiên Ân
Người đời định nghĩa cộng sản
Cộng sản: là gian là dối ...
Xã hội chủ nghĩa: là thối là tha ...
(Nguyên Thạch, blog Dân Làm Báo)
LTS - Tòa soạn xin đăng tải nguyên văn bài viết dưới đây của cựu ký giả Thiên Ân về tập hồi ức “Thung Lũng Tử Thần: Hồi Ức Của Một Người Tù Cải Tạo” của cố ký giả Vũ Ánh. Buổi ra mắt tác phẩm “Thung Lũng Tử Thần” sẽ được tổ chức vào lúc 2 pm ngày 19 Tháng Bảy, tại Phòng Sinh Hoạt Người Việt.
***
Vài tuần trước, một người tự xưng là thuộc một đơn vị tình báo của Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam công bố trên mạng một bản văn với đầy đủ hình ảnh ghi lại những vụ tàn sát dã man của lính Tàu nhắm vào các nữ tù binh Việt Nam trong trận chiến xâm lăng vùng biên giới. Người đọc bài và nhìn thấy những hình ảnh cho là nữ tù binh Việt Nam bị cắt xén các bộ phận sinh dục, lõa lồ phơi thây sau khi bị trục ra khỏi các quân y viện trên biên địa và bị hãm hiếp tập thể trước khi bị giết, đều không khỏi cảm thấy ghê rợn trong óc lẫn đau xót trong tim. Bài viết và những hình ảnh đó, nếu thật, cho thấy một thảm trạng mà có lẽ không ai còn chối cãi nổi, chứng minh thực chất tàn ác của những người cộng sản đối với những người được coi là các đồng chí cùng theo thánh Mác để xiển dương và thành đạt cuộc cách mạng nhắm đưa thế giới tiến lên chủ nghĩa xã hội đen.

Poster buổi ra mắt sách “Thung Lũng Tử Thần: Hồi Ức Của Một Người Tù Cải Tạo” tại Nhật Báo Người Việt chiều 19 Tháng Bảy, 2014.
(Hình: Triết Trần/Người Việt)
Nhưng thật ra thì đấy không phải là lần đầu tiên người ta được biết tới tâm địa độc ác của người cộng sản. Người đọc lịch sử đã biết chuyện Lenin và Stalin sát hại đến cả 20 triệu dân Nga sau khi cuộc cách mạng Bolsheviks thắng lợi năm 1917; hay chuyện Mao Trạch Ðông sát hại đến cả 10 triệu dân Tàu ngay từ thời cộng sản Tàu còn lâm chiến với Quốc Dân Ðảng của Tưởng Giới Thạch cho tới sau khi Mao chiếm trọn Hoa Lục năm 1949 và thành lập nước cộng sản Tàu, được mỹ miều mệnh danh là Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc. Thậm chí ngay trên quê hương Việt Nam thì chính các đảng viên cộng sản cũng xác nhận cuộc cải cách ruộng đất được Hồ Chí Minh và đảng cộng sản của ông ta mang ra thi hành sau khi chiếm được nửa đất nước, đã giết, và giết oan, đến cả 200 ngàn người theo lệnh giết người đúng tỉ số do Mao chỉ thị.
Thành thử có thể nói rằng cái ác của người cộng sản đã là một sự thật đương nhiên, đối với người khác chủng tộc, đối với đồng bào mình, đối với đồng chí và ngay cả đối với anh em ruột thịt. Ðối tượng truy sát của người cộng sản không cứ phải là đối thủ (thí dụ như Leon Trotsky bên Nga) mà có thể là chiến hữu (thí dụ như Lâm Bưu bên Tàu hay Nguyễn Bình ở Việt Nam), bạn bè, anh chị em (thí dụ như Ðinh Ðức Thiện) nếu những người đó dám chống đối, hay ngay cả chỉ dám bất đồng với đám chóp bu cộng sản. Bởi thế, những hành động cực ác mà người cộng sản làm đối với những người bị họ coi là kẻ thù không còn là chuyện đáng ngạc nhiên. Nhất là khi đó lại là những kẻ cựu thù thuộc hàng ngũ “phe thua trận,” nghĩa là những người không còn một mảy may khả năng chống đối hay tự vệ nào. Ðây có lẽ là đại ý của 270 trang sách tóm lược 13 năm tù gọi là “cải tạo” của ký giả Vũ Ánh. Quyển “Thung Lũng Tử Thần: Hồi Ức Của Một Người Tù Cải Tạo” là tập hợp những bài báo của ký giả Vũ Ánh viết đăng trên nhật báo Người Việt trước khi anh từ giã gia đình và thân hữu đi về miền miên viễn hôm 14 tháng 3 năm 2014. Sách với khổ 15x23cm do các thân hữu của anh trong tờ Người Việt ấn hành và bán với giá 20 Mỹ kim, do vậy không phải là một tác phẩm dài, hay trường thiên, tỉ như “Một ngày trong đời của Ivan Denissovitch,” hay “Trại Ung Thư” hay “Quần Ðảo Ngục Tù” của Aleksandr Solzhenitsyn. Người đọc, nếu muốn, và nếu thấy hấp dẫn, có thể đọc liên tục và đọc trọn trong chỉ một ngày. Ðó chính là điều tôi đã làm.
Một chi tiết có thể bị trành tròn ở đây. Vì nghịch lý. Ấy là làm thế nào mà một quyển sách viết về tội ác lại có thể hấp dẫn? Tội ác; được điểm xuyết bằng bệnh tật, bằng xương thịt rã rời vì bị đòn vọt và cùm gông suốt đêm ngày, bằng nước mắt kết tụ do cả đau đớn nhọc nhằn lẫn hận thù dằn vặt và bằng xác chết của người tù lẫn đôi khi là của thân nhân họ. Những hình ảnh đó cố nhiên là dễ gây kinh tởm, khiến nhiều người đọc có thể thở dài lau nước mắt rồi gấp sách. Ấy là nếu tác phẩm không kèm theo những chi tiết, rất nhiều chi tiết, về tình người, tình chiến hữu, tư cách và nhân tính của người tù. Nói cho rõ hơn, đó là tư cách và nhân tính của chính tác giả Vũ Ánh và những bạn đồng tù của anh trong các nhà giam từ Nam ra Bắc, nhất là trong trại trừng giới khổ sai A-20 Xuân Phước. Những đoạn ngắn, chỉ chiếm một phần nhỏ nội dung quyển sách, đã mô tả tình người bàng bạc của các cựu quân nhân VNCH sa cơ, của các tu sĩ Phật Giáo lẫn Công Giáo và nhất là của người dân thường cũng thuộc “bên thua trận” ở miền Nam Việt Nam dành cho những người tù khốn khổ này. Hấp dẫn là bởi thế. Chớ còn mô tả cái ác và lòng tham của những kẻ thắng trận thì sách vở từ thập niên 1980 tới nay đã trần tình không thiếu. Các bài báo và sách loại này nhiều đến mức không thể ghi lại đầy đủ nếu không chịu khó ngồi kiểm điểm và liệt kê mọi tài liệu đã được in ấn từ 35 năm nay của các cựu tù nhân. Tuy nhiên đấy không phải là mục đích của một bài viết ngắn, tóm tắt vài ý nghĩ và, thế tất là thiếu sót của một người đọc.
Trước hết, xin hãy nói về cái ác. Con người - hơn nữa, lại là người cộng sản - thì đúng như Freud đã xác nhận, vốn có tính tàn ác, thích gây đau khổ cho đồng loại để thưởng thức nỗi đau của đối tượng nhằm thỏa mãn bản chất hung ác của chính họ. Thiếu Tá Vũ Mộng Long, TÐT/TÐ82BÐQ kể lại trong một bài của ông chuyện một bạn tù trốn trại chẳng may vướng lại bên hàng rào kẽm gai chỉ để bị một cán bộ cộng sản ngồi cách đó không xa, tay cầm AK cứ thỉnh thoảng lại nâng súng lên bắn nát từng khớp xương trên tấm thân người tù. Người cộng sản chiến thắng, đầy quyền lực, cứ ngồi đó thưởng thức nỗi đau kèm tiếng rên la của một người lính thua trận và rồi bỏ mặc nạn nhân chảy máu cho đến chết. Những ví dụ chứng minh cái ác của người cộng sản đối với các chiến binh sa cơ của miền Nam có lẽ không còn cần phải được đưa ra thêm nữa. Nhưng gần đây thì còn những hình ảnh mới xuất hiện, và ngày một nhiều, trên mạng, lại cho thấy bên thắng trận ác như thế nào đối với những người - và đây là các thường dân không hề mang một chút nợ máu nào đối với nhân dân - chỉ chẳng may đứng trong hàng ngũ khối dân miền Nam bị xâm lăng mà thôi.
Hình ảnh một cụ già 90 tuổi, cầm một tấm bảng cầu cứu sau khi được báo cho biết căn nhà vách tôn cụ đang ở đã bị cưỡng chế, không thể không gây chấn động trong lòng người xem. Cũng trong thời gian này, hình ảnh trọn một gia đình ở Thạnh Hóa thuộc tỉnh Long An vừa than khóc vừa lớn tiếng tố cáo tội ác của người đang là bí thư huyện ủy và đám “công an” nơi họ ở, hùng hổ kéo tới trục xuất họ ra khỏi nhà. Nhiều trường hợp tương tự cũng đã được phơi bày, bởi chính các lão bà lưng còm má hóp lẫn con cháu họ trong những cuộc biểu tình công khai của dân oan mất đất, mất nhà, mất ruộng, mất vườn, mất hết. Tất cả căn nguyên đưa tới thảm nạn có thể được tóm gọn trong chữ tham. Và từ tham mà dẫn tới cái ác vô biên và tuyệt đối của những kẻ có quyền năng tuyệt đối. Xin hãy đọc một chi tiết ác, nhẹ nhất đối với những người tù, ở trang 70 trong sách của nhà báo Vũ Ánh.
“ ... mọi thứ thực phẩm của những anh em có gia đình thăm nuôi mang lên từ Hàm Tân Z30C đều bị ném vào mấy chiếc cần xé lớn. Viên cán bộ trực trại ra lệnh cho tù hình sự mang xuống nhà bếp của tù nhân với lệnh 'Ngày mai đem nấu để phát cho trại viên ăn chung.' Và đúng như lời ông ta, nhà bếp của tù nhân phải bóp bụng tuân lệnh nấu một thứ thực phẩm chè không ra chè, cháo chẳng ra cháo. Mỗi người được phát một nửa tô bằng nhựa một loại thực phẩm loãng gồm cơm khô, bột, lẫn vào đó là những cọng mì ăn liền. Thực ra, bình thường người dễ tính nhất cũng khó ăn, nhưng tù cải tạo đã 4 năm đói khát triền miên chúng tôi cũng vui vẻ thưởng thức món ăn mà trong đời chúng tôi chưa bao giờ được thấy này ...”
Tôi đoán đám tù khi ăn cái món tả pí lù quái dị đó đã phải “nhăn mặt mỉm cười” và tôi cũng võ đoán Vũ Ánh khi viết đoạn này cũng phải mang nét mặt y như thế. Khác chăng chỉ là lúc phải ăn ở Xuân Phước thì bấm bụng ăn cho đỡ đói, vừa ăn vừa chửi thề; còn khi ngồi tả lại ở Mỹ thì nhăn mặt vì tưởng tượng tới cái bụng đau nhừ sau khi ăn và rồi mỉm cười ghi nhận hạnh phúc của một cựu tù đang sống ở Mỹ và được thưởng thức các món cao lương mỹ vị ở những nhà hàng vùng Nam California. Quí vị có thể tự hỏi, “Tù, có ăn là may rồi, còn nhăn mặt chửi thề chi nữa.” Quí vị nghĩ đúng nếu chưa đọc đoạn kế tiếp, để nhờ đó mà biết rằng trong mấy cái cần xé đựng thực phẩm tiếp tế của gia đình cho người tù, còn có cả những hũ thịt ram mặn, những gói lạp xưởng hay thịt muối kiểu Tàu được nấu theo tiểu táo (bếp nhỏ) dành cho trưởng phó trại và an ninh!!! Nên nhớ là từng ấy “cao lương mỹ vị” đã được mẹ và vợ con các tù nhân đưa tới trại sau nhiều ngày trèo đèo vượt suối, đánh đố với chính sinh mạng họ. Những món ăn đó là kết quả của bao nhiêu tháng năm hi sinh dành dụm chắt mót của họ ... rốt lại đã lọt vào bụng những kẻ đang hành hạ con, chồng và cha họ bên trong vòng rào. Thật không còn nỗi xót xa và đắng cay nào hơn cho người tù khi nghĩ tới người thân và khi nhìn thấy đám cán bộ cộng sản hể hả thưởng thức công lao mồ hôi nước mắt của thân nhân mình. Nhất là sau năm bảy năm dài mà trong đó người tù chỉ hàng ngày được hưởng chế độ hai muỗng cơm, hai muỗng nước và hai muỗng muối trong biệt giam. Ðây là một hình thức tra tấn mà tác giả cho là vượt xa Ðức Quốc Xã (đối với dân Do Thái thời Ðệ Nhị Thế Chiến). Bởi muối thật nhiều trong thực đơn chỉ nhắm duy nhất một mục đích là làm người tù khát rã họng suốt ngày đêm và thân thể họ mau bị phù thũng để chết lẹ hơn mà thôi. Ðám cai tù cộng sản rõ ràng là phải rất sung sướng khi chứng kiến kết quả của những hành động tra tấn tâm thần lẫn thân xác người tù do họ chủ động. Niềm vui sướng kỳ quặc đó có thể được coi là một hiện tượng tâm lý phổ quát của đa số cán bộ trông coi các trại trừng giới trên cả nước Việt Nam sau ngày 30 tháng 4, 1975 nếu nhìn vào bằng cớ trưng dẫn trong sách vở và các bài báo của những cựu tù may mắn sống sót.
Tôi nghĩ cái hay của ký giả Vũ Ánh, căn bản, nằm trong lối mô tả các thực kiện suốt 13 năm tù của anh, kể cả hơn 6 năm bị cùm trong xà lim, đôi khi cùm cả tay lẫn chân. Tất cả các bài viết trong sách, gồm tổng cộng 30 tiểu mục không kể lời tác giả mở đầu và kết thúc cuối sách, đều được viết một cách nhẹ nhàng đến bình thản - đôi khi còn có cả nét cợt cười - không ai oán, không than van và nhất là vắng cả những thù hận đúng ra phải có đối với những kẻ đã cướp mất một phần đời trai trẻ và đáng sống nhất, chưa kể thiếu chút nữa đã tước đi mạng sống, của anh. Người đọc quyển Hồi Ức của Vũ Ánh có cảm tưởng anh đã mô phỏng văn phong trong “Ðiên” của một bậc tiền bối đã ở tù cộng sản trước anh, đã gánh chịu những cơ cực chẳng thua gì anh và đã bị hạ nhục có khi còn hơn cả anh vì địa vị của ông trong chính quyền VNCH trước khi bị cộng sản cầm tù ngoài Bắc từ Tết Mậu Thân. Chỉ khác là tác giả Hoàng Liên (Nguyễn Văn Ðãi) ở tù ngắn hơn anh mà thôi.
Cụ Hoàng Liên, cũng như Vũ Ánh, đã bị cộng sản cầm tù; nhưng đã vượt khỏi ngưỡng chết để sống nốt quãng đời còn lại của mình. Tôi cho đó là một cái may do trời đất, tổ tiên và ý chí của chính họ hơn là do lòng nhân của những người đã bắt bớ, kìm kẹp và lưu đày họ trong tình trạng sống không ra sống mà chết chẳng được chết. Nghĩa là không hề do sự khoan hồng mà đám cán bộ cộng sản luôn miệng nhấn mạnh trước các tù nhân, coi đó là một đặc trưng của chế độ cộng sản. Trong một đoạn (trang 175, 176), ghi lại những đối đáp, có thể coi là một cuộc đấu trí, giữa Vũ Ánh và một cán bộ trung ương tới trại thẩm vấn anh, Ánh đã định nghĩa rất chính xác lượng khoan hồng đó bằng một hình ảnh tỷ giảo “ ... khoan hồng mà nhà nước nói như kiểu này thì thà các ông đưa chúng tôi ra ngoài đồng, cho mỗi đứa một viên đạn, như thế mới đúng là khoan hồng ....” Lập luận tương tự cũng đã được ông Huỳnh Cự, Trung Tá (VC) trước ngày hồi chánh, khi trả lời trưởng trại giam “lẽ ra đem tôi ra bắn ở cầu Bình Triệu thì mới là khoan hồng” khi y nói với ông rằng ông được sống cho tới lúc đó là nhờ nhà nước khoan hồng. Các thành phần chống cộng đã nói tới cảnh tắm máu nếu cộng sản chiếm được miền Nam. Cảnh đó đã không thực sự xảy ra như ở Kampuchea khi Khmer Ðỏ vào tới Phnom Pênh. Nhưng lừa bịp tất cả các quân nhân và công chức VNCH, bị gọi một cách miệt thị là bọn “ngụy,” vô tù để buộc họ lãnh một cái án vô hạn kỳ mà có khi đã kéo dài đến hơn 17 năm đối với một số tù - mà loại uyển ngữ giả nhân giả nghĩa của cộng sản bắt phải gọi là “trại viên” - thì tình cảnh đó đôi khi còn tệ hơn là tắm máu.
Chính Vũ Ánh đã kể trong những lần bị thẩm vấn và khảo tra, anh đã thẳng thắn nói với cán bộ cộng sản thẩm vấn anh rằng với tấm thân “xác ve” tiều tụy anh đang mang thì có đem anh ra bắn cũng thế thôi; bởi anh “coi như đã chết rồi.” Anh viết rất rõ một nhân tố đã giúp người tù sống và giữ được phần NGƯỜI trong thân xác héo mòn của họ” ... muốn giữ được nhân phẩm, duy trì nhân cách và khí tiết, một người tù cải tạo phải biết chấp nhận phần xấu nhất cho đời tù của mình, đó là sẵn sàng ra nằm ở Ðồi Thông (nghĩa địa của tù nhân cải tạo) ... ” (trang 107). Tôi võ đoán rằng đó không chỉ là kết luận của Ánh mà còn là của tất cả những người tù kiên cường khác. Tôi cũng mạn phép võ đoán thêm một chút nữa rằng quyết định như thế không hề là một lối phát biểu kiểu anh hùng Tàu, khinh thường sinh mạng mình. Trái lại, đối với những người tù không có ngày mai thì “coi như đã chết” chỉ là một phương tiện để giữ cái sống cho mình. Nếu xét kỹ thì sẽ thấy tính thuận lý của việc coi như đã chết để còn được sống. Trường hợp những người quá u buồn, quá lo lắng cho vợ con đến nỗi co ro khúm núm luồn lụy kẻ thù với hi vọng sẽ được nhẹ tay và nhờ đó mà sống sót, thì cái sống của họ hình như không đáng mang ra so với những người coi như chết mà vẫn sống. Ấy là chưa kể trường hợp những người quá lo rồi thực sự lìa đời do đau ốm thân xác và bệnh hoạn tâm thần trong tù, hay đi làm ăn-ten ton hót cho cai tù biết hành trạng các bạn tù của mình đến độ bị khinh ghét, bị hành hung và chung cuộc đã chết thảm ngay cả khi đã ra khỏi tù. Những trường hợp đại để như vừa kể cho thấy rằng khi những người cộng sản thuộc “bên thắng cuộc” không tạo ra những biển máu đúng theo ý muốn của Lê Duẩn bằng cách giết toàn bộ sĩ quan từ cấp tá trở lên và công chức từ trung cấp trở lên, để thay bằng cách giết họ lần mòn trong các nhà tù, không chứng tỏ người cộng sản chủ trương khoan hồng hay hòa hợp hòa giải gì cả với đồng bào mình bên “phe thua cuộc.” Người cộng sản trong thời gian sau 30 tháng 4, 1975, theo thiển ý, không hề ý thức mức độ gian ác của họ; loại gian ác mà Ánh cho là “... không thể tưởng tượng nổi trên thế gian này lại có sự dối trá, che đậy đến mức phi nhân như thế ...” khi đám cán bộ lừa dối vợ của một người tù đang ngồi chờ chồng trong giây phút họ đưa xác chết người tù ra nghĩa địa ngang qua chính chỗ mà bà này đang ngồi chờ. La Rochefoucault từng nhận xét là “khó có người nào khôn ngoan đủ để biết hết những cái ác mà y làm” (*). Rõ ràng là chẳng sai chút nào đối với người cộng sản. Dĩ nhiên cũng đáng mừng là đã có tù nhân sống sót về với gia đình. Nhưng bù lại thì cũng đã có rất nhiều người được cho về chỉ cốt để trại tù đỡ phải chôn họ. Và như thế là đỡ mang tiếng sát hại tù nhân. Người cộng sản không khôn đến độ ý thức cái ác của họ nhưng đủ khôn đến mức giả vờ nhân đạo cho những tù nhân gần chết về với gia đình.
Nhà báo Vũ Ánh không nằm trong số này. Phần chính, theo như tôi đã lạm bàn, là nhờ anh đã dứt khoát coi như mình không có gia đình, không cha mẹ vợ con, không cả thân mạng, không còn gì ráo. Anh đã thậm chí từ chối ra gặp Mẹ mình khi cụ bà cày cục đi thăm và có lẽ nhờ vậy mà đã không bị các cán bộ cộng sản dùng Mẹ và người anh cả làm áp lực truy bức anh. Có lần tôi hỏi xem anh phải sống làm sao trong tình trạng đó? Và nhất là làm sao giữ được đầu óc đừng phát điên và thân thể đừng bị phù thũng khi chỉ được cho ăn mấy lát khoai mì mỗi ngày với 2 muỗng nước muối bên trong xà lim? Câu trả lời của Vũ Ánh, đơn giản đến mức cộc lốc “đã chết rồi thì còn lo gì chuyện sắp chết?” Người đọc sẽ hiểu được lý do khiến anh và vài tù nhân gốc lính VNCH cả gan làm tờ báo chuyền tay mang tên Hợp Ðoàn ngay trong tù, trước mặt những tay điềm chỉ mà anh gọi là bọn “lá lúa PRC25” (**) khi hiểu được cái tâm cảm đã chết lúc vẫn còn thở của họ. Tôi không muốn nhắc lại những hành động đáng cho là can đảm và bất khuất của những người này trong trại tù (mà Vũ Ánh đã ghi trong sách) để mệnh danh họ là anh hùng. Chính họ thật sự cũng không hề muốn mạo nhận như thế. Tuy nhiên nếu không có một tâm lực cực nóng đối với điều mình tin tưởng và một ý lực cực mạnh đối với điều mình muốn làm thì đã không có những người liên tục kiếm đường trốn trại bất kể nỗi lo bị bắn chết (hay bị đánh chết) mà họ biết chắc là sẽ gặp nếu không thoát. Cũng đã không có cảnh một tù nhân nguyên là sĩ quan trẻ dám đứng lên, ngay trước mặt cai ngục và cán bộ cộng sản , để làm “quản ca” đốc thúc tất cả tù nhân hát vang bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” của Nguyễn Ðức Quang như được tả lại ở trang 65 “... ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người, làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam ...”; cũng đã không có chuyện một sinh viên 19 tuổi bị tù vì tội rải truyền đơn, can trường đấu khẩu tay đôi với cán bộ cộng sản và nhất định không quì gối theo lệnh của y, kèm theo khẩu CKC lên đạn mà hắn đã chĩa thẳng vào người anh khi ra lệnh (trang 115).
Tuy nhiên ghi nhận sơ lược về lòng quả cảm của đa số tù nhân trại cải tạo như thế đã đủ. Như xem một cuốn phim mà người xem chưa biết lúc mở gút (denouement) như thế nào, độc giả sẽ khám phá ra rất nhiều điều đáng ghi nhớ về cộng sản và những tù nhân VNCH nằm dưới tay họ khi đọc Hồi Ức của Vũ Ánh. Riêng đối với tôi, một bạn thân của Ánh, tôi còn muốn nhớ thêm, và nhớ mãi, hai sự kiện. Trước hết là mối tình đẹp muôn đời giữa Ánh và Ty như đã được chấm phá đôi nét ở trang 153. Ðẹp, và vui hơn nữa đối với riêng tôi, khi trong đám cưới, nhìn quanh quất không có ai, Ánh đã bảo tôi, “Mày đầu bạc đại diện đàng trai đứng chủ hôn luôn cho tao.” Vậy là tôi bỗng trở thành trưởng thượng của bạn mình trong khoảng 15 phút. Kế đó là bữa ăn thân hữu - loại bữa ăn mà tôi đã vui hưởng nhiều lần với nhiều bè bạn trong đời - diễn ra trong vòng non 1 tháng trước cái ngày định mệnh 14 tháng 3 năm nay. Ðây, do thâm tình giữa hai chúng tôi, là một kỷ niệm nhớ đời, bởi nó do chính tay bạn tôi nấu nướng cho tôi ăn. Lần đầu mà cũng là lần cuối. Nó mặn mòi, đơn sơ và hiền lành y như bản chất con người đích thực của bạn tôi. Tôi nghĩ tôi sẽ nhớ mãi bữa ăn đó, như sẽ nhớ mãi Hồi Ức của bạn tôi, coi như một tập văn kiện riêng, tuy rằng, như Ánh ghi trong lời kết “... tôi chỉ có mục đích duy nhất là để con cháu tôi và con cháu những bạn đồng tù với tôi ... dùng làm tài liệu tham khảo, đối chiếu và suy nghiệm khi cần thiết sau này ... “
Nguyễn Thiên Ân
(12 tháng 7, 2014)
(*) Il n'y a guère d'homme assez habile pour connaitre tout le mal qu'il fait
(**) Máy truyền tin của các đơn vị hành quân VNCH hồi thời chiến
Nguyễn Thiên Ân
Người đời định nghĩa cộng sản
Cộng sản: là gian là dối ...
Xã hội chủ nghĩa: là thối là tha ...
(Nguyên Thạch, blog Dân Làm Báo)
LTS - Tòa soạn xin đăng tải nguyên văn bài viết dưới đây của cựu ký giả Thiên Ân về tập hồi ức “Thung Lũng Tử Thần: Hồi Ức Của Một Người Tù Cải Tạo” của cố ký giả Vũ Ánh. Buổi ra mắt tác phẩm “Thung Lũng Tử Thần” sẽ được tổ chức vào lúc 2 pm ngày 19 Tháng Bảy, tại Phòng Sinh Hoạt Người Việt.
***
Vài tuần trước, một người tự xưng là thuộc một đơn vị tình báo của Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam công bố trên mạng một bản văn với đầy đủ hình ảnh ghi lại những vụ tàn sát dã man của lính Tàu nhắm vào các nữ tù binh Việt Nam trong trận chiến xâm lăng vùng biên giới. Người đọc bài và nhìn thấy những hình ảnh cho là nữ tù binh Việt Nam bị cắt xén các bộ phận sinh dục, lõa lồ phơi thây sau khi bị trục ra khỏi các quân y viện trên biên địa và bị hãm hiếp tập thể trước khi bị giết, đều không khỏi cảm thấy ghê rợn trong óc lẫn đau xót trong tim. Bài viết và những hình ảnh đó, nếu thật, cho thấy một thảm trạng mà có lẽ không ai còn chối cãi nổi, chứng minh thực chất tàn ác của những người cộng sản đối với những người được coi là các đồng chí cùng theo thánh Mác để xiển dương và thành đạt cuộc cách mạng nhắm đưa thế giới tiến lên chủ nghĩa xã hội đen.

Poster buổi ra mắt sách “Thung Lũng Tử Thần: Hồi Ức Của Một Người Tù Cải Tạo” tại Nhật Báo Người Việt chiều 19 Tháng Bảy, 2014.
(Hình: Triết Trần/Người Việt)
Nhưng thật ra thì đấy không phải là lần đầu tiên người ta được biết tới tâm địa độc ác của người cộng sản. Người đọc lịch sử đã biết chuyện Lenin và Stalin sát hại đến cả 20 triệu dân Nga sau khi cuộc cách mạng Bolsheviks thắng lợi năm 1917; hay chuyện Mao Trạch Ðông sát hại đến cả 10 triệu dân Tàu ngay từ thời cộng sản Tàu còn lâm chiến với Quốc Dân Ðảng của Tưởng Giới Thạch cho tới sau khi Mao chiếm trọn Hoa Lục năm 1949 và thành lập nước cộng sản Tàu, được mỹ miều mệnh danh là Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc. Thậm chí ngay trên quê hương Việt Nam thì chính các đảng viên cộng sản cũng xác nhận cuộc cải cách ruộng đất được Hồ Chí Minh và đảng cộng sản của ông ta mang ra thi hành sau khi chiếm được nửa đất nước, đã giết, và giết oan, đến cả 200 ngàn người theo lệnh giết người đúng tỉ số do Mao chỉ thị.
Thành thử có thể nói rằng cái ác của người cộng sản đã là một sự thật đương nhiên, đối với người khác chủng tộc, đối với đồng bào mình, đối với đồng chí và ngay cả đối với anh em ruột thịt. Ðối tượng truy sát của người cộng sản không cứ phải là đối thủ (thí dụ như Leon Trotsky bên Nga) mà có thể là chiến hữu (thí dụ như Lâm Bưu bên Tàu hay Nguyễn Bình ở Việt Nam), bạn bè, anh chị em (thí dụ như Ðinh Ðức Thiện) nếu những người đó dám chống đối, hay ngay cả chỉ dám bất đồng với đám chóp bu cộng sản. Bởi thế, những hành động cực ác mà người cộng sản làm đối với những người bị họ coi là kẻ thù không còn là chuyện đáng ngạc nhiên. Nhất là khi đó lại là những kẻ cựu thù thuộc hàng ngũ “phe thua trận,” nghĩa là những người không còn một mảy may khả năng chống đối hay tự vệ nào. Ðây có lẽ là đại ý của 270 trang sách tóm lược 13 năm tù gọi là “cải tạo” của ký giả Vũ Ánh. Quyển “Thung Lũng Tử Thần: Hồi Ức Của Một Người Tù Cải Tạo” là tập hợp những bài báo của ký giả Vũ Ánh viết đăng trên nhật báo Người Việt trước khi anh từ giã gia đình và thân hữu đi về miền miên viễn hôm 14 tháng 3 năm 2014. Sách với khổ 15x23cm do các thân hữu của anh trong tờ Người Việt ấn hành và bán với giá 20 Mỹ kim, do vậy không phải là một tác phẩm dài, hay trường thiên, tỉ như “Một ngày trong đời của Ivan Denissovitch,” hay “Trại Ung Thư” hay “Quần Ðảo Ngục Tù” của Aleksandr Solzhenitsyn. Người đọc, nếu muốn, và nếu thấy hấp dẫn, có thể đọc liên tục và đọc trọn trong chỉ một ngày. Ðó chính là điều tôi đã làm.
Một chi tiết có thể bị trành tròn ở đây. Vì nghịch lý. Ấy là làm thế nào mà một quyển sách viết về tội ác lại có thể hấp dẫn? Tội ác; được điểm xuyết bằng bệnh tật, bằng xương thịt rã rời vì bị đòn vọt và cùm gông suốt đêm ngày, bằng nước mắt kết tụ do cả đau đớn nhọc nhằn lẫn hận thù dằn vặt và bằng xác chết của người tù lẫn đôi khi là của thân nhân họ. Những hình ảnh đó cố nhiên là dễ gây kinh tởm, khiến nhiều người đọc có thể thở dài lau nước mắt rồi gấp sách. Ấy là nếu tác phẩm không kèm theo những chi tiết, rất nhiều chi tiết, về tình người, tình chiến hữu, tư cách và nhân tính của người tù. Nói cho rõ hơn, đó là tư cách và nhân tính của chính tác giả Vũ Ánh và những bạn đồng tù của anh trong các nhà giam từ Nam ra Bắc, nhất là trong trại trừng giới khổ sai A-20 Xuân Phước. Những đoạn ngắn, chỉ chiếm một phần nhỏ nội dung quyển sách, đã mô tả tình người bàng bạc của các cựu quân nhân VNCH sa cơ, của các tu sĩ Phật Giáo lẫn Công Giáo và nhất là của người dân thường cũng thuộc “bên thua trận” ở miền Nam Việt Nam dành cho những người tù khốn khổ này. Hấp dẫn là bởi thế. Chớ còn mô tả cái ác và lòng tham của những kẻ thắng trận thì sách vở từ thập niên 1980 tới nay đã trần tình không thiếu. Các bài báo và sách loại này nhiều đến mức không thể ghi lại đầy đủ nếu không chịu khó ngồi kiểm điểm và liệt kê mọi tài liệu đã được in ấn từ 35 năm nay của các cựu tù nhân. Tuy nhiên đấy không phải là mục đích của một bài viết ngắn, tóm tắt vài ý nghĩ và, thế tất là thiếu sót của một người đọc.
Trước hết, xin hãy nói về cái ác. Con người - hơn nữa, lại là người cộng sản - thì đúng như Freud đã xác nhận, vốn có tính tàn ác, thích gây đau khổ cho đồng loại để thưởng thức nỗi đau của đối tượng nhằm thỏa mãn bản chất hung ác của chính họ. Thiếu Tá Vũ Mộng Long, TÐT/TÐ82BÐQ kể lại trong một bài của ông chuyện một bạn tù trốn trại chẳng may vướng lại bên hàng rào kẽm gai chỉ để bị một cán bộ cộng sản ngồi cách đó không xa, tay cầm AK cứ thỉnh thoảng lại nâng súng lên bắn nát từng khớp xương trên tấm thân người tù. Người cộng sản chiến thắng, đầy quyền lực, cứ ngồi đó thưởng thức nỗi đau kèm tiếng rên la của một người lính thua trận và rồi bỏ mặc nạn nhân chảy máu cho đến chết. Những ví dụ chứng minh cái ác của người cộng sản đối với các chiến binh sa cơ của miền Nam có lẽ không còn cần phải được đưa ra thêm nữa. Nhưng gần đây thì còn những hình ảnh mới xuất hiện, và ngày một nhiều, trên mạng, lại cho thấy bên thắng trận ác như thế nào đối với những người - và đây là các thường dân không hề mang một chút nợ máu nào đối với nhân dân - chỉ chẳng may đứng trong hàng ngũ khối dân miền Nam bị xâm lăng mà thôi.
Hình ảnh một cụ già 90 tuổi, cầm một tấm bảng cầu cứu sau khi được báo cho biết căn nhà vách tôn cụ đang ở đã bị cưỡng chế, không thể không gây chấn động trong lòng người xem. Cũng trong thời gian này, hình ảnh trọn một gia đình ở Thạnh Hóa thuộc tỉnh Long An vừa than khóc vừa lớn tiếng tố cáo tội ác của người đang là bí thư huyện ủy và đám “công an” nơi họ ở, hùng hổ kéo tới trục xuất họ ra khỏi nhà. Nhiều trường hợp tương tự cũng đã được phơi bày, bởi chính các lão bà lưng còm má hóp lẫn con cháu họ trong những cuộc biểu tình công khai của dân oan mất đất, mất nhà, mất ruộng, mất vườn, mất hết. Tất cả căn nguyên đưa tới thảm nạn có thể được tóm gọn trong chữ tham. Và từ tham mà dẫn tới cái ác vô biên và tuyệt đối của những kẻ có quyền năng tuyệt đối. Xin hãy đọc một chi tiết ác, nhẹ nhất đối với những người tù, ở trang 70 trong sách của nhà báo Vũ Ánh.
“ ... mọi thứ thực phẩm của những anh em có gia đình thăm nuôi mang lên từ Hàm Tân Z30C đều bị ném vào mấy chiếc cần xé lớn. Viên cán bộ trực trại ra lệnh cho tù hình sự mang xuống nhà bếp của tù nhân với lệnh 'Ngày mai đem nấu để phát cho trại viên ăn chung.' Và đúng như lời ông ta, nhà bếp của tù nhân phải bóp bụng tuân lệnh nấu một thứ thực phẩm chè không ra chè, cháo chẳng ra cháo. Mỗi người được phát một nửa tô bằng nhựa một loại thực phẩm loãng gồm cơm khô, bột, lẫn vào đó là những cọng mì ăn liền. Thực ra, bình thường người dễ tính nhất cũng khó ăn, nhưng tù cải tạo đã 4 năm đói khát triền miên chúng tôi cũng vui vẻ thưởng thức món ăn mà trong đời chúng tôi chưa bao giờ được thấy này ...”
Tôi đoán đám tù khi ăn cái món tả pí lù quái dị đó đã phải “nhăn mặt mỉm cười” và tôi cũng võ đoán Vũ Ánh khi viết đoạn này cũng phải mang nét mặt y như thế. Khác chăng chỉ là lúc phải ăn ở Xuân Phước thì bấm bụng ăn cho đỡ đói, vừa ăn vừa chửi thề; còn khi ngồi tả lại ở Mỹ thì nhăn mặt vì tưởng tượng tới cái bụng đau nhừ sau khi ăn và rồi mỉm cười ghi nhận hạnh phúc của một cựu tù đang sống ở Mỹ và được thưởng thức các món cao lương mỹ vị ở những nhà hàng vùng Nam California. Quí vị có thể tự hỏi, “Tù, có ăn là may rồi, còn nhăn mặt chửi thề chi nữa.” Quí vị nghĩ đúng nếu chưa đọc đoạn kế tiếp, để nhờ đó mà biết rằng trong mấy cái cần xé đựng thực phẩm tiếp tế của gia đình cho người tù, còn có cả những hũ thịt ram mặn, những gói lạp xưởng hay thịt muối kiểu Tàu được nấu theo tiểu táo (bếp nhỏ) dành cho trưởng phó trại và an ninh!!! Nên nhớ là từng ấy “cao lương mỹ vị” đã được mẹ và vợ con các tù nhân đưa tới trại sau nhiều ngày trèo đèo vượt suối, đánh đố với chính sinh mạng họ. Những món ăn đó là kết quả của bao nhiêu tháng năm hi sinh dành dụm chắt mót của họ ... rốt lại đã lọt vào bụng những kẻ đang hành hạ con, chồng và cha họ bên trong vòng rào. Thật không còn nỗi xót xa và đắng cay nào hơn cho người tù khi nghĩ tới người thân và khi nhìn thấy đám cán bộ cộng sản hể hả thưởng thức công lao mồ hôi nước mắt của thân nhân mình. Nhất là sau năm bảy năm dài mà trong đó người tù chỉ hàng ngày được hưởng chế độ hai muỗng cơm, hai muỗng nước và hai muỗng muối trong biệt giam. Ðây là một hình thức tra tấn mà tác giả cho là vượt xa Ðức Quốc Xã (đối với dân Do Thái thời Ðệ Nhị Thế Chiến). Bởi muối thật nhiều trong thực đơn chỉ nhắm duy nhất một mục đích là làm người tù khát rã họng suốt ngày đêm và thân thể họ mau bị phù thũng để chết lẹ hơn mà thôi. Ðám cai tù cộng sản rõ ràng là phải rất sung sướng khi chứng kiến kết quả của những hành động tra tấn tâm thần lẫn thân xác người tù do họ chủ động. Niềm vui sướng kỳ quặc đó có thể được coi là một hiện tượng tâm lý phổ quát của đa số cán bộ trông coi các trại trừng giới trên cả nước Việt Nam sau ngày 30 tháng 4, 1975 nếu nhìn vào bằng cớ trưng dẫn trong sách vở và các bài báo của những cựu tù may mắn sống sót.
Tôi nghĩ cái hay của ký giả Vũ Ánh, căn bản, nằm trong lối mô tả các thực kiện suốt 13 năm tù của anh, kể cả hơn 6 năm bị cùm trong xà lim, đôi khi cùm cả tay lẫn chân. Tất cả các bài viết trong sách, gồm tổng cộng 30 tiểu mục không kể lời tác giả mở đầu và kết thúc cuối sách, đều được viết một cách nhẹ nhàng đến bình thản - đôi khi còn có cả nét cợt cười - không ai oán, không than van và nhất là vắng cả những thù hận đúng ra phải có đối với những kẻ đã cướp mất một phần đời trai trẻ và đáng sống nhất, chưa kể thiếu chút nữa đã tước đi mạng sống, của anh. Người đọc quyển Hồi Ức của Vũ Ánh có cảm tưởng anh đã mô phỏng văn phong trong “Ðiên” của một bậc tiền bối đã ở tù cộng sản trước anh, đã gánh chịu những cơ cực chẳng thua gì anh và đã bị hạ nhục có khi còn hơn cả anh vì địa vị của ông trong chính quyền VNCH trước khi bị cộng sản cầm tù ngoài Bắc từ Tết Mậu Thân. Chỉ khác là tác giả Hoàng Liên (Nguyễn Văn Ðãi) ở tù ngắn hơn anh mà thôi.
Cụ Hoàng Liên, cũng như Vũ Ánh, đã bị cộng sản cầm tù; nhưng đã vượt khỏi ngưỡng chết để sống nốt quãng đời còn lại của mình. Tôi cho đó là một cái may do trời đất, tổ tiên và ý chí của chính họ hơn là do lòng nhân của những người đã bắt bớ, kìm kẹp và lưu đày họ trong tình trạng sống không ra sống mà chết chẳng được chết. Nghĩa là không hề do sự khoan hồng mà đám cán bộ cộng sản luôn miệng nhấn mạnh trước các tù nhân, coi đó là một đặc trưng của chế độ cộng sản. Trong một đoạn (trang 175, 176), ghi lại những đối đáp, có thể coi là một cuộc đấu trí, giữa Vũ Ánh và một cán bộ trung ương tới trại thẩm vấn anh, Ánh đã định nghĩa rất chính xác lượng khoan hồng đó bằng một hình ảnh tỷ giảo “ ... khoan hồng mà nhà nước nói như kiểu này thì thà các ông đưa chúng tôi ra ngoài đồng, cho mỗi đứa một viên đạn, như thế mới đúng là khoan hồng ....” Lập luận tương tự cũng đã được ông Huỳnh Cự, Trung Tá (VC) trước ngày hồi chánh, khi trả lời trưởng trại giam “lẽ ra đem tôi ra bắn ở cầu Bình Triệu thì mới là khoan hồng” khi y nói với ông rằng ông được sống cho tới lúc đó là nhờ nhà nước khoan hồng. Các thành phần chống cộng đã nói tới cảnh tắm máu nếu cộng sản chiếm được miền Nam. Cảnh đó đã không thực sự xảy ra như ở Kampuchea khi Khmer Ðỏ vào tới Phnom Pênh. Nhưng lừa bịp tất cả các quân nhân và công chức VNCH, bị gọi một cách miệt thị là bọn “ngụy,” vô tù để buộc họ lãnh một cái án vô hạn kỳ mà có khi đã kéo dài đến hơn 17 năm đối với một số tù - mà loại uyển ngữ giả nhân giả nghĩa của cộng sản bắt phải gọi là “trại viên” - thì tình cảnh đó đôi khi còn tệ hơn là tắm máu.
Chính Vũ Ánh đã kể trong những lần bị thẩm vấn và khảo tra, anh đã thẳng thắn nói với cán bộ cộng sản thẩm vấn anh rằng với tấm thân “xác ve” tiều tụy anh đang mang thì có đem anh ra bắn cũng thế thôi; bởi anh “coi như đã chết rồi.” Anh viết rất rõ một nhân tố đã giúp người tù sống và giữ được phần NGƯỜI trong thân xác héo mòn của họ” ... muốn giữ được nhân phẩm, duy trì nhân cách và khí tiết, một người tù cải tạo phải biết chấp nhận phần xấu nhất cho đời tù của mình, đó là sẵn sàng ra nằm ở Ðồi Thông (nghĩa địa của tù nhân cải tạo) ... ” (trang 107). Tôi võ đoán rằng đó không chỉ là kết luận của Ánh mà còn là của tất cả những người tù kiên cường khác. Tôi cũng mạn phép võ đoán thêm một chút nữa rằng quyết định như thế không hề là một lối phát biểu kiểu anh hùng Tàu, khinh thường sinh mạng mình. Trái lại, đối với những người tù không có ngày mai thì “coi như đã chết” chỉ là một phương tiện để giữ cái sống cho mình. Nếu xét kỹ thì sẽ thấy tính thuận lý của việc coi như đã chết để còn được sống. Trường hợp những người quá u buồn, quá lo lắng cho vợ con đến nỗi co ro khúm núm luồn lụy kẻ thù với hi vọng sẽ được nhẹ tay và nhờ đó mà sống sót, thì cái sống của họ hình như không đáng mang ra so với những người coi như chết mà vẫn sống. Ấy là chưa kể trường hợp những người quá lo rồi thực sự lìa đời do đau ốm thân xác và bệnh hoạn tâm thần trong tù, hay đi làm ăn-ten ton hót cho cai tù biết hành trạng các bạn tù của mình đến độ bị khinh ghét, bị hành hung và chung cuộc đã chết thảm ngay cả khi đã ra khỏi tù. Những trường hợp đại để như vừa kể cho thấy rằng khi những người cộng sản thuộc “bên thắng cuộc” không tạo ra những biển máu đúng theo ý muốn của Lê Duẩn bằng cách giết toàn bộ sĩ quan từ cấp tá trở lên và công chức từ trung cấp trở lên, để thay bằng cách giết họ lần mòn trong các nhà tù, không chứng tỏ người cộng sản chủ trương khoan hồng hay hòa hợp hòa giải gì cả với đồng bào mình bên “phe thua cuộc.” Người cộng sản trong thời gian sau 30 tháng 4, 1975, theo thiển ý, không hề ý thức mức độ gian ác của họ; loại gian ác mà Ánh cho là “... không thể tưởng tượng nổi trên thế gian này lại có sự dối trá, che đậy đến mức phi nhân như thế ...” khi đám cán bộ lừa dối vợ của một người tù đang ngồi chờ chồng trong giây phút họ đưa xác chết người tù ra nghĩa địa ngang qua chính chỗ mà bà này đang ngồi chờ. La Rochefoucault từng nhận xét là “khó có người nào khôn ngoan đủ để biết hết những cái ác mà y làm” (*). Rõ ràng là chẳng sai chút nào đối với người cộng sản. Dĩ nhiên cũng đáng mừng là đã có tù nhân sống sót về với gia đình. Nhưng bù lại thì cũng đã có rất nhiều người được cho về chỉ cốt để trại tù đỡ phải chôn họ. Và như thế là đỡ mang tiếng sát hại tù nhân. Người cộng sản không khôn đến độ ý thức cái ác của họ nhưng đủ khôn đến mức giả vờ nhân đạo cho những tù nhân gần chết về với gia đình.
Nhà báo Vũ Ánh không nằm trong số này. Phần chính, theo như tôi đã lạm bàn, là nhờ anh đã dứt khoát coi như mình không có gia đình, không cha mẹ vợ con, không cả thân mạng, không còn gì ráo. Anh đã thậm chí từ chối ra gặp Mẹ mình khi cụ bà cày cục đi thăm và có lẽ nhờ vậy mà đã không bị các cán bộ cộng sản dùng Mẹ và người anh cả làm áp lực truy bức anh. Có lần tôi hỏi xem anh phải sống làm sao trong tình trạng đó? Và nhất là làm sao giữ được đầu óc đừng phát điên và thân thể đừng bị phù thũng khi chỉ được cho ăn mấy lát khoai mì mỗi ngày với 2 muỗng nước muối bên trong xà lim? Câu trả lời của Vũ Ánh, đơn giản đến mức cộc lốc “đã chết rồi thì còn lo gì chuyện sắp chết?” Người đọc sẽ hiểu được lý do khiến anh và vài tù nhân gốc lính VNCH cả gan làm tờ báo chuyền tay mang tên Hợp Ðoàn ngay trong tù, trước mặt những tay điềm chỉ mà anh gọi là bọn “lá lúa PRC25” (**) khi hiểu được cái tâm cảm đã chết lúc vẫn còn thở của họ. Tôi không muốn nhắc lại những hành động đáng cho là can đảm và bất khuất của những người này trong trại tù (mà Vũ Ánh đã ghi trong sách) để mệnh danh họ là anh hùng. Chính họ thật sự cũng không hề muốn mạo nhận như thế. Tuy nhiên nếu không có một tâm lực cực nóng đối với điều mình tin tưởng và một ý lực cực mạnh đối với điều mình muốn làm thì đã không có những người liên tục kiếm đường trốn trại bất kể nỗi lo bị bắn chết (hay bị đánh chết) mà họ biết chắc là sẽ gặp nếu không thoát. Cũng đã không có cảnh một tù nhân nguyên là sĩ quan trẻ dám đứng lên, ngay trước mặt cai ngục và cán bộ cộng sản , để làm “quản ca” đốc thúc tất cả tù nhân hát vang bài “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” của Nguyễn Ðức Quang như được tả lại ở trang 65 “... ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người, làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam ...”; cũng đã không có chuyện một sinh viên 19 tuổi bị tù vì tội rải truyền đơn, can trường đấu khẩu tay đôi với cán bộ cộng sản và nhất định không quì gối theo lệnh của y, kèm theo khẩu CKC lên đạn mà hắn đã chĩa thẳng vào người anh khi ra lệnh (trang 115).
Tuy nhiên ghi nhận sơ lược về lòng quả cảm của đa số tù nhân trại cải tạo như thế đã đủ. Như xem một cuốn phim mà người xem chưa biết lúc mở gút (denouement) như thế nào, độc giả sẽ khám phá ra rất nhiều điều đáng ghi nhớ về cộng sản và những tù nhân VNCH nằm dưới tay họ khi đọc Hồi Ức của Vũ Ánh. Riêng đối với tôi, một bạn thân của Ánh, tôi còn muốn nhớ thêm, và nhớ mãi, hai sự kiện. Trước hết là mối tình đẹp muôn đời giữa Ánh và Ty như đã được chấm phá đôi nét ở trang 153. Ðẹp, và vui hơn nữa đối với riêng tôi, khi trong đám cưới, nhìn quanh quất không có ai, Ánh đã bảo tôi, “Mày đầu bạc đại diện đàng trai đứng chủ hôn luôn cho tao.” Vậy là tôi bỗng trở thành trưởng thượng của bạn mình trong khoảng 15 phút. Kế đó là bữa ăn thân hữu - loại bữa ăn mà tôi đã vui hưởng nhiều lần với nhiều bè bạn trong đời - diễn ra trong vòng non 1 tháng trước cái ngày định mệnh 14 tháng 3 năm nay. Ðây, do thâm tình giữa hai chúng tôi, là một kỷ niệm nhớ đời, bởi nó do chính tay bạn tôi nấu nướng cho tôi ăn. Lần đầu mà cũng là lần cuối. Nó mặn mòi, đơn sơ và hiền lành y như bản chất con người đích thực của bạn tôi. Tôi nghĩ tôi sẽ nhớ mãi bữa ăn đó, như sẽ nhớ mãi Hồi Ức của bạn tôi, coi như một tập văn kiện riêng, tuy rằng, như Ánh ghi trong lời kết “... tôi chỉ có mục đích duy nhất là để con cháu tôi và con cháu những bạn đồng tù với tôi ... dùng làm tài liệu tham khảo, đối chiếu và suy nghiệm khi cần thiết sau này ... “
Nguyễn Thiên Ân
(12 tháng 7, 2014)
(*) Il n'y a guère d'homme assez habile pour connaitre tout le mal qu'il fait
(**) Máy truyền tin của các đơn vị hành quân VNCH hồi thời chiến

Hãy giữ lấy một chút lòng tự trọng, thưa ông thủ tướng
Hoàng Nam
(DanLamBao) Thưa ông Thủ Tướng!.
Nói đúng ra tôi cũng không muốn nói và viết về ông. Thực tình tôi cũng như các người dân Việt Nam khác, đã quá nhàm chán và coi thường những lời ông nói và những việc ông làm.
Chúng tôi đều biết ông là ai?. Thủ vai diễn nào trong kịch bản “Mãi Quốc Cầu Vinh”. Được đảng CSVN các ông kiên trì thực hiện từ thời HCM đến nay. Nhưng chúng tôi thấy ông phát biểu nhiều quá, tuyên bố hùng hồn đình đám quá, mà ông không hề thực hiện được một việc gì, dù rằng thật nhỏ nhoi như những gì ông nói. Điều đó ông cứ lập đi lập lại lần này qua lần khác, khiến người dân chúng tôi cảm thấy bị xúc phạm. Vì ông làm như vậy là đã quá coi thường sự hiểu biết của người dân về ông, và cái đảng CS thổ tả ôn dịch của ông.
Trong thâm tâm ông nghĩ người dân chúng tôi là những con Cừu, chính vì vậy mà ông luôn dùng ba tấc lưỡi Tào Tháo để bịp bợm dối trá mị dân, lừa đảo chúng tôi hết lần này lần khác. Nói cho bằng đúng ra là ông thực hiện cái vai diễn “Phản Thùng” của ông với Tàu Cộng, là nhằm mục đích an dân, thực hiện kế sách “Kẻ đánh người đàm” để người dân chúng tôi yên tâm không vong động chống lại bọn Tàu Cộng xâm lược, làm mất đi cái hòa khí của hai đảng, hai nhà nước đang trong tiến trình sát nhập làm một, mà các ông đã thỏa thuận với nhau trong cái gọi là “Mật Nghị Thành Đô” quái quỷ gì đó, mà các ông đang mong muốn thực hiện. Tôi nói vậy có đúng không thưa ngài Thủ Tướng?...
Ngài Thủ Tướng quý mến!
Có thể ông quá bận rộn với trăm công nghìn việc triều chính, mà quên đi những điều ông đã từng tuyên bố rồi bỏ đó. Nên ở đây tôi xin được nhắc lại một vài lời tuyên bố của ông trên các diễn đàn quốc tế và quốc nội để ông nhớ. Những điều ba hoa mà ông thốt ra khiến người dân chúng tôi thấy tội nghiệp cho lòng tự trọng của ông. Hình như nó đã bị ông mài mòn và biến nó thành chai lỳ gỗ đá trong con người của ông.
Tôi thiết nghĩ khi con người không có lòng “Tự Trọng” thì việc gì người ta cũng có thể nói, có thể làm mà không biết xấu hổ hay ngượng ngùng chi cả. Họ lừa dối mọi người và lừa dối chính mình. Tôi xin được trích ra đây một vài tuyên bố hùng hồn từ ngày bắt đầu ông chấp chính quyền Thủ Tướng đến nay. Như người Việt Nam ta có câu: “Nói có sách mách có chứng” Để ông khỏi nghĩ ngợi là chúng tôi đặt điều, vu khống cho ông.
Trước hết là trên các diễn đàn quốc tế.
- Ngày 31/05/2013 ở hội nghị Shangri La Singgapore, ông đã nhập vai diễn “Phản Thùng” một cách khá là thành công, nhẹ nhàng, êm ả bằng lời tuyên bố bóng bẩy xa gần về hành động bá quyền của Trung Cộng: “Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền”. Qua lời tuyên bố úp úp mở mở của ông nêu trên, khiến người dân chúng tôi vô tình đã bị ông dẫn dụ một cách khéo léo tài tình, đặt hết tin tưởng vào lòng “Yêu Nước Phản Trung, Viển Vông của ông. Và cũng chính vì lòng khát khao Dân Chủ cháy bỏng trong tâm khảm, mà người Việt Nam dễ dàng quên đi 70 năm qua, đảng CS của ông đã lừa bịp, và cai trị dân tộc này một cách tàn nhẫn, bạo lực và độc tài, dưới đủ mọi hình thức, mọi chiêu trò, được che đậy sau lớp áo đỏ tươi rực rỡ, vì độc lập, vì tự do, vì hạnh phúc của dân tộc. Ngẫm nghĩ lại việc các ông làm tội cảm thấy tội nghiệp cho sự chất phác, cả tin và bao dung của người dân VN chúng tôi...
- Ngày 22/05/2014. Trả lời báo chí quốc tế tại Philipine, ông tuyên bố và khẳng định một cách có khí có phách, có cả nhu lẫn cương, chứng tỏ ông là một người có tài hùng biện: “Chúng tôi luôn mong muốn có hòa bình hữu nghị, nhưng phải trên cơ sở độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không đánh đổi điều thiêng liêng này, để nhận lấy một thứ hòa bình viễn vông lệ thuộc nào đó”.
Thật tuyệt vời! Nội dung hàm chứa đầy đủ ý nghĩa và những điều cần phải khẳng định, một cách rất là rõ ràng, ngắn gọn xúc tích. Lời lẽ uyển chuyển bóng bẩy, được lồng trong những khôn khéo chính trị. Có thể nói một câu trả lời xứng đáng với tâm vóc của một Thủ Tướng, không chê vào đâu được, làm nức lòng người dân VN không ngớt lời ca ngợi, Thủ tướng đã nói thay cho nguyện vọng của người dân, đã can đảm nói thẳng vào ý đồ xâm lăng của bọn Đại Hán Trung Cộng, thậm chí có người còn nghĩ rằng rồi đây ông sẽ là một Gorbachyov của VN, và còn lo sợ cho ông bị bọn Tàu Cộng trả thù, hãm hại bản thân và gia đình của ông, và khuyên ông nên cẩn thận đề phòng. Ha! Ha! Ha! buồn cười quá...Buồn cười cho cái sự ngây ngô, đến độ khờ khạo của dân mình.
Thật tội nghiệp đã bị ông lừa phỉnh.
Xin hỏi ông TT. Ông đã làm gì sau những lời tuyên bối hùng hồn, đẹp đẽ ấy?...
Xin Thưa! Tôi sẽ trả lời thay ông để ông bớt đi phần ngượng ngập: Ông đã cấm cản người dân không được biểu tình chống lại hành vi xâm lược lãnh hải VN của Tàu Cộng qua giàn khoan HD981. Ông đã cho CA truy cản, bắt bớ, đánh đập người biểu tình. Thậm chí ông còn cho nhắn tin vào từng chiếc ĐTDĐ của người dân đang sử dụng, chỉ thị của ông là không ai được manh động, hay tự ý biểu tình. Như vậy việc nói và làm của ông là bất nhất, trái ngược nhau hoàn toàn.
Điều đó đã làm cho người dân chúng tôi sáng mắt và hiểu ra rằng: Lời nói của ông chỉ là thao thao bất tuyệt, đọc lên những câu cú đã được sắp sẵn trong kịch bản mà đảng của ông đạo diễn, phân vai cho ông. Nhưng dù sao, nhìn ở góc độ diễn xuất, ông quả là một diễn viên tài ba đẳng cấp, ai cũng phải công nhận ông là một tài năng về các thủ đoạn lưu manh chính trị. Biết tung ra những lời lẽ có lông, có cánh vào những sự kiện và thời điểm thích hợp để trấn an lòng dân, để đánh bóng tên tuổi và sự nghiệp chính trị của mình. Ở phần này tôi xin được nhắc cho ông nhớ. Cổ nhân người việt có câu: “Đong đấu nào trả đấu nấy, Chơi dao có ngày đứt tay” xin ông luôn nằm lòng ghi nhớ...
Thưa ông TT! Nếu viết về những lời nói và những việc làm của ông thì nhiều, rất nhiều, chắc có lẽ không người dân VN nào mà không biết về những chuyện của ông. Nên tôi chỉ xin viết ra đây một số việc của ông như một bằng chứng nói lên con người thật của ông. Còn những việc ông làm, chắc hẳn ông là người rõ hơn ai hết. Và cũng nhân chuyện này, tôi cũng muốn nhắc nhở với ông một chuyện cần thiết: Người dân bây giờ họ hiểu biết và sáng suốt hơn xưa rất nhiều, không dễ dàng gì xỏ mũi, hay che mắt họ như những ngày đầu CS vùng lên, nên xin ông hãy cẩn thận trong những việc ông nói và làm, kẻo bị họ coi thường khinh rẻ ông là con người thiếu lòng Tự Trọng.
Dưới đây tôi xin được trích dẫn những lời tuyên bố vuốt đuôi của ông sau sự kiện dịch chuyển của giàn khoan Tàu Cộng. Xin lưu ý ông là họ chỉ dịch chuyển, chứ không phải rút lui như ông lầm tưởng, thậm chí họ còn tiến vào sâu hơn nữa trong thềm lục địa VN, mà ông đã vội vàng tuyên bố vuốt đuôi một cách hồ đồ, trớt gướt. Đây là nguyên văn lời tuyên bố về vấn đề biển Đông của ông trong phiên họp chuyên đề của chính phủ về công tác xây dựng pháp luật ngày 16/07/2014: “Việt Nam kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc bằng sức mạnh tổng hợp, và các biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế. Yêu cầu TQ không tái diễn hành vi hạ đặt trái phép giàn khoan, cũng như các hành vi, vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên vùng biển VN.”
Lời tuyên bố nghe rất “Kêu” và mạnh bạo quá đi chứ!... Nhưng rất tiếc. Chỉ là lời vuốt đuôi khi sự việc đã rồi. Ngán ngẩm thay khi cứ “Soan lại hoài bổn cũ”...(Vấn đề này tôi xin được trở lại sau).
Ông Thủ Tướng quý mến!
Xuyên suốt quá trình hoạt động của ông, từ lúc ông nắm quyền TT đến nay. Người dân chúng tôi chỉ nghe thấy ông nói. Nói có bài có bản, nói hùng hồn khí phách, nhưng hầu như ông chẳng làm được việc gì, và cái việc “Nói khơi khơi” như vậy của ông, người VN chúng tôi có câu: “Ba voi chẳng được bát nước xáo” hay câu nói bình dân cửa miệng thì gọi là: “Ăn tục nói phét”. Cả hai câu trên đây, không biết có đúng không trong trường hợp của ông?...
Trở lại vấn đề “Nói” mới nhất của ông mà tôi vừa nêu ở trên. Trung Cộng họ không rút lui, mà họ còn cắm giàn khoan của họ vào sâu hơn trong lãnh hải VN. Trong trường hợp này ông sẽ làm gì?... Ông yêu cầu họ không được tái diễn, nhưng nay họ đã lại tái diễn rồi đó. Họ coi thường và phớt lờ các yêu cầu của ông cũng như khinh rẻ cái nhà nước mà ông đang cai quản. Ông kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc bằng sức mạnh tổng hợp. Tôi thiết nghĩ đây là Thời điểm thích hợp” như ông đã từng nói, để kiện họ ra tòa. Ông có dám làm không? Hay phải chờ họ tái diễn thêm nhiều lần như vậy nữa, hoặc họ chiếm hết đảo Trường Sa rồi mới bắt đầu “Chuẩn Bị”. Việc kiện họ ra tòa bây giờ cũng là một phần trong cái mà ông gọi là sức mạnh tổng hợp. Vậy trước mắt ông hãy đấu tranh bằng biện pháp pháp lý này thôi, người dân chúng tôi cũng ủng hộ và hoan hô ông hết lời, chứ chưa cần ông phải đấu tranh bằng sức mạnh tổng hợp nào khác “Viển vông”...
Cũng như nhận định của tất cả người dân. Ông đúng là một diễn viên có tài. Diễn xuất của cá nhân ông rất đạt. Nhưng kịch bản của các ông quá vụng về luộm thuộm. Đúng ra phải để cho ông làm được một việc gì đó cho có vẻ trung thực, hợp lý một chút, để khán giả (Nhân dân) còn tin. Các ông đã khinh suất, để chính cái vụng về thiếu sót đó, đã tố cáo các ông, và làm lộ ra cái “Đuôi Sam Đại Hán” đang mọc ra từng ngày, ngay sau gáy các ông.
Thưa ông Thủ Tướng!
Người VN chúng tôi đã mơ màng ngủ quên 70 năm nay, trong sự lừa bịp dối trá, tuyên tuyền quá khôn lanh nham hiểm của các ông. Nhưng cho đến hôm nay, họ bàng hoàng tỉnh giấc, sau những đêm dài trằn trọc quá nhiều ác mộng. Họ giật mình trỗi dậy, khi cảm nhận được những âm mưu xâm lược của “Người bạn láng giềng” 16 vàng 4 tốt, như lời các ông gọi. Đang từng ngày xâm chiếm và Hán Hóa dân tộc VN, với sự tiếp tay của đảng CSVN mà ông TT là một thành viên đắc lực trong đó. Ông ký cho Trung Công đem quân vào Tây Nguyên qua dự án Boxit, ông phá hoại kinh tế vĩ mô bằng “Quả đấm thép” Vinanin, Vinaline. Ông đã không ngần ngại ký xuất 200 ngàn dolla là tiền thuế của dân, cho TW đoàn TNCSVN, để nuôi dưỡng một lũ DLV Hồ đồ, lõ mãng và thiểu năng trí tuệ, có nhiệm vụ lên mạng nói bậy nói bạ, để vu khống chống lại những người dân chủ VN yêu nước. Ông ra nghị định 72 hòng bóp chết những tiếng nói trung thực, xây dựng đất nước trên các trang mạng Internet VN. Ông lên kế hoạch bỏ tù những người bất đồng chính kiến, chống lại ông, cụ thể như trường hợp của TS Cù Huy Hà Vũ. Và ông cũng không quên làm giàu cho gia đình mình bằng cách thâu tóm các Ngân hàng thông qua bầu Kiên và cô Phượng con gái rượu của ông. Ông bao che, dung túng cho tên Phó TT người Tàu Hoàng Trung Hải được toàn quyền quyết định, thao túng các dự án mang tầm vóc quốc sách về kinh tế, quốc phòng như cửa khẩu quan trọng Vũng Áng chẳng hạn.
Qua những việc ông thực hiện như nêu trên, khó có ai nghĩ rằng ông là người VN, mà người ta nghĩ ông là người “Lạ” của một cái nước “Lạ” nào đó.
Ông TT quý mến!
Nhìn những việc ông làm từ trước đến nay, hoàn toàn chẳng có gì ích nước lợi dân, ngoài những việc họp hành rồi tuyên bố ì xèo, thời gian còn lại của ông là dành cho công việc kết cấu Nhóm Lợi Ích (Cũng có thể gọi là băng đảng) để tham nhũng, làm giàu, và đấu đá nội bộ để tranh giành quyền lực. Đó là một sự thật hiển nhiên phơi bầy ra trước mặt người dân mà ông không thể nào phủ nhận, chối cãi, vì sự thật thì không thể che dấu được mãi...
Trước khi chấm dứt câu chuyện kể về ông. Tôi xin có được một lời khuyên cho ông và cái đảng CS chết tiệt của ông. Vẫn biết rằng tất cả các ông đều là diễn viên trong kịch bản “Mãi Quốc Cầu Vinh”. Từ BCT, cho đến 500 cái đầu để gật theo sự chỉ đạo của đảng. Người dân đều nhận thấy các ông, ai cũng có tài năng diễn xuất, “Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”. Nhưng tôi nghĩ cũng vẫn cần góp ý:
Nhân dân VN gần 70 năm qua. Ăn bánh vẽ của các ông quá nhiều và đã chán. Thế nên xin các ông vui lòng ngưng lại, cho chúng tôi nhờ. Kẻo chúng tôi như người say rượu, nuốt vào rồi lại phải cho ra tội nghiệp.
Xin các ông cứ âm thầm, hoặc công khai thực hiện những gì mà đảng và các ông đã ký kết cùng bọn Trung Cộng trong “Mật Nghị Thành Đô”, dân tộc này đã biết, và cũng chẳng bận tâm, nhưng xin các ông đừng lạm dụng hai từ “Nhân Dân” để tuyên bố um xum trời đất. Làm như vậy là làm tổn thương đến lòng tự trọng của người dân chúng tôi. Còn những việc còn lại của Tổ Quốc VN, như chống lại kẻ thù xâm lăng Tàu Cộng, và xây dựng một đất nước Dân Chủ. Nhân dân VN sẽ làm, và làm được, trong một ngày rất gần. Các ông hãy chờ đấy mà xem!...
Xét cho cùng. Việc kêu gọi các ông “Quay Đầu Lại Là Bờ”, là một điều “Không Tưởng”, như xây dựng thiên đường CS. Nên tôi xin mượn lời của một vị tổng thống của nước Nga, khi nói về những con người CS các ông, để kết thúc bài viết: “Đối Với CS thì không thể sửa chữa, mà chỉ có tiêu diệt”.
Chào tạm biệt, ngài Thủ Tướng
Hoàng Nam

Luôn ủng hộ dù Anh là ai! Viết ngắn khi đến thăm nhà nhạc sĩ Việt Khang
Nguyễn Võ
(Blog Huỳnh Ngọc Chênh) -
Ngoại anh ấy sau nhiều biến cố, gần năm nay bắt đầu sợ người lạ đến nhà, và bà luôn lẩm bẩm rằng thà giết bà đi, đừng bắt bớ giam cầm bà, bà có tội gì đâu! Thà cắt cổ bà đi, chứ đừng hành hạ, bỏ đói bà, không cho bà nhận thức ăn...
Ba anh ấy chỉ vừa ra đầu hẻm đón chúng tôi vào nhà, thì trong này bà đã ăn gần nửa con cá sống... bà không còn đủ minh mẫn để nhận ra mùi tanh nữa, chỉ khóc lóc la toáng lên rằng: "tại sao cá khô mà cũng không cho gửi vào, trong đó nó đói chết thì sao, sao tụi bây ác vậy?"...
Mình hiểu tại sao bà lại nói sảng như vậy....!!! Chỉ biết im lặng, những người bạn đi chung với mình ai cũng quay mặt đi mà khóc.
Em anh ấy thì học xong sư phạm ra cũng không được thi tuyển viên chức ở tỉnh, không được nhận vào bất cứ trường nào trong khu vực. Người làm tài xế cho một công ty thuộc khu công nghiệp Sóng thần cũng mất việc vì không may công ty ấy lại là công ty nhà nước.
Hôm qua,nghe đâu mẹ và vợ con anh đã đón xe khách chuyến 3h khuya để thăm anh. Trong 15-20p gặp mặt ngắn ngủi ấy không thể nào đủ để kể nhau nghe hết trăm nỗi khó khăn, ngàn mối lo toan của người trong nhà cùng những gian khổ bất công anh đã chịu đựng trong 1 tháng qua.
Nhưng thôi, âu cũng nhờ vậy mà họ còn chút niềm tin vào cuộc sống, dìu dắt nhau bước qua quãng đường cam go này. Biết nhiều chỉ khổ đau thêm thôi...
Cũng đã gần 3 năm rồi... thôi cố lên anh nhé, mọi người vẫn luôn bên anh, luôn ủng hộ anh... dù ANH LÀ AI!
Nguyễn Võ
Bản chất Cộng Sản muôn đời vẫn không thay đổi: Tuyên truyền dối trá, bóp méo sự thật, dã man giết hại nhân dân là sỡ trường của Cộng Sản.
Đảng Cộng Sản VN xử dụng chính sách dùng côn đồ để đàn áp, đánh đập, bỏ tù nhân dân và những người yêu nước biểu tình chống Tàu Cộng.
Nếu tất cả người dân Việt Nam không đoàn kết đứng lên lật đổ chế độ Cộng Sản.
Chắc chắn một ngày không xa, cả Dân Tộc Việt Nam sẽ làm nô lệ cho Tàu cộng.
Lần này không chỉ 1000 năm, mà có thể vĩnh viễn.
Hơn bốn nghìn năm lịch sử Việt Nam. Không có một triều đại hay một chánh phủ nào chịu dâng nước cho ngoại bang, chỉ có duy nhất đảng Cộng Sản Việt Nam qúa hèn hạ bán nước và chấp nhận làm nô lệ cho giặc Tàu.
Muốn giữ gìn đất nước, trước tiên phải tiêu diệt đảng Cộng Sản Việt Nam.
http://www.youtube.com/watch?v...
Chạy Dân Làm Báo: Luôn ủng hộ dù Anh là ai! - Mỗi người chúng ta là một chiến sỹ thông tin * Citizen Journalism
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Cuộc đấu tranh theo hai hướng
Bùi Tín (Blog VOA)
Giàn khoan HD-981 đã được kéo ra khỏi vùng biển VN, vừa đúng khi cơn bão Rammasun kéo đến.
Xin những ai còn lo đến vận mệnh của đất nước chớ vội thở phào nhẹ nhõm, coi như mối đe dọa từ phương Bắc đã thuộc về quá khứ, và từ nay ta có thể ngủ yên. Nghĩ như vậy là rơi vào bẫy của bành trướng.
Cuộc khủng hoảng Biển Ðông còn nguyên vẹn, khi giàn khoan HD-981 rút về, vì Bắc Kinh luôn luôn coi “vùng biển Hoa Nam” - Biển Ðông của Việt Nam - là vùng “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc, cho nên độc chiếm nó là mục tiêu chiến lược hàng đầu của họ.
Do vậy, toàn dân phải tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ hơn, bền bỉ dẻo dai hơn, toàn diện hơn, chống bành trướng Bắc Kinh trên mọi lĩnh vực - quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa - không phải vì TQ tạm rút giàn khoan do mùa mưa bão mà giảm khí thế đấu tranh.
Nhà báo Roger Milton trên báo Myanmar Times (7.7.2014) cho rằng lãnh đạo VN đã có sự chia rẽ, và kết luận rằng “về cơ bản VN đã đầu hàng.”
Rõ ràng là nhóm lãnh đạo đã không ngang tầm với trách nhiệm bảo vệ đất nước chống bành trướng và xâm lược, còn ngáng trở cuộc đấu tranh của nhân dân, không đi cùng với nhân dân, luôn tỏ ra lập trường hai mặt; khi bọn bành trướng hoàn toàn giở trò vũ phu cậy nước lớn đông người, vừa ăn cướp vừa la làng, hoàn toàn xóa bỏ phương châm “4 tốt, 16 chữ vàng” do chúng đề ra. Vậy thì phía VN còn có lý do gì mà còn coi TQ là bạn, thậm chí là “bạn tốt,” còn có lý do gì mà không tìm bạn khác đáng tin cậy để kết thân, thậm chí kết liên minh theo quyền tự do của mỗi nước.
Các lực lượng dân chủ nhân quyền trong xã hội dân sự hãy mở tiếp mặt trận đối ngoại năng động và sáng tạo ra ngoài biên giới nước ta. Anh chị em vận động dân chủ và nhân quyền vừa qua đã tỏ ra là một mũi nhọn xung kích của nền ngoại giao nhân dân đúng nghĩa, bổ sung và thay thế cho nền ngoại giao nhà nước ù lì, nhu nhược, vừa chống vừa run trước thế lực bành trướng.
Một hướng đấu tranh cần đẩy mạnh trong nước là hướng dẫn dư luận xã hội chỉ ra cho lãnh đạo đảng, Nhà nước, Quốc Hội, Mặt Trận Tổ Quốc, cho Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng CS rằng nếu họ tự nhận là lực lượng lãnh đạo đất nước thì họ phải đi đầu trong cuộc đấu tranh chống bành trướng, phải sát cánh với nhân dân trong các cuộc xuống đường, biểu tình ôn hòa chống bành trướng, phải mạnh dạn phát đơn kiện TQ ra trước tòa án quốc tế như chính phủ Philippines đã làm.
Nhân dân ta cần chất vấn các cấp chính quyền, các đại biểu Quốc Hội về một loạt vấn đề như:
Vì sao lại hạn chế, cấm các cuộc biểu tình ôn hòa chống bành trướng, bảo vệ ngư dân ta, vì sao lập trường công khai, chính thức của lãnh đạo Ðảng CS và Nhà nước VN lại yếu kém rõ rệt so với lập trường chính thức của Philippines, Nhật Bản và Hoa Kỳ trong vấn đề biển Ðông, một vấn đề sinh tử của chính nước ta? Vì sao khi Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama cử cố vấn đặc biệt, giám đốc Á Châu Vụ của Hội đồng An Ninh Quốc Gia Evan Medeiros sang Hà Nội ngày 14 tháng 7 vừa để thúc đẩy việc ký kết Hiệp ước Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương TPP, vừa để bàn sâu thêm về cuộc khủng hoảng biển Ðông trong triển vọng nâng cao thêm quan hệ đối tác toàn diện, về quốc phòng và an ninh, phía VN lại tỏ ra thiếu sốt sắng, còn có vẻ lạnh nhạt một cách khó hiểu và dại dột nữa. Người tiếp đặc phái viên tổng thống Hoa Kỳ là Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh, một người không có chân trong Bộ Chính Trị, chỉ là ủy viên mới trong Ban Chấp Hành Trung Ương, không có quyền uy gì đáng kể. Ông cũng không thể trả lời rõ ràng về việc ký kết hiệp cuối về TPP cũng như về biển Ðông, không đáp ứng điều gì về những gợi ý tăng cường quan hệ đối tác toàn diện Việt-Mỹ trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh.
Ông Minh từng được Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry mời gấp sang Washington DC để bàn về tình hình biển Ðông ngay từ đầu tháng 5, nhưng cứ lần lữa mãi. Nay chính phía Mỹ cử phái viên đặc biệt của tổng thống sang, mà không có một vị nào trong Bộ Chính Trị tiếp. Rõ ràng là một nền ngoại giao nhà nước ốm yếu, tê liệt, bị bọn bành trướng khống chế, một nền ngoại giao đầu hàng từ sự kiện Thành Ðô (tháng 9, 1990) với những thỏa thuận bí mật sau lưng nhân dân, sau lưng cả Quốc Hội; những thỏa thuận bất hợp pháp vì không được Quốc Hội thỏa thuận, đã đến lúc cần công khai hóa, minh bạch hóa cho toàn dân sáng tỏ và phủ định. Ðây là biện pháp “Thoát Trung” cơ bản, cấp bách.
Trong hoàn cảnh hiện nay, Bộ Chính Trị nên xem xét kỹ tình hình, lắng nghe nguyện vọng của lao động, nông dân, tuổi trẻ, thuận theo kiến nghị của trí thức tiên phong của dân tộc, ra nghị quyết theo 2 hướng:
1. Cải cách cơ chế chính trị, chuyển đổi từ hệ thống độc đảng lạc lõng cô đơn sang hệ thống đa đảng đa nguyên phổ cập của thế giới, để công dân được lựa chọn hiền tài thay mặt cho mình cầm quyền ở các cấp, chấm dứt việc Ban Tổ Chức của Ðảng CS ở Trung Ương và các cấp tùy tiện ban phát chức vụ theo phe nhóm lợi ích, nguyên nhân cơ bản của sự xuống cấp thê thảm của chế độ hiện nay.
Công đoàn tự do được thành lập ở các địa phương, ngành nghề, xí nghiệp. Trả tự do cho những người bị giam vì lý do chính trị như đã trả tự do cho các công dân Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung, Ðỗ Thị Minh Hạnh...
2. Trong lĩnh vực đối ngoại: chủ trương giữ mối quan hệ láng giềng tốt, bình đẳng, tôn trọng nhau với TQ, đồng thời thực hiện quan hệ hợp tác toàn diện, bè bạn thân thiết, đối tác chiến lược với các nước tán thành chủ trương đối nội và đối ngoại mới của VN, có thể kể ra là Hoa Kỳ, Philippines, Nhật Bản, Ấn Ðộ, Liên Âu, Úc... Các mối quan hệ chặt chẽ, tin cậy trên đây không nhằm chống một nước nào.
Các chủ trương cụ thể trong mục 1 trên đây cũng là để dọn đường cho VN gia nhập thuận lợi Hiệp ước TPP, mang lại nhiều lợi thế và lợi ích cho VN.
Giao cho Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng chuẩn bị thật tốt cho cuộc họp đối tác chiến lược Việt-Mỹ dự định vào tháng 9 tới tại VN. Theo AP và báo The Washington Post (13.7.2014) Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel sẽ tham dự cuộc họp quan trọng này. Cuộc họp sẽ đề cập đến vấn đề tăng cường quan hệ giữa Hải quân VN với Hạm Ðội 7 của Hoa Kỳ cũng như vấn đề Hoa Kỳ có thể thỏa thuận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.
Trên đây là những chủ trương mang tính đột phá chiến lược, cấp bách và hoàn toàn chín muồi, mang lại cho VN một thế chiến lược mới để bảo vệ nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, mang lại phát triển, thịnh vượng và hạnh phúc lâu bền cho toàn dân tộc.
Ðây là nguyện vọng của đông đảo nhân dân ta mong được bàn luận rộng rãi và tạo nên công luận làm áp lực có sức thuyết phục với những người lãnh đạo CS, với đông đảo đảng viên CS còn có lương tâm và trách nhiệm với nhân dân, với đất nước.
Bùi Tín (Blog VOA)
Giàn khoan HD-981 đã được kéo ra khỏi vùng biển VN, vừa đúng khi cơn bão Rammasun kéo đến.
Xin những ai còn lo đến vận mệnh của đất nước chớ vội thở phào nhẹ nhõm, coi như mối đe dọa từ phương Bắc đã thuộc về quá khứ, và từ nay ta có thể ngủ yên. Nghĩ như vậy là rơi vào bẫy của bành trướng.
Cuộc khủng hoảng Biển Ðông còn nguyên vẹn, khi giàn khoan HD-981 rút về, vì Bắc Kinh luôn luôn coi “vùng biển Hoa Nam” - Biển Ðông của Việt Nam - là vùng “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc, cho nên độc chiếm nó là mục tiêu chiến lược hàng đầu của họ.
Do vậy, toàn dân phải tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ hơn, bền bỉ dẻo dai hơn, toàn diện hơn, chống bành trướng Bắc Kinh trên mọi lĩnh vực - quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa - không phải vì TQ tạm rút giàn khoan do mùa mưa bão mà giảm khí thế đấu tranh.
Nhà báo Roger Milton trên báo Myanmar Times (7.7.2014) cho rằng lãnh đạo VN đã có sự chia rẽ, và kết luận rằng “về cơ bản VN đã đầu hàng.”
Rõ ràng là nhóm lãnh đạo đã không ngang tầm với trách nhiệm bảo vệ đất nước chống bành trướng và xâm lược, còn ngáng trở cuộc đấu tranh của nhân dân, không đi cùng với nhân dân, luôn tỏ ra lập trường hai mặt; khi bọn bành trướng hoàn toàn giở trò vũ phu cậy nước lớn đông người, vừa ăn cướp vừa la làng, hoàn toàn xóa bỏ phương châm “4 tốt, 16 chữ vàng” do chúng đề ra. Vậy thì phía VN còn có lý do gì mà còn coi TQ là bạn, thậm chí là “bạn tốt,” còn có lý do gì mà không tìm bạn khác đáng tin cậy để kết thân, thậm chí kết liên minh theo quyền tự do của mỗi nước.
Các lực lượng dân chủ nhân quyền trong xã hội dân sự hãy mở tiếp mặt trận đối ngoại năng động và sáng tạo ra ngoài biên giới nước ta. Anh chị em vận động dân chủ và nhân quyền vừa qua đã tỏ ra là một mũi nhọn xung kích của nền ngoại giao nhân dân đúng nghĩa, bổ sung và thay thế cho nền ngoại giao nhà nước ù lì, nhu nhược, vừa chống vừa run trước thế lực bành trướng.
Một hướng đấu tranh cần đẩy mạnh trong nước là hướng dẫn dư luận xã hội chỉ ra cho lãnh đạo đảng, Nhà nước, Quốc Hội, Mặt Trận Tổ Quốc, cho Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng CS rằng nếu họ tự nhận là lực lượng lãnh đạo đất nước thì họ phải đi đầu trong cuộc đấu tranh chống bành trướng, phải sát cánh với nhân dân trong các cuộc xuống đường, biểu tình ôn hòa chống bành trướng, phải mạnh dạn phát đơn kiện TQ ra trước tòa án quốc tế như chính phủ Philippines đã làm.
Nhân dân ta cần chất vấn các cấp chính quyền, các đại biểu Quốc Hội về một loạt vấn đề như:
Vì sao lại hạn chế, cấm các cuộc biểu tình ôn hòa chống bành trướng, bảo vệ ngư dân ta, vì sao lập trường công khai, chính thức của lãnh đạo Ðảng CS và Nhà nước VN lại yếu kém rõ rệt so với lập trường chính thức của Philippines, Nhật Bản và Hoa Kỳ trong vấn đề biển Ðông, một vấn đề sinh tử của chính nước ta? Vì sao khi Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama cử cố vấn đặc biệt, giám đốc Á Châu Vụ của Hội đồng An Ninh Quốc Gia Evan Medeiros sang Hà Nội ngày 14 tháng 7 vừa để thúc đẩy việc ký kết Hiệp ước Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương TPP, vừa để bàn sâu thêm về cuộc khủng hoảng biển Ðông trong triển vọng nâng cao thêm quan hệ đối tác toàn diện, về quốc phòng và an ninh, phía VN lại tỏ ra thiếu sốt sắng, còn có vẻ lạnh nhạt một cách khó hiểu và dại dột nữa. Người tiếp đặc phái viên tổng thống Hoa Kỳ là Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh, một người không có chân trong Bộ Chính Trị, chỉ là ủy viên mới trong Ban Chấp Hành Trung Ương, không có quyền uy gì đáng kể. Ông cũng không thể trả lời rõ ràng về việc ký kết hiệp cuối về TPP cũng như về biển Ðông, không đáp ứng điều gì về những gợi ý tăng cường quan hệ đối tác toàn diện Việt-Mỹ trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh.
Ông Minh từng được Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry mời gấp sang Washington DC để bàn về tình hình biển Ðông ngay từ đầu tháng 5, nhưng cứ lần lữa mãi. Nay chính phía Mỹ cử phái viên đặc biệt của tổng thống sang, mà không có một vị nào trong Bộ Chính Trị tiếp. Rõ ràng là một nền ngoại giao nhà nước ốm yếu, tê liệt, bị bọn bành trướng khống chế, một nền ngoại giao đầu hàng từ sự kiện Thành Ðô (tháng 9, 1990) với những thỏa thuận bí mật sau lưng nhân dân, sau lưng cả Quốc Hội; những thỏa thuận bất hợp pháp vì không được Quốc Hội thỏa thuận, đã đến lúc cần công khai hóa, minh bạch hóa cho toàn dân sáng tỏ và phủ định. Ðây là biện pháp “Thoát Trung” cơ bản, cấp bách.
Trong hoàn cảnh hiện nay, Bộ Chính Trị nên xem xét kỹ tình hình, lắng nghe nguyện vọng của lao động, nông dân, tuổi trẻ, thuận theo kiến nghị của trí thức tiên phong của dân tộc, ra nghị quyết theo 2 hướng:
1. Cải cách cơ chế chính trị, chuyển đổi từ hệ thống độc đảng lạc lõng cô đơn sang hệ thống đa đảng đa nguyên phổ cập của thế giới, để công dân được lựa chọn hiền tài thay mặt cho mình cầm quyền ở các cấp, chấm dứt việc Ban Tổ Chức của Ðảng CS ở Trung Ương và các cấp tùy tiện ban phát chức vụ theo phe nhóm lợi ích, nguyên nhân cơ bản của sự xuống cấp thê thảm của chế độ hiện nay.
Công đoàn tự do được thành lập ở các địa phương, ngành nghề, xí nghiệp. Trả tự do cho những người bị giam vì lý do chính trị như đã trả tự do cho các công dân Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung, Ðỗ Thị Minh Hạnh...
2. Trong lĩnh vực đối ngoại: chủ trương giữ mối quan hệ láng giềng tốt, bình đẳng, tôn trọng nhau với TQ, đồng thời thực hiện quan hệ hợp tác toàn diện, bè bạn thân thiết, đối tác chiến lược với các nước tán thành chủ trương đối nội và đối ngoại mới của VN, có thể kể ra là Hoa Kỳ, Philippines, Nhật Bản, Ấn Ðộ, Liên Âu, Úc... Các mối quan hệ chặt chẽ, tin cậy trên đây không nhằm chống một nước nào.
Các chủ trương cụ thể trong mục 1 trên đây cũng là để dọn đường cho VN gia nhập thuận lợi Hiệp ước TPP, mang lại nhiều lợi thế và lợi ích cho VN.
Giao cho Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng chuẩn bị thật tốt cho cuộc họp đối tác chiến lược Việt-Mỹ dự định vào tháng 9 tới tại VN. Theo AP và báo The Washington Post (13.7.2014) Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel sẽ tham dự cuộc họp quan trọng này. Cuộc họp sẽ đề cập đến vấn đề tăng cường quan hệ giữa Hải quân VN với Hạm Ðội 7 của Hoa Kỳ cũng như vấn đề Hoa Kỳ có thể thỏa thuận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.
Trên đây là những chủ trương mang tính đột phá chiến lược, cấp bách và hoàn toàn chín muồi, mang lại cho VN một thế chiến lược mới để bảo vệ nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, mang lại phát triển, thịnh vượng và hạnh phúc lâu bền cho toàn dân tộc.
Ðây là nguyện vọng của đông đảo nhân dân ta mong được bàn luận rộng rãi và tạo nên công luận làm áp lực có sức thuyết phục với những người lãnh đạo CS, với đông đảo đảng viên CS còn có lương tâm và trách nhiệm với nhân dân, với đất nước.
Biển Đông và Ngư Dân
Trần Khải
Biển Đông như dường sẽ không bao giờ êm nữa... Vì khi giàn khoan 981 kéo về Hải Nam, Trung Quốc liền chơi những màn gay cấn khác.
Và ngư dân Việt là những người thiệt hại trước tiên... và thiệt hại trong tận cùng sẽ là dân tộc Việt Nam vì nhiều mảng biển, mảng đảo kể như sang tay cho đàn anh Phương Bắc.
Bản tin VOA hôm 28-7-2014 kể chuyện Trung Quốc tiến hành các cuộc tập trận ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, có thể gây gián đoạn không lưu và tăng thêm căng thẳng với các nước láng giềng có tranh chấp trong khu vực.
Bản tin này viết:
“Cuộc tập trận bắn đạn thật đang diễn ra ở Vịnh Bắc Bộ, gần Việt Nam và cuộc tập trận ở eo biển Bột Hải dự kiến kết thúc vào đầu tháng 8 trong khi một cuộc tập trận khác kéo dài trong 5 ngày ở Biển Hoa Đông mà Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói là ‘thường lệ’sắp khởi sự vào ngày 29 tháng này và chấm dứt ngày 2/8.
Tờ Bắc Kinh dẫn lời một nhà nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Hải quân Trung Quốc nói dù quy mô các cuộc tập trận hiện nay lớn hơn trong quá khứ nhưng các cuộc tập trận thường niên này được tổ chức cùng thời điểm là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.
Tân Hoa xã đưa tin Trung Quốc khuyến cáo tàu bè không được lai vảng đến khu vực cuộc tập trận ở Biển Hoa Đông và yêu cầu giới hữu trách bảo đảm an toàn trong thời gian diễn ra tập trận từ 12 giờ khuya đến 6 giờ chiều mỗi ngày.
Nhà chức trách Trung Quốc cho biết đã lên kế hoạch các tuyến đường bay thay thế để giảm thiểu các chuyến bay bị đình hoãn vì các cuộc tập trận...”(hết trích)
Nghĩa là, Trung Quốc cho cả thế giới biết rằng TQ là chủ toàn vùng Biển Đông, tập trận thoải mái, bắn đạn thật, cấm bay, cấm tàu bè...
Không phải làm chủ Biển Đông (và Vịnh Bắc Bộ, sao lại có quyền cấm như thế?
Tất nhiên, Việt Nam im lặng. Như dường là chuyện của nước khác... và như dường là chuyện của đời sau.
Bản tin VOA hôm 28-7-2014 về ngư dân nêu lên thảm cảnh “Ngư dân Việt vỡ nợ sau các vụ tấn công của Trung Quốc ở Biển Đông.”
Bản tin VOA ghi nhận:
“Ngư dân trên đảo Lý Sơn, tỉnh Quãng Ngãi, tả tơi và vỡ nợ sau các cuộc tấn công của tàu Trung Quốc ở Hoàng Sa trong thời gian giàn khoan 981 hiện diện tại khu vực.
Phóng viên đài VOA Poch Reasey vừa thực hiện chuyến thăm Lý Sơn 1 ngày tường thuật rằng dù tình hình trên biển đã lắng dịu sau khi Bắc Kinh rút giàn khoan về nước, nhưng ngư dân Việt vẫn chưa hàn gắn được những nỗi đau đớn, mất mát, thiệt hại vì tài sản mất trắng, tàu bè hư hại, nợ nần chồng chất và họ đang khẩn thiết mong chờ sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính quyền địa phương.
Poch Reasey: Tới đảo Lý Sơn, tôi gặp rất nhiều ngư dân trên đó. Hai ngư dân mà tôi có dịp nói chuyện, cả hai đều có tàu bị hư phải sửa chữa lại. Họ lúc này không có tiền, phải đi vay mượn của bà con. Họ nói chưa nhận gì từ chính phủ, chính phủ không có giúp gì. Họ yêu cầu chính phủ giúp vì họ không có tiền lúc này. Trung Quốc bắn nước làm tàu họ hư ngày 6/7/14 trong lúc giàn khoan còn đó. Còn chủ chiếc tàu khác nói năm ngoái tàu ông bị Trung Quốc tấn công 2 lần, tháng 7 năm nay bị lần nữa.
Trà Mi: Khả năng sửa chữa, phục hồi của họ hiện nay ra sao?
Poch Reasey: Bây giờ tàu họ còn đang sửa vì bị hư nhiều nên cần thời gian rất nhiều. Một chuyện nữa, trong thời gian ở đảo Lý Sơn này, Reasey nghe dân ở đây nói trước đây chưa bao giờ có nhiều khách như vậy từ khắp nơi đến thăm để xem cuộc sống ở đây ra sao. Họ xem TV thấy hoàn cảnh vậy nên muốn ra đây xem và giúp đỡ.
Trà Mi: Các ngư dân bị Trung Quốc tấn công, họ có cho biết kế hoạch sắp tới ra sao, họ đã cầu cứu những đâu?
Poch Reasey: Họ có nói là đã xin chính quyền giúp đỡ, nhưng chưa nhận được tiền bạc hay sự giúp đỡ gì từ chính phủ. Cho nên, họ tiếp tục yêu cầu chính phủ Việt Nam giúp đỡ họ.
Trà Mi: Về sự bảo vệ, họ có yêu cầu hay nguyện vọng thế nào?
Poch Reasey: Họ cũng có yêu cầu, nhưng không nhận được cái gì từ chính phủ.
Trà Mi: Những nhu cầu thiết yếu chưa được đáp ứng có làm cho họ chùn bước?
Poch Reasey: Họ nói họ vẫn tiếp tục đi vì biển đó là biển của Việt Nam từ lịch sử xa xưa rồi. Họ không sợ, họ vẫn tiếp tục đi như bình thường...
...Trà Mi: Anh có suy nghĩ thế nào về những gì mắt thấy tai nghe trong chuyến ra thăm đảo Lý Sơn lần này?
Poch Reasey: Tôi thấy cuộc sống của dân trên đảo không dễ, rất khó khăn. Họ đi biển mỗi chuyến đi hàng tháng, bỏ vợ con ở nhà, không biết thời tiết ra sao hay sẽ có chuyện gì, rất khó khăn...”(hết trích)
Nghĩa là, ngư dân Việt thê thảm.
Thế còn ngư dân Taù thì sao? Nhà nước TQ sẽ trang bị cho họ...
Báo Người Lao Động hôm Thứ Hai 28-7-2014 kể:
“Dự kiến đến cuối năm 2014, 50.000 tàu cá của Trung Quốc sẽ được trang bị hệ thống định vị vệ tinh Bắc Đẩu cho phép liên lạc trực tiếp với lực lượng hải cảnh nước này khi hoạt động trên các vùng biển tranh chấp ở biển Đông.
Theo Reuters, tại đảo Hải Nam - cửa ngõ của Trung Quốc ra biển Đông - chính phủ sẽ hỗ trợ các chủ tàu tới 90% chi phí gắn thiết bị sản xuất nội địa vốn được dùng cho quân đội này. Động thái nêu trên cho thấy sự tăng cường hỗ trợ tài chính của chính phủ Trung Quốc trong bối cảnh hoạt động đánh bắt của nước này ngày càng táo bạo ở cả những khu vực không phải ngư trường truyền thống.
Các chủ tàu cá ở cảng cá Tanmen, Hải Nam cho biết chính quyền khuyến khích họ đến đánh bắt ở những vùng biển tranh chấp và tạo điều kiện bằng cách trợ giá nhiên liệu. Sự dung túng này khiến các tàu cá Trung Quốc trên biển Đông manh động và hung hãn hơn bao giờ hết....
...Theo Reuters, chỉ vài tuần sau khi nhậm chức vào tháng 3-2013, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có chuyến thăm đột xuất tới Tanmen. Tại đây, ông Tập đã nói với các ngư dân rằng chính phủ sẽ hành động nhiều hơn để bảo vệ họ đánh bắt ở các khu vực tranh chấp. Một số ngư dân cũng xác nhận giới chức Hải Nam khuyến khích họ đến tận quần đảo Trường Sa của Việt Nam để đánh bắt và mỗi ngày được trợ cấp 2.000 – 3.000 nhân dân tệ (320 – 480 USD) cho tàu loại 500 mã lực.”(hết trích)
Nghĩa là, ngư dân ta bị Hà Nội bỏ mặc, còn ngư dân Tàu được trang bị và tài trợ để vây chặt Biển Đông.
Trần Khải
Biển Đông như dường sẽ không bao giờ êm nữa... Vì khi giàn khoan 981 kéo về Hải Nam, Trung Quốc liền chơi những màn gay cấn khác.
Và ngư dân Việt là những người thiệt hại trước tiên... và thiệt hại trong tận cùng sẽ là dân tộc Việt Nam vì nhiều mảng biển, mảng đảo kể như sang tay cho đàn anh Phương Bắc.
Bản tin VOA hôm 28-7-2014 kể chuyện Trung Quốc tiến hành các cuộc tập trận ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, có thể gây gián đoạn không lưu và tăng thêm căng thẳng với các nước láng giềng có tranh chấp trong khu vực.
Bản tin này viết:
“Cuộc tập trận bắn đạn thật đang diễn ra ở Vịnh Bắc Bộ, gần Việt Nam và cuộc tập trận ở eo biển Bột Hải dự kiến kết thúc vào đầu tháng 8 trong khi một cuộc tập trận khác kéo dài trong 5 ngày ở Biển Hoa Đông mà Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói là ‘thường lệ’sắp khởi sự vào ngày 29 tháng này và chấm dứt ngày 2/8.
Tờ Bắc Kinh dẫn lời một nhà nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Hải quân Trung Quốc nói dù quy mô các cuộc tập trận hiện nay lớn hơn trong quá khứ nhưng các cuộc tập trận thường niên này được tổ chức cùng thời điểm là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.
Tân Hoa xã đưa tin Trung Quốc khuyến cáo tàu bè không được lai vảng đến khu vực cuộc tập trận ở Biển Hoa Đông và yêu cầu giới hữu trách bảo đảm an toàn trong thời gian diễn ra tập trận từ 12 giờ khuya đến 6 giờ chiều mỗi ngày.
Nhà chức trách Trung Quốc cho biết đã lên kế hoạch các tuyến đường bay thay thế để giảm thiểu các chuyến bay bị đình hoãn vì các cuộc tập trận...”(hết trích)
Nghĩa là, Trung Quốc cho cả thế giới biết rằng TQ là chủ toàn vùng Biển Đông, tập trận thoải mái, bắn đạn thật, cấm bay, cấm tàu bè...
Không phải làm chủ Biển Đông (và Vịnh Bắc Bộ, sao lại có quyền cấm như thế?
Tất nhiên, Việt Nam im lặng. Như dường là chuyện của nước khác... và như dường là chuyện của đời sau.
Bản tin VOA hôm 28-7-2014 về ngư dân nêu lên thảm cảnh “Ngư dân Việt vỡ nợ sau các vụ tấn công của Trung Quốc ở Biển Đông.”
Bản tin VOA ghi nhận:
“Ngư dân trên đảo Lý Sơn, tỉnh Quãng Ngãi, tả tơi và vỡ nợ sau các cuộc tấn công của tàu Trung Quốc ở Hoàng Sa trong thời gian giàn khoan 981 hiện diện tại khu vực.
Phóng viên đài VOA Poch Reasey vừa thực hiện chuyến thăm Lý Sơn 1 ngày tường thuật rằng dù tình hình trên biển đã lắng dịu sau khi Bắc Kinh rút giàn khoan về nước, nhưng ngư dân Việt vẫn chưa hàn gắn được những nỗi đau đớn, mất mát, thiệt hại vì tài sản mất trắng, tàu bè hư hại, nợ nần chồng chất và họ đang khẩn thiết mong chờ sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính quyền địa phương.
Poch Reasey: Tới đảo Lý Sơn, tôi gặp rất nhiều ngư dân trên đó. Hai ngư dân mà tôi có dịp nói chuyện, cả hai đều có tàu bị hư phải sửa chữa lại. Họ lúc này không có tiền, phải đi vay mượn của bà con. Họ nói chưa nhận gì từ chính phủ, chính phủ không có giúp gì. Họ yêu cầu chính phủ giúp vì họ không có tiền lúc này. Trung Quốc bắn nước làm tàu họ hư ngày 6/7/14 trong lúc giàn khoan còn đó. Còn chủ chiếc tàu khác nói năm ngoái tàu ông bị Trung Quốc tấn công 2 lần, tháng 7 năm nay bị lần nữa.
Trà Mi: Khả năng sửa chữa, phục hồi của họ hiện nay ra sao?
Poch Reasey: Bây giờ tàu họ còn đang sửa vì bị hư nhiều nên cần thời gian rất nhiều. Một chuyện nữa, trong thời gian ở đảo Lý Sơn này, Reasey nghe dân ở đây nói trước đây chưa bao giờ có nhiều khách như vậy từ khắp nơi đến thăm để xem cuộc sống ở đây ra sao. Họ xem TV thấy hoàn cảnh vậy nên muốn ra đây xem và giúp đỡ.
Trà Mi: Các ngư dân bị Trung Quốc tấn công, họ có cho biết kế hoạch sắp tới ra sao, họ đã cầu cứu những đâu?
Poch Reasey: Họ có nói là đã xin chính quyền giúp đỡ, nhưng chưa nhận được tiền bạc hay sự giúp đỡ gì từ chính phủ. Cho nên, họ tiếp tục yêu cầu chính phủ Việt Nam giúp đỡ họ.
Trà Mi: Về sự bảo vệ, họ có yêu cầu hay nguyện vọng thế nào?
Poch Reasey: Họ cũng có yêu cầu, nhưng không nhận được cái gì từ chính phủ.
Trà Mi: Những nhu cầu thiết yếu chưa được đáp ứng có làm cho họ chùn bước?
Poch Reasey: Họ nói họ vẫn tiếp tục đi vì biển đó là biển của Việt Nam từ lịch sử xa xưa rồi. Họ không sợ, họ vẫn tiếp tục đi như bình thường...
...Trà Mi: Anh có suy nghĩ thế nào về những gì mắt thấy tai nghe trong chuyến ra thăm đảo Lý Sơn lần này?
Poch Reasey: Tôi thấy cuộc sống của dân trên đảo không dễ, rất khó khăn. Họ đi biển mỗi chuyến đi hàng tháng, bỏ vợ con ở nhà, không biết thời tiết ra sao hay sẽ có chuyện gì, rất khó khăn...”(hết trích)
Nghĩa là, ngư dân Việt thê thảm.
Thế còn ngư dân Taù thì sao? Nhà nước TQ sẽ trang bị cho họ...
Báo Người Lao Động hôm Thứ Hai 28-7-2014 kể:
“Dự kiến đến cuối năm 2014, 50.000 tàu cá của Trung Quốc sẽ được trang bị hệ thống định vị vệ tinh Bắc Đẩu cho phép liên lạc trực tiếp với lực lượng hải cảnh nước này khi hoạt động trên các vùng biển tranh chấp ở biển Đông.
Theo Reuters, tại đảo Hải Nam - cửa ngõ của Trung Quốc ra biển Đông - chính phủ sẽ hỗ trợ các chủ tàu tới 90% chi phí gắn thiết bị sản xuất nội địa vốn được dùng cho quân đội này. Động thái nêu trên cho thấy sự tăng cường hỗ trợ tài chính của chính phủ Trung Quốc trong bối cảnh hoạt động đánh bắt của nước này ngày càng táo bạo ở cả những khu vực không phải ngư trường truyền thống.
Các chủ tàu cá ở cảng cá Tanmen, Hải Nam cho biết chính quyền khuyến khích họ đến đánh bắt ở những vùng biển tranh chấp và tạo điều kiện bằng cách trợ giá nhiên liệu. Sự dung túng này khiến các tàu cá Trung Quốc trên biển Đông manh động và hung hãn hơn bao giờ hết....
...Theo Reuters, chỉ vài tuần sau khi nhậm chức vào tháng 3-2013, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có chuyến thăm đột xuất tới Tanmen. Tại đây, ông Tập đã nói với các ngư dân rằng chính phủ sẽ hành động nhiều hơn để bảo vệ họ đánh bắt ở các khu vực tranh chấp. Một số ngư dân cũng xác nhận giới chức Hải Nam khuyến khích họ đến tận quần đảo Trường Sa của Việt Nam để đánh bắt và mỗi ngày được trợ cấp 2.000 – 3.000 nhân dân tệ (320 – 480 USD) cho tàu loại 500 mã lực.”(hết trích)
Nghĩa là, ngư dân ta bị Hà Nội bỏ mặc, còn ngư dân Tàu được trang bị và tài trợ để vây chặt Biển Đông.
Trung Quốc vô hình trung 'thúc' Mỹ bán vũ khí cho Việt Nam
WASHINGTON DC - Trong dự thảo nghị quyết về an ninh hàng hải tại Châu Á-Thái Bình Dương
mà dân biểu Forbes (Cộng Hòa) và Hanabusa (Dân Chủ) đệ trình, có một đề nghị bán vũ khí cho Việt Nam.
Nhiều năm qua, chính quyền Việt Nam đã nhiều lần bày tỏ ước muốn mua vũ khí của Hoa Kỳ và đề nghị
Hoa kỳ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam nhưng Hoa Kỳ không chấp thuận.

Sau khi Trung Quốc đưa giàn khoan 981 đến thăm dò dầu khí ở quần đảo Hoàng Sa, hồi tháng 5 vừa qua,
Hoa Kỳ đưa Khu trục hạm USS Blue Ridge, soái hạm của Hạm đội 7 vào khu vực biển Ðông. (Hình: Wikipedia)
Dường như cách hành xử của Trung Quốc tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương thúc đẩy Hoa Kỳ bán vũ khí cho Việt Nam.
Trong thông cáo báo chí liên quan tới dự thảo nghị quyết về an ninh hàng hải tại Châu Á-Thái Bình Dương, ông Forbes và bà Hanabusa, cùng là thành viên Ủy Ban Quân Lực của Hạ Viện Hoa Kỳ, cho biết, dự thảo mà họ đệ trình nhằm hậu thuẫn cho quyền tự do hàng không và hàng hải, giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.
Ông Forbes cho biết, dự thảo được đại diện cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ tại Hạ Viện ủng hộ bời nó tái khẳng định lợi ích cơ bản của Hoa Kỳ trong việc duy trì quyền tự do lưu thông cả trên không lẫn trên biển, đồng thời giúp giải quyết các tranh chấp lãnh thổ một cách hòa bình.
Ðáng chú ý là ông Fornes nhấn mạnh, cả hai yếu tố vừa kể đã bị Trung Quốc thách thức nhiều lần qua việc cố dùng sức mạnh để thay đổi hiện trạng trong khu vực.
Theo ông Forbes, các hành động của Trung Quốc đã thúc đẩy Hoa Kỳ phải tiếp tục tham dự một cách tích cực ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương để bảo đảm sự tồn tại lâu dài của nền hòa bình và thịnh vượng mà khu vực này được thừa hưởng trong sáu thập kỷ vừa qua.
Dự thảo nghị quyết dài 16 trang về an ninh hàng hải tại Châu Á-Thái Bình Dương được mô tả là đã khắc họa các hành vi gây mất ổn định tại biển Ðông và biển Hoa Ðông của Trung Quốc. Những hành vi như đưa giàn khoan 981 đến thăm dò dầu khí tại quần đảo Hoàng Sa, phong tỏa bãi Cỏ Mây (Second Thomas), đòi chủ quyền tại những khu vực vốn là vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia khác mà Trung Quốc đã thực hiện được nhận định là nguy hiểm.
Nếu dự thảo nghị quyết về an ninh hàng hải tại Châu Á-Thái Bình Dương được Hạ Viện Hoa Kỳ thông qua, Hạ Viện Hoa Kỳ sẽ chính thức lên án các hành vi có tính chất hăm dọa, cưỡng bức của Trung Quốc để cản trở quyền tự do lưu thông trên không và trên biển tại các vùng biển Châu Á. Kêu gọi Trung Quốc từ bỏ việc thực hiện các quy định về vùng nhận dạng phòng không trên biển Hoa Ðông, không thiết lập các vùng nhận dạng phòng không tương tự ở những nơi khác.
Dự thảo nghị quyết về an ninh hàng hải tại Châu Á-Thái Bình Dương có một khuyến cáo dành cho chính phủ Hoa Kỳ trong quan hệ với Việt Nam. Ðó là thiết lập và thực hiện một chính sách, sao cho phản ánh được cả tiến bộ lẫn thách thức còn tồn tại trong hồ sơ nhân quyền của Việt Nam, cũng như các lợi ích an ninh quốc gia thiết yếu của Hoa Kỳ, bằng cách mở rộng quan hệ đối tác toàn diện với Việt Nam, thông qua việc bán hoặc chuyển giao thiết bị quốc phòng trong chiều hướng thích hợp với sự phát triển và duy trì khả năng phòng thủ chống ngoại xâm của Việt Nam.”
Cũng cần nhắc lại là cách nay vài tuần, vào ngày 10 tháng 7, Thượng Viện Hoa Kỳ từng thông qua một nghị quyết, tái khẳng định sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với quyền tự do hàng hải, hàng không và khẳng định, việc sử dụng hải phận, không phận ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương phải tuân thủ luật pháp quốc tế.
Nghị quyết đó kêu gọi Trung Quốc tránh các hoạt động trái với Công ước Ngăn ngừa xung đột trên biển. Trả biển Ðông về nguyên trạng, giống như trước ngày 1 tháng 5, thời điểm Trung Quốc đưa giàn khoan 981 đến thăm dò dầu khí ở khu vực quần đảo Hoàng Sa. (G.Ð)
WASHINGTON DC - Trong dự thảo nghị quyết về an ninh hàng hải tại Châu Á-Thái Bình Dương
mà dân biểu Forbes (Cộng Hòa) và Hanabusa (Dân Chủ) đệ trình, có một đề nghị bán vũ khí cho Việt Nam.
Nhiều năm qua, chính quyền Việt Nam đã nhiều lần bày tỏ ước muốn mua vũ khí của Hoa Kỳ và đề nghị
Hoa kỳ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam nhưng Hoa Kỳ không chấp thuận.

Sau khi Trung Quốc đưa giàn khoan 981 đến thăm dò dầu khí ở quần đảo Hoàng Sa, hồi tháng 5 vừa qua,
Hoa Kỳ đưa Khu trục hạm USS Blue Ridge, soái hạm của Hạm đội 7 vào khu vực biển Ðông. (Hình: Wikipedia)
Dường như cách hành xử của Trung Quốc tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương thúc đẩy Hoa Kỳ bán vũ khí cho Việt Nam.
Trong thông cáo báo chí liên quan tới dự thảo nghị quyết về an ninh hàng hải tại Châu Á-Thái Bình Dương, ông Forbes và bà Hanabusa, cùng là thành viên Ủy Ban Quân Lực của Hạ Viện Hoa Kỳ, cho biết, dự thảo mà họ đệ trình nhằm hậu thuẫn cho quyền tự do hàng không và hàng hải, giải quyết hòa bình các tranh chấp lãnh thổ tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.
Ông Forbes cho biết, dự thảo được đại diện cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ tại Hạ Viện ủng hộ bời nó tái khẳng định lợi ích cơ bản của Hoa Kỳ trong việc duy trì quyền tự do lưu thông cả trên không lẫn trên biển, đồng thời giúp giải quyết các tranh chấp lãnh thổ một cách hòa bình.
Ðáng chú ý là ông Fornes nhấn mạnh, cả hai yếu tố vừa kể đã bị Trung Quốc thách thức nhiều lần qua việc cố dùng sức mạnh để thay đổi hiện trạng trong khu vực.
Theo ông Forbes, các hành động của Trung Quốc đã thúc đẩy Hoa Kỳ phải tiếp tục tham dự một cách tích cực ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương để bảo đảm sự tồn tại lâu dài của nền hòa bình và thịnh vượng mà khu vực này được thừa hưởng trong sáu thập kỷ vừa qua.
Dự thảo nghị quyết dài 16 trang về an ninh hàng hải tại Châu Á-Thái Bình Dương được mô tả là đã khắc họa các hành vi gây mất ổn định tại biển Ðông và biển Hoa Ðông của Trung Quốc. Những hành vi như đưa giàn khoan 981 đến thăm dò dầu khí tại quần đảo Hoàng Sa, phong tỏa bãi Cỏ Mây (Second Thomas), đòi chủ quyền tại những khu vực vốn là vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia khác mà Trung Quốc đã thực hiện được nhận định là nguy hiểm.
Nếu dự thảo nghị quyết về an ninh hàng hải tại Châu Á-Thái Bình Dương được Hạ Viện Hoa Kỳ thông qua, Hạ Viện Hoa Kỳ sẽ chính thức lên án các hành vi có tính chất hăm dọa, cưỡng bức của Trung Quốc để cản trở quyền tự do lưu thông trên không và trên biển tại các vùng biển Châu Á. Kêu gọi Trung Quốc từ bỏ việc thực hiện các quy định về vùng nhận dạng phòng không trên biển Hoa Ðông, không thiết lập các vùng nhận dạng phòng không tương tự ở những nơi khác.
Dự thảo nghị quyết về an ninh hàng hải tại Châu Á-Thái Bình Dương có một khuyến cáo dành cho chính phủ Hoa Kỳ trong quan hệ với Việt Nam. Ðó là thiết lập và thực hiện một chính sách, sao cho phản ánh được cả tiến bộ lẫn thách thức còn tồn tại trong hồ sơ nhân quyền của Việt Nam, cũng như các lợi ích an ninh quốc gia thiết yếu của Hoa Kỳ, bằng cách mở rộng quan hệ đối tác toàn diện với Việt Nam, thông qua việc bán hoặc chuyển giao thiết bị quốc phòng trong chiều hướng thích hợp với sự phát triển và duy trì khả năng phòng thủ chống ngoại xâm của Việt Nam.”
Cũng cần nhắc lại là cách nay vài tuần, vào ngày 10 tháng 7, Thượng Viện Hoa Kỳ từng thông qua một nghị quyết, tái khẳng định sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với quyền tự do hàng hải, hàng không và khẳng định, việc sử dụng hải phận, không phận ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương phải tuân thủ luật pháp quốc tế.
Nghị quyết đó kêu gọi Trung Quốc tránh các hoạt động trái với Công ước Ngăn ngừa xung đột trên biển. Trả biển Ðông về nguyên trạng, giống như trước ngày 1 tháng 5, thời điểm Trung Quốc đưa giàn khoan 981 đến thăm dò dầu khí ở khu vực quần đảo Hoàng Sa. (G.Ð)
Phe đảng CSVN muốn giới thiệu với Mỹ nhà lãnh đạo tương lai?
Friday, August 01, 2014 3:57:27 PM
Luật Sư Nguyễn Văn Ðài
Ngay sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan HD981 trên vùng đặc quyền kinh tế của VN.
Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh đã điện đàm với Ngoại Trưởng Mỹ John Kerry. Và Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh được mời qua thăm Mỹ.
Những người Việt ở trong và ngoài nước, cộng đồng quốc tế chờ đợi chuyến đi này, để xem VN sẽ yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ những gì
trong vụ tranh chấp trên biển Ðông với TQ. Nhưng chuyến đi này chưa xảy ra,
thì dư luận trong và nước rất bất ngờ với chuyến thăm Mỹ của ủy viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Thành Ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị.

Cư dân mạng chỉ trích nặng nề về bức hình chụp nơi ghi dấu tích phi công John McCain đang giơ tay đầu hàng
khi máy bay bị bắn rơi ở Hồ Trúc Bạch mà ông Phạm Quang Nghị mang sang Mỹ làm quà cho Thượng Nghị Sĩ John McCain.
Người ta gọi đây là món quà vô văn hóa và xúc phạm người được tặng. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)
Theo tôi quan sát và đánh giá thì nguyên nhân có thể như sau:
Thứ nhất, đó là tranh giành ảnh hưởng phe phái.
Chắc chắn việc cử Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh hay Phạm Quang Nghị qua Mỹ đã được tranh cãi quyết liệt và kéo dài trong nội của BCT đảng CS.
Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh thuộc phe chính phủ, nếu Phạm Bình Minh qua Mỹ, thuyết phục được chính phủ cũng như Quốc Hội Hoa Kỳ ủng hộ và giúp đỡ VN trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh hải. Ðiều này sẽ giúp tăng vị thế của Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh trong cuộc đua vào BCT, cũng như nâng cao vị thế của phe chính phủ.
Trong khi đó, Phạm Quang Nghị đang được phe đảng nâng đỡ, giới thiệu, vận động để trở thành tổng bí thư. Trong 16 thành viên BCT, đã xuất hiện nhiều tư tưởng muốn chơi với Mỹ. Nhưng những người này lại không muốn Thủ Tướng Dũng đóng vai trò trong cuộc chơi đó. Họ muốn giảm vai trò của thủ tướng và phe chính phủ. Họ muốn phe đảng lãnh đạo cuộc chơi này. Và do vậy, trong cuộc tranh đua này, phe của đảng và Phạm Quang Nghị đã chiến thắng.
Thứ hai, đảng CSVN muốn giới thiệu nhân vật sẽ là lãnh đạo tương lai của đảng.
Phạm Quang Nghị được đảng cử đi Mỹ, nhưng không phải muốn là đi được. Vì trước đó, ngoại trưởng Hoa Kỳ đã chính thức mời Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh. Do vậy, đảng giao cho Bộ Ngoại Giao và đại sứ VN tại Hoa Kỳ nhiệm vụ thuyết phục Bộ Ngoại Giao HK mời Phạm Quang Nghị.
Tuy Phạm Quang Nghị là ủy viên BCT, bí thư Thành Ủy Hà Nội. Nhưng Hoa Kỳ không coi trọng những chức vụ đó của Nghị. Bởi vậy, chúng ta có thể hình dung được những người đi vận động phải giới thiệu với Bộ Ngoại Giao HK rằng Phạm Quang Nghị sẽ trở thành người cầm đầu đảng CSVN trong tương lai. Là người sẽ xây dựng và lãnh đạo mối quan hệ Việt-Mỹ. Ðặc biệt là sau khi Phạm Quang Nghị đi thăm Hoa Kỳ về, mối quan hệ Việt-Mỹ sẽ được lãnh đạo đảng bàn thảo và quyết định.
Có giới thiệu như vậy thì Bộ Ngoại Giao HK mới chính thức mời Phạm Quang Nghị. Trong lịch trình của chuyến thăm, Ngoại Trưởng John Kerry sẽ tiếp đón Phạm Quang Nghị. Nhưng do tình hình Trung Ðông mà ông John Kerry đã không có mặt ở Mỹ để đón tiếp Phạm Quang Nghị.
Như vậy, phe đảng của Tổng Trọng đã nắm được quyền quyết định trong cuộc chơi với Hoa Kỳ. Và chuyện chưa bao giờ xảy ra với đảng CSVN, đó là họ giới thiệu người lãnh đạo tương lai của họ tới chính phủ Hoa Kỳ.
Và mối quan hệ Việt-Mỹ sẽ tiến triển đến đâu? Nó sẽ được quyết định trong kỳ họp của BCT và trung ương tới đây. Ðiều này cũng sẽ ảnh hưởng đến việc cải thiện nhân quyền và dân chủ hóa tại Việt Nam.
Ngoài nỗ lực đấu tranh của phong trào dân chủ. Chúng ta chỉ biết chờ đợi và cầu mong điều tốt đẹp nhất sẽ đến với đất nước và dân tộc Việt Nam.
(Hà Nội, ngày 1 tháng 8 năm 2014)
Friday, August 01, 2014 3:57:27 PM
Luật Sư Nguyễn Văn Ðài
Ngay sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan HD981 trên vùng đặc quyền kinh tế của VN.
Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh đã điện đàm với Ngoại Trưởng Mỹ John Kerry. Và Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh được mời qua thăm Mỹ.
Những người Việt ở trong và ngoài nước, cộng đồng quốc tế chờ đợi chuyến đi này, để xem VN sẽ yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ những gì
trong vụ tranh chấp trên biển Ðông với TQ. Nhưng chuyến đi này chưa xảy ra,
thì dư luận trong và nước rất bất ngờ với chuyến thăm Mỹ của ủy viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Thành Ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị.

Cư dân mạng chỉ trích nặng nề về bức hình chụp nơi ghi dấu tích phi công John McCain đang giơ tay đầu hàng
khi máy bay bị bắn rơi ở Hồ Trúc Bạch mà ông Phạm Quang Nghị mang sang Mỹ làm quà cho Thượng Nghị Sĩ John McCain.
Người ta gọi đây là món quà vô văn hóa và xúc phạm người được tặng. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)
Theo tôi quan sát và đánh giá thì nguyên nhân có thể như sau:
Thứ nhất, đó là tranh giành ảnh hưởng phe phái.
Chắc chắn việc cử Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh hay Phạm Quang Nghị qua Mỹ đã được tranh cãi quyết liệt và kéo dài trong nội của BCT đảng CS.
Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh thuộc phe chính phủ, nếu Phạm Bình Minh qua Mỹ, thuyết phục được chính phủ cũng như Quốc Hội Hoa Kỳ ủng hộ và giúp đỡ VN trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh hải. Ðiều này sẽ giúp tăng vị thế của Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh trong cuộc đua vào BCT, cũng như nâng cao vị thế của phe chính phủ.
Trong khi đó, Phạm Quang Nghị đang được phe đảng nâng đỡ, giới thiệu, vận động để trở thành tổng bí thư. Trong 16 thành viên BCT, đã xuất hiện nhiều tư tưởng muốn chơi với Mỹ. Nhưng những người này lại không muốn Thủ Tướng Dũng đóng vai trò trong cuộc chơi đó. Họ muốn giảm vai trò của thủ tướng và phe chính phủ. Họ muốn phe đảng lãnh đạo cuộc chơi này. Và do vậy, trong cuộc tranh đua này, phe của đảng và Phạm Quang Nghị đã chiến thắng.
Thứ hai, đảng CSVN muốn giới thiệu nhân vật sẽ là lãnh đạo tương lai của đảng.
Phạm Quang Nghị được đảng cử đi Mỹ, nhưng không phải muốn là đi được. Vì trước đó, ngoại trưởng Hoa Kỳ đã chính thức mời Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh. Do vậy, đảng giao cho Bộ Ngoại Giao và đại sứ VN tại Hoa Kỳ nhiệm vụ thuyết phục Bộ Ngoại Giao HK mời Phạm Quang Nghị.
Tuy Phạm Quang Nghị là ủy viên BCT, bí thư Thành Ủy Hà Nội. Nhưng Hoa Kỳ không coi trọng những chức vụ đó của Nghị. Bởi vậy, chúng ta có thể hình dung được những người đi vận động phải giới thiệu với Bộ Ngoại Giao HK rằng Phạm Quang Nghị sẽ trở thành người cầm đầu đảng CSVN trong tương lai. Là người sẽ xây dựng và lãnh đạo mối quan hệ Việt-Mỹ. Ðặc biệt là sau khi Phạm Quang Nghị đi thăm Hoa Kỳ về, mối quan hệ Việt-Mỹ sẽ được lãnh đạo đảng bàn thảo và quyết định.
Có giới thiệu như vậy thì Bộ Ngoại Giao HK mới chính thức mời Phạm Quang Nghị. Trong lịch trình của chuyến thăm, Ngoại Trưởng John Kerry sẽ tiếp đón Phạm Quang Nghị. Nhưng do tình hình Trung Ðông mà ông John Kerry đã không có mặt ở Mỹ để đón tiếp Phạm Quang Nghị.
Như vậy, phe đảng của Tổng Trọng đã nắm được quyền quyết định trong cuộc chơi với Hoa Kỳ. Và chuyện chưa bao giờ xảy ra với đảng CSVN, đó là họ giới thiệu người lãnh đạo tương lai của họ tới chính phủ Hoa Kỳ.
Và mối quan hệ Việt-Mỹ sẽ tiến triển đến đâu? Nó sẽ được quyết định trong kỳ họp của BCT và trung ương tới đây. Ðiều này cũng sẽ ảnh hưởng đến việc cải thiện nhân quyền và dân chủ hóa tại Việt Nam.
Ngoài nỗ lực đấu tranh của phong trào dân chủ. Chúng ta chỉ biết chờ đợi và cầu mong điều tốt đẹp nhất sẽ đến với đất nước và dân tộc Việt Nam.
(Hà Nội, ngày 1 tháng 8 năm 2014)
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Dân Chủ không thể xin, cho
Ngô Nhân Dụng
Một bức thư ngỏ mới công bố của 61 đảng viên Cộng Sản Việt Nam kêu gọi đảng thay đổi, phải “đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ;” và phải tách khỏi đường lối lệ thuộc Trung Cộng. Lá thư này rất đáng hoan nghênh, mặc dù rất nhiều đảng viên cộng sản cất lên lời kêu gọi như vậy từ mấy năm nay rồi; nhiều người còn công khai tuyên bố từ bỏ đảng Cộng Sản.
Lá thư ngỏ này đáng chú ý vì trong 61 người ký tên có nhiều vị lần đầu bày tỏ ý kiến về hai vấn đề chính trị quan trọng nhất: nội trị và ngoại giao. Ðối với thể chế chính trị trong nước, những người ký tên yêu câu xóa bỏ chế độ cộng sản; mặc dù trong thư không nói thẳng ra những chữ đó. Họ công nhận đảng Cộng Sản Việt Nam đã phạm tội “dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm... theo mô hình xô-viết.” Sau đó, dù thay đổi kinh tế nhưng “vẫn giữ nguyên thể chế độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ và chia rẽ dân tộc.” Do đó, họ yêu cầu giới lãnh đạo đảng phải “thay đổi cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội,... chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ... xây dựng hệ thống nhà nước pháp quyền thật sự dân chủ.”
Ðối với việc ngoại giao, họ yêu cầu giới lãnh đạo đảng phải ý thức “mưu đồ biến Việt Nam thành chư hầu kiểu mới” của Cộng Sản Trung Quốc. Họ yêu cầu cấp lãnh đạo đảng “từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng;... bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ,... thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc.” Cụ thể hơn, ban lãnh đạo đảng “phải nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế.” Hơn nữa, đảng Cộng Sản “phải cho nhân dân được biết những sự thật” về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và những điều quan trọng đã ký kết với Trung Quốc như thỏa thuận Thành Ðô năm 1990, thỏa thuận về hoạch định biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ, những thỏa thuận về kinh tế, v.v...”
Ngoài ra 61 vị ký tên còn yêu cầu “Ðại hội toàn quốc lần thứ XII” sắp tới được chuẩn bị “với các đại biểu được bầu chọn thật sự dân chủ.” Nói cách khác, quý vị yêu cầu nội bộ đảng Cộng Sản cũng phải dân chủ hóa.
Nói tóm lại, những lời “yêu cầu” trong bức thư cũng là những điều mà rất nhiều người Việt Nam đang đòi hỏi đảng Cộng Sản phải làm. Vì vậy, bức thư ngỏ này đáng hoan nghênh.
Trong bức thư ngỏ này thấy ba điều đáng chú ý. Thứ nhất, danh sách các chữ ký không xếp theo thứ tự ABC, hay già trẻ, chức vụ cao thấp, mà xếp theo tuổi đảng, từ người đã vào đảng năm 1939 xuống tới người vào đảng năm 1996. Thứ hai, bức thư này chỉ nhắm gửi cho các người đồng đảng, từ ban chấp hành trung ương xuống các đảng viên. Thứ ba, quan trọng nhất, là quý vị đứng tên chỉ thỉnh cầu mà không đòi hỏi, không tranh đấu. Họ không cho biết nếu cấp trên vẫn lờ đi, không nghe, không biết, không thấy lá thư này (như vẫn phản ứng trước các kiến nghị tương tự trước đây), thì quý vị sẽ có hành động gì chăng. Những lời yêu cầu “dân chủ” trong bức thư không kèm theo hai chữ “tự do,” cũng là một điều đáng chú ý. Vì các ông Stalin, Mao Trạch Ðông cũng đều tự nhận là dân chủ, họ còn nói chế độ của họ dân chủ gấp vạn lần nền dân chủ ở các nước tư bản. Nhưng họ chỉ nói dân chủ mà không đả động gì đến những quyền tự do cơ bản giúp con người sống có phẩm giá, gọi là “nhân quyền.”
Vì vậy, những người ngoài đảng Cộng Sản Việt Nam có thể thất vọng. Thái độ tôn kính người nhiều tuổi đảng cho thấy các người ký tên vẫn giữ một thứ tôn ti trật tự hoàn toàn nội bộ. Chỉ nêu lên các thỉnh cầu mà không đòi hỏi, không tranh đấu, chứng tỏ 61 người vẫn tuân thủ một tôn ti trật tự nội bộ. Dân chủ hóa đất nước và chống Trung Cộng bành trướng là những mối quan tâm của 90 triệu người Việt Nam. Không phải chuyện riêng của các đảng viên cộng sản. Nhưng 61 vị đảng viên trên chỉ thỉnh cầu cấp trên trong đảng thay đổi, chứ không nói gì với người chung quanh. Ðây là thói quen do suốt nửa thế kỷ sống trong một chế độ “xin, cho” tạo ra. Ðọc xong bức thư chúng ta có cảm tưởng mình đang “đọc trộm” thư riêng của người khác; họ không có ý gửi cho mình đọc những chuyện nội bộ của họ. Vì vậy, rất nhiều người thất vọng; mặc dù vẫn kính trọng thiện chí của quý vị đã ký tên.
Một người Việt Nam có suy nghĩ, trước cảnh đảng Cộng Sản “đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện, ngày càng tụt hậu so với nhiều nước xung quanh” chắc phải kêu gọi tất cả đồng bào cùng lo xây dựng lại. Phải phát triển kinh tế; muốn thế phải xây dựng dân chủ; và phải phục hưng văn hóa. Ðây là chuyện chung của cả nước, không thể giao cho mấy chục người trong một đảng cầm quyền định đoạt hết được.
Từ 100 năm trước đây Phan Châu Trinh đã đặt một thứ tự ưu tiên cho ba việc kể: Phục hưng văn hóa là điều quan trọng nhất (dân khí, dân trí), kinh tế hưng thịnh (dân sinh) là hậu quả tự nhiên. Khi Phan Tây Hồ đặt các ưu tiên như vậy, cụ không nói đến thứ tự thời gian mà nhấn mạnh đến tầm quan trọng. Trong ba lãnh vực văn hóa, chính trị, kinh tế, thì dân khí, dân trí có vai trò quyết định. Một nước làm ăn giầu có hơn mà dân trí, dân khí vẫn thấp kém thì sẽ không thể tiến xa được, nhất là trong thời đại “kinh tế tri thức” hiện nay. Một nước mở cửa thị trường mà không có luật pháp minh bạch, thì riêng nạn tham nhũng không thôi cũng khiến cho kinh tế chậm lụt mãi mãi. Cho nên nếu không dân chủ hóa thì kinh tế khó phát triển. Nhưng một nước thiết lập thể chế dân chủ rồi mà dân khí, dân trí chưa phấn khởi, thì nền dân chủ sẽ chỉ có trên giấy tờ. Dân khí phấn khởi khi nào mọi công dân coi “việc nước” cũng là phận sự của chính mình. Do đó, chính mình phải quan sát, theo dõi, kiểm tra những người đang nắm quyền hành trong nước. Việc xây dựng chế độ tự do dân chủ là việc của toàn dân, chứ không thể giao khoán cho một nhóm người nào cả. Ðó không phải là “công tác mới” của hàng chục triệu đảng viên cộng sản Việt Nam! Họ không thể quyết định thay cho 90 triệu con người.
Muốn phục hưng dân khí của người Việt Nam thì những nhà trí thức phải có thái độ và hành động mới. Cứ tiếp tục thái độ “xin cho” thì không bao giờ “phấn dân khí” được. Dân khí sẽ bùng lên khi thấy những hành động quyết liệt, cam đảm. Không thể rụt rè, xin xỏ. Bức thư yêu cầu đảng Cộng Sản “chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ” nhưng lại nói thêm, “một cách kiên quyết nhưng ôn hòa.” Có người Việt Nam nào bây giờ đang đòi thay đổi chế độ bằng bạo lực đâu, mà phải lo lắng như vậy? Một bức thư “yêu cầu” thay đổi với lời lẽ lễ phép từ đầu đến cuối, như vậy không đủ chứng tỏ các người soạn thư rất ôn hòa hay sao? Có lời lẽ nào trong thư tỏ ra muốn bạo động, quá khích đâu? Văn tức là người. Ðọc cái đuôi “kiên quyết nhưng ôn hòa” người ta cảm thấy một tình trạng tâm thần không yên ổn, vừa nói vừa lo ngại sẽ bị chụp mũ, bị đàn áp, tù tội, lo bị gán cho cái tội “xét lại, chống đảng” như kinh nghiệm đã dậy. Thái độ này khó mà giúp cho công việc “phấn dân khí.”
Cho nên, chúng tôi ước mong các đảng viên Cộng Sản Việt Nam sẽ đồng ý và phổ biến bức thư của 61 đảng viên mới công bố, nhưng yêu cầu quý vị hãy bầy tỏ thái độ một cách kiên quyết hơn nữa. Phải nói thẳng rằng đây là những đòi hỏi tối thiểu của chúng tôi. Phải xác định rằng nếu lá thư này không được trả lời, nếu các yêu cầu này không được thỏa mãn trong vòng ba tháng, sáu tháng, chúng tôi sẽ từ bỏ đảng, sẽ kêu gọi đồng bào tập họp trong một (hay nhiều) đảng mới, tranh đấu buộc đảng Cộng sản phải thay đổi: Thực hiện tự do dân chủ và hành động cương quyết với Trung Quốc. Ông Nguyễn Hữu Thọ từng nói, đại ý: Muốn tự do thì phải tranh đấu chứ không thể xin người ta ban cho được. Gần 40 năm rồi, nhiều người không còn nhớ câu đó nữa.
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Việt Nam mua gì đầu tiên khi Mỹ bỏ cấm vận? (Bình luận quân sự) - Hiệp định 123 về hạt nhân dân sự Việt Nam-Hoa Kỳ được ký thì vấn đề dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam là không thê khác
Tuy nhiên, khi đó, Mỹ không thể cho không mà Việt Nam phải trả bằng USD. Vấn đề là, muốn, cần thì nhiều, nhưng có tiền để mua hay không mới quan trọng, đặc biệt mua loại vũ khí nào cho phòng thủ hữu hiệu mới là quyết định.
Có lẽ, có 2 thứ mà Việt Nam cần nhất mà có nó Việt Nam sẽ khiến Trung Quốc cực kỳ khó chịu và bi quan.
Vũ khí âm thanh chính hiệu Hoa Kỳ
Mùa thu 2005, ngoài khơi bờ biển Somalia, hải tặc trên các tàu cao tốc bao vây tàu chở khách viễn dương “Seabourn Spirit”. Bọn hải tặc hoàn toàn tin tưởng vào sự vượt trội của chúng và yêu cầu thủy thủ đoàn thả thang dây, song chỉ vài phút sau, chúng buộc phải vứt lựu đạn và súng để ôm lấy đôi tai đau đớn. Hải tặc đã bị Thiết bị phát âm thanh tầm xa (Long Range Acoustic Device – LRAD) của Mỹ nện cho một đòn nhớ đời.
Trong thông cáo được phát đi vào ngày 16/12/2013, Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết, trong Biên bản chung về Hợp tác Hàng hải-Cảnh vệ Duyên hải giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ký ngày 1/10/2013 giữa Thiếu tướng Cảnh sát Biển Việt Nam (VCG) Nguyễn Quang Đạm và Đô đốc Tư lệnh Cảnh vệ Duyên hải Hoa Kỳ (USCG) Robert J. Papp, để nâng cao năng lực của các đơn vị tuần tra biển nhằm triển khai nhanh các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn, ứng phó thảm hoạ, và các hoạt động khác, bao gồm cả việc cung cấp 5 tàu tuần tra cao tốc vào năm 2014 cho lực luợng Cảnh sát Biển Việt Nam.
Vũ khí âm thanh LRAD 1000 Xi của tàu CSB Việt Nam 8001 Viện trợ cho Việt Nam 5 con tàu tuần tra cao tốc cho lực lượng CSB Việt Nam này chắc chắn không thể thiếu LRAD chính hiệu.
Điều ngạc nhiên thú vị là không hiểu tại sao trên các tàu hiện đại của CSB Việt Nam đều trang bị LRAD của Mỹ, thiết bị có thể tạo ra âm hưởng tối đa 146 dB, cao hơn giới hạn gây đau đớn cho con người (120-130 dB) và gây thủng màng nhĩ.
Đây là vũ khí “phi sát thương” được dùng trên biển để chống hải tặc hữu hiệu nhất. Vì vậy, với Việt Nam, dùng để đối phó với “50.000 vũ khí công nghệ cao” của Trung Quốc trên Biển Đông khi chúng cậy đông, ồ ạt xông vào vùng EEZ đánh bắt trái phép là một sự răn đe khủng khiếp sắp tới.
Trong sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, có lẽ CSB Việt Nam giấu bài, hoặc LRAD chỉ có ở tàu lớn như 8001, nhưng dẫu sao CSB đã có loại vũ khí này.
Như vậy, vũ khí đầu tiên mà Việt Nam cần ở Mỹ với số lượng nhiều là đây, với chất lượng chính hãng và phạm vi tác chiến lớn hơn.
Tất nhiên, Việt Nam vẫn có thể mua vũ khí này từ Pháp, nhưng độ tin cậy không cao vì chưa qua “trận mạc” so với LRAD của Mỹ như đã từng (nêu ở trên).
Mua 6 chiếc P-3C4 Orion đời mới của Mỹ
Sự xuất hiện của P-3C4 trên Biển Đông sẽ đe dọa nghiêm trọng đến sự sống còn của lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc còn hơn cả hạm đội tàu ngầm Việt Nam sắp triển khai. Rõ ràng, kế hoạch tác chiến của Hạm đội Nam Hải trên Biển Đông buộc phải hoàn toàn thay đổi.
Đây là điều Trung Quốc không bao giờ muốn, rất lo ngại, bởi lẽ, khi lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc trên Biển Đông bị “phơi lưng” thì không những có lợi cho Việt Nam (đương nhiên) mà Mỹ vẫn được lợi khi không có lực lượng săn ngầm của Mỹ có điều kiện hoạt động tại đây.

Máy bay tuần tra trinh sát, tác chiến chống ngầm P-3C Orion mà sự xuất hiện của nó trên Biển Đông có thể tạo nên một sự thay đổi địa chính tri,
địa quân sự khu vực. Trong khi đó, chống ngầm trong phòng thủ biển của Việt Nam cực kỳ quan trọng, mang tầm chiến lược. Phải xây dựng 4 lực lượng gồm: mìn, thủy lôi chống ngầm; tàu mặt nước săn ngầm; tàu ngầm chống ngầm và máy bay chống ngầm là then chốt.
Do vậy, không có gì là ngạc nhiên khi Việt Nam có ý định mua của Mỹ hay Nhật Bản loại máy bay này từ trước và nếu thành công thì chắc chắn đây là cuộc mua bán mà đôi bên cùng có lợi. Mỹ lợi nhiều hơn khi không những thu được tiền mà quan trọng hơn họ còn biết được thông tin về tàu ngầm Trung Quốc.
Hải quân Việt Nam có 6 chiếc tàu ngầm và cần có thêm 6 chiếc P-3C4 Orion đời mới do Mỹ sản xuất là bảo đảm có một “vùng biển sạch” cần thiết nếu muốn cho nhu cầu tác chiến khác trên Biển Đông.
Thế là đủ. Trong tay Việt Nam có thêm 2 loại này nữa thì chẳng khác nào Rồng lửa Việt Nam có móng vuốt của Nga và lửa của Mỹ.
Lê Ngọc Thống

