Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Cải Cách Ruộng Ðất và các di sản
Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Lần đầu tiên, cuộc Cải Cách Ruộng Ðất của Ðảng Cộng Sản ở miền Bắc được triển lãm tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội vào đầu tháng 9 vừa rồi. Bản thân cuộc Cải Cách Ruộng Ðất đã đầy tai tiếng. Cuộc triển lãm nhân kỷ niệm 60 năm của cái gọi là vận động Cải Cách Ruộng Ðất ấy cũng đầy tai tiếng. Trên rất nhiều diễn đàn, nhất là các diễn đàn mạng, người ta ôn lại những kỷ niệm kinh hoàng về chiến dịch đầy máu và nước mắt ấy.
Chính sách Cải Cách Ruộng Ðất được Ðảng Cộng Sản tung ra vào năm 1946, tức một năm sau khi giành được chính quyền và cũng là năm đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp, lúc Ðảng Cộng Sản chỉ chiếm các vùng nông thôn và rừng núi. Giai đoạn đầu, Cộng Sản chỉ tịch thu đất đai của Pháp và một số người bị coi là tay sai của Pháp để cấp cho nông dân nghèo. Giai đoạn sau, từ 1950-1953, họ cắt giảm địa tô, bãi bỏ tiền thuê ruộng và đánh thuế nặng các địa chủ. Giai đoạn thứ ba, từ năm 1954 đến 1957, mới thực sự là Cải Cách Ruộng Ðất theo đường lối của Mao Trạch Ðông.
Nội dung chính của Cải Cách Ruộng Ðất giai đoạn thứ ba này không phải chỉ là tịch thu ruộng đất của địa chủ để cấp cho nông dân hay giảm tô, giảm tức như giai đoạn trước. Cuộc Cải Cách Ruộng Ðất lần này còn nhắm đến mục tiêu tiêu diệt những thành phần họ cho là địa chủ, cường hào ác bá, những kẻ vừa theo giặc (Pháp) vừa bóc lột dân nghèo. Hình thức chính của cuộc cải cách là đấu tố và sau đó, xử tội hoặc tù giam hoặc tử hình.
Ở đây, có mấy điều đáng nói.
máy móc số lượng địa chủ chiếm 5.68% dân số ở nông thôn. Bởi vậy, ở nhiều địa phương nghèo khổ, những gia đình có một hai con heo (lợn) và một khoảnh ruộng nho nhỏ đã bị liệt vào thành phần địa chủ hay phú nông.
Thứ hai, trong việc xét xử, người ta không dừng lại ở phạm vi kinh tế mà còn mở rộng sang lãnh vực chính trị: Nếu những người gọi là địa chủ hay phú nông ấy có chút quan hệ với chính quyền Pháp lúc bấy giờ, họ bị vu tội phản quốc hay phản động bên cạnh tội bóc lột. Ðể luận tội, người ta không cần điều tra; người ta chỉ xúi giục những người được xem là bần nông hay cố nông lên tố cáo và hạch tội. Dựa trên các lời hạch tội và tố cáo ấy, người ta sẽ xử tội tội nhân.
Thứ ba, hình thức xử tội rất dã man: Có nơi xử bắn, có nơi chôn sống hoặc bắt nhịn đói nhịn khát đến chết.
Bàn về cuộc Cải Cách Ruộng Ðất ở miền Bắc, lâu nay, người ta chỉ tập trung vào tội ác của Ðảng Cộng Sản trong việc giết oan nhiều người dân vô tội. Nạn nhân tiêu biểu nhất, được nhiều người nhắc đến nhất là bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Hanh Long ở Hà Nội. Bà giàu, ừ, rất giàu. Nhưng bà lại là người ủng hộ Ðảng Cộng Sản và Việt Minh một cách nhiệt tình và tích cực. Ngay sau Cách Mạng Tháng Tám, vì thiếu ngân sách, Ðảng Cộng Sản tung ra chiến dịch “Tuần lễ vàng” và kêu gọi dân chúng tham gia, riêng bà Năm tặng đến mấy trăm lượng, chưa kể nhà cửa và thực phẩm. Bà cũng giúp đỡ rất nhiều cán bộ lãnh đạo của Cộng Sản. Cả Trường Chinh, Phạm Ðồng và Lê Ðức Thọ đều được bà xem như con nuôi. Ngoài ra, bà có người con ruột tham gia Việt Minh, vào bộ đội, và lên đến chức trung đoàn trưởng. Vậy mà bà vẫn bị giết. Chỉ vì những lời tố cáo vẩn vơ đâu đó.
Bên cạnh sự độc ác, Ðảng Cộng Sản còn mắc một lỗi khác: quá lệ thuộc vào Trung Quốc. Thời ấy, các đoàn cố vấn của Trung Quốc tấp nập sang Việt Nam (miền Bắc) để huấn luyện cán bộ Việt Nam, thậm chí, để chỉ đạo giới lãnh đạo Việt Nam. Tỉ lệ hơn 5% dân số ở nông thôn là địa chủ là do các cố vấn Trung Quốc đặt ra. Nhiều người còn tiết lộ, trong vụ xử tội bà Nguyễn Thị Năm, giới lãnh đạo miền Bắc, kể cả Hồ Chí Minh, đều biết các lời tố cáo là sai, nhưng dưới sức ép của các cố vấn Trung Quốc, họ vẫn nhắm mắt để mặc cho bà Nguyễn Thị Năm chết một cách thảm khốc và oan ức.
Theo tôi, ngoài hai vấn đề độc ác và lệ thuộc Trung Quốc nêu trên, có một khía cạnh khác quan trọng không kém trong các di sản của cuộc Cải Cách Ruộng Ðất ở miền Bắc: Nó phá nát đạo lý truyền thống Việt Nam, trước, trong quan hệ làng xã, sau, ngay trong phạm vi gia đình.
Tất cả các nhà nghiên cứu văn hóa truyền thống Việt Nam đều nhận định giống nhau: làng xã là một đơn vị đặc biệt mang dấu ấn rất Việt Nam. Trong làng, dĩ nhiên có người giàu và người nghèo, vẫn có bóc lột và áp bức, nhưng dù vậy, quan hệ giữa người với người, nói chung vẫn tốt đẹp. Họ đoàn kết với nhau trong việc bảo vệ quyền lợi của làng cũng như trong việc duy trì những truyền thống văn hóa tốt đẹp của làng.
Chính vì vậy, rất ít người muốn đi xa khỏi làng. Người ta quyến luyến làng và tự hào về làng. Trong cuộc Cải Cách Ruộng Ðất, tất cả những quan hệ và tình tự ấy đều bị phá vỡ. Những người dân nghèo được các cán bộ xúi đứng ra tố cáo những người giàu có. Có khi là tố cáo những tội thật. Nhưng phần lớn, căn cứ trên con số trên dưới 80% xử oan, chỉ là những lời bịa đặt do các cán bộ từ trên xuống mớm vào miệng họ.
Qua các cuộc tố cáo và hành quyết dã man ấy, mọi người trở thành kẻ thù của nhau. Không ai còn tin tưởng ai nữa. Nhà có con gà chết dịch, muốn làm thịt ăn, người ta cũng phải ăn giấu ăn giếm, lông phải chôn thật kỹ, để khỏi bị tố cáo là địa chủ hay phú nông.
Không những phá vỡ quan hệ trong làng, các cuộc vận động Cải Cách Ruộng Ðất còn phá vỡ quan hệ trong gia đình với cảnh con tố cha, vợ tố chồng. Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, để bảo vệ truyền thống đạo lý trong gia đình, vua chúa thường ra lệnh cấm không cho cảnh vợ tố chồng hay con cái tố cáo cha mẹ. Ở miền Bắc, ngược lại, ngay sau khi vừa nắm chính quyền, Ðảng Cộng Sản đã xúi giục những người thân nhất trong gia đình tố cáo nhau. Cuối cùng, không ai còn tin tưởng ai nữa.
Theo tôi, một công trình nghiên cứu nghiêm túc về các di sản của cuộc Cải Cách Ruộng Ðất ở miền Bắc trong mấy năm, từ 1954 đến 1957, là điều rất cần thiết. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết tổng số các nạn nhân bị giết chết cũng như tổng số những người bị bắt bỏ tù và tịch thu tài sản. Chúng ta cũng chưa biết thật rõ những tác hại tinh thần của nó trong đời sống xã hội cũng như trong quan hệ giữa người và người.
Còn có rất nhiều điều chúng ta chưa biết.
Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Lần đầu tiên, cuộc Cải Cách Ruộng Ðất của Ðảng Cộng Sản ở miền Bắc được triển lãm tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội vào đầu tháng 9 vừa rồi. Bản thân cuộc Cải Cách Ruộng Ðất đã đầy tai tiếng. Cuộc triển lãm nhân kỷ niệm 60 năm của cái gọi là vận động Cải Cách Ruộng Ðất ấy cũng đầy tai tiếng. Trên rất nhiều diễn đàn, nhất là các diễn đàn mạng, người ta ôn lại những kỷ niệm kinh hoàng về chiến dịch đầy máu và nước mắt ấy.
Chính sách Cải Cách Ruộng Ðất được Ðảng Cộng Sản tung ra vào năm 1946, tức một năm sau khi giành được chính quyền và cũng là năm đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp, lúc Ðảng Cộng Sản chỉ chiếm các vùng nông thôn và rừng núi. Giai đoạn đầu, Cộng Sản chỉ tịch thu đất đai của Pháp và một số người bị coi là tay sai của Pháp để cấp cho nông dân nghèo. Giai đoạn sau, từ 1950-1953, họ cắt giảm địa tô, bãi bỏ tiền thuê ruộng và đánh thuế nặng các địa chủ. Giai đoạn thứ ba, từ năm 1954 đến 1957, mới thực sự là Cải Cách Ruộng Ðất theo đường lối của Mao Trạch Ðông.
Nội dung chính của Cải Cách Ruộng Ðất giai đoạn thứ ba này không phải chỉ là tịch thu ruộng đất của địa chủ để cấp cho nông dân hay giảm tô, giảm tức như giai đoạn trước. Cuộc Cải Cách Ruộng Ðất lần này còn nhắm đến mục tiêu tiêu diệt những thành phần họ cho là địa chủ, cường hào ác bá, những kẻ vừa theo giặc (Pháp) vừa bóc lột dân nghèo. Hình thức chính của cuộc cải cách là đấu tố và sau đó, xử tội hoặc tù giam hoặc tử hình.
Ở đây, có mấy điều đáng nói.
máy móc số lượng địa chủ chiếm 5.68% dân số ở nông thôn. Bởi vậy, ở nhiều địa phương nghèo khổ, những gia đình có một hai con heo (lợn) và một khoảnh ruộng nho nhỏ đã bị liệt vào thành phần địa chủ hay phú nông.
Thứ hai, trong việc xét xử, người ta không dừng lại ở phạm vi kinh tế mà còn mở rộng sang lãnh vực chính trị: Nếu những người gọi là địa chủ hay phú nông ấy có chút quan hệ với chính quyền Pháp lúc bấy giờ, họ bị vu tội phản quốc hay phản động bên cạnh tội bóc lột. Ðể luận tội, người ta không cần điều tra; người ta chỉ xúi giục những người được xem là bần nông hay cố nông lên tố cáo và hạch tội. Dựa trên các lời hạch tội và tố cáo ấy, người ta sẽ xử tội tội nhân.
Thứ ba, hình thức xử tội rất dã man: Có nơi xử bắn, có nơi chôn sống hoặc bắt nhịn đói nhịn khát đến chết.
Bàn về cuộc Cải Cách Ruộng Ðất ở miền Bắc, lâu nay, người ta chỉ tập trung vào tội ác của Ðảng Cộng Sản trong việc giết oan nhiều người dân vô tội. Nạn nhân tiêu biểu nhất, được nhiều người nhắc đến nhất là bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Hanh Long ở Hà Nội. Bà giàu, ừ, rất giàu. Nhưng bà lại là người ủng hộ Ðảng Cộng Sản và Việt Minh một cách nhiệt tình và tích cực. Ngay sau Cách Mạng Tháng Tám, vì thiếu ngân sách, Ðảng Cộng Sản tung ra chiến dịch “Tuần lễ vàng” và kêu gọi dân chúng tham gia, riêng bà Năm tặng đến mấy trăm lượng, chưa kể nhà cửa và thực phẩm. Bà cũng giúp đỡ rất nhiều cán bộ lãnh đạo của Cộng Sản. Cả Trường Chinh, Phạm Ðồng và Lê Ðức Thọ đều được bà xem như con nuôi. Ngoài ra, bà có người con ruột tham gia Việt Minh, vào bộ đội, và lên đến chức trung đoàn trưởng. Vậy mà bà vẫn bị giết. Chỉ vì những lời tố cáo vẩn vơ đâu đó.
Bên cạnh sự độc ác, Ðảng Cộng Sản còn mắc một lỗi khác: quá lệ thuộc vào Trung Quốc. Thời ấy, các đoàn cố vấn của Trung Quốc tấp nập sang Việt Nam (miền Bắc) để huấn luyện cán bộ Việt Nam, thậm chí, để chỉ đạo giới lãnh đạo Việt Nam. Tỉ lệ hơn 5% dân số ở nông thôn là địa chủ là do các cố vấn Trung Quốc đặt ra. Nhiều người còn tiết lộ, trong vụ xử tội bà Nguyễn Thị Năm, giới lãnh đạo miền Bắc, kể cả Hồ Chí Minh, đều biết các lời tố cáo là sai, nhưng dưới sức ép của các cố vấn Trung Quốc, họ vẫn nhắm mắt để mặc cho bà Nguyễn Thị Năm chết một cách thảm khốc và oan ức.
Theo tôi, ngoài hai vấn đề độc ác và lệ thuộc Trung Quốc nêu trên, có một khía cạnh khác quan trọng không kém trong các di sản của cuộc Cải Cách Ruộng Ðất ở miền Bắc: Nó phá nát đạo lý truyền thống Việt Nam, trước, trong quan hệ làng xã, sau, ngay trong phạm vi gia đình.
Tất cả các nhà nghiên cứu văn hóa truyền thống Việt Nam đều nhận định giống nhau: làng xã là một đơn vị đặc biệt mang dấu ấn rất Việt Nam. Trong làng, dĩ nhiên có người giàu và người nghèo, vẫn có bóc lột và áp bức, nhưng dù vậy, quan hệ giữa người với người, nói chung vẫn tốt đẹp. Họ đoàn kết với nhau trong việc bảo vệ quyền lợi của làng cũng như trong việc duy trì những truyền thống văn hóa tốt đẹp của làng.
Chính vì vậy, rất ít người muốn đi xa khỏi làng. Người ta quyến luyến làng và tự hào về làng. Trong cuộc Cải Cách Ruộng Ðất, tất cả những quan hệ và tình tự ấy đều bị phá vỡ. Những người dân nghèo được các cán bộ xúi đứng ra tố cáo những người giàu có. Có khi là tố cáo những tội thật. Nhưng phần lớn, căn cứ trên con số trên dưới 80% xử oan, chỉ là những lời bịa đặt do các cán bộ từ trên xuống mớm vào miệng họ.
Qua các cuộc tố cáo và hành quyết dã man ấy, mọi người trở thành kẻ thù của nhau. Không ai còn tin tưởng ai nữa. Nhà có con gà chết dịch, muốn làm thịt ăn, người ta cũng phải ăn giấu ăn giếm, lông phải chôn thật kỹ, để khỏi bị tố cáo là địa chủ hay phú nông.
Không những phá vỡ quan hệ trong làng, các cuộc vận động Cải Cách Ruộng Ðất còn phá vỡ quan hệ trong gia đình với cảnh con tố cha, vợ tố chồng. Ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, để bảo vệ truyền thống đạo lý trong gia đình, vua chúa thường ra lệnh cấm không cho cảnh vợ tố chồng hay con cái tố cáo cha mẹ. Ở miền Bắc, ngược lại, ngay sau khi vừa nắm chính quyền, Ðảng Cộng Sản đã xúi giục những người thân nhất trong gia đình tố cáo nhau. Cuối cùng, không ai còn tin tưởng ai nữa.
Theo tôi, một công trình nghiên cứu nghiêm túc về các di sản của cuộc Cải Cách Ruộng Ðất ở miền Bắc trong mấy năm, từ 1954 đến 1957, là điều rất cần thiết. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết tổng số các nạn nhân bị giết chết cũng như tổng số những người bị bắt bỏ tù và tịch thu tài sản. Chúng ta cũng chưa biết thật rõ những tác hại tinh thần của nó trong đời sống xã hội cũng như trong quan hệ giữa người và người.
Còn có rất nhiều điều chúng ta chưa biết.

Trò chuyện với một nhân chứng sống của Cải cách Ruộng đất
Trà Mi-VOA
Một sự kiện gây bão dư luận trong tháng này khi chính phủ Hà Nội lần đầu tiên mở triển lãm về cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất những năm 40-50 ở miền Bắc và vội vã đóng cửa sau 3 ngày gặp phản ứng mãnh mẽ từ công chúng, nhất là các cư dân mạng.
Cuộc triển lãm tại Viện Bảo tàng Lịch Sử Quốc Gia ở Hà Nội chuyên đề “Cải cách ruộng đất 1946 – 1957” khai mạc hôm 8/9 đã làm khơi dậy làn sóng phẫn nộ vì điều bị cáo buộc là không phản ánh đúng thực chất sự kiện lịch sử đã giết chết ít nhất 15 ngàn người bị đấu tố là địa chủ mà đa phần trong số đó bị vu oan, cùng hàng ngàn nạn nhân khác bị tra tấn, hành hạ và bỏ đói trong tù.
Với sự hướng dẫn, giúp đỡ của cộng sản Trung Quốc và Liên Xô, chiến dịch Cải cách Ruộng đất của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đảng Lao động Việt Nam tức đảng Cộng sản hiện nay đề mục tiêu xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt địa chủ và các thành phần bị xem là ‘bóc lột, phản quốc’, để chia lại ruộng đất cho dân cày, lập nền chuyên chính vô sản, nhanh chóng tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Chiến dịch đấu tố thảm sát tàn bạo này đã gây ra bầu không khí nồi da xáo thịt kinh hoàng khi đồng bào- đồng loại truy quét, thảm sát, tận diệt lẫn nhau; khi những người cùng huyết thống trong gia đình đấu tố, vu cáo, ám hại nhau giẫm đạp luân thường đạo lý.Sự khủng khiếp ấy đã được bộc lộ rõ nét qua mấy vần thơ của Tố Hữu:
«Giết! Giết nữa bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong,
Cho Đảng bền lâu cùng rập bước tơ lòng,
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sit-ta-lin bất diệt!» Trong số trên 172 ngàn người bị quy là địa chủ trong Cải cách Ruộng đất, cứ 10 người thì có tới hơn 7 người bị quy oan, để rồi sau đó ông Hồ Chí Minh đã thừa nhận chính sách này là một sai lầm.
Giới trẻ Việt Nam ít người được biết đến cuộc Cải cách Ruộng đất này vì bấy lâu nay nó không được sử sách nhà trường nói đến hay báo chí nhà nước nhắc lại, và cuộc triển lãm lần đầu tiên đầy tranh cãi và kịch tính ở Bảo tàng Lịch Sử Quốc Gia trong tháng này dường như là một vết dao thêm nữa cứa vào vết thương còn rỉ máu sau gần 6 thập niên.
Để các bạn trẻ hiểu thêm về sự kiện gây sóng gió công luận này, Tạp chí Thanh Niên hôm nay có cuộc trao đổi với một trong những nhân chứng sống, nạn nhân, và cũng là người tham gia cuộc Cải cách Ruộng đất 60 năm về trước: nhà văn, nhà báo Trần Mạnh Hảo, nguyên ủy viên Hội đồng Thơ Hội Nhà văn Việt Nam, người đã bị khai trừ khỏi đảng Cộng sản vào năm 1989 vì tác phẩm ‘Ly Thân’ trong đó có nói tới chiến dịch Cải cách Ruộng đất.Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Đại cục của Cải cách ruộng đất là cái xấu xa, đảo lộn đạo lý của dân tộc, là những cuộc đấu tố khủng khiếp xử oán oan người ta, hàng vạn người bị oan. Vết thương đã lành họ lại khoét nó ra. Dư luận trên internet phản ứng. Người ta kể ra sự thật, cho nên họ thấy lợi bất cập hại, họ vội vàng đóng cửa. Đây là một bài học cho sự tuyên truyền dối trá. Bây giờ còn rất nhiều người trong Cải cách Ruộng đất như chúng tôi vẫn còn sống đây, sao lại bịp chúng tôi được?
Trà Mi: Hành động nhắc lại lịch sử có người đánh giá là khoét lại nỗi đau chưa lành, có người cho rằng nên nhìn lại lịch sử để học lại bài học của chính mình. Bấy lâu nay đã có rất nhiều chỉ trích nói rằng nhà cầm quyền Việt Nam muốn né tránh những chuyện sai lầm đã gây ra, nên họ cố quên và muốn nhân dân phải quên đi. Nhưng tới lúc họ nhắc lại thì bị ném đá, bị chỉ trích nặng hơn. Không nhắc thì nói là bưng bít, còn nhắc lại thì bị phản ứng. Nên hiểu thế nào về những gì ẩn sau trong lòng dân chúng Việt Nam? Liệu dư luận Việt Nam có quá khắc khe hay không?
Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Cải cách Ruộng đất thật sự là một vết nhơ xấu xa nhất của cộng sản. Cái xấu xa nhất lại đưa ra khoe, triển lãm. Mà triển lãm lại nói phần tốt đẹp chứ không nói phần xấu. Vẫn là một sự bịp bợm, nói dối. Họ cứ quen thói bịp nhân dân mãi. Xưa nhà nước độc quyền các phương tiện truyền thông, chứ giờ internet và Facebook đã là phương tiện truyền thông của mọi người.
Trà Mi: Có ý kíên cho rằng lịch sử không phải để thù hận, cho nên cũng có người ủng hộ sự bạch hóa lịch sử…
Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Bạch hóa lại chối tội, gian dối thì làm sao? Anh bắn giết, hành hạ người oan. Người qua không tội gì lại vu cáo, bịa chuyện để đưa ra bắn, thích bắn là bắn. Bắn hàng vạn người như vậy, rồi ngồi khóc là xong tội à? Ai gây ra chuyện căm thù nhau, nồi da xáo thịt? Ai gây chuyện đấu tố địa chủ khủng khiếp như vậy? Chỉ bởi học thuyết sai lầm về đấu tranh giai cấp sinh ra. Họ đưa học thuyết tà đạo về áp dụng cho dân tộc Việt Nam, làm đảo lộn đạo lý của dân tộc, con đấu tố cha, vợ đấu tố chồng, cháu đấu tố ông bà. Toàn tố điêu không. Tôi là người tham gia Cải cách Ruộng đất từ đầu chí cuối. Gia đình tôi và bản thân tôi là nạn nhân của Cải cách Ruộng đất nên tôi biết. Sao chúng tôi lại không lên tiếng được? Buộc lòng chúng tôi phải viết mấy bài trên Facebook kể lại chuyện gia đình tôi, rất khủng khiếp, mà tôi chỉ kể có mức độ thôi. Họ không biết sám hối mà cốt tuyên truyền, đem cái xấu xa nhất của chế độ khoe ra mà bảo là tốt thì làm sao mà mọi người nhịn được. Nếu họ triển lãm trung thực, kể ra cái ác của Cải cách Ruộng đất ra để sám hối, để nhận lỗi của mình thì không ai phản ứng cả. Đằng này họ lại làm cái cuộc dối trá như vậy. Không coi người dân ra cái gì cả. Cũng không có một thái độ đàng hoàng, tử tế. Khi thấy triển lãm hố, hai ba ngày sau ngưng không triển lãm nữa lấy lý do thiếu ánh sáng. Thái độ rất hèn hạ. Những người đã bị đấu tố hầu hết là những địa chủ phục vụ kháng chiến. Thế nhưng họ lại bắt đưa ra đấu tố. Như bà Nguyễn Thị Năm là người có công vô cùng lớn với chế độ của ông Hồ Chí Minh, đã nuôi ông Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo cộng sản trong nhà và mang hết tài sản ra tặng. Thế nhưng cuối cùng họ lại đem bà ra bắn.
Trà Mi: Là một nhà báo để ý quan sát thời cuộc, theo ông, vì sao nhà nước lại mở triển lãm Cải cách Ruộng đất vào lúc này chứ không phải là sớm hơn hay muộn hơn?
Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Tôi nghĩ rằng cuộc triển lãm này được cấp cao nhất quyết định lâu rồi. Phải là Bộ Chính trị quyết định chứ Bộ Văn hóa không có quyền làm chuyện này. Họ chủ quan nghĩ rằng đã lừa dối được dân mấy chục năm nay rồi thì giờ muốn nói gì thì nói. Đấy là một cái nhầm vì dân bây giờ đã thức tỉnh.
Trà Mi: Đã có nhiều ngòi bút mô tả Cải cách Ruộng đất như một cuộc cách mạng ‘long trời lở đất.’ Cải cách Ruộng đất dưới ngòi bút của nhà văn-nhà báo Trần Mạnh Hảo, một cựu đảng viên cộng sản Việt Nam, như thế nào?
Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Trong tiểu thuyết Ly Thân của tôi nay đã bị nhà nước cấm, tôi có mô tả đến cuộc Cải cách Ruộng đất. Bây giờ tôi cũng không muốn nhắc tới vì con cháu những người trong làng đã đấu tố gia đình nhà tôi, những người tố điêu, những người làm những việc rất xấu xa đê tiện đó hiện giờ vẫn còn sống trong làng. Khi tôi nhắc lại thì con cháu những người đó cũng có gọi điện thoại vào nói ‘Xin bác tha cho vì chúng ta là những người Công giáo, lấy sự tha thứ làm trọng.’ Tôi bảo ‘Không, tôi thì tôi quên rồi, nhưng tự nhiên ông nhà nước triển lãm Cải cách Ruộng đất mà rất là dối trá như vậy thì bắt buộc tôi phải lên tiếng để công luận biết những gì triển lãm kia không phải thực chất của Cải cách Ruộng đất. Thực ra, nếu muốn viết về Cải cách Ruộng đất, tôi đã viết một cuốn sách ít nhất phải là 500 trang vì riêng chuyện gia đình tôi cũng khủng khiếp lắm. Có những điều tôi cũng không muốn nói ra nữa.
Trà Mi: Nhân nói chuyện về cuộc triển lãm nhắc lại thời mốc quá khứ đen tối trong lịch sử Việt Nam, có thể cùng nhà văn Trần Mạnh Hảo nhìn lại những gì đã diễn ra? Là một nạn nhân cũng là ngừơi tham gia đấu tố trong Cải cách Ruộng đất, từng kinh qua những chuỗi ngày Cải cách Ruộng đất trong thời thơ ấu, sau 6 thập niên nhìn lại, những ký ức còn đọng lại trong ông là gì?
Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Tôi đã chứng kiến lính Pháp đi càn quét trong làng xã, cũng là kinh khiếp lắm, nhưng không bằng Cải cách Ruộng đất. Tôi đã từng đi xem bắn người, những người tốt nhất trong làng xã tôi bị quy là địa chủ và bị đưa ra bắn rất tàn bạo. Tôi cũng từng đấu tố bố mẹ tôi. Tôi cũng từng chứng kiến thảm cảnh gia đình nhà tôi từ đầu chí cuối thì tôi phải nói là Cải cách Ruộng đất không khác gì Polpot bao nhiêu. Những người bị bắn trong làng xã tôi hầu hết là từng là đảng viên cộng sản. Không hiểu tại sao họ lại lôi ra bắn hết. Chắc họ muốn thanh trừng vì họ sợ. Những lớp người làm kháng chiến chống Pháp trong vùng này đã từng là bí thư chi bộ của cộng sản, chủ tịch xã bị lôi ra bắn hết.
Trà Mi: Ông không hiểu vì sao họ làm như vậy, nhưng chính bản thân ông từng có hành động đấu tố tham gia trong cuộc Cải cách Ruộng đất đó, ông có hiểu vì sao mình làm vậy không?
Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Lúc đó tôi mới 10 tuổi thôi. Họ huy động thiếu niên con cái của địa chủ, bắt phải đấu tố bố mẹ thì bố mẹ mới khỏi bị bắn. Bọn chúng tôi đều nghĩ là họ nói thật nên sợ lắm. Tôi bàn với mẹ, mẹ bảo ‘Con không đấu tố thì bố con chết.’ Cuối cùng, chúng tôi phải đứng ra nói theo kịch bản của họ là ‘Bố tôi rất gian ác.’ Họ bảo ‘Chưa được, phải nói nặng thêm.’ Tôi hét lên ‘Bố tôi giết cả làng này.’ Ông đội cải cách rất trẻ tát vào mặt tôi cái bốp, bảo ‘Chửi cha vượt chỉ tiêu trên giao. Trên giao cho mày chửi bố có bằng này thôi, sao mày chửi nhiều vậy?’ Bố mẹ tôi còn bị những người hàng xóm đấu tố. Trước đó, họ là những người Thiên Chúa giáo rất tốt. Đội Cải cách về khuyến khích thế nào thành ra nói dối hết. Tất cả ‘địa chủ’ trong làng xã tôi đều không giàu có gì vì ngoài Bắc ít có người có ruộng thẳng cánh cò bay như trong Nam Bộ. Chỉ vài mẫu ruộng, vài con trâu mà thành ‘địa chủ’ rồi. Họ cứ quy và đấu tố điêu rất gian ác. Trong Cải cách Ruộng đất, không khí khủng khiếp vô cùng.
Trà Mi: Sau lần chính ông đấu tố bố mình, bố ông có lãnh hậu quả thế nào không?
Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Bố tôi sau đó bị nhốt mấy tháng được thả vì gia đình tôi được xuống thành phần ‘trung nông lớp D.’ Tôi nhớ bác Luông ở gần làng tôi cũng bị bắn rất tàn bạo. Đến khi họ sửa sai thì họ cho bác ấy xuống thành phần. Người ta đền tội bắn chết ông Luông có 100 cân thóc cho gia đình. Ngay cả em ruột ông nội tôi là một nhà sư rất nổi tiếng ở huyện cũng bị đấu tố đến mức tự treo cổ chết. Sau này, ông cũng được xuống thành phần. Ông sư trong chùa có gì mà là địa chủ. Họ cốt quy ông là địa chủ để phá chùa của ông thôi. Gần như Cải cách Ruộng đất tiến đến một cuộc diệt chủng. Ví dụ như ông cố sinh ra ông nội tôi, năm đó gần 90 tuổi, râu tóc bạc phơ. Vậy mà họ cũng đem ông ra ruộng đào hố đấu tố ông chỉ vì ông có nhà to nhất làng. Ông cố tôi là một trong những người lập ra cái làng đó. Ông bị đấu tố tới ngất đi. Ông xin xử bắn cho ông được yên mà họ không bắn, đem nhốt ông trong nhà bếp bên cạnh nhà tôi, không cho ăn. Cứ đêm đến ông gọi tôi qua cửa sổ ‘Ông Hảo ơi cho con xin miếng cơm.’ Mẹ tôi thỉnh thoảng lén ném qua cửa sổ cho ông một nắm cơm để ông sống. Nhưng chỉ mấy tháng sau, ông chết.
Trà Mi: Cải cách Ruộng đất nhằm xóa bỏ văn hóa phong kiến; tiêu diệt các thành phần địa chủ, chống chính quyền, hay Việt gian để lấy lại ruộng đất cho bần cố nông. Họ nói mục tiêu đó về cơ bản không sai, nhưng dẫn tới sự đẫm máu và oan sai là do cách thực hiện sai. Ông nghĩ thế nào?
Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Cái đó chỉ là họ biện minh cho hành động độc ác của họ. Mục tiêu của họ là giết trí thức và người giàu. Khẩu hiệu ‘Trí-phú-địa-hào, đào tận gốc trốc tận rễ’, khẩu hiệu căn bản của Cải cách Ruộng đất, vẫn rành rành ra đó. Khẩu hiệu này ra đời từ đảng Cộng sản Đông dương 1930. Trí thức và những người biết làm giàu là thành phần tạo nên xã hội văn minh. Không có trí thức, không có người biết làm ra của cải thì không có xã hội văn minh. Ngay mục tiêu ban đầu của họ đã là rất ác độc, sai trái, chống con người mà cứ bảo trên đúng do dưới thực hiện sai thì rất bậy bạ. Họ chỉ tìm cách mị dân thôi.
Trà Mi: Chủ nghĩa cộng sản tin rằng cách mạng ruộng đất là điều kiện để giải phóng dân tộc…
Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Họ có giải phóng gì đâu. Họ chia ít ruộng cho bần cố nông. Hai năm sau, đến 1958 là họ thu lại hết. Họ cướp hết, cho vào hợp tác xã. Nông dân vẫn tiếp tục khổ ai, còn khổ ải hơn xưa nữa, khốn khó vô cùng. Năm 1958 họ lấy hết đất của dân dồn vào tay nhà nước gọi là ‘hợp tác xã’, thì đâu thể gọi là ‘dân cày có ruộng?’ Đấy là cuộc cách mạng dân cày mất ruộng chứ. Lúc ấy chúng tôi có một ông địa chủ to vô cùng có tên là ‘hợp tác xã,’ đày đọa con người không thể tưởng tượng được. Tôi từng đi làm hợp tác xã, tôi biết, đói vô cùng, hoa cả mắt, suốt ngày làm không đủ ăn.
Trà Mi: Với con mắt một nhân chứng, một người từng là nạn nhân của Cải cách Ruộng đất, ông sẽ nói gì về những di hại của nó cho tới 6 thập niên sau?
Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Tôi chỉ muốn nói rằng dân tộc chúng ta đã kinh qua rất nhiều bi thảm do lỗi lầm của những người mang tà thuyết độc ác, chủ nghĩa duy ác, về đất nước chúng ta. Mong rằng họ sẽ từ bỏ chủ nghĩa duy ác này để trở về với dân tộc, với sự thương yêu hòa đồng với nhau. Chủ nghĩa đấu tranh giai cấp này là một chủ nghĩa rất là sai lầm, làm tai hại cho dân tộc, làm nhân dân cùng đường khốn khổ khốn nạn như thế này. Tôi mong những người cộng sản lãnh đạo đất nước hãy mau thức tỉnh sám hối. Hãy nghĩ rằng không chóng thì chày họ sẽ bị lịch sử lên án. Tôi chỉ mong họ hồi tâm quay lại với đất nước. Mọi người chúng ta hãy cùng nhau nói lên sự thật thì sự thật mới có mặt trên đất nước chúng ta.
Trà Mi: Với thế hệ trẻ ngày nay và ngày mai của nước Việt, theo ông, Cải cách Ruộng đất đã để lại cho họ bài học lịch sử như thế nào?
Nhà văn Trần Mạnh Hảo: Thế hệ chúng tôi bây giờ gần đất xa trời rồi. Thế hệ bố mẹ chúng tôi bị ám ảnh bởi Cải cách Ruộng đất thì chết hết rồi. Bây giờ họ tưởng đã đến lúc họ muốn sáng tác, muốn bịa theo kiểu của họ thế nào cũng được vì lớp trẻ đâu có biết gì, họ muốn nói gì thì nói mà. May mà những người như chúng tôi còn sống và có những bạn trẻ được cha mẹ kể lại những ký ức đau thương của thời Cải cách Ruộng đất, cho nên người ta đã lên tiếng. Không thể nào bịp nhân dân mãi, không thể nào bịt miệng được nhân dân mãi. Internet là phương tiện vô cùng hữu hiệu để chúng ta nói lên sự thật.
Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn nhà văn Trần Mạnh Hảo đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi này.
Cứu nước trên hết!
Nguyễn Trọng Vĩnh
Chưa bao giờ thấy tình hình đất nước đáng lo như hiện nay:
Về kinh tế xã hội: Hàng chục vạn doanh nghiệp ngừng hoạt động và phá sản, công nhân nhân viên mất việc, ngân sách thất thu, sinh viên tốt nghiệp ra trường không có việc làm, người cày mất ruộng, tập đoàn kinh tế nhà nước làm ăn thua lỗ, tham ô, nợ xấu ngân hàng, thất thoát hàng ngàn ngàn tỷ, hàng hóa nước ngoài tràn ngập thị trường chủ yếu từ Trung Quốc, hàng xuất khẩu chủ lực lệ thuộc Trung Quốc về nguyên vật liệu, nhập siêu hàng năm trên dưới 20 tỷ đô la, nợ nước ngoài chồng chất vượt quá GDP, khoáng sản bị đào bới bung bét, rừng bị chặt phá vô tội vạ…Kinh tế sa sút gần đến đáy, tụt hậu rất xa so với các nước chung quanh. Tài nguyên phong phú mà dân nghèo, nước yếu, lệ thuộc.
Mọi mặt xã hội xuống cấp nghiêm trọng.
Về an ninh, quốc phòng: Nhiều điểm xung yếu về quốc phòng đã bán hoặc cho Trung Quốc thuê dài hạn. Họ đã mua được 3, 4 ngàn hecta rừng biên giới, đã đứng chân được trên cao nguyên chiến lược, đã vào “nuôi cá” trong quân cảng Cam Ranh, đương thực hiện dự án khu luyện thép Formosa và cảng Vũng Áng, thực tế là đương xây dựng căn cứ quân sự, họ thuê cảng Cửa Việt cũng đương thực hiện mục đích ấy; từ Kỳ Anh đến chân đèo Ngang, phía Đông đường quốc lộ 1, khoảng 20 km họ xây tường cao và làm gì trong đó không ai biết, mua một đoạn bãi biển Đà Nẵng, xây nhà kín cổng cao tường để làm gì cũng chẳng ai hay. Trung Quốc đã đánh chiếm được cao điểm 1059 trong huyện Vị Xuyên, Hà Giang, ngoài biển, trên cụm bãi đá Gac Ma trong quần đảo Trường Sa của chúng ta mà họ đánh chiếm năm 1988, họ đương xây thành những đảo nhân tạo và thành căn cứ quân sự có sân bay, đường băng. Hàng vạn người Trung Quốc rải khắp nơi có thể là đội quân thứ 5. Độc lập, chủ quyền của nước ta bị uy hiếp nghiêm trọng.
Thực trạng trên đây nói lên sự quản lý, điều hành yếu kém của người đứng đầu Chính phủ và sự lãnh đạo yếu kém của Ban lãnh đạo Đảng.
Cứ đà này tiếp tục, tình hình sẽ còn bi đát hơn, có thể dẫn đến vỡ nợ và có thể mất độc lập chủ quyền. Điều này có phần do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng quá thân Trung Quốc, quá bảo thủ một thứ ý thức hệ không tưởng và quá sợ Trung Quốc đánh, không cho kiện Trung Quốc, không đấu tranh quyết liệt với những hành động xâm lấn và mưu đồ bá chiếm Biển Đông của họ, không muốn làm gì trái ý Trung Quốc, thả lỏng, nên họ muốn gì cũng được.
Trước hiểm họa của đất nước, đảng viên, cán bộ từ dưới lên, những ai còn có lòng yêu nước, còn thấm được ít nhiều tinh thần, khí phách Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, hãy thức tỉnh, dám nghĩ dám làm, dám thay đổi, cùng nhân dân chung tay cứu nước.
Con đường đúng đắn là:
- Đặt Tổ quốc lên trên hết, từ bỏ toàn trị, từ bỏ đường lối sai lầm bảo thủ, tư duy ý thức hệ hão huyền, thực hiện dân chủ với dân, tôn trọng các quyền và lợi ích của dân, gắn bó với dân để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc đích thực.
- Vẫn duy trì mối quan hệ bình thường với Trung Quốc và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước nhưng phải phát huy tinh thần độc lập, tự chủ tách ra khỏi sự ràng buộc của chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán, kết bạn với tất cả các nước lớn như Nga, Nhật, Ấn, Mỹ…
Tôn trọng trí thức có chân tài, thực học, tâm huyết với sự đổi mới và phát triển đất nước, với các chuyên gia kinh tế giỏi, cùng nhau bàn bạc, tìm ra đường lối, kế sách đúng để tiến lên và bảo vệ vững chắc Độc lập, chủ quyền dân tộc.
Bảo thủ không thay đổi là có tội với lịch sử.
N.T.V.
Nguyễn Trọng Vĩnh
Chưa bao giờ thấy tình hình đất nước đáng lo như hiện nay:
Về kinh tế xã hội: Hàng chục vạn doanh nghiệp ngừng hoạt động và phá sản, công nhân nhân viên mất việc, ngân sách thất thu, sinh viên tốt nghiệp ra trường không có việc làm, người cày mất ruộng, tập đoàn kinh tế nhà nước làm ăn thua lỗ, tham ô, nợ xấu ngân hàng, thất thoát hàng ngàn ngàn tỷ, hàng hóa nước ngoài tràn ngập thị trường chủ yếu từ Trung Quốc, hàng xuất khẩu chủ lực lệ thuộc Trung Quốc về nguyên vật liệu, nhập siêu hàng năm trên dưới 20 tỷ đô la, nợ nước ngoài chồng chất vượt quá GDP, khoáng sản bị đào bới bung bét, rừng bị chặt phá vô tội vạ…Kinh tế sa sút gần đến đáy, tụt hậu rất xa so với các nước chung quanh. Tài nguyên phong phú mà dân nghèo, nước yếu, lệ thuộc.
Mọi mặt xã hội xuống cấp nghiêm trọng.
Về an ninh, quốc phòng: Nhiều điểm xung yếu về quốc phòng đã bán hoặc cho Trung Quốc thuê dài hạn. Họ đã mua được 3, 4 ngàn hecta rừng biên giới, đã đứng chân được trên cao nguyên chiến lược, đã vào “nuôi cá” trong quân cảng Cam Ranh, đương thực hiện dự án khu luyện thép Formosa và cảng Vũng Áng, thực tế là đương xây dựng căn cứ quân sự, họ thuê cảng Cửa Việt cũng đương thực hiện mục đích ấy; từ Kỳ Anh đến chân đèo Ngang, phía Đông đường quốc lộ 1, khoảng 20 km họ xây tường cao và làm gì trong đó không ai biết, mua một đoạn bãi biển Đà Nẵng, xây nhà kín cổng cao tường để làm gì cũng chẳng ai hay. Trung Quốc đã đánh chiếm được cao điểm 1059 trong huyện Vị Xuyên, Hà Giang, ngoài biển, trên cụm bãi đá Gac Ma trong quần đảo Trường Sa của chúng ta mà họ đánh chiếm năm 1988, họ đương xây thành những đảo nhân tạo và thành căn cứ quân sự có sân bay, đường băng. Hàng vạn người Trung Quốc rải khắp nơi có thể là đội quân thứ 5. Độc lập, chủ quyền của nước ta bị uy hiếp nghiêm trọng.
Thực trạng trên đây nói lên sự quản lý, điều hành yếu kém của người đứng đầu Chính phủ và sự lãnh đạo yếu kém của Ban lãnh đạo Đảng.
Cứ đà này tiếp tục, tình hình sẽ còn bi đát hơn, có thể dẫn đến vỡ nợ và có thể mất độc lập chủ quyền. Điều này có phần do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng quá thân Trung Quốc, quá bảo thủ một thứ ý thức hệ không tưởng và quá sợ Trung Quốc đánh, không cho kiện Trung Quốc, không đấu tranh quyết liệt với những hành động xâm lấn và mưu đồ bá chiếm Biển Đông của họ, không muốn làm gì trái ý Trung Quốc, thả lỏng, nên họ muốn gì cũng được.
Trước hiểm họa của đất nước, đảng viên, cán bộ từ dưới lên, những ai còn có lòng yêu nước, còn thấm được ít nhiều tinh thần, khí phách Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, hãy thức tỉnh, dám nghĩ dám làm, dám thay đổi, cùng nhân dân chung tay cứu nước.
Con đường đúng đắn là:
- Đặt Tổ quốc lên trên hết, từ bỏ toàn trị, từ bỏ đường lối sai lầm bảo thủ, tư duy ý thức hệ hão huyền, thực hiện dân chủ với dân, tôn trọng các quyền và lợi ích của dân, gắn bó với dân để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc đích thực.
- Vẫn duy trì mối quan hệ bình thường với Trung Quốc và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước nhưng phải phát huy tinh thần độc lập, tự chủ tách ra khỏi sự ràng buộc của chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán, kết bạn với tất cả các nước lớn như Nga, Nhật, Ấn, Mỹ…
Tôn trọng trí thức có chân tài, thực học, tâm huyết với sự đổi mới và phát triển đất nước, với các chuyên gia kinh tế giỏi, cùng nhau bàn bạc, tìm ra đường lối, kế sách đúng để tiến lên và bảo vệ vững chắc Độc lập, chủ quyền dân tộc.
Bảo thủ không thay đổi là có tội với lịch sử.
N.T.V.

Đu dây được đến bao giờ?
Nguyễn Hưng Quốc
Giới lãnh đạo Việt Nam không bao giờ nói thẳng và nói rõ chiến lược bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của họ vì với họ, đó là một bí mật quốc gia. Tuy nhiên, quan sát các diễn tiến trong mấy năm qua, đặc biệt thời gian gần đây, tôi nghĩ, chiến lược chính của họ là đu dây giữa Trung Quốc và Mỹ.
Với Trung Quốc, Việt Nam không có chọn lựa nào khác ngoài việc nhượng bộ. Lý do rất đơn giản: Việt Nam không phải là đối thủ của Trung Quốc. Hai mặt mạnh làm nên những chiến thắng vang đội của đảng Cộng sản Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ vừa qua là chiến thuật du kích và chiến thuật biển người. Cả hai chiến thuật ấy chỉ thành công trong hai điều kiện: một là trên đất liền, đặc biệt ở những vùng rừng núi hoang vu; và hai là tinh thần chiến đấu cao và sẵn sàng chấp nhận hy sinh của nhân dân và binh sĩ. Điều kiện thứ nhất sẽ bị vô hiệu hóa khi chiến sự xảy ra trên biển và đảo. Điều kiện thứ hai bị chính giới lãnh đạo phá hủy trong nhiều năm qua bằng các vụ vu khống, hành hạ, bắt bớ và nhục mạ những người có tinh thần bất khuất, quyết tâm chống lại Trung Quốc. Chiến tranh trên biển, nơi không thể sử dụng chiến thuật biển người hay chiến thuật du kích, tùy thuộc chủ yếu vào vũ khí và kỹ thuật. Ở cả hai khía cạnh này, một số người cho rằng sáu chiếc tàu ngầm Kilo mà Việt Nam đặt mua của Nga từ năm 2009 (đến nay đã nhận được hai; chiếc thứ ba sẽ đến Việt Nam trong năm nay; ba chiếc còn lại sẽ được giao vào năm 2016; trị giá tổng cộng đến 2,6 tỉ Mỹ kim) như những chiếc gậy thần dùng đế chống lại các chiến hạm của Trung Quốc. Nhưng người ta quên đi những gì Việt Nam mua từ Nga thì Trung Quốc cũng có thể mua được, hơn nữa, nhờ giàu hơn, Trung Quốc cũng sẽ mua tàu ngầm với số lượng nhiều hơn hẳn, chưa kể, những chiếc tàu ngầm do họ tự chế tạo.
Ngoài lý do vừa nêu, Việt Nam nhượng bộ Trung Quốc có thể vì nhiều lý do khác nữa, ví dụ, về kinh tế, họ lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc; về phương diện chính trị, họ bị ràng buộc bởi những cam kết bí mật nào đó trong cuộc hội nghị Thành Đô trước đây. Cũng không thể loại trừ khả năng là nhiều người trong giới lãnh đạo bị Trung Quốc mua chuộc.
Nhưng vì bất cứ lý do nào, sự nhượng bộ cũng có giới hạn của nó. Trung Quốc xây dựng căn cứ quân sự trên đảo Gạc Ma: nhượng bộ. Nhưng nếu Trung Quốc đánh chiếm các hòn đảo khác ở Trường Sa thì Việt Nam không thể tiếp tục nhượng bộ được nữa. Trung Quốc mang giàn khoan để thăm dò dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam: nhượng bộ. Nhưng nếu Trung Quốc công khai khai thác dầu khí ở vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam thì Việt Nam không thể tiếp tục nhượng bộ được nữa. Trung Quốc tuyên bố con đường lưỡi bò: nhượng bộ. Nhưng nếu Trung Quốc đưa ra một số luật lệ để kiểm soát trên con đường lưỡi bò ấy, ví dụ, hạn chế tàu bè của Việt Nam cũng như của quốc tế đến Việt Nam thì Việt Nam không thể tiếp tục nhượng bộ được nữa.
Nếu không nhượng bộ thì làm gì?
Làm sao để thoát Hán...g
Tự Việt Nam, Việt Nam không làm được gì cả. Nước nhỏ, thế yếu, Việt Nam chỉ có thể trông chờ sự hậu thuẫn và trợ giúp của thế giới bên ngoài, trong đó, quan trọng nhất là Mỹ và sau lưng Mỹ là các lực lượng đồng minh của Mỹ trong khu vực, từ Nhật đến Úc. Cho nên, bằng mọi giá, Việt Nam phải tìm cách siết chặt quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, ở đây lại không ít cản trở. Thứ nhất là vấn đề nhân quyền. Bình thường, thành thực mà nói, dù Mỹ hay nói đến nhân quyền nhưng trong rất nhiều trường hợp, vì lợi ích của nước họ, họ cũng thường nhắm mắt làm ngơ trước các sự vi phạm nhân quyền của nước liên hệ. Lâu nay, Mỹ vẫn làm thế ở Trung Đông và Nam Mỹ. Tuy nhiên, với Việt Nam thì khác. Chính phủ Mỹ có thể chỉ lên án qua loa lấy lệ, nhưng dân chúng Mỹ, đặc biệt với những người cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam thì khác. Đó là chưa kể cộng đồng người Việt với trên một triệu rưỡi người đang sống trên đất Mỹ. Tất cả đều có thể gây một sức ép đáng kể để chính quyền Mỹ, dù muốn hay không, cũng đặt vấn đề nhân quyền như một điều kiện để liên kết.
Nhưng cản trở lớn nhất của Việt Nam trên con đường tiếp cận với Mỹ chính là Trung Quốc. Chắc chắn Trung Quốc không hề muốn và càng không thể chấp nhận hiện tượng Việt Nam bắt tay với Mỹ để chống lại Trung Quốc. Chắc chắn họ sẽ phá; nếu không phá được, sẵn sàng tấn công Việt Nam trước khi quan hệ liên minh giữa Việt Nam và Mỹ biến thành hiện thực. Trong trường hợp này, chắc chắn Trung Quốc sẽ hành xử y hệt Nga tại Ukraine trong mấy tháng vừa qua.
Như vậy, nghịch lý của Việt Nam hiện nay là: một mặt, cố gắng nhượng bộ Trung Quốc nhưng biết rõ là sự nhượng bộ ấy không phải là vô giới hạn; mặt khác, cần Mỹ để chống lại Trung Quốc nhưng lại không thể công khai hóa quá trình thành lập liên minh ấy.
Cuối cùng, Việt Nam chọn giải pháp đu dây: Họ vờn qua Trung Quốc một tí lại vờn quá Mỹ một tí. Trong Bộ chính trị, nếu có người này sang Trung Quốc thì sẽ có người kia sang Mỹ. Hứa với Trung Quốc điều a thì cũng hứa với Mỹ điều b. Chính sách đu đây này họ đã sử dụng một cách thuần thục trong cuộc chiến tranh Nam Bắc trước đây: họ đong đưa giữa Liên Xô và Trung Quốc để có thể nhận được sự trợ giúp của cả hai dù quan hệ giữa hai nước ấy rất căng thẳng với nhau.
Nhưng đu dây giữa hai đồng minh dù sao cũng dễ hơn là đu dây với kẻ thù. Trung Quốc sẽ không dại dột để Việt Nam chơi trò đu dây. Chắc chắn họ sẽ bắt Việt Nam phải lựa chọn.
Điều cần nhất của Việt Nam hiện nay là phải chuẩn bị cho những sự lựa chọn ấy.
"Ðểu cáng đã lên ngôi!’
Ngô Nhân Dụng
Phim “Sống cùng lịch sử” phải ngưng chiếu, trong thành phố Hà Nội, vì mỗi ngày chỉ có hai, ba người mua vé vào coi. Phim mới này, của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân, được mô tả là làm ra để khen ông Võ Nguyên Giáp.
Cuốn phim làm tốn mất 21 tỷ đồng, tương đương với một triệu đô la Mỹ; dùng tiền nhà nước, tức là tiền của dân Việt Nam. Trước đó, năm 2010 đã có phim “Lý Công Uẩn - Ðường tới thành Thăng Long” tốn gấp năm lần, chi trên 100 tỷ; làm xong cũng đem cất trong kho.
Có người chỉ cho nhà sản xuất phim, có cách khiến dân Hà Nội kéo nhau đi coi phim về Tướng Giáp: Hãy xin Ðảng Cộng Sản ra lệnh cấm phim này! Cứ cái gì bị cấm thì người thế nào dân cũng tìm coi bằng được. Vào thế kỷ thứ 19 đã có một ông vua Hy Lạp dùng kế này.
Dân Hy Lạp hồi xưa không trồng khoai tây; mà bây giờ đó là một món ăn rất được ưa chuộng. Ðó là công của vua Óthon (tên ông có khi viết là Otho , hoặc Otto ; theo lối viết của người Hy Lạp, nay viết là Óthon ).
Vua Óthon (1815-1867) được các cường quốc đưa từ Bavaria sang làm vua xứ này khi mới 17 tuổi, sau khi dân nổi lên lật đổ đế quốc Ottoman . Nhưng khi trưởng thành ông rất yêu nước Hy Lạp. Nông dân Hy Lạp rất bảo thủ, không muốn trồng một thứ gì mới, kể cả khoai tây là món được đem giống từ Châu Mỹ về.
Muốn nông dân trồng khoai tây, vua Óthon đã ra lệnh cấm mua bán, tàng trữ khoai tây. Bị đế quốc Ottoman thống trị bốn thế kỷ, bị bóc lột không nương tay, nông dân Hy Lạp đã nhiễm một thói quen: Hễ cái gì nhà nước cấm thì ta làm, làm lén, càng cấm càng thèm, lén lút làm càng thích! Phàm người dân nước nào cũng vậy, họ thích ăn “trái cấm,” ở đây củ khoai có thể gọi là “củ cấm.”Thế là nông dân Hy Lạp đi gây giống khoai tây, lén trồng khoai trong vườn nhà mình, đêm đêm móc củ khoai lên mà ăn, cả nhà cùng sung sướng. Cuối cùng khoai tây trở thành một món quốc hồn quốc túy!
Một câu chuyện ly kì khác kể rằng vua Óthon cho người đi phao tin đồn rằng có một chiếc tàu thủy vừa cập hải cảng Piraeus , thành phố Athens , chở một đặc sản dành riêng cho hoàng cung, vì hoàng gia Bavaria đã quen món ăn chân quý đó rồi. Cấm không bán cho dân chúng, vì trình độ ẩm thực của họ còn thấp quá. Chiếc tàu thủy không cho ai canh gác, cho nên dân Hy Lạp ban đêm đã lén lên tàu lấy trộm về ăn thử. Và họ thấy quả nhiên ngon. Từ đó, họ thi đua trồng khoai tây.
Có thể nói cuốn phim “Sống cùng lịch sử” làm cho cả Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam mất mặt.
Bỏ hàng triệu đô la ra làm phim mà không có ai coi. Bây giờ, họ có thể gỡ thể diện, bằng một mật lệnh, bí mật nhưng cứ cho các công an dư luận đi rỉ tai cho mọi người biết, rằng cuốn phim đã bị cấm. Lý do, cũng cứ rỉ tai mà nói, là vì Bộ Chính Trị mới nhận được lá thư của bà Vân, vợ thứ nhì của ông Lê Duẩn, lá thư dài tố cáo những tội lỗi của ông Giáp, do ông Lê Duẩn thì thầm bên gối cho bà nghe. Nhân danh là một đảng viên Cộng Sản, bà Vân đã đả kích thậm tệ việc tung hô Tướng Giáp trong đám tang của ông. Bà còn chỉ trích cả việc ông Giáp chọn chỗ đặt mồ của mình ở tuốt miền quê hương ông, xa hẳn Hà Nội. Tức là trước khi chết ông ta còn nhất định không chịu nằm chung một chỗ với đám quý tộc đỏ ở nghĩa trang Mai Dịch. Cứ nói rằng Bộ Chính Trị đã tỉnh ngộ, đánh giá cao dóng góp của đồng chí Vợ Hai Lê Duẩn, cho nên ra lệnh từ nay cấm không cho ai chiếu phim, coi phim “Sống cùng lịch sử”!
Người hiến kế cho đạo diễn Nguyễn Thanh Vân có thiện trí muốn giúp ông thu được chút vốn về cho nhà nước. Nhưng kế này khó thực hiện, vì quên mất một điều: Phim Tướng Giáp không phải là khoai tây. Nông dân Hy Lạp nếm thử món khoai tây, thấy ngon thật cho nên đua nhau trồng chi, ăn chui. Còn cuốn phim “Sống cùng lịch sử” đã có người nếm thử rồi, mỗi ngày có tới hai ba người tò mò mua vé xem tại cả hai rạp hát; tổng cộng ba ngày có tới ít nhất 12 khán giả. Chắc hẳn 12 khán giả đều thấy lịch sử cuộc chiến 56 ngày đêm của ông Giáp cũng không ngon được như cái củ khoai tây, cho nên chẳng ai thèm đi xem nữa.
Có người giải thích tai nạn của phim “Sống cùng lịch sử”cũng là tai nạn của môn lịch sử tại Việt Nam hiện nay. Bà con còn nhớ mấy năm trước khi học trò biết tin môn sử học được bãi bỏ trong kỳ thi, các em đã làm lễ ăn mừng, đem tung hê hết các cuốn sách giáo khoa sử học, vứt từ trên lầu xuống đất, vui như coi pháo bông.
Nhưng giải thích như vậy không đủ. Nên nhớ khi học trò lớp 12 phải học môn lịch sử thì các em toàn phải học về công ơn của Ðảng Cộng Sản. Dân Việt Nam đã phải ăn cái món ăn tuyên truyền suốt ngày đêm, từ sáng đến tối, chán ứ đến mang tai rồi. Các em học sinh phải đi thi nên phải học, chỉ học thuộc lòng thôi chứ không được nghiên cứu, tìm tòi gì thêm cả. Cho nên, khi nghe tin được tha, không phải học nữa các em phải sướng như điên, biểu diễn màn xé sách tung hê. Kết tội các em không quan tâm đến lịch sử dân tộc là oan. Các em chỉ chán nghe tuyên truyền mà thôi. Như câu ca dao thịnh hành ở ngoài Bắc từ thời Hồ Chí Minh còn sống:
“Dân đói mà đảng thì no
Sức đâu ủng hộ, hoan hô suốt ngày?”
Cuốn phim thất bại vì nó không phải lịch sử, nó chỉ là tuyên truyền mà thôi. Nói như một độc giả Bảo Minh ở Việt Nam sau khi đọc tin phim “Sống cùng lịch sử“ế khách trên mạng VnExpress : “Làm phim về lịch sử nếu không trung thực với lịch sử thì sẽ tiếp tục thất bại và khán giả hờ hững.” Cũng vì vậy, ông Nguyễn Thanh Vân cho biết đã liên lạc với các rạp nhà nước và tư nhân, nhưng “không phải rạp tư nhân nào cũng đồng ý” chiếu một bộ phim mà họ biết trước sẽ ế khách.
Nhưng tại sao ông Nguyễn Thanh Vân và các cấp chỉ huy của ông trong ban văn hóa tư tưởng không đoán trước được phản ứng của khán giả trước khi bỏ tiền ra làm phim? Có một độc giả đã giải thích, “Người ta đâu cốt làm phim, người ta chỉ cố rút được càng nhiều tiền thuế càng tốt.” Ðó có lẽ là lời giải thích đúng sự thật nhất. Nhưng nói vậy cũng chưa đủ. Vì muốn rút tiền thuế của dân ra chia nhau thì thiếu gì cách, đâu cứ phải làm phim? Lý do quan trọng hơn khiến người ta làm cuốn phim này, là họ đã hoàn toàn vô cảm. Vô cảm trước tâm trạng của người dân Việt Nam hiện nay. Họ không biết dân nghĩ gì, dân yêu cái gì, ghét cái gì. Hoặc biết, nhưng bất cần, theo chủ nghĩa Mặc Kệ.
Cứ xem như họ tổ chức cuộc triển lãm cũng “lịch sử” về Cải Cách Ruộng Ðất thì thấy. Họ không cần biết đến những người dân đã tự thiêu vì phẫn uất khi bị đảng và nhà nước cướp đất hiến cho tư bản đỏ lấy tiền bỏ túi. Ca ngợi cuộc Cải Cách Ruộng Ðất làm mấy trăm ngàn người chết oan là khiêu khích hàng triệu các con cháu họ còn sống. Khiêu khích tất cả những người dân mất ruộng cày vì chính sách tư bản hóa các đảng viên. Khiêu khích tất cả giới nghiên cứu lịch sử, giới trí thức Hà Nội. Vậy mà họ vẫn cứ làm được. Cũng chỉ vì họ hoàn toàn vô cảm.
Thêm một bằng chứng nữa về tình trạng vô cảm của các cán bộ Cộng Sản: việc đem một em bé gái tám tuổi ra tòa, xử tội vì em đã nhét hình Hồ Chí Minh vào trong quần, từ hai năm qua. Một em bé tâm thần không ổn định như vậy, chỉ đáng thương, nên đưa em đi chữa trị. Nếu có độc ác mà phạt em, thì cũng nên phạt lén lút, đừng đem ra công khai bêu rếu. Bêu xấu một em bé tám tuổi chưa đủ trí khôn, nhưng bêu rếu luôn cả già Hồ! Làm như thế nhưng họ không hề biết rằng đem ra câu chuyện hình Hồ Chí Minh nhét trong quần ra bêu là một việc làm đáng xấu hổ cho cả Ðảng Cộng Sản tử trên xuống dưới. Vì họ hoàn toàn vô vảm.
Tình trạng vô cảm của các cán bộ, các lãnh tụ Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã hiển hiện từ nhiều năm qua. Thời Trường Chinh, Lê Duẩn , các cán bộ được đề bạt lên đều có ý thức về tác dụng chính trị của mỗi lời nói, mỗi hành động. Họ dối trá nhưng biết nói dối một cách khôn ngoan. Khôn ngoan tức là giữ được bộ mặt đạo đức giả, dân biết nghe nói dối mà không vạch mặt được.
Làm cán bộ Cộng Sản trước đây phải biết khéo lé mồm mép, nói cho giỏi. Nói cho giỏi tức là khả năng chính trị cao! Cho nên nhà thơ Nguyễn Duy mô tả xã hội Cộng Sản với hình ảnh: “Ðiếm cấp thấp lấy trôn nuôi miệng - Ðiếm cấp cao lấy miệng nuôi trôn.”
Ngày nay các cán bộ được cất nhắc không theo tiêu chuẩn khả năng chính trị nữa. Tiêu chuẩn chính bây giờ là tiền. Anh nào giỏi moi ra được nhiều tiền, có nhiều tiền để dâng lên cấp trên, thì anh ấy sẽ khá, sẽ thăng quan tiến chức, ngày càng lên cao. Cách đề bạt, tuyển chọn trong Ðảng Cộng Sản đã hoàn toàn thay đổi kể từ khi theo con đường tư bản hóa cán bộ và đảng viên. Cho nên mới đẻ ra đám cán bộ không bao giờ để ý đến tâm trạng của người dân, vì họ không cần biết đến. Cho nên nhìn chung quanh thấy bao nhiêu chuyện lợm giọng, từ trò triển lãm cướp ruộng đến trò đem hình Hồ Chí Minh nhét vào quần ra tòa. Nhà thơ Bùi Minh Quốc viết: “Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa - Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!” Dân Việt phải chứng kiến cảnh “đểu cáng lên ngôi” đến bao giờ mới được tha?
Ngô Nhân Dụng
Phim “Sống cùng lịch sử” phải ngưng chiếu, trong thành phố Hà Nội, vì mỗi ngày chỉ có hai, ba người mua vé vào coi. Phim mới này, của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân, được mô tả là làm ra để khen ông Võ Nguyên Giáp.
Cuốn phim làm tốn mất 21 tỷ đồng, tương đương với một triệu đô la Mỹ; dùng tiền nhà nước, tức là tiền của dân Việt Nam. Trước đó, năm 2010 đã có phim “Lý Công Uẩn - Ðường tới thành Thăng Long” tốn gấp năm lần, chi trên 100 tỷ; làm xong cũng đem cất trong kho.
Có người chỉ cho nhà sản xuất phim, có cách khiến dân Hà Nội kéo nhau đi coi phim về Tướng Giáp: Hãy xin Ðảng Cộng Sản ra lệnh cấm phim này! Cứ cái gì bị cấm thì người thế nào dân cũng tìm coi bằng được. Vào thế kỷ thứ 19 đã có một ông vua Hy Lạp dùng kế này.
Dân Hy Lạp hồi xưa không trồng khoai tây; mà bây giờ đó là một món ăn rất được ưa chuộng. Ðó là công của vua Óthon (tên ông có khi viết là Otho , hoặc Otto ; theo lối viết của người Hy Lạp, nay viết là Óthon ).
Vua Óthon (1815-1867) được các cường quốc đưa từ Bavaria sang làm vua xứ này khi mới 17 tuổi, sau khi dân nổi lên lật đổ đế quốc Ottoman . Nhưng khi trưởng thành ông rất yêu nước Hy Lạp. Nông dân Hy Lạp rất bảo thủ, không muốn trồng một thứ gì mới, kể cả khoai tây là món được đem giống từ Châu Mỹ về.
Muốn nông dân trồng khoai tây, vua Óthon đã ra lệnh cấm mua bán, tàng trữ khoai tây. Bị đế quốc Ottoman thống trị bốn thế kỷ, bị bóc lột không nương tay, nông dân Hy Lạp đã nhiễm một thói quen: Hễ cái gì nhà nước cấm thì ta làm, làm lén, càng cấm càng thèm, lén lút làm càng thích! Phàm người dân nước nào cũng vậy, họ thích ăn “trái cấm,” ở đây củ khoai có thể gọi là “củ cấm.”Thế là nông dân Hy Lạp đi gây giống khoai tây, lén trồng khoai trong vườn nhà mình, đêm đêm móc củ khoai lên mà ăn, cả nhà cùng sung sướng. Cuối cùng khoai tây trở thành một món quốc hồn quốc túy!
Một câu chuyện ly kì khác kể rằng vua Óthon cho người đi phao tin đồn rằng có một chiếc tàu thủy vừa cập hải cảng Piraeus , thành phố Athens , chở một đặc sản dành riêng cho hoàng cung, vì hoàng gia Bavaria đã quen món ăn chân quý đó rồi. Cấm không bán cho dân chúng, vì trình độ ẩm thực của họ còn thấp quá. Chiếc tàu thủy không cho ai canh gác, cho nên dân Hy Lạp ban đêm đã lén lên tàu lấy trộm về ăn thử. Và họ thấy quả nhiên ngon. Từ đó, họ thi đua trồng khoai tây.
Có thể nói cuốn phim “Sống cùng lịch sử” làm cho cả Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam mất mặt.
Bỏ hàng triệu đô la ra làm phim mà không có ai coi. Bây giờ, họ có thể gỡ thể diện, bằng một mật lệnh, bí mật nhưng cứ cho các công an dư luận đi rỉ tai cho mọi người biết, rằng cuốn phim đã bị cấm. Lý do, cũng cứ rỉ tai mà nói, là vì Bộ Chính Trị mới nhận được lá thư của bà Vân, vợ thứ nhì của ông Lê Duẩn, lá thư dài tố cáo những tội lỗi của ông Giáp, do ông Lê Duẩn thì thầm bên gối cho bà nghe. Nhân danh là một đảng viên Cộng Sản, bà Vân đã đả kích thậm tệ việc tung hô Tướng Giáp trong đám tang của ông. Bà còn chỉ trích cả việc ông Giáp chọn chỗ đặt mồ của mình ở tuốt miền quê hương ông, xa hẳn Hà Nội. Tức là trước khi chết ông ta còn nhất định không chịu nằm chung một chỗ với đám quý tộc đỏ ở nghĩa trang Mai Dịch. Cứ nói rằng Bộ Chính Trị đã tỉnh ngộ, đánh giá cao dóng góp của đồng chí Vợ Hai Lê Duẩn, cho nên ra lệnh từ nay cấm không cho ai chiếu phim, coi phim “Sống cùng lịch sử”!
Người hiến kế cho đạo diễn Nguyễn Thanh Vân có thiện trí muốn giúp ông thu được chút vốn về cho nhà nước. Nhưng kế này khó thực hiện, vì quên mất một điều: Phim Tướng Giáp không phải là khoai tây. Nông dân Hy Lạp nếm thử món khoai tây, thấy ngon thật cho nên đua nhau trồng chi, ăn chui. Còn cuốn phim “Sống cùng lịch sử” đã có người nếm thử rồi, mỗi ngày có tới hai ba người tò mò mua vé xem tại cả hai rạp hát; tổng cộng ba ngày có tới ít nhất 12 khán giả. Chắc hẳn 12 khán giả đều thấy lịch sử cuộc chiến 56 ngày đêm của ông Giáp cũng không ngon được như cái củ khoai tây, cho nên chẳng ai thèm đi xem nữa.
Có người giải thích tai nạn của phim “Sống cùng lịch sử”cũng là tai nạn của môn lịch sử tại Việt Nam hiện nay. Bà con còn nhớ mấy năm trước khi học trò biết tin môn sử học được bãi bỏ trong kỳ thi, các em đã làm lễ ăn mừng, đem tung hê hết các cuốn sách giáo khoa sử học, vứt từ trên lầu xuống đất, vui như coi pháo bông.
Nhưng giải thích như vậy không đủ. Nên nhớ khi học trò lớp 12 phải học môn lịch sử thì các em toàn phải học về công ơn của Ðảng Cộng Sản. Dân Việt Nam đã phải ăn cái món ăn tuyên truyền suốt ngày đêm, từ sáng đến tối, chán ứ đến mang tai rồi. Các em học sinh phải đi thi nên phải học, chỉ học thuộc lòng thôi chứ không được nghiên cứu, tìm tòi gì thêm cả. Cho nên, khi nghe tin được tha, không phải học nữa các em phải sướng như điên, biểu diễn màn xé sách tung hê. Kết tội các em không quan tâm đến lịch sử dân tộc là oan. Các em chỉ chán nghe tuyên truyền mà thôi. Như câu ca dao thịnh hành ở ngoài Bắc từ thời Hồ Chí Minh còn sống:
“Dân đói mà đảng thì no
Sức đâu ủng hộ, hoan hô suốt ngày?”
Cuốn phim thất bại vì nó không phải lịch sử, nó chỉ là tuyên truyền mà thôi. Nói như một độc giả Bảo Minh ở Việt Nam sau khi đọc tin phim “Sống cùng lịch sử“ế khách trên mạng VnExpress : “Làm phim về lịch sử nếu không trung thực với lịch sử thì sẽ tiếp tục thất bại và khán giả hờ hững.” Cũng vì vậy, ông Nguyễn Thanh Vân cho biết đã liên lạc với các rạp nhà nước và tư nhân, nhưng “không phải rạp tư nhân nào cũng đồng ý” chiếu một bộ phim mà họ biết trước sẽ ế khách.
Nhưng tại sao ông Nguyễn Thanh Vân và các cấp chỉ huy của ông trong ban văn hóa tư tưởng không đoán trước được phản ứng của khán giả trước khi bỏ tiền ra làm phim? Có một độc giả đã giải thích, “Người ta đâu cốt làm phim, người ta chỉ cố rút được càng nhiều tiền thuế càng tốt.” Ðó có lẽ là lời giải thích đúng sự thật nhất. Nhưng nói vậy cũng chưa đủ. Vì muốn rút tiền thuế của dân ra chia nhau thì thiếu gì cách, đâu cứ phải làm phim? Lý do quan trọng hơn khiến người ta làm cuốn phim này, là họ đã hoàn toàn vô cảm. Vô cảm trước tâm trạng của người dân Việt Nam hiện nay. Họ không biết dân nghĩ gì, dân yêu cái gì, ghét cái gì. Hoặc biết, nhưng bất cần, theo chủ nghĩa Mặc Kệ.
Cứ xem như họ tổ chức cuộc triển lãm cũng “lịch sử” về Cải Cách Ruộng Ðất thì thấy. Họ không cần biết đến những người dân đã tự thiêu vì phẫn uất khi bị đảng và nhà nước cướp đất hiến cho tư bản đỏ lấy tiền bỏ túi. Ca ngợi cuộc Cải Cách Ruộng Ðất làm mấy trăm ngàn người chết oan là khiêu khích hàng triệu các con cháu họ còn sống. Khiêu khích tất cả những người dân mất ruộng cày vì chính sách tư bản hóa các đảng viên. Khiêu khích tất cả giới nghiên cứu lịch sử, giới trí thức Hà Nội. Vậy mà họ vẫn cứ làm được. Cũng chỉ vì họ hoàn toàn vô cảm.
Thêm một bằng chứng nữa về tình trạng vô cảm của các cán bộ Cộng Sản: việc đem một em bé gái tám tuổi ra tòa, xử tội vì em đã nhét hình Hồ Chí Minh vào trong quần, từ hai năm qua. Một em bé tâm thần không ổn định như vậy, chỉ đáng thương, nên đưa em đi chữa trị. Nếu có độc ác mà phạt em, thì cũng nên phạt lén lút, đừng đem ra công khai bêu rếu. Bêu xấu một em bé tám tuổi chưa đủ trí khôn, nhưng bêu rếu luôn cả già Hồ! Làm như thế nhưng họ không hề biết rằng đem ra câu chuyện hình Hồ Chí Minh nhét trong quần ra bêu là một việc làm đáng xấu hổ cho cả Ðảng Cộng Sản tử trên xuống dưới. Vì họ hoàn toàn vô vảm.
Tình trạng vô cảm của các cán bộ, các lãnh tụ Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã hiển hiện từ nhiều năm qua. Thời Trường Chinh, Lê Duẩn , các cán bộ được đề bạt lên đều có ý thức về tác dụng chính trị của mỗi lời nói, mỗi hành động. Họ dối trá nhưng biết nói dối một cách khôn ngoan. Khôn ngoan tức là giữ được bộ mặt đạo đức giả, dân biết nghe nói dối mà không vạch mặt được.
Làm cán bộ Cộng Sản trước đây phải biết khéo lé mồm mép, nói cho giỏi. Nói cho giỏi tức là khả năng chính trị cao! Cho nên nhà thơ Nguyễn Duy mô tả xã hội Cộng Sản với hình ảnh: “Ðiếm cấp thấp lấy trôn nuôi miệng - Ðiếm cấp cao lấy miệng nuôi trôn.”
Ngày nay các cán bộ được cất nhắc không theo tiêu chuẩn khả năng chính trị nữa. Tiêu chuẩn chính bây giờ là tiền. Anh nào giỏi moi ra được nhiều tiền, có nhiều tiền để dâng lên cấp trên, thì anh ấy sẽ khá, sẽ thăng quan tiến chức, ngày càng lên cao. Cách đề bạt, tuyển chọn trong Ðảng Cộng Sản đã hoàn toàn thay đổi kể từ khi theo con đường tư bản hóa cán bộ và đảng viên. Cho nên mới đẻ ra đám cán bộ không bao giờ để ý đến tâm trạng của người dân, vì họ không cần biết đến. Cho nên nhìn chung quanh thấy bao nhiêu chuyện lợm giọng, từ trò triển lãm cướp ruộng đến trò đem hình Hồ Chí Minh nhét vào quần ra tòa. Nhà thơ Bùi Minh Quốc viết: “Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa - Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!” Dân Việt phải chứng kiến cảnh “đểu cáng lên ngôi” đến bao giờ mới được tha?
Những cái bánh vẽ đẹp không tin nổi
Hầu hết các báo lớn báo nhỏ ở VN đều nêu lên tiêu đề rất đáng kinh ngạc: "Trên 80% số người dân được điều tra đều cho rằng họ hài lòng và… rất hài lòng đối với các dịch vụ công hiện nay".
Đây là số liệu dựa theo kết quả quá của Bộ Nội vụ phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra tại cuộc khảo sát thử nghiệm mức độ hài lòng đối với dịch vụ hành chính công tại 3 tỉnh Phú Thọ, Thanh Hóa và Bình Định được công bố ngày 20 tháng 8 năm 2014 vừa qua.
Những con số này thật sự đáng kinh ngạc và đã làm rộ lên một làn sóng phản bác mạnh mẽ trên khắp các diễn đàn. Người dân VN ai mà chẳng biết những dịch vụ công đó như thế nào. Thậm chí câu nói “hành dân là chính” đã thành câu nói cửa miệng của dân. Thế mà dám công bố một sự thật trái ngược hoàn toàn với thực trạng hiện nay. Con số trên 80% người dân hài lòng là một nền dịch vụ công lý tưởng của một nền hành chính mơ ước của toàn thế giới. Không biết các ông ở Bộ Nội Vụ VN có quá coi thường sự hiểu biết của người dân không? Một nửa con số 80% hài lòng đã là quá đáng rồi chứ nói gì đến trên 80%.
Những con số còn “đẹp” hơn nữa
Trong khi đó ở Việt Nam, theo UBND tỉnh Phú Thọ, với 1.570 phiếu khảo sát, tỉ lệ người trả lời phỏng vấn thể hiện sự hài lòng đối với các loại dịch vụ hành chính công lên đến… 86%.
Cụ thể, trong nhóm người sử dụng dịch vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình, cá nhân được đánh giá mức độ hài lòng cao nhất với trên 89%. Trong khi con số khiếu nại, kiện tụng về đất đai cả nước bao giờ cũng chiếm hàng đầu trong tất cả các vụ kiện tụng, có thể lên đến 80% hồ sơ của các tòa án.
Thứ hai là sự hài lòng khi xin giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đạt 79%, cấp giấy phép xây dựng công trình, nhà ở của gia đình đạt 88%. Trong khi có hàng loạt những vụ khiếu nại vì thủ tục hành chính quá rắc rối rườm rà. Tuy nhiên nó lại đúng khi có phong bì lót tay. Bạn hãy đọc lời giải thích của một người dân:
Bạn taquangsua81@yahoo.com viết:
“Các bác ah, Tôi đi làm sổ đỏ tôi khoán cho anh địa chính xã làm, tôi làm giấy phép đăng ký kinh doanh tôi khoán cho anh làm chuyên viên ở sở kế hoạch đầu tư... nói chung tôi sử dụng dịch vụ công theo kiểu ấy nên dịch vụ tốt lắm rất hài lòng về tính nhanh gọn, thuận tiện phục vụ tại nhà tôi luôn. Chắc chắn họ đã khảo sát dịch vu này đấy các bác à!”.
Cái này thì người dân ai cũng biết, muốn nhanh thì chỉ việc “Chi” là đâu vào đấy ngay. Chỉ số hài lòng đến 99,9%, phải không các cụ?
Đã “vẽ” đẹp còn tô màu đẹp hơn
Tại Thanh Hóa, ông Giám đốc Sở Nội vụ Nguyễn Xuân Dũng cho biết lĩnh vực đất đai kết quả 83% số người dân đánh giá là hài lòng và rất hài lòng. Lĩnh vực xây dựng 80% khá hài lòng; trong khi tỉ lệ dân không hài lòng và không ý kiến chỉ chiếm 4%.
Trong lĩnh vực y tế, Bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa đạt tỉ lệ tới 72% hài lòng và rất hài lòng, chỉ có 23% không hài lòng và có tới 77,5% những người đã khám và điều trị tại BV này cho biết, chắc chắn sẽ quay lại khi có nhu cầu.
Vẫn là những con số quá trắng trợn, tôi phải kính phục sự “liều mạng” của người dám công bố những kết quả kinh khủng này, khiến người dân phải nghĩ rằng các ông này khảo sát không phải để tìm ra ưu khuyết điểm cho nền hành chánh tiến bộ mà muốn ôm mãi lấy những sai sót hiện tại để có quyền được ăn trên ngồi trước, móc túi dân mãi mãi. Ông cố vẽ cho đẹp, ông cố tô màu cho bắt mắt nhưng bức tranh ảm đạm vẫn bày ra trước mắt người dân.
Còn về Y tế, vậy là ông Y tế quên béng ngay những chuyện vừa xảy ra ở các BV Thanh Hóa. Chỉ xin dẫn chứng vụ tai tiếng gần đây nhất,
Sa thải bác sĩ vòi tiền bệnh nhân
Ngày 6/4, Sở Y tế Thanh Hóa cho biết, Hội đồng kỷ luật Bệnh viện Nhi Thanh Hóa vừa thông qua một loạt quyết định kỉ luật y bác sĩ công tác tại bệnh viện này vì bị cho là vi phạm y đức và các quy định ngành trong khi khám, điều trị cho bệnh nhân.
Trong đó, ông Lưu Tiến Dũng (bác sĩ khoa Ngoại chấn thương) bị buộc thôi việc vì đã vòi tiền người nhà bệnh nhân. Theo xác minh, trước ca mổ khối u cho một bệnh nhi, ông Dũng đã nhận của gia đình em này gần 2 triệu triệu đồng. Hành vi này sau đó bị người dân tố cáo đến giám đốc bệnh viện.
Ngoài ra, Hội đồng kỉ luật còn thi hành kỉ luật cảnh cáo, chuyển công tác đối với bác sĩ Dương Văn Thông (Phó khoa Ngoại tổng hợp) vì thực hiện ca mổ cho bệnh nhân nhưng không làm hồ sơ bệnh án, thu tiền trục lợi cá nhân... Hình thức kỷ luật này cũng được áp dụng với y tá Lê Thị Tuyết, kỹ thuật viên Lê Thị Hằng Nga (khoa gây mê) vì đã thông đồng với nhau thực hiện một ca mổ cho một bệnh nhi là người thân của một cán bộ công tác trong bệnh viện. Số tiền thu được nhóm này tư túi, không nhập sổ sách.
Ông Lê Trần Tùng (Phó khoa Khám bệnh) bị khiển trách vì đã vi phạm quy chế làm việc. Ông Tùng bị phát hiện đã nhiều lần kê đơn, hướng dẫn người nhà bệnh nhân mua thuốc ngoài để hưởng hoa hồng chênh lệch từ các nhà thuốc...
Còn nữa, vào cuối tuần, tại Bệnh viện đa khoa Hợp Lực (Thanh Hóa) liên tục có hàng trăm bệnh nhân tập trung phẫn nộ vì không được khám bệnh bảo hiểm y tế.
Sáng ngày 26/7, tại Bệnh viện Đa khoa Hợp Lực Thanh Hóa đã diễn ra sự việc hàng trăm người bệnh tập trung để khám tuy nhiên họ đều bị Bệnh viện từ chối với lý do theo quy định của Bộ Y tế không được phép khám bệnh trong ngày nghỉ. Lãnh đạo bệnh viện này cho biết tình trạng này không phải nay mới diễn ra mà gần đây thì cuối tuần nào cũng vậy.
Thật ra tình trạng này không chỉ xảy ra ở BV nhi Thanh Hóa mà nó “âm thầm” xảy ra ở rất nhiều BV tại VN. Người dân VN nào chẳng biết. Vậy mà khảo sát muốn làm đẹp mắt nhân dân như thế là muốn chọc mù mắt nhân dân mà thôi.
Cho nên bạn tranh 302@gmail.com mới viết: “Chỉ có tâm thần mới tin số liệu vậy”.
99% số công chức hoàn thành nhiệm vụ
Lại thêm một công bố kinh hoàng nữa: “99% số công chức hoàn thành nhiệm vụ”. Ba tỉnh được khảo sát là Phú Thọ, Thanh Hóa và Bình Định.
Theo báo Lao Động ngày 23/08/2014 Bộ Nội vụ VN công bố, 99% số công chức hoàn thành nhiệm vụ. Không biết nên vui hay nên buồn trước thông tin tuyệt vời này. Nếu thế thì nền hành chính công của nước VN quá tiến bộ, quá văn minh, phục vụ nhân dân cực kỳ hiệu quả. Từ nay, không cần phải cử đoàn đi học tập nước ngoài làm chi cho tốn kém. Từ nay, cũng không cần phải cử sinh viên sang các nước để học về các ngành liên quan đến quản lý, hành chính công. Bởi vì, Việt Nam đã là đỉnh cao rồi.
Ngược lại, nên kêu gọi các nước đến Việt Nam học tập. Mỹ, Nhật, Singapore và nhiều nước nổi tiếng về chất lượng hành chính công, nếu lấy phiếu khảo sát đo lường mức độ hài lòng với dịch vụ hành chính công thì còn lâu mới đạt 80% số người dân hài lòng. Cho nên, họ phải sang Việt Nam để học là điều đương nhiên.
Trở lại với các lĩnh vực khảo sát tại 3 tỉnh trên như đất đai, xây dựng, y tế, sẽ thấy quá tốt đẹp. Không chỉ các địa phương này giỏi đâu, nếu như mở rộng khảo sát ra các tỉnh khác, kết quả cũng đẹp như mơ. Chỉ có điều, khác với con số trên giấy, đất đai là "điểm nóng" của nhiều địa phương, thưa kiện vượt cấp, khiếu kiện đông người cũng có nguyên nhân từ việc giải quyết quan hệ về đất đai lòng vòng ở cấp dưới. Xây dựng cũng là "điểm nóng", thủ tục rườm rà, nhiêu khê, tình trạng gây khó cho người dân vẫn tồn tại. Còn y tế, mỗi người cứ bước vào bệnh viện thì sẽ có câu trả lời chính xác, không cần đọc báo để xem kết quả các cuộc khảo sát trong mơ.
Khảo sát tại TP Sài Gòn còn “kinh” hơn nữa
Kết quả khảo sát của một số cơ quan công quyền tại TP Sài Gòn về chỉ số hài lòng của người dân trong các dịch vụ hành chính công vừa được công bố khiến nhiều người hoảng hồn: giao thông công chính 99%, lao động - thương binh & xã hội 100%, nông nghiệp & phát triển nông thôn 94,3%, tài nguyên - môi trường: 90%, quận Tân Bình: 99,58%...
Ngay ông Nguyễn Văn Quang - phó viện trưởng Viện Kinh tế TP - cũng không tin vào những con số đó. Ông nói: Khi được thông tin về những tỉ lệ rất cao này, tôi cũng rất ngỡ ngàng. Người dân cho rằng những con số về dịch vụ hành chính công vừa được công bố là “những con số biết nói” - nó nói lên sự khảo sát giả dối, nói lên kiểu “chạy theo thành tích” của các sở, ngành, quận huyện...
Thái độ phục vụ của cán bộ còn khó chịu hơn
Đấy là chưa nói đế thái độ của mấy ông bà cán hách dịch, mắng chửi dân như ở Bình Phước. Tôi chỉ tóm tắt bà Thoa khiếu nại việc Chi cục Thi hành án dân dự THADS thị xã Đồng Xoài tổ chức bán đấu giá tài sản của vợ chồng bà có nhiều dấu hiệu khuất tất, không gửi thông báo theo quy định. Sáng 15-8-2014, bà đến Cục THADS tỉnh Bình Phước theo thư mời để giải quyết “Đến nơi tôi quá bất ngờ trước thái độ, lời nói của nữ cán bộ tiếp dân. Nữ cán bộ náy tỏ ra quá hách dịch, mắng bà là “vô duyên” và khi hỏi tên thì cô này nói: “Cô là dân mà sao dám hỏi tôi câu đó?”. Đó chỉ một sự việc nhỏ được người dân tố cáo, còn khối vụ khác người dân đen đành nhịn nhục ra về, sợ ông bà cán bộ như sợ cọp. Bạn đọc Thợ xây nói: “Chuyện tiếp dân hống hách, nạt nộ tôi thấy nhan nhản rất nhiều. Đây là phần nổi của tảng băng chìm”. Bạn đọc này còn cho rằng người dân nếu muốn nhận được thái độ cư xử tốt hơn từ các “quan” thì phải "biết điều” mới gặp "văn minh lịch sự", còn không thì sẽ phải ôm cục tức như chị Thoa.
Người có trách nhiệm với dân, có lòng trung thực và liêm sỉ thì sẽ buồn thay vì vui trước con số hài lòng và những thái độ này. Cho dù, dân có vu vơ điền vào phiếu để cho ra tỉ lệ 80% này thì bản thân người có trách nhiệm cũng không thể hài lòng. Không thể lấy con số xa rời thực tế để đánh lừa chính mình, trấn an dân chúng.
Con số trên giấy dù đẹp mấy cũng không tô điểm được chân dung thật của xã hội. Nó chỉ là cái bánh vẽ trên tờ giấy cũ to tướng, không ai còn tin nữa đâu.
Thủ đoạn khảo sát kiểu VN: Cái gì cũng mua được
"Chúng tôi hài lòng; chúng tôi rất hài lòng; chúng tôi quá hài lòng". Đây là những câu trả lời từ người dân cần lao mà các ông làm nhiệm vụ khảo sát đã nhận được và nhanh chóng công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhưng tại sao lại có một số người dân đã trả lời như thế? Dễ hiểu thôi, đó là khảo sát theo kiểu ở VN ngày nay, cái gì cũng có thể mua được bằng tiền và “nhất thân nhì thế”. Hai thứ “bửu bối” đó có thể áp dụng ở mọi nơi mọi chỗ, kể cả mua dư luận, mua lòng tin dù là lòng tin giả vờ.
Cũng theo báo Lao Động tiết lộ những người "được hỏi" xem có hài lòng hay không, đều được "trả thù lao". Và sau đó được hỏi thêm, họ vui vẻ thừa nhận, họ là… người thân quen của các vị công bộc. Có bao giờ mà người ta vừa nhận tiền, vừa nói xấu "họ hàng công chức" của mình không đâu.
Hãy nghe một người trong cuộc, bạn lexuanthuy1962@yahoo.com.vn kể lại:
“Lâu nay những “tiêu chuẩn” để Lãnh đạo đơn vị đánh giá năng lực của cán bộ của mình thì đó là ...phải biết báo cáo , phải biết ghi biên bản hội nghị cho có...thành tích, cho đúng ý lãnh đạo. Bản thân tôi cũng được mời ít lần đi dự hội nghị tiếp xúc cử tri và nghe các vị đại biểu đọc báo cáo với những chỉ tiêu "rất đẹp", và khi tôi hỏi lại thì không vị nào tin vào con số vừa báo cáo, và những con số của năm này là được “tân trang” số liệu của các năm trước mà thôi. Đất nước Liên Xô sụp đổ là hậu quả của những báo cáo như thế”.
Còn về pháp luật có những chuyện khôi hài đúng nghĩa mà trong kỳ họp Quốc hội VN đã phải nêu ra.
Quan chức các cấp bỗng dưng bị tâm thần
Thảo luận về báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) năm 2014 tại phiên họp sáng 15-9 vừa qua, các thành viên trong Ủy ban Tư pháp bày tỏ sự băn khoăn, thắc mắc trước tình trạng nhiều đối tượng khi ở nhà sinh hoạt vẫn bình thường nhưng khi bị kết tội tham nhũng đi giám định lại “dính” tâm thần, khiến người dân phì cười không biết tâm thần thật hay là giả?
Báo cáo về công tác PCTN trong năm 2014, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Đức Lượng cho hay từ đầu năm đến nay đã phát hiện 54 vụ, 87 đối tượng có hành vi liên quan đến tham nhũng với số tiền 68,5 tỉ đồng. Tuy nhiên, Chính phủ đánh giá tham nhũng vẫn diễn ra phức tạp, ngày càng tinh vi, khó phát hiện do các đối tượng tham nhũng thường có chức vụ, có trình độ hiểu biết pháp luật, quan hệ rộng, liên kết với nhau thành các nhóm lợi ích. Tình trạng sách nhiễu, vòi vĩnh, phiền hà ở “một bộ phận” công chức, viên chức nhà nước vẫn diễn ra gây bất bình đối với người dân và doanh nghiệp.
Bình luận về báo cáo của Chính phủ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Đình Quyền cho rằng các vụ án được phát hiện vẫn chủ yếu là cấp thôn, cấp xã, tham nhũng vặt, còn các vụ án lớn phát hiện rất ít.
Điều đặc biệt ông Đỗ Văn Đương Ủy ban Tư pháp quan tâm, thắc mắc mà trong báo cáo không đề cập là có trường hợp các đối tượng sau khi bị phát hiện tham nhũng thì “bỗng dưng” lại mắc bệnh tâm thần, sau đó được miễn trách nhiệm hình sự?
Ông Đương cho biết: “Người ta nói những “ông” tham nhũng lớn bị tâm thần nhiều lắm. Dư luận đặt vấn đề là có đúng ông bị tâm thần không. Người ta bảo khi giám định là tâm thần nhưng giải quyết việc gia đình, nói chuyện với vợ con, bàn chuyện với bạn bè lại rất bình thường. Vậy ngành y tế nghĩ gì về công tác giám định?”. Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện nêu câu hỏi thế và phản ánh có một số vụ án lớn ở các địa phương kéo dài, chưa xử lý được vì có “ông” đang nằm trong bệnh viện tâm thần. Chẳng biết các quan này còn “tâm thần” đến bao giờ. Nhiều quan khi bị gọi ra tòa bèn cáo ốm đau nằm bệnh viện dài dài, nhờ báo chí chụp hình đưa lên làm “bằng cớ” nên được hoãn ra tòa và hoãn dài dài.
Cụ thể như Ngày 14-8, Tòa án tỉnh Nghệ An đưa vụ án nhận hối lộ của Phan Văn Quang (nguyên chánh án Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) ra xét xử. Với lý do bị ốm, nguyên chánh án và thẩm phán TAND huyện Nam Đàn (Nghệ An) nhận tiền chạy án đã cùng vắng mặt tại phiên tòa mà HĐXX tuyên án nguyên chánh án 6 năm tù, nguyên thẩm phán 2 năm tù.
Chắc phải đợi đến khi mấy ông “tâm thần” và đau ốm “nặng” này nhắm mắt xuôi tay, vụ án đành khép lại. Thề là lại huề cả làng.
Khối tài sản khổng lồ tham nhũng đi đâu, về đâu?
Cũng tại kỳ họp lần này, đề cập đến kết quả chỉ thu hồi được 10% tài sản tham nhũng, ông Đương đặt vấn đề phải chăng tỉ lệ 90% còn lại là kiến nghị không đúng, kiến nghị để đấy và không bị thu hồi? Theo ông Đương, đây là tài sản của Nhà nước và nhân dân nên các cơ quan ban ngành phải tìm ra được, tại sao lại chỉ thu hồi được ít như thế và các giải pháp để thu hồi tài sản, đặc biệt thông qua đề nghị của thanh tra, kiểm toán.
Giải trình về vấn đề trên, ông Lượng cho rằng do khái niệm tham nhũng ở Việt Nam khác với các nước. Ở các nước, khái niệm này rộng hơn, tham nhũng liên quan đến chức vụ, kinh tế đều là tham nhũng nhưng ở ta thì tách ra. Mặt khác, việc quản lý tài sản, thu nhập trong toàn xã hội nói chung, người có chức vụ, quyền hạn nói riêng còn nhiều khó khăn. Có trường hợp tẩu tán hết cả rồi. Trong khi đó phạm vi kê khai tài sản chỉ ở vợ chồng và con thành niên thôi, kiểm soát chưa tốt, chưa hiệu quả nên chưa làm nghiêm được.
Ông Trần Đăng Yến, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm (Bộ Công an), cho rằng lý do thu hồi được thấp là do khi phát hiện ra thì tội phạm đã hoàn thành, công trình đã quyết toán; tài sản tham nhũng đã chia chác, đã chuyển ra nước ngoài hoặc đã được mua cái khác… Tuy nhiên, theo ông Yến, việc phát hiện chậm do cơ chế, biện pháp. Bởi bình thường họ là cán bộ, đảng viên, là người đáng tin cậy nên cơ quan điều tra không thể tổ chức đi xác minh và trinh sát.
Ông Nguyễn Hải Phong - Phó Viện trưởng VKSND Tối cao cho rằng để việc thu hồi tài sản đạt tỉ lệ cao thì tới đây cần tích cực kê biên, thu hồi, cũng như tăng cường biện pháp phong tỏa tài sản, tài khoản…
Quan tham khôn như cáo
Chẳng biết biện pháp mới của Viện Kiểm Sát Tối Cao có mang lại kết quả khả quan không khi mà các quan tham nhũng thời nay khôn như cáo. Cứ tẩu tán tài sản trước cho chắc ăn, thí dụ đưa con qua Mỹ học rồi cưới vợ đẻ con, mua nhà mua đất, lập công ty hay hùn vốn với các tập đoàn ở Mỹ, lúc đó chạy qua Mỹ đòi ông Obama sao?
Các ông có thống kê được bao nhiêu quan chức hiện có con cái ở nước ngoài và tài sản của họ là bao nhiêu không? Thử bắt họ kê khai tài sản xem sao rồi công bố cho nhân dân cả nước biết. Và cần phải khuyến khích người dân mạnh dạn tố cáo những gian lận trong kê khai tài sản đó. May ra mới thu hồi và ngăn chặn được một phần nhỏ tài sản tham nhũng mà thôi.
Văn Quang 19 tháng 9-2014
Hầu hết các báo lớn báo nhỏ ở VN đều nêu lên tiêu đề rất đáng kinh ngạc: "Trên 80% số người dân được điều tra đều cho rằng họ hài lòng và… rất hài lòng đối với các dịch vụ công hiện nay".
Đây là số liệu dựa theo kết quả quá của Bộ Nội vụ phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra tại cuộc khảo sát thử nghiệm mức độ hài lòng đối với dịch vụ hành chính công tại 3 tỉnh Phú Thọ, Thanh Hóa và Bình Định được công bố ngày 20 tháng 8 năm 2014 vừa qua.
Những con số này thật sự đáng kinh ngạc và đã làm rộ lên một làn sóng phản bác mạnh mẽ trên khắp các diễn đàn. Người dân VN ai mà chẳng biết những dịch vụ công đó như thế nào. Thậm chí câu nói “hành dân là chính” đã thành câu nói cửa miệng của dân. Thế mà dám công bố một sự thật trái ngược hoàn toàn với thực trạng hiện nay. Con số trên 80% người dân hài lòng là một nền dịch vụ công lý tưởng của một nền hành chính mơ ước của toàn thế giới. Không biết các ông ở Bộ Nội Vụ VN có quá coi thường sự hiểu biết của người dân không? Một nửa con số 80% hài lòng đã là quá đáng rồi chứ nói gì đến trên 80%.
Những con số còn “đẹp” hơn nữa
Trong khi đó ở Việt Nam, theo UBND tỉnh Phú Thọ, với 1.570 phiếu khảo sát, tỉ lệ người trả lời phỏng vấn thể hiện sự hài lòng đối với các loại dịch vụ hành chính công lên đến… 86%.
Cụ thể, trong nhóm người sử dụng dịch vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình, cá nhân được đánh giá mức độ hài lòng cao nhất với trên 89%. Trong khi con số khiếu nại, kiện tụng về đất đai cả nước bao giờ cũng chiếm hàng đầu trong tất cả các vụ kiện tụng, có thể lên đến 80% hồ sơ của các tòa án.
Thứ hai là sự hài lòng khi xin giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đạt 79%, cấp giấy phép xây dựng công trình, nhà ở của gia đình đạt 88%. Trong khi có hàng loạt những vụ khiếu nại vì thủ tục hành chính quá rắc rối rườm rà. Tuy nhiên nó lại đúng khi có phong bì lót tay. Bạn hãy đọc lời giải thích của một người dân:
Bạn taquangsua81@yahoo.com viết:
“Các bác ah, Tôi đi làm sổ đỏ tôi khoán cho anh địa chính xã làm, tôi làm giấy phép đăng ký kinh doanh tôi khoán cho anh làm chuyên viên ở sở kế hoạch đầu tư... nói chung tôi sử dụng dịch vụ công theo kiểu ấy nên dịch vụ tốt lắm rất hài lòng về tính nhanh gọn, thuận tiện phục vụ tại nhà tôi luôn. Chắc chắn họ đã khảo sát dịch vu này đấy các bác à!”.
Cái này thì người dân ai cũng biết, muốn nhanh thì chỉ việc “Chi” là đâu vào đấy ngay. Chỉ số hài lòng đến 99,9%, phải không các cụ?
Đã “vẽ” đẹp còn tô màu đẹp hơn
Tại Thanh Hóa, ông Giám đốc Sở Nội vụ Nguyễn Xuân Dũng cho biết lĩnh vực đất đai kết quả 83% số người dân đánh giá là hài lòng và rất hài lòng. Lĩnh vực xây dựng 80% khá hài lòng; trong khi tỉ lệ dân không hài lòng và không ý kiến chỉ chiếm 4%.
Trong lĩnh vực y tế, Bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa đạt tỉ lệ tới 72% hài lòng và rất hài lòng, chỉ có 23% không hài lòng và có tới 77,5% những người đã khám và điều trị tại BV này cho biết, chắc chắn sẽ quay lại khi có nhu cầu.
Vẫn là những con số quá trắng trợn, tôi phải kính phục sự “liều mạng” của người dám công bố những kết quả kinh khủng này, khiến người dân phải nghĩ rằng các ông này khảo sát không phải để tìm ra ưu khuyết điểm cho nền hành chánh tiến bộ mà muốn ôm mãi lấy những sai sót hiện tại để có quyền được ăn trên ngồi trước, móc túi dân mãi mãi. Ông cố vẽ cho đẹp, ông cố tô màu cho bắt mắt nhưng bức tranh ảm đạm vẫn bày ra trước mắt người dân.
Còn về Y tế, vậy là ông Y tế quên béng ngay những chuyện vừa xảy ra ở các BV Thanh Hóa. Chỉ xin dẫn chứng vụ tai tiếng gần đây nhất,
Sa thải bác sĩ vòi tiền bệnh nhân
Ngày 6/4, Sở Y tế Thanh Hóa cho biết, Hội đồng kỷ luật Bệnh viện Nhi Thanh Hóa vừa thông qua một loạt quyết định kỉ luật y bác sĩ công tác tại bệnh viện này vì bị cho là vi phạm y đức và các quy định ngành trong khi khám, điều trị cho bệnh nhân.
Trong đó, ông Lưu Tiến Dũng (bác sĩ khoa Ngoại chấn thương) bị buộc thôi việc vì đã vòi tiền người nhà bệnh nhân. Theo xác minh, trước ca mổ khối u cho một bệnh nhi, ông Dũng đã nhận của gia đình em này gần 2 triệu triệu đồng. Hành vi này sau đó bị người dân tố cáo đến giám đốc bệnh viện.
Ngoài ra, Hội đồng kỉ luật còn thi hành kỉ luật cảnh cáo, chuyển công tác đối với bác sĩ Dương Văn Thông (Phó khoa Ngoại tổng hợp) vì thực hiện ca mổ cho bệnh nhân nhưng không làm hồ sơ bệnh án, thu tiền trục lợi cá nhân... Hình thức kỷ luật này cũng được áp dụng với y tá Lê Thị Tuyết, kỹ thuật viên Lê Thị Hằng Nga (khoa gây mê) vì đã thông đồng với nhau thực hiện một ca mổ cho một bệnh nhi là người thân của một cán bộ công tác trong bệnh viện. Số tiền thu được nhóm này tư túi, không nhập sổ sách.
Ông Lê Trần Tùng (Phó khoa Khám bệnh) bị khiển trách vì đã vi phạm quy chế làm việc. Ông Tùng bị phát hiện đã nhiều lần kê đơn, hướng dẫn người nhà bệnh nhân mua thuốc ngoài để hưởng hoa hồng chênh lệch từ các nhà thuốc...
Còn nữa, vào cuối tuần, tại Bệnh viện đa khoa Hợp Lực (Thanh Hóa) liên tục có hàng trăm bệnh nhân tập trung phẫn nộ vì không được khám bệnh bảo hiểm y tế.
Sáng ngày 26/7, tại Bệnh viện Đa khoa Hợp Lực Thanh Hóa đã diễn ra sự việc hàng trăm người bệnh tập trung để khám tuy nhiên họ đều bị Bệnh viện từ chối với lý do theo quy định của Bộ Y tế không được phép khám bệnh trong ngày nghỉ. Lãnh đạo bệnh viện này cho biết tình trạng này không phải nay mới diễn ra mà gần đây thì cuối tuần nào cũng vậy.
Thật ra tình trạng này không chỉ xảy ra ở BV nhi Thanh Hóa mà nó “âm thầm” xảy ra ở rất nhiều BV tại VN. Người dân VN nào chẳng biết. Vậy mà khảo sát muốn làm đẹp mắt nhân dân như thế là muốn chọc mù mắt nhân dân mà thôi.
Cho nên bạn tranh 302@gmail.com mới viết: “Chỉ có tâm thần mới tin số liệu vậy”.
99% số công chức hoàn thành nhiệm vụ
Lại thêm một công bố kinh hoàng nữa: “99% số công chức hoàn thành nhiệm vụ”. Ba tỉnh được khảo sát là Phú Thọ, Thanh Hóa và Bình Định.
Theo báo Lao Động ngày 23/08/2014 Bộ Nội vụ VN công bố, 99% số công chức hoàn thành nhiệm vụ. Không biết nên vui hay nên buồn trước thông tin tuyệt vời này. Nếu thế thì nền hành chính công của nước VN quá tiến bộ, quá văn minh, phục vụ nhân dân cực kỳ hiệu quả. Từ nay, không cần phải cử đoàn đi học tập nước ngoài làm chi cho tốn kém. Từ nay, cũng không cần phải cử sinh viên sang các nước để học về các ngành liên quan đến quản lý, hành chính công. Bởi vì, Việt Nam đã là đỉnh cao rồi.
Ngược lại, nên kêu gọi các nước đến Việt Nam học tập. Mỹ, Nhật, Singapore và nhiều nước nổi tiếng về chất lượng hành chính công, nếu lấy phiếu khảo sát đo lường mức độ hài lòng với dịch vụ hành chính công thì còn lâu mới đạt 80% số người dân hài lòng. Cho nên, họ phải sang Việt Nam để học là điều đương nhiên.
Trở lại với các lĩnh vực khảo sát tại 3 tỉnh trên như đất đai, xây dựng, y tế, sẽ thấy quá tốt đẹp. Không chỉ các địa phương này giỏi đâu, nếu như mở rộng khảo sát ra các tỉnh khác, kết quả cũng đẹp như mơ. Chỉ có điều, khác với con số trên giấy, đất đai là "điểm nóng" của nhiều địa phương, thưa kiện vượt cấp, khiếu kiện đông người cũng có nguyên nhân từ việc giải quyết quan hệ về đất đai lòng vòng ở cấp dưới. Xây dựng cũng là "điểm nóng", thủ tục rườm rà, nhiêu khê, tình trạng gây khó cho người dân vẫn tồn tại. Còn y tế, mỗi người cứ bước vào bệnh viện thì sẽ có câu trả lời chính xác, không cần đọc báo để xem kết quả các cuộc khảo sát trong mơ.
Khảo sát tại TP Sài Gòn còn “kinh” hơn nữa
Kết quả khảo sát của một số cơ quan công quyền tại TP Sài Gòn về chỉ số hài lòng của người dân trong các dịch vụ hành chính công vừa được công bố khiến nhiều người hoảng hồn: giao thông công chính 99%, lao động - thương binh & xã hội 100%, nông nghiệp & phát triển nông thôn 94,3%, tài nguyên - môi trường: 90%, quận Tân Bình: 99,58%...
Ngay ông Nguyễn Văn Quang - phó viện trưởng Viện Kinh tế TP - cũng không tin vào những con số đó. Ông nói: Khi được thông tin về những tỉ lệ rất cao này, tôi cũng rất ngỡ ngàng. Người dân cho rằng những con số về dịch vụ hành chính công vừa được công bố là “những con số biết nói” - nó nói lên sự khảo sát giả dối, nói lên kiểu “chạy theo thành tích” của các sở, ngành, quận huyện...
Thái độ phục vụ của cán bộ còn khó chịu hơn
Đấy là chưa nói đế thái độ của mấy ông bà cán hách dịch, mắng chửi dân như ở Bình Phước. Tôi chỉ tóm tắt bà Thoa khiếu nại việc Chi cục Thi hành án dân dự THADS thị xã Đồng Xoài tổ chức bán đấu giá tài sản của vợ chồng bà có nhiều dấu hiệu khuất tất, không gửi thông báo theo quy định. Sáng 15-8-2014, bà đến Cục THADS tỉnh Bình Phước theo thư mời để giải quyết “Đến nơi tôi quá bất ngờ trước thái độ, lời nói của nữ cán bộ tiếp dân. Nữ cán bộ náy tỏ ra quá hách dịch, mắng bà là “vô duyên” và khi hỏi tên thì cô này nói: “Cô là dân mà sao dám hỏi tôi câu đó?”. Đó chỉ một sự việc nhỏ được người dân tố cáo, còn khối vụ khác người dân đen đành nhịn nhục ra về, sợ ông bà cán bộ như sợ cọp. Bạn đọc Thợ xây nói: “Chuyện tiếp dân hống hách, nạt nộ tôi thấy nhan nhản rất nhiều. Đây là phần nổi của tảng băng chìm”. Bạn đọc này còn cho rằng người dân nếu muốn nhận được thái độ cư xử tốt hơn từ các “quan” thì phải "biết điều” mới gặp "văn minh lịch sự", còn không thì sẽ phải ôm cục tức như chị Thoa.
Người có trách nhiệm với dân, có lòng trung thực và liêm sỉ thì sẽ buồn thay vì vui trước con số hài lòng và những thái độ này. Cho dù, dân có vu vơ điền vào phiếu để cho ra tỉ lệ 80% này thì bản thân người có trách nhiệm cũng không thể hài lòng. Không thể lấy con số xa rời thực tế để đánh lừa chính mình, trấn an dân chúng.
Con số trên giấy dù đẹp mấy cũng không tô điểm được chân dung thật của xã hội. Nó chỉ là cái bánh vẽ trên tờ giấy cũ to tướng, không ai còn tin nữa đâu.
Thủ đoạn khảo sát kiểu VN: Cái gì cũng mua được
"Chúng tôi hài lòng; chúng tôi rất hài lòng; chúng tôi quá hài lòng". Đây là những câu trả lời từ người dân cần lao mà các ông làm nhiệm vụ khảo sát đã nhận được và nhanh chóng công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhưng tại sao lại có một số người dân đã trả lời như thế? Dễ hiểu thôi, đó là khảo sát theo kiểu ở VN ngày nay, cái gì cũng có thể mua được bằng tiền và “nhất thân nhì thế”. Hai thứ “bửu bối” đó có thể áp dụng ở mọi nơi mọi chỗ, kể cả mua dư luận, mua lòng tin dù là lòng tin giả vờ.
Cũng theo báo Lao Động tiết lộ những người "được hỏi" xem có hài lòng hay không, đều được "trả thù lao". Và sau đó được hỏi thêm, họ vui vẻ thừa nhận, họ là… người thân quen của các vị công bộc. Có bao giờ mà người ta vừa nhận tiền, vừa nói xấu "họ hàng công chức" của mình không đâu.
Hãy nghe một người trong cuộc, bạn lexuanthuy1962@yahoo.com.vn kể lại:
“Lâu nay những “tiêu chuẩn” để Lãnh đạo đơn vị đánh giá năng lực của cán bộ của mình thì đó là ...phải biết báo cáo , phải biết ghi biên bản hội nghị cho có...thành tích, cho đúng ý lãnh đạo. Bản thân tôi cũng được mời ít lần đi dự hội nghị tiếp xúc cử tri và nghe các vị đại biểu đọc báo cáo với những chỉ tiêu "rất đẹp", và khi tôi hỏi lại thì không vị nào tin vào con số vừa báo cáo, và những con số của năm này là được “tân trang” số liệu của các năm trước mà thôi. Đất nước Liên Xô sụp đổ là hậu quả của những báo cáo như thế”.
Còn về pháp luật có những chuyện khôi hài đúng nghĩa mà trong kỳ họp Quốc hội VN đã phải nêu ra.
Quan chức các cấp bỗng dưng bị tâm thần
Thảo luận về báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) năm 2014 tại phiên họp sáng 15-9 vừa qua, các thành viên trong Ủy ban Tư pháp bày tỏ sự băn khoăn, thắc mắc trước tình trạng nhiều đối tượng khi ở nhà sinh hoạt vẫn bình thường nhưng khi bị kết tội tham nhũng đi giám định lại “dính” tâm thần, khiến người dân phì cười không biết tâm thần thật hay là giả?
Báo cáo về công tác PCTN trong năm 2014, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Đức Lượng cho hay từ đầu năm đến nay đã phát hiện 54 vụ, 87 đối tượng có hành vi liên quan đến tham nhũng với số tiền 68,5 tỉ đồng. Tuy nhiên, Chính phủ đánh giá tham nhũng vẫn diễn ra phức tạp, ngày càng tinh vi, khó phát hiện do các đối tượng tham nhũng thường có chức vụ, có trình độ hiểu biết pháp luật, quan hệ rộng, liên kết với nhau thành các nhóm lợi ích. Tình trạng sách nhiễu, vòi vĩnh, phiền hà ở “một bộ phận” công chức, viên chức nhà nước vẫn diễn ra gây bất bình đối với người dân và doanh nghiệp.
Bình luận về báo cáo của Chính phủ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Đình Quyền cho rằng các vụ án được phát hiện vẫn chủ yếu là cấp thôn, cấp xã, tham nhũng vặt, còn các vụ án lớn phát hiện rất ít.
Điều đặc biệt ông Đỗ Văn Đương Ủy ban Tư pháp quan tâm, thắc mắc mà trong báo cáo không đề cập là có trường hợp các đối tượng sau khi bị phát hiện tham nhũng thì “bỗng dưng” lại mắc bệnh tâm thần, sau đó được miễn trách nhiệm hình sự?
Ông Đương cho biết: “Người ta nói những “ông” tham nhũng lớn bị tâm thần nhiều lắm. Dư luận đặt vấn đề là có đúng ông bị tâm thần không. Người ta bảo khi giám định là tâm thần nhưng giải quyết việc gia đình, nói chuyện với vợ con, bàn chuyện với bạn bè lại rất bình thường. Vậy ngành y tế nghĩ gì về công tác giám định?”. Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện nêu câu hỏi thế và phản ánh có một số vụ án lớn ở các địa phương kéo dài, chưa xử lý được vì có “ông” đang nằm trong bệnh viện tâm thần. Chẳng biết các quan này còn “tâm thần” đến bao giờ. Nhiều quan khi bị gọi ra tòa bèn cáo ốm đau nằm bệnh viện dài dài, nhờ báo chí chụp hình đưa lên làm “bằng cớ” nên được hoãn ra tòa và hoãn dài dài.
Cụ thể như Ngày 14-8, Tòa án tỉnh Nghệ An đưa vụ án nhận hối lộ của Phan Văn Quang (nguyên chánh án Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) ra xét xử. Với lý do bị ốm, nguyên chánh án và thẩm phán TAND huyện Nam Đàn (Nghệ An) nhận tiền chạy án đã cùng vắng mặt tại phiên tòa mà HĐXX tuyên án nguyên chánh án 6 năm tù, nguyên thẩm phán 2 năm tù.
Chắc phải đợi đến khi mấy ông “tâm thần” và đau ốm “nặng” này nhắm mắt xuôi tay, vụ án đành khép lại. Thề là lại huề cả làng.
Khối tài sản khổng lồ tham nhũng đi đâu, về đâu?
Cũng tại kỳ họp lần này, đề cập đến kết quả chỉ thu hồi được 10% tài sản tham nhũng, ông Đương đặt vấn đề phải chăng tỉ lệ 90% còn lại là kiến nghị không đúng, kiến nghị để đấy và không bị thu hồi? Theo ông Đương, đây là tài sản của Nhà nước và nhân dân nên các cơ quan ban ngành phải tìm ra được, tại sao lại chỉ thu hồi được ít như thế và các giải pháp để thu hồi tài sản, đặc biệt thông qua đề nghị của thanh tra, kiểm toán.
Giải trình về vấn đề trên, ông Lượng cho rằng do khái niệm tham nhũng ở Việt Nam khác với các nước. Ở các nước, khái niệm này rộng hơn, tham nhũng liên quan đến chức vụ, kinh tế đều là tham nhũng nhưng ở ta thì tách ra. Mặt khác, việc quản lý tài sản, thu nhập trong toàn xã hội nói chung, người có chức vụ, quyền hạn nói riêng còn nhiều khó khăn. Có trường hợp tẩu tán hết cả rồi. Trong khi đó phạm vi kê khai tài sản chỉ ở vợ chồng và con thành niên thôi, kiểm soát chưa tốt, chưa hiệu quả nên chưa làm nghiêm được.
Ông Trần Đăng Yến, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm (Bộ Công an), cho rằng lý do thu hồi được thấp là do khi phát hiện ra thì tội phạm đã hoàn thành, công trình đã quyết toán; tài sản tham nhũng đã chia chác, đã chuyển ra nước ngoài hoặc đã được mua cái khác… Tuy nhiên, theo ông Yến, việc phát hiện chậm do cơ chế, biện pháp. Bởi bình thường họ là cán bộ, đảng viên, là người đáng tin cậy nên cơ quan điều tra không thể tổ chức đi xác minh và trinh sát.
Ông Nguyễn Hải Phong - Phó Viện trưởng VKSND Tối cao cho rằng để việc thu hồi tài sản đạt tỉ lệ cao thì tới đây cần tích cực kê biên, thu hồi, cũng như tăng cường biện pháp phong tỏa tài sản, tài khoản…
Quan tham khôn như cáo
Chẳng biết biện pháp mới của Viện Kiểm Sát Tối Cao có mang lại kết quả khả quan không khi mà các quan tham nhũng thời nay khôn như cáo. Cứ tẩu tán tài sản trước cho chắc ăn, thí dụ đưa con qua Mỹ học rồi cưới vợ đẻ con, mua nhà mua đất, lập công ty hay hùn vốn với các tập đoàn ở Mỹ, lúc đó chạy qua Mỹ đòi ông Obama sao?
Các ông có thống kê được bao nhiêu quan chức hiện có con cái ở nước ngoài và tài sản của họ là bao nhiêu không? Thử bắt họ kê khai tài sản xem sao rồi công bố cho nhân dân cả nước biết. Và cần phải khuyến khích người dân mạnh dạn tố cáo những gian lận trong kê khai tài sản đó. May ra mới thu hồi và ngăn chặn được một phần nhỏ tài sản tham nhũng mà thôi.
Văn Quang 19 tháng 9-2014
Cải Cách Ruộng Đất: Ðôi điều tôi được biết
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Ở Hà Nội vừa mở ra cuộc triển lãm về Cải Cách Ruộng Ðất (1946-1957) dự định kéo dài đến cuối năm, nhưng đã vội đóng cửa sau có 2 ngày.

Dân oan mất đất biểu căng biểu ngữ trước cuộc triển lãm về Cải Cách Ruộng Ðất ở Hà Nội. (Hình: Dân Luận)
Vì sao vậy? Lý do đưa ra là do vấn đề ánh sáng. Nhưng theo phỏng đoán của nhiều bạn trẻ trên mạng Dân Làm Báo, nguyên nhân của sự trục trặc là ở chỗ mục đích của cuộc triển lãm còn tù mù, không có chủ định nói lên sự thật đúng như nó có, không trình bày cả kết quả và những sai lầm nghiêm trọng mà lãnh đạo Ðảng Cộng Sản đã công khai thú nhận, không nêu rõ tác hại của những sai lầm trong quan hệ của Ðảng Cộng Sản với giai cấp nông dân cho đến nay, và phương hướng khắc phục.
Biết bao vấn đề xã hội cần biết rõ, các bạn trẻ muốn biết rõ, liên quan đến CCRÐ. Việt Nam vẫn còn là một nước nông-công nghiệp, gần 70% số dân vẫn sống ở nông thôn, vấn đề nông dân, nông thôn, nông nghiệp vẫn là vấn đề thiết thân của người Việt ở mọi nơi.
Là người sống giữa nông thôn trong thời kỳ CCRÐ, tôi tự thấy có thể đáp ứng yêu cầu muốn biết rõ thêm của các bạn trẻ, để làm giàu thêm kiến thức của các bạn.
Có bài viết nêu lên con số địa chủ ác bá bị giết chết trong CCRÐ là hơn 172 nghìn, theo số liệu lưu trữ của Văn Phòng Trung Ương Ðảng, vậy nạn nhân thực sự là bao nhiêu? Có thể ước đoán không sai là ít nhất là gấp 3 đến 5 lần con số ấy, vì cái mũ “liên quan.” Liên quan đến địa chủ và cũng bị coi như cùng có tội là gia đình, vợ chồng, con cái, cháu chắt, họ hàng xa gần, cho đến bạn bè, láng giềng cũng bị xem xét, điều tra, phải khai báo, phải có lập trường rõ ràng. Do đó con cái địa chủ phải trốn tránh, có khi đi ăn xin, chết đói, cầu bơ cầu bất; sửa sai rồi vẫn bị hất hủi xa lánh, không được đi học, nhất là lên đại học, hay đi học nước ngòai, không được làm công nhân viên nhà nước...Biết bao gia đình tan vỡ, ly dị vì “mâu thuẫn giai cấp,” con cái bơ vơ. Có người mới chỉ bị “liên quan” đã mất tinh thần, bỏ trốn, lên rừng, trôi dạt vào Nam, sang Lào, hay tự sát, phát điên, ốm đến chết.
Phần lớn địa chủ Việt Nam thật ra chỉ là trung nông lớp trên - tiểu tư sản, họ có tham gia lao động, có học thức, tuy chỉ ở mức tiểu học hay trung học, con cái thường là viên chức tiểu tư sản. Rất đông số này đóng góp cho Tuần Lễ Vàng, quỹ kháng chiến, đi dân công hỏa tuyến (do có xe bò, xe đạp, thuyền nhỏ), con em tham gia Quân Ðội Nhân Dân. Cho nên sai lầm CCRÐ gò ép số địa chủ ác ôn theo tỷ lệ như ở Trung Quốc - khi Quốc Dân Ðảng Trung Quốc thống trị - là một điều ngu dại chết người. Không những hầu hết những người bị giết là người yêu nước, tham gia kháng chiến chống Pháp, đa số lại là thành viên Mặt Trận Liên Việt, Mặt Trận Tổ Quốc, quá nửa là đảng viên Cộng Sản. Tất cả lại là những người làm nghề nông giỏi, giàu kinh nghiệm. Ngay từ trong xã quê của tôi (gần Vân Ðình/ Hà Ðông) và những huyện xã nơi tôi sống trong những năm CCRÐ cũng như nơi quê vợ tôi (xã Hưng Dũng, Nghệ An), CCRÐ đã giáng đòn hủy diệt trúng vào giá trị tinh hoa xã hội, tinh hoa sản xuất, tinh hoa văn hóa ở nông thôn Việt Nam. Ðòn ta đánh ta, ta diệt ta này có hậu quả dai dẳng, chỉ vì theo lệnh từ Stalin, từ Mao, từ tên trùm cố vấn Tàu Triệu Hiểu Quang rất quan liêu, kiêu ngạo.
Chấn chỉnh tổ chức là chủ trương lớn tiếp theo ngay sau CCRÐ. Ðó là sắp xếp lại nhân sự, phân phối lại các chức vụ trong đảng, chính quyền. Mặt trận, các tổ chức quần chúng, từ xã thôn lên huyện tỉnh và trung ương. Bần cố nông, không ít là kẻ thất học, lưu manh, cơ hội lên ngôi, chùa chiền, nhà thờ đóng cửa, sách vở bị thiêu hủy, sách văn học nghệ thuật, ngoại ngữ, từ điển bị diệt sạch. Hoành phi, câu đối bị vứt xuống làm cầu ao, tượng Phật bị bẻ đầu, chặt tay, bàn thờ trong nhà bị dẹp bỏ, biết bao ảnh kỷ niệm quý hiếm bị đốt hủy. Một thời kỳ u ám tối tăm lan tràn, phong tục tập quán đẹp đẽ lâu đời bị dẹp bỏ. Một nền đạo lý cổ kính bị thủ tiêu. Có cuộc triển lãm nào nói lên được sự mất mát về văn hóa tinh thần như thế, khi ông Chu Văn Biên, bí thư Liên Khu Ủy Liên Khu 4 (gồm cả Thanh Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên) nêu gương “sáng chói,” dám chỉ vào mặt mẹ đẻ của mình mà mắng: “Mi đẻ ra tau nhưng mi bóc lột bà con nông dân nên mi là kẻ thù giai cấp của tau, mi phải bị tội chết.” Cụ Ðặng Văn Hướng, nguyên tham tri Bộ Tư pháp, có con trai là Trung Ðoàn Trưởng Ðặng Văn Việt, có biệt danh “Ðệ Tứ Lộ Ðại Vương” - Vua đường số 4 - bạn rất thân của tôi, cụ được Hồ Chí Minh cử làm bộ trưởng nhưng, vẫn bị đưa ra đấu tố ở Diễn Châu. Cụ Nguyễn Khắc Niêm từng đậu Hoàng Giáp Hán Học, cũng từng là tham tri Bộ Tư Pháp có con là Nguyễn Khắc Viện, chủ tịch Hội Việt kiều ở Pháp, và Nguyễn Khắc Dương, bạn rất thân của tôi, cũng bị đấu tố, giam trong chuồng nuôi hươu, ăn cơm thiu bọc trong lá chuối và chết trong thảm cảnh ấy.
Một thời gian ở trong Ban Biên Tập báo Nhân Dân, rất gần cơ quan trung ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam, được dự nhiều cuộc họp cán bộ cấp cao, tôi thấy có mối liên quan giữa sai lầm CCRÐ với đường lối bạo lực ở miền Nam. Ðầu năm 1956, Ðảng Cộng Sản Liên Xô mở Ðại Hội XX, chống sùng bái cá nhân Stalin, rồi tháng 11, 1957 mở Hội Nghị 68 Ðảng Cộng Sản toàn thế giới tại Moscow, có Mao Trạch Ðông sang tham dự với tình nghĩa Xô-Trung còn gắn bó. Ðến tháng 11 năm 1960, Liên Xô lại triệu tập cuộc họp 81 Ðảng Cộng Sản và Công nhân quốc tế, mâu thuẫn Xô-Trung bộc lộ ngay từ trong các văn kiện chuẩn bị, vu cáo nhau là phản bội chủ nghĩa Mác-Lênin, Trung Quốc lên án Liên Xô là theo chủ nghĩa xét lại, Liên Xô lên án Trung Quốc theo chủ nghĩa giáo điều. Tại hội nghị này, hơn 70 đảng tán thành lập trường của Ðảng Cộng Sản Liên Xô, nhấn mạnh khả năng giữ vững hòa bình, chung sống hòa bình, thi đua hòa bình giữa các chế độ khác nhau, ngăn ngừa chiến tranh, trong khi đẩy mạnh cả 3 dòng thác cách mạng của thời đại, vì hòa bình, giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ chuẩn bị cũng như khi dự, đoàn đại biểu Việt Nam gồm Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh tỏ ra theo đa số, tán thành đường lối của Liên Xô. Thế nhưng sau đó, khi trở về nước xu hướng theo đường lối chung sống hòa bình của Liên Xô bị đường lối bạo lực của Trung Quốc lấn át.
Suốt năm 1961 và 1962 từ sáng đến khuya đài Tiếng nói Việt Nam phát đi các văn kiện tranh luận Trung-Xô về đường lối cách mạng thế giới, ngày càng ngả về phía chống chủ nghĩa xét lại, coi xét lại là chống đảng, là phản động, là chống lại cuộc đấu tranh bằng bạo lực cách mạng ở miền Nam. Trong Bộ Chính Trị từ sau Ðại Hội III (tháng 9, 1960), Lê Duẩn chính thức là bí thư thứ nhất (sau cuộc họp Trung Ương 10 sửa sai CCRÐ, Hồ Chí Minh là chủ tịch đảng kiêm tổng bí thư thay Trường Chinh bị mất chức này). Lê Ðức Thọ cũng được vào Bộ Chính Trị trong cuộc họp Trung Ương 10. Cánh Lê Duẩn + Lê Ðức Thọ + Phạm Hùng + Nguyễn Chí Thanh + Võ Chí Công + Tố Hữu (ủy viên Ban Bí Thư Trung Ương) trở thành nhóm chủ đạo cứng rắn chủ trương giải phóng miền Nam bằng bạo lực quân sự, ngày càng có tiếng nói áp đảo. Hồ Chí Minh bị cô lập, đành ngồi yên không tham gia bỏ phiếu, tướng Giáp bị ghép vào tội cầm đầu nhóm xét lại chống đảng, có quan hệ tư túi với Ðại Sứ Liên Xô Serbakov, may mà được ông Hồ “bảo lãnh” nên còn tại vị, nhưng chán nản, quay sang học đàn dương cầm. Một loạt cán bộ xét lại bị cặp Duẩn-Thọ thải hồi, cho vào tù như Lê Liêm, Ðặng Kim Giang, Vũ Ðình Huỳnh, Ung Văn Khiêm, Bùi Công Trừng, Dương Bạch Mai, Hoàng Minh Chính, các đại tá Lê Trọng Nghĩa, Ðỗ Ðức Kiên, Hoàng Thế Dũng... cùng hàng mấy chục nhà báo, nhà văn, nhà điện ảnh khác. Sau khi nhóm xét lại bị gạt bỏ, nhóm chung sống hòa bình, cạnh tranh hòa bình bị chụp mũ là chống đảng, xu hướng chủ chiến càng thêm mạnh, được bổ sung thêm bằng những võ sĩ chủ chiến hạng nặng như Chu Huy Mân, Lê Ðức Anh.
Nếu như không có sai lầm trong CCRÐ, có thể Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương đã đứng vững trên cương vị lãnh đạo trong Bộ Chính Trị, được Hồ Chí Minh chủ trì, được Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh, Võ Nguyên Giáp tích cực yểm trợ, giữ thế ngả về đường lối hòa bình do Liên Xô chủ đạo và được tuyệt đại đa số phong trào Cộng Sản quốc tế tán thành, trong khi vẫn giữ quan hệ bình thường độc lập với Trung Quốc. Như thế thì không chắc gì nhóm Duẩn-Thọ có thể đoạt được quyền lãnh đạo. Từ đó, may ra cuộc nội chiến anh em Nam Bắc với hàng mấy triệu sinh linh tử vong đã có thể tránh được.
Vâng, thưa các bạn chúng ta đau về những gì đã mất, hàng mấy triệu người bị tàn sát nhân danh đấu tranh giai cấp. Chuyển hóa dân chủ là biện pháp duy nhất để chuộc lại những sai lầm dai dẳng, những tàn phá kinh hoàng, để làm bừng dậy sức sống vô tận của dân tộc Việt Nam trong một kỷ nguyên dân chủ đang ở trong tầm tay chúng ta.
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Ở Hà Nội vừa mở ra cuộc triển lãm về Cải Cách Ruộng Ðất (1946-1957) dự định kéo dài đến cuối năm, nhưng đã vội đóng cửa sau có 2 ngày.

Dân oan mất đất biểu căng biểu ngữ trước cuộc triển lãm về Cải Cách Ruộng Ðất ở Hà Nội. (Hình: Dân Luận)
Vì sao vậy? Lý do đưa ra là do vấn đề ánh sáng. Nhưng theo phỏng đoán của nhiều bạn trẻ trên mạng Dân Làm Báo, nguyên nhân của sự trục trặc là ở chỗ mục đích của cuộc triển lãm còn tù mù, không có chủ định nói lên sự thật đúng như nó có, không trình bày cả kết quả và những sai lầm nghiêm trọng mà lãnh đạo Ðảng Cộng Sản đã công khai thú nhận, không nêu rõ tác hại của những sai lầm trong quan hệ của Ðảng Cộng Sản với giai cấp nông dân cho đến nay, và phương hướng khắc phục.
Biết bao vấn đề xã hội cần biết rõ, các bạn trẻ muốn biết rõ, liên quan đến CCRÐ. Việt Nam vẫn còn là một nước nông-công nghiệp, gần 70% số dân vẫn sống ở nông thôn, vấn đề nông dân, nông thôn, nông nghiệp vẫn là vấn đề thiết thân của người Việt ở mọi nơi.
Là người sống giữa nông thôn trong thời kỳ CCRÐ, tôi tự thấy có thể đáp ứng yêu cầu muốn biết rõ thêm của các bạn trẻ, để làm giàu thêm kiến thức của các bạn.
Có bài viết nêu lên con số địa chủ ác bá bị giết chết trong CCRÐ là hơn 172 nghìn, theo số liệu lưu trữ của Văn Phòng Trung Ương Ðảng, vậy nạn nhân thực sự là bao nhiêu? Có thể ước đoán không sai là ít nhất là gấp 3 đến 5 lần con số ấy, vì cái mũ “liên quan.” Liên quan đến địa chủ và cũng bị coi như cùng có tội là gia đình, vợ chồng, con cái, cháu chắt, họ hàng xa gần, cho đến bạn bè, láng giềng cũng bị xem xét, điều tra, phải khai báo, phải có lập trường rõ ràng. Do đó con cái địa chủ phải trốn tránh, có khi đi ăn xin, chết đói, cầu bơ cầu bất; sửa sai rồi vẫn bị hất hủi xa lánh, không được đi học, nhất là lên đại học, hay đi học nước ngòai, không được làm công nhân viên nhà nước...Biết bao gia đình tan vỡ, ly dị vì “mâu thuẫn giai cấp,” con cái bơ vơ. Có người mới chỉ bị “liên quan” đã mất tinh thần, bỏ trốn, lên rừng, trôi dạt vào Nam, sang Lào, hay tự sát, phát điên, ốm đến chết.
Phần lớn địa chủ Việt Nam thật ra chỉ là trung nông lớp trên - tiểu tư sản, họ có tham gia lao động, có học thức, tuy chỉ ở mức tiểu học hay trung học, con cái thường là viên chức tiểu tư sản. Rất đông số này đóng góp cho Tuần Lễ Vàng, quỹ kháng chiến, đi dân công hỏa tuyến (do có xe bò, xe đạp, thuyền nhỏ), con em tham gia Quân Ðội Nhân Dân. Cho nên sai lầm CCRÐ gò ép số địa chủ ác ôn theo tỷ lệ như ở Trung Quốc - khi Quốc Dân Ðảng Trung Quốc thống trị - là một điều ngu dại chết người. Không những hầu hết những người bị giết là người yêu nước, tham gia kháng chiến chống Pháp, đa số lại là thành viên Mặt Trận Liên Việt, Mặt Trận Tổ Quốc, quá nửa là đảng viên Cộng Sản. Tất cả lại là những người làm nghề nông giỏi, giàu kinh nghiệm. Ngay từ trong xã quê của tôi (gần Vân Ðình/ Hà Ðông) và những huyện xã nơi tôi sống trong những năm CCRÐ cũng như nơi quê vợ tôi (xã Hưng Dũng, Nghệ An), CCRÐ đã giáng đòn hủy diệt trúng vào giá trị tinh hoa xã hội, tinh hoa sản xuất, tinh hoa văn hóa ở nông thôn Việt Nam. Ðòn ta đánh ta, ta diệt ta này có hậu quả dai dẳng, chỉ vì theo lệnh từ Stalin, từ Mao, từ tên trùm cố vấn Tàu Triệu Hiểu Quang rất quan liêu, kiêu ngạo.
Chấn chỉnh tổ chức là chủ trương lớn tiếp theo ngay sau CCRÐ. Ðó là sắp xếp lại nhân sự, phân phối lại các chức vụ trong đảng, chính quyền. Mặt trận, các tổ chức quần chúng, từ xã thôn lên huyện tỉnh và trung ương. Bần cố nông, không ít là kẻ thất học, lưu manh, cơ hội lên ngôi, chùa chiền, nhà thờ đóng cửa, sách vở bị thiêu hủy, sách văn học nghệ thuật, ngoại ngữ, từ điển bị diệt sạch. Hoành phi, câu đối bị vứt xuống làm cầu ao, tượng Phật bị bẻ đầu, chặt tay, bàn thờ trong nhà bị dẹp bỏ, biết bao ảnh kỷ niệm quý hiếm bị đốt hủy. Một thời kỳ u ám tối tăm lan tràn, phong tục tập quán đẹp đẽ lâu đời bị dẹp bỏ. Một nền đạo lý cổ kính bị thủ tiêu. Có cuộc triển lãm nào nói lên được sự mất mát về văn hóa tinh thần như thế, khi ông Chu Văn Biên, bí thư Liên Khu Ủy Liên Khu 4 (gồm cả Thanh Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên) nêu gương “sáng chói,” dám chỉ vào mặt mẹ đẻ của mình mà mắng: “Mi đẻ ra tau nhưng mi bóc lột bà con nông dân nên mi là kẻ thù giai cấp của tau, mi phải bị tội chết.” Cụ Ðặng Văn Hướng, nguyên tham tri Bộ Tư pháp, có con trai là Trung Ðoàn Trưởng Ðặng Văn Việt, có biệt danh “Ðệ Tứ Lộ Ðại Vương” - Vua đường số 4 - bạn rất thân của tôi, cụ được Hồ Chí Minh cử làm bộ trưởng nhưng, vẫn bị đưa ra đấu tố ở Diễn Châu. Cụ Nguyễn Khắc Niêm từng đậu Hoàng Giáp Hán Học, cũng từng là tham tri Bộ Tư Pháp có con là Nguyễn Khắc Viện, chủ tịch Hội Việt kiều ở Pháp, và Nguyễn Khắc Dương, bạn rất thân của tôi, cũng bị đấu tố, giam trong chuồng nuôi hươu, ăn cơm thiu bọc trong lá chuối và chết trong thảm cảnh ấy.
Một thời gian ở trong Ban Biên Tập báo Nhân Dân, rất gần cơ quan trung ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam, được dự nhiều cuộc họp cán bộ cấp cao, tôi thấy có mối liên quan giữa sai lầm CCRÐ với đường lối bạo lực ở miền Nam. Ðầu năm 1956, Ðảng Cộng Sản Liên Xô mở Ðại Hội XX, chống sùng bái cá nhân Stalin, rồi tháng 11, 1957 mở Hội Nghị 68 Ðảng Cộng Sản toàn thế giới tại Moscow, có Mao Trạch Ðông sang tham dự với tình nghĩa Xô-Trung còn gắn bó. Ðến tháng 11 năm 1960, Liên Xô lại triệu tập cuộc họp 81 Ðảng Cộng Sản và Công nhân quốc tế, mâu thuẫn Xô-Trung bộc lộ ngay từ trong các văn kiện chuẩn bị, vu cáo nhau là phản bội chủ nghĩa Mác-Lênin, Trung Quốc lên án Liên Xô là theo chủ nghĩa xét lại, Liên Xô lên án Trung Quốc theo chủ nghĩa giáo điều. Tại hội nghị này, hơn 70 đảng tán thành lập trường của Ðảng Cộng Sản Liên Xô, nhấn mạnh khả năng giữ vững hòa bình, chung sống hòa bình, thi đua hòa bình giữa các chế độ khác nhau, ngăn ngừa chiến tranh, trong khi đẩy mạnh cả 3 dòng thác cách mạng của thời đại, vì hòa bình, giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ chuẩn bị cũng như khi dự, đoàn đại biểu Việt Nam gồm Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh tỏ ra theo đa số, tán thành đường lối của Liên Xô. Thế nhưng sau đó, khi trở về nước xu hướng theo đường lối chung sống hòa bình của Liên Xô bị đường lối bạo lực của Trung Quốc lấn át.
Suốt năm 1961 và 1962 từ sáng đến khuya đài Tiếng nói Việt Nam phát đi các văn kiện tranh luận Trung-Xô về đường lối cách mạng thế giới, ngày càng ngả về phía chống chủ nghĩa xét lại, coi xét lại là chống đảng, là phản động, là chống lại cuộc đấu tranh bằng bạo lực cách mạng ở miền Nam. Trong Bộ Chính Trị từ sau Ðại Hội III (tháng 9, 1960), Lê Duẩn chính thức là bí thư thứ nhất (sau cuộc họp Trung Ương 10 sửa sai CCRÐ, Hồ Chí Minh là chủ tịch đảng kiêm tổng bí thư thay Trường Chinh bị mất chức này). Lê Ðức Thọ cũng được vào Bộ Chính Trị trong cuộc họp Trung Ương 10. Cánh Lê Duẩn + Lê Ðức Thọ + Phạm Hùng + Nguyễn Chí Thanh + Võ Chí Công + Tố Hữu (ủy viên Ban Bí Thư Trung Ương) trở thành nhóm chủ đạo cứng rắn chủ trương giải phóng miền Nam bằng bạo lực quân sự, ngày càng có tiếng nói áp đảo. Hồ Chí Minh bị cô lập, đành ngồi yên không tham gia bỏ phiếu, tướng Giáp bị ghép vào tội cầm đầu nhóm xét lại chống đảng, có quan hệ tư túi với Ðại Sứ Liên Xô Serbakov, may mà được ông Hồ “bảo lãnh” nên còn tại vị, nhưng chán nản, quay sang học đàn dương cầm. Một loạt cán bộ xét lại bị cặp Duẩn-Thọ thải hồi, cho vào tù như Lê Liêm, Ðặng Kim Giang, Vũ Ðình Huỳnh, Ung Văn Khiêm, Bùi Công Trừng, Dương Bạch Mai, Hoàng Minh Chính, các đại tá Lê Trọng Nghĩa, Ðỗ Ðức Kiên, Hoàng Thế Dũng... cùng hàng mấy chục nhà báo, nhà văn, nhà điện ảnh khác. Sau khi nhóm xét lại bị gạt bỏ, nhóm chung sống hòa bình, cạnh tranh hòa bình bị chụp mũ là chống đảng, xu hướng chủ chiến càng thêm mạnh, được bổ sung thêm bằng những võ sĩ chủ chiến hạng nặng như Chu Huy Mân, Lê Ðức Anh.
Nếu như không có sai lầm trong CCRÐ, có thể Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương đã đứng vững trên cương vị lãnh đạo trong Bộ Chính Trị, được Hồ Chí Minh chủ trì, được Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh, Võ Nguyên Giáp tích cực yểm trợ, giữ thế ngả về đường lối hòa bình do Liên Xô chủ đạo và được tuyệt đại đa số phong trào Cộng Sản quốc tế tán thành, trong khi vẫn giữ quan hệ bình thường độc lập với Trung Quốc. Như thế thì không chắc gì nhóm Duẩn-Thọ có thể đoạt được quyền lãnh đạo. Từ đó, may ra cuộc nội chiến anh em Nam Bắc với hàng mấy triệu sinh linh tử vong đã có thể tránh được.
Vâng, thưa các bạn chúng ta đau về những gì đã mất, hàng mấy triệu người bị tàn sát nhân danh đấu tranh giai cấp. Chuyển hóa dân chủ là biện pháp duy nhất để chuộc lại những sai lầm dai dẳng, những tàn phá kinh hoàng, để làm bừng dậy sức sống vô tận của dân tộc Việt Nam trong một kỷ nguyên dân chủ đang ở trong tầm tay chúng ta.
Nếu mất nước, người chịu trách nhiệm chính là quân đội!
Việt Nam Đi Về Đâu: NỖI SỢ KHÔNG LỐI THOÁT CỦA CỘNG SẢN VIỆT NAM
Những Mẹ Già, Em Gái… “hậu phương” (Danlambao) - Ngày nay, trước sự suy tàn của đất nước, sự thống khổ của người dân, hầu như mọi người đều chửi rủa, thâm thù bọn “đảng”, bọn “nhà nước” CS, nhưng suy cho thấu đáo, thì lực lượng Quân Đội là một nhân tố phải chịu trách nhiệm chính, nếu nước mất về tay bọn giặc Tàu!
I. Vai trò trọng trách của quân đội
Quân đội là một tập thể ưu việt và vô cùng quan trọng của một đất nước. Nước còn hay mất, chính quân đội có trách nhiệm lớn nhất, vì là đội ngũ đông đảo, có tổ chức, được đào tạo kỹ càng, nhất là tinh thần yêu nước, được trang bị vũ khí đủ loại, gồm cả HẢI, LỤC, KHÔNG QUÂN. Quân đội được toàn dân nuôi dưỡng, tin cậy và ủy thác việc bảo vệ đất nước chống xâm lăng, và hỗ trợ dân khi cần, cứu giúp dân lúc thiên tai đại họa, như chuyển vận người dân đến nơi an toàn khi lũ lụt, động đất, hỏa hoạn…, và chuyên chở lương thực, đồ dùng cho dân bị nạn, hay hỗ trợ các công trình kiến thiết lớn lao như ngành Hải Quân Công Xưởng. Hơn mọi thành phần khác, QĐ thường được toàn dân yêu mến, và dành cho những tình cảm trân trọng, nồng nàn, được coi như người CON TRAI CẢ trong gia đình, với quyền uy và sức mạnh để bảo vệ ngôi nhà là đất nước, và những người thân trong gia đình là toàn dân. Đó là VINH DỰ LỚN LAO, VÀ CŨNG LÀ TRÁCH NHIỆM NẶNG NỀ CỦA NGƯỜI LÍNH!
Với vai trò và trọng trách lớn lao như thế, việc GIỮ NƯỚC là thuộc trách nhiệm của QĐ. Các lực lượng QĐ khi chưa xảy ra chiến tranh, vẫn phải ngày đêm rèn luyện, ở trong tư thế sẵn sàng khi giặc manh nha ý định xâm lược, không bao giờ QĐ được lơ là nhiệm vụ canh giữ biên cương, biển đảo của quê hương. Khi chiến tranh xảy ra thì không chậm một giây, QĐ đã sẵn sàng tại nơi có chiến sự, và tấn công địch khi nó vào nhà mình, vì đó là quyền tự vệ chính đáng, ví dụ trận hải chiến tại Hoàng Sa mà Trung Cộng xâm lược năm 1974, hay trận chiến ở vùng biên giới miền Bắc vào năm 1979, mà quân TC tiến vào biên cương của ta. Chính sự hy sinh bảo vệ Tổ Quốc, để cho dân có cuộc sống bình yên, mà toàn dân, từ học sinh đến ông già bà cả đều quý mến người lính như đứa con ruột, như người anh, người em thân yêu của mình, nên mới có câu: tình QUÂN-DÂN NHƯ CÁ VỚI NƯỚC! Không bao giờ cá không cần nước, và không bao giờ nước làm hại cá (trừ khi những kẻ bất chính vì lợi riêng mà thải độc vào nước!). Vai trò ấy, cả QUÂN và DÂN, đều đã làm tròn thời gian trước đây, nhưng bây giờ…!
II. Quân đội hiện đang làm gì khi dân khổ, đấy nước lâm nguy?
Trong mắt người dân bây giờ, hầu như QĐ đã… biến mất tăm dạng! Các anh đang ở đâu, mà chúng tôi không nhìn thấy bóng dáng hào hùng của các anh? Có, nhưng chỉ thấy trên… TV, hoặc tang thương và ngỡ ngàng hơn, các anh xuất hiện trong các cuộc… cưỡng chiếm ruộng đất của người nông dân, khi người dân Tây Nguyên vùng lên vì uất ức, với những gương mặt gian ác của quân thù, chứ không phải là người anh, người con bảo vệ chúng tôi! Các anh sao lại trở thành con người khác như thế? Danh dự của các anh đâu? Trách nhiệm của các anh đâu? Các anh đang làm gì khi dân, và cả đồng đội của các anh như Đoàn Văn Vươn bị bắt nạt, bị ăn cướp ruộng vườn nhà cửa? Các anh ẩn mặt ở đâu khi quân thù phương Bắc tiến vào trong nhà mình, chúng ăn dầm ở dề, tàn phá đất nước, hôi của giết người? Các anh ở đâu mà để cho quân xâm lăng xây thành đắp lũy trong lòng quê hương ta, cướp tàu đánh người, cướp hải sản đánh bắt của ngư dân? Các anh ở đâu, mà khi dân lành bị bọn tham tàn đàn áp, giết chóc, nhà tan cửa nát không hề thấy các anh xuất hiện hay lên tiếng? Những lúc ấy, dân rất mong các anh có mặt hay lên tiếng, để kẻ tàn ác phải chùn tay. Chí làm trai của các anh đâu rồi? Tinh thần đánh Đông giẹp Bắc, “xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên” của các anh đâu? Các anh vẫn còn ăn lương của dân mà? Cha mẹ, anh chị em, vợ con của các anh vẫn là người dân mà, sao các anh không nhận ra, không thương mến? Người dân chúng tôi đi tìm các anh, nhưng không thể tìm ra, mà chỉ nghe những tiếng vọng vang ghê rợn, như từ âm ti đưa về: “QĐ anh hùng của VN đã không còn!”. Những người lính của miền Nam đã bị các anh tàn sát, xua ra khỏi nước để tiếp tay cho “chủ nhân” của các anh chiếm lấy nhà cửa, đôi khi cả vợ con của họ! Giờ này còn ai thì họ đang ôm hận vọng về cố hương, nhưng quê hương xa hút mịt mùng và chìm trong đau thương! Họ đau lòng khi thấy quân xâm lăng đến, họ sôi sục căm hờn khi thấy dân tình khổ ải, muốn đem sức còn để bảo vệ quê hương, đồng bào, nhưng các anh đâu cho, đến nỗi đám hậu duệ của họ muốn nối chí hào hùng của cha anh, thì phải đem sức trai ra phục vụ một… quê hương khác, chiến đấu ở một xứ sở xa xôi nào đó, để bảo vệ tự do cho “đồng loại” thay vì “đồng bào”! Máu xương của họ đổ ra, mà quê hương và người dân không được hưởng! Còn chúng tôi ở đây, đã có các anh ư? Nhưng các anh lại đã trở thành một loại người khác: “còn đảng còn mình”, dân thì mặc kệ, nước mất mặc lòng!
Ồ! Chúng tôi có thấy bóng dáng của các anh rồi, đó là cái ngân hàng QĐ với mác MB rất to, ở rất nhiều nơi trong nhiều thành phố lớn; đó là những cơ sở làm ăn hoành tráng của QĐ, kể cả những nhà hàng, những câu lạc bộ, những nơi ăn chơi giải trí… vô giới hạn, mà người dân không có! Chúng tôi cũng nhìn thấy những “Doanh trại QĐ Nhân Dân VN”, nhưng hình như vắng hoe không thấy có người lính ra vào! Chúng tôi cũng còn thấy những khu đất rộng bạt ngàn, được bao bọc bởi tường cao rào kín, kẽm gai và có cả mìn bảo vệ, nhưng đó không phải là quân trường, mà là phần đất đai tài sản kếch xù của QĐ! Người dân nói rằng, bộ đội bây giờ là ĐẠI GIA cả rồi, chứ không có dép râu mũ cối, cũng không thèm đeo ngang hông “cái đài”, “cái đổng”, không còn những nét mặt ngây ngô chân thật như hồi đất nước mới “thống nhất” nữa, mà nhà cửa các anh bây giờ là nhà cao cửa rộng như công đường, ăn chơi như công tử, đi du lịch nước ngoài như đi chợ, con cái đi du học ở các nước văn minh! Cung cách các anh ăn chơi giải trí thì rất “tinh nhuệ”, thay vì tinh nhuệ trong chiến đấu! “Luật bù trừ” chăng? Khi xưa các anh khổ vì thời CS rồi, bây giờ các anh đến thời “tự do”! Vâng! Có lẽ đúng. Các anh đã gian khổ chiến đấu để dành được tự do, nhưng là tự do chỉ cho các anh, còn dân thì… mất hẳn tự do rồi! Dân đang ở tù, một nhà tù khổng lồ! Dân đang khốn quẫn, rên siết vì đói khổ, vì lạc hậu, vì bị uy hiếp, bị bóc lột! Hàng trăm ngàn doanh nghiệp của dân bị phá sản, người thì bị tù đầy, bị tan cửa nát nhà, nhưng QĐ và CA, cán bộ thì đâu hề hấn gì? Ngày mới “giải phóng miền Nam”, các anh thường ngồi xe đò chung với dân, nhưng bây giờ các anh đã có xe hơi riêng, mà xe đắt giá! ĐÚNG LÀ THỜI CỦA CÁC ANH!
“Giải phóng” miền Nam xong, các anh ham hưởng thụ, mê kinh tài nên quên béng rằng các anh đã bị đảng CS lừa là “miền Bắc thiên đường, miền Nam địa ngục”, dân miền Nam phải đi làm cu li, làm điếm cho Mỹ để kiếm cơm, cho nên kích động lòng thương của các anh, khiến các anh sẵn sàng hy sinh đi giải cứu dân Nam khỏi cảnh nhục nhằn đói rách! Nào ngờ…! Lẽ ra các anh phải tỉnh ngộ từ lúc đó, phải có thái độ từ lúc đó, nhưng không! Lẽ ra các anh phải bừng tỉnh mà tìm ra “lối thoát” cho cả dân tộc từ đó. Các anh phải cám ơn dân miền Nam đã “mở mắt” cho mình, và nên xin lỗi người ta, vì các anh đã đem đến cho người ta một sự “giải phóng” mà người ta hoàn toàn không muốn mà còn sợ hãi. Chính các anh đã phá vỡ cuộc sống yên lành của người ta, khiến gia đình họ tan nát, bản thân họ phải tù đày, trong khi họ từng đem máu đào bảo vệ quê hương, chống lại những người anh em lạc hướng lầm đường, đem trí tuệ và sức lực xây dựng đất nước giàu đẹp như các anh đã thấy. Lẽ ra các anh đã phải phân biệt được đâu là bạn, đâu là thù, để định lại trách nhiệm và đường đi của mình cho chính xác, thì lại không! Sau khi thấy người miền Nam tự do kinh doanh, tự do làm giàu, nhà cao cửa rộng, phố phường xa hoa, lẽ ra các anh phải thù hận, hài tội kẻ lừa dối mình, để bao nhiêu đồng đội phải “sinh Bắc tử Nam”, thì các anh lại… hận dân miền Nam, tại sao miền Bắc khổ sở nghèo nàn, mà miền Nam lại được sung sướng? Rồi các anh say mê làm giàu, say mê hưởng thụ! Tại sao không? Và các anh đã thỏa nguyện “chí làm giàu” thay cho “chí làm trai”, đã trở thành “thương nhân” thay vì “chiến sĩ”!
Nhưng các anh ơi! Dân đói, dân khổ thì mặc kệ dân đã đành, nhưng nếu mai này đất nước mất đi về tay quân xâm lược phương Bắc, thì sao hả các anh? Lúc đó các anh sẽ cùng số phận với dân, LÀ KẺ BỊ TRỊ, KẺ NÔ LỆ! Trước một kẻ thù hung bạo như bọn Tàu ô, kẻ thù truyền kiếp của dân Việt, liệu các anh có còn là “thành phần ưu đãi”, được tiếp tục làm “đại gia”, được mở ngân hàng, được tự do, được ưu ái để kinh doanh, hưởng thụ nữa không? Vợ con, gia đình các anh còn thoải mái sung sướng nữa không? Lấy gì bảo đảm hả các anh? Bây giờ các anh đang là CHỦ, mà những khu đặc trú của giặc Tàu, các anh còn chẳng được vô, không dám vô, thì mai này chúng làm chủ cả nước ta, các anh sẽ ra sao? Hay là các anh nói rằng giặc Tàu sẽ không thể chiếm VN? Lấy gì bảo đảm hả các anh? Chúng đang ngày đêm quấy rối biển Đông của chúng ta, chúng đã bồi biển để xây căn cứ quân sự ở Gạc Ma, Hoàng Sa, chĩa súng vào bụng chúng ta đó! Hội nghị Thành Đô đó: các “chủ nhân” của các anh là Đỗ Mười, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Lê Hồng Anh… đã ký giao đất nước này cho giặc Tàu vào năm 2020 rồi đó! Các anh không thấy bị xúc phạm khi vị “tổng tư lệnh” của các anh là tướng Phùng Quang Thanh tuyên bố tại hội nghị Sangri La, khi bọn giặc Tàu đưa giàn khoan HD 981 vào hải phận VN, rằng đó là “chuyện xích mích bình thương trong gia đình”? Nhục nhã không các anh? Người dân quèn còn không trị nổi, sao các “chiến sĩ anh hùng” như các anh mà lại chịu được?! Hay các anh đang “bàn kế hoạch” sẽ cải danh thành người Tàu, sẽ học tiếng Tàu, sẽ trổ tài khôn khéo lấy lòng Tàu để gia đình và bản thân các anh được tiếp tục vinh thân phì gia? Chắc được không các anh, hay giặc nó lại liệt các anh vào hàng “kẻ thù số 1”, vì các anh là QĐ VN, đã từng đánh lại nó, từng tiêu giệt hàng vạn binh lính của nó trong thời gian quá khứ, vì các anh là những thành phần kỳ cựu mà, chứ đâu có “nhẹ tội” như đám lính lau nhau sau này?
III. Quân đội có thể làm gì cho tổ quốc và cho dân bây giờ?
Chẳng biết các anh thế nào, chứ dân thì lo buồn lắm các anh ơi! Dân lo nước mất thì nhà sẽ tan, cả đời mình và con cháu mình sẽ bị làm thân nô lệ, nhất là đắc tội với Tiền Nhân đã đổ bao xương máu mà gây dựng và bảo vệ non sông này! Chắc chắn con cháu chúng ta sau này sẽ nhục mạ, sẽ thù hận chúng ta vì tham lam, hám lợi, vùi đầu trong ham hố, vô trách nhiệm đến nỗi để mất nước, và đổ lên đầu chúng những gánh nặng phải đền thay cha ông, chúng sẽ phải hy sinh mạng sống để khôi phục lại giang sơn VN!
Hỡi các quân nhân, những người con của Tổ Quốc VN, những tinh hoa của dân tộc, những người cha, người anh cả trong gia đình VN, các vị đành muối mặt mà vứt đi cái DANH DỰ và TRÁCH NHIỆM của QUÂN ĐỘI của một nước sao? Bao nhiêu công lao của tiền nhân, bao nhiêu ơn huệ của gia đình, bao nhiêu mến thương và tin tưởng của người dân dành cho các vị, các vị đành hắt đi một cách phũ phàng, để bám lấy đồng tiền? Phải, chỉ tiền mà thôi, chứ lương tâm và danh dự thì các vị đã tự đánh mất hết rồi! Các vị không ngại cả dân tộc khinh khi, cả thế giới nhìn vào QĐ VN bỗng dưng… biến mất sao? Người LÍNH mà vô trách nhiệm thì khác gì như chó không biết giữ nhà (vâng, người ta ví QĐ như chó để giữ nhà, nhưng là chó cưng, chó có ích), như muối mà không mặn, thành vô dụng và đáng bỏ đi thôi! Không những thế, các vị còn PHẢN LẠI ĐỒNG ĐỘI, những người đã hy sinh thân mình cho Tổ Quốc, đổi mạng mình để lấy sự vinh hoa và cuộc sống an nhàn cho các vị! Các vị CÓ THẤY BẤT XỨNG, VÀ CÓ AN HƯỞNG HẠNH PHÚC KHÔNG?
Còn có cách nào cứu vãn không? Thời gian đã cạn rồi, chỉ còn vài năm là đến thời hạn đã ký kết, để VN trở thành quận huyện của Tàu! Chúng tôi và các anh, sẽ phải ra khỏi thành phố, sẽ lên rừng ở, hay đi “kinh tế mới” để nhường nhà cho bọn giặc, như các anh đã xử với người dân miền Nam sau năm 1975! Hay là…, người yêu nước còn nhiều, người dân còn đầy, đang muốn dẹp bọn ác ôn để dành lại quyền làm chủ và bảo vệ đất nước. Đồng bào cả trong và ngoài nước cùng đồng lòng mong bảo vệ và xây dựng quê hương VN tự do no ấm. Nếu có các anh tham gia vào, thì dân đỡ khổ biết chừng nào, và kẻ tham tàn sẽ phải chùn tay bách hại dân lành, bọn giặc xâm lăng sẽ bị dẹp tan! Hoặc là các anh còn oai hùng hơn, sẽ thay dân mà làm việc ấy, như người dũng sĩ thay trời hành đạo, và phục hồi lại uy danh cho QĐ các anh, làm tăng lòng tin yêu của dân, quân với dân đều ĐẶT TỔ QUỐC TRÊN HẾT, và cùng chung tay giệt thù xây dựng lại đất nước? Có như thế thì vận mệnh nước mình, dân mình sẽ đến thời vinh quang! Các anh sẽ xứng danh là QĐ ND, nhà VN sẽ bừng sáng trên bầu trời Á Đông, muôn người con xa sẽ trở về từ muôn hướng, lúc đó thì các anh sẽ tha hồ làm giàu, một cách chân chính và vinh dự, để góp phần kiến tạo quê hương, chứ không như bây giờ! Xin đừng để cho câu nói sau đây của người dân bị đưa vào trang sử cái thời mà các anh gánh trách nhiệm chính với nước và với dân: ĐẢNG BÁM GHẾ, QUÂN ĐỘI BÁM MÂM, NGƯỜI DÂN LÃNH ĐỦ!
Nếu được như vậy thì thật vinh phúc, bằng không thì xin các anh, khi dân tình đã cùng khổ, nước nhà đã nguy ngập, người dân đồng lòng đứng lên giệt thù trong giặc ngoài, thì, VÌ TÌNH NGƯỜI, VÌ NHÂN ĐẠO, CÁC ANH XIN ĐỪNG NỔ SÚNG VÀO NGƯỜI DÂN CHÚNG TÔI, NHÉ! Hãy nhìn xem, chúng tôi chỉ là những học sinh, sinh viên là con em của các anh, hay những cụ già, những phụ nữ chân yếu tay mềm, những người dân oan bần cùng khốn khổ, và những người có đầy lòng yêu mến quê hương Tổ Quốc VN, chúng tôi không có một tấc sắt, một khẩu súng trên tay, vì bao nhiêu súng đạn, máy bay, tàu ngầm, do đồng tiền của chúng tôi, đã được giao hết cho các anh rồi. Xin đừng dùng nó để bắn vào chúng tôi, vì chúng tôi giữ đất nước này cho cả các anh mà!
Với hết tâm tình,
Những Mẹ Già, Em Gái… “hậu phương”
danlambaovn.blogspot.com
Việt Nam Đi Về Đâu: NỖI SỢ KHÔNG LỐI THOÁT CỦA CỘNG SẢN VIỆT NAM
Những Mẹ Già, Em Gái… “hậu phương” (Danlambao) - Ngày nay, trước sự suy tàn của đất nước, sự thống khổ của người dân, hầu như mọi người đều chửi rủa, thâm thù bọn “đảng”, bọn “nhà nước” CS, nhưng suy cho thấu đáo, thì lực lượng Quân Đội là một nhân tố phải chịu trách nhiệm chính, nếu nước mất về tay bọn giặc Tàu!
I. Vai trò trọng trách của quân đội
Quân đội là một tập thể ưu việt và vô cùng quan trọng của một đất nước. Nước còn hay mất, chính quân đội có trách nhiệm lớn nhất, vì là đội ngũ đông đảo, có tổ chức, được đào tạo kỹ càng, nhất là tinh thần yêu nước, được trang bị vũ khí đủ loại, gồm cả HẢI, LỤC, KHÔNG QUÂN. Quân đội được toàn dân nuôi dưỡng, tin cậy và ủy thác việc bảo vệ đất nước chống xâm lăng, và hỗ trợ dân khi cần, cứu giúp dân lúc thiên tai đại họa, như chuyển vận người dân đến nơi an toàn khi lũ lụt, động đất, hỏa hoạn…, và chuyên chở lương thực, đồ dùng cho dân bị nạn, hay hỗ trợ các công trình kiến thiết lớn lao như ngành Hải Quân Công Xưởng. Hơn mọi thành phần khác, QĐ thường được toàn dân yêu mến, và dành cho những tình cảm trân trọng, nồng nàn, được coi như người CON TRAI CẢ trong gia đình, với quyền uy và sức mạnh để bảo vệ ngôi nhà là đất nước, và những người thân trong gia đình là toàn dân. Đó là VINH DỰ LỚN LAO, VÀ CŨNG LÀ TRÁCH NHIỆM NẶNG NỀ CỦA NGƯỜI LÍNH!
Với vai trò và trọng trách lớn lao như thế, việc GIỮ NƯỚC là thuộc trách nhiệm của QĐ. Các lực lượng QĐ khi chưa xảy ra chiến tranh, vẫn phải ngày đêm rèn luyện, ở trong tư thế sẵn sàng khi giặc manh nha ý định xâm lược, không bao giờ QĐ được lơ là nhiệm vụ canh giữ biên cương, biển đảo của quê hương. Khi chiến tranh xảy ra thì không chậm một giây, QĐ đã sẵn sàng tại nơi có chiến sự, và tấn công địch khi nó vào nhà mình, vì đó là quyền tự vệ chính đáng, ví dụ trận hải chiến tại Hoàng Sa mà Trung Cộng xâm lược năm 1974, hay trận chiến ở vùng biên giới miền Bắc vào năm 1979, mà quân TC tiến vào biên cương của ta. Chính sự hy sinh bảo vệ Tổ Quốc, để cho dân có cuộc sống bình yên, mà toàn dân, từ học sinh đến ông già bà cả đều quý mến người lính như đứa con ruột, như người anh, người em thân yêu của mình, nên mới có câu: tình QUÂN-DÂN NHƯ CÁ VỚI NƯỚC! Không bao giờ cá không cần nước, và không bao giờ nước làm hại cá (trừ khi những kẻ bất chính vì lợi riêng mà thải độc vào nước!). Vai trò ấy, cả QUÂN và DÂN, đều đã làm tròn thời gian trước đây, nhưng bây giờ…!
II. Quân đội hiện đang làm gì khi dân khổ, đấy nước lâm nguy?
Trong mắt người dân bây giờ, hầu như QĐ đã… biến mất tăm dạng! Các anh đang ở đâu, mà chúng tôi không nhìn thấy bóng dáng hào hùng của các anh? Có, nhưng chỉ thấy trên… TV, hoặc tang thương và ngỡ ngàng hơn, các anh xuất hiện trong các cuộc… cưỡng chiếm ruộng đất của người nông dân, khi người dân Tây Nguyên vùng lên vì uất ức, với những gương mặt gian ác của quân thù, chứ không phải là người anh, người con bảo vệ chúng tôi! Các anh sao lại trở thành con người khác như thế? Danh dự của các anh đâu? Trách nhiệm của các anh đâu? Các anh đang làm gì khi dân, và cả đồng đội của các anh như Đoàn Văn Vươn bị bắt nạt, bị ăn cướp ruộng vườn nhà cửa? Các anh ẩn mặt ở đâu khi quân thù phương Bắc tiến vào trong nhà mình, chúng ăn dầm ở dề, tàn phá đất nước, hôi của giết người? Các anh ở đâu mà để cho quân xâm lăng xây thành đắp lũy trong lòng quê hương ta, cướp tàu đánh người, cướp hải sản đánh bắt của ngư dân? Các anh ở đâu, mà khi dân lành bị bọn tham tàn đàn áp, giết chóc, nhà tan cửa nát không hề thấy các anh xuất hiện hay lên tiếng? Những lúc ấy, dân rất mong các anh có mặt hay lên tiếng, để kẻ tàn ác phải chùn tay. Chí làm trai của các anh đâu rồi? Tinh thần đánh Đông giẹp Bắc, “xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên” của các anh đâu? Các anh vẫn còn ăn lương của dân mà? Cha mẹ, anh chị em, vợ con của các anh vẫn là người dân mà, sao các anh không nhận ra, không thương mến? Người dân chúng tôi đi tìm các anh, nhưng không thể tìm ra, mà chỉ nghe những tiếng vọng vang ghê rợn, như từ âm ti đưa về: “QĐ anh hùng của VN đã không còn!”. Những người lính của miền Nam đã bị các anh tàn sát, xua ra khỏi nước để tiếp tay cho “chủ nhân” của các anh chiếm lấy nhà cửa, đôi khi cả vợ con của họ! Giờ này còn ai thì họ đang ôm hận vọng về cố hương, nhưng quê hương xa hút mịt mùng và chìm trong đau thương! Họ đau lòng khi thấy quân xâm lăng đến, họ sôi sục căm hờn khi thấy dân tình khổ ải, muốn đem sức còn để bảo vệ quê hương, đồng bào, nhưng các anh đâu cho, đến nỗi đám hậu duệ của họ muốn nối chí hào hùng của cha anh, thì phải đem sức trai ra phục vụ một… quê hương khác, chiến đấu ở một xứ sở xa xôi nào đó, để bảo vệ tự do cho “đồng loại” thay vì “đồng bào”! Máu xương của họ đổ ra, mà quê hương và người dân không được hưởng! Còn chúng tôi ở đây, đã có các anh ư? Nhưng các anh lại đã trở thành một loại người khác: “còn đảng còn mình”, dân thì mặc kệ, nước mất mặc lòng!
Ồ! Chúng tôi có thấy bóng dáng của các anh rồi, đó là cái ngân hàng QĐ với mác MB rất to, ở rất nhiều nơi trong nhiều thành phố lớn; đó là những cơ sở làm ăn hoành tráng của QĐ, kể cả những nhà hàng, những câu lạc bộ, những nơi ăn chơi giải trí… vô giới hạn, mà người dân không có! Chúng tôi cũng nhìn thấy những “Doanh trại QĐ Nhân Dân VN”, nhưng hình như vắng hoe không thấy có người lính ra vào! Chúng tôi cũng còn thấy những khu đất rộng bạt ngàn, được bao bọc bởi tường cao rào kín, kẽm gai và có cả mìn bảo vệ, nhưng đó không phải là quân trường, mà là phần đất đai tài sản kếch xù của QĐ! Người dân nói rằng, bộ đội bây giờ là ĐẠI GIA cả rồi, chứ không có dép râu mũ cối, cũng không thèm đeo ngang hông “cái đài”, “cái đổng”, không còn những nét mặt ngây ngô chân thật như hồi đất nước mới “thống nhất” nữa, mà nhà cửa các anh bây giờ là nhà cao cửa rộng như công đường, ăn chơi như công tử, đi du lịch nước ngoài như đi chợ, con cái đi du học ở các nước văn minh! Cung cách các anh ăn chơi giải trí thì rất “tinh nhuệ”, thay vì tinh nhuệ trong chiến đấu! “Luật bù trừ” chăng? Khi xưa các anh khổ vì thời CS rồi, bây giờ các anh đến thời “tự do”! Vâng! Có lẽ đúng. Các anh đã gian khổ chiến đấu để dành được tự do, nhưng là tự do chỉ cho các anh, còn dân thì… mất hẳn tự do rồi! Dân đang ở tù, một nhà tù khổng lồ! Dân đang khốn quẫn, rên siết vì đói khổ, vì lạc hậu, vì bị uy hiếp, bị bóc lột! Hàng trăm ngàn doanh nghiệp của dân bị phá sản, người thì bị tù đầy, bị tan cửa nát nhà, nhưng QĐ và CA, cán bộ thì đâu hề hấn gì? Ngày mới “giải phóng miền Nam”, các anh thường ngồi xe đò chung với dân, nhưng bây giờ các anh đã có xe hơi riêng, mà xe đắt giá! ĐÚNG LÀ THỜI CỦA CÁC ANH!
“Giải phóng” miền Nam xong, các anh ham hưởng thụ, mê kinh tài nên quên béng rằng các anh đã bị đảng CS lừa là “miền Bắc thiên đường, miền Nam địa ngục”, dân miền Nam phải đi làm cu li, làm điếm cho Mỹ để kiếm cơm, cho nên kích động lòng thương của các anh, khiến các anh sẵn sàng hy sinh đi giải cứu dân Nam khỏi cảnh nhục nhằn đói rách! Nào ngờ…! Lẽ ra các anh phải tỉnh ngộ từ lúc đó, phải có thái độ từ lúc đó, nhưng không! Lẽ ra các anh phải bừng tỉnh mà tìm ra “lối thoát” cho cả dân tộc từ đó. Các anh phải cám ơn dân miền Nam đã “mở mắt” cho mình, và nên xin lỗi người ta, vì các anh đã đem đến cho người ta một sự “giải phóng” mà người ta hoàn toàn không muốn mà còn sợ hãi. Chính các anh đã phá vỡ cuộc sống yên lành của người ta, khiến gia đình họ tan nát, bản thân họ phải tù đày, trong khi họ từng đem máu đào bảo vệ quê hương, chống lại những người anh em lạc hướng lầm đường, đem trí tuệ và sức lực xây dựng đất nước giàu đẹp như các anh đã thấy. Lẽ ra các anh đã phải phân biệt được đâu là bạn, đâu là thù, để định lại trách nhiệm và đường đi của mình cho chính xác, thì lại không! Sau khi thấy người miền Nam tự do kinh doanh, tự do làm giàu, nhà cao cửa rộng, phố phường xa hoa, lẽ ra các anh phải thù hận, hài tội kẻ lừa dối mình, để bao nhiêu đồng đội phải “sinh Bắc tử Nam”, thì các anh lại… hận dân miền Nam, tại sao miền Bắc khổ sở nghèo nàn, mà miền Nam lại được sung sướng? Rồi các anh say mê làm giàu, say mê hưởng thụ! Tại sao không? Và các anh đã thỏa nguyện “chí làm giàu” thay cho “chí làm trai”, đã trở thành “thương nhân” thay vì “chiến sĩ”!
Nhưng các anh ơi! Dân đói, dân khổ thì mặc kệ dân đã đành, nhưng nếu mai này đất nước mất đi về tay quân xâm lược phương Bắc, thì sao hả các anh? Lúc đó các anh sẽ cùng số phận với dân, LÀ KẺ BỊ TRỊ, KẺ NÔ LỆ! Trước một kẻ thù hung bạo như bọn Tàu ô, kẻ thù truyền kiếp của dân Việt, liệu các anh có còn là “thành phần ưu đãi”, được tiếp tục làm “đại gia”, được mở ngân hàng, được tự do, được ưu ái để kinh doanh, hưởng thụ nữa không? Vợ con, gia đình các anh còn thoải mái sung sướng nữa không? Lấy gì bảo đảm hả các anh? Bây giờ các anh đang là CHỦ, mà những khu đặc trú của giặc Tàu, các anh còn chẳng được vô, không dám vô, thì mai này chúng làm chủ cả nước ta, các anh sẽ ra sao? Hay là các anh nói rằng giặc Tàu sẽ không thể chiếm VN? Lấy gì bảo đảm hả các anh? Chúng đang ngày đêm quấy rối biển Đông của chúng ta, chúng đã bồi biển để xây căn cứ quân sự ở Gạc Ma, Hoàng Sa, chĩa súng vào bụng chúng ta đó! Hội nghị Thành Đô đó: các “chủ nhân” của các anh là Đỗ Mười, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Lê Hồng Anh… đã ký giao đất nước này cho giặc Tàu vào năm 2020 rồi đó! Các anh không thấy bị xúc phạm khi vị “tổng tư lệnh” của các anh là tướng Phùng Quang Thanh tuyên bố tại hội nghị Sangri La, khi bọn giặc Tàu đưa giàn khoan HD 981 vào hải phận VN, rằng đó là “chuyện xích mích bình thương trong gia đình”? Nhục nhã không các anh? Người dân quèn còn không trị nổi, sao các “chiến sĩ anh hùng” như các anh mà lại chịu được?! Hay các anh đang “bàn kế hoạch” sẽ cải danh thành người Tàu, sẽ học tiếng Tàu, sẽ trổ tài khôn khéo lấy lòng Tàu để gia đình và bản thân các anh được tiếp tục vinh thân phì gia? Chắc được không các anh, hay giặc nó lại liệt các anh vào hàng “kẻ thù số 1”, vì các anh là QĐ VN, đã từng đánh lại nó, từng tiêu giệt hàng vạn binh lính của nó trong thời gian quá khứ, vì các anh là những thành phần kỳ cựu mà, chứ đâu có “nhẹ tội” như đám lính lau nhau sau này?
III. Quân đội có thể làm gì cho tổ quốc và cho dân bây giờ?
Chẳng biết các anh thế nào, chứ dân thì lo buồn lắm các anh ơi! Dân lo nước mất thì nhà sẽ tan, cả đời mình và con cháu mình sẽ bị làm thân nô lệ, nhất là đắc tội với Tiền Nhân đã đổ bao xương máu mà gây dựng và bảo vệ non sông này! Chắc chắn con cháu chúng ta sau này sẽ nhục mạ, sẽ thù hận chúng ta vì tham lam, hám lợi, vùi đầu trong ham hố, vô trách nhiệm đến nỗi để mất nước, và đổ lên đầu chúng những gánh nặng phải đền thay cha ông, chúng sẽ phải hy sinh mạng sống để khôi phục lại giang sơn VN!
Hỡi các quân nhân, những người con của Tổ Quốc VN, những tinh hoa của dân tộc, những người cha, người anh cả trong gia đình VN, các vị đành muối mặt mà vứt đi cái DANH DỰ và TRÁCH NHIỆM của QUÂN ĐỘI của một nước sao? Bao nhiêu công lao của tiền nhân, bao nhiêu ơn huệ của gia đình, bao nhiêu mến thương và tin tưởng của người dân dành cho các vị, các vị đành hắt đi một cách phũ phàng, để bám lấy đồng tiền? Phải, chỉ tiền mà thôi, chứ lương tâm và danh dự thì các vị đã tự đánh mất hết rồi! Các vị không ngại cả dân tộc khinh khi, cả thế giới nhìn vào QĐ VN bỗng dưng… biến mất sao? Người LÍNH mà vô trách nhiệm thì khác gì như chó không biết giữ nhà (vâng, người ta ví QĐ như chó để giữ nhà, nhưng là chó cưng, chó có ích), như muối mà không mặn, thành vô dụng và đáng bỏ đi thôi! Không những thế, các vị còn PHẢN LẠI ĐỒNG ĐỘI, những người đã hy sinh thân mình cho Tổ Quốc, đổi mạng mình để lấy sự vinh hoa và cuộc sống an nhàn cho các vị! Các vị CÓ THẤY BẤT XỨNG, VÀ CÓ AN HƯỞNG HẠNH PHÚC KHÔNG?
Còn có cách nào cứu vãn không? Thời gian đã cạn rồi, chỉ còn vài năm là đến thời hạn đã ký kết, để VN trở thành quận huyện của Tàu! Chúng tôi và các anh, sẽ phải ra khỏi thành phố, sẽ lên rừng ở, hay đi “kinh tế mới” để nhường nhà cho bọn giặc, như các anh đã xử với người dân miền Nam sau năm 1975! Hay là…, người yêu nước còn nhiều, người dân còn đầy, đang muốn dẹp bọn ác ôn để dành lại quyền làm chủ và bảo vệ đất nước. Đồng bào cả trong và ngoài nước cùng đồng lòng mong bảo vệ và xây dựng quê hương VN tự do no ấm. Nếu có các anh tham gia vào, thì dân đỡ khổ biết chừng nào, và kẻ tham tàn sẽ phải chùn tay bách hại dân lành, bọn giặc xâm lăng sẽ bị dẹp tan! Hoặc là các anh còn oai hùng hơn, sẽ thay dân mà làm việc ấy, như người dũng sĩ thay trời hành đạo, và phục hồi lại uy danh cho QĐ các anh, làm tăng lòng tin yêu của dân, quân với dân đều ĐẶT TỔ QUỐC TRÊN HẾT, và cùng chung tay giệt thù xây dựng lại đất nước? Có như thế thì vận mệnh nước mình, dân mình sẽ đến thời vinh quang! Các anh sẽ xứng danh là QĐ ND, nhà VN sẽ bừng sáng trên bầu trời Á Đông, muôn người con xa sẽ trở về từ muôn hướng, lúc đó thì các anh sẽ tha hồ làm giàu, một cách chân chính và vinh dự, để góp phần kiến tạo quê hương, chứ không như bây giờ! Xin đừng để cho câu nói sau đây của người dân bị đưa vào trang sử cái thời mà các anh gánh trách nhiệm chính với nước và với dân: ĐẢNG BÁM GHẾ, QUÂN ĐỘI BÁM MÂM, NGƯỜI DÂN LÃNH ĐỦ!
Nếu được như vậy thì thật vinh phúc, bằng không thì xin các anh, khi dân tình đã cùng khổ, nước nhà đã nguy ngập, người dân đồng lòng đứng lên giệt thù trong giặc ngoài, thì, VÌ TÌNH NGƯỜI, VÌ NHÂN ĐẠO, CÁC ANH XIN ĐỪNG NỔ SÚNG VÀO NGƯỜI DÂN CHÚNG TÔI, NHÉ! Hãy nhìn xem, chúng tôi chỉ là những học sinh, sinh viên là con em của các anh, hay những cụ già, những phụ nữ chân yếu tay mềm, những người dân oan bần cùng khốn khổ, và những người có đầy lòng yêu mến quê hương Tổ Quốc VN, chúng tôi không có một tấc sắt, một khẩu súng trên tay, vì bao nhiêu súng đạn, máy bay, tàu ngầm, do đồng tiền của chúng tôi, đã được giao hết cho các anh rồi. Xin đừng dùng nó để bắn vào chúng tôi, vì chúng tôi giữ đất nước này cho cả các anh mà!
Với hết tâm tình,
Những Mẹ Già, Em Gái… “hậu phương”
danlambaovn.blogspot.com
HONG KONG - THIÊN AN MÔN THỨ 2 CHUẨN BỊ GIỜ "G"
Những nhà Dân Chủ trên thế giới ...chúng tôi ủng hộ sự đấu tranh đòi quyền dân chủ của người dân Hong Kong ..ủng hộ các em sinh viên và học sinh HongKong.
Quang Ho Lam ( Canada )
Bao giơ`có tin nóng từ Sàigon - Hà Nội ?
HONG KONG - THIÊN AN MÔN THỨ 2 - CHUẨN BỊ GIỜ "G" (14g00 HK)
VỚI QUY MÔ BIỂU TÌNH LỚN NHẤT TRONG LỊCH SỬ !
Ước tính sơ bộ đã có 8000 người tham gia "Thà chết vinh còn hơn sống nhục !", trong đó có hơn 100 là giáo sư, tiến sĩ, giảng viên của các Trường Đại học danh tiếng của Hong Kong; hơn 400 giáo viên của các Trường Trung học.
Điểm nhấn là có hơn 382 các Trường Đại học, Cao đẳng, Trung học kêu gọi nhân dân toàn đặc khu HongKong "Hãy đồng hành cùng thế hệ trẻ - Đừng để quyền bầu cử bị bôi nhọ !".
Đặc biệt có hơn 100 VẠN thanh thiếu niên gốc Hong Kong từ các Trường Đại học, Cao đẳng, Trung học Phổ thông trên toàn thế giới cam kết chiến đấu, đồng hành đến bước cuối cùng với thanh thiếu niên tại quê hương Hong Kong.
(bấm vào các link dưới đây xem video biễu tình)
CLIP1:
CLIP 2:
CLIP 3:
CLIP 4:
CLIP 5:
Ô ! QUYỀN CƠ BẢN NHẤT của một công dân, của nhân dân để thực hiện vai trò làm CHỦ ĐẤT NƯỚC: DÂN CỬ + DÂN BẦU + DÂN KIỂM TRA + DÂN BÃI BỎ.
Những quyền đó rất cơ bản, rất đương nhiên, nhưng đã bị Đảng CS tước đoạt bằng bạo lực, bằng mọi thủ đoạn, bằng mọi sự giả dối, bằng mọi hành động ác ôn nhất để đối phó với nhân dân.
Đường link dẫn bài viết trong báo Tàu >>>> http://www.epochtimes.com/b5/14/9/22/n4254253.htm



Đất nước những năm tháng thật buồn
Vương Trí Dũng Khi viết dòng tiêu đề đầu tiên, nước mắt tôi chan chứa không thể nào kìm được. Người đàn ông đã đi qua hai phần ba cuộc đời, trải qua những năm tháng khó khăn gian khổ, sống sót qua khói bom lửa đạn, mà có thể mềm lòng đến thế này ư?
Không, không chỉ riêng mình tôi, chắc chắn có hàng vạn người đàn ông đã mềm lòng như thế. Đất nước những năm tháng thật buồn.
Giả dối lộng hành
Sẽ có người nói là quá quắt. Chỉ nhìn thấy mảng đen. Không đó là sự thật.
Không chỉ giả đối để lừa đảo trộm cắp. Sự giả dối đó có từ ngàn đời và không bao giờ hết. Nhưng sự giả dối trong xã hội ta hiện nay ở mức đau đớn bởi vì nó hiện diện khắp mọi nơi với mức độ đáng sợ.
Xã hội hiện đại là một xã hội thị trường nơi mà hàng hóa ngự trị. Và ta thử nhìn lại xem, có nơi nào là không có hàng hóa giả. Ngay cả những lĩnh vực nguy hiểm cho sinh mạng con người như thuốc men thực phẩm cũng không ngoại lệ.
Không chỉ là hàng hóa, đến giấy tờ bằng cấp cũng giả. Thậm chí đến con người cũng giả.
Sự giả dối không chỉ trong hàng hóa hay hành động. Sự giả dối lộng tràn trong cả nhận thức và hành vi. Không chỉ trong người dân mà trong toàn bộ bộ máy công quyền. Lấy một vài thí dụ cụ thể.
Để vào bộ máy công quyền, từ vị trí lao công cho đến lãnh đạo, không vị trí nào mà không mất tiền. Điều này ai cũng biết. Nhưng khi các cơ quan chức năng điều tra việc chạy chức chạy quyền thì không phát hiện ra. Thật là một sự giả dối trớ trêu.
Có ai trong bộ mấy công quyền không thấy hệ thống của chúng ta có lỗi phải cải cách căn bản? Có ai trong bộ máy công quyền không thấy cái đuôi “Định hướng Xã hội Chủ nghĩa” là vô nghĩa? Có ai trong bộ máy công quyền không thấy ghi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam vào Hiến Pháp là phi lý? Tất cả họ đều thấy nhưng đều giả vờ không thấy. Đó mới là sự giả dối đáng kinh sợ.
Do những người trong bộ máy công quyền giả dối nên xã hội đang được điều hành bằng một bộ máy giả dối. Bộ máy giả dối không chỉ vì những người tham gia có hành vi giả dối. Mà sâu xa hơn, bộ máy giả dối bởi nó không xứng đáng được quản lý. Tất cả những điều giả dối đang tồn tại ngập tràn trong xã hội bởi chính vì xã hội đang được điều hành bởi một bộ máy quản lý giả dối. Đó là tai họa kinh khủng.
Sự truy sát bạo tàn thời trung cổ
Edward Snowden gây ra biết bao nhiêu khó khăn cho chính phủ Mỹ, nhưng bố mẹ của anh ta vẫn bình yên vô sự. Osama Bin Laden bị truy sát khắp mọi nơi, nhưng người thân họ hàng không ai bị truy sát.
Nhưng ở chế độ Stalin, Mao Trạch Đông và mọi nơi mà các Đảng Cộng sản thống trị, chỉ cần tuyên bố 4 từ “Kẻ thù chế độ”, “Kẻ thù nhà nước”, “Kẻ thù giai cấp”, là bị thủ tiêu không cần xét xử. Không chỉ có thế, bố mẹ, vợ con, anh em họ hàng, bạn bè đều bị liên đới, bị truy sát, bị đe dọa, bị quản thúc, bị cô lập, bị ngược đãi. Không chỉ một năm, mà cả đời. Không chỉ ở quê nhà, mà khắp mọi nơi cư trú. Một kiểu truy sát bạo tàn kiểu Thương Ưởng.
Đã 69 năm sau ngày cách mạng tháng Tám, nhưng vẫn phải kê khai lý lịch: thành phần trước cách mạng tháng Tám, trong cải cách ruộng đất… Các thế hệ sinh ra trong các thập niên 80, 90 trở lại đây có liên quan gì mà phải phân biệt? Đẻ ra ở đâu, đẻ ra lúc nào không phải là người Việt ư? Chuyện của hôm qua là của hôm qua, sao phải đeo đẳng mãi về sau?
Đã hơn 400 năm rồi, ở châu Âu chỉ thực thi chính sách ai làm người đó chịu. Đằng sau sự dân chủ là một triết lý ngời sáng: Tự do thể hiện. Chỉ có không liên lụy đến bất cứ ai, ngoại trừ bản thân mình, con người mới tự do thể hiện những suy tư sáng tạo, tự do dấn thân vì ước mơ hoài bão. Đó có thể là điều mang lại lợi ích, nhưng cũng có thể là điều tồi tệ. Nhưng cái tôi tự do cho phép mỗi cá nhân được tỏa sáng theo cách của mình. Và xã hội vì thế mà không ngừng phát triển đa dạng. Còn chính sách truy sát bạo tàn thời trung cổ tiêu diệt hết mọi khả năng tỏa sáng, dẫu sự tỏa sáng đó có lợi cho tiến bộ xã hội, nhưng mà bất lợi cho kẻ cầm quyền.
Bất công ngập tràn
Khẩu hiệu của cách mạng là “Người cày có ruộng”. Nhưng chúng ta đã tước đi quyền sở hữu đất đai của người dân. Để ném vào một khái niệm ngu xuẩn: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân”. Thực chất là không thuộc của bất cứ người dân nào cả. Mà chỉ thuộc quyền phán quyết của một thiểu số.
Bởi vậy mới tạo nên hằng hà sa số bất công trong xã hội. Tịch thu, lấy đất đền bù giá rẻ của người này để ban phát cho người khác. Không hoàn toàn vô tư, mà nhiều phần bị chi phối bởi quyền lợi.
Bị thất thoát thảm hại, chúng ta buộc phải đi ngược trở lại, là cổ phần hóa các tài sản của “toàn dân”. Tức là đưa tài sản của nhà nước vào tay một số người. Cũng không phải hoàn toàn vô tư. Mà cũng bởi vì quyền lợi. Bởi thế lại tạo ra một hệ thống bất bình đẳng mới trong xã hội.
Mục tiêu của cái gọi là “Chủ nghĩa Xã hội” là đem lại công bằng cho người dân, nhưng trên thực tế những người cầm quyền đã tạo nên một sự bất bình đẳng phi lý nhất trong lịch sử phát triển dân tộc.
Tiềm lực quốc gia trống rỗng
Một quốc gia hơn 90 triệu dân, đứng thứ 14 trên thế giới, mà thu nhập quốc dân bình quân theo đầu người của Việt Nam chỉ đứng thứ 136/191 vùng quốc gia lãnh thổ (số liệu của Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế ngày 13-2-2014). Tổng thu nhập quốc nội (GDP) của Việt Nam đạt khoảng 170 tỷ USD trong khi Singgapore (5 009 236 người) có GDP là 293 tỷ USD, còn Thái Lan (66 982 746 người) là 370 tỷ USD, và Malaysia (27 763 309 người) đạt 290 tỷ USD.
Đau xót nhất không phải là thứ hạng về thu nhập GDP, mà là tiềm lực công nghiệp – cột sống của sức mạnh kinh tế quốc gia – trống rỗng. Đến cái bu lông cũng không sản xuất được. Vừa qua hãng Samsung đưa ra đơn đặt hàng phụ kiện, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam không cung cấp được thậm chí chỉ vỏ điện thoại… là một bằng chứng vô cùng đớn đau.
Chỉ cần nói đến các quốc gia Bắc Âu. Thụy Điển với số dân 9 592 552 người (2013) mà GDP đạt 557,94 tỷ USD. Điều quan trọng hơn là Thụy Điển có nền công nghiệp hàng đầu với những tập đoàn công nghiệp nổi tiếng như Volvo, Ericsson... Năm 2013 xuất khẩu vũ khí của Thụy Điển xếp hàng thứ 11 thế giới. Na Uy có số dân 5 109 059 người, nhưng đạt GDP 512,6 tỷ USD thuộc loại giàu có nhất thế giới. Na Uy có tập đoàn dầu khí khổng lồ Statoil với doanh số 111,6 tỷ USD, tập đoàn thiết bị công nghiệp Norsk Hydro doanh số 16,3 tỷ USD. Còn Đan Mạch (dân số 5 591 000 người) có công nghệ đóng tàu vận tải container bậc nhất thế giới, tập đoàn Novo Nordisk về thiết bị y tế doanh thu 11,6 tỷ USD, có công nghệ xi măng và tourbin gió nhiều nước phải đặt hàng. Phần Lan với dân số 5,4 triệu người và GDP 256,84 tỷ USD (2013), có tập đoàn Nokia danh giá (doanh thu 50,1 tỷ USD), có nền công nghệ lọc dầu Neste Oil tiên tiến (doanh thu 20 tỷ USD). Các nước Bắc Âu, chẳng được “dưới sự lãnh đạo” của ai cả, chẳng phải “định hướng” về đâu cả, mà có nền kinh tế và đời sống xã hội phồn hoa giàu có bậc nhất địa cầu.
Có thể lấy một thí dụ khác là Israel. Dân số vỏn vẹn có 8 252 500 người, nhưng GDP của Israel xếp thứ 16 trên thế giới với 291,36 tỷ USD. Tuy có GDP xấp xỷ Singgapore và thu nhập bình quân đầu người đứng sau Singapore, nhưng Israel xếp thứ 8 về xuất khẩu vũ khí. Tiềm lực của Israel rất khác biệt với Singapore. Singapore giàu có cơ bản vì thương mại, còn Israel hùng mạnh vì khoa học và công nghiệp. Israel xứng đáng là một cường quốc.
Còn Việt Nam thân yêu chúng ta? Càng nghĩ càng ứa nước mắt.
Bị ngoại bang chèn ép
Vì đói nghèo tụt hậu nên bị ngoại bang chèn ép. Bị lũng đoạn về kinh tế. Bị chi phối về nhân sự. Bị ảnh hưởng về đường lối. Bị xâm hại cả tài nguyên lẫn lãnh thổ.
Trong hai mươi lăm năm gần đây, mỗi ngày một thêm bị lệ thuộc vào Trung Quốc. Điều nguy hiểm không chỉ là nền kinh tế bị Trung Quốc chi phối mà còn ở chỗ người Trung Quốc đang tràn sang sống khắp mọi nơi trên đất Việt Nam. Thảm họa kinh tế có thể khắc phục. Nhưng tai vạ sắc tộc thì khó có thể vượt qua.
Dân tộc bị phân biệt
Mọi dân tộc sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa không đẻ ra sang hèn. Nhưng người Việt Nam bị tra xét thảm hại mỗi lần qua biên giới. Công dân Việt Nam không được bảo vệ, bị xem thường, bị ngược đãi nhiều nơi trên đất nước người.
Những người phụ nữ Việt Nam dịu hiền đáng yêu, chịu thương chịu khó, bị bán đi tìm chồng xứ khác, bị liệt vào hàng thấp cấp, bị trả tiền rẻ mạt ở những chốn ăn chơi.
Tạo hóa không sinh ra đẳng cấp. Con người tự làm nên đẳng cấp. Tất cả là do đói nghèo tụt hậu.Tất cả bởi lỗi tại chính mình.
Ai bắt chúng ta phải đói nghèo?
Trước đây chúng ta nói rằng dân chúng bị lầm than khổ cực là do thực dân phong kiến. Chúng ta đã đánh đuổi thực dân, đã lật đổ phong kiến mà sao không tránh được đói nghèo lầm than? Đừng nghĩ rằng đói nghèo là chỉ bởi thiếu ăn, lầm than là phải lao động khổ cực. Đói nghèo lầm than còn phải hiểu là so với ai và ở vị trí nào trên thế gian này vào cùng thời điểm với các dân tộc khác.
Đã 40 năm rồi sau ngày thống nhất đất nước, dưới sự toàn trị, chúng ta càng ngày càng tụt hậu so với bạn bè quốc tế. Tụt hậu ở tất cả các phương diện. Sự toàn trị là nguyên nhân của tụt hậu. Sự toàn trị là chiếc khóa giam cầm bước tiến của dân tộc. Sự toàn trị đã trở thành kẻ thù của dân tộc.
Chìa khóa là dân chủ. Không ai ngăn cấm ta dân chủ. Không kẻ thù nào cản phá ta dân chủ. Dân chủ nằm trong tay chúng ta. Tại sao chúng ta lại ngăn cản chính mình? Tại sao chúng ta lại tự giam hãm mình?
Trời làm thì trách trời. Người làm thì trách người. Nhưng chính mình tự gây ra cho mình thì không thể không khóc.
Đất nước những năm tháng thật buồn.
V. T. D
Vương Trí Dũng Khi viết dòng tiêu đề đầu tiên, nước mắt tôi chan chứa không thể nào kìm được. Người đàn ông đã đi qua hai phần ba cuộc đời, trải qua những năm tháng khó khăn gian khổ, sống sót qua khói bom lửa đạn, mà có thể mềm lòng đến thế này ư?
Không, không chỉ riêng mình tôi, chắc chắn có hàng vạn người đàn ông đã mềm lòng như thế. Đất nước những năm tháng thật buồn.
Giả dối lộng hành
Sẽ có người nói là quá quắt. Chỉ nhìn thấy mảng đen. Không đó là sự thật.
Không chỉ giả đối để lừa đảo trộm cắp. Sự giả dối đó có từ ngàn đời và không bao giờ hết. Nhưng sự giả dối trong xã hội ta hiện nay ở mức đau đớn bởi vì nó hiện diện khắp mọi nơi với mức độ đáng sợ.
Xã hội hiện đại là một xã hội thị trường nơi mà hàng hóa ngự trị. Và ta thử nhìn lại xem, có nơi nào là không có hàng hóa giả. Ngay cả những lĩnh vực nguy hiểm cho sinh mạng con người như thuốc men thực phẩm cũng không ngoại lệ.
Không chỉ là hàng hóa, đến giấy tờ bằng cấp cũng giả. Thậm chí đến con người cũng giả.
Sự giả dối không chỉ trong hàng hóa hay hành động. Sự giả dối lộng tràn trong cả nhận thức và hành vi. Không chỉ trong người dân mà trong toàn bộ bộ máy công quyền. Lấy một vài thí dụ cụ thể.
Để vào bộ máy công quyền, từ vị trí lao công cho đến lãnh đạo, không vị trí nào mà không mất tiền. Điều này ai cũng biết. Nhưng khi các cơ quan chức năng điều tra việc chạy chức chạy quyền thì không phát hiện ra. Thật là một sự giả dối trớ trêu.
Có ai trong bộ mấy công quyền không thấy hệ thống của chúng ta có lỗi phải cải cách căn bản? Có ai trong bộ máy công quyền không thấy cái đuôi “Định hướng Xã hội Chủ nghĩa” là vô nghĩa? Có ai trong bộ máy công quyền không thấy ghi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam vào Hiến Pháp là phi lý? Tất cả họ đều thấy nhưng đều giả vờ không thấy. Đó mới là sự giả dối đáng kinh sợ.
Do những người trong bộ máy công quyền giả dối nên xã hội đang được điều hành bằng một bộ máy giả dối. Bộ máy giả dối không chỉ vì những người tham gia có hành vi giả dối. Mà sâu xa hơn, bộ máy giả dối bởi nó không xứng đáng được quản lý. Tất cả những điều giả dối đang tồn tại ngập tràn trong xã hội bởi chính vì xã hội đang được điều hành bởi một bộ máy quản lý giả dối. Đó là tai họa kinh khủng.
Sự truy sát bạo tàn thời trung cổ
Edward Snowden gây ra biết bao nhiêu khó khăn cho chính phủ Mỹ, nhưng bố mẹ của anh ta vẫn bình yên vô sự. Osama Bin Laden bị truy sát khắp mọi nơi, nhưng người thân họ hàng không ai bị truy sát.
Nhưng ở chế độ Stalin, Mao Trạch Đông và mọi nơi mà các Đảng Cộng sản thống trị, chỉ cần tuyên bố 4 từ “Kẻ thù chế độ”, “Kẻ thù nhà nước”, “Kẻ thù giai cấp”, là bị thủ tiêu không cần xét xử. Không chỉ có thế, bố mẹ, vợ con, anh em họ hàng, bạn bè đều bị liên đới, bị truy sát, bị đe dọa, bị quản thúc, bị cô lập, bị ngược đãi. Không chỉ một năm, mà cả đời. Không chỉ ở quê nhà, mà khắp mọi nơi cư trú. Một kiểu truy sát bạo tàn kiểu Thương Ưởng.
Đã 69 năm sau ngày cách mạng tháng Tám, nhưng vẫn phải kê khai lý lịch: thành phần trước cách mạng tháng Tám, trong cải cách ruộng đất… Các thế hệ sinh ra trong các thập niên 80, 90 trở lại đây có liên quan gì mà phải phân biệt? Đẻ ra ở đâu, đẻ ra lúc nào không phải là người Việt ư? Chuyện của hôm qua là của hôm qua, sao phải đeo đẳng mãi về sau?
Đã hơn 400 năm rồi, ở châu Âu chỉ thực thi chính sách ai làm người đó chịu. Đằng sau sự dân chủ là một triết lý ngời sáng: Tự do thể hiện. Chỉ có không liên lụy đến bất cứ ai, ngoại trừ bản thân mình, con người mới tự do thể hiện những suy tư sáng tạo, tự do dấn thân vì ước mơ hoài bão. Đó có thể là điều mang lại lợi ích, nhưng cũng có thể là điều tồi tệ. Nhưng cái tôi tự do cho phép mỗi cá nhân được tỏa sáng theo cách của mình. Và xã hội vì thế mà không ngừng phát triển đa dạng. Còn chính sách truy sát bạo tàn thời trung cổ tiêu diệt hết mọi khả năng tỏa sáng, dẫu sự tỏa sáng đó có lợi cho tiến bộ xã hội, nhưng mà bất lợi cho kẻ cầm quyền.
Bất công ngập tràn
Khẩu hiệu của cách mạng là “Người cày có ruộng”. Nhưng chúng ta đã tước đi quyền sở hữu đất đai của người dân. Để ném vào một khái niệm ngu xuẩn: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân”. Thực chất là không thuộc của bất cứ người dân nào cả. Mà chỉ thuộc quyền phán quyết của một thiểu số.
Bởi vậy mới tạo nên hằng hà sa số bất công trong xã hội. Tịch thu, lấy đất đền bù giá rẻ của người này để ban phát cho người khác. Không hoàn toàn vô tư, mà nhiều phần bị chi phối bởi quyền lợi.
Bị thất thoát thảm hại, chúng ta buộc phải đi ngược trở lại, là cổ phần hóa các tài sản của “toàn dân”. Tức là đưa tài sản của nhà nước vào tay một số người. Cũng không phải hoàn toàn vô tư. Mà cũng bởi vì quyền lợi. Bởi thế lại tạo ra một hệ thống bất bình đẳng mới trong xã hội.
Mục tiêu của cái gọi là “Chủ nghĩa Xã hội” là đem lại công bằng cho người dân, nhưng trên thực tế những người cầm quyền đã tạo nên một sự bất bình đẳng phi lý nhất trong lịch sử phát triển dân tộc.
Tiềm lực quốc gia trống rỗng
Một quốc gia hơn 90 triệu dân, đứng thứ 14 trên thế giới, mà thu nhập quốc dân bình quân theo đầu người của Việt Nam chỉ đứng thứ 136/191 vùng quốc gia lãnh thổ (số liệu của Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế ngày 13-2-2014). Tổng thu nhập quốc nội (GDP) của Việt Nam đạt khoảng 170 tỷ USD trong khi Singgapore (5 009 236 người) có GDP là 293 tỷ USD, còn Thái Lan (66 982 746 người) là 370 tỷ USD, và Malaysia (27 763 309 người) đạt 290 tỷ USD.
Đau xót nhất không phải là thứ hạng về thu nhập GDP, mà là tiềm lực công nghiệp – cột sống của sức mạnh kinh tế quốc gia – trống rỗng. Đến cái bu lông cũng không sản xuất được. Vừa qua hãng Samsung đưa ra đơn đặt hàng phụ kiện, nhưng các doanh nghiệp Việt Nam không cung cấp được thậm chí chỉ vỏ điện thoại… là một bằng chứng vô cùng đớn đau.
Chỉ cần nói đến các quốc gia Bắc Âu. Thụy Điển với số dân 9 592 552 người (2013) mà GDP đạt 557,94 tỷ USD. Điều quan trọng hơn là Thụy Điển có nền công nghiệp hàng đầu với những tập đoàn công nghiệp nổi tiếng như Volvo, Ericsson... Năm 2013 xuất khẩu vũ khí của Thụy Điển xếp hàng thứ 11 thế giới. Na Uy có số dân 5 109 059 người, nhưng đạt GDP 512,6 tỷ USD thuộc loại giàu có nhất thế giới. Na Uy có tập đoàn dầu khí khổng lồ Statoil với doanh số 111,6 tỷ USD, tập đoàn thiết bị công nghiệp Norsk Hydro doanh số 16,3 tỷ USD. Còn Đan Mạch (dân số 5 591 000 người) có công nghệ đóng tàu vận tải container bậc nhất thế giới, tập đoàn Novo Nordisk về thiết bị y tế doanh thu 11,6 tỷ USD, có công nghệ xi măng và tourbin gió nhiều nước phải đặt hàng. Phần Lan với dân số 5,4 triệu người và GDP 256,84 tỷ USD (2013), có tập đoàn Nokia danh giá (doanh thu 50,1 tỷ USD), có nền công nghệ lọc dầu Neste Oil tiên tiến (doanh thu 20 tỷ USD). Các nước Bắc Âu, chẳng được “dưới sự lãnh đạo” của ai cả, chẳng phải “định hướng” về đâu cả, mà có nền kinh tế và đời sống xã hội phồn hoa giàu có bậc nhất địa cầu.
Có thể lấy một thí dụ khác là Israel. Dân số vỏn vẹn có 8 252 500 người, nhưng GDP của Israel xếp thứ 16 trên thế giới với 291,36 tỷ USD. Tuy có GDP xấp xỷ Singgapore và thu nhập bình quân đầu người đứng sau Singapore, nhưng Israel xếp thứ 8 về xuất khẩu vũ khí. Tiềm lực của Israel rất khác biệt với Singapore. Singapore giàu có cơ bản vì thương mại, còn Israel hùng mạnh vì khoa học và công nghiệp. Israel xứng đáng là một cường quốc.
Còn Việt Nam thân yêu chúng ta? Càng nghĩ càng ứa nước mắt.
Bị ngoại bang chèn ép
Vì đói nghèo tụt hậu nên bị ngoại bang chèn ép. Bị lũng đoạn về kinh tế. Bị chi phối về nhân sự. Bị ảnh hưởng về đường lối. Bị xâm hại cả tài nguyên lẫn lãnh thổ.
Trong hai mươi lăm năm gần đây, mỗi ngày một thêm bị lệ thuộc vào Trung Quốc. Điều nguy hiểm không chỉ là nền kinh tế bị Trung Quốc chi phối mà còn ở chỗ người Trung Quốc đang tràn sang sống khắp mọi nơi trên đất Việt Nam. Thảm họa kinh tế có thể khắc phục. Nhưng tai vạ sắc tộc thì khó có thể vượt qua.
Dân tộc bị phân biệt
Mọi dân tộc sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa không đẻ ra sang hèn. Nhưng người Việt Nam bị tra xét thảm hại mỗi lần qua biên giới. Công dân Việt Nam không được bảo vệ, bị xem thường, bị ngược đãi nhiều nơi trên đất nước người.
Những người phụ nữ Việt Nam dịu hiền đáng yêu, chịu thương chịu khó, bị bán đi tìm chồng xứ khác, bị liệt vào hàng thấp cấp, bị trả tiền rẻ mạt ở những chốn ăn chơi.
Tạo hóa không sinh ra đẳng cấp. Con người tự làm nên đẳng cấp. Tất cả là do đói nghèo tụt hậu.Tất cả bởi lỗi tại chính mình.
Ai bắt chúng ta phải đói nghèo?
Trước đây chúng ta nói rằng dân chúng bị lầm than khổ cực là do thực dân phong kiến. Chúng ta đã đánh đuổi thực dân, đã lật đổ phong kiến mà sao không tránh được đói nghèo lầm than? Đừng nghĩ rằng đói nghèo là chỉ bởi thiếu ăn, lầm than là phải lao động khổ cực. Đói nghèo lầm than còn phải hiểu là so với ai và ở vị trí nào trên thế gian này vào cùng thời điểm với các dân tộc khác.
Đã 40 năm rồi sau ngày thống nhất đất nước, dưới sự toàn trị, chúng ta càng ngày càng tụt hậu so với bạn bè quốc tế. Tụt hậu ở tất cả các phương diện. Sự toàn trị là nguyên nhân của tụt hậu. Sự toàn trị là chiếc khóa giam cầm bước tiến của dân tộc. Sự toàn trị đã trở thành kẻ thù của dân tộc.
Chìa khóa là dân chủ. Không ai ngăn cấm ta dân chủ. Không kẻ thù nào cản phá ta dân chủ. Dân chủ nằm trong tay chúng ta. Tại sao chúng ta lại ngăn cản chính mình? Tại sao chúng ta lại tự giam hãm mình?
Trời làm thì trách trời. Người làm thì trách người. Nhưng chính mình tự gây ra cho mình thì không thể không khóc.
Đất nước những năm tháng thật buồn.
V. T. D

