Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Thảm họa từ sân sau cửa hậu
Bùi Tín (Blog VOA)
Gần đây, nhiều bài viết và phỏng vấn từ trong nước làm rùm beng về một định nghĩa mới của khái niệm “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,” cho rằng đây là một định nghĩa mới mẻ, sáng tạo, rất nên thảo luận rộng rãi để áp dụng vào cuộc sống.
Cái định nghĩa mới ấy là gì? Là: “Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là sự vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Việt Nam trong thời kỳ hiện đại và hội nhập quốc tế,” lấy ra từ dự thảo văn kiện Ðại Hội XII, chưa được công bố chính thức cho toàn đảng và toàn dân tham gia góp ý.
Ðó là một định nghĩa dài dòng, lòng thòng hơn trước, có thêm 2 chữ “Việt Nam,” thêm các chữ “vận hành đầy đủ, đồng bộ các quy luật của kinh tế thị trường” và thêm, “phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước trong thời hiện đại và hội nhập quốc tế.”
Cái định nghĩa này kéo dài ra như để có vẻ làm dáng, cao xa, thông thái hơn, nhưng thật ra vẫn còn hoàn toàn tù mù, mơ hồ như cũ, vì nó không hề cho biết nội hàm của khái niệm “xã hội chủ nghĩa” là gì, nó là cái chi chi? Xin nhắc lại nhận định của ông bộ trưởng Kế Hoạch và Ðầu Tư Bùi Quang Vinh: “Cái định hướng XHCN làm gì có thật trong thực tế mà cứ mất công đi tìm?” Ý kiến xác đáng này vẫn không hề được giải tỏa trong cái định nghĩa lòng thòng mới, có vẻ kinh điển và sáng tạo.
Còn có nhiều vấn đề không kém phần hệ trọng. Khi còn sống, Thủ Tướng Võ Văn Kiệt đã chỉ ra một trong những điều nguy hiểm tệ hại nhất. Ðó là những cán bộ của đảng CS vừa được phân công nắm chính sách, lại chính những người đó lại được giao cho trách nhiệm điều hành việc kinh doanh các tổng công ty và công ty kinh doanh của nhà nước. Ðó là cái nguy cơ “vừa đá bóng vừa thổi còi,” lý do chính làm cho cả nền kinh tế và nền tài chính hỗn loạn. Ông Kiệt nói rõ đây là kinh nghiệm sinh động do ông Lý Quang Diệu trình bày kỹ càng qua kinh nghiệm sống của Singapore.
Ông Kiệt cho rằng các bộ trưởng, thứ trưởng, viện trưởng, vụ trưởng, v.v... là những người chuyên nắm chính sách, quản lý việc thi hành chính sách không được kiêm nhiệm làm kinh doanh trong các tổng công ty hay các ngân hàng của nhà nước. Nếu làm ẩu, lẫn lộn chức năng như thế sẽ làm chính sách không nghiêm, bị méo mó, kinh doanh bị hỗn loạn, nhà nước, công quỹ, ngân sách, nghĩa là tiền của nhân dân sẽ bị tổn thất, mất mát quy mô lớn vào túi các quan tham.
Thủ Tướng Võ Văn Kiệt thay Ðỗ Mười làm thủ tướng từ năm 1991 đến năm 1997, sau đó là Phan Văn Khải, người miền Nam được đào tạo từ Liên Xô cũ. Từ năm 1989 đã có Ủy ban Nhà Nước về hợp tác và đầu tư của chính phủ để chỉ đạo công tác hợp tác và đầu tư với nước ngoài. Tháng 6 năm 2005, ông Khải ký Quyết Ðịnh 151, thành lập tổng công ty đầu tư kinh doanh vốn nhà nước - SCIC - State Capital Investment Corporation. Thảm họa kinh tế tài chính ngày càng lớn của đất nước ta bắt đầu từ đây, theo đúng dự báo của ông “thầy” Lý Quang Diệu, trúng theo mối lo lớn của ông Kiệt, đúng lúc khi nguồn FDI và ODA bắt đầu chảy vào dồi dào.
Trong ban chỉ đạo, điều hành SCIC do thủ tướng chỉ định đều là các chức sắc của chính phủ và các bộ, gồm các phó thủ tướng, bộ trưởng, thứ trưởng các ngành kinh tế tài chính. Từ đó, các vị này vừa làm chức vụ quản lý chính sách ở cổng trước, ở “công đường,” ăn lương to của nhà nước do “tay cầm chính sách, tay cầm chủ trương,” còn ở cổng sau, cổng hậu, còn gọi là sân sau, là tham gia cái gọi là “điều hành kinh doanh” bằng vốn ê hề của nhà nước, tức là của nhân dân, để được ăn chia lãi lớn, lãi nhỏ, ăn chia “hoa hồng,” tiền thưởng khi mỗi dự án được thông qua và thực hiện, trong khi đất nước có dăm bảy ngàn dự án lớn nhỏ có giá trị vài chục tỷ đôla mỗi năm. Hàng trăm phong bì nặng nhận từ cổng hậu, sân sau mỗi tháng cho mỗi vị có thể dự đoán là gấp trăm lần lương chính. Nó được chia cho những ai? Cho các vị trong Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, UƯy Ban Kiểm Tra Trung Ương Ðảng, Tổng Thanh Tra Chính Phủ, trưởng Ban Kiểm Toán của nhà nước... do bộ tứ cao nhất của quyền lực đồng thuận điều phối phân chia. Chả thế mà có vị ở trong cuộc lớn tiếng cho rằng “đầu tư 10 tỷ mà thất thoát 1 tỷ là chuyện bình thường”! Do đó mà rất nhiều công ty quốc doanh lãi thật nhưng lỗ giả, luôn thực hiện 2, 3 bản báo cáo, kế toán, thống kê khác nhau, 1 cho bản thân lưu giữ (tuyệt mật), 1 cho cấp trên (mật), 1 nữa cho hồ sơ công khai được cấp trên duyệt.
Ðây là cuộc tham nhũng công khai, “hợp pháp,” cuộc ăn cắp khổng lồ của “nhà nước nhân dân,” của “đảng CS của dân, do dân, vì dân,” được che đậy kín đáo, không lộ liễu như những cuộc cướp đất của các cường hào cộng sản ở khắp nơi, tệ hại không kém.
Chính đây là lý do tại sao tài sản của các quan chức CS tham nhũng lại kinh khủng đến vậy, như Nông Ðức Mạnh, Lê Khả Phiêu, Trần Văn Truyền, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Trường Tô, Trần Ðại Quang, Dương Chí Dũng, Phạm Quý Ngọ,... đều lớn gấp bội các nhà điền chủ Nam bộ xưa, các đại địa chủ và tư bản thời Pháp.
Ở một nước nhà nước pháp quyền như ở Pháp, các chức vụ quản lý nhà nước về hành chính không được lẫn lộn, trà trộn với chức vụ kinh doanh của các công ty nhà nước. Các tổng giám đốc các công ty quốc doanh điện lực, hơi đốt, đường sắt, xây dựng nhà cửa, công trình giao thông... đều được các bộ giám sát, thanh tra, kiểm tra kỹ theo luật và luật pháp rất nghiêm mật, người đá bóng không được cầm còi, kẻ cầm còi không được đụng vào bóng. Khi xảy ra trường hợp lẫn lộn như thế, pháp luật sẽ can thiệp ngay, họ gọi đó là trường hợp “xung đột lợi ích” (conflit d'intérêt) - nghĩa là theo lợi ích chung thì cá nhân bị thiệt, nhưng theo lợi ích riêng thì nhà nước bị thiệt. Do đó anh muốn là nhà kinh doanh thì không được tham gia nắm chính sách nhà nước, nếu muốn nắm chính sách thì không được tham gia kinh doanh vốn của nhà nước, sẽ làm rối loạn xã hội, thiệt hại cho đất nước, bất công lan tràn, xã hội không thể yên ổn, thanh bình.
Thật là nẫu cả ruột khi thấy trên sân khấu chính trị nước nhà, đảng CS vẫn cứ vừa đá bóng vừa thổi còi, không giống ai. Ðảng nắm tuốt, quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, ngôn luận, kinh doanh, thanh tra, kiểm tra. Thảm họa của dân tộc chính là ở đây.
Bùi Tín (Blog VOA)
Gần đây, nhiều bài viết và phỏng vấn từ trong nước làm rùm beng về một định nghĩa mới của khái niệm “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,” cho rằng đây là một định nghĩa mới mẻ, sáng tạo, rất nên thảo luận rộng rãi để áp dụng vào cuộc sống.
Cái định nghĩa mới ấy là gì? Là: “Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là sự vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Việt Nam trong thời kỳ hiện đại và hội nhập quốc tế,” lấy ra từ dự thảo văn kiện Ðại Hội XII, chưa được công bố chính thức cho toàn đảng và toàn dân tham gia góp ý.
Ðó là một định nghĩa dài dòng, lòng thòng hơn trước, có thêm 2 chữ “Việt Nam,” thêm các chữ “vận hành đầy đủ, đồng bộ các quy luật của kinh tế thị trường” và thêm, “phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước trong thời hiện đại và hội nhập quốc tế.”
Cái định nghĩa này kéo dài ra như để có vẻ làm dáng, cao xa, thông thái hơn, nhưng thật ra vẫn còn hoàn toàn tù mù, mơ hồ như cũ, vì nó không hề cho biết nội hàm của khái niệm “xã hội chủ nghĩa” là gì, nó là cái chi chi? Xin nhắc lại nhận định của ông bộ trưởng Kế Hoạch và Ðầu Tư Bùi Quang Vinh: “Cái định hướng XHCN làm gì có thật trong thực tế mà cứ mất công đi tìm?” Ý kiến xác đáng này vẫn không hề được giải tỏa trong cái định nghĩa lòng thòng mới, có vẻ kinh điển và sáng tạo.
Còn có nhiều vấn đề không kém phần hệ trọng. Khi còn sống, Thủ Tướng Võ Văn Kiệt đã chỉ ra một trong những điều nguy hiểm tệ hại nhất. Ðó là những cán bộ của đảng CS vừa được phân công nắm chính sách, lại chính những người đó lại được giao cho trách nhiệm điều hành việc kinh doanh các tổng công ty và công ty kinh doanh của nhà nước. Ðó là cái nguy cơ “vừa đá bóng vừa thổi còi,” lý do chính làm cho cả nền kinh tế và nền tài chính hỗn loạn. Ông Kiệt nói rõ đây là kinh nghiệm sinh động do ông Lý Quang Diệu trình bày kỹ càng qua kinh nghiệm sống của Singapore.
Ông Kiệt cho rằng các bộ trưởng, thứ trưởng, viện trưởng, vụ trưởng, v.v... là những người chuyên nắm chính sách, quản lý việc thi hành chính sách không được kiêm nhiệm làm kinh doanh trong các tổng công ty hay các ngân hàng của nhà nước. Nếu làm ẩu, lẫn lộn chức năng như thế sẽ làm chính sách không nghiêm, bị méo mó, kinh doanh bị hỗn loạn, nhà nước, công quỹ, ngân sách, nghĩa là tiền của nhân dân sẽ bị tổn thất, mất mát quy mô lớn vào túi các quan tham.
Thủ Tướng Võ Văn Kiệt thay Ðỗ Mười làm thủ tướng từ năm 1991 đến năm 1997, sau đó là Phan Văn Khải, người miền Nam được đào tạo từ Liên Xô cũ. Từ năm 1989 đã có Ủy ban Nhà Nước về hợp tác và đầu tư của chính phủ để chỉ đạo công tác hợp tác và đầu tư với nước ngoài. Tháng 6 năm 2005, ông Khải ký Quyết Ðịnh 151, thành lập tổng công ty đầu tư kinh doanh vốn nhà nước - SCIC - State Capital Investment Corporation. Thảm họa kinh tế tài chính ngày càng lớn của đất nước ta bắt đầu từ đây, theo đúng dự báo của ông “thầy” Lý Quang Diệu, trúng theo mối lo lớn của ông Kiệt, đúng lúc khi nguồn FDI và ODA bắt đầu chảy vào dồi dào.
Trong ban chỉ đạo, điều hành SCIC do thủ tướng chỉ định đều là các chức sắc của chính phủ và các bộ, gồm các phó thủ tướng, bộ trưởng, thứ trưởng các ngành kinh tế tài chính. Từ đó, các vị này vừa làm chức vụ quản lý chính sách ở cổng trước, ở “công đường,” ăn lương to của nhà nước do “tay cầm chính sách, tay cầm chủ trương,” còn ở cổng sau, cổng hậu, còn gọi là sân sau, là tham gia cái gọi là “điều hành kinh doanh” bằng vốn ê hề của nhà nước, tức là của nhân dân, để được ăn chia lãi lớn, lãi nhỏ, ăn chia “hoa hồng,” tiền thưởng khi mỗi dự án được thông qua và thực hiện, trong khi đất nước có dăm bảy ngàn dự án lớn nhỏ có giá trị vài chục tỷ đôla mỗi năm. Hàng trăm phong bì nặng nhận từ cổng hậu, sân sau mỗi tháng cho mỗi vị có thể dự đoán là gấp trăm lần lương chính. Nó được chia cho những ai? Cho các vị trong Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, UƯy Ban Kiểm Tra Trung Ương Ðảng, Tổng Thanh Tra Chính Phủ, trưởng Ban Kiểm Toán của nhà nước... do bộ tứ cao nhất của quyền lực đồng thuận điều phối phân chia. Chả thế mà có vị ở trong cuộc lớn tiếng cho rằng “đầu tư 10 tỷ mà thất thoát 1 tỷ là chuyện bình thường”! Do đó mà rất nhiều công ty quốc doanh lãi thật nhưng lỗ giả, luôn thực hiện 2, 3 bản báo cáo, kế toán, thống kê khác nhau, 1 cho bản thân lưu giữ (tuyệt mật), 1 cho cấp trên (mật), 1 nữa cho hồ sơ công khai được cấp trên duyệt.
Ðây là cuộc tham nhũng công khai, “hợp pháp,” cuộc ăn cắp khổng lồ của “nhà nước nhân dân,” của “đảng CS của dân, do dân, vì dân,” được che đậy kín đáo, không lộ liễu như những cuộc cướp đất của các cường hào cộng sản ở khắp nơi, tệ hại không kém.
Chính đây là lý do tại sao tài sản của các quan chức CS tham nhũng lại kinh khủng đến vậy, như Nông Ðức Mạnh, Lê Khả Phiêu, Trần Văn Truyền, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Trường Tô, Trần Ðại Quang, Dương Chí Dũng, Phạm Quý Ngọ,... đều lớn gấp bội các nhà điền chủ Nam bộ xưa, các đại địa chủ và tư bản thời Pháp.
Ở một nước nhà nước pháp quyền như ở Pháp, các chức vụ quản lý nhà nước về hành chính không được lẫn lộn, trà trộn với chức vụ kinh doanh của các công ty nhà nước. Các tổng giám đốc các công ty quốc doanh điện lực, hơi đốt, đường sắt, xây dựng nhà cửa, công trình giao thông... đều được các bộ giám sát, thanh tra, kiểm tra kỹ theo luật và luật pháp rất nghiêm mật, người đá bóng không được cầm còi, kẻ cầm còi không được đụng vào bóng. Khi xảy ra trường hợp lẫn lộn như thế, pháp luật sẽ can thiệp ngay, họ gọi đó là trường hợp “xung đột lợi ích” (conflit d'intérêt) - nghĩa là theo lợi ích chung thì cá nhân bị thiệt, nhưng theo lợi ích riêng thì nhà nước bị thiệt. Do đó anh muốn là nhà kinh doanh thì không được tham gia nắm chính sách nhà nước, nếu muốn nắm chính sách thì không được tham gia kinh doanh vốn của nhà nước, sẽ làm rối loạn xã hội, thiệt hại cho đất nước, bất công lan tràn, xã hội không thể yên ổn, thanh bình.
Thật là nẫu cả ruột khi thấy trên sân khấu chính trị nước nhà, đảng CS vẫn cứ vừa đá bóng vừa thổi còi, không giống ai. Ðảng nắm tuốt, quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, ngôn luận, kinh doanh, thanh tra, kiểm tra. Thảm họa của dân tộc chính là ở đây.
Tổng Trọng, Tướng Quang “Qui Mã”
Bùi Văn Phú Tổng Trọng là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, còn Tướng Quang là Đại tướng Trần Đại Quang, bộ trưởng công an. Theo dự kiến, năm nay hai ông sẽ “qui mã”, tức là qua Mỹ, theo cách nói lóng. Với nhiều người Việt, qua Mỹ là dấu hiệu sẽ có những điều tốt đẹp cho tương lai đời mình.
Chuyến đi Mỹ của ông Trọng sẽ là một sự kiện đặc biệt trong quan hệ hai nước, vì không như quan hệ Việt-Trung đặt nặng trên nền móng giữa hai đảng cộng sản, quan hệ Việt-Mỹ không như thế.
Nếu Tổng Trọng đến Mỹ trên cương vị một tổng thống thì chuyện đón tiếp không có gì rắc rối. Nhưng đây là lần đầu tiên người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam thăm Mỹ mà không có người tương nhiệm, hay đối tác, trên phương diện lãnh đạo giữa hai quốc gia.
Thực ra ở Mỹ cũng có Đảng Cộng sản, nhưng chỉ là một đảng rất nhỏ trong số chục đảng chính trị ở Hoa Kỳ. Đảng Cộng sản Mỹ không có tổng bí thư mà đứng đầu hiện nay là Chủ tịch Toàn quốc John Bachtell. Đảng thành lập từ năm 1919, có chi bộ ở Chicago, ở miền bắc California, ở bang Connecticut và Ohio.
Việc Tổng Trọng qua Mỹ chắc chắn là không phải do lời mời của Đảng Cộng sản Mỹ. Nhưng không rõ ai trong chính quyền Mỹ đã mời, vì ông Trọng là người đứng đầu một đảng cầm quyền trong một quốc gia với chế độ độc đảng. Tuy không có vai trò điều hành đất nước nhưng với chức tổng bí thư đảng, ông có quyền lực và ảnh hưởng trong chính trường Việt Nam.
Vì không phải là người trong guồng máy lãnh đạo như tổng thống, thủ tướng hay chủ tịch của một nước, vì thế chuyện lễ tân đón tiếp ông Trọng sẽ phức tạp. Đã có nguồn tin nói rằng Tổng thống Barack Obama sẽ không đón tiếp ông tại Bạch Ốc. Các lãnh đạo khác của Việt Nam là Thủ tướng Phan Văn Khải, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết và Chủ tịch Trương Tấn Sang khi thăm Hoa Kỳ đều được tổng thống Mỹ đón tiếp trong Bạch Ốc.
Nhìn vào chính sách ngoại giao của Việt Nam với các nước có ảnh hưởng trong khu vực như Trung Quốc, Nga và Hoa Kỳ, sự kiện ông Trọng thăm Mỹ có thể đưa Hà Nội đến gần hơn nữa với Washington, kể từ khi quan hệ Việt-Trung trở nên căng thẳng sau vụ việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 vào thềm lục địa Việt Nam. Hoa Kỳ đã mạnh mẽ phản đối, quốc hội Mỹ ra quyết nghị yêu cầu giữ nguyên trạng biển Đông. Những động thái đó khiến Bắc Kinh phẫn nộ, nói Mỹ không nên can thiệp vào khu vực.
Với chủ trương xoay trục về Đông Á, chuyến thăm Hoa Kỳ của ông Trọng đem hy vọng đưa quan hệ Mỹ-Việt lên cao hơn “đối tác toàn diện” đã được Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang đồng ý vào năm 2013.
Khi ông Trọng đến Thủ đô Washington, dù Tổng thống Obama tiếp ông ở một nơi không phải là Bạch Ốc, vì thủ tục lễ tân không cho phép, thì cũng không là điều quan trọng. Đáng chú ý là hai bên sẽ thảo luận và đồng ý với nhau những gì để nâng tầm quan hệ, vì ông Trọng có quyền lực, nhưng là người bảo thủ nhất trong tứ trụ lãnh đạo tại Hà Nội.
Đã nhiều lần ông Trọng phát biểu kiên quyết bảo vệ và đưa đất nước tiến lên xã hội chủ nghĩa.
Quan điểm của ông khác với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang. Ông Dũng trong một dịp phỏng vấn với báo Đức hồi năm ngoái đã xác định nhân quyền và dân chủ là xu hướng thời đại.
Ông Sang cũng muốn có cải cách chính trị, phản ánh qua những người thân với ông, như cựu tổng biên tập báo Thanh Niên Nguyễn Công Khế, như giáo sư Tương Lai [Nguyễn Phước Tường] đã có những bài viết trên nhật báo New York Times nhấn mạnh đến việc thoát Trung, cần liên minh với Hoa Kỳ và cổ vũ cho một nền tự do báo chí, một xã hội cởi mở hơn về chính trị để Việt Nam mau chóng hội nhập khu vực và toàn cầu.
Sau vụ giàn khoan HD-981 nhiều người Việt đã nhận ra Bắc Kinh không còn là đồng chí. Trong nước đã có nhiều tiếng nói muốn thoát vòng ảnh hưởng của Bắc Kinh được gióng lên. Vì thế chuyến đi Mỹ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được trông đợi có thể đem đến những thay đổi cơ chế cho Việt Nam, đặc biệt là cắt bỏ cái đuôi xã hội chủ nghĩa trong chính sách “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đang được thực hiện. Vì cái đuôi này mà đến nay Việt Nam vẫn chưa được Hoa Kỳ công nhận là một nền kinh tế thị trường. Cũng vì cái đuôi này mà Việt Nam chưa có công đoàn độc lập, chưa có tự do báo chí, tự do truy cập Internet. Đó là những thỏa thuận với WTO, với Hoa Kỳ qua những hiệp định thương mại mà Việt Nam đã ký. Đó cũng là những cản trở trong tiến trình đàm phán liên quan đến Hiệp định Đối tác Thương mại Xuyên Thái Bình Dương TPP.
Tuy nhiên Việt Nam vẫn e dè với phản ứng từ Trung Quốc. Vì nếu cải cách sâu rộng hơn, ngả hơn về phía Mỹ, Hà Nội lo sợ bị Bắc Kinh vả cho một cái mà không kịp đỡ, theo như cách nói của người Hà Nội.
Tháng trước dư luận có vẻ ngạc nhiên khi truyền thông đưa tin Ngoại trưởng John Kerry nhắc lại lời mời Tổng Trọng qua thăm Mỹ. Hôm 6/3 Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius đã chính thức xác nhận năm nay Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ thăm Hoa Kỳ. Đó là dấu chỉ cho thấy Washington muốn có quan hệ tốt hơn với Hà Nội, muốn Việt Nam có chung vị thế với những nước bạn của Mỹ ở Đông Nam Á.
Hoa Kỳ sẵn sàng đón Tổng Trọng và Tướng Quang, nhưng Bộ Chính trị dường như còn chần chừ vì đến lúc này ngày giờ thăm chính thức Hoa Kỳ của ông Trọng cũng chưa rõ.
Cũng như khi tình hình biển Đông căng thẳng vào đầu tháng 5/2014, với giàn khoan HD-981 của Trung Quốc được kéo vào vùng đặc quyền kinh tế trong thềm lục địa Việt Nam, lúc đó Ngoại trưởng John Kerry cũng đã mời Ngoại trưởng Phạm Bình Minh sang Mỹ để tham khảo, nhưng đến tháng 9 nhà ngoại giao hàng đầu của Hà Nội mới có chuyến đi Hoa Kỳ. Trong cùng thời gian đó lại có nhiều quan chức Việt, Trung qua lại giữa Bắc Kinh và Hà Nội để tìm giải pháp giảm căng thẳng trên biển Đông.
Vì thế chuyến đi Mỹ của ông Trọng chắc không xảy ra cho đến sau khi ông đã đi thăm Trung Quốc.
Dù đã đối đầu với nhau qua cuộc chiến đẫm máu ở biên giới năm 1979 và trong vùng quần đảo Trường Sa năm 1988, ngày nay ảnh hưởng của Trung Quốc với Việt Nam khá sâu đậm trong kinh tế và chính trị. Nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam có những lãnh đạo không muốn thoát Trung để phát triển quan hệ tốt hơn với Hoa Kỳ.
Hy vọng chuyến đi Mỹ của Tổng Trọng và Tướng Quang có thể đem đến những thay đổi cho Việt Nam, vì ông Trọng có quan điểm cực kì bảo thủ, kiên quyết bảo vệ thành trì xã hội chủ nghĩa. Còn Tướng Trần Đại Quang nhìn đâu cũng thấy “thế lực thù địch” nên lo sợ diễn biến hoà bình. Công an đã bắt giam nhiều người chỉ vì đưa ra những phát biểu ôn hòa hay chuyển tải thông tin trái nghịch với quan điểm của nhà nước và họ đã bị kết án tù với tội danh “xâm phạm quyền tự do dân chủ”, “tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa” hay “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân.”. Nhiều nhà hoạt động dân chủ thường xuyên bị sách nhiễu, ngăn cản họp mặt, di chuyển.
Mời Tổng Trọng và Tướng Quang sang thăm Hoa Kỳ, lãnh đạo Mỹ hy vọng qua những thảo luận song phương sẽ giúp lãnh đạo Hà Nội hiểu được rằng một xã hội cởi mở hơn, tự do hơn và khu vực kinh tế tư nhân được chú trọng hơn sẽ dễ dàng cho Việt Nam gia nhập TPP, giúp cho nền kinh tế phát triển vững mạnh hơn.
Khi đó Việt Nam sẽ không còn bị ảnh hưởng nhiều từ Trung Quốc.
© 2015 Buivanphu.wordpress.com
Dĩ hư vi thực
Những hư và thực của quyền lực tại Mỹ, Nga, Tầu
Nguyễn-Xuân Nghĩa 1
Trong có một tuần, ba cường quốc quân sự đứng đầu thế giới là Mỹ, Nga, Tầu, bất ngờ dàn ra ba chuyện sáng trưng - mà làm thiên hạ thấy tối mù.
Tại Hoa Kỳ, Tổng Thống Barack Obama hành xử như một... thủ tướng ham đọc báo. Ban tham mưu của ông cho biết rằng tổng thống biết mọi tin chấn động là nhờ báo chí! Tuần qua, Obama đi thăm một trung tâm của Bộ Cựu Chiến Binh tại Phoenix và để nhân sự của các bộ khác giải quyết hay giải thích các vấn đề công vụ nóng hổi. Ông tránh đề cập đến chuyện nóng của thế giới như chiến lược chống quân khủng bố Hồi Giáo, hay lời kêu gọi yểm trợ quân sự của tổng thống Ai Cập, hoặc rủi ro đụng độ quân sự tại Ukraine, v.v...
Mà tổng thống Mỹ có nói thì cũng thừa vì dư luận lại chú ý đến chuyện khác.
Cựu Ngoại Trưởng Hillary Clinton đang vật vã cứu vãn cuộc tranh cử tổng thống chưa thông báo đã có thể vãn tuồng. Có thẩm quyền tất nhiên - như con ong chúa giữa bầy ong thợ - sẽ ra tranh cử năm tới, Hillary lại tự đốt với vụ tai tiếng là khi cầm đầu ngành ngoại giao vào nhiệm kỳ đầu của Obama (2009-2013), bà không sử dụng hệ thống điện thư chính thức, có bảo vệ và tự nhiên được lưu trong công khố thông tin của chính quyền. Mà chỉ dùng trương mục email riêng “cho tiện,” để tự tiện giữ lại hoặc xóa đi mọi dấu tích liên lạc công và tư trong bộ máy công vụ.
Ðấy là việc trái với quy định như chính Hillary đã thông báo trước đây cho bộ máy ngoại giao. Nay thì con ong chúa chỉ còn trông cậy vào bầy ong thợ, các cảm tình viên trung kiên sẽ rót mật cho bà chúa tới cùng. Họ đang vò vẽ như ong.
Trong nền dân chủ Mỹ, sự việc đó dẫn tới câu hỏi là tính chất đáng tin của một người muốn được quốc dân bầu lên để lãnh đạo quốc gia. May cho Hillary là khi bị quay như chong chóng thì thiên hạ lại hỏi Tổng Thống Vladimir Putin của Liên Bang Nga đang ở đâu!
Từ mươi hôm nay, không thấy Putin xuất hiện. Hai thượng đỉnh quan trọng bị hủy vào giờ chót mà Phủ Tổng Thống chẳng có lời giải thích thỏa đáng ngoài sự kiện là ông vẫn khỏe. Thiếu tin là thiên hạ đồn về một tổng thống có sức khỏe của một tay đô vật. Có khi nhảm nhí như ông lén qua Thụy Sĩ thăm một đào nhí vừa sanh con. Có khi rợn mình như ông đã bị ai đó đảo chính.
Theo Hiến Pháp Nga, nếu Putin có mệnh hệ gì thì đương kim Thủ Tướng Dmitri Medvedev - nguyên tổng thống ngồi làm vì cho Putin trong các năm 2008-2012 - sẽ tạm kế nhiệm trước khi dân Nga bầu ra tổng thống khác. Nhưng các nhân vật thân tín kia của Putin có chịu vậy không? Hay là sẽ ra tay, hoặc đã ra ray?
Khác với thế giới Mỹ, là khi Obama đi chơi cù với các đại gia yểm trợ tài chánh, hay uống bia ở đầu ngõ với phó thường dân, thì bàn dân thiên hạ đều được biết, hành tung của tổng thống Nga lại thuộc diện bí mật quốc gia. Cũng bí mật như khi một đối thủ chính trị của Putin là Boris Nemtsov bị hạ sát ngay tại thủ đô chỉ ba ngày trước khi ông ta xuống đường biểu tình.
Nhưng lần này, long thể của Putin lại là vấn đề an ninh, hay hòa bình toàn cầu.
Trước hết, tình hình Ukraine đang gây nhức tim vì khả năng đụng độ quân sự mạnh khi Hoa Kỳ tiếp vận võ khí sát thương cho chính quyền tại Kyiv và gửi lính qua huấn luyện cách sử dụng. Tức là lính Mỹ đang nằm dưới tầm đạn của pháo Nga. Hay nhìn ngược từ nước Nga, binh lính của Minh ước NATO, mà Hoa Kỳ là thành viên, lại xớ rớ gần biên giới Nga.
Giữa tình cảnh căng thẳng ấy, hôm Thứ Tư 11, Ðô Ðốc William Gortney cầm đầu hệ thống phòng thủ NORAD tại Bắc Mỹ - tiếp cận với khu vực cực Bắc của Nga - báo với Quốc Hội Mỹ sự kiện là năm qua các oanh tạc cơ hạng nặng của Nga đã có nhiều phi vụ ra khỏi không phận thường xuyên, chuyện chưa từng thấy từ hồi Chiến Tranh Lạnh. Ông Gortney còn nói đến chi tiết Nga có thể phóng hỏa tiễn tầm xa từ phi cơ, chiếm hạm và tầu ngầm, cho nên hệ thống NORAD sẽ gặp rủi ro lớn.
Khi ấy, ta mới chú ý đến chuyện Hoa Kỳ nhắc Hà Nội về việc cho oanh tạc cơ của Nga sử dụng căn cứ Cam Ranh, với khả năng bắn hỏa tiễn có đầu đạn hạch tâm. Dường như thế giới đang trôi về chốn cũ, thời Chiến Tranh Lạnh, mà con người có máu lạnh là Putin lại im lặng vô tuyến!
Ðấy là lúc giới quan sát quốc tế nhìn qua Bắc Kinh.
Chủ Tịch Tập Cận Bình đã củng cố uy quyền ngang tầm Ðặng Tiểu Bình, mà với màu sắc sùng bái lãnh tụ kiểu Mao Trạch Ðông. Chiến dịch diệt trừ tham nhũng của ông mở rộng và biến thể thành cuộc tranh trừng rộng lớn. Họ Tập khóa chặt hệ thống thông tin và triệt hạ mọi đối thủ gần xa trước sau - kể cả hai chục tướng lãnh và tay chân của hai cựu chủ tịch Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Ðào là Tăng Khánh Hồng và Lệnh Kế Hoạch. Ông lại còn đảo lộn hệ thống tình báo nội bộ trong Bộ Quốc An.
Tập Cận Bình siết chặt hàng ngũ để cứu đảng hay cứu mình?
Nhìn từ bên ngoài, họ Tập đang gặp bài toán của Mikhael Gorbachev khi mở ra để cứu vãn chế độ Xô viết mà lại làm Liên Xô tan rã. Từ kinh nghiệm đó, Tập Cận Bình mới chọn ngả khép vào, mà chưa chắc đã cứu được chế độ khi kinh tế lại trôi vào một chu kỳ suy trầm và giảm phát.
Gorbachev lấy hư làm thực, Tập Cận Bình lấy thực làm hư - mà sau cùng vẫn có thể hư chuyện! Nhìn từ bên ngoài, thì Hoa Kỳ may mắn hơn nhiều...
***
Ngay sau cuộc bầu cử 2014, các chính khách Mỹ đã lật qua tờ lịch 2016 để đánh dấu cuộc tổng tuyển cử sắp tới, khi cử tri sẽ đề cử một tổng thống mới.
Vì bên Cộng Hòa là một sân trống sau tám năm ngồi ngoài Hành pháp nên có gần hai chục nhân vật trực tiếp hoặc gián tiếp xuất hiện như chuẩn ứng viên. Lộ trình rắc rối của họ sẽ là nhiều trận đánh trước và sau vòng sơ bộ tại từng tiểu bang cho đến khi được đa số trong đảng chọn làm thụ ủy của liên danh Cộng Hòa - gồm ứng cử viên tổng thống và phó tổng thống. Những người có tầm nhìn hay tham vọng lớn nhất đều nhắm vào hai vị trí đó trong khi vẫn phải vận động ra tiền cho cuộc chạy việt dã băng đồng.
Ðấy là một trận “marathon” xuyên bang trải qua 21 tháng khi mà thành tích và từng lời phát biểu từ vài chục năm trước lại được phơi bày hoặc bị phanh phui. Thành phần tích cực nhất thì chỉ ngó vào gà nhà cho tới ngày phải đổi ý và tìm ra người hy vọng đắc cử để phần nào thực hiện sở nguyện của mình. Tình trạng bát nháo ấy cũng là cơ hội cho cử tri chọn lựa.
Bên Dân Chủ thì tin chắc rằng Hillary đã tự chuẩn bị cho cuộc đua từ hai chục năm trước, rồi đang giật mình nghĩ lại. Nhưng tính ra thì cũng còn hai chục chính khách có thể giật bó đuốc heo hắt từ tay Hillary để dẫn đảng trở lại Tòa Bạch Cung. Dù có được truyền thông công khai hay kín đáo yểm trợ, họ vẫn gặp quy luật phũ phàng của bầu cử, là có thể bị đánh bại.
Trong suốt 21 tháng này, bộ máy công quyền vẫn chạy, và thị trường vẫn lên xuống theo quy tắc quái đản là chẳng có gì vĩnh viễn trường cửu! Và chẳng ai là không thay thế được.
Dân Mỹ sướng hơn dân Tầu và dân Nga nhiều, vì nếu mua hớ thì vẫn có quyền đổi ý.
Chuyện chỉ có ở nước Mỹ?
Tối Thứ Bảy 14, Jose Espinoza tại Quận Madura ở miền Trung California vừa vồ xế hộp thì bị cảnh sát rượt về tội ăn cắp xe. Biết thống kê tội phạm tại Hoa Kỳ, anh bèn xịt sơn đen lên mặt thành người da đen để tẩu thoát. Mà chẳng thoát. Cảnh sát thoát tội cố tình chiếu cố dân da đen!
Những hư và thực của quyền lực tại Mỹ, Nga, Tầu
Nguyễn-Xuân Nghĩa 1
Trong có một tuần, ba cường quốc quân sự đứng đầu thế giới là Mỹ, Nga, Tầu, bất ngờ dàn ra ba chuyện sáng trưng - mà làm thiên hạ thấy tối mù.
Tại Hoa Kỳ, Tổng Thống Barack Obama hành xử như một... thủ tướng ham đọc báo. Ban tham mưu của ông cho biết rằng tổng thống biết mọi tin chấn động là nhờ báo chí! Tuần qua, Obama đi thăm một trung tâm của Bộ Cựu Chiến Binh tại Phoenix và để nhân sự của các bộ khác giải quyết hay giải thích các vấn đề công vụ nóng hổi. Ông tránh đề cập đến chuyện nóng của thế giới như chiến lược chống quân khủng bố Hồi Giáo, hay lời kêu gọi yểm trợ quân sự của tổng thống Ai Cập, hoặc rủi ro đụng độ quân sự tại Ukraine, v.v...
Mà tổng thống Mỹ có nói thì cũng thừa vì dư luận lại chú ý đến chuyện khác.
Cựu Ngoại Trưởng Hillary Clinton đang vật vã cứu vãn cuộc tranh cử tổng thống chưa thông báo đã có thể vãn tuồng. Có thẩm quyền tất nhiên - như con ong chúa giữa bầy ong thợ - sẽ ra tranh cử năm tới, Hillary lại tự đốt với vụ tai tiếng là khi cầm đầu ngành ngoại giao vào nhiệm kỳ đầu của Obama (2009-2013), bà không sử dụng hệ thống điện thư chính thức, có bảo vệ và tự nhiên được lưu trong công khố thông tin của chính quyền. Mà chỉ dùng trương mục email riêng “cho tiện,” để tự tiện giữ lại hoặc xóa đi mọi dấu tích liên lạc công và tư trong bộ máy công vụ.
Ðấy là việc trái với quy định như chính Hillary đã thông báo trước đây cho bộ máy ngoại giao. Nay thì con ong chúa chỉ còn trông cậy vào bầy ong thợ, các cảm tình viên trung kiên sẽ rót mật cho bà chúa tới cùng. Họ đang vò vẽ như ong.
Trong nền dân chủ Mỹ, sự việc đó dẫn tới câu hỏi là tính chất đáng tin của một người muốn được quốc dân bầu lên để lãnh đạo quốc gia. May cho Hillary là khi bị quay như chong chóng thì thiên hạ lại hỏi Tổng Thống Vladimir Putin của Liên Bang Nga đang ở đâu!
Từ mươi hôm nay, không thấy Putin xuất hiện. Hai thượng đỉnh quan trọng bị hủy vào giờ chót mà Phủ Tổng Thống chẳng có lời giải thích thỏa đáng ngoài sự kiện là ông vẫn khỏe. Thiếu tin là thiên hạ đồn về một tổng thống có sức khỏe của một tay đô vật. Có khi nhảm nhí như ông lén qua Thụy Sĩ thăm một đào nhí vừa sanh con. Có khi rợn mình như ông đã bị ai đó đảo chính.
Theo Hiến Pháp Nga, nếu Putin có mệnh hệ gì thì đương kim Thủ Tướng Dmitri Medvedev - nguyên tổng thống ngồi làm vì cho Putin trong các năm 2008-2012 - sẽ tạm kế nhiệm trước khi dân Nga bầu ra tổng thống khác. Nhưng các nhân vật thân tín kia của Putin có chịu vậy không? Hay là sẽ ra tay, hoặc đã ra ray?
Khác với thế giới Mỹ, là khi Obama đi chơi cù với các đại gia yểm trợ tài chánh, hay uống bia ở đầu ngõ với phó thường dân, thì bàn dân thiên hạ đều được biết, hành tung của tổng thống Nga lại thuộc diện bí mật quốc gia. Cũng bí mật như khi một đối thủ chính trị của Putin là Boris Nemtsov bị hạ sát ngay tại thủ đô chỉ ba ngày trước khi ông ta xuống đường biểu tình.
Nhưng lần này, long thể của Putin lại là vấn đề an ninh, hay hòa bình toàn cầu.
Trước hết, tình hình Ukraine đang gây nhức tim vì khả năng đụng độ quân sự mạnh khi Hoa Kỳ tiếp vận võ khí sát thương cho chính quyền tại Kyiv và gửi lính qua huấn luyện cách sử dụng. Tức là lính Mỹ đang nằm dưới tầm đạn của pháo Nga. Hay nhìn ngược từ nước Nga, binh lính của Minh ước NATO, mà Hoa Kỳ là thành viên, lại xớ rớ gần biên giới Nga.
Giữa tình cảnh căng thẳng ấy, hôm Thứ Tư 11, Ðô Ðốc William Gortney cầm đầu hệ thống phòng thủ NORAD tại Bắc Mỹ - tiếp cận với khu vực cực Bắc của Nga - báo với Quốc Hội Mỹ sự kiện là năm qua các oanh tạc cơ hạng nặng của Nga đã có nhiều phi vụ ra khỏi không phận thường xuyên, chuyện chưa từng thấy từ hồi Chiến Tranh Lạnh. Ông Gortney còn nói đến chi tiết Nga có thể phóng hỏa tiễn tầm xa từ phi cơ, chiếm hạm và tầu ngầm, cho nên hệ thống NORAD sẽ gặp rủi ro lớn.
Khi ấy, ta mới chú ý đến chuyện Hoa Kỳ nhắc Hà Nội về việc cho oanh tạc cơ của Nga sử dụng căn cứ Cam Ranh, với khả năng bắn hỏa tiễn có đầu đạn hạch tâm. Dường như thế giới đang trôi về chốn cũ, thời Chiến Tranh Lạnh, mà con người có máu lạnh là Putin lại im lặng vô tuyến!
Ðấy là lúc giới quan sát quốc tế nhìn qua Bắc Kinh.
Chủ Tịch Tập Cận Bình đã củng cố uy quyền ngang tầm Ðặng Tiểu Bình, mà với màu sắc sùng bái lãnh tụ kiểu Mao Trạch Ðông. Chiến dịch diệt trừ tham nhũng của ông mở rộng và biến thể thành cuộc tranh trừng rộng lớn. Họ Tập khóa chặt hệ thống thông tin và triệt hạ mọi đối thủ gần xa trước sau - kể cả hai chục tướng lãnh và tay chân của hai cựu chủ tịch Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Ðào là Tăng Khánh Hồng và Lệnh Kế Hoạch. Ông lại còn đảo lộn hệ thống tình báo nội bộ trong Bộ Quốc An.
Tập Cận Bình siết chặt hàng ngũ để cứu đảng hay cứu mình?
Nhìn từ bên ngoài, họ Tập đang gặp bài toán của Mikhael Gorbachev khi mở ra để cứu vãn chế độ Xô viết mà lại làm Liên Xô tan rã. Từ kinh nghiệm đó, Tập Cận Bình mới chọn ngả khép vào, mà chưa chắc đã cứu được chế độ khi kinh tế lại trôi vào một chu kỳ suy trầm và giảm phát.
Gorbachev lấy hư làm thực, Tập Cận Bình lấy thực làm hư - mà sau cùng vẫn có thể hư chuyện! Nhìn từ bên ngoài, thì Hoa Kỳ may mắn hơn nhiều...
***
Ngay sau cuộc bầu cử 2014, các chính khách Mỹ đã lật qua tờ lịch 2016 để đánh dấu cuộc tổng tuyển cử sắp tới, khi cử tri sẽ đề cử một tổng thống mới.
Vì bên Cộng Hòa là một sân trống sau tám năm ngồi ngoài Hành pháp nên có gần hai chục nhân vật trực tiếp hoặc gián tiếp xuất hiện như chuẩn ứng viên. Lộ trình rắc rối của họ sẽ là nhiều trận đánh trước và sau vòng sơ bộ tại từng tiểu bang cho đến khi được đa số trong đảng chọn làm thụ ủy của liên danh Cộng Hòa - gồm ứng cử viên tổng thống và phó tổng thống. Những người có tầm nhìn hay tham vọng lớn nhất đều nhắm vào hai vị trí đó trong khi vẫn phải vận động ra tiền cho cuộc chạy việt dã băng đồng.
Ðấy là một trận “marathon” xuyên bang trải qua 21 tháng khi mà thành tích và từng lời phát biểu từ vài chục năm trước lại được phơi bày hoặc bị phanh phui. Thành phần tích cực nhất thì chỉ ngó vào gà nhà cho tới ngày phải đổi ý và tìm ra người hy vọng đắc cử để phần nào thực hiện sở nguyện của mình. Tình trạng bát nháo ấy cũng là cơ hội cho cử tri chọn lựa.
Bên Dân Chủ thì tin chắc rằng Hillary đã tự chuẩn bị cho cuộc đua từ hai chục năm trước, rồi đang giật mình nghĩ lại. Nhưng tính ra thì cũng còn hai chục chính khách có thể giật bó đuốc heo hắt từ tay Hillary để dẫn đảng trở lại Tòa Bạch Cung. Dù có được truyền thông công khai hay kín đáo yểm trợ, họ vẫn gặp quy luật phũ phàng của bầu cử, là có thể bị đánh bại.
Trong suốt 21 tháng này, bộ máy công quyền vẫn chạy, và thị trường vẫn lên xuống theo quy tắc quái đản là chẳng có gì vĩnh viễn trường cửu! Và chẳng ai là không thay thế được.
Dân Mỹ sướng hơn dân Tầu và dân Nga nhiều, vì nếu mua hớ thì vẫn có quyền đổi ý.
Chuyện chỉ có ở nước Mỹ?
Tối Thứ Bảy 14, Jose Espinoza tại Quận Madura ở miền Trung California vừa vồ xế hộp thì bị cảnh sát rượt về tội ăn cắp xe. Biết thống kê tội phạm tại Hoa Kỳ, anh bèn xịt sơn đen lên mặt thành người da đen để tẩu thoát. Mà chẳng thoát. Cảnh sát thoát tội cố tình chiếu cố dân da đen!
Thủ Tướng Netanyahu và gian nan Do Thái
Ông Netanyahu tái đắc cử, mà vấn đề vẫn nguyên vẹn...
Hùng Tâm Sau cuộc bầu cử hôm 17 tại Israel và ngược với nhiều dự đoán, đảng Likud của Thủ Tướng Benjamin Netanyahu vẫn dẫn đầu. Ông Netanyahu sẽ thành lập nội các để trở thành thủ tướng cầm quyền lâu nhất, cho đến nay mới chỉ thua Thủ Tướng David Ben-Gurion, một trong mấy nhà sáng lập quốc gia Israel của dân Do Thái cách nay 65 năm. Nhưng dù có đạt thành tích ấy, ông Netanyahu vẫn không thể đưa Israel ra khỏi những khó khăn nằm bên ngoài lãnh thổ!
Vì sao như vậy, Hồ Sơ Người Việt sẽ tìm hiểu cho quý độc giả.
Một cuộc bầu cử nhức tim... vì hiểu lầm
Trước, trong, và sau khi dân Do Thái vừa đi bỏ phiếu, truyền thông Hoa Kỳ dự đoán là đảng Likud thuộc cánh trung hữu và Thủ Tướng Netanyahu sẽ gặp trở ngại và có khi thất cử sau một cuộc bầu cử khít khao. Ðấy là họ căn cứ trên nhiều bình luận rồi các cuộc khảo sát ý kiến cử tri.
Dự đoán này sai - chuyện dù nhỏ cũng nên chú ý.
Một trong các lý do đoán sai là vì vào mấy ngày cuối, Thủ Tướng Netanyahu đổi lập trường qua hướng cực đoan và đi ngược chủ trương của ông từ sáu năm nay. Ðó là “ngày nào mà còn làm thủ tướng thì ông vẫn không chấp nhận việc thành lập một quốc gia Palestine sống chung cùng quốc gia Israel.” Giới bình luận cho là vì tuyệt vọng, Netanyahu phải từ cánh trung hữu nhích về phía cực hữu để vận động lá phiếu của thành phần cực đoan.
Lập luận ấy cũng sai vì không dựa trên cơ sở của thực tế từ nhiều năm qua: thuộc bất cứ phe nào, lãnh đạo Israel sẽ thương thuyết với ai trong cộng đồng Palestine (người Á Rập, theo Hồi Giáo, cùng sống trên dải Palestine do Israel đang cai trị) về nguyên tắc sống chung giữa hai sắc dân Á Rập và Do Thái? Lý do là phe Fatah tại Tây ngạn sông Jordan thì bất lực, mà lực lượng Hamas trên Dải Gaza lại cực đoan và đòi tiêu diệt xứ Israel. Chúng ta sẽ trở lại việc này.
Một yếu tố gây sai lầm nữa là truyền thông Mỹ chú trọng đến hồ sơ Iran và cuộc thương thuyết đang tiến hành giữa Hoa Kỳ và chính quyền Tehran về kế hoạch chế tạo võ khí hạch tâm. Việc Netanyahu cực lực chống hiệp ước này, đến độ qua Mỹ diễn thuyết trước Quốc Hội Hoa Kỳ đã gây khó chịu cho chính quyền của Tổng Thống Barack Obama. Ít ai thấy rằng nhiều chuyên gia tranh cử của Tổng Thống Obama đã qua đó cố vấn cho đảng Zionist Union thuộc xu hướng trung tả của lãnh tụ Isaas Herzog.
Và sự thật thì đảng Zinonist Union lại có cùng quan điểm với Likud hoài nghi sự cam kết của Tehran, nhưng không ồn ào lên tiếng đến độ gây hấn với Hành pháp Hoa Kỳ. Khác biệt giữa đôi bên thuộc về lãnh vực khác, trước hết là tình hình kinh tế sa sút, kế tiếp là phong cách ngang ngược của ông Netanyahu.
Kết quả sau cùng là đảng Likud được 28 ghế dân biểu, đảng Zionist Union chỉ được có 24 ghế, số còn lại của 120 ghế dân biểu được phân tán trong 23 đảng khác, từ cực tả đến cực hữu, kể cả Liên minh của các chính đảng người Á Rập, được 14 phiếu. Vì dẫn đầu, đảng Likud sẽ thương thảo với các đảng nhỏ để có được đa số 61 ghế và thành lập nội các.
Cuộc tranh cử giữa 25 đảng có một quy định là chỉ được đưa người vào Quốc Hội nếu có được tối thiểu 3.35% số phiếu. Những chi tiết ấy mới thật sự đáng chú ý.
Chính trường và thể chế Israel
Hơn tám triệu dân Do Thái trên một dải đất hẹp, đôi khi “tứ bề thọ địch,” lại theo Ðại Nghị Chế (Quốc Hội mới là cơ chế lãnh đạo), khác với Tổng Thống Chế như của Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa hay vài xứ khác, kể cả nước Pháp thời Ðệ Ngũ Cộng Hòa hiện hành.
Trong thể chế chính trị ấy, Israel lại áp dụng nguyên tắc “trọng tỷ,” proportional, theo đó các chính đảng có số ghế dân biểu, và quyền lực, tương ứng với tỷ lệ của số phiếu. Nguyên tắc rất dân chủ ấy dẫn tới tình trạng tê liệt vì số phiếu được phân tán cho nhiều đảng lớn nhỏ, với vai trò “quả cân” hay quả lắc của các đảng nhỏ. Họ lắc bên nào thì bên ấy có đa số cầm quyền. Khi họ lắc đầu thì bầu lại Quốc Hội.
Giới chính trị học gọi đó là căn bệnh của Ðệ Tứ Cộng Hòa Quatrième République của Pháp trong giai đoạn hậu Thế Chiến II, từ 1946 đến 1958.
Ðệ Tứ Cộng Hòa Pháp bị tê liệt sau khi Pháp “thắng trận” bên phe Ðồng Minh và loay hoay với các bài toán tái thiết, giải thực (từ bỏ chế độ thực dân), an ninh (trước áp lực của Liên bang Xô viết thời Chiến Tranh Lạnh) bên một cường quốc thủ phạm nay là đồng minh, là nước Ðức...
Vì tình trạng tê liệt ấy của Ðệ Tứ Cộng Hòa, Pháp mất hết, từ Ðông Dương sau Hiệp Ðịnh Genève 54 tới Algérie tại Bắc Phi, suýt nữa còn bị nội chiến cho đến khi Tướng Charles de Gaulle trở lại và góp phần lập ra Ðệ Ngũ Cộng Hòa với bản Hiến Pháp mới thiên về Tổng Thống Chế mà nhiều người Pháp cho là độc tài! (Tổng Thống Diệm cũng bị tội đó!)
Israel đang gặp bài toán tương tự, khi tình hình lại nguy ngập gấp bội.
Mỗi lớp di dân lại một quan niệm
Từ thời “Lập quốc” vào năm 1948, quốc gia Israel đã là một tập hợp phức tạp, một phức hợp.
Israel thành hình trước hết là nhờ cộng đồng Do Thái sống tại Âu Châu, nạn nhân của vụ thảm sát và các lò hỏa thiêu của Ðức quốc xã khiến sáu triệu người mất mạng.
Cộng đồng này có đặc tính Âu Châu là tách rời tôn giáo khỏi chính trị, có tinh thần trung tả, thậm chí xã hội chủ nghĩa, và thiên về thể chế Ðại Nghị đang phổ biến tại Âu Châu. Nhưng sau thời lập quốc, khi Israel là Ðất Hứa cho cộng đồng Do Thái toàn cầu, thì nhiều lớp di dân kế tiếp đã đưa ra nhiều câu hỏi và dẫn tới chiều hướng khác.
Lớp di dân đến từ các nước Hồi Giáo thì chú trọng đến bản sắc tôn giáo và văn hóa Do Thái giữa một biển người Hồi Giáo. Lớp di dân đến từ Liên bang Xô viết thì đã biết mặt trái của chế độ Cộng Sản nên có tinh thần “chống Cộng,” dù họ có thể đã làm lại cuộc đời trong các nông trại “kibbutz” có màu sắc xã hội chủ nghĩa, nhưng mang tính chất thành trì, ghetto khá cực đoan.
Sau cùng, Israel còn có thành phần chính trị triệt để tôn sùng Do Thái Giáo nguyên thủy. Họ không ưa quan niệm của Do Thái Âu Châu là tách rời tôn giáo khỏi chính trị, hay nhà nước. Và họ là cốt lõi của khuynh hướng bảo thủ, thần quyền.
Ðể dung hợp và tôn trọng ngần ấy khác biệt, Israel có thể chế Ðại Nghị và nguyên tắc trọng tỷ, khiến các chính đảng nhỏ lại có ảnh hưởng cao hơn thực lực vì giữ vai trò “quả cân.” Ðặc tính ấy có thể là lý tưởng cho các nước nhỏ, sống trong thời bình và không bị ai đe dọa vì mọi xê dịch đều chỉ có hậu quả tối thiểu và không sinh tử. Chứ với quốc gia Israel, đây là sự tê liệt chết người. Giỏi giang hay ác độc như Benjamin Netanyahu thì cũng chẳng làm được gì hơn. Người sẽ kế nhiệm ông cũng thế mà thôi.
Chúng ta sẽ hiểu nếu nhìn rộng ra ngoài.
Israel giữa các tính toán của đại cường
Trước hết, đại cường đồng minh chiến lược của Israel là Hoa Kỳ đang tính toán khác qua nỗ lực hòa giải với Iran.
Chính quyền Obama muốn thực hiện việc đó và tìm cách thoát khỏi áp lực của đối lập với dự tính đưa hồ sơ Iran qua Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc để nhờ quy định của quốc tế mà phá vỡ lực cản của Quốc Hội ở nhà. Hoa Kỳ thì chẳng chết vì thủ thuật chính trị ấy, chứ Israel lại thấy vận mệnh được phó thác cho năm thành viên thường trực của Liên Hiệp Quốc, trong đó có lá phiếu của Liên Bang Nga, một thân chủ của Iran và đối thủ của nước Mỹ.
Iran có lợi thế chế tạo võ khí hạch tâm. Võ khí ấy chẳng thể đe dọa Hoa Kỳ nhưng lại có thể quyết định về sự tồn vong của Israel.
Lồng trong chuyện Iran và Nga lại có mối nguy từ Syria, một nước chư hầu hay thân chủ của Iran. Chính quyền Obama đã dại dột vẽ ra lằn ranh đỏ để sẽ trừng phạt Syria nếu Tổng Thống Bashar al-Assad sử dụng võ khí hóa học có khả năng tàn sát hàng loạt. Khi chuyện ấy xảy ra, Obama xóa luôn lằn ranh đỏ và bán cái cho chính quyền Nga đứng ra giải quyết nên mới bị Tổng Thống Vladimir Putin coi thường và làm ẩu tại Ukraine.
Hai năm sau, hậu quả là Mỹ chấp nhận sống chung hòa bình với chế độ al-Assad tại Damascus. Ngoại Trưởng Mỹ John Kerry xác nhận chuyện ấy vào ngày 15 vừa qua: “Không thể giải quyết xung đột tại Syria bằng biện pháp quân sự, Giải pháp duy nhất có giá trị là chính trị và Hoa Kỳ cùng các đồng minh sẽ phải thương thuyết với Tổng Thống al-Assad.”
Lý do của sự lật lọng ấy là tổ chức khủng bố ISIL đang tung hoành từ Syria qua Iraq, Lybia. Hậu quả của sự lật lọng rất Mỹ cho Israel là Do Thái bị bao vây bởi các kẻ thù bất cộng đới thiên: Iran và các chư hầu như Syria, Hamas tại Dải Gaza, Hezbollah tại Lebanon.
Cũng do chiến lược của Iran, lực lượng cực đoan Hamas mới có tiếng nói mạnh nhất trong cộng đồng người dân Palestine và lấn át tổ chức Fatah ôn hòa hơn. Israel không thể đàm phán với Hamad về sự hiện hữu của một quốc gia Palestine vì với Hamas, sự hiện hữu đó có điều kiện tiên quyết là khai tử Israel.
Ðã vậy, các nước Âu Châu lại đồng ý với Mỹ về việc hòa giải và đưa hồ sơ Iran qua Liên hiệp quốc. Nhân danh quyết định của Hội Ðồng Bảo An, Âu Châu sẽ ra khỏi rào cấm vận mà thoải mái làm ăn với Iran. Israel mất thêm một điểm tựa là Âu Châu, nơi mà tinh thần kỳ thị Do Thái đã tái xuất hiện, nhất là ở tại Pháp.
Thủ Tướng Netanyahu không thể giải quyết ngần ấy vấn đề có tính chất tồn vong. Việc ông dàn xếp với các chính đảng để lập nội các mới chỉ kéo dài nguyên trạng bấp bênh mà thôi.
Kết luận ở đây là gì?
Hãy thận trọng với truyền thông Hoa Kỳ.
Hãy thận trọng với đối sách thất thường của nước Mỹ.
Ðừng tưởng rằng dân Do Thái là thầy hay là chủ của Hoa Kỳ.
Và miền Nam thất trận không vì “lobby Do Thái”!
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
KHI CÁC VỊ DÂN CỬ BẤT TÀI
Mai Loan
Chủ tịch John Boehner sau cuộc biểu quyết thảm bại về ngân sách cho Bộ Nội An (hình REUTERS/Jonathan Ernst)
Chuyện một chính quyền bị chia rẽ (divided government) là điều vẫn thường xảy ra tại những quốc gia có chế độ tổng thống và quốc hội cùng có thực quyền độc lập và do dân chúng bầu lên khi họ ủng hộ hai đảng phái đối nghịch. Hậu quả hiển nhiên trước nhất là nó thường dẫn đến tình trạng cù cưa hục hặc hay ù lì giữa đôi bên vì lập trường chính trị khác nhau khiến cho chính quyền khó có cơ may thực hiện được những chính sách ích quốc lợi dân. Tuy vậy, nó vẫn được người dân chấp nhận và dường như không hối tiếc chút nào về quyết định bỏ phiếu của chính họ trước đó đã lựa chọn như vậy, cho dù là họ đồng tình ủng hộ hoặc là bị dụ dỗ bởi những chính sách tuyên truyền khéo léo của các đảng phái chính trị.
Tại một quốc gia có truyền thống tự do dân chủ lâu đời như nước Pháp trước đây, người dân cũng đã trải qua những thời kỳ chính quyền chia rẽ như vậy dưới thời hai vị tổng thống Francois Mitterand, thuộc đảng Xã Hội khuynh tả (khi quốc hội lại do đảng RPR khuynh hữu nắm quyền) và sau đó là Jacques Chirac thuộc đảng RPR (khi quốc hội lại do đảng Xã Hội giành được đa số). Nói chung, không ai chờ đợi một chính quyền trong thời gian này có thể đưa ra những chính sách đồng thuận để đẩy mạnh guồng máy công quyền do bởi hai bên luôn gầm gừ lẫn nhau và chỉ luôn lo sợ phía bên kia có thể lấn át quyền hành của mình. Tuy vậy, người dân dường như vẫn chấp nhận một hậu quả tương đối xem ra có phần tích cực hơn, đó là hai bên từ nay sẽ giữ vai trò kềm giữ lẫn nhau, nếu không đoàn kết để cùng chung lo việc nước thì ít ra cũng không để bên nào đi quá lố theo khuynh hướng cực hữu hay cực tả.
Tinh thần kềm giữ lẫn nhau này đã được thiết lập sẵn trong hiến pháp của Hoa Kỳ và sau đó cũng là nền tảng trong bộ máy điều hành của nhiều tổ chức hay cơ quan, tư cũng như công, hầu giữ vững cho việc duy trì và phát triển tổ chức trong xã hội một cách tốt đẹp và bền vững. Nó thường được gọi là “kiểm soát và cân bằng” (checks and balances), tức là cho người nắm nhiệm vụ giám sát có luôn quyền quản trị để có thể cân bằng với người đang nắm quyền điều hành. Bằng không thì cái gọi là “hội đồng giám sát”, dù được trao cho trọng trách hay nhiệm vụ rất quan trọng, cũng sẽ bị “hội đồng điều hành” phớt lờ hoặc xem thường, để rồi sau đó sẽ nhanh chóng trở thành một thứ hội đồng bù nhìn, hoặc có khá lắm thì cũng chỉ tạo được những tiếng vang khi lên tiếng chỉ trích hoặc đòi từ chức v.v. . . nhưng thực chất thì cũng không làm thay đổi tình thế.
Vì thế cho nên trong suốt hơn 200 năm lập quốc, cho dù có nhiều lúc vị tổng thống và quốc hội đều cùng một đảng, dù là Cộng Hoà hay Dân Chủ, nhưng vẫn luôn xảy ra tình trạng quốc hội hành xử sự độc lập của mình khi bỏ phiếu chống đối những quyết định đưa ra từ phía Toà Bạch Ốc. Chính vai trò nắm giữ quyền hành độc lập này mà nhiều vị dân biểu và nghị sĩ ở Quốc Hội sẵn sàng lên tiếng hoặc bỏ phiếu chống đối vị tổng thống dù là người cùng đảng với mình mà không sợ bị những hậu quả “trả thù” trong nội bộ. Trong nhiều trường hợp, những vị dân cử này còn được nổi tiếng hơn vì được nhiều người chú ý đến và vẫn luôn được cử tri tại địa phương mình tiếp tục ủng hộ, trong đó có nhiều thành phần cử tri độc lập hoặc thuộc đảng đối lập vì họ nể trọng tinh thần độc lập không a dua theo bè phái này.
Tình trạng chính quyền chia rẽ tại Hoa Kỳ có phần căng thẳng nổi bật bắt đầu cách nay hơn 20 năm khi đảng Cộng Hoà giành được chiến thắng “lịch sử” trong cuộc bầu cử vào năm 1994 với chiêu bài “Contract With America”. Gọi là lịch sử vì đó là lần đầu tiên phe Cộng Hoà đánh bại được một cách rất to lớn và vẻ vang phe Dân Chủ, vốn đã luôn nắm quyền đa số tại Hạ Viện Hoa Kỳ trong một thời gian dài đến 4 thập niên trước đó, mà có lúc người ta tưởng chừng như nó sẽ tiếp tục kéo dài lâu hơn nữa.
Có hai lý do để giải thích sự kiện thay đổi bất ngờ này. Thứ nhất là vì nhiều cử tri đã bị thuyết phục bởi những lời lẽ rất hoa mỹ trong chiêu bài “Contract With America”, với những đề nghị cụ thể về chương trình nghị sự của họ trong những ngày đầu của pháp nhiệm nếu như họ được đắc cử. Kế đến là thái độ bất mãn của khối cử tri, nhất là giới bảo thủ, đối với vị tân tổng thống lúc bấy giờ là Bill Clinton. Trong mắt nhìn của họ, cũng như đối với nhiều cử tri độc lập không theo đảng phái nào, thì ông Clinton chỉ là một chính khách trẻ đầy tai tiếng lăng nhăng về chuyện tình dục, không được đa số người dân ủng hộ (chỉ có 43% số phiếu của cử tri), và đắc cử được nhờ may mắn trước một vị tổng thống là George W. H. Bush đang bị một chính khách khác là nhà tỷ phú Ross Perot bỗng dưng nhảy vào phá bĩnh.
Dĩ nhiên, ông Bush Bố cũng là người gây ra hậu quả này cho chính mình khi nhiều thành phần dân chúng bảo thủ cực hữu không còn hăng hái ủng hộ khi ông quyết định thoả hiệp với phe Dân Chủ để thông qua việc tăng thuế hầu giải quyết khó khăn về ngân sách của nước Mỹ (một quyết định rất đúng đắn và can đảm). Họ đã chỉ trích hoặc chế riễu ông về tội phản bội lại lời hứa rất nổi tiếng của trước đó vào năm 1988 khi ông nói: “Read My Lips: No New Taxes” (Hãy đọc kỹ lời tôi nói: Sẽ Không Có Việc Đóng Thuế Mới). Từ đó, họ không còn tích cực ủng hộ, và tẩy chay ông Bush Bố, hoặc thậm chí có thể quay sang bỏ phiếu cho ông Ross Perot như là một hình thức cảnh cáo cho bõ ghét.
Điều trớ trêu là trước đó chưa đầy một năm, TT Bush Bố được đa số dân chúng Mỹ ủng hộ và đề cao như một người anh hùng, một lãnh tụ tài ba, nhất là sau chiến thắng dễ dàng và không tốn kém trong cuộc chiến tấn công Iraq của lãnh tụ độc tài Saddam Hussein vào năm 1991. Điều này cho thấy là sự suy nghĩ và lá phiếu của dân chúng Mỹ nhiều khi thay đổi rất nhanh chóng, tự mâu thuẫn với chính mình, và khoảng thời gian 1 hay 2 năm là một thời gian rất dài trong chính trường, với những thay đổi bất ngờ nhiều khi khó tiên đoán được, một chi tiết mà dường như rất nhiều nhà báo tiếng Việt thường không để ý đến.
Do vậy, đa số cử tri lúc bấy giờ có thể không mấy ưa thích vợ chồng ông Clinton, nhất là với đề nghị đòi cải tổ mạnh bạo chính sách bảo hiểm y tế đại chúng đề ra vào năm 1993, nên họ sẵn sàng bỏ phiếu đối nghịch qua việc ủng hộ cho đảng Cộng Hoà nắm quyền đa số tại Hạ Viện. Tuy những lãnh tụ mới của phe Cộng Hoà lúc bấy giờ như ông Newt Gingrich cũng hung hăng chống đối, dẫn đến hậu quả chính phủ phải đóng cửa một thời gian vì tranh cãi về ngân sách, nhưng họ cũng vẫn chấp nhận ngồi lại với nhau để thương thuyết hoặc thoả hiệp. Nhất là sau khi phe Cộng Hoà học được bài học thực tế là ông Clinton vẫn còn có quyền hành rất vững mạnh là quyền phủ quyết (veto) để bác bỏ tất cả những dự luật của phe bảo thủ đưa ra, và quan trọng hơn nữa là đa số dân chúng lại đổ lỗi nhiều hơn về đảng Cộng Hoà trong vụ chính phủ phải đóng cửa.
Tuy đôi bên đã thoả hiệp và tương nhượng để thông qua nhiều đạo luật, trong đó có đạo luật cải tổ chính sách trợ giúp phúc lợi cho người nghèo (thường gọi là welfare reform) vào năm 1996, nhưng tinh thần kình chống hay đố kỵ lẫn nhau vẫn còn rất cao, điển hình là việc các dân biểu Cộng Hoà tìm cách khai thác chuyện lem nhem tình dục của ông Clinton để đưa ra xét xử đòi bãi nhiệm. Nhưng kết quả là họ vẫn thất bại khi Thượng Viện không đồng ý, và quan trọng hơn nữa, là dư luận của người dân trong nước đa số không đồng tình với chính sách tấn công cá nhân kiểu này.
Điều nghịch lý buồn cười là sau này người ta phát giác ra những dân biểu lên án ông Clinton về tội vô luân mạnh mẽ nhất lại là những nhân vật còn bê bối hơn nhiều trong chuyện tình ái lem nhem với những tội danh như ngoại tình, bỏ bê vợ con v.v. như các ông Newt Gingrich, Bob Livingston, Dan Burton, Henry Hyde, John Ensign (sau thành nghị sĩ tại Nevada), Mark Sanford (sau này làm thống đốc South Carolina). Những khuôn mặt này sau đó phải xin từ chức như các ông Ensign hoặc Sanford khi nội vụ đổ bể, hoặc phải từ chức khi sắp sửa được làm chủ tịch Hạ Viện (như ông Livingston).
Nhưng đến thời ông Obama lên làm tổng thống thì sự kình chống giữa đôi bên đã lên đến cực điểm, với lý do chính không gì khác hơn là tinh thần kỳ thị mầu da vẫn còn khá nặng trong lòng nhiều thành phần dân chúng Mỹ khiến cho nhiều chính trị gia và một số các nhà truyền thông cũng nhảy vào ăn có vì biết lợi dụng cơ hội. Chuyện ông Barack Obama cũng là một chính trị gia trẻ, chưa có kinh nghiệm nhiều cũng như chưa tạo được thành tích đáng kể trong chính trường, và được đắc cử một cách khá may mắn tương tự như Bill Clinton trước đó, ắt hẳn phải làm cho một số người không dẹp nổi sự bực tức trong lòng vì nghĩ rằng ông ta không xứng đáng để được ngồi vào chức vụ tổng thống.
Kể từ ngày phe Cộng Hoà giành được thắng lợi vào năm 2010 để nắm quyền tại Hạ Viện dưới trào lưu phản đối mạnh mẽ của phe Tea Party cực hữu, sự kình chống dữ dội đã dẫn đến tình trạng đình trệ kẹt cứng (gridlock) của bộ máy chính quyền. Thay vì thoả hiệp và tương nhượng lẫn nhau để đi đến những giải pháp thông qua các đạo luật cần thiết cho việc điều hành và phát triển đất nước, các vị dân cử chỉ lo tìm cách bôi bác hoặc bới móc các lỗi lầm hoặc khuyết điểm của hành pháp để tấn công theo kiểu “bới lông tìm vết” hoặc “bới bèo ra bọ”. Từ đó họ luôn tìm những đòn thử thách và đe doạ là sẽ cúp ngân sách để khiến cho chính phủ phải đóng cửa, hoặc là sẽ phải quịt nợ vì không đủ tiền để trang trải các món nợ đáo hạn mà chính phủ Hoa Kỳ phải có trách nhiệm v.v. . .
Nếu chỉ đọc và nghe luận điệu của nhiều bài báo hoặc tiếng nói của phe Cộng Hoà từ vài năm qua, và được khá nhiều nhà báo gốc Việt tin tưởng và phát tán, người ta dễ có lầm tưởng rằng chính quyền Mỹ dưới thời Obama đã phạm vào hết sai lầm này đến lầm lỗi khác, càng ngày càng khiến cho nền kinh tế nước Mỹ bị suy thoái, mất nhiều công ăn việc làm, tự tiện tiêu pha một cách hoang phí khiến cho ngân sách bị thất thu kỷ lục, và uy tín trên trường quốc tế cũng như sức mạnh quân sự bị tụt giảm khiến cho các nước khác trên thế giới không còn nể sợ v.v. . . Nói chung, mọi tội lỗi, mọi khiếm khuyết trong thời gian qua đều có thể tóm gọn một cách đơn giản là do xảy ra sau khi có một nhân vật da đen tên là Barack Obama lên làm tổng thống Mỹ!
Nhưng thực tế lại không đơn giản như người ta cố tình hiểu sai một cách khá bồng bột và có phần hơi ngu xuẩn như vậy. Lý do dễ hiểu là vì chính quyền nước Mỹ không chỉ nằm riêng trong tay của vị tổng thống đứng đầu ngành hành pháp, mà nó còn tuỳ thuộc phần lớn vào quyền quyết định của ngành lập pháp với quốc hội thông qua các đạo luật và chuẩn chi ngân sách. Hơn nữa, nó cũng bị ảnh hưởng rất lớn bởi ngành tư pháp với Tối Cao Pháp Viện có quyền phán xét các đạo luật của Quốc Hội hay sắc lệnh của tổng thống là vi hiến, và nhiều phán quyết của toà tối cao này có tính cách trọng đại như án lệ để trở thành đạo luật cho cả nước, thường gọi là “law of the land”. Thí dụ như án lệ Brown versus Board of Education vào năm 1954 trở thành luật cấm kỳ thị việc giáo dục của trẻ em theo sắc tộc (segregation) trên toàn nước Mỹ; án lệ Roe versus Wade vào năm 1973 trở thành luật cho phép việc phá thai tại Hoa Kỳ là quyền quyết định tối hậu của người phụ nữ mang bầu chứ không phải của một cá nhân, tổ chức, hay cơ quan công quyền nào khác cho dù được nhân danh dưới bất kỳ lý do cao đẹp nào.
Vì thế, nếu không có quốc hội ban hành những đạo luật chuẩn chi ngân sách thì chính quyền Obama cũng không đào đâu ra tiền để điều hành các phủ bộ khác nhau. Còn việc thất thu ngân sách trong những năm gần đây có lý do rất đơn giản là các chương trình chi tiêu cần thiết hàng năm của chính phủ đều cao hơn mức thu nhập vào từ tiền thuế (trong khi phe Cộng Hoà cứ khăng khăng một cách ngoan cố không chịu tăng thuế, dù là đối với dân nhà giầu!).
Chính vì cứ lo giằng co tranh cãi để chỉ trích TT Obama nên Hạ Viện trong thời gian qua đã chẳng làm nên được tích sự gì, vì cứ mãi tin rằng những lời chỉ trích này có thể sẽ thấm nhập vào đầu óc của nhiều cử tri Mỹ, vốn dễ rất bất mãn trước những điều mình không hài lòng mà không cần biết rõ lý do, nên có thể sẽ bỏ phiếu bất tín nhiệm ông Obama và phe Dân Chủ, như kết quả cuộc bầu phiếu vào cuối năm 2014 đã cho thấy. Họ chẳng thông qua được bất cứ một đạo luật nào, bởi vì những dự luật theo chiều hướng bảo thủ cực hữu của họ đều đã bị ngăn cản ở Thượng Viện, vẫn do phe Dân Chủ giữ đa số cho đến cuối năm ngoái. Khi một quốc hội (phần lớn là Hạ Viện) không thông qua được bất cứ một đạo luật nào cho ra hồn trong suốt thời gian pháp nhiệm hai năm, thì rõ ràng là các vị dân biểu đã cho mọi người thấy sự bất tài và thiếu trách nhiệm của mình.
Lần này, sau khi nắm được đa số ở cả hai cơ quan Hạ Viện và Thượng Viện, nhiều người có thể mơ tưởng rằng phe Cộng Hoà sẽ cùng đoàn kết để thông qua nhiều đạo luật để buộc TT Obama phải ký ban hành nếu không muốn tránh bị buộc tội là kẻ phá đám, chỉ biết lo chỉ trích và đả kích. Nhiều người cho rằng các lãnh tụ còn sáng suốt bên đảng Cộng Hoà không muốn dân chúng sau này sẽ gọi đảng của họ là Party of No, một đảng chỉ biết nói chữ “Không”, tức là không làm việc gì hết, không làm tròn vai trò và hành xử đúng chức năng của mình.
Tuy nhiên, điều này cũng chỉ là ước mơ mà thôi, do bởi chỉ cần một vài nhân vật thiểu số nhưng luôn cố ý phá hoại thì công cuộc xây dựng bao giờ cũng rất khó khăn. Điều này thì nhiều người sinh sống tại Việt Nam trước đây đều hiểu rõ. Việc phát quang nhiều vùng đất xác xơ để xây dựng và phát triển phải mất rất nhiều công sức và tiền bạc của người dân và chính phủ, chưa kể đến thời gian phải kéo dài, trước khi có thể nhìn thấy những kết quả tương đối khả quan và tốt đẹp dần dần xuất hiện. Tuy nhiên, chỉ cần một vài anh du kích Việt Cộng đêm đêm lén ra đào đường hay đắp mô thì cũng đủ gây xáo trộn lớn cho sinh hoạt của người dân trong ngày hôm sau khi việc giao thông có thể bị đình trệ. Xưa nay, mọi người đều đã rõ định luật của kẻ phá đám, dù không tốn nhiều công sức, bao giờ cũng tai hại một cách nhanh chóng trong khi việc xây dựng bao giờ cũng rất tốn kém và nhiêu khê hơn gấp bội lần.
Trong bài viết vào tuần trước với tựa đề “Khi Phe Bảo Thủ Tự Chửi Mình”, kẻ viết bài này đã thuật lại chuyện những vị dân biểu phe Cộng Hoà ở Hạ Viện đã tự mình chuốc lấy thảm bại một cách khá ngu xuẩn khi dùng con cờ là ngân sách của Bộ Nội An để đòi uy hiếp TT Obama phải dẹp bỏ sắc lệnh hành pháp của ông tạm hoãn việc trục xuất một số thành phần di dân lậu nhưng đang sinh sống lâu năm cùng với thân nhân hợp pháp của họ tại Hoa Kỳ. Nhưng phe Cộng Hoà ở Thượng Viện đã không nhắm mắt lao theo vì biết trước nó sẽ thất bại. Cuối cùng, Chủ tịch Hạ Viện là John Boehner đã phải chấp nhận thua cuộc, khi ông phải cầu cứu đến lá phiếu của phe Dân Chủ để biểu quyết thông qua đạo luật chuẩn chi ngân sách cho Bộ Nội An, sau khi đã rút lại yêu sách lúc ban đầu đòi hỏi phải dẹp bỏ sắc lệnh hành pháp của ông Obama.
Vì thế nên dân biểu Peter King, một khuôn mặt bảo thủ cứng rắn cũng thường chỉ trích mạnh mẽ ông Obama, cũng phải lên tiếng chê trách những vị đồng viện bảo thủ khác. Ông King đã phải nhìn nhận một cách đau lòng sự vô lý của các vị đồng nhiệm (thuộc cánh Tea Party) khi lên tiếng phát biểu: “Sự ngoan cố điên rồ này cần phải chấm dứt sớm... Tôi không thể nào chịu đựng được nữa cái nhóm trong đảng (Cộng Hoà) chỉ biết nghĩ đến quyền lợi của mình một cách ích kỷ và hoang tưởng.” Người viết bình dân hơn thì so sánh việc làm của một vài vị dân cử bảo thủ cực hữu, vì thích “chơi nổi” một cách quá đáng mà không cần biết đến hậu quả tai hại cho mình, là một việc làm “tham thì thâm”, hoặc đúng hơn nữa là “tham quá hoá ngu”.
Vì thế nên trong một cuộc thử nghiệm đầu tiên quan trọng về khả năng điều hành chính quyền, các lãnh tụ Cộng Hoà ở Hạ Viện đã chuốc lấy thảm bại khiến cho nhiều vị dân biểu bảo thủ như ông Peter King đã phải bực mình lên tiếng chỉ trích. Nhưng điều đáng lo hơn nữa là thất bại của phe Cộng Hoà lần này còn báo hiệu nhiều chông gai và thất bại kế tiếp trong những ngày tháng tới, khi họ bắt buộc phải hành động để thông qua nhiều dự luật cần thiết khác, chứ không thể nào tiếp tục trốn tránh trách nhiệm để chỉ biết lên tiếng chỉ trích như họ đã ma lanh hành xử trong hơn 4 năm qua.
Nhà báo Ashley Parker, trong một bài viết đăng trên tờ New York Times vào ngày 8 tháng 3 vừa qua, đã nhận định rằng phe Cộng Hoà sẽ tiếp tục bị khó khăn vì chia rẽ nội bộ trong khi phải lo đối phó với nhiều chông gai để biểu quyết các dự luật về ngân sách. Đây chính là chức năng và trọng trách lớn nhất của Quốc Hội, bởi vì không những các vị dân cử có quyền thông qua các đạo luật, mà họ còn có quyền nắm giữ hầu bao của các phủ bộ khi quyết định có chuẩn chi hay tháo khoán hay không các ngân sách đã được phê chuẩn. Nhà báo Parker cho rằng sự khó khăn vừa rồi cũng chưa đáng kể, vì họ (các vị dân biểu Cộng Hoà) sẽ còn gặp nhiều khó khăn lớn hơn khi phải tranh luận trong những ngày sắp tới, khi mà những lá phiếu biểu quyết của họ sẽ được đem ra bàn luận để phân tích rõ về lập trường.
Vì tất cả những đạo luật về ngân sách đều phải được Quốc Hội cứu xét và bỏ phiếu để cho chính phủ có tiền trang trải, nên dù có tranh cãi nhưng cuối cùng nó vẫn phải được biểu quyết thông qua. Trong thời gian gần đây, các dự luật ngân sách thường được thông qua với thời gian ngắn hạn, coi như là một hình thức thoả hiệp tạm để chờ đợi dịp chỉ trích hay tấn công kế tiếp. Nhưng trong bối cảnh chia rẽ sâu đậm hiện nay khi mà phe Cộng Hoà cứ luôn giành hết thì giờ để chỉ trích chính quyền Obama, việc hoà giải không còn đơn giản chút nào, nếu không muốn nói là rất khó thành công, bởi vì họ sẽ khó lòng nhận được sự chịu đựng nhịn nhục của phe Dân Chủ.
Một bài viết của nhà báo Andrew Taylor của hãng thông tấn AP đã liệt kê khá rõ ràng thứ tự các đạo luật khó khăn sắp tới mà phe Cộng Hoà sẽ phải bước qua nếu như họ cứ khăng khăng không đoái hoài gì đến sự hiện hữu của phe Dân Chủ:
CHI PHÍ VỀ MEDICARE.
Do một sự sơ xuất trong quá khứ từ hồi năm 1997, các bác sĩ chữa trị bệnh nhân có Medicare (bảo hiểm của chính phủ cho người cao niên) có thể bị cắt giảm chi phí điều trị mỗi năm khoảng 21%. Do đó, mỗi năm các vị dân cử đều cùng thoả hiệp để bỏ phiếu thông qua việc hoãn thi hành điều lệ này. Năm nay, quyết định này sẽ được đưa ra cứu xét vào cuối tháng Ba này.
NGÂN SÁCH XÂY DỰNG XA LỘ.
Quỹ xây dựng hệ thống xa lộ trên nước Mỹ (Highway Trust Fund) sẽ hết tiền vào cuối tháng 5-2015. Nếu không được tái gia hạn, việc đình trệ các dự án xây dựng có thể gây ra ảnh hưởng xấu cho sinh hoạt và nền kinh tế của vài tiểu bang. Nhiều phần là các vị dân cử sẽ bỏ phiếu thông qua ngân sách ngắn hạn để tiếp tục câu giờ.
NGÂN HÀNG XUẤT-NHẬP-CẢNG (Export-Import Bank)
Ngân hàng này coi như sẽ hết ngân sách để tiếp tục hoạt động sau ngày 30/6 năm nay.Nhiều người chỉ trích nó chỉ phục vụ cho các đại công ty như Boeing và GE nhưng lại lơ là việc tài trợ cho các tiểu thương.Tuy nhiên, nó được sự ủng hộ của nhiều vị dân cử phe Dân Chủ lẫn Cộng Hoà, dù rằng những tiếng nói bảo thủ cực hữu chống đối.Cuộc biểu quyết này cũng rất khó khăn và sẽ gây tranh cãi gay gắt trong nội bộ đảng Cộng Hoà.
MỨC NỢ TỐI ĐA CỦA CÔNG QUỸ (Debt Limit)
Thói quen “làm ít, tiêu nhiều” đã có từ cả trăm năm nay đối với người dân và chính phủ Mỹ. Do đó, họ thường không thấy ngần ngại trong việc vay nợ, vì phải giải quyết nhu cầu sinh tồn để tiếp tục trả “bills” đáo hạn mỗi tháng hay mỗi năm. Nhưng họ cũng thường hay tự dối lòng với ý tưởng rằng họ có thể làm ăn khấm khá hơn trong tương lai để trả nợ. Do đó, họ thường đặt ra những lời hứa nguyện (resolutions) vào đầu năm là sẽ cắt giảm các món nợ. Phía chính phủ thì cũng hứa nguyện như vậy, nên mới đặt ra điều luật là mỗi năm quốc hội phải biểu quyết có đồng ý cho phép nhà nước mượn nợ thêm hay không. Vì quốc hội cũng là nhà nước nên hàng năm, theo thông lệ đã có từ lâu, Quốc Hội thường xuyên bỏ phiếu chấp thuận cho Bộ Tài Chánh, tức là ngân quỹ nước Mỹ, được quyền vay nợ thêm để có thể trang trải thêm nhiều chương trình điều hành nhà nước. Do đó, cái gọi là “trần nợ” (debt ceiling) này, có thể gọi là cái “credit line”, cứ phải gia tăng mãi về sau này, do bởi lý do đơn giản của việc lãi mẹ lãi con tiếp tục dồn vào trong khi chính phủ Mỹ không chịu đồng ý cả hai giải pháp giảm chi (cắt bớt các chương trình chi tiêu) và tăng thu (gia tăng tiền thuế lên người dân và cơ sở thương mại). Thậm chí, giới bảo thủ và phe Cộng Hoà còn luôn bảo vệ một thứ giáo điều cực đoan của họ là nhất quyết không tăng thuế giới nhà giầu!
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, để tìm cách chỉ trích chính quyền Obama, phe Cộng Hoà đã tìm cách tạo sức ép để buộc chính phủ phải cắt giảm nhiều chương trình chi tiêu (trong khi lại không chịu tăng thuế), bằng không thì họ sẽ không đồng ý bỏ phiếu, với kết quả là chính phủ Hoa Kỳ có thể phải tuyên bố quịt nợ. Điều này dẫn đến một tình trạng bất an trên thị trường tài chánh, chưa kể là có thể làm cho uy tín của Hoa Kỳ cũng bị sút giảm nặng nề.
Cuộc bỏ phiếu về vụ này, dự trù vào tháng 8 năm nay, có lẽ cũng sẽ gây khó khăn trong nội bộ đảng Cộng Hoà, giữa một bên là những tiếng nói bảo thủ cực hữu của phe Tea Party và bên kia là nghị sĩ Mitch McConnell, tân thủ lãnh khối đa số Cộng Hoà ở Thượng Viện, khi ông này hứa rằng sẽ không để tình trạng này sẽ xảy ra.
Ngoài ra cũng còn có những đạo luật cần phải biểu quyết trong năm nay, liên quan đến việc gia hạn đạo luật Patriot Act, và đạo luật CHIP (bảo hiểm y tế cho trẻ em nhà nghèo) vào mùa hè này.
Theo nhà báo Parker thì tuy phe Cộng Hoà giành được quyền hành trong kỳ bầu cử giữa mùa vừa qua, nhưng chiến thắng này cũng không che đậy nổi những sự chia rẽ sâu đậm trong nội bộ của họ. Vì thế nên những sự va chạm không tránh khỏi đó đã bắt đầu bùng lên, xuyên qua việc tranh chấp, và cuối cùng phải thất bại của họ, trong việc biểu quyết đạo luật ngân sách cho Bộ Nội An vào cuối tháng 2 vừa qua. Lần này, nhiều tiếng nói của một số các vị dân biểu còn sáng suốt như các ông Peter King (ở New York) hoặc Charlie Dent (ở Pennsylvania) đã không ngần ngại lên tiếng chỉ trích các vị đồng viện bảo thủ cực đoan nếu cứ tiếp tục con đường cứng rắn như vậy thì sẽ không đạt thành quả tốt đẹp nào mà rốt cuộc chỉ làm tổn hại cho quyền lợi của quốc gia. Một dân biểu khác là ông Tom Cole (ở Oklahoma) nói rằng ông hy vọng là các vị đồng viện bảo thủ sẽ học được kinh nghiệm là “anh sẽ phải đồng ý thoả hiệp, và điều đó có nghĩa là phía bên kia cũng phải được một phần nào đó.” Và ông kết luận rằng: “Đã đến lúc, anh phải biết rằng cứ ngồi đập bàn la hét thì anh cũng không thể chuyển con số 54 thành 60 được.” (Hiện nay, phe Cộng Hoà chiếm 54 ghế tại Thượng Viện, nhưng thông thường phải có đa số 60 phiếu mới dễ dàng thông qua các dự luật theo ý muốn).
Nói chung, trong thời gian sắp tới, người dân sẽ được dịp chứng kiến những hành động của các nhà dân cử, lần này do phe Cộng Hoà giữ đa số nên không còn có thể tránh né trách nhiệm. Và từ đó, người ta mới có dịp nhìn thấy rõ hơn là họ có tài năng hay không trong việc điều hành đất nước hay là chỉ biết lo tìm cách chỉ trích như họ đã làm bấy lâu nay, điển hình là việc phe Cộng Hoà tiếp tục lôi kéo chuyện tranh cãi về đạo luật cải tổ bảo hiểm y tế đại chúng Affordable Care Act như đang diễn ra tại Tối Cao Pháp Viện trong tuần qua. Và đây có lẽ là đề tài sẽ được bàn đến trong một bài viết sắp tới.
MAI LOAN
Houston, Texas ngày 15/03/2015
Mai Loan
Chủ tịch John Boehner sau cuộc biểu quyết thảm bại về ngân sách cho Bộ Nội An (hình REUTERS/Jonathan Ernst)
Chuyện một chính quyền bị chia rẽ (divided government) là điều vẫn thường xảy ra tại những quốc gia có chế độ tổng thống và quốc hội cùng có thực quyền độc lập và do dân chúng bầu lên khi họ ủng hộ hai đảng phái đối nghịch. Hậu quả hiển nhiên trước nhất là nó thường dẫn đến tình trạng cù cưa hục hặc hay ù lì giữa đôi bên vì lập trường chính trị khác nhau khiến cho chính quyền khó có cơ may thực hiện được những chính sách ích quốc lợi dân. Tuy vậy, nó vẫn được người dân chấp nhận và dường như không hối tiếc chút nào về quyết định bỏ phiếu của chính họ trước đó đã lựa chọn như vậy, cho dù là họ đồng tình ủng hộ hoặc là bị dụ dỗ bởi những chính sách tuyên truyền khéo léo của các đảng phái chính trị.
Tại một quốc gia có truyền thống tự do dân chủ lâu đời như nước Pháp trước đây, người dân cũng đã trải qua những thời kỳ chính quyền chia rẽ như vậy dưới thời hai vị tổng thống Francois Mitterand, thuộc đảng Xã Hội khuynh tả (khi quốc hội lại do đảng RPR khuynh hữu nắm quyền) và sau đó là Jacques Chirac thuộc đảng RPR (khi quốc hội lại do đảng Xã Hội giành được đa số). Nói chung, không ai chờ đợi một chính quyền trong thời gian này có thể đưa ra những chính sách đồng thuận để đẩy mạnh guồng máy công quyền do bởi hai bên luôn gầm gừ lẫn nhau và chỉ luôn lo sợ phía bên kia có thể lấn át quyền hành của mình. Tuy vậy, người dân dường như vẫn chấp nhận một hậu quả tương đối xem ra có phần tích cực hơn, đó là hai bên từ nay sẽ giữ vai trò kềm giữ lẫn nhau, nếu không đoàn kết để cùng chung lo việc nước thì ít ra cũng không để bên nào đi quá lố theo khuynh hướng cực hữu hay cực tả.
Tinh thần kềm giữ lẫn nhau này đã được thiết lập sẵn trong hiến pháp của Hoa Kỳ và sau đó cũng là nền tảng trong bộ máy điều hành của nhiều tổ chức hay cơ quan, tư cũng như công, hầu giữ vững cho việc duy trì và phát triển tổ chức trong xã hội một cách tốt đẹp và bền vững. Nó thường được gọi là “kiểm soát và cân bằng” (checks and balances), tức là cho người nắm nhiệm vụ giám sát có luôn quyền quản trị để có thể cân bằng với người đang nắm quyền điều hành. Bằng không thì cái gọi là “hội đồng giám sát”, dù được trao cho trọng trách hay nhiệm vụ rất quan trọng, cũng sẽ bị “hội đồng điều hành” phớt lờ hoặc xem thường, để rồi sau đó sẽ nhanh chóng trở thành một thứ hội đồng bù nhìn, hoặc có khá lắm thì cũng chỉ tạo được những tiếng vang khi lên tiếng chỉ trích hoặc đòi từ chức v.v. . . nhưng thực chất thì cũng không làm thay đổi tình thế.
Vì thế cho nên trong suốt hơn 200 năm lập quốc, cho dù có nhiều lúc vị tổng thống và quốc hội đều cùng một đảng, dù là Cộng Hoà hay Dân Chủ, nhưng vẫn luôn xảy ra tình trạng quốc hội hành xử sự độc lập của mình khi bỏ phiếu chống đối những quyết định đưa ra từ phía Toà Bạch Ốc. Chính vai trò nắm giữ quyền hành độc lập này mà nhiều vị dân biểu và nghị sĩ ở Quốc Hội sẵn sàng lên tiếng hoặc bỏ phiếu chống đối vị tổng thống dù là người cùng đảng với mình mà không sợ bị những hậu quả “trả thù” trong nội bộ. Trong nhiều trường hợp, những vị dân cử này còn được nổi tiếng hơn vì được nhiều người chú ý đến và vẫn luôn được cử tri tại địa phương mình tiếp tục ủng hộ, trong đó có nhiều thành phần cử tri độc lập hoặc thuộc đảng đối lập vì họ nể trọng tinh thần độc lập không a dua theo bè phái này.
Tình trạng chính quyền chia rẽ tại Hoa Kỳ có phần căng thẳng nổi bật bắt đầu cách nay hơn 20 năm khi đảng Cộng Hoà giành được chiến thắng “lịch sử” trong cuộc bầu cử vào năm 1994 với chiêu bài “Contract With America”. Gọi là lịch sử vì đó là lần đầu tiên phe Cộng Hoà đánh bại được một cách rất to lớn và vẻ vang phe Dân Chủ, vốn đã luôn nắm quyền đa số tại Hạ Viện Hoa Kỳ trong một thời gian dài đến 4 thập niên trước đó, mà có lúc người ta tưởng chừng như nó sẽ tiếp tục kéo dài lâu hơn nữa.
Có hai lý do để giải thích sự kiện thay đổi bất ngờ này. Thứ nhất là vì nhiều cử tri đã bị thuyết phục bởi những lời lẽ rất hoa mỹ trong chiêu bài “Contract With America”, với những đề nghị cụ thể về chương trình nghị sự của họ trong những ngày đầu của pháp nhiệm nếu như họ được đắc cử. Kế đến là thái độ bất mãn của khối cử tri, nhất là giới bảo thủ, đối với vị tân tổng thống lúc bấy giờ là Bill Clinton. Trong mắt nhìn của họ, cũng như đối với nhiều cử tri độc lập không theo đảng phái nào, thì ông Clinton chỉ là một chính khách trẻ đầy tai tiếng lăng nhăng về chuyện tình dục, không được đa số người dân ủng hộ (chỉ có 43% số phiếu của cử tri), và đắc cử được nhờ may mắn trước một vị tổng thống là George W. H. Bush đang bị một chính khách khác là nhà tỷ phú Ross Perot bỗng dưng nhảy vào phá bĩnh.
Dĩ nhiên, ông Bush Bố cũng là người gây ra hậu quả này cho chính mình khi nhiều thành phần dân chúng bảo thủ cực hữu không còn hăng hái ủng hộ khi ông quyết định thoả hiệp với phe Dân Chủ để thông qua việc tăng thuế hầu giải quyết khó khăn về ngân sách của nước Mỹ (một quyết định rất đúng đắn và can đảm). Họ đã chỉ trích hoặc chế riễu ông về tội phản bội lại lời hứa rất nổi tiếng của trước đó vào năm 1988 khi ông nói: “Read My Lips: No New Taxes” (Hãy đọc kỹ lời tôi nói: Sẽ Không Có Việc Đóng Thuế Mới). Từ đó, họ không còn tích cực ủng hộ, và tẩy chay ông Bush Bố, hoặc thậm chí có thể quay sang bỏ phiếu cho ông Ross Perot như là một hình thức cảnh cáo cho bõ ghét.
Điều trớ trêu là trước đó chưa đầy một năm, TT Bush Bố được đa số dân chúng Mỹ ủng hộ và đề cao như một người anh hùng, một lãnh tụ tài ba, nhất là sau chiến thắng dễ dàng và không tốn kém trong cuộc chiến tấn công Iraq của lãnh tụ độc tài Saddam Hussein vào năm 1991. Điều này cho thấy là sự suy nghĩ và lá phiếu của dân chúng Mỹ nhiều khi thay đổi rất nhanh chóng, tự mâu thuẫn với chính mình, và khoảng thời gian 1 hay 2 năm là một thời gian rất dài trong chính trường, với những thay đổi bất ngờ nhiều khi khó tiên đoán được, một chi tiết mà dường như rất nhiều nhà báo tiếng Việt thường không để ý đến.
Do vậy, đa số cử tri lúc bấy giờ có thể không mấy ưa thích vợ chồng ông Clinton, nhất là với đề nghị đòi cải tổ mạnh bạo chính sách bảo hiểm y tế đại chúng đề ra vào năm 1993, nên họ sẵn sàng bỏ phiếu đối nghịch qua việc ủng hộ cho đảng Cộng Hoà nắm quyền đa số tại Hạ Viện. Tuy những lãnh tụ mới của phe Cộng Hoà lúc bấy giờ như ông Newt Gingrich cũng hung hăng chống đối, dẫn đến hậu quả chính phủ phải đóng cửa một thời gian vì tranh cãi về ngân sách, nhưng họ cũng vẫn chấp nhận ngồi lại với nhau để thương thuyết hoặc thoả hiệp. Nhất là sau khi phe Cộng Hoà học được bài học thực tế là ông Clinton vẫn còn có quyền hành rất vững mạnh là quyền phủ quyết (veto) để bác bỏ tất cả những dự luật của phe bảo thủ đưa ra, và quan trọng hơn nữa là đa số dân chúng lại đổ lỗi nhiều hơn về đảng Cộng Hoà trong vụ chính phủ phải đóng cửa.
Tuy đôi bên đã thoả hiệp và tương nhượng để thông qua nhiều đạo luật, trong đó có đạo luật cải tổ chính sách trợ giúp phúc lợi cho người nghèo (thường gọi là welfare reform) vào năm 1996, nhưng tinh thần kình chống hay đố kỵ lẫn nhau vẫn còn rất cao, điển hình là việc các dân biểu Cộng Hoà tìm cách khai thác chuyện lem nhem tình dục của ông Clinton để đưa ra xét xử đòi bãi nhiệm. Nhưng kết quả là họ vẫn thất bại khi Thượng Viện không đồng ý, và quan trọng hơn nữa, là dư luận của người dân trong nước đa số không đồng tình với chính sách tấn công cá nhân kiểu này.
Điều nghịch lý buồn cười là sau này người ta phát giác ra những dân biểu lên án ông Clinton về tội vô luân mạnh mẽ nhất lại là những nhân vật còn bê bối hơn nhiều trong chuyện tình ái lem nhem với những tội danh như ngoại tình, bỏ bê vợ con v.v. như các ông Newt Gingrich, Bob Livingston, Dan Burton, Henry Hyde, John Ensign (sau thành nghị sĩ tại Nevada), Mark Sanford (sau này làm thống đốc South Carolina). Những khuôn mặt này sau đó phải xin từ chức như các ông Ensign hoặc Sanford khi nội vụ đổ bể, hoặc phải từ chức khi sắp sửa được làm chủ tịch Hạ Viện (như ông Livingston).
Nhưng đến thời ông Obama lên làm tổng thống thì sự kình chống giữa đôi bên đã lên đến cực điểm, với lý do chính không gì khác hơn là tinh thần kỳ thị mầu da vẫn còn khá nặng trong lòng nhiều thành phần dân chúng Mỹ khiến cho nhiều chính trị gia và một số các nhà truyền thông cũng nhảy vào ăn có vì biết lợi dụng cơ hội. Chuyện ông Barack Obama cũng là một chính trị gia trẻ, chưa có kinh nghiệm nhiều cũng như chưa tạo được thành tích đáng kể trong chính trường, và được đắc cử một cách khá may mắn tương tự như Bill Clinton trước đó, ắt hẳn phải làm cho một số người không dẹp nổi sự bực tức trong lòng vì nghĩ rằng ông ta không xứng đáng để được ngồi vào chức vụ tổng thống.
Kể từ ngày phe Cộng Hoà giành được thắng lợi vào năm 2010 để nắm quyền tại Hạ Viện dưới trào lưu phản đối mạnh mẽ của phe Tea Party cực hữu, sự kình chống dữ dội đã dẫn đến tình trạng đình trệ kẹt cứng (gridlock) của bộ máy chính quyền. Thay vì thoả hiệp và tương nhượng lẫn nhau để đi đến những giải pháp thông qua các đạo luật cần thiết cho việc điều hành và phát triển đất nước, các vị dân cử chỉ lo tìm cách bôi bác hoặc bới móc các lỗi lầm hoặc khuyết điểm của hành pháp để tấn công theo kiểu “bới lông tìm vết” hoặc “bới bèo ra bọ”. Từ đó họ luôn tìm những đòn thử thách và đe doạ là sẽ cúp ngân sách để khiến cho chính phủ phải đóng cửa, hoặc là sẽ phải quịt nợ vì không đủ tiền để trang trải các món nợ đáo hạn mà chính phủ Hoa Kỳ phải có trách nhiệm v.v. . .
Nếu chỉ đọc và nghe luận điệu của nhiều bài báo hoặc tiếng nói của phe Cộng Hoà từ vài năm qua, và được khá nhiều nhà báo gốc Việt tin tưởng và phát tán, người ta dễ có lầm tưởng rằng chính quyền Mỹ dưới thời Obama đã phạm vào hết sai lầm này đến lầm lỗi khác, càng ngày càng khiến cho nền kinh tế nước Mỹ bị suy thoái, mất nhiều công ăn việc làm, tự tiện tiêu pha một cách hoang phí khiến cho ngân sách bị thất thu kỷ lục, và uy tín trên trường quốc tế cũng như sức mạnh quân sự bị tụt giảm khiến cho các nước khác trên thế giới không còn nể sợ v.v. . . Nói chung, mọi tội lỗi, mọi khiếm khuyết trong thời gian qua đều có thể tóm gọn một cách đơn giản là do xảy ra sau khi có một nhân vật da đen tên là Barack Obama lên làm tổng thống Mỹ!
Nhưng thực tế lại không đơn giản như người ta cố tình hiểu sai một cách khá bồng bột và có phần hơi ngu xuẩn như vậy. Lý do dễ hiểu là vì chính quyền nước Mỹ không chỉ nằm riêng trong tay của vị tổng thống đứng đầu ngành hành pháp, mà nó còn tuỳ thuộc phần lớn vào quyền quyết định của ngành lập pháp với quốc hội thông qua các đạo luật và chuẩn chi ngân sách. Hơn nữa, nó cũng bị ảnh hưởng rất lớn bởi ngành tư pháp với Tối Cao Pháp Viện có quyền phán xét các đạo luật của Quốc Hội hay sắc lệnh của tổng thống là vi hiến, và nhiều phán quyết của toà tối cao này có tính cách trọng đại như án lệ để trở thành đạo luật cho cả nước, thường gọi là “law of the land”. Thí dụ như án lệ Brown versus Board of Education vào năm 1954 trở thành luật cấm kỳ thị việc giáo dục của trẻ em theo sắc tộc (segregation) trên toàn nước Mỹ; án lệ Roe versus Wade vào năm 1973 trở thành luật cho phép việc phá thai tại Hoa Kỳ là quyền quyết định tối hậu của người phụ nữ mang bầu chứ không phải của một cá nhân, tổ chức, hay cơ quan công quyền nào khác cho dù được nhân danh dưới bất kỳ lý do cao đẹp nào.
Vì thế, nếu không có quốc hội ban hành những đạo luật chuẩn chi ngân sách thì chính quyền Obama cũng không đào đâu ra tiền để điều hành các phủ bộ khác nhau. Còn việc thất thu ngân sách trong những năm gần đây có lý do rất đơn giản là các chương trình chi tiêu cần thiết hàng năm của chính phủ đều cao hơn mức thu nhập vào từ tiền thuế (trong khi phe Cộng Hoà cứ khăng khăng một cách ngoan cố không chịu tăng thuế, dù là đối với dân nhà giầu!).
Chính vì cứ lo giằng co tranh cãi để chỉ trích TT Obama nên Hạ Viện trong thời gian qua đã chẳng làm nên được tích sự gì, vì cứ mãi tin rằng những lời chỉ trích này có thể sẽ thấm nhập vào đầu óc của nhiều cử tri Mỹ, vốn dễ rất bất mãn trước những điều mình không hài lòng mà không cần biết rõ lý do, nên có thể sẽ bỏ phiếu bất tín nhiệm ông Obama và phe Dân Chủ, như kết quả cuộc bầu phiếu vào cuối năm 2014 đã cho thấy. Họ chẳng thông qua được bất cứ một đạo luật nào, bởi vì những dự luật theo chiều hướng bảo thủ cực hữu của họ đều đã bị ngăn cản ở Thượng Viện, vẫn do phe Dân Chủ giữ đa số cho đến cuối năm ngoái. Khi một quốc hội (phần lớn là Hạ Viện) không thông qua được bất cứ một đạo luật nào cho ra hồn trong suốt thời gian pháp nhiệm hai năm, thì rõ ràng là các vị dân biểu đã cho mọi người thấy sự bất tài và thiếu trách nhiệm của mình.
Lần này, sau khi nắm được đa số ở cả hai cơ quan Hạ Viện và Thượng Viện, nhiều người có thể mơ tưởng rằng phe Cộng Hoà sẽ cùng đoàn kết để thông qua nhiều đạo luật để buộc TT Obama phải ký ban hành nếu không muốn tránh bị buộc tội là kẻ phá đám, chỉ biết lo chỉ trích và đả kích. Nhiều người cho rằng các lãnh tụ còn sáng suốt bên đảng Cộng Hoà không muốn dân chúng sau này sẽ gọi đảng của họ là Party of No, một đảng chỉ biết nói chữ “Không”, tức là không làm việc gì hết, không làm tròn vai trò và hành xử đúng chức năng của mình.
Tuy nhiên, điều này cũng chỉ là ước mơ mà thôi, do bởi chỉ cần một vài nhân vật thiểu số nhưng luôn cố ý phá hoại thì công cuộc xây dựng bao giờ cũng rất khó khăn. Điều này thì nhiều người sinh sống tại Việt Nam trước đây đều hiểu rõ. Việc phát quang nhiều vùng đất xác xơ để xây dựng và phát triển phải mất rất nhiều công sức và tiền bạc của người dân và chính phủ, chưa kể đến thời gian phải kéo dài, trước khi có thể nhìn thấy những kết quả tương đối khả quan và tốt đẹp dần dần xuất hiện. Tuy nhiên, chỉ cần một vài anh du kích Việt Cộng đêm đêm lén ra đào đường hay đắp mô thì cũng đủ gây xáo trộn lớn cho sinh hoạt của người dân trong ngày hôm sau khi việc giao thông có thể bị đình trệ. Xưa nay, mọi người đều đã rõ định luật của kẻ phá đám, dù không tốn nhiều công sức, bao giờ cũng tai hại một cách nhanh chóng trong khi việc xây dựng bao giờ cũng rất tốn kém và nhiêu khê hơn gấp bội lần.
Trong bài viết vào tuần trước với tựa đề “Khi Phe Bảo Thủ Tự Chửi Mình”, kẻ viết bài này đã thuật lại chuyện những vị dân biểu phe Cộng Hoà ở Hạ Viện đã tự mình chuốc lấy thảm bại một cách khá ngu xuẩn khi dùng con cờ là ngân sách của Bộ Nội An để đòi uy hiếp TT Obama phải dẹp bỏ sắc lệnh hành pháp của ông tạm hoãn việc trục xuất một số thành phần di dân lậu nhưng đang sinh sống lâu năm cùng với thân nhân hợp pháp của họ tại Hoa Kỳ. Nhưng phe Cộng Hoà ở Thượng Viện đã không nhắm mắt lao theo vì biết trước nó sẽ thất bại. Cuối cùng, Chủ tịch Hạ Viện là John Boehner đã phải chấp nhận thua cuộc, khi ông phải cầu cứu đến lá phiếu của phe Dân Chủ để biểu quyết thông qua đạo luật chuẩn chi ngân sách cho Bộ Nội An, sau khi đã rút lại yêu sách lúc ban đầu đòi hỏi phải dẹp bỏ sắc lệnh hành pháp của ông Obama.
Vì thế nên dân biểu Peter King, một khuôn mặt bảo thủ cứng rắn cũng thường chỉ trích mạnh mẽ ông Obama, cũng phải lên tiếng chê trách những vị đồng viện bảo thủ khác. Ông King đã phải nhìn nhận một cách đau lòng sự vô lý của các vị đồng nhiệm (thuộc cánh Tea Party) khi lên tiếng phát biểu: “Sự ngoan cố điên rồ này cần phải chấm dứt sớm... Tôi không thể nào chịu đựng được nữa cái nhóm trong đảng (Cộng Hoà) chỉ biết nghĩ đến quyền lợi của mình một cách ích kỷ và hoang tưởng.” Người viết bình dân hơn thì so sánh việc làm của một vài vị dân cử bảo thủ cực hữu, vì thích “chơi nổi” một cách quá đáng mà không cần biết đến hậu quả tai hại cho mình, là một việc làm “tham thì thâm”, hoặc đúng hơn nữa là “tham quá hoá ngu”.
Vì thế nên trong một cuộc thử nghiệm đầu tiên quan trọng về khả năng điều hành chính quyền, các lãnh tụ Cộng Hoà ở Hạ Viện đã chuốc lấy thảm bại khiến cho nhiều vị dân biểu bảo thủ như ông Peter King đã phải bực mình lên tiếng chỉ trích. Nhưng điều đáng lo hơn nữa là thất bại của phe Cộng Hoà lần này còn báo hiệu nhiều chông gai và thất bại kế tiếp trong những ngày tháng tới, khi họ bắt buộc phải hành động để thông qua nhiều dự luật cần thiết khác, chứ không thể nào tiếp tục trốn tránh trách nhiệm để chỉ biết lên tiếng chỉ trích như họ đã ma lanh hành xử trong hơn 4 năm qua.
Nhà báo Ashley Parker, trong một bài viết đăng trên tờ New York Times vào ngày 8 tháng 3 vừa qua, đã nhận định rằng phe Cộng Hoà sẽ tiếp tục bị khó khăn vì chia rẽ nội bộ trong khi phải lo đối phó với nhiều chông gai để biểu quyết các dự luật về ngân sách. Đây chính là chức năng và trọng trách lớn nhất của Quốc Hội, bởi vì không những các vị dân cử có quyền thông qua các đạo luật, mà họ còn có quyền nắm giữ hầu bao của các phủ bộ khi quyết định có chuẩn chi hay tháo khoán hay không các ngân sách đã được phê chuẩn. Nhà báo Parker cho rằng sự khó khăn vừa rồi cũng chưa đáng kể, vì họ (các vị dân biểu Cộng Hoà) sẽ còn gặp nhiều khó khăn lớn hơn khi phải tranh luận trong những ngày sắp tới, khi mà những lá phiếu biểu quyết của họ sẽ được đem ra bàn luận để phân tích rõ về lập trường.
Vì tất cả những đạo luật về ngân sách đều phải được Quốc Hội cứu xét và bỏ phiếu để cho chính phủ có tiền trang trải, nên dù có tranh cãi nhưng cuối cùng nó vẫn phải được biểu quyết thông qua. Trong thời gian gần đây, các dự luật ngân sách thường được thông qua với thời gian ngắn hạn, coi như là một hình thức thoả hiệp tạm để chờ đợi dịp chỉ trích hay tấn công kế tiếp. Nhưng trong bối cảnh chia rẽ sâu đậm hiện nay khi mà phe Cộng Hoà cứ luôn giành hết thì giờ để chỉ trích chính quyền Obama, việc hoà giải không còn đơn giản chút nào, nếu không muốn nói là rất khó thành công, bởi vì họ sẽ khó lòng nhận được sự chịu đựng nhịn nhục của phe Dân Chủ.
Một bài viết của nhà báo Andrew Taylor của hãng thông tấn AP đã liệt kê khá rõ ràng thứ tự các đạo luật khó khăn sắp tới mà phe Cộng Hoà sẽ phải bước qua nếu như họ cứ khăng khăng không đoái hoài gì đến sự hiện hữu của phe Dân Chủ:
CHI PHÍ VỀ MEDICARE.
Do một sự sơ xuất trong quá khứ từ hồi năm 1997, các bác sĩ chữa trị bệnh nhân có Medicare (bảo hiểm của chính phủ cho người cao niên) có thể bị cắt giảm chi phí điều trị mỗi năm khoảng 21%. Do đó, mỗi năm các vị dân cử đều cùng thoả hiệp để bỏ phiếu thông qua việc hoãn thi hành điều lệ này. Năm nay, quyết định này sẽ được đưa ra cứu xét vào cuối tháng Ba này.
NGÂN SÁCH XÂY DỰNG XA LỘ.
Quỹ xây dựng hệ thống xa lộ trên nước Mỹ (Highway Trust Fund) sẽ hết tiền vào cuối tháng 5-2015. Nếu không được tái gia hạn, việc đình trệ các dự án xây dựng có thể gây ra ảnh hưởng xấu cho sinh hoạt và nền kinh tế của vài tiểu bang. Nhiều phần là các vị dân cử sẽ bỏ phiếu thông qua ngân sách ngắn hạn để tiếp tục câu giờ.
NGÂN HÀNG XUẤT-NHẬP-CẢNG (Export-Import Bank)
Ngân hàng này coi như sẽ hết ngân sách để tiếp tục hoạt động sau ngày 30/6 năm nay.Nhiều người chỉ trích nó chỉ phục vụ cho các đại công ty như Boeing và GE nhưng lại lơ là việc tài trợ cho các tiểu thương.Tuy nhiên, nó được sự ủng hộ của nhiều vị dân cử phe Dân Chủ lẫn Cộng Hoà, dù rằng những tiếng nói bảo thủ cực hữu chống đối.Cuộc biểu quyết này cũng rất khó khăn và sẽ gây tranh cãi gay gắt trong nội bộ đảng Cộng Hoà.
MỨC NỢ TỐI ĐA CỦA CÔNG QUỸ (Debt Limit)
Thói quen “làm ít, tiêu nhiều” đã có từ cả trăm năm nay đối với người dân và chính phủ Mỹ. Do đó, họ thường không thấy ngần ngại trong việc vay nợ, vì phải giải quyết nhu cầu sinh tồn để tiếp tục trả “bills” đáo hạn mỗi tháng hay mỗi năm. Nhưng họ cũng thường hay tự dối lòng với ý tưởng rằng họ có thể làm ăn khấm khá hơn trong tương lai để trả nợ. Do đó, họ thường đặt ra những lời hứa nguyện (resolutions) vào đầu năm là sẽ cắt giảm các món nợ. Phía chính phủ thì cũng hứa nguyện như vậy, nên mới đặt ra điều luật là mỗi năm quốc hội phải biểu quyết có đồng ý cho phép nhà nước mượn nợ thêm hay không. Vì quốc hội cũng là nhà nước nên hàng năm, theo thông lệ đã có từ lâu, Quốc Hội thường xuyên bỏ phiếu chấp thuận cho Bộ Tài Chánh, tức là ngân quỹ nước Mỹ, được quyền vay nợ thêm để có thể trang trải thêm nhiều chương trình điều hành nhà nước. Do đó, cái gọi là “trần nợ” (debt ceiling) này, có thể gọi là cái “credit line”, cứ phải gia tăng mãi về sau này, do bởi lý do đơn giản của việc lãi mẹ lãi con tiếp tục dồn vào trong khi chính phủ Mỹ không chịu đồng ý cả hai giải pháp giảm chi (cắt bớt các chương trình chi tiêu) và tăng thu (gia tăng tiền thuế lên người dân và cơ sở thương mại). Thậm chí, giới bảo thủ và phe Cộng Hoà còn luôn bảo vệ một thứ giáo điều cực đoan của họ là nhất quyết không tăng thuế giới nhà giầu!
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, để tìm cách chỉ trích chính quyền Obama, phe Cộng Hoà đã tìm cách tạo sức ép để buộc chính phủ phải cắt giảm nhiều chương trình chi tiêu (trong khi lại không chịu tăng thuế), bằng không thì họ sẽ không đồng ý bỏ phiếu, với kết quả là chính phủ Hoa Kỳ có thể phải tuyên bố quịt nợ. Điều này dẫn đến một tình trạng bất an trên thị trường tài chánh, chưa kể là có thể làm cho uy tín của Hoa Kỳ cũng bị sút giảm nặng nề.
Cuộc bỏ phiếu về vụ này, dự trù vào tháng 8 năm nay, có lẽ cũng sẽ gây khó khăn trong nội bộ đảng Cộng Hoà, giữa một bên là những tiếng nói bảo thủ cực hữu của phe Tea Party và bên kia là nghị sĩ Mitch McConnell, tân thủ lãnh khối đa số Cộng Hoà ở Thượng Viện, khi ông này hứa rằng sẽ không để tình trạng này sẽ xảy ra.
Ngoài ra cũng còn có những đạo luật cần phải biểu quyết trong năm nay, liên quan đến việc gia hạn đạo luật Patriot Act, và đạo luật CHIP (bảo hiểm y tế cho trẻ em nhà nghèo) vào mùa hè này.
Theo nhà báo Parker thì tuy phe Cộng Hoà giành được quyền hành trong kỳ bầu cử giữa mùa vừa qua, nhưng chiến thắng này cũng không che đậy nổi những sự chia rẽ sâu đậm trong nội bộ của họ. Vì thế nên những sự va chạm không tránh khỏi đó đã bắt đầu bùng lên, xuyên qua việc tranh chấp, và cuối cùng phải thất bại của họ, trong việc biểu quyết đạo luật ngân sách cho Bộ Nội An vào cuối tháng 2 vừa qua. Lần này, nhiều tiếng nói của một số các vị dân biểu còn sáng suốt như các ông Peter King (ở New York) hoặc Charlie Dent (ở Pennsylvania) đã không ngần ngại lên tiếng chỉ trích các vị đồng viện bảo thủ cực đoan nếu cứ tiếp tục con đường cứng rắn như vậy thì sẽ không đạt thành quả tốt đẹp nào mà rốt cuộc chỉ làm tổn hại cho quyền lợi của quốc gia. Một dân biểu khác là ông Tom Cole (ở Oklahoma) nói rằng ông hy vọng là các vị đồng viện bảo thủ sẽ học được kinh nghiệm là “anh sẽ phải đồng ý thoả hiệp, và điều đó có nghĩa là phía bên kia cũng phải được một phần nào đó.” Và ông kết luận rằng: “Đã đến lúc, anh phải biết rằng cứ ngồi đập bàn la hét thì anh cũng không thể chuyển con số 54 thành 60 được.” (Hiện nay, phe Cộng Hoà chiếm 54 ghế tại Thượng Viện, nhưng thông thường phải có đa số 60 phiếu mới dễ dàng thông qua các dự luật theo ý muốn).
Nói chung, trong thời gian sắp tới, người dân sẽ được dịp chứng kiến những hành động của các nhà dân cử, lần này do phe Cộng Hoà giữ đa số nên không còn có thể tránh né trách nhiệm. Và từ đó, người ta mới có dịp nhìn thấy rõ hơn là họ có tài năng hay không trong việc điều hành đất nước hay là chỉ biết lo tìm cách chỉ trích như họ đã làm bấy lâu nay, điển hình là việc phe Cộng Hoà tiếp tục lôi kéo chuyện tranh cãi về đạo luật cải tổ bảo hiểm y tế đại chúng Affordable Care Act như đang diễn ra tại Tối Cao Pháp Viện trong tuần qua. Và đây có lẽ là đề tài sẽ được bàn đến trong một bài viết sắp tới.
MAI LOAN
Houston, Texas ngày 15/03/2015
Tại sao Anh, Đức, Pháp, Ý vào AIIB?
Ngô Nhân Dụng Trong vòng một tuần qua, Anh, Đức, Pháp, Ý lần lượt chịu góp vốn vào Ngân Hàng Đầu Tư Hạ Tầng Cơ Sở Á Châu (AIIB) do Trung Quốc khởi xướng; dù chính phủ Mỹ không đồng ý.
Đây là một thất bại ngoại giao của Mỹ. Thất bại này do chính quyền Obama tự tạo ra khi họ làm “ồn ào” về một “sự đã rồi,” một sự kiện thế nào cũng xảy ra, mà lại đáp ứng chính những đòi hỏi của Mỹ về Ngân Hàng Đầu Tư này.
Phân tích cho cùng, phải thấy rằng nếu Bắc Kinh không thành lập AIIB mới là điều lạ. Và nếu các nước như Anh, Đức, Pháp, Ý bỏ qua cơ hội không tham dự vào ngân hàng quốc tế đó mới là điều lạ. Việc tham gia của các nước này sẽ giảm bớt vai trò quan trọng của Trung Cộng, và thúc đẩy AIIB không đi vào con đường mà Tổng Thống Obama đã tỏ ra nghi ngại.
Bắc Kinh đang có quá nhiều tiền cần sử dụng. Đầu năm 2015, Bắc Kinh có 3,850 tỷ đô la dự trữ ngoại tệ, so với 3,993 tỷ vào Tháng Bảy năm 2014. Họ không thể sử dụng số tiền thu vô nhờ xuất cảng vào việc nâng cao nếp sống của người dân tiêu thụ, vì chướng ngại của cơ cấu kinh tế quốc doanh còn quá nặng nề. Thay vì đầu tư vào giáo dục, y tế công cộng, hoặc tăng lợi tức cho công nhân, nông dân, giới lãnh đạo ở Trung Nam Hải đem tiền đi gây ảnh hưởng ngoại giao. Đây không phải lần đầu tiên Trung Quốc khởi xướng một định chế tài chánh, kinh tế quốc tế. Họ đã cùng với các quốc gia trong nhóm “BRICS” (Brazil, Russia, India, China và South Africa) lập một Ngân Hàng Phát Triển mới. Năm ngoái họ cũng lập một Quỹ Phát Triển Đường Tơ Lụa (Silk Road Fund). Cho nên, khi chúng ta biết nhu cầu xây dựng hạ tầng cơ sở khắp Châu Á rất lớn, việc lập Ngân Hàng AIIB là một điều tự nhiên.
Tập Cận Bình đã đưa dự án AIIB ngày 24 Tháng Mười năm 2014, bên cạnh hội nghị APEC tại Bắc Kinh. Chính phủ Mỹ không hưởng ứng cho nên nhiều nước đồng minh cũng đứng ngoài, trong đó có những nước kinh tế mạnh nhất trong vùng như Úc, Nhật Bản, Nam Hàn, Indonesia. Nhưng các đồng minh khác của Mỹ là New Zealand, Singapore và Thái Lan, chưa kể Ấn Độ là một nước đối nghịch với Trung Quốc, đều ký tên trong số 21 quốc gia thuộc thành phần sáng lập mà phần lớn các nước Châu Á nghèo.
Trong hội nghị G-20 tại Australia sau đó, Thủ Tướng Úc Tony Abbott và Tổng Thống Barack Obama giải thích thái độ bất hợp tác. Họ tỏ ý lo ngại rằng AIIB sẽ không theo đúng các quy tắc công khai minh bạch (transparent), và quy trách rõ ràng (accountable) như Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF). Ngoài ra còn mối lo ngân hàng mới này, đặt trụ sở ở Bắc Kinh, khi cho vay sẽ bất chấp các điều kiện bảo vệ quyền làm người của giới lao động cũng như nhu cầu bảo vệ môi trường, mà các ngân hàng quốc tế khác vẫn phải theo.
Bộ trưởng tài chánh George Osborne đã thông báo cho bộ trưởng tài chánh Mỹ từ đầu tuần trước, ngày Thứ Năm nước Anh mới công bố việc gia nhập AIIB, nhưng Mỹ vẫn lên tiếng phản đối. Đây là một hành động ngoại giao dại dột. Chính quyền Mỹ đã đẩy một quyết định tài chánh của đồng minh lên thành một vấn đề bang giao lớn giữa hai nước. Hậu quả càng tai hại hơn khi Thứ Ba tuần này, đến lượt Đức, Pháp, Ý cùng nối gót, sau khi Anh quốc “xé rào.” Cả bốn nước đều muốn đóng vai những quốc gia sáng lập AIIB, trước hạn chót, ngày 31 Tháng Ba năm 2015.
Thực ra, việc tham dự của các nước Châu Âu, có thể thêm Luxembourg, Thụy Sĩ, Úc, Nam Hàn, sẽ giúp giải tỏa mối lo ngại mà ông Obama đã nêu lên vào năm ngoái: AIIB có hoạt động theo các tiêu chuẩn đứng đắn được quốc tế công nhận hay không? Mối lo ngại này rất chính đáng. Trung Quốc đã nổi tiếng trong việc đem hàng tỷ đô la cho các nước Phi Châu vay để phát triển, mà mục tiêu thật chỉ là hối lộ. Vì vậy, lần này Tập Cận Bình phải lên tiếng bảo đảm AIIB sẽ theo đúng các quy tắc theo mẫu mực của IMF và Ngân Hàng Thế Giới (WB). Việc tham dự của bốn nước Châu Âu trong Nhóm G-7 sẽ là một thử thách để biết lời cam kết của Tập Cận Bình có thể tin được hay không.
AIIB có số vốn khởi đầu là 50 tỷ đô la, sẽ tăng lên thành 100 tỷ đô la. Để so sánh, vốn điều lệ của Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB) là US$160 tỷ và của World Bank là $223 tỷ. Ngay từ đầu, AIIB mở cửa mời các nước khác tham dự trong thành phần sáng lập. Tỷ lệ góp vốn cổ phần vào AIIB nhiều hay ít tùy theo tỷ lệ tổng sản lượng nội địa (GDP) của mỗi nước. Nếu Ấn Độ, Anh, Đức, Pháp, Ý, Úc, Nam Hàn không tham dự, thì Bắc Kinh sẽ chiếm đa số cổ phần áp đảo trong AIIB. Khi các nước kinh tế lớn này gia nhập, tỷ trọng của Trung Quốc sẽ giảm bớt. Ông George Osborne đã nhấn mạnh chính phủ Anh sẽ buộc AIIB phải hoạt động theo các tiêu chuẩn tài chánh quốc tế. Chúng ta có thể tin các nước Anh, Đức, Pháp, Ý, Ấn Độ sẽ không để cho AIIB cấp tiền cho những dự án nuôi tham nhũng, hối lộ, phá hoại môi trường hoặc bóc lột người lao động.
IMF và Ngân Hàng Thế Giới đã được thành lập từ sau Đại Chiến Thứ Hai. Cả hai định chế tài chánh quốc tế hoàn toàn chịu ảnh hưởng của Mỹ, là nước góp vốn cổ phần nhiều nhất. Chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới luôn luôn là người Mỹ, chức vụ này tại IMF được chia cho các nước Châu Âu. Những nước mới lên, như Ấn Độ, Brazil, Nga, Trung Quốc trong khối BRICS, phải đóng vai trò quá nhỏ so với tỷ trọng kinh tế của họ.
Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB) thì do Nhật Bản kiểm soát từ khi thành lập năm 1966. Có lúc vốn góp của Nhật chiếm gần 42%, vào năm 1986. Chức chủ tịch đều là người Nhật, các nhà thầu Nhật phụ trách đa số các dự án xây cất được ADB cấp vốn. ADB đã được cải tổ, vào cuối năm 2013, số cổ phần của Nhật xuống chỉ còn 15.67%, của Mỹ là 15.56%, Trung Quốc có 6.47%, Ấn Độ 6.36%, và Úc chiếm 5.81%. Việc cải tổ cơ cấu Ngân Hàng Thế Giới và IMF đã được nêu lên từ mấy chục năm nay, không thể tiến hành được vì Quốc Hội Mỹ ngăn cản.
Ngân Hàng Thế Giới và ADM, Ngân Hàng Phát Triển Châu Á cho vay trong rất nhiều lãnh vực, AIIB sẽ chỉ chú trọng đến các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở. Ngân Hàng Phát Triển Châu Á tiên đoán châu Á cần 8,000 tỷ đô la cho cơ sở hạ tầng trong mười năm. Mỗi năm ADM dự trù sẽ cho vay 13 tỷ, quá nhỏ so với nhu cầu khoảng 750 tỷ. Số tiền ADB cho vay chú trọng các lãnh vực điện lực (51%), đường sá (29%) và viễn thông (13%). Các nước Ấn Độ, Bangladesh và Sri Lanka vùng Nam Á sẽ cần 2,500 tỷ mỹ kim từ 2015 đến 2024, để đầu tư vào điện lực, giao thông, và các công tác dẫn nước, viễn thông và chế biến chất thải.
Nhu cầu xây dựng hạ tầng cơ sở cho 600 triệu dân thuộc khối ASEAN, với tổng sản lượng nội địa 2,000 tỷ mỹ kim, là một cơ hội cho các nhà đầu tư thế giới. Một cuộc nghiên cứu của giới kinh doanh Nhật Bản cho biết một trở ngại của kinh tế 10 nước ASEAN là hạ tầng cơ sở chưa phát triển. Tại Philippines, ADB tính mỗi năm cần đầu tư 20 tỷ đô la. Tại Việt Nam, hệ thống đường xe lửa và xa lộ còn quá thô sơ, mấy ngàn cây số bờ biển mà đến năm 2009 mới có một hải cảng sâu cho tầu lớn cập bến.
Bắc Kinh đã khởi xướng Ngân Hàng Đầu Tư Hạ Tầng Cơ Sở Á Châu AIIB vì họ có sẵn gần bốn ngàn tỷ Mỹ kim, lớn bằng nửa GDP. Đứng về mặt tài chánh, số dự trữ ngoại tệ đó đều là “tiền gửi,” của các công ty và ngân hàng trong nước, và của các nhà đầu tư ngoại quốc. Chính Ngân Hàng Nhân Dân không làm gì để kiếm ra tiền! Họ được giữ số dự trữ đó vì người ta còn tin kinh tế Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển và các ngân hàng trong nước chưa suy sụp.
Bất cứ một ngân hàng nào, khi nhận tiền do người khác gửi thì việc quan trọng nhất là phải đem tiền đó đầu tư. Hiện nay 60% đến 70% quỹ dự trữ là đô la Mỹ, được dùng mua công trái hoặc các trái phiếu do chính phủ Mỹ bảo đảm. Những món đầu tư này lãi suất rất thấp. Giá trị và lời lỗ bị ràng buộc với sự thăng trầm của Mỹ kim. Cho nên, nếu có thể đem tiền đầu tư vào thứ khác thì tốt hơn. AIIB là một cửa ngõ cho các món đầu tư mới, với hy vọng lợi suất cao hơn. Ngoài ra, các công ty Trung Quốc đã có kinh nghiệm xây dựng hạ tầng cơ sở trong nước sẽ tìm được cơ hội mới. Bắc Kinh cử Kim Lập Quần (Jin Liqun), 65 tuổi đứng đầu AIIB. Một cựu sinh viên được học bổng Hubert Humphrey của Mỹ đi học đại học Boston, ông ta đã làm cho Ngân Hàng Thế Giới và từng giữ chức phó chủ tịch Ngân Hàng Phát Triển Châu Á, ADB.
Khi chấp nhận các nước Châu Âu, Ấn Độ, hoặc Nhật Bản, Nam Hàn, Úc gia nhập vào thành phần sáng lập AIIB, chính quyền Trung Quốc chứng tỏ họ muốn làm ăn thật, hoàn toàn với mục đích phân tản (diversify) các món đầu tư, để kiếm lợi. Khi có thêm nhiều “nước cổ đông” lớn, vai trò tương đối của Bắc Kinh sẽ giảm bớt. Họ không định sử dụng AIIB như một công cụ ngoại giao, để hối lộ quan chức các nước nhỏ ở Châu Á. Với thành phần các quốc gia sáng lập đông đảo này, hoạt động của AIIB sẽ theo đúng khuôn khổ quốc tế hơn. Thực sự quyết định của Anh, Đức, Pháp, Ý gia nhập AIIB hoàn toàn vì lý do kinh tế. Chính quyền Mỹ đã biến nó thành một thất bại ngoại giao.
Mở mang Hạ Tầng Cơ Sở Châu Á là một nhu cầu có thật và rất lớn, các nhà đầu tư thế giới không ai muốn bỏ lỡ cơ hội. AIIB sẽ cạnh tranh với Ngân Hàng Thế Giới, IMF và ADB, nhưng đối với một nước luôn luôn cổ động cho thị trường cạnh tranh như nước Mỹ, đây phải coi là một tin mừng! Thực ra các định chế tài chánh cũ như IMF và ADB, WB hiện nay đang “làm không hết việc.” Hơn nữa, đây cũng là một “cú sốc” thúc đẩy Quốc Hội Mỹ phải tiến hành việc cải tổ các định chế tài chánh quốc tế mà hiện nay Mỹ đang đóng vai chủ động. Đồng thời, Quốc Hội Mỹ sẽ phải giúp chính phủ một cách tích cực hơn trong việc thành lập tổ chức Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương, TPP (Trans-Pacific Partnership), cùng Nhật Bản và mười nước khác, để giành ảnh hưởng với Trung Quốc! Một ảnh hưởng lâu dài là mở mang hạ tầng cơ sở, giúp các nước Châu Á phát triển.
Ngô Nhân Dụng Trong vòng một tuần qua, Anh, Đức, Pháp, Ý lần lượt chịu góp vốn vào Ngân Hàng Đầu Tư Hạ Tầng Cơ Sở Á Châu (AIIB) do Trung Quốc khởi xướng; dù chính phủ Mỹ không đồng ý.
Đây là một thất bại ngoại giao của Mỹ. Thất bại này do chính quyền Obama tự tạo ra khi họ làm “ồn ào” về một “sự đã rồi,” một sự kiện thế nào cũng xảy ra, mà lại đáp ứng chính những đòi hỏi của Mỹ về Ngân Hàng Đầu Tư này.
Phân tích cho cùng, phải thấy rằng nếu Bắc Kinh không thành lập AIIB mới là điều lạ. Và nếu các nước như Anh, Đức, Pháp, Ý bỏ qua cơ hội không tham dự vào ngân hàng quốc tế đó mới là điều lạ. Việc tham gia của các nước này sẽ giảm bớt vai trò quan trọng của Trung Cộng, và thúc đẩy AIIB không đi vào con đường mà Tổng Thống Obama đã tỏ ra nghi ngại.
Bắc Kinh đang có quá nhiều tiền cần sử dụng. Đầu năm 2015, Bắc Kinh có 3,850 tỷ đô la dự trữ ngoại tệ, so với 3,993 tỷ vào Tháng Bảy năm 2014. Họ không thể sử dụng số tiền thu vô nhờ xuất cảng vào việc nâng cao nếp sống của người dân tiêu thụ, vì chướng ngại của cơ cấu kinh tế quốc doanh còn quá nặng nề. Thay vì đầu tư vào giáo dục, y tế công cộng, hoặc tăng lợi tức cho công nhân, nông dân, giới lãnh đạo ở Trung Nam Hải đem tiền đi gây ảnh hưởng ngoại giao. Đây không phải lần đầu tiên Trung Quốc khởi xướng một định chế tài chánh, kinh tế quốc tế. Họ đã cùng với các quốc gia trong nhóm “BRICS” (Brazil, Russia, India, China và South Africa) lập một Ngân Hàng Phát Triển mới. Năm ngoái họ cũng lập một Quỹ Phát Triển Đường Tơ Lụa (Silk Road Fund). Cho nên, khi chúng ta biết nhu cầu xây dựng hạ tầng cơ sở khắp Châu Á rất lớn, việc lập Ngân Hàng AIIB là một điều tự nhiên.
Tập Cận Bình đã đưa dự án AIIB ngày 24 Tháng Mười năm 2014, bên cạnh hội nghị APEC tại Bắc Kinh. Chính phủ Mỹ không hưởng ứng cho nên nhiều nước đồng minh cũng đứng ngoài, trong đó có những nước kinh tế mạnh nhất trong vùng như Úc, Nhật Bản, Nam Hàn, Indonesia. Nhưng các đồng minh khác của Mỹ là New Zealand, Singapore và Thái Lan, chưa kể Ấn Độ là một nước đối nghịch với Trung Quốc, đều ký tên trong số 21 quốc gia thuộc thành phần sáng lập mà phần lớn các nước Châu Á nghèo.
Trong hội nghị G-20 tại Australia sau đó, Thủ Tướng Úc Tony Abbott và Tổng Thống Barack Obama giải thích thái độ bất hợp tác. Họ tỏ ý lo ngại rằng AIIB sẽ không theo đúng các quy tắc công khai minh bạch (transparent), và quy trách rõ ràng (accountable) như Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF). Ngoài ra còn mối lo ngân hàng mới này, đặt trụ sở ở Bắc Kinh, khi cho vay sẽ bất chấp các điều kiện bảo vệ quyền làm người của giới lao động cũng như nhu cầu bảo vệ môi trường, mà các ngân hàng quốc tế khác vẫn phải theo.
Bộ trưởng tài chánh George Osborne đã thông báo cho bộ trưởng tài chánh Mỹ từ đầu tuần trước, ngày Thứ Năm nước Anh mới công bố việc gia nhập AIIB, nhưng Mỹ vẫn lên tiếng phản đối. Đây là một hành động ngoại giao dại dột. Chính quyền Mỹ đã đẩy một quyết định tài chánh của đồng minh lên thành một vấn đề bang giao lớn giữa hai nước. Hậu quả càng tai hại hơn khi Thứ Ba tuần này, đến lượt Đức, Pháp, Ý cùng nối gót, sau khi Anh quốc “xé rào.” Cả bốn nước đều muốn đóng vai những quốc gia sáng lập AIIB, trước hạn chót, ngày 31 Tháng Ba năm 2015.
Thực ra, việc tham dự của các nước Châu Âu, có thể thêm Luxembourg, Thụy Sĩ, Úc, Nam Hàn, sẽ giúp giải tỏa mối lo ngại mà ông Obama đã nêu lên vào năm ngoái: AIIB có hoạt động theo các tiêu chuẩn đứng đắn được quốc tế công nhận hay không? Mối lo ngại này rất chính đáng. Trung Quốc đã nổi tiếng trong việc đem hàng tỷ đô la cho các nước Phi Châu vay để phát triển, mà mục tiêu thật chỉ là hối lộ. Vì vậy, lần này Tập Cận Bình phải lên tiếng bảo đảm AIIB sẽ theo đúng các quy tắc theo mẫu mực của IMF và Ngân Hàng Thế Giới (WB). Việc tham dự của bốn nước Châu Âu trong Nhóm G-7 sẽ là một thử thách để biết lời cam kết của Tập Cận Bình có thể tin được hay không.
AIIB có số vốn khởi đầu là 50 tỷ đô la, sẽ tăng lên thành 100 tỷ đô la. Để so sánh, vốn điều lệ của Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB) là US$160 tỷ và của World Bank là $223 tỷ. Ngay từ đầu, AIIB mở cửa mời các nước khác tham dự trong thành phần sáng lập. Tỷ lệ góp vốn cổ phần vào AIIB nhiều hay ít tùy theo tỷ lệ tổng sản lượng nội địa (GDP) của mỗi nước. Nếu Ấn Độ, Anh, Đức, Pháp, Ý, Úc, Nam Hàn không tham dự, thì Bắc Kinh sẽ chiếm đa số cổ phần áp đảo trong AIIB. Khi các nước kinh tế lớn này gia nhập, tỷ trọng của Trung Quốc sẽ giảm bớt. Ông George Osborne đã nhấn mạnh chính phủ Anh sẽ buộc AIIB phải hoạt động theo các tiêu chuẩn tài chánh quốc tế. Chúng ta có thể tin các nước Anh, Đức, Pháp, Ý, Ấn Độ sẽ không để cho AIIB cấp tiền cho những dự án nuôi tham nhũng, hối lộ, phá hoại môi trường hoặc bóc lột người lao động.
IMF và Ngân Hàng Thế Giới đã được thành lập từ sau Đại Chiến Thứ Hai. Cả hai định chế tài chánh quốc tế hoàn toàn chịu ảnh hưởng của Mỹ, là nước góp vốn cổ phần nhiều nhất. Chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới luôn luôn là người Mỹ, chức vụ này tại IMF được chia cho các nước Châu Âu. Những nước mới lên, như Ấn Độ, Brazil, Nga, Trung Quốc trong khối BRICS, phải đóng vai trò quá nhỏ so với tỷ trọng kinh tế của họ.
Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB) thì do Nhật Bản kiểm soát từ khi thành lập năm 1966. Có lúc vốn góp của Nhật chiếm gần 42%, vào năm 1986. Chức chủ tịch đều là người Nhật, các nhà thầu Nhật phụ trách đa số các dự án xây cất được ADB cấp vốn. ADB đã được cải tổ, vào cuối năm 2013, số cổ phần của Nhật xuống chỉ còn 15.67%, của Mỹ là 15.56%, Trung Quốc có 6.47%, Ấn Độ 6.36%, và Úc chiếm 5.81%. Việc cải tổ cơ cấu Ngân Hàng Thế Giới và IMF đã được nêu lên từ mấy chục năm nay, không thể tiến hành được vì Quốc Hội Mỹ ngăn cản.
Ngân Hàng Thế Giới và ADM, Ngân Hàng Phát Triển Châu Á cho vay trong rất nhiều lãnh vực, AIIB sẽ chỉ chú trọng đến các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở. Ngân Hàng Phát Triển Châu Á tiên đoán châu Á cần 8,000 tỷ đô la cho cơ sở hạ tầng trong mười năm. Mỗi năm ADM dự trù sẽ cho vay 13 tỷ, quá nhỏ so với nhu cầu khoảng 750 tỷ. Số tiền ADB cho vay chú trọng các lãnh vực điện lực (51%), đường sá (29%) và viễn thông (13%). Các nước Ấn Độ, Bangladesh và Sri Lanka vùng Nam Á sẽ cần 2,500 tỷ mỹ kim từ 2015 đến 2024, để đầu tư vào điện lực, giao thông, và các công tác dẫn nước, viễn thông và chế biến chất thải.
Nhu cầu xây dựng hạ tầng cơ sở cho 600 triệu dân thuộc khối ASEAN, với tổng sản lượng nội địa 2,000 tỷ mỹ kim, là một cơ hội cho các nhà đầu tư thế giới. Một cuộc nghiên cứu của giới kinh doanh Nhật Bản cho biết một trở ngại của kinh tế 10 nước ASEAN là hạ tầng cơ sở chưa phát triển. Tại Philippines, ADB tính mỗi năm cần đầu tư 20 tỷ đô la. Tại Việt Nam, hệ thống đường xe lửa và xa lộ còn quá thô sơ, mấy ngàn cây số bờ biển mà đến năm 2009 mới có một hải cảng sâu cho tầu lớn cập bến.
Bắc Kinh đã khởi xướng Ngân Hàng Đầu Tư Hạ Tầng Cơ Sở Á Châu AIIB vì họ có sẵn gần bốn ngàn tỷ Mỹ kim, lớn bằng nửa GDP. Đứng về mặt tài chánh, số dự trữ ngoại tệ đó đều là “tiền gửi,” của các công ty và ngân hàng trong nước, và của các nhà đầu tư ngoại quốc. Chính Ngân Hàng Nhân Dân không làm gì để kiếm ra tiền! Họ được giữ số dự trữ đó vì người ta còn tin kinh tế Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển và các ngân hàng trong nước chưa suy sụp.
Bất cứ một ngân hàng nào, khi nhận tiền do người khác gửi thì việc quan trọng nhất là phải đem tiền đó đầu tư. Hiện nay 60% đến 70% quỹ dự trữ là đô la Mỹ, được dùng mua công trái hoặc các trái phiếu do chính phủ Mỹ bảo đảm. Những món đầu tư này lãi suất rất thấp. Giá trị và lời lỗ bị ràng buộc với sự thăng trầm của Mỹ kim. Cho nên, nếu có thể đem tiền đầu tư vào thứ khác thì tốt hơn. AIIB là một cửa ngõ cho các món đầu tư mới, với hy vọng lợi suất cao hơn. Ngoài ra, các công ty Trung Quốc đã có kinh nghiệm xây dựng hạ tầng cơ sở trong nước sẽ tìm được cơ hội mới. Bắc Kinh cử Kim Lập Quần (Jin Liqun), 65 tuổi đứng đầu AIIB. Một cựu sinh viên được học bổng Hubert Humphrey của Mỹ đi học đại học Boston, ông ta đã làm cho Ngân Hàng Thế Giới và từng giữ chức phó chủ tịch Ngân Hàng Phát Triển Châu Á, ADB.
Khi chấp nhận các nước Châu Âu, Ấn Độ, hoặc Nhật Bản, Nam Hàn, Úc gia nhập vào thành phần sáng lập AIIB, chính quyền Trung Quốc chứng tỏ họ muốn làm ăn thật, hoàn toàn với mục đích phân tản (diversify) các món đầu tư, để kiếm lợi. Khi có thêm nhiều “nước cổ đông” lớn, vai trò tương đối của Bắc Kinh sẽ giảm bớt. Họ không định sử dụng AIIB như một công cụ ngoại giao, để hối lộ quan chức các nước nhỏ ở Châu Á. Với thành phần các quốc gia sáng lập đông đảo này, hoạt động của AIIB sẽ theo đúng khuôn khổ quốc tế hơn. Thực sự quyết định của Anh, Đức, Pháp, Ý gia nhập AIIB hoàn toàn vì lý do kinh tế. Chính quyền Mỹ đã biến nó thành một thất bại ngoại giao.
Mở mang Hạ Tầng Cơ Sở Châu Á là một nhu cầu có thật và rất lớn, các nhà đầu tư thế giới không ai muốn bỏ lỡ cơ hội. AIIB sẽ cạnh tranh với Ngân Hàng Thế Giới, IMF và ADB, nhưng đối với một nước luôn luôn cổ động cho thị trường cạnh tranh như nước Mỹ, đây phải coi là một tin mừng! Thực ra các định chế tài chánh cũ như IMF và ADB, WB hiện nay đang “làm không hết việc.” Hơn nữa, đây cũng là một “cú sốc” thúc đẩy Quốc Hội Mỹ phải tiến hành việc cải tổ các định chế tài chánh quốc tế mà hiện nay Mỹ đang đóng vai chủ động. Đồng thời, Quốc Hội Mỹ sẽ phải giúp chính phủ một cách tích cực hơn trong việc thành lập tổ chức Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương, TPP (Trans-Pacific Partnership), cùng Nhật Bản và mười nước khác, để giành ảnh hưởng với Trung Quốc! Một ảnh hưởng lâu dài là mở mang hạ tầng cơ sở, giúp các nước Châu Á phát triển.
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Nghèo + Ngông = Ngố
Bùi Tín - Nước Việt Nam ta còn nghèo, điều này ai chả biết. Chỉ trừ các quan chức CS nay đã thành triệu phú, tỷ phú đô la, vượt xa các điền chủ Nam bộ xưa, các tư sản hàng Đào Hà Nội hồi nào. Theo thông kê thu nhập tính theo đầu người, dân Việt hiện nghèo hơn dân Philippines, Indonésia, kém xa dân Thái Lan, kém rất xa dân Singapore ở quanh ta.
Đã thế lại chơi ngông. Chạy theo những thành tích ảo, bề nổi, vô nghĩa.
Tết vừa qua, có chiếc bánh chưng 7 tạ, 12 người gánh, gọi là để cúng bà mẹ ông Hồ, có chiếc bánh tét dài 11 mét, bánh phồng tôm nặng tạ rưỡi độn nhựa xốp, chậu hủ tíu cho 1 ngàn người ăn, được các quan chức cộng sản đến chứng kiến, đề cao, ca ngợi..., cuối cùng không một ai ăn nổi, để mốc meo, đổ xuống cống.
Những trò chơi ngông một cách đần độn. Lẽ ra lãnh đạo phải ngăn ngừa, nhưng họ bận chuyện của sân sau, cửa hậu, đếm phong bìa, tiếp khách sộp, đi cúng bái xem quẻ thăng quan tiến chức, tranh nhau ấn thiêng để hòng trúng vận phất đại gia.
Những ngày Tết ảm đạm, các giá trị đảo lộn. Người ngay thẳng, có lòng yêu nước, thương dân, trọng nhân quyền, đòi dân chủ tự do rên siết trong tù. Kẻ gian manh cướp đất, cướp nhà, cướp tiền bạc của công đầy túi vẫn hoành hành cưỡi cổ nhân dân.
Ngày 10/3/2015 giữa Hà Nội, trong phòng lớn của khách sạn Hilton, Lễ ký thỏa thuận hợp tác về Dự án đầu tư xây dựng Tháp truyền hình Việt Nam đã diễn ra với các quan chức, đại diện của Đài truyền hình, Tổng công ty đầu tư kinh doanh vốn Nhà nước SCIC, Công ty cổ phần tư nhân thuộc tập đoàn BRG và ngân hàng Đông Nam Á SeaBank.
Sau buổi lễ ký thỏa thuận, ông Trần Bình Minh, ủy viên TƯ đảng, Tổng giám đốc đài truyền hình VN cho biết các bên thoả thuận đã thống nhất phương án được thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo gợi ý là Tháp truyền hình mới của Hà Nội phải lập kỷ lục thế giới về chiều cao.
Ông Trần Bình Minh thích thú nhấn mạnh: Tháp truyền hình Hà Nội chẳng những sẽ là tháp cao nhất Đông Nam Á, mà sẽ là cao nhất châu Á. Do hiện nay tháp ở Nhật Bản - Tokyo Sky Tree là cao nhất thế giới - cao 634 mét, nên tháp TH Hà Nội sẽ cao 636 mét, nghĩa là còn soán luôn ngôi cao nhất toàn thế giới.
Các báo trong nước như Tin Nhanh - VNExpress cũng như TTX Vàng Anh đưa tin giật gân này, không quên kể ra các tháp truyền hình từng lập kỷ lục cao nhất thế giới, như Tháp Eifel/ Pháp cao 325m, tháp Sky/ Tân Tây Lan 328m, tháp Berlin 388m, tháp Thượng Hải 468m, tháp Ostankino/Moscow 540m, tháp Canton- Quảng Châu 600m, tháp Sky Tree/Tokyo 634m.
Ghê chưa! Anh hùng chưa! Hà Nội sẽ có tháp Truyền hình cao hơn Paris, cao hơn Berlin, cao hơn Moscow, cao hơn Thượng Hải, Quảng Châu, cao hơn Tokyo. Chưa thấy hé ra sẽ chi phí hết bao nhiêu nghìn tỷ đồng, mất trăm triệu hay mấy tỷ US$.
Nghèo mà chơi ngông. Quá ngông. Ngông không giới hạn.
Để làm gì? Để ăn cái giải gì? Tiền đâu mà phí phạm đến thế?
Tập đoàn tư nhân BRG là ai, thuộc phe nhóm tư bản đỏ nào? quan hệ với bí thư và các quan chức trong thành ủy ra sao?
Tháp truyền hình cao ngất ngưởng, mà nền giáo dục thấp lèo tèo, nền y tế xã hội bệ rạc, dân trí thấp, tai nạn giao thông kỷ lục, tham nhũng loại cao không đâu bằng, nhiều nơi các em đi học không có cầu phải níu theo dây cáp để có thể chết đuối, nền công nghiệp chưa làm ra nổi một con ốc thật đúng chất lượng... Tiền của đâu có thừa thãi gì mà chơi ngông vậy?! Nợ quốc gia còn đầm đìa ra đó kia mà. Ganh đua gì những chuyện viển vông trê trời cao đến thế. Liệu thần kinh quý vị đưa ra chủ trương này có bình thường?
Tháp cao nhất thế giới thường là tiêu biểu cho một nền công nghiệp tổng hợp cao nhất, - về vật liệu xây dựng, về kiến trúc, về toán học, tin học, về địa chấn, về thông tin minh bạch, về nền văn minh tổng hợp của nhân loại. Thật là mỉa mai khi một anh lùn về khoa học kỹ thuật, lùn về khoa học nhân văn, anh lùn về công nghiệp - kỹ thuật lại chơi ngông liều lĩnh và lạc điệu đến thế. Lại là một kiểu anh nông dân nuôi voi chơi.
Rồi để sau khi khai mạc, cái tháp cao nhất thế giới ấy sẽ truyền đi cho người xem TV ở Việt Nam, Đông Nam Á và thế giới những tin tức, hình ảnh có giá trị ra sao, hay vẫn là những nội dung đã được định hướng trước, những sự thật bị cắt xén, bóp méo, xuyên tạc, bịa đặt, những bản tin nhạt nhẽo, biết rồi khổ lắm nói mãi, chuyên tra tấn tai mắt của khán giả. Cho đến nay khán giả truyền hình trong nước vẫn còn vướng mắc là tại sao ban lãnh đạo Đài truyền hình VN vẫn còn dùng những phát thanh viên trong nhà đài từng bị vi phạm nhân cách một cách ô nhục, trong một số cuộc đi công tác ở nước ngoài - ở Bắc Âu và Nhật bản - đã thò tay xoáy ở các siêu thị những đồ dùng mỹ phẩm đắt tiền, bị chụp ảnh, hài tội tại chỗ rồi đuổi về nước. Tội ăn cắp lắp đi lắp lại đến mức tại các nước đó họ phải in cờ đỏ sao vàng và tiếng Việt để cảnh cáo, Thật đẹp mặt cho đài truyền hình VN. Nay làm tháp cao nhất thế giới để xóa tiếng xấu, làm nhục quốc thể chăng?
Chơi ngông kiểu này còn có thể là do tư duy thâm thủy của các nhà chính trị trong thành ủy CS và ban tuyên huấn mác xít. Dân Hà Nội sẽ luôn ngẩng cổ tự hào ngắm nhìn tháp truyền hình cao nhất thế giới của mình để quên đi những nghịch cảnh khó chịu, đau lòng, bất công tràn đầy trên mặt đất, giá điện cao, tham nhũng lan tràn, nông dân mất đất, công an kết hợp bọn xã hội đen đàn áp thô bạo các sinh viên yêu nước yêu dân chủ ‘không thích đảng CS’. Để không còn nhớ là tự do báo chí còn thấp hơn ngọn cỏ, chất lượng nghiên cứu khoa học và số lượng sáng chế phát minh là lẹt đẹt, ‘đèn đỏ’ của thế giới.
Khi Quảng Nam dự định dựng tượng Bà Mẹ Anh hùng trị giá hơn 400 tỷ đồng, có ngay ý kiến can ngăn, nên lấy tiền đó chia cho hơn 6 ngàn Bà Mẹ Anh hùng đang thiếu đói, mỗi gia đình có thể nhận 60 triệu đồng, thiết thực biết bao nhiêu, đỡ khổ cho biết bao gia đình.
Mong rằng sẽ có cuộc trưng cầu dân ý gấp, ít nhất là dân ý của công dân thủ đô về ý đồ xây dựng Tháp Truyền hình hoành tráng, ngất ngưởng đã được định vị ở cạnh Hồ Tây, ở phía Tây Bắc của Hà Nội. Giữa một vùng đồng không mông quạnh sẽ nổi bật trơ trọi một anh khổng lồ quá khổ như đi trên đôi chân cà - kheo, để ai nấy đi qua đều phải ngẩng cao đầu xít xoa: cao nhất thế giới một cách tuyệt đối. Để rồi mà đâm xe vào nhau.
Đúng kiểu trưởng giả học làm sang, thành ra ngố, sẽ bị cả thế giới họ cười vào mũi.
Đúng kiểu trọc phú, nghèo văn hóa, thiếu thực chất của con người có trí khôn.
Có nên để tượng đài Nghèo mà Ngông nên Ngố như thế hình thành thật sự giữa thủ đô?
Việt Nam ta và trưởng tồn, mà không ai thấy ngượng hay sao!
Lễ ký kết thỏa thuận đã xong, bút sa gà chết rồi. Có ý kiến của thủ tướng rồi.
Bùi Tín
Tự do, giá trị cao quý nhất của đời sống
Monday, March 23, 2015 5:14:48 PM
Diễn từ tại lễ ra mắt Luật Sư Đoàn Người Mỹ Gốc Việt tại Georgia
Chánh Án Nguyễn Trọng Nho LTS - Theo lời mời của Luật Sư Đoàn Người Mỹ Gốc Việt (Vietnamese American Bar Association, viết tắt là “VABA-GA”) Chánh Án Nguyễn Trọng Nho đã đến Atlanta, Georgia, tham dự tiệc ra mắt của Luật Sư Đoàn VABA-GA và đọc bài diễn văn chính trong buổi tiệc này, vào ngày 14 Tháng Ba, 2015. Tham dự tiệc ra mắt có đông đủ các chánh án người Mỹ, Hàn, Trung Quốc, các biện lý, công tố và dân cử địa phương cũng như đại diện cộng đồng người Việt tại Georgia, chủ tịch và phái đoàn đại diện cộng đồng người Mỹ gốc Á Châu tại Geogia, Phòng Thương Mại người Việt tại Georgia và các cơ quan báo chí truyền thông địa phương. Chủ tịch Luật Sư Đoàn VABA-GA, Jenny Nguyễn, cũng thay mặt VABA-GA nhân dịp này trao tặng giải thưởng “Người Mở Đường - Trail Balzer Award” cho vị Chánh Án Phạm Minh Tú, vị chánh án người Mỹ gốc Việt tại tòa án liên bang ở Tennessee.
Sau đây là bản chuyển ngữ bài diễn văn của Chánh Án Nguyễn Trọng Nho trong buổi tiệc nói trên.
***
Kính thưa quí vị chánh án:
Thưa bà Chánh Biện lý Lawson, ông công tố viên quận hạt Gammage, quí vị dân cử, quí vị lãnh đạo và hội viên các Luật Sư Đoàn, các cộng đồng và toàn thể quí vị quan khách.
Tôi xin cảm ơn Luật sư Chủ tịch Jenny Nguyễn về lời giới thiệu nồng nàn và toàn ban chỉ đạo Luật Sư Đoàn Việt Nam tại Georgia (VABA-GA) đã mời tôi đến đây hôm nay với sự tiếp đón thật ân cần. Cho tôi được chúc mừng người anh em dồng nghiệp của tôi, tân Chánh Án Meng Lim, người chánh an người Mỹ gốc Cambodia đầu tiên tại Hoa Kỳ. Sự thắng cử vẻ vang của Chánh Án Lim trong vài tháng trước đây tại Georgia và câu chuyện về cuộc đời của ông sẽ là nguồn cảm hứng cho biết bao người Cambode và những người khác nữa để bước theo chân ông.
Thưa quí vị:
Bây giờ đây tôi muốn bắt đầu với ít giây phút để suy nghiệm, tưởng nhớ và cảm ơn hơn 220,000 những người con dân của tiểu bang Georgia đả đổ mồ hôi và xương máu tại quê hương Việt Nam của tôi những năm 60 và 70. Tiểu bang này đã cống hiến cho cuộc chiến Việt Nam số lượng chiến sĩ đông đảo nhất. Tôi cũng xin quí vị cùng tôi vinh danh người tù nhân chiến tranh cao cấp nhất của lục quân Hoa Kỳ, Đại Tá Benjamin Purcell vừa qua đời hai năm trước đây tại thành phố Clarksville, Georgia, cách đây chừng 80 dặm đường. Sau khi trải qua 62 tháng bị giam giữ trong một trại tù Cộng Sản ở Lào, ông trở về quê hương năm 1973. Lời nói đầu tiên của ông gửi đến thế giới là “Tự do là cái gì cao quí nhất của đời sống một con người.”
Thời điểm này, 40 năm trước đây, là một mốc thời gian rất quan trọng. Đó là lúc mà quê hương nơi tôi đã sinh ra và lớn lên, Nam Việt Nam, nơi tôi đã nuôi bao ước mơ, nơi thế hệ của tôi đã liên tục tranh đấu để xây dựng một quốc gia dân chủ, tự do, với công lý, thịnh vượng và hòa bình, đã sụp đổ trước sự tấn công tàn bạo của những người Việt Nam Cộng Sản miền Bắc. Những người Cộng Sản đã phản bội lại hiệp ước hòa bình họ ký kết năm 1973 tại Paris với tất cả các bên tham chiến. Nước Mỹ đang sôi động và bối rối với biến cố Watergate, đã không làm gì để giúp đỡ đồng minh của mình. Những lời hứa của Tổng Thống Nixon với Nam Việt Nam đã không còn giá trị gì sau khi ông rời White House. Binh sĩ Nam Việt Nam không còn súng đạn để chống trả. Các khẩu đại bác nằm yên lặng trước hàng loạt pháo kích liên tục của địch quân. Không có đủ xăng để bay các chiến đấu cơ hay trực thăng. Trong khi đó khối Cộng Sản tiếp tục viện trợ ồ ạt cho miền Bắc với xe tăng, hỏa tiễn, vũ khí, và đạn dược tối tân. Hậu quả tất nhiên đã không thể nào tránh được.
Năm 1975, miền Nam sụp đổ, hàng triệu người Việt bắt đầu rời bỏ quê hương tìm kiếm tự do. Cũng như đối với cố Đại Tá Purcell, với họ, “Tự do là cái gì cao quí nhất của đời sống một con người.” Đời sống không có tự do mất hết mọi ý nghĩa. Nhiều người đã đến được bến bờ của của xứ sở vĩ đại này và đã trao gửi nơi vùng đất phì nhiêu của nước Mỹ những hạt giống của tình yêu tự do của họ.
Hôm nay chúng ta đang nhìn thấy những hạt giống đó đã nẩy mầm để trở thành những bông hoa tươi đẹp của một thế hệ người Mỹ gốc Việt mới.
Thế hệ này là thế hệ của những người có tinh thần sáng tạo thương mại kỹ thuật tuyệt tác như Bill Nguyễn, người mà năm 2005 đã được Hội Đồng Khảo Sát Kỹ Thuật của đại học MIT (MIT Technology Review Board) chọn là một trong số 100 người có đầu óc sáng tạo của thế giới dưới 35 tuổi và năm 2010 được Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới, (World Economic Forum) một tổ chức rất quan trọng về nghiên cứu và chính sách kinh tế thế giới, xếp trong danh sách những nhà lãnh đạo toàn cầu của thế giới.
Đây là thế hệ của những khoa học gia, những kỹ sư, những nhà nghiên cứu Việt Nam tìm ra được những phát minh mới về khoa học kỹ thuật robot, về quang nhiệt lý học và phát minh y khoa có thể áp dụng rộng khắp trong khoa học không gian cũng như y học để chữa trị cứu sống sinh mạng của con người.
Đây cũng là thế hệ của vị tướng gốc Việt đầu tiên của lục quân Mỹ và 25 vị Đại Tá gốc Việt đang phục vụ trong các binh chủng khác nhau của quân lực Hoa Kỳ. Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, tới Mỹ năm 1975 lúc 10 tuổi, hiện đang giữ chức tư lệnh phó của sư đoàn kỵ binh số 1, sư đoàn thiện chiến nhất của Hoa Kỳ, đã nhiều lần phục vụ tác chiến tại Iraq và Afghanistan.
Đây là thế hệ của Chánh Án Jacqueline Nguyễn, một con người tuyệt hảo với một trí tuệ luật pháp xuất sắc, được Tổng Thống Obama đề cử và được Thượng Viện Hoa Kỳ phê chuẩn giữ chức chánh án tòa Phá Án Liên Bang lớn nhất nước Mỹ có thẩm quyền tài phán bao gồm 11 tiểu bang và các vùng đảo thuộc sự quản trị của Hoa Kỳ với tổng số dân trên 60 triệu người.
Đây cũng là thế hệ của người nghị sĩ trẻ tuổi đầu tiên của một tiểu bang tại Mỹ, Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn tại California và của Chánh Án Tú Phạm, một người bạn quí của tôi và là người trẻ tuổi nhất đã được bổ nhiệm chức vụ chánh án liên bang tại Tennessee. Tôi rất hãnh diện về Chánh Án Tú Phạm, người được Luật Sư Đoàn VABA-GA trao tặng giải thưởng “Người Mở Đường” (Trail-blazer) hôm nay. Ông thực là người mở đường của cộng đồng chúng ta.
Những luật sư của Luật Sư Đoàn VABA-GA mà chúng ta hội họp nơi đây để chào đón những thành công và tài lãnh đạo của họ hôm nay cũng là những người của thế hệ này.
Đã phải có những cố gắng to lớn và tài lãnh đạo để có thể ngồi lại với nhau, và làm việc với nhau được, để thành lập một tổ chức có khả năng đoàn kết như luật sư đoàn này. Tôi rất hãnh diện và xin ca ngợi các bạn trẻ Jenny Nguyễn, Minh Nguyễn, Ethan Phạm, Daniel Huỳnh và tất cả những người đã sáng lập, những thành viên của Hội Đồng Quản trị cũng như tất cả các hội viên của Luật Sư Đoàn VABA-GA đang có mặt trong bữa tiệc hôm nay.
Hãy nhìn hình của họ để thấy họ trẻ như thế nào và hãy chuyện trò với họ để mà hiểu được sự chín chắn trưởng thành và sâu sắc trong suy nghĩ của họ về các vấn đề có liên hệ tới cộng đồng và xã hội, và để cảm thấy cái nhiệt huyết của họ để mà thấy vui và hy vọng thật nhiều về tương lai tốt đẹp của Luật Sư Đoàn VABA-GA này cũng như của cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Georgia.
Tôi cũng xin ca ngợi những đóng góp tích cực của cộng đồng và các nhà hảo tâm cho tổ chức quan trọng này. Họ cần sự giúp đỡ liên tục và mạnh mẽ của quí vị để thực hiện những mục tiêu tốt đẹp họ đang theo đuổi để phục vụ xã hội và cộng đồng.
Thưa các bạn:
Tôi hiểu rằng có nhiều bạn đã theo đuổi nghề nghiệp luật pháp không có sự chấp thuận của bố mẹ và đôi khi đã đi ngược lại mong muốn của bố mẹ.
Xin đừng nản chí. Rất nhiều các vị sáng lập ra nước Mỹ, những người đã cho chúng ta bản tuyên ngôn độc lập tuyệt vời, bản Hiến Pháp và văn kiện dân quyền cao quí là những người luật sư. Nhà đại ái quốc, Patrick Henry, người đã trao tặng nhân loại câu nói bất hủ, “Hãy cho tôi tự do hay là cho tôi chết,” cũng là một luật sư. Vị tổng thống vĩ đại bậc nhất của nước Mỹ, người đã giải phóng nô lệ và bảo tồn sự thống nhất của liên bang Hoa Kỳ, Abraham Lincoln, cũng là một luật sư. Lại nữa, Ông Nathan Deal, vị thống đốc của tiểu bang Georgia cũng là một luật sư. Thực vậy, nghề luật sư là một nghề cao quí. Chữ “Esquire” là một tước hiệu danh dự mà chỉ có các bạn mới được để sau tên của mình.
Lịch sử đã cho thấy là tại Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, niềm mơ ước của thế giới, luật pháp là hàm số của phương trình tiến bộ của xã hội.
Các luật sư làm việc tại các tòa án là những người có công kiềm chế sự lạm quyền của các cơ quan công quyền, bảo vệ xã hội chống lại các kẻ tội phạm, đem tiếng nói cho những người cô thế, xóa bỏ những bản án cho những người vô tội bị cáo buộc oan ức đang chờ chết trong các trại giam dành cho tử tù và bảo đảm trật tự trong các tương quan xã hội. Những người hoạt dộng trong ngành tư pháp đã và đang giữ cho nước Mỹ trung thành với khát vọng hiến ước của các bậc tiền bối sáng lập ra nước Mỹ về tự do, về quyền bình đẳng trước pháp luật và quyền dược xét xử theo đúng qui định của luật pháp và đưa đất nước này của chúng ta tiến về trước trong hòa bình để đến gần một hợp chủng quốc hoàn hảo hơn.
Hành trình của chúng ta trong 40 năm qua đã có rất nhiều gian nan của thế hệ đi trước các bạn.
Những con người của thế hệ đó là biểu tượng cho ý chí của những người Việt Nam tự do, cái ý chí của những người đã hy sinh quá nhiều trong chiến tranh, đau khổ quá nhiều trước sự đối xử tàn khốc và đầy thù hận không thể nào diễn tả nổi của những người chiến thắng từ miền Bắc sau chiến tranh. Bị thua trận, mơ ước tan rã, hàng ngàn, hàng ngàn người đã trải qua bao năm tù đầy trong ngục tù Cộng Sản. Tuyệt vọng, rã rời cả thể chất lẫn tinh thần, với tuổi đời chồng chất, họ nhặt nhạnh những mảnh vụn của cuộc đời, và rất nhiều người thực sự đã đi bộ qua những khu rừng đầy nguy hiểm của Đông Nam Á, vượt đại dương, để đến nước Mỹ.
Với lòng quả cảm, quyết tâm và sự làm việc khó nhọc, họ vực dậy với những gì còn lại của cuộc đời mình và biến đổi các vùng đất hoang phế hay tồi tàn của các thành phố nhiều nơi trên nước Mỹ thành các khu thương mại “Little Saigon” phồn thịnh.
Nhưng mục đích chính mà họ luôn luôn ấp ủ vẫn là làm sao để các bạn, những thế hệ tương lai, được sống trong tự do và có cơ hội để phát triển trọn vẹn khả năng của mình trong vùng đất của tự do và cơ hội này.
Hãy tiếp tục đi tới và tiếp tục thành công, để làm cho thế hệ đi trước được hãnh diện về những đóng góp của các bạn cho xứ sở này và cho nhân loại. Các bạn không cần phải mang nặng trên vai quá khứ của thế hệ trước vì nếu chúng ta chỉ khư khư bám víu vào quá khứ chúng ta sẽ khó xây dựng được tương lai. Nhưng các bạn hãy gìn giữ họ trong tim mình để tăng cường sức mạnh của các bạn và để cho sự thành công của các bạn sẽ chắc chắn hơn và có nhiều ý nghĩa hơn.
Sau cùng, nếu được, tôi xin đề nghị các bạn hãy nghĩ đến Việt Nam, bằng tình yêu, không phải với thù hận, bởi vì tình yêu sẽ tăng cường sức mạnh của chúng ta và sẽ làm rọi sáng giá trị luân lý của lý tưởng của chúng ta, trong khi thù hận có thể làm giảm đi giá trị của lý luận của chúng ta và hạ chúng ta xuống thấp ngang hàng với kẻ đối nghịch. Xin các bạn hãy nghĩ đến những người luật sư trẻ tuổi đang sống tại Việt Nam như Lê thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Võ An Đôn và những sinh viên tranh đấu như Nguyễn Phương Uyên và nhiều người khác nữa đang bất chấp cường quyền, tranh đấu bảo vệ những người vô tội, và bảo vệ quyền con người được cởi trói khỏi bất công và áp bức của Cộng Sản. Những con người can đảm này chấp nhận tù đầy để sống trung thực với lương tâm và lòng yêu quê hương của họ. Họ là những anh hùng của thời đại mới của Việt Nam.
Hãy làm những gì các bạn có thể làm được và theo phương cách mà các bạn thấy thích hợp để giúp đem lại tự do, dân chủ, hòa bình và thịnh vượng cho quê hương của cha mẹ của các bạn. Để giúp đỡ hoàn thành cái công việc dang dở mà thế hệ cha ông đã không làm xong, đòi hỏi sự đóng góp của tất cả mọi người, nhất là những nhóm luật sư tài ba như các bạn ở đây.
Nước Mỹ là quê hương của chúng ta. Chúng ta nợ quê hương này tình yêu của chúng ta, năng lực của chúng ta, và lời thề phục vụ với sự trung thành trọn vẹn của chúng ta. Giúp đỡ để mang lại dân chủ, tự do, và công lý cho Việt Nam là chúng ta đang nêu cao chính những giá trị cao quí đã làm nước Mỹ trở nên quốc gia vĩ đại nhất thế giới.
Có rất nhiều thách đố trước mặt nhưng với những thách đố cũng là những cơ hội đang chờ đợi các bạn.
Tôi tin tưởng hoàn toàn rằng các bạn, những người lãnh đạo của hôm nay đã sẵn sàng để gặp gỡ mọi thách thức đang chờ đợi các bạn trên con dường phục vụ công ích, và lý tưởng tự do và công lý.
Xin cảm ơn các bạn và tất cả quí vi. Xin chúc tất cả những gì tốt đẹp nhất đến với các bạn và quí vị.
Chánh Án Nguyễn Trọng Nho
Ngày 14 tháng 3 năm 2015
Atlanta, Georgia
Monday, March 23, 2015 5:14:48 PM
Diễn từ tại lễ ra mắt Luật Sư Đoàn Người Mỹ Gốc Việt tại Georgia
Chánh Án Nguyễn Trọng Nho LTS - Theo lời mời của Luật Sư Đoàn Người Mỹ Gốc Việt (Vietnamese American Bar Association, viết tắt là “VABA-GA”) Chánh Án Nguyễn Trọng Nho đã đến Atlanta, Georgia, tham dự tiệc ra mắt của Luật Sư Đoàn VABA-GA và đọc bài diễn văn chính trong buổi tiệc này, vào ngày 14 Tháng Ba, 2015. Tham dự tiệc ra mắt có đông đủ các chánh án người Mỹ, Hàn, Trung Quốc, các biện lý, công tố và dân cử địa phương cũng như đại diện cộng đồng người Việt tại Georgia, chủ tịch và phái đoàn đại diện cộng đồng người Mỹ gốc Á Châu tại Geogia, Phòng Thương Mại người Việt tại Georgia và các cơ quan báo chí truyền thông địa phương. Chủ tịch Luật Sư Đoàn VABA-GA, Jenny Nguyễn, cũng thay mặt VABA-GA nhân dịp này trao tặng giải thưởng “Người Mở Đường - Trail Balzer Award” cho vị Chánh Án Phạm Minh Tú, vị chánh án người Mỹ gốc Việt tại tòa án liên bang ở Tennessee.
Sau đây là bản chuyển ngữ bài diễn văn của Chánh Án Nguyễn Trọng Nho trong buổi tiệc nói trên.
***
Kính thưa quí vị chánh án:
Thưa bà Chánh Biện lý Lawson, ông công tố viên quận hạt Gammage, quí vị dân cử, quí vị lãnh đạo và hội viên các Luật Sư Đoàn, các cộng đồng và toàn thể quí vị quan khách.
Tôi xin cảm ơn Luật sư Chủ tịch Jenny Nguyễn về lời giới thiệu nồng nàn và toàn ban chỉ đạo Luật Sư Đoàn Việt Nam tại Georgia (VABA-GA) đã mời tôi đến đây hôm nay với sự tiếp đón thật ân cần. Cho tôi được chúc mừng người anh em dồng nghiệp của tôi, tân Chánh Án Meng Lim, người chánh an người Mỹ gốc Cambodia đầu tiên tại Hoa Kỳ. Sự thắng cử vẻ vang của Chánh Án Lim trong vài tháng trước đây tại Georgia và câu chuyện về cuộc đời của ông sẽ là nguồn cảm hứng cho biết bao người Cambode và những người khác nữa để bước theo chân ông.
Thưa quí vị:
Bây giờ đây tôi muốn bắt đầu với ít giây phút để suy nghiệm, tưởng nhớ và cảm ơn hơn 220,000 những người con dân của tiểu bang Georgia đả đổ mồ hôi và xương máu tại quê hương Việt Nam của tôi những năm 60 và 70. Tiểu bang này đã cống hiến cho cuộc chiến Việt Nam số lượng chiến sĩ đông đảo nhất. Tôi cũng xin quí vị cùng tôi vinh danh người tù nhân chiến tranh cao cấp nhất của lục quân Hoa Kỳ, Đại Tá Benjamin Purcell vừa qua đời hai năm trước đây tại thành phố Clarksville, Georgia, cách đây chừng 80 dặm đường. Sau khi trải qua 62 tháng bị giam giữ trong một trại tù Cộng Sản ở Lào, ông trở về quê hương năm 1973. Lời nói đầu tiên của ông gửi đến thế giới là “Tự do là cái gì cao quí nhất của đời sống một con người.”
Thời điểm này, 40 năm trước đây, là một mốc thời gian rất quan trọng. Đó là lúc mà quê hương nơi tôi đã sinh ra và lớn lên, Nam Việt Nam, nơi tôi đã nuôi bao ước mơ, nơi thế hệ của tôi đã liên tục tranh đấu để xây dựng một quốc gia dân chủ, tự do, với công lý, thịnh vượng và hòa bình, đã sụp đổ trước sự tấn công tàn bạo của những người Việt Nam Cộng Sản miền Bắc. Những người Cộng Sản đã phản bội lại hiệp ước hòa bình họ ký kết năm 1973 tại Paris với tất cả các bên tham chiến. Nước Mỹ đang sôi động và bối rối với biến cố Watergate, đã không làm gì để giúp đỡ đồng minh của mình. Những lời hứa của Tổng Thống Nixon với Nam Việt Nam đã không còn giá trị gì sau khi ông rời White House. Binh sĩ Nam Việt Nam không còn súng đạn để chống trả. Các khẩu đại bác nằm yên lặng trước hàng loạt pháo kích liên tục của địch quân. Không có đủ xăng để bay các chiến đấu cơ hay trực thăng. Trong khi đó khối Cộng Sản tiếp tục viện trợ ồ ạt cho miền Bắc với xe tăng, hỏa tiễn, vũ khí, và đạn dược tối tân. Hậu quả tất nhiên đã không thể nào tránh được.
Năm 1975, miền Nam sụp đổ, hàng triệu người Việt bắt đầu rời bỏ quê hương tìm kiếm tự do. Cũng như đối với cố Đại Tá Purcell, với họ, “Tự do là cái gì cao quí nhất của đời sống một con người.” Đời sống không có tự do mất hết mọi ý nghĩa. Nhiều người đã đến được bến bờ của của xứ sở vĩ đại này và đã trao gửi nơi vùng đất phì nhiêu của nước Mỹ những hạt giống của tình yêu tự do của họ.
Hôm nay chúng ta đang nhìn thấy những hạt giống đó đã nẩy mầm để trở thành những bông hoa tươi đẹp của một thế hệ người Mỹ gốc Việt mới.
Thế hệ này là thế hệ của những người có tinh thần sáng tạo thương mại kỹ thuật tuyệt tác như Bill Nguyễn, người mà năm 2005 đã được Hội Đồng Khảo Sát Kỹ Thuật của đại học MIT (MIT Technology Review Board) chọn là một trong số 100 người có đầu óc sáng tạo của thế giới dưới 35 tuổi và năm 2010 được Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới, (World Economic Forum) một tổ chức rất quan trọng về nghiên cứu và chính sách kinh tế thế giới, xếp trong danh sách những nhà lãnh đạo toàn cầu của thế giới.
Đây là thế hệ của những khoa học gia, những kỹ sư, những nhà nghiên cứu Việt Nam tìm ra được những phát minh mới về khoa học kỹ thuật robot, về quang nhiệt lý học và phát minh y khoa có thể áp dụng rộng khắp trong khoa học không gian cũng như y học để chữa trị cứu sống sinh mạng của con người.
Đây cũng là thế hệ của vị tướng gốc Việt đầu tiên của lục quân Mỹ và 25 vị Đại Tá gốc Việt đang phục vụ trong các binh chủng khác nhau của quân lực Hoa Kỳ. Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, tới Mỹ năm 1975 lúc 10 tuổi, hiện đang giữ chức tư lệnh phó của sư đoàn kỵ binh số 1, sư đoàn thiện chiến nhất của Hoa Kỳ, đã nhiều lần phục vụ tác chiến tại Iraq và Afghanistan.
Đây là thế hệ của Chánh Án Jacqueline Nguyễn, một con người tuyệt hảo với một trí tuệ luật pháp xuất sắc, được Tổng Thống Obama đề cử và được Thượng Viện Hoa Kỳ phê chuẩn giữ chức chánh án tòa Phá Án Liên Bang lớn nhất nước Mỹ có thẩm quyền tài phán bao gồm 11 tiểu bang và các vùng đảo thuộc sự quản trị của Hoa Kỳ với tổng số dân trên 60 triệu người.
Đây cũng là thế hệ của người nghị sĩ trẻ tuổi đầu tiên của một tiểu bang tại Mỹ, Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn tại California và của Chánh Án Tú Phạm, một người bạn quí của tôi và là người trẻ tuổi nhất đã được bổ nhiệm chức vụ chánh án liên bang tại Tennessee. Tôi rất hãnh diện về Chánh Án Tú Phạm, người được Luật Sư Đoàn VABA-GA trao tặng giải thưởng “Người Mở Đường” (Trail-blazer) hôm nay. Ông thực là người mở đường của cộng đồng chúng ta.
Những luật sư của Luật Sư Đoàn VABA-GA mà chúng ta hội họp nơi đây để chào đón những thành công và tài lãnh đạo của họ hôm nay cũng là những người của thế hệ này.
Đã phải có những cố gắng to lớn và tài lãnh đạo để có thể ngồi lại với nhau, và làm việc với nhau được, để thành lập một tổ chức có khả năng đoàn kết như luật sư đoàn này. Tôi rất hãnh diện và xin ca ngợi các bạn trẻ Jenny Nguyễn, Minh Nguyễn, Ethan Phạm, Daniel Huỳnh và tất cả những người đã sáng lập, những thành viên của Hội Đồng Quản trị cũng như tất cả các hội viên của Luật Sư Đoàn VABA-GA đang có mặt trong bữa tiệc hôm nay.
Hãy nhìn hình của họ để thấy họ trẻ như thế nào và hãy chuyện trò với họ để mà hiểu được sự chín chắn trưởng thành và sâu sắc trong suy nghĩ của họ về các vấn đề có liên hệ tới cộng đồng và xã hội, và để cảm thấy cái nhiệt huyết của họ để mà thấy vui và hy vọng thật nhiều về tương lai tốt đẹp của Luật Sư Đoàn VABA-GA này cũng như của cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Georgia.
Tôi cũng xin ca ngợi những đóng góp tích cực của cộng đồng và các nhà hảo tâm cho tổ chức quan trọng này. Họ cần sự giúp đỡ liên tục và mạnh mẽ của quí vị để thực hiện những mục tiêu tốt đẹp họ đang theo đuổi để phục vụ xã hội và cộng đồng.
Thưa các bạn:
Tôi hiểu rằng có nhiều bạn đã theo đuổi nghề nghiệp luật pháp không có sự chấp thuận của bố mẹ và đôi khi đã đi ngược lại mong muốn của bố mẹ.
Xin đừng nản chí. Rất nhiều các vị sáng lập ra nước Mỹ, những người đã cho chúng ta bản tuyên ngôn độc lập tuyệt vời, bản Hiến Pháp và văn kiện dân quyền cao quí là những người luật sư. Nhà đại ái quốc, Patrick Henry, người đã trao tặng nhân loại câu nói bất hủ, “Hãy cho tôi tự do hay là cho tôi chết,” cũng là một luật sư. Vị tổng thống vĩ đại bậc nhất của nước Mỹ, người đã giải phóng nô lệ và bảo tồn sự thống nhất của liên bang Hoa Kỳ, Abraham Lincoln, cũng là một luật sư. Lại nữa, Ông Nathan Deal, vị thống đốc của tiểu bang Georgia cũng là một luật sư. Thực vậy, nghề luật sư là một nghề cao quí. Chữ “Esquire” là một tước hiệu danh dự mà chỉ có các bạn mới được để sau tên của mình.
Lịch sử đã cho thấy là tại Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, niềm mơ ước của thế giới, luật pháp là hàm số của phương trình tiến bộ của xã hội.
Các luật sư làm việc tại các tòa án là những người có công kiềm chế sự lạm quyền của các cơ quan công quyền, bảo vệ xã hội chống lại các kẻ tội phạm, đem tiếng nói cho những người cô thế, xóa bỏ những bản án cho những người vô tội bị cáo buộc oan ức đang chờ chết trong các trại giam dành cho tử tù và bảo đảm trật tự trong các tương quan xã hội. Những người hoạt dộng trong ngành tư pháp đã và đang giữ cho nước Mỹ trung thành với khát vọng hiến ước của các bậc tiền bối sáng lập ra nước Mỹ về tự do, về quyền bình đẳng trước pháp luật và quyền dược xét xử theo đúng qui định của luật pháp và đưa đất nước này của chúng ta tiến về trước trong hòa bình để đến gần một hợp chủng quốc hoàn hảo hơn.
Hành trình của chúng ta trong 40 năm qua đã có rất nhiều gian nan của thế hệ đi trước các bạn.
Những con người của thế hệ đó là biểu tượng cho ý chí của những người Việt Nam tự do, cái ý chí của những người đã hy sinh quá nhiều trong chiến tranh, đau khổ quá nhiều trước sự đối xử tàn khốc và đầy thù hận không thể nào diễn tả nổi của những người chiến thắng từ miền Bắc sau chiến tranh. Bị thua trận, mơ ước tan rã, hàng ngàn, hàng ngàn người đã trải qua bao năm tù đầy trong ngục tù Cộng Sản. Tuyệt vọng, rã rời cả thể chất lẫn tinh thần, với tuổi đời chồng chất, họ nhặt nhạnh những mảnh vụn của cuộc đời, và rất nhiều người thực sự đã đi bộ qua những khu rừng đầy nguy hiểm của Đông Nam Á, vượt đại dương, để đến nước Mỹ.
Với lòng quả cảm, quyết tâm và sự làm việc khó nhọc, họ vực dậy với những gì còn lại của cuộc đời mình và biến đổi các vùng đất hoang phế hay tồi tàn của các thành phố nhiều nơi trên nước Mỹ thành các khu thương mại “Little Saigon” phồn thịnh.
Nhưng mục đích chính mà họ luôn luôn ấp ủ vẫn là làm sao để các bạn, những thế hệ tương lai, được sống trong tự do và có cơ hội để phát triển trọn vẹn khả năng của mình trong vùng đất của tự do và cơ hội này.
Hãy tiếp tục đi tới và tiếp tục thành công, để làm cho thế hệ đi trước được hãnh diện về những đóng góp của các bạn cho xứ sở này và cho nhân loại. Các bạn không cần phải mang nặng trên vai quá khứ của thế hệ trước vì nếu chúng ta chỉ khư khư bám víu vào quá khứ chúng ta sẽ khó xây dựng được tương lai. Nhưng các bạn hãy gìn giữ họ trong tim mình để tăng cường sức mạnh của các bạn và để cho sự thành công của các bạn sẽ chắc chắn hơn và có nhiều ý nghĩa hơn.
Sau cùng, nếu được, tôi xin đề nghị các bạn hãy nghĩ đến Việt Nam, bằng tình yêu, không phải với thù hận, bởi vì tình yêu sẽ tăng cường sức mạnh của chúng ta và sẽ làm rọi sáng giá trị luân lý của lý tưởng của chúng ta, trong khi thù hận có thể làm giảm đi giá trị của lý luận của chúng ta và hạ chúng ta xuống thấp ngang hàng với kẻ đối nghịch. Xin các bạn hãy nghĩ đến những người luật sư trẻ tuổi đang sống tại Việt Nam như Lê thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Võ An Đôn và những sinh viên tranh đấu như Nguyễn Phương Uyên và nhiều người khác nữa đang bất chấp cường quyền, tranh đấu bảo vệ những người vô tội, và bảo vệ quyền con người được cởi trói khỏi bất công và áp bức của Cộng Sản. Những con người can đảm này chấp nhận tù đầy để sống trung thực với lương tâm và lòng yêu quê hương của họ. Họ là những anh hùng của thời đại mới của Việt Nam.
Hãy làm những gì các bạn có thể làm được và theo phương cách mà các bạn thấy thích hợp để giúp đem lại tự do, dân chủ, hòa bình và thịnh vượng cho quê hương của cha mẹ của các bạn. Để giúp đỡ hoàn thành cái công việc dang dở mà thế hệ cha ông đã không làm xong, đòi hỏi sự đóng góp của tất cả mọi người, nhất là những nhóm luật sư tài ba như các bạn ở đây.
Nước Mỹ là quê hương của chúng ta. Chúng ta nợ quê hương này tình yêu của chúng ta, năng lực của chúng ta, và lời thề phục vụ với sự trung thành trọn vẹn của chúng ta. Giúp đỡ để mang lại dân chủ, tự do, và công lý cho Việt Nam là chúng ta đang nêu cao chính những giá trị cao quí đã làm nước Mỹ trở nên quốc gia vĩ đại nhất thế giới.
Có rất nhiều thách đố trước mặt nhưng với những thách đố cũng là những cơ hội đang chờ đợi các bạn.
Tôi tin tưởng hoàn toàn rằng các bạn, những người lãnh đạo của hôm nay đã sẵn sàng để gặp gỡ mọi thách thức đang chờ đợi các bạn trên con dường phục vụ công ích, và lý tưởng tự do và công lý.
Xin cảm ơn các bạn và tất cả quí vi. Xin chúc tất cả những gì tốt đẹp nhất đến với các bạn và quí vị.
Chánh Án Nguyễn Trọng Nho
Ngày 14 tháng 3 năm 2015
Atlanta, Georgia
Ngậm ngùi thân phận bị bỏ rơi
Nguyễn Tường Thụy,
viết từ Hà Nội (Blog RFA) Từ sau buổi tưởng niệm Liệt Sĩ Gạc Ma ngày 14 tháng 3, 2015 tại Hà Nội, đám xưng là dư luận viên nhận đủ mọi sự lên án, phê phán, giễu cợt của cộng đồng mạng.
Những ảnh chụp, clip cùng các bài viết được đăng lên cho thấy, bọn này là một đám nhố nhăng, lố bịch, trơ trẽn và không có lý luận gì ngoài mấy câu chày cối nói lấy được. Ngày tưởng niệm sự kiện mất Gạc Ma vào tay Trung Cộng mà chúng tìm đủ cách phá đám, lại còn hát, “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng...” Chỉ có tay sai Tàu Cộng mới làm như vậy.
Phải nói ngay rằng, những việc làm của đám này chỉ bôi gio, trát trấu vào mặt đảng và chế độ. Mặc dù vậy, hẳn là chúng vẫn hài lòng, tự sướng vì những hành động gây khó chịu cho những người đi tưởng niệm, và đặc biệt, thể hiện được lòng yêu đảng đến cuồng nhiệt, mù quáng. Chúng nghĩ, làm như thế, chắc là cấp trên hài lòng lắm. Có lẽ, do nghĩ vậy nên chỉ với khoảng chục đứa, chúng tha hồ tung hoành, la hét, cướp giật biểu ngữ như là chỗ không người.
Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang. Ba ngày sau, ngày 17 tháng 3, 2015, đột nhiên, tờ báo điện tử VnExpress đăng bài, “Công an Hà Nội xác minh nhóm người ngăn cản việc tưởng niệm liệt sĩ Gạc Ma“
Tiếp theo là báo Người Lao Động, vtc.vn, Lao Động, baomoi.com, VietNamNet, VnMedia... đều có bài với nội dung tương tự. Tờ Giáo Dục Việt Nam đưa ra bài bình luận, “Một hành động không thể chấp nhận được!” Trong bài viết tác giả nêu ý kiến, “Thiết nghĩ công an thành phố Hà Nội cần phải huy động lực lượng, cần phải tìm ngay những kẻ gây rối tại buổi lễ tưởng niệm, cần phải đưa nhóm này, ít nhất là ra trước tòa án dư luận để những kẻ ngông cuồng đang đi ngược lại quyền lợi quốc gia, dân tộc, đi ngược lại đạo lý làm người nhận thức được hành động của chúng cũng là tội lỗi.”
Buổi tưởng niệm sự kiện Gạc Ma do nhóm NO-U, một nhóm đấu tranh cho biển đảo, chủ quyền của tổ quốc phát động. Những người tham gia biểu tình, tưởng niệm các tử sĩ, liệt sĩ hy sinh trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc trước nay (tạm gọi chung là nhóm NO-U) vẫn bị cho là phản động, lợi dụng những hoạt động ấy để chống phá đảng và nhà nước. Họ còn bị bêu lên xuyên tạc ở một số tờ báo như Đài Truyền Hình Hà Nội, báo An Ninh Thủ Đô, Hà Nội Mới..., ngay cả bà Lê Hiền Đức họ cũng không tha.
Vì vậy, bài báo trên VnExpress có hai nội dung làm rất nhiều người ngỡ ngàng vì cách nhìn nhận của công an Hà Nội đối với hai nhóm người: NO-U và đám xưng là dư luận viên đã thay đổi theo chiều ngược lại. Đây là điều mới và lạ.
Từ “phản động” thành “người yêu nước
Bài báo viết, “Theo ông Chung (Nguyễn Đức Chung, giám đốc công an Hà Nội), dịp 27 năm ngày Trung Quốc xả súng sát hại 64 chiến sĩ, cưỡng chiếm Gạc Ma (14 tháng 3, 1988), một số người dân yêu nước đã đặt lẵng hoa tại tượng đài Lý Thái Tổ và tượng đài Quyết Tử Cho Tổ Quốc Quyết Sinh (bên Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội). Công an thành phố được giao nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự. Chúng tôi luôn tôn trọng hành vi, hoạt động của người dân có lòng yêu nước với tất cả các sự kiện, đặc biệt liên quan đến chủ quyền lãnh thổ và tưởng nhớ những anh hùng liệt sĩ, những người đã tham gia bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của đất nước”
“...Lực lượng công an thành phố luôn tôn trọng các hoạt động của những người dân yêu nước.”
Đã có một lần, ông Nguyễn Đức Nhanh, người tiền nhiệm của ông Nguyễn Đức Chung cũng nói những người biểu tình chống Trung Quốc xâm lược là yêu nước. Có lẽ, lần này nữa là 2 lần hiếm có, những người NO-U được người ở vị trí quan trọng nói là yêu nước. Còn thường ra, họ bị tuyên truyền là những người xấu khá nhiều. Vì vậy, cái sự “minh oan” của Giám Đốc Chung cũng không có gì làm họ, vui mừng cho lắm.
Từ “dư luận viên” của đảng trở thành vô thừa nhận.
Điều thú vị ở đây là đám xưng là “dư luận viên” đã không được ông Chung và Ban Tuyên Giáo Thành Uy Hà Nội thừa nhận. Bài báo viết:
“Chiều 17 thang 3, trả lời câu hỏi về việc ngày 14 tháng 3, một nhóm thanh niên mặc áo đỏ in logo giống của công an và dòng chữ ‘DLV’ ngăn cản hoạt động của một số người dân, tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh khi bảo vệ chủ quyền đất nước, giám đốc công an Hà Nội, Thiếu Tướng Nguyễn Đức Chung khẳng định, nhóm người trên không thuộc quản lý của công an thành phố và Ban Tuyên Giáo.”
Đã thế, bài báo còn dẫn lời ông Phan Đăng Long, phó Ban Tuyên Giáo Thành Uy Hà Nội, “dư luận viên là lực lượng đại diện cho các tầng lớp thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh nằm rải khắp từ thành phố đến quận huyện. Họ nắm những vấn đề người dân đang bàn luận, quan tâm rồi tập hợp lại báo cáo thành phố, và khẳng định, “Lực lượng này không bao giờ xuống đường.” Điều này đồng nghĩa với việc Ban Tuyên Giáo chối bỏ đám xưng là dư luận viên kia.
Ông Chung cho rằng, “Nhóm thanh niên mặc áo đỏ in dòng chữ “DLV,” có thể đó là lực lượng tự phát.”
Ngậm ngùi thân phận bị bỏ rơi:
Vào khoảng 2 năm trở lại đây, đám này xưng dư luận viên này đã phá thối rất nhiều hoạt động hợp pháp, hợp đạo lý của những người NO-U. Chúng ngang nhiên chửi bới, đe dọa những ai tham gia các sự kiện. Gần đây nhật là trường hợp thiếu úy quân đội Trịnh Việt Dũng trong hôm tưởng niệm tử sĩ Hoàng sa. Hắn quậy tưng bừng trước tượng đài Lý Thái Tổ trước rất nhiều an ninh, công an, dân phòng, phá cả vòng hoa tưởng niệm. Khi nó bị anh em tham gia tưởng niệm bắt giải về phường thì chính đám an ninh, bảo vệ giải thoát nó đưa lên xe của công an chạy mất. Đám này còn lên mạng xã hội Facebook bịa đặt, xuyên tạc, chửi bới, đe dọa những người đấu tranh. Có thể nêu ví dụ vụ tên Nguyễn Hoàng Thế Đức gửi tin nhắn chửi bà Lê Hiền Đức.
Dù không phải là người của công an, của Tuyên Giáo Thành Uy thì hành động ngang nhiên, ngang ngược của đám này cũng đã được sự ủng hộ ngầm từ phía công an, chính quyền. Có lẽ, do quá hăng hái, quá yêu Đảng hay nôn nóng lập công nên hành vi của chúng trở thành lố bịch và vẽ nên mặt chế độ những nét vẽ nguệch ngoạc và hắc ám. Chính vì vậy, chúng mới bị tướng Chung lên tiếng bác bỏ, còn Ban Tuyên Giáo cũng từ chối.
Đang được cưng chiều, bảo vệ, tự dưng trở thành đứa con hoang, bị chối bỏ như tránh hủi, lại còn bị “đe” sẽ điều tra, xác minh thì làm sao đám “dư luận viên” này không khỏi ngậm ngùi cay đắng, nhục nhã ê chề và lo âu nghĩ đến thân phận của mình?
Hoài nghi trước khẳng định của Tướng Chung:
Những người thuộc “Phe NO-U” mặc dù thú vị với những gì ông Nguyễn Đức Chung khẳng định nhưng họ đón nhận hết sức dè dặt. Tựu trung là:
1. Việc thừa nhận những người có hoạt động bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, tưởng nhớ liệt sĩ hy sinh trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc là yêu nước và việc không thừa nhận đám “dư luận viên” là nhằm xoa dịu sự phẫn nộ của những người tham gia tưởng niệm sự kiện Gạc Ma và dư luận.
2. Có người cho rằng lời khẳng định của ông Chung có liên quan đến chuyến đi của ông Quang và sắp tới là ông Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ, nhằm kiếm chút điểm về nhân quyền.
3. Đa số ý kiến cho rằng, đám xưng là “dư luận viên” là dư luận viên thật. Nhưng đám này hăng hái thì nhiều nhưng thông minh thì ít, kiến thức lại không có, vì vậy mới sinh ra những hành vi phản tác dụng. Công an và tuyên giáo xấu hổ, thấy rõ đám này vô dụng nên đành “vắt chanh bỏ vỏ.”
Facebooker Nguyễn Thúy Hạnh đặt câu hỏi, “Nếu đó không phải là chủ trương của thành phố sao đám an ninh làm ngơ cho chúng hoành hành như vậy?”
Bùi Đức Dũng nhận định, “Công an Hà Nội [...] đang có ý đồ thí bọn DLV này. Không có Công an đứng sau, chúng nó sức mấy mới nhảy nhót ở đấy được”
Simon Le cảnh giác, “Ý gì đây?! Không lẽ [họ] không biết cái đám DLV khốn nạn này hay chỉ là cái trò bịp bợm, lừa đảo, lấy vải thưa che mắt thánh!
Long Hoang đưa ra câu hỏi, “Giữa thủ đô ngàn năm văn hiến của nước Việt mà để cho lũ người súc sinh làm loạn ngăn cản một việc thiêng liêng của người dân thể hiện lòng yêu nước nhớ ơn các anh hùng tử sĩ như vậy giữa bao nhiêu CA, AN, như vậy là sao?”
Nguyen Ba Tue, “Không nghĩ, một đám lâu la như thế mà CA không biết, nếu CA bảo 'đó là lực lượng bôi xấu,' chẳng lẽ dễ dàng qua mặt công an vậy sao? Có điều gì đó ngờ ngợ, không thực.”
Trúc Nguyễn nêu ý kiến, “An ninh, công an làm ngơ để bọn chúng tự tung tự tác mà giờ lại phủ nhận đó không phải là những đứa ‘con đẻ’ của mình? Công an Hà Nội phải đưa ra ánh sáng kẻ chủ mưu đứng đằng sau bọn DLV thì dư luận mới tạm tin. Phải dẹp bỏ cái đài Việt Vision của bọn Nhật Lệ, Quang lùn, Đỗ Anh Minh, Ky Bo... Sau đó phải xét tội những tên đầu sỏ an ninh, công an chỉ đạo đám DLV kia.”
Nguyễn Văn Đề chắc không phải chỉ nói cho vui mà có điều cần suy nghĩ, “Ông Nguyễn Đức Chung đã nói, bọn dư luận viên này không phải người của CA cũng như của ban tuyên giáo thành ủy Hà Nội, như vậy chắc chúng là người của cục tình báo Hoa Nam Trung Quốc trả lương để cài vào phá đám các buổi tưởng niệm và biểu tình chống Trung Quốc.
...
Tuy ông Chung và Ban Tuyên Giáo không nhận đám dư luận viên này, hoặc chúng không phải là tay sai Trung Quốc nhưng nhất định đám này không phải là đám tự phát như ông Chung nói. Hẳn phải có một đám người nào đó trong chính quyền tổ chức, nuôi dưỡng và chỉ huy chúng hoạt động thì chúng mới dám ngang nhiên như thế.
Ông Chung cho biết, “Công an thành phố đang tổ chức xác minh và khi có kết quả sẽ thông tin tới báo chí.” Việc xác minh này không khó, không hề phức tạp vì đã có rất nhiều ảnh, clip được đưa lên mạng, còn người quay chụp sẵn sàng cung cấp cho cơ quan điều tra.
Chúng ta hãy chờ kết quả điều tra, xác minh của công an Hà Nội và chờ xem từ nay, những hoạt động biểu tình chống Trung Quốc, tưởng niệm liệt sĩ, tử sĩ đã hy sinh để bảo vệ tổ quốc có bị đàn áp, bắt bớ hoặc phá đám nữa không. Như trên đã nhắc tới, ông Nguyễn Đức Nhanh cũng có lần công nhận người biểu tình chống Trung Quốc là yêu nước. Tuy nhiên, sau đó, họ vẫn tiếp tục bị đàn áp, bị đánh, bị bắt lên trại phục hồi nhân phẩm Lộc Hà, ngoài ra còn bị nhiều áp lực khác. Vì vậy, những ý kiến hoài nghi khi đón nhận lời phát biểu của ông giám đốc công an Hà Nội không phải là không có cơ sở. Nhưng dù sao cũng hoan nghênh Tướng Chung đã khẳng định bằng lời nói hai vấn đề mới và lạ trên.
18 tháng 3, 2015
Nguyễn Tường Thụy,
viết từ Hà Nội (Blog RFA) Từ sau buổi tưởng niệm Liệt Sĩ Gạc Ma ngày 14 tháng 3, 2015 tại Hà Nội, đám xưng là dư luận viên nhận đủ mọi sự lên án, phê phán, giễu cợt của cộng đồng mạng.
Những ảnh chụp, clip cùng các bài viết được đăng lên cho thấy, bọn này là một đám nhố nhăng, lố bịch, trơ trẽn và không có lý luận gì ngoài mấy câu chày cối nói lấy được. Ngày tưởng niệm sự kiện mất Gạc Ma vào tay Trung Cộng mà chúng tìm đủ cách phá đám, lại còn hát, “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng...” Chỉ có tay sai Tàu Cộng mới làm như vậy.
Phải nói ngay rằng, những việc làm của đám này chỉ bôi gio, trát trấu vào mặt đảng và chế độ. Mặc dù vậy, hẳn là chúng vẫn hài lòng, tự sướng vì những hành động gây khó chịu cho những người đi tưởng niệm, và đặc biệt, thể hiện được lòng yêu đảng đến cuồng nhiệt, mù quáng. Chúng nghĩ, làm như thế, chắc là cấp trên hài lòng lắm. Có lẽ, do nghĩ vậy nên chỉ với khoảng chục đứa, chúng tha hồ tung hoành, la hét, cướp giật biểu ngữ như là chỗ không người.
Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang. Ba ngày sau, ngày 17 tháng 3, 2015, đột nhiên, tờ báo điện tử VnExpress đăng bài, “Công an Hà Nội xác minh nhóm người ngăn cản việc tưởng niệm liệt sĩ Gạc Ma“
Tiếp theo là báo Người Lao Động, vtc.vn, Lao Động, baomoi.com, VietNamNet, VnMedia... đều có bài với nội dung tương tự. Tờ Giáo Dục Việt Nam đưa ra bài bình luận, “Một hành động không thể chấp nhận được!” Trong bài viết tác giả nêu ý kiến, “Thiết nghĩ công an thành phố Hà Nội cần phải huy động lực lượng, cần phải tìm ngay những kẻ gây rối tại buổi lễ tưởng niệm, cần phải đưa nhóm này, ít nhất là ra trước tòa án dư luận để những kẻ ngông cuồng đang đi ngược lại quyền lợi quốc gia, dân tộc, đi ngược lại đạo lý làm người nhận thức được hành động của chúng cũng là tội lỗi.”
Buổi tưởng niệm sự kiện Gạc Ma do nhóm NO-U, một nhóm đấu tranh cho biển đảo, chủ quyền của tổ quốc phát động. Những người tham gia biểu tình, tưởng niệm các tử sĩ, liệt sĩ hy sinh trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc trước nay (tạm gọi chung là nhóm NO-U) vẫn bị cho là phản động, lợi dụng những hoạt động ấy để chống phá đảng và nhà nước. Họ còn bị bêu lên xuyên tạc ở một số tờ báo như Đài Truyền Hình Hà Nội, báo An Ninh Thủ Đô, Hà Nội Mới..., ngay cả bà Lê Hiền Đức họ cũng không tha.
Vì vậy, bài báo trên VnExpress có hai nội dung làm rất nhiều người ngỡ ngàng vì cách nhìn nhận của công an Hà Nội đối với hai nhóm người: NO-U và đám xưng là dư luận viên đã thay đổi theo chiều ngược lại. Đây là điều mới và lạ.
Từ “phản động” thành “người yêu nước
Bài báo viết, “Theo ông Chung (Nguyễn Đức Chung, giám đốc công an Hà Nội), dịp 27 năm ngày Trung Quốc xả súng sát hại 64 chiến sĩ, cưỡng chiếm Gạc Ma (14 tháng 3, 1988), một số người dân yêu nước đã đặt lẵng hoa tại tượng đài Lý Thái Tổ và tượng đài Quyết Tử Cho Tổ Quốc Quyết Sinh (bên Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội). Công an thành phố được giao nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự. Chúng tôi luôn tôn trọng hành vi, hoạt động của người dân có lòng yêu nước với tất cả các sự kiện, đặc biệt liên quan đến chủ quyền lãnh thổ và tưởng nhớ những anh hùng liệt sĩ, những người đã tham gia bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của đất nước”
“...Lực lượng công an thành phố luôn tôn trọng các hoạt động của những người dân yêu nước.”
Đã có một lần, ông Nguyễn Đức Nhanh, người tiền nhiệm của ông Nguyễn Đức Chung cũng nói những người biểu tình chống Trung Quốc xâm lược là yêu nước. Có lẽ, lần này nữa là 2 lần hiếm có, những người NO-U được người ở vị trí quan trọng nói là yêu nước. Còn thường ra, họ bị tuyên truyền là những người xấu khá nhiều. Vì vậy, cái sự “minh oan” của Giám Đốc Chung cũng không có gì làm họ, vui mừng cho lắm.
Từ “dư luận viên” của đảng trở thành vô thừa nhận.
Điều thú vị ở đây là đám xưng là “dư luận viên” đã không được ông Chung và Ban Tuyên Giáo Thành Uy Hà Nội thừa nhận. Bài báo viết:
“Chiều 17 thang 3, trả lời câu hỏi về việc ngày 14 tháng 3, một nhóm thanh niên mặc áo đỏ in logo giống của công an và dòng chữ ‘DLV’ ngăn cản hoạt động của một số người dân, tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh khi bảo vệ chủ quyền đất nước, giám đốc công an Hà Nội, Thiếu Tướng Nguyễn Đức Chung khẳng định, nhóm người trên không thuộc quản lý của công an thành phố và Ban Tuyên Giáo.”
Đã thế, bài báo còn dẫn lời ông Phan Đăng Long, phó Ban Tuyên Giáo Thành Uy Hà Nội, “dư luận viên là lực lượng đại diện cho các tầng lớp thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh nằm rải khắp từ thành phố đến quận huyện. Họ nắm những vấn đề người dân đang bàn luận, quan tâm rồi tập hợp lại báo cáo thành phố, và khẳng định, “Lực lượng này không bao giờ xuống đường.” Điều này đồng nghĩa với việc Ban Tuyên Giáo chối bỏ đám xưng là dư luận viên kia.
Ông Chung cho rằng, “Nhóm thanh niên mặc áo đỏ in dòng chữ “DLV,” có thể đó là lực lượng tự phát.”
Ngậm ngùi thân phận bị bỏ rơi:
Vào khoảng 2 năm trở lại đây, đám này xưng dư luận viên này đã phá thối rất nhiều hoạt động hợp pháp, hợp đạo lý của những người NO-U. Chúng ngang nhiên chửi bới, đe dọa những ai tham gia các sự kiện. Gần đây nhật là trường hợp thiếu úy quân đội Trịnh Việt Dũng trong hôm tưởng niệm tử sĩ Hoàng sa. Hắn quậy tưng bừng trước tượng đài Lý Thái Tổ trước rất nhiều an ninh, công an, dân phòng, phá cả vòng hoa tưởng niệm. Khi nó bị anh em tham gia tưởng niệm bắt giải về phường thì chính đám an ninh, bảo vệ giải thoát nó đưa lên xe của công an chạy mất. Đám này còn lên mạng xã hội Facebook bịa đặt, xuyên tạc, chửi bới, đe dọa những người đấu tranh. Có thể nêu ví dụ vụ tên Nguyễn Hoàng Thế Đức gửi tin nhắn chửi bà Lê Hiền Đức.
Dù không phải là người của công an, của Tuyên Giáo Thành Uy thì hành động ngang nhiên, ngang ngược của đám này cũng đã được sự ủng hộ ngầm từ phía công an, chính quyền. Có lẽ, do quá hăng hái, quá yêu Đảng hay nôn nóng lập công nên hành vi của chúng trở thành lố bịch và vẽ nên mặt chế độ những nét vẽ nguệch ngoạc và hắc ám. Chính vì vậy, chúng mới bị tướng Chung lên tiếng bác bỏ, còn Ban Tuyên Giáo cũng từ chối.
Đang được cưng chiều, bảo vệ, tự dưng trở thành đứa con hoang, bị chối bỏ như tránh hủi, lại còn bị “đe” sẽ điều tra, xác minh thì làm sao đám “dư luận viên” này không khỏi ngậm ngùi cay đắng, nhục nhã ê chề và lo âu nghĩ đến thân phận của mình?
Hoài nghi trước khẳng định của Tướng Chung:
Những người thuộc “Phe NO-U” mặc dù thú vị với những gì ông Nguyễn Đức Chung khẳng định nhưng họ đón nhận hết sức dè dặt. Tựu trung là:
1. Việc thừa nhận những người có hoạt động bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, tưởng nhớ liệt sĩ hy sinh trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc là yêu nước và việc không thừa nhận đám “dư luận viên” là nhằm xoa dịu sự phẫn nộ của những người tham gia tưởng niệm sự kiện Gạc Ma và dư luận.
2. Có người cho rằng lời khẳng định của ông Chung có liên quan đến chuyến đi của ông Quang và sắp tới là ông Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ, nhằm kiếm chút điểm về nhân quyền.
3. Đa số ý kiến cho rằng, đám xưng là “dư luận viên” là dư luận viên thật. Nhưng đám này hăng hái thì nhiều nhưng thông minh thì ít, kiến thức lại không có, vì vậy mới sinh ra những hành vi phản tác dụng. Công an và tuyên giáo xấu hổ, thấy rõ đám này vô dụng nên đành “vắt chanh bỏ vỏ.”
Facebooker Nguyễn Thúy Hạnh đặt câu hỏi, “Nếu đó không phải là chủ trương của thành phố sao đám an ninh làm ngơ cho chúng hoành hành như vậy?”
Bùi Đức Dũng nhận định, “Công an Hà Nội [...] đang có ý đồ thí bọn DLV này. Không có Công an đứng sau, chúng nó sức mấy mới nhảy nhót ở đấy được”
Simon Le cảnh giác, “Ý gì đây?! Không lẽ [họ] không biết cái đám DLV khốn nạn này hay chỉ là cái trò bịp bợm, lừa đảo, lấy vải thưa che mắt thánh!
Long Hoang đưa ra câu hỏi, “Giữa thủ đô ngàn năm văn hiến của nước Việt mà để cho lũ người súc sinh làm loạn ngăn cản một việc thiêng liêng của người dân thể hiện lòng yêu nước nhớ ơn các anh hùng tử sĩ như vậy giữa bao nhiêu CA, AN, như vậy là sao?”
Nguyen Ba Tue, “Không nghĩ, một đám lâu la như thế mà CA không biết, nếu CA bảo 'đó là lực lượng bôi xấu,' chẳng lẽ dễ dàng qua mặt công an vậy sao? Có điều gì đó ngờ ngợ, không thực.”
Trúc Nguyễn nêu ý kiến, “An ninh, công an làm ngơ để bọn chúng tự tung tự tác mà giờ lại phủ nhận đó không phải là những đứa ‘con đẻ’ của mình? Công an Hà Nội phải đưa ra ánh sáng kẻ chủ mưu đứng đằng sau bọn DLV thì dư luận mới tạm tin. Phải dẹp bỏ cái đài Việt Vision của bọn Nhật Lệ, Quang lùn, Đỗ Anh Minh, Ky Bo... Sau đó phải xét tội những tên đầu sỏ an ninh, công an chỉ đạo đám DLV kia.”
Nguyễn Văn Đề chắc không phải chỉ nói cho vui mà có điều cần suy nghĩ, “Ông Nguyễn Đức Chung đã nói, bọn dư luận viên này không phải người của CA cũng như của ban tuyên giáo thành ủy Hà Nội, như vậy chắc chúng là người của cục tình báo Hoa Nam Trung Quốc trả lương để cài vào phá đám các buổi tưởng niệm và biểu tình chống Trung Quốc.
...
Tuy ông Chung và Ban Tuyên Giáo không nhận đám dư luận viên này, hoặc chúng không phải là tay sai Trung Quốc nhưng nhất định đám này không phải là đám tự phát như ông Chung nói. Hẳn phải có một đám người nào đó trong chính quyền tổ chức, nuôi dưỡng và chỉ huy chúng hoạt động thì chúng mới dám ngang nhiên như thế.
Ông Chung cho biết, “Công an thành phố đang tổ chức xác minh và khi có kết quả sẽ thông tin tới báo chí.” Việc xác minh này không khó, không hề phức tạp vì đã có rất nhiều ảnh, clip được đưa lên mạng, còn người quay chụp sẵn sàng cung cấp cho cơ quan điều tra.
Chúng ta hãy chờ kết quả điều tra, xác minh của công an Hà Nội và chờ xem từ nay, những hoạt động biểu tình chống Trung Quốc, tưởng niệm liệt sĩ, tử sĩ đã hy sinh để bảo vệ tổ quốc có bị đàn áp, bắt bớ hoặc phá đám nữa không. Như trên đã nhắc tới, ông Nguyễn Đức Nhanh cũng có lần công nhận người biểu tình chống Trung Quốc là yêu nước. Tuy nhiên, sau đó, họ vẫn tiếp tục bị đàn áp, bị đánh, bị bắt lên trại phục hồi nhân phẩm Lộc Hà, ngoài ra còn bị nhiều áp lực khác. Vì vậy, những ý kiến hoài nghi khi đón nhận lời phát biểu của ông giám đốc công an Hà Nội không phải là không có cơ sở. Nhưng dù sao cũng hoan nghênh Tướng Chung đã khẳng định bằng lời nói hai vấn đề mới và lạ trên.
18 tháng 3, 2015
Ai giải phóng ai sau 40 năm nhìn lại Ngày 30-04-1975 được Cộng Sản Bắc Việt rêu rao là ngày họ “giải phóng” dân chúng miền Nam khỏi sự “kìm kẹp” của Mỹ-Ngụy. Tới nay đã 40 năm trôi qua, ta thử nhìn lại và suy ngẫm xem ngày này có phải là ngày miền Bắc đã giải phóng miền Nam không? Hay ngược lại, miền Nam đã giải phóng miền Bắc?
Trước khi đi vào nội dung của vấn đề, thiết tưởng ta cần phải đi tìm định nghĩa của động từ “giải phóng”.
Theo một vài cuốn tự điển Việt-Việt, động từ “giải phóng” có thể được định nghĩa như sau: Bằng cách này hay cách khác làm cho hay giúp cho một số người nào đó thoát ra khỏi một tình trạng xấu xa tồi tệ. Nói khác đi, nếu đẩy đưa một đối tượng nào đó từ một tình trạng tốt đẹp sang một tình trạng tồi tệ, thì không thể gọi là “giải phóng” được.
Dựa vào định nghĩa này và lấy ngày 30-04-1975 làm mốc thời gian để tìm hiểu xem đời sống thật sự của nhân dân hai miền Nam và Bắc vào thập niên 1970 như thế nào, để từ đó có thể rút ra một kết luận khách quan rằng: Ai đã giải phóng ai?
Để có một câu trả lời đúng đắn và chính xác cho câu hỏi này, có lẽ ta nên điểm qua cảm nghĩ và nhận thức về cuộc sống vật chất và tinh thần của dân chúng hai miền Nam và Bắc vào thập niên 1970 của một số nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà giáo, cán binh, cán bộ v.v… là những người đã được đào tạo và hun đúc bởi chính đảng Cộng Sản Việt Nam tại miền Bắc, khi họ có dịp vào miền Nam thăm viếng, công tác, hay sinh sống sau ngày 30-04-1975.
1. Thư của một cựu “giải phóng quân” cộng sản Việt Nam gửi cho một cựu “ngụy quân” Việt Nam Cộng Hòa (Nguyễn Bá Chổi)
Trong phần đầu thư, anh “cựu giải phóng quân” đã trân trọng thông báo cho anh “cựu ngụy quân” biết là hiện tại anh ta đang tự giác và tự nguyện “tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc” trên con đường “Ngụy Quân Hóa và Mỹ Cút Hóa”. Anh CGPQ cũng đã dí dỏm giải thích về lý do tại sao anh ta đã và đang làm một việc ngược đời như thế:
“Ngụy-quân hóa vì cái gì của Ngụy tôi cũng thích, như nhạc Ngụy, sách Ngụy, nói chung là thượng vàng hạ cám gì của Ngụy đều... hiện đại. Mỹ-cút hóa là con cháu tôi bây giờ học tiếng Mỹ thay vì tiếng Nga, như đảng đã bái bai Kinh Tế Tập Trung đói meo chạy theo Kinh Tế Thị Trường béo bở, bỏ đồng Rúp ông Liên Xô để úp mặt vào đồng Đô “đế quốc” Mỹ…
“Mỹ-cút hóa vì con gái rượu của Thủ tướng Dũng thiếu gì con trai của các nhà lão thành Cách Mạng gạ gẫm cưa kéo mà cứ một hai “em chả, em chả”, cứ nằng nặc đòi lấy bằng được thằng con Ngụy đã cút theo Mỹ ngày Mỹ cút; Mỹ-cút hóa đến nỗi mấy đứa cháu tôi bây giờ mừng sinh nhật cũng hát bài Hép-Pi-Bớt-Đê (Happy Birth Day), hễ mở miệng là Ô Kê Ô Gà! Ra phố thì cứ đòi uống Cô Ca, ăn thì Mạc-Đá-Nồ (McDonald), Bơ-Gơ-Kinh (Burger King), Ken-Tơ-Ky-Phờ-Rai-Trích-Cần (Kentucky Fried Chicken)... con quan CS chỉ toàn muốn du học Mỹ Tư Bản....”
Sau đó anh CGPQ còn tỏ ra khâm phục và hết lời ca tụng quân dân miền Nam:
“Chả dấu gì Anh, sau khi thống nhất đất nước, tôi khoái Miền Nam của anh quá xá rồi xin chọn nơi này làm quê hương luôn đó anh.
“…. nhờ ở lại Miền Nam, sống giữa đồng bào Miền Nam mà tôi đã chuyển biến từ sai lầm đáng tiếc căm thù khinh bỉ Ngụy thành khoái cụ tỷ Ngụy, bái phục văn hóa “đồi trụy” Ngụy, và nhất là Quân đội Miền Nam các anh có anh hùng Ngụy... Văn Thà, trong khi Thủ tướng Miền Bắc của chúng tôi tự cho mình là chân chính lại ký công hàm bán nước, dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho Tàu cộng…”
Phần cuối thư anh CGPQ viết:
“Thưa anh Chổi, điều tôi muốn đề cập với anh hôm nay là cám ơn các anh đã... thua cuộc chiến tranh mà trước kia chúng tôi hăm hở gọi là “giải phóng Miền Nam”. Thực tế cho thấy đó là “giải phóng Miền Bắc”. Nói thế nghe ra là “phản động”, nhưng thực chất là vậy. Nếu bác Hồ từng nói “Nước Việt nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” - cứ cho bác Hồ nói đúng đi, mặc dầu theo sách giáo khoa Cách mạng dạy thì Việt Nam ta không chỉ có một mà có tới 53 dân tộc (trong Nam các anh gọi là 53 sắc tộc, xem ra đúng hơn), thì ta cũng có thể nói, nhờ chiếm được Miền Nam mà Miền Bắc được giải phóng, sông có thể cạn núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy nay đã hiển nhiên không thể chối cãi.
Cuối thư anh CGPQ cho biết thêm là anh cùng quê với ông Hồ, có lẽ trước 30-04-1975 anh rất hãnh diện về điều nay, song sau ngày này anh lại thấy đó là một điều làm anh hổ thẹn:
“Cảm ơn anh đã đọc hết thư này của một người cựu thù cùng máu đỏ da vàng, cùng quê hương “ông bác” mà ngày nay mỗi lần nghe nhắc đến là tôi muốn độn thổ vì xấu hổ.
2. Nhà báo Huy Đức, tác giả cuốn “Bên Thắng Cuộc”:
Trong phần “Mấy lời của Tác Giả” của cuốn “Bên Thắng Cuộc” Huy Đức cho biết sau ngày 30-04-1975 nhìn những chiếc xe đò Phi Long chạy từ miền Nam ra Bắc và qua hình ảnh ngươi lơ xe và những đồ đạc và sách báo của hành khách mang từ miền Nam ra, tuy đơn giản song cũng làm ngươi miền Bắc nhận ra được rằng dường như ở miền Nam có mức sống văn minh, phong phú và đa dạng, và không giống như những điều mà Huy Đức đã được dậy bảo trong sách giáo khoa của miền Bắc:
“Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe, cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra, con búp bê nhựa biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn.
Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giời văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dầy, Thép Đã Tôi Thế Đấy. Những chiếc máy Akai, radio cassette, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.”
3. Phan Huy, một thi nhân nổi tiếng ở miền Bắc:
Phan Huy đã viết môt bài thơ có tựa đề là “Cảm Tạ Miền Nam” rất cảm động. Ngay trong phầm mở đầu ông viết:
“Đã từ lâu, tôi có điều muốn nói
Với Miền Nam, miền đất mới thân quen
Một lời cảm ơn tha thiết chân tình
Của Miền Bắc, xứ ngàn năm văn vật.”
Sau cái gọi giải phóng và thống nhất, ông Huy đã có dịp vào miền Nam và ông đã nhận ra miền Nam không tồi tệ như bác và đảng đã tuyên truyền và nhồi nhét vào đầu ông. Và khi đã nhận ra một sự thật phũ phàng, ông Huy đã bật khóc:
“Tôi đã vào một xứ sở thần tiên
Nếp sống văn minh, dân khí dịu hiền
Cơm áo no lành, con người hạnh phúc.
Tôi đã ngạc nhiên với lòng thán phục
Mở mắt to nhìn nửa nước anh em
Mà đảng bảo là bị lũ nguỵ quyền
Áp bức, đoạ đày, đói ăn, khát uống.
Trước mắt tôi, một Miền Nam sinh động
Đất nước con người dân chủ tự do
Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô
Giận đảng giận đoàn bao năm phỉnh gạt.”
Phan Huy cũng không quên mô tả cuộc sống ở miền Bắc cộng sản, nơi ông đã sinh ra và lớn lên, vô cùng tồi tệ. Đời sống của nhân dân miền Bắc nghèo khó đến nỗi phải kéo cầy thay trâu và nhân phẩm của nhân dân miền Bắc bị xô đẩy xuống tới mức ngang hàng với bèo dâu:
“Sinh ra lớn lên sau bức màn sắt
Tôi chẳng biết gì ngoài bác, đảng "kính yêu"
Xã hội sơ khai, tẩy não, một chiều
Con người nói năng như là chim vẹt.
Mở miệng ra là: "Nhờ ơn bác đảng
Chế độ ta ưu việt nhất hành tinh
Đuốc soi đường chủ nghĩa Mac Lenin
Tiến nhanh tiến mạnh lên thiên đường vô sản.
Hai mươi mốt năm trên đường cách mạng
Xã hội thụt lùi người kéo thay trâu
Cuộc sống xuống thang tính bằng tem phiếu
Nhân phẩm con người chẳng khác bèo dâu.”
Trong phần cuối bài thơ, ông Huy kết luận rằng, ngày 30-04-1975 thật sự không phải là ngày cộng sản miền Bắc “giải phóng” miền Nam thoát khỏi sự kìm kẹp của Mỹ Ngụy, mà ngược lại là ngày miền Nam đã phá màn u tối, đã khai đướng chỉ lối, đã khai sáng cho nhân dân miền Bắc thấy được bộ mặt gian trá và độc ác của bè lũ cộng sản, thật sự chúng chỉ là một bầy ác quỷ, và ông đã không tiếc lời cảm tạ nhân dân miền Nam:
“Cảm tạ Miền Nam phá màn u tối
Để tôi được nhìn ánh sáng văn minh
Biết được nhân quyền, tự do dân chủ
Mà đảng từ lâu bưng bít dân mình.
Cảm tạ Miền Nam khai đường chỉ lối
Đưa tôi trở về tổ quốc thiêng liêng
Của Hùng Vương, quốc tổ giống Rồng Tiên
Chớ không là Cac Mac và Le nin ngoại tộc.
Cảm tạ Miền nam mở lòng khai sáng
Đưa tôi hội nhập cùng thế giới năm châu
Mà trước đây tôi có biết gì đâu
Ngoài Trung quốc và Liên xô đại vĩ
Cảm tạ Miền Nam đã một thời làm chiến sĩ
Chống lại Cộng nô cuồng vọng xâm lăng
Hầu giúp cả nước thoát bầy ác quỷ
Dù không thành công cũng đã thành danh.”
Trong một bài thơ khác có nhan đề là “Tâm sự một đảng viên” ông Phan Huy đắng cay bộc lộ rằng, sở dĩ ông theo đảng cộng sản là vì ông quá tin nghe theo lời bác Hồ dạy bảo:
“Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh
Đường ta đi, chủ nghĩa Mac Lê nin
Là nhân phẩm, là lương tri thời đại.”
Và sở dĩ ông đã xung phong đi cứu Miền Nam ruột thịt là vì ông tin vào lời tuyên truyền của bác Hồ và đảng Cộng Sản:
“Rằng tại Miền Nam, ngụy quyền bách hại
Dìm nhân dân dưới áp bức bạo tàn
Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn
Đang rên siết kêu than cần giải phóng.”
Khi dự tính vào miền Nam thăm viếng một người bà con họ hàng, vì tin vào lời tuyên truyền của bác và đảng là người dân miền Nam đói khổ, nên ông đã chẳng quản đường xa diệu vợi mang theo một mớ gạo mà ông đã phải , dành dụm trong nhiều ngày mới có được, để biếu người bà con đói khó:
“Chẳng quên mang theo ký gạo để dành
Biếu người bà con trong nầy túng thiếu”
Song khi vào tới miền Nam, ông nhận ra rằng, đời sống của ngươi miền Nam hoàn toàn khác hẳn so với lời tuyên truyền láo khoét của bác và đảng:
“Đến Sài Gòn, tưởng say men chiến thắng
Nào ngờ đâu sụp đổ cả niềm tin
Khi điêu ngoa dối trá hiện nguyên hình
Trước thành phố tự do và nhân bản.”
Khi đến và đứng trước nhà người bà con, ông Phan Huy mới nhận ra rằng, mớ gạo mà ông nâng niu mang từ miền Bắc thiên đường cộng sản, với hảo ý để biếu người bà con miền Nam bị Mỹ Ngụy kìm kẹp đói khó là một điều điều “lăng mạ” người bà con này:
“Tôi tìm đến người bà con trong xóm
Nhà xinh xinh, đời sung túc tiện nghi
Kí gạo đem theo nay đã mốc xì
Tôi vội vã dấu vào trong túi xách.
Anh bà con tôi- một ngươi công chức
Nét u buồn nhưng cũng cố làm vui
Đem tặng cho tôi một cái đồng hồ
Không người lái, Sei-ko, hai cửa sổ.
Rồi anh nói: "Ngày mai đi cải tạo
Cái đồng hồ tôi cũng chẳng cần chi
Xin tặng anh, mong nhận lấy đem về
Một chút tình người bà con Nam bộ."
Sau khi đã nhận ra đời sống thật sự của nhân dân miền Nam và sự gian trá, phỉnh gạt của bác Hồ và đảng Cộng, ông Huy cảm thấy hổ thẹn với lương tâm nên đã than khóc:
“Trên đường về, đất trời như sụp đổ
Tôi thấy mình tội lỗi với Miền Nam
Tôi thấy mình hổ thẹn với lương tâm
Tôi đã khóc, cho mình và đất nước.”
4. Tiến sĩ Lê Hiển Dương, nguyên hiệu trường Đại Học Đồng Tháp:
Vào ngày 30-04-1975, ông Dương còn là sinh viên của trường đại học sư phạm Vinh. Khi nhận được tìn miền Nam đã được “giải phóng”, ông và các sinh viên của trường này đã hồ hỡi, phấn khởi, hò reo, ca hát và tổ chức hội họp liên miên để mừng miền Nam được giả phóng, vì tin rằng:
“từ đây đồng bào Miền Nam ruột thịt của chúng tôi không còn sống trong cảnh”Ngụy kềm Mỹ kẹp nữa…. Họ đã được đảng và Bác cùng nhân dân Miền Bắc chúng tôi giải phóng.”
Sau khi tốt nghiệp, ông Lê Hiển Dương may mắn lại được Đảng và Nhà Nước Cộng Sản bố trí vào miền Nam với một nhiệm vụ cao cả là:
“mang ‘ánh sáng’ văn hóa vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tồi lầm than vì cứ liên miên bị Ngụy kềm Mỹ kẹp chứ đâu có học hành gì?”
Khi xe chạy qua cầu Hiền Lương, ông Dương đã bắt đầu nhận ra rằng, cuộc sống của nhân dân miền Nam không như ông tưởng và hòan toàn không giống như lời tuyên truyền láo khoét của bác và đảng đã nhồi nhét vào đầu óc ông:
“Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Đà Nẵng.. rồi Nha Trang, Sài Gòn rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu!”
Khi tới Thị trấn Cao Lãnh để nhận nhiệm sở, ông được nhà cầm quyên địa phương “bố trí” cho ở tại khách sạn Thiên Lợi và đây là cảm nhận của ông khi sống trong khách sạn này và nhân dịp này ông cũng cho biết xã hội miền Bắc quá lạc hậu và nghèo khó thê thảm:
“Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là lavabo là hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà được bác Hồ khen thưởng và có thơ ca ngợi rằng:
‘Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
Anh về phân Bắc, phân xanh đầy nhà’…
Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên can tội trộm cắp phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã… Tôi thấm thía hơn với những câu thơ ca ngợi miền Bắc đi lên XHCN của Tố Hữu mà ngoài sinh viên học sinh chúng tôi ra thì hầu như cả nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ ai cũng thuộc nằm lòng:
Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá
Mỗi hòn than mẩu thóc cân ngô
Hai tay ta gom góp dựng cơ đồ…”
Từ nhận thức về mức sống cách biệt giửa hai miền Nam quốc gia và miền Bắc cộng sản, cùng những sự việc đã liên tiếp xẩy ra ở miền Nam sau ngày 30-04-1975 đã buộc một người trí thức như ông Dương phải suy nghĩ:
“Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam” … Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó… tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng miền Nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội…
Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mỉa mai chua chát của hai từ “GIẢI PHÓNG” đang được dùng trong kho tàng Tiếng Việt của nước nhà… “Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng… những tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi… Còn lại thì “giải phóng” đồng nghĩa với cảnh côi cút vì “sinh bắc tử nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường và không bao giờ trở về nữa… Giải phóng cũng có nghĩa là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ.. mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc!”
5. Châu Hiển Lý (bộ đội tập kết 1954)
Trong một bài có nhan đề là “Cả Nước Đã Bị Lừa” được viết vào dip kỷ niệm 35 năm ngày gỉải phóng miền Nam, ông Châu Hiển Lý đã nhận định vế “chiến thắng 30 tháng 04” của đảng cộng sản Việt Nam như sau:
“Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. "Tính hơn hẳn" của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.”
Tiếp theo đó ông Lý đã nêu ra một loạt câu hỏi để người đọc nhìn lại và suy ngẫm, rồi tự trả lời xem sau hơn nửa thế kỷ chủ nghĩa cộng sản được thực thi ở Việt Nam có phải là một chủ nghĩa tốt đẹp không? Nếu chủ nghĩa cộng sản thật sự tốt đẹp thì tại sao:
“ Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?
- Sau năm 1975, tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp?
- Tại sao sau khi được "giải phóng" khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông?
- Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị?
- Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?
- Tại sao đàn ông của các nước tư bản Châu á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?
- Tại sao Liên Xô và các nước Đông âu bị sụp đổ?
- Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?
- Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường , phải đi làm công cho các nước tư bản?
- Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch
Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xả hội phi nhân tính . Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghĩa.”
Gần cuối bài “Cả nước đã bị lừa” ông Lý viết:
“Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi" mà kết luận: "Tất cả đều là lừa bịp!”
Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ ... đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.”
Cuối bài “Cả nước đã bị lừa” ông Lý đã dung hai câu thơ của nhà thơ Bùi Minh Quốc để kết luận về cái xã hội thiên đường cộng sản:
"Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa !
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!"
6. Nhà báo Trần Quang Thành
Mới đây Á Châu Tự Do có đăng bài “Hồi Ức 30/4 của người Việt tại Đông Âu.” Trong bài này nhà báo Trần Quang Thành, cựu phóng viên đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam và đài Truyền hình Việt Nam, hiện định cư tại Bratisslava, thủ đô của Slovakia, đã phát biểu như sau:
“Khi tôi nghe đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam đưa tin ông Dương văn Minh đầu hàng, lúc đó tôi đang ở trên cầu Phan Thanh Giản Sài Gòn và chỉ ít phút sau là tôi có mặt ở dinh Độc Lập. Lúc đây mình nghĩ là mình đã hoàn thành một việc là tới được cái nơi mà người ta gọi là «hang ổ của Mỹ Nguỵ » lúc đó mình cứ tưởng là một cuộc chiến thắng giải phóng miền Nam dâng cho tổ quốc nhưng mà bây giờ nghĩ lại là mình bị lừa…
Nhìn lại 40 năm cuộc chiến gọi là chống Mỹ cứu nước nhưng thực tế nó lại là một cuộc chiến về ý thức hệ của những người Cộng sản lừa dối nhân dân ta, thực tế nó là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Những người chóp bu của Cộng sản đã lừa dối nhân dân Việt Nam và lừa dối cả nhân dân toàn thế giới. Họ kích động tinh thần dân tộc của người dân miền Bắc là: miền Bắc là tiền đồn phía Đông Nam Á của phe Xã hội Chủ nghĩa. Nhưng thực chất bây giờ chúng ta mới hiểu đây là một cuộc chiến của những người Cộng sản Việt Nam tay sai cho 2 nước Cộng sản là Nga sô và Trung Cộng để mà thực hiện ý thức hệ Cộng sản bành trướng trên toàn thế giới chứ không phải là một cuộc chiến tranh Vệ quốc như họ từng tuyền truyền là chống Mỹ xâm lược. Tôi thấy đó là một sự lừa dối và phản bội.»
7. Nhà văn Dương Thu Hương
Mới đây phóng viên Tường An, đài Á Châu Tự Do, đã có một cuộc trao đổi với nhà văn Dương Thu Hương về hồi ức của bà về ngày 30-04-1975. Câu hỏi đầu tiên mà phóng viên Tường An hỏi bà DTH là:
Thưa bà, cách đây đã lâu, trong một bài viết, bà có nói ngày 30/4, vào đến miền Nam bà đã ngồi trên vỉa hè và khóc. Nhân đây bà có thể giải thích về những giọt nước mắt ngày 30/4, 40 năm về trước không ạ ?
Nhà văn Dương Thu Hương:
Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ. Rất nhiều dân tộc văn minh bị tiêu diệt bởi một chế độ man rợ hơn, bởi vì họ hung hăng hơn. Họ (phía bên thua cuộc) có thể văn minh hơn về văn hoá nhưng họ kém về phương diện tổ chức quân sự.
Sau này tôi mới hiểu tôi cũng ngây thơ tôi khóc thế thôi. 30/4 tôi còn khóc vì một lý do khác nữa là vì chúng tôi bị lừa. Chúng tôi đi không nghĩ ngày về, nhưng mà chúng tôi tưởng chiến thắng quân ngoại xâm nhưng thực sự hoàn toàn là không phải. Và tất cả tuổi trẻ của chúng tôi đã bị tiêu huỷ đi. Và vì vậy mà tôi khóc, trong những giọt nước mắt của tôi có cái phần chung cho dân tộc và có phần riêng của chúng tôi, của những người bạn tôi đã chết và của bản thân tôi đã hy sinh tuổi xuân một cách vô ích.»
Tóm lại qua cảm nghĩ và nhận thức của các nhà văn, nhà thơ, cán binh, cán bộ v.v… trên đây người ta có thể rút ra được những kết luận sau đây:
- Nhân dân miền Nam thật sự có tự do, dân chủ và no ấm.
- Nhân dân miền Bắc nghèo khó đến nỗi phải kéo cày thay trâu và nhân phẩm xuống thấp ngang hàng với bèo dâu.
- Nhờ giải phóng miền Nam, nhân dân miền Bắc thấy được ánh sáng văn minh và được dắt dẫn trở về quốc gia dân tộc.
- Nhà cửa và phố xá ở miền Nam khang trang chứ không lụp xụp như ở miền Bắc.
- Nhờ “giải phóng miền Nam” mà người miền Bắc biết thế nào là thế giới văn minh và hội nhập vào thế giới này.
- Đời sống của người dân miền Bắc vào thập niên 1970 thê thảm và lạc hậu đến nỗi người dân phải tranh giành nhau từng cục “phân bắc” để nộp cho hợp tác xã.
- Xã hội chủ nghĩa là một xã hội tồi tệ và nó được phơi bày rõ rệt qua sự nghèo khổ của nhân dân miền Bắc.
- Xã hội chủ nghĩa là một thời đen tối nhất trong lịch xử Việt Nam.
- Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thực chất chỉ là cuộc chiến của những người cộng sản Việt Nam làm tay sai cho Nga Sô và Trung Quốc.
- Chế độ miền Bắc là một chế độ man rợ.
- Chế độ miền Nam là một chế độ văn minh.
Tóm lại, qua những kết luận trên đây thiết tưởng cũng tạm đủ cho người ta thấy rõ là, ngày 30-04-1975 không thể gọi là ngày miền Bắc cộng sản giải phóng miền Nam tự do được, mà phải gọi ngược lại là ngày miền Nam đã giải phóng miền Bắc ra khỏi sự kìm kẹp, giam hãm và đô hộ của đảng Cộng Sản Việt Nam. Đồng thời cũng đã giúp nhân dân miền Bắc nhận ra được rằng, chế độ cộng sản là chế độ man rợ, chẳng những đã chọc thủng con ngươi của họ, mà còn đâm thủng luôn cả màng nhĩ của họ nữa, khiến họ không nghe được và không thấy được những xã hội văn minh và tiến bộ ở thế giới bên ngoài. Do đó, họ đang bị đảng Cộng Sản Việt Nam giam hãm, kìm kẹp và đọa đày trong một “nhà tù khổng lồ” song vẫn cứ tưởng là đang sống hạnh phúc tuyệt vời trong một “thiên đường văn minh nhất hành tinh”.

