Bình Luận Thời Sự
Ông Nguyễn Phú Trọng 'đang yếu thế?'
Phát biểu khi tiếp xúc cử tri cuối tuần này của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng không rõ ông nhắm vào đối tượng cụ thể nào, nhưng có vẻ cho thấy 'ông đang yếu thế', theo nhà quan sát từ Canada.
Hôm 09/5/2015, truyền thông Việt Nam trích dẫn lời của ông Nguyễn Phú Trọng tại một cuộc tiếp xúc cử tri ở Quận Ba Đình, Hà Nội, trong đó ông Trọng nói:
"Ngăn kẻ cơ hội vào Trung ương không đơn giản" và "Bí thư kiêm chủ tịch thì to quá, ai kiểm soát ông?".
Bình luận về các phát ngôn này, hôm thứ Bảy từ Canada, Luật sư Vũ Đức Khanh, Giáo sư bán thời gian tại Khoa Luật Dân sự, Đại học Ottawa, cho rằng đây là cách nói của 'người đang yếu thế'.
Nhà quan sát cho rằng tương quan lực lượng trong nội bộ Đảng Cộng sản trước kỳ Đại hội Đảng lần thứ 12 hiện đang cho thấy ông Tổng Bí thư và 'phe cánh' của ông 'suy yếu' và 'kém thế' so với ông Thủ tướng chính phủ và 'phe quyền lực' của Thủ tướng.
'Kẻ thua cuộc'
Luật sư Vũ Đức Khanh tin rằng đang có dự kiến trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam gộp lại hai chức vụ Tổng bí thư Đảng và Chủ tịch nước làm một.
Luật sư Vũ Đức Khanh tin rằng chỉ những người 'thua cuộc' mới hay 'nói nhiều' và 'nói lớn lên', đồng thời cho từ sâu xa, các phát biểu nói trên, mặc dù không tường minh 'nhắm vào đối tượng nào' cho thấy ông Trọng có thể lo lắng về vị thế đang lên của Thủ tướng đương kim.
Nhà quan sát cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đang nhắm tới việc thâu tóm một lúc hai ghế quyền lực là 'Tổng bí thư' và 'Chủ tịch nước' và do đó đã đang có những động thái vận động mà rõ rệt nhất là bài diễn văn hôm 30/4/2015 vừa qua.
Theo nhà luật học, trong bài diễn văn này, ông Dũng đã nhắm vào việc lôi kéo những người 'ở phe đảng' và ra chỉ dấu với họ rằng: "nếu các anh không đi với tôi, thì các anh sẽ thành người thua cuộc".
Theo ông Vũ Đức Khanh, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chưa bao giờ rõ ràng khi nói về những thành phần được gọi là "kẻ cơ hội" và nhà quan sát nói nếu phe đảng 'đã mạnh' hơn các phe khác, thì trong các kỳ Hội nghị trước, các đảng viên, cử tri và quần chúng đã biết được, chẳng hạn như, "Đồng chí X" là ai.
Gần đây, lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam cũng có những thông điệp nhắm tới vai trò của quân đội, trong đó ông Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh 'không được phi chính trị hóa quân đội' và 'quân đội phải trung thành với Đảng Cộng sản."
Trong khi đó, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 11, những người chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng đã đặt ra vấn đề về "tiêu chuẩn" nhân sự lãnh đạo Đảng, trong đó nhấn mạnh "chọn lãnh đạo không tham vọng quyền lực", một khái niệm mà tới nay dường như chưa được rõ nội hàm và đối tượng nhắm tới lắm, theo giới quan sát.
Phát biểu khi tiếp xúc cử tri cuối tuần này của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng không rõ ông nhắm vào đối tượng cụ thể nào, nhưng có vẻ cho thấy 'ông đang yếu thế', theo nhà quan sát từ Canada.
Hôm 09/5/2015, truyền thông Việt Nam trích dẫn lời của ông Nguyễn Phú Trọng tại một cuộc tiếp xúc cử tri ở Quận Ba Đình, Hà Nội, trong đó ông Trọng nói:
"Ngăn kẻ cơ hội vào Trung ương không đơn giản" và "Bí thư kiêm chủ tịch thì to quá, ai kiểm soát ông?".
Bình luận về các phát ngôn này, hôm thứ Bảy từ Canada, Luật sư Vũ Đức Khanh, Giáo sư bán thời gian tại Khoa Luật Dân sự, Đại học Ottawa, cho rằng đây là cách nói của 'người đang yếu thế'.
Nhà quan sát cho rằng tương quan lực lượng trong nội bộ Đảng Cộng sản trước kỳ Đại hội Đảng lần thứ 12 hiện đang cho thấy ông Tổng Bí thư và 'phe cánh' của ông 'suy yếu' và 'kém thế' so với ông Thủ tướng chính phủ và 'phe quyền lực' của Thủ tướng.
'Kẻ thua cuộc'
Luật sư Vũ Đức Khanh tin rằng đang có dự kiến trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam gộp lại hai chức vụ Tổng bí thư Đảng và Chủ tịch nước làm một.
Luật sư Vũ Đức Khanh tin rằng chỉ những người 'thua cuộc' mới hay 'nói nhiều' và 'nói lớn lên', đồng thời cho từ sâu xa, các phát biểu nói trên, mặc dù không tường minh 'nhắm vào đối tượng nào' cho thấy ông Trọng có thể lo lắng về vị thế đang lên của Thủ tướng đương kim.
Nhà quan sát cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đang nhắm tới việc thâu tóm một lúc hai ghế quyền lực là 'Tổng bí thư' và 'Chủ tịch nước' và do đó đã đang có những động thái vận động mà rõ rệt nhất là bài diễn văn hôm 30/4/2015 vừa qua.
Theo nhà luật học, trong bài diễn văn này, ông Dũng đã nhắm vào việc lôi kéo những người 'ở phe đảng' và ra chỉ dấu với họ rằng: "nếu các anh không đi với tôi, thì các anh sẽ thành người thua cuộc".
Theo ông Vũ Đức Khanh, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chưa bao giờ rõ ràng khi nói về những thành phần được gọi là "kẻ cơ hội" và nhà quan sát nói nếu phe đảng 'đã mạnh' hơn các phe khác, thì trong các kỳ Hội nghị trước, các đảng viên, cử tri và quần chúng đã biết được, chẳng hạn như, "Đồng chí X" là ai.
Gần đây, lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam cũng có những thông điệp nhắm tới vai trò của quân đội, trong đó ông Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh 'không được phi chính trị hóa quân đội' và 'quân đội phải trung thành với Đảng Cộng sản."
Trong khi đó, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 11, những người chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng đã đặt ra vấn đề về "tiêu chuẩn" nhân sự lãnh đạo Đảng, trong đó nhấn mạnh "chọn lãnh đạo không tham vọng quyền lực", một khái niệm mà tới nay dường như chưa được rõ nội hàm và đối tượng nhắm tới lắm, theo giới quan sát.
Dân ngu hay ngu dân?
Ngô Nhân Dụng
Những người tranh đấu đòi thiết lập chế độ dân chủ đồng ý với nhau một điều: Tốt nhất là để dân chúng chọn người cai trị. Suy nghĩ như vậy là đặt niềm tin trên óc phán đoán của người dân; họ có khả năng lựa chọn đúng. Nếu họ chọn sai thì rán mà chịu những hậu quả. Một thứ bảo đảm cho người dân, là nếu họ lỡ dại, chọn sai, thì sau đó hai, ba năm, nhiều nhất là năm, bảy năm, họ có quyền thay đổi.
Nhưng nếu dân chúng cứ sai lầm mãi thì sao? Chế độ dân chủ đặt trên niềm tin rằng, “Lâu lâu anh có thể đánh lừa tất cả mọi người; anh cũng có thể đánh lừa một số người mãi mãi; nhưng anh không thể đánh lừa tất cả mọi người mãi mãi được.” Abraham Lincoln nói như vậy, trong lúc đang tranh cử năm 1856. Những chế độ độc tài xảo quyệt nhất cũng có ngày bị lật mặt nạ.
Không phải ai cũng chia sẻ niềm tin này. Nhiều người không tin vào khả năng suy nghĩ của dân chúng. Niccolo Machiavelli (1469-1527) chẳng hạn. Trong cuốn Il Principe (Phan Huy Chiêm dịch sang tiếng Việt tựa là Quân Vương), ông nhận xét: “Dân rất cả tin và cũng rất mau quên.” Cho nên ông khuyên các vương hầu nên làm cho dân sợ, hơn là chờ được dân yêu. Trước Machiavelli hơn 17 thế kỷ, Hàn Phi Tử (Han Feizi, 韓非子,ca. 280–233 TCN) ở Trung Hoa còn nói toẹt ra rằng dân chúng là con nít. Trong chương 50, Hàn Phi viết: “Cái trí của dân không thể dùng được, nó giống như bụng dạ trẻ con vậy.” (Dân trí chi bất khả dụng, do anh nhi chi tâm dã - chương Hiển Học; 民智 之不可用,猶嬰兒之心也 - 顯學).
Tất nhiên các chế độ độc tài đồng ý với Hàn Phi Tử và Machiavelli. Ðể duy trì ách chuyên chế họ thường nêu ra một lý do là “dân trí còn thấp quá.” Nói cách khác, dân ngu, dân là đám trẻ con chưa đủ lớn khôn, không có khả năng chọn lựa cho chính mình. Chỉ có đảng là thông minh cho nên đảng phải quyết định mọi việc cho chúng nó được nhờ. Họ viết vào Hiến Pháp, điều số 4: “Ðảng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Thế đến bao giờ dân trí mới đủ cao để khỏi bị đảng “lãnh đạo?” Họ không nói. Ðến cái mục tiêu tối hậu của họ là tiến lên Chủ nghĩa Xã hội họ cũng chưa biết nó ra thế nào, thế mà vẫn nhắm mắt chạy tới và bắt cả nước chạy theo hết hơi! Chính họ chưa đủ khôn lớn, làm sao họ biết bao giờ dân mới hết ngu?
Các nhà chính trị không bao giờ tuyên giảng lý thuyết Dân Ngu này cả. Bởi vì không thể nói thẳng cho dân biết họ nghĩ gì khi còn muốn lợi dụng cái ngu của dân. Trái lại, họ nịnh nọt, vuốt ve dân, cho dân ăn đủ thứ bánh vẽ. Các bạo chúa chỉ cần áp dụng lý thuyết Dân Ngu bằng cách khích động bản năng và tình tự của con người. Những bản năng bình thường nhất như sợ đói, sợ đánh đập, sợ tra tấn, khiến dân phải vâng lời bạo chúa. Những tình cảm cao quý nhất, như lòng yêu nước, tình thương người đồng loại, thì được khích động để dân hy sinh cho các lãnh tụ hưởng.
Nhà văn Mikhail Shishkin mới viết một bài, dịch đăng trên The New York Times ngày 8 Tháng Năm năm 2015, cho thấy các bạo chúa Nga lợi dụng cái ngu của dân như thế nào. Ông kể chuyện thân phụ ông tình nguyện đầu quân năm 18 tuổi, tham gia cuộc chiến bảo vệ “Tổ Quốc Nga” chống Ðức Quốc Xã. Người con vẫn hãnh diện đem khoe bức hình chiếc tầu ngầm bố mình đã phục vụ. Mỗi năm đến ngày 9 Tháng Năm, ông cụ lại mặc quân phục, đeo đủ các huy chương, đó là ngày nước Nga kỷ niệm Ðại Chiến Thắng. Người lính đã làm tròn nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc. Nhưng ông cũng bảo vệ một chế độ đã bắt cha mình (ông nội tác giả) cho đi đày mút mùa, chết tối tăm trong một trại “học tập cải tạo gulag.” Cụ đã góp tay vào cuộc chiến thắng, kết quả là bạo chúa có thể kéo dài chế độ nô lệ hóa dân chúng lâu hơn. Cuối đời, cũng như các bạn đồng ngũ khác, cụ chỉ uống rượu tiêu sầu. Vào những năm 1980, khi nước Nga đói, đám cựu chiến binh như ông cụ nhận được những gói quà cứu trợ. Trong đó họ thấy những thực phẩm do dân Ðức gửi tặng. Ðối với ông cụ, đó là một sỉ nhục. Ông uống say khướt, hỏi: “Nhưng chúng ta thắng trận kia mà?” Ông bật khóc, tiếp tục hỏi mà không cần ai nghe: “Này, có phải mình thắng trận không? Hay mình thua trận?”
Năm nay, Mikhail Shishkin nhận định: Ðức Quốc Xã bại trận, dân Ðức đã thắng. Họ chứng tỏ cho ai cũng thấy một dân tộc có thể đứng dậy, sống như những con người, không còn bị chiến tranh làm cho mê muội nữa. Ngược lại, ở nước Nga, trong Ngày Chiến Thắng họ không nhắc tới khát vọng hòa bình và tưởng niệm các nạn nhân. Ông Putin đem biểu diễn các vụ khí mới, khích động dân Nga bằng tình yêu nước, để đe dọa Ukraine. Shishkin kết luận: “Các lãnh tụ Nga đã ăn cắp dầu lửa của dân, ăn cắp những cuộc bầu cử, ăn cắp đất nước, và ăn cắp chiến thắng của dân.” Năm nay, ông mới trả lời cho cha mình: “Bố ơi, chúng ta đã thua trận!”
Tại sao một dân tộc chiến đấu dũng mãnh, chịu bao nhiêu đau khổ, thắng kẻ địch trên chiến trường mà lại thua trận trong thời bình, ngay trên đất nước của mình?
Machiavelli và Hàn Phi Tử sẽ nhún vai trả lời: Chúng tôi đã nói mà. Dân chúng đời nào cũng chỉ là một đám con nít!
Nhưng chúng ta có thể hỏi ngược lại Hàn Phi Tử và Machiavelli một câu: Dân chúng là con nít, nhưng thưa các cụ, năm 1989 dân Ðông Ðức đã phá bức tường Berlin, dân Nga năm 1991 cũng xóa bỏ chế độ Cộng Sản rồi. Trong nháy mắt lịch sử lật sang một trang mới, mỗi biến cố diễn ra chỉ trong một đêm. Tại sao dân chúng có thể làm được như vậy?
Câu trả lời, là thông tin. Dân Ðông Ðức vẫn lén lút coi đài truyền hình Tây Ðức bao nhiêu năm. Chỉ nhìn một cảnh sinh hoạt trên đường phố ở Tây Ðức trên màn ảnh họ cũng biết tất cả những lời tuyên truyền của đảng và nhà nước là láo khoét. Những người Ðông Ðức trốn thoát chế độ Cộng Sản vẫn gửi tin tức về nhà. Mà họ không cần đưa tin tức, chỉ những gói quà họ gửi về cũng đầy những thông tin rồi. Tin tức giúp dân mở mắt ra nhìn sự thật.
Các bạo chúa không hoàn toàn tin ở Thuyết Dân Ngu, nhưng họ biết phải làm cho dân ngu, càng ngu càng dễ trị. Họ biến những người không ngu cũng thành ngu, đã dốt rồi thì cảng thêm dốt nát. Từ Stalin, Mao Trạch Ðông tới Hồ Chí Minh, Pol Pot, đường lối giản dị nhất của họ là bưng bít thông tin. Dân càng ngu các bạo chúa càng kéo dài ách thống trị. Muốn dân tiếp tục ngu thì không cho tự do ngôn luận, cấm báo chí độc lập bên ngoài guồng máy đảng. Chính sách Ngu Dân này được áp dụng tại khắp các nước độc tài. Nhưng không ở đâu triệt để bằng trong chế độ Cộng Sản. Ðảng chiếm độc quyền điều khiển các báo, đài, chiếm độc quyền giáo dục, độc quyền in sách giáo khoa.
Machiavelli và Hàn Phi Tử không hề biết ngày nay có thứ gọi là Internet.
Không hề biết có những người can đảm làm blog, làm Câu Lạc Bộ Báo Chí Tự Do. Ðó là những đợt xung phong tấn công chế độ độc tài, phá tan chính sách ngu dân, bưng bít. Bằng những ý kiến mới mẻ, bằng những tin tức “lề trái,” người dân sẽ càng ngày càng hiểu, biết nhiều hơn. Cho nên mới có những thanh niên như Nguyễn Việt Dũng. Dũng Phi Hổ hay Hoàng Tử Thuốc Lào, người xã Hậu Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An, ra đời sau khi chiến tranh chấm dứt 9 năm. Nhưng anh nhận được những thông tin ở đâu không biết, đã phán đoán rằng chế độ Việt Nam Cộng Hòa tốt hơn chế độ Cộng Sản. Anh di biểu tình ở Hà Nội, mặc áo chữ T, trên ngực in phù hiệu binh chủng Nhảy Dù Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Chúng ta có thể tin tưởng rằng dân chúng không ngu; ở bất cứ nước nào cũng vậy, họ không phải là con nít. Chỉ khi thiếu thông tin thì họ khó suy nghĩ đúng. Khi có đủ tin tức thì trí óc tập thể của người dân đủ sức phán đoán, quyết định, chọn lựa cho chính họ - không cần đứa nào “lãnh đạo” cả. Trong bức thư gửi cho Richard Price, năm 1789, Thomas Jefferson viết: “Khi dân chúng được thông tin đầy đủ, có thể tin tưởng họ sẽ biết tự cai trị. Khi có điều gì kỳ cục làm cho họ chú ý, có thể tin là họ sẽ chỉnh đốn được. (Whenever the people are well-informed, they can be trusted with their own government. Whenever things get so far wrong as to attract their notice, they may be relied on to set them to rights).
Ðó là niềm tin của những người đang tranh đấu đòi tự do dân chủ. Dân chủ không bảo đảm một xã hội lý tưởng xa vời. Dân chủ chỉ là những cách xếp đặt cuộc sống chung để bảo đảm người dân có quyền lựa chọn và thay đổi những người cầm quyền. Trong lịch sử, loài người đã thử áp dụng nhiều thể chế khác nhau, không có thể chế nào hoàn hảo cả, nhưng dân chủ là chế độ đỡ tai hại nhất.
Ngô Nhân Dụng
Những người tranh đấu đòi thiết lập chế độ dân chủ đồng ý với nhau một điều: Tốt nhất là để dân chúng chọn người cai trị. Suy nghĩ như vậy là đặt niềm tin trên óc phán đoán của người dân; họ có khả năng lựa chọn đúng. Nếu họ chọn sai thì rán mà chịu những hậu quả. Một thứ bảo đảm cho người dân, là nếu họ lỡ dại, chọn sai, thì sau đó hai, ba năm, nhiều nhất là năm, bảy năm, họ có quyền thay đổi.
Nhưng nếu dân chúng cứ sai lầm mãi thì sao? Chế độ dân chủ đặt trên niềm tin rằng, “Lâu lâu anh có thể đánh lừa tất cả mọi người; anh cũng có thể đánh lừa một số người mãi mãi; nhưng anh không thể đánh lừa tất cả mọi người mãi mãi được.” Abraham Lincoln nói như vậy, trong lúc đang tranh cử năm 1856. Những chế độ độc tài xảo quyệt nhất cũng có ngày bị lật mặt nạ.
Không phải ai cũng chia sẻ niềm tin này. Nhiều người không tin vào khả năng suy nghĩ của dân chúng. Niccolo Machiavelli (1469-1527) chẳng hạn. Trong cuốn Il Principe (Phan Huy Chiêm dịch sang tiếng Việt tựa là Quân Vương), ông nhận xét: “Dân rất cả tin và cũng rất mau quên.” Cho nên ông khuyên các vương hầu nên làm cho dân sợ, hơn là chờ được dân yêu. Trước Machiavelli hơn 17 thế kỷ, Hàn Phi Tử (Han Feizi, 韓非子,ca. 280–233 TCN) ở Trung Hoa còn nói toẹt ra rằng dân chúng là con nít. Trong chương 50, Hàn Phi viết: “Cái trí của dân không thể dùng được, nó giống như bụng dạ trẻ con vậy.” (Dân trí chi bất khả dụng, do anh nhi chi tâm dã - chương Hiển Học; 民智 之不可用,猶嬰兒之心也 - 顯學).
Tất nhiên các chế độ độc tài đồng ý với Hàn Phi Tử và Machiavelli. Ðể duy trì ách chuyên chế họ thường nêu ra một lý do là “dân trí còn thấp quá.” Nói cách khác, dân ngu, dân là đám trẻ con chưa đủ lớn khôn, không có khả năng chọn lựa cho chính mình. Chỉ có đảng là thông minh cho nên đảng phải quyết định mọi việc cho chúng nó được nhờ. Họ viết vào Hiến Pháp, điều số 4: “Ðảng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Thế đến bao giờ dân trí mới đủ cao để khỏi bị đảng “lãnh đạo?” Họ không nói. Ðến cái mục tiêu tối hậu của họ là tiến lên Chủ nghĩa Xã hội họ cũng chưa biết nó ra thế nào, thế mà vẫn nhắm mắt chạy tới và bắt cả nước chạy theo hết hơi! Chính họ chưa đủ khôn lớn, làm sao họ biết bao giờ dân mới hết ngu?
Các nhà chính trị không bao giờ tuyên giảng lý thuyết Dân Ngu này cả. Bởi vì không thể nói thẳng cho dân biết họ nghĩ gì khi còn muốn lợi dụng cái ngu của dân. Trái lại, họ nịnh nọt, vuốt ve dân, cho dân ăn đủ thứ bánh vẽ. Các bạo chúa chỉ cần áp dụng lý thuyết Dân Ngu bằng cách khích động bản năng và tình tự của con người. Những bản năng bình thường nhất như sợ đói, sợ đánh đập, sợ tra tấn, khiến dân phải vâng lời bạo chúa. Những tình cảm cao quý nhất, như lòng yêu nước, tình thương người đồng loại, thì được khích động để dân hy sinh cho các lãnh tụ hưởng.
Nhà văn Mikhail Shishkin mới viết một bài, dịch đăng trên The New York Times ngày 8 Tháng Năm năm 2015, cho thấy các bạo chúa Nga lợi dụng cái ngu của dân như thế nào. Ông kể chuyện thân phụ ông tình nguyện đầu quân năm 18 tuổi, tham gia cuộc chiến bảo vệ “Tổ Quốc Nga” chống Ðức Quốc Xã. Người con vẫn hãnh diện đem khoe bức hình chiếc tầu ngầm bố mình đã phục vụ. Mỗi năm đến ngày 9 Tháng Năm, ông cụ lại mặc quân phục, đeo đủ các huy chương, đó là ngày nước Nga kỷ niệm Ðại Chiến Thắng. Người lính đã làm tròn nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc. Nhưng ông cũng bảo vệ một chế độ đã bắt cha mình (ông nội tác giả) cho đi đày mút mùa, chết tối tăm trong một trại “học tập cải tạo gulag.” Cụ đã góp tay vào cuộc chiến thắng, kết quả là bạo chúa có thể kéo dài chế độ nô lệ hóa dân chúng lâu hơn. Cuối đời, cũng như các bạn đồng ngũ khác, cụ chỉ uống rượu tiêu sầu. Vào những năm 1980, khi nước Nga đói, đám cựu chiến binh như ông cụ nhận được những gói quà cứu trợ. Trong đó họ thấy những thực phẩm do dân Ðức gửi tặng. Ðối với ông cụ, đó là một sỉ nhục. Ông uống say khướt, hỏi: “Nhưng chúng ta thắng trận kia mà?” Ông bật khóc, tiếp tục hỏi mà không cần ai nghe: “Này, có phải mình thắng trận không? Hay mình thua trận?”
Năm nay, Mikhail Shishkin nhận định: Ðức Quốc Xã bại trận, dân Ðức đã thắng. Họ chứng tỏ cho ai cũng thấy một dân tộc có thể đứng dậy, sống như những con người, không còn bị chiến tranh làm cho mê muội nữa. Ngược lại, ở nước Nga, trong Ngày Chiến Thắng họ không nhắc tới khát vọng hòa bình và tưởng niệm các nạn nhân. Ông Putin đem biểu diễn các vụ khí mới, khích động dân Nga bằng tình yêu nước, để đe dọa Ukraine. Shishkin kết luận: “Các lãnh tụ Nga đã ăn cắp dầu lửa của dân, ăn cắp những cuộc bầu cử, ăn cắp đất nước, và ăn cắp chiến thắng của dân.” Năm nay, ông mới trả lời cho cha mình: “Bố ơi, chúng ta đã thua trận!”
Tại sao một dân tộc chiến đấu dũng mãnh, chịu bao nhiêu đau khổ, thắng kẻ địch trên chiến trường mà lại thua trận trong thời bình, ngay trên đất nước của mình?
Machiavelli và Hàn Phi Tử sẽ nhún vai trả lời: Chúng tôi đã nói mà. Dân chúng đời nào cũng chỉ là một đám con nít!
Nhưng chúng ta có thể hỏi ngược lại Hàn Phi Tử và Machiavelli một câu: Dân chúng là con nít, nhưng thưa các cụ, năm 1989 dân Ðông Ðức đã phá bức tường Berlin, dân Nga năm 1991 cũng xóa bỏ chế độ Cộng Sản rồi. Trong nháy mắt lịch sử lật sang một trang mới, mỗi biến cố diễn ra chỉ trong một đêm. Tại sao dân chúng có thể làm được như vậy?
Câu trả lời, là thông tin. Dân Ðông Ðức vẫn lén lút coi đài truyền hình Tây Ðức bao nhiêu năm. Chỉ nhìn một cảnh sinh hoạt trên đường phố ở Tây Ðức trên màn ảnh họ cũng biết tất cả những lời tuyên truyền của đảng và nhà nước là láo khoét. Những người Ðông Ðức trốn thoát chế độ Cộng Sản vẫn gửi tin tức về nhà. Mà họ không cần đưa tin tức, chỉ những gói quà họ gửi về cũng đầy những thông tin rồi. Tin tức giúp dân mở mắt ra nhìn sự thật.
Các bạo chúa không hoàn toàn tin ở Thuyết Dân Ngu, nhưng họ biết phải làm cho dân ngu, càng ngu càng dễ trị. Họ biến những người không ngu cũng thành ngu, đã dốt rồi thì cảng thêm dốt nát. Từ Stalin, Mao Trạch Ðông tới Hồ Chí Minh, Pol Pot, đường lối giản dị nhất của họ là bưng bít thông tin. Dân càng ngu các bạo chúa càng kéo dài ách thống trị. Muốn dân tiếp tục ngu thì không cho tự do ngôn luận, cấm báo chí độc lập bên ngoài guồng máy đảng. Chính sách Ngu Dân này được áp dụng tại khắp các nước độc tài. Nhưng không ở đâu triệt để bằng trong chế độ Cộng Sản. Ðảng chiếm độc quyền điều khiển các báo, đài, chiếm độc quyền giáo dục, độc quyền in sách giáo khoa.
Machiavelli và Hàn Phi Tử không hề biết ngày nay có thứ gọi là Internet.
Không hề biết có những người can đảm làm blog, làm Câu Lạc Bộ Báo Chí Tự Do. Ðó là những đợt xung phong tấn công chế độ độc tài, phá tan chính sách ngu dân, bưng bít. Bằng những ý kiến mới mẻ, bằng những tin tức “lề trái,” người dân sẽ càng ngày càng hiểu, biết nhiều hơn. Cho nên mới có những thanh niên như Nguyễn Việt Dũng. Dũng Phi Hổ hay Hoàng Tử Thuốc Lào, người xã Hậu Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An, ra đời sau khi chiến tranh chấm dứt 9 năm. Nhưng anh nhận được những thông tin ở đâu không biết, đã phán đoán rằng chế độ Việt Nam Cộng Hòa tốt hơn chế độ Cộng Sản. Anh di biểu tình ở Hà Nội, mặc áo chữ T, trên ngực in phù hiệu binh chủng Nhảy Dù Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Chúng ta có thể tin tưởng rằng dân chúng không ngu; ở bất cứ nước nào cũng vậy, họ không phải là con nít. Chỉ khi thiếu thông tin thì họ khó suy nghĩ đúng. Khi có đủ tin tức thì trí óc tập thể của người dân đủ sức phán đoán, quyết định, chọn lựa cho chính họ - không cần đứa nào “lãnh đạo” cả. Trong bức thư gửi cho Richard Price, năm 1789, Thomas Jefferson viết: “Khi dân chúng được thông tin đầy đủ, có thể tin tưởng họ sẽ biết tự cai trị. Khi có điều gì kỳ cục làm cho họ chú ý, có thể tin là họ sẽ chỉnh đốn được. (Whenever the people are well-informed, they can be trusted with their own government. Whenever things get so far wrong as to attract their notice, they may be relied on to set them to rights).
Ðó là niềm tin của những người đang tranh đấu đòi tự do dân chủ. Dân chủ không bảo đảm một xã hội lý tưởng xa vời. Dân chủ chỉ là những cách xếp đặt cuộc sống chung để bảo đảm người dân có quyền lựa chọn và thay đổi những người cầm quyền. Trong lịch sử, loài người đã thử áp dụng nhiều thể chế khác nhau, không có thể chế nào hoàn hảo cả, nhưng dân chủ là chế độ đỡ tai hại nhất.
-
nguyenthanh
- Posts: 859
- Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm
Việt Nam hoan nghênh Mỹ 'duy trì hòa bình' ở biển Ðông
Thursday, May 14, 2015 4:51:52 PM
HÀ NỘI (NV) - Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao CSVN công khai bày tỏ sự vui mừng khi Hoa Kỳ loan báo hàng loạt dự định,
nhận định liên quan tới việc kiềm chế hoạt động của Trung Quốc tại biển Ðông.
Hôm 13 tháng 5, Hoa Kỳ tiết lộ dự định sẽ điều động phi cơ và chiến hạm đến biển Ðông để tuần tra quanh các bãi đá mà Trung Quốc
vừa bồi đắp thành đảo nhân tạo và đang xây dựng để biến các đảo nhân tạo này thành một chuỗi căn cứ quân sự.

Không ảnh chụp bãi đá Chữ Thập sau khi được Trung Quốc bồi đắp. Những hành động của Trung Quốc tại biển Ðông
đã làm Hoa Kỳ tỉnh ngộ về tham vọng của Trung Quốc. (Hình: CSIS)
Cùng thời điểm này, Ủy Ban Ðối Ngoại của Thượng Viện Hoa Kỳ đã tổ chức một buổi điều trần về việc “bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ tại biển Hoa Ðông và biển Ðông.”
Tại buổi điều trần đó, ông David Shear, cựu đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam và nay là trợ lý đặc trách an ninh khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, cảnh báo, sau khi công bố yêu sách về chủ quyền tại biển Ðông, dường như Trung Quốc đang cố gắng kiểm soát toàn bộ biển Ðông thông qua việc bồi đắp, xây dựng, thay đổi nguyên trạng của vùng biển này.
Các động thái của Trung Quốc có thể khiến các quốc gia trong khu vực củng cố khả năng quân sự ở các tiền đồn của họ tại biển Ðông, khiến nguy cơ do tính toán sai lầm, khủng hoảng và chạy đua vũ trang gia tăng.
Theo ghi nhận của Hoa Kỳ, riêng tại quần đảo Trường Sa, số tiền đồn của Việt Nam là 48, của Philippines là 8, của Trung Quốc là 8, của Mã Lai là 5 và của Ðài Loan là 1.
Ông Daniel Russel, trợ lý đặc trách khu vực Ðông Á và Thái Bình Dương của ngoại trưởng Hoa Kỳ, nhấn mạnh, Hoa Kỳ có những lợi ích cần phải bảo vệ và vì vậy cần phải có những giải pháp nhằm bảo đảm rằng, các tranh chấp về chủ quyền tại biển Ðông phải được giải quyết bằng những biện pháp ôn hòa.
Ông Russel nhận định, mức độ căng thẳng tại biển Ðông đang gia tăng. Những hành động gây bất ổn như bồi đắp các bãi đá có thể gây nguy hiểm cho nỗ lực phát triển ổn định và cần phải được giải quyết. Hoa Kỳ cần bảo vệ quyền giải quyết tranh chấp theo luật pháp. Việc thiếp lập quan hệ đối tác với các quốc gia Ðông Nam Á và phối hợp với các đồng minh như Nhật, Úc là cần thiết để tối ưu hóa sự trợ giúp và hoạt động ngoại giao.
Ngay sau đó, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam lên tiếng, “Hoan nghênh nỗ lực của cộng đồng quốc tế, trong đó có Hoa Kỳ nhằm duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở biển Ðông, đặc biệt là ủng hộ vai trò của ASEAN, tuân thủ DOC (Tuyên bố Ứng xử của các bên ở biển Ðông) và những nỗ lực nhằm sớm đạt được COC (Bộ Quy tắc ứng xử trên biển Ðông).
Ngoài Việt Nam, Philippines cũng đã lên tiếng ủng hộ những dự định và nhận định của Hoa Kỳ. Ông Albert Del Rosario, Ngoại trưởng Philippines, cho biết, quốc gia này mong được Hoa Kỳ trợ giúp nhiều hơn để ngăn chặn việc Trung Quốc thay đổi nguyên trạng biển Ðông, nhằm kiểm soát biển Ðông. Khi phát biểu tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế ở Washington D.C, ông Rosario cho rằng, cần phải nhanh chóng làm điều gì đó, nếu không, việc Trung Quốc kiểm soát được biển Ðông sẽ dẫn đến tình trạng quân sự hóa, đe dọa tự do hàng hải.
Ông Rosario khẳng định, Hoa Kỳ nên hành động nhiều hơn để tăng cường sự hiện diện tại châu Á, kể cả đẩy mạnh quan hệ kinh tế. Theo ngoại trưởng Philippines, việc chuyển trọng tâm chiến lược sang châu Á của Hoa Kỳ “chưa tập trung và chưa đủ mạnh mẽ.”
Theo dự tính, cuối tuần này, ông John Kerry, ngoại trưởng Hoa Kỳ sẽ đến thăm Trung Quốc. Giới thạo tin nhận định, trong chuyến thăm đó, ông Kerry sẽ chuyển cho Trung Quốc những thông điệp nhằm nhấn mạnh rằng, Hoa Kỳ quyết tâm bảo vệ tự do giao thông trên biển và trên không tại biển Ðông. Các nỗ lực thay đổi nguyên trạng biển Ðông của Trung Quốc sẽ không thể đạt đến tác dụng mà Trung Quốc mong muốn là dựa vào đó để hỗ trợ yêu sách đòi chủ quyền cả trên biển lẫn trên không ở khu vực biển Ðông. Ðồng thời những hoạt động xây dựng của Trung Quốc tại biển Ðông chỉ gây bất ổn trong khu vực và gây phương hại cho quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho biết họ tin rằng, sau khi gặp ông Kerry, Trung Quốc sẽ “không còn mơ hồ về quyết tâm của Hoa Kỳ.” Người ta dự đoán chuyến thăm Trung Quốc của ông Kerry nhằm bàn thảo về việc “hợp tác chiến lược” sẽ trở thành dịp “phơi bày mâu thuẫn.”
Theo ông Alexander Sullivan, làm việc tại Trung Tâm Nghiên Cứu vì An Ninh Mới (CNAS), nếu Trung Quốc kiểm soát được biển Ðông thì chính sách khu vực của Hoa Kỳ phá sản và khó có thể huy động lực lượng cấp cứu Ðài Loan, Philippines nếu hai đồng minh này bị Trung Quốc sách nhiễu.
Ông Ian Storey, nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Châu Á ở Singapore, tin rằng, những hành động của Trung Quốc tại biển Ðông đã làm Hoa Kỳ tỉnh ngộ về tham vọng của Trung Quốc. Vấn đề là Hoa Kỳ sẽ phải đối phó như thế nào sau khi những lời kêu gọi và các khuyến cáo không làm Trung Quốc bận tâm. (G.Ð)
Thursday, May 14, 2015 4:51:52 PM
HÀ NỘI (NV) - Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao CSVN công khai bày tỏ sự vui mừng khi Hoa Kỳ loan báo hàng loạt dự định,
nhận định liên quan tới việc kiềm chế hoạt động của Trung Quốc tại biển Ðông.
Hôm 13 tháng 5, Hoa Kỳ tiết lộ dự định sẽ điều động phi cơ và chiến hạm đến biển Ðông để tuần tra quanh các bãi đá mà Trung Quốc
vừa bồi đắp thành đảo nhân tạo và đang xây dựng để biến các đảo nhân tạo này thành một chuỗi căn cứ quân sự.

Không ảnh chụp bãi đá Chữ Thập sau khi được Trung Quốc bồi đắp. Những hành động của Trung Quốc tại biển Ðông
đã làm Hoa Kỳ tỉnh ngộ về tham vọng của Trung Quốc. (Hình: CSIS)
Cùng thời điểm này, Ủy Ban Ðối Ngoại của Thượng Viện Hoa Kỳ đã tổ chức một buổi điều trần về việc “bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ tại biển Hoa Ðông và biển Ðông.”
Tại buổi điều trần đó, ông David Shear, cựu đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam và nay là trợ lý đặc trách an ninh khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, cảnh báo, sau khi công bố yêu sách về chủ quyền tại biển Ðông, dường như Trung Quốc đang cố gắng kiểm soát toàn bộ biển Ðông thông qua việc bồi đắp, xây dựng, thay đổi nguyên trạng của vùng biển này.
Các động thái của Trung Quốc có thể khiến các quốc gia trong khu vực củng cố khả năng quân sự ở các tiền đồn của họ tại biển Ðông, khiến nguy cơ do tính toán sai lầm, khủng hoảng và chạy đua vũ trang gia tăng.
Theo ghi nhận của Hoa Kỳ, riêng tại quần đảo Trường Sa, số tiền đồn của Việt Nam là 48, của Philippines là 8, của Trung Quốc là 8, của Mã Lai là 5 và của Ðài Loan là 1.
Ông Daniel Russel, trợ lý đặc trách khu vực Ðông Á và Thái Bình Dương của ngoại trưởng Hoa Kỳ, nhấn mạnh, Hoa Kỳ có những lợi ích cần phải bảo vệ và vì vậy cần phải có những giải pháp nhằm bảo đảm rằng, các tranh chấp về chủ quyền tại biển Ðông phải được giải quyết bằng những biện pháp ôn hòa.
Ông Russel nhận định, mức độ căng thẳng tại biển Ðông đang gia tăng. Những hành động gây bất ổn như bồi đắp các bãi đá có thể gây nguy hiểm cho nỗ lực phát triển ổn định và cần phải được giải quyết. Hoa Kỳ cần bảo vệ quyền giải quyết tranh chấp theo luật pháp. Việc thiếp lập quan hệ đối tác với các quốc gia Ðông Nam Á và phối hợp với các đồng minh như Nhật, Úc là cần thiết để tối ưu hóa sự trợ giúp và hoạt động ngoại giao.
Ngay sau đó, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam lên tiếng, “Hoan nghênh nỗ lực của cộng đồng quốc tế, trong đó có Hoa Kỳ nhằm duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở biển Ðông, đặc biệt là ủng hộ vai trò của ASEAN, tuân thủ DOC (Tuyên bố Ứng xử của các bên ở biển Ðông) và những nỗ lực nhằm sớm đạt được COC (Bộ Quy tắc ứng xử trên biển Ðông).
Ngoài Việt Nam, Philippines cũng đã lên tiếng ủng hộ những dự định và nhận định của Hoa Kỳ. Ông Albert Del Rosario, Ngoại trưởng Philippines, cho biết, quốc gia này mong được Hoa Kỳ trợ giúp nhiều hơn để ngăn chặn việc Trung Quốc thay đổi nguyên trạng biển Ðông, nhằm kiểm soát biển Ðông. Khi phát biểu tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế ở Washington D.C, ông Rosario cho rằng, cần phải nhanh chóng làm điều gì đó, nếu không, việc Trung Quốc kiểm soát được biển Ðông sẽ dẫn đến tình trạng quân sự hóa, đe dọa tự do hàng hải.
Ông Rosario khẳng định, Hoa Kỳ nên hành động nhiều hơn để tăng cường sự hiện diện tại châu Á, kể cả đẩy mạnh quan hệ kinh tế. Theo ngoại trưởng Philippines, việc chuyển trọng tâm chiến lược sang châu Á của Hoa Kỳ “chưa tập trung và chưa đủ mạnh mẽ.”
Theo dự tính, cuối tuần này, ông John Kerry, ngoại trưởng Hoa Kỳ sẽ đến thăm Trung Quốc. Giới thạo tin nhận định, trong chuyến thăm đó, ông Kerry sẽ chuyển cho Trung Quốc những thông điệp nhằm nhấn mạnh rằng, Hoa Kỳ quyết tâm bảo vệ tự do giao thông trên biển và trên không tại biển Ðông. Các nỗ lực thay đổi nguyên trạng biển Ðông của Trung Quốc sẽ không thể đạt đến tác dụng mà Trung Quốc mong muốn là dựa vào đó để hỗ trợ yêu sách đòi chủ quyền cả trên biển lẫn trên không ở khu vực biển Ðông. Ðồng thời những hoạt động xây dựng của Trung Quốc tại biển Ðông chỉ gây bất ổn trong khu vực và gây phương hại cho quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho biết họ tin rằng, sau khi gặp ông Kerry, Trung Quốc sẽ “không còn mơ hồ về quyết tâm của Hoa Kỳ.” Người ta dự đoán chuyến thăm Trung Quốc của ông Kerry nhằm bàn thảo về việc “hợp tác chiến lược” sẽ trở thành dịp “phơi bày mâu thuẫn.”
Theo ông Alexander Sullivan, làm việc tại Trung Tâm Nghiên Cứu vì An Ninh Mới (CNAS), nếu Trung Quốc kiểm soát được biển Ðông thì chính sách khu vực của Hoa Kỳ phá sản và khó có thể huy động lực lượng cấp cứu Ðài Loan, Philippines nếu hai đồng minh này bị Trung Quốc sách nhiễu.
Ông Ian Storey, nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Châu Á ở Singapore, tin rằng, những hành động của Trung Quốc tại biển Ðông đã làm Hoa Kỳ tỉnh ngộ về tham vọng của Trung Quốc. Vấn đề là Hoa Kỳ sẽ phải đối phó như thế nào sau khi những lời kêu gọi và các khuyến cáo không làm Trung Quốc bận tâm. (G.Ð)
Tàu Mỹ tuần tra không phải 'ăn miếng trả miếng' TQ
- Phóng viên VietNamNet trò chuyện với cố vấn chính sách về đại dương, Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Jonathan Odom.
Bộ Ngoại giao nói về CNN ghi video TQ cải tạo đảo
Không đề cập về hoạt động của một tàu chiến cụ thể khi được đề nghị nêu mục đích tuần tra trên Biển Đông của tàu chiến Mỹ USS Fort Worth gần đây, ông Jonathan Odom nhấn mạnh rằng Mỹ luôn duy trì sự hiện diện liên tục tại Biển Đông, thường xuyên có các tàu đến "thực thi nhiệm vụ tại các khu vực phù hợp với luật pháp quốc tế".
Biển Đông, Mỹ, TQ, cải tạo đảo, tự do hàng hải, quân đội, quốc phòng, công ước luật biển
"Chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì sự hiện diện đó, có những lúc tăng lên do những nguyên nhân chúng tôi cho là cần thiết. Cũng có những lúc giảm đi nếu có yêu cầu tăng lên ở những khu vực khác. Nhưng việc tàu Mỹ hoạt động tại Biển Đông không có gì mới, các hoạt động này đã diễn ra nhiều thập kỷ nay" - ông Jonathan Odom khẳng định.
Cố vấn chính sách Bộ Quốc phòng Mỹ lý giải thêm "tiếp cận và hiện diện có quan hệ mật thiết. Duy trì việc tiếp cận là để duy trì sự hiện diện. Duy trì sự hiện diện, chúng tôi cũng duy trì khả năng tiếp cận khu vực này. Và cũng là để đảm bảo với các đồng minh và đối tác trong khu vực này về sự cam kết của Mỹ đối với an ninh của khu vực".
Bảo vệ lợi ích tự do hàng hải
Tàu USS Fort Worth đã đến gần các đảo mà TQ đang cải tạo đến mức nào, và tại sao?
Tôi sẽ không nói về hoạt động của một tàu cụ thể, mà khẳng định các hoạt động của tàu đều tuân thủ luật pháp quốc tế. Các đảo này là nhân tạo, theo UNCLOS là không thể có vùng lãnh hải 12 hải lý, nên tàu Mỹ có thể thực hiện các hoạt động cần thiết tại vùng biển này. Hơn nữa, đây là vùng biển quốc tế mà các tàu đều có quyền đi qua.
Mỹ có thấy cần tăng cường hoạt động này để bắt kịp với tốc độ cải tạo đảo của TQ tại Biển Đông?
Đây không phải là chuyện "ăn miếng trả miếng", mà là Mỹ làm rõ lợi ích của mình ở khu vực này, trong đó có việc đảm bảo tự do hàng hải. Do đó, nếu có một quốc gia gây cản trở tự do hàng hải bằng những hoạt động không phù hợp với Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982, chúng tôi phải tiến hành những biện pháp cần thiết để bảo vệ lợi ích về tự do hàng hải của mình.
Các hoạt động này của Mỹ trên Biển Đông có phải là để kiểm tra và tính toán năng lực của hải quân TQ?
Chính phủ Mỹ không có trách nhiệm kiểm tra TQ. Chúng tôi hoan nghênh sự trỗi dậy hòa bình của TQ, và hiểu rằng khi một quốc gia phát triển về kinh tế sẽ có nhu cầu đầu tư mạnh hơn vào quốc phòng. Không ai thách thức năng lực của TQ trong việc tăng cường quy mô hay chuyên nghiệp hóa quân đội.
Thậm chí chúng tôi hoan nghênh quân đội TQ càng trở nên chuyên nghiệp càng tốt. Nhưng dù thế nào, chúng tôi vẫn khuyến khích các quốc gia hành động đúng với luật pháp và thông lệ quốc tế.
Không "đánh lẻ" quốc gia nào
Có ý kiến cho rằng việc Mỹ tăng cường các hoạt động bảo vệ lợi ích tự do hàng hải của mình ở Biển Đông có thể khiến TQ khó chịu?
Trước hết, mục tiêu bảo vệ lợi ích tự do hàng hải của Mỹ được thực hiện trên toàn cầu, chúng tôi phản ứng trước các tuyên bố chủ quyền trên biển của nhiều quốc gia nếu thấy không phù hợp với UNCLOS, không chỉ ở riêng châu Á - Thái Bình Dương.
Một nguyên tắc nữa là, Mỹ phản ứng trước các tuyên bố chủ quyền quá mức của bất cứ quốc gia nào, đồng minh, đối tác, đối thủ cạnh tranh hay kẻ thù tiềm năng. Chúng tôi không "đánh lẻ" quốc gia nào.
Mỹ muốn nhấn mạnh việc tuân thủ luật pháp quốc tế trên biển. Có những tuyên bố chủ quyền trên biển đã được các quốc gia đưa ra trước khi có UNCLOS 1982. Mỹ sẽ hỗ trợ các quốc gia này trong việc hoàn thiện pháp luật quốc gia của họ sao cho phù hợp với các quy định của UNCLOS, và nhiều quốc gia đã làm như vậy.
Nhưng khi có một quốc gia không xem xét điều chỉnh các tuyên bố chủ quyền trên biển của mình cho phù hợp với UNCLOS, chúng tôi trước hết sẽ phản ứng bằng các biện pháp ngoại giao. Sau đó là tiến hành các biện pháp đảm bảo tự do hàng hải trong các vùng biển phù hợp với quy định của UNCLOS.
Các biện pháp này đều được công khai, hàng năm trên trang web của Bộ Quốc phòng Mỹ đều công bố danh sách các quốc gia ven biển có những tuyên bố chủ quyền trên biển mà Mỹ đã phản ứng, cùng với các biện pháp mà chúng tôi đã sử dụng để thể hiện phản ứng của mình.
Ngoài UNCLOS, Mỹ cũng khuyến khích các quốc gia ven biển thể hiện các tuyên bố chủ quyền của mình phù hợp với các khuôn khổ luật pháp quốc tế khác, trong đó có Hiến chương LHQ, theo đó các quốc gia cần tìm cách giải quyết các tranh chấp chủ quyền thông qua các biện pháp hòa bình, thông qua đàm phán hoặc cơ quan trọng tài, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.
Theo ông, đâu là mối đe dọa lớn nhất đối với tình hình tại Biển Đông hiện nay?
Tôi sẽ không xếp hạng nhất nhì, nhưng muốn nhấn mạnh rằng tình hình sẽ trở nên nghiêm trọng khi một hoặc nhiều quốc gia có sự hiểu nhầm, tính toán sai khiến một tình huống căng thẳng vượt tầm kiểm soát dẫn đến việc sử dụng vũ lực.
Các nước đều có lý do để đưa ra các tuyên bố chủ quyền của mình, và hẳn đều không muốn xung đột, nhưng trên thực địa, khó mà dự đoán các tình huống va chạm giữa các tàu. Vì thế, chúng tôi muốn các quốc gia cố gắng hết sức tránh những hiểu nhầm và tính toán sai, đồng thời tăng cường các thể chế để củng cố lòng tin trong khu vực.
Chung Hoàng (từ Washington DC)
- Phóng viên VietNamNet trò chuyện với cố vấn chính sách về đại dương, Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Jonathan Odom.
Bộ Ngoại giao nói về CNN ghi video TQ cải tạo đảo
Không đề cập về hoạt động của một tàu chiến cụ thể khi được đề nghị nêu mục đích tuần tra trên Biển Đông của tàu chiến Mỹ USS Fort Worth gần đây, ông Jonathan Odom nhấn mạnh rằng Mỹ luôn duy trì sự hiện diện liên tục tại Biển Đông, thường xuyên có các tàu đến "thực thi nhiệm vụ tại các khu vực phù hợp với luật pháp quốc tế".
Biển Đông, Mỹ, TQ, cải tạo đảo, tự do hàng hải, quân đội, quốc phòng, công ước luật biển
"Chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì sự hiện diện đó, có những lúc tăng lên do những nguyên nhân chúng tôi cho là cần thiết. Cũng có những lúc giảm đi nếu có yêu cầu tăng lên ở những khu vực khác. Nhưng việc tàu Mỹ hoạt động tại Biển Đông không có gì mới, các hoạt động này đã diễn ra nhiều thập kỷ nay" - ông Jonathan Odom khẳng định.Cố vấn chính sách Bộ Quốc phòng Mỹ lý giải thêm "tiếp cận và hiện diện có quan hệ mật thiết. Duy trì việc tiếp cận là để duy trì sự hiện diện. Duy trì sự hiện diện, chúng tôi cũng duy trì khả năng tiếp cận khu vực này. Và cũng là để đảm bảo với các đồng minh và đối tác trong khu vực này về sự cam kết của Mỹ đối với an ninh của khu vực".
Bảo vệ lợi ích tự do hàng hải
Tàu USS Fort Worth đã đến gần các đảo mà TQ đang cải tạo đến mức nào, và tại sao?
Tôi sẽ không nói về hoạt động của một tàu cụ thể, mà khẳng định các hoạt động của tàu đều tuân thủ luật pháp quốc tế. Các đảo này là nhân tạo, theo UNCLOS là không thể có vùng lãnh hải 12 hải lý, nên tàu Mỹ có thể thực hiện các hoạt động cần thiết tại vùng biển này. Hơn nữa, đây là vùng biển quốc tế mà các tàu đều có quyền đi qua.
Mỹ có thấy cần tăng cường hoạt động này để bắt kịp với tốc độ cải tạo đảo của TQ tại Biển Đông?
Đây không phải là chuyện "ăn miếng trả miếng", mà là Mỹ làm rõ lợi ích của mình ở khu vực này, trong đó có việc đảm bảo tự do hàng hải. Do đó, nếu có một quốc gia gây cản trở tự do hàng hải bằng những hoạt động không phù hợp với Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982, chúng tôi phải tiến hành những biện pháp cần thiết để bảo vệ lợi ích về tự do hàng hải của mình.
Các hoạt động này của Mỹ trên Biển Đông có phải là để kiểm tra và tính toán năng lực của hải quân TQ?
Chính phủ Mỹ không có trách nhiệm kiểm tra TQ. Chúng tôi hoan nghênh sự trỗi dậy hòa bình của TQ, và hiểu rằng khi một quốc gia phát triển về kinh tế sẽ có nhu cầu đầu tư mạnh hơn vào quốc phòng. Không ai thách thức năng lực của TQ trong việc tăng cường quy mô hay chuyên nghiệp hóa quân đội.
Thậm chí chúng tôi hoan nghênh quân đội TQ càng trở nên chuyên nghiệp càng tốt. Nhưng dù thế nào, chúng tôi vẫn khuyến khích các quốc gia hành động đúng với luật pháp và thông lệ quốc tế.
Không "đánh lẻ" quốc gia nào
Có ý kiến cho rằng việc Mỹ tăng cường các hoạt động bảo vệ lợi ích tự do hàng hải của mình ở Biển Đông có thể khiến TQ khó chịu?
Trước hết, mục tiêu bảo vệ lợi ích tự do hàng hải của Mỹ được thực hiện trên toàn cầu, chúng tôi phản ứng trước các tuyên bố chủ quyền trên biển của nhiều quốc gia nếu thấy không phù hợp với UNCLOS, không chỉ ở riêng châu Á - Thái Bình Dương.
Một nguyên tắc nữa là, Mỹ phản ứng trước các tuyên bố chủ quyền quá mức của bất cứ quốc gia nào, đồng minh, đối tác, đối thủ cạnh tranh hay kẻ thù tiềm năng. Chúng tôi không "đánh lẻ" quốc gia nào.
Mỹ muốn nhấn mạnh việc tuân thủ luật pháp quốc tế trên biển. Có những tuyên bố chủ quyền trên biển đã được các quốc gia đưa ra trước khi có UNCLOS 1982. Mỹ sẽ hỗ trợ các quốc gia này trong việc hoàn thiện pháp luật quốc gia của họ sao cho phù hợp với các quy định của UNCLOS, và nhiều quốc gia đã làm như vậy.
Nhưng khi có một quốc gia không xem xét điều chỉnh các tuyên bố chủ quyền trên biển của mình cho phù hợp với UNCLOS, chúng tôi trước hết sẽ phản ứng bằng các biện pháp ngoại giao. Sau đó là tiến hành các biện pháp đảm bảo tự do hàng hải trong các vùng biển phù hợp với quy định của UNCLOS.
Các biện pháp này đều được công khai, hàng năm trên trang web của Bộ Quốc phòng Mỹ đều công bố danh sách các quốc gia ven biển có những tuyên bố chủ quyền trên biển mà Mỹ đã phản ứng, cùng với các biện pháp mà chúng tôi đã sử dụng để thể hiện phản ứng của mình.
Ngoài UNCLOS, Mỹ cũng khuyến khích các quốc gia ven biển thể hiện các tuyên bố chủ quyền của mình phù hợp với các khuôn khổ luật pháp quốc tế khác, trong đó có Hiến chương LHQ, theo đó các quốc gia cần tìm cách giải quyết các tranh chấp chủ quyền thông qua các biện pháp hòa bình, thông qua đàm phán hoặc cơ quan trọng tài, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.
Theo ông, đâu là mối đe dọa lớn nhất đối với tình hình tại Biển Đông hiện nay?
Tôi sẽ không xếp hạng nhất nhì, nhưng muốn nhấn mạnh rằng tình hình sẽ trở nên nghiêm trọng khi một hoặc nhiều quốc gia có sự hiểu nhầm, tính toán sai khiến một tình huống căng thẳng vượt tầm kiểm soát dẫn đến việc sử dụng vũ lực.
Các nước đều có lý do để đưa ra các tuyên bố chủ quyền của mình, và hẳn đều không muốn xung đột, nhưng trên thực địa, khó mà dự đoán các tình huống va chạm giữa các tàu. Vì thế, chúng tôi muốn các quốc gia cố gắng hết sức tránh những hiểu nhầm và tính toán sai, đồng thời tăng cường các thể chế để củng cố lòng tin trong khu vực.
Chung Hoàng (từ Washington DC)

Phó Tổng thống Mỹ cáo buộc Trung Quốc đang thách thức thế giới
Phó Tổng thống Joe Biden trong bài nói chuyện với sinh viên tốt nghiệp Học viện Hải quân Mỹ đã mô tả điều này.
Theo đó hãng theo Reuters dẫn lời ông Biden cho biết: “Mỹ không đứng về bất kỳ nước nào, nhưng chúng ta ủng hộ giải pháp giải quyết tranh chấp một cách công bằng, hòa bình, vì tự do hàng hải. Các nguyên tắc này đang bị các hoạt động của TQ ở Biển Đông thách thức".
Phó Tổng thống Mỹ cáo buộc Trung Quốc đang thách thức thế giới
Máy bay không người lái Global Hawk của Mỹ được điều động đến Biển Đông
Buổi nói chuyện thu hút 1.070 sinh viên, Phó Tổng thống Mỹ mô tả biển tiếp tục là một đấu trường của những xung đột tiềm năng và quan trọng hơn bao giờ hết với an ninh quốc gia.
“Căng thẳng đang lên cao", ông Biden nhấn mạnh. "Nhưng các bạn sẽ ở đó để gìn giữ hòa bình".
Ông nói, rất nhiều sĩ quan hải quân mới sẽ được điều động tới khu vực châu Á - Thái Bình Dương để góp phần quản lý những thách thức đang trỗi dậy trước khi chúng phát sinh thành xung đột.
Mỹ đã quyết liệt phản đối việc Trung Quốc thiết lập ADIZ ở Hoa Đông, tuy nhiên ông McCain cho rằng chính quyền của ông Obama phải làm nhiều hơn nữa để răn đe Trung Quốc trong việc thiết lập vùng nhận diện phòng không thứ hai.
Trước đó, hôm 21/5, lên tiếng về việc Hải quân TQ nhiều lần cảnh báo máy bay giám sát của Mỹ khi hoạt động ở gần khu vực các bãi ngầm mà TQ đang cải tạo trái phép ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam, người phát ngôn Lầu Năm Góc Steven Warren khẳng định, Mỹ không công nhận yêu sách chủ quyền của TQ xung quanh các kết cấu nhân tạo và "chúng tôi sẽ tiếp tục các sứ mệnh tuần tra thông thường của mình"
Cũng liên quan đến hành động của Trung Quốc trên Biển Đông, nhiều nhà lập pháp của Mỹ đề nghị chính quyền Tổng thống Barack Obama có các biện pháp trừng phạt để ngăn chặn Bắc Kinh.
Thượng nghị sỹ John McCain, Chủ tịch Ủy ban Quân lực Thượng viện, đã nhiều lần lên tiếng đề nghị chính quyền của Tổng thống Obama hủy lời mời Trung Quốc tham gia cuộc tập trận hải quân lớn nhất thế giới của Mỹ (RIMPAC-2016) ở vùng biển Thái Bình Dương ngoài khơi Honolulu vào mùa Hè năm 2016.
Các chính khách Mỹ lo ngại rằng với cách làm như hiện nay, trong đó có việc ráo riết bồi lấp các đảo nhỏ, xây dựng các tháp phòng không, thậm chí cả đường băng ở Biển Đông, Trung Quốc sẽ chiếm cứ được vùng biển chiến lược này mà không cần phải phát động một cuộc chiến tranh
Nguồn: Đất Việt
THÔNG TIN TỪ THÙY TRANG
VIỆT NAM CÓ THỂ SẮP MẤT NƯỚC TÔI RẤT BUỒN KHI ĐƯA TIN NẦY:
VIỆT NAM SẮP MẤT NƯỚC, TIN HAY KHÔNG THÌ TÙY BẠN!
Trung Quốc sẽ CHIẾM trọn VIỆT NAM theo kịch bản đã Cam Kết của Hội Nghị Thành Đô 1990, và nước VN sẽ mãi mãi là một KHU VỰC TỰ TRỊ giống như Tây Tạng hiện nay.
Tướng Phùng Quang Thanh và Bí Thư Đảng CSVN sẽ kêu gọi Quân Đội "ĐẦU HÀNG ĐỂ TRÁNH ĐỔ MÁU".
Thùy Trang đã cho ít nhất gần 10 người trên FB, những bạn bè thân quen để xem Video Clip (FULL) về Hệ Thống Đường Hầm của Trung Quốc Tại Hà Tĩnh.
Sau khi liên lạc với các sĩ quan QĐND YÊU NƯỚC (Giấu Tên), những người đã cung cấp cho Thùy Trang Video clip, cho biết là Hệ Thống Đường Hầm và Vũ Trang của Trung Quốc đã được Tình Báo Hoa Nam nằm trong Quân Đội CSVN giúp chuyển vào.
Kịch bản sẽ là:
(1) Trung Quốc sẽ GÂY HẤN ngoài Biển Đông và QĐND sẽ đánh trả, sau đó TQ lấy cớ dàn trận qui mô để chiếm VN.
(2) Khi Trung Quốc đánh vào Việt Nam với quân số và vũ khí có sẵn trên đất liền, toán quân gần 50.000 nhân công giả dạng sẽ nhanh chóng cô lập và cắt đứt từng Quân Khu một. Vào lúc đó Tướng Phùng Quang Thanh và Bí Thư Đảng CSVN sẽ kêu gọi Quân Đội "ĐẦU HÀNG ĐỂ TRÁNH ĐỔ MÁU".
(3) Trung Quốc sẽ CHIẾM trọn VIỆT NAM theo kịch bản đã Cam Kết của Hội Nghị Thành Đô 1990, và nước VN sẽ mãi mãi là một KHU VỰC TỰ TRỊ giống như Tây Tạng hiện nay.
(4) Đây là Lý do vì sao Hà Nội và Huế muốn nhanh chóng chặt bỏ Cây Xanh để mở đường cho Máy May Tiêm Kích và Vệ Tinh Trung Quốc hoạt động hữu hiệu hơn với các mục tiêu dưới đất. Các bạn phải hiểu rằng lúc xảy ra chiến tranh thì sẽ có nhiều đội quân thuộc QĐND KHÔNG buông súng ĐẦU HÀNG dễ dàng.
Đây là những gì Thùy Trang NGHE và biết ĐƯỢC, còn tin hay không thì TÙY BẠN. Nhiệm vụ của mình là nói hết những gì mình biết được, không thêm, không bớt.
(*) Vì lý do An Toàn của Thùy Trang và người đưa Clip, mình sẽ KHÔNG đưa Full Clip cho người "LẠ" (Đừng mất công hỏi). Xin đừng gửi link cho Thùy Trang vì mình sẽ block bạn để tránh click nhầm.
Thân Ái
Nguyễn Thùy Trang
'Trung Quốc vượt ngoài khuôn khổ luật pháp'
Hồng Nga
tường thuật từ Đối thoại Shangri-La, Singapore
30 tháng 5 2015

Ông Ash Carter có bài phát biểu mở đầu diễn đàn an ninh Diễn đàn An ninh khu vực Đối thoại Shangri-La lần thứ 14 vừa chính thức bắt đầu tại Singapore.
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ash Carter có bài phát biểu quan trọng, trong đó ông khẳng định Hoa Kỳ và các nước trong khu vực hết sức quan ngại về kế hoạch xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Biển Đông.
Ông kêu gọi các quốc gia cùng nỗ lực bảo đảm hoà bình và tự do hàng hải trong khu vực.
Đặc biệt Bộ trưởng Carter cho hay sau Đối thoại Shangri-La ông sẽ đi Việt Nam, nơi ông cùng Bộ trưởng Phùng Quang Thanh sẽ ký một thoả thuận đầu tiên về thúc đẩy hợp tác quốc phòng một cách thực chất.
Thỏa thuận có tên “Thông cáo chung về viễn cảnh” hợp tác quốc phòng sẽ tạo tiền đề cho các hoạt động hợp tác trong tương lai gần.
Pháo trên Đá Gạc Ma?
Lần đầu tiên người đứng đầu Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ chỉ trích Trung Quốc rất nặng nề, rằng nước này đã vượt quá khuôn khổ luật lệ quốc tế.
Ông gọi các hoạt động cải tạo đảo của Bắc Kinh là “chưa từng có tiền lệ”.
Ông nói trước cử tọa của diễn đàn an ninh lớn thuộc loại hàng đầu thế giới: “Với hành động của mình ở Biển Đông, Trung Quốc đã vượt khỏi khuôn khổ luật lệ quốc tế vốn làm nền cho kiến trúc an ninh châu Á-Thái Bình Dương, cũng như quan điểm đồng thuận trong khu vực là nghiêng về ngoại giao mà chống ép buộc bằng sức mạnh”.
Tờ Wall Street Journal hôm 29/5 cho hay máy bay do thám của quân đội Hoa Kỳ phát hiện ra Trung Quốc đã đặt pháo trên một hòn đảo tranh chấp ở Biển Đông mà nước này đang tiến hành cơi nới cải tạo.
Nguồn tin của BBC nói rằng đây chính là đảo Gạc Ma, mà Trung Quốc chiếm của Việt Nam từ năm 1988 sau trận hải chiến đẫm máu làm hơn 60 thủy thủ Việt Nam thiệt mạng.
Đảo này nằm ngay cạnh các đảo mà Việt Nam hiện đang kiểm soát, có nghĩa là đảo của Việt Nam nằm trong tầm đạn pháo của Trung Quốc.
Tuy khả năng tấn công bằng hỏa lực theo các đánh giá là chưa lớn, việc mang pháo binh đặt tại đây mang ý nghĩa quan trọng và chắc chắn sẽ gây quan ngại cho giới chức Hà Nội.
Bộ trưởng Ash Carter cho hay Hạ viện Hoa Kỳ đã chuẩn thuận cấp tới 425 triệu đôla (trong 5 năm) cho Sáng kiến an ninh hàng hải mà nước này vừa đưa ra nhằm giúp các quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam, nâng cao năng lực tự vệ trên biển.
Ông cũng nhận định “không thể có giải pháp quân sự cho Biển Đông” và kêu gọi các nước đoàn kết để giải quyết căng thẳng một cách hòa bình.
Bộ trưởng Carter tái khẳng định Hoa Kỳ sẽ tiếp tục “bay, đi biển và hoạt động” ở Biển Đông.
Nới lỏng cấm vận vũ khí
Quan điểm này của ông Ash Carter được Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện Hoa Kỳ, Thượng Nghị sỹ John McCain, đồng thuận.Ông McCain nói tuy đối đầu bao giờ cũng là một khả năng, Trung Quốc “không có lợi ích gì trong việc đối đầu bằng quân sự”.
Ông nói lịch sử cho thấy Trung Quốc luôn kiếm lợi trong các hoàn cảnh căng thẳng nhưng lại khôn khéo tránh đối đầu.
“Có thể sẽ có những tình huống căng thẳng, nhưng nếu các nước trong khu vực đoàn kết với nhau, điều đó sẽ khiến Trung Quốc chùn bước.”
Tình hình cấp bách trên khiến Hoa Kỳ sẽ cần “nới lỏng cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam sớm nhất có thể được”, theo ông thượng nghị sỹ.
Thượng nghị sỹ John McCain nói với các nhà báo tại Đối thoại Shangri-La đang diễn ra ở Singapore rằng đề xuất về nới lỏng cấm vận sẽ được mang ra Thượng viện vào tuần tới và một số loại vũ khí phải được bỏ cấm vận 'càng sớm càng tốt'.
Tuy nhiên, ông McCain cho biết Hoa Kỳ sẽ không bỏ cấm vận đối với các loại vũ khí có thể gây hại cho các cá nhân và bị sử dụng để lạm dụng nhân quyền ở Việt Nam.
“Các vũ khí có thể được cung cấp sẽ chủ yếu mang tính phòng vệ, nâng cao năng lực bảo vệ biển cho Việt Nam trước các thách thức của Trung Quốc.”
Diễn đàn Đối thoại Shangri-La sẽ tiếp tục hai ngày và kết thúc vào Chủ nhật 31/5 với sự tham gia của hơn 450 đại biểu.
Đoàn Việt Nam do Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc phòng, dẫn đầu.
Tại sao Trung Cộng dại dột?
Ngô Nhân Dụng
Vụ phi cơ thám thính P8-A Poseidon của Mỹ bay qua các hòn đảo Trường Sa mà Trung Cộng đang chiếm của nước ta khiến nhiều người đặt câu hỏi: Khi lập các “đảo nhân tạo” để xây dựng căn cứ quân sự, hải đăng, và phi trường, Cộng Sản Trung Quốc khôn hay dại?
Từ năm 2002 Trung Cộng đã thỏa thuận với các nước Ðông Nam Á là không thay đổi “nguyên trạng” trên các hòn đảo tranh chấp. Ðắp các đảo nhân tạo không những làm trái thỏa thuận này mà còn vi phạm luật pháp quốc tế. Trung Cộng được lợi gì khi thay đổi nguyên trạng?
Về mặt quân sự, mấy phi trường và căn cứ mới chỉ có chút giá trị nếu Trung Cộng đánh nhau với Việt Nam. Nhưng tất cả đều là những căn cứ cố định, phơi bày giữa biển chứ không giống những đoàn quân chui rúc trong rừng; cho nên có thể bị hỏa tiễn Mỹ xóa tan ngay trong một cuộc đụng độ giữa Trung Cộng với Philippines hay Nhật Bản, là những nước được hiệp ước an ninh với Mỹ bảo vệ.
Về mặt kinh tế, Trung Cộng không cần phải có các căn cứ quân sự mới làm gì. Ðường tiếp tế dầu khí và nguyên liệu cho kinh tế Trung Quốc chưa bao giờ bị de dọa bằng vũ lực; mà nếu bị đe dọa thì các căn cứ mới cũng không không ngăn cản được ai. Từ mấy chục năm nay Trung Cộng vẫn muốn chiếm các mỏ dầu khí trong vùng; các nước khác vẫn phản đối; tình trạng giằng co này sẽ còn kéo dài trong mấy chục năm nữa. Thế cân bằng quân sự của Trung Cộng không mạnh hơn nhờ mấy phi trường mới vội vàng xây lên và sức mạnh pháp lý cũng vậy. Phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng Trung Cộng, Dương Vũ Quân, mới nói rằng họ lập các căn cứ mới trên đảo để giúp cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ môi trường và cứu nạn trên biển. Không ai tin rằng họ chỉ nghĩ đến việc phước thiện như vậy.
Cho nên, Trung Cộng không được lợi gì khi hấp tấp xây dựng các căn cứ mới trên các hải đảo của nước ta, như đảo Gạc Ma, đảo Chữ Thập. Ngược lại, họ tự gây ra nhiều điều bất lợi.
Tạo cơ hội cho phi cơ thám thính Mỹ biểu diễn bay qua các phi trường mới xây là một bất lợi. Khi Trung Cộng bắn các tàu đánh cá người Việt Nam, hay khi đem giàn khoan tới cắm trong hải phận nước ta, chính quyền Mỹ không làm gì để phản đối cả. Ðáng lẽ Bắc Kinh nên tiếp tục khuyến khích chính quyền Mỹ cứ đứng xa mà nhìn như vậy. Một tay cường hào đang lén lút chiếm đất của hàng xóm thì tốt nhất không nên để cho cả làng, cả nước chú ý đến việc mình làm. Gây sự khiến có người lên tiếng cảnh cáo, là dại. Trâng tráo nói các hòn đảo mới chiếm là của mình, rồi bị bác bỏ, càng dại nữa. Người nào đã nói lời bác bỏ đó, họ sẽ không thể ngoảnh mặt làm ngơ nếu tên cường hào ăn hiếp lối xóm hung bạo hơn. Tờ Hoàn Cầu Thời Báo dẫn lời Bành Quang Khiêm, giáo sư Học Viện Quân Sự, đả kích Mỹ “từ ngàn dặm bay tới trước cổng nhà, khiến Trung Quốc bắt buộc phải tự vệ!” Nhưng cả thế giới không ai tin luận điệu vừa ăn cướp vừa la làng đó.
Mối bất lợi thứ hai là Trung Cộng đã khiến các nước trong vùng bị đặt trong tình trạng báo động. Họ phải liên kết với nhau chặt chẽ hơn. Philippines, Việt Nam, Nhật Bản và Australia. Càng có nhu cầu được cái dù quân sự Mỹ che chở. Sau khi Trung Cộng xây các căn cứ mới, những cuộc tập trận chung được tổ chức nhiều hơn, nhiều mặt hoạt động rộng hơn, so với trước năm 2014. Mỹ chính thức mời Nhật cùng bảo vệ vùng biển Ðông Nam Á. Phi cơ P-3C của không lực Nhật Bản đã bay tới Ðà Nẵng lần thứ hai, sau khi Trung Cộng xây các căn cứ mới.
Tóm lại, trong việc Trung Cộng xây thêm căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo, lợi bất cập hại. Có phải giới lãnh đạo Bắc Kinh đã hành động dại dột hay không?
Phải giả thiết rằng họ không dại dột. Họ đầy đủ thông tin và đủ trí thông minh, nếu không hơn thì cũng không kém gì chúng ta. Họ phải biết những hành động gây sự mới này chẳng được lợi bao nhiêu trong khi gây nhiều hậu quả bất lợi.
Cho nên chỉ có thể giải thích những hành động “dại dột” của Trung Cộng nếu công nhận họ có những mục tiêu đặc biệt mà người ngoài không thấy.
Việc xây dựng các căn cứ quân vừa qua của Trung Cộng có thể nhắm một mục tiêu nhỏ hơn các suy nghĩ của mọi người. Họ chỉ nhắm vào một nước Việt Nam. Họ chấp nhận những phản ứng bất lợi từ nước Mỹ và Philippines, Nhật Bản, trong một thời gian ngắn. Sau khi mục tiêu nhắm riêng vào Việt Nam đã đạt được, Bắc Kinh vẫn có thể sẽ tỏ thái độ hòa hoãn, gây thiện cảm với các nước này bằng cách khác, để xóa bỏ những phản ứng xấu họ mới gây ra. Bắc Kinh chỉ cần ngưng các lời lẽ hiếu chiến đối với Tokyo và Manilla trong nửa năm thì cả chính quyền Mỹ cũng được thoa dịu, coi như Trung Cộng đã lùi bước.
Nhưng riêng với Việt Nam thì khác. Trung Cộng đã củng cố những hòn đảo chiếm được của nước ta ở Hoàng Sa và Trường Sa. Họ muốn tình trạng đó càng ngày càng được phơi bày trước thế giới một cách rõ ràng, cụ thể, hiển nhiên hơn. Họ muốn đặt dân tộc Việt Nam trước một “sự đã rồi” rõ ràng, chặt chẽ, hơn, khó tháo gỡ hơn. Trung Cộng sẽ phân trần với cả thế giới rằng họ không có ý khiêu khích Mỹ hay Nhật, không muốn “thay đổi nguyên trạng” trong cả vùng Ðông Nam Á,” liên can đến các nước khác. Họ sẽ chứng tỏ với mọi người rằng họ chỉ muốn “củng cố nguyên trạng” tại các hòn đảo đã cướp được của Việt Nam, trong viễn tượng một tương lai lâu dài và không thể đảo ngược lại.
Ðể biện minh cho hành động này, Trung Cộng chỉ cần trưng ra một lần nữa những thứ như bức công hàm của Phạm Văn Ðồng năm 1958, các sách giáo khoa và bản đồ do Cộng Sản Việt Nam ấn hành từng công nhận các quần đảo trên thuộc chủ quyền của Bắc Kinh. Khi Ðảng Cộng Sản Việt Nam không dám có một hành động nào mạnh hơn những lời phản đối chiếu lệ như trước đây, thì tình trạng “ván đã đóng thuyền” càng ngày càng khó đảo ngược. Nước Việt Nam sẽ tiếp tục bị cô lập. Các nước khác sẽ không có lý do nào, và cũng chẳng có quyền lợi nào, để phản đối mối quan hệ bang giao giữa Trung Cộng với Việt Nam, trong khi hai Ðảng Cộng Sản vẫn song ca bài Bốn Tốt và 16 Chữ Vàng. Cuối cùng, việc xây dựng các căn cứ và phi trường mới chỉ xác nhận cụ thể hành động bán đứt Hoàng Sa và Trường Sa của Ðảng Cộng Sản Việt Nam mà thôi.
Tiến trình chứng tỏ “ván đã đóng thuyền” này đã được tiến hành từ năm 1974 đến nay. Câu hỏi còn lại là tại sao giới lãnh đạo Bắc Kinh lại thực hiện các công trình mới một cách gấp rút trong thời gian chưa đầy một năm qua? Tại sao họ không tiếp tục đi từng bước nhỏ như trong bốn chục năm vẫn làm, qua những việc thành lập quận Tam Sa; việc đánh, giết các ngư dân người Việt; đưa giàn khoan lớn vào hải phận Việt Nam; hoặc lâu lâu ban hành các lệnh cấm tàu đánh cá Việt Nam hoạt động?
Chỉ có một lý do, là Bắc Kinh lo ngại Việt Nam sẽ thay đổi; và thay đổi nhanh chóng trước khi họ hoàn tất các biện pháp củng cố cần thiết. Xây dựng các căn cứ quân sự mới là một việc cụ thể, cần thiết để xác nhận chủ quyền của Trung Cộng.
Nhưng Trung Cộng có lo ngại chính Việt Cộng sẽ thay đổi hay không? Ðiều này khó xảy ra. Ðạo quân tình báo Trung Cộng vẫn nắm chắc Ðảng Cộng Sản Việt Nam trong tay. Giới lãnh đạo Việt Cộng vẫn tiếp tục để cho Trung Cộng thao túng về kinh tế, chính trị, ngoại giao, không một cá nhân nào trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Cộng đủ sức thay đổi.
Cho nên, mối lo thực của Trung Cộng là cả chế độ Cộng Sản Việt Nam sẽ tan rã và sụp đổ trước khi Trung Cộng củng cố vững chắc việc mua đứt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tình báo của Bắc Kinh cũng biết chế độ Cộng Sản Việt Nam đang mong manh. Bất cứ một chính quyền mới nào ở Việt Nam mà không thuộc Ðảng Cộng Sản cũng có thể thay đổi quan điểm đối ngoại. Ðặc biệt là trong mối bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc, một chính quyền không Cộng Sản có thể xóa bỏ trên danh nghĩa tất cả các cam kết đối với Trung Cộng, trong đó có lá thư của Phạm Văn Ðồng. Khi đó, tất cả công trình của Ðảng Cộng Sản Trung Hoa thực hiện ở Biển Ðông sẽ bị thế giới nhìn bằng con mắt khác.
Tóm lại, Trung Cộng không dại dột. Họ chỉ lo xa, tính kỹ, “tiên hạ thủ vi cường” khi lo dân Việt Nam có thể thay đổi cuộc cờ, không biết lúc nào!
Ngô Nhân Dụng
Vụ phi cơ thám thính P8-A Poseidon của Mỹ bay qua các hòn đảo Trường Sa mà Trung Cộng đang chiếm của nước ta khiến nhiều người đặt câu hỏi: Khi lập các “đảo nhân tạo” để xây dựng căn cứ quân sự, hải đăng, và phi trường, Cộng Sản Trung Quốc khôn hay dại?
Từ năm 2002 Trung Cộng đã thỏa thuận với các nước Ðông Nam Á là không thay đổi “nguyên trạng” trên các hòn đảo tranh chấp. Ðắp các đảo nhân tạo không những làm trái thỏa thuận này mà còn vi phạm luật pháp quốc tế. Trung Cộng được lợi gì khi thay đổi nguyên trạng?
Về mặt quân sự, mấy phi trường và căn cứ mới chỉ có chút giá trị nếu Trung Cộng đánh nhau với Việt Nam. Nhưng tất cả đều là những căn cứ cố định, phơi bày giữa biển chứ không giống những đoàn quân chui rúc trong rừng; cho nên có thể bị hỏa tiễn Mỹ xóa tan ngay trong một cuộc đụng độ giữa Trung Cộng với Philippines hay Nhật Bản, là những nước được hiệp ước an ninh với Mỹ bảo vệ.
Về mặt kinh tế, Trung Cộng không cần phải có các căn cứ quân sự mới làm gì. Ðường tiếp tế dầu khí và nguyên liệu cho kinh tế Trung Quốc chưa bao giờ bị de dọa bằng vũ lực; mà nếu bị đe dọa thì các căn cứ mới cũng không không ngăn cản được ai. Từ mấy chục năm nay Trung Cộng vẫn muốn chiếm các mỏ dầu khí trong vùng; các nước khác vẫn phản đối; tình trạng giằng co này sẽ còn kéo dài trong mấy chục năm nữa. Thế cân bằng quân sự của Trung Cộng không mạnh hơn nhờ mấy phi trường mới vội vàng xây lên và sức mạnh pháp lý cũng vậy. Phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng Trung Cộng, Dương Vũ Quân, mới nói rằng họ lập các căn cứ mới trên đảo để giúp cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ môi trường và cứu nạn trên biển. Không ai tin rằng họ chỉ nghĩ đến việc phước thiện như vậy.
Cho nên, Trung Cộng không được lợi gì khi hấp tấp xây dựng các căn cứ mới trên các hải đảo của nước ta, như đảo Gạc Ma, đảo Chữ Thập. Ngược lại, họ tự gây ra nhiều điều bất lợi.
Tạo cơ hội cho phi cơ thám thính Mỹ biểu diễn bay qua các phi trường mới xây là một bất lợi. Khi Trung Cộng bắn các tàu đánh cá người Việt Nam, hay khi đem giàn khoan tới cắm trong hải phận nước ta, chính quyền Mỹ không làm gì để phản đối cả. Ðáng lẽ Bắc Kinh nên tiếp tục khuyến khích chính quyền Mỹ cứ đứng xa mà nhìn như vậy. Một tay cường hào đang lén lút chiếm đất của hàng xóm thì tốt nhất không nên để cho cả làng, cả nước chú ý đến việc mình làm. Gây sự khiến có người lên tiếng cảnh cáo, là dại. Trâng tráo nói các hòn đảo mới chiếm là của mình, rồi bị bác bỏ, càng dại nữa. Người nào đã nói lời bác bỏ đó, họ sẽ không thể ngoảnh mặt làm ngơ nếu tên cường hào ăn hiếp lối xóm hung bạo hơn. Tờ Hoàn Cầu Thời Báo dẫn lời Bành Quang Khiêm, giáo sư Học Viện Quân Sự, đả kích Mỹ “từ ngàn dặm bay tới trước cổng nhà, khiến Trung Quốc bắt buộc phải tự vệ!” Nhưng cả thế giới không ai tin luận điệu vừa ăn cướp vừa la làng đó.
Mối bất lợi thứ hai là Trung Cộng đã khiến các nước trong vùng bị đặt trong tình trạng báo động. Họ phải liên kết với nhau chặt chẽ hơn. Philippines, Việt Nam, Nhật Bản và Australia. Càng có nhu cầu được cái dù quân sự Mỹ che chở. Sau khi Trung Cộng xây các căn cứ mới, những cuộc tập trận chung được tổ chức nhiều hơn, nhiều mặt hoạt động rộng hơn, so với trước năm 2014. Mỹ chính thức mời Nhật cùng bảo vệ vùng biển Ðông Nam Á. Phi cơ P-3C của không lực Nhật Bản đã bay tới Ðà Nẵng lần thứ hai, sau khi Trung Cộng xây các căn cứ mới.
Tóm lại, trong việc Trung Cộng xây thêm căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo, lợi bất cập hại. Có phải giới lãnh đạo Bắc Kinh đã hành động dại dột hay không?
Phải giả thiết rằng họ không dại dột. Họ đầy đủ thông tin và đủ trí thông minh, nếu không hơn thì cũng không kém gì chúng ta. Họ phải biết những hành động gây sự mới này chẳng được lợi bao nhiêu trong khi gây nhiều hậu quả bất lợi.
Cho nên chỉ có thể giải thích những hành động “dại dột” của Trung Cộng nếu công nhận họ có những mục tiêu đặc biệt mà người ngoài không thấy.
Việc xây dựng các căn cứ quân vừa qua của Trung Cộng có thể nhắm một mục tiêu nhỏ hơn các suy nghĩ của mọi người. Họ chỉ nhắm vào một nước Việt Nam. Họ chấp nhận những phản ứng bất lợi từ nước Mỹ và Philippines, Nhật Bản, trong một thời gian ngắn. Sau khi mục tiêu nhắm riêng vào Việt Nam đã đạt được, Bắc Kinh vẫn có thể sẽ tỏ thái độ hòa hoãn, gây thiện cảm với các nước này bằng cách khác, để xóa bỏ những phản ứng xấu họ mới gây ra. Bắc Kinh chỉ cần ngưng các lời lẽ hiếu chiến đối với Tokyo và Manilla trong nửa năm thì cả chính quyền Mỹ cũng được thoa dịu, coi như Trung Cộng đã lùi bước.
Nhưng riêng với Việt Nam thì khác. Trung Cộng đã củng cố những hòn đảo chiếm được của nước ta ở Hoàng Sa và Trường Sa. Họ muốn tình trạng đó càng ngày càng được phơi bày trước thế giới một cách rõ ràng, cụ thể, hiển nhiên hơn. Họ muốn đặt dân tộc Việt Nam trước một “sự đã rồi” rõ ràng, chặt chẽ, hơn, khó tháo gỡ hơn. Trung Cộng sẽ phân trần với cả thế giới rằng họ không có ý khiêu khích Mỹ hay Nhật, không muốn “thay đổi nguyên trạng” trong cả vùng Ðông Nam Á,” liên can đến các nước khác. Họ sẽ chứng tỏ với mọi người rằng họ chỉ muốn “củng cố nguyên trạng” tại các hòn đảo đã cướp được của Việt Nam, trong viễn tượng một tương lai lâu dài và không thể đảo ngược lại.
Ðể biện minh cho hành động này, Trung Cộng chỉ cần trưng ra một lần nữa những thứ như bức công hàm của Phạm Văn Ðồng năm 1958, các sách giáo khoa và bản đồ do Cộng Sản Việt Nam ấn hành từng công nhận các quần đảo trên thuộc chủ quyền của Bắc Kinh. Khi Ðảng Cộng Sản Việt Nam không dám có một hành động nào mạnh hơn những lời phản đối chiếu lệ như trước đây, thì tình trạng “ván đã đóng thuyền” càng ngày càng khó đảo ngược. Nước Việt Nam sẽ tiếp tục bị cô lập. Các nước khác sẽ không có lý do nào, và cũng chẳng có quyền lợi nào, để phản đối mối quan hệ bang giao giữa Trung Cộng với Việt Nam, trong khi hai Ðảng Cộng Sản vẫn song ca bài Bốn Tốt và 16 Chữ Vàng. Cuối cùng, việc xây dựng các căn cứ và phi trường mới chỉ xác nhận cụ thể hành động bán đứt Hoàng Sa và Trường Sa của Ðảng Cộng Sản Việt Nam mà thôi.
Tiến trình chứng tỏ “ván đã đóng thuyền” này đã được tiến hành từ năm 1974 đến nay. Câu hỏi còn lại là tại sao giới lãnh đạo Bắc Kinh lại thực hiện các công trình mới một cách gấp rút trong thời gian chưa đầy một năm qua? Tại sao họ không tiếp tục đi từng bước nhỏ như trong bốn chục năm vẫn làm, qua những việc thành lập quận Tam Sa; việc đánh, giết các ngư dân người Việt; đưa giàn khoan lớn vào hải phận Việt Nam; hoặc lâu lâu ban hành các lệnh cấm tàu đánh cá Việt Nam hoạt động?
Chỉ có một lý do, là Bắc Kinh lo ngại Việt Nam sẽ thay đổi; và thay đổi nhanh chóng trước khi họ hoàn tất các biện pháp củng cố cần thiết. Xây dựng các căn cứ quân sự mới là một việc cụ thể, cần thiết để xác nhận chủ quyền của Trung Cộng.
Nhưng Trung Cộng có lo ngại chính Việt Cộng sẽ thay đổi hay không? Ðiều này khó xảy ra. Ðạo quân tình báo Trung Cộng vẫn nắm chắc Ðảng Cộng Sản Việt Nam trong tay. Giới lãnh đạo Việt Cộng vẫn tiếp tục để cho Trung Cộng thao túng về kinh tế, chính trị, ngoại giao, không một cá nhân nào trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Cộng đủ sức thay đổi.
Cho nên, mối lo thực của Trung Cộng là cả chế độ Cộng Sản Việt Nam sẽ tan rã và sụp đổ trước khi Trung Cộng củng cố vững chắc việc mua đứt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tình báo của Bắc Kinh cũng biết chế độ Cộng Sản Việt Nam đang mong manh. Bất cứ một chính quyền mới nào ở Việt Nam mà không thuộc Ðảng Cộng Sản cũng có thể thay đổi quan điểm đối ngoại. Ðặc biệt là trong mối bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc, một chính quyền không Cộng Sản có thể xóa bỏ trên danh nghĩa tất cả các cam kết đối với Trung Cộng, trong đó có lá thư của Phạm Văn Ðồng. Khi đó, tất cả công trình của Ðảng Cộng Sản Trung Hoa thực hiện ở Biển Ðông sẽ bị thế giới nhìn bằng con mắt khác.
Tóm lại, Trung Cộng không dại dột. Họ chỉ lo xa, tính kỹ, “tiên hạ thủ vi cường” khi lo dân Việt Nam có thể thay đổi cuộc cờ, không biết lúc nào!
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đọc diễn văn tại Đối thoại Shangri-La

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter đọc diễn văn tại hội nghị về hội nghị Đối thoại Shangri-La 30/5/15 Steve Herman
Trung Quốc kịch liệt bác bỏ chỉ trích của Hoa Kỳ về hành động lắp biển chiếm đất ở Biển Đông.
Đô đốc Trung Quốc Tôn Kiến Quốc nói trước cử toạ hội nghị thượng đỉnh an ninh ở Singapore, hôm Chủ nhật, rằng việc xây dựng của Trung Quốc “chính đáng, hợp pháp và hợp lý,’ và các dự án nhằm mục tiêu cung cấp các “dịch vụ công ích quốc tế.”
Phó Tham mưu trưởng Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc khẳng định “Không có thay đổi trong tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, cũng như không có sự thay đổi lập trường của Trung Quốc về giải pháp hòa bình đối với các vụ tranh chấp liên hệ qua thương thảo và tham vấn.”
Viên đô đốc đã bị đặt câu hỏi dồn dập bởi cử tọa đầy hoài nghi, trong đó có giới chức quân sự, các nhà ngoại giao, các học giả và các ký giả. Nhưng viên chức quân đội cao cấp này của Trung Quốc khư khư sử dụng văn bản đã soạn sẵn mà không đưa ra giải thích nào làm sáng tỏ vấn đề.
Bà Bonnie Glaser cố vấn cao cấp về châu Á của trung tâm nghiên cứu chiến lược và các vấn đề quốc tế, nói với phóng viên của VOA:
“Chỉ đơn giản đọc các câu soạn sẵn trả lời các câu hỏi, cho thấy theo tôi nghĩ là ngang nhiên gạt bỏ các mối quan ngại của những thành viên cộng đồng quốc tế tại đây bày tỏ. Và tôi nghĩ quả sẽ có sự thất vọng lớn lao.”
Bà nói thêm rằng việc thiếu các câu trả lời từ ông Tôn làm tăng thêm mức độ lo ngại và dẫn đến kết luận rằng Trung Quốc có ý định quân sự hoá các đảo đang tranh chấp mà họ đang xây dựng
Viên đô đốc Trung Quốc đưa ra các tuyên bố một ngày sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter chỉ trích thẳng thừng Trung Quốc hành động “ra ngoài” các chuẩn mực quốc tế giữa lúc hoạt động cải tạo đảo ở tốc độ chưa từng có, và ông nói rằng “chưa rõ Trung Quốc sẽ đi xa đến mức nào.”
Trong bài diễn văn đọc tại phiên họp Đối thoại Shangri-La hôm Thứ bảy Bộ trưởng Carter nói các hành động này đang gia tăng “nguy cơ tính toán sai lầm và xung đột.
Ông nêu lên sự kiện Trung Quốc đã cải tạo trên 800 hecta, nhiều hơn tất cả các nước tuyên bố chủ quyền gộp lại và đã làm công việc này chỉ trong 18 tháng qua. Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ nói:
“Tất cả các bên tuyên bố chủ quyền nên ngưng ngay tức khắc và lâu dài hoạt động cải tạo đất. Chúng tôi phản đối bất cứ hành động quân sự hóa thêm nữa các địa hình trong vòng tranh chấp. Tất cả chúng ta đều biết không có giải pháp quân sự cho cuộc tranh chấp Biển Đông.”
Các rạn san hô và các bãi cạn đang tranh chấp
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ cũng nói rõ rằng Hoa Kỳ sẽ không công nhận bất cứ mưu toan nào của Trung Quốc tuyên bố lãnh hải vòng quanh các đảo, các rạn san hô và các bãi cạn đang tranh chấp. Ông nói:
“Điều không nên nhầm lẫn là: Hoa Kỳ sẽ bay qua, qua lại bằng tàu và hoạt động bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép, như lực lượng Hoa Kỳ vẫn làm trên khắp thế giới.”
Ông nói thêm:
“Xét cho cùng thì việc biến một bãi đá ngầm thành một sân bay, đơn thuần là không mang lại các quyền hạn thuộc chủ quyền hay hạn chế việc cho phép qua lại vùng biển và không phận quốc tế.”
Hồi đầu tháng này, quân đội Trung Quốc đã ra lệnh cho một máy bay trinh sát của Hải quân Hoa Kỳ rời khỏi khu vực đảo Trường Sa, nhưng viên phi công không quan tâm đến đòi hỏi này.
Kế hoạch hàng hải
Trong bài diễn văn, Bộ trưởng Carter cũng loan báo một chương trình hàng hải mới cho vùng, cung cấp ngân khoản 425 triệu đôla nhằm giúp các quốc gia Đông Nam Á nâng cao khả năng hải quân và bảo vệ bờ biển.
Tại cuộc họp báo ngay tại chỗ tiếp theo sau bài diễn văn của Bộ trưởng Carter, một phái đoàn gồm đại biểu của cả 2 đảng quốc hội Hoa Kỳ đang công du trong vùng hỗ trợ lời của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ.
Thượng nghị sĩ Cộng hoà tiểu bang Arizona John McCain, Chủ tịch Uỷ ban Quân vụ Thượng viện, nhận định:
“Chúng tôi tin rằng những điều Bộ trưởng Carter nói hôm nay rất quan trọng. Giờ đây chúng tôi muốn thấy những lời nói đó được diễn dịch thành hành động.”
Thượng nghị sĩ thuộc đảng Dân Chủ Mazie Hirono của bang Hawaii, nơi Bộ Tư lệnh Thái Bình dương đặt bản doanh, tuyên bố:
“Đất nước chúng ta không lui bước.”
Đối thoại Shangri-La diễn ra chỉ mấy ngày sau khi Trung Quốc công bố một bạch thư quốc phòng đầy tự tin.
Các nhà phân tích diễn giải văn kiện Trung Quốc công bố hôm Thứ ba, như một cảnh báo mạnh mẽ cho các nước láng giềng châu Á của Bắc Kinh và cho Washington về “sự can thiệp năng động” của quân đội Hoa Kỳ trong vấn đề Biển Đông, nơi Trung Quốc ráo riết xây dựng các đảo.
Giới chức Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ xác nhận, hôm Thứ sáu, rằng các hình ảnh giám sát gần đây của Hoa Kỳ đã phát hiện võ khí của quân đội Trung Quốc trên một trong các đảo nhân tạo Trung Quốc xây trong quần đảo Trường Sa.
Các khẩu trọng pháo
Mặc dù điều này không đề ra mối đe doạ quân sự nào cho tàu bè hay máy bay của Hoa Kỳ trong vùng, các khẩu trọng pháo cơ giới được báo cáo nằm trong tầm đạn một hòn đảo mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, trên đó Việt Nam đã bố trí các loại võ khí khác nhau.
Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản, nước đang tranh chấp lãnh thổ riêng rẽ với Trung Quốc trong vùng biển Hoa Đông, kêu gọi Bắc Kinh “hành xử như một cường quốc có trách nhiệm: và đừng ngăn trở Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông.
Bộ trưởng Quốc phòng Gen Nakatani nói, Trung Quốc nên có “lời nói đi đôi với việc làm.”
Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long, trong bài diễn văn đọc vào tối Thứ sáu trước cử toạ trên 20 Bộ trưởng Quốc phòng, kêu gọi Trung Quốc và các nước thành viên khối ASEAN “phá vỡ vòng luẩn quẩn” bằng cách tôn trọng luật quốc tế và ký kết Bộ Quy tắc Ứng xử.
Các đại biểu cũng đã nghe lời phát biểu của Đô Đốc Harry Harris, tân Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái bình dương Hoa Kỳ, có trách nhiệm trong một khu vực gồm nửa bề mặt Trái Đất.
Vạn lý Trường thành bằng cát
Đô đốc Hải quân Hoa Kỳ đã khiến Trung Quốc bất bình qua việc đề cập các dự án cải tạo đất rộng lớn của Trung Quốc như “Vạn lý Trường thành bằng Cát” – ông muốn nói đến bức tường thành bảo vệ vùng biên cương của đế chế Trung quốc thời Tần Thủy Hoàng. Ông nói:
“Tôi không nghĩ rằng tôi đã phản ứng thái quá,” Đô đốc Harris đáp lại câu hỏi của phái đoàn Trung Quốc về việc ông sử dụng thuật ngữ này.
Mặc dù có những lời qua tiếng lại đôi khi thẳng thừng trong bối cảnh căng thẳng trên biển gia tăng, các đại biểu kỳ cựu tại hội nghị thường niên Đối thoại Shangri-La cho rằng âm điệu ít thù nghịch hơn những năm trước.
Sự kiện diễn ra bên ngoài hội nghị
Có một vài phiền hà xảy ra bên ngoài địa điểm tổ chức hội nghị.
Sáng sớm Chủ nhật, cảnh sát đã bắn chết một người và bắt giữ 2 người, khi một chiếc xe hơi sedan màu đỏ, mà những người này đi trên đó, đâm qua rào chắn an ninh gần Khách sạn Shangri-La.
Chiếc xe hơi trước đó đã bị chận lại tại một trạm kiểm soát được dựng lên giữ an ninh cho hội nghị, nhưng khi được yêu cầu mở cốp xe, người lái xe đã tăng tốc độ tìm cách chạy trốn, theo lời cảnh sát Singapore.
Cảnh sát nổ súng vào chiếc xe hơi, và chiếc xe dừng lại ở một con đường gần khách sạn sang trọng này.
Một thông báo của cảnh sát cho biết họ tìm thấy ma tuý trên người một trong 2 người bị bắt.
Các giới chức trong phái đoàn của ông Carter cho biết Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ có mặt trong khách sạn vào lúc sự kiện này diễn ra, nhưng phái đoàn không hay biết sự việc diễn ra cho đến nhiều giờ sau đó họ mới biết được qua tin tức.
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đã rời Singapore sau đó vào buổi sáng để đi thăm Việt Nam.
Ra vào khách sạn đã bị hạn chế trong nhiều giờ đồng hồ, gây trì hoãn việc đi đến của nhiều đại biểu và ký giả tại địa điểm hội nghị, tuy nhiên phiên họp toàn thể hội nghị vào sáng Chủ nhật đã bắt đầu đúng giờ, với sự tham dự của Đô đốc Tôn cùng với Bộ trưởng Quốc phòng Đức và New Zealand.

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter đọc diễn văn tại hội nghị về hội nghị Đối thoại Shangri-La 30/5/15 Steve Herman
Trung Quốc kịch liệt bác bỏ chỉ trích của Hoa Kỳ về hành động lắp biển chiếm đất ở Biển Đông.
Đô đốc Trung Quốc Tôn Kiến Quốc nói trước cử toạ hội nghị thượng đỉnh an ninh ở Singapore, hôm Chủ nhật, rằng việc xây dựng của Trung Quốc “chính đáng, hợp pháp và hợp lý,’ và các dự án nhằm mục tiêu cung cấp các “dịch vụ công ích quốc tế.”
Phó Tham mưu trưởng Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc khẳng định “Không có thay đổi trong tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, cũng như không có sự thay đổi lập trường của Trung Quốc về giải pháp hòa bình đối với các vụ tranh chấp liên hệ qua thương thảo và tham vấn.”
Viên đô đốc đã bị đặt câu hỏi dồn dập bởi cử tọa đầy hoài nghi, trong đó có giới chức quân sự, các nhà ngoại giao, các học giả và các ký giả. Nhưng viên chức quân đội cao cấp này của Trung Quốc khư khư sử dụng văn bản đã soạn sẵn mà không đưa ra giải thích nào làm sáng tỏ vấn đề.
Bà Bonnie Glaser cố vấn cao cấp về châu Á của trung tâm nghiên cứu chiến lược và các vấn đề quốc tế, nói với phóng viên của VOA:
“Chỉ đơn giản đọc các câu soạn sẵn trả lời các câu hỏi, cho thấy theo tôi nghĩ là ngang nhiên gạt bỏ các mối quan ngại của những thành viên cộng đồng quốc tế tại đây bày tỏ. Và tôi nghĩ quả sẽ có sự thất vọng lớn lao.”
Bà nói thêm rằng việc thiếu các câu trả lời từ ông Tôn làm tăng thêm mức độ lo ngại và dẫn đến kết luận rằng Trung Quốc có ý định quân sự hoá các đảo đang tranh chấp mà họ đang xây dựng
Viên đô đốc Trung Quốc đưa ra các tuyên bố một ngày sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter chỉ trích thẳng thừng Trung Quốc hành động “ra ngoài” các chuẩn mực quốc tế giữa lúc hoạt động cải tạo đảo ở tốc độ chưa từng có, và ông nói rằng “chưa rõ Trung Quốc sẽ đi xa đến mức nào.”
Trong bài diễn văn đọc tại phiên họp Đối thoại Shangri-La hôm Thứ bảy Bộ trưởng Carter nói các hành động này đang gia tăng “nguy cơ tính toán sai lầm và xung đột.
Ông nêu lên sự kiện Trung Quốc đã cải tạo trên 800 hecta, nhiều hơn tất cả các nước tuyên bố chủ quyền gộp lại và đã làm công việc này chỉ trong 18 tháng qua. Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ nói:
“Tất cả các bên tuyên bố chủ quyền nên ngưng ngay tức khắc và lâu dài hoạt động cải tạo đất. Chúng tôi phản đối bất cứ hành động quân sự hóa thêm nữa các địa hình trong vòng tranh chấp. Tất cả chúng ta đều biết không có giải pháp quân sự cho cuộc tranh chấp Biển Đông.”
Các rạn san hô và các bãi cạn đang tranh chấp
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ cũng nói rõ rằng Hoa Kỳ sẽ không công nhận bất cứ mưu toan nào của Trung Quốc tuyên bố lãnh hải vòng quanh các đảo, các rạn san hô và các bãi cạn đang tranh chấp. Ông nói:
“Điều không nên nhầm lẫn là: Hoa Kỳ sẽ bay qua, qua lại bằng tàu và hoạt động bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép, như lực lượng Hoa Kỳ vẫn làm trên khắp thế giới.”
Ông nói thêm:
“Xét cho cùng thì việc biến một bãi đá ngầm thành một sân bay, đơn thuần là không mang lại các quyền hạn thuộc chủ quyền hay hạn chế việc cho phép qua lại vùng biển và không phận quốc tế.”
Hồi đầu tháng này, quân đội Trung Quốc đã ra lệnh cho một máy bay trinh sát của Hải quân Hoa Kỳ rời khỏi khu vực đảo Trường Sa, nhưng viên phi công không quan tâm đến đòi hỏi này.
Kế hoạch hàng hải
Trong bài diễn văn, Bộ trưởng Carter cũng loan báo một chương trình hàng hải mới cho vùng, cung cấp ngân khoản 425 triệu đôla nhằm giúp các quốc gia Đông Nam Á nâng cao khả năng hải quân và bảo vệ bờ biển.
Tại cuộc họp báo ngay tại chỗ tiếp theo sau bài diễn văn của Bộ trưởng Carter, một phái đoàn gồm đại biểu của cả 2 đảng quốc hội Hoa Kỳ đang công du trong vùng hỗ trợ lời của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ.
Thượng nghị sĩ Cộng hoà tiểu bang Arizona John McCain, Chủ tịch Uỷ ban Quân vụ Thượng viện, nhận định:
“Chúng tôi tin rằng những điều Bộ trưởng Carter nói hôm nay rất quan trọng. Giờ đây chúng tôi muốn thấy những lời nói đó được diễn dịch thành hành động.”
Thượng nghị sĩ thuộc đảng Dân Chủ Mazie Hirono của bang Hawaii, nơi Bộ Tư lệnh Thái Bình dương đặt bản doanh, tuyên bố:
“Đất nước chúng ta không lui bước.”
Đối thoại Shangri-La diễn ra chỉ mấy ngày sau khi Trung Quốc công bố một bạch thư quốc phòng đầy tự tin.
Các nhà phân tích diễn giải văn kiện Trung Quốc công bố hôm Thứ ba, như một cảnh báo mạnh mẽ cho các nước láng giềng châu Á của Bắc Kinh và cho Washington về “sự can thiệp năng động” của quân đội Hoa Kỳ trong vấn đề Biển Đông, nơi Trung Quốc ráo riết xây dựng các đảo.
Giới chức Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ xác nhận, hôm Thứ sáu, rằng các hình ảnh giám sát gần đây của Hoa Kỳ đã phát hiện võ khí của quân đội Trung Quốc trên một trong các đảo nhân tạo Trung Quốc xây trong quần đảo Trường Sa.
Các khẩu trọng pháo
Mặc dù điều này không đề ra mối đe doạ quân sự nào cho tàu bè hay máy bay của Hoa Kỳ trong vùng, các khẩu trọng pháo cơ giới được báo cáo nằm trong tầm đạn một hòn đảo mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, trên đó Việt Nam đã bố trí các loại võ khí khác nhau.
Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản, nước đang tranh chấp lãnh thổ riêng rẽ với Trung Quốc trong vùng biển Hoa Đông, kêu gọi Bắc Kinh “hành xử như một cường quốc có trách nhiệm: và đừng ngăn trở Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông.
Bộ trưởng Quốc phòng Gen Nakatani nói, Trung Quốc nên có “lời nói đi đôi với việc làm.”
Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long, trong bài diễn văn đọc vào tối Thứ sáu trước cử toạ trên 20 Bộ trưởng Quốc phòng, kêu gọi Trung Quốc và các nước thành viên khối ASEAN “phá vỡ vòng luẩn quẩn” bằng cách tôn trọng luật quốc tế và ký kết Bộ Quy tắc Ứng xử.
Các đại biểu cũng đã nghe lời phát biểu của Đô Đốc Harry Harris, tân Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái bình dương Hoa Kỳ, có trách nhiệm trong một khu vực gồm nửa bề mặt Trái Đất.
Vạn lý Trường thành bằng cát
Đô đốc Hải quân Hoa Kỳ đã khiến Trung Quốc bất bình qua việc đề cập các dự án cải tạo đất rộng lớn của Trung Quốc như “Vạn lý Trường thành bằng Cát” – ông muốn nói đến bức tường thành bảo vệ vùng biên cương của đế chế Trung quốc thời Tần Thủy Hoàng. Ông nói:
“Tôi không nghĩ rằng tôi đã phản ứng thái quá,” Đô đốc Harris đáp lại câu hỏi của phái đoàn Trung Quốc về việc ông sử dụng thuật ngữ này.
Mặc dù có những lời qua tiếng lại đôi khi thẳng thừng trong bối cảnh căng thẳng trên biển gia tăng, các đại biểu kỳ cựu tại hội nghị thường niên Đối thoại Shangri-La cho rằng âm điệu ít thù nghịch hơn những năm trước.
Sự kiện diễn ra bên ngoài hội nghị
Có một vài phiền hà xảy ra bên ngoài địa điểm tổ chức hội nghị.
Sáng sớm Chủ nhật, cảnh sát đã bắn chết một người và bắt giữ 2 người, khi một chiếc xe hơi sedan màu đỏ, mà những người này đi trên đó, đâm qua rào chắn an ninh gần Khách sạn Shangri-La.
Chiếc xe hơi trước đó đã bị chận lại tại một trạm kiểm soát được dựng lên giữ an ninh cho hội nghị, nhưng khi được yêu cầu mở cốp xe, người lái xe đã tăng tốc độ tìm cách chạy trốn, theo lời cảnh sát Singapore.
Cảnh sát nổ súng vào chiếc xe hơi, và chiếc xe dừng lại ở một con đường gần khách sạn sang trọng này.
Một thông báo của cảnh sát cho biết họ tìm thấy ma tuý trên người một trong 2 người bị bắt.
Các giới chức trong phái đoàn của ông Carter cho biết Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ có mặt trong khách sạn vào lúc sự kiện này diễn ra, nhưng phái đoàn không hay biết sự việc diễn ra cho đến nhiều giờ sau đó họ mới biết được qua tin tức.
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đã rời Singapore sau đó vào buổi sáng để đi thăm Việt Nam.
Ra vào khách sạn đã bị hạn chế trong nhiều giờ đồng hồ, gây trì hoãn việc đi đến của nhiều đại biểu và ký giả tại địa điểm hội nghị, tuy nhiên phiên họp toàn thể hội nghị vào sáng Chủ nhật đã bắt đầu đúng giờ, với sự tham dự của Đô đốc Tôn cùng với Bộ trưởng Quốc phòng Đức và New Zealand.
Nguyễn Phú Trọng đi Mỹ để làm gì?
Nguyễn Hưng Quốc
Tin tức từ trong nước cho biết Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sắp đi Mỹ với lời hứa hẹn là sẽ được Tổng thống Barack Obama đón tiếp theo “nghi thức cao nhất” dành cho các nguyên thủ. Nếu dự định ấy được thực hiện, ông Trọng sẽ là Tổng Bí thư đầu tiên của Việt Nam sang Mỹ. Chúng ta không thể không thắc mắc: ông Trọng sang Mỹ để làm gì?
Chưa có chi tiết nào về chuyến đi được công bố, tuy nhiên, điều đầu tiên có thể khẳng định một cách chắc chắn là ông Nguyễn Phú Trọng sẽ không thể ký kết bất cứ một hiệp ước quan trọng nào với Mỹ. Đó là nguyên tắc hành chánh. Trong cấu trúc chính trị của Việt Nam, với tư cách tổng bí thư, ông Trọng là người có quyền lực cao nhất nước, nhưng dưới mắt Tây phương, ông lại chỉ là lãnh tụ của một đảng chứ không phải lãnh tụ của quốc gia (như trường hợp của chủ tịch nước hay thủ tướng), do đó, về phương diện ngoại giao, ông không phải là đối tác thích ứng của tổng thống Mỹ.
Huống gì ông Nguyễn Phú Trọng lại có hai thế yếu để có thể hoạch định chiến lược chung với Mỹ. Thứ nhất, ai cũng biết ông Trọng không phải là một tổng bí thư mạnh và có ảnh hưởng quyết định về chính sách trong đảng. Qua những sự thất bại của ông trong nỗ lực kỷ luật Nguyễn Tấn Dũng cũng như đưa Nguyễn Bá Thanh vào Bộ Chính trị trước đây, ai cũng thấy rõ tầm ảnh hưởng của Nguyễn Phú Trọng trong Ban Chấp hành Trung ương đảng rất yếu. Thứ hai, sinh năm 1944, trong kỳ đại hội đảng vào đầu năm 2016 sắp tới, ông đã 71 tuổi, lứa tuổi bị buộc phải về hưu. Như vậy, ông chỉ còn tại vị được chưa tới một năm nữa thôi. Đó là một thời khoảng ngắn ngủi không thích hợp cho bất cứ một cam kết hoặc một chính sách nào lâu dài. Mỹ chắc chắn biết rõ điều đó: Trong tiếng Anh, người ta hay gọi những lãnh tụ sắp hết nhiệm kỳ như vậy là “vịt què” (lame duck).
Không có một hiệp ước hay một cam kết dài hạn nào, chuyến đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng, theo tôi, chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Hoàn toàn có tính chất tượng trưng.
Tượng trưng, về phía Việt Nam, nằm ở chỗ: họ muốn khẳng định thiện chí và nhiệt tình thắt chặt bang giao với Mỹ để cân bằng cán cân quyền lực với Trung Quốc. Điều ai cũng biết là lâu nay Trung Quốc tìm mọi cách để lấn hiếp Việt Nam. Với con đường lưỡi bò của Trung Quốc, nếu thành hiện thực, nước bị thiệt thòi lớn nhất là Việt Nam. Với việc bồi đắp các bãi đá ngầm ở Trường Sa của Trung Quốc, khi hoàn tất, nước bị đe doạ nhiều nhất cũng là Việt Nam. Với cả hai, Việt Nam đều bị bất lực. Nhỏ và yếu, Việt Nam không có cách gì để phòng vệ một cách hiệu quả cả. Dù muốn hay không, Việt Nam cũng phải tìm sự hỗ trợ từ bên ngoài. Trong mấy năm vừa rồi, Việt Nam chạy đôn chạy đáo để tìm kiếm đồng minh. Nhưng đồng minh duy nhất có thể giúp được Việt Nam chính là Mỹ. Không thể có ai khác. Qua chuyến đi Mỹ, ông Nguyễn Phú Trọng chỉ muốn gửi một thông điệp: cả đảng Cộng sản và chính phủ Việt Nam đều cần Mỹ và đều đặt hy vọng vào quan hệ đồng minh ấy.
Về phía Mỹ, việc tiếp đón ông Nguyễn Phú Trọng cũng có tính chất tượng trưng: Họ muốn gửi một thông điệp là họ muốn và sẵn sàng liên kết với Việt Nam để bảo vệ an ninh trên Biển Đông. Họ không chấp nhận những hành vi xâm chiếm cũng như những thái độ gây hấn của Trung Quốc. Với họ, Biển Đông là một con đường hàng hải tối quan trọng không thể để mặc cho Trung Quốc tự tung tự tác. Nhưng nói đến Biển Đông là nói đến Việt Nam, nước có chủ quyền trên nhiều hòn đảo ở Trường Sa nhất và cũng là nước có lãnh hải chung với con đường lưỡi bò của Trung Quốc nhiều nhất. Có thể nói tất cả các nỗ lực bảo vệ nguyên trạng trên Biển Đông của Mỹ sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu Mỹ không lôi cuốn được sự tham dự của Việt Nam, quốc gia có vị trí chiến lược quan trọng nhất trên Biển Đông.
Tuy nhiên, việc đón tiếp Nguyễn Phú Trọng với những “nghi thức cao nhất” dành cho các nguyên thủ quốc gia của Mỹ lại mang một ý nghĩa khác nữa: Mỹ thừa nhận tư cách nguyên thủ của ông Trọng, và qua đó, thừa nhận vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản tại Việt Nam. Thật ra, điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Lâu nay, Mỹ vẫn chủ trương, một mặt, đòi hỏi các quốc gia phải tôn trọng nhân quyền, nhưng mặt khác, vẫn tôn trọng các cơ cấu quyền lực ở các quốc gia khác. Riêng với Việt Nam, Mỹ vẫn thường xuyên lên án các hành động trấn áp dân chúng của cộng sản nhưng chưa bao giờ kêu gọi lật đổ chính quyền cộng sản để xây dựng một chế độ khác. Với họ, việc thay đổi chế độ là công việc trong nội bộ nước ấy.
Không đáng ngạc nhiên, nhưng hai sự thừa nhận nêu trên cũng là một món quà lớn đối với đảng cộng sản và chính quyền Việt Nam: Nó làm tăng thêm tính chính đáng của đảng cầm quyền.
Dĩ nhiên, trong quan hệ quốc tế, không có món quà nào là trọn vẹn. Chắc chắn chính phủ Mỹ sẽ đặt ra một số điều kiện cụ thể cho hành động “ban phước lành” của họ. Những điều kiện ấy chắc chắn thuộc hai loại: Một, Việt Nam phải có lập trường rõ ràng và dứt khoát trong việc bảo vệ Trường Sa cũng như Biển Đông trước các hành động xâm lấn của Trung Quốc; và hai, Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền và chấp nhận dần dần con đường dân chủ hoá.
Chưa biết Việt Nam sẽ đáp ứng thế nào trước hai loại điều kiện ấy. Chờ xem.

