Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

nhuvan
Posts: 383
Joined: Sun Mar 27, 2016 8:29 pm

Post by nhuvan »

Image

Ma men!
Đoàn Xuân Thu
“Hai tay nâng chén rượu đào. Không uống thì tiếc uống vào thì say!” Tui hằng trộm nghe rằng: 7 nhà văn Mỹ đoạt giải Nobel Văn chương thì có 5 người ghiền rượu, một trong số đó ghiền nặng.

Còn hồi xưa ở bên Tàu, Vương Hàn (687-735): Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi. Dục ẩm tì bà mã thượng thôi. Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu. Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi?”

Nên tui thường tự hỏi rằng muốn viết văn hay làm thơ cho nổi tiếng như mấy ổng, điều kiện tiên quyết là phải ghiền rượu hay chăng?

Khám phá ra cái bí quyết ấy, tui bắt đầu nhậu; để coi cái 'văn nghiệp' của mình có nhờ sự trợ giúp của chén rượu đào mà lảo đảo đi cẳng không vào văn học sử hay không?

***

Rượu là một chuyện dài đi theo nhân loại hoài mà chưa có hồi kết trừ phi thiên hạ chết hết.

Thời hái lượm, ăn lông ở lỗ là nhân loại đã có rượu rồi. Chẳng qua trái cây nào có chứa đường, ăn thừa mứa dư dả, để lâu men trong không khí rơi vào chuyển hóa đường thành rượu.

Rồi mấy con khỉ đột, đười ươi uống, vô cùng khoan khoái, nhảy nhót chí chóe tưng bừng nên tổ tiên mình mới bắt chước đó chớ. Chính vì vậy mà ngày nay trông mấy chàng say múa may như là khỉ vậy vì bắt nguồn từ độ ấy đó đa.

Ghiền cần rượu như cần thức ăn, nước uống. Thèm rượu kinh khủng, phải uống vài ly cho đỡ nhớ. Nếu không cảm thấy trong mình bực bội, khó chịu, ợ khan, đổ mồ hôi, cơ thể run rẩy, ngáp lên ngáp xuống như thầy bói lúc lên đồng.

Sáng ngồi kiểu nước lụt trên cái ghế đẩu, một tô xí quách và một xị đế. Con chó Bích La (tức ba lít) ngồi nhóng mỏ chờ cục xương. Cầm cái ly hột mít quất nhẹ cái trót; húp miếng nước ‘súp’ có rắc hành lá và bỏ tiêu là mồ hôi tươm ra, hai tay nó hết run hè!



***



Người ta gọi á phiện là ‘ma túy’ và rượu là ‘ma men’. Toàn là ‘ma’ hết ráo.

Không uống thì bị mất ngủ, nếu chợp mắt được thì gặp ‘ma’; thấy toàn ác mộng, thấy toàn là hổ, báo, sư tử, quỷ dữ, quái vật, chuột cống, rắn độc, nhện độc, hay gián bò kín đất.

Tai thì nghe thấy la hét, nhạo báng, dọa nạt, buộc tội mình! Thấy sâu bọ bò khắp người và có chỗ đau như bị chó cắn, xung quanh đều mờ mờ ảo ảo.

Quất vài ly tới một xị là mặt hồng hồng sáng trong trong tất cả các triệu chứng trên đều biến mất. Thiệt là thần dược, có tên là: Sakê của Nhựt, Mao Đài của Tàu hay Whiskey của Tô Cách Lan hoặc Tequilla của Mexico, rượu đế của quê mình!

Năm dài chày tháng thì gan ruột, đồ lòng tiêu tùng ráo trọi. Tùm lum bịnh. Ghiền rượu là một cách tự vận, chết từ từ nhưng chết chắc.

Giống như quý anh mình, tui sợ chết, bỏ em yêu lại cho thằng khác nuôi nên tui tính thôi nghỉ nhậu thì mấy chiến hữu của tui nhào vô can gián quyết liệt, thuyết phục tui là: “Nam vô tửu như kỳ vô phong!” Không nhậu bạn bè chê chú mầy là “Đồ gà mái”!

Rồi cũng trộm nghe. Uống vừa phải, không gây tác hại. Vừa phải là một lon bia hay một ly vang, hoặc một ly rượu mạnh, có tác dụng tích cực, ăn ngon hơn, hơi vui vẻ với má bầy trẻ. Vì “Một là những lúc ngà ngà. Hai là những lúc đi xa mới về!” nên tui lại nhậu nữa!

Tuy nhiên hai chuyện mất mặt bầu cua nầy của bạn nhậu cũng làm tui khá phân vân giữa ngả ba đường nên nhậu nữa hay thôi?

Chẳng qua anh bạn nhâu của tui đi làm ăn xa mới về, chị làm món đồ nhậu cho anh sương sương, khui chai sâm banh ướp lạnh. Người cạn một ly rồi dìu nhau vào phòng, tính đàn lại bản tình ca sau bao ngày xa vắng!

Thằng cu, mới 4 tuổi, thấy Tía Má mình người “lỳ một lam” sao vui hết biết, bèn tự ý rót cho mình một ly. Cha đã nhe! Chua chua ngọt ngọt mà có sủi bọt như “Coca Cola!” Cạn ly, đi lảo đảo, đụng bàn ghế ngã rầm rầm.

“Ối giời ơi! Ai cứu con tui? Sao thằng nhỏ sùi bọt mép, mắt trợn trắng trợn vọc nè Trời?!”

Thiệt là một kinh nghiệm rất kinh hoàng!



***



Rồi anh bạn nhậu, một chiến hữu khác, sau một chầu bí tỉ bèn lết về nhà. Say quá mà nên leo đại lên giường quánh cho mầy một giấc mà không để ý: “Ủa bữa nay hình như em yêu hơi ‘sổ sữa’? Rượu đưa con buồn ngủ lên bờ. Mùng ai có trống cho “qua” ngủ nhờ một đêm. Chuyện đâu có gì lớn hè?”

Vậy mà sáng bửng, còn mơ màng giấc điệp bỗng nhe tiếng la bài hãi, bị gọi giựt dậy. Chưa kịp đưa tay lên dụi mắt thì đã bị ăn một đạp, lăn xuống đất. Con sư tử Hà Đông tức con vợ nhà của ‘ảnh’ làm dữ mặc bà con lối xóm chạy tới xem.

Em “single mum” nói: “Tối qua, mệt nên em đi ngủ sớm, khi tỉnh giấc thì thấy thằng chả nằm ngáy kho kho trên giường. Quá hốt hoảng nên em hô hoán lên. Chớ “giả” say quắc cần câu rồi thì còn cần câu nào mà đi câu cá.”

Vậy mà con Sư tử Hà Đông nghe không lọt lỗ tai, kết tội “ảnh” là cái ruộng đó hoang hóa lâu ngày chẳng qua ông mượn rượu để làm nư. Có sẵn không xài mà đi mượn đỡ của ai đâu. Thiệt là nhục!



***



Tui cũng thấy nhục lây với anh bạn nhậu nầy quá! Xỉn rồi, còn vỏn vẹn cái tư cách cũng vụt vô sót rác hè nên tui tính nói ‘bái bai’ với ông thần Lưu Linh để làm người tử tế! Nhưng khổ nỗi, lóng rày cứ cuối tuần là quý độc giả thương mến thương thường hú tui đi nhậu.

Em yêu buồn bực lắm nên nói tui đi khám bác sĩ để tìm kiếm sự giúp đỡ bởi em nghĩ tui đã bị ghiền rượu quá xá quà xa rồi!“Ghiền rượu có thể chữa được bằng thuốc, bằng tâm lý. Nhưng quan trọng nhứt là tùy thuộc ý chí của anh có thực tâm muốn xa lánh thần Lưu Linh hay không?”

Em lải nhải hoài nghe nhức cả lỗ tai nên tui phải đành chiều em đến bác sĩ gia đình để khám. Mới gặp mặt tui, ổng mừng hết biết, nói: “Ông nhà báo chờ tui đóng cửa phòng mạch rồi hai đứa mình lại “pub” làm vài ly trước đã rồi mình nói chuyện sau nhe!”

Lâu lâu được Bác sĩ mời đi nhậu, hãnh diện hổng hết, từ chối sao đành.

Ngà ngà say, tui lảo đảo về nhà thì nghe em yêu lải nhải giảng “moral” vầy nè:“Đời tui ghét nhứt là hút thuốc và uống rượu. Ghét của nào Trời trao của nấy. Tui sẽ thôi; không ở với anh nữa. Tui về ở với Má tui!”

Tui tính bỏ rượu rồi đó chớ. Nghe vậy, tui bèn lục ra một chai rượu quý, Johnny Walker’s, Ông già chống gậy, nhãn xanh; bấy lâu nay giấu trong kẹt tủ ra nhậu, để mừng ngày được trả tự do!

Cheers! Mong em yêu đừng nửa chừng đổi ý nhe!

Đoàn Xuân Thu

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Chuyện Một Nhà Văn

Nguyên Nhung
(Đặc San Lâm Viên)
Nguyễn là một nhà văn. Cứ tạm gọi như thế, khi ngoài giờ đi làm việc kiếm sống như mọi người, chàng còn có thú viết. Nguyễn có một số bài đăng rải rác trên các báo địa phương, có một số độc giả ái mộ, nên nghiễm nhiên được truy tặng là nhà văn, mặc dù chàng biết muốn đạt được danh hiệu ấy, chàng còn phải viết tướt khói ra, mới được ngồi vào cái chiếu văn chương đầy chữ nghĩa.

Thôi mặc kệ, gọi như thế cho vui, mặc nhiên chàng cũng miễn cưỡng nhận là mình đứng vào hàng văn nghệ sĩ, dù chưa in được cuốn sách nào. Bạn bè có nhiều người khuyến khích chàng ra mắt sách cho có một cái gì để nhớ, nhưng do tình cờ Nguyễn cũng được biết thêm nhiều cái bạc bẽo của người cầm bút. Giai đoạn phôi thai cho đứa con tinh thần đã lắm nhọc nhằn, khi in xong cuốn sách lắm tác giả tự nhiên như bừng tỉnh một cơn mơ, nhìn những thùng sách cao nghều nghệu như núi chất lên nhau, nỗi hứng khởi ban đầu đã pha trộn cảm giác chán chường. Chưa kể nỗi đoạn trường khi bị những con buôn sách thiếu lương tâm bóc lột, khiến người viết văn còn dọ dẫm trên hành trình văn hoá lắm lúc muốn bật ngửa ra dở khóc dở cười vì sách. Tuy vậy chàng cũng nôn nao hình dung một ngày nào đó, khi đứa con tinh thần của mình chào đời, với niềm vui của lòng chàng và sự chia xẻ nồng nhiệt của bạn bè, cũng như độc giả bốn phương.

Ngày xưa, lúc còn là sinh viên, Nguyễn cũng sáng tác khá nhiều truyện ngắn, ông thầy học cũng từng khuyến khích chàng bằng câu: "Dù chỉ có một người đọc và hiểu mình, thế cũng đủ khi ta có một người tri âm, tri kỷ”. Điều ấy đúng, nhưng không đúng với hoàn cảnh của chàng hiện tại, đồng lương thì eo hẹp, chỉ đủ lo cho gia đình mà nghĩ đến chuyện in sách, với vợ chàng đúng là chuyện "ruồi bu". Chàng cũng có nghĩ ngợi, bỏ mấy ngàn đồng bạc in một tuyển tập truyện ngắn, bạn bè khua chiêng đánh trống lên, may ra trong buổi ra mắt sách chàng tiêu thụ được một mớ, còn bao nhiêu vác về nhà nhìn nét mặt cau có của vợ, chàng lại chịu không nổi.

Thế là Nguyễn co vòi trước cái mộng làm nhà văn, để có chút tên tuổi với thiên hạ. Đối với chàng, viết lách là thú tiêu khiển tao nhã, giải tỏa những uẩn ức của lòng, chia xẻ cảm nhận về cuộc sống với những người xung quanh. Con người dù có thành công bao nhiêu, thế nhưng đến một tuổi nào đó cũng cảm thấy cần có một góc riêng sống thật với mình, không gì hay hơn là làm bạn với âm nhạc, văn chương, sách vở, có dăm người bạn đồng điệu để mà trao đổi, hạnh phúc nhất cho cái tuổi không còn trẻ trung và sức lực để tranh đua với đời nữa.

Sang Mỹ, trôi giạt vào khu chung cư đa số là người Việt Nam, Nguyễn cảm thấy dễ chịu như chàng đang sống trên mảnh đất quê hương. Khu chung cư nằm trên ngọn đồi thấp, một con dốc thoai thoải xuống dòng suối um tùm cây lá, ven bờ là con đường mòn có dấu chân người, Nguyễn biết đám trẻ con vẫn hay la cà đi hái những trái dâu dại.Thỉnh thoảng, trong những buổi sáng rảnh rỗi, Nguyễn thơ thẩn một mình dọc theo bờ suối. Mặt nước phẳng lặng nổi lềnh bềnh những chiếc lá khô, Nguyễn tưởng đấy là những chiếc thuyền con, đã chở hồn chàng ngược về dĩ vãng, nơi có dòng sông êm đềm chốn quê nhà.

Đúng là văn sĩ có khác, vợ chàng lắm lúc rất bực mình vì cái tật đãng trí và vớ vẩn của chồng. Chỉ cần đi dọc theo con suối ấy, Nguyễn cũng có vô khối cái nhìn về sự sống đang hiện diện quanh chàng. Lũ chim chóc chuyền cành hót véo von trên cành dâu chín màu tím thẫm, vài con bướm lượn lờ trên những bông hoa dại, một con cá nhảy lên đớp mồi trên mặt nước lao xao, tất cả như cùng chàng tận hưởng cái đẹp của thiên nhiên. Chàng thấy dễ chịu quá, cần gì phải đi đâu xa, cần gì phải tụ họp những chốn đông người, người ta cứ ao ước đi đến nơi này chốn nọ mới hưởng hết sinh thú của cuộc đời. Ở đây, ngay tại chốn này, khi lòng chàng thanh thản thì chàng đã được hưởng hết cái mỹ miều của trời đất, nó đâu hẹp hòi gì và nào của riêng ai, cứ để hồn thênh thang với tám phương, bốn hướng.

Khu chung cư chàng ở thuộc loại cũ kỹ lâu đời, người chủ Mỹ đã mừng rỡ khi đẩy được vào tay những người di dân Việt Nam, lại được một số tiền rất khá. Khi lọt vào tay những người chủ Việt Nam, bộ mặt của khu chung cư đổi sắc, từ vẻ hoang tàn của khu nhà dột nát, bỗng dậy lên sức sống dưới bàn tay khéo léo của những người Việt cần cù, chịu thương chịu khó.
Đằng trước và đằng sau mỗi nhà là một khoảng đất trống sát đường đi rộng chỉ độ một mét, vậy mà những bà cụ già, những người phụ nữ lớn tuổi không đi làm, đã chịu khó vun vén để trồng những khóm hành ngò, rau thơm, những giàn bầu bí, khổ qua, đậu ván. Nguyễn hay lang thang đi dạo quanh xóm, nhìn mảnh vườn rau quê hương xa vời vợi trong tâm tư chàng, đang được những bàn tay của bà con lối xóm gây dựng lại trên mảnh đất xứ người. Nó thể hiện nụ cười của cả một dân tộc hiền hòa, khi vợ chàng thiếu một nắm húng quế cho tô phở, thiếu quả ớt cho bát nước chấm, lúc chàng khoan khoái thưởng thức món thịt bò quấn lá lốt, phết mỡ hành và đậu phọng giã nhỏ, bà hàng xóm đã cho vợ chàng những thứ rau cần thiết.
Sự thật, thỉnh thoảng họ cũng có cãi nhau, chén bát còn có lúc xô huống gì con người có tiếng nói. Họ hay phàn nàn nhau về chỗ đậu xe, khi lũ trẻ có bạn bè từ nơi khác tới cứ đậu bừa bãi lên "parking" của người khác. Họ rầy rà nhau một lúc, cũng lời qua tiếng lại một hồi, nhưng khi lắng xuống lại lý luận "ba xu" một chút rằng cái chỗ ấy có phải của ông của cha gì mà giữ, lại mất đi tình hàng xóm bấy lâu nay.

Đa số đàn ông trong xóm đi làm, còn phụ nữ ở nhà giữ trẻ, nấu cơm. Nguyễn thích nghe bà già người hàng xóm miền Trung nói lối, nó ngộ nghĩnh và đậm đà màu sắc thi ca dân tộc, một bà cụ miền Nam chỉ thích tuồng cải lương, xem những phim có hậu như Bao Công xử án Quách Hòe, Phạm Công Cúc Hoa, Đời cô Lựu v.v... Đại loại các bộ phim phải có chung, có thủy, có tình người. Họ cũng đọc sách báo, nhưng có nhiều nhà văn viết theo lối mới, khó hiểu, từ ngữ cầu kỳ kiểu cách, Nguyễn cũng chưa hiểu nổi họ nói gì thì đám dân mộc mạc ở đây cần gì biết cho mất công. Ngay như là vợ Nguyễn, nàng cũng chỉ thích đọc những bài đơn giản, trắng ra trắng, đen ra đen, không nhuôm nhuôm mờ mờ ảo ảo, bởi vậy mà lối viết của chàng cũng ào ào, chằn chặt như tiếng dao băm trên thớt, như tiếng bát đũa khua lanh canh, xủng xoảng của trẻ con háu đói trước mâm cơm.

Đám trẻ ở đây có mòi nhiễm lối sống Âu Mỹ, thích sự yên tĩnh của những căn nhà riêng biệt đóng kín cửa, họ cố làm ăn và lôi cả nhà ra khỏi cái khu chung cư nghèo nàn, nhếch nhác. Chỉ tội nghiệp những người lớn tuổi, cũng phải chạy theo đám con cháu để hòa nhập vào xã hội phương Tây, họ trở thành những cái bóng mờ bên lề cuộc sống. Suốt ngày, lũ nhỏ đi học, đi làm, các cụ luẩn quẩn, loanh quanh trong căn nhà đóng kín cửa, tội nghiệp biết bao. Từ ngày có mấy Đài Phát Thanh Việt ngữ, các cụ cao niên và người Việt trung niên như bắt được bạn vàng lâu ngày không gặp, nghe như trong quãng đời hiu quạnh trên xứ người, thoang thoảng chút tình quê trong tiếng nói của người đồng hương. Thỉnh thoảng, Nguyễn gặp lại những người hàng xóm cũ, họ trở về khu chung cư cũ kỹ, nụ cười móm mém nở trên khuôn mặt hân hoan vì cảm động, họ thú thật với chàng rằng, chỉ ở nơi này họ mới thấy tình quê hương, mới cảm thấy ấm lòng để sống nốt những ngày còn lại.

Ngay như Nguyễn cũng thế, một lần chàng đi thăm bạn bè ở các tiểu bang xa, dù chỉ có hai tuần lễ mà lúc về nhà, gặp lại những khuôn mặt hàng xóm quen thuộc, nhìn giàn mướp xanh trĩu quả, ngắm cây cải lên ngồng với con bướm lượn, nghe tiếng người xướng ngôn viên đọc bản tin chiều, tự nhiên chàng xúc động quá. Chàng có cảm tưởng như xa quê hương đã lâu, nay trở về mái nhà xưa, chàng vô tình có được cái cảm xúc dạt dào của đứa con xa nhà, nay trở về với mẹ.

Chàng đi làm một tuần năm ngày, hai ngày nghỉ ở nhà viết lách. Chàng không có mặc cảm khi nghĩ mình chỉ là mầm cây non nớt giữa một rừng văn học ngát hương, bởi vì chàng chỉ dùng văn chương để trang trải nỗi lòng, kể lể chuyện đời buồn vui, không một mục đích nào khác.

Thằng con lớn nhân ngày Father’s Day, mua tặng bố cái máy computer để sáng tác cho tiện, vì mỗi khi nhìn bố gò lưng ra viết lách một cách khổ sở, xoá xoá viết viết thấy khổ thân gì đâu. Chiếc máy để trong căn phòng nhỏ đóng kín cửa, cố tạo sự yên tĩnh để chàng sáng tác, vậy mà chàng không viết được. Chàng công nhận mình quê mùa quá, không quen xử dụng máy móc hiện đại. Trong căn phòng đóng kín, tiếng máy lạnh chạy êm ru, chiếc màn hình trắng xóa, óc chàng cũng trắng xóa, chàng cố gắng viết nhưng chữ nghĩa hình như vô hồn, thế là chàng chịu thua.

Bây giờ thì Nguyễn hiểu rồi, người ta phải tạo cho tâm hồn một tư thế thảnh thơi thoải mái thì mới viết cho ra hồn được. Chàng chỉ cần, một tập giấy, một cây bút, một khung cửa bên ngoài là khoảng trời xanh, có những con chim đậu trên sợi giây điện như những nốt nhạc trong buổi hoàng hôn, có tiếng lá khô lạo sạo đuổi nhau trên mặt đường, tất cả những thứ ấy mới là linh hồn của bài viết, chàng chỉ có công tô điểm lên thôi.

oOo

Nguyễn chưa phải nhà văn chuyên nghiệp, vậy mà không biết tại sao Nguyễn thích viết, "tiền oan nghiệp chướng" tự kiếp nào, Nguyễn hiếm khi thấy một nhà văn hoàn toàn sung sướng, không đói rách thì cũng lận đận, cái kiếp con tằm nhả tơ, hay “vắt từ tim và từng đêm mải miết, viết cho đời xương máu mới nên câu". Việc ấy, mấy người đã biết, một tác phẩm nâng niu, gọt giũa chỉ đọc vèo một cái là xong, có người đọc để giải trí, có người cũng nghĩ ngợi đôi chút rồi quên.

Sự nghiệp viết lách của chàng bắt đầu từ những lá thư, rồi điện thoại đấu hót với bạn bè, nhưng nói mãi Nguyễn có cảm tưởng mình chưa nói gì cả, chàng nghe được cả tiếng ngáp, cái hững hờ của người nghe, ở đây tình cảm càng ngày càng hiếm hoi, người ta phải chạy theo cơm áo, thời gian bỗng trở thành ngắn ngủi.

Nguyễn viết, những lá thư dài năm, bảy trang giấy, chẳng biết người ta có đọc không nhưng ít khi nào chàng nhận được hồi âm, không chừng người ta còn bảo chàng lẩm cẩm. Sau đấy, có người thương hại bảo chàng viết văn đăng báo, rồi có những tờ báo đăng bài của chàng, từ đấy, Nguyễn có cái vui của người cầm bút, rồi biết thêm rằng ngoài nhu cầu cơm ăn, nhà ở, công danh, sự nghiệp, người ta vẫn cần có một món ăn bồi bổ cho tinh thần.

Lúc bắt đầu, chữ nghĩa còn thập thò e lệ, sau quen dần, như cô con gái lần đầu hẹn hò với tình nhân còn thẹn thùng, luống cuống thừa tay thừa chân, nay đã biết tận hưởng cảm giác đậm đà hương vị yêu đương.

Đề tài quanh quẩn chuyện trong nhà, cha mẹ, anh em, bạn bè lần lượt đi vào tác phẩm của chàng, Nguyễn có cái thiết tha chân thật khi chàng dùng ngòi bút để hồi tưởng những bóng dáng thân yêu trong đời chàng, để chàng thực lòng đã chảy nước mắt khi nhớ đến những kỷ niệm rất đơn sơ, nồng ấm thời thơ ấu. Chuyện của chàng không có những pha mê ly, hấp dẫn, thế nên khi có người đề nghị chàng viết truyện tình thì Nguyễn bối rối lắm. Nhìn quanh xã hội này, Nguyễn không tìm ra chất liệu để viết, thời buổi bây giờ mọi người đều có dư thừa tự do và điều kiện để yêu, Nguyễn đọc nhiều truyện tình yêu của xứ này, chàng biết tình yêu đơn giản như người ta ăn một cái kẹo, một cuộc hẹn hò trên bãi biển, đùa giỡn với sóng nước và nắng ấm, sau đó đưa nhau vào khách sạn, vài giờ sau chia tay, không ngậm ngùi, không khóc lóc.

Cuối cùng thì chàng nghĩ ra được một điều thật giản dị, văn chương không cần màu mè hoa lá cành, không cần tình tiết éo le, chẳng có mở mà chẳng có thắt. Nó chỉ là chuyện đời thường viết cho người khác đọc, như mình đang rủ rỉ kể những chuyện bình thường nhất, nó là của mình mà cũng có thể là chuyện của người, để đọc xong thì ai đó cũng có thể thở phào nhẹ nhõm, bâng khuâng hay mơ mộng đến những ảo ảnh mù xa trong dĩ vãng.

Thế rồi Nguyễn cũng cố thuyết phục vợ để được chấp thuận trong vui vẻ, cho chàng ra đời một tác phẩm đầu tay. Ngày hai vợ chồng có đứa con đầu lòng, chàng cảm động như thế nào thì nay nhìn đứa con tinh thần của mình Nguyễn lại có được cái cảm giác y hệt như vậy. Đối với chàng, những đứa con được sinh ra bằng sự kết hợp máu thịt của cha mẹ, dẫu đẹp hay xấu chàng đều thương yêu như nhau, riêng tác phẩm của mình, Nguyễn cũng vẫn say sưa đọc đi đọc lại nhiều lần, mỗi bài viết đã chuyên chở ít nhiều tư tưởng và những kỷ niệm của chàng cho từng nhân vật của truyện.

Dĩ nhiên đâu phải Nguyễn đã có được những phút giây sống hoàn toàn với đứa con tinh thần chàng yêu thích. Vợ chàng có thể đặt nhiều dấu hỏi về một nhân vật tưởng tượng của chàng, mà nàng cho là nhất định đấy phải là một hình bóng của dĩ vãng. Chàng đã phải trả lời nhiều câu hỏi nghe thật ngớ ngẩn mà đầy những cạm bẫy, để rồi có khi nhiều lúc chàng bần thần đến phát cuồng khi thấy mình bị tước đoạt gần hết điều mà người ta hay gọi là tự do tư tưởng. Đấy chỉ là những vui buồn lẻ tẻ trong nghiệp cầm bút, trong một phạm vi nhỏ hẹp là gia đình, còn với thế giới bên ngoài chàng cũng cảm thấy sự dè dặt của mình khi không dám viết thật những gì mình nghĩ. Ôi! Đời mắc chi cái nghiệp khổ như vậy, vậy mà vẫn say mê không dứt được.

Nếu mai kia khi về già, cuộc đời sẽ trống rỗng khi nhìn mấy bức tường trắng toát, hay loanh quanh trồng tỉa mấy chậu hoa chậu kiểng, ngó mông lung một chiếc lá rơi trên khoảng sân cỏ úa, điều ấy khiến Nguyễn vẫn thú vị với cái "khổ" của nghiệp cầm bút mà Trời đã oái oăm gửi cho chàng.

Nguyễn vẫn say sưa với cái cõi của mình, chập chờn những hình bóng của từng nhân vật trong khi ăn, lúc đi ngủ. Họ là những con người không có thật mà lại có sức mang đến cho chàng những rung động lạ kỳ. Nguyễn có thể đi theo họ đến những dòng sông xa xôi nào đó, ngồi với họ bên một bờ sông mà lắng nghe tiếng sóng vỗ óc ách vào bờ. Đi theo họ xuống thung lũng mù sương của Đà Lạt năm xưa, nghe họ tỉ tê thương nhớ một thời đã mất, và kỳ lạ rằng chàng cũng đã rưng rưng đến phát khóc khi cho nhân vật đau khổ vì một mối tình tan vỡ. Còn nhiều, nhiều nữa, những mối tình thời chinh chiến, những mất mát thua thiệt đớn đau của cuộc đời, những nhớ nhung mảnh vườn đầy bóng nắng lúc sang Xuân ở quê nhà. Đó phải chăng là món quà của Thượng Đế đã ban cho chàng, không cần tiền bạc mà chàng vẫn có thể để hồn lang thang đến nhiều nơi chốn đầy kỳ thú trên trái đất.

Nguyễn vẫn sống đạm bạc, bằng lòng với sự eo hẹp chút đỉnh của vật chất mà lòng vẫn không hề cảm thấy thiếu thốn, không mơ tưởng đến một thế giới xô bồ của bạc tiền, danh vọng. Sống như vậy nhưng lúc nào chàng cũng cảm thấy đời dư thừa niềm vui, vì ngòi bút đã giúp chàng đi chu du đến nhiều vùng trời đầy những đềm êm và kỳ thú của văn chương, một thế giới không thể mua được bằng tiền vậy.

Nguyên Nhung
(Đặc San Lâm Viên)

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Thầy Giáo Cũ và Lá Cờ Vàng
Nguyễn Duy-An
Tôi bàng hoàng xúc động thật lâu khi nhận được điện thoại của một người bạn học gọi từ Pennsylvania báo tin thầy cũ của chúng tôi là thầy N. mới từ Việt Nam qua Mỹ du lịch và thầy rất mong được gặp lại tôi. Thầy tôi đang ở nhà của một người cháu ở vùng Tây Nam tiểu bang Virginia , cách nhà tôi gần 3 giờ lái xe. Tôi gọi điện thoại xuống để chào thầy và hẹn cuối tuần sẽ xuống đón thầy về nhà nhưng thầy bảo cứ để thầy đi xe lửa lên Hoa Thịnh Đốn rồi đón thầy ở nhà ga, và “đó là mệnh lệnh” nên tôi đành phải vâng lời.
Sau khi nói chuyện điện thoại với thầy, tôi đã ngồi thẫn thờ cả tiếng đồng hồ tưởng nhớ lại kỷ niệm hơn bốn năm về trước, lúc trở về Việt Nam thăm gia đình, tôi đã hỏi thăm và tìm cách đến thăm Thầy sau gần 30 năm cách biệt. Nếu không có một người bạn học dẫn tới, chắc chắn tôi không thể nào nhận ra thầy cũ của mình... Tôi chỉ nấc lên được một tiếng “thầy” rồi ôm chầm lấy thầy mà khóc òa trong tức tưởi! Thầy tôi đó, một ông lão gầy gò ốm yếu, tóc chỉ còn lơ thơ vài sợi trắng như tuyết, và vẫn chưa được “trả quyền công dân” sau bao nhiêu năm bị tù đày vì đã làm thầy của bao nhiêu người “quyền cao chức trọng” trước năm 1975. Thầy tôi chỉ là một nhà giáo dạy trường tư nhưng đã bị giam cầm và quản chế lâu hơn rất nhiều sĩ quan và công chức khác vì lúc nào thầy cũng “ngẩng cao đầu và đứng thẳng lưng” để không mất đi tư cách của một nhà giáo. Thầy tôi đã quyết định không đi Mỹ theo diện đoàn tụ, cũng chẳng nộp đơn theo diện H.O. , chỉ muốn đi du lịch một lần cho biết trước khi về với ông bà tổ tiên.
Sáng Thứ Bảy tôi thức dậy rất trễ vì tối hôm trước ngồi chuyện trò với thầy mãi tới gần 2 giờ sáng mới đi ngủ. Vừa bước xuống nhà tôi đã thấy thầy đang ngồi uống trà và đọc báo ở phòng khách. Nghe tôi chào, thầy tháo cặp kiếng lão rồi nói:
- Đúng là “đi một ngày đàng học một sàng khôn” con ạ. Mới đọc vài tờ báo đã học được nhiều chuyện hay về đời sống của người Việt mình bên Mỹ… Con uống trà hay cà phê? Vợ con đã để sẵn phích nước sôi, hộp trà, và cà phê trên bàn. Chắc thầy làm ồn nên con giật mình hả?
- Dạ không ạ. Bình thường con dậy sớm lắm. Thầy dậy lâu chưa ạ?
- Mỗi đêm thầy ngủ có vài ba tiếng thôi. Con mệt cứ lên ngủ tiếp đi.
- Con ngủ thẳng giấc rồi thầy ạ. Để con pha vội ly cà phê rồi chở thầy ra Eden chơi. Gần 10 giờ sáng rồi, thầy trò mình ra trễ khó tìm chỗ đậu xe lắm... Buổi chiều vợ chồng con và các cháu sẽ đưa thầy lên DC chụp hình và thăm Nhà Trắng, Quốc Hội, Tháp Bút Chì, Viện Bảo Tàng và những đài kỷ niệm khác.
- Tuỳ con. Nhưng thầy không muốn gia đình con phát bịnh vì phải lo tiếp đãi thầy.
* * * * *
Trong lúc chờ vắng xe để quẹo trái vào “Cổng Tam Quan” trước trung tâm Eden , thầy tôi hỏi lớn:
- Đường này họ đặt tên là “Đại Lộ Sàigòn” hả con?
- Dạ. Hồi đầu năm Thành Phố Falls Church cho phép cộng đồng Việt Nam để thêm tên “ Saigon Boulevard ” song song với tên đường chính thức là “ Wilson Boulevard ”. Còn bên trong khu Eden , tất cả các đường ngang dọc đều mang tên Việt Nam hết đó thầy.
- Người Việt mình bên này hay thật!
- Mai mốt thầy sang California hay Texas sẽ thấy nhiều trung tâm lớn hơn Eden nữa, và sinh hoạt người Việt dưới đó còn mạnh gấp mấy lần trên này thầy ạ.
Tôi vừa quẹo xe vào cổng, thầy tôi đã nghẹn ngào thốt lên:
- Ôi! Đẹp quá. Lá cờ… Lá Cờ Vàng… Ôi! Mấy chục năm rồi… Con nhớ chụp cho thầy mấy tấm hình dưới cột cờ nhé.
- Dạ… Mà thầy không sợ gặp rắc rối lúc trở về Việt Nam sao? Mấy người “du lịch” khác họ sợ liên luỵ lắm nên…
- Ăn thua chi con. Ai sao kệ họ. Phần thầy đã nếm đủ rồi, chẳng có gì phải sợ hãi! Con lái xe tới gần chỗ cột cờ đi.
- Dạ… nhưng phải đứng xa xa mới chụp được thầy ạ. Cây cột cờ cao quá.
- Ừ nhỉ. Mà con nhớ chờ lúc gió nó bay bay rồi mới chụp cho đẹp nhé. Nhìn hai lá cờ Việt – Mỹ tung bay trong gió mà thấy lòng quặn đau con ạ. Ôi! Mấy chục năm rồi!
Tôi nghe giọng thầy nghèn nghẹn như không muốn thoát ra khỏi đầu môi. Tôi biết thầy mình đang xúc động lắm. Hình như đôi mắt của thầy cũng long lanh ngấn lệ…
Sau khi chụp mấy tấm hình với nhiều góc độ khác nhau, thầy cầm tay tôi nói nhỏ:
- Con đi với thầy tới chỗ cột cờ nhé.
- Dạ.
Tôi theo thầy đến bên cột cờ. Thầy tôi trịnh trọng đưa tay sờ vào cột cờ như một cái gì linh thiêng lắm, rồi từ từ ngửa mặt, nheo mắt ngắm hai lá cờ đang tung bay phần phật dưới nắng ban mai. Mãi một lúc lâu thầy mới quay lại thầm thì bên tai tôi:
- Thầy trò mình đứng im cầu xin cho những người đã hy sinh bỏ mình vì quê hương con nhé.
- Dạ. Một phút mặc niệm phải không thầy?
- Đúng. Đã có hàng trăm, hàng ngàn người bỏ mình dưới Lá Cờ này đó, con còn nhớ không? Ta bắt đầu cầu nguyện cho họ nhé.
- Dạ.
Sau mấy phút im lặng dưới cột cờ, tôi nhận ra sự thay đổi khác thường trên khuôn mặt già nua vì tuổi tác của thầy. Tôi biết biết chắc chắn đằng sau đôi mắt u uẩn đau buồn của thầy còn chất chứa bao nhiêu tâm sự không biết giãi bày cùng ai. Tôi đưa thầy dạo qua một vài cửa tiệm nhưng thầy tôi cứ lững thững đi theo như một kẻ mất hồn! Tôi dừng lại bên “quầy báo” trước cửa tiệm Phở Xe Lửa. Mặc dầu “người bán báo” hôm nay không phải là “chú thương phế binh” quen biết nhưng tôi cũng lên tiếng theo thói quen:
- Chú cho cháu xin mỗi thứ một tờ.
- Có ngay. Có ngay. 15 Đô tất cả.
Thầy cầm tay tôi giặc giặc:
- Ở nhà có mấy tờ Hoa Thịnh Đốn, Phố Nhỏ… rồi đó con. Sáng nay thầy đã đọc.
- Dạ. Không sao thầy ạ. Con mua ủng hộ các chú gây “quỹ thương phế binh”.
- Ồ. Quý hóa quá!
Chờ lúc tôi nhận lại tiền thối và xếp báo xong xuôi, thầy tôi trao cho “chú bán báo” tờ giấy 5 Đô và nói nhỏ:
- Ông cho tôi góp mấy đồng nhé.
- Dạ… Dạ… Cám ơn. Xin lỗi ông đây là…
Tôi đỡ lời:
- Thưa chú đây là thầy cũ của cháu mới từ Việt Nam qua chơi.
Không để tôi nói thêm, thầy tôi lên tiếng:
- Tình chiến hữu! Tình chiến hữu! Đẹp thật! Đẹp thật! Các ông làm hay quá.
Rồi quay sang tôi, thầy tiếp tục:
- Con chụp cho thầy một tấm hình với ông anh đây. Con chụp cẩn thận để lấy hết hình cái sạp báo nhé.
- Dạ.
Không biết thầy tôi và “ông bạn mới” to nhỏ những gì mà chú ấy phải chạy nhờ người trông dùm sạp báo để đi theo thầy tôi chụp chung một số hình dưới “sân cờ” với những nụ cười thật rạng rỡ trên khuôn mặt của cả hai người. Sau đó, thầy tôi nhất định không chịu vào tiệm ăn sáng, cứ nằng nặc bắt tôi chở về nhà để đọc báo và “con đi in ngay cho thầy mấy tấm hình!” Cũng may vợ và các con tôi đã dậy, và đang chuẩn bị bữa trưa trước khi chở thầy đi thăm thủ đô Hoa Thịnh Đốn.

* * * * *
Thầy kính yêu,
Bao nhiêu năm ở Mỹ, hầu như tuần nào con cũng ghé Eden , và đã hơn một lần con đậu xe sát bên cột cờ, nhưng chưa bao giờ con xúc động như mấy phút cùng thầy cầu nguyện dưới cột cờ buổi sáng hôm đó. Đúng như cha ông đã nói — “không thầy đố mầy làm nên” — con đã quên mất ý nghĩa linh thiêng của Lá Cờ nếu như con không được một lần chứng kiến “cảnh đoàn viên” của thầy và Lá Cờ Vàng ở Eden sau bao nhiêu năm cách biệt. Mãi mãi con vẫn là đứa học trò bé nhỏ của thầy. Thầy không những đã dạy con qua sách vở và bài giảng mà còn qua chính gương sống của thầy. Con cầu xin để bài học về “Lá Cờ” không phải là bài học cuối cùng thầy dạy cho con.

Nguyễn Duy-An

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

không muốn điền vào chỗ trống
văn

phạm ngũ yên

Anh mua ly cà phê đen và trả tiền không chờ tiền thối từ cô gái thu ngân. Trong khi chờ pha chế anh tìm quanh quất một chỗ ngồi. Thành phố biển buổi sáng chưa kịp mặt trời nhưng quán đã đầy người. Đúng là dân Việt Nam rất hưởn và ngồi quán xá bất kể mọi thời gian, mọi thời tiết. Anh cố tình tìm một chỗ vừa ngồi uống vừa có chỗ cấm điện cho cái laptop đem theo. Bên ngoài có nhiều chỗ còn trống, nhưng lại không có chỗ để cấm điện. Anh đứng tựa lưng vào tường, gần lối ra vào Restroom cầm ly cà phê trong tay và chờ đợi. Không gian êm ả đến nỗi anh nghe rõ tiếng nhạc từ một chiếc loa bắt dính trên trần, vọng xuống. Quán cà phê Starbuck ở Việt Nam cũng trình bày giống như ở Mỹ nhưng nhân viên phục vụ làm việc hơi có vẻ tùy hứng. Và khách hàng cũng chưa quen với việc xếp hàng- hay có xếp hàng cũng chưa được nghiêm chỉnh vì trong lúc đợi đến lượt mình, họ cũng rời chỗ đứng đến trước quầy thức ăn tìm kiếm một món nào đó và nói năng không cần đè nén những âm vọng.

Hôm nay là ngày thứ 4 anh về Việt Nam. Và là ngày thứ nhì anh ở Vũng Tàu. Đứa cháu gái của anh có ý muốn anh về dự đám cưới của nó. Nó nũng nịu trên phone, lúc gọi qua: “Lâu quá, cậu không có dịp về ăn đám cưới của một đứa cháu nào hết. Lần này về với con đi cậu…”

Và anh đã cầm lòng không được nên nói với “mùa xuân” của anh là anh phải về VN, vì dù sao cũng là tình máu mủ. Vé máy bay mua trong dịp On Sale nhưng hãng hàng không bắt buộc anh phải đi và về trong vòng hai tuần. Với anh, bao lâu cũng được, nhưng với Mạc Lan, những ngày cuối năm Dương Lịch và cận Tết Việt Nam là những ngày tiệm nail của nàng bận bịu nhất.

Anh vừa mới chia tay cùng Mạc Lan để ra phi trường một mình, gió tháng chạp thổi vu vơ trên đôi mắt buồn hiu của nàng. “Qua đó đừng đi lang thang nhiều nhen. Có gì anh chết với em…” Nàng dặn.

Anh nói, với tấm lòng không biết nên vui hay buồn và có bao nhiêu phần trăm xác tín:

- Anh biết mà. Hãy tin ở anh….

Làm sao để dỗ dành một người yêu mình đừng dậy bão trong lòng khi phải rời xa một thói quen hay quay lưng lại một cảm giác thân thuộc. Giống như bắt một đứa bé phải tháo bỏ đôi giầy ra khỏi chân để đi chân không ra đường. Mạc Lan hôn anh vội vàng và nổ máy xe. Con mắt lóng lánh đàng sau kiếng xe có khả năng làm bung rạc những rào chắn hai bên lối ra cổng phi trường. Chiếc xe bỏ lại sau lưng những bụm khói tức tửi. Buổi chiều tàn rồi mà ngày vẫn còn thao thức.



Khi anh nhìn lui, thì người đàn bà từ trong Rest room đi ra. Có điều gì đó khiến anh sững sốt. Những chiếc ru băng màu xanh đỏ và các trái cầu lấp lánh từ một mùa lễ vẫn còn treo dọc tường. Giống như những dòng lệ ngại ngần lăn xa. Nhưng nụ cười của nàng đầy sức sống và cũng lấp lánh không kém.

Thời tiết se lạnh và ngụm cà phê làm ấm cả một tháng giêng. Chiếc khăn choàng nơi cổ người đàn bà mỏng và nhẹ tênh đến nỗi nó rơi xuống khi đi ngang qua chỗ anh đứng mà nàng không hay. Anh cúi xuống nhặt lên, và nói, gần như đủ cho một mình nàng nghe:

- Chiếc khăn của cô vừa đánh rơi…

Mùi nước hoa Friday Night vừa bay lên rồi chạy trốn dưới những bàn ghế yên ả.

Nàng quay lại. Nụ cười làm giản ra một góc đời vốn đang rất vội vàng và chật hẹp ngoài kia. Ly cà phê của anh dễ chừng đã nguội.

- Rất cám ơn và nếu ông không tìm thấy chỗ trống, có thể đến ngồi ở bàn tôi.

Nàng ngước mắt nhìn về phía hàng rào phân chia giữa thềm và quán. Một cây bàng già nua chưa kịp có lá xanh. Có vài chậu kiểng đang nở một loại hoa gì đó, không rõ. Mặc cho thời tiết giá lạnh, hoa vẫn bình thản vươn mình. Xa hơn nửa biển đang xanh thẫm màu nỗi nhớ. Nơi cuối đường chân trời, là dáng nằm của núi.

- Cô có phiền nếu tôi ngồi chung? Tôi sẽ ngồi rất lâu vì không có việc gì làm sáng nay.

- Tôi ngồi một mình.

Anh kéo chiếc túi có đựng laptop và cầm ly cà phê tới chỗ nàng. Trên bàn chưa có biểu hiệu gì là nàng đã uống một thức gì đó. Chỉ có một tờ tạp chí hình như để giữ chỗ ngồi.

- Cô uống gì chưa?

- Tôi sẽ uống sau một tiếng đồng hồ nửa.

- Sao vậy?

- Tôi chờ một người bạn. Nhưng biết rằng anh ấy không đến. Hoặc không bao giờ đến… Nhưng có đến hay không, tôi vẫn ngồi tại đây, mỗi buổi sáng, suốt trong tháng này, ngoại trừ ngày chủ nhật.

Người đàn bà nói một hơi. Những lời nói óng chuốt và nhẹ hơn tiếng gió. Và anh nhận ra từ những âm vực đó là nỗi buồn té vào nhau sóng soài. Người ta nói chỉ cần nhìn vào mắt một người là biết người đó đang vui hay buồn, đang hạnh phúc hay bất hạnh. Mọi điều trong đời có thể phủi bỏ, hay đổi thay, nhưng những gì lưu lại trong đôi mắt sẽ vĩnh viễn nằm lại. Người đàn bà cho tới giây phút này, vẫn gieo trong lòng anh sự nghi hoặc, nhưng chắc chắn cũng làm anh muốn khám phá. Nhiều khi trước một nhan sắc, chúng ta hoặc để lòng lặng yên, hay buộc lòng phải đặt dấu hỏi. Đàng sau sự nồng ấm trái tim có vết thương nào đang rát bỏng???

- Như vậy thì tôi lại càng không nên ngồi lâu ở đây…

- Không sao. Chắc chắn là anh ấy không đến. Có nhiều phần trăm là… tôi sẽ uống cà phê một mình…

Và dường như thấy anh ngạc nhiên, nàng từ tốn tiếp:

- Tôi mới vừa nhận một thùng quà từ bên Canada gởi về. Và nếu tôi không chủ quan, thì thùng quà đó thay cho lời chào tạm biệt, rằng mùa xuân này anh ấy không về Vũng Tàu.

Đột nhiên nàng hóm hỉnh: “Giống như… của đi thay người vậy mà…” Hai năm trước anh ấy đều có về và đem quà cho tôi. Quán này là chỗ hẹn.

- Nhưng đó chỉ là dự đoán? Anh ngắt lời nàng.

- Chính vì dự đoán nên tôi vẫn ngồi tại đây mỗi ngày, mua một cái gì nhâm nhi đồng thời mua luôn hi vọng.

- Tôi thành tâm hi vọng cùng với cô, rằng… “của sẽ đến trước và người sẽ đến sau”…

- Tình yêu giống như mây trời. Nó đến rồi đi, không ai níu kéo được. Hân hạnh được làm quen với ông. Một ngày rất trong trẻo…

- Nhưng còn tại sao ngoại trừ ngày chủ nhật…?

- Ngày đó tôi phải đi chùa…

Bây giờ anh nhìn kỹ nàng. Trước mặt anh người phụ nữ khoảng ngoài 40, nhưng chắc còn lâu mới đến 50. Mái tóc ôm sát hai bên thái dương và được cột túm lại bằng một giây vải màu hồng. Một cái nón che chỉ có vành phía trước thu gọn đuôi tóc phía sau thành một cái đuôi sóc nhỏ. Khi nói chuyện, đuôi sóc cũng chuyển động theo. Những người như vậy rất can đảm trong tình yêu và tình đời cũng tự tin không kém.

Biết đâu nàng đang có một tình yêu vừa nứt nẻ men say. Hay một trái tim đang vỡ òa màu trăng úa?

Khi người ta qua cái tuổi 40, sẽ không có một tình yêu chập chờn như một cánh bướm và sẽ bay hẳn ra ngoài những mơ mộng. Và tuổi này, người đàn bà rất sợ ngồi một mình.

- Ông có việc gì bận phải làm cứ làm nhe. Nàng nói.

- Thật sự tôi chỉ dùng laptop để đọc tin tức và viết một chút gì đó. Nhưng sáng nay tôi thấy không cần thiết. Được biết cô trong hoàn cảnh này cũng là một tin tức tốt.

- Ông ở đâu nước ngoài?

- Sao cô nói vậy?

- Thấy dáng điệu của ông. Và cách xữ dụng thì giờ của ông… Nó không giống như người đia phương.

- Tôi ở Mỹ. Về để ăn đám cưới của con cháu ở Vũng Tàu.

- Thích thật. Bao lâu rồi ông mới về lại?

- Lần đầu tiên, và cũng lần đầu tiên không có vợ tôi bên cạnh. Một loại Việt kiều hồi hộp. Anh nói thêm.

- Vợ ông cũng can đảm đấy chứ? Vì để ông về Việt Nam một mình.

- Cũng không phải can đảm vì không có sự chọn lựa. Cô ấy phải đi làm.

- Đã đến lúc tôi phải đi mua thức uống…

- Tôi có thể mua cho cô được không? Tôi cũng muốn refill phần của mình.

- Nếu ông thấy không biết làm sao để xài cho hết tiền của mình thì tùy ông. Nhưng xin được cám ơn trước.

- Tôi chỉ muốn đền bù lại chuyện cô cho tôi một chiếc bàn sáng nay. Chớ không phải định điền vào chỗ trống…

- Tôi cũng đâu muốn điền vào chỗ trống của ai.

- Cô uống gì?

- Một cái cappuccino đi. Tôi không quen uống cà phê đen. Nàng nói. Vừa mất ngủ vừa đắng. Đắng một lần thổi cũng đủ rồi.

Anh rời chỗ ngồi đến mua thức uống cho nàng và đồng thời refill ly cà phê của anh (cà phê ở VN mang tiếng refill mà vẫn phải trả tiền như một ly mới, không giống như ở Mỹ).

Con đường trước quán sáng dần và xe cộ đã nhiều hơn lúc anh mới vào. Vũng Tàu cũng là một thành phố đang bùng nổ dân số giống như Sài Gòn. Sau mấy chục năm nhà cửa mọc lên với tốc độ chóng mặt trong khi đất đai thì vẫn y nguyên, không tăng trưởng hay phình ra. Và khách bộ hành cảm giác mình nhỏ lại khi đi trên đó mỗi ngày. Mùa này người ta đi ra đường nhiều hơn. Vừa để ngắm đường phố, vừa để khoe quần áo.

Chỉ có biển là vẫn còn hình dáng cũ. Đã có thời anh đứng trước biển nghe tiếng mưa che lấp một thân phận. Đi qua một giáo đường có tiếng chuông ngân ngày chủ nhật. Ngôi trường cũ được xây thêm nhiều tầng và sân trường vắng dần những cỗ thụ. Những phố núi ồn ào và nghe lòng tự huyễn hoặc mình. Ngày đó anh thơ dại biết bao. Ngày đó nắng cũng xanh và bầu trời vời vợi cũng xanh. Vài cụm mây hững hờ giống như ký ức của những cô gái chưa vào đời. Bây giờ mọi sự đã đổi khác và có thêm những điều không làm sao hiểu nổi.

Tháng giêng có mùi hương cốm của Hà Nội và mùi bánh đậu xanh. Mùi của hôn lễ và tiệc cưới nồng nàn đậu xuống các quầy bánh. Và để yêu một mùi hương như vậy, người dân Vũng Tàu phải chờ một thời gian dài bao nhiêu năm? Rồi tháng giêng nắm tay tháng hai trôi ra biển. Những ghế ngồi ẩm ướt mưa xuân. Nơi có những người trẻ đang sống nồng nhiệt hết mình và người già thì đang cồn cào nhớ về quá khứ. Đêm đêm, ngọn hải đăng từ đỉnh núi Nhỏ quét ánh sáng xuống màu biển khuya như những đời xe đi qua một luân hồi tiền kiếp.

Anh đặt ly cappuccino trước mặt nàng.

- Hôm nay là thứ bảy. Nàng nói.

- Có nghĩa là ngày mai tôi không gặp cô? Và ngay cả một cái tên tôi cũng không biết?

- Coi như vậy đi. Người đàn bà nói. Nếu ngày nào gặp lại, mình sẽ biết thêm về nhau.

Nàng uống ly nước của nàng như uống một tình đầu ái ngại. Đôi môi cong như một vầng trăng khuyết và mắt lúng liếng nhìn lên bức tranh nơi tường. Bức tranh vẽ một mùa thu và một góc đường Hà Nội của họa sĩ Bùi Xuân Phái. Những lúc như vậy, anh nhủ lòng mình là đừng nên nói và hãy lặng yên nhìn nàng. Đó là buổi sáng rất ấm áp nếu cánh cửa phòng không mở ra đóng vào. Vì như vậy gió có cơ hội len lỏi đến tận bàn của hai người. Chiếc khăn choàng nằm yên nơi cổ, không còn rung động, nhưng trái tim anh cựa mình rung động.

Sau đó nàng đi. Anh ngồi lại và nhìn đăm đăm vào laptop.

Anh nhớ thấy nàng có mang hai vòng nhẫn trên cùng một ngón tay!

Trong một thoáng anh thấy nàng quay trở lại…

Chỗ ngồi cũng tê cứng và anh ngồi lặng yên dò xét.

- Tôi vừa chợt nhớ ra là quên nói với ông một điều. Tôi vừa được tin nhắn lúc nãy, lúc ông đi mua dùm tôi ly nước. Là chắc sẽ không có những buổi sáng giống như hôm nay…

… Vì anh ấy thông báo sẽ không về Việt Nam một thời gian lâu… Và như vậy thì tôi không còn lý do để chờ đợi. Tạm biệt một chỗ ngồi trong trẻo.

Cảm giác thật khó tả khi anh nhìn vào đôi mắt nàng. Nó đang cao ngạo tàn phai hay nở bùng tuyệt vọng? Và chưa bao giờ anh cảm giác được khao khát đi bên sự cô độc của người khác. Rồi nàng thực sự bước đi… Chẳng biết đôi chân sẽ dừng lại nơi đâu trên đường dài rồi mới chịu mỏi? Để đếm bao nhiêu sỏi đá, bao nhiêu người qua đời nhau, xa lạ?



Mọi thảm kịch đều khởi đầu giống nhau và kết thúc khác nhau. Anh nhớ dáng vẻ nàng khi quay lưng lại anh. Với đám đông và những hào nháng mùa xuân trong khi đôi mắt nàng chỉ dành cho nỗi buồn trú ngụ. Đúng ra là nàng đang cố quay lưng lại với một tình yêu có bối cảnh là Canada.

Tự dưng anh nhớ đến thành phố Austin của anh. Chỗ của Mạc Lan bây giờ đang là đêm. Chắc nàng đang thức xem Face Book bằng chiếc Ipad trên giường chờ đợi một giấc ngủ? Anh chỉ mới xa nàng mới 4 ngày, nhưng khó khăn khi truy cập vào Internet nơi đây khiến anh có cảm giác xa nàng lâu lắm. Và thời tiết đang bên đó trong tuần là dưới 20 độ F. Không khí ngoài đường đặc sệt và cảnh vật được vẽ và lau bằng một màu xám. Mùa này những ngọn đèn vàng cũng trở nên đặc biệt. Tin nhắn từ Mạc Lan, dưới những ngọn đèn như vậy: “Nếu giấc mơ là cách duy nhất để có thể ở bên anh, thì em chắc không muốn thức dậy làm gì…” Lần đầu tiên anh thấy nàng viết dài vì Mạc Lan không quen xử dụng bàn phím trên Ipad. Có một vài chữ lộn xộn, và chấm dứt bằng câu: “Gởi về bên đó, chiếc hôn của em. Em ngủ đây…”



Anh nói với đứa cháu là hãy để dành cho anh một chỗ trống trong tiệc cưới. Anh nói vậy thôi, nhưng chắc nó không cần phải để dành vì anh sẽ đến kịp.

Đó là ngày thứ 6 anh về Việt Nam.

Mấy ngày rồi, anh ngồi ở quán cũ. Chiều nay có mưa miên man và vẫn là chỗ ngồi trước. Không có chiếc Laptop trước mặt và không biết tại sao anh vẫn không muốn rời bỏ một nơi chốn từng gây cho anh một cảm xúc. Dù mơ hồ. Có tiếng gió, nhưng rất khẽ. Có những dáng người mờ nhạt bên ngoài và con đường cũng mơ hồ không kém. Hình như bao giờ cũng vậy, mưa luôn làm cho lòng người ta chùng xuống và tiếc nuối. Lâu rồi, anh không có cơ hội để đầu trần đi dưới một cơn mưa. Cũng không có dịp chạm đến biển của anh thời nhỏ dại. Để nghe những cơn sóng xô vào nhau cùng những giấc mơ quen thuộc hồi sinh.

Người đàn bà đó đứng trước bàn anh. Đầu tiên là anh thấy nàng bước qua ngạch cửa làm bằng những mảnh gỗ đánh vẹc vi. Chiếc áo mưa trong suốt trùm đầu đang nhỏ những giọt nước hối hả. Hôm nay nàng không mang khăn choàng chắc sợ ướt, hay sợ bị đánh rơi. Chiếc cổ cao và tia nhìn mộng mị. Nàng không dấu những kinh ngạc:

- Mình lại gặp nhau nửa rồi. Giọng nàng nóng bỏng trong khi giá lạnh tràn ngập. Nàng nhìn quanh quất: “Hôm nay muốn được ông dành cho một chỗ ngồi”.

- Tưởng cô không bao giờ trở lại nơi này nửa chứ?

- Lúc đầu cứ tưởng vậy. Nhưng quên một điều gì đó, thấy khó quá.

- Và một ly cappuccino nửa?

- Không, cà phê phin đen đá…

-???

- Tôi muốn cảm giác những giọt đắng nó rơi chầm chậm xuống cuộc đời mình.

- Cuộc đời này ngắn ngủi mà… Có bao lâu đâu để mãi buồn cho một thứ đã mất đi. Anh góp lời.

- Biết vậy, nhưng tôi đã phải chờ hai năm cho một ly cà phê đen đặc.

- Không chừng uống xong rồi mới nhận ra nó không ngon như mình tưởng…

Tháng giêng có chút buồn đâu đó. Nàng không nói gì một lúc lâu.

- Tôi chọc cô giận rồi?

- Không sao. Tôi vui miệng. Tôi chỉ quẩn quanh một chút rồi trở về vị trí của mình.

- Vị trí của cô là ở đâu?

- Tôi chưa nhìn ra. Nhưng từng có những vị trí là những cơ hội bị bỏ lỡ…

- Trên đời này không có gì là muộn cả…

- Ngay cả cái tên mà tôi và ông đều chưa kịp nói ra? Không phải muộn là gì?

- Tôi tên Sonny. Anh nói. Giống hãng điện tử nổi tiếng của Nhật đó.

- Còn tôi Hồng Hà. Con sông đẹp nhất Hà Nội đó…

- Thảo nào…

- Sao?

- Không có gì. Chỉ muốn khen con người mang cái tên đó.

- Tôi đâu có đẹp như sông Hồng. Nhưng chắc già và dữ thì giống…

Những luồng xe đi về phía cuối đường. Một đám đông hình như tụ tập trước một quầy bán vé coi phim hay một trò chơi điện tử nào đó. Chút nắng heo hút của ngày cũng trốn biệt sau những nhà cao tầng. Những cây bàng cũng vấn vương, run rẫy. Vài đám mây gắng gượng cõng mặt trời trên lưng. Không ai muốn làm một đám mây bay ngang cuộc đời của người khác? Nhưng khi hai người ngồi sát bên nhau mà không nói gì, có nghĩa là mùa xuân đang quá lạnh.

- Hôm nay đủ rồi, tôi về đây.

- Đủ rồi? Anh hoài nghi. Có thể còn thiếu.

- ???

- Thiếu một người ngồi trong bàn cưới của đứa cháu tôi, ngày mốt…

- Ông giàu tưởng tượng. Nàng cười “Nhưng ngày mốt là chủ nhật? Ông quên tôi bận rồi ư?”

- Chỉ một ngày đó thôi mà. Tôi không biết là từ bao giờ, tôi không quen ngồi một mình…

- Có phải chúng ta đã nói là không muốn điền vào chỗ trống của người khác ư?... Nàng đứng lên. Bàn ghế bâng khuâng một lời mưa cũ rich.



Nàng có gọi phone cho anh (từ sau buổi tối ngồi cùng anh ở tiệc cưới).

Và sau đó là những niềm vui không cần thắp vì tự nó tỏa sáng. Đàn bà trước mắt người đàn ông họ luôn là một ẩn số. Hồng Hà cũng vậy. Anh vừa bỏ một cảnh biển và một cảnh đời của mình cùng với đứa cháu gái, với gia đình và những ngày chớm xuân ở Vũng Tàu để lên Đà Lạt. Dĩ nhiên là có Hồng Hà bên cạnh.

Đà Lạt cũng đang mưa. Nhưng ít thôi.

“Em cứ tưởng mình có thể làm cho người ta khóc, nhưng ngược lại.” Buổi chiều mà Hồng Hà ngã vào vai anh, nàng nói như vậy.

Đó là ngày mồng 3 Tết. Và là ngày thứ 10 anh về Việt Nam. Mồng 7 tết anh phải đi rồi. Từ căn phòng của khách sạn nhìn xuống một vườn hoa mới vừa khánh thành sau mùa Noel, nụ hoa vẫn còn óng ả màu chiều. Những cây thông vươn mình hát những điệp khúc muôn đời và đâu đây có tiếng rền rĩ của chiếc phi cơ vừa vụt qua. Không có tiếng pháo Tết vì nhà nước không cho đốt. Những áo len và khăn choàng cổ thong thả bước đi dưới một bờ đường xanh màu quen thuộc của cỏ.

- Khóc cũng là dấu hiệu bày tỏ cảm xúc. Anh nói.

- Đàn ông không có khả năng bày tỏ cảm xúc bằng phụ nữ. Đàn ông chỉ biểu lộ cảm xúc mình trước những thứ khác, trước những cái xe, những phim ảnh, những tin tức trên TV… Những thứ gì không có khả năng đáp ứng lại. Chỉ có phụ nữ mới có. Và trong mối quan hệ người phụ nữ có trách nhiệm chỉ dẫn cho người đàn ông tiếp cận với cảm xúc của mình…

- Bởi vậy nên môi và da thịt cô có mùi thơm lạ ghê… Mình làm bạn nhau nhe?

- Hãy coi như vậy. Hãy làm bạn mà đừng làm tình nhân. Đôi mắt nàng nhắm không muốn nhìn mặt anh. “Đừng bao giờ nghĩ cái gì đó là của mình, thì chắc chắn nó sẽ là của mình”.

Lẽ nào nàng không nhận ra một góc lòng lạc lõng của một người đàn ông khi cố rượt theo một dấu chân mưa bên ngoài? Những cơn gió đang ruỗi dong trong khi đời thì lẵng lặng…



Hôm nay là ngày cuối cùng anh phải rời Việt Nam. Ngồi ở phi trường anh nhớ nhiều thứ. Hồng Hà mất tăm sau buổi chiều và sau đêm ở Đà Lạt. Những tiếng chân mưa vuột ngã làm chật một ngăn buồn và bây giờ gió rét đang sưỡi lòng anh bằng nổi nhớ.

Khi không còn yêu nhau, những bờ môi cong sẽ đắn đo một nụ hôn đậu xuống. Và cũng như mây trời, tình yêu cũng lang thang giữa cuộc đời. Anh nghĩ vậy và kéo chiếc laptop đứng lên, khi nghe tin hành khách có tên trong chuyến bay về Mỹ chuẫn bị ra nơi kiểm vé. Tin nhắn cũng vừa báo hiệu bằng một tiếng bíp vang trong điện thoại. Trên màn hình hiện lên chữ H.H và một vùng biển xanh đến là xanh.

“Anh Sonny ơi,

Anh đang ngồi ở phi trường hay ở đâu?

Có một good news và một bad news cho anh nè. Bad news là cho em được nói lời xin lổi và tạm biệt. Còn good news là em cương quyết cắt đứt tình yêu với anh vì em không nở coi anh là con cá dính vào lưỡi câu của tụi em. Ngày em gặp anh ở quán cà phê không phải là ngẫu nhiên như anh tưởng mà bởi anh nằm trong danh sách của đám thợ câu Sài Gòn. Anh có bao giờ nghe nói về chuyện này chưa?

Nhưng dù nghe hay không nghe, em cũng muốn nói với anh là cuộc đời không có gì tình cờ hết. Em không muốn là một kẻ luôn điền vào chỗ trống của người khác. Em cũng không phải là người đàn bà mà theo anh nghĩ là phải đợi mãi đến 2 năm mới uống một ly cà phê đen đắng. Cám ơn anh đã cho em một chút hạnh phúc. Nếu nói là em có yêu anh thì cũng đúng phần nào, vì có yêu anh nên mới đi ra ngoài nguyên tắc của “nhóm em” để buông tha anh. Từ buổi sáng ở quán cà phê Starbuck Vũng Tàu, từ một mùa xuân đầm đìa tiếng sóng, em đã bị triệu đến tòa án lương tâm vì đã bước vào cuộc đời anh, dẫm lên ước mơ của anh và định đánh cắp trái tim của anh. Em đã thả lỏng mình và lẳng lơ một chút với anh vài ngày. Chúng ta đã là những cơn sóng xa lạ từ đâu không biết, mà cuốn hút vào nhau. Rồi lăn xa giữa đại dương như chưa từng gặp gỡ…

Ai đó nói rằng tình cảm giống như những viên đá trong ly cà phê. Nhanh chậm gì rồi cũng tan hết một lần. Và kết quả cuối cùng mới là điều quan trọng.

Chấm hết ở đây nhe và trả anh về lại với người vợ của anh… Hôn anh. H.H

Ps: Và nhắn lại với cô ấy là đừng bao giờ để chồng về VN một mình…Hi…hi…””

Anh cầm hộ chiếu trong tay. Suýt chút nửa anh có ý định tự mình làm hoản một chuyến bay vì một lý do yêu thương khờ khạo. Có những điều đúng sai mà con tim không từng hiểu thấu. Cho nên suốt đời người ta cứ chạy đuổi theo những tình yêu không có thật bao giờ…/.

Phạm Ngũ Yên
Last edited by khieulong on Wed Jul 03, 2019 8:44 pm, edited 1 time in total.

User avatar
bichphuong
Posts: 654
Joined: Mon Apr 25, 2016 12:10 am
Been thanked: 1 time

Post by bichphuong »

Image

HÃY LÀM BẠN ĐỪNG LÀM TÌNH NHÂN
Phạm Ngũ Yên
Mỗi người phụ nữ sinh ra đều cần một người đàn ông để chở che. Nhưng với Ngọc Anh, thì không phải vậy. Và khi tôi biết được điều này, thì nàng đã đi về phía của mênh mông, nơi sắc cầu vòng chấp chới. Những dòng chữ trên trang giấy tình yêu dù mới viết nhưng đang trở thành lỗi thời.

Tôi muốn bắt đầu từ một sáng ngồi ở Domain. Trời mưa từ sớm. Chỗ đậu xe hơi xa với quán cà phê và tôi kéo chiếc laptop đi bộ dọc theo mái hiên của những cửa hàng. Mưa lất phất trên vai, trên áo khoác. Và chỉ chậm chân một chút thôi là phải chịu một cơn mưa nặng hột.

Người con gái ngồi một mình. Chiếc bàn bề bộn những giấy má, dây nhợ. Điểm đặt biệt là chiếc ru băng tím trùm trước trán, đẩy những lọn tóc vàng hoe ngược về phía sau. Chiếc áo thun màu bọt đô mỏng tanh khoét sâu ở cổ, và rộng hai nách. Cùng hai dây áo ngực màu cam cuống quít trên vai. Nàng mặc chiếc quần sọt nên đôi chân trắng hiện ra rõ ràng, dáng điệu đang text phone với ai đó. Ánh sáng nơi chụp đèn dọi xuống màu da ngực đỏ hồng, có lúc trở thành màu nâu. Bộ nàng không biết lạnh hay sao?
Tôi đang tập sống từng ngày không có ai bên cạnh. Nhưng với một buổi sáng cuối tuần có gió mưa thế này mà cô đơn thì những gì tiếp theo của ngày chắc phải là nỗi buồn.
Nước mưa rời rạc rớt trên ngọn sồi mới vừa có lá lại. Vài cánh chim chạy tìm mồi trên một bờ cỏ xanh ngơ ngác màu đời. Phía bên kia, đối diện tầm nhìn là những dãy phòng mới xây chồng lên nhau. Những khung cửa quay ra đường giống như những hộp diêm khổng lồ đặt xếp ngay ngắn trên ngăn kệ. Đó là những căn phòng dành cho khách vãng lai đến thuê mướn dài hạn. Giá cả chắc không rẻ, nhưng nếu có tiền thì cũng nên trú ngụ một đêm ở một chỗ đầy đủ tiện nghi như vậy. Mùa này, những cây ngo lùn hai bên lối đi đang xanh, chĩa những nhánh lá lên trời. Giống những ngón tay óng chuốt con gái thời nông nổi.
Có người nói với tôi về nỗi nhớ. Và cuối cùng của nỗi nhớ là một kết thúc tròn trịa hay đau khổ. Nhưng tôi nghĩ tự mình sẽ vượt qua nỗi đau. Có cả ngàn cách để chôn một tình yêu thầm lặng với ai đó, dù chúng ta từng yêu họ đến thế nào.
Đang ngồi, có tiếng phone. Tôi phải ra đứng trước tiệm để nghe cho rõ. Trời lạnh đến nỗi tiếng nói cũng long cong như những viên đá chạm trong ly cà phê…
- Alô…?
Đầu giây bên kia giọng nói ẻo lã:
- Ông già đó hả? (Kêu bằng “ông già” tức là biết tôi khó tánh- người quen rồi)
- Ừa… “ông già” đây? Ai vậy?
- Em đây? Anh nghe em rõ không? (Mới vừa ông già bây giờ đổi thành anh)
- Rõ… rõ... (Tôi cố gắng đoán coi ai gọi. Giọng Bắc và hơi chảnh)
- Thấy hình anh đưa lên Face Book hôm qua, tự dưng muốn gọi hỏi thăm anh một chút… Sao kỳ này anh chụp hình già dzậy?
- Thì già phải chịu? Đâu có ai cãi lại thời gian đâu?
- Nhưng cũng thấy anh tròn trịa ra. Nhưng bây giờ hỏi thật nè. Có biết ai đây không?
- Ừa…
- Không biết hả? Em là một cô gái từng đọc văn anh và từng ái mộ anh… Em sống cùng thành phố với anh nè… Sao anh không biết? Tệ quá…
- Quả thật… không biết và cũng không nhớ luôn… Ai vậy ta?
- Hí…hí…
Có tiếng cười dễ quê bên kia. Trời lạnh, nhưng tôi biết mặt tôi đang đỏ lên. Định nói trây luôn: “Có nhiều người ái mộ quá nên không nhớ hết…” Nhưng sợ đụng phải con gái Bắc, không vừa.
Một thoáng trôi qua. Nhưng dài như một mùa đông đang trân mình đuổi theo những cánh gió. Vài đôi tình nhân nắm tay đi trên những lề đường mắt chăm chú vào các cửa hàng bán quần áo, giầy dép. Những chiếc áo lạnh bùng xùng và những ngón chân son tấp nập. Màu ngón chân đài các run trượt trên những vỉa hè…
- Đùa tí thôi. X. đây… X. ở Louisiana đây!
Thì ra là cô bạn làm chung trong hãng cũ. Bây giờ theo chồng về Louisiana mở tiệm bán xăng và tạp hóa. Sau vụ Katrina tưởng trôi về Austin lại, nhưng vẫn còn bám trụ ở đó. Chắc tiền của hai vợ chồng trong nhà băng lúc này chật cứng?
- Làm hết hồn. Bộ hưởn lắm sao mà gọi phone “tám” vậy?
- Mừng hụt ha??? Em đang ở ngoài tiệm. Nhưng không có ma nào ghé thăm, buồn tình lục phone book trong điện thoại gọi chọc anh chơi… Nghe giọng nói của anh biết anh hồi hộp lắm…
- Hồi hộp thiệt.
- Có ai tình nguyện “nâng khăn móc ví” cho anh chưa vậy?
- Có ai đâu?
- Kiên nhẫn ghê. Tại anh ra điều kiện khó quá? Hay tại anh “tham ăn” không muốn share account với ai? Chịu về Việt Nam em giới thiệu em gái cho…
- Không phải tại gì hết. Tại chưa tìm ra… Nhưng đừng ởm ờ kiểu này “ông già” sẽ đứng tim sớm… Alo, Alo…
Điện thoại im bặt vì mất tín hiệu hay sao đó, không kịp bye từ giả. Cũng không kịp hỏi chuyện giới thiệu em gái có thiệt không?
Khi tôi quay đầu nhìn lại, cô gái đang đứng bên cạnh cây ngo lùn. Và thở những hơi khói giống như một người đang hút thuốc. Nàng chính là người ngồi text phone lúc tôi bước vào quán. Lúc này nàng có thêm chiếc áo choàng màu xám có vạt dài xuống tận mông và một thắt lưng làm héo úa tia nhìn. Những đường cong không thể chê vào đâu được. Khua khoắng và mờ ảo như khói. Lại lãng đãng không kém mây trời. Điếu thuốc trong tay ngại ngùng chưa đốt. Nhanh như một dân chơi già đời, lục trong túi quần chiếc hộp quẹt ga, tôi bật lửa cho nàng.
- Cám ơn.
Tôi nghe nàng nói và ngạc nhiên:
- Việt Nam?
Nàng gật đầu thay cho câu trả lời.
- Hôm nay lạnh quá…
- Ngọc Anh…
- Vĩnh Phúc. Hân hạnh biết cô. Mới đầu nhìn tưởng cô Mễ hay Philippine gì đó?
- Em cố tình trang điểm cho khác với Việt Nam. Anh thấy em có giống Mễ hay không?
- Nếu cô không nói chắc không ai biết.
- Em muốn giống Hàn quốc, nhưng có điều da không được trắng lắm…
- Cô đang sống tại Austin?
- Không. Em ở Việt Nam qua du lịch.
- Với gia đình?
- Không. Một mình…
- Cô đang hút loại gì vậy?
- Marlboro… Đôi khi những loại khác…
Bây giờ thì những hơi khói tròn vo thật sự bay ra từ đôi môi ham hố của nàng. Có lúc chúng quanh quẩn trên miệng vì nàng không chịu để khói bay đi. Nhìn nghiêng, sóng mũi rõ nét Á châu. Nhưng khi nàng hất đầu làm dáng, vệt son trên môi màu đậm trở nên một cánh lan dài tung tãi. Đôi lúc, nàng giống một cô gái Nam Mỹ.
- Cuối tháng này em phải về lại Việt Nam. Visa sắp hết hạn.
Nàng nói. Và dụi điếu thuốc vào đồ gạt tàn công cộng. (Mới nhìn giống như một cái chậu hoa bằng đồng dùng để trang trí cho lối đi)
Lâu rồi, thành phố ít có cơn rét đậm để cảm giác nhớ một bàn tay của ai đó. Những nhánh đường trước mặt chùng xuống và mang vẻ lướt thướt sau cơn mưa. Cô gái đang nhìn mông lung nơi góc đường trước mặt. Nàng thấy luyến nhớ gì từ một mùa xuân đang qua rồi? Tiếng nhạc bên trong vọng ra rõ ràng khúc khóc mưa -Crying In The Rain- (tất cả nỗi buồn và nỗi đau của tôi… Tôi sẽ làm thành tiếng khóc…) Tôi nghĩ mình phải quay trở vào uống tiếp ly cà phê vẫn còn đầy trong quán.
- Rất tiếc mình biết nhau quá muộn.
- Đâu có gì để tiếc hết.
- Nhưng trước khi cô về Việt Nam, chúng ta còn có thời giờ để nói chuyện mà?
- Để coi. Nhưng anh nói như vậy mà có được tự do hay không?
- Tôi rất đang tự do.
- Vậy thì giao hẹn như vậy đi. Anh cho số phone để em bỏ vào máy.
Tôi cho số phone của tôi cho nàng.
- Qua đây cô ở đâu vậy?
- Có một vùng có tên là Pflugerville. Anh biết?
- Nó về hướng bắc, cách xa chỗ tôi khoảng nửa giờ lái xe… Quen biết ra sao vậy?
- Nhà của một con nhỏ bạn. Nó cũng mới vừa qua cách đây mấy năm. Diện du học.
- Du học mà được ở lại cũng hay. Sao cô không hỏi thăm bạn cô làm cách nào để được ở lại?
- Ba má của nó có tiền. Còn em thì không có ai… Và 12 tuần lễ quá ngắn để em có thể tìm một bến tựa.
- Không ngắn, nếu như cô biết xoay sở… Tôi nghĩ cô có thừa khả năng.
- Tiếc là biết anh quá muộn.
- Không có gì để tiếc. Tôi lập lại câu nói của nàng lúc nãy.

Hôm nay, trời nắng, nàng mặc chiếc áo đầm hở cổ và sát nách. Màu son và mùi nước hoa cũng khác. Đậm đặc.
Mỗi lần gặp lại, tôi thấy Ngọc Anh ngộ nghĩnh. Nàng già hơn hay trẻ hơn một chút.
(Tôi đang hỏi thăm ở phòng An Sinh Xã Hội coi họ có thể giúp nàng gia hạn ở lại được không. Hình như tôi đã muốn yêu nàng mất rồi).
Tôi chở nàng về Downtown, nghe nói nàng rất muốn nhìn thấy phố xá dưới đó. Nhưng chắc không kịp coi những cây anh đào ra hoa.
Khi bắt đầu nghĩ về nàng, thì mùa xuân ở downtown đã qua hết thời của nó. Mới tháng rồi, tôi vẫn còn thấy chúng nở bùng trên mọi góc đường. Những bãi cỏ vừa xanh trở lại báo hiệu một mùa sắp hết.
Dù sao nàng cũng vừa qua một sinh nhật thứ 28. Nàng đỏng đảnh:
“Còn hai năm nữa em sẽ thành gái già”. Nàng nói, giọng không buồn không vui khi chồm mình về phía hộc xe lấy bao thuốc.
- Ai nói với em như vậy?
- Ông bà mình nói. Gái 30 tuổi đã toan về già…
- Có nhiều nhan sắc làm cho người ta lầm lẫn. Và cũng có nhiều nhan sắc dự báo cho người sở hữu nó an tâm cười cợt. Mặc cho thời gian lao đi về phía trước mỗi ngày.
- Em thuộc nhan sắc nào?
- Cả hai. Không bao giờ già và không bao giờ có tuổi.
- Suýt nữa em chết sặc vì cười.
- Thật đó. Có những người phụ nữ như miễn nhiễm với những mưa nắng của đời và những buồn vui thế sự.
- Cám ơn anh. Hồi đó đến giờ có ai nói với Ngọc Anh vậy đâu?
Khi chúng tôi vào trong quán, nàng vẫn chưa châm lửa. Cách nàng trở trăn điếu thuốc trong hai ngón tay, vừa gợi dục vừa kích thích. Và có vẻ từng trải. Điều này làm tôi sợ.
Tôi không phải chưa từng biết về phụ nữ. Một người bạn đời vừa khuất núi và một người mới vừa chia tay, đủ để tôi biết có những bông hoa không phải dễ dàng cầm trong bàn tay, hoặc ngắt đi để thưởng thức.
Downtown có những quán vừa bán ăn vừa bán rượu. Sau một hồi loanh quanh tìm chỗ đậu, cuối cùng chúng tôi cũng tìm thấy một chỗ ngồi. Con đường vòng sau lưng quán nhìn ra một lòng sông quanh co và một khu rừng thưa như vừa trải qua một mùa lũ lụt. Lơ lững vài chiếc thuyền cho thuê có hai chỗ ngồi. Vải buồm cũng hai màu xanh trắng giống như màu trời có pha trộn mây. Chúng tôi chọn một bàn sát liền với quầy rượu. Vừa dễ kêu món ăn, vừa nhìn lên màn hình trước mặt.
Đó là khoảng thời gian im ắng và tôi nghe hơi thở của Ngọc Anh vừa lướt qua má khi nàng vói tờ thực đơn. Nàng chờ tôi kêu món ăn.
- Mình ăn cái gì đây?
- Cái gì cũng được. Em không biết kêu món ăn…
Tôi cũng không rành đồ ăn Mỹ nên kêu đại hai đĩa mì Spaghetti rắc nhiều tiêu cho dễ ăn và một chai bia. Phần nàng thì chưa kịp hỏi nàng đã nhanh nhẩu: “Em cũng bia luôn…”
Lâu lắm tôi không có dịp uống bia với một phụ nữ. Cách thức nàng cầm ly bia và đưa lên môi nhẹ nhàng. Vành ly lướt nhẹ trên vòng môi đỏ son như một người đang nghe ngóng một số phận. Nhưng chậm rãi, vì nàng biết đàng sau số phận đó sự đắng cay không nhiều hơn những ấm áp ngọt ngào. Còn tôi, không cần thiết như vậy, khi định mệnh đã khiến tôi bị cuốn hút vào nàng mất rồi. Không phải là tôi từng đã mạnh mẽ và từng đi qua những yếu lòng. Những con đường nắng lả tả xác lá và những ngày ẩm ướt mưa phùn. Những nỗi buồn chưa kịp chín. Và trong những giây phút như vậy, người ta sẽ mong muốn có một ai đó bên cạnh, để nghe cười nói bâng quơ. Và có thể sẽ nghe mỏi nặng một bờ vai vì một cái ngã đầu?
Có cả ngàn cách nói cho ai đó là mình đã yêu họ như thế nào.
- Đàn ông lúc nào cũng muốn chứng tỏ mình thành đạt, trong khi anh không nói cho em biết như vậy?
- Anh không được may mắn trong số đó…
- Vậy thì làm sao anh có thể… cưu mang em suốt đời? Nếu em được ở lại đây và là tình nhân của anh?
- Đâu cần anh phải lên tiếng với em về chuyện đó. Rồi Sở di trú sẽ biết thôi. Tôi cười: “Nhưng anh chưa cầu hôn với em mà”…
Ngọc Anh đẩy dĩa mì ra xa. Những cọng mì vàng óng trộn sốt chưa vơi hết. Có thể nàng không nghe câu nói của tôi, hoặc có vẻ nàng đau lòng trong một khoảnh khắc nào đó. Bây giờ nàng mới thực sự châm thuốc và nhả khói. Tôi đã thực sự chạm đến cái thế giới đàng sau những vòng khói mê muội đó chưa?
Rồi nàng hớp từng ngụm bia. Những tiếng đá chạm vào thành ly và nắng chiều óng ánh trên đám bọt.
“Có những bông hoa mọc lặng lẽ, nở lặng lẽ và tàn cũng lặng lẽ…” Tôi nghe tiếng của nàng.
Bầu trời những ngày này đẹp lạ và ngơ ngẩn không cùng. Có mây trôi êm ả và có tiếng gió lao xao. Nàng đang chiêm ngưỡng một cánh lá run rẩy đang bị kẹt bên trong cánh cửa của hàng rào. Giống như một cánh bướm vừa đi qua một giấc mơ, dừng lại. Vạt áo đầm bỗng trở nên linh động, cuốn hút vì gió thổi thốc dưới chân nàng. Nàng nghiêng đầu, nghe ngóng. Và cuối cùng nàng nóí:
- Anh thấy em sa đọa quá phải không?
- Nếu trong cái nhìn quen thuộc của Việt Nam thì đúng là em đang như vậy.
- Em kể anh nghe câu chuyện này. Nó liên quan đến một nỗi buồn. Đến những sợi khói… Anh có muốn nghe không?
- Muốn. Em cứ nói đi…
“Khi em học hết lớp 11 thì anh ấy đến tuổi nghĩa vụ. Người yêu của em đó. Trong gia đình chỉ có một mình anh ấy là con trai còn bao nhiêu là gái. Vậy mà không thoát được. Ngày đưa anh ấy lên đường em co ro đứng bên toa tàu. Buổi chiều lạnh giống như ngày em trông thấy anh ở Domain. Chuyến xe lửa đầy nghẹt chở những người tân binh đi đến nơi nào đó, không ai biết… Sân ga rộng vậy mà không có chỗ đứng cho em và gió đêm cũng ập về toàn những điều khó hiểu. Ở cuối một toa tàu, anh ấy đang đứng cùng với những thanh niên khác, quay nhìn về phía em. Khoảng cách giữa anh ấy và em không xa, nhưng người quá đông nên em không thể nào đứng gần để có thể chạm tay vào anh ấy. Một lúc, em thấy anh cúi xuống và khi ngẫng lên, em thấy điếu thuốc đang nằm trên môi anh. Con phố đàng sau có ánh đèn thấp thoáng, nhưng bóng tối từ nơi anh ấy đứng vẫn ngập tràn.
Rồi tàu cũng rời đi. Anh ấy đưa tay vẫy em và em cũng vẫy lại, không biết có thấy em đang khóc hay không. Đóm lửa trên môi anh ấy giống như một đóa hoa gạo nở vội vàng, tức tưởi. Rồi đóa hoa đó cũng xa dần… xa dần…
Từ hôm đó và khi bắt đầu lên đại học, em cảm giác thân thuộc với điếu thuốc và yêu mến những sợi khói. Mấy đứa bạn nó nói em lãng mạn và có cá tính. Em không biết đó có phải là cá tính hay không nữa? Nhưng dù có cá tính hay không, người phụ nữ nào cũng có một trái tim bé bỏng”…
- Bên nay chuyện phụ nữ hút thuốc là chuyện thường… Không ai để ý… Ai đó nói rằng đàn bà hút thuốc cũng giống như họ trang điểm…
- Là sao?
- Là khi hút, họ có thể đẹp hơn hay xấu hơn…
- Em đẹp hơn hay xấu hơn?
Tôi không muốn trả lời.


Dự báo thời tiết nói đêm nay có tuyết. Một năm có nhiều bất ngờ mưa nắng. Đồng hồ trên tường đều đặn những nhịp gõ và đêm có vẻ như sáng dần. Như một truyện thần tiên của phim hoạt hình, tuyết đang rơi nhẹ bên ngoài. Đầu tiên là trên mái nhà. Một lúc sau đã che kín mui xe. Rồi vuông sân sáng màu đèn lất phất những vụn đá vung vãi. Lúc đó tôi và nàng đang ở trong nhà nhìn ra.
- Đẹp quá. Mình ra ngoài đi anh. Từ trước đến giờ em không hề thấy tuyết.
Tôi đưa Ngọc Anh ra đứng trước sân, nhưng dặn nàng đừng đi quá xa.
Nàng không mang dép để chân không giẫm thử lên tuyết. Lúc này giống như ai đổ đá bào chung quanh. Dưới gờ mái, tuyết nhễu giọt dài và gió lạnh làm đọng lại, không rớt. Giống như những lưỡi dao làm bằng pha lê, chĩa xuống.
“Tuyết chỉ đẹp khi đang rơi”… Tôi nói thầm
- Anh chụp em một tấm đi, để đem về Việt Nam khoe với tụi nó…
Dưới ánh đèn khiêm tốn trước sân nhà, tôi chụp hình nàng bằng chiếc điện thoại cầm tay. Chiếc áo ngủ phong phanh màu vỏ hột gà và một chiếc khăn choàng to đùng màu đỏ quấn vội thân hình. Hai ống quần xén cao để lộ một bắp chân nhìn lảo đảo…Đó là tấm ảnh duy nhứt tôi còn lưu lại làm của riêng.
Một đêm đáng lẽ rất thần tiên, nếu như nàng không nói với tôi những lời muộn phiền. Tôi không nhớ giữa tôi và nàng, ai đã trả lại ai một màu hoa đã nhạt và một tiếng cười cháy mãi sau lưng?
Nơi tôi đứng bây giờ là con đường dẫn ra công viên sau nhà. Mỗi buổi sáng người ta vẫn chạy bộ hay dẫn chó đi dạo. Nhưng cơn mưa tuyết hồi tối đã xóa đi thói quen thường ngày của mọi người và xóa đi những nét diễm lệ của cỏ. Không còn ai muốn ra đường dù là buổi sáng cuối tuần. Những đám lá xếp vào nhau, đông cứng. Và gió hình như cũng giận hờn thổi qua những đời nhau, đi mất…
Tình yêu giống như một bông tuyết đang rơi. Nhưng sau đó, là những con đường chứa nhiều giấc mơ thương tật.
Buổi tối Ngọc Anh đứng trước sân, tôi thấy mái tóc nàng liêu xiêu những hạt đá bào. Nó lấp lánh như những mảnh kim cương rơi xuống từ trời làm thành vương miện. Cách đây một tháng, khi được tin Sở Di Trú chấp thuận cho nàng chính thức ở lại dài hạn chờ ngày cấp thẻ xanh, những lời cầu hôn của tôi cũng tới tấp rơi xuống và đăng quang trên vầng trán mạnh mẽ của nàng. Nàng lúc đó vui như một con chim sâu chuyền cành. Tôi nhớ những buổi sáng mùa đông rất lạnh, nhưng bên nàng, tôi không cần máy sưởi vì chỉ một tiếng cười hay một cái với tay của nàng cũng đủ làm ấm cả mùa.
Khi người ta yêu, không ai nhìn thấy những chiếc gai nhọn trên cành hồng. Người ta luôn muốn cho màu hoa thắm mãi đừng tàn. Nhưng rồi một lúc nào đó, cầm trên tay đóa hoa, chúng ta mới cảm giác được nổi đau vì gai làm chảy máu.

Một ngày của tháng tư. Có vài đóa hoa Bluebonnets mọc hai bên bờ xa lộ. Hoa cũng nở đàng sau công viên trường ACC (một trường dành cho học sinh vừa đi học lấy bằng đại học, vừa đi làm). Nàng gọi điện cho tôi nhờ đến chở nàng về. Tôi có chuyện bận nên đến trễ. Nàng không chờ đợi và quá giang với một cô gái học chung lớp. Khi tôi về đến nhà thì thấy nàng đã không có
ở nhà. Một mảnh giấy viết vội của nàng ghim trên cánh cửa tủ lạnh. Chữ viết bằng viết lông màu đỏ, không ngay hàng: “Em mới vừa đi ra Domain với Monica”…“Monica là ai vậy?” Tôi hỏi khi nàng trở về …
- Con nhỏ học cùng lớp với em. Nó người Philippine.
Nàng trở nên một phụ nữ không cần đàn ông tự bao giờ? Tôi tự hỏi.
- Em có cần được anh chăm sóc nữa không vậy?
- Cần chứ anh. Phụ nữ sinh ra để được chở che mà…
Ngọc Anh nói với đôi mắt nhìn vào mặt tôi, tôi nghĩ rằng rất thành thật.
Đêm bao la và thành phố cũng trở nên bận rộn. Đôi lúc, những vì sao trên trời có mặt chỉ để nhìn xuống sự trống trải thầm lặng của ai đó.
Đêm cuối cùng tôi và nàng bên nhau, có mưa bên ngoài. Mới buổi sáng trời còn nắng ấm. Nàng vẫn trong vòng tay tôi, nhưng tôi thoáng nghe tiếng mưa ướt đâu đó trên trán nàng. Trên trái tim đã mỏi. Rồi nàng ngồi lên.
- Em muốn trả lại anh lời đính hôn mà anh dành cho em…
- Em hết còn yêu anh?
- Vẫn còn. Nhưng không phải trong cái bình thường như từ trước đến nay.
- Anh không hiểu kịp những điều em nói.
- Mình làm bạn thôi, đừng làm tình nhân nhe…
Nàng thở một hơi thuốc. Vòng khói ẻo lả nhưng có khả năng cuốn hút và trói chặt đời nhau đến vậy sao?
“Không biết từ bao giờ em cảm giác em không còn cảm xúc khi gần gũi với một người đàn ông”. Ngọc Anh co hai chân lên gần như muốn để hai đầu gối chạm vào cằm. Cái đầu cúi xuống như một con đà điểu đang cố giấu mình trong cát. Toàn thân nàng phòng thủ kín bưng không có chỗ nào sơ hở. Chỗ nằm của nàng cũng chưa đủ ấm.
“Em vẫn tin trên cuộc đời này có một người yêu em rất nhiều. Đó là anh. Nhưng chính vì vậy mà em cảm giác hối hận nếu chúng ta cứ già đi cùng nhau. Và em cũng rất xấu hổ nếu em không nói thật lòng với anh. Em chỉ rung động khi chạm tay với người cùng phái…”
- Tiếc ghê… Tôi nói…
- Em cũng vậy. Có lần em nói với anh là phụ nữ sinh ra để được chở che mà… Nhưng trong lúc này, sự chở che đó phải đến từ Monica. Em có làm anh tổn thương thì cho em xin lỗi…

Phải mất bao nhiêu lâu, bao nhiêu tháng ngày để tôi nhận ra rằng một cành hồng luôn đầy gai nhọn. Cách chúng ta nhìn ngắm và chiêm ngưỡng không quan trọng. Mà quan trọng là chúng ta phải học biết làm cách nào cầm nó trong bàn tay mà không để gai nhọn làm tổn thương.
Hai mươi tuổi tôi vào đời. Ba mươi tuổi tôi vực dậy một tình yêu và hôm nay hơn bốn mươi tuổi tôi mạnh mẽ nghĩ rằng mình có thể độc lập tự vun trồng một cây hoa trong vườn để mỗi sáng ngày nhìn ngắm. Nhưng mới vừa đây thôi, chỉ một phút giây bất cẩn, tôi đã để gai nhọn của hoa làm chảy máu.

Pham Ngũ Yên

User avatar
bichphuong
Posts: 654
Joined: Mon Apr 25, 2016 12:10 am
Been thanked: 1 time

Post by bichphuong »

Image

Nhớ Kỷ Niệm Sài Gòn Xưa.
Tôi sống ở Sài Gòn 20 năm và xa Sài Gòn đã 30 năm. Mỗi khi nhớ tới quê nhà, Sài Gòn vẫn như một đốm sáng không bao giờ tắt. Có lẽ vào độ tuổi thanh niên, độ tuổi mà cuộc sống mãnh liệt nhất, tôi đã gắn bó với Sài Gòn. Biết bao chuyện để nhớ. Nhất là vào thời điểm tháng tư.

Tôi không xa Sài Gòn vào tháng 4 năm đó. Không một toan tính nào trong rất nhiều toan tính được hanh thông. Ngày quân đội cộng sản tiến vào Sài Gòn, tôi vẫn còn nguyên tại nhà. Nhà tôi ở Thị Nghè, một trong những mũi tiến công của địch quân. Chín năm trước đây, năm 2005, khi tờ Việt Mercury ở San Jose ra số đặc biệt 30 năm nhìn lại ngày mất Sài Gòn, Nguyễn Xuân Hoàng có hú tôi viết bài cho anh. Ngày đó, tôi đã ôn lại giờ phút Sài Gòn bị dày vò. “Tiếng chân người, tiếng nói xôn xao từ ngoài đường vọng vào ầm ĩ. Tôi chẳng buồn nhìn ra ngoài. Chiếc cổng sắt im lìm bỗng có tiếng gõ mạnh. Tôi mở chiếc lỗ nhỏ trên cánh cửa kín mít nhìn ra. La Phương! Tôi vội vàng mở cửa. Người ký giả kỳ cựu của làng báo Sài Gòn uể oải bước vào. Chẳng ai buồn nói. Chỉ mới mấy bữa trước La Phương còn lạc quan vào một giải pháp trung lập. Cuộc chiến có trên 20 năm tuổi sẽ được kết thúc bằng một giải pháp có thể chấp nhận được cho cả hai phía. Người cựu ký giả của hãng thông tấn Pháp AFP có liên hệ nhiều với người Pháp đã khẳng định một cách lạc quan như vậy.

Tình hình chính trị mấy ngày qua như càng ngày càng xấu đi. Ba Tổng Thống trong vài ngày là một chỉ dấu không tốt đẹp gì. Hy vọng đặt cả vào một Dương Văn Minh được lòng nhiều phe phái. La Phương nhún vai, lắc đầu. Moa cũng không hiểu sao nữa! Ngồi một lúc, La Phương ngơ ngẩn ra về…Nghe thấy tiếng xe tăng chạy ngoài đường, tôi vội ra coi thử xem sao. Hai chiếc đầy nhóc lính cộng sản đứng giương cao lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam phần phật bay theo gió đang tiến vào Saigon theo đường Hùng Vương dẫn tới cầu Thị Nghè. Bỗng tôi nghe thấy tiếng súng ở phía cầu. Mọi người nhốn nháo. Những thanh niên đeo băng đỏ, mặt đằng đằng, chạy tới chạy lui. Khu chợ đồ Mỹ tự phát bên lề đường như đàn kiến bị phá vỡ tổ. Chỉ một lúc, đâu lại vào đấy. Người ta kháo nhau về mấy tiếng súng vừa qua. Lính giữ cầu đã nổ súng vào đoàn xe và bộ đội trên xe đã bắn lại. Xác chết còn nằm trên cầu. Những người đi coi về kể lại như kể về một chuyện xảy ra trên màn ảnh. Tôi đứng nhìn khu chợ càng ngày càng phình ra. Họ bán những đồ Mỹ hôi được bằng cách phá kho Tân Cảng ở gần đó. Đồ dùng hằng hà sa số đủ thứ. Bàn ghế, dụng cụ văn phòng, máy lạnh, quạt máy, kem đánh răng, sữa bột, bánh kẹo, đồ chơi, đồ nhà bếp… Giá cả rẻ rề. Chỉ mấy ngày trước giá đồ Mỹ còn vắt vẻo trên cao, chẳng phải ai cũng mua được. Bây giờ đồ Mỹ lê la dưới đường, giá cũng sát sạt dưới đường. Người mua kẻ bán bận bịu như không hề biết là họ đang bị kéo đi theo một khúc quanh của lịch sử. Khúc quanh gắt dữ dằn”.

Đời tôi cũng quanh theo khi vào giữa tháng 5, tôi xách chiếc túi nhỏ tới trường Trưng Vương trình diện đi “học tập cải tạo”. Đó là lần thứ nhất tôi xa Sài Gòn. Chẳng kịp nhỏ được một giọt nước mắt. Cải tạo (sic) về, chúng tôi như những con kiến bị vây khổn, chỉ tính đường thoát đi xa. Mãi tới mười năm sau, tôi mới thực sự xa Sài Gòn. Lần này tôi mới có nước mắt, không biết là nước mắt vui hay buồn!

Sài Gòn đến với tôi trước khi tôi tới Sài Gòn. Cuối thập niên 1940, ông anh họ con một ông bác tôi, từ Sài Gòn ra Hà Nội chơi. Anh em tôi cứ ngơ ngẩn khi nghe ông anh nói tiếng Sài Gòn trong lúc chơi đùa với nhau. “Tìm” được ông anh Sài Gòn nói là “kiếm” khi chúng tôi chơi trò trốn tìm. “Được” lại gọi là “đặng”. “Thằng ấy” thành “thẳng”. Và tiếng “ủa” ông anh tôi thốt ra thường xuyên khiến chúng tôi cười ngất. Ngày đầu ở Sài Gòn, thấy một đám cãi nhau ngay trước cửa nhà ở đường Lê Thánh Tôn, gần chợ Bến Thành, tôi chạy ra coi. Hai bà buôn bán la lối, xỉa xói kịch liệt. Tôi dỏng tai ra nghe. Những âm thanh lạ lùng hình như không phải là tiếng Việt. Khi trở vào nhà, ông bác tôi hỏi mấy người đó gây nhau chuyện chi vậy, tôi ngây ngô trả lời: “Cháu chẳng hiểu họ nói gì!”. Ông bác tôi cười ngất thằng cháu Bắc Kỳ di cư ngồ ngộ! Mới nghe thì thấy giọng Sài Gòn cũng ngồ ngộ. Cái giọng như một thứ trái cây chín nẫu, nhẽo nhẹt nhưng thơm ngọt tình thân. Ông Hải Phan có những phân tích kỹ lưỡng về cái giọng Sài Gòn: “Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang, sang sảng riêng…Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu… Người miền khác có thích hay khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dzìa nghen!” . Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh dzìa hen!”. Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!”. “Thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên lên tiếng “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái…Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?” . Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”…Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà, “coi dzậy mà hổng phải dzậy”.

Sống lâu với Sài gòn, đã quen với cái giọng Sài Gòn, thấy dễ thương chi lạ. Nhất là nghe người con gái Sài Gòn thủ thỉ tiếng Sài Gòn. Những đứa trẻ di cư năm 1954 đó, sống với Sài Gòn, chơi với bạn bè Sài Gòn, lớn lên bồ với con gái Sài Gòn, thấy giọng Sài Gòn nghe rất hợp với những thủ thỉ tâm tình. Nhiều ông bạn Bắc Kỳ di cư của tôi chỉ vì một cái giọng mà rước về nguyên một con người. Ông M.Q.H. diễn tả sự khác biệt này bằng một hình ảnh: “Nếu phải so sánh Sài Gòn với Hà Nội chẳng hạn, thì ta có thể so sánh ngay hai loại ổi của hai xứ. Ổi đào Hà Nội thơm lừng, ngọt ngay, ruột đỏ tươi rất đẹp, nhưng cùi mỏng, hột to, vừa khó nhá vừa chỉ nhắm được tí là hết. Ổi sài Gòn to hơn nắm tay, cùi dày, không ngọt và thơm như ổi đào nhưng giòn tan, cắn một miếng là mát lịm, lại có thể chia cho nhiều người ăn, chấm muối ớt, nghe qua là chảy nước miếng. Con gái Sài Gòn cũng vậy, nghe qua là…chảy nước miếng!”.

Sài Gòn dần dần thân tình, thấm vào máu, nằm trong tim của lũ chúng tôi. Vậy nên tới bây giờ, nhớ về quê hương, chỉ nhớ tới Sài Gòn. Tôi đã bao lần định trách khéo ông Du Tử Lê đã làm chết tim tôi khi nghe bản nhạc “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn” được phổ từ thơ của ổng. Vậy mà bao lần gặp ông, khi ở Cali, khi ở Montreal, tôi chẳng thốt ra lời được. Những địa danh Thị Nghè, Xa Lộ, Hàng Xanh làm tôi chết điếng nỗi nhớ nhà.

ngỡ hồn tu xứ mưa bay
tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa
đêm về trên bánh xe qua
nhớ em Xa Lộ nhớ nhà Hàng Xanh
nhớ em kim chỉ khíu tình
trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
nắng Trương Minh Giảng lá hè Tự Do
nhớ nghĩa trang: quê bạn bè
nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường
đêm về trên vết xe lăn
tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào?


Sài Gòn, cái nôi của tuổi mới lớn, là những chói chang trong mỗi chúng tôi. Tuổi trẻ chúng tôi ở đó. Tình yêu đầu của chúng tôi ở đó. Mảng đời tươi vui nhất của chúng tôi ở đó. Dễ gì quên được. Nhà văn Lý Thụy Ý cũng không bao giờ quên: “Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp ciné. Món bánh tôm hẻm Casino. Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…Sài Gòn của tôi “sáng nắng chiều mưa”. Mưa như được lập trình sẵn. Hoặc chiều hoặc sáng, có khi… cùng giờ nên người Sài Gòn có thể nhởn nhơ bát phố khi “cơn mưa qua”, rất ít khi mưa như… đòi nợ! Nắng Sài Gòn không quá gắt. Có lẽ nhờ thế nên mới chợt mát chỉ qua màu áo lụa Hà Đông. Sài Gòn của tôi có những ngôi trường đi vào thơ và nhạc như Văn Khoa, Luật, Gia Long, Trưng Vương, những con đường địa chỉ báo như Lê Lai, Phạm Ngũ Lão… Hồn đất và hồn người quyện nhau hồn hậu, chân tình…Sài Gòn của tôi trẻ – luôn luôn trẻ. Không phải vì thiếu phố cổ hay người Sài Gòn không thích “ra vẻ cụ” mà vì Sài Gòn luôn luôn mới, hồn nhiên và dễ thương, không điệu đà, kệch cỡm. Sài Gòn của tôi còn nhiều hơn thế. Không diễn tả hết dù văn hoa cách mấy. Không lớn lao gì, kỷ niệm chỉ chứa đầy ngăn cặp học trò. Sự ồn ào sống động, dễ thương của vùng đất và con người. Đi xa, cứ về đến cầu Sài Gòn hay cầu Bình Điền là coi như đến nhà. Như bạn bè cùng trang lứa, tôi giữ Sài Gòn như giữ chính cuộc đời mình. Khóc một ngày khi thương xá Tam Đa bị thiêu rụi. Thức một đêm khi Eden bị đập bỏ”.

Sài Gòn ngày nay đang bị cắt lìa khỏi quá khứ. Những thương xá Tam Đa, hành lang Eden, đường Tự Do còn níu chăng những bước chân bát phố của chúng tôi một thời hoa mộng. Những Pagode, Brodard, Givral ngày xưa nay đã bị cày nát, mất máu. Có một lần, về với Sài Gòn, ngồi lại với bạn bè còn lại tại Givral, tôi đã như được sống lại thời xưa cũ. Nếu cần khóc, chắc tôi cũng khóc được, nhưng ngày đó tôi chỉ lâng lâng như một thời quá khứ bỗng vụt dậy, khẽ lay vai tôi, ấn chìm hồn tôi xuống. Givral nay không còn nữa. Ngày nghe tin Givral bị khai tử cùng với hành làng Eden, nhà sách Xuân Thu, tôi đã lặng đi. Bạn bè cũ ngày đó, nay biền biệt. Nhà thơ Đỗ Trung Quân tiếc nuối. “Givral khai trương đồng thời với tòa nhà Vincom Center. Nó vẫn nằm ở vị trí cũ. Nhưng, tất nhiên, nó không còn như cũ. Một Givral mới với một lịch sử đi qua quá sâu đậm với người Sài Gòn. Những ai nặng hoài niệm một không gian ấm cúng kiểu Tây hẳn sẽ hoàn toàn lạ lẫm với Givral hôm nay, kiến trúc tổng thể của khối nhà Vincom pha trộn kiến trúc Á- Âu, nó phảng phất đường nét của kiến trúc đâu đó trên đảo quốc Singapore. Givral mới cũng xóa hẳn phong cách kiểu Pháp đã có hơn nửa thế kỷ của nó. Giờ đây, dù lộng lẫy, nó chỉ như một quán cà phê hộp có bán bánh ngọt. Thế thôi! Hóa ra muốn làm văn hóa, hay tìm lại một không gian mà lịch sử tình cờ để lại nơi đây, không dễ dàng chút nào. Nó đòi hỏi những người tiếp quản, và tiếp tục nó cần nhiều điều hơn chỉ là nơi “xơi bánh ngọt – uống cà phê”.

Sài Gòn đã mất dấu. Lâu lắm tôi không về lại Sài Gòn. Song thân tôi đã lần lượt theo nhau đi trong hai năm liền. Đó là hai lần cuối cùng tôi về lại Sài Gòn, để sống những giờ phút buồn bã của chia lìa. Cũng đã trên chục năm. Ngày đó, Sài Gòn mới chỉ mất quán Cái Chùa. Nhìn trên mạng internet thấy những hình ảnh diêm dúa của Sài Gòn ngày nay, tôi thấy hụt hẫng. Trát son trát phấn, Sài Gòn như xa lìa chính mình. Không còn là Sài Gòn của chúng tôi. Ông Nguyễn Hậu, một người mới từ Bắc vào Sài Gòn, cũng thấy tiếc Sài Gòn xưa, Sài Gòn thời đích thực là Sài Gòn. “Sài Gòn xưa thật đẹp, văn minh và thanh bình với những con người hiền lành, mộ đạo. Nếu không có những bức ảnh tư liệu mà mỗi ngày càng được người ta chia sẻ càng nhiều, không có hàng ngàn những bản thu âm trước 1975 về dòng nhạc trữ tình Sài Gòn đã một thời lên tới đỉnh cao của văn hóa/ nghệ thuật, rồi các kiệt tác văn chương…, những người sau này ắt hẳn chẳng bao giờ tin vào điều đó – Hòn ngọc Viễn Đông – vì sách giáo khoa không nói như vậy. Tôi đến với mảnh đất này với tâm thế của một người hiền lành và tôi cũng nhanh chóng nhận ra mình chưa đủ tử tế và hiền như Sài Gòn. Tôi tri ân Sài Gòn như đất mẹ thứ hai đã cho tôi biết bao điều tốt đẹp, đã dung dưỡng và trao cho tôi những điều thật tử tế. Tôi đến và ở lại Sài Gòn không chỉ vì mưu sinh, một ước mơ ngông cuồng nữa, mà vì tôi yêu, tôi thấy mình thuộc về mảnh đất này. Tôi cũng biết nhiều người xứ tôi đã làm cho Sài Gòn dữ và biến dạng đi từng ngày. Tôi chỉ có tâm nguyện một ngày còn ở lại nơi này là một ngày gieo xuống những hạt mầm lành, gieo xuống sự tử tế và gìn giữ những hạt mầm tử tế còn sót lại… Tôi chỉ là một tay Bắc Kỳ lạc thời, tơ tưởng và hướng đến cái đẹp và sự tử tế. Tôi tin vào những giá trị bền vững theo thời gian và trên con đường ngược chiều ấy tôi tìm thấy hay nói đúng hơn là nhận ra những người cũng ấp ôm một điều tốt đẹp nào đó cũng đang cố gắng đi ngược chiều đồng loại. Tôi nhớ hoài một câu nói của người bạn đời của mình: “Đêm hỗn mang thắp hỏa châu đi tìm bộ lạc”… Có lần một người bạn Sài Gòn mà tôi rất quý mến nói “anh thật sự là một người Sài Gòn”, với tôi, đó là lời khen tặng mà tôi trân trọng vô ngần và có thể nói là hãnh diện nhất (Có lẽ là không xấu hổ với những tiền bối đến đây từ những năm 54 và rất được người Sài Gòn yêu mến)”.

Cái mà Sài Gòn làm được là đã thu phục được chân tâm của những con người ở bên kia vĩ tuyến. Chỉ bằng sự văn minh và đáng yêu của chính mình. Chắc chúng ta hầu như ai cũng biết về giai thoại nhà văn Dương Thu Hương đã ngồi khóc trên vỉa hè Sài Gòn ngày bà theo đoàn quân tiến vào Sài Gòn. Bà đã trả lời nhà báo Đinh Quang Anh Thái của báo Việt Tide vào cuối năm 2007: “Khóc thì tôi có hai lần khóc.Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cả mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ. Ông Thái đừng quên rằng, ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người.Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ . . .nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải”.

Sự hàm hồ của lịch sử đã cướp đi cái tên Sài Gòn. Sài Gòn ngày nay đang đội vòng gai. Nhưng cái tên Sài Gòn vẫn mãi mãi ở trong lòng người dân Việt, nhất là trong sâu thẳm tâm trí của chúng tôi, những đứa con của Sài Gòn.

Nguyễn Xuân Hoàng

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Phép Lạ...
Châu Thổ
Bạn tôi gọi điện, giọng nghiêm trọng: Kiếm gấp giùm một người giúp việc nữ đứng tuổi, có năng khiếu săn sóc người già. Cho ai? Cho ông bà già, ông già bị ung thư tiền liệt tuyến giai đoạn cuối, đau đớn lắm, bao nhiêu người giúp việc thuê làm chỉ vài tuần là hoặc ông già đuổi, hoặc người ta bỏ việc vì tính khí cáu bẳn của ông già.

Giới thiệu đến người thứ 41 bạn tôi mới ưng ý. Vâng, siêu sao ôsin mà tôi giới thiệu là một người phụ nữ đẫy đà, có đủ các tiêu chuẩn đặt ra. Nàng khoảng 40 xuân xanh, chưa từng lấy chồng.

Một tuần sau khi đưa nàng vào chăm sóc ông già bạn tôi, tôi nhận được điện thoại của bạn gọi đến, giọng vui như chim sáo. Này nhé, tuyệt vời! Cả mấy tháng nay đêm nào ông già cũng đau đớn không ngủ được, các loại thuốc giảm đau gần như không còn tác dụng.

Vậy mà từ khi có nàng, ông già vừa rên lên khe khẽ, lập tức nàng đến đỡ đầu ông già lên, áp sát vào lòng mình, nơi có đôi gò bồng đảo phốp pháp mềm hơn gối lông ngỗng, ấm áp hơn nắng ban mai, lại thêm những tiếng đập thổn thức đều đặn của trái tim tràn nhựa sống, bàn tay nàng mềm mại vừa xoa nhẹ hai bên thái dương ông vừa hỏi giọng du dương:
- Ông ơi, ông nhìn lên bức tranh kia kìa, có đẹp không ông? Con hát ru cho ông dễ ngủ nghe!
- Ừ! Khẽ thôi!

Và thế là nàng hát, hát thật khẽ, thật nhẹ, thật hay. Và ông già ngủ thiếp đi một mạch cho đến sáng.

Này nhé, bấy lâu nay, lúc nào ông cũng gắt gỏng chuyện người ta cứ ép ông ăn ăn uống uống. Cuộc sống đối với ông như vậy là đã quá đủ rồi. Vậy mà nàng cứ bưng chén xúp đến, nhoẻn một nụ cười thật mộc mạc dễ thương với ông, lấy cái khăn ướt lau khắp mặt cho ông, đưa bàn tay mềm mại xoa nhẹ lên khắp bụng ông nói thì thầm:

- Ông ơi, bụng lại xẹp hết cả rồi, cho vào tí xúp ông nhá!
Ông lại nhìn nàng như muốn bật cười vì tính hay dụ dỗ ông của nàng:
- Ừ!
- Tí thôi í mà, con nấu cho ông đấy, ngon lắm!
Và cứ thế, đút cho ông một muỗng, nàng lại nói một câu, vuốt lên bụng ông mấy cái. Ăn xong nàng lại còn nghiêng tai áp sát xuống bụng ông, nói thì thầm:

- Bụng ơi, đủ chưa? Cố mà nghiền kỹ cho ông nha! Cố mà đánh nhau với mấy thằng ma cô cho nó chết hết đi cho ông mau hết bệnh nha!

Thế là ông lại cười, cười to nữa là đằng khác.

Này nhé! Mỗi lần lau rửa chỗ vết mổ, lau rửa cái của quí của ông, bàn tay nàng cứ như diễn viên múa chèo ấy, nâng nhẹ lên, lấy bông gòn nhúng nước ấm, lau cẩn thận như sợ chạm phải kíp mìn nổ, vừa lau vừa nhìn ông cười duyên hỏi:
- Ông ơi, con lau cho ông, ông có thấy dễ chịu không? Lau cho nó sạch sẽ, thoáng mát ông nha!

Ông lại nhìn nàng, ánh nhìn đầy vẻ biết ơn, ánh nhìn tràn ngập niềm vui sướng, thích thú. Trong đáy mắt ông có điều gì đó mới mẻ.

Phải nói, nghe chuyện của nàng, mũi tôi phình to hết cỡ.

Không đầy một tháng sau, bạn tôi lại gọi điện thoại lúc nửa đêm, giọng hốt hoảng, cầu cứu, hỏi địa chỉ và điện thoại liên lạc với nàng. Tôi ngơ ngác: nàng đang chăm sóc ông bà già mà?

- Không! Bà già đuổi nàng đi cả tuần nay rồi.
- Tại sao?
- Bà già ghen! Này nhé, không ghen sao được! Lúc đầu tìm được người chăm ông tuyệt vời thế bà mừng lắm, giao khoán trắng cho nàng chăm ông, bà lên lầu ngủ thẳng giấc.

Sau vài ngày, bà mới để ý thấy ông dạo này là lạ thế nào ấy. Này nhé, lâu lắm rồi không thấy ông cười, vậy mà mấy tuần nay cứ thấy ông cười nói vui vẻ!

Này nhé, da dẻ ông cứ như là có sắc hồng ấy!
Này nhé, chẳng thấy ông rên la đau đớn vật vã nữa!

Bà giành chén xúp trên tay nàng để ngồi xuống cạnh giường ông, cũng nhẹ nhàng đưa muỗng xúp vào miệng ông. Khó nhọc lắm ông mới há miệng ra, thức ăn chưa kịp đụng lưỡi ông đã nhăn mặt, nhè ra cả gối, mắng bà là cho cả ký muối vô chén xúp hả?

Này nhé, tối đến, bà bảo nàng lên gác vào giường bà mà ngủ cho ngon giấc, để bà ngủ trong phòng nàng. Nàng tròn xoe mắt ngạc nhiên thưa cả tuần nay nàng có ngủ trong cái phòng dành riêng cho nàng đâu!
- Thế mày ngủ ở đâu?
- Dạ con ngủ luôn bên cạnh ông cho tiện, để ông trở mình là con xoa cho ông ngay. Thế là ba máu sáu cơn, bà đuổi nàng cuốn xéo khỏi nhà ngay lập tức.

Khổ nỗi, suốt một tuần rồi, không có nàng, ông cứ nằm yên, mắt mở trừng trừng nhìn lên trần nhà, thực hiện khẩu hiệu ba không: không nói! không ăn! không ngủ!

Cuộc họp đại gia đình ngay lập tức được tổ chức để biểu quyết áp đảo bà già là phải chiều lòng ông già trong những ngày cuối cùng sống trên cõi đời này. Bà già ấm ức lắm, nhưng đành gọi các con lại để nói rằng mẹ nghĩ kỹ rồi. Thôi thì cứ gọi cái con đó lại đi, để ba con được nhẹ nhàng sung sướng trước khi ra đi!

Tôi đã phải vất vả mới truy tìm lại được nàng. Tất tả, háo hức, đưa nàng trở lại nhà ông bà già bạn tôi. Tôi có cảm giác như mình đang mang phép lạ đến ban cho một người đàn ông đang đau đớn vì bệnh tật trong những ngày cuối cùng, bớt đau đớn vật vã.

Nhưng không, muộn rồi, ông già vừa ra đi. Người ta phải vuốt mắt ông mãi ông mới chịu thôi không nhìn trân trân lên trần nhà để tìm kiếm phép lạ nữa.

nhuvan
Posts: 383
Joined: Sun Mar 27, 2016 8:29 pm

Post by nhuvan »

LỜI NGUYỀN
Truyện của Phương Lan


Lần nào cũng vậy,mỗi khi xe đò sắp tới Đà Lạt là lòng tôi lại nôn nao những cảm giác xao xuyếnkhó tả. Nhất là lần này, không hiểu saobỗng dưng tôi cảm thấy bồn chồn và hồi hộp một cách kỳ lạ… Có lẽ vì tôi sắp đi lấychồng, nên sẽ ít còn dịp trở về thăm lại chốn xưa, nơi đã ghi dấu bao nhiêu kỷniệm không thể quên.

Qua khỏi Định Quán, xe bắt đầu tăng tốc độ, gió ào ạt lùa quacửa xe, mang theo không khí trong lành của miền cao nguyên, làm mọingười đều cảm thấy dễ chịu. Trời mớivào thu nhưng hãy còn hơi hướm của mùa hè, hoa hồng, hoa tường vi vẫn đang nởrộ, và những hàng cây phong hai bên đường, lá vẫn chưa đổi màu. Đã quá trưa, mặt trời ngay trên đỉnh đầu,chiếu những tia nắng ấm áp làm tan đi cái giá lạnh của miền rừng núi, tuy vậynhưng cũng có vài người sửa soạn đem áo len ra mặc. Xe qua khỏi Bảo Lộc đã lâu rồi, và bây giờ đang trên đường vàothị xã Đà Lạt. Con đường này, đối với tôiquen thuộc lắm, tôi nhớ từng khúc quanh, con đường đất đỏ, từng khóm cây và nhữngngôi nhà hai bên đường dọc theo sườn đồi…

Một đặc điểm của Đà Lạt là đứng ở chỗ nào cũng nhìn thấy cảnh vậtở những cao độ khác nhau. Phía trên dốccao, nổi bật ngôi nhà thờ mái đỏ với cây thánh giá cao vút, in lên nền trời màuxanh lơ có vài cụm mây trắng trôi lang thang. Dưới dốc là thung lũng bạt ngàn, nhà cửa mọc san sát, bên kia thung lũnglà nghĩa trang của thành phố, nơi Quân đang yên nghỉ giấc ngàn thu. Phía xa, trên đỉnh một ngọn đồi cao nhất làtu viện Domaine De Marie của dòng nữ tu áo trắng, nơi mà Quỳnh Như, người bạnthân nhất của tôi đang ẩn mình tu tập, hiến dâng đời mình cho thiên Chúa.

Quỳnh Như và tôi là bạn với nhau từ lúc còn nhỏ, học chung trườngCouvent des Oiseaux. Gia đình Như gốcgác ở đây, còn gia đình tôi từ Sài Gòn lên Đà Lạt lập nghiệp từ những năm đầucủa thập niên 1960. Hai gia đình ở gầnnhau, chỉ cách một con đường ngắn. Dạođó, chúng tôi còn bé lắm, ngày chủ nhật thường theo cha mẹ đi nhà thờ, nhưngchúng tôi không vào bên trong đọc kinh, mà chỉ thích chơi đùa ở bên ngoài, nơivườn hoa rất đẹp trong khuôn viên của nhà thờ. Chúng tôi đuổi bắt bướm, hái hoa, hoặc đi lượm những quả thông rơi đầytrong vườn. Những chiều tan học, chúngtôi thường tụ tập với lũ trẻ cùng tuổi, rủ nhau đi bắt dế, bẻ trộm trái cây,hoặc chơi những trò nhảy dây, bóng chuyền, hay trốn tìm…Tôi hiếu động, tinhnghịch như con trai, còn Như thì nhu mì, hiền lành. Mặc dù chỉ hơn tôi một tuổi, Như lúc nào cũng nhường nhịn tôi nhưmột người chị, nên giữa chúng tôi không bao giờ xảy xa những chuyện cãi cọ,hoặc tranh dành. Như và tôi cùng lớnlên ở đây, và Đà lạt đã ghi dấu bao nhiêu kỷ niệm của chúng tôi khi còn thơ ấu,cũng như khi lớn lên thành những thiếu nữ dậy thì. Như đẹp lắm, dáng dấp mảnh mai, quí phái, đôi mắt trong suốt nhưnước hồ thu, khuôn mặt trái soan trắng nõn, và đôi môi mọng đỏ, nhìn là thấymê. Như đẹp một vẻ dịu dàng, mong manhnhư liễu, còn tôi thì khoẻ mạnh, nẩy nở như một thiếu nữ Tây phương. Cả hai chúng tôi đều nổi tiếng là những hoakhôi của trường. Chúng tôi đều không cóchị em gái, nên coi nhau như chị em ruột, thân nhau tới độ dùng chung son phấn,mặc áo quần cùng mẫu thời trang, hay đi khiêu vũ, thích ca nhạc, và cùng mênhững tài tử chiếu bóng… Ngay cả chuyện tình cảm, chúng tôi cũng không dấugiếm, Như và tôi thường đem những lá thơ tình của mình vào lớp cho nhau đọc.Đến khi có bạn trai, chúng tôi cũng thường hẹn hò đi chơi chung.

Năm hai mươi tuổi, Như có ngườiyêu là Quân, một bác sĩ y khoa mới ra trường, người phương phi cao lớn, tínhtình vui vẻ bặt thiệp, và rất đẹp trai. Quân giống như một thỏi nam châm thu hút sự chú ý của các cô gái mớilớn. Anh chàng lại hay nịnh đầm và tínhtình rất bay bướm. Chúng tôi vẫn thườngđi chơi chung, Như rất tế nhị trong cách đối xử, nên tôi luôn luôn thấy thoảimái, và không hề có mặc cảm thừa thãi trong các cuộc đi chơi tay ba đó, cònQuân thì lúc nào cũng lịch sự, chiều chuộng cả hai. Như thường tâm sự với tôi về tình yêu và những dự tính trongtương lai. Hai người yêu nhau dòng dãhai năm mới quyết định làm đám cưới, và tôi được Như mời làm phù dâu. Gia đình Như và gia đình Quân đều giàu có,nên đám cưới thật linh đình, cô dâu Quỳnh Như yêu kiều, tươi như hoa, e lệ đibên chú rể đẹp trai, cùng tiến vào thờ trong tiếng vỗ tay vang dội của mọingười, ai cũng khen hai người thật xứng đôi, đúng là một cặp vợ chồng lý tưởng.

Cuộc hôn nhân tưởng rằng hạnh phúc đó, không kéo dài được bao lâu,chỉ ba năm sau ngày cưới, Quân đã ra người thiên cổ trong một tai nạn xe hơithật rùng rợn. Như tự cho mình là thủphạm trong cái chết của Quân, vì đêm hôm cuối cùng trước khi xảy ra thảm trạng,hai người đã cãi nhau thật kịch liệt, và Quân đã giận dữ, đùng đùng lái xe bỏđi và xảy ra tai nạn, chiếc xe lao xuống vực thẳm, bốc cháy và Quân chết tanxác.

Điên cuồng vì đau khổ và hối hận dày vò, Như thề nguyền sẽ suốtđời ở vậy, sám hối để chuộc tội với Quân, lúc đó Như mới hai mươi lămtuổi. Để thực hiện lời hứa, Như đã xinvào ở trong tu viện, quyết tâm xa lánh việc đời. Sau vụ đó ít lâu, tôi cũng rời Đà Lạt, xin hoán chuyển về Sài Gònđể tiếp tục nghề dạy học. Trước khichia tay, chúng tôi hẹn gặp nhau một lần chót. Như làm một bữa cơm tiễn biệt, nhìn thức ăn ê hề, tôi hỏi:

- Chỉ có hai đứa mình, sao bồ làm nhiều đồ ăn dữ vậy?

- Thì mai bồ đi xa, tôi phải làm tiệc tiễn hành chứ.

Như nói với giọng bình thường, nhưng khoé mắt hơi đỏ, tôi cũngnghẹn ngào, gượng cười:

- Bồ làm như tôi là tráng sĩ Kinh Kha, ra đi không hẹn ngày về… Tôicó đi đâu, rồi cũng sẽ về thăm bồ, vì làm sao tôi có thể dứt khoát xa rời ngườibạn thân của tôi, và xa rời Đà Lạt là quê hương thứ hai của tôi được chứ?

- Bồ nói đúng, chúng ta đã có với nhau quá nhiều kỷ niệm, tôi tinrằng bồ sẽ không quên được đâu.

Nói tới đây, Như ngưng lại, nhìn tôi bằng ánh mắt rất lạ, rồi mớibuồn rầu tiếp tục:

- Chúa đã sắp đặt cuộc đời của hai đứa mình có liên quan vớinhau. Chúng ta cùng lớn lên ở đây, làbạn thân của nhau hai mươi năm rồi, cùng chia xẻ mọi thứ, vui cũng như buồn…Quân chết đi là tôi mất tất cả, đời tôi chẳng còn vui thú gì nữa, tôi biết bồcũng đau lòng lắm, phải không?

Tôi gật đầu, mặc dù trong thâm tôi nghĩ khác, cái chết của Quân cólàm tôi bàng hoàng, xúc động thật đấy, nhưng chỉ một thời gian ngắn, rồi đâulại vào đấy, không như Như đau khổ đến tuyệt vọng, có lẽ vì Như đã yêu quá sâuđậm người đàn ông duy nhất của đời nàng. Nhìn Như giống như một cái xác không hồn, tôi thầm thương xót chobạn. Cá tính của chúng tôi từ thuở nhỏvẫn không thay đổi, tôi luôn luôn hiếu thắng nhưng nông nổi, hễ thích cái gìthì tìm cách chiếm đoạt cho kỳ được, xong rồi lại chán, không giống như Như âmthầm nhưng sâu sắc. Như sống về nội tâmnhiều hơn, tình cảm cũng kín đáo, không để lộ ra ngoài, đố ai có thể đoán đượcnhững ý nghĩ thầm kín trong đầu của cô nàng qua bộ mặt luôn luôn trầm lặng,khép kín.

Bữa ăn rất buồn, gần như không ai đụng đũa. Lúc tiễn tôi ra cửa, Như cố gượng một nụcười héo hon:

- Đâu có ngờ cuộc đời của tôi lại trở thành thế này? tôi chưa kịpchuẩn bị tinh thần để chịu đựng. Nhưngbồ đừng lo, tôi sẽ không tự tử đâu, vì tôi còn phải sám hối, còn nhiều việcphải làm trước khi nhắm mắt.

Tôi rùng mình, lời nói sao nghe như một lời nguyền… Tôi cúi mặt,tránh những tia nhìn quan sát toát ra từ cặp mắt rất buồn của Quỳnh Như lúc nàytrông giống như hai cái giếng sâu thăm thẳm, đầy bí hiểm khiến tôi rờn rợn. Tôinắm lấy tay bạn một lúc rồi mới buông ra:

- Thôi chúng mình chia tay nghe! Bồ ở lại mạnh giỏi, nhớ giữ gìn sức khoẻ. Thu xếp xong công việc, thếnào tôi cũng sẽ lên thăm bồ, đây với Sài Gòn đâu có bao xa?

Như gật đầu, giọng sũng nước mắt:

- Bồ thì bỏ đi, Quân cũng đã chết, tôi cô đơn quá, chẳng còn ai đểtâm sự, để an ủi… Làm sao tôi chịu đựng nổi đây?

- Hy vọng thời gian sẽ hàn gắn vết thương cho bồ. Thôi, tôi đi nhé?

- Bồ cũng bảo trọng. Như dặnvới, khi tôi bước ra cửa, nhớ giữ liên lạc!

- Ừ, tôi không quên đâu! Bồ vô nhà đi kẻo lạnh, sương xuống nhiềurồi đó.

Nhìn dáng Như thiểu não, lòng tôi bỗng man mác buồn và tôi thươngbạn vô kể. Giữ lời hứa, chúng tôi vẫnthường xuyên thơ từ cho nhau và mỗi năm một lần, tôi đi thăm Như, đã năm nămrồi, thành một thói quen.

Năm nay lên Đà Lạt, tôi đem tặng bạn một cái áo lạnh có cả khănquàng màu tím nhạt thật đẹp, một gói nho khô và mấy cái băng nhạc. Như mọi lần, Quỳnh Như chờ tôi ở phòng tiếpkhách của tu viện. Trông Như bây giờkhác xưa nhiều quá, mái tóc dài mượt mà khi xưa vẫn để xõa xuống vai, ôm lấykhuôn mặt trái soan trắng nõn, bây giờ được vén cao, che dấu dưới nếp mũ vảixám, Như mặc bộ đồ nữ tu cũng màu xám, cổ đeo một chuỗi hạt có cây thánh giábằng bạc lủng lẳng ở trước ngực. Tôi mỉm cười, nói đùa:

- Chào sơ Therese Như! Sơ có khoẻ không? dạo này trông sơ gầy đinhiều.

- Đừng gọi tôi như thế. Nhưvội vã nói, tôi chưa được ơn Chúa cứu rỗi, nên chưa được chấp nhận làm tôi concủa Chúa... Tôi vẫn còn ở trong thời kỳ thử thách.

- Trông bồ đạo mạo quá. Ở tuviện đã lâu, sao không quyết định dứt khoát?

- Tôi đã nguyện hiến dâng đời mình cho Chúa, nhưng lòng trần còn vấnvương nhiều quá. Mẹ bề trên cho tôithêm một thời gian nữa để suy nghĩ cho chín chắn.

Như nói xong, thở dài:

- Tuần trước, ba má tôi cũng tới thăm. Tội nghiệp, ông bà đã già rồi và buồn bã hết sức, ông bà chỉ mongtôi sớm quyết định dứt khoát, và bảo tôi nếu không tu được thì trở lại cuộc đờicủa một người bình thường và đi lấy chồng…

- Ông bà cụ kể cũng có lý. Tôi nói, bồ mới ba mươi tuổi, còn trẻ lắm, lại đẹp nữa, sao không làmlại cuộc đời?

Như nói một cách nghiêm trang:

- Bồ tính làm sao tôi có thể bước đi bước nữa khi lòng đã nguội lạnhvà tôi vẫn chưa quên được Quân? Tôi vàođây là để sám hối tội lỗi mình đã gây ra, chính tôi đã giết Quân, hôm đó nếutôi không cãi nhau với Quân thì anh ấy đâu có giận dữ bỏ đi và lao xe xuốngvực? Vì tôi mà Quân đã chết, tôi khôngbao giờ quên được cảnh tượng đêm hôm đó, hãi hùng quá, nó sẽ ám ảnh tôi suốt cảcuộc đời… Đã giết người thì phải đền tội, tuy pháp luật không bỏ tù, nhưng lươngtâm tôi không bao giờ tha thứ.

Như nói xong, nhắm mắt lại, khuôn mặt hằn lên những nét đau đớnkhông thể tả. Thương bạn quá, tôi nắmchặt lấy tay Như an ủi, và để cho bạn quên đi những ám ảnh về một tội lỗi tưởngtượng, tôi cố xoay câu chuyện qua một hướng khác. Đưa cho Như gói quà tặng, tôi nói:

- Vào thu rồi, Đà Lạt bắt đầu lạnh rồi đấy. Như xem cái áo này có đẹp không? tôi đã mấtcả một buổi chiều để đi chọn cho bồ đó. Mặc thử đi, ấm lắm.

Như mân mê mãi làn vải dạ mịn màng của cái áo măng tô màu tímnhạt, mắt nhìn lơ đãng vào khoảng không một lúc sau mới quay lại nói, giọngtrầm hẳn xuống:

- Màu này là màu Quân vẫn thích… Bồ còn nhớ không? xưa kia tôi cũngcó một cái áo dài màu như thế, mặc vào, Quân khen không tiếc lời, thế là mấyhôm sau, bồ cũng bắt chước, may một cái áo y hệt.

Tôi nói hơi có vẻ ngượng:

- Ừ, dạo đó tụi mình thích mặc giống nhau.

Như im lặng, nét mặt đăm chiêu như đang nghĩ ngợi, tôi vội vã nóisang chuyện khác, tôi hỏi Như về đời sống ở trong tu viện, Như đáp:

- Trầm lặng và buồn, mỗi người hình như đều sống trong một thế giớiriêng, chỉ trừ những lúc đọc kinh thì tất cả đều hướng về Chúa.

- Mẹ bề trên thế nào?

- Mẹ Maria là một người đáng kính, bà chăm sóc phần hồn cho tất cảcác sơ và những người tập tu như tôi.

Như vừa nói vừa mở gói nho khô ra nếm vài hạt, khen ngon rồi rủtôi ra vườn. Chúng tôi vừa đi vừa nóichuyện, Như hỏi tôi về gia đình, về công ăn việc làm của tôi. Thong thả, tôi kể cho Như nghe về cha mẹtôi, về vài người bạn cũ, về Sài Gòn với những biến động chính trị, những cuộcbiểu tình… Như chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng mỉm cười. Nhân một lúc thấy Như vui vẻ, tôi mới nói:

- Hôm nay tôi tới cho bồ hay một tin vui của tôi, tôi sắp lập giađình.

Đang đi, Như dừng ngay lại, nhìn tôi một lúc, sắc mặt không hềbiến đổi, rồi lại tiếp tục đếm bước. Tưởng Như chưa nghe rõ, tôi nhắc lại:

- Tôi sắp lấy chồng, bồ ạ, bọn tôi định Noel năm nay sẽ làm đámcưới.

Bấy giờ Như mới nói:

- Mừng cho bồ, hai người quen nhau lâu chưa?

- Mới năm ngoái, tôi gặp Tường trong một buổi dạ vũ…

- Tên anh chàng là Tường à? anh ta làm nghề gì vậy?

Tôi ngập ngừng:

- Tường cũng là một… bác sĩ.

- Cũng là bác sĩ? Như lậplại, thế ông ta có biết Quân không?

Tôi lắc đầu:

- Tường học ở bên Pháp và mới về nước.

- Không, tôi muốn hỏi Tường có biết chuyện giữa bồ và Quân không?

Tôi lạnh toát người, có cảm tưởng như máu vừa đông lại trong huyếtquản, lảo đảo vịn vào một thân cây để đứng vững, tôi hỏi không ra hơi:

- Chuyện gì giữa tôi và Quân?

Như bỗng bật lên một tràng cười dài nghe lạnh mình:

- Hahaha

Tiếng cười vừa mỉa mai vừa có vẻ chế diễu khiến tôi càng thêm nhộtnhạt. Dứt chuỗi cười, Như mới chậm rãinói:

- Thôi đi, đừng có vờ! Bồtưởng tôi không biết gì hết sao? Haingười có tình ý với nhau từ thuở vẫn đi chơi chung, dạo đó Quân và tôi chưa làmđám cưới. Tính Quân vẫn hay lăng nhăngnhư vậy, chỉ thích bắt cá bằng cả hai tay.

Tôi nuốt nước bọt hai, ba lần, phải khó khăn lắm mới mở miệng được, tôi nói gần như thì thầm:

- Bồ biết vậy sao còn lấy hắn?

Như thở dài:

- Tại tôi lỡ yêu Quân rồi. Trong đời tôi chỉ yêu một lần thôi, vàcũng tại Quân nữa, Quân nói với tôi bồ khiêu khích hắn trước, hắn thấy bồ dễdãi nên tán tỉnh chơi, còn lấy làm vợ thì Quân chọn tôi.

Như nói và nhìn tôi với một vẻ thương hại. Tôi đứng im như trời trồng, đầu cúi xuống,mặt nóng bừng một cảm giác vừa trơ trẽn, vừa xấu hổ, nhục nhã. Không bút nào tả được tâm trạng của tôi lúcđó, tôi chỉ muốn độn thổ ngay tức khắc, ước gì mặt đất nứt ra, tôi sẽ chun ngayxuống đó… Như vẫn thong thả nói tiếp:

- Quân đã thề thốt đủ thứ, vậy mà sau khi cưới tôi, hắn vẫn lén lútđi lại với bồ. Chúa ơi! bồ có hiểu tôiđã đau lòng đến thế nào không? khi người bạn thân nhất của tôi đã phản tôi,cướp chồng của tôi…

- !?!

- Nhưng tôi biếttính bồ mau chán, hy vọng rồi thế nào bồ cũng buông Quân ra, và Quân sẽ thuộcvề một mình tôi thôi. Ai dè...

- !?!

- Quân nói hắn muốnly dị tôi để cưới bồ. Điều đó làm tôiđau dớn đến cùng cực, đêm đó chúng tôi đã cãi nhau một trận dữ dội, tôi khôngtiếc lời thoá mạ Quân, vì vậy mà Quân đã giận dữ lái xe bỏ đi, và xày ra tai nạn.

Tới đây thì tôi không thể đứng vững được nữa, hai đầu gối tôi lỏnglẻo như chỉ chực sụm xuống. Như phảidìu tôi ngồi xuống một băng ghế trong vườn, rồi mới tiếp tục câu chuyện còndang dở. Như nhìn thẳng vào mặt tôi,thong thả nói từng tiếng một:

- Tôi nghĩ bồ cũng có một phần trách nhiệm trong cái chết của Quân,vì bồ là nguyên nhân của cuộc cãi vã.

Như ngưng lại một chút, lơ đãng nhìn lên trời cao. Tôi run rẩy đưa tay quệt mồ hôi đang vã ratrên trán, mặc dù lúc đó trời lạnh, cảm thấy toàn thân rã rời như không còn mộtchút sức lực nào cả, phải cố gắng lắm, tôi mới mở miệng được, lắp bắp:

- Tôi… tôi ư?

Như gật đầu, vẻ mặt vẫn không thay đổi, cô ta nhìn tôi quan sátmột lúc, rồi mới lạnh lùng buông một câu nguyền rủa thật nhẹ nhàng, nhưng cũngthật là độc địa:

- Phải, bồ tưởng rằng cứ bỏ đi xa là có thể trốn tránh được tội lỗi?đâu có dễ dàng như thế? Tôi tin rằngrồi đây trong suốt cuộc đời còn lại của bồ, bồ sẽ bị hối hận dằn vặt vì nhữnggì bồ đã gây ra cho tôi, người bạn thân nhất của bồ. Tôi bây giờ còn sống, nhưng cũng chẳng khác gì đã chết. Chỉ trừ khi bồ có can đảm giết tôi, bồ mớicó thể xoá bỏ hết tang chứng của cái quá khứ tội lỗi của bồ. Nhưng dù sống hay chết, tôi vẫn sẽ là một cáibóng ma ám ảnh bồ suốt đời. Bồ sẽ khôngbao giờ có thể sung sướng, an tâm hưởng hạnh phúc được đâu, vì lương tâm của bồsẽ không để yên cho bồ.

(Truyện này được trích trong tập truyện Còn chờmột kiếp sau của Phương Lan)

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Image

HOA MAI MẸ THÊU TRÊN ÁO GỬI CON

“Năm 18 tuổi, vì tội hành hung người khác, anh bị phán 6 năm tù giam. Từ ngày anh bị bắt, không có một ai đến thăm anh. Cha anh mất sớm, mẹ anh ở vậy, ngậm đắng nuốt cay nuôi anh khôn lớn, không ngờ anh vừa tốt nghiệp Cấp 3, lại xảy ra chuyện như vậy, khiến mẹ anh đau lòng khôn nguôi. Anh hiểu mẹ anh, mẹ anh có lí do để hận anh".

Mùa đông năm ấy, khi còn ở trong tù, anh nhận được một chiếc ao len, góc dưới của chiếc áo có thêu hình một bông Hoa-mai, trên bông hoa có kẹp một tờ giấy nhỏ: “Lo mà cải tạo cho tốt nhé con, mẹ còn trông cậy được con dưỡng già cơ mà”. Tờ giấy này, khiến một người mạnh mẽ như anh cũng phải rơi nước mắt. Đây là chiếc áo len do mẹ anh tự tay đan, từng đường kim, mũi chỉ đều hết sức thân thuộc. Mẹ anh từng nói, con người ta phải sống như bông Mai vàng giữa trời đông giá rét, càng gian khổ, càng phải nở ra những bông hoa xinh đẹp nhất. Bốn năm sau đó, mẹ anh vẫn không hề tới thăm anh, nhưng mỗi mùa đông, bà vẫn gửi đến cho anh một chiếc áo len, kèm theo tờ giấy nhỏ kia nữa. Để sớm được ra ngoài, anh nghiêm túc cải tạo, cố gắng giảm thời hạn chấp hành án. Và quả nhiên, ngay vào đầu năm thứ 5, anh được ra tù sớm.

Đeo trên vai một chiếc túi đơn sơ, bên trong là tất cả tài sản của anh: 5 chiếc áo len, anh về tới nhà. Cổng nhà bị khóa lại bằng một chiếc khóa lớn, chiếc khóa đã rỉ sắt. Nóc nhà cũng đã mọc cỏ tranh dài cả mét. Anh cảm thấy khó hiểu, Mẹ anh đi đâu rồi nhỉ? Anh chạy sang nhà hàng xóm, người hàng xóm ngạc nhiên nhìn anh rồi hỏi không phải 1 năm nữa anh mới được về ư? Anh lắc đầu, đoạn hỏi: “Mẹ của tôi đâu rồi?” Người hàng xóm cúi đầu nói bà ấy mất rồi. Đỉnh đầu anh như có tiếng sấm đổ xuống, làm sao có thể?! Mẹ anh mới hơn 40 tuổi, sao có thể ra đi sớm như vậy được? Mùa đông rồi, anh còn nhận được áo len và tờ giấy bà gửi mà.

Người hàng xóm lắc đầu, rồi dẫn anh đến nghĩa trang. Một nấm mộ mới còn đầy những đất đắp vội xuất hiện trước mắt anh. Đôi mắt anh đỏ lên, đầu óc không còn suy nghĩ được gì nữa. Một lúc lâu sau, anh mới hỏi mẹ anh đã mất như thế nào. Hàng xóm nói, vì anh hành hung người ta, mẹ anh phải vay nặng lãi để trả tiền chữa trị cho người bị hại. Sau khi anh vào tù, mẹ anh liền rời nhà, chuyển đến nhà-máy Pháo cách nhà cả 2000 km, làm công, hàng năm đều không trở lại. Mấy chiếc áo len kia, vì mẹ anh sợ anh lo lắng nên nhờ người mang về nhà, rồi người hàng xóm gửi giúp. Tết Âm-lịch năm nay, nhà máy tăng ca sản xuất pháo, không cẩn thận gây cháy. Toàn bộ công xưởng phát nổ, bên trong còn có mười mấy nhân công từ xa đến, lẫn ông chủ và người nhà đến hỗ trợ, đều chết cả. Trong đó, có cả mẹ của anh. Hàng xóm kể xong rồi thở dài, nói trong nhà vẫn còn một chiếc áo len nữa, định bụng mùa Đông năm nay gửi đến cho anh.

Gục xuống trước mộ mẹ, anh ôm đầu khóc lớn. Tất cả đều tại anh, là anh hại chết mẹ anh, anh là một đứa con bất hiếu! Anh đáng phải xuống địa ngục! Ngày hôm sau, anh bán căn nhà cũ, mang theo cái túi đựng sáu chiếc áo len rời quê mà đi. Thời gian trôi qua thật sự rất nhanh, loáng một cái, 4 năm nữa đã qua. Anh dừng chân ở một thành phố nhỏ, mở một tiệm cơm be bé, không lâu sau, anh cưới một cô gái giản dị làm vợ.

Công việc làm ăn của quán cơm rất tốt, vì đồ ngon, giá rẻ, vì sự hòa nhã của anh, và vì sự nhiệt tình của vợ anh. Mỗi ngày, 3, 4 giờ sáng anh đã thức dậy, rồi tới chợ mua đồ, đến khi trời hửng sáng, mới kéo hết rau dưa, thịt thà cần cho một ngày về nhà. Không thuê người phụ, hai người bận rộn như con quay. Bình thường, vì thiếu ngủ, mắt anh lúc nào cũng hồng hồng, đầy tia máu. Không lâu sau đó, một bà lão đẩy xe ba gác tới trước cửa nhà anh. Lưng bà còng, một chân hình như bị tật nên cứ cà nhắc, cà nhắc, bà khoa tay khoa chân một hồi, muốn cung cấp rau dưa và thịt tươi cho anh, tuyệt đối là tươi sống, giá lại rẻ. Bà lão bị câm điếc, trên mặt đầy bụi đất, thái dương và bên mắt còn có mấy vết sẹo khiến khuôn mặt bà càng thêm xấu xí. Vợ anh không đồng ý, bởi dáng vẻ của bà lão, nhìn qua thực sự rất không thoải mái. Nhưng anh không để ý tới sự phản đối của vợ, mà chấp nhận đề nghị của bà. Không biết vì sao, bà lão trước mặt này khiến anh đột nhiên nghĩ đến mẹ.

Bà lão rất giữ chữ tín, rau củ mỗi lần bà đưa tới cho anh, quả đúng là đều rất tươi. Vì thế, 6 giờ mỗi sáng, một chiếc xe ba gác chất đầy thực phẩm đúng giờ đưa đến trước cửa tiệm cơm của anh. Thỉnh thoảng anh cũng mời bà ăn một bát mì, bà lão ăn rất chậm, dáng vẻ rất hưởng thụ nó. Trong lòng anh bỗng cảm thấy xót xa, anh nói với bà lão rằng mỗi ngày bà có thể ăn mì ở chỗ anh. Bà lão cười, rồi cà nhắc ra về. Anh nhìn bà, không biết vì sao, lại nghĩ tới mẹ, bỗng dưng rất muốn khóc.

Lại nhoáng một cái, 2 năm nữa đã qua, tiệm cơm nhỏ của anh nay cũng đã trở thành Nhà-hàng, anh cũng tiết kiệm được một số tiền kha khá, mua được nhà. Nhưng người cung cấp thực phẩm cho anh, vẫn là bà lão kia.
Qua thêm nửa tháng, bỗng có một ngày, anh đứng đợi ở cửa rất lâu, nhưng không thấy bà lão đâu. Đã quá thời gian hơn một tiếng đồng hồ, bà lão vẫn chưa tới. Anh không có cách liên lạc với bà, không còn cách nào khác, đành phải bảo nhân viên đi mua rau củ bên ngoài. Hai giờ sau, nhân viên mang đồ mua về, kiểm tra lại, trong lòng anh càng thêm khó chịu, đồ trong xe kém xa đồ mà bà lão đưa tới. Đồ bà đưa tới đều đã được lựa chọn tỉ mỉ, gần như không có một cái lá héo, cây nào cây đấy tươi mơn mởn.

Vậy nhưng, những ngày sau đó, bà lão vẫn không xuất hiện.

Tết Âm-lịch sắp tới rồi, anh gói sủi-cảo, rồi đột nhiên nói với vợ anh, anh muốn đưa đến cho bà lão một chén, nhân thể nhìn xem bà đã xảy ra chuyện gì, sao cả tuần nay không đến đưa đồ? Đây là chuyện trước đó chưa từng có. Vợ anh gật đầu. Sủi-cảo chín, anh gói ghém mang đi, vừa đi vừa liên tục hỏi người bên đường có biết một bà lão chuyên đưa thịt rau với cái chân bị tật không, cuối cùng ở một ngõ nhỏ cách nhà hàng anh hai cái ngã tư, anh nghe được tin về bà.

Anh gõ cửa rất lâu, nhưng không ai trả lời. Cánh cửa khép hờ, anh thuận tay đẩy ra. Trong căn phòng nhỏ hẹp tối tù mù, bà lão đang nằm trên giường, gầy quắt như cây củi khô. Bà lão nhìn thấy anh, hai mắt mở to kinh ngạc, muốn ngồi dậy, nhưng không được. Anh đặt sủi-cảo xuống bên giường, rồi hỏi có phải bà đang bị bệnh không. Bà lão há miệng, muốn nói gì đó, nhưng không nói ra được. Anh ngồi xuống, quan sát xung quanh căn phòng, đột nhiên, một vài bức ảnh trên tường khiến anh giật mình há hốc. Là ảnh anh và mẹ! Khi anh 5 tuổi, khi anh 10 tuổi, khi anh 17 tuổi… Trong góc tường, là một cái tay nải bằng vải cũ, trên vỏ tay nải có thêu một đóa Hoa-mai. Anh quay đầu, ngơ ngác nhìn bà lão, gặng hỏi bà là ai. Bà lão kinh ngạc, rồi bỗng thốt ra: “Con trai !...”
Anh hoàn toàn ngây ra! Bà lão trước mặt anh, không phải bị câm điếc ư? Bà lão 2 năm ròng cung cấp thực phẩm cho anh, là Mẹ của anh?

Giọng nói khàn khàn quen thuộc nhường ấy, không phải mẹ anh thì còn có thể là ai nữa? Anh đơ ra, rồi chợt tiến tới, ôm cổ mẹ anh, khóc lớn thành tiếng, nước mắt hai mẹ con hòa cả vào nhau. Khóc không biết bao lâu, anh ngẩng đầu trước, nghẹn ngào nói anh thấy mộ của mẹ, nghĩ bà đã qua đời, nên mới bỏ nhà ra đi. Mẹ anh lau nước mắt rồi nói là chính bà nhờ hàng xóm làm vậy. Nhà máy pháo mà bà làm công phát nổ, bà may mắn sống sót, nhưng mặt thì bị hủy hoại, chân cũng thành què. Nhìn mình, rồi nghĩ đến con trai còn ở trong tù, nhà thì nghèo, tương lai anh nhất định không lấy được vợ. Vì không muốn làm liên lụy đến anh, bà nghĩ ra chủ ý này, để anh đi xa tới nơi đất khách, bắt rễ phương xa, cưới vợ sinh con.

Biết được anh đã rời quê, bà mới trở lại thôn. Vất vả hỏi thăm mãi, mới biết anh đã tới thành phố này. Bà nhặt ve chai mà sống, tìm kiếm anh 4 năm, cuối cùng mới tìm được anh ở tiệm cơm nhỏ này. Bà rất vui mừng, nhưng nhìn con trai bận bịu, bà lại cảm thấy đau lòng. Vì muốn được nhìn thấy con trai mỗi ngày, muốn giúp anh giảm bớt gánh nặng, bà bắt đầu mua thực phẩm thay anh, vừa mua một cái đã là 2 năm. Nhưng hiện tại, bà đi đứng bất lợi, không xuống được giường, nên không thể tiếp tục đưa đồ cho anh.

Đôi mắt anh rưng rưng, không đợi mẹ anh nói xong, anh đã cõng mẹ anh lên, tay cầm tay nải bước đi.

Anh cứ cõng mẹ anh như thế, anh không hề biết, nhà mình cách chỗ mẹ anh ở gần vậy. Anh đi không đến 20 phút đã cõng được mẹ anh về tới nhà. Mẹ anh ở nhà mới của anh được 3 ngày. Trong 3 ngày này, bà đã kể rất nhiều thứ cho anh. Bà nói lúc anh bị bắt, thiếu chút nữa bà đã đi theo bố anh.. Nhưng rồi nghĩ đến đứa con trai còn ở trong tù, bà không thể chết được, vậy là bà cố sống! Anh ra tù, bà lại nghĩ đến con trai còn chưa thành gia lập nghiệp, bà vẫn chưa thể chết được; nhìn thấy con trai lấy vợ, lại nghĩ còn chưa gặp mặt cháu, bà tiếp tục gắng gượng… Khi nói những chuyện này, trên mặt bà luôn mang nụ cười. Anh và mẹ đã nói rất nhiều với nhau, nhưng anh tuyệt nhiên không nói cho mẹ anh biết, năm đó, sở dĩ anh chém người là vì có người sỉ-nhục bà, dùng những ngôn từ bẩn thỉu nhất. Trên thế gian này, mắng anh, đánh anh thế nào anh cũng có thể chịu được, nhưng anh không thể chịu được cảnh Mẹ anh bị người khác sỉ nhục như thế.

Ba ngày sau, bà ra đi trong an bình. Bác sĩ nói với anh: “Bệnh ung-thư xương của bà có vẻ phải hơn 10 năm rồi. Có thể sống đến bây giờ, đã là kỳ-tích. Vậy nên, anh không cần quá đau lòng...”

Anh ngơ ngác ngẩng đầu, mẹ anh, bị ung thư xương ư?

Anh mở cái tay nải kia ra, bên trong là một chồng áo len mới tinh được gấp chỉnh tề, có cho em bé, có cho vợ anh, có cho anh, một tấm, lại một tấm, tấm áo nào cũng thêu một bông mai.

Dưới cùng tay nải là một tờ thông báo chẩn đoán bệnh: “Ung thư xương. Thời gian, là năm thứ 2 sau khi anh đi tù.

Tay anh run rẩy, trong lòng đau như bị dao khoét từng nhát, từng nhát…”

Câu chuyện kết thúc, tôi như cảm nhận được một phần nỗi đau trong lòng người con trai kia. “Bách thiện, hiếu vi tiên”, trong trăm điều thiện, chữ hiếu đứng trước nhất. Tình yêu của mẹ cha dành cho con cái là mãi mãi, hiếu thuận của con cái dành cho cha mẹ cũng nên là mãi mãi.

Đừng để đến khi muốn hiếu thuận, cha mẹ đã không còn ở bên ta nữa! Thời gian vẫn luôn vô tình trong bất biến như vậy đó...

KaLua ST

User avatar
bichphuong
Posts: 654
Joined: Mon Apr 25, 2016 12:10 am
Been thanked: 1 time

Post by bichphuong »

Image

Lá rụng nơi thiên đường!
Tác Giả: Thanh Kim Pham

Chiếc lá vàng, chỉ chờ một cơn gió nhẹ để trở về với lòng đất…

– Này ông,
– Gì, để tôi ngủ thêm tí nào
– Dậy đi, chở tôi ra chợ hoa bằng xe đạp đi
– Sao hôm nay bà lại giở giời thế này. Ra mua cái vé tàu điện ngầm mà đi chợ… Bà lão thân yêu ơi, cho tôi ngủ thêm tí nữa thôi mà…?
Lèm bèm, năn nỉ đủ cách mà chả được, ông cũng đành dậy.

2 ông già bà cả đèo nhau trên cái xe đạp của thằng cháu. Thời buổi động 1 tí là người ta đi tàu ngầm, ô tô, 2 ông bà trên cái xe đạp làm bao nhiêu người đi bộ phải ngoái nhìn.
– Lát ông phải mua hoa tặng tôi nhé.
– Ừ, mua cho bà 1 củ khoai ngay đây.
– Ơ, tôi bảo mua hoa cho tôi mà.
– Mua cho bà củ khoai để bà ngồi ăn, đỡ ngồi réo sau lưng tôi nữa.
Gió thổi dìu dịu theo những bánh xe quay. Tia nắng vàng chảy tràn những con phố thân thuộc. Bà dựa vào lưng ông, tận hưởng cảm giác bình yên thư thái. Những kỉ niệm xưa ùa về trong tâm trí, mờ ảo nhưng vẫn thật lung linh ấm áp. Những lần đưa đón, hẹn hò, giận dỗi… Ông im lặng, có lẽ ông cũng đang nhớ lại thuở đẹp đẽ xưa kia.

2 ông bà ra chợ hoa, xong cũng chả mua gì. Ông thì không có hứng thú với hoa hoét, bà thì xem xem ngắm ngắm xong rồi cũng chả chọn hoa nào. Chợt ông bật cười:
– Cứ y như cách đây bốn chục năm ý nhỉ. Bà vẫn là cái đồ kiết xu như trước.
– Còn ông gạch ngói bốn mươi năm vẫn chẳng mòn.
Bà cười thật lớn. Nhưng thật sự bà đang cảm thấy rất mệt. Gần đây bà thường xuyên bị lả người và gầy đi rất nhiều. Chiếc lá vàng, chỉ chờ một cơn gió nhẹ để trở về với lòng đất…

Hôm nay là sinh nhật ông vì thế mà bà “giở giời” như vậy. Ở cái tuổi răng đã lung lay cả hàm thế này nói đến chữ “sinh nhật” có vẻ không hợp, và ở tuổi này thì còn ai mà nhớ đến ngày sinh nữa đâu. Nhưng bà có một linh cảm, có lẽ đây là lần sinh nhật cuối cùng của ông mà còn có bà ở bên…
– Cho ông hôm nay qua nhà mấy ông hàng xóm chơi điện tử đấy
– Thật á, bà lão hôm nay được ăn củ khoai xong nên tử tế hẳn

Bà dọn dẹp nhà cửa, nấu nướng những món ăn ông thích nhất. Bà cũng ra hiệu bánh đặt một chiếc bánh gateau nho nhỏ. Cuối tuần, cả nhà đi vắng hết. Thế lại hay, bà muốn dành khoảng thời gian đặc biệt này với riêng mình ông. Đang chuẩn bị nốt nến để thắp bánh thì bà bỗng thấy tối sầm lại. Bà cố đi vào phòng, ra chiếc giường và nằm xuống nghỉ.

– Bà nó ơi, hôm nay tôi đánh thắng to nhé, các lão ấy bị tôi cho ăn hành tơi tả.
Không có tiếng trả lời, dự cảm chẳng lành, ông chạy ngay vào phòng của 2 người và thấy bà đang nằm đó. Trông bà rất yếu.
– Bà nó ơi, bà sao thế?
– Ông… tôi mệt lắm… Ông ra chỗ bếp mang bánh sinh nhật và nến vào đây.
Lúc này ông mới nhớ ra hôm nay là sinh nhật mình. Ông cảm thấy điều gì đó không ổn, nhưng ông không hỏi nữa và ra bếp lấy bánh vào.
– Giờ tôi mới nhớ ra hôm nay là sinh nhật tôi đấy. Bà cầu kỳ thế này. Bà nó ơi, bà nó thấy mệt lắm à, để tôi gọi bác sỹ đến xem nhé.
Bà mỉm cười.
– Ông ơi… Tôi thấy mình đã đến lúc lên thiên đường rồi.
– Bà nói gì thế, đừng nói nữa! Chỉ vớ vẩn.
Ông thấy sợ hãi khi nghe bà nói thế

– Ông để tôi nói… Tôi làm những món ông thích nhất… và có cả bánh gateau nữa… Sinh nhật của ông lần cuối cùng mà tôi có thể ở bên… Tôi cảm thấy thật hạnh phúc khi có ông bầu bạn từng ấy năm…… Ông ở lại mạnh khỏe và chăm lo cho con cháu nhé…
Nước mắt lăn dài. Ông biết là ngày này sẽ đến nhưng ông vẫn cảm thấy không trụ vững nổi khi đối mặt với giây phút đó. Ông cầm tay bà, run rẩy, và ông nói trong nước mắt.
– Bà lão ơi, làm sao tôi có thể ở lại mà không có bà…
– Tôi muốn… nghe… điều ước… trong sinh nhật… của ông…
Ông nghẹn ngào và tưởng chừng trái tim mình cũng đang rời khỏi cơ thể để đi theo người vợ thân thương.
– Gặp bà và chung sống với bà là mọi điều ước của tôi đã thành hiện thực rồi. Nếu có ước tôi chỉ ước được gặp bà sớm hơn, bà lão ạ.

Bà nở nụ cười cuối cùng và nhắm mắt…
Bà đã có một thiên đường ở trần thế này. Giờ chỉ là đi đến 1 thiên đường khác, và chờ ông ở đó…

Post Reply