Cà Phê...Vịt
Moderator: khieulong
Re: Cà Phê...Vịt
TÓC THỀ
(t/g Nguyễn Khôi) Bố mẹ tôi lấy nhau từ lúc hai người còn rất trẻ.
Mẹ kể: ngày trước, trong đám sinh viên trường Mỹ Thuật mẹ chỉ để ý đến
bố vì bố có mái tóc rất đẹp.
Mối tình của hai người cũng lắm trắc trở.
Bà tôi bảo:
"Con yêu gì thằng đó, chân yếu tay mềm, rồi cũng khổ thân mày".
Mẹ cười nói với bà:
"Con yêu vì anh ấy có mái tóc đẹp. Cái tóc là gốc con người mà mẹ!"
Cả họ ngoại tôi đều bảo mẹ gàn. Riêng bạn bè của mẹ thì khuyên ngăn:
"Chẳng lẽ mày yêu hắn chỉ vì mái tóc?"
Mẹ triết lý:
"Nhưng ít ra cũng còn có cái để yêu".
Lúc chỉ còn có hai người với nhau, mẹ cũng nói thật lòng với bố thế.
Cứ tưởng rằng bố sẽ buồn, nhưng không, Bố còn đùa tếu:
"Mái tóc muôn năm".
Sau ngày cưới, mẹ đi chợ sắm cho tổ ấm của mình. Trong những thứ linh
tinh mà mẹ khuân về có một cái kéo, một con dao cạo sắc lem.
Mẹ tuyên bố:
"Kể từ ngày hôm nay em sẽ hớt tóc cho anh. Cấm anh ra tiệm!".
Hôm đầu tiên "ra nghề", mẹ phải cày cục gần một buổi mới hớt xong mái
tóc của bố.
Không biết "tác phẩm nghệ thuật" của mẹ đạt đến trình độ nào mà sáng
hôm sau bố phải đội sùm sụp cái mũ trên đâu để đến cơ quan.
Qua mấy chục năm, tay nghề của mẹ đến nay đã hết sức "vững vàng". Mặc
dù là hiệu trưởng của một trường cao đẳng sư phạm, phải giảng dạy, họp
hành suốt ngày nhưng chưa bao giờ mẹ quên việc chăm sóc mái tóc của
bố.
Món quà mà mẹ tặng bố sau những chuyến công tác về thường là những
chai thuốc gội đầu, những lọ dầu xịt tóc. Và công việc trước tiên là
kiểm tra xem cái râu, cái tóc của bố có "vấn đề" gì không.
Còn bố, từ một chú học trò chỉ biết ngoan ngoãn vâng lời thì bây giờ
đã "nghiện" nặng. Đố ai hớt tóc được cho bố. Có những lần đi công tác
ở nước ngoài gần năm tháng trời nhưng bố vẫn không chịu hớt tóc viện
lý do là để vậy cho ấm.
Bố thường bảo:
Không có hạnh phúc nào bằng sau những chuyến đi mệt nhoài được ngả
người trên ghế để cho mẹ hớt tóc và gội đầu.
Những lúc hai người giận nhau thì bao giờ bố cũng làm lành trước.
"Chiêu thức" thường dùng của bố là soạn "đồ nghề" ra nhờ mẹ hớt tóc.
Và mẹ chỉ chờ có thế để chính thức tuyên bố "hòa bình" .
Mẹ tôi ngã bệnh đã gần nửa năm nay. Căn bệnh nan y đã rút cạn sức lực của mẹ.
Suốt thời gian đó, bố túc trực bên giường bệnh, tự tay lo lắng tất cả,
ngay đến việc đút cháo cho mẹ bố cũng giành làm vì sợ chúng tôi vụng
về.
Một hôm mẹ nắm tay bố cười buồn nói:
"Thôi! em cho anh ra tiệm hớt tóc đó. Gớm ! tóc tai gì mà phát khiếp !".
Bố nghẹn ngào lắc đầu, chẳng nói được lời nào . Ít lâu sau thì mẹ mất.
Chôn cất mẹ xọng, bố tôi già xọm hẳn đi.
Lúc đêm vợ tôi nói:
"Mai anh đưa tiền cho cụ đi hớt tóc . Trông cụ mà não cả lòng".
Sáng ra bố bảo:
Thằng cả cắt tóc cho Bố
Nói xong bố đến bên bàn thờ của mẹ, run run lần mở bọc vải lấy ra
những thứ "đồ nghề" mà mẹ để lại và đưa cho tôi.
Khi nhát kéo đầu tiên vừa lướt qua thì những dòng nước mắt nóng hổi
của bố cũng lặng lẽ rơi xuống.
Tôi ôm lấy bố nức nở. Phía trên kia mẹ vẫn cười tinh nghịch.
(t/g Nguyễn Khôi) Bố mẹ tôi lấy nhau từ lúc hai người còn rất trẻ.
Mẹ kể: ngày trước, trong đám sinh viên trường Mỹ Thuật mẹ chỉ để ý đến
bố vì bố có mái tóc rất đẹp.
Mối tình của hai người cũng lắm trắc trở.
Bà tôi bảo:
"Con yêu gì thằng đó, chân yếu tay mềm, rồi cũng khổ thân mày".
Mẹ cười nói với bà:
"Con yêu vì anh ấy có mái tóc đẹp. Cái tóc là gốc con người mà mẹ!"
Cả họ ngoại tôi đều bảo mẹ gàn. Riêng bạn bè của mẹ thì khuyên ngăn:
"Chẳng lẽ mày yêu hắn chỉ vì mái tóc?"
Mẹ triết lý:
"Nhưng ít ra cũng còn có cái để yêu".
Lúc chỉ còn có hai người với nhau, mẹ cũng nói thật lòng với bố thế.
Cứ tưởng rằng bố sẽ buồn, nhưng không, Bố còn đùa tếu:
"Mái tóc muôn năm".
Sau ngày cưới, mẹ đi chợ sắm cho tổ ấm của mình. Trong những thứ linh
tinh mà mẹ khuân về có một cái kéo, một con dao cạo sắc lem.
Mẹ tuyên bố:
"Kể từ ngày hôm nay em sẽ hớt tóc cho anh. Cấm anh ra tiệm!".
Hôm đầu tiên "ra nghề", mẹ phải cày cục gần một buổi mới hớt xong mái
tóc của bố.
Không biết "tác phẩm nghệ thuật" của mẹ đạt đến trình độ nào mà sáng
hôm sau bố phải đội sùm sụp cái mũ trên đâu để đến cơ quan.
Qua mấy chục năm, tay nghề của mẹ đến nay đã hết sức "vững vàng". Mặc
dù là hiệu trưởng của một trường cao đẳng sư phạm, phải giảng dạy, họp
hành suốt ngày nhưng chưa bao giờ mẹ quên việc chăm sóc mái tóc của
bố.
Món quà mà mẹ tặng bố sau những chuyến công tác về thường là những
chai thuốc gội đầu, những lọ dầu xịt tóc. Và công việc trước tiên là
kiểm tra xem cái râu, cái tóc của bố có "vấn đề" gì không.
Còn bố, từ một chú học trò chỉ biết ngoan ngoãn vâng lời thì bây giờ
đã "nghiện" nặng. Đố ai hớt tóc được cho bố. Có những lần đi công tác
ở nước ngoài gần năm tháng trời nhưng bố vẫn không chịu hớt tóc viện
lý do là để vậy cho ấm.
Bố thường bảo:
Không có hạnh phúc nào bằng sau những chuyến đi mệt nhoài được ngả
người trên ghế để cho mẹ hớt tóc và gội đầu.
Những lúc hai người giận nhau thì bao giờ bố cũng làm lành trước.
"Chiêu thức" thường dùng của bố là soạn "đồ nghề" ra nhờ mẹ hớt tóc.
Và mẹ chỉ chờ có thế để chính thức tuyên bố "hòa bình" .
Mẹ tôi ngã bệnh đã gần nửa năm nay. Căn bệnh nan y đã rút cạn sức lực của mẹ.
Suốt thời gian đó, bố túc trực bên giường bệnh, tự tay lo lắng tất cả,
ngay đến việc đút cháo cho mẹ bố cũng giành làm vì sợ chúng tôi vụng
về.
Một hôm mẹ nắm tay bố cười buồn nói:
"Thôi! em cho anh ra tiệm hớt tóc đó. Gớm ! tóc tai gì mà phát khiếp !".
Bố nghẹn ngào lắc đầu, chẳng nói được lời nào . Ít lâu sau thì mẹ mất.
Chôn cất mẹ xọng, bố tôi già xọm hẳn đi.
Lúc đêm vợ tôi nói:
"Mai anh đưa tiền cho cụ đi hớt tóc . Trông cụ mà não cả lòng".
Sáng ra bố bảo:
Thằng cả cắt tóc cho Bố
Nói xong bố đến bên bàn thờ của mẹ, run run lần mở bọc vải lấy ra
những thứ "đồ nghề" mà mẹ để lại và đưa cho tôi.
Khi nhát kéo đầu tiên vừa lướt qua thì những dòng nước mắt nóng hổi
của bố cũng lặng lẽ rơi xuống.
Tôi ôm lấy bố nức nở. Phía trên kia mẹ vẫn cười tinh nghịch.
Re: Cà Phê...Vịt
Tóc Thề
(t/g Nguyễn Khôi)
Bố mẹ tôi lấy nhau từ lúc hai người còn rất trẻ.
Mẹ kể: ngày trước, trong đám sinh viên trường Mỹ Thuật mẹ chỉ để ý đến
bố vì bố có mái tóc rất đẹp.
Mối tình của hai người cũng lắm trắc trở.
Bà tôi bảo:
"Con yêu gì thằng đó, chân yếu tay mềm, rồi cũng khổ thân mày".
Mẹ cười nói với bà:
"Con yêu vì anh ấy có mái tóc đẹp. Cái tóc là gốc con người mà mẹ!"
Cả họ ngoại tôi đều bảo mẹ gàn. Riêng bạn bè của mẹ thì khuyên ngăn:
"Chẳng lẽ mày yêu hắn chỉ vì mái tóc?"
Mẹ triết lý:
"Nhưng ít ra cũng còn có cái để yêu".
Lúc chỉ còn có hai người với nhau, mẹ cũng nói thật lòng với bố thế.
Cứ tưởng rằng bố sẽ buồn, nhưng không, Bố còn đùa tếu:
"Mái tóc muôn năm".
Sau ngày cưới, mẹ đi chợ sắm cho tổ ấm của mình. Trong những thứ linh
tinh mà mẹ khuân về có một cái kéo, một con dao cạo sắc lem.
Mẹ tuyên bố:
"Kể từ ngày hôm nay em sẽ hớt tóc cho anh. Cấm anh ra tiệm!".
Hôm đầu tiên "ra nghề", mẹ phải cày cục gần một buổi mới hớt xong mái
tóc của bố.
Không biết "tác phẩm nghệ thuật" của mẹ đạt đến trình độ nào mà sáng
hôm sau bố phải đội sùm sụp cái mũ trên đâu để đến cơ quan.
Qua mấy chục năm, tay nghề của mẹ đến nay đã hết sức "vững vàng". Mặc
dù là hiệu trưởng của một trường cao đẳng sư phạm, phải giảng dạy, họp
hành suốt ngày nhưng chưa bao giờ mẹ quên việc chăm sóc mái tóc của
bố.
Món quà mà mẹ tặng bố sau những chuyến công tác về thường là những
chai thuốc gội đầu, những lọ dầu xịt tóc. Và công việc trước tiên là
kiểm tra xem cái râu, cái tóc của bố có "vấn đề" gì không.
Còn bố, từ một chú học trò chỉ biết ngoan ngoãn vâng lời thì bây giờ
đã "nghiện" nặng. Đố ai hớt tóc được cho bố. Có những lần đi công tác
ở nước ngoài gần năm tháng trời nhưng bố vẫn không chịu hớt tóc viện
lý do là để vậy cho ấm.
Bố thường bảo:
Không có hạnh phúc nào bằng sau những chuyến đi mệt nhoài được ngả
người trên ghế để cho mẹ hớt tóc và gội đầu.
Những lúc hai người giận nhau thì bao giờ bố cũng làm lành trước.
"Chiêu thức" thường dùng của bố là soạn "đồ nghề" ra nhờ mẹ hớt tóc.
Và mẹ chỉ chờ có thế để chính thức tuyên bố "hòa bình" .
Mẹ tôi ngã bệnh đã gần nửa năm nay. Căn bệnh nan y đã rút cạn sức lực của mẹ.
Suốt thời gian đó, bố túc trực bên giường bệnh, tự tay lo lắng tất cả,
ngay đến việc đút cháo cho mẹ bố cũng giành làm vì sợ chúng tôi vụng
về.
Một hôm mẹ nắm tay bố cười buồn nói:
"Thôi! em cho anh ra tiệm hớt tóc đó. Gớm ! tóc tai gì mà phát khiếp !".
Bố nghẹn ngào lắc đầu, chẳng nói được lời nào . Ít lâu sau thì mẹ mất.
Chôn cất mẹ xọng, bố tôi già xọm hẳn đi.
Lúc đêm vợ tôi nói:
"Mai anh đưa tiền cho cụ đi hớt tóc . Trông cụ mà não cả lòng".
Sáng ra bố bảo:
Thằng cả cắt tóc cho Bố
Nói xong bố đến bên bàn thờ của mẹ, run run lần mở bọc vải lấy ra
những thứ "đồ nghề" mà mẹ để lại và đưa cho tôi.
Khi nhát kéo đầu tiên vừa lướt qua thì những dòng nước mắt nóng hổi
của bố cũng lặng lẽ rơi xuống.
Tôi ôm lấy bố nức nở. Phía trên kia mẹ vẫn cười tinh nghịch.
(t/g Nguyễn Khôi)
Bố mẹ tôi lấy nhau từ lúc hai người còn rất trẻ.
Mẹ kể: ngày trước, trong đám sinh viên trường Mỹ Thuật mẹ chỉ để ý đến
bố vì bố có mái tóc rất đẹp.
Mối tình của hai người cũng lắm trắc trở.
Bà tôi bảo:
"Con yêu gì thằng đó, chân yếu tay mềm, rồi cũng khổ thân mày".
Mẹ cười nói với bà:
"Con yêu vì anh ấy có mái tóc đẹp. Cái tóc là gốc con người mà mẹ!"
Cả họ ngoại tôi đều bảo mẹ gàn. Riêng bạn bè của mẹ thì khuyên ngăn:
"Chẳng lẽ mày yêu hắn chỉ vì mái tóc?"
Mẹ triết lý:
"Nhưng ít ra cũng còn có cái để yêu".
Lúc chỉ còn có hai người với nhau, mẹ cũng nói thật lòng với bố thế.
Cứ tưởng rằng bố sẽ buồn, nhưng không, Bố còn đùa tếu:
"Mái tóc muôn năm".
Sau ngày cưới, mẹ đi chợ sắm cho tổ ấm của mình. Trong những thứ linh
tinh mà mẹ khuân về có một cái kéo, một con dao cạo sắc lem.
Mẹ tuyên bố:
"Kể từ ngày hôm nay em sẽ hớt tóc cho anh. Cấm anh ra tiệm!".
Hôm đầu tiên "ra nghề", mẹ phải cày cục gần một buổi mới hớt xong mái
tóc của bố.
Không biết "tác phẩm nghệ thuật" của mẹ đạt đến trình độ nào mà sáng
hôm sau bố phải đội sùm sụp cái mũ trên đâu để đến cơ quan.
Qua mấy chục năm, tay nghề của mẹ đến nay đã hết sức "vững vàng". Mặc
dù là hiệu trưởng của một trường cao đẳng sư phạm, phải giảng dạy, họp
hành suốt ngày nhưng chưa bao giờ mẹ quên việc chăm sóc mái tóc của
bố.
Món quà mà mẹ tặng bố sau những chuyến công tác về thường là những
chai thuốc gội đầu, những lọ dầu xịt tóc. Và công việc trước tiên là
kiểm tra xem cái râu, cái tóc của bố có "vấn đề" gì không.
Còn bố, từ một chú học trò chỉ biết ngoan ngoãn vâng lời thì bây giờ
đã "nghiện" nặng. Đố ai hớt tóc được cho bố. Có những lần đi công tác
ở nước ngoài gần năm tháng trời nhưng bố vẫn không chịu hớt tóc viện
lý do là để vậy cho ấm.
Bố thường bảo:
Không có hạnh phúc nào bằng sau những chuyến đi mệt nhoài được ngả
người trên ghế để cho mẹ hớt tóc và gội đầu.
Những lúc hai người giận nhau thì bao giờ bố cũng làm lành trước.
"Chiêu thức" thường dùng của bố là soạn "đồ nghề" ra nhờ mẹ hớt tóc.
Và mẹ chỉ chờ có thế để chính thức tuyên bố "hòa bình" .
Mẹ tôi ngã bệnh đã gần nửa năm nay. Căn bệnh nan y đã rút cạn sức lực của mẹ.
Suốt thời gian đó, bố túc trực bên giường bệnh, tự tay lo lắng tất cả,
ngay đến việc đút cháo cho mẹ bố cũng giành làm vì sợ chúng tôi vụng
về.
Một hôm mẹ nắm tay bố cười buồn nói:
"Thôi! em cho anh ra tiệm hớt tóc đó. Gớm ! tóc tai gì mà phát khiếp !".
Bố nghẹn ngào lắc đầu, chẳng nói được lời nào . Ít lâu sau thì mẹ mất.
Chôn cất mẹ xọng, bố tôi già xọm hẳn đi.
Lúc đêm vợ tôi nói:
"Mai anh đưa tiền cho cụ đi hớt tóc . Trông cụ mà não cả lòng".
Sáng ra bố bảo:
Thằng cả cắt tóc cho Bố
Nói xong bố đến bên bàn thờ của mẹ, run run lần mở bọc vải lấy ra
những thứ "đồ nghề" mà mẹ để lại và đưa cho tôi.
Khi nhát kéo đầu tiên vừa lướt qua thì những dòng nước mắt nóng hổi
của bố cũng lặng lẽ rơi xuống.
Tôi ôm lấy bố nức nở. Phía trên kia mẹ vẫn cười tinh nghịch.
- bichphuong
- Posts: 654
- Joined: Mon Apr 25, 2016 12:10 am
- Been thanked: 1 time
Re: Cà Phê...Vịt
Dĩ vãng khôn nguôi
Khánh Lan
Sài Gòn, Việt Nam
... Ra khỏi phi trường Tân sơn nhất, Thủy đón xe chạy thẳng về khách sạn Thăng Long ở đường Lê Thánh Tôn. Sau khi tắm rửa và nghỉ mệt, Thủy tản bộ dọc theo đường Lê Thánh Tôn đến trung tâm Sài Gòn. Sài gòn bây giờ thay đổi nhiều quá! Nhiều tòa nhà cao mọc lên. Xe cộ và người nhộn nhịp hơn xưa. Sài Gòn bây giờ hình như không còn hiền hòa, thanh lịch như trước. Thủy có cảm tưởng như mình đang trở về căn nhà xưa, nhưng nay đầy những đồ vật ngổn ngang. Cảnh cũ nhưng người xưa đâu? Trong một thoáng, Thủy chợt thấy cô đơn và lạc lõng ngay giữa lòng Sài Gòn, nơi mà trước đây Thủy đã cùng sánh vai người yêu dạo phố hoặc cùng bè bạn đi mua sắm.
Sáng hôm sau, Thủy thuê xe đến nghĩa trang để thắp nhang cho song thân và sau đó đến thăm ngôi trường Trưng Vương thân yêu, nơi đã ghi bao nhiêu kỷ niệm đẹp thuở học học trò. Hai hàng cây phượng bên đường vẫn rợp bóng. Những cánh phượng vờn trong gió sớm như vẫy tay chào mừng người xưa trở về. Thủy đứng trước cổng trường nhìn vào bên trong sân, bồi hồi nhớ lại thời áo trắng. Hình ảnh các bạn học vui đùa dưới hàng me xanh như hiện ra trước mắt. Thủy chợt thấy lòng mình chùng xuống và không gian như lắng đọng...
Ngày tiếp theo, Thủy khởi đầu chuyến du lịch "Nam-Trung-Bắc", một ước mơ đã nung nấu và thôi thúc Thủy trong suốt bao năm xa xứ. Cuộc sống tại Mỹ tuy đầy đủ nhưng trong tim Thủy vẫn luôn luôn cảm thấy nhớ nhung và mất mát một điều gì đó...
Khi xe vừa tiến vào con đường chính Nha Trang, Thủy say mê ngắm nhìn những cấu trúc lạ mắt của Hòn Chồng, với những tảng đá xếp chồng lên nhau tạo nên nhiều hình dạng ngộ nghĩnh, sừng sững trước sóng biển. Con đường dẫn đến bãi trước thật đẹp! Hình ảnh những chiếc thuyền đánh cá đang ra khơi phản chiếu dưới ánh nắng ban mai tựa như một đàn chim ngũ sắc. Thủy đi bộ dọc theo bờ biển, dưới hàng dừa nước để tận hưởng những cơn gió biển dịu mát. Nàng vùi hai chân dưới những hạt cát trắng như thủy tinh nổi bật dưới mầu xanh tươi mát của biển.
Hôm sau, mọi người lên đường đi Huế, một nơi cổ kính, tôn nghiêm mà Thủy chỉ được biết qua sách vở hiện ra trước mắt. Nào là Chùa Tràng Tiền, Chùa Thiên Mụ đến các lăng tẩm của các vị Vua Chúa ngày xưa với những kiến trúc tuyệt mỹ. Tất cả làm cho Thủy say mê và tưởng như mình đang sống ở một thế giới xa xăm huyền bí. Ngắm cảnh xong, bác tài chở mọi người đi chợ Đông Ba để thưởng thức món hai món đặc sản của Huế là cơm hến và kẹo mè xửng. Buổi tối, Thủy thuê xích lô đạp đi ngắm các dẫy Phố Cổ về đêm. Phố Cổ Hội An, thành phố thầm lặng và cổ kính như cái tên của nó. Anh xích lô đạp vốn là một giáo sư sử địa trước năm 1975 nên anh đã kể cho Thủy nghe về những di tích lịch sử, mỗi khi đi qua một địa danh nổi tiếng của Huế. Thủy thả bộ đi thăm ngôi nhà cổ đã xây trước dây cả trăm năm, sau đó đi dạo phố và thưởng thức món mì Quảng đặc biệt của Hội An. Ghé Hội An mà không đi thuyền trên sông Hoài thì quả là đáng tiếc! Những chiếc thuyền ở đây đều chèo bằng tay, lướt nhẹ trên dòng nước lặng lẽ, sầu muộn như một cô gái Huế đa tình và lãng mạng. Bên trong thuyền được thắp sáng bằng những chiếc đèn lồng nhiều màu sắc. Trên cao, bầu trời trong suốt với những vì sao đêm bên ánh trăng tròn lẳn, chiếu lung linh trên mặt nước tạo nên một bức tranh thủy mạc tuyệt vời. Có lẽ đây là một trong những hình ảnh khó quên nhất trong chuyến du lịch.
Đường từ Quảng Nam ra Bắc vừa nhỏ hẹp lại thêm đá lởm chởm khiến xe bị chao đảo không ngừng. Bác tài xế bảo Thủy "Ngoài này không được an ninh như trong Nam nên chúng ta phải cẩn thận, nhất là những con đường đèo như thế này thường hay bị cướp chặn đường nên khi trời chập choạng tối, chúng ta phải mướn "Phòng Khách" để tạm trú, cô Thảo ạ". Thời gian ấy, từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc chưa có khách sạn. Phòng khách gồm những dẫy nhà dài, gồm nhiều khu riêng biệt do nhà nước quản trị. Mỗi khu là một phòng rộng và có nhiều giường nhỏ. Ngoài cửa của mỗi dẫy nhà được canh gác. Hình ảnh anh cán bộ đầu đội nón cối, đi qua lại dưới ánh đèn dầu mờ mờ khiến Thủy cảm thấy rờn rợn.
Sáng hôm sau, mọi người đều phải thức sớm để lên đường. Đến chiều, khi đến Cầu Hiền Lương, bác tài cho xe dừng lại để mọi người xuống xe chụp hình. Thảo bước xuống xe và đi ra giữa lòng cầu. Từng cơn gió thổi mạnh đem theo hơi lạnh từ dòng sông khiến Thủy rùng mình. Thủy ngậm ngùi nhìn xuống dòng sông lịch sử, nơi đã âm thầm ghi dấu sự phân chia lãnh thổ Bắc-Nam và đưa đến một chiến tranh tàn khốc hơn hai mươi năm.
Con đường về Bắc thật thật an bình. Bác tài cho xe chạy chậm lại nên Thủy có thể ngắm những cánh đồng lúa phì nhiêu bên đường. Từng nhóm nông dân đang làm việc, người gieo lúa kẻ trồng mạ. Xa xa, vài con trâu đang ì ạch kéo bừa gỗ và bác nông phu hướng lưỡi cầy xới mảnh ruộng. Giữa cánh đồng, vài con đường mòn dẫn đến những mái nhà tranh vách đất. Dưới bụi tre già, hai con trâu đen được cột vào gốc tre đang nằm thiu thiu ngủ bên cạnh mấy chú nghé đang đùa giỡn. Thấp thoáng thật xa, những dẫy núi trùng điệp. Thủy bỗng nghe lòng dấy lên một nỗi buồn và xót xa vì đời sống của người dân miền Bắc vẫn không thay đổi sau mấy chục năm miền Nam được "giải phóng".
Khi xe đến Ninh Bình, Thủy thuê một chiếc thuyền nhỏ đến Tam Cốc Bích Động. Con thuyê`n lướt nhịp nhàng trên dòng nước xanh biếc mầu ve chai giữa hai cánh đồng lúa vàng óng dẫn đến Tam Cốc Động, hùng vĩ, đứng sừng sững giữa dòng sông. Bao quanh là những ngọn núi cao chót vót và dài như bất tận. Phong cảnh đẹp như tranh vẽ! Những câu hò tiếng hát trên sông của các thôn nữ và anh nông dân hòa lẫn những tiếng cười, tiếng vỗ tay của khách thưởng ngoạn tạo thành một bản nhạc dân ca thật vui tai.
Hà Nội là quê ngoại của Thủy. 36 phố phường không xa hoa hào nhoáng như Thủy nghĩ nhưng chả cá Lãng Vọng quả ngon như lời đồn. Sáng sớm, Thủy thả bộ vòng quanh hồ Hoàn Kiếm. Giữa hồ một cái miếu nhỏ ẩn khuất sau những cành liễu rũ đong đưa theo gió giữa những làn sương mỏng mờ ảo như một bức tranh tuyệt đẹp phản chiếu trên mặt hồ.
Từ Hà Nội đến Chùa Hương rất xa nên Thủy phải ngủ đêm ở nhà khách để sáng hôm sau lên đường vào Chùa. Con đường vào Chùa mất khoảng nửa tiếng đường bộ và thêm nửa tiếng bằng đường thủy. Trên con đường bộ, Thủy có dịp nhìn ngắm những cánh đồng lúa xanh bát ngát phì nhiêu và đàn cò trắng đang bay lượn, nổi bật trên nền trời xanh. "Đến bến tầu rồi, cô bác ơi!" Tiếng bác tài xế vọng lại kéo Thủy về hiện tại, mọi người chuẩn bị lên thuyền.
Những con thuyền ở đây chèo bằng tay để giữ yên tĩnh chung quanh. Đoạn đường đi vào Chùa thật thơ mộng! Tiếng lá rừng chạm vào nhau, tiếng gió rít nhẹ qua khe đá, hòa với tiếng hót thánh thót của nhiều loại chim tạo thành một điệu nhạc mê hồn. Chiếc thuyền lướt nhẹ nhàng giữa hai dòng nước xanh mầu ngọc thạch. Anh lái đò là một thanh niên trẻ và vui tính. Hai tay anh kéo thoăn thoắt hai mái chèo, miệng hát nho nhỏ bài Đi Chùa Hương với giọng trầm ấm và khá hay "Hôm nay em đi Chùa Hương, hoa cỏ mờ hơi sương...".
Hai bên bờ sông là những hàng cây chen giữa những tảng đá khổng lồ và những ngọn núi cao vút. Thỉnh thoảng có một vài ngôi đền nhỏ dọc theo dòng sông, lẩn sau cụm mây trắng mờ mờ ảo ảo trong làn sương khiến cho phong cảnh thật thanh thoát.
Thuyền cập bến. Hai bác tài lên trước và đi mua gậy để chống vì nó rất cần thiết để leo lên 2.000 bậc thang đá chồng lên nhau để đi lên Chùa. Bên phải của bực thang đá là núi với những túp lều tranh dựng rải rác dọc theo bậc thang để khách dừng chân, uống trà và nghỉ mệt. Bên trái là vực đá sâu thăm thẳm nên rất nguy hiểm. Khi gần đến cửa chùa Hương, mùi nhang khói bay lên mù mịt che mờ cả lối đi phía trước. Những quầy bán nhang, đèn, hoa bầy hai bên cửa chùa che cả lối đi. Thủy chen qua đoàn người vào phía bên trong. Nàng thắp một nén nhang, rồi đứng trước bàn thờ Phật khấn nguyện.
*
Sau chuyến tour Nam-Trung-Bắc, Thủy trở lại thành phố sương mù Đà Lạt, nơi của những tháng năm đong đầy kỷ niệm cuộc tình giữa Thủy và Đức... Thủy đi bộ qua con đường dốc quen thuộc từ Café Thủy Tạ Hồ Xuân Hương, băng qua thảm cỏ xanh Đồi Cù rồi dừng lại dưới hàng thông. Vài cơn gió nhè nhẹ mát rượi thổi ngang qua mang theo mùi thơm của lá thông khiến Thủy cảm thấy khoan khoái dễ chịu. Vừa đến cửa quán Café Thủy Tạ, Thủy vội nhìn vào bên trong, dáo dác tìm chiếc bàn cạnh cửa sổ mà ngày xưa nàng và người yêu vẫn ngồi bên nhau. May quá, bàn chưa có người ngồi. Thủy bước vội đến bàn, ngồi xuống và nhìn qua cửa sổ. Trong thoáng chốc, dĩ vãng chợt ùa về trong trí óc.
...Ngày ấy, Thủy ra đi trong vội vã, bỏ lại mẹ cha, rời xa bạn bè, con đường ngập lá me bay và hàng cây phượng vĩ nở rộ những cánh hoa mầu đỏ thẫm trước cổng trường. Năm 1972, khi Thủy vừa tốt nghiệp trung học, cha mẹ Thủy cho Thủy lên Đà Lạt thăm và nhân tiện ở dó chăm sóc ông bà ngoại một thời gian. Trong thời gian này, Thủy đã quen với Đức, đang học năm thứ Nhất tại Chính trị Kinh doanh Đà Lạt. Café Thủy Tạ là nơi hai người thường đến và ngồi tại một bàn kê cạnh cửa sổ, nhìn xuống những rặng cây thông ẩn hiện trong làn sương mù trên sườn đồi thoai thoải. Thời gian Thủy ở Đà Lạt thật ngắn nhưng đủ để ghi lại những kỷ niệm khó quên của mối tình đầu.
Sau khi trở về Sài Gòn, mỗi tháng, Thủy viện cớ đi thăm ông bà ngoại để gặp Đức. Đôi khi, Đức bất ngờ về Sài Gòn để làm Thủy bất ngờ.
Đầu năm 1974, tình hình chiến tranh càng ngày càng căng thẳng. Những trận chiến ác liệt diễn ra hàng ngày khắp nơi. Thủy không thể quên được một buổi chiều mưa tầm tã, Đức về Sài Gòn và báo cho nàng biết sẽ bỏ học để gia nhập quân đội. Đức cho biết anh không thể yên tâm ngồi học trong khi bạn bè anh đang chiến đấu gian khổ nơi chiến tuyến. Thủy đã nức nở khóc vì buồn và lo cho Đức. Mỗi khi, nhận được thư tràn đầy yêu thương và nhung nhớ của Đức, Thủy đã đọc đi đọc lại trong nước mắt dàn dụa.
Ngày 15 tháng 4-1975, Bố của Thủy về nhà bất ngờ, gọi Thủy và Mẹ nàng ra phòng khách để nói chuyện với vẻ nghiêm trọng. Ông cho biết Thủy và mẹ nàng phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 2 ngày. Riêng ông, ông phải ở lại vì với cương vị của một sĩ quan cao cấp, ông không thể bỏ rơi đồng đội trong khi mọi người đang cần ông. Mẹ nàng cương quyết ở lại với ông và bắt Thủy phải đi trước. Để trấn an, ba Thủy nói sẽ cố gắng thu xếp và đi sau với mẹ nàng. Ngày hôm sau, ba Thủy cho tài xế vế nhà chở Thủy đế phi trường Tân Sơn Nhất để rời khỏi Việt Nam...
- Thưa cô dùng chi? Tiếng người hầu bàn làm Thủy giật mình trở về thực tại.
- Xin lỗi đã làm cô giật mình. Hình như cô có vẻ thích khung cảnh bên ngoài lắm?
- Xin lỗi ông. Vâng, thật là một khung cảnh thơ mộng.
Giọng nói người hầu bàn chợt như xa vắng và trầm xuống:
- Đây là khung cửa mù sương, một chỗ ngồi tuyệt vời nhất trong quán.
Tim Thủy như thót lại! "Khung cửa mù sương" là một biệt danh mà chì có nàng và Đức biết. Nàng vội ngửng lên nhìn thẳng vào mặt người hầu bàn và trong một thoáng, nàng nhận ngay ra Đức. Nàng đứng bật dậy và run run nói:
- Anh Đức! Thủy đây. Phải anh Đức không?
Người hầu bàn sững lại nhìn Thủy. Không gian như tối lại và lung linh trước mặt là khuôn mặt hồn nhiên ngày nào của Thủy hiện ra. Anh bàng hoàng định giơ tay tay nắm lấy tay Thủy nhưng rồi rụt lại.
- Đức đây. Không ngờ còn được gặp lại Thủy.
Đức ngồi xuống chiếc nghế đối diện Thủy. Hình như có một cái gì đó vô hình chắn ngang hai người khiến hai người ngồi yên lặng thật lâu.
Ngày hôm sau, Thủy và Đức hẹn gặp lại nhau tại một sườn đồi bên cạnh Café Thủy Tạ. Đức cho biết, sau ngày miền Nam thất thủ, anh bị đi tù cải tạo 5 năm. Khi ra tù, anh có đến nhà Thủy nhưng căn nhà đã có người khác ở và họ không biết gì về gia đình Thủy. Anh đoán có lẽ cả gia đình Thủy đã di tản sang Mỹ. Tuy nhiên, anh vẫn nuôi hy vọng nên đã nấn ná sống ở Sài Gòn và làm đủ nghề để sinh sống. Vài năm sau đó, Đức cảm thấy không còn hy vọng nữa nên trở về Đà Lạt sống với người chị. Đức chọn làm việc tại quán Café Thủy Tạ được nhìn khung cửa kỷ niệm và hy vọng một ngày nào đó sẽ gặp lại Thủy nơi đây.
Nghe Đức kể, Thủy vô cùng xúc động và không cầm được nước mắt. Nàng kể lại cho Đức biết là sau ngày 30/4/1975, bố của Thủy bị tù cải tạo. Ông đã chết vì bị hành hạ và vì ăn uống thiếu thốn trong 3 năm tù đày. Mẹ nàng vì đau buồn nên cũng qua đời một năm sau đó. Thủy đã tìm đủ mọi cách để tìm Đức trong suốt 10 năm nhưng vô vọng. Nàng đã lập gia đình năm 1986 và có 1 đứa con gái.
Trời đã bắt đầu chiều và sương mù đang từ từ bao phủ những ngọn thông. 20 năm trước, Đức và Thủy đã từng ngồi tại chỗ này dệt biết bao mộng đẹp; nhưng hôm nay, tất cả chỉ còn như những chuyện cổ tích. Đức ngập ngừng nắm tay Thủy và nói "Suốt 20 năm qua, anh vẫn thầm mơ ước một ngày nào đó sẽ được gặp lại Thủy. Bây giờ, anh đã mãn nguyện vì biết Thủy vẫn bình an. Có lẽ còn lâu lắm chúng ta sẽ gặp lại nhau. Những kỷ niệm xưa anh sẽ giữ mãi trong tim và anh luôn cầu chúc cho Thủy được hạnh phúc." Thủy xúc động nhìn Đức. Hơi ấm quen thuộc khiến cho tình yêu thủa ban đầu như đang bừng sống lại. Trong làn sương mờ ảo, khuôn mặt thư sinh ngày nào của Đức như đang mỉm cười với Thủy.
Khánh Lan
California September 2020
Khánh Lan
Sài Gòn, Việt Nam
... Ra khỏi phi trường Tân sơn nhất, Thủy đón xe chạy thẳng về khách sạn Thăng Long ở đường Lê Thánh Tôn. Sau khi tắm rửa và nghỉ mệt, Thủy tản bộ dọc theo đường Lê Thánh Tôn đến trung tâm Sài Gòn. Sài gòn bây giờ thay đổi nhiều quá! Nhiều tòa nhà cao mọc lên. Xe cộ và người nhộn nhịp hơn xưa. Sài Gòn bây giờ hình như không còn hiền hòa, thanh lịch như trước. Thủy có cảm tưởng như mình đang trở về căn nhà xưa, nhưng nay đầy những đồ vật ngổn ngang. Cảnh cũ nhưng người xưa đâu? Trong một thoáng, Thủy chợt thấy cô đơn và lạc lõng ngay giữa lòng Sài Gòn, nơi mà trước đây Thủy đã cùng sánh vai người yêu dạo phố hoặc cùng bè bạn đi mua sắm.
Sáng hôm sau, Thủy thuê xe đến nghĩa trang để thắp nhang cho song thân và sau đó đến thăm ngôi trường Trưng Vương thân yêu, nơi đã ghi bao nhiêu kỷ niệm đẹp thuở học học trò. Hai hàng cây phượng bên đường vẫn rợp bóng. Những cánh phượng vờn trong gió sớm như vẫy tay chào mừng người xưa trở về. Thủy đứng trước cổng trường nhìn vào bên trong sân, bồi hồi nhớ lại thời áo trắng. Hình ảnh các bạn học vui đùa dưới hàng me xanh như hiện ra trước mắt. Thủy chợt thấy lòng mình chùng xuống và không gian như lắng đọng...
Ngày tiếp theo, Thủy khởi đầu chuyến du lịch "Nam-Trung-Bắc", một ước mơ đã nung nấu và thôi thúc Thủy trong suốt bao năm xa xứ. Cuộc sống tại Mỹ tuy đầy đủ nhưng trong tim Thủy vẫn luôn luôn cảm thấy nhớ nhung và mất mát một điều gì đó...
Khi xe vừa tiến vào con đường chính Nha Trang, Thủy say mê ngắm nhìn những cấu trúc lạ mắt của Hòn Chồng, với những tảng đá xếp chồng lên nhau tạo nên nhiều hình dạng ngộ nghĩnh, sừng sững trước sóng biển. Con đường dẫn đến bãi trước thật đẹp! Hình ảnh những chiếc thuyền đánh cá đang ra khơi phản chiếu dưới ánh nắng ban mai tựa như một đàn chim ngũ sắc. Thủy đi bộ dọc theo bờ biển, dưới hàng dừa nước để tận hưởng những cơn gió biển dịu mát. Nàng vùi hai chân dưới những hạt cát trắng như thủy tinh nổi bật dưới mầu xanh tươi mát của biển.
Hôm sau, mọi người lên đường đi Huế, một nơi cổ kính, tôn nghiêm mà Thủy chỉ được biết qua sách vở hiện ra trước mắt. Nào là Chùa Tràng Tiền, Chùa Thiên Mụ đến các lăng tẩm của các vị Vua Chúa ngày xưa với những kiến trúc tuyệt mỹ. Tất cả làm cho Thủy say mê và tưởng như mình đang sống ở một thế giới xa xăm huyền bí. Ngắm cảnh xong, bác tài chở mọi người đi chợ Đông Ba để thưởng thức món hai món đặc sản của Huế là cơm hến và kẹo mè xửng. Buổi tối, Thủy thuê xích lô đạp đi ngắm các dẫy Phố Cổ về đêm. Phố Cổ Hội An, thành phố thầm lặng và cổ kính như cái tên của nó. Anh xích lô đạp vốn là một giáo sư sử địa trước năm 1975 nên anh đã kể cho Thủy nghe về những di tích lịch sử, mỗi khi đi qua một địa danh nổi tiếng của Huế. Thủy thả bộ đi thăm ngôi nhà cổ đã xây trước dây cả trăm năm, sau đó đi dạo phố và thưởng thức món mì Quảng đặc biệt của Hội An. Ghé Hội An mà không đi thuyền trên sông Hoài thì quả là đáng tiếc! Những chiếc thuyền ở đây đều chèo bằng tay, lướt nhẹ trên dòng nước lặng lẽ, sầu muộn như một cô gái Huế đa tình và lãng mạng. Bên trong thuyền được thắp sáng bằng những chiếc đèn lồng nhiều màu sắc. Trên cao, bầu trời trong suốt với những vì sao đêm bên ánh trăng tròn lẳn, chiếu lung linh trên mặt nước tạo nên một bức tranh thủy mạc tuyệt vời. Có lẽ đây là một trong những hình ảnh khó quên nhất trong chuyến du lịch.
Đường từ Quảng Nam ra Bắc vừa nhỏ hẹp lại thêm đá lởm chởm khiến xe bị chao đảo không ngừng. Bác tài xế bảo Thủy "Ngoài này không được an ninh như trong Nam nên chúng ta phải cẩn thận, nhất là những con đường đèo như thế này thường hay bị cướp chặn đường nên khi trời chập choạng tối, chúng ta phải mướn "Phòng Khách" để tạm trú, cô Thảo ạ". Thời gian ấy, từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc chưa có khách sạn. Phòng khách gồm những dẫy nhà dài, gồm nhiều khu riêng biệt do nhà nước quản trị. Mỗi khu là một phòng rộng và có nhiều giường nhỏ. Ngoài cửa của mỗi dẫy nhà được canh gác. Hình ảnh anh cán bộ đầu đội nón cối, đi qua lại dưới ánh đèn dầu mờ mờ khiến Thủy cảm thấy rờn rợn.
Sáng hôm sau, mọi người đều phải thức sớm để lên đường. Đến chiều, khi đến Cầu Hiền Lương, bác tài cho xe dừng lại để mọi người xuống xe chụp hình. Thảo bước xuống xe và đi ra giữa lòng cầu. Từng cơn gió thổi mạnh đem theo hơi lạnh từ dòng sông khiến Thủy rùng mình. Thủy ngậm ngùi nhìn xuống dòng sông lịch sử, nơi đã âm thầm ghi dấu sự phân chia lãnh thổ Bắc-Nam và đưa đến một chiến tranh tàn khốc hơn hai mươi năm.
Con đường về Bắc thật thật an bình. Bác tài cho xe chạy chậm lại nên Thủy có thể ngắm những cánh đồng lúa phì nhiêu bên đường. Từng nhóm nông dân đang làm việc, người gieo lúa kẻ trồng mạ. Xa xa, vài con trâu đang ì ạch kéo bừa gỗ và bác nông phu hướng lưỡi cầy xới mảnh ruộng. Giữa cánh đồng, vài con đường mòn dẫn đến những mái nhà tranh vách đất. Dưới bụi tre già, hai con trâu đen được cột vào gốc tre đang nằm thiu thiu ngủ bên cạnh mấy chú nghé đang đùa giỡn. Thấp thoáng thật xa, những dẫy núi trùng điệp. Thủy bỗng nghe lòng dấy lên một nỗi buồn và xót xa vì đời sống của người dân miền Bắc vẫn không thay đổi sau mấy chục năm miền Nam được "giải phóng".
Khi xe đến Ninh Bình, Thủy thuê một chiếc thuyền nhỏ đến Tam Cốc Bích Động. Con thuyê`n lướt nhịp nhàng trên dòng nước xanh biếc mầu ve chai giữa hai cánh đồng lúa vàng óng dẫn đến Tam Cốc Động, hùng vĩ, đứng sừng sững giữa dòng sông. Bao quanh là những ngọn núi cao chót vót và dài như bất tận. Phong cảnh đẹp như tranh vẽ! Những câu hò tiếng hát trên sông của các thôn nữ và anh nông dân hòa lẫn những tiếng cười, tiếng vỗ tay của khách thưởng ngoạn tạo thành một bản nhạc dân ca thật vui tai.
Hà Nội là quê ngoại của Thủy. 36 phố phường không xa hoa hào nhoáng như Thủy nghĩ nhưng chả cá Lãng Vọng quả ngon như lời đồn. Sáng sớm, Thủy thả bộ vòng quanh hồ Hoàn Kiếm. Giữa hồ một cái miếu nhỏ ẩn khuất sau những cành liễu rũ đong đưa theo gió giữa những làn sương mỏng mờ ảo như một bức tranh tuyệt đẹp phản chiếu trên mặt hồ.
Từ Hà Nội đến Chùa Hương rất xa nên Thủy phải ngủ đêm ở nhà khách để sáng hôm sau lên đường vào Chùa. Con đường vào Chùa mất khoảng nửa tiếng đường bộ và thêm nửa tiếng bằng đường thủy. Trên con đường bộ, Thủy có dịp nhìn ngắm những cánh đồng lúa xanh bát ngát phì nhiêu và đàn cò trắng đang bay lượn, nổi bật trên nền trời xanh. "Đến bến tầu rồi, cô bác ơi!" Tiếng bác tài xế vọng lại kéo Thủy về hiện tại, mọi người chuẩn bị lên thuyền.
Những con thuyền ở đây chèo bằng tay để giữ yên tĩnh chung quanh. Đoạn đường đi vào Chùa thật thơ mộng! Tiếng lá rừng chạm vào nhau, tiếng gió rít nhẹ qua khe đá, hòa với tiếng hót thánh thót của nhiều loại chim tạo thành một điệu nhạc mê hồn. Chiếc thuyền lướt nhẹ nhàng giữa hai dòng nước xanh mầu ngọc thạch. Anh lái đò là một thanh niên trẻ và vui tính. Hai tay anh kéo thoăn thoắt hai mái chèo, miệng hát nho nhỏ bài Đi Chùa Hương với giọng trầm ấm và khá hay "Hôm nay em đi Chùa Hương, hoa cỏ mờ hơi sương...".
Hai bên bờ sông là những hàng cây chen giữa những tảng đá khổng lồ và những ngọn núi cao vút. Thỉnh thoảng có một vài ngôi đền nhỏ dọc theo dòng sông, lẩn sau cụm mây trắng mờ mờ ảo ảo trong làn sương khiến cho phong cảnh thật thanh thoát.
Thuyền cập bến. Hai bác tài lên trước và đi mua gậy để chống vì nó rất cần thiết để leo lên 2.000 bậc thang đá chồng lên nhau để đi lên Chùa. Bên phải của bực thang đá là núi với những túp lều tranh dựng rải rác dọc theo bậc thang để khách dừng chân, uống trà và nghỉ mệt. Bên trái là vực đá sâu thăm thẳm nên rất nguy hiểm. Khi gần đến cửa chùa Hương, mùi nhang khói bay lên mù mịt che mờ cả lối đi phía trước. Những quầy bán nhang, đèn, hoa bầy hai bên cửa chùa che cả lối đi. Thủy chen qua đoàn người vào phía bên trong. Nàng thắp một nén nhang, rồi đứng trước bàn thờ Phật khấn nguyện.
*
Sau chuyến tour Nam-Trung-Bắc, Thủy trở lại thành phố sương mù Đà Lạt, nơi của những tháng năm đong đầy kỷ niệm cuộc tình giữa Thủy và Đức... Thủy đi bộ qua con đường dốc quen thuộc từ Café Thủy Tạ Hồ Xuân Hương, băng qua thảm cỏ xanh Đồi Cù rồi dừng lại dưới hàng thông. Vài cơn gió nhè nhẹ mát rượi thổi ngang qua mang theo mùi thơm của lá thông khiến Thủy cảm thấy khoan khoái dễ chịu. Vừa đến cửa quán Café Thủy Tạ, Thủy vội nhìn vào bên trong, dáo dác tìm chiếc bàn cạnh cửa sổ mà ngày xưa nàng và người yêu vẫn ngồi bên nhau. May quá, bàn chưa có người ngồi. Thủy bước vội đến bàn, ngồi xuống và nhìn qua cửa sổ. Trong thoáng chốc, dĩ vãng chợt ùa về trong trí óc.
...Ngày ấy, Thủy ra đi trong vội vã, bỏ lại mẹ cha, rời xa bạn bè, con đường ngập lá me bay và hàng cây phượng vĩ nở rộ những cánh hoa mầu đỏ thẫm trước cổng trường. Năm 1972, khi Thủy vừa tốt nghiệp trung học, cha mẹ Thủy cho Thủy lên Đà Lạt thăm và nhân tiện ở dó chăm sóc ông bà ngoại một thời gian. Trong thời gian này, Thủy đã quen với Đức, đang học năm thứ Nhất tại Chính trị Kinh doanh Đà Lạt. Café Thủy Tạ là nơi hai người thường đến và ngồi tại một bàn kê cạnh cửa sổ, nhìn xuống những rặng cây thông ẩn hiện trong làn sương mù trên sườn đồi thoai thoải. Thời gian Thủy ở Đà Lạt thật ngắn nhưng đủ để ghi lại những kỷ niệm khó quên của mối tình đầu.
Sau khi trở về Sài Gòn, mỗi tháng, Thủy viện cớ đi thăm ông bà ngoại để gặp Đức. Đôi khi, Đức bất ngờ về Sài Gòn để làm Thủy bất ngờ.
Đầu năm 1974, tình hình chiến tranh càng ngày càng căng thẳng. Những trận chiến ác liệt diễn ra hàng ngày khắp nơi. Thủy không thể quên được một buổi chiều mưa tầm tã, Đức về Sài Gòn và báo cho nàng biết sẽ bỏ học để gia nhập quân đội. Đức cho biết anh không thể yên tâm ngồi học trong khi bạn bè anh đang chiến đấu gian khổ nơi chiến tuyến. Thủy đã nức nở khóc vì buồn và lo cho Đức. Mỗi khi, nhận được thư tràn đầy yêu thương và nhung nhớ của Đức, Thủy đã đọc đi đọc lại trong nước mắt dàn dụa.
Ngày 15 tháng 4-1975, Bố của Thủy về nhà bất ngờ, gọi Thủy và Mẹ nàng ra phòng khách để nói chuyện với vẻ nghiêm trọng. Ông cho biết Thủy và mẹ nàng phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 2 ngày. Riêng ông, ông phải ở lại vì với cương vị của một sĩ quan cao cấp, ông không thể bỏ rơi đồng đội trong khi mọi người đang cần ông. Mẹ nàng cương quyết ở lại với ông và bắt Thủy phải đi trước. Để trấn an, ba Thủy nói sẽ cố gắng thu xếp và đi sau với mẹ nàng. Ngày hôm sau, ba Thủy cho tài xế vế nhà chở Thủy đế phi trường Tân Sơn Nhất để rời khỏi Việt Nam...
- Thưa cô dùng chi? Tiếng người hầu bàn làm Thủy giật mình trở về thực tại.
- Xin lỗi đã làm cô giật mình. Hình như cô có vẻ thích khung cảnh bên ngoài lắm?
- Xin lỗi ông. Vâng, thật là một khung cảnh thơ mộng.
Giọng nói người hầu bàn chợt như xa vắng và trầm xuống:
- Đây là khung cửa mù sương, một chỗ ngồi tuyệt vời nhất trong quán.
Tim Thủy như thót lại! "Khung cửa mù sương" là một biệt danh mà chì có nàng và Đức biết. Nàng vội ngửng lên nhìn thẳng vào mặt người hầu bàn và trong một thoáng, nàng nhận ngay ra Đức. Nàng đứng bật dậy và run run nói:
- Anh Đức! Thủy đây. Phải anh Đức không?
Người hầu bàn sững lại nhìn Thủy. Không gian như tối lại và lung linh trước mặt là khuôn mặt hồn nhiên ngày nào của Thủy hiện ra. Anh bàng hoàng định giơ tay tay nắm lấy tay Thủy nhưng rồi rụt lại.
- Đức đây. Không ngờ còn được gặp lại Thủy.
Đức ngồi xuống chiếc nghế đối diện Thủy. Hình như có một cái gì đó vô hình chắn ngang hai người khiến hai người ngồi yên lặng thật lâu.
Ngày hôm sau, Thủy và Đức hẹn gặp lại nhau tại một sườn đồi bên cạnh Café Thủy Tạ. Đức cho biết, sau ngày miền Nam thất thủ, anh bị đi tù cải tạo 5 năm. Khi ra tù, anh có đến nhà Thủy nhưng căn nhà đã có người khác ở và họ không biết gì về gia đình Thủy. Anh đoán có lẽ cả gia đình Thủy đã di tản sang Mỹ. Tuy nhiên, anh vẫn nuôi hy vọng nên đã nấn ná sống ở Sài Gòn và làm đủ nghề để sinh sống. Vài năm sau đó, Đức cảm thấy không còn hy vọng nữa nên trở về Đà Lạt sống với người chị. Đức chọn làm việc tại quán Café Thủy Tạ được nhìn khung cửa kỷ niệm và hy vọng một ngày nào đó sẽ gặp lại Thủy nơi đây.
Nghe Đức kể, Thủy vô cùng xúc động và không cầm được nước mắt. Nàng kể lại cho Đức biết là sau ngày 30/4/1975, bố của Thủy bị tù cải tạo. Ông đã chết vì bị hành hạ và vì ăn uống thiếu thốn trong 3 năm tù đày. Mẹ nàng vì đau buồn nên cũng qua đời một năm sau đó. Thủy đã tìm đủ mọi cách để tìm Đức trong suốt 10 năm nhưng vô vọng. Nàng đã lập gia đình năm 1986 và có 1 đứa con gái.
Trời đã bắt đầu chiều và sương mù đang từ từ bao phủ những ngọn thông. 20 năm trước, Đức và Thủy đã từng ngồi tại chỗ này dệt biết bao mộng đẹp; nhưng hôm nay, tất cả chỉ còn như những chuyện cổ tích. Đức ngập ngừng nắm tay Thủy và nói "Suốt 20 năm qua, anh vẫn thầm mơ ước một ngày nào đó sẽ được gặp lại Thủy. Bây giờ, anh đã mãn nguyện vì biết Thủy vẫn bình an. Có lẽ còn lâu lắm chúng ta sẽ gặp lại nhau. Những kỷ niệm xưa anh sẽ giữ mãi trong tim và anh luôn cầu chúc cho Thủy được hạnh phúc." Thủy xúc động nhìn Đức. Hơi ấm quen thuộc khiến cho tình yêu thủa ban đầu như đang bừng sống lại. Trong làn sương mờ ảo, khuôn mặt thư sinh ngày nào của Đức như đang mỉm cười với Thủy.
Khánh Lan
California September 2020
Re: Cà Phê...Vịt

Nhớ mưa
VÕ NGỌC ÁNH
Hắn nghe tiếng rỉ rả của thứ nước mỏng va vào thành ống xối bằng tôn quấn chảy xuống bên ngoài. Cái âm thanh rất gần, chẳng ai hối thúc khiến hắn không dỗ dành lại được giấc ngủ.
Thứ âm thanh đơn điệu kia lại đủ sức buộc hắn bị chìm vào ký ức của tháng mưa nơi quê nhà.
Hắn nhớ âm thanh lắc rắc trên mái ngói, lộp độp của giọt nước rớt trên tàu lá chuối, lỏn tỏn rơi vào vũng nước, xối xả từ trên mái đổ xuống qua ống xối nơi góc nhà… Mọi thứ giường như im lặng nhường cho bản hòa tấu của tiếng mưa đêm.
Ở đây, trong căn nhà kín bưng để giữ hơi ấm, bên ngoài cây cối lá kim đơn điệu trụ cái lạnh… hắn đâu nghe được dàn nhạc của tiếng mưa rơi.
Nhớ, hắn ước ao nhìn thấy đám cỏ chạy dọc sau hè tả tơi dưới giọt nước từ mái đổ xuống.
Hồi ở Sài Gòn, đã có lần hắn thèm thấy dáng xác xơ của cỏ dưới mưa. Nhưng mưa ở Sài Gòn chưa đủ rộng lượng, vội đến vội đi, đâu thể giày vò để lại sự tàn tạ trên đám cỏ.
Tiểu bang Washington cũng kiểu “mưa thối đất” kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, vẫn chưa bao giờ đủ làm hắn phê ký ức.
Ừ, thì nơi đây mưa nhiều, chỉ tội khí hậu ôn đới đâu là thiên đường của sinh vật mùa mưa, khi đa số phải dừng lại, trở nên trơ trọi, tiết giảm để chống chọi trong cái lạnh.
Hắn nhớ cái sân trắng mốc, nóng rực mấy tháng trước đã được phủ lớp rêu ể oải. Chân tường quanh nhà trở thành vương quốc của những loài cây thâm thấp, thành trì của kiến.
Sự tiện lợi của không gian chật hẹp, mở cửa đóng cửa, sáng toang, nhấn nút kêu cái “roạt” xong việc, không làm hắn quên đi từng có nhiều đêm mưa đứng trong hiên ‘bắt cần’ xả ra sân. Tay giữ ‘cần’ vẫn sợ bóng đen vô hình từ bên ngoài thò tay bắt ‘cần’ chạy vào bóng đêm tối mịt mùng mất hút.
Cái ‘ưu ái’ của anh em hắn làm cho chỗ sân hay được ‘thả cần câu đêm’ có một lớp màu xanh bờn bợn với mùi ammoniac.
Đừng hỏi hắn nhà vệ sinh đâu ở nông thôn Việt Nam của 30 năm về trước. Người ta còn vật lộn tìm cái bỏ vào bụng để có sức ra đồng, lên rẫy thì nhu cầu ‘xả vì thân’ rất dễ dãi, cứ thân thiện hòa vào thiên nhiên.
Mưa miền Trung rề rà, rả rích như ông trời bị bồ đá. Mưa. Cái ẩm ướt cả tuần chẳng chịu chia tay nơi bộ đồ mặc đi học. Đã vô số lần hắn phải đem hơ trên bếp lửa để được hấp mùi thiu thỉu của khói. Và sấy bằng thân nhiệt qua cách bận bộ đồ còn ướt ngày mai cần mặc đi học vào ngủ một đêm sáng dậy khô rang, ấm ru. Ấm như đồ máy mới sấy xong vừa được lấy ra bên này.
Còn đó, đêm mưa, trời lạnh, co ro, tấm mền mỏng không đủ cho ba cha con cùng ấm. Những đêm ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, cha con hắn còn chui vào loại bao tời làm bằng thân cây đay để ngủ.
Giờ chăn ấm, nệm êm vẫn khắc khoải về bao đêm ba cha con cùng ngủ. Cái phản vẫn còn chỗ cũ, con mỗi đứa một phương. Ba đã cóp má, tóc phai màu, phản mít phẳng lỳ giờ ba cũng chẳng muốn nằm khi cái lưng người già không thích. Có thể ba sẽ nằm lên đó trong lúc nhớ đến con.
Còn đó bao sáng mùa đông nằm trên phản dỏng tai nghe tiếng lục đục dưới bếp, tiếng củi nổ lép tép để chạy xuống sà vào, giang tay quanh ông táo hít hà hơi ấm, nhìn xung quanh má cho ăn bữa sáng món gì.
Khoai sắn, khoai lang, khoai xéo… thêm chén muối cay cay đủ làm ngon miệng để nhét cho đầy bụng. Đừng hỏi hắn, “cơm đâu?”. Cái thời mỗi năm một mùa lúa nước trời của vụ đông xuân bấp bênh, cơm chỉ dành sáo khoai cho buổi trưa, ngày đi làm việc nặng. Tháng mưa việc ăn uống trở nên đơn giản, cả tháng má không đến chợ nhà vẫn có mắm ăn đầy hũ.
Lúc con người sống trên đất đang đói, thì đường đi cũng trở nên đồng cảm bằng sự ‘khóc lóc’. Con đường đất phẳng lì ngày hè giờ nhiều đoạn nổi nước nhĩ, thêm sự giày xéo của dấu chân trâu bò khiến mặt đường chẳng khác đám ruộng chuẩn bị xuống giống.
Trên con đường ấy khi bước, ngón chân cái phải quặp xuống đất cho khỏi trợt. Xe đạp cần vững tay lái men theo lối mòn.
25 năm không có nhiều cơ hội thực hành, hắn vẫn thuộc câu thần chú, “Mưa tránh trắng, nắng tránh đen” mỗi khi ra đường vào ban đêm để khỏi bước chân vào vũng nước.
Tiếng rỉ rả bên ngoài vẫn chưa dứt, quê nhà đang mùa rả rích, mưa bên này gợi hắn nhớ mưa quê.
- bichphuong
- Posts: 654
- Joined: Mon Apr 25, 2016 12:10 am
- Been thanked: 1 time
Re: Cà Phê...Vịt
Đừng yêu người làm thơĐợi cho Quang ra khỏi nhà là mẹ tôi nói ngay:
- Anh Quang này trông đứng đắn đàng hoàng đấy, vậy con liệu mà bảo nó tính đến chuyện hỏi cưới đi.
Tôi đáp với lòng hãnh diện:
- Sớm muộn gì anh ấy cũng phải lên tiếng thôi, con việc gì phải bảo người ta cho nó mất giá trị !
- Mẹ thấy mấy đám trước cũng tử tế như thế này, cứ kéo dài hò hẹn, tìm hiểu mãi rồi ai cũng rút lui, chẳng hiểu họ chê con vì điểm gì? nên lần này con phải chủ động giục cưới cho chắc ăn, kẻo lại thêm một mối tình lỡ.
- Mẹ yên tâm, đây sẽ là mối tình cuối cùng của đời con.
Mẹ tôi cũng không quá lo xa đâu, có nhiều mối tình đến với tôi, nồng nàn tha thiết bao nhiêu nhưng vẫn không đi đến kết quả tốt đẹp. Mẹ tôi bảo tại tôi lãng mạn quá, trái tim dễ rung động quá, nên yêu nhiều mà chẳng được bao nhiêu, yêu chưa đúng người.
Tôi đã biết yêu từ năm 12 tuổi, hồi đó ở Việt Nam vẫn còn là tuổi của ngây thơ khờ dại. Tôi rất thích ăn mì của cái tiệm ở đầu đường nhà tôi do một người Hoa làm chủ, đứng nấu mì là một anh ba Tàu trẻ, thường thì mẹ dẫn tôi đi hay có khi tôi thèm thì xin tiền mẹ chạy đến tiệm ăn một mình. Dù đi với mẹ hay không, tôi đều thích đứng cạnh xe mì để nhìn ngắm anh Tàu trổ tài nấu mì, anh để một vắt mì vào thùng nước sôi và nhanh chóng vớt lên bằng một cái vợt lưới, bàn tay anh thao tác nhuần nhuyễn, hất tung vắt mì lên vài lần cho ráo nước và sau cùng hất vào tô, bao giờ cũng chính xác, không rớt ra ngoài. Xong anh bày lên những miếng thịt heo nạc thái mỏng còn viền màu đỏ vì đã được ướp xá xíu, một thìa tóp mỡ thái hột lựu, và một thìa củ cải mặn cũng thái hột lựu, rồi mới đến những cọng hẹ cắt khúc ngắn. Anh mở nắp vung thùng nước lèo, cả một mùi thơm bát ngát theo hơi khói bay ra, thuở đó trong mắt tôi thùng nước lèo to, sâu thẳm ấy là một công trình vĩ đại và kỳ bí như trò ảo thuật, vì chẳng biết anh Tàu nấu bằng xương thịt gì, bí quyết gì mà nước lèo thơm ngon thế ? Có bao giờ tôi ăn tô mì mà chẳng húp hết nước sạch sẽ đâu!
Khi thì anh Tàu bê tô mì ra bàn cho tôi, khi anh bận thì tôi tự làm lấy vui vẻ. Tôi thích ăn mì và yêu cả anh Tàu nấu mì, không biết vì anh trẻ đẹp trai vui tính hay vì anh là người đã nấu cho tôi những tô mì ngon ?
Tôi đến tiệm mì thường xuyên đến nỗi anh Tàu nhớ mặt tôi, có lần anh vừa vung vẩy biểu diễn hất vắt mì vào tô vừa cười cười với tôi : “ Hày, con nhỏ này là khách quen của bổn tiệm mà, để tao cho mày thêm vài miếng thịt”.
Hôm ấy tôi ăn tô mì đặc biệt nhiều thịt, vừa sung sướng vì anh nhớ đến tôi, vừa buồn buồn vì anh gọi tôi bằng “mày” và xưng “tao”. Anh Tàu chẳng biết rằng con bé ranh này đang yêu anh, hôm nào không có tiền ăn mì, đi học về qua tiệm tôi đi chậm lại một chút để nhìn thấy anh rồi mới chịu đi nhanh về nhà, tương tư anh nên tôi đã nói với mẹ: “Lớn lên con sẽ lấy anh Tàu bán mì“.
Mối tình đơn phương đầu đời có liên quan đến vấn đề ăn uống ấy chỉ tồn tại được một hai năm, không phải vì có vài lần tôi thấy vợ anh đứng nấu mì thay cho anh, là một chị mập ú, luôn luôn mặc áo sát nách để hở hai cánh tay béo mỡ, vừa nấu mì vừa xổ một tràng tiếng Tàu với hai đứa con nhỏ đang luẩn quẩn bên cạnh, mà vì càng lớn tôi càng có nhiều sở thích khác ngoài ăn mì. Tôi thích đọc sách báo, thơ truyện, tôi biết tưởng tượng đến một người yêu thanh tao gấp mấy chục lần anh Tàu của tôi thuở tôi 12 tuổi.
Năm tôi học lớp 11, đã có vài bài thơ đăng báo nên cả lớp “nể mặt” và đồng loạt bầu tôi làm Trưởng ban báo chí của lớp, sau khi tôi đi họp để bầu Trưởng ban báo chí của toàn trường, tôi phải đứng trước lớp báo cáo lại kết quả buổi họp đó. Tôi đâu có tài ăn nói trước đám đông, trong khi bao nhiêu con mắt đang đổ dồn vào tôi, làm tôi bối rối thì ít mà thằng lớp trưởng đứng bên cạnh làm tôi bối rối thì nhiều, vì tôi yêu và nể nó, tính tình nó hiền lành, ăn nói lưu loát và có tài lãnh đạo. Tôi lí nhí kể lại buổi họp cho thằng lớp trưởng, khi một người ngồi dưới hỏi chị trưởng ban báo chí lớp ơi ! đã bầu xong trưởng ban báo chí toàn trường chưa? Thì thằng trưởng lớp dõng dạc trả lời giùm tôi “Chị cho biết là chưa có bầu”. Cả lớp cười ồ lên còn tôi thì đỏ mặt. Lớp trưởng vội vàng sửa lại, nói đầy đủ hơn: “Chị cho biết là chưa có… bầu trưởng ban báo chí toàn trường”.
Tình yêu là một trò chơi quanh quẩn, trong khi tôi yêu thầm thằng lớp trưởng, nó chẳng thèm để ý đến tôi, (bụt nhà không thiêng?) thì một thằng bên lớp 12 lại trồng cây si tôi mê mệt, luôn luôn tôi thấy có cặp mắt nào đó đang nhìn mình, những lúc tôi đang ăn chè đá đậu hay chấm mút trái cóc chua ngọt với muối ớt trước cổng trường đều bị nó bám sát không rời, làm tôi phải nhịn thèm các món đó luôn vì mắc cở, cho đến cuối năm đó nó rời khỏi trường tôi mới được tự do ăn uống trở lại. Lá thư tỏ tình nó gởi tôi do một đứa bạn cùng lớp đưa lại chẳng bao giờ tôi trả lời vì tôi không yêu nó. Sau 1975 nó đi vượt biên với vợ con và mất tích ngoài biển khơi.
Tôi nghĩ đời tôi có hai cái may, nếu mối tình với anh ba Tàu mà thành sự thật thì bây giờ tôi đã là chị ba Tàu, chắc cũng mặc áo sát nách đứng nấu mì thay cho chồng và quát tháo lũ con om sòm bằng tiếng Tàu rồi ! hoặc nếu tôi lấy anh chàng lớp 12 si tình kia thì giờ này tôi cũng mất tiêu trên biển với nó rồi !
Cho đến năm tôi 20 tuổi, trước khi đi định cư ở Mỹ thì trong tâm hồn tôi đã có một đống những người tình lý tưởng lấy ra từ trong tiểu thuyết và phim ảnh, Rhett Butler của “Gone With The Wind”, Zhivago của “Dr. Zhivago”, hay ông linh mục Ralph của “The Thorn Birds” hay “chú” Sách tử tế và bao dung yêu vợ trong “Tình nghĩa vợ chồng” của Leon Tolstoi do Bảo Sơn dịch v.v… Tôi từng bị tiếng sét ái tình với người trong phim truyện, thì với người đời bằng xương bằng thịt là lẽ đương nhiên, nhưng dù sét đánh dữ dội thế nào tôi cũng không bao giờ chết, yêu nhanh và quên cũng nhanh. Mẹ tôi bảo tính tôi lãng mạn, mê làm thơ, mê đọc thơ nhiều quá rồi nó vận vào người, toàn là những mộng mơ ảo tưởng ! Đã hơn 30 tuổi rồi mà vẫn chưa “tỉnh” người ra để kiếm một tấm chồng, để sinh con đẻ cái như người ta. Tôi chống chế, thời buổi này người ta lập gia đình trễ sau khi đã có công danh sự nghiệp. Mẹ tôi lẩm bẩm, nhưng con không bận học hành, không làm ăn buôn bán, chỉ đi làm hãng xưởng thì sự nghiệp gì mà chờ đợi cho nó già cả người hở con?
Ba mươi mấy tuổi ! chưa già, nhưng cũng không còn trẻ ! Tôi không “nhìn lên trời” để tìm Rhett Butler hay Dr. Zhivago nữa, mà đã hạ tiêu chuẩn, tìm nhũng người thường xung quanh tôi, lần này tôi sẽ không để mất Quang vì tôi yêu anh và anh cũng yêu tôi như thế.
Đã mấy tuần trôi qua, chẳng hiểu sao Quang không liên lạc với tôi, cell phone và email đều im lặng. Lạ quá ! những tín hiệu tôi gởi đi nhưng anh vẫn không hồi đáp.
Một người bạn thân của tôi báo cho tôi một tin không thể tin nổi là Quang đang quen với một người con gái khác, tôi cười khỉnh vào mặt bạn tôi rằng, đó là tin đồn thất thiệt, mày phải nhớ là Quang yêu tao như thế nào! chiều chuộng từng sở thích của tao như thế nào ! và nhất là Quang yêu thơ của tao nữa ! Anh tìm đâu ra một người yêu vừa lãng mạn vừa biết làm thơ ? người nào mà lấy tao thì cuộc đời sẽ đẹp như thơ.
Tôi bỗng nhận được lá thư của Quang gởi từ bưu điện. Chẳng hiểu sao E-mail tiện lợi, anh không dùng, hay anh muốn cứu giúp ngành bưu điện đang ế ẩm, để các mailman có việc làm ?
Thái độ im lặng thật lâu đã lạ, cách liên lạc của anh càng lạ hơn làm tôi hồi hộp khi bóc thư ra, nhưng tôi vẫn tin rằng đó là một lá thư dài tràn đầy lời thương nhớ và tới tấp xin lỗi em yêu ! Tôi trải tờ thư phẳng phiu ra và khoan khoái đọc:
Thương gởi em ! (biết ngay mà, tôi nghĩ )
Suốt mấy tuần qua, anh đã suy nghĩ rất nhiều trước khi viết lá thư này. Anh phải viết bằng thư tay để em đọc xong và suy ngẫm, chứ gởi qua e-mail coi chừng em delete mất !
Em ơi, chúng mình đã yêu nhau hơn một năm trời, đã bao lần hò hẹn, gặp gỡ tìm hiểu nhau, đủ để đi đến một quyết định… (đọc đến đây tôi nhắm mắt lại, thở phào một cái sung sướng trước khi đọc tiếp lời cầu hôn năn nỉ của anh ta)…
Anh nhận thấy một điều rất rõ ràng là : Anh không thể lấy em ! Có nghĩa là chúng mình sẽ chia tay từ đây ! Vì em lãng mạn quá, em như sống ở trên mây, anh đã cố gắng chiều chuộng em, nhưng thà chiều chuộng một đứa trẻ, khi nó lớn lên một chút là thôi, còn chiều chuộng những đứa làm thơ như em thì phải cả đời.
Em đâu có biết, anh đã mệt mỏi căng thẳng biết bao để chiều lòng em ! Nửa đêm anh đang ngủ ngon để mai đi làm sớm thì em gọi cell phone đánh thức anh dậy để… khoe một câu thơ vừa hiện ra trong đầu, em đọc cho anh nghe, anh mắt nhắm mắt mở chỉ thèm ngủ chứ đâu có thèm nghe thơ, dù hay cỡ nào cũng không thành vấn đề đối với anh trong lúc này. Vậy mà anh phải khen hay, nhưng em không tin, còn bắt anh phân tích hay ở chỗ nào? Anh đành làm nhà phê bình văn học thơ em cho tới sáng, cho tới giờ đi làm. Anh không lạng quạng lái xe đụng người ta trên highway đầy nghẹt xe là may phước cho nhà anh rồi.
Những lúc hai đứa mình đi chơi, anh đang lái xe đến một địa điểm nào đó đã định trước, thì em chỉ huy anh phải quẹo hết con đường này đến con đường khác, mặc dù em không biết nó về nơi đâu ! Nhưng đó là những con đường có hàng cây đẹp làm em mơ mộng, nổi máu muốn làm thơ.
Cái hôm mình đi ăn đám cưới một người bạn, em còn nhớ không? Chỉ vì anh đi theo những con đường thơ mộng đó theo bất chợt cảm hứng của em, mà đến trễ 3 tiếng đồng hồ, vượt hẳn kỷ lục đi trễ của người Việt Nam mình khá xa !
Yêu em nên anh ráng hy sinh, nhưng chuyện chiều chuộng em cuối cùng vừa rồi thì anh chịu hết nổi, và em có còn nhớ không? Đó là một buổi chiều Chủ Nhật, ngày vui của Weekend đã tàn, ai cũng cần nghỉ ngơi để thứ Hai đi làm, trời lại đang gió mưa, thật ấm cúng khi được ngồi ở nhà ăn bữa cơm chiều, hay xem tivi, đọc báo… thì em phone cho anh, đến gặp em gấp. Anh vội vàng thay đồ đến nhà em, tưởng em đang gặp chuyện gì khó khăn, cần có anh giúp một tay. Thì ra em rủ anh đi dạo phố chiều mưa với em cho …. vui, cho romantic. Em ơi, lúc đó mẹ anh mà bị bệnh, kêu anh ra chợ mua cho bà hộp thuốc, chưa chắc gì anh muốn đi, nhưng vì yêu em, thấy em phấn khởi , thích thú quá, anh đành chiều.
Trời mưa rả rích, gió lạnh từng cơn, trên con đường lá rụng ướt đẫm nước mưa, anh cầm dù che cho em là chính, còn anh hứng toàn bộ cơn mưa, ngày xưa còn bé, anh khoái tắm mưa, còn hôm đó anh tắm mưa bất đắc dĩ, mưa ướt anh từ đầu đến chân, người anh run lên vì lạnh, nhưng anh không dám kêu ca, để tôn trọng tâm hồn thi sĩ của em, để cho em hoàn tất được ý thơ cho bài “Hai đứa đi trong chiều mưa gió”.
Khi bài thơ ấy được đăng báo, may ra có một vài người cảm động vì thơ em, nhưng anh phải đánh đổi với cái giá rất đắt, suýt nữa bằng cả một sinh mạng ! Anh về nhà, tối hôm đó bị cảm lạnh, lên cơn sốt cao hừng hực, mẹ anh biết chuyện vừa xót xa thương con vừa tức giận, mắng anh là thằng ngu ! Nó đã dở hơi mà mày cũng dở hơi theo nó đi trong mưa như thế à ? Tao nói cho mày biết nhé, dù con dở hơi ấy có giàu, có đẹp đến đâu cũng không bao giờ tao muốn nó về làm dâu nhà này (Anh xin thề đây là nguyên văn lời của mẹ anh, chứ anh không nỡ gọi em là “con dở hơi”, cho dù anh thấy điều ấy cũng… không sai).
Hôm sau anh phải nghỉ làm, đi Bác sĩ và nằm nhà suốt tuần.
Em, một người làm thơ, có tâm hồn nhạy cảm vô song, một chút nắng đổi màu, một cơn gió xao xác chuyển mùa, hoa lá kia đang nở hay héo tàn… em biết ngay, em sản suất ra thơ ngay. Nhưng anh nằm ốm bệnh lu bù ở nhà thì em không biết, em chẳng đoán ra, chỉ gởi những lời nhắn khơi khơi trên email hay cell phone là “Gọi lại cho em gấp ! Đến nhà em gấp !”
Em không hề thắc mắc là vì sao anh vắng mặt, vì sao anh im lặng, mà chỉ ra lệnh cho anh đến với em.
Sau trận ốm suýt chết oan đó, đọc thấy lời nhắn của em, anh sợ quá, sợ em lại rủ anh đi trong một cơn mưa gió cho một bài thơ khác sắp hiện ra trong đầu em, hay bắt anh chở đi lòng vòng khắp các nẻo phố phường có hàng cây lá đẹp, đến chóng cả mặt, và tốn cả xăng, thời buổi kinh tế khó khăn, giá dầu thô lên 82 đồng một thùng, em biết chưa ?
Nhờ trận ốm đó, anh đã tìm ra một chân lý là “Đừng yêu người làm thơ”, những đứa làm thơ như em, chỉ làm thiệt hại đến người khác, chỉ nương tựa vào người khác. Anh đến nhà em, lần nào cũng thấy mẹ em đang nấu cơm, chưa bao giờ anh thấy em đứng trong bếp, dù chỉ để cắt một cọng hành ! Anh dám chắc là trong đời em chưa bao giờ biết luộc rau muống, chứ đừng nói tới các món cầu kỳ khác ! Thế mà đã mấy lần em mời anh đến nhà ăn cơm chiều, em tự hào khoe, mẹ em kho cá, mẹ em nướng thịt ngon lắm, hay bất cứ món gì khác, mẹ em đều nấu ngon hết.
Em ơi, nếu anh lấy em, ai sẽ nấu cơm cho anh ăn? Nên anh đã tưởng tượng ra thảm cảnh tương lai, anh sẽ phải làm bếp và nếu có con anh sẽ kiêm luôn phần trông con, giặt giũ, quét dọn nhà cửa, để cho em rảnh tay làm thơ. Vì thế, anh quyết định chia tay em để quen với người khác, một con người thực tế 100 % , không biết làm thơ gì cả ! Chẳng sao, anh mở báo, mở net ra, có cả đống nhà thơ cho anh đọc, cần gì phải cưới một nhà thơ về để phải chiều nó cho mệt cuộc đời? Còn người vợ thực tế của anh sẽ biết đi chợ, sẽ biết lo cho anh miếng ăn, giấc ngủ.
Anh may mắn thoát khỏi tay em, nhưng anh chưa yên tâm đâu, sau này anh sẽ để di chúc truyền đời cho các con, các cháu anh để cho chúng biết mà tránh xa “Đừng yêu người làm thơ”.
Hôn em lần cuối.
Tái bút : Dù sao anh cũng luôn cầu mong em sớm kiếm được một người khác để thay anh dìu em đi trong mưa cho những bài thơ sắp tới của em. (anh tin rằng cuộc đời này lúc nào cũng có sẵn những thằng ngu như anh).
Đọc xong lá thư tôi vừa tức vừa đau khổ, yêu tôi được lãng mạn thế, anh không happy thì thôi, mà còn kết tội tôi và chấm dứt mối tình đang tha thiết. Tôi vùi đầu trong chăn, trong gối, để mặc cho nước mắt tuôn rơi và cõi lòng tan nát.
Nhưng tôi chợt vùng dậy, chạy ra lấy giấy bút ghi vội một đề tài, một câu thơ vừa xuất hiện trong đầu, vì trong đau khổ hồn thơ bỗng lai láng, nên dù buồn đứt ruột vẫn có xen lẫn một chút vui thú vì câu thơ vừa ý. Nay mai tôi sẽ có bài thơ đăng báo là “Hai đứa chia tay trong chiều mưa gió” Và nếu đúng như lời Quang đã nói trong thư, tôi lại chờ đợi một anh chàng ngu ngơ, lù khù nào đó sẽ đi vào đời tôi, để tha hồ mộng mơ tiếp, và hi vọng lần này sẽ… kiếm được một tấm chồng đồng điệu, biết yêu người làm thơ.
Nguyễn thị Thanh Dương
Re: Cà Phê...Vịt
BÍ ẨN MỘT CHUYỆN TÌNH
(Chuyện dễ thương gì đâu...)
Tôi có thằng bạn nối khố. Nối khố đúng nghĩa, thân nhau từ nhỏ đến lớn. Cho đến bây giờ đầu hai thứ tóc mà vẫn mầy tao. Dĩ nhiên tôi phải gọi vợ hắn bằng chị một cách lễ phép. Chúng tôi sinh ra, lớn lên ở thành phố Hội An. Ðó là một thành phố cổ mà ai cũng biết. Cả mấy trăm năm mà hầu như ít có người sửa lại ngôi nhà của mình. Họ bảo thủ cũng có nhưng sửa để làm gì? Con cái lớn lên, đứa nào cũng tìm cách bay nhảy ra khỏi thành phố, vả lại nhà có hư, dột gì đâu? Nhà xưa, tường xây mấy lớp gạch dày, ngói lợp âm dương, sườn nhà bằng gỗ tốt, mấy cây cột nhà to tướng bằng gỗ lim, gõ...mối, mọt gặm gãy răng không ra. Có điều bất tiện là nhà nhiều cột quá. Tôi nhớ lúc nhỏ, khuya dậy đi tiểu, mắt nhắm mắt mở, hai tay quờ quạng phía trước, vậy mà cứ đập trán vô cột nhà hoài. Còn đường phố ở Hội An, ngay cả đường phố chính cũng chỉ rộng hơn đường hẻm ở Sài Gòn chút đỉnh, nghĩa là vừa cho chiếc xe hơi chạy một chiều. Có lẽ ngày xưa, cách đây khoảng bốn, năm trăm năm, người ta làm đường đủ cho hai chiếc xe ngựa tránh nhau mà thôi. Sau nầy, các con đường được mở tối đa, lấn đến sát thềm nhà, đến độ, bước ra khỏi cửa là đặt chân xuống lòng đường, khiến cho Hội An trông rất đặc biệt, như không có đường phố lớn và mọi nhà đều xây mặt ra hẻm. Hội An giống một cái túi, ra vào chỉ một con đường đi Vĩnh Ðiện, nối với Quốc lộ 1, cho nên con người ở đó loay hoay với nhau như trong tổ mối. Họ thân thiết nhau đến độ biết rõ gia phảø mấy đời trước của nhau.
Tôi xin dài dòng, linh tinh một chút về bạn tôi. Bạn tôi tên Công, trong lớp, ngồi gần tôi vì cùng vần C. Nhớ năm đó có cô Lê thị Tường Loan, giáo sư Anh văn, mới ra trường. Cô Tường Loan trẻ và đẹp lắm. Mỗi khi cô vào lớp là bọn đệ tử chúng tôi ngồi ngắm cô sa đà, quên cả trời trăng. Cô đã đẹp còn diện hết sẩy, mỗi ngày một áo dài khác nhau. Bọn con gái còn đếm được cô có mấy chục áo dài tất cả, mà cô thì cứ may áo mới hoài. Mùa đông, hơi lạnh một tí là cô diện áo ấm vào, trông như nữ minh tinh Hồng Kông. Cô mới ra trường, chỉ hơn bọn đệ tử năm, bảy tuổi nên chúng tôi xem như cùng trang lứa, tuy kính nể nhưng cũng thích chọc ghẹo cô. Thế nên, hễ nghe cô gọi đến tên Công lên trả bài, làm gì cả lớp cũng nhao nhao “Công ngủ rồi, cô!” Cô ngạc nghiên hỏi hắn “Sao trong lớp anh lại ngủ?” Hắn ú ớ “Dạ, mấy bạn chọc em đó cô” Ðúng là cô giáo mới ra trường, ngây thơ chi lạ! Nhưng sau cô cũng hiểu. Lần sau, cô gọi hắn, đứa nào nói “Công ngủ rồi ạ!” là cô làm nghiêm, mặt đỏ lên, và cô hành cái thằng dại miệng đó chết xác luôn. Nhưng khổ nổi, hễ cô mà gọi đến tên Công là bao nhiêu cái miệng ngứa ngáy. Sau mới nghĩ cách khác, chúng mách cô “Công còn thức, cô!” Lần nầy các cậu cũng vẫn bị phạt mà cứ ngơ ngác không hiểu vì sao?! Kể ra, để thấy rằng, Công, bạn tôi chẳng có giá trị gì cả.
Chuyện tôi và hắn thời tiểu học thì cho qua đi, lên trung học, khoảng đệ tứ, đệ tam tâm hồn mới có vấn đề, nghĩa là tập tểnh đi tìm người đẹp để dâng quả tim. Thời đó, khoảng thập niên sáu mươi, tôi nhớ, Hội An có nhiều người đẹp. Cô Hà thị Tuyết ở gần chợ đẹp ngây thơ, hiền hậu, cô “Liên chuột bạch” đường Nguyễn thái Học rất dễ thương. Cô Lý tuyết Ánh đã đẹp mà hát bài “Mai Quế” nhạc tàu, hay lắm. Cô Tuyết Trinh nhà ở tiệm ảnh Huỳnh Sỏ hát bài “Tôi vẫn yêu hoa màu tím” còn hay hơn ca sĩ Lệ Thanh. Còn một cô nữa, rất đẹp mà hát cũng hay, không thể nói tên ở đây vì là nhân vật chính trong chuyện tôi sắp kể. Tôi xin tạm gọi là cô An. Bạn tôi “si” cô nầy như là một thứ bịnh tâm thần. Càng yêu, hắn như càng mất tinh thần trước cô. Mới thấy người đẹp đằng xa là chân tay cứ run lên, thở không ra hơi. Bạn tôi xấu trai. Dân thành thị mà đen thùi, mặt hắn chành bành như mặt ông địa múa lân, chân tay cục mịch, khi đi cứ bước thình thịch xuống mặt đường như trâu dậm. Ngữ hắn thì hy vọng gì trước cô An, đẹp như tiên, học giỏi, hát hay. Hắn thua sút các bạn cùng tuổi, chỉ có tâm hồn thì hơi lãng mạn. Hắn làm thơ. Làm thơ ca tụng em An. Thơ hắn thường thấy xuất hiện trên báo, báo ở Sài Gòn đàng hoàng. Hắn xứng đáng được gọi là “nhà thơ”, nhưng chút danh vọng đó cũng chẳng giúp hắn được cô An tỏ cử chỉ gì ưu ái hơn các bạn khác.
Vì yêu em hắn đã làm một chuyện lạ đời. Xưa nay chỉ có hắn là đến nhà thờ cầu Chúa rồi đến chùa lạy Phật cầu xin cho em yêu hắn. Hắn chỉ khấn có một câu“Lạy Phật (hoặc) lạy Chúa cho em An yêu con!”. Chỉ riêng tôi hắn mới nói sự bí mật đó. Hắn bảo rằng với lòng thành của hắn, Phật, Chúa ắt động tâm vì các đấng đã chẳng dạy chúng sinh phải yêu thương nhau là gì? Tôi không nói ra nhưng nghĩ rằng, các đấng ấy hơi đâu lo chuyện tào lao. Giúp đỡ, an ủi lũ chúng sinh bất hạnh mà thế gian vẫn chưa hết đau khổ, thì giờ đâu mà lo cho hắn?! Ấy vậy mà phép lạ xảy ra mới kỳ. Hắn được người đẹp nắm tay dẫn đi rồi còn nhảy tót vào ngồi trong vòng tay hắn và ôm hắn nữa. Nguyên nhân như thế nầy. Hè năm đó trường Trần Quí Cáp tổ chức đi chơi Ngũ Hành Sơn, đi, về trong ngày. Ngũ Hành Sơn, còn gọi là Non Nước, cách Hội An độ vài mươi cây số, ở ngoại ô thành phố Ðà Nẵng, gồm năm ngọn núi đá nhỏ, có một số hang động, có chùa chiền, có đường lên trời, đường xuống biển. Lúc bấy giờ có một hang động mới vừa tìm thấy, nên ai cũng tò mò muốn xem. Sáng hôm đó, xe đỗ học sinh trước động mới. Các thầy cô sắp xếp học sinh đi vào động. Con gái đi riêng, con trai đi riêng. Khi vào, đèn đuốc được thắp sáng lên, tất cả lần lượt đi rất trật tự. Nhưng vào bên trong thì vì chỗ nào cũng có những hình tượng kỳ lạ, nên lũ học trò trầm trồ, đi linh tinh, gọi nhau ơi ới, chẳng còn hàng lối gì cả. Bạn tôi nhân lúc lộn xộn, lẻn chen vào toán con gái, hắn đi theo người đẹp. Trong động thiếu ánh sáng, đèn đuốc chập chờn. Ai cũng lo ngắm nghía mấy cái thạch nhủ. Ða số các cô mắt cứ nghiêng ngó chung quanh, tay thì nắm tay bạn cho khỏi lạc. Một lần, cô An, người đẹp của hắn, mắt nhìn lên nóc động, tay quờ quạng phía sau để nắm tay bạn, gái, dĩ nhiên. Hắn đứng sau, lẳng lặng đưa tay ra, thế là người đẹp vô tình cứ nắm lấy tay hắn lôi đi. Chỉ mình tôi theo dõi chuyện đó. Tôi thấy lúc nắm tay hắn, cô hơi khựng lại. Hú vía! cô không quay nhìn hắn. Hắn để cho cô dẫn đi cả buổi mới rút tay lại và quay về toán con trai. Tôi hỏi hắn sao không tiếp tục, hắn bảo sợ người đẹp phát giác, vả lại có cô thầy đứng gần đó. Ðàn ông con trai, già trẻ gì cũng giống nhau, yêu ai, nhất là yêu thầm, coi người đó như thần tượng, rất tôn quí, rất cao xa. Như bạn tôi yêu cô An, bỗng dưng được người đẹp nắm tay, thử hỏi có thứ hạnh phúc nào sánh bằng? Hắn mừng lắm, khoe với tôi rằng tay em dịu dàng, mát rượi. Rồi hắn cứ hôn mãi bàn tay (của hắn) đã được em nắm dẫn đi. Khi ra khỏi động, mọi người ngồi rải rác để thở vì ngộp và nóng. Thấy cô An ngồi hơi xa các bạn trên một tảng đá, hắn làm như vô tình đến ngồi bên cạnh.
Thực ra học sinh, trai gái ngồi cạnh nhau là bình thường, nhưng với hắn, được ngồi bên em là một biến cố lớn. Hắn muốn gợi chuyện nhưng cứ đực ra, không dám mở miệng. Bỗng hắn thấy một con sâu róm đang bò đến gần tay người đẹp, hắn bảo.
-Có con sâu...
Cô An quay lại hỏi hắn.
-Công nói gì?
Vừa lúc con sâu bắt đầu bò lên ngón tay của cô, hắn chỉ con sâu và bảo.
-Con sâu kìa!.
Cô nhìn thấy và hét lên một tiếng khủng khiếp, mặt xanh lè, nhào ngay vào lòng hắn, một tay ôm hắn, tay kia cứ đưa ra ngoài, vẫy lia lịa. Ðúng là tiếng kêu “vang dội núi rừng”, khiến mọi người giật mình quay nhìn. Hắn ngớ người ra, chưa kịp “enjoy” cái hạnh phúc bất ngờ thì người đẹp đã bỏ chạy đến với các bạn gái. Thế là hắn hoàn toàn mất hồn, miệng cứ lẩm bẩm với tôi.
Chắc tao chết mất! Ðội ơn Phật, đội ơn Chúa!Từ đó hắn rất siêng đi ngang qua nhà người đẹp, đôi khi cũng có gặp nhau, em cũng chào hỏi, chuyện trò vớ vẫn với hắn như một người bạn bình thường. Ấy vậy mà hắn lại thơ mộng hóa những lần gặp gỡ đó trong những vần thơ của hắn, tưởng như người đẹp cũng có yêu hắn một cách thầm kín. Thi tú tài hai xong, bọn tôi rủ nhau thi vào trường Hành Chánh. Sau bốn năm đèn sách, thi tốt nghiệp, hai đứa tôi học dỡ quá, ít điểm, nên khi chọn nhiệm sở, mấy chỗ ngon lành, bọn học giỏi chiếm cả, chỉ còn mấy tỉnh khói lửa mịt mù như Phước Long, Quảng Trị, Pleiku, Kontum...Hắn rủ tôi về Quảng Trị, có lẽ để dễ về Hội An thăm người đẹp.
Về Quảng Trị, mỗi đứa lãnh một chức phó quận ở miền quê, nhưng chiều nào cũng về nhà trọ ở thành phố Quảng Trị. Cơm hàng cháo chợ xong, hai đứa về nằm nói chuyện khào. Ðề tài hắn nói hoài không chán là chuyện em An, nhất là mỗi khi về thăm em, hắn kể say sưa em đẹp ra sao, chuyện trò những gì với hắn. Tôi khuyến khích hắn tỏ tình, hắn bảo.
-Tao khớp quá! Chỉ sợ em nói “Anh hiểu lầm sự tử tế của An rồi” là tao hết hy vọng. Vả lại...
Hắn không nói tiếp nhưng tôi biết hắn mặc cảm xấu trai, nên giải thích.
Thời chiến tranh, hành chánh dù sao cũng đỡ hơn nhà binh, mầy không tiến tới, em lấy chồng, mầy chổng mỏ la trời.
Hắn nghe trúng ý nên hăng hái.
- Tuần sau, tao về nói đại, xem sao?
Tuần sau, hắn về Hội An, khi trở ra, tôi hỏi hắn.
- Kết quả ra sao?
Hắn làm thinh. Hỏi mãi, hắn mới bảo.
- Tao về, nghe người ta đồn rằng có một tên bác sĩ đang nhờ người mai mối.
- Em chịu không?
- Tao không biết, nhưng so với hắn, tao lép vế rõ ràng! Thế nên tao không ghé vào thăm em nữa.
Khuya đó, tôi thức giấc, thấy hắn ngồi đốt thơ. Ðúng là hình ảnh “chàng thi sĩ thất tình đốt thơ” Trầm tư, lặng lẽ, đau khổ âm thầm...trong ánh lửa bập bùng, khi tỏ, khi mờ của những bài thơ đang đi vào khói mây của dĩ vãng! Từ đó hắn biếng ăn, nhác uống, thân thể ốm o, mặt hắn đang tròn lại dài ra, hai má tóp lại, trông càng quái dị. Nhưng rồi một lần, tôi về Hội An thăm gia đình, khi ra Quảng Trị, tôi báo cho hắn một tin đáng cho hắn tiếp tục nuôi hy vọng. Em từ chối lời cầu hôn của anh chàng bác sĩ nọ. Hắn lý luận.
Có lẽ em yêu một tên nào rồi, chứ không phải tao.Tôi khuyến khích hắn. Dân hành chánh có cái phong thái riêng, vừa có vẻ ngạo mạn, tự tin lại vừa thanh cao, lãng mạn như một thư sinh.Hắn coi bộ lên tinh thần, nhưng còn mặc cảm xấu trai. Tao chẳng thấy tao khác ở chỗ nào, e còn tệ hơn.Tôi lại phải tái khẳng định.- Mấy bài thơ trên báo đủ làm tim em rung động và yêu mầy. Mầy phải tự tin mà nhào vô kẻo trễ.Lần nầy thì hắn cương quyết.Ðược, tao sẽ làm như mầy nói, nhưng để thong thả, tao phải lạy Phật, cầu Chúa... để lấy can đảm.Sau cái tin vui đó, hắn ăn uống bình thường trở lại. Mặt hắn lại tròn, giống mặt cô Thúy Vân, em gái Thúy Kiều, trông không đến nỗi, và hắn lại tiếp tục chương trình ngày rằm, mồng một đi chùa, chủ nhật đi nhà thơ,ø trên cổ, hắn đeo sợi dây chuyền có tượng Phật và tượng Chúa Giê Su. Có lẽ cứ bị làm rộn hoài và cũng vì tội nghiệp hắn nên các Ngài (Chúa và Phật) định đem hồ sơ của hắn ra cứu xét thì vừa lúc Miền Nam sập tiệm. Quan lớn, quan nhỏ đi tù cả nút, dĩ nhiên tôi và hắn, cũng vô tù. Sau khi ra tù, tôi ở lì tại Sài Gòn, hắn thì về Hội An có lẽ để được gần người đẹp. Một lần về Hội An thăm nhà, tôi gặp hắn hành nghề chạy xe thồ, nghĩa là cứ ra bến xe Hội An đón khách với chiếc xe đạp, ai đi đâu thì hắn chở phía yên sau, kiếm tí tiền còm. Chẳng thấy hắn mặc cảm gì cả, gặp ai cũng cười hề hề. Lâu quá mới gặp, chúng tôi mừng rỡ kéo nhau vào quán nước trò chuyện. Tôi hỏi.
- Mầy còn siêng đi nhà thờ, đi chùa không?
Ý tôi muốn hỏi còn yêu cô An không? Hắn trả lời.
- Vẫn đi đều đều!
- Em bây giờ ra sao, ở đâu?
- Em vẫn ở đây. Bây giờ khá lắm. Ông bố với thằng em vượt biên, ở Mỹ, gởi hàng về, sống phây phả.
Kể ra có một người đẹp để tôn thờ cũng là một thú vui thanh tao, đâu cần được đáp lại, miễn người đẹp biết nhưng không tỏ vẻ khó chịu là tốt rồi. Trước kia hắn lép vế vì xấu trai, nay hắn tụt xuống hạng cùng đinh, thì dù hắn có lạy đến sói trán trước đức Phật hay quì mòn đầu gối trong nhà thờ cũng chẳng hy vọng gì. Theo chuyện cổ tích, sau khi gặp Mỵ Nương, Trương Chi tiếp tục hát đến khan cổ mà người đẹp không thèm nghe, nay hắn cũng vậy, những bài thơ tình trên báo của hắn trước đây cũng tương tự tiếng hát vô vọng của anh Trương Chi, chẳng có tác dụng gì. Ôi, thơ với thẩn! Thực tế vẫn tàn nhẫn, vẫn phủ phàng. Hai cậu (hắn và Trương Chi) chăûng có nghề ngỗng gì ra hồn, làm không đủ bỏ mồm, lấy gì nuôi vợ con nên hai nàng làm lơ cũng đúng thôi. Thế mà, lúc còn ở Sài Gòn, bỗng nhiên tôi được tin hắn cưới cô An làm vợ?! Tôi nêu giả thuyết, cô bị xe tung sứt tay, gãy gọng, bị hỏa hoạn cháy nám mặt mày hoặc cô linh tinh với ai lỡ mang bầu cần hắn đứng ra “nôm” thì tôi nghĩ hắn vẫn lời chán. Hắn có gì để trao đổi với cô An đâu?! Tôi nhớ rõ, chuyện hắn cưới cô An xảy ra trước tin đồn bọn tù cải tạo sẽ được đi Mỹ nên lý do cô thích đi Mỹ mà ưng hắn cũng không đúng.
Hôm đến sở di trú làm giấy tờ, phỏng vấn, vợ chồng tôi gặp vợ chồng hắn. Thấy cái lối săn sóc chồng đến độ âu yếm của vợ hắn, tôi nghĩ, cô An si mê hắn nhiều hơn là hắn si mê cô ta. Hắn có hai đứa con nhưng tôi vẫn hỏi.
- Ðứa nào là con của mầy?
Ý muốn biết cô An có con riêng không?
- Hai đứa nầy đây.
Cha con hắn giống nhau như khuôn đúc, cô An cũng vẫn đẹp như trước đây.
Ðến Mỹ, chúng tôi tuy ở khác tiểu bang, nhưng vẫn thường gọi nhau thăm hỏi. Rồi hắn bảo tôi qua tiểu bang hắn chơi ít hôm, tôi đồng ý. Thăm hắn cũng có nhưng mục đích chính là hỏi cho ra cái lý do hắn được cô An lấy làm chồng. Vợ chồng hắn ra đón chúng tôi tại phi trường. Về nhà đã có sẵn một bàn đồ nhậu. Khi đã ngà ngà say, tôi hỏi.
-Hai ông bà kể cho tụi nầy nghe cái nguyên nhân đưa đẩy hai người đi đến “sống chung hòa bình” Chị An nói cho tụi nầy biết. Thằng bạn tôi đây, ở tù về, chẳng ai dám giao thiệp, vậy mà chị lại chọn hắn ta, là cớ làm sao?
Vợ hắn mới kể.
- Bà cụ (tức mẹ của cô An, vợ hắn) bị bịnh ung thư. Khi phát giác ra thì đã quá trễ. Bịnh ung thư của đàn bà, đến thời kỳ trầm trọng thì có mùi hôi khó chịu, chẳng nhờ được ai phụ giúp cả. Gia đình chỉ có mình tôi, mà bà cụ thì cứ rên la suốt ngày đêm, chỉ vài tháng là tôi đã kiệt sức, e chết trước bà cụ mất! Cũng may, gặp ổng. Ổng xung phong đến thức đêm canh chừng bà cụ, tôi mới ngủ được chút đỉnh. Bà cụ thấy ổng tận tâm, không hề tỏ vẻ khó chịu nên bà cụ cảm động, trước khi mất, bắt hai đứa tôi làm lễ thành hôn, coi như cưới chạy tang. Nói là đám cưới chứ thực ra chỉ có lễ vật sơ sài, nhang đèn rồi lạy cáo tổ tiên, ông bà trước sự chứng giám của bà cụ mà thôi.
Vợ tôi nửa đùa nửa thật.
- Dám anh chị tò tí nhau, bà cụ bắt gặp, coi như ván đã đóng thuyền, thì cho “Thuyền ra cửa biển” luôn, phải không?
Bạn tôi đính chính.
- Lúc đó tôi coi bả như thiên thần, chéo áo cũng không dám động đến, mỗi ngày được gặp mặt người đẹp, lại được chuyện trò, tôi đã sướng mê rồi, còn ao ước gì hơn. Ngay sau buổi lễ gọi là đám cưới, tôi cứ nghĩ, bà cụ bắt buộc thì “nàng” phải vâng lời cho bà cụ vui lòng nhắm mắt, sau đó sẽ có màn cám ơn rồi đường ai nấy đi.
Vợ hắn thêm vào.
- Bấy giờ tôi chỉ còn bộ xương, đi không nổi, bà cụ thì rên la ngày đêm, tâm trí đâu nghĩ đến ba cái chuyện kỳ cục!
Tôi hỏi.
- Nguyên nhân nào đưa đến chuyện ông đến được với bà?
Vợ hắn nói.
- Bữa đó tôi lên Vĩnh Ðiện bổ mấy thang thuốc nam cho bà cụ, đến bến xe Hội An thì được ổng thồ về, đến nhà, vừa bước vô cửa, tôi xỉu vì mệt quá, ổng đỡ vô nhà. Thấy tình cảnh tôi, ổng xung phong đến săn sóc bà cụ về ban đêm để tôi có thể ngủ được chút ít. Bà cụ cảm động vì ngay cả đến người mình trả tiền công hậu hỉ mà cũng rút lui thì phải biết ổng chịu đựng giỏi đến bực nào!
Ðồng ý là bà cụ cảm động, chị An cũng nhớ ơn đã chịu khó thức đêm, nhưng tôi thấy không phải là lý do để chị yêu thằng bạn tôi. Nhất là cái lối hai anh chị quấn quít nhau như tụi tôi thấy thì phải có tình yêu thắm thiết. Thằng bạn tôi trồng cây si chị từ lâu thì chẳng nói làm gì, còn chị, sao lại có thể như thế được?!Cả hai vợ chồng chỉ cười chứ không trả lời. Hôm sau, buổi sáng, nhân hai người đàn bà rủ nhau đi chợ, chỉ còn mình tôi với thằng bạn, tôi hỏi bí quyết nào khiến hắn chịu đựng mùi hôi giỏi như vậy? Hắn nói.
- Tao nói nhưng tuyệt đối giữ bí mật, bà xã tao mà biết được thì việc tao chăm sóc bà cụ mất hết cả ý nghĩa. Nó đơn giản như thế nầy. Trong lúc ở tù, tao bị bịnh viêm xoang mũi nặng. Ra tù tao cũng chẳng có thuốc chữa. Tao nghe người ta mách đến một ông thầyï chữa thuốc nam bên Cẩm Phô. Tao đến, ổng dùng thứ thuốc bột màu trắng bỏ vô tờ giấy nhỏ, cuốn lại, thọc vô lỗ mũi tao rồi ổng thổi một cái. Thuốc chạy lên tới óc! Tao tóa hỏa tam tinh, xây mòng mòng như con gà dịch. Cả giờ sau mới tỉnh. Vậy mà thuốc hiệu nghiệm mới lạ! Cứ vài ngày tao đến cho ông thầy thổi thuốc một lần. Ít lâu sau bịnh hết hẳn nhưng từ đấy tao không ngửi được mùi gì ráo. Mũi tao điếc đặc nên dù có đứng bên cạnh cái xác trương sình tao cũng không biết thơm hôi gì. Tao chẳng ngu gì mà nói ra điều đó với bà xã tao, lại làm ra vẻ anh hùng “Em chịu đựng được thì anh cũng vì tình yêu mà chịu đựng được vậy!” Nhưng tao vẫn có một thắc mắc như vợ chồng mầy là dù vì cảm động tấm lòng của tao, vì vâng lời mà cụ chấp nhận tao thì bả cũng không thể có cái tình âu yếm, yêu thương tao một cách chân thành, nồng nàn như tụi mầy thấy. Tao đã nhiều lần hỏi bả như thế mà bả chỉ cười không trả lời. Vợ chồng mầy tìm cách hỏi thử xem điều bí mật đó giùm tao.
Hôm vợ chồng hắn tiễn chúng tôi ra phi trường, tôi kéo vợ hắn ra xa, hỏi riêng.
- Tôi hỏi chị một chuyện, chị phải nói thực. Coi bộ chị thương yêu bạn tôi nhiều hơn cả những người vợ bình thường?
- Thì tôi đã kể rồi, ổng như thế ai mà không cảm động.
- Tôi thấy cách yêu thương của chị không phải do lý trí mà từ quả tim chân thành.
Vợ hắn cười.
- Con mắt mấy ông tài thực! Ðược rồi, chỉ riêng anh tôi kể, nhưng đừng cho ai biết. Anh còn nhớ thời tụi mình đi học, có lần đi thăm Ngũ Hành Sơn, Non Nước không? Vụ con sâu bò trên tay tôi đó!.
- Nhớ rồi! Rồi sao nữa?
Cô đỏ mặt lên.
- Tôi thương ổng từ bữa đó.
- Bạn tôi suy luận đúng ngay chóc! Hắn bảo sao chị không bỏ chạy mà lại nhảy vào lòng hắn, còn ôm hắn nữa. Tôi thì cho rằng chỉ là tai nạn, chị hoảng quá, chứ ai mà cố ý.
Cô có vẻ mắc cỡ.
- Thực ra tôi không cố ý làm điều đó. Nhưng khi đang hoảng sợ mà có một người mình có cảm tình ngồi bên cạnh, tự nhiên phải chạy đến cầu cứu người đó.
- À, tôi biết rồi, bạn tôi làm thơ yêu chị, chị cảm động, có cảm tình?
- Chỉ đúng một phần.
- Vậy chứ cái phần kia là chuyện gì?
Cô ngập ngừng.
- Anh cũng biết, con gái mới lớn mà cầm tay con trai cả buổi, tự nhiên phải rung động, và...nhớ suốt đời!
Tôi chưng hửng.
- Vậy là chị cố ý cầm tay bạn tôi! Lúc ở trong Ðộng Mới tôi theo dõi, thấy hết. Hắn đưa tay cho chị nắm, tôi thấy chị hơi khựng lại, tôi nghĩ rằng chị không biết đó là bàn tay của hắn.
Cô cười.
- Lúc mới cầm đến tay ổng, tôi cảm thấy bàn tay cứng đơ, không dịu dàng như tay bọn con gái chúng tôi. Tôi liếc qua biết là tay ổng, tôi cầm luôn. Bàn tay ổng như có điện, chạy khắp người tôi. Ði loanh quanh trong động một lúc, tôi kéo ổng vô chỗ bóng tối, chờ hoài mà ổng không chịu ôm hôn tôi. Bây giờ vẫn còn tức!
Tôi cười nham nhở.
- Cưới nhau về, ôm bao nhiêu không được mà còn tức?!
Cô nguýt tôi.
- Bọn đàn ông các ông phàm phu tục tử, chẳng biết tình yêu là gì! Người ta nói lúc còn trẻ kia. Làm sao quên được.
Ðọc đến đây, bạn sẽ nghĩ rằng. Chuyện hợp lý, cô An yêu bạn tôi vì những bài thơ ca tụng cô, cảm động vì hắn tận tâm săn sóc bà cụ. Nhưng tại sao lại có những chuyện tình cờ ăn khớp với nhau một cách lạ lùng như vậy được? Con sâu ở đâu ra? Sao cứ nhè tay cô An mà bò lên? Vì sao mũi bạn tôi lại điếc đặc khi bà cụ bịnh? Tại sao cô An lăn ra bất tỉnh ngay khi bạn tôi đưa về đến nhà?
Nếu bạn là người vô thần thì tôi chịu thua. Ngược lại bạn tin có Chúa, có Phật thì tôi xin kể một sự thật. Hai đấng từ bi (Phật và Chúa) đã hội ý nhau giúp hắn. Ðúng ra các Ngài không bao giờ buộc người nầy phải yêu người kia như cha mẹ ép duyên con cái được, vì Tình Yêu là thứ Tự Do quí giá nhất các Ngài đã tặng cho loài người. Nhưng chả lẽ bạn tôi van xin, cầu khẩn bao nhiêu năm mà các Ngài nỡ làm ngơ?! Thế nên các Ngài đành bỏ chút thì giờ mà ra tay vậy.
Lúc bấy giờ, hai vị đó, trên chín tầng mây, nhìn xuống thế gian, theo dõi, xem bạn tôi đang làm gì? Khi thấy hắn ngồi bên cô An, Ðức Phật bèn bắt một con sâu bỏ cạnh tay cô. Ngài cũng hiểu tâm lý đàn bà lắm chứ. Gì chứ sâu, bọ, chuột, rắn...các cô sợ thất thần, nên cô An có nhảy tót vào lòng bạn tôi cũng là chuyện đương nhiên. Rồi trong thời gian bà cụ bịnh, lúc hắn chở cô An từ bến xe về nhà, đến lượt Chúa Giê Su, Ngài cúi xuống, thổi nhẹ, vậy là cô An xỉu ngay, và bạn tôi bồng vào nhà. Không gì sướng bằng được bồng trên tay người mình yêu thầm! Cho đến khi hai đứa cưới nhau, ôm nhau, các Ngài mới nhìn nhau, xoa tay mỉm cười.
Xin đừng tưởng hai đấng từ bi đó phải mất mấy năm theo dõi để thực hiện việc kết tóc xe tơ cho hai đứa. Không có đâu! Vỏn vẹn mười lăm phút thôi. Vì dưới thế gian một trăm năm thì trên thượng giới chỉ là một ngày. Sự thật là như vậy. Ðúng như vậy, các bạn ạ!
Phạm Thành Châu
Tôi có thằng bạn nối khố. Nối khố đúng nghĩa, thân nhau từ nhỏ đến lớn. Cho đến bây giờ đầu hai thứ tóc mà vẫn mầy tao. Dĩ nhiên tôi phải gọi vợ hắn bằng chị một cách lễ phép. Chúng tôi sinh ra, lớn lên ở thành phố Hội An. Ðó là một thành phố cổ mà ai cũng biết. Cả mấy trăm năm mà hầu như ít có người sửa lại ngôi nhà của mình. Họ bảo thủ cũng có nhưng sửa để làm gì? Con cái lớn lên, đứa nào cũng tìm cách bay nhảy ra khỏi thành phố, vả lại nhà có hư, dột gì đâu? Nhà xưa, tường xây mấy lớp gạch dày, ngói lợp âm dương, sườn nhà bằng gỗ tốt, mấy cây cột nhà to tướng bằng gỗ lim, gõ...mối, mọt gặm gãy răng không ra. Có điều bất tiện là nhà nhiều cột quá. Tôi nhớ lúc nhỏ, khuya dậy đi tiểu, mắt nhắm mắt mở, hai tay quờ quạng phía trước, vậy mà cứ đập trán vô cột nhà hoài. Còn đường phố ở Hội An, ngay cả đường phố chính cũng chỉ rộng hơn đường hẻm ở Sài Gòn chút đỉnh, nghĩa là vừa cho chiếc xe hơi chạy một chiều. Có lẽ ngày xưa, cách đây khoảng bốn, năm trăm năm, người ta làm đường đủ cho hai chiếc xe ngựa tránh nhau mà thôi. Sau nầy, các con đường được mở tối đa, lấn đến sát thềm nhà, đến độ, bước ra khỏi cửa là đặt chân xuống lòng đường, khiến cho Hội An trông rất đặc biệt, như không có đường phố lớn và mọi nhà đều xây mặt ra hẻm. Hội An giống một cái túi, ra vào chỉ một con đường đi Vĩnh Ðiện, nối với Quốc lộ 1, cho nên con người ở đó loay hoay với nhau như trong tổ mối. Họ thân thiết nhau đến độ biết rõ gia phảø mấy đời trước của nhau.
Tôi xin dài dòng, linh tinh một chút về bạn tôi. Bạn tôi tên Công, trong lớp, ngồi gần tôi vì cùng vần C. Nhớ năm đó có cô Lê thị Tường Loan, giáo sư Anh văn, mới ra trường. Cô Tường Loan trẻ và đẹp lắm. Mỗi khi cô vào lớp là bọn đệ tử chúng tôi ngồi ngắm cô sa đà, quên cả trời trăng. Cô đã đẹp còn diện hết sẩy, mỗi ngày một áo dài khác nhau. Bọn con gái còn đếm được cô có mấy chục áo dài tất cả, mà cô thì cứ may áo mới hoài. Mùa đông, hơi lạnh một tí là cô diện áo ấm vào, trông như nữ minh tinh Hồng Kông. Cô mới ra trường, chỉ hơn bọn đệ tử năm, bảy tuổi nên chúng tôi xem như cùng trang lứa, tuy kính nể nhưng cũng thích chọc ghẹo cô. Thế nên, hễ nghe cô gọi đến tên Công lên trả bài, làm gì cả lớp cũng nhao nhao “Công ngủ rồi, cô!” Cô ngạc nghiên hỏi hắn “Sao trong lớp anh lại ngủ?” Hắn ú ớ “Dạ, mấy bạn chọc em đó cô” Ðúng là cô giáo mới ra trường, ngây thơ chi lạ! Nhưng sau cô cũng hiểu. Lần sau, cô gọi hắn, đứa nào nói “Công ngủ rồi ạ!” là cô làm nghiêm, mặt đỏ lên, và cô hành cái thằng dại miệng đó chết xác luôn. Nhưng khổ nổi, hễ cô mà gọi đến tên Công là bao nhiêu cái miệng ngứa ngáy. Sau mới nghĩ cách khác, chúng mách cô “Công còn thức, cô!” Lần nầy các cậu cũng vẫn bị phạt mà cứ ngơ ngác không hiểu vì sao?! Kể ra, để thấy rằng, Công, bạn tôi chẳng có giá trị gì cả.
Chuyện tôi và hắn thời tiểu học thì cho qua đi, lên trung học, khoảng đệ tứ, đệ tam tâm hồn mới có vấn đề, nghĩa là tập tểnh đi tìm người đẹp để dâng quả tim. Thời đó, khoảng thập niên sáu mươi, tôi nhớ, Hội An có nhiều người đẹp. Cô Hà thị Tuyết ở gần chợ đẹp ngây thơ, hiền hậu, cô “Liên chuột bạch” đường Nguyễn thái Học rất dễ thương. Cô Lý tuyết Ánh đã đẹp mà hát bài “Mai Quế” nhạc tàu, hay lắm. Cô Tuyết Trinh nhà ở tiệm ảnh Huỳnh Sỏ hát bài “Tôi vẫn yêu hoa màu tím” còn hay hơn ca sĩ Lệ Thanh. Còn một cô nữa, rất đẹp mà hát cũng hay, không thể nói tên ở đây vì là nhân vật chính trong chuyện tôi sắp kể. Tôi xin tạm gọi là cô An. Bạn tôi “si” cô nầy như là một thứ bịnh tâm thần. Càng yêu, hắn như càng mất tinh thần trước cô. Mới thấy người đẹp đằng xa là chân tay cứ run lên, thở không ra hơi. Bạn tôi xấu trai. Dân thành thị mà đen thùi, mặt hắn chành bành như mặt ông địa múa lân, chân tay cục mịch, khi đi cứ bước thình thịch xuống mặt đường như trâu dậm. Ngữ hắn thì hy vọng gì trước cô An, đẹp như tiên, học giỏi, hát hay. Hắn thua sút các bạn cùng tuổi, chỉ có tâm hồn thì hơi lãng mạn. Hắn làm thơ. Làm thơ ca tụng em An. Thơ hắn thường thấy xuất hiện trên báo, báo ở Sài Gòn đàng hoàng. Hắn xứng đáng được gọi là “nhà thơ”, nhưng chút danh vọng đó cũng chẳng giúp hắn được cô An tỏ cử chỉ gì ưu ái hơn các bạn khác.
Vì yêu em hắn đã làm một chuyện lạ đời. Xưa nay chỉ có hắn là đến nhà thờ cầu Chúa rồi đến chùa lạy Phật cầu xin cho em yêu hắn. Hắn chỉ khấn có một câu“Lạy Phật (hoặc) lạy Chúa cho em An yêu con!”. Chỉ riêng tôi hắn mới nói sự bí mật đó. Hắn bảo rằng với lòng thành của hắn, Phật, Chúa ắt động tâm vì các đấng đã chẳng dạy chúng sinh phải yêu thương nhau là gì? Tôi không nói ra nhưng nghĩ rằng, các đấng ấy hơi đâu lo chuyện tào lao. Giúp đỡ, an ủi lũ chúng sinh bất hạnh mà thế gian vẫn chưa hết đau khổ, thì giờ đâu mà lo cho hắn?! Ấy vậy mà phép lạ xảy ra mới kỳ. Hắn được người đẹp nắm tay dẫn đi rồi còn nhảy tót vào ngồi trong vòng tay hắn và ôm hắn nữa. Nguyên nhân như thế nầy. Hè năm đó trường Trần Quí Cáp tổ chức đi chơi Ngũ Hành Sơn, đi, về trong ngày. Ngũ Hành Sơn, còn gọi là Non Nước, cách Hội An độ vài mươi cây số, ở ngoại ô thành phố Ðà Nẵng, gồm năm ngọn núi đá nhỏ, có một số hang động, có chùa chiền, có đường lên trời, đường xuống biển. Lúc bấy giờ có một hang động mới vừa tìm thấy, nên ai cũng tò mò muốn xem. Sáng hôm đó, xe đỗ học sinh trước động mới. Các thầy cô sắp xếp học sinh đi vào động. Con gái đi riêng, con trai đi riêng. Khi vào, đèn đuốc được thắp sáng lên, tất cả lần lượt đi rất trật tự. Nhưng vào bên trong thì vì chỗ nào cũng có những hình tượng kỳ lạ, nên lũ học trò trầm trồ, đi linh tinh, gọi nhau ơi ới, chẳng còn hàng lối gì cả. Bạn tôi nhân lúc lộn xộn, lẻn chen vào toán con gái, hắn đi theo người đẹp. Trong động thiếu ánh sáng, đèn đuốc chập chờn. Ai cũng lo ngắm nghía mấy cái thạch nhủ. Ða số các cô mắt cứ nghiêng ngó chung quanh, tay thì nắm tay bạn cho khỏi lạc. Một lần, cô An, người đẹp của hắn, mắt nhìn lên nóc động, tay quờ quạng phía sau để nắm tay bạn, gái, dĩ nhiên. Hắn đứng sau, lẳng lặng đưa tay ra, thế là người đẹp vô tình cứ nắm lấy tay hắn lôi đi. Chỉ mình tôi theo dõi chuyện đó. Tôi thấy lúc nắm tay hắn, cô hơi khựng lại. Hú vía! cô không quay nhìn hắn. Hắn để cho cô dẫn đi cả buổi mới rút tay lại và quay về toán con trai. Tôi hỏi hắn sao không tiếp tục, hắn bảo sợ người đẹp phát giác, vả lại có cô thầy đứng gần đó. Ðàn ông con trai, già trẻ gì cũng giống nhau, yêu ai, nhất là yêu thầm, coi người đó như thần tượng, rất tôn quí, rất cao xa. Như bạn tôi yêu cô An, bỗng dưng được người đẹp nắm tay, thử hỏi có thứ hạnh phúc nào sánh bằng? Hắn mừng lắm, khoe với tôi rằng tay em dịu dàng, mát rượi. Rồi hắn cứ hôn mãi bàn tay (của hắn) đã được em nắm dẫn đi. Khi ra khỏi động, mọi người ngồi rải rác để thở vì ngộp và nóng. Thấy cô An ngồi hơi xa các bạn trên một tảng đá, hắn làm như vô tình đến ngồi bên cạnh.
Thực ra học sinh, trai gái ngồi cạnh nhau là bình thường, nhưng với hắn, được ngồi bên em là một biến cố lớn. Hắn muốn gợi chuyện nhưng cứ đực ra, không dám mở miệng. Bỗng hắn thấy một con sâu róm đang bò đến gần tay người đẹp, hắn bảo.
-Có con sâu...
Cô An quay lại hỏi hắn.
-Công nói gì?
Vừa lúc con sâu bắt đầu bò lên ngón tay của cô, hắn chỉ con sâu và bảo.
-Con sâu kìa!.
Cô nhìn thấy và hét lên một tiếng khủng khiếp, mặt xanh lè, nhào ngay vào lòng hắn, một tay ôm hắn, tay kia cứ đưa ra ngoài, vẫy lia lịa. Ðúng là tiếng kêu “vang dội núi rừng”, khiến mọi người giật mình quay nhìn. Hắn ngớ người ra, chưa kịp “enjoy” cái hạnh phúc bất ngờ thì người đẹp đã bỏ chạy đến với các bạn gái. Thế là hắn hoàn toàn mất hồn, miệng cứ lẩm bẩm với tôi.
Chắc tao chết mất! Ðội ơn Phật, đội ơn Chúa!Từ đó hắn rất siêng đi ngang qua nhà người đẹp, đôi khi cũng có gặp nhau, em cũng chào hỏi, chuyện trò vớ vẫn với hắn như một người bạn bình thường. Ấy vậy mà hắn lại thơ mộng hóa những lần gặp gỡ đó trong những vần thơ của hắn, tưởng như người đẹp cũng có yêu hắn một cách thầm kín. Thi tú tài hai xong, bọn tôi rủ nhau thi vào trường Hành Chánh. Sau bốn năm đèn sách, thi tốt nghiệp, hai đứa tôi học dỡ quá, ít điểm, nên khi chọn nhiệm sở, mấy chỗ ngon lành, bọn học giỏi chiếm cả, chỉ còn mấy tỉnh khói lửa mịt mù như Phước Long, Quảng Trị, Pleiku, Kontum...Hắn rủ tôi về Quảng Trị, có lẽ để dễ về Hội An thăm người đẹp.
Về Quảng Trị, mỗi đứa lãnh một chức phó quận ở miền quê, nhưng chiều nào cũng về nhà trọ ở thành phố Quảng Trị. Cơm hàng cháo chợ xong, hai đứa về nằm nói chuyện khào. Ðề tài hắn nói hoài không chán là chuyện em An, nhất là mỗi khi về thăm em, hắn kể say sưa em đẹp ra sao, chuyện trò những gì với hắn. Tôi khuyến khích hắn tỏ tình, hắn bảo.
-Tao khớp quá! Chỉ sợ em nói “Anh hiểu lầm sự tử tế của An rồi” là tao hết hy vọng. Vả lại...
Hắn không nói tiếp nhưng tôi biết hắn mặc cảm xấu trai, nên giải thích.
Thời chiến tranh, hành chánh dù sao cũng đỡ hơn nhà binh, mầy không tiến tới, em lấy chồng, mầy chổng mỏ la trời.
Hắn nghe trúng ý nên hăng hái.
- Tuần sau, tao về nói đại, xem sao?
Tuần sau, hắn về Hội An, khi trở ra, tôi hỏi hắn.
- Kết quả ra sao?
Hắn làm thinh. Hỏi mãi, hắn mới bảo.
- Tao về, nghe người ta đồn rằng có một tên bác sĩ đang nhờ người mai mối.
- Em chịu không?
- Tao không biết, nhưng so với hắn, tao lép vế rõ ràng! Thế nên tao không ghé vào thăm em nữa.
Khuya đó, tôi thức giấc, thấy hắn ngồi đốt thơ. Ðúng là hình ảnh “chàng thi sĩ thất tình đốt thơ” Trầm tư, lặng lẽ, đau khổ âm thầm...trong ánh lửa bập bùng, khi tỏ, khi mờ của những bài thơ đang đi vào khói mây của dĩ vãng! Từ đó hắn biếng ăn, nhác uống, thân thể ốm o, mặt hắn đang tròn lại dài ra, hai má tóp lại, trông càng quái dị. Nhưng rồi một lần, tôi về Hội An thăm gia đình, khi ra Quảng Trị, tôi báo cho hắn một tin đáng cho hắn tiếp tục nuôi hy vọng. Em từ chối lời cầu hôn của anh chàng bác sĩ nọ. Hắn lý luận.
Có lẽ em yêu một tên nào rồi, chứ không phải tao.Tôi khuyến khích hắn. Dân hành chánh có cái phong thái riêng, vừa có vẻ ngạo mạn, tự tin lại vừa thanh cao, lãng mạn như một thư sinh.Hắn coi bộ lên tinh thần, nhưng còn mặc cảm xấu trai. Tao chẳng thấy tao khác ở chỗ nào, e còn tệ hơn.Tôi lại phải tái khẳng định.- Mấy bài thơ trên báo đủ làm tim em rung động và yêu mầy. Mầy phải tự tin mà nhào vô kẻo trễ.Lần nầy thì hắn cương quyết.Ðược, tao sẽ làm như mầy nói, nhưng để thong thả, tao phải lạy Phật, cầu Chúa... để lấy can đảm.Sau cái tin vui đó, hắn ăn uống bình thường trở lại. Mặt hắn lại tròn, giống mặt cô Thúy Vân, em gái Thúy Kiều, trông không đến nỗi, và hắn lại tiếp tục chương trình ngày rằm, mồng một đi chùa, chủ nhật đi nhà thơ,ø trên cổ, hắn đeo sợi dây chuyền có tượng Phật và tượng Chúa Giê Su. Có lẽ cứ bị làm rộn hoài và cũng vì tội nghiệp hắn nên các Ngài (Chúa và Phật) định đem hồ sơ của hắn ra cứu xét thì vừa lúc Miền Nam sập tiệm. Quan lớn, quan nhỏ đi tù cả nút, dĩ nhiên tôi và hắn, cũng vô tù. Sau khi ra tù, tôi ở lì tại Sài Gòn, hắn thì về Hội An có lẽ để được gần người đẹp. Một lần về Hội An thăm nhà, tôi gặp hắn hành nghề chạy xe thồ, nghĩa là cứ ra bến xe Hội An đón khách với chiếc xe đạp, ai đi đâu thì hắn chở phía yên sau, kiếm tí tiền còm. Chẳng thấy hắn mặc cảm gì cả, gặp ai cũng cười hề hề. Lâu quá mới gặp, chúng tôi mừng rỡ kéo nhau vào quán nước trò chuyện. Tôi hỏi.
- Mầy còn siêng đi nhà thờ, đi chùa không?
Ý tôi muốn hỏi còn yêu cô An không? Hắn trả lời.
- Vẫn đi đều đều!
- Em bây giờ ra sao, ở đâu?
- Em vẫn ở đây. Bây giờ khá lắm. Ông bố với thằng em vượt biên, ở Mỹ, gởi hàng về, sống phây phả.
Kể ra có một người đẹp để tôn thờ cũng là một thú vui thanh tao, đâu cần được đáp lại, miễn người đẹp biết nhưng không tỏ vẻ khó chịu là tốt rồi. Trước kia hắn lép vế vì xấu trai, nay hắn tụt xuống hạng cùng đinh, thì dù hắn có lạy đến sói trán trước đức Phật hay quì mòn đầu gối trong nhà thờ cũng chẳng hy vọng gì. Theo chuyện cổ tích, sau khi gặp Mỵ Nương, Trương Chi tiếp tục hát đến khan cổ mà người đẹp không thèm nghe, nay hắn cũng vậy, những bài thơ tình trên báo của hắn trước đây cũng tương tự tiếng hát vô vọng của anh Trương Chi, chẳng có tác dụng gì. Ôi, thơ với thẩn! Thực tế vẫn tàn nhẫn, vẫn phủ phàng. Hai cậu (hắn và Trương Chi) chăûng có nghề ngỗng gì ra hồn, làm không đủ bỏ mồm, lấy gì nuôi vợ con nên hai nàng làm lơ cũng đúng thôi. Thế mà, lúc còn ở Sài Gòn, bỗng nhiên tôi được tin hắn cưới cô An làm vợ?! Tôi nêu giả thuyết, cô bị xe tung sứt tay, gãy gọng, bị hỏa hoạn cháy nám mặt mày hoặc cô linh tinh với ai lỡ mang bầu cần hắn đứng ra “nôm” thì tôi nghĩ hắn vẫn lời chán. Hắn có gì để trao đổi với cô An đâu?! Tôi nhớ rõ, chuyện hắn cưới cô An xảy ra trước tin đồn bọn tù cải tạo sẽ được đi Mỹ nên lý do cô thích đi Mỹ mà ưng hắn cũng không đúng.
Hôm đến sở di trú làm giấy tờ, phỏng vấn, vợ chồng tôi gặp vợ chồng hắn. Thấy cái lối săn sóc chồng đến độ âu yếm của vợ hắn, tôi nghĩ, cô An si mê hắn nhiều hơn là hắn si mê cô ta. Hắn có hai đứa con nhưng tôi vẫn hỏi.
- Ðứa nào là con của mầy?
Ý muốn biết cô An có con riêng không?
- Hai đứa nầy đây.
Cha con hắn giống nhau như khuôn đúc, cô An cũng vẫn đẹp như trước đây.
Ðến Mỹ, chúng tôi tuy ở khác tiểu bang, nhưng vẫn thường gọi nhau thăm hỏi. Rồi hắn bảo tôi qua tiểu bang hắn chơi ít hôm, tôi đồng ý. Thăm hắn cũng có nhưng mục đích chính là hỏi cho ra cái lý do hắn được cô An lấy làm chồng. Vợ chồng hắn ra đón chúng tôi tại phi trường. Về nhà đã có sẵn một bàn đồ nhậu. Khi đã ngà ngà say, tôi hỏi.
-Hai ông bà kể cho tụi nầy nghe cái nguyên nhân đưa đẩy hai người đi đến “sống chung hòa bình” Chị An nói cho tụi nầy biết. Thằng bạn tôi đây, ở tù về, chẳng ai dám giao thiệp, vậy mà chị lại chọn hắn ta, là cớ làm sao?
Vợ hắn mới kể.
- Bà cụ (tức mẹ của cô An, vợ hắn) bị bịnh ung thư. Khi phát giác ra thì đã quá trễ. Bịnh ung thư của đàn bà, đến thời kỳ trầm trọng thì có mùi hôi khó chịu, chẳng nhờ được ai phụ giúp cả. Gia đình chỉ có mình tôi, mà bà cụ thì cứ rên la suốt ngày đêm, chỉ vài tháng là tôi đã kiệt sức, e chết trước bà cụ mất! Cũng may, gặp ổng. Ổng xung phong đến thức đêm canh chừng bà cụ, tôi mới ngủ được chút đỉnh. Bà cụ thấy ổng tận tâm, không hề tỏ vẻ khó chịu nên bà cụ cảm động, trước khi mất, bắt hai đứa tôi làm lễ thành hôn, coi như cưới chạy tang. Nói là đám cưới chứ thực ra chỉ có lễ vật sơ sài, nhang đèn rồi lạy cáo tổ tiên, ông bà trước sự chứng giám của bà cụ mà thôi.
Vợ tôi nửa đùa nửa thật.
- Dám anh chị tò tí nhau, bà cụ bắt gặp, coi như ván đã đóng thuyền, thì cho “Thuyền ra cửa biển” luôn, phải không?
Bạn tôi đính chính.
- Lúc đó tôi coi bả như thiên thần, chéo áo cũng không dám động đến, mỗi ngày được gặp mặt người đẹp, lại được chuyện trò, tôi đã sướng mê rồi, còn ao ước gì hơn. Ngay sau buổi lễ gọi là đám cưới, tôi cứ nghĩ, bà cụ bắt buộc thì “nàng” phải vâng lời cho bà cụ vui lòng nhắm mắt, sau đó sẽ có màn cám ơn rồi đường ai nấy đi.
Vợ hắn thêm vào.
- Bấy giờ tôi chỉ còn bộ xương, đi không nổi, bà cụ thì rên la ngày đêm, tâm trí đâu nghĩ đến ba cái chuyện kỳ cục!
Tôi hỏi.
- Nguyên nhân nào đưa đến chuyện ông đến được với bà?
Vợ hắn nói.
- Bữa đó tôi lên Vĩnh Ðiện bổ mấy thang thuốc nam cho bà cụ, đến bến xe Hội An thì được ổng thồ về, đến nhà, vừa bước vô cửa, tôi xỉu vì mệt quá, ổng đỡ vô nhà. Thấy tình cảnh tôi, ổng xung phong đến săn sóc bà cụ về ban đêm để tôi có thể ngủ được chút ít. Bà cụ cảm động vì ngay cả đến người mình trả tiền công hậu hỉ mà cũng rút lui thì phải biết ổng chịu đựng giỏi đến bực nào!
Ðồng ý là bà cụ cảm động, chị An cũng nhớ ơn đã chịu khó thức đêm, nhưng tôi thấy không phải là lý do để chị yêu thằng bạn tôi. Nhất là cái lối hai anh chị quấn quít nhau như tụi tôi thấy thì phải có tình yêu thắm thiết. Thằng bạn tôi trồng cây si chị từ lâu thì chẳng nói làm gì, còn chị, sao lại có thể như thế được?!Cả hai vợ chồng chỉ cười chứ không trả lời. Hôm sau, buổi sáng, nhân hai người đàn bà rủ nhau đi chợ, chỉ còn mình tôi với thằng bạn, tôi hỏi bí quyết nào khiến hắn chịu đựng mùi hôi giỏi như vậy? Hắn nói.
- Tao nói nhưng tuyệt đối giữ bí mật, bà xã tao mà biết được thì việc tao chăm sóc bà cụ mất hết cả ý nghĩa. Nó đơn giản như thế nầy. Trong lúc ở tù, tao bị bịnh viêm xoang mũi nặng. Ra tù tao cũng chẳng có thuốc chữa. Tao nghe người ta mách đến một ông thầyï chữa thuốc nam bên Cẩm Phô. Tao đến, ổng dùng thứ thuốc bột màu trắng bỏ vô tờ giấy nhỏ, cuốn lại, thọc vô lỗ mũi tao rồi ổng thổi một cái. Thuốc chạy lên tới óc! Tao tóa hỏa tam tinh, xây mòng mòng như con gà dịch. Cả giờ sau mới tỉnh. Vậy mà thuốc hiệu nghiệm mới lạ! Cứ vài ngày tao đến cho ông thầy thổi thuốc một lần. Ít lâu sau bịnh hết hẳn nhưng từ đấy tao không ngửi được mùi gì ráo. Mũi tao điếc đặc nên dù có đứng bên cạnh cái xác trương sình tao cũng không biết thơm hôi gì. Tao chẳng ngu gì mà nói ra điều đó với bà xã tao, lại làm ra vẻ anh hùng “Em chịu đựng được thì anh cũng vì tình yêu mà chịu đựng được vậy!” Nhưng tao vẫn có một thắc mắc như vợ chồng mầy là dù vì cảm động tấm lòng của tao, vì vâng lời mà cụ chấp nhận tao thì bả cũng không thể có cái tình âu yếm, yêu thương tao một cách chân thành, nồng nàn như tụi mầy thấy. Tao đã nhiều lần hỏi bả như thế mà bả chỉ cười không trả lời. Vợ chồng mầy tìm cách hỏi thử xem điều bí mật đó giùm tao.
Hôm vợ chồng hắn tiễn chúng tôi ra phi trường, tôi kéo vợ hắn ra xa, hỏi riêng.
- Tôi hỏi chị một chuyện, chị phải nói thực. Coi bộ chị thương yêu bạn tôi nhiều hơn cả những người vợ bình thường?
- Thì tôi đã kể rồi, ổng như thế ai mà không cảm động.
- Tôi thấy cách yêu thương của chị không phải do lý trí mà từ quả tim chân thành.
Vợ hắn cười.
- Con mắt mấy ông tài thực! Ðược rồi, chỉ riêng anh tôi kể, nhưng đừng cho ai biết. Anh còn nhớ thời tụi mình đi học, có lần đi thăm Ngũ Hành Sơn, Non Nước không? Vụ con sâu bò trên tay tôi đó!.
- Nhớ rồi! Rồi sao nữa?
Cô đỏ mặt lên.
- Tôi thương ổng từ bữa đó.
- Bạn tôi suy luận đúng ngay chóc! Hắn bảo sao chị không bỏ chạy mà lại nhảy vào lòng hắn, còn ôm hắn nữa. Tôi thì cho rằng chỉ là tai nạn, chị hoảng quá, chứ ai mà cố ý.
Cô có vẻ mắc cỡ.
- Thực ra tôi không cố ý làm điều đó. Nhưng khi đang hoảng sợ mà có một người mình có cảm tình ngồi bên cạnh, tự nhiên phải chạy đến cầu cứu người đó.
- À, tôi biết rồi, bạn tôi làm thơ yêu chị, chị cảm động, có cảm tình?
- Chỉ đúng một phần.
- Vậy chứ cái phần kia là chuyện gì?
Cô ngập ngừng.
- Anh cũng biết, con gái mới lớn mà cầm tay con trai cả buổi, tự nhiên phải rung động, và...nhớ suốt đời!
Tôi chưng hửng.
- Vậy là chị cố ý cầm tay bạn tôi! Lúc ở trong Ðộng Mới tôi theo dõi, thấy hết. Hắn đưa tay cho chị nắm, tôi thấy chị hơi khựng lại, tôi nghĩ rằng chị không biết đó là bàn tay của hắn.
Cô cười.
- Lúc mới cầm đến tay ổng, tôi cảm thấy bàn tay cứng đơ, không dịu dàng như tay bọn con gái chúng tôi. Tôi liếc qua biết là tay ổng, tôi cầm luôn. Bàn tay ổng như có điện, chạy khắp người tôi. Ði loanh quanh trong động một lúc, tôi kéo ổng vô chỗ bóng tối, chờ hoài mà ổng không chịu ôm hôn tôi. Bây giờ vẫn còn tức!
Tôi cười nham nhở.
- Cưới nhau về, ôm bao nhiêu không được mà còn tức?!
Cô nguýt tôi.
- Bọn đàn ông các ông phàm phu tục tử, chẳng biết tình yêu là gì! Người ta nói lúc còn trẻ kia. Làm sao quên được.
Ðọc đến đây, bạn sẽ nghĩ rằng. Chuyện hợp lý, cô An yêu bạn tôi vì những bài thơ ca tụng cô, cảm động vì hắn tận tâm săn sóc bà cụ. Nhưng tại sao lại có những chuyện tình cờ ăn khớp với nhau một cách lạ lùng như vậy được? Con sâu ở đâu ra? Sao cứ nhè tay cô An mà bò lên? Vì sao mũi bạn tôi lại điếc đặc khi bà cụ bịnh? Tại sao cô An lăn ra bất tỉnh ngay khi bạn tôi đưa về đến nhà?
Nếu bạn là người vô thần thì tôi chịu thua. Ngược lại bạn tin có Chúa, có Phật thì tôi xin kể một sự thật. Hai đấng từ bi (Phật và Chúa) đã hội ý nhau giúp hắn. Ðúng ra các Ngài không bao giờ buộc người nầy phải yêu người kia như cha mẹ ép duyên con cái được, vì Tình Yêu là thứ Tự Do quí giá nhất các Ngài đã tặng cho loài người. Nhưng chả lẽ bạn tôi van xin, cầu khẩn bao nhiêu năm mà các Ngài nỡ làm ngơ?! Thế nên các Ngài đành bỏ chút thì giờ mà ra tay vậy.
Lúc bấy giờ, hai vị đó, trên chín tầng mây, nhìn xuống thế gian, theo dõi, xem bạn tôi đang làm gì? Khi thấy hắn ngồi bên cô An, Ðức Phật bèn bắt một con sâu bỏ cạnh tay cô. Ngài cũng hiểu tâm lý đàn bà lắm chứ. Gì chứ sâu, bọ, chuột, rắn...các cô sợ thất thần, nên cô An có nhảy tót vào lòng bạn tôi cũng là chuyện đương nhiên. Rồi trong thời gian bà cụ bịnh, lúc hắn chở cô An từ bến xe về nhà, đến lượt Chúa Giê Su, Ngài cúi xuống, thổi nhẹ, vậy là cô An xỉu ngay, và bạn tôi bồng vào nhà. Không gì sướng bằng được bồng trên tay người mình yêu thầm! Cho đến khi hai đứa cưới nhau, ôm nhau, các Ngài mới nhìn nhau, xoa tay mỉm cười.
Xin đừng tưởng hai đấng từ bi đó phải mất mấy năm theo dõi để thực hiện việc kết tóc xe tơ cho hai đứa. Không có đâu! Vỏn vẹn mười lăm phút thôi. Vì dưới thế gian một trăm năm thì trên thượng giới chỉ là một ngày. Sự thật là như vậy. Ðúng như vậy, các bạn ạ!
Phạm Thành Châu
Re: Cà Phê...Vịt
Gió qua thềm
“Thằn lằn cụt đuôi ai nuôi mày lớn - Dạ thưa thầy con lớn mình ên”.
Bà Chín Xì cất tiếng ru nghe buồn thắt ruột. Con Xương dừng tay rọc lá dừa khô, mắt nó nhìn ra bến sông buồn lơ lửng. Bên trong nhà, thằng Đẹt đã ngủ từ lâu, chiếc võng vẫn đều đều theo quán tính cứ như chỉ cần ngưng lại một nhịp thằng Đẹt sẽ òa lên khóc tức tưởi, dỗ kiểu gì cũng không nín. Kể từ ngày con Xương ẵm nó về nhà, bà Chín Xì luôn tìm đủ mọi cách để dỗ nín thằng Đẹt như thể không muốn cho bất ai biết đến sự hiện diện của nó trong căn nhà.
Điều đó càng khiến cho người trong xóm xì xầm “hổng chừng con của con Xương đó, chứ em út nỗi gì”. Bà Chín khép hờ đôi mắt, nhớ lại ngày má con Xương dứt nó ra khỏi tay bà Chín Xì bằng câu nói gọn đeo: “Ở đây biết chừng nào mới ngóc đầu lên nổi”. Sau câu nói đó, con Xương quyết định nghỉ học làm người thành phố. Bà Chín Xì khóc muốn hết nước mắt nhưng vẫn không thể nào ngăn được đứa con gái cứng đầu. Bữa con Xương gom đồ đi, bà Chín Xì còn nhét vào tay con Xương chai dầu gió, mếu máo nhìn nó.
Minh hoạ Hoàng Tường.
– Ở lại với ngoại đi con. Lên đó xe cộ, đường sá không biết đường đâu mà lần.
Con Xương cầm lấy chai dầu gió, nhưng hình ảnh về thành phố trong chiếc ti vi bé xíu cứ quanh quẩn trong đầu. Những ngọn đèn sáng rực, con đường đông đúc người xe trở thành niềm mong mỏi trong nó. Ở xóm Củ Năng này, đã có đứa trẻ nào có dịp đi thành phố đâu. Cho nên con Xương dúi chai dầu lại vào tay bà Chín Xì.
– Ngoại giữ lại phòng khi đau nhức. Ở thành phố cái gì mà không có, ngoại hơi sức đâu mà lo.
Chiếc đò Khánh Hội cập bến Củ Năng, mẹ con con Xương nắm níu nhau bước xuống đò, bỏ lại bà Chín Xì đứng thẫn thờ bên bụi bần già hiu hắt. Nghĩ, đoạn đó mà đưa lên phim chiếu trên truyền hình chắc khán giả khóc hết nước mắt. Bà Chín sống lủi thủi một mình trong căn chòi nhỏ với con chó già ngơ ngác. Chiếc cặp da bà xin của đứa cháu ở tuốt miệt Cần Đăng cho con Xương đi học vẫn còn treo tòn ten trên vách. Bữa đi, con Xương nói Tết sẽ về thăm nhà mà bà ăn đến cái Tết thứ tư nhưng bóng dáng con Xương vẫn còn xa hun hút.
***
Con Xương trở về xóm Củ Năng vào một ngày mưa như trút. Người nó quấn bít bùng đủ thứ, đứa nhỏ trên tay nó môi mỏ xanh chành. Bà Chín Xì tay chân lóng ngóng hết xách ghế rồi lại phụ con Xương cất đồ. Miệng bà run run như thể không phát ra thành lời. Đứa bé trên tay con Xương khóc ré, bà Chín Xì buông cái khăn xuống đất nhìn con Xương rã rời sau trận mưa dài.
– Đứa nhỏ này ở đâu vậy con?
Con Xương nhìn bà Chín Xì thở dài. Ngoài trời cơn mưa vẫn không ngừng trút nước.
– Con của má con với ông chồng mới.
– Rồi má mày đâu? Sao mày bồng nó về làm chi?
– Ở trển sống không nổi ngoại ơi.
Con Xương vuốt lưng vỗ cho đứa bé, động tác trông rất thuần thục. Đặt thằng bé xuống võng, con Xương vói lấy cái mềm rồi cẩn thận gấp lại đắp cho nó. Thằng bé lại nghẹo đầu ngủ thiếp đi. Bà Chín Xì vén tóc lại cho con Xương, bà như lần từng ngõ ngách trong người nó xem có sự đổi thay nào mà bà chưa kịp nhận ra. Ba năm xa cách, con Xương trổ mã hơn nhiều. Nó cao gần bằng bà Chín, giọng nói cũng khác đi, mặt nó bắt đầu nổi mụn li ti. Riêng chỉ có nước da đen là không thay đổi. Bất chợt con Xương sà vào lòng bà Chín, nước mắt nó chảy dài bết cả vào tóc. Bà Chín Xì ngồi vuốt tóc cho nó như ngày nào. Bên ngoài cơn mưa cũng vừa dứt hột.
Con Xương ngủ một giấc ngon lành. Bà Chín tê cứng cả chân nhưng cũng không nỡ đánh thức con Xương dậy. Nó chỉ giật mình thức dậy khi thằng Đẹt kêu khóc. Nó lồm cồm ngồi dậy bồng thằng Đẹt lên xi đái. Bà Chín Xì tá hỏa giật đứa nhỏ từ tay của con Xương, bà vạch miệng của thằng Đẹt ra nhìn. Con Xương nhìn bà Chín thở dài.
– Nó bị từ lúc mới sanh ra rồi ngoại. Người ta nói nó bị hở hàm ếch.
Bà Chín ôm thằng Đẹt vào lòng khóc ngất. Con Xương lặng lẽ ra sau bếp bắc nước sôi pha sữa, nước đã rộn ràng kêu ấm mà nó vẫn ngồi thẫn thờ nhìn những bọt nước trắng xóa ở đầu cây củi ướt.
– Nước sôi rồi kìa con?
Tiếng gọi với của bà Chín Xì làm con Xương giật mình. Nó châm nước vào bình rồi lắc đều. Đoạn nó nhúng bình sữa vào thau nước lạnh, chốc chốc lại đưa lên bóp sữa đổ ra tay coi nóng nguội thế nào, bà Chín Xì coi bận tìm trong bóng hình đó đứa cháu gái nhỏ ngây thơ ngày nào. Thằng Đẹt vẫn khóc ngằn ngặt trên tay bà Chín, con Xương nóng ruột, nó đặt chai sữa xuống bộ vạc rồi chùi hai tay vào quần ẵm thằng Đẹt từ tay bà Chín. Con Xương đỡ thằng Đẹt ngồi vào lòng, hai chân thằng Đẹt giạng ra, nó từ từ đút núm sữa vào miệng thằng Đẹt. Bà Chín Xì lấy gối đặt lên võng ra hiệu cho con Xương đặt thằng Đẹt nằm lên. Con Xương nhìn bà Chín lắc đầu.
– Con phải giữ như vầy để sữa không chảy vào mũi làm nó sặc.
Bà Chín Xì buông gối xuống ngồi sát lại hai đứa cháu tội nghiệp. Thằng Đẹt bú một hơi rồi ngoẹo đầu vào lòng con Xương. Bà Chín lui cui dưới bếp nấu cơm chiều, tiếng hát ru của con Xương làm cho buổi chiều ở xóm Củ Năng thêm chút cô đơn. Hàng xóm ghé mắt vào nhà nhìn con Xương đưa võng hát ru. Người xóm Củ Năng đinh ninh “con nhỏ bị dụ lên thành phố có con rồi người ta bỏ, giờ phải ôm con về quê”. Bà Chín Xì đứng trong nhà chửi đổng ra mà con Xương chẳng thèm để ý đến chuyện người ta bàn tán ra sao. Nó bới lại đầu tóc, xuống bếp dọn cơm. Lúc đi, nó cũng không quên nói với theo dáng bà Chín đang cầm chổi cùn quét hất ra phía những tiếng người xôn xao.
– Người ta có sức thì người ta nói mà ngoại. Hơi sức đâu mà ngoại bận tâm.
***
Suốt một tháng giấu thằng Đẹt trong nhà, bà Chín Xì luôn canh không cho ai bước vô nhà. Mấy lần con Xương định bồng thằng Đẹt ra ngoài sân tắm nắng mà bà Chín một mực không chịu. Con Xương đành bắc ghế ra sau hè ngồi nhìn đàn cò trắng chập chờn dưới cánh đồng, thằng Đẹt có vẻ thích thú cái khung cảnh bình yên đó, nó cứ nảy ngược ra phía trước mỗi khi thấy con cò, con cá quẫy nước. Con Xương lấy khăn lau nước mũi cho em, tay nó chạm vào vết hở ở môi của thằng Đẹt. Nước mắt nó rơi xuống đất mà thằng Đẹt cứ mải mê nhìn theo cánh cò cõng nắng bay đi.
Bữa bà chủ hụi Mười Thạnh tạt qua nhà nhìn thấy con Xương ẵm thằng Đẹt trên tay, bà đồn khắp xóm chuyện con Xương ẵm về thằng nhỏ bị sứt môi. Người xóm Củ Năng dồn mọi sự chú ý vào căn nhà nhỏ cặp mé mương, những cái chỉ tay khiến bà Chín Xì buồn tan nát.
Con Xương nắm tay bà Chín nói giọng buồn buồn:
– Trước sau gì người ta cũng biết mà ngoại. Mình ráng kiếm tiền đưa thằng Đẹt lên Sài Gòn phẫu thuật cho nó nha ngoại.
Bà Chín Xì mếu máo nhìn nó.
– Bộ người ta chữa được hả con?
– Con hỏi rồi, chỉ cần mình có đủ tiền là làm được hà ngoại.
Bà Chín Xì chỉnh lại cái đầu lại cho thằng Đẹt, bà khẽ hôn lên mặt đứa cháu trai đáng thương.
– Thằng nhỏ bảnh quá chừng. Vậy mà…
Đám trẻ con xóm Củ Năng vẫn thường núp ngoài đầu ngõ, chờ cơ hội vào nhìn thằng Đẹt. Bà Chín Xì cũng không còn khó chịu trước hành động của mọi người trong xóm. Điều bà bận tâm bây giờ là làm sao kiếm đủ tiền để tìm lại nụ cười cho đứa cháu trai tội nghiệp.
Nhìn riết rồi quen, người xóm Củ Năng không còn bận tâm đến chuyện của bà cháu con Xương nữa. Đám trẻ con trong xóm cũng không còn hiếu kỳ thập thò ngoài cửa nữa, có đứa còn vào nhà nựng thằng Đẹt, phụ con Xương đưa võng. Tụi thằng Tí, con Lài còn đem đồ chơi qua cho thằng Đẹt hay có bữa tụi nó còn bồng thằng Đẹt đi bắn đạn, tạt lon ngoài ngã tư. Những người già trong xóm, cứ chậc lưỡi nhìn thằng Đẹt “nhìn thương gì đâu”.
Con Xương được bà chủ vựa tôm mướn dọn dẹp trong nhà. Bà chủ vựa tôm cười hề hề lúc người ta nói “nhỏ đó mới ở trên thành phố về, biết có tin được không?”. Bà chủ còn hay biểu con Xương múc đồ ăn về cho thằng Đẹt hay có bữa buồn buồn bà rủ con Xương bồng thằng Đẹt lại nhà cho nó bò qua bò lại trong nhà cho vui. Bà chủ còn tiện tay dúi vào tay con Xương mấy bộ quần áo mới, bà lật thằng Đẹt ra hôn hít đủ đường, thằng Đẹt cười sặc sụa lúc bà chủ vựa tôm “cút hà” làm mặt xấu…
Bà Chín Xì bắc cái bếp lò, kê thêm cái bàn đổ bánh xèo bán trước nhà kiếm đồng vô đồng ra. Những bữa trời mưa, bà cháu con Xương toàn phải ăn bánh xèo thay cơm. Tụi thằng Tí, con Lài cũng được ké phần, tụi nó trả công bằng các đi lượm dừa khô, hái lá chuối giúp cho bà Chín. Hai bà cháu con Xương tằn tiện từng đồng một nhưng mỗi lần nhìn lại chỉ nghe thấy những tiếng thở dài mênh mông…
***
Má con Xương dắt chồng mới về ra mắt gia đình. Bà Chín Xì không thèm quan tâm đến mặt mũi của thằng rể ngang hông ra sao (chắc bà nghĩ sớm muộn gì nó cũng thay thằng khác, nhớ chi cho mắc công). Con Xương lầm lì không thèm để ý đến động tỉnh trong nhà, nó ngồi ôm khư khư thằng Đẹt vào lòng. Má con Xương lắc lắc cái lục lạc đưa về phía thằng Đẹt trong khi ông chồng mới nhảy lên võng nằm khoanh tay, ngáy khò khò. Con Xương kéo thằng Đẹt vào lòng lúc nó định quờ tay lấy cái lục lạc, má con Xương bỏ lục lạc xuống nhào lại ẵm thằng Đẹt. Vừa rời khỏi vòng tay của con Xương, thằng Đẹt đã khóc rống lên, má con Xương dỗ bằng đủ thứ đồ chơi mua về vẫn không thể nào làm thằng Đẹt ngưng khóc. Má con Xương đành trả thằng Đẹt cho nó lúc ông chồng nằm trong võng cằn nhằn:
– Um sùm vậy ai mà ngủ nghê cho được?
Mâm cơm chiều trở nên nặng nề hơn khi ông chồng mới chê ỏng chê ẹo thức ăn trên mâm. Vẻ mặt dửng dửng của bà Chín Xì với con Xương càng làm cho ông chồng mới tức anh ách. Ông chồng lườm nguýt vợ rồi bỏ ra ngoài sân. Tụi thằng Tí với con Lài chạy bán sống bán chết về nhà lúc thấy bộ mặt bặm trợn của ba mới con Xương; thằng Tí còn sém tè trong quần khi thấy ổng cầm khư khư cây kim tiêm chích vào tay, mắt lim dim ngước mặt lên trời.
Chồng mới gãi cổ ngáp hơi dài, nhướng mắt về phía má con Xương. Vẻ mặt sốt ruột muốn rời đi của ông chồng làm má con Xương bối rối. Má nó bước xuống ngồi gần bà Chín Xì, giọng xởi lởi:
– Con tính với má vầy. Má coi thử có được không nha. Má cũng lớn tuổi rồi, má để con dắt hai đứa nhỏ lên Sài Gòn tiện bề chăm sóc. Lâu lâu, con dắt tụi nó về thăm má.
Bà Chín Xì nhìn má con Xương ngạc nhiên, có bao giờ con nhỏ dùng cái giọng nhẹ nhàng này đâu. Bà Chín Xì còn chưa kịp nói gì, con Xương đã bồng thằng Đẹt lên giọng vang vang:
– Con với thằng Đẹt ở lại đây. Không đi đâu nha ngoại.
Ông chồng mới không còn đủ kiên nhẫn với cuộc nói chuyện chẳng đi đến đâu. Chồng mới ngồi trên bàn phì phà khói thuốc.
– Nó không chịu đi thì bắt thằng nhỏ đi.
Con Xương bước lùi lại đứng sau lưng bà Chín Xì trong khi thằng Đẹt không ngừng lắc cái lục lạc trên tay. Con Xương lú đầu ra.
– Không ai được bắt em con đi hết.
Má con Xương với tay bồng thằng Đẹt, con Xương dây lưng ra đỡ. Bà Chín Xì kéo má con Xương ra đến nỗi ngã nhào xuống đất. Con Xương cắn vào tay cha dượng hờ, ông tức giận tát cho nó một cú như trời giáng. Chị em con Xương té nhào vô cự củi, thằng Đẹt khóc rống lên mà trên tay vẫn cầm khư khư cái lục lạc. Má con Xương vẫn không bỏ ý định lấy thằng Đẹt ra khỏi tay con Xương. Vừa thấy má nó định cúi xuống bồng thằng Đẹt đi, con Xương đã bồng thằng Đẹt chạy ra ngoài kêu khóc. Hàng xóm chạy sang nhà đông nghẹt, tụi thằng Tí, con Lài còn cầm trên tay một nắm đá. Mấy chú hàng xóm bước vào nhà xem động tĩnh, thím Năm đỡ bà Chín Xì ngồi dậy. Má con Xương cười hề hề:
– Không có chuyện gì đâu. Mấy chú mấy thím về nhà đi. Tui về đây định dẫn hai đứa nó lên Sài Gòn nuôi nấng mà con Xương không chịu đi. Tui đành dẫn thằng Đẹt theo. Chứ má tui già cả rồi, sao chăm sóc cho nó được.
Con Xương bồng thằng Đẹt đứng ở ngoài cửa nói vọng vào.
– Mấy chú thím đừng có tin lời của má con. Má con bắt thằng Đẹt lên Sài Gòn để dẫn nó đi xin tiền người ta đó.
Con Xương nước mắt nước mũi lòng thòng.
– Lúc con ở Sài Gòn, má bắt con ẵm em ngồi ngoài đường xin tiền người ta. Má nói ráng xin được nhiều, má đưa em đi phẫu thuật. Vậy mà con xin được bao nhiêu tiền má cũng đem đi đánh bài, hút chích. Con phải ẵm em trốn về ở với ngoại. Mấy cô chú ơi! Đừng để má con bắt em đi.
Bà Chín Xì kêu khóc, gom hết đồ chọi ra sân. Bà lao vào đấm lên ngực má con Xương thình thịch:
– Tại sao mày ác quá vậy. Nó là con mày đứt ruột đẻ ra mà.
Chồng mới đẩy bà Chín ra, hét lớn:
– Con của người ta. Người ta có quyền bắt, ai dám cản.
Gánh đàn ông xóm Củ Năng đứng xung quanh chị em con Xương, thím Năm giữ bà Chín lại, chỉ tay về phía thằng Tí.
– Bây chạy ù lại ủy ban kêu công an xã lại cho tao. Coi thử ai bắt thằng nhỏ đi được.
Ngó thấy hàng xóm bu quanh, má con Xương nhặt cặp đồ dưới đất kéo tay ông chồng đi về. Ông chồng vừa bước ra khỏi mé lộ đã quay mặt vô nhà chỉ tay về phía gánh đàn ông trong xóm ra chiều thách thức. Bà Chín Xì ôm hai chị em con Xương vào lòng, hàng xóm xung quanh cũng không cầm được nước mắt. Chiều bắt đầu buông xuống trên từng nóc nhà, con Lài lượm lại cái lục lạc đưa cho thằng Đẹt. Cái lục lạc sau mấy lần rơi xuống đất đã không còn phát ra những âm thanh rộn ràng. Tiếng má của má con Xương chắc cũng vậy…
***
Từ dạo má con Xương cùng người đàn ông lạ mặt bước xuống đò rời khỏi xóm Củ Năng, nhà con Xương cũng nhiều người lui tới. Hàng xóm còn tự động xách cây, lá qua nhà phụ bà Chín cơi nới thêm cái quán bánh xèo. Đám trẻ xóm Củ Năng trưa nào cũng tạt qua nhà ngồi… hát ru. Thằng Đẹt được tụi nó bồng đi khắp xóm, lăn lộn nắng nôi mà nó vẫn mạnh cui cui. Bà chủ vựa tôm biểu con Xương xuống vỏ lãi theo bà đi cân tôm. Chẳng bao lâu, con Xương đã lựa hàng tôm một cách ngon lành, nhớ cả chủ vuông này thiếu bao nhiêu, chủ vuông kia hay chỉnh cân lệch ra sao.
Bữa bà Chín Xì với con Xương bồng thằng Đẹt lên Sài Gòn phẫu thuật, người trong xóm đưa ra tận bến đò. Tụi thằng Tí, con Lài cứ nắm tay thằng Đẹt lắc lắc. Thím Năm dặn dò không biết bao nhiêu chuyện trên đời. Bà chủ vựa tôm còn gọi điện cho thằng con trai học trên đó lại đón, bà tấp vỏ lại dúi vào tay bà Chín Xì một xấp tiền.
– Để dành phòng thân.
Bà Chín nhét tiền lại túi bà chủ vựa tôm.
– Bây làm vậy. Tao ngại lắm.
– Chín cầm lấy đi. Lên trên đó lỡ thiếu thốn cái gì rồi biết sao? Có gì thì nữa con Xương về làm trả lại cho con. Đó còn đó chứ có mất mát gì đâu.
Tụi thằng Tí, con Lài đứng trên bờ vẫy tay chào theo chiếc đò Khánh Hội đến lúc nó khuất dần sau đám quao giòn xanh biếc. Thím Năm đứng chắp tay ngước mặt lên trời cầu nguyện, bà chủ vựa tôm tháo dây buộc vỏ rời đi. Bến sông trở nên bình yên đến lạ, chỉ còn lại những dấu chân người hằn lên cỏ và nỗi lòng của người ở lại.
***
Thằng con trai của bà chủ vựa tôm gọi điện về nói, hôm nay bà cháu con Xương xuất viện. Cả xóm Củ Năng bắc ghế ra sân ngồi đợi, tụi thằng Tí, con Lài cứ chạy ra sông ngóng từng chiếc đò qua. Thím Năm còn nấu sẵn cơm nước chờ bà cháu con Xương về. Chiếc đò cuối ngày cập bến, bà cháu con Xương dìu nhau bước lên bờ; tụi thằng Tí, con Lài tranh nhau chạy xuống mũi đò xách đồ lên tiếp. Con Xương nở nụ cười tươi rói làm ai nấy cũng cảm thấy nhẹ lòng. Bà Chín ôm thằng Đẹt vào lòng đi thật chậm như sợ chỉ cần bà bước mạnh thêm một chút nữa sẽ làm thằng Đẹt giật mình. Hay tin bà Chín về, người trong xóm kéo lại mỗi lúc một đông, người lon sữa, người bịch đường, người câu hỏi thăm như làm cho mọi sự mệt nhọc trong người bà cháu con Xương vơi đi phần nào. Con Xương bới tô cơm ăn ngon lành, nó cười hề hề.
– Ngán cơm bệnh viện gần chết.
Con Lài cất tiếng hát ru mỗi khi nghe thằng Đẹt ọ ẹ. Cả xóm nhìn ba má con Lài cắc cớ “con nhỏ thèm em dữ lắm rồi đó chú thím”. Thằng Tí ôm cổ má nó “con cũng muốn có em”. Những tiếng cười rộ lên không ngớt trong căn nhà bé xíu. Bà Chín nói, bác sĩ dặn tuần sau lên tái khám. Cuộc phẫu thuật rất thành công, ổng còn nói để ổng trả lại nụ cười cho thằng bé, chứ ổng “giữ lại” làm gì.
Nghe bà Chín thuật lại, thím Năm thở phào nhẹ nhõm. Thím nói để tháng sau đi chùa trả lễ cho người ta. Bà chủ vựa tôm tạt qua nhà, cho một mớ tôm cua. Bà còn dặn đi dặn lại bà Chín:
– Con có quen mấy đứa y tá ở trạm xá. Sáng, Chín chở nó lên cho tụi nó coi thay băng nha. Đừng rửa bậy bạ ở nhà.
Ngọn gió từ mé sông thổi qua thềm nhà mát rượi. Bầy chim trên cành khẽ hót líu lo. Chắc chẳng bao lâu nữa, người xóm Củ Năng sẽ được nhìn thấy nụ cười của thằng Đẹt. Con Xương nằm trên đùi bà Chín Xì ngủ sau một chuyến đi dài, không biết lúc ngủ nó đã mơ thấy gì mà môi nó khẽ nở một nụ cười trong vắt…
Nguyễn Chí Ngoan
Bà Chín Xì cất tiếng ru nghe buồn thắt ruột. Con Xương dừng tay rọc lá dừa khô, mắt nó nhìn ra bến sông buồn lơ lửng. Bên trong nhà, thằng Đẹt đã ngủ từ lâu, chiếc võng vẫn đều đều theo quán tính cứ như chỉ cần ngưng lại một nhịp thằng Đẹt sẽ òa lên khóc tức tưởi, dỗ kiểu gì cũng không nín. Kể từ ngày con Xương ẵm nó về nhà, bà Chín Xì luôn tìm đủ mọi cách để dỗ nín thằng Đẹt như thể không muốn cho bất ai biết đến sự hiện diện của nó trong căn nhà.
Điều đó càng khiến cho người trong xóm xì xầm “hổng chừng con của con Xương đó, chứ em út nỗi gì”. Bà Chín khép hờ đôi mắt, nhớ lại ngày má con Xương dứt nó ra khỏi tay bà Chín Xì bằng câu nói gọn đeo: “Ở đây biết chừng nào mới ngóc đầu lên nổi”. Sau câu nói đó, con Xương quyết định nghỉ học làm người thành phố. Bà Chín Xì khóc muốn hết nước mắt nhưng vẫn không thể nào ngăn được đứa con gái cứng đầu. Bữa con Xương gom đồ đi, bà Chín Xì còn nhét vào tay con Xương chai dầu gió, mếu máo nhìn nó.
Minh hoạ Hoàng Tường.
– Ở lại với ngoại đi con. Lên đó xe cộ, đường sá không biết đường đâu mà lần.
Con Xương cầm lấy chai dầu gió, nhưng hình ảnh về thành phố trong chiếc ti vi bé xíu cứ quanh quẩn trong đầu. Những ngọn đèn sáng rực, con đường đông đúc người xe trở thành niềm mong mỏi trong nó. Ở xóm Củ Năng này, đã có đứa trẻ nào có dịp đi thành phố đâu. Cho nên con Xương dúi chai dầu lại vào tay bà Chín Xì.
– Ngoại giữ lại phòng khi đau nhức. Ở thành phố cái gì mà không có, ngoại hơi sức đâu mà lo.
Chiếc đò Khánh Hội cập bến Củ Năng, mẹ con con Xương nắm níu nhau bước xuống đò, bỏ lại bà Chín Xì đứng thẫn thờ bên bụi bần già hiu hắt. Nghĩ, đoạn đó mà đưa lên phim chiếu trên truyền hình chắc khán giả khóc hết nước mắt. Bà Chín sống lủi thủi một mình trong căn chòi nhỏ với con chó già ngơ ngác. Chiếc cặp da bà xin của đứa cháu ở tuốt miệt Cần Đăng cho con Xương đi học vẫn còn treo tòn ten trên vách. Bữa đi, con Xương nói Tết sẽ về thăm nhà mà bà ăn đến cái Tết thứ tư nhưng bóng dáng con Xương vẫn còn xa hun hút.
***
Con Xương trở về xóm Củ Năng vào một ngày mưa như trút. Người nó quấn bít bùng đủ thứ, đứa nhỏ trên tay nó môi mỏ xanh chành. Bà Chín Xì tay chân lóng ngóng hết xách ghế rồi lại phụ con Xương cất đồ. Miệng bà run run như thể không phát ra thành lời. Đứa bé trên tay con Xương khóc ré, bà Chín Xì buông cái khăn xuống đất nhìn con Xương rã rời sau trận mưa dài.
– Đứa nhỏ này ở đâu vậy con?
Con Xương nhìn bà Chín Xì thở dài. Ngoài trời cơn mưa vẫn không ngừng trút nước.
– Con của má con với ông chồng mới.
– Rồi má mày đâu? Sao mày bồng nó về làm chi?
– Ở trển sống không nổi ngoại ơi.
Con Xương vuốt lưng vỗ cho đứa bé, động tác trông rất thuần thục. Đặt thằng bé xuống võng, con Xương vói lấy cái mềm rồi cẩn thận gấp lại đắp cho nó. Thằng bé lại nghẹo đầu ngủ thiếp đi. Bà Chín Xì vén tóc lại cho con Xương, bà như lần từng ngõ ngách trong người nó xem có sự đổi thay nào mà bà chưa kịp nhận ra. Ba năm xa cách, con Xương trổ mã hơn nhiều. Nó cao gần bằng bà Chín, giọng nói cũng khác đi, mặt nó bắt đầu nổi mụn li ti. Riêng chỉ có nước da đen là không thay đổi. Bất chợt con Xương sà vào lòng bà Chín, nước mắt nó chảy dài bết cả vào tóc. Bà Chín Xì ngồi vuốt tóc cho nó như ngày nào. Bên ngoài cơn mưa cũng vừa dứt hột.
Con Xương ngủ một giấc ngon lành. Bà Chín tê cứng cả chân nhưng cũng không nỡ đánh thức con Xương dậy. Nó chỉ giật mình thức dậy khi thằng Đẹt kêu khóc. Nó lồm cồm ngồi dậy bồng thằng Đẹt lên xi đái. Bà Chín Xì tá hỏa giật đứa nhỏ từ tay của con Xương, bà vạch miệng của thằng Đẹt ra nhìn. Con Xương nhìn bà Chín thở dài.
– Nó bị từ lúc mới sanh ra rồi ngoại. Người ta nói nó bị hở hàm ếch.
Bà Chín ôm thằng Đẹt vào lòng khóc ngất. Con Xương lặng lẽ ra sau bếp bắc nước sôi pha sữa, nước đã rộn ràng kêu ấm mà nó vẫn ngồi thẫn thờ nhìn những bọt nước trắng xóa ở đầu cây củi ướt.
– Nước sôi rồi kìa con?
Tiếng gọi với của bà Chín Xì làm con Xương giật mình. Nó châm nước vào bình rồi lắc đều. Đoạn nó nhúng bình sữa vào thau nước lạnh, chốc chốc lại đưa lên bóp sữa đổ ra tay coi nóng nguội thế nào, bà Chín Xì coi bận tìm trong bóng hình đó đứa cháu gái nhỏ ngây thơ ngày nào. Thằng Đẹt vẫn khóc ngằn ngặt trên tay bà Chín, con Xương nóng ruột, nó đặt chai sữa xuống bộ vạc rồi chùi hai tay vào quần ẵm thằng Đẹt từ tay bà Chín. Con Xương đỡ thằng Đẹt ngồi vào lòng, hai chân thằng Đẹt giạng ra, nó từ từ đút núm sữa vào miệng thằng Đẹt. Bà Chín Xì lấy gối đặt lên võng ra hiệu cho con Xương đặt thằng Đẹt nằm lên. Con Xương nhìn bà Chín lắc đầu.
– Con phải giữ như vầy để sữa không chảy vào mũi làm nó sặc.
Bà Chín Xì buông gối xuống ngồi sát lại hai đứa cháu tội nghiệp. Thằng Đẹt bú một hơi rồi ngoẹo đầu vào lòng con Xương. Bà Chín lui cui dưới bếp nấu cơm chiều, tiếng hát ru của con Xương làm cho buổi chiều ở xóm Củ Năng thêm chút cô đơn. Hàng xóm ghé mắt vào nhà nhìn con Xương đưa võng hát ru. Người xóm Củ Năng đinh ninh “con nhỏ bị dụ lên thành phố có con rồi người ta bỏ, giờ phải ôm con về quê”. Bà Chín Xì đứng trong nhà chửi đổng ra mà con Xương chẳng thèm để ý đến chuyện người ta bàn tán ra sao. Nó bới lại đầu tóc, xuống bếp dọn cơm. Lúc đi, nó cũng không quên nói với theo dáng bà Chín đang cầm chổi cùn quét hất ra phía những tiếng người xôn xao.
– Người ta có sức thì người ta nói mà ngoại. Hơi sức đâu mà ngoại bận tâm.
***
Suốt một tháng giấu thằng Đẹt trong nhà, bà Chín Xì luôn canh không cho ai bước vô nhà. Mấy lần con Xương định bồng thằng Đẹt ra ngoài sân tắm nắng mà bà Chín một mực không chịu. Con Xương đành bắc ghế ra sau hè ngồi nhìn đàn cò trắng chập chờn dưới cánh đồng, thằng Đẹt có vẻ thích thú cái khung cảnh bình yên đó, nó cứ nảy ngược ra phía trước mỗi khi thấy con cò, con cá quẫy nước. Con Xương lấy khăn lau nước mũi cho em, tay nó chạm vào vết hở ở môi của thằng Đẹt. Nước mắt nó rơi xuống đất mà thằng Đẹt cứ mải mê nhìn theo cánh cò cõng nắng bay đi.
Bữa bà chủ hụi Mười Thạnh tạt qua nhà nhìn thấy con Xương ẵm thằng Đẹt trên tay, bà đồn khắp xóm chuyện con Xương ẵm về thằng nhỏ bị sứt môi. Người xóm Củ Năng dồn mọi sự chú ý vào căn nhà nhỏ cặp mé mương, những cái chỉ tay khiến bà Chín Xì buồn tan nát.
Con Xương nắm tay bà Chín nói giọng buồn buồn:
– Trước sau gì người ta cũng biết mà ngoại. Mình ráng kiếm tiền đưa thằng Đẹt lên Sài Gòn phẫu thuật cho nó nha ngoại.
Bà Chín Xì mếu máo nhìn nó.
– Bộ người ta chữa được hả con?
– Con hỏi rồi, chỉ cần mình có đủ tiền là làm được hà ngoại.
Bà Chín Xì chỉnh lại cái đầu lại cho thằng Đẹt, bà khẽ hôn lên mặt đứa cháu trai đáng thương.
– Thằng nhỏ bảnh quá chừng. Vậy mà…
Đám trẻ con xóm Củ Năng vẫn thường núp ngoài đầu ngõ, chờ cơ hội vào nhìn thằng Đẹt. Bà Chín Xì cũng không còn khó chịu trước hành động của mọi người trong xóm. Điều bà bận tâm bây giờ là làm sao kiếm đủ tiền để tìm lại nụ cười cho đứa cháu trai tội nghiệp.
Nhìn riết rồi quen, người xóm Củ Năng không còn bận tâm đến chuyện của bà cháu con Xương nữa. Đám trẻ con trong xóm cũng không còn hiếu kỳ thập thò ngoài cửa nữa, có đứa còn vào nhà nựng thằng Đẹt, phụ con Xương đưa võng. Tụi thằng Tí, con Lài còn đem đồ chơi qua cho thằng Đẹt hay có bữa tụi nó còn bồng thằng Đẹt đi bắn đạn, tạt lon ngoài ngã tư. Những người già trong xóm, cứ chậc lưỡi nhìn thằng Đẹt “nhìn thương gì đâu”.
Con Xương được bà chủ vựa tôm mướn dọn dẹp trong nhà. Bà chủ vựa tôm cười hề hề lúc người ta nói “nhỏ đó mới ở trên thành phố về, biết có tin được không?”. Bà chủ còn hay biểu con Xương múc đồ ăn về cho thằng Đẹt hay có bữa buồn buồn bà rủ con Xương bồng thằng Đẹt lại nhà cho nó bò qua bò lại trong nhà cho vui. Bà chủ còn tiện tay dúi vào tay con Xương mấy bộ quần áo mới, bà lật thằng Đẹt ra hôn hít đủ đường, thằng Đẹt cười sặc sụa lúc bà chủ vựa tôm “cút hà” làm mặt xấu…
Bà Chín Xì bắc cái bếp lò, kê thêm cái bàn đổ bánh xèo bán trước nhà kiếm đồng vô đồng ra. Những bữa trời mưa, bà cháu con Xương toàn phải ăn bánh xèo thay cơm. Tụi thằng Tí, con Lài cũng được ké phần, tụi nó trả công bằng các đi lượm dừa khô, hái lá chuối giúp cho bà Chín. Hai bà cháu con Xương tằn tiện từng đồng một nhưng mỗi lần nhìn lại chỉ nghe thấy những tiếng thở dài mênh mông…
***
Má con Xương dắt chồng mới về ra mắt gia đình. Bà Chín Xì không thèm quan tâm đến mặt mũi của thằng rể ngang hông ra sao (chắc bà nghĩ sớm muộn gì nó cũng thay thằng khác, nhớ chi cho mắc công). Con Xương lầm lì không thèm để ý đến động tỉnh trong nhà, nó ngồi ôm khư khư thằng Đẹt vào lòng. Má con Xương lắc lắc cái lục lạc đưa về phía thằng Đẹt trong khi ông chồng mới nhảy lên võng nằm khoanh tay, ngáy khò khò. Con Xương kéo thằng Đẹt vào lòng lúc nó định quờ tay lấy cái lục lạc, má con Xương bỏ lục lạc xuống nhào lại ẵm thằng Đẹt. Vừa rời khỏi vòng tay của con Xương, thằng Đẹt đã khóc rống lên, má con Xương dỗ bằng đủ thứ đồ chơi mua về vẫn không thể nào làm thằng Đẹt ngưng khóc. Má con Xương đành trả thằng Đẹt cho nó lúc ông chồng nằm trong võng cằn nhằn:
– Um sùm vậy ai mà ngủ nghê cho được?
Mâm cơm chiều trở nên nặng nề hơn khi ông chồng mới chê ỏng chê ẹo thức ăn trên mâm. Vẻ mặt dửng dửng của bà Chín Xì với con Xương càng làm cho ông chồng mới tức anh ách. Ông chồng lườm nguýt vợ rồi bỏ ra ngoài sân. Tụi thằng Tí với con Lài chạy bán sống bán chết về nhà lúc thấy bộ mặt bặm trợn của ba mới con Xương; thằng Tí còn sém tè trong quần khi thấy ổng cầm khư khư cây kim tiêm chích vào tay, mắt lim dim ngước mặt lên trời.
Chồng mới gãi cổ ngáp hơi dài, nhướng mắt về phía má con Xương. Vẻ mặt sốt ruột muốn rời đi của ông chồng làm má con Xương bối rối. Má nó bước xuống ngồi gần bà Chín Xì, giọng xởi lởi:
– Con tính với má vầy. Má coi thử có được không nha. Má cũng lớn tuổi rồi, má để con dắt hai đứa nhỏ lên Sài Gòn tiện bề chăm sóc. Lâu lâu, con dắt tụi nó về thăm má.
Bà Chín Xì nhìn má con Xương ngạc nhiên, có bao giờ con nhỏ dùng cái giọng nhẹ nhàng này đâu. Bà Chín Xì còn chưa kịp nói gì, con Xương đã bồng thằng Đẹt lên giọng vang vang:
– Con với thằng Đẹt ở lại đây. Không đi đâu nha ngoại.
Ông chồng mới không còn đủ kiên nhẫn với cuộc nói chuyện chẳng đi đến đâu. Chồng mới ngồi trên bàn phì phà khói thuốc.
– Nó không chịu đi thì bắt thằng nhỏ đi.
Con Xương bước lùi lại đứng sau lưng bà Chín Xì trong khi thằng Đẹt không ngừng lắc cái lục lạc trên tay. Con Xương lú đầu ra.
– Không ai được bắt em con đi hết.
Má con Xương với tay bồng thằng Đẹt, con Xương dây lưng ra đỡ. Bà Chín Xì kéo má con Xương ra đến nỗi ngã nhào xuống đất. Con Xương cắn vào tay cha dượng hờ, ông tức giận tát cho nó một cú như trời giáng. Chị em con Xương té nhào vô cự củi, thằng Đẹt khóc rống lên mà trên tay vẫn cầm khư khư cái lục lạc. Má con Xương vẫn không bỏ ý định lấy thằng Đẹt ra khỏi tay con Xương. Vừa thấy má nó định cúi xuống bồng thằng Đẹt đi, con Xương đã bồng thằng Đẹt chạy ra ngoài kêu khóc. Hàng xóm chạy sang nhà đông nghẹt, tụi thằng Tí, con Lài còn cầm trên tay một nắm đá. Mấy chú hàng xóm bước vào nhà xem động tĩnh, thím Năm đỡ bà Chín Xì ngồi dậy. Má con Xương cười hề hề:
– Không có chuyện gì đâu. Mấy chú mấy thím về nhà đi. Tui về đây định dẫn hai đứa nó lên Sài Gòn nuôi nấng mà con Xương không chịu đi. Tui đành dẫn thằng Đẹt theo. Chứ má tui già cả rồi, sao chăm sóc cho nó được.
Con Xương bồng thằng Đẹt đứng ở ngoài cửa nói vọng vào.
– Mấy chú thím đừng có tin lời của má con. Má con bắt thằng Đẹt lên Sài Gòn để dẫn nó đi xin tiền người ta đó.
Con Xương nước mắt nước mũi lòng thòng.
– Lúc con ở Sài Gòn, má bắt con ẵm em ngồi ngoài đường xin tiền người ta. Má nói ráng xin được nhiều, má đưa em đi phẫu thuật. Vậy mà con xin được bao nhiêu tiền má cũng đem đi đánh bài, hút chích. Con phải ẵm em trốn về ở với ngoại. Mấy cô chú ơi! Đừng để má con bắt em đi.
Bà Chín Xì kêu khóc, gom hết đồ chọi ra sân. Bà lao vào đấm lên ngực má con Xương thình thịch:
– Tại sao mày ác quá vậy. Nó là con mày đứt ruột đẻ ra mà.
Chồng mới đẩy bà Chín ra, hét lớn:
– Con của người ta. Người ta có quyền bắt, ai dám cản.
Gánh đàn ông xóm Củ Năng đứng xung quanh chị em con Xương, thím Năm giữ bà Chín lại, chỉ tay về phía thằng Tí.
– Bây chạy ù lại ủy ban kêu công an xã lại cho tao. Coi thử ai bắt thằng nhỏ đi được.
Ngó thấy hàng xóm bu quanh, má con Xương nhặt cặp đồ dưới đất kéo tay ông chồng đi về. Ông chồng vừa bước ra khỏi mé lộ đã quay mặt vô nhà chỉ tay về phía gánh đàn ông trong xóm ra chiều thách thức. Bà Chín Xì ôm hai chị em con Xương vào lòng, hàng xóm xung quanh cũng không cầm được nước mắt. Chiều bắt đầu buông xuống trên từng nóc nhà, con Lài lượm lại cái lục lạc đưa cho thằng Đẹt. Cái lục lạc sau mấy lần rơi xuống đất đã không còn phát ra những âm thanh rộn ràng. Tiếng má của má con Xương chắc cũng vậy…
***
Từ dạo má con Xương cùng người đàn ông lạ mặt bước xuống đò rời khỏi xóm Củ Năng, nhà con Xương cũng nhiều người lui tới. Hàng xóm còn tự động xách cây, lá qua nhà phụ bà Chín cơi nới thêm cái quán bánh xèo. Đám trẻ xóm Củ Năng trưa nào cũng tạt qua nhà ngồi… hát ru. Thằng Đẹt được tụi nó bồng đi khắp xóm, lăn lộn nắng nôi mà nó vẫn mạnh cui cui. Bà chủ vựa tôm biểu con Xương xuống vỏ lãi theo bà đi cân tôm. Chẳng bao lâu, con Xương đã lựa hàng tôm một cách ngon lành, nhớ cả chủ vuông này thiếu bao nhiêu, chủ vuông kia hay chỉnh cân lệch ra sao.
Bữa bà Chín Xì với con Xương bồng thằng Đẹt lên Sài Gòn phẫu thuật, người trong xóm đưa ra tận bến đò. Tụi thằng Tí, con Lài cứ nắm tay thằng Đẹt lắc lắc. Thím Năm dặn dò không biết bao nhiêu chuyện trên đời. Bà chủ vựa tôm còn gọi điện cho thằng con trai học trên đó lại đón, bà tấp vỏ lại dúi vào tay bà Chín Xì một xấp tiền.
– Để dành phòng thân.
Bà Chín nhét tiền lại túi bà chủ vựa tôm.
– Bây làm vậy. Tao ngại lắm.
– Chín cầm lấy đi. Lên trên đó lỡ thiếu thốn cái gì rồi biết sao? Có gì thì nữa con Xương về làm trả lại cho con. Đó còn đó chứ có mất mát gì đâu.
Tụi thằng Tí, con Lài đứng trên bờ vẫy tay chào theo chiếc đò Khánh Hội đến lúc nó khuất dần sau đám quao giòn xanh biếc. Thím Năm đứng chắp tay ngước mặt lên trời cầu nguyện, bà chủ vựa tôm tháo dây buộc vỏ rời đi. Bến sông trở nên bình yên đến lạ, chỉ còn lại những dấu chân người hằn lên cỏ và nỗi lòng của người ở lại.
***
Thằng con trai của bà chủ vựa tôm gọi điện về nói, hôm nay bà cháu con Xương xuất viện. Cả xóm Củ Năng bắc ghế ra sân ngồi đợi, tụi thằng Tí, con Lài cứ chạy ra sông ngóng từng chiếc đò qua. Thím Năm còn nấu sẵn cơm nước chờ bà cháu con Xương về. Chiếc đò cuối ngày cập bến, bà cháu con Xương dìu nhau bước lên bờ; tụi thằng Tí, con Lài tranh nhau chạy xuống mũi đò xách đồ lên tiếp. Con Xương nở nụ cười tươi rói làm ai nấy cũng cảm thấy nhẹ lòng. Bà Chín ôm thằng Đẹt vào lòng đi thật chậm như sợ chỉ cần bà bước mạnh thêm một chút nữa sẽ làm thằng Đẹt giật mình. Hay tin bà Chín về, người trong xóm kéo lại mỗi lúc một đông, người lon sữa, người bịch đường, người câu hỏi thăm như làm cho mọi sự mệt nhọc trong người bà cháu con Xương vơi đi phần nào. Con Xương bới tô cơm ăn ngon lành, nó cười hề hề.
– Ngán cơm bệnh viện gần chết.
Con Lài cất tiếng hát ru mỗi khi nghe thằng Đẹt ọ ẹ. Cả xóm nhìn ba má con Lài cắc cớ “con nhỏ thèm em dữ lắm rồi đó chú thím”. Thằng Tí ôm cổ má nó “con cũng muốn có em”. Những tiếng cười rộ lên không ngớt trong căn nhà bé xíu. Bà Chín nói, bác sĩ dặn tuần sau lên tái khám. Cuộc phẫu thuật rất thành công, ổng còn nói để ổng trả lại nụ cười cho thằng bé, chứ ổng “giữ lại” làm gì.
Nghe bà Chín thuật lại, thím Năm thở phào nhẹ nhõm. Thím nói để tháng sau đi chùa trả lễ cho người ta. Bà chủ vựa tôm tạt qua nhà, cho một mớ tôm cua. Bà còn dặn đi dặn lại bà Chín:
– Con có quen mấy đứa y tá ở trạm xá. Sáng, Chín chở nó lên cho tụi nó coi thay băng nha. Đừng rửa bậy bạ ở nhà.
Ngọn gió từ mé sông thổi qua thềm nhà mát rượi. Bầy chim trên cành khẽ hót líu lo. Chắc chẳng bao lâu nữa, người xóm Củ Năng sẽ được nhìn thấy nụ cười của thằng Đẹt. Con Xương nằm trên đùi bà Chín Xì ngủ sau một chuyến đi dài, không biết lúc ngủ nó đã mơ thấy gì mà môi nó khẽ nở một nụ cười trong vắt…
Nguyễn Chí Ngoan
Re: Cà Phê...Vịt
BỎ QUÊN
Nghe tiếng điện thoại reng, Bích Lan bực mình cho là quảng cáo, nhưng vẫn dở phone lên gắt gỏng :
- Alo ! Cái gì mà gọi hoài vậy?
- Dạ, cho chúng tôi gặp ông Lợi, chúng tôi gọi hai ngày nay không ai bắt máy.
- Ông Lợi không có nhà.
- Chúng tôi rất cần gặp ông Lợi
- Ông Lợi đi làm hai giờ chiều mới về, có gì nói với tôi được không, tôi là người nhà ông Lợi,
- Xin bà làm ơn nói với ông Lợi đến nhà dưỡng lão CampBell đưa ông cụ về nhà vì dịch corona nhà dưỡng lão được lệnh phải đóng cửa.
Lan hoảng hốt nghĩ cái hoạ sắp tấp vào nhà, liền xuống giọng năn nỉ :
- Thưa bà, xin bà có cách gì tạm để ông già trên đó không, tốn mấy chúng tôi cũng xin chịu, nhờ bà làm ơn giúp cho chúng tôi, chúng tôi sẽ hậu tạ riêng bà.
- Không được cô, tôi là nhân viên đâu có quyền hành gì, 19 người già trong viện xét nghiệm có 4 người dương tính, bị nhiễm virus, hiện cho nằm bịnh viện, số còn lại kết quả âm nên cấp tốc trả về nhà cách ly 14 ngày.
Đó là lệnh của ban phòng chống dịch. Hiện người ta về nhà hết, trừ ông cụ, bởi vậy cô phải báo cho ông Lợi biết, cấp tốc đến đưa ông cụ về. Thôi, cảm ơn cô.
Bỏ điện thoại xuống Lan sững sờ : Làm sao bây giờ?
Lợi có một bà chị và một đứa em. Gọi phone bà chị, nhờ bà chị nhận ông già về tạm mấy ngày dịch hoành hành rồi sẽ tính sau :
- Chị nên đưa cha về một thời gian ngắn rồi sẽ tính, chị lo cho cha, bọn em chịu tất cả phí tổn cho chị
- Không được, nhà tui có một phòng, lớn nhỏ năm người ở, đưa cha về ở chỗ nào. Nhưng mà cậu mợ nghĩ sao, ba năm nay ổng đã ở yên rồi, thì để ổng ở tiếp cho hết đời, đem về làm gì ?
- Bây giờ người ta không cho ở nữa, tất cả viện dưỡng lão đều bị đóng cửa. Thôi để em thuyết phục chú út thử.
Chú út viện lý do hai vợ chồng chú cả ngày đi làm vì làm y tá ở bịnh viện nên dù mọi người đều phải ở nhà, hãng xưởng đều đóng cửa, nhưng hai vợ chồng chú không được ở nhà, thì làm sao có thì giờ chăm sóc ông già.
Trước lý do đó chị không thể năn nỉ câu thứ hai. Không còn cách gì nữa, năn nỉ ai cũng không được, chị liền nghĩ đến cách cuối cùng là im lặng xem như không được tin tức gì hết, và có thể cảnh sát xem như ông già không có thân nhân, và họ sẽ giải quyết theo hướng đó, hướng không có thân nhân.
Chị mỉm cười khen mình người sáng ý, thông minh. Chị biết rất rõ anh bạn của chồng chị, cách nay ba năm, có bà mẹ già ở Pháp sang thăm, bà bị bịnh, anh gấp rút đưa vào bịnh viện, độ vài tuần sau bà cụ qua đời. Bịnh viện liên lạc thân nhân mới hay là số phone giả, địa chỉ giả.
Chiều hôm đó Lợi về hơi sớm. Đường vắng quá, một vài người lớn tuổi đi bộ có vẻ ké né trên lề đường, đeo khẩu trang, ra dáng thận trọng nghiêm nghị khác những ngày thường.
Quang cảnh khác hẳn, hơi rờn rợn, hình như ma quái núp trong cỏ cây, nơi nào đâu xa lạ hoang vu, chứ không phải nơi anh thường đi ngày hai bận cắt cỏ cho một trường học gần nhà.
Anh vừa bước vào nhà, nghe điện thoại reng, trong phòng bên cạnh chị chạy ra nhưng không kịp.
- Alo ! dạ..dạ .. dạ vâng …dạ... dạ tôi đến ngay.
Vừa đặt điện thoại xuống, anh nói ngay :
- Bọn nó đuổi ông già về, bây giờ anh phải đi đón về.
Chị cố bình tĩnh, tuy giọng hơi run run :
- Thì anh ăn cơm rồi sẽ tính sau.
- Tính toán cái quái gì, nó bảo trước đây hai ngày họ về hết rồi, nếu chiều nay không ai đón về, nó báo cho cảnh sát biết và xem như xong nhiệm vụ.
- Hay là anh để cho cảnh sát nó giải quyết xem sao.
- Làm thế cha anh sẽ chết lạnh dọc đường cái trong đêm nay.
Bực mình anh vẫn giữ nguyên bộ quần áo cắt cỏ ra xe. Anh nghĩ cũng tại anh, năm đó ông già không chịu đi Mỹ lấy lý do già rồi đi làm gì, tiếng Anh không nói được không biết lái xe, hơn nữa, mẹ anh mới mất chưa giáp năm, bỏ đi thấy tội nghiệp quá.
Nhưng anh đã bảo cha anh nên đi, tuổi già ở Mỹ có đủ thuốc men, có bác sĩ giỏi, có binh viện tốt, nhất là tránh được cái nạn dùng thuốc giả, thuốc độc của Tàu.
Bà chị cả của anh, người em trai út và nhất là vợ anh, liên tục lén anh, viết thơ về khuyên ông già nên ở lại Việt Nam lo mồ mả cho mẹ mới mất, rồi sẽ gửi tiền, gửi thuốc Tây về cho ông.
Bởi vậy ông quyết định xoá bỏ hồ sơ H.O. Khi được tin xoá bỏ hồ sơ, anh phải cấp tốc về quê khuyên bảo ép buộc ông làm lại hồ sơ. Thế mà phải chờ đến trên mười năm, hổ sơ mới được tái xét, mới được ra đi.
Freeway 17 vắng quá, anh chạy hơi quá tốc độ nên chưa đến một giờ đã ra exit Campbell.
Theo con đường nhỏ đi sâu vào rừng rậm. Tuy chưa đến 4 giờ chiểu nhưng như sắp tối, vắng một cách kinh hoàng.
Anh nghĩ làm nhà dưỡng lão ở nơi này có khác gì một nhà tù nhốt mấy ông già gần đất xa trời.
Đậu xe phía trước, anh chạy vòng vào sân sau, không có một bóng người nào, phía trong hành lang xa, một ông già nhỏ thó ngồi bất động trên cái ghế dài bên cái xách tay bằng vải .
- Trời ơi ! cha tôi đây Trời ! Anh nhào tới ôm cha anh, ông già mỉm cười, nước mắt dầm dề :
- Thấy con cha mừng quá. Hai hôm nay cha ở đây một mình. Nếu tối nay con không đến, cha mò lần ra đường cái. Trời còn thương cha.
- Cha ngồi đây lâu chưa ?
- Hồi sáng giờ. Bà y tá bảo cha dọn đồ ra ngồi chờ người nhà lên, họ đóng cửa.
Lợi xách túi vải nói :
- Con cõng cha ra xe, đường đi nhiều rễ cây dễ bị vấp ngã.
Ông giả lẩm nhẩm :
- Cha ở đây đúng ba năm 4 tháng 18 ngày.
Lợi mừng thầm, ông già mình tuy ốm yếu nhưng trí óc còn khá sáng suốt mới nhớ được số ngày tháng năm ở khu rừng này.
- Bọn con đều khoẻ mạnh hết chứ ?
- Dạ, vì bịnh dịch đang lan tràn nên ai ở nhà nấy không dám ra đường, nên mình con đi đón cha..
- Hai đứa cháu nội của cha lớn lắm hả, có đứa nào có vợ chưa ?
- Chưa cha, bọn nó còn nhỏ, còn đi học mà.
Lợi lái xe chạy chậm vì đoạn đường xấu, sợ xe xóc làm mệt cha già. Nghe tiếng thở đều đều ông già ngoẻo đầu qua một bên thiu thiu ngủ.
Lợi định tạm để cha già ở cách ly tại garage xe và anh định nghỉ cắt cỏ ít nhất 2 tuần để chăm sóc cha.
Anh nguyện lần này chính anh, chinh bàn tay anh, sẽ làm mọi thứ, từ nấu ăn, giặt dũ đến tắm rửa, đổ bô, lau cầu, không để ai nhúng vào, nhất là vợ anh.
Nhắc đến vợ, anh lo lắng rồi đây anh phải cố gắng chịu đựng, cố gắng nhịn nhục tối đa, để tránh những cuộc đổ vỡ cãi vã to tiếng. Nhất là không để cho ông già nghe được những lời cãi vã.
Anh chắc chắn phải làm được vì ông già sống ở garage biệt lập.
Bữa cơm tối hôm đó tuy rất đói nhưng anh ăn không ngon vì hình ảnh cha anh khi chiều làm anh rất xúc động, anh cảm thấy tội lỗi, một ông già gầy ốm một mình ngồi cheo leo ở bìa rừng vắng vẻ tiêu điều, vào một buổi chiều sắp tắt.
Tại sao một ông già phải bị đày đoạ như thế. Mâm ăn có 4 người, hai con anh ngồi một bên, vợ anh với anh một bên.
Hai đứa nhỏ và vợ anh mỗi người chăm chú vào chiếc Iphone, không để ý gì đến việc ăn uống.
Bỗng chị hỏi :
- Cha ăn uống gỉ chưa ?
- Cha mệt đang ngủ ngoài garage, anh đang nấu cháo cho cha
- Chắc anh gặp cha đang lang thang ngoài đường cái chứ gì?
Anh giả vờ không hiểu câu nói móc của chị, vì khi ra xe đi đón ông già, anh bảo nếu không lên đêm nay, ông già có thể chết lạnh trên đường cái.
Anh bình thản trả lời :
- Không, ông già ngồi cheo leo một mình ở hè nhà dưỡng lão.
Hai đứa nhỏ thôi ăn đứng dậy, mỗi đứa rót một ly nước, lên lầu
Chị cũng thôi ăn, đứng dậy, anh liền bảo :
- Em ngồi lại anh có vài điều muốn bàn với em.
Chị ngồi xuống nhìn thẳng vào anh.
- Anh đem cha vể đây ở tạm một thời gian, có thể nửa năm, một năm để ổng ổn định sức khoẻ, anh sẽ dẫn ổng về lại Việt Nam ở với bà cô ruột anh cũng đang sống một mình với đứa cháu trong họ.
Anh sẽ làm hết mọi việc từ đi chợ, nấu ăn, rửa chén, dọn dẹp trong nhà, lau chùi cầu tiêu nhà cửa, v..v..anh chỉ tha thiết xin em một điều... một điều... là cố gắng vui vẻ với ông già trong lúc ổng còn ở nhà này với chúng ta.
Nghĩa là em sẽ không làm gì hết, cố nhiên việc chăm sóc ông già là việc của anh, nếu em… thấy không thể được thì cũng nên cho anh biết.
Không khí nặng nề im lặng. Chị đứng dậy, chậm chậm đi lên lầu. Khi chị đi rồi anh bực mình tại sao lại đặt vấn đề với chị một cách thẳng thừng thô bạo như vậy, vô tình đẩy chị vào thế chống đối, anh cảm thấy mình kém cỏi quá, làm vấn đề đáng lẽ đơn giản, hoá ra khó khăn phức tạp hơn.
Nhà anh có 4 phòng, trên lầu 3 phòng ngủ, 2 phòng tắm. Hai con hai phòng anh chị một phòng.
Tầng trệt 1 phòng ngủ 1 phòng tắm. Khi ông già chưa đến nhà dưỡng lão ông ở phòng dưới này. Để ông nằm một mình ở garage anh không yên tâm, đêm hôm có việc gì ông kêu không ai nghe, anh đặt một giường nhỏ để nằm cạnh ông già.
Lấy lý do vì dịch corona, cách ly xã hội, nên anh yên tâm để ông già ở Garage cho đến khi hết dịch.
Cũng với lý do đó anh giải thích cho ông biết vợ và hai con anh chưa dám ra garage là vì vậy...
Thật sự ông già hiểu hết sự việc, nhất là suốt hơn ba năm nay, ba chục người bị “lưu đày” (chữ của các cụ ở nhà dưỡng lão Campbell ) ở chung với nhau. Hầu như họ chung một tâm trạng bị con tống họ ra khỏi nhà không phải vì tốn kém, vì người nào cũng có tiền già, tiền chánh phủ cấp cho tạm đủ sống, mà vì người càng già càng làm cuộc sống của chúng mất tươi trẻ, mất hạnh phúc, và cũng chính người già bị gán cho là cái ổ vi trùng, ổ bịnh tật.
Người già đồng nghĩa với dơ dáy. v..v... Tất cả họ, những người Việt nam ở trại Campbell, đều là cựu sĩ quan miền Nam Việt Nam sau ngày mất nước tháng Tư năm 1975, trung bình mỗi người chịu gần 10 năm tù cộng sản.
Vì cùng chung một tâm trạng, một ngôn ngữ họ thông cảm với nhau họ không quá chán nản quá cô đơn như ở các nhà dưỡng lão khác nói tiếng Anh là chính, nên người nào không nói được, chịu rất nhièu thiệt thòi, có khi bị đánh đập vì bị xem như bất tuân các mệnh lệnh của y tá y công.
Vì chia xẽ vì thông cảm vì cùng cảnh ngộ họ tránh được những cãi vã, những xô xát với nhau, nhưng họ mỗi ngày mỗi chuốc thêm những oái oăm, những nỗi buồn vì bất hạnh với gia đình, với con cháu.
Mỗi ngày họ phết thêm vào bức tranh tập thể đó, một nét buồn thảm ảm đạm. Thế cho nên họ thiếu hẳn niềm vui, người nào cũng mang một bộ mặt âu sầu buồn thảm.
Thậm chí có người than rằng ở tù tuy mất tự do, tuy nhục nhã, nhưng ít nhất một tháng, hoặc 6 tháng, có gia đình đến thăm nuôi, và gia đình còn thương xót, còn tôn trọng, còn kính nể người đang ở tù, và còn hi vọng người tù còn có ngày về để cùng xây dựng lại cuộc sống tạo lại hạnh phúc.
Trái lại vào trại dưỡng lão không mất tự do, nhưng gần như không cần tự do nữa, như bước vào giai đoạn cuối cuộc đời .
Họ thật sự bi bỏ quên. Có người suốt năm không có người đến thăm.
Ông cho biết khi vào trại, tổng số là 30 người và gần 4 năm sau chỉ còn 19 người. Mười một người lìa trần vì buồn bã quá, vì chán nản đến cùng cực, vì tủi thân, vì bị bỏ quên, chứ không phải vì những bịnh nan y.
Có những người không chịu uống thuốc, có người phản đối đi bịnh viện.
Từ ngày đưa cha về nhà anh thay thế vợ làm mọi việc trong nhà, anh mới biết rằng tuy công việc nhẹ, nhưng bực mình quá.
Quần quật từ sáng đến tối, không hết việc. Anh dọn cho cha anh và chính anh ăn ngoài garage, sợ cha buồn anh giải thích vì trong thời kỳ cách ly nên phải như thế. Vợ con anh ăn trong nhà.
Tuy ông hiểu điều giải thích của anh là đúng trong thời kỳ cách ly này, nhưng ông vẫn buồn buồn tủi thân. Ông mỉm cười tự thấy mình càng già càng khó tính, càng cô đơn càng khó tính.
Ông nghĩ đáng lẽ ở tuổi mình tuổi gần 80 phải dễ dãi, phải cởi mở, sao cũng xong cũng tốt. Ông nhớ lại cái đề tài này, trong nhà dưỡng lão, thường đem ra bàn luận với nhau trong nhóm anh em, và lúc nào ông cũng ở phe chỉ trích những người khó tính, và quả quyết vì tính xấu đó, mà con cháu nó không muốn sống gần với mấy người già, dù đó là ông bà nội ngoại.
Mấy người bạn của ông không đồng ý và cho rằng vì hai nền văn hoá Đông phương Tây phương đối lập nhau, nên mới có những bi kịch như vậy.
Rồi họ dẫn chứng ở Việt Nam chẳng hạn (trừ dưới thời cộng sản) đứa bé lên ba đã được cha mẹ dạy dỗ lễ độ chào hỏi, trong khi ở Mỹ trẻ con lên đại học chưa có thói quen chào hỏi.
Vấn đề này với ông, chưa ngã ngũ, chưa tìm ra câu giải đáp thoả mãn.
Từ ngày ra khỏi nhà dưỡng lão Campbell. ông sống một mình ở garage ông hay nghĩ đến người vợ quá cố của ông. Nếu bà còn sống, thì có lẽ đời ông không như thế này, không có chuyện ở nhà “lưu đày Campbell”.
Càng nhớ đến bà, ông càng thấy ở bà có phẩm cách cao quí, một người vợ tuyệt vời, một người đàn bà suốt đời chỉ biết hi sinh cho chồng cho con, một người kính trọng cha mẹ ông hơn cả ông kính trọng.
Có hôm trong giấc chiêm bao ông thấy bà ngồi cạnh giường ông, ông mừng quá ngồi dậy thì bà lặng lẽ đứng dậy ra đi im lặng không nói một lời.
Rồi những đêm tiếp theo, ông mong được gặp bà nhưng không thấy. Ông tính sẽ nói với anh lập bàn thờ thờ mẹ để đêm đêm có chỗ ông thắp cây nhang, tội nghiệp. Nhưng ý nghĩ này bị dập tắt ngay, vì ông, và bạn bè ông đều biết, có bao giờ bọn chúng chấp nhận bàn thờ.
Anh vui vẻ hỏi cha :
- Hôm nay con đi chợ, cha muốn mua thứ gì, muốn ăn uống gì, con mua cho cha.
- Không, không, khỏi mua gì con, cha ăn gì cũng được, nhà có gì ăn nấy.
Anh vừa ra xe, thì chị và hai đứa nhỏ đến cửa trong nhà xuống garage, chị nói lớn trong nước mắt :
- Hai cháu và con chào cha. Nhờ cha nói với ổng có cái thư để trong tủ lạnh. Ổng không cần vợ, không cần con, nên bọn con ra đi. Nói xong chị và hai đứa nhỏ lui vào nhà. Ông bối rối không kịp nói gì. Mệt quá ông nằm đừ lên giường cảm thấy khó thở. Ông mê man vào giấc ngủ hồi nào không biết.
Anh đặt mâm cơm lên bàn mới hay cha anh đang ngủ. Anh ngạc nhiên sao giờ này cha anh còn ngủ :
- Cha, cha, dậy ăn cơm rồi hãy ngủ cha.
Ông già ngồi dậy bần thần không biết ở đâu. Anh nói lớn :
- Hình như cha bị cảm phải không.
- Không, hơi mệt thôi, không sao đâu.
Ông ngồi dậy cố nuốt miếng cơm, nước mắt dầm dề :
- Vợ con với hai đứa nhỏ bỏ nhà đi rồi
- Cha nói cái gì vậy cha ?
Ông lặp lại :
- Vợ con bỏ nhà đi rồi. Nó có ra chào cha và dặn cho con biết có thư trong tủ lạnh.
Anh vội vàng chạy vào nhà. Thư viết : “Ông xem mẹ con tui không ra gì nên chúng tôi phải ra đi”. Viết vội vã chữ nguệch ngoạc, chỉ một câu thôi, không ký tên không đề ngày.
Tức qúa anh xé nát tờ thư, ngồi thừ xuống ghế nước mắt tuôn chảy, anh khóc. Anh ngồi như thế đến 1 giờ sáng, giật mình nghĩ đến ông già, anh vội bước ra garage cố điềm tĩnh dấu cha anh.
Cha anh nằm im lặng hình như chưa ngủ, vì ông già cựa mình và thỉnh thoảng ho. Anh nghĩ phải cố gắng bình thản trước cha anh. Mong hết cơn dịch anh sẽ đưa cha anh về Việt nam rồi anh sẽ đi tìm vợ con anh. Nhất định không để đổ vỡ gia đình. Anh nghĩ, lỗi do mình vì bất tài một phần và thiếu khéo léo tế nhị trong việc xử thế cho nên mới ra nông nỗi này
nỗi...
Nguyễn Liệu
Nghe tiếng điện thoại reng, Bích Lan bực mình cho là quảng cáo, nhưng vẫn dở phone lên gắt gỏng :
- Alo ! Cái gì mà gọi hoài vậy?
- Dạ, cho chúng tôi gặp ông Lợi, chúng tôi gọi hai ngày nay không ai bắt máy.
- Ông Lợi không có nhà.
- Chúng tôi rất cần gặp ông Lợi
- Ông Lợi đi làm hai giờ chiều mới về, có gì nói với tôi được không, tôi là người nhà ông Lợi,
- Xin bà làm ơn nói với ông Lợi đến nhà dưỡng lão CampBell đưa ông cụ về nhà vì dịch corona nhà dưỡng lão được lệnh phải đóng cửa.
Lan hoảng hốt nghĩ cái hoạ sắp tấp vào nhà, liền xuống giọng năn nỉ :
- Thưa bà, xin bà có cách gì tạm để ông già trên đó không, tốn mấy chúng tôi cũng xin chịu, nhờ bà làm ơn giúp cho chúng tôi, chúng tôi sẽ hậu tạ riêng bà.
- Không được cô, tôi là nhân viên đâu có quyền hành gì, 19 người già trong viện xét nghiệm có 4 người dương tính, bị nhiễm virus, hiện cho nằm bịnh viện, số còn lại kết quả âm nên cấp tốc trả về nhà cách ly 14 ngày.
Đó là lệnh của ban phòng chống dịch. Hiện người ta về nhà hết, trừ ông cụ, bởi vậy cô phải báo cho ông Lợi biết, cấp tốc đến đưa ông cụ về. Thôi, cảm ơn cô.
Bỏ điện thoại xuống Lan sững sờ : Làm sao bây giờ?
Lợi có một bà chị và một đứa em. Gọi phone bà chị, nhờ bà chị nhận ông già về tạm mấy ngày dịch hoành hành rồi sẽ tính sau :
- Chị nên đưa cha về một thời gian ngắn rồi sẽ tính, chị lo cho cha, bọn em chịu tất cả phí tổn cho chị
- Không được, nhà tui có một phòng, lớn nhỏ năm người ở, đưa cha về ở chỗ nào. Nhưng mà cậu mợ nghĩ sao, ba năm nay ổng đã ở yên rồi, thì để ổng ở tiếp cho hết đời, đem về làm gì ?
- Bây giờ người ta không cho ở nữa, tất cả viện dưỡng lão đều bị đóng cửa. Thôi để em thuyết phục chú út thử.
Chú út viện lý do hai vợ chồng chú cả ngày đi làm vì làm y tá ở bịnh viện nên dù mọi người đều phải ở nhà, hãng xưởng đều đóng cửa, nhưng hai vợ chồng chú không được ở nhà, thì làm sao có thì giờ chăm sóc ông già.
Trước lý do đó chị không thể năn nỉ câu thứ hai. Không còn cách gì nữa, năn nỉ ai cũng không được, chị liền nghĩ đến cách cuối cùng là im lặng xem như không được tin tức gì hết, và có thể cảnh sát xem như ông già không có thân nhân, và họ sẽ giải quyết theo hướng đó, hướng không có thân nhân.
Chị mỉm cười khen mình người sáng ý, thông minh. Chị biết rất rõ anh bạn của chồng chị, cách nay ba năm, có bà mẹ già ở Pháp sang thăm, bà bị bịnh, anh gấp rút đưa vào bịnh viện, độ vài tuần sau bà cụ qua đời. Bịnh viện liên lạc thân nhân mới hay là số phone giả, địa chỉ giả.
Chiều hôm đó Lợi về hơi sớm. Đường vắng quá, một vài người lớn tuổi đi bộ có vẻ ké né trên lề đường, đeo khẩu trang, ra dáng thận trọng nghiêm nghị khác những ngày thường.
Quang cảnh khác hẳn, hơi rờn rợn, hình như ma quái núp trong cỏ cây, nơi nào đâu xa lạ hoang vu, chứ không phải nơi anh thường đi ngày hai bận cắt cỏ cho một trường học gần nhà.
Anh vừa bước vào nhà, nghe điện thoại reng, trong phòng bên cạnh chị chạy ra nhưng không kịp.
- Alo ! dạ..dạ .. dạ vâng …dạ... dạ tôi đến ngay.
Vừa đặt điện thoại xuống, anh nói ngay :
- Bọn nó đuổi ông già về, bây giờ anh phải đi đón về.
Chị cố bình tĩnh, tuy giọng hơi run run :
- Thì anh ăn cơm rồi sẽ tính sau.
- Tính toán cái quái gì, nó bảo trước đây hai ngày họ về hết rồi, nếu chiều nay không ai đón về, nó báo cho cảnh sát biết và xem như xong nhiệm vụ.
- Hay là anh để cho cảnh sát nó giải quyết xem sao.
- Làm thế cha anh sẽ chết lạnh dọc đường cái trong đêm nay.
Bực mình anh vẫn giữ nguyên bộ quần áo cắt cỏ ra xe. Anh nghĩ cũng tại anh, năm đó ông già không chịu đi Mỹ lấy lý do già rồi đi làm gì, tiếng Anh không nói được không biết lái xe, hơn nữa, mẹ anh mới mất chưa giáp năm, bỏ đi thấy tội nghiệp quá.
Nhưng anh đã bảo cha anh nên đi, tuổi già ở Mỹ có đủ thuốc men, có bác sĩ giỏi, có binh viện tốt, nhất là tránh được cái nạn dùng thuốc giả, thuốc độc của Tàu.
Bà chị cả của anh, người em trai út và nhất là vợ anh, liên tục lén anh, viết thơ về khuyên ông già nên ở lại Việt Nam lo mồ mả cho mẹ mới mất, rồi sẽ gửi tiền, gửi thuốc Tây về cho ông.
Bởi vậy ông quyết định xoá bỏ hồ sơ H.O. Khi được tin xoá bỏ hồ sơ, anh phải cấp tốc về quê khuyên bảo ép buộc ông làm lại hồ sơ. Thế mà phải chờ đến trên mười năm, hổ sơ mới được tái xét, mới được ra đi.
Freeway 17 vắng quá, anh chạy hơi quá tốc độ nên chưa đến một giờ đã ra exit Campbell.
Theo con đường nhỏ đi sâu vào rừng rậm. Tuy chưa đến 4 giờ chiểu nhưng như sắp tối, vắng một cách kinh hoàng.
Anh nghĩ làm nhà dưỡng lão ở nơi này có khác gì một nhà tù nhốt mấy ông già gần đất xa trời.
Đậu xe phía trước, anh chạy vòng vào sân sau, không có một bóng người nào, phía trong hành lang xa, một ông già nhỏ thó ngồi bất động trên cái ghế dài bên cái xách tay bằng vải .
- Trời ơi ! cha tôi đây Trời ! Anh nhào tới ôm cha anh, ông già mỉm cười, nước mắt dầm dề :
- Thấy con cha mừng quá. Hai hôm nay cha ở đây một mình. Nếu tối nay con không đến, cha mò lần ra đường cái. Trời còn thương cha.
- Cha ngồi đây lâu chưa ?
- Hồi sáng giờ. Bà y tá bảo cha dọn đồ ra ngồi chờ người nhà lên, họ đóng cửa.
Lợi xách túi vải nói :
- Con cõng cha ra xe, đường đi nhiều rễ cây dễ bị vấp ngã.
Ông giả lẩm nhẩm :
- Cha ở đây đúng ba năm 4 tháng 18 ngày.
Lợi mừng thầm, ông già mình tuy ốm yếu nhưng trí óc còn khá sáng suốt mới nhớ được số ngày tháng năm ở khu rừng này.
- Bọn con đều khoẻ mạnh hết chứ ?
- Dạ, vì bịnh dịch đang lan tràn nên ai ở nhà nấy không dám ra đường, nên mình con đi đón cha..
- Hai đứa cháu nội của cha lớn lắm hả, có đứa nào có vợ chưa ?
- Chưa cha, bọn nó còn nhỏ, còn đi học mà.
Lợi lái xe chạy chậm vì đoạn đường xấu, sợ xe xóc làm mệt cha già. Nghe tiếng thở đều đều ông già ngoẻo đầu qua một bên thiu thiu ngủ.
Lợi định tạm để cha già ở cách ly tại garage xe và anh định nghỉ cắt cỏ ít nhất 2 tuần để chăm sóc cha.
Anh nguyện lần này chính anh, chinh bàn tay anh, sẽ làm mọi thứ, từ nấu ăn, giặt dũ đến tắm rửa, đổ bô, lau cầu, không để ai nhúng vào, nhất là vợ anh.
Nhắc đến vợ, anh lo lắng rồi đây anh phải cố gắng chịu đựng, cố gắng nhịn nhục tối đa, để tránh những cuộc đổ vỡ cãi vã to tiếng. Nhất là không để cho ông già nghe được những lời cãi vã.
Anh chắc chắn phải làm được vì ông già sống ở garage biệt lập.
Bữa cơm tối hôm đó tuy rất đói nhưng anh ăn không ngon vì hình ảnh cha anh khi chiều làm anh rất xúc động, anh cảm thấy tội lỗi, một ông già gầy ốm một mình ngồi cheo leo ở bìa rừng vắng vẻ tiêu điều, vào một buổi chiều sắp tắt.
Tại sao một ông già phải bị đày đoạ như thế. Mâm ăn có 4 người, hai con anh ngồi một bên, vợ anh với anh một bên.
Hai đứa nhỏ và vợ anh mỗi người chăm chú vào chiếc Iphone, không để ý gì đến việc ăn uống.
Bỗng chị hỏi :
- Cha ăn uống gỉ chưa ?
- Cha mệt đang ngủ ngoài garage, anh đang nấu cháo cho cha
- Chắc anh gặp cha đang lang thang ngoài đường cái chứ gì?
Anh giả vờ không hiểu câu nói móc của chị, vì khi ra xe đi đón ông già, anh bảo nếu không lên đêm nay, ông già có thể chết lạnh trên đường cái.
Anh bình thản trả lời :
- Không, ông già ngồi cheo leo một mình ở hè nhà dưỡng lão.
Hai đứa nhỏ thôi ăn đứng dậy, mỗi đứa rót một ly nước, lên lầu
Chị cũng thôi ăn, đứng dậy, anh liền bảo :
- Em ngồi lại anh có vài điều muốn bàn với em.
Chị ngồi xuống nhìn thẳng vào anh.
- Anh đem cha vể đây ở tạm một thời gian, có thể nửa năm, một năm để ổng ổn định sức khoẻ, anh sẽ dẫn ổng về lại Việt Nam ở với bà cô ruột anh cũng đang sống một mình với đứa cháu trong họ.
Anh sẽ làm hết mọi việc từ đi chợ, nấu ăn, rửa chén, dọn dẹp trong nhà, lau chùi cầu tiêu nhà cửa, v..v..anh chỉ tha thiết xin em một điều... một điều... là cố gắng vui vẻ với ông già trong lúc ổng còn ở nhà này với chúng ta.
Nghĩa là em sẽ không làm gì hết, cố nhiên việc chăm sóc ông già là việc của anh, nếu em… thấy không thể được thì cũng nên cho anh biết.
Không khí nặng nề im lặng. Chị đứng dậy, chậm chậm đi lên lầu. Khi chị đi rồi anh bực mình tại sao lại đặt vấn đề với chị một cách thẳng thừng thô bạo như vậy, vô tình đẩy chị vào thế chống đối, anh cảm thấy mình kém cỏi quá, làm vấn đề đáng lẽ đơn giản, hoá ra khó khăn phức tạp hơn.
Nhà anh có 4 phòng, trên lầu 3 phòng ngủ, 2 phòng tắm. Hai con hai phòng anh chị một phòng.
Tầng trệt 1 phòng ngủ 1 phòng tắm. Khi ông già chưa đến nhà dưỡng lão ông ở phòng dưới này. Để ông nằm một mình ở garage anh không yên tâm, đêm hôm có việc gì ông kêu không ai nghe, anh đặt một giường nhỏ để nằm cạnh ông già.
Lấy lý do vì dịch corona, cách ly xã hội, nên anh yên tâm để ông già ở Garage cho đến khi hết dịch.
Cũng với lý do đó anh giải thích cho ông biết vợ và hai con anh chưa dám ra garage là vì vậy...
Thật sự ông già hiểu hết sự việc, nhất là suốt hơn ba năm nay, ba chục người bị “lưu đày” (chữ của các cụ ở nhà dưỡng lão Campbell ) ở chung với nhau. Hầu như họ chung một tâm trạng bị con tống họ ra khỏi nhà không phải vì tốn kém, vì người nào cũng có tiền già, tiền chánh phủ cấp cho tạm đủ sống, mà vì người càng già càng làm cuộc sống của chúng mất tươi trẻ, mất hạnh phúc, và cũng chính người già bị gán cho là cái ổ vi trùng, ổ bịnh tật.
Người già đồng nghĩa với dơ dáy. v..v... Tất cả họ, những người Việt nam ở trại Campbell, đều là cựu sĩ quan miền Nam Việt Nam sau ngày mất nước tháng Tư năm 1975, trung bình mỗi người chịu gần 10 năm tù cộng sản.
Vì cùng chung một tâm trạng, một ngôn ngữ họ thông cảm với nhau họ không quá chán nản quá cô đơn như ở các nhà dưỡng lão khác nói tiếng Anh là chính, nên người nào không nói được, chịu rất nhièu thiệt thòi, có khi bị đánh đập vì bị xem như bất tuân các mệnh lệnh của y tá y công.
Vì chia xẽ vì thông cảm vì cùng cảnh ngộ họ tránh được những cãi vã, những xô xát với nhau, nhưng họ mỗi ngày mỗi chuốc thêm những oái oăm, những nỗi buồn vì bất hạnh với gia đình, với con cháu.
Mỗi ngày họ phết thêm vào bức tranh tập thể đó, một nét buồn thảm ảm đạm. Thế cho nên họ thiếu hẳn niềm vui, người nào cũng mang một bộ mặt âu sầu buồn thảm.
Thậm chí có người than rằng ở tù tuy mất tự do, tuy nhục nhã, nhưng ít nhất một tháng, hoặc 6 tháng, có gia đình đến thăm nuôi, và gia đình còn thương xót, còn tôn trọng, còn kính nể người đang ở tù, và còn hi vọng người tù còn có ngày về để cùng xây dựng lại cuộc sống tạo lại hạnh phúc.
Trái lại vào trại dưỡng lão không mất tự do, nhưng gần như không cần tự do nữa, như bước vào giai đoạn cuối cuộc đời .
Họ thật sự bi bỏ quên. Có người suốt năm không có người đến thăm.
Ông cho biết khi vào trại, tổng số là 30 người và gần 4 năm sau chỉ còn 19 người. Mười một người lìa trần vì buồn bã quá, vì chán nản đến cùng cực, vì tủi thân, vì bị bỏ quên, chứ không phải vì những bịnh nan y.
Có những người không chịu uống thuốc, có người phản đối đi bịnh viện.
Từ ngày đưa cha về nhà anh thay thế vợ làm mọi việc trong nhà, anh mới biết rằng tuy công việc nhẹ, nhưng bực mình quá.
Quần quật từ sáng đến tối, không hết việc. Anh dọn cho cha anh và chính anh ăn ngoài garage, sợ cha buồn anh giải thích vì trong thời kỳ cách ly nên phải như thế. Vợ con anh ăn trong nhà.
Tuy ông hiểu điều giải thích của anh là đúng trong thời kỳ cách ly này, nhưng ông vẫn buồn buồn tủi thân. Ông mỉm cười tự thấy mình càng già càng khó tính, càng cô đơn càng khó tính.
Ông nghĩ đáng lẽ ở tuổi mình tuổi gần 80 phải dễ dãi, phải cởi mở, sao cũng xong cũng tốt. Ông nhớ lại cái đề tài này, trong nhà dưỡng lão, thường đem ra bàn luận với nhau trong nhóm anh em, và lúc nào ông cũng ở phe chỉ trích những người khó tính, và quả quyết vì tính xấu đó, mà con cháu nó không muốn sống gần với mấy người già, dù đó là ông bà nội ngoại.
Mấy người bạn của ông không đồng ý và cho rằng vì hai nền văn hoá Đông phương Tây phương đối lập nhau, nên mới có những bi kịch như vậy.
Rồi họ dẫn chứng ở Việt Nam chẳng hạn (trừ dưới thời cộng sản) đứa bé lên ba đã được cha mẹ dạy dỗ lễ độ chào hỏi, trong khi ở Mỹ trẻ con lên đại học chưa có thói quen chào hỏi.
Vấn đề này với ông, chưa ngã ngũ, chưa tìm ra câu giải đáp thoả mãn.
Từ ngày ra khỏi nhà dưỡng lão Campbell. ông sống một mình ở garage ông hay nghĩ đến người vợ quá cố của ông. Nếu bà còn sống, thì có lẽ đời ông không như thế này, không có chuyện ở nhà “lưu đày Campbell”.
Càng nhớ đến bà, ông càng thấy ở bà có phẩm cách cao quí, một người vợ tuyệt vời, một người đàn bà suốt đời chỉ biết hi sinh cho chồng cho con, một người kính trọng cha mẹ ông hơn cả ông kính trọng.
Có hôm trong giấc chiêm bao ông thấy bà ngồi cạnh giường ông, ông mừng quá ngồi dậy thì bà lặng lẽ đứng dậy ra đi im lặng không nói một lời.
Rồi những đêm tiếp theo, ông mong được gặp bà nhưng không thấy. Ông tính sẽ nói với anh lập bàn thờ thờ mẹ để đêm đêm có chỗ ông thắp cây nhang, tội nghiệp. Nhưng ý nghĩ này bị dập tắt ngay, vì ông, và bạn bè ông đều biết, có bao giờ bọn chúng chấp nhận bàn thờ.
Anh vui vẻ hỏi cha :
- Hôm nay con đi chợ, cha muốn mua thứ gì, muốn ăn uống gì, con mua cho cha.
- Không, không, khỏi mua gì con, cha ăn gì cũng được, nhà có gì ăn nấy.
Anh vừa ra xe, thì chị và hai đứa nhỏ đến cửa trong nhà xuống garage, chị nói lớn trong nước mắt :
- Hai cháu và con chào cha. Nhờ cha nói với ổng có cái thư để trong tủ lạnh. Ổng không cần vợ, không cần con, nên bọn con ra đi. Nói xong chị và hai đứa nhỏ lui vào nhà. Ông bối rối không kịp nói gì. Mệt quá ông nằm đừ lên giường cảm thấy khó thở. Ông mê man vào giấc ngủ hồi nào không biết.
Anh đặt mâm cơm lên bàn mới hay cha anh đang ngủ. Anh ngạc nhiên sao giờ này cha anh còn ngủ :
- Cha, cha, dậy ăn cơm rồi hãy ngủ cha.
Ông già ngồi dậy bần thần không biết ở đâu. Anh nói lớn :
- Hình như cha bị cảm phải không.
- Không, hơi mệt thôi, không sao đâu.
Ông ngồi dậy cố nuốt miếng cơm, nước mắt dầm dề :
- Vợ con với hai đứa nhỏ bỏ nhà đi rồi
- Cha nói cái gì vậy cha ?
Ông lặp lại :
- Vợ con bỏ nhà đi rồi. Nó có ra chào cha và dặn cho con biết có thư trong tủ lạnh.
Anh vội vàng chạy vào nhà. Thư viết : “Ông xem mẹ con tui không ra gì nên chúng tôi phải ra đi”. Viết vội vã chữ nguệch ngoạc, chỉ một câu thôi, không ký tên không đề ngày.
Tức qúa anh xé nát tờ thư, ngồi thừ xuống ghế nước mắt tuôn chảy, anh khóc. Anh ngồi như thế đến 1 giờ sáng, giật mình nghĩ đến ông già, anh vội bước ra garage cố điềm tĩnh dấu cha anh.
Cha anh nằm im lặng hình như chưa ngủ, vì ông già cựa mình và thỉnh thoảng ho. Anh nghĩ phải cố gắng bình thản trước cha anh. Mong hết cơn dịch anh sẽ đưa cha anh về Việt nam rồi anh sẽ đi tìm vợ con anh. Nhất định không để đổ vỡ gia đình. Anh nghĩ, lỗi do mình vì bất tài một phần và thiếu khéo léo tế nhị trong việc xử thế cho nên mới ra nông nỗi này
nỗi...
Nguyễn Liệu
Re: Cà Phê...Vịt

Ký ức tháng Tư
LÊ BẢO LIÊN
Ba tôi lái xe jeep đưa cả gia đình rời Đà Lạt tham gia vào chuyến đi di tản.
Đến Phan Rang, một quãng vắng, có hai tên đàn ông cầm súng đứng giữa đường chặn xe chúng tôi lại. Ba gằn giọng:
– Tụi cướp! Nằm xuống !
Mẹ quàng tay ôm chúng tôi ấn sát xuống ghế. Ba tôi nhấn ga vọt qua.
Đúng như dự đoán, chúng bắn theo xe chúng tôi- trong khi vẫn thấy rõ trên xe có một bầy trẻ con như vậy. Đạn găm vào chiếc xe honda treo phía sau xe jeep, thay vì ghim vào lưng tài xế. Ba tôi mạng lớn, biết bao nhiêu lần trong cuộc đời chinh chiến, tù tội, và 11 lần vượt biển sau này, thần chết luôn tránh xuống tay với ông.
Thoát chết, nhưng thật ngao ngán cho sự ác tâm của con người.
Chập tối, chúng tôi đến Phan Thiết – cả thị xã náo loạn sôi sục như chảo lửa. Tiếng súng đì đoàng không ngớt. Người ta cướp giật trắng trợn, người ta chạy đi chạy lại khiêng vác, hôi của ở các cửa hàng ngoài phố. Tôi ngạc nhiên nhìn. Những thùng hàng, những cây vải sặc sỡ, những bàn ghế salon sang trọng ấy ….để làm gì??? Gia đình tôi đã bỏ hết, bỏ hết, vượt qua đường trường chết chóc, chỉ mong được sống cùng nhau thôi. Hàng trăm ngàn người đã bỏ xác dọc đường, phơi thây giữa trời không một mảnh chiếu đắp, xác thân thối rữa không ai chôn cất, mùi tử khí ngùn ngụt đất trời…Thế mà ở đây người ta nô nức đi hôi của mang về nhà…Thật mai mỉa cho lòng tham lam của người đời !
Hai người đàn ông lăm lăm súng trên tay, chở nhau trên xe honda, tấp vào sát xe chúng tôi. Người ngồi sau chìa cặp kính mát vào mặt mẹ tôi, nói nhẹ nhàng:
– Chị cho tôi cầm đỡ cặp kính lấy tiền đi đường!
Mẹ tôi móc bóp vét hết tiền đưa chúng. Hắn giật lấy xấp tiền, cười nhạt, bỏ trở lại cặp kính vào túi áo, phóng xe đi. Cũng may cho chúng tôi, tên cướp rất …đàng hoàng lịch sự. Hú hồn.
Nhưng vài phút sau, tôi chứng kiến một scène cướp của ghê rợn. Giữa phố, một người đàn ông mặc thường phục cầm khẩu súng ngắn bắn thẳng vào người ngồi trên xe máy. Người kia ngã xuống đường, máu loang nhanh trên áo đỏ thẫm. Tên cướp điềm nhiên leo lên xe rồ ga chạy đi. Đám đông xung quanh giương mắt nhìn, xe chúng tôi cũng chạy ngang qua không dừng lại. Ai sẽ cứu giúp nạn nhân ấy? Tôi nghiệm ra rằng, trong xã hội loạn lạc, con người sẽ bộc lộ hết phần “con” tàn bạo độc ác, nhẫn tâm, ích kỷ và hèn nhát của mình !
Đêm Phan Thiết. Ba tôi lái xe vào trụ sở của Ủy Hội kiểm soát đình chiến ICSC, cả tòa nhà vắng lặng rợn người. Tất cả cửa kính xung quanh tòa nhà đều vỡ nát, mảnh chai lạo xạo dưới chân. Không dám bật lửa, chúng tôi lần mò trong bóng tối vào nhà tá túc một đêm. Ba dùng tờ báo quét dọn mảnh chai lấy một chỗ nằm cho cả nhà. Hình ảnh cuối cùng tôi nhìn thấy trước khi chìm vào giấc ngủ mệt nhọc hoảng loạn là bầu trời Phan Thiết đen kịt, dệt tấm lưới đỏ lừ những đường đạn đan chéo chi chít. Thỉnh thoảng, ánh hỏa châu rực sáng giữa trời, rồi rơi xuống lừ lừ như đe dọa…
Ra khỏi Phan Thiết, sau khi chứng kiến cuộc tàn sát ở Láng Gòn (Địa danh ở gần ngã ba Bình Tuy ?) chúng tôi đi tiếp trong yên lặng nặng nề rời rã tâm can.
Gia đình tôi đã thoát chết trong gang tấc, nhưng sự may mắn của chúng tôi có vẻ quá tàn nhẫn đối với vong linh của những nạn nhân xấu số ấy.
Đến cửa ngõ Bình Tuy. Đó là chiếc cầu sắt nhỏ, giữa cầu giăng kẽm gai, bên kia cầu, lính dàn quân chiến đấu – Tỉnh trưởng Bình Tuy không cho phép đoàn người di tản vào tỉnh lỵ, trong khi hầu hết các tỉnh thành chúng tôi đi qua đều bỏ trống vô chính phủ.
Bên này cầu, tàn quân từ Tây Nguyên kéo về cũng dàn trận quyết đấu với sự sôi sục oán hờn tủi hận. Họ đã phải vượt qua làn tên mũi đạn, đi qua đoạn đường dài sinh tử tử sinh, giờ lại bị đồng đội chặn đường để bảo vệ sự bình yên cho 1 tỉnh lỵ thì bất nhẫn quá.
Đoàn người dân di tản quay đầu xe chạy tán loạn trước nguy cơ bom rơi đạn lạc. Ba tôi cũng quay đầu xe chạy vào một xóm nhỏ ở xa. Chúng tôi tá túc ngoài hiên một căn nhà nhỏ trong vườn cây ăn trái. Bốn chị em quanh quẩn trong vườn lượm củi cho mẹ nhóm lửa nấu cơm, nướng cá khô. Chủ nhà mang ra biếu mấy chị em rổ trái cây ngọt lịm, họ cười nói thăm hỏi thân tình, ẵm bồng đứa em út của tôi âu yếm. Quang cảnh thanh bình một cách kỳ lạ, cứ như lạc vào thiên thai giữa chốn địa ngục vừa trải qua. Kỷ niệm ấy là giọt nước mát rượi tưới tắm tâm hồn tôi khô cằn cay cực
Một đêm bình yên. Sáng sớm chúng tôi lên đường. Cửa ngõ Bình Tuy đã thông xe. Bên nay cầu, súng ống chất cao như núi. Thì ra tỉnh trưởng Bình Tuy đã dàn xếp mọi việc ổn thỏa: đoàn quân di tản chỉ được vào tỉnh lỵ sau khi hạ vũ khí. Một quyết định sáng suốt, vừa tránh được cảnh huynh đệ tương tàn vừa giữ được an ninh cho Bình Tuy. Không biết ai là Tỉnh trưởng Bình Tuy lúc ấy, đó quả là một người đáng kính trọng.
Xe vừa đến được nhà người bạn của ba mẹ ở Bình Tuy thì tắt máy. Không còn một giọt xăng nào. Ba tôi phải đẩy xe vào nhà. Chỉ cần hết xăng sớm hơn vài tiếng đồng hồ thì… Đã nói ba tôi mạng lớn sống lâu mà, nên gia đình hưởng phúc lây. Chỉ có thể giải thích là do Trời Phật độ trì cho chúng tôi mà thôi.
Hôm sau cả nhà đi ghe ra Long Hải để về Sài Gòn. Đến Long Hải khi đêm xuống, chúng tôi đành ngủ lại trên bãi biển, giữa mùi xú uế bốc nồng nặc. Ba nói, mùi phân người đối với ba là ….sạch sẽ lắm. Khi còn chiến đấu ở Quảng Trị, Ngày đêm ba phải ở trong những căn hầm đầy tử khí. Nếu xác định đúng vị trí, chỉ cần dùng xẻng xúc vào vách hầm vài tấc đất là đụng ngay phải xác người chôn vội chưa phân rã, của quân bên này lẫn bên kia…
Về đến Sài Gòn, gia đình tôi được đón tiếp như những người từ cõi chết trở về. Nước mắt mừng vui đoàn tụ chưa ráo, thì nước mắt phân ly lại trào.
Dì hai tôi là nhân viên xếp lịch bay cho phi cơ quân sự ở phi trường Tân Sơn Nhất, đã sắp xếp cho cả gia đình ra đi trên một trong những chuyến bay cuối cùng, nhưng bất ngờ, ông bà ngoại quyết định ở lại. Cả đại gia đình ngập trong nước mắt, tất cả người lớn đều khóc. Dì hai quỳ sụp dưới đất, năn nỉ ông bà ngoại đi cùng, Dì hai nói:
– Con là người thuộc quân lực Mỹ, con xếp lịch bay cho các chuyến bay quân sự, con mà ở lại, Việt Cộng vào sẽ cắt cổ con, con khấu đầu xin ba má hãy đi với con.
Cuối cùng, sau những vật vã dằn xé đau lòng, dì hai quỳ lạy ông bà ngoại tôi lần cuối để ra đi, xem như là tử biệt, không ai nghĩ rằng sẽ còn gặp lại nhau trên cõi đời này.
Ba tôi nhất quyết không đi vì còn cả gia đình bên nội ở Huế chưa có tin tức.
Tử biệt sinh ly tưởng là chuyện đời thường, nhưng ai có trải qua thời khắc ấy mới hiểu thế nào là đớn đau.
Chiến tranh loạn lạc tưởng đã quen thuộc với người dân Việt, nhưng đi vào lửa đạn mới thấy hết sự khốc liệt tàn bạo vô luân của nó.
Tôi thầm thương mình đã trải qua biến cố lịch sử ấy khi tuổi còn quá nhỏ – nó khiến cho tôi rời xa thật xa tuổi ấu thơ của mình. Quãng thời gian dài hơn 40 năm mãi không thể xóa nhòa niềm đau của tuổi lên mười năm ấy.
Re: Cà Phê...Vịt
Nỗi niềm giữa đêm
Ngày nọ, anh hẹn chị ra quán cà phê trước nhà ga chính của thành phố Bremen
Chị nói ra vẻ bực bội:
- Ông lại bán xe rồi hay sao mà đi tàu lên đây?
Anh cúi đầu, trả lời lí nhí, hổ thẹn:
-- Ừ... thì bán rồi! Vì cũng không cần nó lắm!
Chị sầm mặt xuống:
- Ông lúc nào cũng vậy! Suốt đời, không ngóc đầu lên được! Hẹn tôi ra đây, có chuyện gì vậy?
Khó khăn lắm anh mới có thể nói với chị điều mà anh muốn nhờ chị. Chị cũng khó khăn lắm mới có thể từ chối anh:
- Nhưng mà gia đình tôi đang yên lành! Nếu đưa con bé về, e sẽ chẳng còn được bình yên nữa!
Anh năn nỉ và nói:
-- Con bé đã đến tuổi dậy thì. Anh là đàn ông, không thể gần gũi và dạy dỗ nó chu đáo được. Anh chưa bao giờ cầu xin em điều gì, chỉ lần này thôi, giúp anh nửa năm hay vài ba tháng cũng được. Là phụ nữ, em gần nó, hướng dẫn và khuyên bảo nó trong một thời gian để nó tập làm quen với cuộc sống thiếu nữ. Sau đó, anh lại đón nó về.
Chị thở dài:
- Ông lúc nào cũng mang xui xẻo đến cho tôi! Thôi, được rồi, ông về đi, để tôi bàn lại với chồng tôi đã. Có gì, tôi sẽ gọi điện thông báo cho ông sau.
Anh nhìn chị với ánh mắt biết ơn, rồi đứng dậy, cúi đầu xuống như có lỗi, tiễn chị ra xe, thở dài, lủi thủi bước vào nhà ga để trở về Hamburg.
Trước kia, anh và chị là vợ chồng. Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông. Anh đi lao động ở Đông Đức. Chị học Đại học Sư phạm Hà Nội. Ngày bức tường Berlin sụp đổ, anh chạy sang Tây Đức. Chị tốt nghiệp đại học và về làm giáo viên cấp 3 ở huyện Thái Thụy, Thái Bình.
Họ vẫn liên lạc và chờ đợi nhau.
Khi đã có giấy tờ cư trú hợp lệ, anh về cưới chị, rồi làm thủ tục đón chị sang Đức.
Vừa sang Đức, thấy bạn bè của anh đều thành đạt, đa số có nhà hàng, hay cửa tiệm buôn bán, chỉ có anh vẫn còn phụ bếp thuê cho người ta.
Chị trách anh vô dụng. Anh không nói gì, chỉ hơi buồn vì chị không hiểu rằng, để có đủ tiền lo thủ tục cho chị sang được đây, anh đã vất vả và tiết kiệm mấy năm trời, mà không dám bỏ tiền ra làm ăn.
''Đồ cù lần, đồ đàn ông vô dụng…”, đó là câu nói luôn miệng mà chị dành cho anh sau khi anh và chị có bé Hương.
Bé Hương sinh thiếu tháng, phải được nuôi bằng lồng kính đến hơn nửa năm mới về nhà. Khi bác sĩ thông báo cho vợ chồng anh chị biết bé Hương bị thiểu năng bẩm sinh, giông tố bắt đầu thực sự nổi lên. Chị trách anh: ''Một đứa con cũng không làm cho ra hồn, thì hỏi làm được gì chứ.''
Anh ngậm đắng, nuốt cay, nhận lỗi về mình và dồn hết tình thương cho đứa con gái xấu số.
Bé Hương được ba tuổi mà chưa biết nói. Cũng rất thương con, nhưng chị bận bịu làm ăn nên việc chăm sóc đứa bé hầu hết là do anh. Vì vậy mà con bé quấn quít bố hơn mẹ.
Biết vậy nên chị rất yên tâm và nhẹ nhõm nhường quyền nuôi dưỡng con bé cho anh khi làm thủ tục ly hôn.
Ly dị được gần một năm thì chị tái giá. Chị sinh thêm một đứa con trai với người chồng mới.
Bremen là thành phố nhỏ. Người Việt ở đó hầu như đều biết nhau. Chị cảm thấy khó chịu khi thỉnh thoảng bắt gặp cha con anh đi mua sắm trên phố.
Chị gặp anh và nói với anh điều đó. Anh thông cảm chị nên chuyển về Hamburg sinh sống.
Không phải là người vô tâm, thỉnh thoảng, chị gởi tiền cho anh nuôi dưỡng con. Trong những dịp năm mới hay Noël, chị cũng có quà riêng cho con bé. Nhiều năm, nếu có thời gian, chị còn đến tặng trực tiếp quà cho con bé trước ngày Lễ Giáng Sinh.
Giờ đây, con bé đã sắp trở thành thiếu nữ. Chị biết con bé lớn lên trong tật nguyền, nhưng anh rất thương nó. Chị cũng biết con bé gặp vấn đề trong giao tiếp, phải đi học trường khuyết tật. Nhưng nó rất ngoan. Anh cũng không phải vất vả vì nó nhiều. Nó bị bệnh thiểu năng, trí tuệ hạn chế, phát âm khó khăn. Tuy vậy, nó vẫn biết tự chăm sóc mình trong sinh hoạt cá nhân. Thậm chí nó còn biết giúp anh một số công việc lặt vặt trong nhà.
Chồng chị đồng ý cho chị đón con bé về tạm sống vài tháng với điều kiện: trong thời gian ấy, anh không được ghé thăm nó. Chị cũng muốn thế vì cảm thấy hổ thẹn khi phải tiếp xúc vẻ mặt đần đần, dài dại của anh.
Vợ chồng chị đã mua nhà rộng nên con bé được ở riêng một phòng. Chị xin cho con bé theo học tạm thời ở trường khuyết tật gần nhà. Con bé tự đi đến trường và tự về được. Ở nhà, nó cứ thui thủi trong phòng. Đứa em trai cùng mẹ với nó, mẹ nó và bố dượng nó rất ít khi quan tâm đến nó. Niềm vui duy nhất của nó là chờ điện thoại của bố. Nó phát âm không chuẩn và nói rất khó khăn nên hầu như nó chỉ nghe bố nói chuyện. Bố dặn dò nó rất nhiều và thỉnh thoảng còn hát cho nó nghe.
Em trai nó học thêm piano nên nhà mẹ nó có cái đàn piano rất đẹp để ở phòng khách. Có lần, nó sờ và bấm bấm vài nốt. Mẹ mắng nó và nói không được phá đàn của em. Nên, từ đó, nó không dám đụng đến đàn nữa. Có hôm, anh gọi điện thoại cho nó, nó nghèn nghẹn nói lỏm bỏm: ''Đàn... đàn…klavia…. con muốn…'' Anh bèn thở dài và hát cho nó nghe.
Tháng đầu, hầu như ngày nào anh cũng gọi điện thoại cho nó. Rồi thưa dần, thưa dần. Cho đến ngày nọ, anh không gọi cho nó nữa. Sau một tuần, không nghe anh gọi điện thoại, con bé bỏ ăn và nằm bẹp ở nhà, không đi học. Chị chẳng biết gì, cứ mắng nó dở chứng.
Một đêm, chị bỗng bật choàng dậy khi nghe tiếng đàn piano vang lên. Chị chạy ra phòng khách, thấy con bé đang ngồi đánh đàn say sưa. Nó vừa đánh, vừa hát thì thầm trong miệng. Chị cứ há hốc mồm, kinh ngạc. Chị không thể tưởng tượng nổi là con bé chơi piano điêu luyện như vậy. Chị chợt nhớ ra là có lần anh nói với chị rằng con bé học đàn piano ở trường khuyết tật, cô giáo khen con bé có năng khiếu. Lần đó, tưởng anh kể chuyện để lấy lòng chị nên chị không quan tâm.
Chị đến gần sau lưng nó và lặng lẽ ngắm nhìn nó đánh đàn. Chị cúi xuống, lắng nghe con bé hát thầm thì cái gì. Chị sởn cả da gà khi nghe con bé hát rõ ràng từng tiếng một, mà lại bằng tiếng Việt hẳn hoi: “…Nhớ những năm xa xưa ngày cha đã già với bao sầu lo…sống với cha êm như làn mây trắng…nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con….với tháng năm nhanh tựa gió.....ôi cha già đi cha biết không…”
Chị choàng tay ra trước cổ nó và nhẹ níu, ôm nó vào lòng. Lần đầu tiên, chị ôm nó âu yếm như vậy. Chị thấy tay mình âm ấm. Nó ngừng đàn, đưa tay lên ôm riết tay mẹ vào lòng ngực. Nó khóc. Chị xoay vai nó lại, nhìn vào khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nó. Nó chìa cho chị một tờ giấy khổ A4 đã gần như nhàu nát. Chị cầm tờ giấy và chăm chú đọc, rồi thở hắt ra, nhìn nó và hỏi: ''Con biết bố con bị ung thư lâu chưa?'' Nó chìa bốn ngón tay ra trước mặt mẹ.
Chị hỏi: ''Bốn tháng rồi hả?'' Nó gật đầu.
Chị nhìn chăm chăm vào tờ giấy và, từ từ ngồi thụp xuống nền nhà, rũ rượi, thở dài. Con bé hốt hoảng, đến bên mẹ, ôm mẹ vào lòng, vuốt mặt mẹ rồi, vừa ấp úng, vừa ra hiệu cho mẹ. Đại ý là nó diễn đạt rằng: Bố lên ở trên Thiên Đường rồi, mẹ yên tâm, con đã xin vào nội trú ở trường dưới Hamburg. Ngày mai, con sẽ về dưới đó, con không ở lại đây lâu để làm phiền mẹ và em đâu! Con về ở tạm đây là vì bố muốn thế, bố muốn mình ra đi được nhẹ nhàng và yên tâm là có mẹ ở bên con.”
Chị cũng ôm nó vào lòng, vỗ vỗ vào vai nó và nói: ''Con gái ngoan của mẹ, ngày mai, nếu mẹ sắp xếp được công việc, mẹ sẽ đưa con về Hamburg….''
Lời kết:
Tôi nghe người ta kể lại câu chuyện đó khi dự cuộc biểu diễn nghệ thuật của học sinh khuyết tật và khiếm thị. Khi thấy em gái đệm đàn piano cho dàn đồng ca, cứ khăng khăng đòi phải đàn và hát bài “Người Cha Yêu Dấu” bằng tiếng Việt trước, sau đó mới chịu đệm đàn cho dàn đồng ca tiếng Đức. Quá kinh ngạc, nên tôi cứ gạn hỏi mãi người trong ban tổ chức. Cuối cùng, họ kể cho tôi nghe câu chuyện như vậy.
Câu chuyện đơn giản, không nhiều tình tiết, đã lấy đi nước mắt của nhiều người đọc. Tôi hình dung cảnh người cha Việt Nam gầy ốm, bệnh hoạn và đứa con gái tật nguyền tội nghiệp của anh trên đất khách quê người.
Tôi thấy được hình ảnh đứa con gái tưởng nhớ người cha - mà em biết đã mất rồi – qua tiếng đàn piano. Tiếng đàn ấy đau đớn biết bao. Tôi nghe được cả lời ca nghẹn ngào của em ...
''Nhớ những năm xa xưa, ngày cha đã già với bao sầu lo…sống với cha êm như làn mây trắng…nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con….với tháng năm nhanh tựa gió.. ôi cha già đi cha biết không…''
Nguyễn Đại Hoàng
Ngày nọ, anh hẹn chị ra quán cà phê trước nhà ga chính của thành phố Bremen
Chị nói ra vẻ bực bội:
- Ông lại bán xe rồi hay sao mà đi tàu lên đây?
Anh cúi đầu, trả lời lí nhí, hổ thẹn:
-- Ừ... thì bán rồi! Vì cũng không cần nó lắm!
Chị sầm mặt xuống:
- Ông lúc nào cũng vậy! Suốt đời, không ngóc đầu lên được! Hẹn tôi ra đây, có chuyện gì vậy?
Khó khăn lắm anh mới có thể nói với chị điều mà anh muốn nhờ chị. Chị cũng khó khăn lắm mới có thể từ chối anh:
- Nhưng mà gia đình tôi đang yên lành! Nếu đưa con bé về, e sẽ chẳng còn được bình yên nữa!
Anh năn nỉ và nói:
-- Con bé đã đến tuổi dậy thì. Anh là đàn ông, không thể gần gũi và dạy dỗ nó chu đáo được. Anh chưa bao giờ cầu xin em điều gì, chỉ lần này thôi, giúp anh nửa năm hay vài ba tháng cũng được. Là phụ nữ, em gần nó, hướng dẫn và khuyên bảo nó trong một thời gian để nó tập làm quen với cuộc sống thiếu nữ. Sau đó, anh lại đón nó về.
Chị thở dài:
- Ông lúc nào cũng mang xui xẻo đến cho tôi! Thôi, được rồi, ông về đi, để tôi bàn lại với chồng tôi đã. Có gì, tôi sẽ gọi điện thông báo cho ông sau.
Anh nhìn chị với ánh mắt biết ơn, rồi đứng dậy, cúi đầu xuống như có lỗi, tiễn chị ra xe, thở dài, lủi thủi bước vào nhà ga để trở về Hamburg.
Trước kia, anh và chị là vợ chồng. Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông. Anh đi lao động ở Đông Đức. Chị học Đại học Sư phạm Hà Nội. Ngày bức tường Berlin sụp đổ, anh chạy sang Tây Đức. Chị tốt nghiệp đại học và về làm giáo viên cấp 3 ở huyện Thái Thụy, Thái Bình.
Họ vẫn liên lạc và chờ đợi nhau.
Khi đã có giấy tờ cư trú hợp lệ, anh về cưới chị, rồi làm thủ tục đón chị sang Đức.
Vừa sang Đức, thấy bạn bè của anh đều thành đạt, đa số có nhà hàng, hay cửa tiệm buôn bán, chỉ có anh vẫn còn phụ bếp thuê cho người ta.
Chị trách anh vô dụng. Anh không nói gì, chỉ hơi buồn vì chị không hiểu rằng, để có đủ tiền lo thủ tục cho chị sang được đây, anh đã vất vả và tiết kiệm mấy năm trời, mà không dám bỏ tiền ra làm ăn.
''Đồ cù lần, đồ đàn ông vô dụng…”, đó là câu nói luôn miệng mà chị dành cho anh sau khi anh và chị có bé Hương.
Bé Hương sinh thiếu tháng, phải được nuôi bằng lồng kính đến hơn nửa năm mới về nhà. Khi bác sĩ thông báo cho vợ chồng anh chị biết bé Hương bị thiểu năng bẩm sinh, giông tố bắt đầu thực sự nổi lên. Chị trách anh: ''Một đứa con cũng không làm cho ra hồn, thì hỏi làm được gì chứ.''
Anh ngậm đắng, nuốt cay, nhận lỗi về mình và dồn hết tình thương cho đứa con gái xấu số.
Bé Hương được ba tuổi mà chưa biết nói. Cũng rất thương con, nhưng chị bận bịu làm ăn nên việc chăm sóc đứa bé hầu hết là do anh. Vì vậy mà con bé quấn quít bố hơn mẹ.
Biết vậy nên chị rất yên tâm và nhẹ nhõm nhường quyền nuôi dưỡng con bé cho anh khi làm thủ tục ly hôn.
Ly dị được gần một năm thì chị tái giá. Chị sinh thêm một đứa con trai với người chồng mới.
Bremen là thành phố nhỏ. Người Việt ở đó hầu như đều biết nhau. Chị cảm thấy khó chịu khi thỉnh thoảng bắt gặp cha con anh đi mua sắm trên phố.
Chị gặp anh và nói với anh điều đó. Anh thông cảm chị nên chuyển về Hamburg sinh sống.
Không phải là người vô tâm, thỉnh thoảng, chị gởi tiền cho anh nuôi dưỡng con. Trong những dịp năm mới hay Noël, chị cũng có quà riêng cho con bé. Nhiều năm, nếu có thời gian, chị còn đến tặng trực tiếp quà cho con bé trước ngày Lễ Giáng Sinh.
Giờ đây, con bé đã sắp trở thành thiếu nữ. Chị biết con bé lớn lên trong tật nguyền, nhưng anh rất thương nó. Chị cũng biết con bé gặp vấn đề trong giao tiếp, phải đi học trường khuyết tật. Nhưng nó rất ngoan. Anh cũng không phải vất vả vì nó nhiều. Nó bị bệnh thiểu năng, trí tuệ hạn chế, phát âm khó khăn. Tuy vậy, nó vẫn biết tự chăm sóc mình trong sinh hoạt cá nhân. Thậm chí nó còn biết giúp anh một số công việc lặt vặt trong nhà.
Chồng chị đồng ý cho chị đón con bé về tạm sống vài tháng với điều kiện: trong thời gian ấy, anh không được ghé thăm nó. Chị cũng muốn thế vì cảm thấy hổ thẹn khi phải tiếp xúc vẻ mặt đần đần, dài dại của anh.
Vợ chồng chị đã mua nhà rộng nên con bé được ở riêng một phòng. Chị xin cho con bé theo học tạm thời ở trường khuyết tật gần nhà. Con bé tự đi đến trường và tự về được. Ở nhà, nó cứ thui thủi trong phòng. Đứa em trai cùng mẹ với nó, mẹ nó và bố dượng nó rất ít khi quan tâm đến nó. Niềm vui duy nhất của nó là chờ điện thoại của bố. Nó phát âm không chuẩn và nói rất khó khăn nên hầu như nó chỉ nghe bố nói chuyện. Bố dặn dò nó rất nhiều và thỉnh thoảng còn hát cho nó nghe.
Em trai nó học thêm piano nên nhà mẹ nó có cái đàn piano rất đẹp để ở phòng khách. Có lần, nó sờ và bấm bấm vài nốt. Mẹ mắng nó và nói không được phá đàn của em. Nên, từ đó, nó không dám đụng đến đàn nữa. Có hôm, anh gọi điện thoại cho nó, nó nghèn nghẹn nói lỏm bỏm: ''Đàn... đàn…klavia…. con muốn…'' Anh bèn thở dài và hát cho nó nghe.
Tháng đầu, hầu như ngày nào anh cũng gọi điện thoại cho nó. Rồi thưa dần, thưa dần. Cho đến ngày nọ, anh không gọi cho nó nữa. Sau một tuần, không nghe anh gọi điện thoại, con bé bỏ ăn và nằm bẹp ở nhà, không đi học. Chị chẳng biết gì, cứ mắng nó dở chứng.
Một đêm, chị bỗng bật choàng dậy khi nghe tiếng đàn piano vang lên. Chị chạy ra phòng khách, thấy con bé đang ngồi đánh đàn say sưa. Nó vừa đánh, vừa hát thì thầm trong miệng. Chị cứ há hốc mồm, kinh ngạc. Chị không thể tưởng tượng nổi là con bé chơi piano điêu luyện như vậy. Chị chợt nhớ ra là có lần anh nói với chị rằng con bé học đàn piano ở trường khuyết tật, cô giáo khen con bé có năng khiếu. Lần đó, tưởng anh kể chuyện để lấy lòng chị nên chị không quan tâm.
Chị đến gần sau lưng nó và lặng lẽ ngắm nhìn nó đánh đàn. Chị cúi xuống, lắng nghe con bé hát thầm thì cái gì. Chị sởn cả da gà khi nghe con bé hát rõ ràng từng tiếng một, mà lại bằng tiếng Việt hẳn hoi: “…Nhớ những năm xa xưa ngày cha đã già với bao sầu lo…sống với cha êm như làn mây trắng…nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con….với tháng năm nhanh tựa gió.....ôi cha già đi cha biết không…”
Chị choàng tay ra trước cổ nó và nhẹ níu, ôm nó vào lòng. Lần đầu tiên, chị ôm nó âu yếm như vậy. Chị thấy tay mình âm ấm. Nó ngừng đàn, đưa tay lên ôm riết tay mẹ vào lòng ngực. Nó khóc. Chị xoay vai nó lại, nhìn vào khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nó. Nó chìa cho chị một tờ giấy khổ A4 đã gần như nhàu nát. Chị cầm tờ giấy và chăm chú đọc, rồi thở hắt ra, nhìn nó và hỏi: ''Con biết bố con bị ung thư lâu chưa?'' Nó chìa bốn ngón tay ra trước mặt mẹ.
Chị hỏi: ''Bốn tháng rồi hả?'' Nó gật đầu.
Chị nhìn chăm chăm vào tờ giấy và, từ từ ngồi thụp xuống nền nhà, rũ rượi, thở dài. Con bé hốt hoảng, đến bên mẹ, ôm mẹ vào lòng, vuốt mặt mẹ rồi, vừa ấp úng, vừa ra hiệu cho mẹ. Đại ý là nó diễn đạt rằng: Bố lên ở trên Thiên Đường rồi, mẹ yên tâm, con đã xin vào nội trú ở trường dưới Hamburg. Ngày mai, con sẽ về dưới đó, con không ở lại đây lâu để làm phiền mẹ và em đâu! Con về ở tạm đây là vì bố muốn thế, bố muốn mình ra đi được nhẹ nhàng và yên tâm là có mẹ ở bên con.”
Chị cũng ôm nó vào lòng, vỗ vỗ vào vai nó và nói: ''Con gái ngoan của mẹ, ngày mai, nếu mẹ sắp xếp được công việc, mẹ sẽ đưa con về Hamburg….''
Lời kết:
Tôi nghe người ta kể lại câu chuyện đó khi dự cuộc biểu diễn nghệ thuật của học sinh khuyết tật và khiếm thị. Khi thấy em gái đệm đàn piano cho dàn đồng ca, cứ khăng khăng đòi phải đàn và hát bài “Người Cha Yêu Dấu” bằng tiếng Việt trước, sau đó mới chịu đệm đàn cho dàn đồng ca tiếng Đức. Quá kinh ngạc, nên tôi cứ gạn hỏi mãi người trong ban tổ chức. Cuối cùng, họ kể cho tôi nghe câu chuyện như vậy.
Câu chuyện đơn giản, không nhiều tình tiết, đã lấy đi nước mắt của nhiều người đọc. Tôi hình dung cảnh người cha Việt Nam gầy ốm, bệnh hoạn và đứa con gái tật nguyền tội nghiệp của anh trên đất khách quê người.
Tôi thấy được hình ảnh đứa con gái tưởng nhớ người cha - mà em biết đã mất rồi – qua tiếng đàn piano. Tiếng đàn ấy đau đớn biết bao. Tôi nghe được cả lời ca nghẹn ngào của em ...
''Nhớ những năm xa xưa, ngày cha đã già với bao sầu lo…sống với cha êm như làn mây trắng…nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con….với tháng năm nhanh tựa gió.. ôi cha già đi cha biết không…''
Nguyễn Đại Hoàng

