Posted on Tuesday, December 27 @ 12:29:00 CET by webmaster

Nhạc Sĩ NGUYỄN HIỀN, con người hoạt động văn hóa chưa hề mỏi mệt.
Nguyễn Hiền quê quán ở Bắc Ninh, nhưng ông sinh ra tại “Hà Nội ba mươi sáu phố phường”, một Hà Nội cũ, ở khoảng đường Hàng Bông, nơi gọi là Cây Đa Cửa Quyền, so với Hà Nội mới là nơi có nhiều dinh thự và công sở của chế độ Pháp thuộc. Thế hệ của ông lớn lên trong tuổi mười tám đôi mươi vào thời điểm 1945, được gọi là thế hệ 1945, năm đánh đấu một sự thay đổi lớn của dân tộc.
Vào những năm trước đó, Nguyễn Hiền là một học sinh ban Tú Tài của Trường Bảo Hộ, sau này là Trường Bưởi, rồi Chu Văn An. Hồi đó trong chương trình trung học, mỗi tuần học sinh có một giờ học âm nhạc. Nguyễn Hiền đã sớm tỏ ra có năng khiếu về nhạc lý và được ông thầy nhạc là giáo sự Robert rất quí mến. Ông thầy nhạc này đã cho phép cậu học sinh Nguyễn Hiền đến học nhạc ở nhà ông và dạy cho cậu học trò những bước rất căn bản về ký âm pháp, xướng âm, viết chính tả âm nhạc bằng cách nghe giáo sư nhấn phím và viết lại trên khung nhạc những đơn âm, hợp âm. Có khi giáo sư nhấn cả mười ngón tay lên phím dương cầm và học sinh phải ghi lại hợp âm chùm này.
Nguyễn Hiền đã tỏ ra là một cậu học sinh có năng khiếu về âm nhạc, được thầy khen ngợi là có tương lai, và phần thưởng đầu tiên dành cho cậu học sinh này, là Thầy không nhận học phí và cho lui tới để học hỏi với Thầy. Tiếp đó, Nguyễn Hiền được trau dồi thêm về hòa âm, kỹ thuật sáng tác qua những sáng tác âm nhạc cổ điển của Bethoven. Mozart... Ca khúc đầu tay của Nguyễn Hiền khi ông mới mười tám tuổi là phổ một bài thơ mang tên “Người Em Nhỏ” của một người bạn là Thiệu Giang “tôi có người em nhỏ - xanh xanh đôi hàng mi...”
Được học hỏi âm nhạc một cách có căn bản từ ngày còn trẻ, Nguyễn Hiền lại thích làm quen, lui tới với các nhạc công chơi các ngón đàn cổ truyền, ông có cơ hội nghiên cứu nhạc cổ truyền đông phương, tìm hiểu về các loại nhạc chèo, hát ả đào, quan họ Bắc Ninh...
Năm 1946, Pháp trở lại Việt Nam, Việt Minh rút lên chiến khu Việt Bắc. Nhật tràn vào Đông Dương, Hà Nội vang dội tiếng bom của Đồng Minh và tiếng còi hụ báo động mỗi ngày. Trường Bưởi phải di tản vào Phúc Nhạc, Thanh Hóa. Như những thanh niên thời loạn lúc dó, Nguyễn Hiền cũng say mê theo tiếng gọi của đất nước lên đường kháng chiến chống Pháp.
Ngày đó trong hàng ngũ kháng chiến, ông là thành phần trí thức, biết đàn hát, lại có tài ăn nói, nên ít lâu sau, người ta giao cho ông nhiệm vụ làm thuyết trình viên về những đề tài chính trị. Nguyễn Hiền đã đi nhiều nơi, về những bản làng xa xuôi, vào những dịp này ông đã có dịp tìm hiểu về các loại nhạc dân tộc, những câu hò điệu hát để làm giàu thêm cho kiến thức về âm nhạc của ông.
Năm 1949, nhìn rõ bộ mặt thật của Cộng Sản và thấy lý tưởng của thanh niên yêu nước bị phản bội, Nguyễn Hiền qua sông Đuống về thành. Thoạt đầu, ông muốn ghi danh đi học Luật, nhưng bã công danh không thôi thúc ông bằng niềm say mê âm nhạc, ông lại muốn có cơ hội gần gũi với ngành nghề này hơn là nuôi giấc mộng làm quan. Năm 1950, ông là nhạc trưởng của ban nhạc tại Hotel de Paris, Hà Nội, một công việc tương đối thanh nhàn và hợp với sở thích của ông, cũng như chúng ta biết tới ông sau này, ông đã xử dụng thành thạo nhiều thứ đàn tây phương, từ phong cầm, vĩ cầm cho tới dương cầm... Tình hình chiến tranh càng ngày càng lan rộng và tăng cường độ, chính phủ bắt đầu động viên thanh niên vào quân đội để đáp ứng nhu cầu chiến trường. Nguyễn Hiền vốn là một nghệ sĩ, nhỏ người, ốm yếu, cân nặng chỉ có 46 kg, ông qua lọt được kỳ động viên vào khóa 1 Nam Định. Được biết tên ông có trong danh sách động viên vào khóa sĩ quan kế tiếp, một sĩ quan cao cấp vì mến tài âm nhạc của ông, đã giúp ông được trưng tập dưới hình thức động viên tại chỗ. Ông trở thành huấn luyện viên cho Ban Quân Nhạc vào thời ấy, là nhân viên của Phòng 5 (sau này là phòng Tâm Lý Chiến ở các đơn vị). Vào thời điểm di cư, ở đơn vị Phòng 5, Nguyễn Hiền và Canh Thân vì phải lo sắp xếp cho đồng bào vào Nam, vì vậy cho mãi đến ngày 4 tháng 9- 1954 hai ông nhạc sĩ này mới lên chuyến Dakota cuối cùng rời phi trường Gia Lâm.
Tại Saigon, đài Phát Thanh Quân Đội được thành lập và qui tụ một số rất đông nhạc và ca sĩ “di cư” thời ấy như Anh Ngọc, Nhật Bằng, Nguyễn Hiền, Văn Phụng, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Ngọc Bích... Phong trào sáng tác tân nhạc thịnh hành nhất vào thời ấy. Nhờ có hai đài phát thanh (Quân Đội và Quốc Gia), các nhạc phẩm vừa sáng tác đã được phổ biến đến quần chúng một cách mau lẹ, và các nhà xuất bản nhạc bản và các hãng dĩa lần lượt ra đời. Trong thời gian đầu, Đài Phát Thanh Quân Đội được tá túc dưới lầu của Đài Phát Thanh Quốc Gia và nhạc sĩ Nguyễn Hiền là trưởng ban chương trình, ca khúc “Về Đây Anh” ra đời trong giai đoạn này.
Nhạc sĩ Nguyễn Hiền rời quân đội năm 1956, và lần lượt làm việc tại các bộ Thông Tin, Chiêu Hồi và Xây Dựng Nông Thôn là các bộ ít nhiều có liên hệ tới văn hóa và chính trị. Phút chót, vào những ngày cuối tháng 4, ông là Phụ Tá Ban Chương Trình của Đài Truyền Hình Việt Nam. Trong thời quân đội thắng thế, các vị sĩ quan có chức vụ ở Đài cũng đã ra đi từ trước, nên chính ông là người có chức vụ cao nhất ở lại, bàn giao Đài Truyền Hình cho những người “bạn văn nghệ cũ ở phía bên kia” như Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Hoàng Mai Lưu... Sau một thời gian buộc ở lại Đài cho việc phát tuyến dành cho mục đích tuyên truyền của chính quyền mới khỏi bị gián đoạn, nhạc sĩ Nguyễn Hiền bị kết tội dính líu với tổ chức Phục Quốc và bị giam giữ trong thời gian hai năm từ 1978 đến 1980. Với giai đoạn tù đày này, nhạc sĩ Nguyễn Hiền tâm sự rằng trong khi cả nước đi tù, người không ở tù trong thì cũng ở tù ngoài, cho nên đối với ông, ba năm nầy không có gì đáng nói. Trong thời gian này, chính những người bạn văn nghệ miền Bắc cũng đã đứng đơn can thiệp cho nhạc sĩ Nguyễn Hiền nhưng không có kết quả, cuối cùng gia đình ông phải lo “thủ tục đầu tiên”, ông mới được về đoàn tụ với gia đình.
Cũng như bao nhiêu người miền Nam khác dưới chế độ Cộng Sản, nhạc sĩ Nguyễn Hiền cũng muốn rời bỏ quê hương, nhưng ông thú nhận rằng ông cũng mang lấy ba chữ Ngu, Nghèo và Nhát. Nghèo và Nhát thì người đời đã hiểu, nhưng có chữ Ngu là vì ông đã có kinh nghiệm với Cộng Sản và ít ra cũng hai lần, một lần vượt sông Đuống về thành và một lần di cư vào Nam. Ra đi bằng con đường chính thức thì tuy ông có một người con trai đầu du học tại tiểu bang Hawaii từ năm 1970, nhưng không vào quốc tịch, nên không thể bảo lãnh cho gia đình ông.
May mắn là trước 1975, có một thời gian, nhạc sĩ Nguyễn Hiền là “Công Cán Ủy Viên Đặc Trách Liên Lạc Với Các Tòa Đại Sứ” của Bộ Xây Dựng & Phát Triển Nông Thôn dưới thời Bộ Trưởng Nguyễn Văn Ngãi, nên ông có quen thân với Tùy Viên Văn Hóa Pháp. Chính ông này, sau năm 1975 đã gặp Nguyễn Hiền tại Thư Viện Văn Hóa Pháp ở Saigon và đã can thiệp xin cho ông và gia đình một giấy nhập cảnh vào Pháp, sau đó phối hợp với đơn bảo lãnh của cô em của Seattle, nhạc sĩ Nguyễn Hiền và gia đình mới được đến Mỹ năm 1988. Trong thời gian là công cán ủy viên ở Bộ XDPTNT, ông đã được đại diện Việt Nam Cộng Hòa, tham dự và thuyết trình trong Hội Nghị Phát Triển Á Châu tổ chức ở New York năm 1973 nên khi vào phỏng vấn, nhân lúc thông dịch viên công an vắng mặt, ông đã trình bày với viên chức di trú Hoa Kỳ về hoàn cảnh của ông và được chấp thuận đến Hoa Kỳ theo diện tỵ nạn.
Nhạc Sĩ Nguyễn Hiền lập gia đình năm 1953, ông bà sinh hạ được hai trai và ba gái, có sáu cháu nội ngoại. Các con của ông có người hiện ở Canada, Hawaii, còn lại thì gần gũi nơi đây. Hai ông bà Nguyễn Hiền sống với nhau rất hạnh phúc và vừa cử hành Lễ Vàng (50 năm thành hôn) năm 2003. Đó là một con người nghệ sĩ rất tài hoa, nhưng có một đời sống rất mẫu mực. Về việc này, nhạc sĩ Nguyễn Hiền khiêm nhường cho rằng, ranh giới giữa tốt và xấu chỉ có một bước, ông cám ơn cha mẹ, bằng hữu nhất là những người bạn lớn tuổi mà ông vẫn thường thích giao du đã cho ông những tấm gương sáng, tốt đẹp, có ảnh hưởng tới đời sống của ông Nhạc sĩ Nguyễn Hiền đã sáng tác hơn một trăm ca khúc, tuy nhiên ông cho rằng lượng không quan trọng, Đặng Thế Phong, Hoàng Giác... chỉ với một hai bản nhạc đã làm cho người đời và những người yêu nhạc nhớ mãi. Người ta biết đến Nguyễn Hiền nhiều với những bài nhạc nhạc phổ thơ như “Mái Tóc Dạ Hương” của Đinh Hùng, “Anh Cho Em Mùa Xuân” của Kim Tuấn...
Năm nay, người nhạc sĩ này đã được 80 tuổi đời nhưng ông vẫn còn lái được xe, không hề bệnh tật và luôn năng nổ hoạt động trong lãnh vực văn hóa. Hiện nhạc sĩ Nguyễn Hiền là Ủy Viên Văn Hóa & Nghệ Thuật của thành phố Westminster qua tám năm với bốn nhiệm kỳ, và là người châu Á duy nhất trong tổ chức này và trong Hội Đồng Cao Niên. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền còn là cố vấn “Hội Cao Niên Á Mỹ” và cố vấn “Hiệp Hội Di Sản Văn Hóa Hùng Vương”. Ông vừa tham dự Đại Hội Văn Hóa Tư Tưởng ở San José và thuyết trình đề tài “Triết Lý Âm Nhạc của Đông và Tây Phương....”
Không biết mệt mỏi, người ta thường gặp gỡ nhạc sĩ Nguyễn Hiền trong nhiều hoạt động văn hóa, có khi ông thuyết trình về một đề tài văn hóa, có khi ông xử dụng một nhạc khí nào đó trong ban nhạc. Nói về âm nhạc, nhạc sĩ Nguyễn Hiền cho rằng nhạc công cũng như ca sĩ phải học tập và có trình độ về nhạc lý trước, sau đó mới chọn lựa loại đàn xử dụng hay dùng giọng hát của mình để trình diễn (theo quan niệm của nhạc sĩ Hùng Lân, ca sĩ là một cây đàn sống, mà giây đàn chính là thanh quản của mình). Các bậc phụ huynh bây giờ thường nói là cho con học nhạc, nhưng là chỉ là để chơi một nhạc cụ, không phải là học âm nhạc.
Nhạc Sĩ Nguyễn Hiền có nhiều kiến thức về âm nhạc đông và tây phương, ông có thể xử dụng nhiều loại đàn như sáo, vĩ cầm, dương cầm, phong cầm...
Nhạc sĩ Nguyễn Hiền là một người có lòng với văn hóa, luôn đi tìm tòi, nghiên cứu cội nguồn và văn hóa của dân tộc, dùng làm đề tài thuyết trình hay viết thành những bài tham luận để chuyển lại cho người đời những kiến thức của ông... Sự hoạt động hăng say của ông khiến cho tôi tự đặt câu hỏi về người nhạc sĩ cao niên này, không biết đến bao giờ ông mới chịu “rửa tay gác kiếm”?
HUY PHƯƠNG
* Nhạc Sĩ Nguyễn Hiền đã qua đời vì bệnh ung thư phổi ngày 23 tháng 12/2005, tại thành phố Westminster, California (USA), chỉ sau 6 tuần bác sĩ phát giác ra bệnh trạng của ông. Ông hưởng thọ 79 tuổi. Tang lễ của Ông sẽ dược cử hành ngày 31/12/2005.


























