Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Khổng Tử thăm xóm Bưởi
Khổng Tử chu du thiên hạ, ghé qua xóm Bưởi, nơi người ngước Lỗ chạy lọan đến cư ngụ rất đông. Mỗi lần gặp người nước Lỗ , Khổng Tử đều xuống xe, ngả mũ chào.
Tử Lộ hỏi: “Người nước Lỗ có gì, khiến Thầy phải kính nể đến thế?”
Nhan Hồi đáp:”Người nước Lỗ bỏ nước chạy đến đây mà vẫn đánh giết nhau, không ai chịu ai, là người DŨNG. Ai cũng cho mình là Vua thiên hạ, là người có CHÍ lớn. Cứ ba người là có ba đảng, ba nhóm: người nước Lỗ quyết không bỏ cái tập quán bộ lạc thời tiền sử của tổ tiên, là người TRUNG. Người nước Lỗ có CHÍ, TRUNG, DŨNG, bảo thầy không kính nể sao được?”
Khổng Tử khen:” Học trò ta nhiều, nhưng đi guốc trong bụng ta, chỉ có Nhan Hồi.”
Nói rồi lên xe, cười tồ tồ mà đi./
Lời bàn Kim Thánh Thán
Ta bình sinh đọc sách thánh hiền nhiều, không thấy sách nào chép chuyện này. Lại có chỗ không ổn. Khổng Phu Tử là bậc đại hiền tài, ăn nói chững chạc, có đâu lại bảo học trò “đi guốc trong bụng” mình. Phu Tử chứ có phải Phu Gạo đâu mà “cười tồ tồ”?
Ta e ông Khổng Tử này là Khổng Tử giả. Người ta bịa chuyện để khuyên người nước Lỗ bỏ cái thói kèn cựa lẫn nhau. Người nước Lỗ bỏ nước chạy, đến tá túc xứ người vẫn giữ thói đâp phá nhau. Ai kém mình thì khinh, ai hơn mình thì phá . Ngồi khoanh tay không làm gì, ai làm thì chê bai.
Khổng Tử (thiệt) nói” người nước Sở mất cung, người nước Sở lượm được cung, có đi đâu mà thiệt”. Người nước Lỗ mất cung không tiếc, chì sợ người Lỗ khác lượm được. Người Lỗ thấy người ngoại quốc thành công thì xút xoa khâm phục, thấy người đồng hương thành công thì khổ sở, hậm hực. Người Lỗ có tài chịu đói khổ, đến độ coi bần hàn là đức hạnh, với điều kiện là không có người Lỗ khá giả hơn mình.
Nước Lỗ có người vì đại cuộc lao tù. Người nước khác ắt coi là anh hùng, người nước Lỗ lại nghi là đối lập cuội. Nằm tù một phần tư, một phần ba đời người để làm “khổ nhục kế”: ai nghe cũng cho là quái gở, người nước Lỗ lại cho là rất thuận tai.
Ta đi mòn gót giày, chưa thấy có dân nào kỳ dị như vậy, đúng là Nam Hải Dị Nhân.
Dân trí như vậy mà nước khá được, cổ kim chưa từng có.
Cái anh nào bịa chuyện trên, chắc là muốn răn đời. Nhưng người nước Lỗ thuộc loài cà cuống, chết đến đít còn cay. Khổng Tử (thiệt) nói gặp người đáng nói mà không nói là lỡ cơ hội., gặp người không đáng nói mà nói là phí lời. Người Lỗ còn thở thì cón phá nhau, nói cũng như nước đổ đầu vịt, ich gì ?
Lời bàn của kẻ hậu sinh
Đọc sách cổ, không gì thú hơn lời bàn của Kim Thánh Thán. Văn Thánh Thán sắc như dao, viết như đâm vào ruột gan người ta. Đọc Thánh Thán, ta hiểu người xưa, việc xưa hơn cả Sử Ký Tư Mã Thiên.
Có điều Kim Đại Nhân là người uyên bác, lẽ nào không biết rõ rằng người nước Lỗ là con rồng cháu tiên, làm gì có chuyện thối thân của loài cà cuống.
Thì ra cái ông Thánh Thán này cũng là Thánh Thán gỉa.
Hàng hóa giả, người giả, cả đến chữ nghĩa thánh hiền cũng giả. Đúng là thời đại loạn. Nhưng đó chỉ là chuyện người nước Lỗ, ta chỉ đọc chơi rồi bỏ, liên hệ gì mà bận tâm.
Trần Công Sung
Tử Lộ hỏi: “Người nước Lỗ có gì, khiến Thầy phải kính nể đến thế?”
Nhan Hồi đáp:”Người nước Lỗ bỏ nước chạy đến đây mà vẫn đánh giết nhau, không ai chịu ai, là người DŨNG. Ai cũng cho mình là Vua thiên hạ, là người có CHÍ lớn. Cứ ba người là có ba đảng, ba nhóm: người nước Lỗ quyết không bỏ cái tập quán bộ lạc thời tiền sử của tổ tiên, là người TRUNG. Người nước Lỗ có CHÍ, TRUNG, DŨNG, bảo thầy không kính nể sao được?”
Khổng Tử khen:” Học trò ta nhiều, nhưng đi guốc trong bụng ta, chỉ có Nhan Hồi.”
Nói rồi lên xe, cười tồ tồ mà đi./
Lời bàn Kim Thánh Thán
Ta bình sinh đọc sách thánh hiền nhiều, không thấy sách nào chép chuyện này. Lại có chỗ không ổn. Khổng Phu Tử là bậc đại hiền tài, ăn nói chững chạc, có đâu lại bảo học trò “đi guốc trong bụng” mình. Phu Tử chứ có phải Phu Gạo đâu mà “cười tồ tồ”?
Ta e ông Khổng Tử này là Khổng Tử giả. Người ta bịa chuyện để khuyên người nước Lỗ bỏ cái thói kèn cựa lẫn nhau. Người nước Lỗ bỏ nước chạy, đến tá túc xứ người vẫn giữ thói đâp phá nhau. Ai kém mình thì khinh, ai hơn mình thì phá . Ngồi khoanh tay không làm gì, ai làm thì chê bai.
Khổng Tử (thiệt) nói” người nước Sở mất cung, người nước Sở lượm được cung, có đi đâu mà thiệt”. Người nước Lỗ mất cung không tiếc, chì sợ người Lỗ khác lượm được. Người Lỗ thấy người ngoại quốc thành công thì xút xoa khâm phục, thấy người đồng hương thành công thì khổ sở, hậm hực. Người Lỗ có tài chịu đói khổ, đến độ coi bần hàn là đức hạnh, với điều kiện là không có người Lỗ khá giả hơn mình.
Nước Lỗ có người vì đại cuộc lao tù. Người nước khác ắt coi là anh hùng, người nước Lỗ lại nghi là đối lập cuội. Nằm tù một phần tư, một phần ba đời người để làm “khổ nhục kế”: ai nghe cũng cho là quái gở, người nước Lỗ lại cho là rất thuận tai.
Ta đi mòn gót giày, chưa thấy có dân nào kỳ dị như vậy, đúng là Nam Hải Dị Nhân.
Dân trí như vậy mà nước khá được, cổ kim chưa từng có.
Cái anh nào bịa chuyện trên, chắc là muốn răn đời. Nhưng người nước Lỗ thuộc loài cà cuống, chết đến đít còn cay. Khổng Tử (thiệt) nói gặp người đáng nói mà không nói là lỡ cơ hội., gặp người không đáng nói mà nói là phí lời. Người Lỗ còn thở thì cón phá nhau, nói cũng như nước đổ đầu vịt, ich gì ?
Lời bàn của kẻ hậu sinh
Đọc sách cổ, không gì thú hơn lời bàn của Kim Thánh Thán. Văn Thánh Thán sắc như dao, viết như đâm vào ruột gan người ta. Đọc Thánh Thán, ta hiểu người xưa, việc xưa hơn cả Sử Ký Tư Mã Thiên.
Có điều Kim Đại Nhân là người uyên bác, lẽ nào không biết rõ rằng người nước Lỗ là con rồng cháu tiên, làm gì có chuyện thối thân của loài cà cuống.
Thì ra cái ông Thánh Thán này cũng là Thánh Thán gỉa.
Hàng hóa giả, người giả, cả đến chữ nghĩa thánh hiền cũng giả. Đúng là thời đại loạn. Nhưng đó chỉ là chuyện người nước Lỗ, ta chỉ đọc chơi rồi bỏ, liên hệ gì mà bận tâm.
Trần Công Sung
Công Lý Thời Xưa Khác Với Thời Nay ?
Đạo Chích Tử hành nghề chẳng khéo, chẳng may bị tống ngục. Trong ngục, còn thở than:
- Ngài Cai Ngục ơi, sao nỡ giam giữ, hành hạ tôi? Có Trời làm chứng, tôi bị xử thế này là bất công lắm.
Cai Ngục liền mắng:
- Thằng Đạo chích kia, mày là đứa chây lười, ăn không ngồi rồi, làm chuyện càn rỡ, lấy của người làm của mình, ai nấy đều khinh ghét, nay tống vào đây, thật phải lẽ, còn kêu ca nỗi gì?
- Cai Ngục ơi, ngài bảo tôi thế thật oan ức lắm. Nếu đêm ngày tôi chẳng vắt óc tìm tòi, học hỏi công phu, chẳng nề gian khổ, thời làm gì có được miếng nuôi mồm; sao lại bảo là đứa chây lười? Còn trong thiên hạ, bao kẻ đầu trộm, đuôi cướp, giết người; so với họ, thời cái càn rỡ của tôi chẳng khác hồng mao sánh với Thái Sơn, song người đời chẳng những chớ hề khinh ghét họ, lại còn nức tiếng xưng tụng, khen lao. Thực chất chẳng qua chỉ nhờ những chuyện càn rỡ ấy họ khéo làm giữa ban ngày thôi.
Cai Ngục nạt ngang:
- Thằng Đạo Chích kia, nay tù tội, đã chẳng biết thân, còn già họng dạy đời ư? Ai là kẻ nhờ khéo làm chuyện càn rỡ giữa ban ngày mà được khen lao, xưng tụng bao giờ? Nếu chẳng khôn hồn mà biện luận cho minh, thời đừng trách ta sẽ lệnh cho lý hình bẻ răng.
- Tôi ít chữ, chẳng biết thế nào là biện luận cho minh, chỉ thấy sao nói vậy. Nay thử lấy chuyện này: Xưa có kẻ họ Thương, hành nghề buôn bán, lại chuyên lọc lừa, mua một nói mười, ăn không nói có, có hơn gì trộm cắp? Thế mà một khi giầu sang, lại được người đua gọi Đại Phú Ông, có phải mắng là thằng, chửi là nó, hay tù tội ngày nào? Chẳng qua chỉ là khéo ăn trộm giữa ban ngày thời được làm Ông?
Cai Ngục cười nhếch:
Họ Thương biết ăn nói, ắt là có học; lại ăn nói khéo, khiến được người phải bỏ tiền ra, ấy cũng là cái dụng của học vậy. Nhờ thế mà giầu, sao gọi là ăn cắp? Chẳng như mày, rõ quân vô học, vô dụng, bì thế nào với họ Thương được? Mày biện luận như thế là chẳng minh đó.
- Thế thì xin lấy chuyện khác: Xưa có kẻ họ Phu, rặt thói tham ô, lấy mồ hôi nước mắt lương dân làm của mình, có khác nào quân cướp bóc; thế mà, vẫn một đời được tôn là dân chi phụ mẫu, dễ có gông cùm nào động được dến hình hài? Thế có phải khéo ăn cướp giữa ban ngày thời được làm quan không?
Cai Ngục cười khẩy:
- Họ Phu ở cái thế lực mạnh, tài cao, tất có người tự nguyện biếu xén, chẳng qua cũng để tỏ cái lòng thành đối với kẻ có đức, có tài, sao gọi là ăn cướp? Chẳng như mày, rõ hạng bất lực, bất tài, so thế nào với họ Phu được? Mày biện luận như thế, lại càng hồ đồ đó.
- Thôi thời xin lấy chuyện khác: Xưa có kẻ họ Quân, cực kỳ hôn bạo, lấy xương máu cả thiên hạ làm của mình, còn hơn cả phường đạo tặc; thế mà trăm họ vẫn thờ làm Thiên Tử, dễ có tiếng nào chê bai, trách móc? Thế lại còn chả phải khéo giết người giữa ban ngày thời được làm Vua ư?
Cai Ngục cười gằn:
- Họ Quân là bậc mưu dõng hơn người. Phỏng như mưu không cao, dõng không lớn, sao ngồi chỗ ấy được? Lại con giòng cháu giõi, vinh hiển là lẽ đương nhiên. Nay ngôi đã cao, thân đã quý, lại không muốn chuốc lấy hiểm họa, thời phải pháp trị cho nghiêm, chớ nào gọi là giết người? Chẳng như mày, rõ loài thiểu mưu, thiểu dõng, sánh thế nào với họ Quân được? Mày biện luận như thế, thời bẻ răng là phải lắm.
- Than ơi, cái công lý ở cửa mồm các ngài cai ngục đều là thế cả. Thôi thì răng tôi cầm bằng như phải bẻ sạch rồi.
Cai Ngục mới thở dài, dịu giọng:
- Thằng Đạo Chích kia, lẽ ra đã lệnh cho bẻ răng mày, nhưng may cho mày cũng là đứa biết đôi điều thưa gởi, lại khéo rành chuyện đời xưa, nên ta tha tội cho; song le nghĩ kỹ, thời phải xẻo lưỡi mày, bởi lẽ chưa chừng mày cũng tỏ cả chuyện đời sau nữa, mà ta thì sắp qui tiên rồi, biết lấy ai bác bẻ cho được cái hàm hồ chi xảo thiệt của mày ?
Thế là Đạo Chích Tử phải xẻo lưỡi. Biết thế hắn đã chẳng thèm mở mồm than thở làm chi.
Bùi Hoằng Vị
- Ngài Cai Ngục ơi, sao nỡ giam giữ, hành hạ tôi? Có Trời làm chứng, tôi bị xử thế này là bất công lắm.
Cai Ngục liền mắng:
- Thằng Đạo chích kia, mày là đứa chây lười, ăn không ngồi rồi, làm chuyện càn rỡ, lấy của người làm của mình, ai nấy đều khinh ghét, nay tống vào đây, thật phải lẽ, còn kêu ca nỗi gì?
- Cai Ngục ơi, ngài bảo tôi thế thật oan ức lắm. Nếu đêm ngày tôi chẳng vắt óc tìm tòi, học hỏi công phu, chẳng nề gian khổ, thời làm gì có được miếng nuôi mồm; sao lại bảo là đứa chây lười? Còn trong thiên hạ, bao kẻ đầu trộm, đuôi cướp, giết người; so với họ, thời cái càn rỡ của tôi chẳng khác hồng mao sánh với Thái Sơn, song người đời chẳng những chớ hề khinh ghét họ, lại còn nức tiếng xưng tụng, khen lao. Thực chất chẳng qua chỉ nhờ những chuyện càn rỡ ấy họ khéo làm giữa ban ngày thôi.
Cai Ngục nạt ngang:
- Thằng Đạo Chích kia, nay tù tội, đã chẳng biết thân, còn già họng dạy đời ư? Ai là kẻ nhờ khéo làm chuyện càn rỡ giữa ban ngày mà được khen lao, xưng tụng bao giờ? Nếu chẳng khôn hồn mà biện luận cho minh, thời đừng trách ta sẽ lệnh cho lý hình bẻ răng.
- Tôi ít chữ, chẳng biết thế nào là biện luận cho minh, chỉ thấy sao nói vậy. Nay thử lấy chuyện này: Xưa có kẻ họ Thương, hành nghề buôn bán, lại chuyên lọc lừa, mua một nói mười, ăn không nói có, có hơn gì trộm cắp? Thế mà một khi giầu sang, lại được người đua gọi Đại Phú Ông, có phải mắng là thằng, chửi là nó, hay tù tội ngày nào? Chẳng qua chỉ là khéo ăn trộm giữa ban ngày thời được làm Ông?
Cai Ngục cười nhếch:
Họ Thương biết ăn nói, ắt là có học; lại ăn nói khéo, khiến được người phải bỏ tiền ra, ấy cũng là cái dụng của học vậy. Nhờ thế mà giầu, sao gọi là ăn cắp? Chẳng như mày, rõ quân vô học, vô dụng, bì thế nào với họ Thương được? Mày biện luận như thế là chẳng minh đó.
- Thế thì xin lấy chuyện khác: Xưa có kẻ họ Phu, rặt thói tham ô, lấy mồ hôi nước mắt lương dân làm của mình, có khác nào quân cướp bóc; thế mà, vẫn một đời được tôn là dân chi phụ mẫu, dễ có gông cùm nào động được dến hình hài? Thế có phải khéo ăn cướp giữa ban ngày thời được làm quan không?
Cai Ngục cười khẩy:
- Họ Phu ở cái thế lực mạnh, tài cao, tất có người tự nguyện biếu xén, chẳng qua cũng để tỏ cái lòng thành đối với kẻ có đức, có tài, sao gọi là ăn cướp? Chẳng như mày, rõ hạng bất lực, bất tài, so thế nào với họ Phu được? Mày biện luận như thế, lại càng hồ đồ đó.
- Thôi thời xin lấy chuyện khác: Xưa có kẻ họ Quân, cực kỳ hôn bạo, lấy xương máu cả thiên hạ làm của mình, còn hơn cả phường đạo tặc; thế mà trăm họ vẫn thờ làm Thiên Tử, dễ có tiếng nào chê bai, trách móc? Thế lại còn chả phải khéo giết người giữa ban ngày thời được làm Vua ư?
Cai Ngục cười gằn:
- Họ Quân là bậc mưu dõng hơn người. Phỏng như mưu không cao, dõng không lớn, sao ngồi chỗ ấy được? Lại con giòng cháu giõi, vinh hiển là lẽ đương nhiên. Nay ngôi đã cao, thân đã quý, lại không muốn chuốc lấy hiểm họa, thời phải pháp trị cho nghiêm, chớ nào gọi là giết người? Chẳng như mày, rõ loài thiểu mưu, thiểu dõng, sánh thế nào với họ Quân được? Mày biện luận như thế, thời bẻ răng là phải lắm.
- Than ơi, cái công lý ở cửa mồm các ngài cai ngục đều là thế cả. Thôi thì răng tôi cầm bằng như phải bẻ sạch rồi.
Cai Ngục mới thở dài, dịu giọng:
- Thằng Đạo Chích kia, lẽ ra đã lệnh cho bẻ răng mày, nhưng may cho mày cũng là đứa biết đôi điều thưa gởi, lại khéo rành chuyện đời xưa, nên ta tha tội cho; song le nghĩ kỹ, thời phải xẻo lưỡi mày, bởi lẽ chưa chừng mày cũng tỏ cả chuyện đời sau nữa, mà ta thì sắp qui tiên rồi, biết lấy ai bác bẻ cho được cái hàm hồ chi xảo thiệt của mày ?
Thế là Đạo Chích Tử phải xẻo lưỡi. Biết thế hắn đã chẳng thèm mở mồm than thở làm chi.
Bùi Hoằng Vị
Tâm Sự của Chim và Người
Trên thân thể tôi có một thứ rất dư thừa. Đó là đôi cánh. Thượng Đế cho loài chim chúng tôi đôi cánh. Người cho chúng tôi cái lồng. Thế mới có chuyện dư thừa. Trong những lúc đăm chiêu suy ngẫm, tôi tự hỏi mãi: đôi cánh, cái lồng, thứ nào dư thừa hơn thứ nào?
Phải thành thực mà nói, mới nhìn thoáng qua thì cái lồng tôi ở cũng đẹp lắm. Lồng được sơn bóng một màu đỏ rực rỡ. Mái lồng kiểu Lạng Sơn cong cong như mái đình, pha lẫn nét chạm trổ của Trung Quốc. Trong lồng có ba cái lọ sành bé tí đựng thức ăn, thức uống. Chỉ có tôi mới biết được đằng sau nước sơn bóng loáng đó những thanh tre đã rã mục. Chỉ có tôi mới biết là ba cái lọ sành Liên Xô đã lên mốc bên trong. Từ cái lồng nhìn ra là một khoảnh vườn đầy dây leo. Cố rướn người lắm tôi mới thấy được khoảng trời xanh xanh. Còn phía sau lồng thì lúc nào cũng tối âm u. Và lạnh lẽo.
Tôi chỉ biết hót nhưng không biết nói. Tôi cũng muốn nói lắm chứ. Như con két nhà bên cạnh. Nhưng tôi mới thử được vài câu thì con mèo màu xanh ô liu lại nhảy xổ đến nhe răng gầm gừ hăm dọa. Con mèo xấu xí là cục cưng trung thành của Người, cái trung thành được tưởng thưởng bằng một tách sữa mỗi sáng. Thế là tôi im. Dù thỉnh thoảng đêm tối vắng vẻ tôi cũng thì thầm vài tiếng cho khỏi quên tiếng nói. Thế nhưng tôi vẫn biết rằng với thân phận của mình thì làm gì có được một lời nói giá trị hay ý nghĩa. Từ lúc sinh ra đến giờ tôi chỉ biết nhái lại từ ngữ của Người chớ có bao giờ nói được tiếng nói của Người đâu.
***
Tôi đi làm về thì con sáo đã sổ lồng bay mất. Thường ngày tôi vẫn không để ý đến con sáo đen đủi này nhưng bây giờ nhìn cái lồng mở cửa, vắng bóng tiếng hót của nó tôi lại thấy thiêu thiếu. Cái lồng trống không làm cả căn phòng trống vắng. Con mèo màu ô liu vẫn gầm gừ muốn nhảy xổ lên chiếc lồng như một thói quen tiền kiếp. Lần đầu tiên, tôi thấy nét độc ác của con mèo màu xanh ô liu.
Ba hôm sau, ngày cuối tuần, giữa tiếng ve sầu buồn bã bỗng có tiếng hót của con sáo vang lên từ trên tàng phượng vĩ sau vườn. Tiếng con sáo giữa trưa hè nghe buồn thảm, đứt đoạn như đứa con đi hoang trở về, thấp thỏm, lưỡng lự trước hiên nhà. Rồi sáo lại bay đi. Trưa hôm sau, sáo lại về hót điệu buồn thảm, đứt đoạn trên tàng phượng vĩ. Tôi đem cái lồng ra sơn phết lại, thay ba cái lọ sành Liên Xô bằng bộ tách Trung Quốc rẻ tiền. Trên tàng phượng vĩ, con sáo vẫn cất giọng hót buồn thảm, đứt đoạn. Rồi sáo lại bay đi.
Ba tháng sau, đi làm về, tôi thấy con sáo cúi đầu ủ rũ trong lồng.
***
Tôi đã biết tại sao Thượng Đế ban cho tôi đôi cánh. Tôi đã biết tại sao Thượng Đế tạo nên bầu trời cao xanh. Tôi đã biết thế giới ra sao phía bên ngoài khoảnh vườn u tối. Tôi đã biết cảm giác lâng lâng, kỳ diệu khi xoải cánh bay cao trên tàng phượng vĩ lung linh nắng. Vậy mà tôi vẫn trở về. Và tôi không làm sao biết được rõ ràng lý do trở về của mình. Phải chăng tôi cảm thấy quen lì với cuộc đời tù hãm? Phải chăng tôi sợ đến ngộp thở trước mênh mông của hương trời? Hay từ trong giam cầm của định mệnh, cuộc đời tôi đã thuộc về cái góc xó tối tăm này?
Con két nhà bên lại ồn ào nhái giọng tiếng Người. Con mèo ô liu hung dữ lại gầm gừ qua lại như một hăm dọa thầm kín. Tôi đập nhẹ đôi cánh, rướn người nhìn ra khung trời xanh bé tí đằng sau khoảnh vườn.
Lê Huyền An
Phải thành thực mà nói, mới nhìn thoáng qua thì cái lồng tôi ở cũng đẹp lắm. Lồng được sơn bóng một màu đỏ rực rỡ. Mái lồng kiểu Lạng Sơn cong cong như mái đình, pha lẫn nét chạm trổ của Trung Quốc. Trong lồng có ba cái lọ sành bé tí đựng thức ăn, thức uống. Chỉ có tôi mới biết được đằng sau nước sơn bóng loáng đó những thanh tre đã rã mục. Chỉ có tôi mới biết là ba cái lọ sành Liên Xô đã lên mốc bên trong. Từ cái lồng nhìn ra là một khoảnh vườn đầy dây leo. Cố rướn người lắm tôi mới thấy được khoảng trời xanh xanh. Còn phía sau lồng thì lúc nào cũng tối âm u. Và lạnh lẽo.
Tôi chỉ biết hót nhưng không biết nói. Tôi cũng muốn nói lắm chứ. Như con két nhà bên cạnh. Nhưng tôi mới thử được vài câu thì con mèo màu xanh ô liu lại nhảy xổ đến nhe răng gầm gừ hăm dọa. Con mèo xấu xí là cục cưng trung thành của Người, cái trung thành được tưởng thưởng bằng một tách sữa mỗi sáng. Thế là tôi im. Dù thỉnh thoảng đêm tối vắng vẻ tôi cũng thì thầm vài tiếng cho khỏi quên tiếng nói. Thế nhưng tôi vẫn biết rằng với thân phận của mình thì làm gì có được một lời nói giá trị hay ý nghĩa. Từ lúc sinh ra đến giờ tôi chỉ biết nhái lại từ ngữ của Người chớ có bao giờ nói được tiếng nói của Người đâu.
***
Tôi đi làm về thì con sáo đã sổ lồng bay mất. Thường ngày tôi vẫn không để ý đến con sáo đen đủi này nhưng bây giờ nhìn cái lồng mở cửa, vắng bóng tiếng hót của nó tôi lại thấy thiêu thiếu. Cái lồng trống không làm cả căn phòng trống vắng. Con mèo màu ô liu vẫn gầm gừ muốn nhảy xổ lên chiếc lồng như một thói quen tiền kiếp. Lần đầu tiên, tôi thấy nét độc ác của con mèo màu xanh ô liu.
Ba hôm sau, ngày cuối tuần, giữa tiếng ve sầu buồn bã bỗng có tiếng hót của con sáo vang lên từ trên tàng phượng vĩ sau vườn. Tiếng con sáo giữa trưa hè nghe buồn thảm, đứt đoạn như đứa con đi hoang trở về, thấp thỏm, lưỡng lự trước hiên nhà. Rồi sáo lại bay đi. Trưa hôm sau, sáo lại về hót điệu buồn thảm, đứt đoạn trên tàng phượng vĩ. Tôi đem cái lồng ra sơn phết lại, thay ba cái lọ sành Liên Xô bằng bộ tách Trung Quốc rẻ tiền. Trên tàng phượng vĩ, con sáo vẫn cất giọng hót buồn thảm, đứt đoạn. Rồi sáo lại bay đi.
Ba tháng sau, đi làm về, tôi thấy con sáo cúi đầu ủ rũ trong lồng.
***
Tôi đã biết tại sao Thượng Đế ban cho tôi đôi cánh. Tôi đã biết tại sao Thượng Đế tạo nên bầu trời cao xanh. Tôi đã biết thế giới ra sao phía bên ngoài khoảnh vườn u tối. Tôi đã biết cảm giác lâng lâng, kỳ diệu khi xoải cánh bay cao trên tàng phượng vĩ lung linh nắng. Vậy mà tôi vẫn trở về. Và tôi không làm sao biết được rõ ràng lý do trở về của mình. Phải chăng tôi cảm thấy quen lì với cuộc đời tù hãm? Phải chăng tôi sợ đến ngộp thở trước mênh mông của hương trời? Hay từ trong giam cầm của định mệnh, cuộc đời tôi đã thuộc về cái góc xó tối tăm này?
Con két nhà bên lại ồn ào nhái giọng tiếng Người. Con mèo ô liu hung dữ lại gầm gừ qua lại như một hăm dọa thầm kín. Tôi đập nhẹ đôi cánh, rướn người nhìn ra khung trời xanh bé tí đằng sau khoảnh vườn.
Lê Huyền An
Ám ảnh Tiền Đường
Ai đã một lần đọc Truyện Kiều ắt hẳn không quên được hình ảnh con sông Tiền Đường dù nó chỉ là tên một con sông như bao con sông khác của đất nước Trung Quốc. Con sông gắn với tuổi thơ, gắn với hồi ức của người già, gắn với niềm nhớ thương của người xa xứ… Hình như ai cũng có ký ức về dòng sông. Sông đi vào thi ca và quả thật thi ca đã làm cho dòng sông trở nên lung linh diễm lệ trong con mắt của bao người.
Sông Tiền Đường xuất hiện trong Truyện Kiều không nhiều nhưng nó là điểm nhấn khiến người đọc phải chú ý. Sông Tiền Đường trong báo mộng của Đạm Tiên, trong sự cứu vớt Kiều của Tam Hợp đạo cô và Giác Duyên, trong lời kể của một người nào đó ở đất Hàng Châu…Có tất cả sáu câu:
- Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau
- Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường
- Tiền Đường thả một bè lau cứu người
- Lân la tìm thú bên sông Tiền Đường
- Sông Tiền Đường đó ấy mồ hồng nhan
- Lâm Truy buổi trước, Tiền Đường buổi sau
Câu nào cũng nói lên số phận nàng Kiều, trong đó có 3 câu khẳng định rõ rệt: Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau/ Sông Tiền Đường đó ấy mồ hồng nhan/ Lâm Truy buổi trước, Tiền Đường buổi sau. Đó là định mệnh, đó là một phán quyết đối với Kiều. Kiều có chạy cũng chẳng tránh được trời.
Dân gian xưa quan niệm người chết chỉ chết phần xác còn lại là phần hồn. Phần hồn này luôn quanh quẩn bên cạnh người sống. Người sống có thể hỏi ý kiến, xin phép, khấn nguyện… điều gì đó đối với người đã chết. Tục thờ cúng ông bà của ta ngày xưa, thậm chí cho đến bây giờ vẫn thế. Nguyễn Du cũng quan niệm như vậy: Thác là thể phách, còn là tinh anh. Vì thế con người tài hoa là Đạm Tiên ấy tuy chết rồi nhưng vẫn có thể tương thông được với Thúy Kiều, vẫn có thể nghe được lời lầm rầm khấn nguyện của Thúy Kiều để rồi hiển linh báo ứng qua hình thức trận cuồng phong, qua hình thức giấc mộng… Tất nhiên, Đạm Tiên dù yêu mến Thúy Kiều, dù đồng bệnh tương lân nhưng cũng không thể vì thế mà giúp Kiều hoá giải số phận của mình. Đạm Tiên chỉ là phát ngôn của một lực lượng vô hình nào đó. Và nếu như Kiều có phận mỏng phúc dày để có được đoạn sau đoàn viên trùng phùng đó là do bản thân Kiều “phấn đấu” và tâm thành đã động đến trời chứ đâu phải do Đạm Tiên có lòng giúp đỡ. Lực lượng vô hình đó là ai? Là trời, hoá nhi, hoá công, ông xanh, ông tơ, con tạo… cả thần thánh ma quỷ nữa. Lực lượng ấy đã định ra số phận của Kiều.
Lời hẹn hò của Đạm Tiên mới ác nghiệt lắm thay! Và sao không là một dòng sông khác. Đường đi sứ của Nguyễn Du chẳng phải đã qua bao nhiêu đường sông là gì? Nào Minh giang, Trường giang, Hoàng hà, Tam giang, Tương giang…Ở đất Việt còn bao nhiêu con sông nữa từng đi qua đời ông, đã đi vào thơ ông như Linh giang (sông Gianh), Nễ giang, Thanh Quyết giang, La Phù giang, Đồng Lung giang…và đây nữa dòng sông Lam quê nhà Nguyễn Du là nơi cất giữ bao nhiêu nỗi niềm của ông. Từ đây ông ra đi, cũng từ đây là nơi ông khao khát quay về. Buồn vui trĩu nặng túi thơ ông, chảy miên man từng chặng đường đời ông, và trôi mãi không dừng trong sáng tác của ông. Đúng là trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du viết nhiều về sông (16 bài chưa kể những bài không chủ ý viết về sông nhưng hình ảnh sông luôn hiện diện). Có lẽ con sông nào cũng giống con sông nào, tên sông chỉ để phân biệt vị trí địa lý, không nói lên ý nghĩa gì. Sông là nơi con người cất bước đăng trình, cũng là nơi tìm về của người xa xứ. Sông là nơi hò hẹn yêu đương. Sông cũng là nơi tắm mát tuổi thơ. Nhưng sông không chỉ trong mát ngọt lành, không chỉ êm ả chảy xuôi dòng mà còn có những cơn thịnh nộ bởi sóng ngầm, bởi những dòng xoáy nguy hiểm, có cả thuồng luồng, ma quỷ…và quan trọng hơn, nó còn là nơi ghi dấu chấm hết của bao kẻ hận đời.
Đạm Tiên đã hẹn Thúy Kiều ở đó - Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau. Kiếp người ngắn ngủi lắm thay. Người tài hoa, số mệnh càng khắc nghiệt. Kiều đã làm gì, đã gây nên tội lỗi gì ghê gớm để đến nỗi trời bắt phải vứt bỏ cuộc đời mười lăm năm sau đó? Kiều yêu mãnh liệt một chàng trai phong tư tài mạo tuyệt vời, nàng hy sinh bán mình chuộc cha, nàng cư xử có tình có lý với tất cả mọi người. Ngay cả ngày trở về đoàn tụ với gia đình, nàng đã buộc phải dập tắt ngọn lửa tình yêu để cho tất cả mọi người đều không rơi vào tình thế khó xử, nàng thà hy sinh thân mình một lần nữa để mọi việc đều tốt đẹp. Riêng nàng sầu thương hận tủi, riêng nàng nói lời trước mặt rơi châu vắng người, riêng nàng đêm ngày… khép cửa phòng thu, Chẳng tu thì cũng như tu mới là. Chuyện vợ chồng, trúc mai, loan phượng là chuyện của Thúy Vân, của Kim Trọng - Thừa gia chẳng hết nàng Vân, Một cây cù mộc một sân quế hòe. Nàng không dám dự phần vào cái cõi, cái miền mà trời không cho phép. Có phải đó là những tội nghiệt của riêng nàng?
Dòng sông Tiền Đường khép lại một quãng đời, cũng lại mở ra một quãng đời khác. Kiều trở về với gia đình, với người thân nhưng ngọn sóng Tiền Đường cứ quanh quẩn, cứ ruỗi theo ám ảnh như một mối nợ đời trả mãi không dứt. Kim Trọng còn đó, vẫn yêu thương nàng như ngày nào, và Thúy Vân vẫn còn kia, tay bồng tay dắt, con cái đề huề, đầm ấm không khí gia đình. Biết rằng ngày xưa trai năm thê bảy thiếp nhưng Thúy Kiều giống như người thừa khi hiện diện trong mái nhà này. Biết rằng Khi chén rượu khi cuộc cờ nhưng những đêm dài giữa phòng thu khi cánh cửa tình yêu đã khép, nàng còn lại gì với gối chiếc chăn đơn? Không còn gì cả: không chồng, không con, không tương lai, không hy vọng, không chút lòng ham sống, không cả tiếng đàn đứt ruột Cuốn dây từ đấy về sau xin chừa… Biết rằng con người luôn khát khao hạnh phúc, và dòng sông không thả trôi hạnh phúc mà hạnh phúc cứ đi mãi không trở lại với con người. Cô đơn lẻ loi, một mình một thân, chiếc bóng trơ trọi Sông Tiền Đường ấy là mồ hồng nhan, Kiều đã chết, chết hẳn trong sóng bạc Tiền Đường. Biết rằng kết cấu Hội ngộ - Lưu lạc - Đoàn viên các nhà viết truyện phải theo, nhưng đoạn đoàn viên này đau đứt ruột. Nguyễn Du không cho nàng có được hạnh phúc, ông bắt nàng phải hy sinh, để nhân cách nàng sáng mãi. Nguyễn Du thương Kiều nhưng không thể làm khác được, làm khác là hại đến nhân cách nàng. Biết rằng Kiều dối lòng hay tự mình buộc mình cũng thế - chấm dứt tình yêu cùng Kim Trọng nhưng con người đa tài, đa tình, đa đoan ấy có dứt nổi với lòng mình hay không? Nàng chỉ mới khép cửa phòng thu, chứ chưa chịu đóng chặt cửa phòng. Một sân quế hòe đó, vườn xuân bên ngoài cánh cửa khép đó, có làm nàng nhói lòng, có làm nàng đứt ruột? Biết rằng thân xác nàng đã về kia nhưng hình như linh hồn nàng mãi vất vơ vất vưởng bên sông Tiền Đường…
Lạ thật, Nguyễn Du là người đòi trả giấc mộng mây mưa cho đá vọng phu (Vọng phu thạch), là người đã mắng triều đình nhà Đường chẳng khác gì phỗng đứng để nghìn đời đổ tội oan cho người đẹp Dương Quý Phi (Dương phi cố lý)…Vậy mà ông đã không làm phép để hoá màu hạnh phúc cho đời Kiều.
Để rồi ca khúc bi thương ấy mãi cất cao giọng ru tình và người Việt Nam mỗi lần đến với sông Tiền Đường cứ ngỡ Kiều như còn ở đâu đấy. Kiều lưu lạc và Kiều đã không về. Mười mấy năm và rồi mãi mãi. Con sông Tiền Đường ôm ấp thân xác nàng, vỗ về, ru giấc nàng. Sông Tiền Đường là hiện thân của nàng. Sông Tiền Đường là con sông của đất nước Trung Quốc, nàng Kiều cũng có cái gốc Trung Quốc nhưng hình như không ai xem Kiều là người Trung Quốc cả.
Bất cứ người Việt Nam nào cũng yêu quý Kiều và bao giờ cũng nhìn sông Tiền Đường như chặng cuối của đoạn đường đau khổ Thúy Kiều Tiền Đường xưa ngợp bóng thơ Kiều. Nay ta đến mồ Kiều bạc mệnh (Qua sông Tiền Đường -Anh Thơ). Nhất là đối với những người đọc - thi sĩ, lớp người này thấy hết, thấu hết nỗi đau của Kiều: Em chọn bến này hoá kiếp hồng nhan (Giấc mơ - Gửi Thúy Kiều, Trần Chấn Uy)/ Đành mượn nẻo Tiền Đường cho dứt kiếp khổ đau (Nợ Tiền Đường - Đoàn thị Lam Luyến)…Tuy là thế, nhưng có dứt được kiếp khổ đau không? Nước Tiền Đường có rửa sạch Kiều đâu?(Mối tình đầu - Hồ Dzếnh)/ Sông nước Tiền Đường có rũ hết phong trần không, vãi Giác Duyên? (Trước nhà thờ cụ Nguyễn Du -Lương Khắc Thanh)/ Con tim vẫn đập nơi sông Tiền Đường (Ngẫu hứng đàn Kiều - Lê Minh Hoài)/ Tiền Đường sầm sập đêm mưa. Nước âm u chảy như chưa vớt Kiều (Nguyễn Du - Trần Nhuận Minh)/ Cũng không vớt nổi tiếng kêu Tiền Đường (Ru em Thúy Kiều - Trần Mạnh Hảo)…
Vâng, hầu hết các thi sĩ từng đến sông Tiền Đường hoặc chưa đến nhưng nghĩ nhiều, nhớ nhiều, bị ám ảnh nhiều về sông Tiền Đường đều nghĩ như thế. Thậm chí Chế Lan Viên còn khái quát Sông Tiền Đường ai chẳng đi bên? (Đọc Kiều). Quả có cái gì đó ám ảnh người đọc chúng ta. Nguyễn Vũ Tiềm từng đặt câu hỏi Sao không là sông Lam, sông Hương, sông nước mắt. Phải mượn Tiền Đường mà gửi nỗi đau? (Mượn sông Tiền Đường) nhưng có lẽ cũng không cần thiết phải rạch ròi đến thế. Tuy nhiên khi đặt dấu hỏi như thế, chính nhà thơ cũng bị ám ảnh nhiều bởi con sông này. Nguyễn Du không nói nhiều về sông Tiền Đường (như đã giới thiệu ở trên) nhưng người đọc không quên được hình ảnh con sông này. Bởi vì trong lòng người đọc, Tiền Đường đã dậy sóng, đã cồn lên bão tố, đã giận dữ, phẫn nộ thay cho nàng Kiều. Dòng sông đã cuốn trôi đi hình bóng yêu kiều của người con gái yếu đuối mỏng manh như tơ, như muốn giành lấy nàng từ bàn tay cuồng bạo của cuộc đời. Nhưng không biết dòng sông có xoa dịu niềm đau, có an ủi, ve vuốt, chở che cho một kiếp đời với trăm ngàn cay đắng như nàng không? Sông Tiền Đường đã cồn lên cơn bão tố (Xưa nay - Phương Thúy)/ Tiền Đường rợn ngọn sóng cồn (Đọc Kiều - Nguyễn Khắc Kình)/ Lao xao nhịp sóng Tiền Đường (Ở sông Tiền Đường - Phan Thị Thanh Nhàn). Hay sông Tiền Đường mãi mãi là nấm mồ chôn giấu mối hận thiên thu của nàng Chị theo tiếng khóc đáy sông Tiền Đường (Tâm sự nàng Thúy Vân - Trương Nam Hương)…
Như chúng ta biết sông Tiền Đường bắt nguồn từ tỉnh An Huy, dài 605 km, con sông nổi tiếng vì phong cảnh hữu tình và vì thủy triều có những lúc bất thường. Theo nhiều người Trung Quốc cho biết do ảnh hưởng lực hút của mặt trăng và mặt trời cho nên cường độ thủy triều của sông này diễn ra theo quy luật riêng. Tức là một tháng có hai lần thủy triều mạnh lên (từ khoảng mồng 1 đến mồng 5, và từ 15 đến 20 âm lịch). Như vậy mỗi năm có 120 ngày thủy triều không bình thường. Ngày 18 tháng 8 âm lịch hằng năm là lễ ngắm thủy triều truyền thống. Nhưng theo dân gian ngày này là ngày sinh nhật của thần thủy triều, người ta tổ chức cúng bái cầu xin sự bình an. Câu chuyện về Ngũ Tử Tư và Văn Chủng thời Xuân Thu Chiến Quốc là hai tướng tài đã chết một cách oan uổng vì người mà họ suốt đời tôn phò trên con sông này… chắn chắn có liên quan. Như vậy, vị trí địa lý cũng như câu chuyện oan khuất của Ngũ Tử Tư và Văn Chủng, kể cả chuyện của Thúy Kiều cũng đã góp phần làm cho con sông mang thêm sắc màu huyền bí và sức mạnh của thần linh. Ngọn sóng cao vút đã cuốn trôi Thúy Kiều: Triều đâu nổi sóng đùng đùng nhưng rồi lại bình lặng hoá thành bè lau của người từ tâm mang trả Kiều về giữa cuộc đời: Tiền Đường thả một bè lau cứu người. Nguyễn Du muốn cho chúng ta thấy điều gì ở đây?
Sóng Tiền Đường đã trả Kiều về giữa cuộc đời hay tiếp tục mang Kiều đến những giấc mơ. Giấc mơ của đau khổ bế tắc và của văn hoá ứng xử tuyệt vời. Kiều trở về với cuộc đời dù không nhận được quyền sống như một người bình thường, nhưng nàng vẫn tồn tại trong lòng người đọc chúng ta bằng tất cả dáng vẻ yêu kiều, thanh sạch, trinh khiết bởi cách ứng xử tuyệt vời của nàng. Thật vậy, nếu Kiều chấp nối với Kim Trọng, thành vợ của chàng, tiếp tục nâng giấc, tính cuộc vuông tròn với chàng một cách dễ dãi thì có lẽ sông Tiền Đường không gây ấn tượng cho người đọc bao nhiêu, Tiền Đường sẽ chỉ là một chặng trong nhiều chặng và rồi Kiều sẽ vượt qua để trở về sum hợp vui vầy.
Nhưng không phải thế, Tiền Đường là chặng cuối và Kiều đã không vượt qua được dù nàng có về lại gia đình, dù Kim Trọng có khác lòng người ta, dù một nhà phúc lộc gồm hai… thì cũng không sao cất được gánh nặng mà Kiều đã đeo mang từ bấy đến giờ, cũng không sao xoá hết những vết thương lòng vẫn còn đang âm ỉ rỉ máu trong nàng. Dù sông có bao la, mênh mông cũng không rửa hết những đau đớn ê chề, và dù Giác Duyên nhân từ thuê ngư phủ thả bè lau chờ đón nàng trong suốt một thời gian dài để vớt nàng lên cũng không làm sống dậy một nàng Kiều hăm hở say mê đến với tình yêu như buổi đầu nữa.
Kiều chỉ còn lại xác thân vật chất với quá nhiều khiếm khuyết. Nàng có thể đem cái khiếm khuyết ấy mà đối đãi với người yêu được sao? Người yêu ta xấu với người. Còn yêu nhau nữa bằng mười phụ nhau/ Còn tình đâu nữa là thù đấy thôi. Không còn thế lực nào ngăn trở, chỉ cần đưa tay ra là chạm vào hạnh phúc. Ấy vậy mà nàng đã không làm được. Đau đứt ruột mà cũng thật trong giá trắng ngần! Kiều đẹp hơn gấp trăm ngàn lần bởi cái điều không làm nổi ấy. Ứng xử của nàng tuyệt vời. Dấu ấn thẩm mỹ của Nguyễn Du bật lên rõ nét khi ta bắt gặp một nàng Kiều ngời sáng trong một thân xác hoa tàn, một nàng Kiều kiêu hãnh nén lòng rời xa hạnh phúc, một nàng Kiều lớn hơn gấp trăm ngàn lần cuộc đời cô trong tác phẩm. Kiều không hạnh phúc nhưng chính nàng đã chỉ ra hạnh phúc cho bao người. Như thế, con người ấy được vớt lên từ sông Tiền Đường hay bước ra từ tâm thức đẫm nước mắt của Nguyễn Du? Hay từ những giấc mơ?
Nguyễn Du đã khẳng định Sông Tiền Đường ấy là mồ hồng nhan. Người đọc Truyện Kiều cũng đã chấp nhận điều đó: Nước âm u chảy như chưa vớt Kiều (Nguyễn Du - Trần Nhuận Minh). Cho nên nói sông Tiền Đường ám ảnh Kiều, ám ảnh Nguyễn Du, và ám ảnh cả người đọc chúng ta quả không sai.
Tiền Đường là dòng sông định mệnh của đời Kiều, Tiền Đường là dòng sông bế tắc, suốt đời làm đau đớn Nguyễn Du. Tiền Đường là dòng sông nơi ta thao thức cùng Nguyễn Du, cũng là nơi ta gặp lại nàng Kiều với nhân cách cao vời, với lòng ngưỡng mộ vô bờ bến.
Vì thế không ai quên được con sông Tiền Đường. Trong giấc mơ xưa đã gặp Tiền Đường/ Sông Tiền Đường vẫn ám ảnh những giấc mơ (Giấc mơ gửi Thuý Kiều - Trần Chấn Uy), Sáng hôm nay bất chợt gặp Tiền Đường. Gặp hồn Nguyễn Du trên từng con sóng (Bất chợt Tiền Đường - Mai Quốc Liên). Ai trong chúng ta cũng có một dòng sông cho riêng mình, nhưng Tiền Đường lại là ký ức chung của tất cả người dân đất Việt. Bởi nơi đó có một Nguyễn Du đau đời, nơi đó có một Thúy Kiều thắm tình người, nơi đó còn có một thứ triết lý nhân sinh cao vời mà muôn đời sau vẫn sáng lấp lánh.
Theo Evăn
Sông Tiền Đường xuất hiện trong Truyện Kiều không nhiều nhưng nó là điểm nhấn khiến người đọc phải chú ý. Sông Tiền Đường trong báo mộng của Đạm Tiên, trong sự cứu vớt Kiều của Tam Hợp đạo cô và Giác Duyên, trong lời kể của một người nào đó ở đất Hàng Châu…Có tất cả sáu câu:
- Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau
- Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường
- Tiền Đường thả một bè lau cứu người
- Lân la tìm thú bên sông Tiền Đường
- Sông Tiền Đường đó ấy mồ hồng nhan
- Lâm Truy buổi trước, Tiền Đường buổi sau
Câu nào cũng nói lên số phận nàng Kiều, trong đó có 3 câu khẳng định rõ rệt: Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau/ Sông Tiền Đường đó ấy mồ hồng nhan/ Lâm Truy buổi trước, Tiền Đường buổi sau. Đó là định mệnh, đó là một phán quyết đối với Kiều. Kiều có chạy cũng chẳng tránh được trời.
Dân gian xưa quan niệm người chết chỉ chết phần xác còn lại là phần hồn. Phần hồn này luôn quanh quẩn bên cạnh người sống. Người sống có thể hỏi ý kiến, xin phép, khấn nguyện… điều gì đó đối với người đã chết. Tục thờ cúng ông bà của ta ngày xưa, thậm chí cho đến bây giờ vẫn thế. Nguyễn Du cũng quan niệm như vậy: Thác là thể phách, còn là tinh anh. Vì thế con người tài hoa là Đạm Tiên ấy tuy chết rồi nhưng vẫn có thể tương thông được với Thúy Kiều, vẫn có thể nghe được lời lầm rầm khấn nguyện của Thúy Kiều để rồi hiển linh báo ứng qua hình thức trận cuồng phong, qua hình thức giấc mộng… Tất nhiên, Đạm Tiên dù yêu mến Thúy Kiều, dù đồng bệnh tương lân nhưng cũng không thể vì thế mà giúp Kiều hoá giải số phận của mình. Đạm Tiên chỉ là phát ngôn của một lực lượng vô hình nào đó. Và nếu như Kiều có phận mỏng phúc dày để có được đoạn sau đoàn viên trùng phùng đó là do bản thân Kiều “phấn đấu” và tâm thành đã động đến trời chứ đâu phải do Đạm Tiên có lòng giúp đỡ. Lực lượng vô hình đó là ai? Là trời, hoá nhi, hoá công, ông xanh, ông tơ, con tạo… cả thần thánh ma quỷ nữa. Lực lượng ấy đã định ra số phận của Kiều.
Lời hẹn hò của Đạm Tiên mới ác nghiệt lắm thay! Và sao không là một dòng sông khác. Đường đi sứ của Nguyễn Du chẳng phải đã qua bao nhiêu đường sông là gì? Nào Minh giang, Trường giang, Hoàng hà, Tam giang, Tương giang…Ở đất Việt còn bao nhiêu con sông nữa từng đi qua đời ông, đã đi vào thơ ông như Linh giang (sông Gianh), Nễ giang, Thanh Quyết giang, La Phù giang, Đồng Lung giang…và đây nữa dòng sông Lam quê nhà Nguyễn Du là nơi cất giữ bao nhiêu nỗi niềm của ông. Từ đây ông ra đi, cũng từ đây là nơi ông khao khát quay về. Buồn vui trĩu nặng túi thơ ông, chảy miên man từng chặng đường đời ông, và trôi mãi không dừng trong sáng tác của ông. Đúng là trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du viết nhiều về sông (16 bài chưa kể những bài không chủ ý viết về sông nhưng hình ảnh sông luôn hiện diện). Có lẽ con sông nào cũng giống con sông nào, tên sông chỉ để phân biệt vị trí địa lý, không nói lên ý nghĩa gì. Sông là nơi con người cất bước đăng trình, cũng là nơi tìm về của người xa xứ. Sông là nơi hò hẹn yêu đương. Sông cũng là nơi tắm mát tuổi thơ. Nhưng sông không chỉ trong mát ngọt lành, không chỉ êm ả chảy xuôi dòng mà còn có những cơn thịnh nộ bởi sóng ngầm, bởi những dòng xoáy nguy hiểm, có cả thuồng luồng, ma quỷ…và quan trọng hơn, nó còn là nơi ghi dấu chấm hết của bao kẻ hận đời.
Đạm Tiên đã hẹn Thúy Kiều ở đó - Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau. Kiếp người ngắn ngủi lắm thay. Người tài hoa, số mệnh càng khắc nghiệt. Kiều đã làm gì, đã gây nên tội lỗi gì ghê gớm để đến nỗi trời bắt phải vứt bỏ cuộc đời mười lăm năm sau đó? Kiều yêu mãnh liệt một chàng trai phong tư tài mạo tuyệt vời, nàng hy sinh bán mình chuộc cha, nàng cư xử có tình có lý với tất cả mọi người. Ngay cả ngày trở về đoàn tụ với gia đình, nàng đã buộc phải dập tắt ngọn lửa tình yêu để cho tất cả mọi người đều không rơi vào tình thế khó xử, nàng thà hy sinh thân mình một lần nữa để mọi việc đều tốt đẹp. Riêng nàng sầu thương hận tủi, riêng nàng nói lời trước mặt rơi châu vắng người, riêng nàng đêm ngày… khép cửa phòng thu, Chẳng tu thì cũng như tu mới là. Chuyện vợ chồng, trúc mai, loan phượng là chuyện của Thúy Vân, của Kim Trọng - Thừa gia chẳng hết nàng Vân, Một cây cù mộc một sân quế hòe. Nàng không dám dự phần vào cái cõi, cái miền mà trời không cho phép. Có phải đó là những tội nghiệt của riêng nàng?
Dòng sông Tiền Đường khép lại một quãng đời, cũng lại mở ra một quãng đời khác. Kiều trở về với gia đình, với người thân nhưng ngọn sóng Tiền Đường cứ quanh quẩn, cứ ruỗi theo ám ảnh như một mối nợ đời trả mãi không dứt. Kim Trọng còn đó, vẫn yêu thương nàng như ngày nào, và Thúy Vân vẫn còn kia, tay bồng tay dắt, con cái đề huề, đầm ấm không khí gia đình. Biết rằng ngày xưa trai năm thê bảy thiếp nhưng Thúy Kiều giống như người thừa khi hiện diện trong mái nhà này. Biết rằng Khi chén rượu khi cuộc cờ nhưng những đêm dài giữa phòng thu khi cánh cửa tình yêu đã khép, nàng còn lại gì với gối chiếc chăn đơn? Không còn gì cả: không chồng, không con, không tương lai, không hy vọng, không chút lòng ham sống, không cả tiếng đàn đứt ruột Cuốn dây từ đấy về sau xin chừa… Biết rằng con người luôn khát khao hạnh phúc, và dòng sông không thả trôi hạnh phúc mà hạnh phúc cứ đi mãi không trở lại với con người. Cô đơn lẻ loi, một mình một thân, chiếc bóng trơ trọi Sông Tiền Đường ấy là mồ hồng nhan, Kiều đã chết, chết hẳn trong sóng bạc Tiền Đường. Biết rằng kết cấu Hội ngộ - Lưu lạc - Đoàn viên các nhà viết truyện phải theo, nhưng đoạn đoàn viên này đau đứt ruột. Nguyễn Du không cho nàng có được hạnh phúc, ông bắt nàng phải hy sinh, để nhân cách nàng sáng mãi. Nguyễn Du thương Kiều nhưng không thể làm khác được, làm khác là hại đến nhân cách nàng. Biết rằng Kiều dối lòng hay tự mình buộc mình cũng thế - chấm dứt tình yêu cùng Kim Trọng nhưng con người đa tài, đa tình, đa đoan ấy có dứt nổi với lòng mình hay không? Nàng chỉ mới khép cửa phòng thu, chứ chưa chịu đóng chặt cửa phòng. Một sân quế hòe đó, vườn xuân bên ngoài cánh cửa khép đó, có làm nàng nhói lòng, có làm nàng đứt ruột? Biết rằng thân xác nàng đã về kia nhưng hình như linh hồn nàng mãi vất vơ vất vưởng bên sông Tiền Đường…
Lạ thật, Nguyễn Du là người đòi trả giấc mộng mây mưa cho đá vọng phu (Vọng phu thạch), là người đã mắng triều đình nhà Đường chẳng khác gì phỗng đứng để nghìn đời đổ tội oan cho người đẹp Dương Quý Phi (Dương phi cố lý)…Vậy mà ông đã không làm phép để hoá màu hạnh phúc cho đời Kiều.
Để rồi ca khúc bi thương ấy mãi cất cao giọng ru tình và người Việt Nam mỗi lần đến với sông Tiền Đường cứ ngỡ Kiều như còn ở đâu đấy. Kiều lưu lạc và Kiều đã không về. Mười mấy năm và rồi mãi mãi. Con sông Tiền Đường ôm ấp thân xác nàng, vỗ về, ru giấc nàng. Sông Tiền Đường là hiện thân của nàng. Sông Tiền Đường là con sông của đất nước Trung Quốc, nàng Kiều cũng có cái gốc Trung Quốc nhưng hình như không ai xem Kiều là người Trung Quốc cả.
Bất cứ người Việt Nam nào cũng yêu quý Kiều và bao giờ cũng nhìn sông Tiền Đường như chặng cuối của đoạn đường đau khổ Thúy Kiều Tiền Đường xưa ngợp bóng thơ Kiều. Nay ta đến mồ Kiều bạc mệnh (Qua sông Tiền Đường -Anh Thơ). Nhất là đối với những người đọc - thi sĩ, lớp người này thấy hết, thấu hết nỗi đau của Kiều: Em chọn bến này hoá kiếp hồng nhan (Giấc mơ - Gửi Thúy Kiều, Trần Chấn Uy)/ Đành mượn nẻo Tiền Đường cho dứt kiếp khổ đau (Nợ Tiền Đường - Đoàn thị Lam Luyến)…Tuy là thế, nhưng có dứt được kiếp khổ đau không? Nước Tiền Đường có rửa sạch Kiều đâu?(Mối tình đầu - Hồ Dzếnh)/ Sông nước Tiền Đường có rũ hết phong trần không, vãi Giác Duyên? (Trước nhà thờ cụ Nguyễn Du -Lương Khắc Thanh)/ Con tim vẫn đập nơi sông Tiền Đường (Ngẫu hứng đàn Kiều - Lê Minh Hoài)/ Tiền Đường sầm sập đêm mưa. Nước âm u chảy như chưa vớt Kiều (Nguyễn Du - Trần Nhuận Minh)/ Cũng không vớt nổi tiếng kêu Tiền Đường (Ru em Thúy Kiều - Trần Mạnh Hảo)…
Vâng, hầu hết các thi sĩ từng đến sông Tiền Đường hoặc chưa đến nhưng nghĩ nhiều, nhớ nhiều, bị ám ảnh nhiều về sông Tiền Đường đều nghĩ như thế. Thậm chí Chế Lan Viên còn khái quát Sông Tiền Đường ai chẳng đi bên? (Đọc Kiều). Quả có cái gì đó ám ảnh người đọc chúng ta. Nguyễn Vũ Tiềm từng đặt câu hỏi Sao không là sông Lam, sông Hương, sông nước mắt. Phải mượn Tiền Đường mà gửi nỗi đau? (Mượn sông Tiền Đường) nhưng có lẽ cũng không cần thiết phải rạch ròi đến thế. Tuy nhiên khi đặt dấu hỏi như thế, chính nhà thơ cũng bị ám ảnh nhiều bởi con sông này. Nguyễn Du không nói nhiều về sông Tiền Đường (như đã giới thiệu ở trên) nhưng người đọc không quên được hình ảnh con sông này. Bởi vì trong lòng người đọc, Tiền Đường đã dậy sóng, đã cồn lên bão tố, đã giận dữ, phẫn nộ thay cho nàng Kiều. Dòng sông đã cuốn trôi đi hình bóng yêu kiều của người con gái yếu đuối mỏng manh như tơ, như muốn giành lấy nàng từ bàn tay cuồng bạo của cuộc đời. Nhưng không biết dòng sông có xoa dịu niềm đau, có an ủi, ve vuốt, chở che cho một kiếp đời với trăm ngàn cay đắng như nàng không? Sông Tiền Đường đã cồn lên cơn bão tố (Xưa nay - Phương Thúy)/ Tiền Đường rợn ngọn sóng cồn (Đọc Kiều - Nguyễn Khắc Kình)/ Lao xao nhịp sóng Tiền Đường (Ở sông Tiền Đường - Phan Thị Thanh Nhàn). Hay sông Tiền Đường mãi mãi là nấm mồ chôn giấu mối hận thiên thu của nàng Chị theo tiếng khóc đáy sông Tiền Đường (Tâm sự nàng Thúy Vân - Trương Nam Hương)…
Như chúng ta biết sông Tiền Đường bắt nguồn từ tỉnh An Huy, dài 605 km, con sông nổi tiếng vì phong cảnh hữu tình và vì thủy triều có những lúc bất thường. Theo nhiều người Trung Quốc cho biết do ảnh hưởng lực hút của mặt trăng và mặt trời cho nên cường độ thủy triều của sông này diễn ra theo quy luật riêng. Tức là một tháng có hai lần thủy triều mạnh lên (từ khoảng mồng 1 đến mồng 5, và từ 15 đến 20 âm lịch). Như vậy mỗi năm có 120 ngày thủy triều không bình thường. Ngày 18 tháng 8 âm lịch hằng năm là lễ ngắm thủy triều truyền thống. Nhưng theo dân gian ngày này là ngày sinh nhật của thần thủy triều, người ta tổ chức cúng bái cầu xin sự bình an. Câu chuyện về Ngũ Tử Tư và Văn Chủng thời Xuân Thu Chiến Quốc là hai tướng tài đã chết một cách oan uổng vì người mà họ suốt đời tôn phò trên con sông này… chắn chắn có liên quan. Như vậy, vị trí địa lý cũng như câu chuyện oan khuất của Ngũ Tử Tư và Văn Chủng, kể cả chuyện của Thúy Kiều cũng đã góp phần làm cho con sông mang thêm sắc màu huyền bí và sức mạnh của thần linh. Ngọn sóng cao vút đã cuốn trôi Thúy Kiều: Triều đâu nổi sóng đùng đùng nhưng rồi lại bình lặng hoá thành bè lau của người từ tâm mang trả Kiều về giữa cuộc đời: Tiền Đường thả một bè lau cứu người. Nguyễn Du muốn cho chúng ta thấy điều gì ở đây?
Sóng Tiền Đường đã trả Kiều về giữa cuộc đời hay tiếp tục mang Kiều đến những giấc mơ. Giấc mơ của đau khổ bế tắc và của văn hoá ứng xử tuyệt vời. Kiều trở về với cuộc đời dù không nhận được quyền sống như một người bình thường, nhưng nàng vẫn tồn tại trong lòng người đọc chúng ta bằng tất cả dáng vẻ yêu kiều, thanh sạch, trinh khiết bởi cách ứng xử tuyệt vời của nàng. Thật vậy, nếu Kiều chấp nối với Kim Trọng, thành vợ của chàng, tiếp tục nâng giấc, tính cuộc vuông tròn với chàng một cách dễ dãi thì có lẽ sông Tiền Đường không gây ấn tượng cho người đọc bao nhiêu, Tiền Đường sẽ chỉ là một chặng trong nhiều chặng và rồi Kiều sẽ vượt qua để trở về sum hợp vui vầy.
Nhưng không phải thế, Tiền Đường là chặng cuối và Kiều đã không vượt qua được dù nàng có về lại gia đình, dù Kim Trọng có khác lòng người ta, dù một nhà phúc lộc gồm hai… thì cũng không sao cất được gánh nặng mà Kiều đã đeo mang từ bấy đến giờ, cũng không sao xoá hết những vết thương lòng vẫn còn đang âm ỉ rỉ máu trong nàng. Dù sông có bao la, mênh mông cũng không rửa hết những đau đớn ê chề, và dù Giác Duyên nhân từ thuê ngư phủ thả bè lau chờ đón nàng trong suốt một thời gian dài để vớt nàng lên cũng không làm sống dậy một nàng Kiều hăm hở say mê đến với tình yêu như buổi đầu nữa.
Kiều chỉ còn lại xác thân vật chất với quá nhiều khiếm khuyết. Nàng có thể đem cái khiếm khuyết ấy mà đối đãi với người yêu được sao? Người yêu ta xấu với người. Còn yêu nhau nữa bằng mười phụ nhau/ Còn tình đâu nữa là thù đấy thôi. Không còn thế lực nào ngăn trở, chỉ cần đưa tay ra là chạm vào hạnh phúc. Ấy vậy mà nàng đã không làm được. Đau đứt ruột mà cũng thật trong giá trắng ngần! Kiều đẹp hơn gấp trăm ngàn lần bởi cái điều không làm nổi ấy. Ứng xử của nàng tuyệt vời. Dấu ấn thẩm mỹ của Nguyễn Du bật lên rõ nét khi ta bắt gặp một nàng Kiều ngời sáng trong một thân xác hoa tàn, một nàng Kiều kiêu hãnh nén lòng rời xa hạnh phúc, một nàng Kiều lớn hơn gấp trăm ngàn lần cuộc đời cô trong tác phẩm. Kiều không hạnh phúc nhưng chính nàng đã chỉ ra hạnh phúc cho bao người. Như thế, con người ấy được vớt lên từ sông Tiền Đường hay bước ra từ tâm thức đẫm nước mắt của Nguyễn Du? Hay từ những giấc mơ?
Nguyễn Du đã khẳng định Sông Tiền Đường ấy là mồ hồng nhan. Người đọc Truyện Kiều cũng đã chấp nhận điều đó: Nước âm u chảy như chưa vớt Kiều (Nguyễn Du - Trần Nhuận Minh). Cho nên nói sông Tiền Đường ám ảnh Kiều, ám ảnh Nguyễn Du, và ám ảnh cả người đọc chúng ta quả không sai.
Tiền Đường là dòng sông định mệnh của đời Kiều, Tiền Đường là dòng sông bế tắc, suốt đời làm đau đớn Nguyễn Du. Tiền Đường là dòng sông nơi ta thao thức cùng Nguyễn Du, cũng là nơi ta gặp lại nàng Kiều với nhân cách cao vời, với lòng ngưỡng mộ vô bờ bến.
Vì thế không ai quên được con sông Tiền Đường. Trong giấc mơ xưa đã gặp Tiền Đường/ Sông Tiền Đường vẫn ám ảnh những giấc mơ (Giấc mơ gửi Thuý Kiều - Trần Chấn Uy), Sáng hôm nay bất chợt gặp Tiền Đường. Gặp hồn Nguyễn Du trên từng con sóng (Bất chợt Tiền Đường - Mai Quốc Liên). Ai trong chúng ta cũng có một dòng sông cho riêng mình, nhưng Tiền Đường lại là ký ức chung của tất cả người dân đất Việt. Bởi nơi đó có một Nguyễn Du đau đời, nơi đó có một Thúy Kiều thắm tình người, nơi đó còn có một thứ triết lý nhân sinh cao vời mà muôn đời sau vẫn sáng lấp lánh.
Theo Evăn
Chuyện Tình Văn Phòng
Bạn hiền,
Như vậy là hầu hết thời gian khi bạn hiền thức giấc là lúc bạn hiền ở sở làm. Đôi khi công việc chồng chất, bạn hiền phải ở lại ăn trưa trên bàn giấy, đừng có nói chi đến chuyện ra ngoài ăn tối. Nếu bạn hiền là mẫu người độc thân vui tính, hẳn bạn đang mỏi mòn trông đợi người trong mộng, nhưng vấn đề là bạn không biết tìm người ấy nơi mô! Chả nhẽ đành ngồi trên ghế đá công viên mà mỏi mòn chờ đợi, cho đến ngày thân thể trở về với cát bụi? Bạn hiền biết rõ là không thể ngồi đó mà chờ sung rụng, nhưng... Đùng 1 cái, mũi tên của thằng bé cởi chuồng (Cupid), mệnh danh thiên thần tình ái, bắn trúng ngay người bạn đồng nghiệp của bạn hiền, đang làm việc ở văn phòng kế bên. Trái tim tưởng đã ngủ yên của bạn hiền bổng dưng thổn thức, nhịp tim đập nhanh hơn bao giờ hết, và những dòng nhiệt huyết lại sôi sục, bơm nhanh lên trên não bô, và... con tim đã vui trở lại!
Đồng ý là từ nay những buổi họp nhàm chán sẽ trở nên vô cùng thú vị vì đã có bóng dáng của người ấy, và hơn nữa bạn hiền và người ấy đã có nhiều điểm rất tương đồng.
Nhưng khoan! Bạn hiền suy nghĩ kỹ chưa.?
Bạn hiền có sẵn sàng chấp nhận cái hậu quả khó lường được nếu nhỡ cái cuộc tình văn phòng này bất thành. Hãy tưởng tượng cuộc đời của một kẻ thất tình ở sở làm, lúc nào cũng phải lẩn tránh con người bội bạc đó, phải dòm trước ngó sau để tránh "nó", để khỏi phải nhìn thấy cái bản mặt khó ưa ở ngay hành lang, và khi đến dịp picnic do hãng tổ chức thì phải ở nhà cuộn mình trong chăn như con sâu làm tổ, trong khi trong lòng thì rất muốn đi dự, nhưng vì sợ không chịu đựng nổi cái cảnh người ấy và nhân tình mới âu yếm ở đó nên đành từ giả cuộc vui.
Vậy thì bạn hiền còn dám trao con tim còn trinh của mình cho người bạn đồng nghiệp hay không? Trước khi bạn hiền đánh mất cái cơ hội được thăng chức ở sở làm, để BTL tôi phân tích cho bạn hiền nghe tại sao cặp bồ với đồng nghiệp là chuyện không nên.
1. Lãng mạn và lãng xẹt:
Tiếc thay chuyện tình lãng mạn ở chốn văn phòng này không bao giờ có hậu, và bạn hoặc bồ của bạn phải bỏ job để cứu vãn cuộc tình, vì điều luật rõ ràng là 2 nhân viên làm chung một sở không được "date" nhau. Bên tình, bên "job", bên nào nặng hơn?
2. Phê với bình:
Bạn và người ấy yêu nhau say đắm, đùng 1 cái bạn được đề bạt lên là xếp của người ấy và 1 số đồng nghiệp khác. Bây giờ bạn có quyền phê bình đánh giá khả năng làm việc của cấp dưới. Đến lúc phê bình người ấy, mặc dù biết rõ người ấy bỏ bê công việc, tối ngày lo nghĩ ngợi, thương nhớ... bạn, thì bạn sẽ hạ bút xuống viết cái gì đây?
3. Bình tĩnh mà run:
Bạn hiền vẫn còn can đảm chấp nhận cuộc tình văn phòng này ư? Vậy thì bạn phải chuẩn bị tinh thần. Bạn có đủ sức chịu đựng những lời đàm tiếu của các đồng nghiệp không? Những lời đồn đãi thì chắc chắn phải xấu nhiều hơn tốt, đại khái như:
- Tớ không ngờ nó cặp bồ với con nhỏ đó, chắc ế quá cặp đại!
- Hèn chi nó được lên lương, bồ của xếp mà lị!
4. Riêng tư:
Bạn hiền nghĩ rằng đây là chuyện riêng tư của hai người, không ai được xía vào? Cho bạn hiền suy nghĩ lại đó! Ngược lại, mọi người có quyền xía vào, vì điều rõ ràng là chuyện tình văn phòng của bạn hiền ít nhiều ảnh hưởng đến đồng nghiệp chung quanh. Nếu bạn và người ấy ngồi trong căng-tin của hãng và tay trong tay, bạn có tin rằng là thiên hạ sẽ phớt tỉnh Ăng-Lê không? Bạn hiền có biết chuyện tình của bạn đang được thiên hạ bàn tán xôn xao?
Chuyện tình văn phòng của bạn hiền chắc hẳn vượt xa cái căng- tin của hãng. Mối tình của bạn hiền sẽ được thêu dệt bằng những yếu tố tăng lương, lên chức, trách nhiệm,.. Và đi xa hơn nữa, tùy theo vai trò của bạn hiền trong hãng, nó có thể ảnh hưởng đến hạ tầng cơ sở của công ty của bạn.
5. Xách nhiễu tình dục:
Hãy tưởng tượng chuyện tình văn phòng của bạn hiền kết thúc không được đẹp đẽ cho lắm. Thay vì "giết người trong mộng", người ấy muốn "giết người ngoài mộng", người ấy muốn cho bạn hiền thân bại danh liệt. Người ấy chỉ cần lên văn phòng Human Resource của hãng tố cáo rằng bạn hiền dở trò xàm xở. Hãy nghĩ đến cái trát tòa về tội xách nhiễu tình dục. Điều tất nhiên là cái án đó sẽ ảnh hưởng đến con đường công danh của bạn hiền.
Lời khuyên của BTL tôi dành cho bạn hiền là nên dành ít thời giờ lang bang trongsở, hãy đi ra ngoài, kiếm bồ thật xa chỗ làm, hãy cho Cupid cơ hội bắn mũi tên tình ái của nó xa khuất cái văn phòng làm việc của bạn hiền.
Còn nếu bạn hiền khăng khăng rằng chỉ có người ấy mà thôi, không thể có ai khác, thì chỉ còn cách là bạn hiền lo đi kiếm việc ở chỗ khác là vừa, để tránh mọi hậu họa có thể xảy ra!
BTL
Như vậy là hầu hết thời gian khi bạn hiền thức giấc là lúc bạn hiền ở sở làm. Đôi khi công việc chồng chất, bạn hiền phải ở lại ăn trưa trên bàn giấy, đừng có nói chi đến chuyện ra ngoài ăn tối. Nếu bạn hiền là mẫu người độc thân vui tính, hẳn bạn đang mỏi mòn trông đợi người trong mộng, nhưng vấn đề là bạn không biết tìm người ấy nơi mô! Chả nhẽ đành ngồi trên ghế đá công viên mà mỏi mòn chờ đợi, cho đến ngày thân thể trở về với cát bụi? Bạn hiền biết rõ là không thể ngồi đó mà chờ sung rụng, nhưng... Đùng 1 cái, mũi tên của thằng bé cởi chuồng (Cupid), mệnh danh thiên thần tình ái, bắn trúng ngay người bạn đồng nghiệp của bạn hiền, đang làm việc ở văn phòng kế bên. Trái tim tưởng đã ngủ yên của bạn hiền bổng dưng thổn thức, nhịp tim đập nhanh hơn bao giờ hết, và những dòng nhiệt huyết lại sôi sục, bơm nhanh lên trên não bô, và... con tim đã vui trở lại!
Đồng ý là từ nay những buổi họp nhàm chán sẽ trở nên vô cùng thú vị vì đã có bóng dáng của người ấy, và hơn nữa bạn hiền và người ấy đã có nhiều điểm rất tương đồng.
Nhưng khoan! Bạn hiền suy nghĩ kỹ chưa.?
Bạn hiền có sẵn sàng chấp nhận cái hậu quả khó lường được nếu nhỡ cái cuộc tình văn phòng này bất thành. Hãy tưởng tượng cuộc đời của một kẻ thất tình ở sở làm, lúc nào cũng phải lẩn tránh con người bội bạc đó, phải dòm trước ngó sau để tránh "nó", để khỏi phải nhìn thấy cái bản mặt khó ưa ở ngay hành lang, và khi đến dịp picnic do hãng tổ chức thì phải ở nhà cuộn mình trong chăn như con sâu làm tổ, trong khi trong lòng thì rất muốn đi dự, nhưng vì sợ không chịu đựng nổi cái cảnh người ấy và nhân tình mới âu yếm ở đó nên đành từ giả cuộc vui.
Vậy thì bạn hiền còn dám trao con tim còn trinh của mình cho người bạn đồng nghiệp hay không? Trước khi bạn hiền đánh mất cái cơ hội được thăng chức ở sở làm, để BTL tôi phân tích cho bạn hiền nghe tại sao cặp bồ với đồng nghiệp là chuyện không nên.
1. Lãng mạn và lãng xẹt:
Tiếc thay chuyện tình lãng mạn ở chốn văn phòng này không bao giờ có hậu, và bạn hoặc bồ của bạn phải bỏ job để cứu vãn cuộc tình, vì điều luật rõ ràng là 2 nhân viên làm chung một sở không được "date" nhau. Bên tình, bên "job", bên nào nặng hơn?
2. Phê với bình:
Bạn và người ấy yêu nhau say đắm, đùng 1 cái bạn được đề bạt lên là xếp của người ấy và 1 số đồng nghiệp khác. Bây giờ bạn có quyền phê bình đánh giá khả năng làm việc của cấp dưới. Đến lúc phê bình người ấy, mặc dù biết rõ người ấy bỏ bê công việc, tối ngày lo nghĩ ngợi, thương nhớ... bạn, thì bạn sẽ hạ bút xuống viết cái gì đây?
3. Bình tĩnh mà run:
Bạn hiền vẫn còn can đảm chấp nhận cuộc tình văn phòng này ư? Vậy thì bạn phải chuẩn bị tinh thần. Bạn có đủ sức chịu đựng những lời đàm tiếu của các đồng nghiệp không? Những lời đồn đãi thì chắc chắn phải xấu nhiều hơn tốt, đại khái như:
- Tớ không ngờ nó cặp bồ với con nhỏ đó, chắc ế quá cặp đại!
- Hèn chi nó được lên lương, bồ của xếp mà lị!
4. Riêng tư:
Bạn hiền nghĩ rằng đây là chuyện riêng tư của hai người, không ai được xía vào? Cho bạn hiền suy nghĩ lại đó! Ngược lại, mọi người có quyền xía vào, vì điều rõ ràng là chuyện tình văn phòng của bạn hiền ít nhiều ảnh hưởng đến đồng nghiệp chung quanh. Nếu bạn và người ấy ngồi trong căng-tin của hãng và tay trong tay, bạn có tin rằng là thiên hạ sẽ phớt tỉnh Ăng-Lê không? Bạn hiền có biết chuyện tình của bạn đang được thiên hạ bàn tán xôn xao?
Chuyện tình văn phòng của bạn hiền chắc hẳn vượt xa cái căng- tin của hãng. Mối tình của bạn hiền sẽ được thêu dệt bằng những yếu tố tăng lương, lên chức, trách nhiệm,.. Và đi xa hơn nữa, tùy theo vai trò của bạn hiền trong hãng, nó có thể ảnh hưởng đến hạ tầng cơ sở của công ty của bạn.
5. Xách nhiễu tình dục:
Hãy tưởng tượng chuyện tình văn phòng của bạn hiền kết thúc không được đẹp đẽ cho lắm. Thay vì "giết người trong mộng", người ấy muốn "giết người ngoài mộng", người ấy muốn cho bạn hiền thân bại danh liệt. Người ấy chỉ cần lên văn phòng Human Resource của hãng tố cáo rằng bạn hiền dở trò xàm xở. Hãy nghĩ đến cái trát tòa về tội xách nhiễu tình dục. Điều tất nhiên là cái án đó sẽ ảnh hưởng đến con đường công danh của bạn hiền.
Lời khuyên của BTL tôi dành cho bạn hiền là nên dành ít thời giờ lang bang trongsở, hãy đi ra ngoài, kiếm bồ thật xa chỗ làm, hãy cho Cupid cơ hội bắn mũi tên tình ái của nó xa khuất cái văn phòng làm việc của bạn hiền.
Còn nếu bạn hiền khăng khăng rằng chỉ có người ấy mà thôi, không thể có ai khác, thì chỉ còn cách là bạn hiền lo đi kiếm việc ở chỗ khác là vừa, để tránh mọi hậu họa có thể xảy ra!
BTL
Bí mật của một con ma
Nó rất đen và trông hơi có vẻ kềnh càng. Nhưng vì lẫn lộn với bóng tối, nên chẳng mấy ai trông thấy nó, dù nó luôn xuất hiện như thể Chúa ở khắp mọi nơi. Điều dễ nhận ra một con ma là nó chỉ nghe mà không nói, hoặc khi nói thì bao giờ cũng hù dọa người khác. Cũng rất dễ để nhận ra một con ma thật với một con ma giả. Con ma thật, nó dọa người khác bằng chính nó. Còn con ma giả, tất nhiên phải dọa bằng một thứ không phải là nó. Khi dọa một đứa trẻ con, để cho nó nín khóc chẳng hạn, người ta hay bảo coi chừng ông kẹ, hoặc ông ba bị, mẹ mìn bắt. Để dọa một người lớn, tất nhiên không thể mang ông kẹ vớ vẩn, hoặc ông ba bị, mẹ mìn cắc ké ra hù, người ta thường bảo coi chừng công an bắt. Con ma cũng vậy. “Bị bắt” là một phạm trù của nỗi sợ hãi. Cái biểu tượng của công lý bị biến mất. Con ma tự đồng hóa mình với một thế lực hủy diệt. Nó cho mình cái quyền áp đặt người khác trong ý muốn của nó. Khác nó là chống nó. Nhưng bản chất của nó là dựa hơi, vì không có thật, nên nó luôn đeo mặt nạ thánh để phán bảo chân lý.
Câu chuyện được kể lại bởi một người bị ma nhát:
“Hôm ấy, tôi đi ăn trưa ở một quán của người quen. Nó theo tôi vào ngồi cùng bàn. Tôi không biết cô gái hầu bàn có nhìn thấy nó không, bởi vì nó là ma, nhưng cô ta vẫn dọn lên hai cái bát và hai đôi đũa. Cũng có thể cô ta nghĩ tôi còn chờ một ai đó. Tôi không nói gì. Khi thức ăn được dọn lên, tôi ăn như không có nó, vì tôi biết nó là ma. Nhưng nó thản nhiên cầm đũa và ăn như thể tôi với nó là bạn. Tôi bảo: “Tao không phải bạn mày”. Nó nói: “Tất nhiên mày không thể là bạn tao”. “Thế thì mày ngồi đây làm gì?”, tôi hỏi. “Đấy là nhiệm vụ”, nó nói. Tôi bảo “cút mẹ mày về âm phủ cho người ta sống”. Nó nhe răng cười coi tôi như thằng ngu dốt: “Mày không biết đây cũng là âm phủ à?”. “Mày muốn gì?”, tôi hỏi.
“Tao muốn mày phải sợ hãi đến chết”.
Tôi phun nước bọt vào mặt nó. Con ma tan biến.
Tôi rút được một kinh nghiệm, mỗi khi con ma xuất hiện mà tôi không muốn nhìn, tôi chỉ việc nhổ nước bọt vào mặt nó”.
Dưới chân tượng Nữ Vương Hoà Bình cuối nhà thờ Đức Bà, tôi đã nhìn thấy con ma đứng khóc. Lạc loài trong thế giới vật sống, tôi nghĩ rằng con ma cô đơn hơn hết thảy các loại vật chết. Bởi sự tồn tại của nó là thừa. Tôi nhìn xuyên qua nó. Những giọt nước mắt tuôn ra từ một hốc tối. Tại sao mày không tan biến vĩnh viễn đi? Nó nói ông không thể hiểu được có những kết tụ như những giọt nước mắt từ bóng tối này. Có những hiện thể nằm ngoài tri giác của con người, nhưng lại gieo rắc sự lo âu vào cuộc sống. Tôi không phải là một sứ mạng. Tôi thuộc về thể tính của cái hữu bất biến, cho nên không thể tan biến. Đừng tìm cách triệt tiêu tôi, vì điều đó vô ích. Nhưng đôi khi tôi vẫn phải khóc vì chính tôi là cái không thật và không thể tách biệt được.
Bố khỉ. Tôi bảo thế mày có muốn uống bia giải sầu không?
Con ma bảo em thích massage hơn. Sờ mó là một hiện thực. Tôi bảo thì uống bia cũng đâu phải trừu tượng. Nhưng con ma bảo phải sờ mó thì hiện thực mới được kích động. Tôi hỏi mày là ma thì làm sao massage được? Người ta không sờ mó em được, nhưng em sờ mó người ta được, nó nói.
Tất nhiên tôi không thể gọi một nhân viên phục vụ cho nó. Bởi thế, nó vào chung phòng với tôi.
Cô gái đang xoa bóp cho tôi bỗng kêu ré lên: “Anh làm gì kỳ vậy?”. Tôi giơ hai tay lên: “Anh có làm gì đâu?!”. Cô gái nhìn hai bàn tay tôi vô tội. Rồi cô tiếp tục làm việc, nhưng ngay trong lúc cô đang bẻ ngón tay tôi, con ma ngu xuẩn vẫn hành động. Cô gái thét lên và chạy ra ngoài.
Tôi nói với con ma: “Mày vừa phải thôi chứ”. Không một chút bối rối, con ma nói em không chịu nổi.
Mặc cho con ma ở lại muốn làm gì thì làm, tôi bỏ về. Đi bộ dọc theo con phố, không định nhìn ngắm gì, tôi chỉ muốn thấy tôi đang trôi đi. Tôi ước gì được trôi đi. Bất định có phải là sự tối hậu? Có một cô gái người Nhật đi song song với tôi. Chắc chắn tôi không lầm là đã thấy cô ngồi một mình trên một chiếc ghe nhỏ thả trên sông Hằng giữa lạnh và sương, nhiều năm trước. Cô choàng một cái khăn lớn chỉ để lộ ra khuôn mặt. Trông cô thanh thoát và bình an. Giờ đây, gặp lại cô giữa đường phố Sài Gòn, tôi vẫn thấy cô thanh thoát và bình an, tuy rằng cô đang mặc một cái áo thun ba lỗ bằng vải gai. Da cô trắng và đục như sữa. Tôi giữ một khoảng cách và nhìn ngắm. Vẻ tự tại của cô làm tôi ái mộ, nhưng tôi cảm thấy mình vô duyên nếu nói bất cứ điều gì với cô. Chắc chắn cô sẽ không bao giờ biết, tôi đã hai lần nhìn thấy cô trên trần gian này với cùng một ấn tượng đẹp đẽ về sự trôi dạt. Tại sao tôi lại nhớ cô mà không phải một ai khác? Có những người mà khi gặp họ lần đầu, ta đã có cái cảm giác thân thuộc thì tôi tin rằng, đó là người đã từng hoặc sẽ là người thân thuộc của mình. Tôi vẫn có cái cảm thức về sự xoay vòng, gấp lại của không gian và thời gian, như thể tôi sống trong nhiều thế giới, nhiều thời đại. Vì thế, tôi đã từng viết một truyện có khoảng thời gian lịch sử là 1000 năm, từ lúc Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long cho đến năm 2010, nhưng tất cả đều diễn ra trong thì hiện tại. Những sự kiện của 1000 năm ấy nằm song song với nhau, không trước không sau. Nên truyện của tôi có thể đọc từ bất cứ đoạn nào và kết thúc ở đâu cũng được. Rất tiếc, tôi chưa thể phổ biến nó, mặc dù viết đã xong từ năm ngoái. Tôi sợ. Tôi chưa sẵn sàng cho cuộc tử nạn.
Người viết văn Việt Nam, cho tới thời điểm này, vẫn hệ lụy về những quan điểm chính trị, dù anh ta ở bất cứ đâu trên mặt đất. Bởi thế viết văn là một thảm kịch trí thức. Nhà văn không chỉ đối diện với chữ nghĩa mà còn phải đối diện với nhân cách của chính mình. Nhưng cũng giống như dân tộc của mình, nhà văn Việt Nam ít có khả năng tự vấn. Anh ta trôi dạt và kẹt vào nỗi sợ hãi, kẹt vào những vấn nạn ngoài văn chương. Ở đấy anh ta chết, hoặc dặt dẹo như quái vật. Hèn mọn.
Nguyễn Viện© 2005 talawas
Câu chuyện được kể lại bởi một người bị ma nhát:
“Hôm ấy, tôi đi ăn trưa ở một quán của người quen. Nó theo tôi vào ngồi cùng bàn. Tôi không biết cô gái hầu bàn có nhìn thấy nó không, bởi vì nó là ma, nhưng cô ta vẫn dọn lên hai cái bát và hai đôi đũa. Cũng có thể cô ta nghĩ tôi còn chờ một ai đó. Tôi không nói gì. Khi thức ăn được dọn lên, tôi ăn như không có nó, vì tôi biết nó là ma. Nhưng nó thản nhiên cầm đũa và ăn như thể tôi với nó là bạn. Tôi bảo: “Tao không phải bạn mày”. Nó nói: “Tất nhiên mày không thể là bạn tao”. “Thế thì mày ngồi đây làm gì?”, tôi hỏi. “Đấy là nhiệm vụ”, nó nói. Tôi bảo “cút mẹ mày về âm phủ cho người ta sống”. Nó nhe răng cười coi tôi như thằng ngu dốt: “Mày không biết đây cũng là âm phủ à?”. “Mày muốn gì?”, tôi hỏi.
“Tao muốn mày phải sợ hãi đến chết”.
Tôi phun nước bọt vào mặt nó. Con ma tan biến.
Tôi rút được một kinh nghiệm, mỗi khi con ma xuất hiện mà tôi không muốn nhìn, tôi chỉ việc nhổ nước bọt vào mặt nó”.
Dưới chân tượng Nữ Vương Hoà Bình cuối nhà thờ Đức Bà, tôi đã nhìn thấy con ma đứng khóc. Lạc loài trong thế giới vật sống, tôi nghĩ rằng con ma cô đơn hơn hết thảy các loại vật chết. Bởi sự tồn tại của nó là thừa. Tôi nhìn xuyên qua nó. Những giọt nước mắt tuôn ra từ một hốc tối. Tại sao mày không tan biến vĩnh viễn đi? Nó nói ông không thể hiểu được có những kết tụ như những giọt nước mắt từ bóng tối này. Có những hiện thể nằm ngoài tri giác của con người, nhưng lại gieo rắc sự lo âu vào cuộc sống. Tôi không phải là một sứ mạng. Tôi thuộc về thể tính của cái hữu bất biến, cho nên không thể tan biến. Đừng tìm cách triệt tiêu tôi, vì điều đó vô ích. Nhưng đôi khi tôi vẫn phải khóc vì chính tôi là cái không thật và không thể tách biệt được.
Bố khỉ. Tôi bảo thế mày có muốn uống bia giải sầu không?
Con ma bảo em thích massage hơn. Sờ mó là một hiện thực. Tôi bảo thì uống bia cũng đâu phải trừu tượng. Nhưng con ma bảo phải sờ mó thì hiện thực mới được kích động. Tôi hỏi mày là ma thì làm sao massage được? Người ta không sờ mó em được, nhưng em sờ mó người ta được, nó nói.
Tất nhiên tôi không thể gọi một nhân viên phục vụ cho nó. Bởi thế, nó vào chung phòng với tôi.
Cô gái đang xoa bóp cho tôi bỗng kêu ré lên: “Anh làm gì kỳ vậy?”. Tôi giơ hai tay lên: “Anh có làm gì đâu?!”. Cô gái nhìn hai bàn tay tôi vô tội. Rồi cô tiếp tục làm việc, nhưng ngay trong lúc cô đang bẻ ngón tay tôi, con ma ngu xuẩn vẫn hành động. Cô gái thét lên và chạy ra ngoài.
Tôi nói với con ma: “Mày vừa phải thôi chứ”. Không một chút bối rối, con ma nói em không chịu nổi.
Mặc cho con ma ở lại muốn làm gì thì làm, tôi bỏ về. Đi bộ dọc theo con phố, không định nhìn ngắm gì, tôi chỉ muốn thấy tôi đang trôi đi. Tôi ước gì được trôi đi. Bất định có phải là sự tối hậu? Có một cô gái người Nhật đi song song với tôi. Chắc chắn tôi không lầm là đã thấy cô ngồi một mình trên một chiếc ghe nhỏ thả trên sông Hằng giữa lạnh và sương, nhiều năm trước. Cô choàng một cái khăn lớn chỉ để lộ ra khuôn mặt. Trông cô thanh thoát và bình an. Giờ đây, gặp lại cô giữa đường phố Sài Gòn, tôi vẫn thấy cô thanh thoát và bình an, tuy rằng cô đang mặc một cái áo thun ba lỗ bằng vải gai. Da cô trắng và đục như sữa. Tôi giữ một khoảng cách và nhìn ngắm. Vẻ tự tại của cô làm tôi ái mộ, nhưng tôi cảm thấy mình vô duyên nếu nói bất cứ điều gì với cô. Chắc chắn cô sẽ không bao giờ biết, tôi đã hai lần nhìn thấy cô trên trần gian này với cùng một ấn tượng đẹp đẽ về sự trôi dạt. Tại sao tôi lại nhớ cô mà không phải một ai khác? Có những người mà khi gặp họ lần đầu, ta đã có cái cảm giác thân thuộc thì tôi tin rằng, đó là người đã từng hoặc sẽ là người thân thuộc của mình. Tôi vẫn có cái cảm thức về sự xoay vòng, gấp lại của không gian và thời gian, như thể tôi sống trong nhiều thế giới, nhiều thời đại. Vì thế, tôi đã từng viết một truyện có khoảng thời gian lịch sử là 1000 năm, từ lúc Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long cho đến năm 2010, nhưng tất cả đều diễn ra trong thì hiện tại. Những sự kiện của 1000 năm ấy nằm song song với nhau, không trước không sau. Nên truyện của tôi có thể đọc từ bất cứ đoạn nào và kết thúc ở đâu cũng được. Rất tiếc, tôi chưa thể phổ biến nó, mặc dù viết đã xong từ năm ngoái. Tôi sợ. Tôi chưa sẵn sàng cho cuộc tử nạn.
Người viết văn Việt Nam, cho tới thời điểm này, vẫn hệ lụy về những quan điểm chính trị, dù anh ta ở bất cứ đâu trên mặt đất. Bởi thế viết văn là một thảm kịch trí thức. Nhà văn không chỉ đối diện với chữ nghĩa mà còn phải đối diện với nhân cách của chính mình. Nhưng cũng giống như dân tộc của mình, nhà văn Việt Nam ít có khả năng tự vấn. Anh ta trôi dạt và kẹt vào nỗi sợ hãi, kẹt vào những vấn nạn ngoài văn chương. Ở đấy anh ta chết, hoặc dặt dẹo như quái vật. Hèn mọn.
Nguyễn Viện© 2005 talawas
“Ông tiến sĩ giấy”.
Chuyện xưa kể rằng có anh học trò, học hành dang dở. Đang ở thế học không hay cầy không biết thì thấy đám sĩ tử lên kinh thi, bèn theo họ để để cầu may. . .
Qua con sông nọ, có cô con gái mượn thuyền đưa đó để chọn chồng. Cô con nhà quan lại hay chữ. Cô chọn mãi à không có ai đáp được vế đối của cô. Đến anh học trò này cô lại hỏi:
- Thầy khoá đi thi chắc học rộng, biết nhiều, tôi xin ra một câu đối: “Long hữu túc, hà long bất tẩu”. Thầy mà đối được tôi xin theo thầy làm người nâng khăn sửa túi.
Anh nghĩ mãi, không tìm được câu đối lại, bèn tìm cách thoái thác:
- Tôi xin nói để cô và các thầy khoá biết, bây giờ tôi đang nghĩ đến văn bài, còn tâm trí nào mà nghĩ đến việc khác. Khi trở về, thế nào tôi cũng phải qua đây, tôi xin khất cô đến lúc trở về tôi sẽ đối.
Đến kinh đô thì khoá thi đã tan, anh đánh bạo vào nhà quan chủ khảo khiếu nại.
Ông quan đã tính mắng cho một trận rồi đuổi đi nhưng bị bà vợ nhân từ thúc ép vả lại bài thi vừa rồi các sĩ tử làm bài bết bác quá không kiếm ra được một ông tiến sĩ. Ông ta liền ra châ
- Thôi được! Ta sẽ làm ơn cho anh, khoa này còn đang thiếu một tiến sĩ. Bây giờ ta ra cho anh một câu đối, nếu anh đối được ta sẽ cho đỗ.
Nhìn quanh trong nhà, bất chợt thấy một bức trướng thêu mấy con phượng mà ông rất thích, ông liền đọc: “Phượng hữu dực, hà phượng vô phi”. Rồi ông nói: Đấy anh đối đi! Anh thanh niên nghĩ mãi, không tìm ra được vế đối lại. Anh lo quá, lo quan quở trách, lại lo lúc trở về cô lái đò giễu cợt. Thốt nhiên, anh nghĩ đến câu đối của cô lái đò, anh mừng quá, liền thưa với quan:
- Bẩm quan lớn, con xin mạn phép đối thế này “Long hữu túc, hà long bất tẩu”, có gì sai sót xin quan lớn tha thứ cho!
Ông bà quan phục quá,. . .Thế là anh ta được đổ Tiến sĩ.
Được đỗ tiến sĩ, anh thanh niên mừng lắm, trên đường vinh quy về làng, qua bến đò, anh mời cô lái đò lên và nói:
- Khi vào kinh qua đây, cô có ra cho tôi vế đối câu: “Long hữu túc, hà long bất tẩu”, nếu đối được cô sẽ nguyện làm bạn trăm năm. Lúc ấy, vì lo thi cử nên tôi khất cô đến khi về. Bây giờ công thành danh toại rồi tôi xin đối lại “Phượng hữu dực, hà phượng vô phi”, không biết như thế cô đã cho là chỉnh chưa?
Cô gái tấm tắc khen hay và ưng thuận làm vợ anh như lời cô đã hứa. Về sau những người trong xóm biết chuyện ấy, họ gọi anh là “Ông tiến sĩ giấy”.
Ở Hải ngoại mới đây cũng có một ông Tiến sĩ, ông ấy là tiến sĩ thật, ông ta viết được một quyển sách lấy tên là: " Khi Đồng Minh Tháo Chạy". . .Lập tức được sự ủng hộ của nhiều người Việt chống Cộng. . .
Trong khi tác giả và độc giả đang hả hê với những tài liệu sống thật, nhất là mấy ông quan tham, quan văn phòng, quan tháo chạy trước ngày 30 tháng Tư, mấy bà quan hám danh ngày trước hoặc mê cái bóng hão chắp nối sau này , thì lại càng hả hê. Tất cả cho rằng:
- Đấy tài liệu thật đấy nhé. Chúng tôi thua chạy là bị Mỹ bỏ viện trợ, bị thằng cha quân sư quạt máy Kissinger đố kỵ chứ văn võ song toàn như chúng tôi, như phu quân của chúng tôi đây làm sao thua được cơ chứ? . .
Đang hừng hực với hào khí ấy, thì lại xuất hiện một ông Tiến sĩ nữa, ông này cũng là Tiến sĩ thật nhẩy ra phá đám, ông ấy trưng bằng cớ ( có giấy trắng mực đen thật. . .) rằng, thì, là, mà quyển " Khi Đồng Minh Tháo Chậy" chỉ là một mớ tài liệu tam sao thất bổn. . .
Đang lúc ông Tiến sĩ tác giả ê mặt thì lại xuất hiện một ông Tiến sĩ nữa, ông này cũng là Tiến sĩ thật, ông ấy viết bài, đầu bài ông ấy đặt ngay một câu hỏi to tướng:
- Ngày ấy, ông Thiệu sai ông Hưng và tôi ( Ts Ng.Ng.Linh) đi cầu viện nhưng chẳng biết tại sao ông ấy không đề cập đến tôi nhỉ?
Xin lỗi ông Tiến sĩ thật này nhá: Ông tác giả phải chờ đến khi nhân chứng số 1 là Tổng thống Thiệu quy tiên mới dám công bố những tài liệu kia, viết thêm tên ông vào bể mánh thì sao?
Anh học trò trên bị gọi là "Tiến Sĩ Giấy" cũng là oan cho anh ấy vì cái bằng Tiến sĩ của anh ta đâu có phải anh ta tự nhận đâu, anh ta được triều đình phong thưởng đàng hoàng. Gọi anh ta là "Tiến Sĩ Giấy" vì họ thấy cái thực học của anh ta chỉ là loại thùng rỗng kêu to mà thôi. . .
Còn nữa, giấy ngày xưa là giấy bồi, giấy bản. Văn nhã hơn là giấy hoa tiên. . .Nhưng tất cả dùng để thay những thẻ tre, thanh trúc để lưu lại cho đời sau những áng văn thơ bất hủ.
Giấy bây giờ, đa dụng hơn ngoài dùng chung với cây bút, dùng cho in ấn, còn dùng rất nhiều để làm vệ sinh nữa. . .
" Ông Tiến Sĩ Giấy" tác giả cuốn " Khi Đồng Minh Tháo Chạy" là loại " Giấy" gì vậy?
Phiếm Bà
Qua con sông nọ, có cô con gái mượn thuyền đưa đó để chọn chồng. Cô con nhà quan lại hay chữ. Cô chọn mãi à không có ai đáp được vế đối của cô. Đến anh học trò này cô lại hỏi:
- Thầy khoá đi thi chắc học rộng, biết nhiều, tôi xin ra một câu đối: “Long hữu túc, hà long bất tẩu”. Thầy mà đối được tôi xin theo thầy làm người nâng khăn sửa túi.
Anh nghĩ mãi, không tìm được câu đối lại, bèn tìm cách thoái thác:
- Tôi xin nói để cô và các thầy khoá biết, bây giờ tôi đang nghĩ đến văn bài, còn tâm trí nào mà nghĩ đến việc khác. Khi trở về, thế nào tôi cũng phải qua đây, tôi xin khất cô đến lúc trở về tôi sẽ đối.
Đến kinh đô thì khoá thi đã tan, anh đánh bạo vào nhà quan chủ khảo khiếu nại.
Ông quan đã tính mắng cho một trận rồi đuổi đi nhưng bị bà vợ nhân từ thúc ép vả lại bài thi vừa rồi các sĩ tử làm bài bết bác quá không kiếm ra được một ông tiến sĩ. Ông ta liền ra châ
- Thôi được! Ta sẽ làm ơn cho anh, khoa này còn đang thiếu một tiến sĩ. Bây giờ ta ra cho anh một câu đối, nếu anh đối được ta sẽ cho đỗ.
Nhìn quanh trong nhà, bất chợt thấy một bức trướng thêu mấy con phượng mà ông rất thích, ông liền đọc: “Phượng hữu dực, hà phượng vô phi”. Rồi ông nói: Đấy anh đối đi! Anh thanh niên nghĩ mãi, không tìm ra được vế đối lại. Anh lo quá, lo quan quở trách, lại lo lúc trở về cô lái đò giễu cợt. Thốt nhiên, anh nghĩ đến câu đối của cô lái đò, anh mừng quá, liền thưa với quan:
- Bẩm quan lớn, con xin mạn phép đối thế này “Long hữu túc, hà long bất tẩu”, có gì sai sót xin quan lớn tha thứ cho!
Ông bà quan phục quá,. . .Thế là anh ta được đổ Tiến sĩ.
Được đỗ tiến sĩ, anh thanh niên mừng lắm, trên đường vinh quy về làng, qua bến đò, anh mời cô lái đò lên và nói:
- Khi vào kinh qua đây, cô có ra cho tôi vế đối câu: “Long hữu túc, hà long bất tẩu”, nếu đối được cô sẽ nguyện làm bạn trăm năm. Lúc ấy, vì lo thi cử nên tôi khất cô đến khi về. Bây giờ công thành danh toại rồi tôi xin đối lại “Phượng hữu dực, hà phượng vô phi”, không biết như thế cô đã cho là chỉnh chưa?
Cô gái tấm tắc khen hay và ưng thuận làm vợ anh như lời cô đã hứa. Về sau những người trong xóm biết chuyện ấy, họ gọi anh là “Ông tiến sĩ giấy”.
Ở Hải ngoại mới đây cũng có một ông Tiến sĩ, ông ấy là tiến sĩ thật, ông ta viết được một quyển sách lấy tên là: " Khi Đồng Minh Tháo Chạy". . .Lập tức được sự ủng hộ của nhiều người Việt chống Cộng. . .
Trong khi tác giả và độc giả đang hả hê với những tài liệu sống thật, nhất là mấy ông quan tham, quan văn phòng, quan tháo chạy trước ngày 30 tháng Tư, mấy bà quan hám danh ngày trước hoặc mê cái bóng hão chắp nối sau này , thì lại càng hả hê. Tất cả cho rằng:
- Đấy tài liệu thật đấy nhé. Chúng tôi thua chạy là bị Mỹ bỏ viện trợ, bị thằng cha quân sư quạt máy Kissinger đố kỵ chứ văn võ song toàn như chúng tôi, như phu quân của chúng tôi đây làm sao thua được cơ chứ? . .
Đang hừng hực với hào khí ấy, thì lại xuất hiện một ông Tiến sĩ nữa, ông này cũng là Tiến sĩ thật nhẩy ra phá đám, ông ấy trưng bằng cớ ( có giấy trắng mực đen thật. . .) rằng, thì, là, mà quyển " Khi Đồng Minh Tháo Chậy" chỉ là một mớ tài liệu tam sao thất bổn. . .
Đang lúc ông Tiến sĩ tác giả ê mặt thì lại xuất hiện một ông Tiến sĩ nữa, ông này cũng là Tiến sĩ thật, ông ấy viết bài, đầu bài ông ấy đặt ngay một câu hỏi to tướng:
- Ngày ấy, ông Thiệu sai ông Hưng và tôi ( Ts Ng.Ng.Linh) đi cầu viện nhưng chẳng biết tại sao ông ấy không đề cập đến tôi nhỉ?
Xin lỗi ông Tiến sĩ thật này nhá: Ông tác giả phải chờ đến khi nhân chứng số 1 là Tổng thống Thiệu quy tiên mới dám công bố những tài liệu kia, viết thêm tên ông vào bể mánh thì sao?
Anh học trò trên bị gọi là "Tiến Sĩ Giấy" cũng là oan cho anh ấy vì cái bằng Tiến sĩ của anh ta đâu có phải anh ta tự nhận đâu, anh ta được triều đình phong thưởng đàng hoàng. Gọi anh ta là "Tiến Sĩ Giấy" vì họ thấy cái thực học của anh ta chỉ là loại thùng rỗng kêu to mà thôi. . .
Còn nữa, giấy ngày xưa là giấy bồi, giấy bản. Văn nhã hơn là giấy hoa tiên. . .Nhưng tất cả dùng để thay những thẻ tre, thanh trúc để lưu lại cho đời sau những áng văn thơ bất hủ.
Giấy bây giờ, đa dụng hơn ngoài dùng chung với cây bút, dùng cho in ấn, còn dùng rất nhiều để làm vệ sinh nữa. . .
" Ông Tiến Sĩ Giấy" tác giả cuốn " Khi Đồng Minh Tháo Chạy" là loại " Giấy" gì vậy?
Phiếm Bà
Kiếm ăn tối thượng hạ… văn chương
Gã công nhận mình là một tay bồi bút, bồi bút có thương hiệu. Đời này mà có kẻ dũng cảm đến thế kia ư? Đóng vai một “đại gia” (phải “đại gia” gã mới tiếp), tôi tò mò tìm đến nhà gã. Một ngôi nhà khang trang có tới bốn năm con bẹc-giê canh cổng. Trên tường đầy những dấu môi. Nở một nụ cười tiếp thị (những gã bồi bút thường có sẵn nụ cười như thế). Gã mở cổng đón tôi vào nhà.
Đó là một tay đàn ông đứng tuổi nom đỏ đớn, béo tốt và lùn tịt. Tôi thầm đoán gã phải “lục đoản” trở lên, không phải chỉ “ngũ đoản” mà thôi đâu. Mặt gã xấu nhưng linh lợi, đặc biệt là những chiếc răng. Những chiếc răng cái ngà ngà, cái vàng xỉn như răng chó nhưng chúng linh lợi đến nỗi không chịu đứng thẳng hàng. Quơ tay một vòng, gã bảo:
- Cơ ngơi này, nhờ viết lách mà có cả đấy. Trông “oách” không?
- Oách! Thế còn những dấu môi trên tường?
- À! Tại thiên hạ đến nhổ đấy. Nhà tôi biến thành cái ống nhổ từ lâu rồi. Họ nhổ hăng quá, nhổ hết sạch cả nước bọt trong mồm rồi mà vẫn chưa hả, đến nỗi phải trịn cả môi vào tường...
- Ông không thấy kinh sao?
- Có gì mà kinh. Người biết kinh thì không thể làm bồi bút. Bề ngoài không quan trọng. Ông vào nhà đi rồi sẽ thấy. Cái bên trong mới là cốt yếu.
- Ông lập danh bồi bút từ khi nào?
- Từ khi tôi hiểu ra hai chữ: “kế thừa”.
- Hiểu như thế nào?
- Hồi trẻ, cánh kẻ sĩ chúng tôi hăng hái lắm, hoạt động, phấn đấu không biết mệt. Tạo nên cả một thời văn ca, nhạc hót... tưng bừng. Vì thế lúc nào cũng được lãnh đạo xoa đầu khen: “Tốt lắm! các cậu xứng đáng là những người kế thừa...”
- Rồi sau đó thế nào?
- Sau đó cứ tiếp tục nghe cái điệp khúc “kế thừa”, “kế thừa”... ấy mãi. Cho đến khi khi tóc bắt đầu bạc...
- Tóc bạc thì làm sao
- Đến khi tóc bắt đầu bạc, tôi mới tỉnh ngộ. Thì ra “kế thừa” có nghĩa là...
- Nghĩa là gì?
- Là cái “kế” không bao giờ dùng đến.
- Điều ấy thì liên quan gì đến chuyện bồi bút?
- Mất toi cả tuổi trẻ, mới nhận ra mình chẳng qua chỉ là cái kế... “thừa”, nên mới phải đổi danh. Bây giờ thì rõ là bồi bút đấy. Nhưng đã nhằm nhò gì. Người ta còn... điếm thì sao? Không thế lấy gì mà đút vào mồm? Vợ con treo mõm lên à? Ngẫm cho kĩ, cũng là do cái “mả” nó thế. Ông nội tôi ngày trước bồi giấy. Bố tôi bồi bàn... Nhà tôi thế là tam đại “bồi” rồi đấy. Không biết đến đời con có còn “bồi” tiếp được chăng?
- Có lúc nào ông thấy nhục không?
- Có gì mà nhục. Người biết nhục thì càng không thể làm bồi bút. Ông nhìn tôi đây này, mặt đỏ không phải do xấu hổ đâu nhé. Chùi nhiều nó đỏ lên đấy ông ạ. Vả lại thiên hạ thiếu cha gì những cái “kế” cũng bị “thừa” như tôi. Ấy vậy mà vẫn còn may hơn bị coi là “kế tục” đấy.
- Kế tục thì làm sao?
- Thì là cái “kế”... “tục” chứ còn sao nữa. Tục lắm chỉ tổ dân họ chửi vụng cho. Vô phúc mà còn bị bêu riếu trong sử sách thì nhục đến muôn đời… Nhưng thôi, trước khi chuyển đề tài khác, ông chờ tôi tí nhé, đến giờ phải uống rồi.
Gã đi đến bên tường. Bấy giờ tôi mới để ý, trong nhà gã, xung quanh tường có rất nhiều đoạn ống thò ra, đầu mỗi ống đều được gắn một cái vòi. Không phải vòi nước. Thế là cái vòi gì? Tôi chưa kịp hỏi thì đã thấy gã ngậm vào một cái vòi như thế. Người bình thường phải cúi xuống mới ngậm được. Nhưng gã thì chỉ hơi ngửa cổ lên là cái vòi vừa đúng chỗ cửa miệng.
Mút một hồi, gã liếm mép, khà! một tiếng rồi quay lại chỗ tôi:
- Rượu Tây đấy, ngon quá. Đúng “rô–lơ–uếch–cơ” thứ thiệt.
Thì ra là một cái vòi rượu gắn sẵn trên tường. Thật là một kiểu ăn chơi chưa từng thấy bao giờ. Gã tiếp tục:
- Tôi lập danh bồi bút cũng là một cách tương kế tựu kế. Lãnh đạo đã sẵn coi mình là “thừa” từ hồi còn trẻ. Nay mình không chịu “thừa” thì đã sao. Thế mà có thằng nó chửi tôi là góp phần làm hỏng đồng bào đấy ông ạ.
- Hỏng là hỏng thế nào?
- Là nham nhở cái phần làm người. Nhưng nếu có hỏng, thì cũng hỏng từ lâu rồi. Chứ có đợi đến lượt tôi làm hỏng đâu. Chính tôi còn hỏng gấp mấy lần ấy chứ. Lại có thằng nó chửi tôi là góp phần làm ngu đồng bào đấy ông ạ.
- Ngu là ngu làm sao?
- Là mờ mịt trước đạo lý. Nhưng nếu có ngu, thì cũng ngu từ lâu rồi. Chứ có đợi đến lượt tôi làm ngu đâu. Chính tôi còn ngu gấp mấy lần ấy chứ. Lại có thằng khác, nó chửi tôi là góp phần làm câm đồng bào đấy ông ạ.
- Câm là câm thế nào?
- Là lặng thinh trước sự thật. Nhưng nếu có câm, thì cũng câm từ lâu rồi. Chứ có đợi đến lượt tôi làm câm đâu. Chính tôi còn câm gấp mấy lần ấy chứ. Lại có thằng khác nữa, nó chửi tôi là góp phần làm điếc đồng bào đấy ông ạ.
- Điếc là điếc làm sao?
- Là tảng lờ trước bất công. Nhưng nếu có điếc, thì cũng điếc từ lâu rồi. Chứ có đợi đến lượt tôi làm điếc đâu. Chính tôi còn điếc gấp mấy lần ấy chứ. Cũng có thằng nó chửi tôi là góp phần làm hèn đồng bào đấy ông ạ.
- Hèn là hèn thế nào?
- Là rụt cổ trước bạo lực. Nhưng nếu có hèn, thì cũng hèn từ lâu rồi. Chứ có đợi đến lượt tôi làm hèn đâu. Chính tôi còn hèn gấp mấy lần ấy chứ. Chúng nó còn chửi nhiều lắm... Nhưng thôi, đến giờ tôi phải nạp dinh dưỡng rồi, ông chờ tôi tí nhé.
Gã lại đến ngậm vào một cái vòi khác. Sau một hồi mút mút, gã liếm mép rồi quay lại bảo:
- Sữa “Cô gái Nhà quê” đấy. Vừa thơm ngon, vừa béo ngậy, mặc dù: “sữa mẹ là tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ...”
Thì ra cái vòi thứ hai ấy là một vòi sữa cũng gắn sẵn trên tường. Không biết những vòi khác chứa cái gì vậy? Vừa lúc đó có tiếng chuông điện thoại. Gã vồ lấy cái tổ hợp, tiện tay nhấn nút khuếch đại cho tôi cùng nghe. Giọng đầu dây bên kia như người ngạt mũi:
- “H...” đấy phải không?
- Dạ! Dạ! Em “H...” đây ạ.
Gã chưa biết đầu dây kia là ai, mà đã dạ dạ sẵn (những gã bồi bút cũng thường hay dạ sẵn như vậy).
- Tớ là “X...” đây. Chắc cậu biết rồi đấy. Gần đây, có một số tờ báo “nó” chửi tớ. Chửi tớ tức là chửi lãnh đạo. Chửi lãnh đạo tức là chửi... tức là... chửi đồng bào. Cậu hiểu không? Phải lên tiếng ngay lập tức...
- Dạ! Dạ! em sẽ bịt mồm chúng nó lại ngay ạ.
- Nhưng phải bịt sao cho có văn vẻ, có dân chủ đàng hoàng. Không dùng cái lối cả vú lấp miệng lỗi thời ngày trước... nghe chưa?
- Dạ! Dạ! Cái đó thì anh cứ tin tưởng ở em ạ. Em đã được học bao nhiêu kinh điển, đã từng đọc bao nhiêu sách... nên em mà bịt thì bao giờ cũng rất có văn. Văn em còn hay hơn khối anh tiến sĩ thời nay đấy. Tiến sĩ tiến xiếc gì mà mỗi khi lên ti vi tán văn chương, nghe cứ như những con vẹt được mớm sẵn lời...
- Thôi được rồi. Cậu không cần phải tranh thủ quảng cáo. Cứ thế mà viết ngay đi...
Gác máy điện thoại xuống, gã quay lại phía tôi, xoa hai tay vào nhau, ra vẻ hớn hở:
- Chuyến này lại gắn thêm được một cái vòi nữa lên tường rồi. Ông đã biết chưa? Không dũng cảm nhận thẳng mình là thằng bồi bút, thì làm sao có người đặt hàng. Đó chính là một cách quảng cáo thương hiệu của “kẻ sĩ” thời nay đấy. Thế mới gọi là: “người khôn vác... trôn đi trước”. Khối anh nhà văn, nhà thơ bây giờ, có mỗi cái mặt đạo đức giả, lại cứ tưởng đẹp lắm, lúc nào cũng đòi trưng ra, chỉ tổ cho người ta khinh, vừa dùng vừa khinh. Văn chương thị trường, định hướng... mà.
Tất nhiên là tôi đã biết, biết gần hết. Chỉ có chưa biết những cái ống ấy được gắn vào đâu ở đầu phía bên kia, mà mút ra toàn rượu Tây với sữa... như thế? Sau lần ấy, tôi bỏ hàng tháng trời tìm kiếm, lần mò. Những cái ống vươn từ nhà gã ra chạy ngoằn ngoèo khắp các ngả. Cuối cùng, tôi cũng tìm được cái đầu bên kia của chúng. Thì ra, chúng đều được gắn vào... bồn cầu của nhà mấy ông lớn!
Phạm Lưu Vũ
Cùng một tác giả: Chị Cả Bống
Đó là một tay đàn ông đứng tuổi nom đỏ đớn, béo tốt và lùn tịt. Tôi thầm đoán gã phải “lục đoản” trở lên, không phải chỉ “ngũ đoản” mà thôi đâu. Mặt gã xấu nhưng linh lợi, đặc biệt là những chiếc răng. Những chiếc răng cái ngà ngà, cái vàng xỉn như răng chó nhưng chúng linh lợi đến nỗi không chịu đứng thẳng hàng. Quơ tay một vòng, gã bảo:
- Cơ ngơi này, nhờ viết lách mà có cả đấy. Trông “oách” không?
- Oách! Thế còn những dấu môi trên tường?
- À! Tại thiên hạ đến nhổ đấy. Nhà tôi biến thành cái ống nhổ từ lâu rồi. Họ nhổ hăng quá, nhổ hết sạch cả nước bọt trong mồm rồi mà vẫn chưa hả, đến nỗi phải trịn cả môi vào tường...
- Ông không thấy kinh sao?
- Có gì mà kinh. Người biết kinh thì không thể làm bồi bút. Bề ngoài không quan trọng. Ông vào nhà đi rồi sẽ thấy. Cái bên trong mới là cốt yếu.
- Ông lập danh bồi bút từ khi nào?
- Từ khi tôi hiểu ra hai chữ: “kế thừa”.
- Hiểu như thế nào?
- Hồi trẻ, cánh kẻ sĩ chúng tôi hăng hái lắm, hoạt động, phấn đấu không biết mệt. Tạo nên cả một thời văn ca, nhạc hót... tưng bừng. Vì thế lúc nào cũng được lãnh đạo xoa đầu khen: “Tốt lắm! các cậu xứng đáng là những người kế thừa...”
- Rồi sau đó thế nào?
- Sau đó cứ tiếp tục nghe cái điệp khúc “kế thừa”, “kế thừa”... ấy mãi. Cho đến khi khi tóc bắt đầu bạc...
- Tóc bạc thì làm sao
- Đến khi tóc bắt đầu bạc, tôi mới tỉnh ngộ. Thì ra “kế thừa” có nghĩa là...
- Nghĩa là gì?
- Là cái “kế” không bao giờ dùng đến.
- Điều ấy thì liên quan gì đến chuyện bồi bút?
- Mất toi cả tuổi trẻ, mới nhận ra mình chẳng qua chỉ là cái kế... “thừa”, nên mới phải đổi danh. Bây giờ thì rõ là bồi bút đấy. Nhưng đã nhằm nhò gì. Người ta còn... điếm thì sao? Không thế lấy gì mà đút vào mồm? Vợ con treo mõm lên à? Ngẫm cho kĩ, cũng là do cái “mả” nó thế. Ông nội tôi ngày trước bồi giấy. Bố tôi bồi bàn... Nhà tôi thế là tam đại “bồi” rồi đấy. Không biết đến đời con có còn “bồi” tiếp được chăng?
- Có lúc nào ông thấy nhục không?
- Có gì mà nhục. Người biết nhục thì càng không thể làm bồi bút. Ông nhìn tôi đây này, mặt đỏ không phải do xấu hổ đâu nhé. Chùi nhiều nó đỏ lên đấy ông ạ. Vả lại thiên hạ thiếu cha gì những cái “kế” cũng bị “thừa” như tôi. Ấy vậy mà vẫn còn may hơn bị coi là “kế tục” đấy.
- Kế tục thì làm sao?
- Thì là cái “kế”... “tục” chứ còn sao nữa. Tục lắm chỉ tổ dân họ chửi vụng cho. Vô phúc mà còn bị bêu riếu trong sử sách thì nhục đến muôn đời… Nhưng thôi, trước khi chuyển đề tài khác, ông chờ tôi tí nhé, đến giờ phải uống rồi.
Gã đi đến bên tường. Bấy giờ tôi mới để ý, trong nhà gã, xung quanh tường có rất nhiều đoạn ống thò ra, đầu mỗi ống đều được gắn một cái vòi. Không phải vòi nước. Thế là cái vòi gì? Tôi chưa kịp hỏi thì đã thấy gã ngậm vào một cái vòi như thế. Người bình thường phải cúi xuống mới ngậm được. Nhưng gã thì chỉ hơi ngửa cổ lên là cái vòi vừa đúng chỗ cửa miệng.
Mút một hồi, gã liếm mép, khà! một tiếng rồi quay lại chỗ tôi:
- Rượu Tây đấy, ngon quá. Đúng “rô–lơ–uếch–cơ” thứ thiệt.
Thì ra là một cái vòi rượu gắn sẵn trên tường. Thật là một kiểu ăn chơi chưa từng thấy bao giờ. Gã tiếp tục:
- Tôi lập danh bồi bút cũng là một cách tương kế tựu kế. Lãnh đạo đã sẵn coi mình là “thừa” từ hồi còn trẻ. Nay mình không chịu “thừa” thì đã sao. Thế mà có thằng nó chửi tôi là góp phần làm hỏng đồng bào đấy ông ạ.
- Hỏng là hỏng thế nào?
- Là nham nhở cái phần làm người. Nhưng nếu có hỏng, thì cũng hỏng từ lâu rồi. Chứ có đợi đến lượt tôi làm hỏng đâu. Chính tôi còn hỏng gấp mấy lần ấy chứ. Lại có thằng nó chửi tôi là góp phần làm ngu đồng bào đấy ông ạ.
- Ngu là ngu làm sao?
- Là mờ mịt trước đạo lý. Nhưng nếu có ngu, thì cũng ngu từ lâu rồi. Chứ có đợi đến lượt tôi làm ngu đâu. Chính tôi còn ngu gấp mấy lần ấy chứ. Lại có thằng khác, nó chửi tôi là góp phần làm câm đồng bào đấy ông ạ.
- Câm là câm thế nào?
- Là lặng thinh trước sự thật. Nhưng nếu có câm, thì cũng câm từ lâu rồi. Chứ có đợi đến lượt tôi làm câm đâu. Chính tôi còn câm gấp mấy lần ấy chứ. Lại có thằng khác nữa, nó chửi tôi là góp phần làm điếc đồng bào đấy ông ạ.
- Điếc là điếc làm sao?
- Là tảng lờ trước bất công. Nhưng nếu có điếc, thì cũng điếc từ lâu rồi. Chứ có đợi đến lượt tôi làm điếc đâu. Chính tôi còn điếc gấp mấy lần ấy chứ. Cũng có thằng nó chửi tôi là góp phần làm hèn đồng bào đấy ông ạ.
- Hèn là hèn thế nào?
- Là rụt cổ trước bạo lực. Nhưng nếu có hèn, thì cũng hèn từ lâu rồi. Chứ có đợi đến lượt tôi làm hèn đâu. Chính tôi còn hèn gấp mấy lần ấy chứ. Chúng nó còn chửi nhiều lắm... Nhưng thôi, đến giờ tôi phải nạp dinh dưỡng rồi, ông chờ tôi tí nhé.
Gã lại đến ngậm vào một cái vòi khác. Sau một hồi mút mút, gã liếm mép rồi quay lại bảo:
- Sữa “Cô gái Nhà quê” đấy. Vừa thơm ngon, vừa béo ngậy, mặc dù: “sữa mẹ là tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ...”
Thì ra cái vòi thứ hai ấy là một vòi sữa cũng gắn sẵn trên tường. Không biết những vòi khác chứa cái gì vậy? Vừa lúc đó có tiếng chuông điện thoại. Gã vồ lấy cái tổ hợp, tiện tay nhấn nút khuếch đại cho tôi cùng nghe. Giọng đầu dây bên kia như người ngạt mũi:
- “H...” đấy phải không?
- Dạ! Dạ! Em “H...” đây ạ.
Gã chưa biết đầu dây kia là ai, mà đã dạ dạ sẵn (những gã bồi bút cũng thường hay dạ sẵn như vậy).
- Tớ là “X...” đây. Chắc cậu biết rồi đấy. Gần đây, có một số tờ báo “nó” chửi tớ. Chửi tớ tức là chửi lãnh đạo. Chửi lãnh đạo tức là chửi... tức là... chửi đồng bào. Cậu hiểu không? Phải lên tiếng ngay lập tức...
- Dạ! Dạ! em sẽ bịt mồm chúng nó lại ngay ạ.
- Nhưng phải bịt sao cho có văn vẻ, có dân chủ đàng hoàng. Không dùng cái lối cả vú lấp miệng lỗi thời ngày trước... nghe chưa?
- Dạ! Dạ! Cái đó thì anh cứ tin tưởng ở em ạ. Em đã được học bao nhiêu kinh điển, đã từng đọc bao nhiêu sách... nên em mà bịt thì bao giờ cũng rất có văn. Văn em còn hay hơn khối anh tiến sĩ thời nay đấy. Tiến sĩ tiến xiếc gì mà mỗi khi lên ti vi tán văn chương, nghe cứ như những con vẹt được mớm sẵn lời...
- Thôi được rồi. Cậu không cần phải tranh thủ quảng cáo. Cứ thế mà viết ngay đi...
Gác máy điện thoại xuống, gã quay lại phía tôi, xoa hai tay vào nhau, ra vẻ hớn hở:
- Chuyến này lại gắn thêm được một cái vòi nữa lên tường rồi. Ông đã biết chưa? Không dũng cảm nhận thẳng mình là thằng bồi bút, thì làm sao có người đặt hàng. Đó chính là một cách quảng cáo thương hiệu của “kẻ sĩ” thời nay đấy. Thế mới gọi là: “người khôn vác... trôn đi trước”. Khối anh nhà văn, nhà thơ bây giờ, có mỗi cái mặt đạo đức giả, lại cứ tưởng đẹp lắm, lúc nào cũng đòi trưng ra, chỉ tổ cho người ta khinh, vừa dùng vừa khinh. Văn chương thị trường, định hướng... mà.
Tất nhiên là tôi đã biết, biết gần hết. Chỉ có chưa biết những cái ống ấy được gắn vào đâu ở đầu phía bên kia, mà mút ra toàn rượu Tây với sữa... như thế? Sau lần ấy, tôi bỏ hàng tháng trời tìm kiếm, lần mò. Những cái ống vươn từ nhà gã ra chạy ngoằn ngoèo khắp các ngả. Cuối cùng, tôi cũng tìm được cái đầu bên kia của chúng. Thì ra, chúng đều được gắn vào... bồn cầu của nhà mấy ông lớn!
Phạm Lưu Vũ
Cùng một tác giả: Chị Cả Bống
Cổng Thiên Đường
Bạn hiền!
Hôm qua BTL tôi đọc báo, nghe tin thông tấn xã AP, phát đi từ Luân Đôn, cho hay nhóm giáo phái Cổng Thiên Đường có đặt mua bảo hiểm "đề phòng bị người hành tinh tấn công". Nếu trường hợp người hành tinh - mà BTLtôi đã thấy trong trang nhà của nhóm Cổng Thiên Đường, có cái đầu hình tam giác và hai con mắt ếch - mần thịt mấy tên đóng bảo hiểm này, hãng bảo hiểm phải đền cho thân nhân của họ số tiền 1 triệu Mỹ kim.
Hãng AP còn cho hay là hiện nay trên thế giới có khoảng 40 nghìn người đang đặt mua bảo hiểm loại này. Số tiền họ phải nộp cho hãng bảo hiểm hàng năm là 1 nghìn đô. Lấy 1 triệu chi cho 1 nghìn ta có con số 1000 (BTLtôi làm toán chia đúng không hở các thầy?). Hiện nay trên thế giới chưa có ai sống thọ đến ngần ấy tuổi. Ngày xưa, ông nhạc sĩ Y Vân đã ví: "Em ơi có bao nhiêu, 60 năm cuộc đời!". Ngày nay tuổi thọ được nâng cao, mấy cụ bên Nhật bách niên giai lão là chuyện thường. Nhưng mà cho dù tho cỡ nào đi nữa cũng chưa có ai sống qua 200 tuổi. Làm một bài toán nhân, thấy mấy người đóng bảo hiểm này lời chán! Đóng chưa quá 200 xấp mà được bồi thường 1 triệu ngon ơ!
Nhưng vấn đề ở đây không phải là lời với lỗ. Vấn đề BTL tôi muốn bàn là chuyện tín ngưỡng. Thời đại hậu nguyên tử, phi thuyền con thoi đi vào vũ trụ ào ào,thế mà cũng còn có kẻ cả tin chuyện người hành tinh,chuyện dĩa bay UFO. Nhiều lúc BTL tôi nghĩ vẩn vơ, có lẽ tại vì sự phát triển của khoa học kỹ thuật manh nha lòng cuồng tín của con người chăng? Có lẽ theo đạo Phật, đạo Chúa, Hồi Giáo,... mãi rồi con người đâm ra nhàm chán (như dân Mỹ hay gọi là "get bored"). Vì vậy họ cần phải đặt niềm tin vào tôn giáo nào có vẻ cập nhật hóa một chút, như đạo UFO của ông thần Marshall Applewhite chẳng hạn.Một ảnh hưởng khác,theo BTLtôi nghĩ, là do ảnh hưởng báo chí và phim ảnh. Như cuốn phim "Independence Day" ghi lại cuộc tấn công của người hành tinh trên địa cầu. Thật là bá láp! Thế mà thiên hạ đổ xô đi xem, xếp hàng dài lòng thòng trước các cửa rạp, mới tuần lễ đầu mà Hollywood đã hốt về hàng chục triệu. Nhiêu đó cũng đủ thấy dân Mỹ mê chuyện giả tưởng, hoang đường đến mức nào rồi.
Mình thì nghĩ rằng những tên mua bảo hiểm cho người hành tinh là dại, còn họ thì họ nghĩ là họ khôn, biết lo xa. Ôi thôi, mỗi người mỗi ý, biết đâu mà lần.Nhưng có một điều chắc chắn là nếu BTL tôi có tiền, tôi sẽ mở công ty bán bảo hiểm loại này. Có lẽ có bạn hiền sẽ hỏi: "Thế ngộ nhỡ có người hành tinh thật tấn công, BTL lấy đâu ra tiền để trả cho họ?" Ừ nhỉ, nhỡ mình có 40 nghìn khách hàng, vị chi là phải bồi thường 40 tỉ Mỹ kim! Hì hì, câu trả lời dễ ẹt! BTL tôi chỉ việc nốc vodka với phenobarbital rồi leo lên phi thuyền núp đằng sau sao chổi là xong. Họ có muốn đòi BTL tôi cũng không được. Thế mới hay:
Bắt thang lên hỏi ông Giời
Tiền trao cho hắn có đòi được không?
Đố các bạn hiền biết hắn ở đây là ai.
B T L
Hôm qua BTL tôi đọc báo, nghe tin thông tấn xã AP, phát đi từ Luân Đôn, cho hay nhóm giáo phái Cổng Thiên Đường có đặt mua bảo hiểm "đề phòng bị người hành tinh tấn công". Nếu trường hợp người hành tinh - mà BTLtôi đã thấy trong trang nhà của nhóm Cổng Thiên Đường, có cái đầu hình tam giác và hai con mắt ếch - mần thịt mấy tên đóng bảo hiểm này, hãng bảo hiểm phải đền cho thân nhân của họ số tiền 1 triệu Mỹ kim.
Hãng AP còn cho hay là hiện nay trên thế giới có khoảng 40 nghìn người đang đặt mua bảo hiểm loại này. Số tiền họ phải nộp cho hãng bảo hiểm hàng năm là 1 nghìn đô. Lấy 1 triệu chi cho 1 nghìn ta có con số 1000 (BTLtôi làm toán chia đúng không hở các thầy?). Hiện nay trên thế giới chưa có ai sống thọ đến ngần ấy tuổi. Ngày xưa, ông nhạc sĩ Y Vân đã ví: "Em ơi có bao nhiêu, 60 năm cuộc đời!". Ngày nay tuổi thọ được nâng cao, mấy cụ bên Nhật bách niên giai lão là chuyện thường. Nhưng mà cho dù tho cỡ nào đi nữa cũng chưa có ai sống qua 200 tuổi. Làm một bài toán nhân, thấy mấy người đóng bảo hiểm này lời chán! Đóng chưa quá 200 xấp mà được bồi thường 1 triệu ngon ơ!
Nhưng vấn đề ở đây không phải là lời với lỗ. Vấn đề BTL tôi muốn bàn là chuyện tín ngưỡng. Thời đại hậu nguyên tử, phi thuyền con thoi đi vào vũ trụ ào ào,thế mà cũng còn có kẻ cả tin chuyện người hành tinh,chuyện dĩa bay UFO. Nhiều lúc BTL tôi nghĩ vẩn vơ, có lẽ tại vì sự phát triển của khoa học kỹ thuật manh nha lòng cuồng tín của con người chăng? Có lẽ theo đạo Phật, đạo Chúa, Hồi Giáo,... mãi rồi con người đâm ra nhàm chán (như dân Mỹ hay gọi là "get bored"). Vì vậy họ cần phải đặt niềm tin vào tôn giáo nào có vẻ cập nhật hóa một chút, như đạo UFO của ông thần Marshall Applewhite chẳng hạn.Một ảnh hưởng khác,theo BTLtôi nghĩ, là do ảnh hưởng báo chí và phim ảnh. Như cuốn phim "Independence Day" ghi lại cuộc tấn công của người hành tinh trên địa cầu. Thật là bá láp! Thế mà thiên hạ đổ xô đi xem, xếp hàng dài lòng thòng trước các cửa rạp, mới tuần lễ đầu mà Hollywood đã hốt về hàng chục triệu. Nhiêu đó cũng đủ thấy dân Mỹ mê chuyện giả tưởng, hoang đường đến mức nào rồi.
Mình thì nghĩ rằng những tên mua bảo hiểm cho người hành tinh là dại, còn họ thì họ nghĩ là họ khôn, biết lo xa. Ôi thôi, mỗi người mỗi ý, biết đâu mà lần.Nhưng có một điều chắc chắn là nếu BTL tôi có tiền, tôi sẽ mở công ty bán bảo hiểm loại này. Có lẽ có bạn hiền sẽ hỏi: "Thế ngộ nhỡ có người hành tinh thật tấn công, BTL lấy đâu ra tiền để trả cho họ?" Ừ nhỉ, nhỡ mình có 40 nghìn khách hàng, vị chi là phải bồi thường 40 tỉ Mỹ kim! Hì hì, câu trả lời dễ ẹt! BTL tôi chỉ việc nốc vodka với phenobarbital rồi leo lên phi thuyền núp đằng sau sao chổi là xong. Họ có muốn đòi BTL tôi cũng không được. Thế mới hay:
Bắt thang lên hỏi ông Giời
Tiền trao cho hắn có đòi được không?
Đố các bạn hiền biết hắn ở đây là ai.
B T L
Chó cũng đi bầu
WELLINGTON: Cuộc tuyển cử ở Tân Tây Lan đang lâm vào một cơn bão tranh cãi sau khi có cáo buộc là một con chó đã nhận được phiếu cử tri để đi bầu trong cuộc tuyển cử vừa qua.
Toby Russell Rohodes, một con chó 4 tuổi thuộc giống Jack Russell, đã được ghi danh tuyển cử bởi chủ nhân của nó, Peter Rhodes, trong một hành động nhằm chống đối guồng máy hành chánh của xứ Tân Tây Lan.
Ông Rhodes đã ghi ngày sinh của con chó là 4.7.1977, tức số tuổi tương đương với con người theo cách tính của ông ta. Thậm chí là ông ta còn cung cấp dấu chân chó như là bằng chứng nhận diện.
Cần biết là việc ghi danh bầu cử là điều bắt buộc ở Tân Tây Lan, mặc dù chuyện đi bầu là tự nguyện.
Ông Rhodes nói rằng người bạn thiết 4 chân của ông thật sự có đi bỏ phiếu. Tuy nhiên giới hữu trách không cho rằng đây là chuyện buồn cười. Murray Wicks thuộc ủy ban tuyển cử cho biết: 'Đây là một vụ phạm pháp và bất cứ ai làm điều đó sẽ bị giải giao cho cảnh sát điều tra'.
Xem thêm ở đây:
http://www.news.com.au/story/0,10117,16 ... 62,00.html
WELLINGTON: Cuộc tuyển cử ở Tân Tây Lan đang lâm vào một cơn bão tranh cãi sau khi có cáo buộc là một con chó đã nhận được phiếu cử tri để đi bầu trong cuộc tuyển cử vừa qua.
Toby Russell Rohodes, một con chó 4 tuổi thuộc giống Jack Russell, đã được ghi danh tuyển cử bởi chủ nhân của nó, Peter Rhodes, trong một hành động nhằm chống đối guồng máy hành chánh của xứ Tân Tây Lan.Ông Rhodes đã ghi ngày sinh của con chó là 4.7.1977, tức số tuổi tương đương với con người theo cách tính của ông ta. Thậm chí là ông ta còn cung cấp dấu chân chó như là bằng chứng nhận diện.
Cần biết là việc ghi danh bầu cử là điều bắt buộc ở Tân Tây Lan, mặc dù chuyện đi bầu là tự nguyện.
Ông Rhodes nói rằng người bạn thiết 4 chân của ông thật sự có đi bỏ phiếu. Tuy nhiên giới hữu trách không cho rằng đây là chuyện buồn cười. Murray Wicks thuộc ủy ban tuyển cử cho biết: 'Đây là một vụ phạm pháp và bất cứ ai làm điều đó sẽ bị giải giao cho cảnh sát điều tra'.
Xem thêm ở đây:
http://www.news.com.au/story/0,10117,16 ... 62,00.html

