Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng thêm lỗ thủng lớn

Ngô Nhân Dụng


Ông Nguyễn Tấn Dũng là người nâng cao quyền hành của chức thủ tướng lên đỉnh cao nhất trong lịch sử hệ thống cai trị cộng sản ở Việt Nam.

Vị thủ tướng đầu tiên là ông Phạm Văn Ðồng gần như không có quyền nào cả; tất cả các quyết định cho guồng máy nhà nước thi hành đều nằm trong tay chức tổng bí thư. Các ông Ðỗ Mười, Võ Văn Kiệt đã đoạt được nhiều quyền hơn nhờ thế lực và vây cánh của họ lên cao gần bằng những người nắm chức tổng bí thư. Nhưng ông Nguyễn Tấn Dũng thì đã lấn áp cả Nông Ðức Mạnh và sẽ qua mặt luôn cả Nguyễn Phú Trọng. Bởi vì Nguyễn Tấn Dũng là vị thủ tướng đầu tiên giành quyền kiểm soát các công ty quốc doanh vào trong tay mình.

Ông Phan Văn Khải đã đặt ra hệ thống các tổng công ty, vì muốn bắt chước các chaebol của Nam Hàn; nghĩ rằng công ty càng lớn thì càng làm ăn giỏi. Ðó là một ảo tưởng. Ở Ðại Hàn người ta thành công vì trên căn bản các đại công ty là của tư nhân, họ làm việc lời ăn lỗ chịu, cho nên phải cố gắng kiếm lời. Còn ở Việt Nam thì các tổng công ty do nhà nước cai quản, các vị quản đốc tiêu tiền chùa, nếu tiền mất tật mang thì không phải họ mang tật mà công quỹ gánh chịu, toàn dân Việt Nam sẽ mang thương tích!

Lúc mới lên, ông Nguyễn Tấn Dũng đặt ra một hình thức công ty mới, gọi là tập đoàn. Tại sao gọi tên tổng công ty không đủ mà lại phải đổi? Thứ nhất là những chữ Tập đoàn Kinh tế rất thông dụng ở Trung Quốc; dùng cùng một danh từ như Trung Quốc là noi theo chính sách của Hồ Chí Minh đời trước. Ông Hồ đã có công nhập cảng rất nhiều danh từ của phương Bắc, như chỉnh huấn, cải tạo lao động, đấu tố, đảm bảo, hộ lý, vân vân. Lý do thứ hai là nhân dịp đặt tên mới, sẽ tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nuớc, ông Nguyễn Tấn Dũng có cơ hội “tái cấu trúc” bằng cách tập trung tất cả các Tập đoàn Kinh tế vào trong tay Phủ Thủ Tướng! Trước kia các công ty than đá, dầu khí thuộc một bộ, các công ty vận tải hay tin học, viễn thông thuộc những bộ phụ trách các ngành này. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã rút tất cả ra khỏi quyền kiểm soát của các bộ trưởng để tập trung vào tay mình. Có thể coi ông là ông chủ lớn của tất cả các Tập đoàn Kinh tế và tổng công ty thuộc nhà nước Việt Nam! Cho nên phải gọi chung tất cả các xí nghiệp đó là Tập đoàn Kinh tế Nguyễn Tấn Dũng!

Nắm các doanh nghiệp nhà nuớc là nắm quyền ban phát ân huệ. Tất cả các vị quản đốc doanh nghiệp nhà nuớc từ trên xuống dưới được hưởng địa vị, lương bổng, quyền hành, là do ông thủ tướng ban cho. Quyết định đặt một nhà máy ở đâu, cho ai vay mượn, cũng nằm trong tay ông thủ tướng. Nghĩa là các bí thư tỉnh, thành, quận huyện, vân vân, đều phải tìm đến cửa ông thủ tướng để vận động xin ân huệ! Vì thế, trước kỳ đại hội đảng Cộng Sản vừa qua, cả nước nghĩ rằng ông Nguyễn Tấn Dũng phải ra đi sau những chính sách mất lòng dân và thất bại kinh tế thấy rõ như ban ngày (Vinashin, lạm phát phi mã, bô xít, cho thuê rừng vân vân) nhưng cuối cùng Nông Ðức Mạnh và Nguyễn Minh Triết phải ra đi chứ ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn vững như bàn thạch! Trong số các đại biểu đi bỏ phiếu có bao nhiêu người đã được Nguyễn Tấn Dũng ban phát ân huệ?

Nhưng Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng lèo lái con thuyền kinh tế Việt Nam đi về đâu? Ngày hôm qua, bản tin Bloomberg News loan báo một nhà phân tích của Công ty Standard & Poor's là ông Kim Eng Tan, ở Singapore-based đã báo động rằng nước Việt Nam có ổn định hay không tùy thuộc khả năng chính quyền có giảm bớt được tốc độ gia tăng của tổng số ngân hàng cho vay hay không. Năm ngoái, công ty S&P cùng với 2 công ty thẩm lượng tín dụng Moody's và Fitch Ratings đều đã đánh điểm tín nhiệm của nước Việt Nam rớt xuống hạng “đầu tư nhiều rủi ro.” Trước những vụ xì căng đan như vụ Vinashin không có tiền nhỏ trả định kỳ cho những món nợ khổng lồ hàng tỷ đô la, các ngân hàng quốc tế mất lòng tin vào khả năng trả nợ của cả nước Việt Nam, điểm tín nhiệm tất nhiên phải xuống thấp. Bản tin Bloomberg cũng nhắc nhở rằng cán cân mậu dịch thâm thủng của nước ta lên tới 1.15 tỷ Mỹ kim trong tháng 3, cao hơn số khiếm hụt 1.11 tỷ vào tháng 2. Số dự trữ ngoại tệ của Việt Nam chỉ còn $12.4 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm 2010 so với $14.1 tỷ năm 2009 và $23 tỷ năm 2008, theo con số của Ngân Hàng Thế Giới.

Với số dự trữ ngoại tệ không đủ để trả một tháng hàng nhập cảng, tất cả các nhà cung cấp nước ngoài khi bán hàng cho người Việt Nam sẽ rất dè dặt không dám bán chịu, và các nhà nhập cảng trong nước sẽ khó đi vay nợ quốc tế để mua hàng. Ông Kim Eng Tan mô tả là các doanh nghiệp Việt Nam đang “chiến đấu vất vả” để có ngoại tệ cho họ tiếp tục làm ăn! Tất nhiên hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng giá; thêm một nguyên nhân khiến giá sinh hoạt lên cao, ngoài những lý do dễ thấy là điện, xăng tăng giá, hối suất đô la Mỹ lên cao, dân lo đổi tiền mặt lấy hàng hóa để ngừa lạm phát. Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam đã tăng lên tới 14% trong tháng 3 vừa qua đúng như đã được tiên đoán.

Nhìn vào các con số đó, phải kết luận Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng đang ăn vào vốn, loay hoay không thấy đường thoát! Trong khi đó, tập đoàn này lại càng ngày càng sa lầy trong các vụ xì căng đan không thể bưng bít được. Vụ Vinashin thua lỗ hàng tỷ Mỹ kim chưa biết sẽ giải quyết ra sao, lại thêm một cái “lỗ thủng lớn” mới được khui ra, là vụ công ty tài chánh ALC II, tức Công ty Cho thuê Tài chính II thuộc Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, còn gọi la Agribank.

“Cho thuê Tài chánh” là một từ mới, quen gọi là lease financing trong thuật ngữ tài chánh tiếng Anh, người Trung Quốc gọi là “tô nhấm (cho thuê) lý tài (cho vay)” ở Ðài Loan gọi là “tô nhấm tài phí.” Nó bao gồm hai hoạt động: Cho vay tiền (tài chánh), và Cho thuê những máy móc, dụng cụ, thiết bị mua được nhờ số tiền cho vay đó. Nói giản dị, công việc của ALC II là cho vay nợ, cũng giống như ngân hàng vay vậy.

Ðiểm mới mẻ là khi dùng thủ tục “lease financing” này thì ngân hàng chủ nợ không đưa tiền cho con nợ, tức người đi vay. Chủ nợ sẽ mua các máy móc, thiết bị mà người vay cần, rồi sau khi mua về sẽ cho người vay sử dụng các máy đó trong thời hạn của món nợ. Con nợ sẽ phải trả tiền lãi và vốn định kỳ, không khác gì quý vị ở Mỹ trả nợ khi đi vay tiền mua nhà. Khác với các món nợ mua nhà, những máy móc mà con nợ lease financing sử dụng vẫn thuộc quyền sở hữu của ngân hàng chủ nợ.

Làm ăn trong ngành “Cho thuê Tài chánh” như vậy phải coi là “ăn chắc!” Ngân hàng cho thân chủ vay tiền mua máy, nhưng ai cũng chỉ cho vay sau khi đã xem xét dự án họ muốn dùng cái máy đó vào việc gì. Tất nhiên, ngân hàng sẽ phải coi dự án đầu tư đó có lời hay không, có sinh ra tiền để trả nợ hay không rồi mới đưa tiền cho vay chứ? Ăn chắc hơn nữa, là cái máy đưa cho thân chủ sử dụng đó trước sau nó vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng. Theo hợp đồng, nếu người vay không trả được tiền hàng tháng là ngân hàng cứ tới đem cái máy đó về nhà mình! Nó khác với cái nhà mà quý vị vay tiền để mua, vì quý vị là chủ nhân cái nhà đó; ngân hàng muốn xiết nợ thì phải đi qua tòa án rất lôi thôi!

“Cho thuê Tài chánh” là một ngành làm ăn rất chắc chắn như vậy. Nhưng khi dụng cụ tài chánh đó được trao cho Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng thì nó lại nát như tương! Thiên tài của ông thủ tướng và của cái đảng Cộng Sản (mà ông đang làm lãnh tụ không ai thay thế được) là cái gì hay ho đến đâu, khi đưa vào tay các ông nó cũng nát bét!

Ban kiểm toán công ty ALC cuối tháng 10, 2010 cho biết, năm 2009 ALC II lỗ tới 3,004 tỷ đồng bạc Việt Nam (gấp 8.5 lần vốn điều lệ chỉ có 350 tỷ). Công ty ALC II làm thất thoát số tiền của Nhà nước tới 4,617 tỷ đồng. Trong số các món nợ có đến 60% là nợ xấu, tức là người vay không trả được đúng hạn! Trong ba tháng cuối năm 2009, ALC II thiếu 1,763 tỷ đồng không có tiền để trả ai hết; và đến cuối năm 2010 đã thất thoát 4,000 tỷ.

Ðúng là tiêu tiền chùa!

Theo báo Tiền phong, công ty ALC II được thành lập năm 2006, đã đưa quá nhiều tiền cho các công ty ít vốn và mới thành lập vay; tiền đầu tư tập trung vào ngành vận tải biển quá lớn (chiếm 56.6% tổng số nợ), là ngành mà họ không có kinh nghiệm! Kinh khủng hơn nữa là công ty ALC II đã mua những thứ máy móc từ các công ty không có quyền sở hữu trên các máy móc đó! Blog của Ðào Tuấn kể chuyện: “Công ty ALC II mua một xe cẩu thủy lực 250 tấn của công ty Quang Vinh với giá 65 tỉ đồng. Trong khi đó, chỉ 7 ngày trước, Quang Vinh mua chiếc xe này với giá chỉ chưa tới 32 tỉ đồng!” Quang Vinh được lời 33 tỷ trong một tuần, đúng là tiền trên trời rớt xuống! Thế mới Vinh Quang!

Tiêu tiền chùa như thế, nhưng tiền chùa ở đâu ra? Báo Tiền Phong cho biết: “ALC II còn rất mạnh tay trong huy động vốn với mức huy động vượt trần lãi suất, thậm chí thoát ra khỏi ‘hạn mức bảo lãnh của Agribank’ tức là ngân hàng mẹ đẻ!” Ông Nguyễn Thế Bình, chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị Agribank chỉ biết nói: “Chúng tôi cũng có trách nhiệm!”

Ðây là một thủ thuật ăn cướp giữa ban ngày: Công ty ALC II, một thứ ngân hàng thuộc Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng, đã nhân danh “lợi ích chung” đi vay tiền của các ngân hàng quốc doanh cũng thuộc Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng, lãi suất cao bao nhiêu cũng chịu. Sau đó, đem tiền đi mua máy móc, thí dụ cái cần cẩu, với giá bao nhiêu cũng trả. Thế là 33 tỷ đồng của nước VN, của 85 triệu người Việt Nam được “đánh bùn sang ao” chuyển vào tay một nhóm tư nhân! Có bao nhiêu nhóm đã hưởng lộc trời như vậy? Những ai đứng đằng sau họ? Chỉ có Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng biết với nhau mà thôi!

Những thành viên trong Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng có đủ cách moi tiền công quỹ. Blog của Ðào Tuấn cho biết: “Tổng công ty xăng dầu lỗ 3,600 tỷ chỉ trong 3 tháng.” Làm thế nào để khỏi bị lỗ? Ðã có cách: “Họ xin có một tỷ giá riêng!” Tức là người thường muốn đổi lấy một đô la Mỹ phải trả 18 đến 21 ngàn đồng Việt Nam. Ví dụ chỉ cần 12,000 đồng đổi được một đô la, thì coi như “nhân dân” Việt Nam vừa mới trợ cấp cho công ty xăng dầu 6,000 đồng. Ðổi một lần độ 100 triệu đô la thì toàn dân Việt Nam đã đóng góp cho Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng độ 600 ngàn tỷ đồng!

Toàn dân Việt Nam đang bị rút ruột một cách tinh vi như thế! Nhưng cũng có một số người sẽ chịu tai nạn trực tiếp vì vụ ALC II này. Blog của nhà báo Bút Lông báo tin rằng nếu ALC II phá sản thì “Quỹ Hưu Bổng Xã Hội của các công chức về hưu có thể mất 610 tỉ đồng vì đã đầu tư 1,010 tỉ đồng vào ALC II. Ngân hàng mẹ, tức là Ngân hàng NN&PTNT chỉ bảo lãnh đến mức 400 tỉ đồng mà thôi!”

Quý vị công chức nghỉ hưu nếu mất tiền hưu bổng có thể được an ủi: Trong tai nạn lớn của toàn dân thì những mất mát của mình còn quá nhỏ! Quý vị đã hy sinh cả đời phục vụ cho một tập đoàn thống trị; nay chịu hy sinh thêm một chút nữa cũng được. Có thể Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng sẽ tặng cho mỗi vị một huy chương anh hùng kinh tế!

Hết cái lỗ hổng Vinashin lại đến cái lỗ ALC II! Ðã bao năm khai thác tài sản của nước Việt Nam, sức lực của người Việt Nam, không biết bao giờ đến lượt cái tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng mới về hưu?

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

36 Năm Sau Nhìn Lại

Vi Anh
Cuộc tranh đấu, chiến đấu của người dân ở Bắc Phi và Trung Đông để lật đổ chế độ độc tài đã phát triển từ điểm sang diện và từ phẩm sang lượng, trở thành cuộc cách mạng quốc gia, phong trào nhân dân lan toả, một qui trình không thể ngăn cản được. Công cuộc tranh đấu, chiến đấu này, người dân Việt Nam ở Đông Nam Á đã làm, đã chiến đấu chống độc tài Cộng sản gần 20 năm ở nước nhà VN và tiếp tục đấu tranh chống CS ở hải ngoại 36 năm, mà 30-4-2011 này là ngày Quốc Hận thứ 36, người Việt hải ngoại đại đa số đang chuẩn bị làm kễ tưởng niệm, một lễ chánh trị lớn nhứt trong năm.

Chánh nghĩa chống độc tài của người Việt Quốc gia ngày càng sáng tỏ. Những ý đồ lẻ tẻ chủ trương không gọi ngày 30-4-1975 là ngày Quốc Hận, mà gọi là Ngày Tự Do của nhóm Hoà Giải, Hoà Hợp, Ngày Thống Nhứt của CS Hà nội bị người Việt hải ngoại đại đa số là quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hoà và gia đình cùng hậu duệ bác bỏ, tịt ngòi luôn.

Với độ lùi thời gian khá đủ, hồ sơ giải mật nhiều, nhiều nghiên cứu của các đại học vô tư, lịch sử đã trả lại chân lý Chiến tranh Việt Nam, chánh nghĩa mà mấy thế hệ người Việt hy sinh những ngày hoa mộng để vào Quân đội Việt Nam Cộng hòa chiến đấu chống lại làn sóng xâm lược của CS.

Việt Nam Cộng Hòa còn tồn tại sau khi Mỹ “Việt Nam hóa chiến tranh”. Việt Nam Cộng Hòa tồn tại sau khi Mỹ ký Hiệp định Paris năm 1972 dù hiệp định này mặc thị cho quân Bắc Việt xâm nhập ở lại Miền Nam mà quân Mỹ rút hết trọi. Việt Nam Cộng hòa còn tồn tại đến 30-4-1975. Nói chung kể ra quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã “chì” lắm rồi. Có nhiều nghiên cứu của Mỹ so sánh nếu quân lực Mỹ bị cúp xăng dầu, đạn được, máy bay như Quân Lực VNCH thì, quân lực chỉ chịu nổi 3 tháng, chớ không phải 3 năm như quân lực VNCH.
Mầm móng thất bại đã có ở Mỹ, thất bại ngay tại Mỹ, ngay ở đồi Capitol đã thấy rõ trong cuộc nói chuyện mật của mấy đời tổng thống Mỹ dính vào Chiến Tranh Việt Nam. Những băng ghi âm được giải mật gần đây cho thấy Chiến tranh Việt Nam là chuyện bất đắc dĩ của hầu hết mấy đời tổng thống Mỹ Dân Chủ lẫn Cộng hòa. Thử hỏi một cuộc chiến mà người đồng minh chánh yếu lại tham chiến bất đắc dĩ, chưa đánh đã muốn đàm, mới vào đã tính rút như vậy, dù chánh quyền và nhân dân Việt Nam có Trần Hưng Đạo tái thế cũng không thắng nổi, chớ đừng nói TT Ngô đình Diệm hay Nguyễn văn Thiệu.

Một đồng minh bất đắc dĩ như vậy mà lại muốn làm thay nghĩ thế cho quân dân Việt Nam Cộng hòa, giành vai trò lãnh đạo chỉ huy bằng áp lực đồng tiền viện trợ, bằng cách mua chuộc lũng đoạn nội bộ bạn, tiếp tay cho phe này đánh phá, lật đổ phe kia, thử hỏi bạn còn sức đâu, còn tinh thần đâu mà chống CS trên nguyên tắc là kẻ thù chung của Việt Mỹ.

Cuộc họp xét lại Chiến tranh Việt Nam ở Lubbock, Texas mới đây cho thấy một sự thật làm nỗi buồn nhược tiểu, nỗi nhục da vàng Việt Nam thêm thấm thía. Cuộc thảo luận của Cố vấn Kissinger với TT Nixon, hai người ở trong phòng lạnh huy hoàng, tưởng mình là người ăn học cao, làm chánh trị giỏi, thông kim quán cỗ, quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam để tạo điều kiện cho TT Nixon đắc cử. Hai người chân chưa đụng bùn lầy chiến trường Việt Nam, chưa nhỏ một giọt máu, một giọt nước mắt, một giọt mồ hôi trong Chiến tranh Việt Nam như mấy chục triệu quân dân cán chính VNCH và gần một triệu quân nhân Mỹ mà đi quyết định cho số phận những người trong cuộc. Mà quyết định vì quyền lợi ứng cử của riêng mình, mới độc địa làm sao ấy. Đau thương nhứt là Cố vấn Kissinger đánh giá 2 năm sau việt nam hóa chiến tranh coi như Việt Nam CH bị xóa số, đi vào dĩ vãng, với cách nói và giọng nói vô cảm, vô tình nghĩa, và vô tội vạ không thể tưởng tượng được ở một người có ăn học.

Và phóng lao phải theo lao, Nixon và Kissinger tìm cách bóp méo sự thật về Việt Nam CH để hậu thế không đổ tội phản bội đồng minh, hại bạn chiến đấu. Kissinger vua đi đêm, vua xì tin tạo điều kiện hạ thể dân quân Việt Nam CH. Thời đó cứ mở báo Mỹ ra xem tin thì thấy tướng tá tham nhũng, lính tráng Việt Nam đào ngũ, sinh viên biểu tình, ký giả đi ăn mày, âm mưu đảo chánh, tướng này đánh tướng kia. Bình luận thì chê Chiến tranh Việt Nam sai lầm, làm quân nhân Mỹ bị “hội chứng”, kinh tế Mỹ bị suy thoái, xã hội Mỹ bị phân hóa, chánh trị Mỹ bị chia rẽ. Dân chúng bị phản chiến hóa bằng truyền thông đại chúng, lần lượt ảnh hưởng Quốc Hội. Quốc hội trói tay Hành Pháp, cắt viện trợ cho Việt Nam, buộc quân đội Mỹ rút quân như thua trận lần đầu tiên trong quân sử Mỹ. Sau đó hủy bỏ định chế quân dịch đã có từ lâu ở Mỹ. Một cuộc chiến mà một ngày tốn hàng tỷ, giờ chót Quốc Hội Mỹ chỉ viện trợ 1 tỷ cho nguyên cả năm, rồi sau đó cắt thêm 300 triệu nữa thì quân đội Việt Nam Cộng Hòa coi đã trắng tay. CS Bắc Việt được thế đổ xô vào Miền Nam, Việt Nam Cộng hòa kêu cứu, Mỹ đánh chữ làm thinh, bất động như đồng lõa. Sau cùng Chiến tranh Việt Nam phải kết thúc, CS Hà nội tóm thâu cả Miền Nam.

Để chống đỡ búa rìu dư luận về tội phản bội đồng minh, nhận định sai lầm tình thế và muốn làm thay nghĩ thế cho người trong cuộc, Nixon, Kissinger ngoài việc đổ tội cho Quốc hội, cho Phản Chiến còn đưa ra lập luận bỏ Việt Nam là bắt con tép để nhữ con tôm Trung Cộng, phá vỡ hệ thống CS quốc tế, làm cho Liên xô và Đông Âu sụp đổ. Biện luận đó hiện giờ vẫn còn trong giới chánh trị khuynh tả và phản chiến. Nhưng không thuyết phục trước những sự thật, Phi luật Tân không tin Mỹ, đuổi Mỹ ra khỏi nước, chỉ mới cho Mỹ đổ quân lại thời TT Bush chống khủng bố. Đại Hàn cũng thế tự rèn cán chỉnh quân, tự tạo nội lực, phong trào quốc gia vươn lên thường biểu tình đuổi Mỹ. Và hầu hết những nhà phân tích chánh trị quốc tế đồng ý với nhau rằng Liên xô sụp vì đột quị kinh tế do chạy đua võ trang với Mỹ, chớ không phải do Mỹ đi được với TC.

Sự thật vẫn là sự thật; chân lý lịch sử dù Thượng Đế cũng không đổi được. Một thời gian sau Mỹ hoàn toàn rút quân ra khỏi Việt Nam, trong khi Chiến tranh Việt Nam còn tiếp diễn, chính Đại sứ Mỹ Martin về tường trình quân đội Việt Nam CH chưa bao giờ giữ vững an ninh lãnh thổ, chánh trị Việt Nam chưa bao giờ ổn định hơn lúc bấy giờ, nhờ tự quyết và tự chủ. Và 30 năm sau, tại Texas, Viện Lubbock, những học giả và sử gia ngồi lại tái thẫm định, trả chân lý, trả chánh nghĩa lại cho Chiến tranh Việt Nam, cho Việt Nam CH và cho Quân lực VNCH.

Người Việt bây giờ đã có gần 1 triệu rưởi người là công dân Mỹ không cần, không buồn trách móc mấy ông học cao, làm chánh trị cao Mỹ đã đưa đẩy nước Mỹ phản bội đồng minh, bóp mũi cho VNCH chết vì cái đó đã đi vào quá khứ rồi. Điều quan trọng là người sau không phạm sai lầm trước nữa. Điều quan trong là biết sử dụng chân lý, kinh nghiệm trong Chiến tranh Việt Nam cho tương lai. Chiến tranh Iraq, Afghanistan rất cần những kinh nghiệm ấy để Mỹ đừng mang tiếng phản bội đồng minh, bỏ nhân dân, chánh quyền, và quân đội Iraq, Afghanistan, Do thái thân cô thế cô giữa biển hận thù Hồi giáo cực đoan. Và người Mỹ gốc Việt cũng cần rút kinh nghiệm để ứng phó thích hợp và đúng đắn trong công cuộc quốc tế vận đối với Mỹ trong sự nghiệp đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN./.

Vi Anh

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Ai là thế lực thù địch của họ?

Ngô Nhân Dụng


Báo Nhân Dân của đảng Cộng Sản (mà các báo đều là báo của đảng cả) luôn cảnh cáo cán bộ, công an phải đề phòng các thế lực thù địch!

Làm như quên không nói đến bốn chữ “thế lực thù địch” ba ngày là họ ăn không thấy ngon! Nghe nói mãi thế lực thù địch người dân không biết họ đang nói đến ai, có ám chỉ chính mình không? Nhất là những người lâu lâu lại muốn cho bộ óc của mình tập thể dục, bắt nó suy nghĩ.

Bởi vì chỉ cần suy nghĩ mấy phút thôi là người Việt Nam nào cũng thấy có những điều chướng tai gai mắt. Lại muốn có ý kiến! Tại sao ngư dân mình bị “tầu lạ” tấn công, nó bắt cóc đòi tiền chuộc, mà cả nước mình không kéo nhau đến tòa đại sứ cái “nước lạ” đó mà hỏi cho ra chuyện? Tại sao một đại công ty mới lập ra được có ba bốn năm mà đã đạt thành tích lỗ lã hàng tỷ đô la? Tại sao giá cả cứ leo thang làm đồng lương lãnh về mỗi tháng lại mua được ít hơn, mà không thấy ông lớn nào chịu trách nhiệm phải từ chức?

Cứ những câu hỏi như vậy, nghĩ trong đầu thôi là đã có tội rồi. Anh mà nói cho một người nghe tức là anh tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa! Nếu nói cho nhiều người nghe, tội trở thành âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân! Có thể bị đưa ra tòa lãnh án, như các ông Nguyễn Văn Ðài, Cù Huy Hà Vũ, cô Lê Thị Công Nhân đã lãnh. Họ được xếp loại thế lực thù địch cả. Mỗi lần nghe các lãnh tụ đảng nhắc đến bốn tiếng “hèm” đó, người ta lại giật mình: Có phải họ nói mình hay không?

Nếu như quý vị lãnh tụ đảng Cộng Sản Việt Nam có lúc rảnh rang chợt nghĩ tới đám dân đen đang băn khoăn không rõ mình có thuộc thành phần những thế lực thù địch hay không, quý ngài nên phát ra một bài, định nghĩa rõ ràng “Thế nào gọi là thế lực thù địch?” Hay là quý vị đại biểu Quốc Hội, lúc nào gật đầu thấy mỏi, thử ngẩng đầu lên soạn ra một đạo luật liệt kê rõ những hành động nào thì bị coi là của thế lực thù địch. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, tội lỗi nào cũng nên định nghĩa rõ ràng, thì việc cai trị dân sẽ dễ dàng, mà dân cũng dễ sống!

Thí dụ, có mấy anh công an bỗng dưng lập ra một trạm kiểm soát xe, bắt các xe đi qua phải đóng tiền lệ phí 5 ngàn, 10 ngàn đồng. Nếu lái xe qua đó mà vì chưa thấy luật nào bắt đóng thứ thuế này nên không chịu nộp tiền mãi lộ, thì các bác tài xế có thể bị gán cho danh hiệu thế lực thù địch hay không? Cái tội từ chối không đóng thuế (thu lớn thu nhỏ, cũng đều là thuế cả) sẽ khiến cho nền tảng kinh tế của quý vị công an xã bị thiếu hụt. Quý vị công an thiếu tiền mua thuốc hút, mua trà uống, hiệu năng công việc kiểm soát dân sẽ xuống thấp. Nếu ai cũng làm như vậy thì dần dần không những nguồn lực tài chánh quốc dân sẽ bại hoại, mà còn làm suy yếu cả công cuộc bảo vệ an ninh tổ quốc! Ðó không phải là do các thế lực thù địch thì là cái gì?

Nhưng chính ông chủ tịch xã Thạch Khê ở tỉnh Hà Tĩnh lại nói rằng ông hoàn toàn không hay biết gì về trạm thu tiền mãi lộ đó cả. Tức là các ông công an quên sự có mặt của hệ thống chuyên chính vô sản! Ông chủ tịch có thể tố cáo các ông công an là những kẻ phản động do thế lực thù địch xui khiến phá hoại chính quyền nhân dân xã! Bỗng dưng cả nước khám phá ra hai loại thế lực thù địch ở một xã Thạch Khê. Chỉ vì báo Dân Trí đã cho người điều tra, chụp hình và loan tin sau khi nghe những lời than phiền của các anh tài xế. Rồi tới các báo, đài nơi khác cũng đăng tin! Công an xã Thạch Khê và ông chủ tịch xã đều là nạn nhân của hệ thống thông tin! Chính những tờ báo, các đài này đã để cho thế lực thù địch sai khiến! Có thể hạch tội cho lên đến cấp cao nhất là ông Tô Huy Rứa, vị tổng tổng biên tập của tất cả các báo, đài trong nước Việt Nam! Có phải chính ông này là thế lực thù địch?

Cứ như vậy, ai nhìn người khác cũng có thể thấy một thế lực thù nghịch đang nấp đằng sau! Cũng giống như những kỳ chỉnh huấn, cải cách ruộng đất, chiến dịch chống chủ nghĩa xét lại, đánh tư sản, chống diễn biến hòa bình, vân vân. Nghe đảng nói ra rả, ai cũng cảm thấy đầy những thế lực phản động chung quanh. Có lúc tâm thần hoảng hốt soi gương thấy cái mặt mình cũng toàn nét phản động! Phương pháp của các chế độ độc tài đều như thế này: Hãy dựng lên một con ma, con quỷ nào đó. Hô hào toàn dân cùng nhau đánh ma quỷ, cùng đi tìm ma quỷ, bắt quỷ, đấu tố ma quỷ, giết ma quỷ, vân vân. Lâu ngày dân nhìn đâu cũng thấy quỷ, nhìn ai cũng nghi là ma quỷ! Người nọ sợ người kia, cả nước đều sợ, dưới bàn tay điều khiển của những tay phù thủy!

Cả hệ thống tuyên truyền của các đảng Cộng Sản thế giới đã dùng kỹ thuật đó để người dân sợ. Nhìn mặt nhau là sợ, vì ai cũng có thể thành phản động. Sợ cả hàng xóm, sợ người đi qua đường, cha con, vợ chồng sợ lẫn nhau, rồi đến đêm nằm mơ cũng thấy chính mình thành phản động. Nỗi sợ được gieo vào tiềm thức, đêm hốt hoảng ngủ không yên! Ðọc Ðêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên chúng ta có dịp sống trong không khí lo âu sợ sệt của các nhân vật đang bị nghi là “theo chủ nghĩa xét lại.” Năm 1975 Lê Ðức Thọ vào Nam gặp các cán bộ cộng sản đã từng bị chính phủ miền Nam giam giữ và mới được ra khỏi tù, ông ta nói với họ rằng: “Các đồng chí đều có vấn đề cả.” Một câu nói, bao nhiêu người nghe lạnh cả xương sống.

Trong xã hội cộng sản ai bị coi “có vấn đề” là bị người chung quanh nghi ngại không dám tới gần. Giống như mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm! Trong tiếng Việt Nam hồi xưa thì ba chữ “có vấn đề” vốn không ghê gớm như vậy. Muốn hiểu tại sao nó gây sợ hãi thì phải dịch ngược lại sang tiếng Tầu! Vấn là hỏi, “Vấn đề” có nghĩa là đặt thành câu hỏi. Trong cuộc sống của các đảng viên Cộng Sản Trung Hoa, khi người ta đặt câu hỏi về anh, tức là lòng trung thành của anh đối với đảng đã bị nghi ngờ! Anh phải bắt đầu lo đến cái mạng của anh! Văn hóa Mao Trạch Ðông truyền sang Việt Nam từ năm 1950-51 đã khiến chỉ ba chữ “có vấn đề” đủ gây ra nỗi sợ hãi kinh hoàng. Ai cũng sợ lòng trung thành của mình bị đảng nghi ngờ, còn sợ hơn đời xưa dân đen sợ vua! Tất cả mọi người đã sống đều phải biết sợ, không riêng gì nhà văn Nguyễn Tuân!

Kỹ thuật kiểm soát tâm lý tinh vi, sâu vào đến tiềm thức con người đó, các ông Stalin, Mao Trạch Ðông đã thí nghiệm thành công ở nước họ. Nó được đảng Cộng Sản Việt Nam nhập cảng từ bên Liên Xô, bên Trung Quốc vào nước ta từ những năm 1950, đến bây giờ vẫn còn di họa. Bây giờ, con ma, con ngáo ộp sợ hãi được đem gieo vô tiềm thức mọi người là các thế lực thù địch!

Theo khoa tâm lý trị liệu, muốn cởi bỏ bớt những nỗi sợ ẩn khuất trong đầu mình thì con bệnh trước tiên cần tập trung chú ý nhận diện chính nỗi sợ đó. Phải biết nó là cái gì, từ đâu nó sinh ra. Biết được chút nào, giải bớt được chút đó. Báo Nhân Dân, các báo Công An cứ nói về những thế lực thù địch mãi gây bệnh hoảng hốt lo âu. Mà những báo này là do các cụ trên đây chỉ đạo. Vây chỉ có các cụ mới trị được căn bệnh tâm thần hốt hoảng này mà thôi. Toàn dân Việt Nam bây giờ cần nằm trên cái giường khám bệnh cho các bác sĩ Tô Huy Rứa, Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Minh Triết hoặc Nguyễn Tấn Dũng giúp mình thoát khỏi cơn lo sợ về những thế lực thù địch.

Thì gần đây, hình như các bậc lãnh tụ ở trên đã vô tình soi sang cho dân Việt Nam hiểu chút ít những thế lực thù địch nó là cái gì.

Một bản tin của đài RFI cho biết hai đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc đang tăng cường hợp tác về an ninh, quốc phòng, tư pháp; và họ nhấn mạnh mục đích là để “đấu tranh chống các thế lực thù địch” của họ. Nghĩa là hai đảng anh em có những “thế lực thù địch” chung!

Căn cứ vào những lời tuyên bố trong các cuộc gặp gỡ giữa lãnh tụ hai đảng này, chúng ta có thể đoán khi nói tới “các thế lực thù địch” là họ ám chỉ những ai.

Từ tuần qua, ngày 12 đến ngày 15 Tháng Tư, phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương Cộng Sản Trung Quốc là Tướng Quách Bá Hùng đã qua thăm Hà Nội và được cả Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng, lẫn Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “tiếp đón long trọng” mặc dù vai vế trong đảng của ông Hùng thấp hơn nhiều. Theo báo điện tử của nhà nước Việt Nam, Tướng Quách Bá Hùng, bàn với Nguyễn Tấn Dũng các vấn đề về Biển Ðông và hai bên ý hợp tâm đầu lắm. Báo mạng của nhà nước còn nói ông Quách Bá Hùng đã yêu cầu Hà Nội “cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ quan hệ hợp tác hữu nghị, truyền thống tốt đẹp giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc.” Báo nhà nước nói, tức phải là chuyện hệ trọng!

Nhưng ông Quách Bá Hùng đang ám chỉ ai đây? Nhìn đi nhìn lại thì chỉ thấy nhân dân Việt Nam! Dân Việt Nam đi biểu tình đòi Hoàng Sa! Dân Việt Nam uất ức chửi Trung Quốc lấn chiếm biên giới! Dân Việt Nam lên mạng phản đối việc cho Trung Quốc thuê rừng 50 năm, cho khai thác bô xít! Nhiều người đã đi tù về những ý kiến bất đồng với đảng Cộng Sản! Ðám dân này hoàn toàn không tôn kính mối “quan hệ hợp tác hữu nghị, truyền thống tốt đẹp” giữa hai đảng Cộng Sản “trước là đồng chí sau là anh em” của người ta!

Tin RFI cũng cho biết Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Trung Quốc Vương Thắng Tuấn đang thăm viếng Việt Nam từ ngày 16 đến ngày 20 Tháng Tư. Khi tiếp ông Vương Thắng Tuấn hôm qua, ông Nguyễn Minh Triết đã tuyên bố là ngành Tư Pháp của hai nước “cần tăng cường hợp tác đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trong việc xét xử tội phạm của mỗi nước.” Ông Triết còn nói rằng hai đảng Cộng Sản cần phải “đấu tranh chống các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước.”

Cũng trong tuần qua, Bộ Trưởng Công An Việt Nam Lê Hồng Anh qua thăm Trung Quốc. Theo Tân Hoa Xã tường thuật, ông Lê Hồng Anh nói với Chu Vĩnh Khang, ủy viên Thường Vụ Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đặc trách về an ninh, rằng: “Ðảng và chính phủ Việt Nam coi trọng cao việc hợp tác giữa cơ quan hành pháp và an ninh hai nước, sẵn sàng cùng với Trung Quốc bảo vệ sự lãnh đạo của Ðảng và chế độ xã hội chủ nghĩa của hai nước.”

Cả hai đảng Cộng Sản Trung Hoa và Việt Nam đều quyết tâm. Một là quyết tâm bảo vệ việc cai trị của cả hai đảng. Hai là quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội, một chế độ đã bị nhân dân các nước Nga và Ðông Âu xóa sạch hơn 20 năm rồi. Những người nào nghi ngờ giấc mơ chủ nghĩa xã hội đó, những ai muốn hai đảng họ bớt đoàn kết một chút, đều bị coi là “các thế lực thù địch” của họ hết.

Nhìn qua nhìn lại, người Việt Nam phải bảo nhau: Hóa ra họ nói các thế lực thù địch tức là họ nói về chúng mình!

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Ông Putin tỏ ý muốn tranh cử tổng thống

Image
Ông Putin xem mô hình phi cơ không người lái Pchela-M
Trong bài diễn văn được cho là khai mào cho chiến dịch vận động tranh cử Tổng thống, ông Vladimir Putin, hiện làm Thủ tướng Nga, nói quốc gia "phải hùng mạnh để chống mọi đe dọa từ bên ngoài".

Nhắc đến một loạt thành tích của mình ở vị trí người đứng đầu chính phủ, ông Putin, người đã từng làm Tổng thống Liên bang Nga hai nhiệm kỳ, nhấn mạnh đến sức mạnh quốc phòng.

Phát biểu hôm nay 20/4/2011 ở Moscow của ông Putin được cho là dấu hiệu ông muốn quay lại nắm ghế tổng thống, hiện giờ do luật sư Dmitry Medvedev nắm.

Sự suy yếu của nền kinh tế và nhà nước, việc thiếu vắng khả năng tự vệ trước các cú sốc đã trở thành đe dọa cho chủ quyền quốc gia

Ông Putin
Dù chưa công bố chính thức rằng ông sẽ ra tranh cử tổng thống vào năm tới, bài diễn văn của ông Putin, một cựu sĩ quan KGB được cho là soạn để đề cao hình ảnh của ông như nhân vật số một của Nga.

Phát biểu trước Quốc hội, ông Putin công bố một dự án vĩ đại, trị giá 700 tỷ đô la nhằm "hiện đại hóa quốc phòng" của Nga cho đến năm 2020.

Ông hứa sẽ cho quân đội Nga vốn vừa trải qua một loạt cải cách về nhân sự, giảm bới số sĩ quan và binh sĩ bộ binh thuần tuý, được đặt hàng mua những vũ khí tối tân nhất.

Thủ tướng Putin cũng nêu ra các mục tiêu từ kinh tế sang xã hội, an sinh và cả khoa học kỹ thuật.

Hiện Nga vẫn là nền kinh tế đứng thứ sáu trên thế giới nhưng phải chạy đua vất vả với châu Âu, Hoa Kỳ và cả vùng Đông Á về công nghệ cao và thương mại.

Với kinh tế tăng trưởng 4% trong năm qua nhưng chủ yếu dựa vào xuất khẩu nguyên liệu thô và tiêu dùng nội địa, Nga vẫn chưa có một chương trình hiện đại hóa toàn diện.


Bài diễn văn tại Duma hôm 20/4 là dấu hiệu ông muốn ra tranh cử tổng thống một lần nữa
Bên trong nước, Nga có dân số ngày một già đi và vùng nông thôn bị bỏ rơi trong công cuộc cải tổ thị trường.

Những vụ tấn công của các nhóm cực đoan đến từ vùng Caucasus ngay tại những đô thị lớn của Nga cũng tạo thách thức với chính quyền.

Vì thế, ông Putin không quên nhắc đến các "mối đe dọa từ bên ngoài" nhưng cho rằng câu trả lời là một "nhà nước hùng mạnh".

Ông nói:

"Sự suy yếu của nền kinh tế và nhà nước, việc thiếu vắng khả năng tự vệ trước các cú sốc đã trở thành đe dọa cho chủ quyền quốc gia."

Tuy nhiên, ông Putin bác bỏ chuyện "nghe lời dạy từ bên ngoài":

"Trong thế giới hiện đại này, những kẻ yếu sẽ được nghe lời tư vấn đen trắng rõ ràng từ người nước ngoài về cách đi của họ, và chính sách nào cần làm."

Nhưng theo ông, Nga cần "tự xây dựng các chính sách của mình".

Lâu nay, ông Putin luôn tỏ ra là một nhân vật có vóc dáng 'người hùng' qua cách thể hiện sức mạnh như lái phi cơ, cưỡi ngựa, bơi lặn và bắn súng.

Có đai đen môn judo, ông Putin còn trưng bày cả màn đấu võ của mình bằng video cho công chúng.

Mỗi bên một kiểu

Giọng điệu của bài diễn văn cho thấy ông Putin, 58 tuổi, không muốn đi về hướng cải cách dân chủ "kiểu Phương Tây", điều một số không nhỏ trong chính giới Nga cho là thất bại thời Yeltsin.

Nhưng việc bác bỏ "lời khuyên của người ngoại quốc" cũng dễ khiến quan điểm của ông Putin đối chọi với đương kim tổng thống Dmitry Medvedev.


Quan hệ giữa Tổng thống Medvedev và Thủ tướng Putin bị cho là không còn thắm thiết như trước
Càng gần đây, ông Medvedev càng tỏ ra có các hoạt động riêng, không lệ thuộc vào quan hệ "cặp bài trùng" với ông Putin.

Đôi khi cả hai nhà lãnh đạo Nga cùng nói về một chủ đề nhưng cách diễn giải của họ hoặc những người ủng hộ họ lại khác nhau.

Gần đây, tại Moscow diễn ra hai cuộc biểu tình đều có chủ đề "chống tham nhũng" nhưng thuộc hai phe khác nhau.

Một cuộc biểu tình của chừng 1000 người Nga là do phe ủng hộ dân chủ và phần nào thân thiện hơn với ông Medvedev tổ chức.

Họ đã được thị trưởng Moscow cho phép tuần hành vào hôm 16/4, và đã đem theo cả khẩu hiệu phê phán ông Putin.

Đáp lại, những người ủng hộ ông Putin đã vận động hàng chục nghìn thành viên của đảng Nashi, theo xu hướng dân tộc chủ nghĩa Đại Nga để chống lại.

Cuộc biểu tình cũng với chủ đề "chống tham nhũng" của Nashi đông người hơn nhiều lần, và diễn ra cách cuộc biểu tình kia không xa.

Phát biểu tại cuộc tuần hành của phe dân chủ, ông Boris Nemtsov, cựu phó thủ tướng và nay là một lãnh đạo đối lập nói "Putin chống tham nhũng chẳng khác gì kẻ nát rượu chống lại vodka".

Khác với một số lần trước khi cảnh sát Nga bạo tay với người biểu tình, lần này cả hai cuộc tuần hành diễn ra êm thắm.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Nhắc lại hội đàm Paris nhân NQ 40 của Quốc Hội California

Võ Long Triều

Quốc Hội California xét rằng: ngày 30 tháng 4 đánh dấu sự kết thúc chiến tranh Việt Nam và miền Nam rơi vào tay cộng sản.

Image
Tiến Sĩ Henry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia Mỹ, tại cuộc họp báo sau khi ký Hiệp Ðịnh Paris 1973 tại Pháp. (Hình: AFP/Getty Images)



Quốc Hội tiểu bang cũng xác nhận đó là một thảm kịch đầy đau khổ làm cho 58,619 lính Mỹ chết, 304,000 bị thương. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 có 135,000 người Việt Nam, bỏ lại tài sản người thân, di tản sang Mỹ. Và sau đó Hội Hồng Thập Tự ước tính có 800,000 người Việt liều chết vượt biên, trong đó có khoảng 300,000 người vùi thây dưới biển cả và trong rừng sâu.

Hiện tại, khoảng một triệu bảy trăm ngàn người Việt Nam tị nạn cộng sản sống trên đất Mỹ, và ước lượng có 450,000 người sống tại California. Vì những lý do chính đáng nêu trên:

“Thượng Viện và Hạ Viện tiểu bang California đồng thanh quyết định như sau: Ghi nhận những đau khổ, thảm kịch và mất mát về sinh mạng rất lớn trong chiến tranh Việt Nam, tuần lễ từ 24 tháng 4, 2011 đến 30 tháng 4, 2011 được tuyên cáo là Tuần Lễ Tưởng Niệm Tháng Tư Ðen. Ðây là thời gian đặc biệt người dân California dành riêng để tưởng nhớ đến vô số nhân mạng bị mất trong chiến tranh Việt Nam, và hy vọng sẽ đem lại một cuộc sống công chính, và nhân đạo hơn cho người dân Việt Nam. Quyết định rằng tháng 4 năm 2011 sẽ được công nhận là Vietnamese American Month - tháng dành cho người Mỹ gốc Việt - để vinh danh một cộng đồng đã đóng góp nhiều vào đời sống văn hóa, kinh tế, và cá nhân trong mạng lưới xã hội tạo thành tiểu bang California.”

Về sự đau khổ, mất mát do thảm kịch chiến tranh, cố Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan nhận định như sau: “Chấm dứt chiến tranh Việt Nam đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Nhưng cái giá phải trả cho loại hòa bình đó là ngàn năm tăm tối cho thế hệ sinh ra tại Việt Nam về sau.”

Cái loại hòa bình đó đã do những ai dàn xếp, ký kết, gây ra một thảm họa còn tai hại và đau khổ hơn chiến tranh khói lửa? Bởi vì 36 năm qua cộng sản Hà Nội cai trị tàn ác như thế nào, người dân trong nước đang than oán, thế giới bên ngoài đang kêu gào, chỉ trích. Và điều tai hại lớn hơn là cộng sản Hà Nội đang giao lần lần đất nước Việt Nam cho cộng sản Tàu. Ðó mới đúng theo lời cố Tổng Thống Reagan nói “ngàn năm tăm tối cho thế hệ sinh ra tại Việt Nam về sau” vì bị Tàu Cộng “Bắc thuộc” kiểu mới.

Nguyên nhân dẫn đến ngàn năm tăm tối đó là do Hiệp Ðình Hòa Bình Paris, do một tay ông Henry Kissinger đạo diễn, thương thuyết, quyết định, bất chấp đồng minh Việt Nam Cộng Hòa, đã được Mỹ viện trợ và ủy thác cho trách nhiệm giữ một “tiền đồn chống Cộng.” Ðóng vai trò một con cờ trong thuyết Domino để ngăn cản sự lan tràn chủ nghĩa cộng sản qua các nước Ðông Nam Á Châu.

Kissinger tiếm quyền thương thuyết của đồng minh Việt Nam Cộng Hòa, hành động với đầy mặc cảm và định kiến cá nhân đối với Bắc Việt. Với sự chủ quan, mặc cảm và định kiến, ông Kissinger đã làm nước Mỹ bị ô nhục vì thua cuộc chiến tranh đáng lẽ phải thắng. Một tay ông gây tang tóc cho dân tộc Việt Nam mà sau này ông hối hận cũng đã muộn màng.

Câu chuyện bắt đầu từ tháng 4 năm 1969. Tổng Thống Nixon, thông qua một nhân vật tiếng tăm người Mỹ, ông Cyrus Vance, liên lạc và đề nghị Liên Xô môi giới cho Mỹ nói chuyện với Hà Nội (xem Paris Peace Talks). Hà Nội trả lời qua Cyrus Vance với 10 điểm tiên quyết trong đó Mỹ phải rút quân toàn diện.

Ngày 4 tháng 8 năm 1969, Henry Kissinger, với tư cách là cố vấn an ninh cho Tổng Thống Nixon, bí mật gặp Xuân Thủy tại tư gia của Jean Saiteny ở Pháp.

Tưởng cũng nên giới thiệu sơ qua về nhân vật Jean Sainteny: Ông là con rể của cựu Toàn Quyền Pháp Albert Sarrault, ông là sĩ quan kháng chiến Pháp chống phát xít Ðức, ông là nhà ngoại giao lão luyện. Sau Ðệ Nhị Thế Chiến, ông được Thiếu Tướng Charles De Gaulle tin cẩn giao cho nhiệm vụ thương thuyết với chính phủ Hà Nội, ở Ðà Lạt với phái đoàn của Võ Nguyên Giáp, ở Fontainebleau với Hồ Chí Minh.

Ông Sainteny và Hồ Chí Minh rất kính nể nhau. (Over time, a degree of mutual respect between Ho and Sainteny became obvious) (Tài liệu Jean Sainteny). Theo giáo sư đại học luật khoa Havard, ông Stephen B. Young, thì Jean Saiteny là thầy của Henry Kissinger do đó Kissinger chịu ảnh hưởng nặng nề của Jean Sainteny.

Phải công nhận Mỹ hất chân người Pháp ra khỏi Ðông Dương nhưng không biết gì về ba sắc tộc Cambodia, Lào và Việt Nam sống trên bán đảo Ðông Dương. Vì vậy Mỹ phải học bài chính trị, xã hội, tâm lý quần chúng của quan thầy Pháp. Từ 1954 đến đến thập niên 1960-1970, gần như toàn bộ nhân viên Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ đều nói tiếng Pháp.

Tài liệu giải mật của chính phủ Mỹ, mang số ED 12958 White House, chứng minh ngày 27 tháng 9 năm 1970, Kissinger đến tận nhà Sainteny để nghe ông này thuyết trình lại, với tư cách là nhà ngoại giao con thoi, rằng:

-Chính phủ Sài Gòn rất yếu vì mất lòng dân.

-Phật Giáo là một lực lượng rất mạnh ở miền Nam, họ là quốc gia chứ không phải cộng sản.

-Nếu chính phủ Sài Gòn sụp đổ thì sẽ không phải là cộng sản thay thế, mà sẽ là một chính phủ đứng giữa.

-Bà Nguyễn Thị Bình đã tiếp xúc với nhiều nhân vật tị nạn chính trị ở Pháp và đề nghị họ tham gia chính phủ liên hiệp.

-Một sự ngưng bắn để cho Mỹ rút quân có thể rất hấp dẫn.

-Người Việt Nam của hai miền Nam, Bắc đều mệt mỏi vì chiến tranh, nhưng Bắc Việt không sẵn sàng thương thuyết dù Lê Ðức Thọ đang ở Paris.

Cũng theo tài liệu mật cùng số ghi trên, Kissinger còn nhờ Sainteny liên lạc với đại sứ Trung Quốc, ông Huang Chen, để dọn đường cho Mỹ tiếp xúc với Bắc Kinh.

Những điều trình bày trên đây của Jean Sainteny, người mà Kissinger coi như bậc thầy đầy kinh nghiệm thương thuyết và thân thiện với cộng sản. Dĩ nhiên, Kissinger phải có lập trường hướng về một giải pháp có lợi cho Cộng Sản Hà Nội. Và từ đó, Kissinger chuẩn bị thuyết phục Tổng Thống Nixon đi Bắc Kinh điều đình với Mao Trạch Ðông và Chu Ân Lai, bán đứng Việt Nam Cộng Hòa là điều dễ hiểu.

Trong một lần tâm sự với Ðại Sứ Bùi Diễm, lúc trà dư tửu hậu, tôi còn nhớ ông nói khi ông lãnh chỉ thị của Tổng Thống Thiệu phải tiếp xúc với những người có trách nhiệm và có ảnh hưởng trong vấn đề thương thuyết hòa bình tại Paris, ông Bùi Diễm thổ lộ: “Ông Alexis Jonhson nói, với tư cách một người bạn nói với người bạn, rằng 'nếu Kissinger đạt một thỏa thuận mà Tổng Thống Nixon bằng lòng, còn ông Thiệu từ chối, thì những người bạn cuối cùng của Việt Nam cũng phải thay đổi lập trường.'”

Tháng 11 năm 1973 ông Bùi Diễm có hỏi Thiếu Tướng Alexander Haig, phụ tá bộ trưởng Ngoại Giao, tại sao hồi tháng 10 năm 1972, ông và Kissinger mang bản dự thảo thỏa hiệp với cộng sản tới Sài Gòn mà các ông không tham khảo ý kiến chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trước? Về điểm này ông Haig nhìn nhận và trả lời: “Chúng tôi có sai lầm!”

Rõ ràng, đối chiếu lại ngày tháng và những vụ tiếp xúc mật, thông qua Jean Sainteny, thì một tay Kissinger tác hại dân tộc Việt Nam bằng cái loại hòa bình khiến “ngàn năm tăm tối” cho thế hệ sinh ra tại Việt Nam về sau như cố Tổng Thống Reagan đã nói. Và nhắc lời của Giáo Sư Stephen Young phát biểu khi được tôi phỏng vấn, ông Kissenger lạm quyền khi một mình, với tư cách cố vấn tổng thống, nhờ một người người Pháp thương lượng giùm, một loại hòa bình có hậu quả tai hại cho cả một dân tộc. Ông Young lập lại hai lần trong bài tôi phỏng vấn. Ông nói “người Mỹ ngu,” không biết ông muốn nói người Mỹ hay Kissinger.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Ngày đẫm máu nhất ở Syria

Ít nhất 72 người biểu tình bị lực lượng an ninh ở Syria bắn chết, các nhà hoạt động tại nước này tuyên bố.
Đây được coi là con số tử vong cao nhất trong 5 tuần diễn ra bạo loạn tại nước này.

Image
Người dân đổ ra đường kêu gọi thay đổi chế độ. Ảnh: AFP.
Các nhân chứng cho biết những người biểu tình bị nã đạn khi hàng nghìn người đổ ra đường trên khắp cả nước hôm qua - một ngày sau khi tình trạng khẩn cấp kéo dài nhiều thập kỷ được dỡ bỏ. Những người biểu tình - lên tới hàng chục nghìn người - đồng thanh hô to khẩu hiệu đòi lật đổ chính phủ. Các đoạn video cho thấy rất nhiều cảnh đối đầu giữa dân chúng và cảnh sát trong đó có bắn đạn thật.

Rất nhiều người thiệt mạng tại một ngôi làng gần Deraa ở phía nam, và tại vùng ngoại ô thủ đô Damascus.

Tổng thống Mỹ Barack Obama kêu gọi chấm dứt vũ lực ngay lập tức. "Việc lạm dụng vũ lực để đàn áp biểu tình cần phải chấm dứt ngay bây giờ", tổng thống nói.

Ngoại trưởng Anh William Hague cũng cho biết "vô cùng lo ngại" về những báo cáo thương vong ở Syria và yêu cầu các nhà chức trách nước này kiềm chế. "Cần phải thực thi cải cách chính trị ngay lập tức", Hague nói. "Luật khẩn cấp cần phải được dỡ bỏ một cách thực tế, chứ không phải chỉ bằng lời".

Việc Tổng thống Bashar al-Assad dỡ bỏ tình trạng khẩn cấp đã được coi như một sự nhượng bộ trước những người biểu tình.

Trong một thông điệp chung đầu tiên kể từ khi các cuộc biểu tình nổ ra, những nhà tổ chức các cuộc đấu tranh yêu cầu thành lập một hệ thống chính trị dân chủ mới.

Bất ổn chính trị tại Syria lên cao sau khi làn sóng biểu tình lan khắp thế giới Ảrập, dẫn tới sự sụp đổ chính quyền ở Tunisia và Ai Cập và một cuộc nội chiến kéo dài ở Libya. Ít nhất 260 người được cho là thiệt mạng kể từ khi nạn bạo lực bùng phát vào tháng trước tại Syria.

Song Minh

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

NATO đánh bom trúng hầm gần nơi ở Gadhafi

Chính phủ Libya hôm qua cho biết các vụ không kích của NATO công phá một căn hầm trú ẩn
nằm ngay sát khu nhà ở mang tên Bab al-Azizia của đại tá Gadhafi tại Tripoli.

Image
Người tuần hành ủng hộ đại tá Gadhafi tại Tripoli sau cuộc không kích của NATO. Ảnh: AP
Phát ngôn viên chính quyền Gadhafi là Mussa Ibrahim cho biết có 3 người thiệt mạng “trong vụ nổ rất dữ dội” tại bãi đỗ xe gần khu phức hợp nổi tiếng Bab al-Azizia. Đây là nơi được canh phòng cẩn mật bậc nhất Tripoli với bức tường và các tháp canh bao quanh vì là nơi ở và làm việc của đại tá Gadhafi.

Có hai hố lớn trên mặt đất nơi các quả bom của liên quân xới tung đất đá và bê tông, để lộ ra một căn hầm bí mật bằng bê tông cốt thép dưới lòng đất. Tuy nhiên theo BBC, các phóng viên được đưa tới hiện trường nhận thấy đây là căn hầm được chỉ sử dụng cho các hoạt động quân sự.

Trong khi đó NATO thông báo đã thực hiện 59 đợt không kích hôm thứ sáu vừa qua, đánh trúng hai căn hầm chỉ huy của quân đội Libya và tiêu diệt 3 chiếc xe tăng tại Tripoli, đồng thời phá hủy một căn hầm và một mục tiêu khác gần thành phố Misrata.

Cũng trong ngày hôm qua, các máy bay không người lái Predator của Mỹ lần đầu tiên xung trận tại Libya. Lầu Năm Góc xác nhận thông tin này nhưng không cho biết cụ thể mục tiêu của “sát thủ trên không” này là gì. Động thái mới này được cho là cũng không tác động lớn đến tình hình đang bế tắc tại Libya.

Diễn biến đáng chú ý khác cuối tuần qua ở Libya là việc quân chính phủ và phe nổi dậy tiếp tục giao tranh dữ dội tại ngoại ô Misrata, thành phố lớn thứ ba tại nước này. Chính quyền đại tá Gadhafi cho biết các bộ tộc trung thành với họ có thể sẽ đương đầu với phe nổi dậy tại đây và cảnh bảo họ sẽ không kiềm chế như quân đội chính phủ.

Tuy nhiên, phe nổi dậy tại thủ phủ Benghazi cho rằng đại tá Gadhafi “đang diễn trò” vì các bộ tộc địa phương đều chống lại ông. Theo đó lực lượng chống đối sẽ không để cho quân chính phủ dễ dàng rút khỏi Misrata. Các nhóm nhân quyền thì cho rằng đã có hơn 1.000 người thiệt mạng tại thành phố miền tây này do xung đột.

Đình Nguyễn

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

VIỆT KIỀU LÀ AI..??
Không phải người Việt Tỵ nạn VC..!
(Nguyễn Thùy Dung)
.... Một số khác, khoảng nửa triệu người, phần đông là từ vĩ tuyến 17 trở ra miền Bắc, cũng tìm cách trốn chạy cộng sản bằng đủ mọi phương cách khác với phương cách TỴ NẠN CỘNG SẢN, như “xuất khẩu lao nô”, lấy vợ, lấy chồng, du sinh, nghiên cứu sinh , v.v… qua các nước Đông Âu và Nga sinh sống và không muốn quay về. Vài trăm ngàn người, phần đông từ dưới vĩ tuyến 17 vào Miền Nam đến tận mũi đất cuối cùng của quê hương: Cà Mâu, đã tìm qua các nước Á châu: làm dâu Đại Hàn, Đài Loan, Nhật, Thái Lan, Singapore, Philippines, Indosenia, Malaysia, Cambodia và ngay cả Trung cộng qua hiện tượng buôn người, buôn thân xác phụ nữ, trẻ em. Họ rời bỏ chốn địa ngục trên quê hương để bước vào những địa ngục trần gian khác, tàn bạo không kém. Một số khác nữa, xuất khẩu lao nô” đi “ở đợ” (làm đầy tớ, Việt cộng gọi là “Ôsin”) bên các xứ Trung Đông: Iran , Irac, Libanon, Saudi Arabies, v.v…

Những người nầy vẫn còn là thân phận “Việt kiều”: mang quốc tịch Việt cộng, xử dụng thông hành CHXHCNVN (Chẳng Hề Xấu Hổ Chút Nào Vì Ngu,) do Việt cộng cấp, vẫn còn là công dân của cái gọi là CHXHCNVN, sinh sống ở nước ngoài (Nga, Đông Âu và Á châu,) vẫn bị khống chế bởi NHỮNG “Ổ CHUỘT CHÙ” NGOẠI GIAO VIỆT GIAN CỘNG SẢN có tên gọi là “Tòa Đại sứ” hay “Tòa Tổng lãnh sự Việt cộng”.

Vì thế, họ đành im lặng, chỉ lo cho đời sống cá nhân và gia đình, hoàn toàn không dám vọng động một phần bởi tâm thức sợ hãi chế độ gian manh Việt gian cộng sản còn đeo đẳng, phần khác, vì bị nhồi sọ và tiêm nhiểm quá lâu chủ thuyết vô luân cộng sản, không biết gì về lịch sử hào hùng của dân tộc và hoàn toàn không có một chút ý thức gì về quê hương, dân tộc, đất nước (tất nhiên trừ một số biệt lệ.) Đây đích thị là những VIỆT KIỀU (những người mang quốc tịch Việt cộng và Thông hành do Việt cộng cấp,) theo đúng nghĩa đen của danh từ nầy.

Ở đây xin mở dấu ngoặc để nói về danh từ “Việt kiều”: Việt cộng gọi cộng đồng gốc Việt TỰ DO – TỴ NẠN CỘNG SẢN là “Việt kiều” là theo chính sách cô hữu, mập mờ đánh lận con đen, gian manh, bịp bợm, và ngay cả do bản chất ngu dốt của loài quái vật cộng sản (không hiểu danh từ hán-việt “Việt kiều”) theo đó, “Việt” là người VẪN CÒN MANG quốc tịch Việt cộng, công dân Việt cộng, mang thông hành Việt cộng, “kiều” là người nước này TẠM NGỤ CƯ ở một nước khác vì một lý do nào đó, như nhân viên của chế độ trong các cơ cở ngoại giao - ổ chuột chù ngoại giao Việt cộng,- du sinh, thương gia Việt cộng đi giao dịch thương mại trong một thời gian 5, 7 tháng, v.v…

Tóm tắt, bất kỳ người Việt nào CÒN MANG QUỐC TỊCH VIỆT CỘNG, MANG THÔNG HÀNH VIỆT CỘNG, TẠM THỜI NGỤ CƯ Ở NƯỚC KHÁC (ngoài Việt Nam,) gọi là NGOẠI TRÚ NHÂN thì mới gọi là Việt kiều. Còn những người GỐC VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN, lúc ở trại tỵ nạn đã khai là “stateless” (vô quốc tịch,) lúc nhập cư vào quốc gia tỵ nạn trở thành “thường trú nhân” của xứ đó (khác với đám Việt kiều nói trên là ngoại trú nhân là công dân Việt cộng tạm ngụ cư).

Sau một thời gian ”làm thường trú nhân” 3 năm (ở Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi – Canada, Australia,) hay 5 năm (Mỹ,) thì được xin nhập tịch trở thành công dân chính thức của quốc gia tỵ nạn, họ là công dân tại quốc gia tỵ nạn có gốc gác VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN, thí dụ Công dân Mỹ GỐC VIỆT, công dân Canada GỐC VIỆT, công dân Úc GỐC VIỆT, v.v… (US citizen Vietnam origin, Candian citizen Vietnam origin, Australian citizen Vietnam origin, etc.,) chứ không bao giờ họ là Việt kiều như Việt cộng vẫn gọi một cách ù lì, đần độn, ngu dốt, trơ trẽn, lưu manh và mập mờ, vì Việt cộng hay chế độ Việt gian cộng sản cũng chỉ gồm toàn những CON VẬT MANG MẶT NẠ DA NGƯỜI, chứ chúng không phải là người nên chúng không phân biệt được tiếng người hay ý nghĩa chữ viết của loài người nên không hiểu hay chỉ hiểu một cách lờ mờ, u mê, đần độn cộng với bản chất lưu manh bịp bợm muôn thưở, cố tình mập mờ một cách trơ tráo.

Một số người, ngay cả những người gọi là trí thức, nhà báo không để ý hay thành phần trẻ không hiểu tiếng hán-việt, vẫn lặp lại những từ ngữ Việt cộng thường dùng trong đó có danh từ “Việt kiều” khi nói về cộng đồng người tỵ nạn cộng sản gốc Việt. Việt cộng là loài dã thú không hiểu tiếng người, không đáng trách – Đáng trách chăng là chính chúng ta vì chúng ta lặp lại theo chúng trên các phương tiện truyền thông của ta. Vì vậy, chúng ta nên hết sức quan tâm TRÁNH XỬ DỤNG hay LẶP ĐI LẶP LẠI những từ ngữ sai lầm của Việt cộng ! Xin đóng ngoặc ở đây.

Hội chứng ...lậm chữ việt cộng? Nếu chúng ta chịu khó đọc kỹ bài này thì sẽ hiểu hai chữ VIỆT KIỀU bắt nguồn từ đâu, ai dùng hai chữ ấy và dùng với mục đích gì?

Ắt hẳn chúng ta, những người Việt tỵ nạn sẽ không bị "hội chứng lậm chữ việt cộng" mà xử dụng ngôn ngữ chậm tiến cuả loại văn hoá gọi là "văn hoá dép râu".

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Hội chứng Bắc Phi: Nhục tiếm quyền và ô nhục giàu sang

Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Ngày Chủ Nhật, 3 tháng 4 ở tại Bắc Kinh, ông Ngải Vị Vị (Ai Weiwei) bị bắt tại sân bay khi sắp lên đường đi Hồng Kông.

Image
Ở Ðức, thành viên Ân Xá Quốc Tế biểu tình đòi tự do cho họa sĩ Ai Weiwei. (Hình: Axel Schmidt/dapd)

Ông Ngải, 53 tuổi, họa sĩ kiêm kiến trúc sư, người thiết kế kiểu sân vận động “Tổ Chim” cho đại hội thể thao Olympic 2008 tại Trung Quốc, được bằng khen của Nhà nước Trung Hoa, Ông thuộc loại “con ông cháu cha,” con của ông Ngải Thanh, nhà thơ, nhà báo, nhà tuyên huấn của triều đại Mao Trạch Ðông, từng du học ở Hoa Kỳ, nay trở nên một nhà dân chủ kiên định, tố cáo chế độ độc đảng độc đoán và tham nhũng trên đất nước mình. Ông nổi tiếng khi lên án vụ sữa nhiễm độc giết hàng vạn trẻ em, ông cũng lên án vụ động đất ở Tứ Xuyên năm 2008 làm chết 5 ngàn em học sinh do trường lớp khi xây lên bị cắt xén do tham nhũng. Xưởng tranh của ông ở Thượng Hải bị đập phá. Bà Lộ Thanh, nghệ sĩ vợ ông bị lăng mạ và quấy rối.

Ngày hôm sau, Thứ Hai, 4 tháng 4, 2011, tại Hà Nội, tòa án mang tên “Nhân dân,” dù không có bào chữa của luật sư, không có tranh biện theo luật định, ngang nhiên tuyên án 7 năm tù giam và 3 năm quản chế Luật Sư Cù Huy Hà Vũ, 54 tuổi, từng du học ở Pháp, Hoa Kỳ, cũng loại “con ông cháu cha,” cũng đứng ở hàng đầu các chiến sĩ dân chủ kiên cường, cũng tố cáo không mệt mỏi chế độ độc đảng độc đoán và tham nhũng trên đất nước mình.

Hai trường hợp giống nhau, không phải ngẫu nhiên. Giống nhau vì cùng ở vào thời điểm mùa Xuân 2011, khi làn sóng dân chủ lên cao lan rộng ở Bắc Phi, xuống Tây Phi, tràn vào Trung Ðông và Cận Ðông, làm lung lay mọi chế độ độc đảng và tham nhũng, không trừ một chế độ nào.

Không phải ngẫu nhiên mà ông Fidel Castro đang dưỡng bệnh, bỗng lên tiếng thanh minh với thế giới là từ lâu ông không cầm quyền nữa, ông không có trách nhiệm gì trong việc cai trị đất nước Cuba. Ðúng sau khi 2 nhà độc tài Ben Ali của Tunisia và Hosni Mubarak của Ai Cập bị hạ bệ, tịch thu tài sản và bị truy tố về tội đàn áp nhân dân, ngược đãi các nhà dân chủ và tội ăn cắp của công trên quy mô lớn. Hai tội này làm cho ông Fidel giật mình và thanh minh. Cũng không phải ngẫu nhiên mà nhóm quân phiệt Miến Ðiện vội vã trút bỏ quân phục, không gọi nhau là thượng tướng, đại tướng, nguyên soái, trở về với cái vỏ dân sự hiền lành, nhưng không che giấu được thế gian trong thời đại thông tin bén nhạy.

Nếu như không có làn sóng dân chủ Bắc Phi, chưa chắc “Lão Ngải” - theo cách gọi quý mến ông Ngải Vị Vị của người Trung Quốc - và chưa chắc Luật Sư Cù Huy Hà Vũ được coi là Lương tâm Thời đại đã bị đại nạn đến mức như thế.

Vì nội dung cuộc cách mạng rung chuyển cả thế giới Ả Rập-Hồi Giáo là chống độc đoán và chống tham nhũng, trúng phắp vào 2 gót chân A-sin của mọi chế độ độc tài, lật 2 cái tẩy bẩn thỉu khổng lồ của bọn chúng, làm cho chúng ăn ngủ không yên, lo đối phó bằng mọi cách, lo giữ sinh mạng và của cải cướp bóc được của chúng.

Ở Tunisia, ở Ai Cập, cũng như ở Libya và Syria hay Yemen, chữ “ô nhục” luôn đi với “bầu cử” và “làm giàu,” là 2 cái tội lớn nhất, rõ nhất, khó thoát tội nhất của mọi tên độc tài, của mọi nhóm độc tài. Trên các truyền đơn, biểu ngữ, trên các blog, twitter, facebook, các nhóm từ liên tiếp xuất hiện, chữ Ả Rập dịch ngay ra tiếng Anh, tiếng Pháp: “Chúng tiếm quyền qua bầu cử một cách ô nhục và chúng làm giàu một cách ô nhục.”

Các báo chí, truyền đơn giải thích các cuộc bầu cử ô nhục vì chỉ có một đảng được tồn tại, không có vận động, tranh cử, lựa chọn, bầu theo lối gượng ép, áp đặt, cưỡng bức tinh vi. Chính vì vậy nên các Bộ Chính Trị cộng sản ở Bắc kinh và Hà Nội đang bị chạm nọc, 2 huyệt sinh tử có nguy cơ bị nhân dân nhè vào đó mà điểm, vì ở ta cũng y như thế, tất cả đều không được nhân dân chọn lựa để bầu; đều là dấm dúi đề cử nhau, chia chác ghế giữa các phe nhóm sau lưng cử tri, và sau khi có quyền lực thì tha hồ thu vén vơ vét, còn bảo vệ lẫn nhau, trong khi các chiến sĩ dân chủ thật lòng yêu nước, thương dân, tuân thủ và bảo vệ luật pháp thì phải ngồi tù.

Ben Ali, Mubarak, Gadhafi... từng được bầu làm tổng thống liền nhiều khóa, nhưng bọn hắn chỉ cho một đảng của bọn hắn tồn tại, những cuộc bầu như thế là hoàn toàn ô nhục; nhục cho kẻ “trúng cử,” nhục cho kẻ buộc phải đi bầu mà không được lựa chọn, nhục cho chế độ chính trị, nhục cho đất nước! Quốc Hội của các nước đó cũng được bầu một cách ô nhục, bầu mà không có ganh đua, tranh cử, lựa chọn như phần lớn các nước dân chủ văn minh. Nhục cho những ông bà nghị tay sai của đảng cầm quyền, cho các nghị gật, đóng trò hề dân chủ.

Chính do căn bệnh lo sợ, run sợ, hoảng hốt trước làn sóng dân chủ Bắc Phi, làm lung lay tận gốc mọi chế độ độc đảng độc đoán tham nhũng mà Bộ Chính Trị cộng sản Bắc Kinh và Hà Nội ráo riết, mạnh tay dùng quyền lực thô bạo đàn áp mọi tiếng nói dân chủ. Họ biết rõ những “Lão Ngải,” Cù Huy Hà Vũ, Phạm Thanh Nghiên, Phạm Hồng Sơn, Lê Quốc Quân, Ðiếu Cày, Anh Ba Sài Gòn... mà tự do sẽ hăng hái truyền bá giá trị của làn sóng dân chủ kỳ diệu ở Bắc Phi và Trung-Cận Ðông để thức tỉnh toàn dân ta, chỉ mặt vạch tên những kẻ ô nhục, tiếm quyền, giành ghế, cướp đất, cướp của của nhân dân và nhà nước ta, tàn phá quê hương hàng hơn nửa thế kỷ, nay vẫn mê muội không chịu buông tha.

Họ đã tính nhầm. Lúc này muốn bịt mồm mọi người ngay thẳng thì sức đâu mà bịt, mà bắt, nhà tù đâu mà chứa cho hết. Tự họ đang đổ dầu vào lửa oán hờn đang âm ỉ lan rộng. Họ những định bóp nghẹt tư do để cho qua Ðại Hội XI, nay lại giở trò khủng bố hòng qua êm ả cuộc bầu cử Quốc Hội 20 tháng 5 này, nhưng hãy coi chừng. Hiệu ứng Bắc Phi còn đó. Bầu cử sắp tới ở Việt Nam có khác gì bầu Quốc Hội ở Tunisia, Ai Cập, Libya hay Yemen trước đây, tất cả nay đã bị quần chúng lật tẩy, phủ định, bĩu môi chê cười là ô nhục.

Báo chí lề phải đang nêu vấn đề làm sao chọn người hiểu biết rộng, đạo đức tốt, dũng cảm bảo vệ lẽ phải để bầu vào Quốc Hội. Ðây là vấn đề lỗi hệ thống. Một vấn đề nan giải, bế tắc triệt để nếu không thay thế hẳn hệ thống.

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Góc Chiến Trường Xưa: Hãy gìn giữ ‘Tù Ca’

taquanghoang
(Một vài suy nghĩ về “Tù Ca’ nhân dịp tham dự buổi Hội Ngộ Cựu Tù Nam Hà+Hàm Tân Z30D, ngày 6 tháng 3, 2011 tại Nam Cali.)

Ngày Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2011, vào lúc 11 giờ, khoảng 200 anh chị em cựu tù nhân chính trị trại Nam Hà và Hàm Tân Z.30D, cùng người thân và bằng hữu, đã có một cuộc họp mặt lần đầu tiên tại nhà hàng Regent West (4717 W. First Street, Santa Ana, CA 92708) sau nhiều năm được đi định cư tại Hoa Kỳ, mà phần lớn là qua diện H.O. (Bắt đầu từ năm 1990). Các anh chị nay đã mang nặng tuổi đời - đều trên dưới tuổi “Cổ lai hy,” thậm chí có anh đã 90 - tóc đã bạc và sói đi nhiều, sức khỏe cũng đã mỏi mòn theo năm tháng, song các anh chị quả thật đã có được những giờ phút bên nhau vui mừng lẫn xúc động khi được gặp lại những người bạn tù cũ với bao kỷ niệm của những năm tháng dài cùng chung trải qua trong các ngục tù khổ sai của cộng sản.

Tuy tổng số người tham dự lần đầu tiên này có phần khiêm nhường, có thể vì tin tức chưa được phổ biến rộng rãi, hoặc vì sức khỏe, hay vì một lý do bất khả kháng nào đó, nhưng lại được một sự khích lệ khác khi thấy có sự hiện diện của cả những người bạn đến từ xa, rất xa, không phải chỉ từ San Jose, Sacramento, hay San Diego cùng tiểu bang, mà còn đến từ các tiểu bang xa như Arizona, Washington, hay mãi tận miền Ðông Florida. Nhiều bạn khác ở xa không về dự được thì cũng gọi phone, gởi email, và cả yểm trợ tài chánh, từ Virginia, Illinois, Michigan,... để chào mừng ngày hội.

Ban Tổ Chức đã có suy nghĩ đúng khi quyết định không mời các giới chức có danh phận trong cộng đồng (dù có thể sẽ nhận được sự yểm trợ về tài chánh), vì đây đơn thuần chỉ là một cuộc gặp gỡ giữa những người bạn tù cũ. Ngay cả trong lời chào mừng lúc khai mạc ngày hội, cũng không có phần nhắc đến tên tuổi của người nào dù người đó trước kia đã từng giữ những cương vị lớn trong lãnh vực dân sự hay quân sự. Ban Tổ Chức và mỗi thành viên tham dự ngày hội đều trân quý từng phút giây, dành cho việc chào thăm, mừng cho nhau, hay chụp hình lưu niệm. Chính các anh cựu tướng lãnh, dân biểu, giới chức dân sự cao cấp, cũng tự hòa mình, khiêm nhường ngồi lẫn với các bạn tù ở những bàn phía sau, chuyện trò vui vẻ. Sau bao đổi thay theo dòng đời, giờ đây chỉ còn có tình bạn giữa những “bạn tù,” những người đã một thời cùng chung trải qua những năm tháng bị đày ải trong các ngục tù của cộng sản.

Buổi họp mặt đã để lại nhiều kỷ niệm khó quên, nhất là khi được nghe lại những bản “Tù Ca” hay những bài “Thơ Tù” đã từng một thời lưu hành trong các trại tù từ Nam ra Bắc. “Tù Ca” được chính “tù nhân” trình bày, tuy không là ca sĩ chuyên nghiệp, nhưng lại là người đã từng sống với chính tâm tình được gởi gắm trong mỗi lời ca, dòng nhạc đó; còn người nghe thì cũng có chung một tâm sự, một nỗi niềm - vì chính họ cũng là cựu “tù nhân” - thì quả thật cả phòng hội như im ắng, lặn chìm trong một bầu không khí lành lạnh, trong khi tiếng hát vừa xót xa vừa hào hùng của người bạn tù trên sân khấu chầm chậm len lỏi vào lòng người nghe, làm nổi da gà và mắt mờ đi vì nước mắt cứ dâng lên!

Ðã trên hai mươi năm xa hẳn các nhà tù cộng sản và đang sống trên một đất nước tự do, nay trong ngày hội gặp lại các bạn tù cũ nhân dịp đầu Xuân năm mới, lại được nghe một lúc nhiều bản “Tù Ca,” làm gợi nhớ những ngày đầu Xuân năm Canh Dần 1980 tại phân trại A Nam Hà... Mùa Xuân năm ấy, cũng những buổi tụ hội với hằng trăm anh em tham dự, hết buồng giam này sang buồng giam khác, những thân xác khô gầy trong bộ đồ tù màu xám bạc rách nát, ngồi đứng chen chúc bên những “gô” trà nhạt, với chút ít quà do người thân tình nghĩa lặn lội đường xa đem cho lúc đi thăm nuôi, anh em chia sẻ cho nhau hớp trà, chút “đường tán,” và cùng lắng nghe những bản “Tù Ca” và những bài “Thơ Tù’ được hát, được ngâm với tiếng nhạc đệm từ chiếc đàn guita “tự chế”... Những ngày đau buồn ấy đã chẳng được chôn sâu trong ký ức rồi sao mà trở về đây với anh chị em bạn tù mình hôm nay?

“Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây. Áo rách xác xơ vai gầy, cùng chung kiếp sống lưu đày... Chiều Suối Máu xót xa buồn nhớ con. Tình thương em vẫn đong đầy khóe mắt. Chiều Long Giao mưa rơi nhòa nước mắt. Nhớ thương vơi đầy... Anh ở đây ngày ngày bên trong rào sắt... Khúc sắn bát ngô vơi đầy. Sầu nuôi thân xác hao gầy... Chiều Sơn La sương mù đêm u uất... Chiều nao gục ngã trên đồi. Chim rủ nhau về rừng ru anh ngủ mãi. Hình hài tan theo cỏ cháy. Hỡi người kiệt sức buông tay!... Anh ở đây...Anh ở đây... Sao anh còn ở đây? (“Anh Ở Ðây” của Thục Vũ và Vũ Ðức Nghiêm)

Lời ca thấm sâu vào lòng, dẫn người nghe bước đi lần nữa theo hành trình của chính mình trên 35 năm trước từ Nam ra Bắc, và cũng đã biết bao lần chứng kiến cảnh bạn mình “kiệt sức buông tay,” “gục ngã trên đồi”!...

Ngày đầu năm lặn lội từ Nam ra Bắc, len lỏi qua bao lối mòn dọc theo đồi núi, gói ghém mang được ít quà nghĩa tình vào trại giam thăm nuôi chồng lần đầu. Ðến lúc được gặp, ngỡ ngàng nhìn người chồng yêu thương của mình ngày nào giờ đây chỉ còn là một hình hài khô gầy, lỏng lẻo trong bộ áo lam tù rách nát, và thế là nước mắt tuôn trào... “Em đến thăm anh trong trại ngục tù. Những dòng nước mắt lã chã trên bờ mi... Dòng nước mắt em tiếc thương gì đây? Tình yêu hay tình nước phôi phai!” Và rồi còn xót xa, đau thắt lòng hơn khi nghe người chồng kể cho nghe cảnh sống trong tù. “Ở đây không hoa phượng đỏ,... không mai vàng nắng,... Ở đây chỉ tường đá trắng với kẽm gai giăng. Ðêm đêm song sắt cách ngăn, thế giới bao la, tiếng cuốc xa xa...” (“Thăm Nuôi” của Nguyễn Văn Tấn)

Cảnh những người tù khổ sai càng được rõ nét hơn khi nghe lời ca “Trên đường đi của trâu bò và dê. Những bàn chân chai cứng lết lê. Trông thật đáng ê chề. Trên đồi cao đập đá nắng cháy da đầu. Dưới đầm sâu thân xác gầy kéo cày thay trâu...” (“Tù khúc số 1” của Nguyễn Văn Hồng)

Chương trình “Tù Ca” do chính các anh chị em bạn tù đóng góp đã giúp cho buổi hội ngộ giữa những người bạn tù thuộc hai trại Nam Hà và Hàm Tân Z.30D một kỷ niệm khó quên và đến lúc chia tay đã không thể không hứa nguyện hẹn gặp lại vào ngày hội năm tới hay sớm hơn nếu có cơ hội.

Nhưng cũng chính qua chương trình “Tù Ca” của anh chị em cựu tù lần này, người viết đã bâng khuâng với ý nghĩ: “Tù Ca” rồi sẽ đi về đâu khi lớp người cựu tù nhân chính trị chúng tôi qua đi? “Tù Ca” sẽ chỉ là một “nét chấm phá đau thương” riêng tư trong cuộc đời của những người tù trong chế độ cộng sản, hay “Tù Ca” phải có một chỗ đứng xứng đáng không phải chỉ trong lãnh vực văn học nghệ thuật Việt Nam, mà có lẽ chính cả trong lịch sử Việt Nam thời cận đại, cuối thế kỷ 20?

Ðời sống thực tế của những người tù khổ sai trong những năm tháng dài “vô vọng,” “đen tối” trong các ngục tù cộng sản, đã được chính các anh chị em bạn tù nhắc đến qua các tác phẩm hồi ký, không cần phải nhắc lại. Nhưng chính trong bối cảnh đen tối tận cùng của cuộc đời mà các anh chị em bạn tù phải chịu đựng và trải qua đó, “Tù Ca” đã xuất hiện để ghi lại những gì họ nghĩ suy và đang trải qua. Những “Tù Ca” này là những sản phẩm riêng biệt của những cựu Quân Cán Chính của chính phủ VNCH bị cộng sản giam giữ thời sau Tháng Tư Ðen 1975. Nó chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn cố định, khi mà họ còn bị giam giữ trong các trại tù cộng sản, tức là khoảng từ sau tháng 4, 1975 đến cuối tháng 4, 1992 (17 năm tròn), là lúc mà 20 người tù chính trị cuối cùng bước ra khỏi nhà tù Hàm Tân Z.30D (có 6 anh trong Ban Tổ Chức Ngày Hội ngộ Nam Hà-Hàm Tân 6 tháng 3, 2011), và sẽ không bao giờ tái diễn nữa.

“Tù Ca” tuy không được sáng tác ra bởi những nhạc sĩ tài ba, thậm chí có người chưa từng biết qua về nhạc lý trước đó, nhưng quả thật “Tù Ca” đã để lại một dấu ấn đầy tính văn hóa, rất riêng, và không bao giờ có chuyện “tái bản.” Chính vì cái bản sắc “rất riêng” và “không bao giờ có chuyện tái bản lại” này, “Tù Ca” sẽ là những dữ liệu vô cùng quý giá giúp soi sáng lịch sử sau này khi phê phán chế độ cộng sản Hà Nội.

Về nội dung, “Tù Ca” được hướng về 3 chủ đề chính:

“Tù Tội” (nói lên sự dã man, tàn độc của CS trong cách “trả thù” những người đã từng phục vụ trong chính quyền cũ đối nghịch với chúng. “Trên đồi cao đập đá... dưới đầm sau kéo cày...”);

“Tinh thần bất khuất” (hào hùng, bi tráng. “Và dù không là gì cả, cũng xin làm đôi giày dũng sĩ, trở về dẫm nát tim kẻ thù...”);

“Tình cảm” (Sự nhớ thương người thân, gia đình. “Người không biết ta, em không biết ta, nhưng sao yêu ta hỡi người. Ta không biết em, ta không biết người, nhưng sao yêu người hỡi ta?”)

Ðừng vội cho rằng trong cảnh tù đày khổ sai như vậy mà còn “tình cảm ướt át” nữa sao? - Nhưng đó chính là bản sắc của người “Quốc Gia,” có tình yêu quê hương, tình yêu gia đình, khác biệt với bọn cộng sản vô thần, không có tánh người, chỉ biết yêu “chủ nghĩa cộng sản” (sic) một cách mù quáng.

Trong nhiều năm qua, đã có nhiều anh em cựu tù, và cũng là những nhà hoạt động văn học nghệ thuật có tên tuổi trong cộng đồng, nhiệt tình quan tâm đến vấn đề “Tù Ca,” như quý anh Nguyên Huy, Huy Phương, Xuân Ðiềm, Hồ Hoàng Hạ, v.v... đã có nhiều bài viết kêu gọi sự tiếp tay của tất cả những ai có cùng quan tâm, nhất là các trung tâm văn hoá, nghệ thuật, để có thể lưu giữ những “Tù Ca,” “Thơ Tù” hầu có thêm dữ liệu cho các thế hệ mai sau sử dụng khi nghiên cứu tìm hiểu về giai đoạn lịch sử cận đại của dân tộc.

Qua những dòng chữ này, người viết xin tiếp nối những người đi trước, với ước mong có ngày được nhìn thấy những giới chức làm văn hóa, nghiên cứu lịch sử, và đặc biệt là các trung tâm văn nghệ, có lòng với sự tồn vong của quê hương, Tổ Quốc VN, lưu tâm đến những “Tù Ca” này, mà sưu tầm, tìm hiểu, và tồn giữ. Vì như đã có trình bày ở trên: “Tù Ca” có một bản sắc văn hoá “rất riêng,” chỉ xuất hiện trong một khoảng thời gian ngắn cố định, và không có chuyện “tái bản” lại. Ðó là những dữ liệu lịch sử vô cùng quý giá sau này dùng để phê phán chế độ cộng sản Hà Nội.

Có trên 160 trại tập trung cộng sản thiết lập trên khắp hai miền Nam Bắc sau tháng 4, 1975. Chế độ tù đày được dựa trên một chính sách chung mang tính chất diệt chủng, nên tâm tình của những người tù khổ sai duới chế độ cộng sản đều giống nhau dù là đang bị giam giữ tại đâu. Ở trại nào cũng có những “Tù Ca” được sáng tác, được truyền miệng giữa các bạn tù, và mỗi bản “Tù Ca” đều có mang theo một tâm tình riêng biệt, có thực, của những người tù khổ sai mà chỉ có những “nghệ nhân bất đắc dĩ” này mới diễn đạt được trọn vẹn những nỗi thống khổ cùng cực của các bạn tù đã phải trải qua, cũng như thể hiện được tinh thần kiên cường bất khuất của anh chị em khi đối diện với những tên cai tù hung ác, v.v... vì chính bản thân họ đã trải qua những ngày tháng đó trong nhà tù cộng sản.

Mong sao có được một trung tâm văn nghệ “có lòng” đứng ra thực hiện một “Chương Trình Tù Ca,” như Trung Tâm Asia đã nhiều lần thực hiện các chương trình vinh danh những người chiến sĩ Quân Lực VNCH trước đây. Những ca khúc vinh danh Quân Lực VNCH có thể sưu tầm dễ dàng bất cứ lúc nào, nhưng “Tù Ca” của những người tù khổ sai của anh chị em bạn tù thời sau Tháng Tư Ðen 1975, sẽ thất truyền khi mà lớp người chúng tôi qua đi. Nó thất truyền vì không được lưu truyền trong dân gian khi anh chị em chúng tôi đã ra khỏi nhà tù. Nó chỉ có ý nghĩa khi còn trong nhà tù. Nhưng nó lại là những dữ liệu văn hoá vô cùng quý giá chẳng những để sau này lịch sử phê phán chế độ cộng sản, mà còn giúp cho các thế hệ con cháu chúng ta hiểu được tâm tình của các bậc trưởng thượng khi họ phải trải qua một giai đoạn đen tối nhất của lịch sử Việt Nam cận đại, để từ đó mà cảm thông, và kính yêu các bậc trưởng thượng của mình hơn. Qua những bản “Tù Ca,” họ sẽ nhìn ra được một phần những gì các bậc cha ông của họ đã phải đối diện khi đang ở lứa tuổi thanh xuân, chứ không phải là hình ảnh của những “Cụ già HO” lụm khụm, đi đứng khó khăn, nhẫn nhịn, chịu đựng mọi sự trong im lặng, chấp nhận đứng bên lề cuộc sống,... như họ vẫn gặp, vẫn thấy mỗi ngày.

Trong vấn đề sưu tầm “Tù Ca,” hiện nay tương đối thuận lợi. Sau khi có chương trình H.O., hàng nhiều trăm ngàn anh chị em cựu tù nhân được đi định cư tại Hoa Kỳ và nhiều nước khác, và thường sống tập trung tại các thành phố lớn. Trong những năm đầu sau khi đi định cư, tâm tình còn nặng nhiều về quá khứ của những ngày trong các ngục tù cộng sản. Và nhờ có điều kiện và phương tiện thuận lợi nơi đất định cư, các bạn tù thường tự thực hiện các CD ghi lại những bản “Tù Ca” do chính bản thân hay bạn bè hát. Những CD này chỉ phổ biến hạn chế trong chỗ bạn hữu thân tình - thường là những người bạn tù với nhau - để kỷ niệm một thời chung khổ cực. Anh em từng ở trại tù nào, ghi lại những “Tù Ca” của trại đó, và vì chỉ nhằm mục đích lưu niệm nên thiếu phần kỹ thuật hòa âm và thâu âm, cũng như được những ca sĩ chuyên nghiệp trình bày. Nhưng nhớ người hát lại chính là “tù nhân” nên tiếng hát thường thống thiết, gây nhiều xúc cảm cho người nghe. Nhờ có những CD “Tù Ca” do chính các cựu tù thực hiện này, việc sưu tầm có thể thực hiện được nếu có một “Trung Tâm Văn Hoá” hay một “Trung Tâm Văn Nghệ” “có lòng” nào đó đứng ra kêu gọi. Dĩ nhiên những “Tù Ca” này phải là “Tù Ca” được sáng tác và phổ biến truyền miệng khi còn trong các nhà tù của cộng sản thì mới có giá trị thực sự; còn những “nhạc tù” được sáng tác về sau, khi đã ra tù rồi, thì không được kể là “Tù Ca.”

Chính vì “Tù Ca” không phải là một loại nhạc được phổ biến rộng rãi trong dân gian như những loại nhạc khác, vì nó chỉ được sáng tác (và lưu hành trong phạm vi các nhà tù cộng sản) trong một thời gian nhất định, và sẽ thất truyền khi thế hệ chúng tôi qua đi. Việc tiến hành sưu tầm và lưu giữ thật sự đã trở nên gấp rút vì nếu không thì có lẽ sẽ không còn nhiều thời gian nữa. Lịch sử Việt Nam cận đại có thể vì vậy sẽ thiếu mất những trang sử vừa đau thương vừa hào hùng của cả một lớp người đã dâng hiến trọn vẹn tuổi trẻ của mình cho công cuộc chống lại bọn cộng sản vô thần, vô Tổ Quốc, để bảo vệ quê hương, dân tộc. “Tù Ca” chính là những dữ liệu quý giá để làm sáng tỏ những trang sử ấy.

Hãy gìn giữ “Tù Ca”!

Post Reply