Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Mất gì ngày 30 Tháng Tư?

Ngô Nhân Dụng


Từ giữa thế kỷ 20 môn kinh tế học mới bắt đầu chú ý đến luân lý như một tài nguyên; có người gọi thẳng là Love (tình thương), có người gọi là Civic spirit hoặc Civic Culture (tinh thần công dân), hoặc như Albert O. Hirschman từ năm 1970, gọi chung là các tài nguyên tinh thần (moral resources).

Gọi là một tài nguyên, người ta công nhận nó giống như một thứ “Vốn” chung của xã hội, nó có thể giúp gia tăng của cải, sẽ sinh lợi không khác gì các thứ vốn như tiền bạc, đất đai, hiểu biết, vân vân; và nó cũng có thể bị phí phạm, hao mòn, hay được làm cho đầy, cho phong phú thêm.

Dần dần, hầu hết các nhà kinh tế đã đồng ý “tài nguyên tinh thần” rất quan trọng, nên giữ gìn và phải học cách sử dụng sao cho hiệu quả nhất. Một thứ tạo nên tài nguyên tinh thần là Niềm Tin (Trust) trong xã hội. Kinh tế chỉ có thể phát triển nếu mỗi người ký một hợp đồng có thể tin rằng phía bên kia sẽ hết sức thi hành bản hợp đồng đó. Ngay cả những doanh nhân không thích ký hợp đồng, nhưng họ biết đang làm ăn những người đáng tin (quân tử nhất ngôn), khi bắt tay nhau là họ có thể tin nhau rồi, thì việc kinh doanh của họ rất phát đạt. Các Hoa kiều hải ngoại hay làm ăn kiểu đó. Nhưng nếu niềm tin được bảo vệ bằng các định chế chính thức của xã hội, như luật lệ, hệ thống tư pháp sạch sẽ và tòa án công minh, thì thứ tài nguyên đó sẽ giúp cho kinh tế phát triển rất mạnh. Chỉ khi nào chứng kiến những xã hội lạc hậu về kinh tế vì người dân không ai dám tin ai mà cũng không nghĩ người khác sẽ tin mình, thì mới thấy thiếu niềm tin là mất một tài nguyên kinh tế rất quan trọng. Trong các xã hội lạc hậu, mọi người sống ích kỷ không nghĩ đến người khác, không có lòng tôn trọng công ích hơn tư lợi, thì nền kinh tế không thể nào phát triển cao được; vì mọi người khó cộng tác với nhau.

Tại sao có những xã hội mà người ta tạo được tài nguyên tinh thần rất giầu, còn nhiều xã hội thì không? Tài nguyên tinh thần cần được gieo giống, rồi được tưới tẩm, hết thế hệ này sang thế hệ khác. Muốn hiểu diễn trình cấu tạo nên tài nguyên tinh thần, có thể dùng một phương pháp kinh tế học là Game Theory (Lý thuyết Trò chơi). Một câu chuyện nổi tiếng là Chuyện Hai Người Tù (The prisoners dilemma). Ðại khái, có hai người bị bắt, nếu cộng tác với nhau cùng khai vô tội thì sẽ được bị án rất nhẹ, còn nếu nếu phản phúc thì cả hai sẽ bị án nặng nề. Nhưng hai người tù không tin được nhau. Khi suy xét một cách thuần lý, cuối cùng mỗi người tù thấy chọn đường phản phúc thì có lợi nhất, mặc dù cả hai đều bị thiệt. Trong xã hội, mọi người đều biết suy nghĩ như thế. Ðiều này trái ngược với nhận xét chung là trong rất nhiều xã hội người ta vẫn tin tưởng nhau, vẫn cộng tác với nhau. Làm cách nào giải thích được hiện tượng nghịch lý này?

Các nhà nghiên cứu kinh tế và xã hội học đã thấy là có một cách để bảo đảm một người sẽ không phản phúc, là tiếng tăm. Nếu anh bị mang tiếng là hay phản phúc thì sẽ bị mọi người ruồng bỏ, không ai tin anh nữa, đó là một hình thức trừng phạt. Một “định luật” được công nhận là khi một người tham dự vào “nhiều cuộc chơi lập lại rất nhiều lần” (repeated games) thì dần dần họ sẽ sợ bị người chung quanh trừng phạt, do đó sẽ chọn hành vi cộng tác để được tín nhiệm. Có những điều kiện giúp cũng có luật chơi tín nhiệm này: Số người tham dự nhỏ (trong một xóm ai cũng biết ai, phản phúc là tự loại mình); hoặc thông tin về hành vi của mọi người đều dễ phổ biến cho tất cả biết (không cấm tự do thông tin, không có những quyết định trong các phiên họp bí mật); và các người tham dự biết giá trị của những lợi ích tương lai chứ không chỉ chú tâm đến hiện tại. Khi xã hội đã thiết lập được một hệ thống trừng phạt và tưởng thưởng như thế, niềm tin chung sẽ gia tăng. Nếu ngược lại, có lúc hệ thống tưởng thưởng và trừng phạt này bị phá vỡ vì xã hội theo những luật chơi mới, niềm tin sẽ tan mất. Muốn lập lại, phải bắt đầu cuộc chơi lại từ đầu, xây dựng niềm tin lên dần dần, mất nhiều thời gian.

Trước Hirschman có người đã nhận xét rằng Niềm Tin là “một thứ tài nguyên càng sử dụng thì càng giầu hơn chứ không bị hao mòn; nhưng nếu không được đem dùng thì nó sẽ dần dần tiêu tán.” Nó cũng giống như một kỹ năng (skill), chẳng hạn tài chơi đàn, hay nói được một tiếng ngoại quốc. Nó cũng không hiếm hoi như quặng mỏ hoặc trình độ giáo dục.

Albert Hirschman đưa ra một cách nhìn mới. Ông nhận thấy có hai trường hợp khiến tài nguyên tinh thần có thể bị hủy hoại: Một là khi nó không được dùng tới, sẽ hao mòn đi, như người khác đã thấy. Hai là nếu nó bị sử dụng nhiều quá, quá khả năng cung cấp của loài người, thì cũng sẽ giết chết nó.

Hirschman (năm nay 96 tuổi) đã nhìn thấy, từ 1970, 80, tình trạng tài nguyên tinh thần bị hao mòn hay bị hủy diệt, trong cả hai hệ thống kinh tế tư bản và cộng sản. Trong kinh tế tư bản, người ta không chú ý vận dụng tài nguyên tinh thần, vì rất khó đo lường để đưa nó vào phương trình kinh tế. Cho nên, tài nguyên tinh thần có thể bị hao mòn (atrophy) vì mọi người chỉ lấy lợi nhuận làm thước đo thành công. Nếu niềm tin còn tồn tại trong thế giới tư bản, đó là nhờ các định chế pháp luật và các quyền tự do dân chủ, chúng bảo đảm những người cộng tác được thưởng, kẻ phản phúc bị trừng phạt.

Trong hệ thống kinh tế cộng sản thì ngược lại. Họ tận dụng tài nguyên tinh thần, cổ động niềm tin vào chủ nghĩa, vào khả năng giới lãnh đạo; họ không coi niềm tin giữa các cá nhân là quan trọng như một tài nguyên tinh thần; vì tất cả đã được thay thế bằng niềm tin chung vào chủ nghĩa cộng sản. Chỉ cần động viên niềm tin vào đảng cho vững chắc là mọi chuyện sẽ thành tựu. Nhưng hệ thống kinh tế và chính trị cộng sản cổ động niềm tin quá khả năng cung cấp của tất cả mọi người, nhất là các đảng viên. Họ đưa ra những khẩu hiệu, như “Con người mới” của Fidel Castro, “Tự chủ” của Kim Nhật Thành. Ðiều nguy hiểm là sự thành công của cả hệ thống lại tùy thuộc vào tài nguyên tinh thần này. Cho nên họ đòi hỏi, “muốn có xã hội cộng sản phải có con người cộng sản.” Mà một mẫu người lý tưởng theo kiểu các tôn giáo vẫn đề cao như thế thì chỉ có trong tưởng tượng, không xã hội loài người nào đạt được. Hậu quả là hệ thống kinh tế cộng sản tạo ra một xã hội sống giả dối, dùng nhiều mặt nạ khi sống với nhau. Lối sống đó tất nhiên phá hoại tất cả tài nguyên tinh thần. Tình trạng tài nguyên tinh thần bị hao mòn là một phần nguyên do đã gây ra hậu quả kinh tế trì trệ rồi sụp đổ.

Ðảng Cộng Sản ở hai nước Trung Quốc và Việt Nam đã “đổi mới kinh tế.” Họ đã khai thác ngay được một thứ tài nguyên lớn, là sức người. Chỉ cần họ nới lỏng guồng máy kiểm soát kinh tế; cứ cho người dân được thêm một chút tự do làm ăn là khả năng sản xuất của người ta chắc chắn sẽ tăng lên. Nhưng cả hệ thống chính trị của hai nước vẫn chưa nghĩ đến chuyện khôi phục lại các tài nguyên tinh thần đã bị mất. Ngược lại, việc họ tìm cách bảo vệ quyền lợi các đảng viên bằng hệ thống tham ô toàn diện còn làm cho các tài nguyên tinh thần bị hủy hoại mạnh và nhanh hơn trước. Tình trạng đạo đức giả chỉ tăng lên chứ không giảm đi, vì nó thể hiện từ cấp cao nhất: lý thuyết, tư tưởng chính thức của guồng máy cai trị. Họ vẫn nói đi theo chủ nghĩa Cộng Sản, nhưng trong thực tế họ pha trộn một hệ thống tư bản thời hoang dã với một chế độ công an trị thời phát xít. Miệng đề cao công ích nhưng ai cũng chỉ lo vơ vét tư lợi. Tham ô và nhũng lạm quyền hành được phơi bầy công khai, trâng tráo, trong khi nhà nước vẫn hô hào chống tham nhũng. Tài nguyên tinh thần đã bị phá hoại toàn diện chứ không phải chỉ bị hao tổn như khi còn theo kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Một độc giả Người Việt mới viết cho tòa soạn kể chuyến đi thăm quê hương mấy tháng. Vị độc giả nhận thấy guồng máy chính quyền bóc lột dân; chuyện đó nhiều người đã nói. Nhưng ông (hay bà) còn thấy, “người dân cũng bóc lột lẫn nhau vô tội vạ, đối xử với nhau bằng những cái mặt nạ nhân nghĩa giả dối trơ trẽn!”

Hồi đầu Tháng Ba năm 2011, ký giả Carl Robinson sau khi thăm Việt Nam, mới nêu một nhận xét: “Sau gần 60 năm cai trị của đảng Cộng Sản ở miền Bắc và hơn 35 năm ở miền Nam, tất cả người Việt Nam ngày nay theo chủ nghĩa cá nhân tột cùng. Thay vì tinh thần hướng về cùng một mục đích chung và đoàn kết với nhau thì bây giờ ai cũng chỉ lo cho bản thân mình, như tâm trạng sauve qui peux (ai chạy được thì thoát, tiếng Pháp trong nguyên văn)...” Robinson cho biết ông đã đi khắp nơi, gặp rất nhiều người ở Việt Nam trong 18 tháng trời.

Không biết Carl Robinson có đọc Albert O. Hirschman hay không, nhưng ông mô tả tình trạng ở Việt Nam hiện nay giống hệt điều mà nhà kinh tế đã nêu ra trước đây mấy chục năm: Lạm dụng tài nguyên tinh thần sẽ hủy hoại nó. Ông kể đã thấy người Việt Nam được đảng và nhà nước đối đãi giống như các học sinh trong các trường mà trong đó các vị giáo sĩ dạy trẻ những quy luật không bao giờ được ai theo cả: “Tất cả mọi người được coi như trẻ nít, được học giáo lý suốt ngày bằng những khẩu hiệu, các ngày lễ lạt, các giấc mơ vĩ đại. Khi tôi than phiền với một số người ở một thành phố ven biển gần đây về những bài phát thanh tuyên truyền mỗi sáng, một người cười lớn nói, Ðó chỉ là tuyên truyền thôi; chúng tôi không bao giờ nghe cả!”

Ðó là một cách tiêu diệt tài nguyên tinh thần một cách có hệ thống. Muốn xây dựng lại được vốn liếng tinh thần mà tổ tiên đã xây dựng trong mấy ngàn năm trước người Việt Nam biết sẽ phải làm gì. Phải thay đổi cách sống chung với nhau, tất cả mọi người. Một chế độ đã hủy hoại tài nguyên tinh thần của dân tộc hơn một nửa thế kỷ qua, không có lý do gì để tiếp tục việc tàn phá đó nữa.

Không phải ai cũng ở Việt Nam lâu ngày, được đi nhiều, thấy nhiều, gặp gỡ và chứng kiến nhiều cảnh sống để kết luận như ký giả Robinson. Nhưng chắc phần lớn mọi người quan sát đời sống ở nước ta hiện nay đều thấy nền tảng tinh thần, đạo đức đã bị xói mòn khá nặng nề trong mấy chục năm qua. Ðó là một sự mất mát lớn.

Tài sản mất sẽ tạo lại được. Của cải mất rồi có lúc lại làm ra, khá nhanh. Tự do bị mất, mất rất nhanh, ngay lập tức sau ngày 30 Tháng Tư, nhưng thế nào cũng sẽ đòi lại được, cũng không lâu lắm đâu. Nhưng có một thứ đã mất mất, mất từ từ chậm chậm; mà muốn phục hồi được rất khó, đó là nền tảng tinh thần của xã hội. Cái vốn tinh thần phải hàng ngàn năm mới dựng lên được. Khi muốn phá, chỉ cần một thế hệ cũng đủ. Muốn dựng lại, cần vài ba thế hệ mới hy vọng xong.

Vậy chúng ta đã mất gì sau ngày 30 Tháng Tư năm 1975? Nếu nhìn lại lịch sử cả nước Việt Nam thì câu hỏi không còn là ngày 30 Tháng Tư nữa. Bởi vì chỉ có người Việt ở miền Nam bắt đầu thấy các tài nguyên tinh thần bị xói mòn từ ngày đó; còn đồng bào ở miền Bắc đã bị mất mát như vậy từ một phần tư thế kỷ trước, tính đến nay hơn 60 nam rồi.

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image


Sài Gòn, những ngày cuối tháng tư 1975

Tháng tư năm 1975 có lẽ là một thời điểm không thể nào quên của dân tộc chúng ta. Ở ngày tàn của cuộc chiến , là của chia ly và mất mát. Bao nhiêu người đã nằm xuống sau một cuộc chiến kéo dài hơn 20 năm.Tưởng đã hòa bình, đã hết những bi thảm nào ngờ bắt đầu từ lúc ấy lại kế tiếp hết những bi thương này qua những bi thảm khác…

Với ngày lịch sử ấy , từ nhạc đến thơ , từ tiểu thuyết đến hồi ký, đã có biết bao nhiêu tác phẩm ghi nhận lại những bi thảm nhưng hào hùng, những mất mát đau xót không thể nào quên được trong tâm khảm những người Việt Nam. Hôm nay, trong cái hồi tưởng để nhớ về những ngày đã qua ấy, chúng tôi nhắc lại những tác phẩm đánh dấu một thời điểm quan trọng của lịch sử Việt Nam , phản ánh tâm tư thời đại và những nỗi niềm của những người bị quay cuồng trong con lốc thời thế..

Là một người lớn lên và trưởng thành trong xã hôi miền Nam thì thế hệ chúng tôi có nhiều cái chung lắm. Cùng đi học, cùng đi lính, cùng vào tù, cùng vượt biển hay đi định cư theo diện HO, cùng lưu lạc ở hải ngoại và cùng chung những nỗi niềm, những tâm sự về ngày đổi đời bi đát của đất nước này. Với những cái chung của nhiều người ấy đã thành một phận đời dù có những nét tư riêng nhưng cũng phản ánh phần nào được xã hôi mà chúng tôi đã sống, đã buồn, đã vui, đã hy vọng và thất vọng theo mệnh nước nổi trôi…

Nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ đã sáng tác rất nhiều về đề tài này. Đã là nghệ sĩ, thì làm sao tránh được cái nhạy cảm với thời thế, huống chi biến cố ấy đã ảnh hưởng trực tiếp vào đời sống. Viết văn, làm thơ, đặt nhạc về những ngày tháng ấy là một xu hướng biểu lộ chân thực nhất mà cảm xúc cũng như kỷ niệm riêng của mỗi người đã ảnh hưởng làm cho văn chương sinh động hơn và có hơi thở của cuộc sống thực hơn. Tôi thấy mình cũng có những xu hướng ấy và hơn nữa nó là một động lực để tôi đến với nghiệp cầm bút.

Trước 1975, tôi chỉ là một người lính yêu sách vở và đam mê văn chương. Sau năm 1975, khi trải qua nhiều cảnh huống và tâm tình không thể nào quên của cuộc đời mình, tôi chập chững đi vào công việc cầm bút cho đến ngày hôm nay. Có thể đó là một sự tình cờ , nhưng có khi trong thâm tâm tôi đó là một sự trả nợ cho những người mà mình phải mang ơn họ trong cuộc sống. Có thể họ là bạn cùng trang lứa cùng đồng ngũ với tôi , hay những người đã mất trong một cuộc chiến. Vì thế , nếu nói một cách bóng bẩy văn hoa thì viết là một cách thế sống để sòng phẳng với mình và với cuộc đời..

Thật ra có rất nhiều tác phẩm văn chương và âm nhạc viết về ngày cuối tháng tư đau đớn của lịch sử Việt Nam. Đáng kể như tập hồi ký “Tháng Ba Gẫy Súng” của Cao Xuân Huy viết về những ngày tan hàng ở Quảng Trị và Huế , như tác phẩm “ Ngày N+” của Hoàng Khởi Phong viết về cuộc di tản từ Pleiku đến Tuy Hòa , hay như những ký sự của ký giả Nguyễn Tú, của nhà văn Nguyên Vũ hay những đoản thiên của nhà văn Hải Quân Phan Lạc Tiếp, của nhà văn Không Quân Đào Vũ Anh Hùng, viết về những cuộc di tản bằng chiến hạm hoặc phi cơ ra biển Đông…

Về thi ca, thì cũng có rất nhiều thi sĩ và nhiều bài thơ viết về những ngày tháng tư buồn thảm như thơ Cao Tần, Thanh Nam, Tô Thùy Yên... Những bài thơ rất ngậm ngùi đầy tiếc nuối của những người đã trắng tay trong một cuộc đổi dời của lịch sử.

Nhưng với tôi, thì gây cảm xúc nhất lại là những bản nhạc .Những bản nhạc nhắc lại Sài Gòn, nói đến những cuộc chia ly, tả về những tiếc thương cho một thành phố bị xóa tên và nằm trong tay quân thù, Như bản nhạc “ Sài Gòn niềm nhớ không tên” của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn.

Bản nhạc ấy đã gây thật nhiều cảm xúc cho tôi vì tôi nghe bản nhạc ấy lần đầu tiên ở trại tù Long Khánh do một người bạn đồng tù hát. Nhạc đệm chỉ là một cây đàn guitare tự chế bằng tôn nhôm và gỗ săn nhặt được và giây đàn được làm bằng những sơi dây điện thoại tước ra từng sợi nhỏ tạo thành. Cũng như ca sĩ là người chung cảnh ngộ hát bằng cả tấm lòng và giọng hát thầm thì như của một người đang làm một công việc mạo hiểm, hát để cho vơi tâm sự mặc kệ mọi sự cấm đoán đe dọa của hệ thống quản giáo cai tù đầy dẫy ăng ten báo cáo. Tôi cũng chẳng hiểu làm sao mà những bản nhạc như thế lại được hát và phổ biến ở trong tù như vậy. Chúng tôi xung quanh ngồi nghe như uống từng nốt nhạc, như chắt từng câu ca. Sài Gòn xa rồi, bây giờ ở ngoài vòng rào kẽm gai mịt mùng. Sài Gòn, vẫn còn gần gũi những ngày mà thành phố thảng thốt lọt vào tay giặc thù, những anh hồn liệt sĩ còn phảng phất đâu đây từ những ngày bi thảm mà chúng tôi bị buông súng một cách tức tưởi…

Lời nhạc lôi kéo chúng tôi; ngôn ngữ hiền từ tha thiết không kêu gọi máu lửa nhưng sao lại lôi cuốn chúng tôi dường ấy: “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên- như dòng sông nước quẩn quanh buồn-như người đi cách mặt xa lòng- ta hỏi thầm em có nhớ không… Sài Gòn ơi, đến những ngày ôi thành phố xôn xao-trong niềm vui tiếng hỏi câu chào- sáng đời tươi thắm vạn sắc màu- còn gì đâu..”

Lúc ấy, chúng tôi chưa biết bản nhạc ấy là của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn. Tên nhạc sĩ tác giả là cả một huyền thoại đối với chúng tôi lúc đó. Có người bảo đó là của nhạc sĩ P. hát bản nhạc ấy ở hải ngoại rồi cảm xúc đến nỗi bị ngất xỉu ngay trên sân khấu. Có người bảo đó là một bản nhạc của một nhạc sĩ đang bị giam ở khám Chí Hòa truyền ra ngoaiø và phổ biến. Đến mãi về sau , khi đã qua Mỹ định cư tôi mới biết tác gỉa là người chủ trương Chương trình Nhạc Chủ Đề trên đài phát thanh Sài Gòn và là thi sĩ, văn sĩ nổi tiếng của hai mươi năm văn học miền Nam…

Chương trình Nhạc Chủ Đề do nhà văn Nguyễn Đình Toàn thực hiện trên đài phát thanh Sài Gòn vào buổi tối ngày thứ năm hàng tuần với mục đích giới thiệu với thính giả những bản nhạc được lựa chọn và được viết với lời giới thiệu và giọng đọc rất đặc biệt của người chủ trương. Theo như ý kiến của nhiều người, những lời giới thiệu nhạc hay nhất trong lịch sử âm nhạc có lẽ là bài viết và giọng đọc của nhà văn Mai Thảo và Nguyễn Đình Toàn. Những bài viết ấy đã mở ra những khung trời lãng mạn mà người nghe có cảm giác như đã quên đi hiện tại để bồng bềnh trong mênh mang của chữ nghĩa và âm nhạc…

Chương trình Nhạc chủ đề ấy có những lời mở đầu như những cánh ta mở khung cửa mơ mộng , để ở đó tình yêu trở nên mơ màng hơn , có chuốt lọc nhưng lạ có những cảm giác nhẹ nhàng như tơ làm mềm lòng những tuổi thanh xuân đang hăm hở vào đời với sự tinh khôi trong sáng của những bình minh hứa hẹn những giọt nắng thủy tinh ngời tin yêu nồng biếc.

Ai đã nghe qua những lời mở thế này mà không rung động ?Nhất là những chàng tuổi trẻ ngày xưa nay đã thành những ông già lão nhìn lại quá khứ ngày nào đã rất xa , thật xa mà sao lại còn rưng rưng nỗi niềm chia sẻ:

“Tình ca- những tiếng nói thiết tha và tuyệt vời nhất của một đời người- bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương , một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau.. Tất cả mùa màng , thời tiết, ho alá , cỏ cây, của cái vùng đất thần tiên đó , kết hợp lại, làm nên hạnh phúc,làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta…”

Hay như một lời ngỏ khác, thầm thì, kêu gọi những bước trở về, đi ngược lại vòng quay vô tình của thời gian:

“Em đâu ngờ anh còn nghe vang tiếng em trong tất cả những tiếng động ngù ngờ nhất của cái ngày sung sướng đó: tiếng gió may thổi trên những cành liễu nhỏ,tiếng những giọt sương rơi trên mặt hồ, tiếng guốc khua trên hè phố…Ngần ấy thứ tiếng động ngân nga trong trí tưởng anh một thuở thanh bình nào, bây giờ đã gần im hơi, nhưng một đôi khi vẫn còn đủ sức làm ran lên trong ký ức một mùa hè háo hức, một đêm mưa bỗng trở về, gió cuốn từng cơn nhớ…Anh bỗng nhận ra anh vẫn còn yêu em, dù chúng ta đã xa nhau như hia thành phố…”

Tôi thời còn là sinh viên đã rất mê chương trình này. Có thể nói , đó là một phần khá đẹp của cuộc sống tôi. Bây giờ , nghe lại CD của Nhạc Chủ Đề cũ, tôi lại bồi hồi và một phần đời đã qua như hồi sinh lại.

Sau này, ở xứ Mỹ này, tôi có hỏi ông về trường hợp sáng tác bản nhạc này như thế nào thì ông chỉ nói qua với sự rất hờ hững coi như đó chỉ là một trong những gần trăm bản nhạc ông đã sáng tác. Và ngay cả khi tôi hỏi về cách ông thực hiện hàng trăm chương trình nhạc làm say mê cả một thế hệ trẻ trong thời kỳ ấy hoặc hỏi về mấy trăm bài thơ và mấy chục tác phẩm vừa tiểu thuyết vừa tùy bút nổi danh một thời thì cũng với vẻ hờ hững ấy , ông cũng trả lời với vẻ thản nhiên của một người đã trải qua nhiều thay đổi và hiểu được rằng có những điều không cần biện giải của cái tự nhiên đã có.

Cũng như, khi tôi hỏi về những khó khăn của cuộc sống hiện nay, ông cũng trả lời chẳng có gì cưc nhọc dù rằng tôi hiểu được đó là một sự thản nhiên chấp nhận của một người đã trải qua nhiều mệt mỏi của cuộc đời.

Đó là những ca khúc mà ông gọi là viết trong những thời gian tăm tối nhất của lịch sử và của chính cuộc sống ông .Nhưng đó lại là những lời kêu gọi yêu thương mong con người trở về với tình tự dân tộc. Có những bài hát trong tuyển tập nhạc “Hiên cúc vàng”, “ Tôi muốn nói với em “ và Mưa trên cây hoàng lan” đã chứng tỏ điều ấy. Chất nhân bản đã làm thành những ca từ đẹp và có sức thuyết phục mạnh với thính giả và cũng chuyên chở một cách thâm trầm những thông điệp gửi cho người cho đời những ước vọng và tâm sự.

Những lòi nhạc như “Tôi đã bám lấy đất nước tôi.bằng sức người vô hạn. Bằng sức người đầu đội trăm tấn bom.Tim mang nghìn dấu đạn.Tôi đã đổ mồ hôi, đổ máu tươi.Để mong ở lại đây.Nhưng đất đã đỏ vì bị nung bằng những lời dối trá. Người bám vào lửa đã đốt cháy tay. Lửa hờn căm, lửa hiểm thâm, lửa khốn cùng cay đắng. Người lừa nhau trời đất còn bưng mặt thảm thương. Ba mươi năm cuộc tương tàn chưa đủ?người giết người không kịp mở mắt trông.Ba mươi năm mạng người như rác cỏ.giây hòa bình còn thắt cổ người tin…” trong bản nhạc ”Tôi cố bám lấy đất nước tôi” có phải là những lời chân thành dù trong cơn tuyệt vọng nhưng vẫn còn cố gắng bám víu vào cuộc sống một ý nghĩ nào tích cực nhất.?

Những lời ca viết cho thành phố Sài Gòn trong thời thế ấy bỗng dưng trở thành những lời kêu gọi của một dân tộc đã chịu quá nhiều đau khổ. Hết rồi những cơn mưa chiều cũ, mất rồi những buổi sáng rực rỡ xưa. Lời ca, ý nhạc lôi kéo chúng ta trở về con hẻm nào của những hẹn hò , của nụ hôn môi tuyệt vời , của hương tóc thề e ấp phả trong tà áo lụa xôn xao. Cái cảm giác ngày nào như sống lại, làm gai gai trong da thịt nỗi ngây ngất thuở nào. Nghe đâu đây như bước chân nào trở về đồng vọng….

Bản nhạc ấy là “ Sài Gòn ơi vĩnh biệt” của nhạc sĩ Nam Lộc. Lại cũng là tiếng gọi bi thiết nhưng tràn đầy thương yêu về thành phố mà có người nói rằng đó là chỗ để người ta yêu nhau. Nhạc Nam Lộc gợi cho tôi những nỗi niềm của một người mong nhớ với tâm trạng dằn vặt. Những lời ca thất thanh của một người mất quê hương:

“Sài Gòn ơi tôi đã mất người trong cuộc đời. Sài Gòn ơi thôi đã hết thời gian tuyệt vời. Giờ còn đây những kỷ niệm sống trong tôi. Những nụ cười ngắt trên môi. Những giọt lệ ôi sầu đắng.Sài Gòn ơi nắng có còn vương trên đường.đường ngày xưa mưa có ướt ngập lối đường về. Rồi mùa thu lá còn đổ xuống công viên. Bóng gầy còn bước nghiêng nghiêng. Hay đã khóc thương cho người yêu…” Hình như, tôi thấy tôi đã kêu thất thanh như thế trong cuộc đời tôi..

Không phải tôi nói văn hoa đâu mà tôi đã nhiều lần kêu “ thất thanh “như thế! Như một lần trong ngày 30 tháng tư năm 1975 khi tôi từ Cần Thơ trở về lại nhà ở Sài Gòn!

Trước ngày 30 tháng tư năm 1975, tôi chỉ đi học và đi lính, nhưng sau ngày ấy thì tôi đi tù vì không di tản được. Mặc dù tôi ở trong Không quân và ngày ấy đang làm việc ở phi trường Tân Sơn Nhứt.

Đơn vị của tôi là Đoàn phi đạo F5 thuộc Sư Đoàn 3 Không quân ở phi trường Biên Hòa sau ngày 20 tháng tư năm 1975 thì một phần lớn phi cơ di chuyển về phi trường Tân Sơn Nhứt. Ngày 30 tháng 3 đáng lẽ tôi phải biệt phái ra Đà nẵng để làm biệt đội trưởng kỹ thuật để bàn giao phi đạo cho Sư Đoàn I Không Quân nhưng Đà Nẵng đã thất thủ. Trước ngày đó chúng tôi đã chở từ Biên hòa ra Đà nẵng rất nhiều quân dụng và cơ phận thay thế của phi cơ trị giá cả chục triêu đô la và lúc đó kể như thiệt hại hết. Một số nhân viên biệt phái thoát về kể lại cảnh tượng ở Đà nẵng khiến người nghe phải rùng mình. Chiếc Boeing 727 thuê bao của Trung Hoa Quốc Gia cất cánh mà cửa chân đáp không đóng được vì một số hành khách đã ôm vào chân đáp nên phi cơ phải bay từ từ về Sài Gòn trong khi những người bám vào chân đáp bị rụng rớt vì không chịu nổi áp lực của không khí chỉ còn vài người buộc mình vào phi cơ mới không rớt dù khi máy bay đáp xuống đã bất tỉnh. Ở trên phi đạo Đà Nẵng là cả một rừng người và tình trạng lụn xộn khiến tất cả các phi cơ vận tải không thể đáp xuống để bốc người không vận về Sài Gòn. Chính ở Sư Đoàn 3 KQ cũng dự trù dùng phi cơ AD5 để bốc các chuyên viên kỹ thuật biệt phái về nhưng không thực hiện được…

Rồi sau đó các căn cứ Pleiku, Phù Cát, Nha Trang, di tản rồi căn cứ Phan Rang thất thủ.

Ỏ Tân Sơn Nhứt những ngày cuối tháng tư tình trạng khá hỗn loạn vì các sư đoàn KQ di tản về. Từ bãi đậu phi cơ vãng lai vào đến phi đạo bên trong phi cơ đậu thành hàng đông nghẹt. Trực thăng, A37, phi cơ quan sát xếp ken vào nhau thành ra vấn đề an toàn khá phức tạp. Ở khu huấn luyện sư đoàn đầy nghẹt những quân nhân về trình diện từ các đơn vị đã bị tan hàng.mọi người đều linh cảm rằng một cơn địa chấn dữ dằn sẽ tới

Gia đình tôi thì đã ra đi nên tôi làm việc và ở luôn trong phi trường. Hàng đêm, chúng tôi lái xe ra bãi đậu phi cơ xem những chuyến bay chở người di tản.Nếu quyết định ra đi lúc đó thì khá dễ dàng, chỉ cần thay quân phục và mặc đồ dân sự là có thể leo lên phi cơ một cách dễ dàng. Nhưng tôi vẫn nghĩ không thể nào thua trận mau chóng như vậy được và nghĩ rằng đi lúc đó là quá sớm. Đến đêm 27 tháng tư, căn cứ Biên Hòa di tản về Tân Sơn Nhứt. Và lúc đó quả thực tôi bị chấn động và hiểu rằng ngày cuối đã tới. Suốt đêm phi cơ bay đầy trời và chúng tôi đã phụ giúp để trang bị rocket và đạn cho phi cơ trực thăng gunship bay yểm trợ trên các mặt trận ven thành phố.

Chiều ngày 28 , lúc Tổng Thống trần Văn Hương bàn giao cho tướng Dương Văn Minh ở Dinh Độc Lập thì năm phi cơ A37 oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhứt do tên phản tặc Nguyễn Thành Trung dẫn về khi các phi tuần nghênh cản phòng không F5E chấm dứt túc trực. Lúc ấy, tôi đang tập họp biệt đội trong hangar thì xảy ra biến cố ấy. Và sau đó đến bốn giờ sáng thì các đợt pháo kích ác liệt của Cộng quân vào phi trường. Trong phi trường khói lửa tùm lum, một hỏa tiễn 122 ly rớt trúng phân đội nữ quân nhân. Lúc sáng sớm, tôi lái xe qua khu vực ấy còn thấy những mảnh quần áo và cả da thịt vương vãi trên những tàng cây. Buổi sáng , tôi leo lên F5 rồi không đi. Kết quả là chiếc phi cơ ấy bị rớt ở phi trường Utapao ở Thái lan hy sinh tất cả những người trên phi cơ. Rồi tôi lên trực thăng xuống Cần Thơ và bị kẹt lại đến chiều 30 thì xuống Rạch Giá kiếm đường vượt biển nhưng cũng không xong và ngày 1 tháng 5 thì phải trở lại Sài Gòn…

Trên đường từ Cần Thơ trở về tôi đã nhìn thấy ở dọc đường quốc lộ số 4 những cảnh tượng mà tôi không thể nào quên. Hai bên đường những chiếc xe tăng và những chiếc trực thăng nằm chỏng chơ và quần áo trận, nón sắt, dây ba chạc, giày lính ,.. vứt lộn xộn tạo ra một khung cảnh điêu tàn của một trận chiến về chiều. Đi từng đoạn rồi cũng về tới Sài Gòn về nhà để thấy căn nhà mình ở bị niêm phong. Tôi vô nhà đại và mang vài vật dụng đi ra và đau lòng biết bao nhiêu khi nhìn thấy vật dụng hàng ngày của mẹ tôi và các anh em tôi trong một căn nhà mà tôi bị đuổi ra vì cả gia đình đã di tản. Tôi muốn khóc khi nhìn thấy ô trầu của mẹ, khi nhìn thấy đôi dép mẹ đi, cái áo ấm mẹ mặc. Vật thì còn nhưng người đã đi xa, biết đến bao giờ mới gặp lại…Và không biết ở phương xa, có còn trầu cau để cho mẹ ăn không? Buồn thật phải không?. Quốc phá thì gia vong. Người xưa đã nói thì chẳng sai chạy được…

Nguyễn Mạnh Trinh

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Thế hệ 36 tuổi

Ngô Nhân Dụng
Những em bé sinh ngày 30 tháng Tư năm 1975, hôm nay đã 36 tuổi. Ngày cậu con trai út đủ 36 tuổi, tôi nói với cháu: “Trong đầu bố mẹ vẫn nghĩ như con còn nhỏ lắm.

Nhưng nhớ lại, hồi nhà mình chạy qua Canada, thì bố cũng chỉ bằng tuổi con bây giờ thôi!”

Những bạn trẻ 36 tuổi, ở nước ngoài hay ở trong nước, gọi là họ đã trưởng thành không đủ. Ðúng ra, họ là những người lớn, mà thế hệ cha anh thường không biết. Họ lớn hơn chính các bậc cha chú hồi cũng 36 tuổi! Một “thanh niên” gốc Việt Nam sống ở Ðức, Philipp Roesler sinh trưởng ở Khánh Hòa, đã từng được cử làm bộ trưởng Kinh tế, rồi làm phó thủ tướng của Bang Saxony Thấp (Niedersachsen); rồi sau đó, lên làm Bộ trưởng Y tế trong chính phủ Cộng Hòa Liên Bang Ðức. Tất cả xảy ra trong cùng một năm, khi Dr. Philipp Roesler đúng 36 tuổi. Năm nay 38, anh lại được bầu làm lãnh tụ đảng Tự Do Dân Chủ, một đảng chính trị lớn ở Ðức, để lên làm phó thủ tướng chính phủ liên bang! Các bạn trẻ Việt Nam 36 tuổi nếu được tự do phát triển, nhiều người không thua kém gì Dr. Philipp Roesler!

Ba phần tư dân số Việt Nam, kể cả người Việt sống ở khắp thế giới bây giờ, ở tuổi từ 36 trở xuống. Họ là tương lai của nước Việt Nam. Thế hệ cha anh phải thành tâm cầu nguyện họ được mọi điều may mắn để thành công. Họ may mắn là nước Việt Nam may mắn! Họ thành công thì hy vọng nước Việt Nam thành công.

Thế hệ 36 tuổi bây giờ may mắn hơn chúng tôi vì khi sinh ra chiến tranh đã chấm dứt. Những bạn ở trong nước thiếu may mắn hơn chúng tôi hồi 20, 30 tuổi. Tuổi đó là lúc chúng tôi lăn mình vào các công tác giúp ích đồng bào. Lập hội đoàn, đi cắm trại, tổ chức học sinh, sinh viên đi làm công tác xã hội. Thời Hoàng Ðạo viết Mười Ðiều Tâm Niệm, năm 1940 ông đã hô hào giới trẻ đi “làm việc xã hội,” như chính ông đã làm. Phải giúp ích xã hội, đó là điều tâm niệm của nhiều thế hệ thanh niên sau đó. Không phải là những việc mà người lớn đã “động viên” mình làm! Phải giúp ích với tinh thần tự nguyện, tự do! Thời nay ít có cơ hội như vậy.

Nhưng hiện giờ ở trong nước vẫn có rất nhiều đoàn thể thanh niên theo đuổi các công tác xã hội. Trong khuôn khổ các chùa, nhà thờ, vẫn có các đoàn Phật tử, các Hướng đạo Công Giáo sinh hoạt. Ðó là những môi trường để rèn luyện chí khí, tập sống chung theo lối dân chủ. Khi các thanh niên họp nhau làm việc, chắc chắn họ muốn quyết định mọi việc chung theo các quy tắc dân chủ; đoàn thể nào không dân chủ thì các bạn trẻ sẽ không muốn gia nhập. Chắc chắn, trong sinh hoạt đoàn thể các bạn trẻ sẽ tập được tinh thần giúp ích, thói quen tôn trọng công ích. Ðời sống tập thể, tự nguyện và tự do, là nơi nuôi dưỡng tinh thần, chuẩn bị xây dựng một xã hội công dân, nền tảng của mọi thể chế dân chủ tự do. Tôi được tin nhiều bạn Hướng đạo ở miền Nam đang tìm cách cho phong trào Hướng đạo được chính thức hoạt động lại, sau khi bị giải tán năm 1975. Họ còn muốn phục hồi lại sinh hoạt Hướng đạo ở miền Bắc. Ðó là những tin mừng. Ước vọng của tuổi trẻ, thế nào rồi cũng thành công!

Thế hệ 36 tuổi nhìn quá khứ khác cách nhìn của thế hệ cha, anh. Cách nhìn thế giới của lớp trẻ bây giờ khác hẳn thời chúng tôi. Họ vượt lên trên biên giới quốc gia, họ thấy một thế giới mở rộng. Chuyện gì xẩy ra ở Tunisia, ở Syria, những người ở lứa tuổi 30 đều biết. Ðặc biệt là những người sống ở nước ngoài, quê hương của họ là cả thế giới. Một người bạn tôi có ba đứa con. Hôm rồi tôi nghe một người khác nói, cháu lớn nhất đang ở Canada, gần đây cháu thứ nhì sang Pháp, còn cô con út đang ở đâu đó bên Tàu! Chính anh bạn này, trước dậy Vật lý ở một đại học Canada nay đã về hưu, tình cờ đang ở Phi Châu vài năm. Anh bạn tôi có lần báo tin mừng: Ðã tìm được một tiệm phở trong thành phố Yaoundé, thủ đô Cameroun! Hai vợ chồng anh đã dậy cách nấu ăn Việt Nam, cho nhiều người bạn ngoại quốc. Cuối Tháng Năm 2011 anh sẽ dậy một lớp về Tứ Diệu Ðế, Bát Chánh đạo và Phật Giáo Việt Nam. Người Việt Nam sống khắp thế giới, địa bàn sống của giới trẻ Việt Nam bây giờ cũng là cả thế giới, không như thế hệ chúng tôi hồi xưa không bao giờ tính chuyện sống ở ngoài nước mình!

Ngay trong giới trẻ ở nước ngoài, nhiều người vẫn thấy mình dính dáng mật thiết với nước Việt Nam, một cách tự nhiên. Hồi 1975, 76, trong một buổi họp với các trưởng Hướng đạo ở Montrea1, tôi bất đồng ý kiến với một bạn trẻ về việc giáo dục trẻ. Tôi đề nghị khi huấn luyện các em lớn lên ở nước này, họ là công dân Canada, có bổn phận với nước Canada, không nên đặt kỳ vọng sẽ dậy các em những bổn phận đối với nước Việt Nam quá xa xôi. Anh bạn tôi, trẻ hơn mươi tuổi, đã kịch liệt phản đối. Anh nghĩ rằng mình phải hun đúc tinh thần yêu nước Việt Nam cho những em sinh ra và lớn lên ở nước ngoài. Vấn đề này chắc bây giờ cũng còn nhiều người tranh luận.

Nhưng anh bạn trẻ của tôi đã làm đúng điều anh tin tưởng. Bây giờ, cô con gái anh ở tuổi 30, sinh ra và lớn lên ở Montreal, đang hoạt động tích cực trong một phong trào trẻ vận động dân chủ tự do cho Việt Nam! Chính cháu đã chọn lý tưởng đó, chọn con đường phục vụ cho quê hương của cha mẹ mình! Cuống rún của cha mẹ vẫn nối liền đến đời con cái!

Con gái tôi, sinh ở Sài Gòn, lớn lên ở Canada, đã về Việt Nam hồi 30 tuổi, đi thăm quê nội, quê ngoại lần đầu. Cháu kể khi đứng lễ trước ngôi mộ ông nội giữa cánh đồng làng thì cảm thấy rõ ràng mình có liên hệ thân thiết với mảnh đất quê hương và những thế hệ tổ tiên đời trước. Cháu đã tới một làng quê ở Quảng Trị thăm một ngôi trường mẫu giáo nơi mà mẹ con cháu có đóng góp để giúp cô giáo và học sinh. Cháu dậy các em bé những trò chơi và các bài hát Hướng đạo, những bài mà cháu học từ nhỏ. Lòng cháu tràn ngập một niềm vui lớn. Trở về, cháu nói cảm thấy rõ mình là người Việt. Khi dậy nhạc ở Ðại Học Mahidol bên Thái Lan, vợ chồng cháu mời các giáo sư và nhạc sinh Việt Nam sang tham dự những cuộc tập họp và thi tài giữa các nhạc sinh Ðông Nam Á; cháu rất vui mừng khi gặp các nhạc sinh Việt Nam xuất sắc so với nhạc sinh các nước khác. Cháu vẫn hãnh diện về tài năng của người cùng giống Việt như mình.

Những bạn trẻ 36 tuổi ở trong nước không có dịp đi qua những kinh nghiệm đó. Ðối với họ, trách nhiệm đối với dân tộc, với lịch sử, cha ông, là một điều tự nhiên. Họ dính liền với quê hương, nhưng đồng thời cũng coi thế giới có thể là nhà của mình. Hầu như ai cũng khao khát được ra nước ngoài học hỏi. Và những bậc phụ huynh ở thành phố cũng chỉ muốn con mình được đi du học. Thời chúng tôi còn trẻ cũng vậy. Các bạn sẽ học được gì khi ra ngoại quốc? Ðiều quan trọng nhất là tập nếp sống tự do. Cuộc sống tự do có nhiều cách thể hiện lạ lắm!

Con gái một người bạn tôi sinh ra ở Mỹ năm nay chưa 36 tuổi, cháu đã về thăm Việt Nam khi mới ngoài 20. Cháu đi một mình, nhưng về đến nơi thì được họ hàng trong Nam, ngoài Bắc đón tiếp, thương yêu. Trước khi đi Việt Nam cháu không bao giờ nói tiếng Việt, trừ khi bị bắt buộc; nhưng sau một tháng cháu đã nói tiếng Việt thông thạo. Và khi trở về Mỹ cháu nhất định chỉ nói tiếng Việt khi gặp hàng chú bác, bạn bè của cha mẹ. Cháu được “Việt Nam hóa” không phải vì nhờ một tháng “du học” trong nước, mà vì suốt hai mươi năm cha mẹ, cô chú đã làm gương cho cháu những cách ăn ở theo tình nghĩa, đạo lý của người Việt.

Khi về nước, cháu cũng hiến tặng cho bà con họ hàng những món quà mà cháu không ngờ tới. Ðó là phong cách sống rất hồn nhiên, vô tư, thành thật, thẳng thắn của một đứa trẻ lớn lên và sống ở một nước dân chủ. Ở Hà Nội mọi người trong họ đều công nhận cháu là một “con ngố”. Nó ngây thơ, tin tưởng ai cũng như mình. Nhưng họ hàng thấy là “con ngố” này đã được giáo dục y như các cụ dậy ngày xưa. Cứ sống lương thiện, chính trực, tin người và nghĩ ai cũng tin mình, kính cẩn và giản dị khi đối xử với người chung quanh. Quen sống ở nước ngoài, cháu dám bầy tỏ ý kiến riêng của mình, khi muốn nói không là nói không, không hề ngần ngại. Cháu lắng nghe học hỏi và bắt chước ngay những lời nói, cử chỉ do các chú bác, anh em chỉ cho. Cháu tôn kính với mọi người nhưng không có thói quen sợ hãi. Cháu đối xử bình đẳng với bất cứ ai trong xã hội, không phân biệt quan với dân, sang hay hèn. Con bé ngố đó tiêu biểu cho một tâm hồn tự do và trong sáng, giản dị. Một tháng cháu sống trong vòng tay âu yếm của họ hàng bà con, cháu cũng hiến tặng cho mọi người hình ảnh một thanh niên được sống không khí lành mạnh và tự do từ thủa nhỏ. Nhìn cách sống của cháu người chung quanh có thể cảm thấy một nền giáo dục tự do trong một xã hội tự do có thể đào tạo nên những con người lương hảo.

Thế hệ các thanh niên Việt Nam trên dưới 20 tuổi, dù ở trong nước hay ở nước ngoài, đều có thể tập lối sống hiền lương chính trực. Cha mẹ các em trong thâm tâm cũng đều muốn như thế. Chính các bạn thanh niên phải chọn lối sống chính đại, quang minh, tin người và giúp đời; các bạn sẽ xây dựng một nước Việt Nam theo lối sống lương hảo. Chắc chắn đó phải là một nước tự do.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

'Trùm khủng bố Osama bin Laden đã chết'

Osama bin Laden, thủ lĩnh mạng lưới khủng bố quốc tế al Qaeda, đã bị giết tối 30/4 trong một chiến dịch của quân đội Mỹ tại Pakistan,
Tổng thống Mỹ Barack Obama thông báo.

Image
Osama bin Laden trong một bức ảnh được chụp vào năm 1998. Ảnh: AP.
Trong bài phát biểu tới toàn thể người dân Mỹ tại Nhà Trắng vào lúc gần nửa đêm ngày 1/5 theo giờ Mỹ (vào buổi trưa ngày 2/5 theo giờ Hà Nội), ông Obama nói bin Laden bị giết trong một cuộc tấn công của quân đội Mỹ tại thị trấn Abbottabad vào tối 30/4. Thị trấn này nằm ở phía bắc thủ đô Islamabad của Pakistan.

"Mỹ vừa tiến hành một chiến dịch dẫn đến cái chết của Osama bin laden, kẻ đứng đầu tổ chức khủng bố Al Qaeda và giết chết hàng nghìn đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Công lý đã được thực thi", ông Obama nói.

Cuộc tấn công được tiến hành sau khi một nguồn tin tình báo cho biết bin Laden đang ẩn náu ở Abbottabad.

“Sau một cuộc đấu súng các binh sĩ đã hạ sát bin Laden. Không có bất kỳ binh sĩ Mỹ nào bị thương. Chính phủ Pakistan đã giúp chúng tôi tìm ra vị trí của trùm khủng bố”, Guardian dẫn lời ông Obama.

Một số kênh truyền hình Mỹ tiết lộ chính phủ nước này đang giữ xác của bin Laden. Đây sẽ là bằng chứng để thuyết phục người dân Mỹ rằng trùm khủng bố thực sự đã chết.
Image
Osama bin Laden bị giết trong cuộc tấn công của quân đội Mỹ tại thị trấn Abbottabad vào tối 30/4.
Trong chiến dịch tranh cử tổng thống vào năm 2008, ông Obama từng cam kết rằng nếu đắc cử, ông sẽ ra lệnh cho quân đội giết chết bin Laden. Giờ đây cam kết của ông đã trở thành hiện thực.

Nhiều người dân Mỹ tập trung bên ngoài Nhà Trắng ở thủ đô Washington để bày tỏ sự vui mừng về cái chết của bin Laden.
Image
Niềm vui của người dân Mỹ trước cái chết của bin Laden.


Osama bin Laden là một người theo đạo Hồi chính thống và thành lập tổ chức khủng bố quốc tế al Qaeda. Giới chức Mỹ cáo buộc ông ta đứng đằng sau vụ khủng bố vào tòa tháp đôi Trung tâm thương mại thế giới tại New York và trụ sở Bộ Quốc phòng Mỹ vào ngày 11/9/2001 khiến ít nhất 2.992 người thiệt mạng. Từ đó tới nay, bin Laden đứng đầu danh sách 10 nhân vật bị Cục Điều tra liên bang Mỹ truy lùng trên toàn thế giới.

Gulbuddin Hekmatyar, một chỉ huy nhóm phiến quân Hezb-e-Islami tại Afghanistan, từng nói với kênh truyền hình Geo TV của Pakistan rằng các chiến binh dưới quyền ông ta từng giúp đỡ Osama bin Laden tẩu thoát khỏi một cuộc tấn công của quân đội Mỹ vào khu hang động Tora Bora ở phía đông Afghanistan vào năm 2002.

Vào tháng 10 năm ngoái, CNN dẫn lời một quan chức cấp cao của NATO khẳng định bin Laden đang sống thoải mái trong một ngôi nhà ở tây bắc Pakistan, gần với phó tướng của ông ta là Ayman al-Zawahiri. Họ được bảo vệ bởi những người dân địa phương và "một số thành viên của cơ quan tình báo Pakistan". Trước đó trùm khủng bố khét tiếng di chuyển liên tục từ vùng núi Chitral gần với biên giới phía tây bắc với Trung Quốc, tới thung lũng Kurram liền kề với dãy núi Trắng - một trong những căn cứ của Taliban tại Afghanistan.

Trong cuốn sách mới ra mắt "The Death of American Virtue: Clinton vs Starr", tác giả Ken Gormley - một giáo sư luật tại Mỹ, cho biết, cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton từng suýt bị bin Laden ám sát khi ông tới tham dự diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương tại Philippines vào năm 1996. Trong chuyến công du này, tổng thống Mỹ dự định thăm một chính trị gia địa phương. Trên đường ông sẽ băng qua một cây cầu ở trung tâm thành phố Manila. Nhưng khi đoàn xe của tổng thống định xuất phát thì các nhân viên mật vụ nhận được tin tình báo đã phát hiện được có một vụ tấn công sắp xảy ra. Thông điệp chứa các từ "cầu" và "đám cưới" - mật mã của khủng bố ám chỉ ám sát. Đoàn xe ngay lập tức vòng đường khác và các nhân viên Mỹ sau đó phát hiện ra một quả bom được gắn bên dưới cầu.

Việt Linh

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Mỹ đã thả Osama bin Laden xuống biển Trước khi mất mạng vì một viên đạn găm vào mặt, trùm khủng bố Osama bin Laden chống trả lính biệt kích Mỹ bằng súng tự động. Sau khi hoàn tất các thủ tục, thi thể trùm khủng bố đã được thả xuống biển.

Vào lúc 20h30 ngày 30/4 theo giờ Mỹ (1h30 ngày 1/5 theo giờ Pakistan), bốn trực thăng Black Hawk chở một đội lính biệt kích cất cánh từ căn cứ không quân Ghazi ở phía tây bắc Pakistan và bay về phía một ngôi nhà ba tầng ở thị trấn Abbottabad tại Pakistan để tiêu diệt bin Laden. Từ Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ theo dõi toàn bộ diễn biến của cuộc tấn công trong thời gian thực.

Khi các máy bay tới gần tòa nhà, các cận vệ của bin Laden phát hiện và nổ súng. Một trực thăng đột nhiên gặp sự cố kỹ thuật, song phi công cố gắng đáp xuống an toàn. Một số báo đưa tin trực thăng chao đảo vì trúng đạn, song về sau giới chức Mỹ bác bỏ tin này.

Biết rằng trực thăng sẽ không thể cất cánh trở lại, những người lính quyết định phá hủy nó ngay lập tức.

“Tôi nghe thấy một tiếng nổ lớn, rồi hàng loạt tiếng súng vang lên. Thế rồi đột nhiên tiếng súng câm bặt và tôi nghe thấy một tiếng nổ lớn hơn”, một người dân địa phương có tên Mohammad Haroon Rasheed kể.

Một cuộc đọ súng ác liệt diễn ra khi toán lính biệt kích tìm cách xâm nhập vào bên trong tòa nhà. Sau vài phút từ khi vượt qua bức tường bao quanh có độ cao tới hơn 5 m, những người lính thấy Osama bin Laden. Ông ta cầm một khẩu súng tự động và bắn về phía họ. Một lính biệt kích bắn vào mặt trùm khủng bố. Viên đạn bay trúng đích và bin Laden lìa đời ngay lập tức. Người lính tiếp tục bắn thêm hai viên đạn vào đầu và ngực của trùm khủng bố để đảm bảo rằng ông ta chết hẳn.

Khoảng 20 phút sau khi toán lính biệt kích tiến vào bên trong ngôi nhà, người chỉ huy thông báo về Washington rằng bin Laden đã bị tiêu diệt. Những tiếng reo hò vang lên tại Nhà Trắng và đại bản doanh của Cục Tình báo trung ương Mỹ. Tổng thống Obama quay sang các cố vấn và nói: "Chúng ta đã diệt được ông ta".
Image
Osama bin Laden tại Afghanistan vào năm 1998. Ảnh: AFP.
Ông John Brennan, một quan chức phụ trách hoạt động chống khủng bố của chính phủ Mỹ, nói rằng trong nỗ lực tuyệt vọng nhằm giành giật sự sống, bin Laden đã dùng cô vợ trẻ nhất làm bia đỡ đạn. Tuy nhiên, một quan chức khác trong Nhà Trắng khẳng định vợ của bin Laden chỉ bị thương, chứ không chết.

Đoạn video ghi lại cảnh tượng ngôi nhà sau cuộc tấn công mà đài truyền hình Pakistan công bố cho thấy máu thấm một tấm thảm trong một phòng ngủ. Trong một phòng khác người ta thấy nhiều máy tính vỡ.

Một số báo Mỹ đưa tin toán lính biệt kích Mỹ nhận được chỉ thị là “chỉ giết, chứ không bắt bin Laden”. Một quan chức Mỹ nói: “Ông ta đã chống cự đúng như dự đoán của chúng tôi”.

Chỉ khoảng 40 phút sau khi bắt đầu thực hiện cuộc tấn công, toán lính biệt kích leo lên ba trực thăng còn lại và rời khỏi ngôi nhà. Họ mang theo mọi tài liệu tình báo mà họ tìm thấy cùng với thi thể bin Laden.

Vài giờ sau khi phi đội trực thăng về tới căn cứ Ghazi, xác bin Laden được đưa tới tàu sân bay Carl Vinson của Mỹ tại biển Ảrập. Tại đây các chuyên gia so sánh mẫu ADN của tử thi với mẫu ADN lấy từ người em gái của bin Laden. Người phụ nữ này tử vong vì bệnh ung thư tại thành phố Boston, Mỹ từ nhiều năm trước và giới chức Mỹ giữ thi thể của bà.

Những bức ảnh chụp cái xác, với một lỗ thủng do đạn tạo ra ở phía trên mắt trái, được truyền thẳng về thủ đô Washington. Sau khi thực hiện các nghi thức khâm liệm người chết theo đúng truyền thống của đạo Hồi, thi thể bin Laden được ném xuống biển.

Lúc 23h30 phút đêm 1/5, Tổng thống Mỹ Barack Obama thông báo tới toàn thể người dân Mỹ và thế giới rằng trùm khủng bố khét tiếng nhất hành tinh Osama bin Laden đã bị tiêu diệt trong một cuộc tấn công của lính Mỹ. Ông bình luận rằng "công lý đã được thực thi".

Minh Long

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Pakistan thanh minh vụ bin Laden Tổng thống Pakistan hôm nay khẳng định lực lượng an ninh của ông không hề che chở Osama bin Laden trong thời gian trùm khủng bố sống tại thị trấn Abbottabad.

Sau khi Tổng thống Mỹ tuyên bố lính đặc nhiệm của ông tiêu diệt bin Laden trong một ngôi nhà kiên cố gần học viện quân sự tại thị trấn Abbottabad của Pakistan vào tối 30/4, Thủ tướng Anh David Cameron cho rằng chính phủ Pakistan phải giải thích tại sao trùm khủng bố lại có thể sống ung dung trong một ngôi nhà lớn tại một thị trấn có rất nhiều quân nhân, AP cho biết. Báo giới Mỹ cũng đặt câu hỏi về vai trò của lực lượng an ninh Pakistan đối với quá trình lẩn trốn của bin Laden.

Thượng nghị sĩ Carl Levin, chủ tịch Uỷ ban Quân sự của thượng viện Mỹ, nhận định quân đội và giới tình báo Pakistan "sẽ phải giải thích nhiều điều". Chẳng hạn, tại sao bin Laden và nhiều người sống trong ngôi nhà lớn tại thị trấn Abbottabad tới 6 năm, không bao giờ mang rác ra ngoài đổ mà không ai chú ý ?

"Thật khó mà tin rằng quân đội hay cảnh sát Pakistan không biết những việc đã diễn ra trong ngôi nhà", Levin nói.
Image
Tổng thống Pakistan Asif Ali Zardari. Ảnh: Telegraph
Hôm nay Tổng thống Pakistan, ông Asif Ali Zardari, đã gửi thư tới báo The Washington Post để bày tỏ quan điểm của Pakistan về cái chết của bin Laden. Đây là phản ứng chính thức đầu tiên của ông Zardari từ khi tin về cái chết của bin Laden được công bố tại Nhà Trắng. Trong thư Tổng thống Pakistan khẳng định ông không hề biết nơi ở của bin Laden, đồng thời thừa nhận lực lượng an ninh Pakistan không tham gia hay hỗ trợ cuộc đột kích khiến bin Laden thiệt mạng.

"Chúng tôi thực sự không biết Osama bin Laden ở đâu. Ông ta không ẩn náu ở những nơi mà chúng tôi cho rằng ông ta sẽ tới", ông viết.

Nhà lãnh đạo Pakistan khẳng định sự hợp tác giữa Islamabad với Washington trong 10 năm qua đã dẫn tới việc tình báo Mỹ phát hiện nơi trốn của bin Laden.

"Một số báo Mỹ nói rằng Pakistan thiếu động cơ và khả năng trong nỗ lực chống khủng bố. Thậm chí họ còn cho rằng chúng tôi không thành thật và bảo vệ nhiều kẻ khủng bố mà chúng tôi tuyên bố truy lùng. Những lời đồn đoán vô căn cứ đó có thể là những tin hấp dẫn trên báo, song không phản ánh đúng thực tế", AP dẫn lời ông Zardari.

Trước khi bin Laden bị diệt, mối quan hệ giữa Mỹ và Pakistan đã căng thẳng sau khi nhiều quan chức tại Washington cáo buộc lực lượng an ninh Pakistan ủng hộ phiến quân tại Afghanistan. Giới chức Pakistan cũng thể hiện sự giận dữ khi các máy bay không người lái của Mỹ thực hiện hoạt động do thám và giết nhầm dân thường, binh lính của họ.

Các quan chức Mỹ cho biết, chính phủ Pakistan không biết kế hoạch tấn công ngôi nhà mà bin Laden ẩn náu, mặc dù các trực thăng chở lính đặc nhiệm Mỹ xuất phát từ một căn cứ của Pakistan. Islamabad chỉ biết sự việc sau khi phi đội trực thăng chở lính đặc nhiệm Mỹ trở về cùng với xác bin Laden. Nhiều người dân Pakistan tỏ ra sửng sốt khi biết sự thật này. Một số cho rằng chủ quyền quốc gia của họ đã bị xâm phạm.

Tổng thống Mỹ nói liên minh chống khủng bố đã giúp Washington thực hiện cuộc đột kích để tiêu diệt bin Laden, song ông không cám ơn Pakistan khi thông báo cái chết của trùm khủng bố.

Minh Long

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Bin Laden chết còn tên này: Trùm khủng bố "tàn độc hơn cả Bin Laden"

Cái chết của Osama bin Laden đưa phó lãnh tụ al-Qaida ra trước ánh đèn sân khấu với nhiều trông đợi sẽ thay thế cho người mới chết.

Ayman al-Zawahiri, một công dân Ai Cập, có thể sắp trở thành người bị thế giới truy lùng gắt gao nhất.

Đã từ lâu, những người trong cuộc vẫn nghĩ Zawahiri là nhân vật chính, soạn ra chiến lược và tổ chức điều hành, giúp duy trì được hầu như toàn bộ mạng lưới khủng bố sau khi họ bị đẩy ra khỏi các căn cứ ở Afghanistan năm 2001.

Trong khi đó, Osama bin Laden được xem là người có sức thu hút đối với những người muốn gia nhập hoặc ủng hộ tài chính cho al-Qaida.

Năm nay 59 tuổi, Zawahiri là một chuyên gia phẫu thuật, chào đời tại Cairo trong một gia đình có nhiều bác sĩ và nhà khoa bảng. Ngay từ khi còn là một thiếu niên ông đã can dự vào sinh hoạt của phe Hồi giáo cực đoan. Trong thời gian học bác sĩ ông đã tiếp tay lập ra cánh Ai Cập của nhóm thánh chiến Hồi giáo.

Zawahiri du hành sang Pakistan lần đầu vào năm 1980, làm cho hội Trăng Lưỡi Liềm Đỏ tại thành phố Peshawar để chữa trị cho những người bị thương được đưa từ Afghanistan sang, trong thời gian Liên-xô chiếm đóng Afghanistan. Cùng năm đó, ông sang Afghanistan mấy lần.

Nhà chức trách Ai Cập sau đó bỏ tù ông 3 năm trong chiến dịch truy quét các nhóm cực đoan có liên hệ đến vụ ám sát Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat.

Sau khi ra tù năm 1984, Zawahiri trở lại Peshawar để giúp phong trào kháng chiến Afghanistan chống lại người Xô-viết, dịp này ông kết thân với Osama bin Laden trong tư cách là bác sĩ riêng.

Năm 1998, Zawahiri lập một liên minh với Osama bin Laden và trở thành phó lãnh tụ của tổ chức và theo tin của Hoa Kỳ, Zawahiri là người chủ mưu đánh bom hai đại sứ quán Mỹ Kenya và Tanzania năm đó.

Zawahiri cũng được xem là người đóng vai trò lớn trong vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2001 tại Hoa Kỳ. Từ Afghanistan, phe al-Qaida nhận mình là thủ phạm.

Vì lý do đó, vài tuần lễ sau Hoa Kỳ đã tấn công Afghanistan đang do phe Taliban lãnh đạo, sau khi phe này không chịu giao nạp các thủ lĩnh của al-Qaida.

Cùng với sự sụp đổ của chế độ Taliban, Zawahiri đã bỏ trốn đi nơi khác chung với Osama bin Laden.

Tháng 12 năm 2001, một cuộc không kích của Hoa Kỳ tại tỉnh Kandahar của Afghanistan giết chết bà vợ của Zawahiri và ít nhất hai người con của ông.

Zawahiri tiến hành xây dựng lại al-Qaida trong khu vực biên giới Afghanistan và Pakistan, một khu vực được xem là vô luật pháp.

Từ khu vực này, Zawahiri trở thành một khuôn mặt mới của al-Qaida, tung ra các video và băng ghi âm những lời lẽ và hình ảnh chế nhạo Hoa Kỳ, trong lúc hình ảnh Osama bin Laden bắt đầu mờ nhạt.

Trong vài video, khán giả nhìn thấy Zawahiri đóng vai chính, vừa nói vừa chỉ chỏ ngón tay trước khuôn mặt có bộ râu rậm và cặp kính có gọng dầy cộm.

Tháng giêng 2006, Zawahiri thoát chết trong một vụ không kích của Hoa Kỳ tại một khu vực bộ tộc của Pakistan mà chủ đích nhắm vào ông.
Hoa Kỳ treo giải thưởng 25 triệu đôla cho những ai cung cấp thông tin giúp bắt được hoặc kết tội Zawahiri. ( VOA)

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Mặt trái đàng sau

Lữ Giang
Tin về cái chết của Bin Laden vẫn đang được bàn tán khắp nơi ở Mỹ cũng như trên thế giới. Tuy nhiên, giữa các sự kiện có thật, chúng ta thấy có nhiều thông tin được công bố hình như chỉ nhắm mục tiêu chiến tranh tâm lý hay đánh lạc hướng dư luận, nên có nhiều nghi vấn và rất khó giải thích. Chuyện Bin Laden bị giết là một thí dụ điển hình. Lúc đầu, nguồn tin nói “một phụ nữ bị đưa ra làm lá chắn sống” đã bị bắn chết. Sau đó, cơ quan an ninh Pakistan cho biết họ đang giữ người đàn bà đó, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Jay Carney lại nói “bà này nhảy xổ vào lính Mỹ và bị bắn ở chân nhưng không bị giết.”!

Tin lại nói rằng việc khám phá ra nơi ở của Bin Laden là nhờ lấy khẩu cung từ những nghi can khủng bố bị bắt từ trước, trong đó có Khalid Sheikh Mohammed và Abu Faraj al-Libi. Hai người này đã khai ra người giao liên rất được Bin Laden tin cẩn nên CIA đã theo dõi người này và tìm ra manh mối, v.v. Nhiều người coi tin này chỉ là một huyền thoại hay một loại “thông tin ảo”. Bin Laden đã từng được CIA huấn luyện về tình báo và tổ chức tình báo, chắc chắn phải hiểu rằng khi có một người thân cận trong tổ chức bị bắt là phải thay đổi toàn bộ cơ cấu hoạt động đề đề phòng người bị bắt bị khai thác, tiết lộ các sinh hoạt nội bộ, v.v. Một người bị truy nã như Bin Laden cũng không bao giờ cư trú lâu tại một chỗ. Nếu Bin Laden cư ngụ ở ngôi nhà bị bắt lâu rồi, điều này chứng tỏ ông đã ngưng hoạt động.

Dĩ nhiên, chính phủ Hoa Kỳ đã tính toán phải trình bày như thế nào để tin Bin Laden bị giết có thể gây ảnh hưởng tốt trong dư luận, nhất là ở Mỹ, vì nó có ảnh hưởng đến cuộc bầu cử sắp tới. Do đó, không thể chỉ nhìn vào những gì do hệ thống thông tin tinh xảo của cơ quan tình báo Mỹ đưa ra để tìm hiểu sự thật được. Phải đọc những bài phân tích khách quan do các nhà nghiên cứu trình bày mới có thể thấy được mặt trái đàng sau.

CON ĐƯỜNG CHỐNG MỸ

Các nhà nghiên cứu đã viết khá kỹ và khá nhiều về tiểu sử của Osama Bin Laden. Tuy nhiên, các cơ quan truyền thông Mỹ đã bỏ đi hết những điểm không có lợi khi nhắc lại tiểu sử của ông sau khi ông vừa bị bắn chết. Vì phạm vi của một bài báo, chúng tôi cũng chỉ tóm lược những điểm chính.

1.- Vài nét về buổi thiếu thời

Osama bin Laden sinh năm 1957 tại A-rập Saudi, mẹ là người Syria, cha là người Yemen. Cha ông có 10 bà vợ và 53 người con. Osama bin Laden là người con duy nhất của một trong 10 bà vợ đó. Cha ông là Mohammed Awad bin Laden đã trở thành một nhà quyền qúy ở Arập-Saudi. Năm 1970, khi Osama bin Laden mới lên 13 tuổi, cha ông qua đời và ông đã được thừa hưởng một phần gia tài khá to lớn do người cha để lại.

Năm 1981, Bin Laden tốt nghiệp khoa kinh tế và canh nông tại Phân Khoa Quốc Gia Hành Chính, trường đại học Vua Abdul-Aziz ở Jeddah, A-rập Saudi. Ông quen biết rất nhiều nhân vật quyền thế trong khối Hồi Giáo và có tinh thần đấu tranh rất cao.

2.- Con đường đi theo Mỹ

Năm 1978, Noor Taraki làm đảo chánh ở Afghanistan và thiết lập một chế độ thân cộng. Người kế vị Taraki là Babrack Karmal đã liên kết chặt chẽ với Liên Sô. Các tổ chức Hồi Giáo nổi lên chống đối, định lật đổ Karmal. Liên Sô đem quân vào bảo vệ chế độ Karmal. Chiến tranh chống ngoại xâm bắt đầu. Khoảng 7 triệu người Afghanistan (1/3 dân số) tản cư qua các nước lân cận, nhất là Pakistan.

Osama bin Laden đã đến Karachi ở Pakistan, tìm cách giúp các trại tị nạn Afghanistan ở Pakistan rồi trở lại A-rập Saudi tổ chức quyên góp tiền bạc để giúp các tín hữu Hồi Giáo Afghanistan mở cuộc thánh chiến chống Liên Sô. Năm 1982, Ông vào sâu trong lãnh thổ Afghanistan để tham gia vào các trận đánh và thành lập một trạm giao liên tại Peshawar để dưỡng quân.

Thấy Bin Laden là người có khả năng và có quyết tâm, cơ quan CIA của Hoa Kỳ đã huấn luyện Bin Laden thành một người biết tổ chức tình báo và chiến đấu có kỷ thuật cao để chống lại Liên Sô. Năm 1986, với sự giúp đỡ của CIA, Bin Laden thành lập những trại huấn luyện riêng của mình và trong 2 năm đã xây dựng được 6 trại. Hoa Kỳ đã viện trợ vũ khí và phương tiện cho Bin Laden, nhờ vậy ông đã trực tiếp điều khiển các binh sĩ mở 5 trận đánh lớn với quân Liên Sô và hàng trăm trận giao tranh lẻ tẻ, làm quân Liên Sô điêu đứng.

3.- Afghanistan bị Mỹ bỏ rơi

Tháng 4 năm 1988, Nga phải ký hiệp ước với Hoa Kỳ, Pakistan và Afghanistan chấm dứt chiến tranh, quân Nga rút khỏi Afghanistan năm 1989.

Ngay sau đó, thay vì giúp Afghanistan tái thiết và hình thành một chính quyền mạnh để ổn định tình hình, Hoa Kỳ đã bỏ rơi Afghanistan. Do các cuộc tranh chấp, cảnh hổn loạn xẩy ra. Năm 1996 phe Hồi Giáo Taliban chiếm được chính quyền tại Afghanistan và áp dụng một chế độ theo luật Hồi Giáo rất nghiêm khắc dưới sự lãnh đạo của Giáo chủ Mullah Mohammad Omar, thường được gọi là Emir al-Momineen.

4.- Quay lại chống Mỹ

Khi Liên Sô rút chạy khỏi Afghanistan, Bin Laden trở về A-rập Saudi. Ngày 22.5.1990, nước Cộng Hòa Yemen được thành lập. Hai phe thân Tây phương và theo Cộng Sản tranh chấp nhau. Liên Sô yểm trợ cho nhóm theo Cộng Sản ở Nam Yemen nổi lên giành chính quyền. Bin Laden quyết định mở cuộc thánh chiến chống Liên Sô. Chính quyền A-rập Saudi sợ ông đem chiến tranh vào A-rập Saudi nên quản chế ông.

Ngày 2.8.1990 Saddam Hussein đem quân xâm lược Kuwait. Bin Laden hô hào khối A-rập giúp Kuwait đẩy lui sự xâm lược của Iraq. Ông đề nghị đưa 4.000 quân Mujahedin của ông từ Afghanistan về bảo vệ A-rập Saudi, nhưng đề nghị của ông đã bị bác bỏ.

Chỉ vài tuần sau, Mỹ tiến vào A-rập Saudi để giải phóng Kuwait khiến Bin Laden bất mãn. Ông cho rằng vấn đề của người A-rập phải để người A-rập giải quyết với nhau, Mỹ không được can thiệp vào. Từ đó, Bin Laden bắt đầu chống Mỹ.

Ông thành lập trại huấn luyện để huấn luyện kháng chiến quân, nhưng bị cảnh sát A-rập Saudi khám phá ra và bắt ông phá hủy. Ông tức giận, đem khoảng 4000 người ông chiêu mộ được chạy qua Afghanistan vào tháng 4 năm 1991. Do sự thúc đẩy của Mỹ, tình báo A-rập Saudi và Pakistan đã nhiều lần tổ chức bắt cóc hay giết Bin Laden, nhưng không thành công.

Cuối năm 1991 Bin Laden chạy qua Sudan và giúp chính phủ này. Tại đây ông bị tình báo A-rập Saudi mưu sát hụt một lần. Ông liền tổ chức nhiều cuộc khủng bố nhắm vào người Mỹ. Đầu năm 1996, Bin Laden lại quay về Afghanistan và chính thức công bố “Tuyên Ngôn Chiến Tranh” với Hoa Kỳ theo nghĩa là đuổi hết Mỹ ra khỏi bán đảo Ả Rập. Khẩu hiệu là “Kill American Everywhere” (Giết người Mỹ ở khắp nơi).

Tháng 5 năm 1998 Bin Laden thành lập tổ chức “International Islamic Front for Jihad against America and Israel” (Mặt Trận Hồi Giáo Quốc Tế ủng hộ Jihad chống Mỹ và Israel) và tổ chức Al-Qaeda theo đuổi các vụ khủng bố quốc tế. Tổng Thống Cliton đã đặt giải thưởng 5 triệu Mỹ kim cho ai bắt được Bin Laden, nhưng cho đến nay Bin Laden mới bị giết.

5.- Những tổn thất gây ra

Nhiều vụ khủng bố lớn do Al-Qaeda thực hiện đã diễn ra trên khắp thế giới như: Vụ đặt bom tại World Trade Center vào ngày 26.2.1993, có 6 người chết và hơn 1000 người bị thương. Vụ đặt bom tại căn cứ huấn luyện Vệ Binh Quốc Gia tại A-rập Saudi vào ngày 13.11.1995, làm 60 người bị thương, trong đó có 34 người Mỹ. Vụ đặt bom tại căn cứ không quân King Abdul Aziz, gần Dhahran, A-rập Saudi, vào ngày 25.6.1898, có 19 người chết, ít nhất 300 người bị thương, v.v.

Sau cuộc tấn công vào tòa tháp đôi của Mỹ ở New York ngày 11.9.2001, Hoa Kỳ đã mở cuộc tấn công vào Afghanistan và Iraq để tiêu diệt Bin Laden và Al-Qaeda. Cuộc chiến này đã đưa lại những thiệt hại tổng quát như sau:

- Ngân sách Mỹ đã tốn khoảng 3000 tỷ USD cho hai cuộc chiến nói trên và các chiến dịch chống khủng bố khác trên thế giới.

- 6003 binh sĩ Mỹ và 543 binh sĩ Anh đã thiệt mạng tại hai chiến trường Iraq và Afghanistan từ năm 2001 đến nay.

- 109.895 dân thường bị giết ở Iraq kể từ khi Mỹ phát động cuộc chiến chống khủng bố ở Iraq.

- 30.452 người ở Pakistan bị thiệt mạng kể từ khi cuộc chiến “chống khủng bố” được khai hỏa, trong đó có 2795 binh sĩ Pakistan.

- Tại Afghanistan, tính đến ngày 25.1.2009, cuộc chiến đã gây ra cho 19.529 người bị chết và 51.924 bị thương.

Qua hai cuộc chiến, dân của các nước Mỹ, Anh, Afghnistan, Iraq và Pakistan đã bị thiệt hại quá lớn, nhưng các nhà đại tư bản khai thác dầu lửa và đấu thầu quốc phòng của Mỹ đã thu được một số lợi không nhỏ.

ẢNH HƯỞNG CÁI CHẾT CỦA BIN LADEN

Đài BBC ngày 3.5.2011 đã cho phổ biến bài “Cái chết của Bin Laden 'không đáng kể'?” tóm lược những nhận xét của nhiều người về cái chết của Bin Laden, nhất là của hai ký giả Tony Karon của tạp chí Time và Barry Lando của Huffington Post.

Mở đầu, bài báo nhắc lại các quan chức Hoa Kỳ nói “công lý” đã đến với Osama Bin Laden và cái chết của ông ta đã mang lại sự mừng rỡ ở nhiều nơi tại Hoa Kỳ với những cảnh ăn mừng trên đường phố. Nhưng nhiều người đã nhận định rằng ảnh hưởng cái chết của Bin Laden không lớn như người và không có nhiều ý nghĩa ngoại trừ việc giải tỏa sự uất ức của người Mỹ sau vụ tấn công 911.

Nhà báo Tony Karon nói rằng cái chết của Osama Bin Laden không đồng nghĩa với cái chết của Al-Qaeda. Qua cuộc phỏng vấn của ban tiếng Arab của BBC, người Hồi giáo cũng có cái nhìn khác nhau trước tin Bin Laden bị bắn chết.

Ông Amro Waheed từ Ai Cập nói: "Người Arab không muốn thấy sự can thiệp của Hoa Kỳ, nếu Hoa Kỳ muốn chiến thắng Al-Qaeda, họ cần ngay lập tức rút khỏi Iraq, Afghanistan và Pakistan và để người dân tự quyết định số phận của họ." Còn ông Alaa Al-Dardour từ Jordan nói: "Cái chết của Osama Bin Laden không đồng nghĩa với cái chết của Al-Qaeda. Ý thức hệ Al-Qaeda không phải là một con người cụ thể là một trường phái tư tưởng được nhiều người theo."

Sinh viên Adam đã góp ý kiến trên báo New York Times của Mỹ: "Công lý đã được thực thi nhưng liệu đây có phải là lý do để ăn mừng không? Không. Đây không phải là sự kiện thể thao. Đây không phải là ngày chiến thắng. Nó chưa kết thúc cuộc chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ và đồng minh và hàng (chục?) ngàn người chết, cả quân đồng minh và người Arab, để tìm có một người."

Còn tác giả Barry Lando viết: "Trong nhiều góc độ, kẻ bị bắn hạ ở Pakistan đã là người không còn ý nghĩa - là biểu tượng của mối đe dọa trong quá khứ hơn là đe dọa thực sự của tương lai."

KHÓ DIỆT ĐƯỢC AL-QAEDA

Tổ chức al-Qaeda là một tổ chức vũ trang Hồi Giáo do Osama bin Laden thành lập khoảng năm 1998. Tổ chức này phát xuất từ nhóm Sunni Muslin thường được gọi là Islamic Jihad, tức nhóm Thánh Chiến Hồi Giáo.

Vì là một tổ chức hoạt động bí mật, al-Qaeda đã hình thành những đơn vị tự trị, các đơn vị này có thể liên kết hay hổ trợ nhau trong các hoạt động, nhưng được lãnh đạo hoàn toàn riêng rẻ. Bin Laden đã tuyên bố:

“Không có một tổ chức bao trùm. Chúng tôi muốn thành lập một thực thể huyền thoại được gọi là al-Qaeda ở trong đầu óc chúng tôi, nhưng không phải là một thực tế mà chúng tôi quan hệ với”.

Bin Laden được gọi là lãnh tự al-Qaeda nhưng trong thực tế ông chỉ chỉ huy nhóm al-Qaeda ở Pakistan và Afghanistan mà thôi. Ông đã trao lại quyền lãnh đạo này lại cho bác sĩ Ayman al-Zawahiri từ lâu. Ông chỉ còn là cố vấn của Ủy Ban Tư Vấn (Shura Council) gồm khoảng từ 20 đến 30 thành viên cao cấp của al-Qaeda.

Ngoài al-Qaeda ở Pakistan và Afghanistan, còn có 7 tổ chức hoạt động độc lập sau đây được Hoa Kỳ theo sát:

1.- Tổ chức al-Qaeda ở bán đảo A-rập có hai tổ chức là al-Qaeda ở Saudi Arabia và Nhóm Thánh Chiến Hồi Giáo ở Yemen (Islamic Jihad of Yemen).

2.- Tổ chức al-Qaeda ở Iraq

3.- Tổ chức al-Qaeda tại Islamic Maghreb (bao gồm các quốc gia mới là Tây Sahara, Algeria, Tunisia, Libya và Mauritania.

4.- Tổ chức Harakat al-Shabaab Mujahideen ở Somalia.

5.- Tổ chức Thánh Chiến Hồi Giáo Ai-cập (Egyptian Islamic Jihad)

6.- Nhóm Tranh Đấu Hồi Giáo Libya (Libyan Islamic Fighting Group)

7.- Phong Trào Hồi Giáo Đông Thổ Nhĩ Kỳ (East Turkestan Islamic Movement) ở Trung Quốc.

Trong các tổ chức nói trên, tổ chức al-Qaeda ở Iraq và Somalia là mạnh nhất.

Thủ lãnh của al-Qaeda ở Iraq hiện nay là Abu Hamza al-Muhajir, còn gọi được gọi là al-Masri. Năm 1999, al-Masri đã sang Afghanistan tham gia huấn luyện tại trại al-Farouq gần Kandahar, nơi y gặp al-Zarqawi, lãnh tụ vừa bị Hoa Kỳ giết.

Al-Qaeda ở Iraq được khối Sunni yểm trợ đã từ bỏ chiến dịch tấn công đẩm máu vào các đền thờ Hồi Giáo của phái Shiite vì bị khối Hồi Giáo lên án. Họ đang xây dựng cơ sở khắp nơi và đợi Mỹ rút để cướp chính quyền.

Tại Somalia, chính phủ Sheikh Sharif Sheikh Ahmed chỉ còn giữ được thủ đô Mogadishu nhờ quân của Ethiopia. Xung quanh thủ đô và trong cả nước đều do nhóm Hồi Giáo quá khích và al-Qaeda nắm giữ. Tại đây, al-Qaeda đã tạo ra mối đe dọa ngày càng nghiêm trọng đối với các khu vực khác của Châu Phi.

Hiện nay, al-Qaeda đang hoạt động tại khoảng 120 quốc gia, đặc biệt là tại Indonesia, Mã Lai, Thái Lan và Phi Luật Tân, mặc dầu chính phủ của các nước này đã đàn áp thẳng tay.

CON ĐƯỜNG PAKISTAN CHỌN

Trong bài “Đồng Minh lại tháo chạy” phổ biến vào tháng 2 năm 2009, chúng tôi đã viết:

Hiện nay tại Pakistan có khoảng 7 triệu người thuộc sắc tộc Taliban, cộng thêm khoảng 3 triệu người Taliban tỵ nạn ở biên giới Pakistan và Afghanistan. Do đó, Taliban và Al-Qaida đã biến vùng biên giới đầy núi non hiểm trở này thành hậu cứ và khu an toàn của kháng chiến quân. Hoa Kỳ đã yiểm trợ Tướng Pervez Musharrat lên làm Tổng Thống Pakistan với hy vọng ông sẽ hợp tác với liên quân trong việc tảo thanh kháng chiến quân, nhưng Tướng Musharrat đã không thể thực hiện được điều Hoa Kỳ muốn vì ba lý do chính sau đây:

(1) Các nhóm Hồi Giáo ủng hộ kháng chiến quân Afghanistan cương quyến phản đối sự xâm nhập của liên quân vào Pakistan.

(2) Taliban và Al-Qaida dọa nếu chính quyền Pakistan để cho liên quân xâm nhập vào biên giới Pakistan, họ sẽ biến Pakistan thành biển máu như ở Iraq.

(3) Pakistan không bao giờ muốn diệt Taliban vì Taliban vốn là cánh tay mặt của Pakistan ở Afghanistan. Nếu liên quân thất bại, Pakistan sẽ lại yểm trợ Taliban lãnh đạo đất nước Afghanistan.

Bảy khu bộ tộc tự trị dọc biên giới Tây Bắc của Pakistan được coi là “thiên đường” cho al-Qaeda kể từ sau khi Taliban bị thất bại ở Afghanistan năm 2001. Đến năm 2009, lực lượng Taliban dần dần nắm quyền kiểm soát cả vùng thung lũng Swat của Pakistan sát biên giới, chỉ cách thủ đô Islamabad của Pakistan vài giờ xe. Chính phủ Pakistan đã ký một thoả thuận hoà bình với quân Taliban tại Swat hồi tháng 2/2010, cho phép áp dụng luật Sharia tại khu vực này. Hành động này đã bị Hoa Kỳ chỉ trích kịch liệt.

Trong năm qua, bị áp lực của Hoa Kỳ, Thủ tướng Pakistan Yusuf Raza Gilani đã ra lệnh mở các cuộc tấn công vào an toàn khu của Taliban. Sau đó, tổ chức khủng bố Syndicat đã liên minh với tổ chức al-Qaeda biến Pakistan thành vũng máu như họ đã dọa. Khi các cuộc tấn công giảm bớt, tình hình Pakistan trở lại yên tĩnh hơn. Vì bất đắc dĩ phải đi theo Mỹ, đã có 30.452 người Pakistan bị giết.

Trong vụ Bin Laden bị giết, chúng tôi không tin Hoa Kỳ đã hành động trên đất Pakistan mà chính phủ này không hay biết, vì nếu để Hoa Kỳ hành động theo kiểu này, còn gì là chủ quyền quốc gia?

Chúng tôi tin rằng đã có sự đồng ý giữa chính phủ Pakistan và chính phủ Hoa Kỳ, nhưng bên ngoài hai chính phủ phải giả vờ như Pakistan không biết để tránh những sự trả đủa nặng nề của al-Qaeda trên đất Pakistan.

Chúng tôi nhận thấy, mặc dầu đã nhận viện trợ khoảng 3 tỷ USD mỗi năm của Hoa Kỳ, các chính phủ Pakistan vẫn đặt quyền lợi của quốc gia Pakistan lên trên quyền lợi của Hoa Kỳ và giữ được thế tự chủ. Đó là một điều đáng khen.

Hiện nay, tranh luận bắt đầu nổi lên về vai trò của Pakistan. Chính phủ nước này bị tố cáo là đi nước đôi, tức là đã che chở cho Ben Laden. Nhưng rõ ràng chính quyền Obama muốn né tránh cuộc tranh cãi này. Không một ai trong chính quyền Washington lên tiếng chỉ trích Islamabad. Thậm chí Tổng Thống Obama và Ngoại trưởng Clinton còn ca ngợi công cuộc hợp tác tốt đẹp giữa hai quốc gia. Có người cho rằng “đó chỉ là một cuộc hợp tác ảo”, nhưng chúng tôi tin đã có một sự hợp tác thật nhưng thăng trầm tùy theo tình hình từng giai đoạn. Nên nhớ, trong cuộc chiến chống khủng bố, Washington cần Islamabad hơn là Islamabad cần Washington.

Ngày 3.5.2011
Lữ Giang

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

* Đây là một phim tài liệu rất có giá trị về sự thật của chiến tranh VN, với cái nhìn công bằng và khách quan của người Mỹ.

* Người chuyển đã tìm lại được cuốn phim này trên Youtube.
- Mời bấm vào đây để coi toàn bộ cuốn phim gồm có 8 phần (không kể những video clips tài liệu phụ dẫn):
==> http://www.youtube.com/results?search_q ... type=&aq=5



Phim “Việt Nam, Việt Nam” được công bố sau 38 năm bị dấu kín!!!
Phim đang phổ biến trên mạng Internet tên "Vietnam! Vietnam" được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973).
Ông đoạt tất cả 4 giải Oscars vào năm 1973, ông nhận giải AFI Life Achievement Award cùng năm. Ford was awarded the Presidential Medal of Freedom by President Richard Nixon.

Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu Thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971.

Vào lúc đó luật pháp liên bang của Hoa Kỳ ngăn cấm chuyện trình chiếu bất cứ một phim ảnh nào do Cơ quan Truyền Thông Hoa Kỳ (United States Information Agency), trong đó có phim "Việt Nam! Việt Nam!" Cho nên phim tài liệu cuối cùng của ông John Ford đã được khóa kín trong két sắt 37 năm trời cho đến khi luật pháp được thay đổi cho phép phim được chiếu cho công chúng xem.

Đây là một phim tài liệu rất có giá trị về sự thật của chiến tranh VN, với cái nhìn công bằng và khách quan của người Mỹ.
- Nó cho thấy lý do mà Hoa Kỳ đổ quân vào VN vì thấy rõ ý đồ của Hà Nội là muốn xâm chiếm miền Nam bằng vũ lực với sự giúp đỡ của Trung cộng.
- Nó cho thấy hình ảnh gian ác của cộng sản VN bằng lời kể của viên phi công Mỹ ở buổi họp báo khi được trả tự do là ông bị đành đập và tra tần khi bị bắt và bị buộc phải nói láo là được Hà nội đối xữ tử tế.
- Họ cho thấy hình ảnh nhân đạo của người lính Việt nam Cộng Hòa khi chăm sóc vết thương của các tù binh Việt cộng, mà nói xin lổi, mặt mày coi rất hung ác và ngu dốt, không có vẽ vì là người có văn hóa hết so với hình ảnh của người lính miền Nam.
- Rồi họ còn cho thấy cả một làng bị Việt cộng tàn sát, xác đàn bà trẻ con nằm ngổn ngang.
- Rồi trong cảnh đám biểu tình chống chiến tranh ở Sài gòn do bọn phản chiến Mỹ và Việt cộng nằm vùng tổ chức, thì có một người Hung Ga Ry nhào lại đám phóng viên truyền hình chưởi vào mặt bọn phản chiến như sau: ''Tụi bây là đồ ngu dốt mới làm chuyện này, bỡi vì tụi bây không biết gì về Cộng sản hết. Mọi người dân miền Nam VN đáng được hường một huy chương vì đang đấu tranh chống bọn Cộng sản, và cả mọi ngừơi Mỹ đang chiến đấu nữa''. Bọn biểu tình đứng chung quanh im ru không dám nói một lời.

Phần 2 là nói về sự tranh luận của quốc hội HK và dư luận về có nên tiếp tục viện trợ cho miền Nam VN hay không? Thì có người nói chiến tranh VN là một cuộc chiến tranh không thể thắng được vì Mỹ không hiểu được người VN và nếu có thắng được HN thì liệu TC có để yên?

Tôi thích nhất lời nói nhân đạo của TT Regan là ''Liệu chúng ta có thể vẻ một lăn ranh giữa sinh mạng con người? Một sinh mạng là một sinh mạng, không thể nói 1 sinh mạng người Mỹ có thể thay thế 1000 sinh mạng người Việt'', khi ông muốn nói việc Mỹ muốn rút lui để tự quân đội miền Nam chống cộng sản.
Phần kết luận là câu hỏi của lương tâm người Mỹ là ''Liệu miền Nam VN có thể chiến đấu để bảo vệ tự do sau khi HK rút quân khi mà những họng súng của CS trong miền Nam không bao giờ ngửng nổ''.

Nên nhớ cuốn phim này được thực hiện vào lúc Hoa Kỳ đang rút quân khỏi VN, vì vậy đã bị bộ thông tin của Mỹ cấm chiếu vì không muốn dân Mỹ thấy đây là một cuộc chiến thật sự chống chế độ cộng sản giửa HK và nhân dân miền Nam VN và cộng sản Bắc Việt, vì đã lở nói xa lầy rồi... Vì vậy không thể nói đây là phim tuyên truyền láo khoét giống như những phim của các chế độ cs.

Đoạn phim này bị cấm vào thời đó vì nó nói lên sự thật phủ phàng dân Mỹ bị một quả lừa của Cộng sản và luận điệu nhút nhát chủ bại của một số chính khách.
Trong các lời tuyên bố đó, đáng chú ý nhất là lời của Thượng nghị sĩ Ronald Reagan " .... Ending a conflict is not so simple, not just calling it off and comming home. Because the price for that kind of peace could be a thousand years of darkness for generation's Viet Nam borned ."
Tạm dịch : ".... Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại hòa bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thế hệ sinh tại Viêt Nam về sau."

Lời tiên đoán này, nay đã thành sự thật.

Tài Liệu
(14.02.09)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Mỹ tung video về Bin Laden


Lầu Năm Góc vừa tung ra các đoạn video ghi hình tại nhà của trùm khủng bố Osama Bin Laden,
thu được trong vụ đột kích tại Abbottabad, Pakistan, hồi đầu tháng.

Image
Bin Laden xuất hiện trong một đoạn băng. Ảnh: BBC.
Tổng cộng, 5 cuốn video thu được trong cuộc đột kích đã được tung ra. Trong đoạn video đầu tiên, Bin Laden đội một khăn trùm đầu màu trắng, mặc một áo sơ mi và áo choàng màu vàng. Hắn nói vào camera giống như cách từng làm trong các đoạn video trước được tung ra. Các quan chức Lầu Năm Góc cho biết âm thanh đã được lọc bỏ do lo ngại về an ninh, nhưng tiết lộ thông điệp là để gửi cho Mỹ.

Ba đoạn video khác là phần tập dượt cho video gửi thông điệp này. Cuốn video cuối cùng cho thấy Bin Laden đang xem một chương trình về chính mình trên một kênh truyền hình tiếng Ả rập. Hắn ngồi trên sàn và khoác một tấm chăn hoặc áo khoác, tay cầm điều khiển từ xa. Trong khi xem TV, trùm khủng bố vuốt bộ râu trong có vẻ bạc hơn nhiều so với các đoạn video khác.

Trong một cảnh, hắn xem một chương trình có hình ảnh mình gắn trên một bức ảnh Trung tâm Thương mại Thế giới chìm trong lửa sau khi bị máy bắn đâm xuyên qua.

Video về Bin Laden thu được trong cuộc đột kích.

Theo các chuyên gia, việc tung ra các đoạn băng này là một phần nỗ lực của chính quyền Mỹ nhằm khẳng định rằng Osama bin Laden đã bị giết trong cuộc đột kích ngày 1/5. Cuộc đột kích này đã thu được "bộ tài liệu khủng bố cấp cao lớn nhất từ trước tới nay", một quan chức quốc phòng Mỹ tuyên bố hôm qua.

Tại một cuộc họp báo tại Washington, các quan chức tình báo cũng cho hay Bin Laden vẫn điều hành tích cực mạng lưới Al Qaeda từ khu trú ẩn ở Abbottabad. Trong khi đó, cô vợ người Yemen của Bin Laden cho biết chồng mình đã hồi phục bệnh thận từ lâu. Amal Ahmed Abdulfattah - 29 tuổi - bị bắn vào chân trong cuộc đột kích của đặc nhiệm Mỹ - khẳng định chồng mình sức khỏe rất tốt trước khi chết.

Song Minh

Post Reply