Chiến Sĩ QLVNCH

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Người Lính TQLC
Nguyễn Xuân Phúc


Image




Quốc Gia hưng vong
thất phu hữu trách
(Tục ngữ)

Ngọc Thủy



Từ khi còn cắp sách dưới mái trường Nguyễn Trãi ở Hà Nội, cậu học trò Nguyễn Xuân Phúc đã sớm hiểu được những sự đau thương và kinh hoàng của cuộc chiến tranh đang diễn ra càng lúc càng khốc liệt vào những thời điểm sôi bỏng (1945-1954). Sống và lớn lên trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, lòng ai không khỏi sục sôi trước những chủ tâm cai trị của ngoại bang. Hơn nữa, sự tranh đấu, hy sinh, ái quốc của các nhà chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh.v.v... là tấm gương sáng chiếu rọi vào tâm hồn, nuôi dưỡng thêm những hoài bão, khát khao lòng yêu nước của các thanh niên thời đại ấy.

Những ngày khói lửa trong giai đoạn chiến tranh bấy giờ kéo dài cho đến khi Hiệp định Genève được ký kết (ngày 20 tháng 7 năm 1954), chia đôi đất nước hai miền Nam & Bắc, tách rời từ đấy.

Theo làn sóng hằng triệu người yêu chuộng Tự Do, trong đó có gia đình cậu học trò Nguyễn Xuân Phúc đã quyết định rời bỏ tất cả cơ ngơi, ngược giòng vĩ tuyến 17 để vào Nam.

Lúc đó không còn là chiến tranh với ngoại xâm nữa mà là cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc với hai chủ thể Quốc Gia và Cộng Sản. Trong khi miền Nam với chính thể Việt Nam Cộng Hòa đang cố gắng kiến tạo đời sống người dân được ấm no thịnh vượng, nử lực xây dựng đất nước tới chử phát triển phú cường thì cộng sản Bắc Việt xiết chặt đời sống dân chúng trong sự kềm kẹp hà khắc, lén lút vi phạm hiệp định, bất chấp đời sống an dân bằng những thủ đoạn dã tâm và đê hèn với mục tiêu xâm chiếm luôn lãnh thổ miền Nam. Trước những âm mưu tiếp tục bạo ngược, cố tình gây cảnh tang thương cho dân lành vô tội, khiến núi sông cũng phải chuyển mình đau lên tiếng giục. Lớp lớp người trai đã nối bước lên đường theo tiếng gọi non sông. Bút nghiên đành gác lại hẹn ngày về khi đất nước yên vui, bởi quân tham tàn còn nhiễu nhương bờ cõi, chí làm trai sao có thể lặng im.

Dù thân phụ đang là công chức cao cấp, lại là học sinh khá với những năm cuối trung học Chu Văn An, có đủ điều kiện đi du học hoặc tiếp tục việc học hành lên cao. Nhưng với hoài bão lý tưởng ấp ủ từ lâu, Nguyễn Xuân Phúc đã cùng với người em trai kế là Nguyễn Phú Thọ quyết định ghi danh vào trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam để thỏa chí tang bồng, đáp đền ân nợ Núi Sông. Gia nhập khóa 16 Võ Bị vào tháng 11 năm 1959, được đào tạo thêm kiến thức và nhân cách của một sĩ quan chỉ huy tương lai bằng kỷ luật rất nghiêm nhặt. Ngôi trường Mẹ đón nhận những người trai tám hướng về đây hun đúc chí can trường, tôi luyện thành những người chiến sĩ hùng anh dũng cảm, sẳn sàng phục vụ cho đồng bào-tổ quốc thân yêu. Từ những ngày đầu nhập khoá với tất cả sự nao nức sớm được thi hành nghĩa vụ bởi bên ngoài chiến dịch Ấp Chiến Lược do Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ban hành đang được phát động quy mô rộng rãi để bảo vệ an ninh cho đời sống dân lành và kiểm soát chặt chẽ hơn sự xâm nhập của cộng quân đang tìm đủ mọi cách gia tăng.

Những ngày tháng rèn luyện về quân sự, đạo đức và văn hóa ở quân trường Võ Bị rồi cũng qua nhanh. Những buổi sáng còn mờ mịt hơi sương lạnh buốt, che lấp cả mặt hồ Chi Lăng không phân biệt được đâu là làn nước trong đâu là mầu khói trắng sương mù. Ðến những buổi trưa lấp lánh hàng thông xanh dưới tia nắng mặt trời, dậy thơm mùi đất cao nguyên như nhựa sống những chàng trai đang căng tràn chí lớn. Cho đến những buổi chiều rơi, từ lưng đồi 1515, ngắm cảnh hoàng hôn tựa tấm voan mềm, mỏng nhẹ như tơ, dần phủ buông xuống khắp núi đồi mầu lam tím nhạt, rừng thông lao xao, đưa hương tỏa ngát nhớ nhung ngập hồn người. Ðỉnh Lâm Viên vời vợi ánh trăng khuya, bình yên như giấc ngủ của những người khóa sinh sau một ngày tắm đẫm mồ hôi kiên trì thao dợt. Ðể ngày mai tới, huy hoàng trong ánh sáng bình minh, ngọn núi sừng sửng hơn hai ngàn cao độ ấy sẽ đón nhận những bước chân đi chinh phục của những chàng sinh viên tuổi trẻ. Tuổi trẻ ắp đầy lý tưởng đẹp ngời như câu khẩu hiệu hằng ngày: "Chúng tôi không tìm an lạc dễ dàng mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm" với điều tiên quyết để nhận lãnh, đó là Trách Nhiệm-Danh Dự-Tổ Quốc của người sinh viên sĩ quan Võ Bị Ðà Lạt.

Trong những ngày dưới mái trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam danh tiếng lẫy lừng khắp Ðông Nam Á, Nguyễn Xuân Phúc là một sinh viên sĩ quan ưu tú, luôn giữ gìn tác phong tốt làm gương cho các khóa đàn em. Khi đảm nhận chức vụ Tiểu Ðoàn Trưởng/Tiểu Ðoàn 2 của Liên Ðoàn Sinh Viên Sĩ Quan trông coi bốn đại đội gồm các khóa 16,17, 18, anh đã chứng tỏ được bản lĩnh của người chỉ huy hấp thụ được mọi mặt về văn hoá và đạo đức, lúc nào cũng nêu cao tinh thần tự giác và kỷ luật nghiêm minh. Với vóc dáng tầm thước, nhưng các bạn sinh viên sĩ quan đều nhớ tiếng nói của anh rất hùng hồn mạnh mẽ khi ra lệnh, giọng dõng dạc vững vàng khi hô to các khẩu hiệu trong mửi lần tập huấn. Ngoài tác phong quân kỷ kể trên, Nguyễn Xuân Phúc còn được các anh em thương mến ở đức tính hòa nhã, tận tình hướng dẫn, sẳn sàng chia xẻ cùng các sinh viên khóa sinh trong tình huynh đệ chi binh. Trong những lần các khóa đàn em phải ứng chiến, cắm trại, Nguyễn Xuân Phúc cùng ở lại chia xẻ vì anh không muốn hưởng riêng đặc quyền được miễn của một SVSQ cán bộ. Ðó là những nét chính mà phong cách bên ngoài của anh lúc nào cũng biểu hiện là một cán bộ sĩ quan gương mẫu, từ quân phục thẳng nếp, đai nịt gọn gàng đến dáng điệu đường hoàng chững chạc, cung cách khiêm tốn, thái độ thân thiện vui vẻ, cư xử với trên dưới đều phân minh, tử tế.

Image

Ngày tốt nghiệp, sinh viên sĩ quan Á Khoa Nguyễn Xuân Phúc ra trường Võ Bị Việt Nam (đậu hạng Ưu về văn hóa và quân sự) với cấp bậc Thiếu Úy trong buổi lễ mãn khoá vào ngày 22 tháng 12 năm 1962. Từ giã ngôi trường Mẹ thân yêu nằm bề thế rộng đẹp trên ngọn đồi 1515 với rừng thông xanh ngát quanh năm, ôm quyện làn sương trắng mỏng phủ mờ thơ mộng mà anh đã gắn bó với hơn ba năm dài học tập với bao niềm lưu luyến. Từ đây anh sẽ là cánh chim tung bay khắp hướng. Mộng sơn hà trị giặc an dân được vung kiếm, vẫy vùng. Chí cả bay cao như ngày nào anh vượt qua được những chông gai hiểm trở của núi rừng, đứng ngạo nghễ trên ngọn núi Lâm Viên (còn gọi là núi Lang Biang, cách thành phố Ðà Lạt khoảng mười hai cây số về phía Bắc) cao 2163 thước. Từ chiến thắng chinh phục được ngọn núi này đã tạo bước chân những người sinh viên sĩ quan thành chân cứng cho đá mềm trên khắp bốn vùng chiến thuật mai sau.

Làm trai cho đáng nên trai
Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan

Với ước mộng như lời tiền nhân: "Làm trai cho đáng nên trai. Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan", Nguyễn Xuân Phúc chọn binh chủng Thủy Quân Lục Chiến và tình nguyện xin đi tác chiến, đáp ứng với tình hình chiến sự đang gia tăng sôi bỏng.

Sau khi về trình diện Bộ Tư Lệnh Liên Ðoàn TQLC, đầu năm 1963, thiếu úy Nguyễn Xuân Phúc được thuyên chuyển về Tiểu Ðoàn 2 TQLC đang đóng quân tại Cà Mau-An Xuyên với chiến dịch Sóng Tình Thương để yểm trợ an ninh cho các khu ấp chiến lược đang được xây dựng, cùng tiếp tay trong sự ngăn chận đường len lỏi của quân du kích, chở vũ khí xâm nhập vào Nam của cộng sản Bắc Việt qua ven biển Cà Mau.

Sau khi trình diện Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 là Ðại úy Nguyễn Thành Yên, thiếu úy Nguyễn Xuân Phúc được bổ nhiệm làm Ðại đội phó Ðại đội 3 dưới quyền của Trung úy Ðại độì trưởng Nguyễn Năng Bảo.

Ðời lính chiến đây đó mười phương, ngày nào anh chỉ nghe nói về những nẻo dường Việt Nam trải dài suốt từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Thế là giờ đây anh đã có mặt ở khắp Cà Mau, Ðầm Dơi, Năm Căn.v.v... Ôi quê hương miền Nam trù phú nhưng bởi còn nhiễu nhương giặc Cộng nên mảnh đất đầm lầy này còn hẻo lánh hoang vu. Hương hoa rừng Tràm, gử, than rừng Ðước là những tài nguyên hiếm quý vẫn chưa được khai thác tới nơi. Cà Mau nước mặn, rạch, kinh có tôm cá ngập đầy nhưng dân làng còn hoang sơ thưa thớt bởi quân cộng còn hoạt động khá mạnh ở vùng đất này, dùng địa thế chi chít kinh rạch, rừng cây để làm địa bàn tấn công phá hoại các đồn bót, ngăn chận sự củng cố quân sự, phát triển cải cách đồng ruộng nơi đây của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Như âm mưu phá hoại đã dự định, tối ngày 9/9/1963 Việt cộng kéo quân bất ngờ đánh úp vào chi khu Cái Nước, gây tổn thất khá nặng nề cho chi khu này. Và cũng ngay trong đêm đó, Tiểu đoàn U Minh của Việt cộng tiếp tục dùng xuồng và đường bộ tiến thẳng vào chi khu Ðầm Dơi để tấn công (Cái Nước và Ðầm Dơi cách nhau khoảng gần hai mươi cây số đường chim bay). Trong vài giờ đồng hồ, địch quân đã chiếm được một nửa chi khu, quận trưởng Ðầm Dơi bị tử thương, những người lính Ðịa phương quân đang cố gắng chống trả cố giữ nửa phần đất còn lại. Tiểu Ðoàn 2/TQLC liền được Bộ Tư Lệnh Hành Quân Quân Ðoàn IV đặt căn cứ tại An Xuyên do Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao điều động có mặt để giải vây. Bằng trực thăng H-21, các đại đội của Tiểu đoàn 2/TQLC đổ quân xuống cách khoảng từng đợt một:

- Ðại Ðội1 do Trung Úy Phạm Nhã chỉ huy đổ xuống gần quận.

- Bộ chỉ huy Tiểu Ðoàn do Ðại Úy Nguyễn Thành Yên và Ðại Ðội Trưởng Tiểu Ðoàn 2 là Ðại Úy Nguyễn Văn Hay đáp xuống bãi Charlie ở địa điểm kế.

- Ðại Ðội 4 do Trung Úy Ngô Văn Ðịnh chỉ huy đáp xuống bãi Alpha cách quận ba cây số về phía đông nam.

- Ðại đội 3 của Trung Úy Nguyễn Năng Bảo (Ðại Ðội Trưởng) và Thiếu Úy Nguyễn Xuân Phúc (Ðại Ðội Phó) đổ quân xuống ngay sát bờ sông là lực lượng Việt Cộng đang tập trung.

Nguyễn Xuân Phúc và các anh em đồng đội được trực thăng vận xuống cánh đồng ruộng cằn cửi như mầu cỏ cháy. Nơi đây thiếu mầu mỡ phì nhiêu nhưng không thiếu những hố đạn bom vẫn ngày đêm cày xéo. Buổi chiều chưa tắt nắng nhưng bầu trời như nhuốm mầu u uất thê lương. Dân làng đã bỏ chạy mong lánh nạn giao tranh. Họ trốn chui trốn nhủi ở những bụi bờ, khóc không thành tiếng, sợ hãi đến quên cả cầu đến Chúa, Phật, Trời mà chẳng biết có qua được cơn lửa đạn này không?! Có sống được về làng thì cũng hai bàn tay trắng như đã bao lần khổ sở trước. Người thân ruột thịt có khi cũng chẳng còn. Nhà cửa, heo, gà, rau cỏ bị cày xới, cháy rụi thiêu tàn hết rồi còn đâu. Ðời sống quá gian lao đói khổ rồi mà giặc Cộng sao vẫn chẳng buông tha. Chỉ biết đánh, giết, chiếm miễn sao đạt được tham vọng xâm lăng. Ðất nước có điêu linh, dân lành có đổ máu đến bao nhiêu họ có xá kể gì. Ðời dân nghèo sống dở chết dở như thế này cho tới bao giờ...? Thương đau biết mấy cho vừa, quê hương ơi!

Những người lính TQLC của Ðại Ðội 3 lội trên cánh đồng ruộng ngập nước đến đầu gối, địa thế quá trống trải để lấy tư thế nấp bắn. Ðịch ở phía bờ sông bên trong đang bắn ra tua tủa. Phi pháo hoả lực yểm trợ cho quân ta lại ở ngoài tầm độ. Tình thế thật nguy hiểm, dễ trở thành bia đạn nhắm tới nếu không kịp xông vào khóa các ổ bắn của địch. Là lính vừa mới ra trường chưa được bao lâu, lần đầu tiên T/U Nguyễn Xuân Phúc đụng một trận cận chiến toé lửa lại bất lợi như thế này, đại đội chết dễ như chơi. Tính thế nào đây? Bọn giặc kia khát máu quá. Cảnh chết thê thảm của đồng đội, oan ức của người dân như con dao nhọn xoẹt qua lòng anh. Nửi căm hận như ánh thép vừa đốt nung lên, mắt anh loé lên những tia sáng như lửa. Nhất định phải đánh cho tan những dã tâm khát máu đê hèn này. Anh phải khởi sự ngay thôi. Những năm được đào tạo về chỉ huy và quân sự cộng thêm sự dũng cảm, bén nhạy, Nguyễn Xuân Phúc đã mau chóng nghĩ ra một chiến thuật chớp nhoáng như tung đi cú đánh thần tốc, tuy có phần liều lĩnh nhưng trước sự sống chết như đường tơ kẻ tóc của đơn vị, anh không ngại ngần là kẻ xung phong vượt qua lửa đạn, quyết tiến chiếm cho được vị thế đổi lật tình hình trận chiến. Anh luôn là kẻ đi đầu bất cứ trong tình huống nào, bởi chỉ có hành động của chính mình mới có thể là câu nói hùng hồn, xác đáng với người nghe. Anh lao nhanh như gió bão khiến những viên đạn như chưa bắn tới đã rơi. Hành động của anh là ngọn lửa truyền đi, cả đại đội như cháy bừng lên sức chiến đấu mãnh liệt. Họ cũng lao đi như tên bắn. Giặc đốt phá quê hương, hãm hại dân lành thì ta đâu thể nương tay. Ðánh giặc phải đánh tới cùng. Chốn sa trường há gì mũi đạn lằn tên. Giặc còn là đồng bào mình còn lầm than đau khổ. Phải diệt được giặc nước nhà mới được thái bình yên vui. Xung phong. Anh em ơi, xung phong. Tiếng hò reo xung phong vang dội dọc cả bờ sông sắp rút nước theo thủy triều đang hạ. Trước khí thế như vũ bão của những người lính Thủy Quân Lục Chiến thuộc Tiểu Ðoàn 2, VC kinh hoàng vứt bỏ súng ống, vượt sông tháo chạy qua phía bên kia bờ.



[left]http://www.tqlcvn.org/images/TD2%20TRANS.gif[/left]Tiếng súng dần thưa thớt rồi ngưng hẳn. Trời đêm đã dịu đi cơn nóng như đã dịu đi những nòng đạn lửa xối xả bắn ra từ cả hai bên. Mùi tử khí trên những xác người chưa kịp dấy nồng. Chỉ còn lại mùi khét của súng và tiếng reo mừng chiến thắng. Cuộc tấn công của VC đã kết thúc, không chiếm được mục tiêu như đã định. Tiểu Ðoàn 2 cũng tổn thất một số binh lính, nhất là Ðại Ðội 3 đã hy sinh khá nhiều. Nhưng bù lại Tiểu Ðoàn 2 đã đánh tan được Tiểu Ðoàn U Minh, chặn đứng được âm mưu phá hoại và tịch thu được rất nhiều đạn dược, súng lớn của Việt cộng.

Vui mừng với chiến công mà mình đã góp phần để dành lại đời sống yên ấm cho người dân hiền. Nhưng lòng người lính Nguyễn Xuân Phúc cũng không thể tránh được nửi buồn đau ghê gớm trước cái chết thảm khốc của những người chiến hữu chung đơn vị trong trận đánh vừa qua. Dẫu vẫn biết rằng đã xông pha ra sa trường là người lính đã chấp nhận tử sinh... Xưa nay, vẫn hiểu lời cổ nhân: "Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu. Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi". Có mấy ai đi đánh giặc biết được ngày trở về. Chỉ cố làm tròn nghĩa vụ người trai trong thời đất nước ngả nghiêng để giữ gìn bảo vệ đồng bào tổ quốc thân yêu.

Thôi đành mượn đến ly rượu đầy rót cho đến cạn trong đêm nay để gởi những giọt nồng cay này đến bạn bè anh em đã cùng chia xẻ gian nguy mà chẳng sống còn để cùng hưởng chút vui say. Thôi, hãy say đi để khóc bạn bè cho hả. Say đi để thấy đường gian nan trước mặt không hề nản chí bước chân người lính trận. Say đi, kìa tiếng gọi Non Sông đang rền vang tiếng thét sục sôi, những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa ơi, hãy giữ gìn, chống đỡ quê hương thoát khỏi bàn tay đốt phá giang sơn. Say đi để hào khí những người thanh niên đất Việt bừng bừng lên như ngọn lửa quyết xả thân tạo hòa bình cho đất nước yên vui. Ly rượu đã rót tràn để mời anh, mời bạn, mời em. Tràn như tình yêu của những người con dành cho Tổ Quốc, cay nồng như nửi đau xé lòng của Mẹ ôm từng mảnh đất phân ly, lau giòng máu chảy như đã thành sông...

Ðêm lạnh đã tàn, chai rượu cạn cùng với bạn bè cũng đã vỡ tan. Người sống nhắc đến người chết cũng đã mòn hơi. Nhìn những ánh sao lấp lánh lưng trời, đêm nay có vì sao nào đã rụng... Nhìn trời nhìn sao, một phút giây nhìn sững lại mình, người Thiếu Úy trẻ Nguyễn Xuân Phúc bửng khóc như chưa bao giờ khóc thế! Nước Non ơi...!

Trận chiến Ðầm Dơi là một chiến thắng vẻ vang của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung và của Tiểu Ðoàn 2 TQLC tại vùng IV nói riêng. Cả Tiểu Ðoàn 2 đã được tưởng thưởng nhiều huy chương cao quý của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa và Quân Ðội Hoa Kỳ trong năm 1963. Tư Lệnh Liên Ðoàn TQLC Lê Nguyên Khang xuống tận mặt trận Ðầm Dơi ngợi khen và thăm hỏi các chiến sĩ. Trận thư hùng này đã đi vào quân sử Việt Nam Cộng Hòa với những trang hùng tráng nhất sau ngày hiệp định Genève (1954).

Lưỡi dao ta đang sắc
Ngọn giáo giặc phải lùi

(Nguyễn Trãi)

Cũng qua trận tham chiến lớn đầu tay của Nguyễn Xuân Phúc ở Ðầm Dơi, thượng cấp và anh em đồng đội đã biết được sự gan dạ quả cảm cùng khả năng chiến trường nhạy bén của Nguyễn Xuân Phúc như thế nào nên càng tin tưởng và quý mến thêm.

Bấy giờ, Nguyễn Xuân Phúc không còn là một cán bộ SVSQ Ðà Lạt lúc nào cũng áo quần thẳng nếp, giày, đai bóng loáng nữa mà qua những cuộc hành quân liên tiếp, Thiếu Úy Nguyễn Xuân Phúc giờ đây đã sạm đen nắng cháy sa trường trong bộ áo trận bạc màu sương gió, dấu giày dây vết bùn dơ nơi đầm rừng lau lách.

Tình hình chiến sự vẫn sôi bỏng khắp nơi, những người lính tác chiến vẫn miệt mài sương gió, đi hết cuộc hành quân này lại có mặt ở các trận chiến kia như cơn sóng cuốn, sáng ở đầu ghềnh, chiều đã chân mây... lớp lớp phủ dồn, ra khơi!

Tháng 6 năm 1966, trong lần hành quân ra Huế, Ðại Úy Nguyễn Xuân Phúc lúc bấy giờ là Ðại Ðội Trưởng/Ðại Ðội 4 của Tiểu Ðoàn 2/TQLC đã cùng Tiểu Ðoàn đánh một trận nhớ đời ở đoạn cầu Phò Trạch-Phong Ðiền trên dọc đường số I vì đã lật ngược được thế cờ, tạo thành trận phản phục kích thật lẫy lừng do vị Tiểu Ðoàn Trưởng là Trung Tá Lê Hằng Minh chỉ huy. Giặc Cộng đã thua to sau vài giờ giao chiến đã phải chém vè chạy thoát về phía núi, bỏ lại nhiều súng cối, SKZ 57 ly và đại bác 75 ly... Nhưng quân ta đã phải trả một giá quá đắt, đó là sự hy sinh của vị chỉ huy Tiểu Ðoàn Trâu Ðiên/TQLC Lê Hằng Minh cùng một số chiến hữu khác, đã vĩnh viễn nằm xuống trên mảnh đất khói lửa Trị-Thiên.

Riêng Ð/U Nguyễn Xuân Phúc cũng bị thương trong trận phản phục kích oanh liệt này.

Sau đó Ðại Úy Ngô Văn Ðịnh về làm Tiểu Ðoàn Trưởng/Tiểu Ðoàn 2 và Ðại Úy Nguyễn Xuân Phúc làm Tiểu Ðoàn Phó thay cho Ðại Úy Nguyễn Văn Hay (chuyển về phòng thanh tra Sư Ðoàn). Người lính Nguyễn Xuân Phúc vẫn tiếp tục chiến đấu, luôn đặt danh dự của người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lên hàng đầu, thanh liêm thẳng thắn, tôn trọng kỷ luật và chu toàn trách nhiệm đối với đơn vị thật nhiệt tình hăng say, lúc nào cũng chí tình đối với anh em chiến hữu bằng tinh thần đồng đội nên anh được mọi người từ thượng cấp đến thuộc cấp rất thương mến nể vì.

Nguyễn Xuân Phúc khi ra trận luôn chiến đấu dũng cảm, quyết định nhanh và táo bạo. Tánh tình bộc trực nhưng rất tốt rất hiền với các chiến hữu của mình và thật dữ dội khi đối mặt với quân thù. Vì thế anh được các đàn em và bạn hữu thương mến đặt biệt danh cho anh là Robert Lửa. Lửa của cương trực, của khí thế đanh thép, bừng bừng.

Image

Nhưng bên trong con người cương nghị ấy lại ẩn chứa một tâm hồn mẫn cảm, yêu mến cái đẹp cái hùng, thích hát hò hay đóng vai Trấn Thủ Lưu Ðồn mỗi khi có dịp vui chơi văn nghệ từ những năm trung học hoặc sau những giờ phút hành quân căng thẳng gian lao. Là người hào sảng, đối với bạn bè là cho đi tất cả, ngay khi cần phải dốc đến đồng bạc cuối cùng trong túi cũng chẳng tiếc, chẳng màng. Anh cũng là người con chí hiếu trong gia đình lễ giáo có chín anh chị em. Rất trọng kính bố mẹ, nhưng có lần anh cảm thấy mình có lửi, bất hiếu vì đặt tình nước trên tình nhà khi dấu gia đình âm thầm ghi danh vào trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Nhưng thân phụ và thân mẫu anh là người hiểu biết đức độ nên dẫu xót thương con vẫn phải nén lòng chấp nhận, thông cảm và khuyến khích khi hai người con trai rời nhà cùng một lúc, đi làm lính trận miền xa, chẳng biết đến ngày về.

Rồi Nguyễn Xuân Phúc được đi học khóa Tham Mưu ở Ðà Lạt, khi về làm Tiểu Ðoàn Phó/Tiểu Ðoàn 5 TQLC. Và thời gian này, anh cũng đã tham gia trận đánh Rạch Ruộng vào cuối năm 1967 khi Tiểu Ðoàn 5 được tăng cường để phối hợp với Sư Ðoàn 9 Bộ Binh Hoa Kỳ & Lực Lượng Sông Ngòi HK đặt căn cứ tại Ðồng Tâm để mở cuộc hành quân tiêu diệt các ổ đóng quân của Việt cộng dọc theo phía bắc khu vực sông Mỹ Tho. Ðoàn quân được lệnh di chuyển bằng tàu lúc gần sáng để tiến vào Rạch Ruộng là nơi ẩn trú của Tiểu Ðoàn 502 VC. Dọc đường bị VC phục kích làm một chiếc tàu LCM bị thiệt hại. Sự việc xẩy ra khiến đoàn quân sục sôi thêm. Tiểu Ðoàn Trưởng/TÐ 5 TQLC là Thiếu Tá Phạm Nhã yêu cầu cố vấn Mỹ cho vượt qua chử phục kích để nhanh chóng đến địa điểm đổ bộ. Hừng sáng thì tới nơi, Tiểu Ðoàn 5 TQLC chia ra làm hai cánh quân. Cánh A do Thiếu Tá Phạm Nhã chỉ huy cùng các Ðại Ðội CH (Trung Úy Huỳnh Văn Phú), Ðại Ðội 3 (Trung Úy Ðoàn Ðức Nghi), Ðại Ðội 1 (Trung Úy Hồ Quang Lịch) đánh ngay phía mặt tiền bờ sông, thẳng vào bên trong ẩn nấp của địch. Cánh B do Ðại Úy Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu các Ðại Ðội 4 (Ðại Úy Ðử Hữu Tùng), Ðại Ðội 2 (Trung Úy Cổ Tấn Tịnh Châu) vượt lên trên địa điểm đổ bộ, bọc hậu từ phía sau đánh tới. Nguyễn Xuân Phúc đã cùng với các chiến hữu Tiểu Ðoàn 5 TQLC chiến đấu hết sức mình với quyết tâm phải giữ vững Ðồng Tháp Mười lúa ngọt cây lành này cho người dân vô tội nơi đây. Cuộc giao tranh kéo dài từ rạng sáng cho đến mặt trời lặn mới kết thúc. Cảnh đổ vỡ thật điêu tàn. Giặc về gieo khói lửa, làng vắng không người dân, ruộng đồng lúa ngã xác xơ, Mặt trời ngó xuống như cũng rầu rầu, giòng sông Cửu Long vẫn vô tình chảy xiết qua kinh rạch hiền hòa, trôi mênh mang... Lửa đạn biến đất trời thành cơn lốc xoáy, thây người tung theo bụi cát mịt mù. Trận đánh diễn ra trong một ngày nhưng thật dữ dội như năm xưa trên giòng sông Tiền Giang, người anh hùng Tây Sơn Nguyễn Huệ cũng đã đánh bạt được quân Xiêm La trong trận thủy chiến kinh hồn, chiếm giữ lại mảnh đất phù sa mầu mỡ này cho cháu con đời sau.

Ðêm đã xuống, trận giao tranh đã tàn. Những hàng dừa lả ngọn theo gió lay uyển chuyển trên các bờ mương. Phong cảnh mộc mạc nên thơ này sẽ đẹp biết bao cho người dân sống với làng quê nếu được thanh bình, không bóng dáng cộng quân về phá nát yên vui.




[left]http://www.tqlcvn.org/images/TD5-TQLC%20TRANS.gif[/left]Với sức chiến đấu kiên trì và mãnh liệt của Tiểu Ðoàn 5 TQLC cùng sự phối hợp và yểm trợ của lực lượng Bộ Binh Hoa Kỳ. Quân ta đã toàn thắng với nhiều chiến lợi phẩm. Thành tích đó đã tạo cho Ðại Tá David (SÐ 9 Bộ Binh) và Ðại Tá Salzer (Hải Quân) được vinh thăng cấp Tướng. Và Tiểu Ðoàn 5 TQLC nhận lãnh được nhiều huy chương cao quý. Sự thiệt hại bên ta hy sinh và bị thương mấy chục người. Trung Úy Cổ Tấn Tịnh Châu và Trung Úy Hồ Quang Lịch cũng bị thương trong trận đánh này.

Chiến cuộc vẫn lan tràn tiếp diễn khắp nơi nơi, người lính Nguyễn Xuân Phúc có mặt hầu hết khắp bốn vùng chiến thuật. Từ Bình Chánh đến Gio Linh, Quảng Trị, Thừa Thiên... Người em ruột là Trung Úy Nguyễn Phú Thọ thuộc Sư Ðoàn I Bộ Binh đang hành quân trong trận đánh Ðông Ba để phản công lại trận tổng công kích Tết Mậu Thân đợt 1 của VC ở Huế, hai anh em gặp nhau ở Mang Cá khi Tiểu Ðoàn N.X.Phúc từ trong Nam ra bổ xung giải tỏa. Từ khi rời trường Mẹ, đời lính chiến đẩy đưa mửi người một nơi, lâu lắm rồi họ mới gặp lại nhau nhưng cũng chỉ trong thoáng chốc như khói bụi chiến trường bởi tình hình đang căng thẳng. Chỉ kịp bắt tay và nói đùa với nhau một câu của người anh: "Mày chưa chết à?", người em ngạo nghễ trả lời: "Ðánh giặc sức mấy mà chết được".

Với chủ mưu xâm chiếm miền Nam bằng mọi giá, mọi cách, CSBV càng lúc càng gia tăng những cuộc đánh phá mạnh mẽ.

Với sự chuẩn bị từ nhiều tháng trước cùng sự tiếp tay của những tên Việt gian nội gián, Việt cộng đã thực hiện trận tổng công kích quy mô trên khắp lãnh thổ Quốc Gia. Nặng nhất là Huế và Sàigòn trong những ngày đầu xuân Mậu Thân (31/01/1968), gây máu lửa tang thương cho người dân trong những ngày lễ Tết dân tộc thiêng liêng. Vừa nhận được lệnh tăng phái, Tiểu Ðoàn 5 của N.X. Phúc đã có mặt ở Huế ngay. Huế đang chìm ngập trong dầu sôi lửa bỏng của chết chóc kinh hoàng. Những vụ thảm sát, mồ chôn tập thể những người dân lành vô tội trong thành phố diễn ra hằng loạt hằng giờ. Ðó là tội ác hay chiến tích lớn của Cộng quân khát máu đã gây ra?! "Thật là Ðộc ác thay! trúc rừng không ghi hết tội. Dơ bẩn thay! nước bể khôn rửa sạch mùi (Nguyễn Trãi)".

Nhưng nhờ sự hy sinh chiến đấu dũng cảm của các lực lượng quân binh chủng Việt Nam Cộng Hòa dưới sự điều động đảm lược của vị chỉ huy Tư Lệnh Sư Ðoàn I Ngô Quang Trưởng đã nhanh chóng chặn đứng và đẩy lui được làn sóng đỏ xâm lăng, đánh phá bạo tàn của CSBV sau gần một tháng phản công.

Tháng 4/1968, Việt cộng lại tấn công vào thành phố Sàigòn trong cuộc tổng công kích đợt hai. Hết đem quân ra Huế lại xuôi về trong Nam, Thiếu tá Nguyễn Xuân Phúc cũng vừa nhận chức vụ Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 6 Thần Ưng thay cho Thiếu Tá Phạm Văn Chung. Trước sự tấn công dã man có mưu mô kế hoạch của VC, Nguyễn Xuân Phúc lại một lần cùng với các anh em chiến hữu trong đơn vị quyết sống chết đối đầu để ngăn chận giòng tiến quân xâm nhập cũng như tháo lui của giặc. Dây chuyền kế hoạch tổng công kích của CSBV dần vỡ tan, bị chặt đứt trước những nhát kiếm sắc bén vung lên của những chiến sĩ đảm lược kiên cường thuộc các đơn vị tinh nhuệ hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tiểu đoàn 6 TQLC cũng góp được chiến công là đã càn quét được bọn giặc ra khỏi trận địa Bình Hòa.

Sau khi bị thương, Nguyễn Xuân Phúc được thuyên chuyển về Tiểu Ðoàn Công Vụ để dưỡng thương thêm một thời gian. Ở đây tuy công việc nhàn nhã hơn, không phải đối đầu với những nguy nan sống chết từng phút từng giờ nhưng lòng anh vẫn khát khao quãng đời chiến đấu nơi rừng sâu núi thẵm với các bạn bè chiến hữu như tâm sự hổ nhớ rừng của Thế Lữ mà anh nhớ thuộc lòng khi còn đi học:

nhớ cảnh sơn lâm bóng cả, cây già
với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi
với khí thét khúc trường ca dữ dội
ta bước chân lên, dõng dạc đường hoàng...

(Thế Lữ)

Ðến tháng 3 năm 1969, Nguyễn Xuân Phúc nhận được sự vụ lệnh từ Ðại Tá Tham Mưu Trưởng Bùi Thế Lân về giữ chức vụ Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 2 TQLC. Một Tiểu Ðoàn vang danh khắp chốn sa trường mà anh đã từng tham dự gắn bó và đổ máu trước đây với những chiến tích hào hùng của Tiểu Ðoàn Trâu Ðiên uy dũng.

Trong chiến dịch hành quân sang Kampuchia nhằm truy quét các lực lượng võ trang CSBV đang chiếm đóng những vùng đất này để dễ bề xâm nhập vào lãnh thổ Nam Việt Nam qua các ngả đường biên giới. Ðầu năm 1970, Tiểu Ðoàn 2 TQLC từ căn cứ Chương Thiện-Cần Thơ đã cùng với các Tiểu Ðoàn 1 và 4 TQLC thuộc Lữ Ðoàn B của Ðại Tá Tôn Thất Soạn tham gia vào cuộc hành quân Cửu Long để dẹp địch. Sau cuộc đổ bộ thần tốc từ bến phà Neak Luong, Tiểu Ðoàn 2 chưa kịp đóng quân đã nhận được lệnh trên cấp bách và theo lời yêu cầu của chánh phủ Cộng Hòa Cambodia: nhẩy trực thăng vận xuống giảì vây khu vực Prey Veng đang bị VC chiếm đóng. Vị trí thành phố Prey Veng nằm trên vùng đất cao nên các cánh quân của Tiểu Ðoàn lần lượt đổ xuống phía bên ngoài bờ thành, bám theo các cánh đồng dưới thấp. Ðại đội I của Trung úy Lâm Tài Thạch vừa chuyển quân xuống đầu tiên đã chạm địch nấp dưới những lớp rơm phủ trên đường hầm theo lối đánh độn thổ để phục kích. Nhưng với sự bình tĩnh sáng suốt và dũng cảm của Tiểu Ðoàn Trâu Ðiên do Thiếu Tá Nguyễn Xuân Phúc chỉ huy đã càn quét được tuyến giặc đột kích phòng thủ bên ngoài, phối hợp cùng đơn vị bạn tiến công thẳng vào bên trong thành phố và mau chóng lập nên chiến công hiển hách: đánh tan được một Trung Ðoàn VC, tái chiếm được tỉnh lỵ Prey Veng ngay sau một ngày giao chiến dữ dội.

Với những chiến công lừng lẫy như thế và tám lần được tuyên dương Anh Dũng Bội Tinh, Tiểu Ðoàn Trưởng Nguyễn Xuân Phúc & Tiểu Ðoàn 2 Trâu Ðiên là Tiểu Ðoàn đầu tiên của Sư Ðoàn TQLC Việt Nam và cũng là Tiểu Ðoàn duy nhất đã được tưởng thưởng huy chương cao quý của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đó là giây biểu chương Tam Hợp, tạo cho Sư

Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến nói chung và Tiểu Ðoàn 2 nói riêng thêm sức mạnh tự hào, oai phong.

ngắm Non Sông căm nửi thế thù
thề sống chết cùng quân nghịch tặc

(Nguyễn Trãi)

Sau những thất bại nặng nề, vẫn không từ bỏ ý đồ xâm lăng, CSBV tiếp tục dàn quân ở biên giới Việt-Lào. Tiểu Ðoàn 2 Trâu Ðiên lại tiếp tục lao vào trận địa với cuộc hành quân Lam Sơn. Trận chiến càng gay go khốc liệt thì những người lính Việt Nam Cộng Hòa càng gan lì quyết liệt hơn. Trong lửa đạn của cuộc chiến Lam Sơn, dũng khí của người Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 2 Trâu Ðiên Nguyễn Xuân Phúc đã ngời lên như ánh thép, vung gươm chống đỡ gìữa vòng vây của địch tràn xung hàng hàng lớp lớp. Bằng dũng cảm can cường cùng sự nhậy bén như mũi tên xuyên thẳng vào nguy nan, xem thường sống chết, quyết đưa dẫn các đại đội đàn em bạt núi băng rừng từ cứ điểm Ðống Ða vượt qua tám cây số đường chim bay lửa đạn bắn tua tủa như mưa từ phía nam biên giới Việt-Lào để về đến Khe Sanh gần đầy đủ, an toàn. Trong chiến thuật hành quân, đụng chạm và đối đầu với địch đã gian nguy. Rút quân mà vẫn giữ được an toàn lại càng khó khăn hơn. Nguyễn Xuân Phúc đã chu toàn trách nhiệm của người Tiểu Ðoàn Trưởng, với tất cả sự quan tâm, thương mến của một người anh Cả luôn bảo vệ cho đàn em mình vượt qua khỏi những hiểm nguy bằng đảm lược, kiên trì. Những ai đã từng chiến đấu, cùng chung đơn vị với anh đều hiểu rõ điều này và nhiều năm sau khi nhắc lại đều tỏ lòng thương tiếc và quý mến.

Trong chiến công hành quân Lam Sơn 719 năm 1971, Tiểu Ðoàn Trưởng Nguyễn Xuân Phúc được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên dương công trạng ban thưởng Ðệ Tứ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương, Tiểu Ðoàn Phó Trần Văn Hợp được thăng cấp Thiếu Tá và Trung Úy Lâm Tài Thạch được Ðệ Ngũ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương tại Huế.

Bước chân người lính Nguyễn Xuân Phúc cùng Tiểu Ðoàn 2 vẫn tiếp tục trải dài suốt các ngả đường đất nước, nơi nào có bóng giặc thù là nơi đó có xung phong chiến đấu của những người chiến sĩ Quốc Gia hết lòng bảo vệ Non Sông. Từ Hạ Lào, Khe Sanh, Triệu Phong, Mai Lộc, Ðông Hà, Quảng Trị, Gio Linh.v.v... Tháng 3 qua tháng 4 năm 1972, Tiểu Ðoàn 2 vẫn tiếp bước với những cuộc hành quân gay go ở Vùng I. Ðã chặn đứng và đẩy lui được nhiều cuộc tấn công của CSBV ở Mỹ Chánh, La Vang. Quê hương miền Trung nắng cháy với những buổi sáng, trưa, chiều tối vẫn đạn bom khói lửa mù trời dưới tầm đạn pháo kích như mưa của CSBV. Lòng anh không chai cứng nổi trước những tàn phá của chiến tranh, những nửi đau thê thiết rã rời của những người dân phố nhỏ quê nghèo. Anh biết làm gì cho vơi hết những nửi niềm đeo nặng trong tâm tư. Làm thế nào để sớm chấm dứt những tang thương, máu đổ của chiến cuộc đầy dẫy cảnh lệ rơi máu đổ hằng ngày, của anh em đồng đội, của bao dân lành vô tội chung quanh. Rồi đây, trang sử có lật qua nhưng con đường đẫm máu với bao cảnh chết hãì hùng của trẻ thơ, phụ nữ, người già, thanh niên thiếu nữ gánh gồng chạy loạn trên con đường từ Quảng Trị-Mỹ Chánh dọc theo quốc lộ 1, nằm ngả chết chất chồng lên nhau thành cảnh chết chưa từng thấy chưa từng có trước đây, nay bằng sự dã tâm khát máu của CSBV cố tình nhả đạn thẳng vào đoàn người vô tội không chút nương tay đã tạo nên được con đường Ðại Lộ Kinh Hoàng này, thật quá khủng khiếp! Nước sông Thạch Hãn vẫn luân chuyển từng giờ ra biển cả nhưng không sao kéo trôi, rửa tan được giòng máu lệ oan khiên đổ tràn nơi đây, tháng ngày này!

Sau khi được thăng cấp Trung Tá, cuối tháng 5/1972 Nguyễn Xuân Phúc bàn giao Tiểu Ðoàn 2 lại cho Thiếu Tá Trần Văn Hợp, nhận chức Lữ Ðoàn Phó LÐ147 của Ðại Tá Nguyễn Năng Bảo. Thời điểm đó, CSBV đã khởi đầu cuộc xung quân xâm chiếm vào lãnh thổ miền Nam Việt Nam qua địa đầu giới tuyến Quảng Trị với những loạt tấn công ồ ạt bằng chiến xa T-54, PT-76 và đủ loại võ khí lớn của cộng sản Nga-Tàu cung cấp.

Lữ Ðoàn 147 TQLC từ Hải Lăng tiếp tục điều quân chận đứng mũi tiến công của VC ở phía bắc Quảng Trị. Sau đó đã cùng với Lữ Ðoàn 258 kết hợp táì chiếm Cổ Thành Quảng Trị theo kế hoạch của Trung Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn I Ngô Quang Trưởng. Ðây là một quyết định rất sáng suốt và thao lược của vị tướng tài ba này: ỏCon đường duy nhất là phải tái chiếm lại thành phố nàyõ . Quyết định và câu nói này của ông cùng sự có mặt thường xuyên ngoài mặt trận sôi bỏng để thăm nom khích lệ và theo dõi từng bước tiến của những cuộc truy quét hành quân diệt địch là một động viên tinh thần rất lớn cho các chiến sĩ đang vững vàng chiến đấu dành lại từng tấc đất thân yêu là bao xương máu của người lính Việt Nam Cộng Hòa, là bao máu thịt của người dân đã ngả xuống cho Hòa Bình-Tự Do.

Với quyết tâm đó, toàn thể các lực lượng chiến sĩ có mặt trong cuộc hành quân tái chiếm cổ thành Quảng Trị đã đánh giặc hết sức mình và sau gần năm tháng chiến đấu, ngày 16/9/1972 Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã lấy lại được thành phố Quảng Trị một cách vẻ vang. Chiến thắng này là công trạng của nhiều người, nhiều binh chủng. Với bao xương trắng máu đào mới dành lại được. Trong đó có các Lữ Ðoàn 147 TQLC: (Ðại Tá Nguyễn Năng Bảo, Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc), Lữ Ðoàn 258 TQLC (Ðại Tá Ngô Văn Ðịnh, Trung Tá Ðử Ðình Vượng), Tiểu Ðoàn 6 (Trung Tá Ðử Hữu Tùng), Tiểu Ðoàn 3 (Thiếu Tá Nguyễn Văn Cảnh), Tiểu Ðoàn 2 (Thiếu Tá Trần Văn Hợp), Tiểu Ðoàn 1 (Thiếu Tá Nguyễn Ðăng Hòa), Tiểu đoàn 5 (Thiếu Tá Hồ Quang Lịch), Tiểu Ðoàn 7 (Thiếu Tá Nguyễn Văn Kim), Tiểu Ðoàn 8 (Thiếu Tá Nguyễn Văn Phán), Tiểu Ðoàn 9 (Trung Tá Nguyễn Kim Ðể).v.v...

Image

Toàn quân Việt Nam Cộng Hòa đã dựng lại được ngọn cờ vàng ba sọc đỏ tung bay rạng rỡ trên bầu trời nắng ấm quê hương vào lúc tái chiếm được cổ thành Quảng Trị thân yêu ngày 16 tháng 9 năm 1972. Tiếng ve sầu đã thôi kêu than sau một mùa hè khóì lửa. Riêng cánh phượng hồng trên những hàng Phượng vỹ vẫn thắm tươi dưới ánh mặt trời, đẹp buổi hoan ca.

Ðầu năm 1975, Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc được đề cử chức vụ Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn 369 và Lữ Ðoàn Phó là Trung Tá Ðử Hữu Tùng (là vị Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 6 đã hạ được nhiều chiến xa T-54 và đã cắm lá cờ vàng tung bay ngạo nghễ trong ngày tái chiếm cổ thành Quảng Trị (16/09/1972), một người bạn đồng khóa 16 Võ Bị Ðà Lạt và cũng là người bạn từng chung vai sát cánh với anh trong nhiều trận đánh lẫy lừng trên khắp bốn vùng chiến thuật hành quân. Lữ Ðoàn 369 vẫn tiếp tục những cuộc hành quân truy diệt địch xâm lăng, băng rừng lội suối suốt từ Cửa Việt, Ðông Hà, Gio Linh, qua Cam Lộ, Hải Lăng, Quảng Nam. Từ bờ sông Thạch Hãn, dưới bóng núi Trường Sơn đến Ðà Nẵng, Tiên Sa...

họa phúc có nguồn, đâu bổng chốc?
anh hùng để hận, dễ gì nguôi...

(Nguyễn Trãi)

Người lính Nguyễn Xuân Phúc đã đi qua nhiều trận chiến, dãi dầu với sương gió hành quân, máu anh cũng đã đổ nhưng vẫn hiên ngang đứng giữa sa trường. Ðạn tên vẫn chừa anh ra cho đến một ngày... ngày 29 tháng 3 năm 1975.

Lệnh lui binh như một tiếng súng ghim thẳng vào tim những người lính đang hiên ngang chiến đấu dưới mầu cờ Tổ Quốc bởi lòng sục sôi phẫn uất trước những bạo tàn của Cộng quân đang gây ra trên mảnh đất quê hương. Miền Trung thương yêu ngập máu lửa tơi bời. Người Lữ Ðoàn Trưởng 369 Nguyễn Xuân Phúc một lần nữa vượt lằn lửa đạn đưa dẫn các Tiểu Ðoàn 2, Tiểu Ðoàn 6, Tiểu Ðoàn 9 của mình về Ðà Nẵng an toàn.

Ðà Nẵng, ngày 29 tháng 3 năm 1975, nơi mà người Lữ Ðoàn Trưởng 369 đang có mặt với nhiều chiến hữu các đơn vị quân binh chủng QLVNCH cùng vị Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn I (Ngô Quang Trưởng) một lòng yêu nước yêu dân, đau đớn nhìn quê hương đang từ từ nghiêng ngả.

Cuối tháng ba, quê hương đang rực màu lửa khói, bầu trời tang thương đang đổ lệ xuống nhạt nhòa khắp đất nước điêu linh. Còn gì đâu với cảnh hoang tàn đổ nát thê lương. Lớp lớp người người khóc chạy dưới thác đạn mưa bom. Ôi, nước mất - nhà tan. Bao vong linh đã từng sống chết cho Tổ Quốc còn ẩn khuất đâu đây. Tiếng thét hờn vì đâu nên nửi này như rung chuyển khắp núi sông. Ðỉnh Trường Sơn bạc trắng nửi niềm Ðau. Lòng biển Ðông dội vang từng đứt đoạn. Mạch sông sầu thấm sâu lòng đất Mẹ, khóc thương con tay súng ngỡ ngàng rơi, những tay súng không vì cuồng điên khát máu, không vô tình bắn chết lương dân, không phá nát mảnh tiền đồ Tổ Quốc. Những tay súng hiên ngang vì Chính Nghĩa, diệt bạo tàn xâm lấn quê hương, mang yên ấm cho thôn làng thành thị, đem sức mình tranh đấu chữ Tự Do, để giang sơn tô đẹp màu cẩm tú, cõi bờ thêm rộng mở thăng hoa, hoà bình đến nước nhà vui Ðộc Lập, cảnh thanh bình ước mơ còn sáng mãi.

Ôi, giấc mộng của những người dân nước Việt, của những người chiến sĩ cầm súng giữ quê hương. Sao giờ đây, phải nhìn cảnh quê hương hoa gấm đang rơi chìm trong đổ nát. Tráì tim muôn triệu người cũng vỡ với đau thương.

Cuối tháng ba, nắng Hạ Lào mới vừa nóng ấm mà sao lớp sóng xanh Non Nước như tuôn giòng lệ đỏ, áng mây trời Tiên Sa tựa phủ lớp khăn tang mờ. Giữa thế cờ thay đổi, khói lửa rực trời Nam, chìm khuất trong những tiếng kêu than ai oán, khung cảnh hửn loạn, hai người bạn cũng là hai vị Lữ Ðoàn Trưởng Nguyễn Xuân Phúc và Lữ Ðoàn Phó Ðử Hữu Tùng cùng đứng dừng lại, dõi mắt nhìn dãy núi cao xa, vời vợi... Bóng hai người lính đổ dài trên bãi biển, lặng yên mà lòng sâu đang bão nổi, sóng ngầm. Nửi khổ đau của đoạn trường qưê hương sao nói được nên lời! Ôi, xã tắc sơn hà một sớm một chiều như khói mây, tan tác.

Giòng người xao xác lũ lượt ra khơi. Hai người lính đồng hành cùng ở lại. Ở lại với mảnh đất quê hương yêu dấu này đã thấm mặn bao giòng máu của anh em đồng đội. Xác thân thà tan rã nơi rừng sâu biển mặn, bám vào cát đá Nước Non trùng điệp, làm hạt bụi Trường Sơn bất khuất để giữ lại khí phách anh linh của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa kiên cường luôn hằng Sống và Chết cho Tổ Quốc cùng lý tưởng Hoà Bình- Tự Do Dân Tộc.

Ngày 29 tháng 3 năm 1975, những người chiến sĩ ấy đã cùng ra đi với tiếng hờn Núi Sông, trở về lòng đất Mẹ thân yêu...

những người Lính yên nằm ở đây
trái tim chúng tôi - yêu thương nhất!
lấy thơ hòa với nước mắt đầy
chúng tôi tạc tượng người Lính đó!


những người Lính đạp từng nấc mây
những người Lính mở đường trên đất
khắp bốn phương Nam Bắc - Ðông Tây
những người Lính không bao giờ mất!


Người Lính chúng tôi nói hôm nay
đã đi sâu vào lòng lịch sử
tượng Người để lại cho Tương Lai
sẽ giữ hoài Quê Hương Ðất Tổ!



Ngọc Thủy

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Ôi! Những Anh Hồn Bên Giòng Sông Cũ
Phan Lạc Tiếp , ghi nhận và phỏng vấn

Con ngựa Xích Thố của Giang Lực

Image

Trong suốt hơn 20 năm hoạt động của HQVNCH, các chiến hạm cũng như các chiến đĩnh, dù do Pháp giao lại, hay sau này do Mỹ chuyển giao, đều do Mỹ sản xuất Chỉ riêng chiếc Scan/Fom, tiếng Việt gọi là Tuần Giang Ðĩnh, là do Pháp đóng. Ðây là một chiến đĩnh có nhiều đặc tính và tỏ ra rất công hiệu trong việc tuần tiễu trên sông rạch vùng Cửu Long Giang. Việt Cộng đã nhiều phen kinh hãi trước sự xuất hiện của loại chiến đĩnh này.

Trong sinh hoạt của các giang đoàn, chiến đĩnh này được gọi tắt là Fom. Hỏi tại sao lại gọi như thế, nhiều người đã trả lời, vì khi chạy máy tầu nổ rất ròn kêu"fom, fom". Nghe cũng có lý. Nhưng đúng tên của nó là do chữ Scan/Fom ( Service Technique des Constructions et Armes Navals Frances Outre-Mer ). Một loại tầu được đóng để Hải Quân Pháp hoạt động ngoài nước Pháp, đặc biệt cho Ðông Dương. Chiến đĩnh này dài 36 bộ, rộng độ 7 bộ, mũi nhọn, đáy tầu cũng nhọn, chạy nhanh xé nước tạo thành một vùng trũng khiến cho toàn thân tầu gần như thấp hơn mặt nước, tránh được các loại súng lớn từ bờ muốn bắn vào phần thân tầu. Cũng vì mũi nhọn, đáy nhọn, khi bị thủy lôi, sức công phá của thủy lôi tạt qua một bên, ( khác hẳn với các loại chiến đĩnh đáy bằng, khi bị thủy lôi là cầm chắc đáy tầu bị phá). Loại Fom này, được trang bị một đại liên 12ly 7 tại mũi, với dàn pháo tháp bằng thép bao quanh, đại liên này có tầm hoạt động mạnh, xa tới 5 cây số, và vòng hoạt động 220 độ về phía trước và hai bên. Trên nóc tầu có 2 đại liên 30, và sau lái 1 đại liên 30 nữa, chưa kể các loại súng nhỏ như M16, M79. Thường mỗi chiếc chỉ có 4 nhân viên. Tầu bao giờ cũng đi hai chiếc, do một hạ sĩ quan làm thuyền trưởng trông nom cả cặp tầu. Sự lanh lẹ, gọn nhẹ của chiếc Fom được ví như "con ngựa Xích Thố của Giang Lực."


Ðể có một cái nhìn sống động hơn về hoạt động của chiến đĩnh này, xin theo dõi bài bút ký viết về những kỷ niệm, những nguy nan của các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam một thời vùng vẫy trong khu chiến Tiền Giang, qua trận đánh tại Ba Rài.


* * * * *
Ðường Ði Khu Chiến

Tôi bị ra Hội Ðồng Kỷ Luật trong một trường hợp thật ngộ nghĩnh, và bị đưa đi đơn vị tác chiến: Giang Ðoàn 21 Xung Phong, khu chiến Tiền Giang.
Mới tới đơn vị, tin tức các nơi liên hệ đến các cuộc đụng độ giữa các đơn vị Việt Cộng và các tầu tuần tiểu mỗi lúc một tăng. Sự thương vong mỗi lúc một lớn. Quả thật là tôi có "rét" thật . "Rét" nên tôi cố gắng tìm hiểu, học hỏi các kinh nghiệm của các bạn sĩ quan cùng khóa tại đơn vị, và nhất là các kinh nghiệm của các anh em đoàn viên đã lặn lội nhiều năm tại vùng sông nước nguy hiểm này. Lúc ấy, năm 1965, anh Nguyễn Ðức Bổng, khóa 10, trên tôi một khóa, làm duyên Ðoàn trưởng Duyên Ðoàn 33 bị nội tuyến, địch giả dân đánh cá làm quen với đơn vị, rồi giữa trưa làm lễ cúng Hà Bá, mời cả Duyên Ðoàn dự tiệc, rồi đùng một cái họ nổ súng, bắn chết khá đông. Anh Bổng ở trên ghe chủ lực, cũng bị bắn chết. Tràng đạn xuyên nát ngực. Khi chúng tôi đến lấy xác anh, trời đã chiều. Con rạch Sọ Dừa, cái tên oan trái, là nơi xác anh nằm vắt vẻo bên sàn ghe. Xác anh Bổng xám ngắt và tóp lại như một đứa trẻ, vì máu ra quá nhiều. Xác anh nằm ở sàn tầu, phủ bằng một tấm chăn dạ lính. Máu từ thân thể anh vẫn tiếp tục chảy dài xuống sàn tầu và bò ngoằn ngoèo ra mé cửa sổ chiến đĩnh. Hỏa châu từ nơi nào đó bắn lên dọi sáng một vùng trời. Tôi lại nghe anh sắp sửa lấy vợ nữa. Tôi thương anh và càng thấy sợ. Tôi thì vừa lấy vợ. Hai vợ chồng hai nơi, Sài Gòn và Mỹ Tho... Tôi thương vợ tôi lắm, nên nhủ lòng:" Phải cẩn thận tối đa."


Lúc rỗi, tôi lên Phòng Hành Quân theo dõi bản đồ Trận Liệt, ghi các vùng nguy hiểm vào sổ tay. Nhìn cho kỹ địa thế. Ðọc thật kỹ ký hiệu nơi có rừng cây, nơi có dừa nước. Các nơi đã từng đụng độ. Và tôi nhận ra rằng, đa số các nơi diễn ra cuộc đụng độ mà phần thiệt hại về ta, là các khúc sông hẹp, uốn khúc. Ðịch nấp trong hầm bắn ra. Ta hỏa lực hùng hậu, tầm đạn xa, lại có cả loại đạn công phá, nổ khi chạm vật cứng như sắt, thân cây lúc này trở nên ít hữu hiệu. Và thời điểm các cuộc đụng độ, đa số vào khoảng 4, 5 giờ chiều. Giờ mà theo thói quen, quân ta đã lo sửa soạn ra về, máy bay khi cần khó gọi, có đến cũng khó can thiệp. Giờ của địch, như thế kể như từ 4, 5 giờ chiều cho đến 4, 5 giờ sáng.


Còn các cuộc bắn tầu, như kinh nghiệm các bạn kể lại, thường là vào ban đêm. Lúc ấy, nếu tinh ý, ta sẽ thấy "sao mà đất trời lạnh ngắt". Lạnh ngắt vì khi bờ sông có người phục kích, chim muông không dám xà xuống đậu. Có xà xuống thấy người lại chới với bay lên. Vì thế cảnh vật bỗng trở nên vắng lặng, rờn rợn. Lúc ấy, nếu thấy một ngọn đèn thắp lấp lánh bên bờ sông, ta có nhiều phần chắc đó là ngọn-đèn-nhắm. Việt Cộng thắp ngọn đèn bên kia sông, chúng nằm bên này sông, trời tối càng tốt. Khi tầu lướt trên mặt sông, án ngữ tầm nhìn của ngọn- đèn- nhắm là bên này sông, chúng đã hờm súng sẵn, cứ việc bấm cò. Chắc như bắp. Chỉ trừ khi tên xạ thủ run tay, chậm trễ, đạn mới vượt qua sau lái.


Lúc như thế, ta mới thấy chiếc Fom hữu hiệu như thế nào. Fom, như trên đã viết, chạy nhanh, có bị bắn, đạn đi trên tầm nước, khó chìm. Thấy đèn nhấp nháy khả nghi, Fom, loại tầu đi trước và đi sát mé sông, xả tốc độ, quay 90 độ, bỏ đèn nhắm của địch sau lái, lấy đại liên 12 ly 7 bắn như mưa vào bờ đối diện. Ðâm thẳng vào. Ðạn đan kín trời tràn ngập nơi địch trú ẩn. Tới gần, hai đại liên 30 trên nóc tầu xả đạn quanh điểm khả nghi. Ðồng thời dùng M 79 bắn vào. Ðạn nổ bùng. Việt Cộng bạo thì nằm dí đó, ăn đạn nát thây. Vụt chạy thì khó tránh được rừng đạn 12ly7 và đại liên 30 bắn đuổi theo như mưa bấc.

Ðức Râu, kẻ tử thù của Việt Cộng

Người cho tôi kinh nghiệm về chiến thuật phản xạ này là Trung Sĩ I Lê Phước Ðức, tục gọi là Ðức Râu. Anh thâm niên quân vụ khá bộn, đâu như xuất thân từ khóa I, khóa 2 Ðoàn Viên, ngành Thủy Chiến Binh (Fusilier), do Pháp huấn luyện. Bạn bè anh đã có người có đai vàng trên mũ. Anh vẫn chỉ có ba chữ V trên vai áo. Anh người Nam, to con, mặt hơi rỗ, râu hàm xanh ngắt. Lúc nhàn rỗi, anh ngồi lầm lì trên tầu, bên cạnh là một thùng bia Quân Tiếp Vụ, uống tì tì, mặt đỏ râu dựng, không nói một câu. Ít ai biết về gia cảnh anh. Lúc nhàn rỗi đã thế, khi đụng trận, vừa ngồi trên nóc tầu, hai chân thòng xuống bánh lái. Một tay bấm cò đại liên 30, một tay cầm ống liên hợp điều động chiếc Fom bạn, ủi đầu vào nơi địch vừa khai hỏa. Những lúc như thế, trời chiều đã gần tắt, mây đỏ đầy trời. Anh lẫm liệt lao vào lửa đạn, uy dũng lừng lững, như Quan Vân Trường với thanh Long Ðao trên mình con ngựa Xích Thố. Lúc ấy, đoàn tầu cứ việc nhẹ nhàng tiến, và lặng lẽ theo dõi cặp Fom của anh làm cỏ hai bên bờ.
Có lúc tôi đã hỏi anh:" Sao cứ ở đây hoài, đi tầu biển cho nó thay đổi cuộc sống chăng," anh tợp một hơi bia và nói:" Ông thầy! Mấy thằng fusilier ( Chiến Binh) đi tầu là loại lính-mỡ." Tôi phân vân hỏi:" Lính mỡ là...?" Anh đáp:'' Mang tiếng là chiến binh mà đi tầu biển chỉ có việc lấy mỡ xoa vào nòng súng cho khỏi sét, chứ lính gì tụi nó.." Anh ví von đến là hay, tuy có phần hơi cường điệu... Trong đơn vị, anh là người có nhiều huy chương nhất, anh chỉ đeo có ngành dương liễu mà thôi. Các ngôi sao vàng, sao bạc, anh bảo "đồ ăn giỗ đó mà ông thầy.." Trong các cuộc hành quân tuần tiểu, có khi chỉ có một chiếc soái đĩnh, hai Quân Vận Ðĩnh và hai chiếc Fom, biệt phái cho một vùng nào đó. Toán đi như thế, sĩ quan nào cũng muốn có cặp Fom của anh Ðức. Bạn tôi, Trần Hữu Khánh, tay trì của Giang Ðoàn nói:" Có Ðức đi theo mình yên trí lắm. Có đụng mới thấy ngựa hay.." Tôi ở Giang Ðoàn có mấy tháng, đã thấy mấy lần đụng độ. Ðức lúc nào cũng được nhắc đến, với các chiến lợi phẩm. Khi thì mấy khẩu CKC, Bá Ðỏ..., chiến công lặt vặt ấy, anh bảo:" Thôi để cho mấy đứa em. Dù nó có ở khẩu 30 sau lái, cũng là đụng trận chứ. Cho nó có chút xanh , chút đỏ cho vui. Tôi đeo đủ rồi."


Vào giữa năm 1965, một buổi trưa, một đoàn tầu đi tuần trên kinh Chợ Gạo. Con kinh huyết mạch để đoàn ghe gạo, cá từ Vùng IV về Sài Gòn qua đó. Kinh Chợ Gạo, vòng đai an toàn cho Mỹ Tho, Bình Phục Nhất, nơi mà "mình vừa đi qua, là tụi nó ló mặt ra liền", chính nơi này, Ðức Râu và cặp Fom của anh đã làm Việt Cộng điên đảo. Vì là tầu nhỏ, một tầu tiến vào lạch, kéo theo chiếc Fom khác quay mũi trở ra . Như thế lạch hẹp, tầu phải vừa đi vừa vén lau mà lủi, không thể xoay sở, chẳng thể quay đầu. Vì thế Việt Cộng tin là " lạch hẹp, bố bảo tụi tầu cũng không dám vào đây". Vậy mà Ðức Râu bảo:" Ông thầy cứ nằm ngoài kinh. Ðể tôi vào." Vào sâu nằm đó, khi ở ngoài kinh đoàn tầu đã đi. Trong lạch um tùm, hai chiếc Fom nằm im khe. Tụi Việt Cộng ló ra , chèo ghe đi lại. Cho thật chắc, để chúng xuất hiện đông, là Fom khai hỏa. Chúng chạy đâu cho thoát. Lúc ấy chiếc Fom buộc sau chiếc Fom đi đầu, mở máy chạy, kéo theo chiếc thứ nhất trở ra kinh lớn... Sự gan dạ và thông minh ấy của Ðức, Ðức Râu, đã làm địch khiếp vía. Bao nhiêu xác địch đã bị bỏ lại trên bờ kinh. Bao nhiêu gạo,muối, đồ tiếp liệu của địch đã tịch thu được, một phần không nhỏ là do Ðức với cặp Fom đem về.


Rồi một hôm, giữa năm 1965 cũng chính từ chiếc Fom của Ðức HQ 5001,HQ 5002 gọi về, giữa trưa:" Tôi bị bắn, lạ lắm. Lửa phát ra xanh lè. Ðạn xuyên từ bên trái tầu, qua luôn thành bên phải, ghim vào bờ kinh nổ bùng. Chúng bắn xong lủi rất nhanh vào khúc quẹo..". Cả Giang Ðoàn bàn tán. Các chi tiết ấy đã được sĩ quan Ban 2 ghi lại, gửi về Bộ Tổng Tham Mưu. Sau này mới hay đó là loại súng mới rất lợi hại của địch: B40. Và cũng từ đó , thay vì chỉ là súng ngựa trời, CKC, Bá Ðỏ, Việt Cộng có loại AK 47 , nhẹ, bắn liên thanh. Cũng từ lúc ây, tin đồn Việt Cộng treo giải, ai giết được Ðức râu sẽ được thưởng 200 ngàn đồng, số tiền tương đương với nhiều lạng vàng. Một gia sản lớn. Nghe thế, đọc các truyền đơn ấy, Ðức râu chỉ cười. Ngồi thừ trên mũi Fom, uống rượu tì tì.


Ở lâu quá một con tầu không nên, cần phải thuyên chuyển qua tầu khác để có kinh nghiệm mới , và cũng là dịp cho nhân viến khác lên thay, để có cơ hội học hỏi thêm. Ðức râu được lên làm thuyền trưởng chiếc Tiền Phong Ðĩnh ( Monitor combat), HQ 6001.


Tiền Phong Ðĩnh còn gọi là Thiết Giáp Ðĩnh, là loại chiến đĩnh được trang bị hùng hậu nhất trong các chiến đĩnh hoạt động trên sông, dài 60 bộ, rộng 17 bộ. Trước mũi là đại bác 40 ly, pháo tháp dày. Ở giữa chiến đĩnh có một súng cối 81 ly, hai đại liên 12ly và hai đại liên 30, và nhiều súng nhỏ, kể cả súng phóng lựu M 79. Hai máy dầu cặn, hai chân vịt nên xoay sở dễ dàng, tốc độ 8 gút. Nhân viên cơ hữu độ mười người. Khi cuộc hành quân quy mô, thường có các sĩ quan trưởng toán hiện diện tại đây. Ðức râu được biết "phải" rời cặp Fom cuả anh để lên làm thuyền trưởng chiếc Tiền Phong Ðĩnh HQ 6001. Anh không muốn lên, vì như nhiều người biết, ở đây gần mặt trời, lại là chiến đĩnh lớn, khó tung hoành. Nhưng anh không thể từ chối. Vì thâm niên công vụ, anh sẽ đeo lon Thượng Sĩ nay mai, không thể ở mãi trên tầu nhỏ được.


Làm quen với chiến đĩnh này, cũng không khó đối với anh. Với tướng mạo hùng dũng ấy, các tay đàn em sợ một phép.

Trận Ba Rài 29/9/1965

Giang kể:

" Cuộc hành quân dựa theo tin tình báo cuả SÐ 7BB theo đó Trung Ðoàn chính quy BV có trang bị vũ khí nặng đã có mặt trong vùng. SÐ 7 BB đã mở cuộc hành quân bao vây trước đó một ngày, lực lượng gồm nhiều Tiểu Ðoàn TQLC và Bộ Binh SÐ 7. Lực lượng này đã bị cầm chân và không rút được, phi cơ cũng không can thiệp được vì rừng cây dầy đặc. Phía ngoài, tại cửa sông lớn đi vào, địch đã để một thành phần súng lớn để diệt tầu Hải Quân (sau này, khi đụng độ mới biết, vì chúng ngụy trang và bất động).

Do đó SÐ7/BB yêu cầu Hải Quân mở cuộc hành quân phối hợp thăm dò tiếp theo để có thể can thiệp cho kế hoạch: Rút quân và để phi cơ oanh tạc.

Giang Ðoàn 21 Xung Phong và 27 Xung Phong do HQ Ðại Úy Trần Văn Triết chỉ huy, mở cuộc hành quân thay cho HQ Thiếu Tá Huỳnh Huy Thiệp, đi họp ở Cần Thơ. Ðoàn tầu đi tới vùng hành quân khoảng 2 giờ chiều. Tất cả nằm ngoài sông lớn. Riêng toán của tôi gồm Monitor Combat 6001 và hai Fom 5001-5002 được chỉ định đi vào kinh nhỏ bắt liên lạc với bộ binh. Toán của tôi chỉ huy gồm thuyền trưởng Nguyễn Văn Ðức (Râu) và Trung Sĩ Sụn (Fom). Chúng tôi đã tiến sâu vào trong kinh và bắt liên lạc trực tiếp với lực lượng trên bờ tại xã Xuân Sơn. Tôi báo cáo ra ngoài cho Ðại Úy Triết biết. Ðại Úy Triết bèn cho một Monitor Comand với hai RPC hộ tống đi vào, và toán của tôi tiến ra yểm trợ. Tất cả đều yên lặng, không có cuộc chạm súng nào, nhưng không khí căng thẳng, vì với kinh nghiệm cho biết, tôi đoán, địch sẽ đánh. Lúc trở ra. Thông thường, bất cứ cuộc hành quân vào sông rạch nào lúc vào không nguy hiểm bằng lúc trở ra; do đó thường tránh đi về cùng một đường. Nhưng trường hợp này không áp dụng được vì độc đạo.

Khi quay trở ra, tiếp tay được với toán Ðại Úy Triết, tôi nằm lại giữ an ninh thủy trình, và Ðại Úy Triết cho 3 giang đĩnh tiến sâu vào tiếp giáp với bộ binh trên bờ. Khi Hải Quân gặp Bộ Binh, địch không kềm chân Bộ Binh nữa vì sợ Hải Quân phản công.

Vì thủy trình quá dài, nên toán tôi giữ an ninh khúc giữa Ðại Úy Triết cho monitor combat 6007 của Trung Úy Bảo vào giữ an ninh khúc ngoài.

Khoảng 4 giờ chiều, một phi cơ quan sát cho biết một tầu Hải Quân bị cháy phía ngoài đầu kinh. Ðại Úy Triết liên lạc với Trung Úy Bảo không được và chỉ thị toán của tôi ra tiếp cứu. Khi gần tới tầu Trung Úy Bảo thì tôi bị tấn công bằng đủ mọi loại súng nặng. Chiếc monitor combat HQ 6007 của Trung Úy Bảo là mục tiêu đầu tiên cho địch khai hỏa. Bảo bị thương nặng. Tầu bốc cháy và chìm. Tôi cho lệnh 3 chiến đĩnh ủi thẳng vô bờ phản công. Ðịch đã xuất hiện với quân phục kaki vàng, nón cối rất đông. Chúng mở cuộc tấn công với mục đích cướp tầu, nhưng chúng không thể nào tiến tới gần tầu được.

Cuộc giao tranh rất khốc liệt. Toán giang đĩnh của Ðại Úy Triết tiến trở ra bị ngay mấy du kích hai bên bờ bắn tỉa làm Thiếu Úy Hiền và Ðại Úy David tử thương. Ðại Úy Triết bèn ra lệnh cho tất cả rút ra ngoài sông lớn nhưng toán của tôi vẫn nằm lì ở lại , vì đang đối đầu quyết liệt với địch. Chúng tôi đã tận dụng hỏa lực 40 ly, 20 ly, đại liên 50, 30, FM Bar. Ðịch quân không thể tiến lên được và chúng gục xuống sau những tiếng hô đồng nhất "xung phong".

Khẩu đại liên 30 bên trái ngưng nhả đạn, tôi quay qua sờ thấy đầu Trung Sĩ Ðức gục xuống, anh đã hy sinh. Tôi được lệnh Ðại Úy Triết phải rút ra ngoài. Tôi báo cáo tình hình và cho biết tầu tôi bị trúng rất nhiều đạn súng lớn, trong đó có bị một lỗ lớn, nếu rút ra sẽ bị chìm. Về nhân viên, có Trung Sĩ Ðức hy sinh, Trung Sĩ Thức thuyền phó monitor bị thương nặng ở chân. Một phóng viên AP bị một viên đạn vô ngực, ông ta rất tỉnh, nhưng báo sự nguy hiểm sẽ đến với ông ta. Vài phút sau khi gặp thì ông ta cũng ra đi. Số còn lại tất cả đều bị thương, nhưng vẫn còn chiến đấu hữu hiệu. Chúng tôi phải tận lực mới đẩy lui được những đợt tấn công cướp tầu của địch.

Khoảng 11 giờ đêm, tiếng súng thưa dần. Tôi yêu cầu Ðại Úy Triết cho vô tiếp cứu, nhưng vô hiệu.

Nằm lại một mình cho đến khi im tiếng súng , chúng tôi 9 thày trò đã chuẩn bị tất cả vũ khí cá nhân, lựu đạn để nếu tàu bị chìm , không ở lại tàu được thì sáng hôm sau sẽ tìm đường bộ về Cái Bè. Nhưng nhờ trước đó chúng tôi đã cho cột dây an toàn từ bít sau lái lên gốc cây trên bờ, nên tàu không bị vô nước, nhờ đó mới kèm kéo về an toàn..."


* * * * *

Con rạch Ba Rài bắt nguồn từ Quận Lỵ Cái Bè dài trên 10 cây số, chảy ra sông Cửa Tiểu theo hướng Bắc Nam. Lòng rạch hẹp, nơi rộng nhất ở ngã ba Ba Rài- Cửa Tiểu, hai bên bờ rạch không quá 100 mét. Con rạch cắt một góc chéo 25 độ rồi uốn khúc, tạo thành một doi đất, bề ngang doi đất không quá 600 mét. Vì thế từ cửa rạch không thể nhìn thấy phía trong. Hai bên bờ cây rậm rạp, những hàng dừa đứng chen nhau như thành. Suốt cả chiều dài của bờ rạch như thế, nên cuộc đụng độ giữa một đơn vị chủ lực Việt Cộng với các đơn vị của sư đoàn 7 Bộ Binh, có cả Thủy Quân Lục Chiến từ mấy ngày qua. Hai bên cứ cầm chân nhau , không bên nào tiến lui được. Hai bên đều nhìn thấy nhau, chỉ cách mấy hàng dừa. Quá gần cho nên không thể gọi pháo binh tác xa. Quá rậm nên không có chỗ để trực thăng đổ quân tiếp viện. Vì thế, Sư Ðoàn 7 Bộ Binh đã trông cậy vào Hải Quân: Giang Ðoàn 21 và 27 Xung Phong. Giang Ðoàn 21 là một đơn vị kỳ cựu, nhân viên và sông nước quen nhau, và cả địch lẫn ta quần nhau cũng lắm. Riêng Giang Ðoàn 27 Xung Phong vừa mới thành lập, dưới quyền chỉ huy của Hải Quân Ðại Úy Trần Văn Triết, một sĩ quan mới từ đơn vị biển đổi về sông. Sau mấy tháng huấn luyện, đây là lần đầu tiên Giang Ðoàn 27 Xung Phong đem toàn lực ra quân, với tất cả các chiến đĩnh của Giang Ðoàn 21 Xung Phong.

Nhiệm vụ của cuộc hành quân này là Hải Quân tiến vào rạch Ba Rài, hỗ trợ cho các đơn vị Bộ Binh rút từ Xã Xuân Sơn, phía Ðông rạch Ba Rài sang bên kia rạch. Hải Quân, cả hai Giang Ðoàn đã tiến vào. Dưới hỏa lực hùng hậu của các giang đĩnh, Việt Cộng đã án binh bất động. Ðơn vị bạn đã rút an toàn, và dùng tầu Hải Quân băng qua bên kia bờ. Tất cả đã diễn ra êm ả, từ 2 giờ cho đến 4 giờ chiều. Ðoàn tầu bắt đầu rút, nước đã xuống. Tàn cây che phủ lòng sông,tối, lạnh. Việt Cộng đã phục sẵn tại doi đất gần cửa rạch và bắt đầu tấn công vào đoàn tầu của ta. Ðây là một cuộc thử lửa khốc liệt giữa một đơn vị chủ lực của Việt Cộng và hai Giang Ðoàn được coi là tinh nhuệ của ta.

Dù trận chiến đã diễn ra trên 30 năm, nhưng may mắn thay, các nhân sự nòng cốt của cuộc thử lửa này, hiện ở Mỹ còn nhớ được, và đã thuật lại qua các câu trả lời trên giấy hoặc qua các cuộc điện đàm mới đây. Ðó là anh Nguyễn Ngọc Giang lúc ấy là Trung Úy, lên lon tại mặt trận trình bày ở phần trên; và anh Diệm, Ðặng Diệm, người lăn lộn với Giang Ðoàn 21 Xung Phong rất nhiều năm. Ðặng Diệm kể:

"Như anh biết, tôi cũng chẳng gan dạ gì, nhưng việc tới tay thì phải làm. Vùng sông nước này tôi hoạt động khá lâu nên khá rõ. Lúc đoàn tầu bị tấn công, tôi ở trên chiếc monitor command. Ðại Úy Davis và Thiếu Úy Hoàng Hiền cũng ỏ trên tầu này. Hiền bị đạn, lăn lộn dữ lắm, mấy người ôm anh ấy để tránh rớt xuống sông. Lúc đã rút ra ngoài sông lớn, Ðại Úy Triết đi Cái Bè họp với bên Bộ Binh. Trong Lúc ấy hệ thống truyền tin vẫn mở, tiếng Giang báo cáo, kêu cứu, tất cả các tầu đều nghe. Tôi kiểm chứng mật mã riêng với Giang. Giang trả lời rất nhanh. Tôi gọi 4, Giang đáplại ngay 9, để 9+ là 13. Con số 13 chỉ có hai đứa tôi biết mà thôi. Tôi tin là Giang không bị địch áp đảo. Giang tiếp tục kêu tiếp cứu gấp rút. Các thuyền trưởng họ cùng mở máy nghe, họ nóng ruột quá. Chỉ huy Trưởng thì đã đi họp. Tôi bèn lấy quyết định một mình vào cứu Giang, và yêu cầu ai tình nguyện thì theo tôi. Phải nói là lúc đụng trận thì mình không sợ, mình phản ứng tự nhiên. Giờ cuộc đụng độ đã tàn. Nhớ lại Lúc Ðại Úy Davis ngã xuống và Hoàng Hiền lăn lộn đầy máu, tôi cũng cảm thấy hãi chứ. Mà chắc gì địch không phục ở cửa sông. Có thể là chỗ tầu Giang đã yên, yên thật, hay yên giả. Nhưng làm sao khác được, tôi lấy một chiếc command, 2 LCM và 2 chiếc fom trở lại rạch Ba Rài. Tôi nói với Giang: " Khi nào nghe tiếng tầu tôi thì lấy đèn pin làm hiệu..." Phải nói là liều chứ anh, run lắm, sĩ quan chỉ có mình tôi. Con rạch tối om, lạnh ngắt. Khi nghe Giang báo cáo:" Tôi đã nghe tiếng tầu," là lúc tôi thấy ánh đèn pin lập lòe của Giang vẫy vẫy. Tôi cho hai chiếc fom khai hỏa phía bờ đối diện. Tầu tôi cặp vào tầu Giang. Ðón được Giang và các nhân viên trên chiếc combat qua tầu tôi, tất cả chúng tôi đều bê bết náu. Tầu tôi lùi ra, để cho hai chiếc LCM cặp vào chiếc combat kéo về. Lúc trở ra. Trời đã khuya lắm, có lẽ đã quá nửa đêm. Vừa đi vừa bắn. Về đến cửa Mỹ Tho, như anh biết là 4 giờ sáng. May mà không có sự gì xẩy ra, nếu tụi nó phục sẵn, mình làm sao mà không bị thiệt hại. Lúc ấy thật khó nói..."


* * * * *
Trong khi cả hai giang đoàn hầu như dốc toàn lực cho cuộc hành quân này, thì riêng tôi được phân nhiệm đem một chiếc LCM và hai LCVP, chở theo một trung đội bộ binh, đổ bộ bên tả ngạn sông Tiền Giang, đối diện với vùng hành quân trên để nghi binh. Tôi còn được chỉ thị kỹ chỉ cần đổ quân gần bờ, bắn cho có tiếng súng, đừng vào sâu, và phải rút về lúc quá trưa, để còn liên lạc với bên Tiểu Khu lo việc làm lễ gắn huy chương cho vị cố vấn tiền nhiệm, và cũng là lễ giới thiệu Ðại Úy Davis, tân cố vấn.

Như đã dự trù, tôi đem mấy chiếc tầu về đến căn cứ lúc 2 giờ, nằm ngủ một lát để lát nữa qua Tiểu Khu mượn ban nhạc, thì anh Trung Sĩ Vô Tuyến gõ cửa, tôi bảo " vào đi". Anh ta nói, mặt xám ngắt:

- Ông thầy xuống Phòng Vô Tuyến đi. Tôi chạy xuống ngay, đóng cửa lại, và mở cả hai hệ thống truyền tin. Tiếng súng vọng lại từ mặt trận dội về xen lẫn các cuộc đối thoại giữa các chiến đĩnh trên hệ thống chỉ huy. Có Lúc tiếng nổ dội về, và hệ thống âm thoại tắt.. .Ðúng là đụng to rồi. Tôi ra lệnh cho đóng cổng trại, cấm trại 100%, để sẵn sàng nhận lệnh từ mặt trận gọi về. Tất cả đã diễn tiến như anh Giang đã tả".

Khi tiếng anh Diệm êm ả gọi, cho hay:" Tụi này sẽ về đến căn cứ độ 40 phút nữa. Sẵn sàng xe cứu thương và y tá..."

Tôi khoác áo ấm đeo súng Colt và đèn pin đứng đợi tại cầu tầu cùng với xe cứu thuơng và cáng. Ðoàn tầu đã nhìn thấy lấp lánh tiến về từ từ cặp vào cầu tầu. Diệm bước lên đầu tiên, dìu Giang theo. Dưới ánh đèn vàng, chỉ thấy toàn người Giang đầy máu. Giang vẫn đi lại được. Tất cả nhân viên trên chiếc Tiền Phong Ðĩnh cuả Giang lên ngồi kín chiếc xe Hồng Thập Tự. Sau đó, một xe khác chở cái băng ca, xác cuả Ðức Râu vàng khè và toàn thân sũng máu.. Tất cả lặng lẽ di chuyển qua Bệnh Viện Dã Chiến. Các nhân viên còn lại, kể cả dưới tầu, trên căn cứ xúm lại lấy ống bơm xịt, rưả chiếc tầu vưà từ mặt trận về. Trời sáng dần, mặt sông đã óng ánh bóng nắng, và cũng là Lúc tôi nhận thấy nước từ trên chiến đĩnh chảy xuống vẫn đẫm đẫm máu đỏ.

Trời sáng hẳn, cả cầu tầu đã trở lại êm ả, sạch sẽ như thường lệ.

Tổng Kết Trận Ba Rài
Ðược chỉ huy bởi một vị sĩ quan vừa từ biển đổi về sông, kinh nghiệm chiến trận kể như còn "lỏng tay", đây là một cuộc tranh hùng khốc liệt. Dù địch đã chuẩn bị sẵn chiến trường, có đủ yếu tố bất ngờ, và giờ giấc thuận tiện: Lúc 4 giờ chiều, giờ của họ, nước thấp, chúng ở trên cao bắn xuống. Nhưng ta đã "đáp ứng"ngon lành. Không ai có con số chính xác về tổn thất của địch, nhưng xác địch nổi trên mặt sông nhiều gấp 3,4 lần bên xác của ta, đó là chưa kể số thương vong trên bờ mà địch đã vội vã mang đi chắc cũng không dưới 100, vì 57 súng đủ loại để lại là một chứng minh cụ thể. Bên ta tuy có một tầu chìm, số thương vong chưa quá 20. Và vũ khí được bảo toàn.
Tại đơn vị, những phái đoàn lên xuống tấp nập . Ðầu tiên là các cô nữ xã hội của Thiếu Úy Sa. Các cô đem dầu gió, vải trắng làm khăn tang.. Lần lượt là thân nhân của nhân viên đơn vị. Tất cả ngồi chật ních, rũ rượi ở Câu Lạc Bộ. Hải Quân Ðại Tá Trần Văn Chơn, Tư Lện Hải Quân cũng có xuống. Ông xuống thăm chiếc monitor combat HQ 6001. Ông nhìn lỗ thủng do đạn địch bắn vào, ông xòe bàn tay che chưa kín lỗ đạn, và nói với Giang:" Có bàn tay trời che chở cho anh..."

Trong lúc ấy tại khúc sông con rạch Ba rài, Bộ Binh đóng đầy. Những đám khói hương cắm dọc theo mé sông, những vũng máu đen đặc, tanh nồng. Vũ khí địch bỏ lại tất cả là 57 khẩu đủ loại. Dưới nước, tầu của mình ủi bãi. Nước vẫn lên xuống điều hòa. Lâu lâu từ dưới đáy sông lại trồi lên một xác. Tầu mình ghé lại lật xác lên nhận diện. Bạn thì vớt lên, lấy mền đắp lại. Ðịch thì đẩy ra cho trôi theo giòng nước. Mấy ngày sau, xác Bảo mới nổi lên. Trước khi nổi có một đám bọt xủi, rồi một cánh tay nhô lên trước. Tay phải. Bàn tay còn cầm cái bút nguyên tử mầu vàng... Bây giờ sau hơn 30 năm đã qua, tôi chẳng còn nhớ được kỹ. Chỉ biết chắc là Trung Sĩ Thinh từ nhà xác về, đem theo các thẻ bài là tôi ký giấy khai tử cho các người chết, kèm theo các thủ tục xin quan tài kẽm và lệnh di chuyển cho các quân nhân tháp tùng.


* * * * *
Một buổi trưa ngày nghỉ, tôi trực nhật, ngồi từ trên lầu phòng ngủ sĩ quan, nhìn qua bên kia Cù Lao Rồng. những mái nhà xen giưã mấy lùm cây. Trẻ con nô đuà dưới mé nước. Lấy ông nhòm nhìn kỹ vào phiá trong, có những ông già ngồi trước hiên nhà đang lặng lẽ uống rượu. Ðàn vịt, đàn gà chạy loanh quanh. Mấy bà già và các cô gái đun nấu gần đó. Cảnh trí êm ả, thanh bình. Nhưng tôi nghĩ: ''Rất có thể các ông già kia là các mật báo viên cuả phiá bên kia. Ðịch lăn lộn, trà trộn với dân thật là xảo quyệt.

Tôi đảo ống nhòm về phiá cầu tầu. Một đoàn chiến đĩnh nằm như ngủ. Riêng chiếc Tiền Phong đĩnh HQ 6001, tầu cũ cuả Ðức Râu, có mấy người lính đi lại. Tôi theo dõi, và tôi thấy họ xếp một điã đồ nhậu ra sàn tầu, một thùng bia Quân Tiếp Vụ. Tôi nghĩ: " Lại nhậu cho đỡ buồn đây..." Nhưng không phải thế. Mấy nhân viên ăn mặc đàng hoàng, ngồi sau các thứ họ vưà bầy ra, rồi bật diêm, đốt nhang, cắm vào một ly gạo. họ đang làm lễ, và tôi chợt nhớ, hôm nay 49 ngày cuả Ðức Râu rồi đây. Tôi muốn xuống với họ, xong tôi nghĩ:" Thôi để họ tự nhiên."

Cũng xung quanh thời gian ấy, một hôm cụ bà, thân mẫu của anh Hoàng Hiền tìm tới đơn vị để nhận lại các di vật của con. Cụ muốn lên căn phòng cũ, nơi HQ Thiếu Úy Hoàng Hiền đã ở. " Dạ, đây là giường nằm của anh ấy." Cụ ngồi xuống mé giường, lặng lẽ. Cụ xòe bàn tay gầy vuốt lên mặt nệm. Ðôi Lúc bàn tay cụ dừng lại như lắng nghe, như tìm chút hơi ấm nào của con còn sót lại. Cụ ngồi khá lâu rồi đứng lên. Cụ nói:" Nhà tôi cũng bị chết vì Việt Cộng, giờ lại đến nó..." Cụ nói êm ả điều hòa như chuyện của ai. Mảnh sân đơn vị nắng bỏng. Cụ bước đi thong thả. Trên đầu cụ cuốn một mảnh khăn trắng dài, phủ xuống sau lưng. Bóng cụ đổ trên nền sân, cụ nắm chặt cây kiếm Hải Quân của cậu con trai trong lòng bàn tay nhăn nheo của cụ.

Bây giờ, đã cuối năm 1998, đọc cuốn Vietnam, the Decisive Battles, ( Những Trận Chiến Quyết Ðịnh tại Việt Nam), Tác giả, ông John Pimlott, có nói đến trận Ba Rài. Tôi đọc kỹ, đây là một trận đánh khác, nhưng cũng xảy ra tại nơi trên, nhưng thời gian trận sau diễn ra vào ngày 15 tháng 9 năm 1967, trước hai tuần lễ đầy hai năm sau trận mà hai Giang Ðoàn 21 và 27 Xung Phong đã chạm địch. Trong trận sau, các chiến đĩnh của Hoa Kỳ, loại mới, tối tân hơn (ATC), đã đụng với Tiểu Ðoàn 263 D của Việt Cộng. Phải chăng đơn vị này của địch đã đụng với Hải Quân Việt Nam trước đó. Trận sau , dù địch có yếu tố tình cờ và địa thế đã chọn sẵn, địch cũng đã để lại 79 xác chết.

Một sự trùng hợp nữa rất lạ lùng, trận 29 tháng 9 năm 1965, Ðại Úy Davis đã chết. Trận sau, cũng có một sĩ quan Mỹ tham dự trận đánh, tên ông cũng la Davis (Wilbert). Ông ta sống. Và nơi diễn ra trận đánh đã được Mỹ đặt cho một cái tên ngộ nghĩnh là Snoopy's Nose. V

ới tôi, tôi đồng ý với Giang rằng, nếu trận năm 1965, vị chỉ huy Giang Ðoàn 21 Xung Phong, HQ Thiếu Tá Huỳnh Duy Thiệp có mặt, tình thế chắc sẽ khác hẳn. Và, Ðức Râu, vẫn dong duổi bén nhậy trên cặp Fom, con ngựa Xích Thố của Giang Lực, Việt Cộng khó có khả năng khai hỏa êm xuôi như vậy. Chính trận này, lần đầu tiên chúng dùng B 40 công phá đoàn tầu.

Ðối Phương Ðã Nói Gì Về Trận Ba Rài

Trong tập tài liệu lưu hành nội bộ nhan đề "Những Trận Ðánh của Lực Lượng Võ Trang Ðồng Bằng Sông Cửu Long", do nhà Xuất Bản Quân Ðội Nhân Dân, Hà Nội, năm 1997, trận Ba Rài đã được viết lại tỉ mỉ, và chiếm một số lượng trang từ 104 đến 126, người viết đề tên Trung Tá Nguyễn Thanh Sơn. Ðây là một bài viết công phu, từ những nhận định địa hình, thời tiết, tình hình lực lượng hai bên, tình hình dân chúng, những giả thuyết trận liệt, rồi diễn tiến trận đánh và cuối cùng là kết quả và ý nghĩa của trận này.
Từ đó ta biết rằng đơn vị đối đầu với ta tại Ba Rài ngày 29 rạng 30 tháng 9 năm 1965, là tiểu đoàn 261. Tiểu Ðoàn này đã được trang bị vũ khí nặng. Riêng "Ðại Ðội Bộ Binh 1" của Việt cộng, có nhiệm vụ " chận đánh tầu địch trên sông Ba Rài", có 3 khẩu DKZ 57 ly, 2 khẩu 12ly 7, và ba khẩu B 40. Trận đánh đã diễn ra ác liệt, phù hợp với những ghi nhậncủa phía HQVN ta. Có điểm kết quả trận đánh thì chúng khoác lác rất lạ, Việt Cộng viết nơi trang 119 rằng:

"Sau một ngày chiến đấu, ta đã tiêu diệt 500 tên địch. Bắn cháy và chìm tại chỗ 5 tầu chiến (có một tầu đầu hàng). Thu một cối 81 ly, 1 súng 12,7 ly, 2 đại liên, 8 cac bin, 1 máy vô tuyến điện và nhiều quân trang quân dụng khác. Phá hủy một DKZ 5 ly,1 súng 12,7 ly. Bắn rơi 5 máy bay.

Ta hy sinh 18 đồng chí (có 3 cán bộ trung đội).
Bị thương 32 đồng chí. Bị phá hỏng 1 B 40 và 4 súng tiểu liên".

Thưa anh Nguyễn Thanh Sơn, không biết anh đã căn cứ vào đâu để coóthể có kết quả như trên. Nếu có thì giờ, anh hãy lục lại loạt bài nhan đề " Ðoàn Tầu Ði Vào Cõi Chết Ðể Tìm Ra Lối Sống", đăng liên tục nhiều ngày khoảng đầu tháng mười năm 1965, trên nhật báo Tiền Tuyến, Sài Gòn, người viết đã ghi lại đầy đủ chi tiết về phía Quân Lực Việt Nam. Có đầy đủ các thiệt hại, và tên tuổi của người đã nằm xuống trong trận này. Ðó là một trận đánh quả có gây xúc động tới các giới chức cao cấp của chúng tôi, vì trận này sĩ quan Hải Quân chết nhiều nhất: Hai người là Trần Ngọc Bảo và Hoàng Hiền. Phía Mỹ, Ðại Úy Davis, vị tân cố vấn vừa đáo nhậm, đây cũng là lần đầu tiên các anh đã xử dụng B 40 đánh phá đoàn tầu. Một loại vũ khí mới và rất công hiệu. Và chúng tôi rất tiếc, "Con Ngựa Xích Thố của Giang Lực", Trung Sĩ I LêPhước Ðức, người mà phía các anh đã khiếp hãi, đã treo giải" ai giết được Ðức Râu thì sẽ được trọng thưởng.." Ðó là nỗi đau đớn, thiệt hại của chúng tôi. Quả các anh có bắn cháy và chìm 1 chiếc tầu,trên có Bảo ,bạn tôi chỉ huy. Tầu chìm, rồi chúng tôi lại vớt lên, kéo về. Một chiếc khác bị thiệt hại nặng, trên đó có Giang điều động. Chiếc tầu đó có thủng, không chạy được, nhưng đã không chìm. Phía các anh đã nhiều phen vừa hô "xung phong" vừa ào lên định cướp tầu. Mỗi lần như thế, lại một lần phía các anh gục xuống. Chỉ riêng với chiếc tầu này, khách quan mà nói, con số 20 người cết về phía các anh, có lẽ là con số quá nhỏ. Làm gì có chiếc tầu nào hàng các anh đâu? Trong khi đó, như bài viết ở trang 113, các anh đã phải đối đầu với" 7 tiểu đoàn bộ binh, 8 khẩu 105 và 155 ly trực tiếp chi viện. Trên sông có 12 chiếc tầu chiến. Ngoài ra còn có phi cơ các loại tập trung chi viện cho cuộc hành quân càn quét này."


Thưa anh Sơn, có thể các anh đã ước định sai số quân bên phía chúng tôi. Xin hãy giả thử chỉ một nửa quân số nói trên, họ lại là một loại binh chủng mà các anh kêu là "ác ôn, lính thủy đánh bộ," họ đâu có phải là hàng chuối ở vườn, đứng im cho các anh tới hạ. Nếu quả các anh có một may mắn nào đó, tiêu diệt được độ một trăm người, tôi nghĩ cũng đã là oanh liệt lắm. Chiến công ấy do ai chỉ huy, ai là những " xạ thủ ngoan cường" của các anh, sao không thấy các anh nhắc đến?


Những luận cứ vu vơ đó chỉ làm cho tập tài liệu của các anh trở thành một trò cười, không còn một chút khả tín nào nưã. Chỉ có "18 đồng chí hy sinh," vậy thì 57 khẩu súng đủ loại bỏ rải rác hai bên bờ sông Ba Rài là của ai. Các vũng náu đen đặc, và những xác chết nổi lên không đếm được trên sông Ba rài, các xác đều mắc quần áo kaki Nam Ðịnh, là xác chết nào hở anh Sơn ???

Thưa anh Sơn

Khi cuộc chiến còn đang tiếp diễn, các anh cần thổi phồng chiến công để tuyên truyền, chúng tôi đọc đến nỗi phải phì cười nhưng vẫn còn thông cảm được. Nay cuộc chiến đã tàn. Cả khối Cộng Sản đã vỡ. Các anh đã phải mở cửa để long trọng đón kẻ thù cũ là " Ðế Quốc Mỹ" vào như một thượng khách. Sự thực về cuộc chiến đã được từ từ phơi bầy. Lẽ ra đây là lúc các anh phải thật khách quan, tìm hiểu, đối chiếu tường tận để trả sự thật cho sự thật. Ðó mới là thái độ trí thức của người viết sử. Anh đã không làm thế. Các anh đã không làm thế. Riêng anh, anh Sơn, anh viết bừa bãi, cẩu thả, đã đành. Trên anh còn có ông Phó Tiến Sĩ Phạm Gia Ðức, người chịu trách nhiệm xuất bản. Ông Ðức có lẽ đã không thèm nhìn lại bài viết của anh. Hoặc có đọc mà không có khả năng suy xét, nhận thức. Phải chăng ông ta là một ông tiến sĩ giấy ? Học vị càng cao chỉ càng làm cho trò cười thêm lớn. Tuy nhiên nói đi cũng phải nói lại, chính sự ngộ nghĩnh nghịch lý nói trên đã giúp phía chúng tôi ít phải mất thì giờ so sánh, biện bạch. Và bên cạnh đó, anh Sơn còn dẫn một câu (mà không nêu rõ danh tánh) rằng:" Trận đánh này chỉ huy tiểu đoàn bộ binh 261 đã xác định lực lượng nguy hiểm trực tiếp trước mắt là đoàn tầu chiến trên sông Ba Rài" (trang 123). Thế là đủ.

Tôi xin dừng ở đây nghe anh Sơn. Trước khi bài này được in và chuyển ngữ, chúng tôi sẵn sàng đón nhận ý kiến từ mọi phía, kể cả tác giả bài viết của nhà xuất bản Quân Ðội Nhân Dân, Hà Nội.

* * * * *
Ôi Những Anh Linh Bên Giòng Sông Cũ


Bây giờ, tính từ năm 1967 đến nay, đã trên 30 năm. Cuộc chiến cũ đã nhạt nhòa. Người chiến binh Mỹ đã trở lại Việt Nam du lịch. Những con thuyền gỗ có mái che, chở các du khách lướt trên mặt nước đục ngầu Cửu Long Giang được in trên các báo Mỹ. Và tôi chắc, từ hải ngoại, có lẽ đã không thiếu bà con, bằng hữu chúng ta trở lại thăm thân nhân, chốn cũ. Có ai đã tới Mỹ Tho không? Trước khi đến Mỹ Tho, từ Sài Gòn đi xuống bằng Quốc Lộ 4, chúng ta gặp tỉnh lộ 29 xuôi Nam. Qua Mỹ Hạnh Trung, vào Tỉnh Lộ 20, tới Long Ðiền, rẽ trái vào Tỉnh Lộ 12 ta sẽ đi qua một vùng đau khổ cũ. Phía mặt là Cẩm Sơn, phía Nam là Hiệp Ðức, Xuân Sơn, ta sẽ gặp con rạch Ba Rài ở giữa đoạn đường này, tính từ Long Ðiền đến An Phú. Nơi đây vườn cây xanh tốt. Mận ở vùng này nổi tiếng dòn, đỏ au như xác pháo hồng mùa Xuân. Con rạch Ba Rài ấy có các con thuyền đi lại. Các cô thiếu nữ má hồng trong áo bà ba tươi mát, quần Mỹ A óng ả. Dưới sông trẻ nhỏ bơi tắm nô đùa. Các cô gái và trẻ em này được sinh ra và lớn lên sau cuộc chiến đã tàn. Họ có biết đâu rằng, dưới lòng con rạch này,chắc còn có những nắm xương nằm từ bao năm cũ. Và hàng cây bên sông, cây già trăm tuổi, có còn nhớ một thời khói lửa đã bùng lên, và nếu ai tỉ mỉ, xem lại các thân cây, những vết đạn cũ, chắc có những đầu đạn sản xuất made in USA, và có cả những đầu đạn từ Nga Sô, Trung Cộng đem lại. Những người trai của cả hai bên trận tuyến, có khi là anh em một nhà, bạn bè một quận... đã phải ào ạt giết nhau. Những linh hồn oan khuất chắc còn lẩn khuất bên các gốc cây xưa.

Ôi những anh linh kẻ Nam Người Bắc
Chết là oan cho một cuộc tương tàn


Là quân nhân Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, chúng ta đã làm tròn xứ mạng được trao cho. Thời cuộc đã gọi, ta nhập cuộc. Chúng ta đã anh dũng hành động. Bạn bè ta đã anh dũng hy sinh. Các bạn đích thực là những kẻ anh hùng. Tôi ao ước có một ngày về thăm chốn cũ. Tôi sẽ ngồi bên bờ con rạch Ba Rài, dưới bóng mát của các cây ăn trái, tôi sẽ cầu nguyện, sẽ đọc một thời kinh Giải Oan cho những người năm xuống tại nơi này. Hỡi Nguyễn Ngọc Bảo, hỡi Hoàng Hiền, hỡi Lê Phước Ðức, tức Ðức Râu, và bao nhiêu người nữa. Tôi ngưỡng mộ các anh. Xin các anh hãy lắng lòng nghe kinh mà siêu thoát. Tổ Quốc ghi công các bạn.



--------------------------------------------------------------------------------
Phan Lạc Tiếp
Tháng 11/98 - 2/99
* Bài viết này được cô đọng qua các cuộc phỏng vấn bằng thư, bằng điện thoại giữa người viết và anh Nguyễn Ngọc Giang, Ðặng Diệm, trong phần có dấu ngoặc kép" " là nguyên văn lời các anh ấy phát biểu.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Vết xích chiến xa trong lửa khói...
Hải Triều
(Nam Cali ngày 19/6/2006)


Cộng sản Bắc Việt không thắng trên chiến trường Nam Việt Nam bằng du kích chiến mà bằng trận địa chiến. Các trận đánh dẫn đến sự sụp đổ miền Nam hoàn toàn do trận địa chiến. Hiệp định Ba Lê do Mỹ và Hà Nội áp đặt với sự thỏa thuận của cả Moscow và Bắc Kinh, cho phép Hà Nội đưa quân bộ chiến và chiến xa vào Nam, bất chấp hiệp định Geneve 54 và Ba Lê 73 trong những năm sau cùng trước 1975 hoàn toàn là để dàn ra những trận địa chiến mà chủ yếu là bộ binh và chiến xa. Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 72 từ Cao Nguyên đến Quảng Trị, cuộc hành quân Lam Sơn 719 qua Nam Lào... và sau cùng là trận Xuân Lộc, Long Khánh từ giữa tháng 4/1975 đều là trận địa chiến với bộ binh, pháo và chiến xa. Chúng ta mất miền Nam hoàn toàn không phải vì khả năng chiến đấu của chúng ta thua sút Bắc quân, mà từ ý đồ và kế hoạch bức tử QLVNCH và miền Nam của Hoa Kỳ.

Nhìn lại chiến trường năm xưa, những cuộc không chiến và hải chiến giữa Việt Nam Cộng Hòa và miền Bắc cộng sản vô cùng hiếm hoi, nếu không nói là không có trên qui mô của một cuộc chiến tranh rộng lớn và toàn diện.


Trên trận địa, cuộc đối đầu giữa QLVNCH và Bắc quân đa phần là giữa quân bộ chiến và chiến xa. Trong bài viết ngắn này, người viết chỉ xin đề cập đến vài nét tiêu biểu về vai trò quan yếu của Thiết Kỵ QLVNCH trên các trận địa chiến nhìn qua các trận đánh chiến xa trong các bài viết trong hai tập "Những Trận Ðánh Không Tên Trong Quân Sử", tập 1 năm 2003 và tập 2 năm 2006.


Trong tập NTÐKTTQS 2003, hầu như tất cả độc giả ai cũng để ý đến hai trận đánh dữ dội và thần kỳ của Thiết Kỵ tại khu nghĩa địa thành phố Kontum giữa tháng 4/1972, trận đánh chiến xa M41 thần kỳ trên đỉnh Chu Pao cuối tháng 4/1972, và trận đánh này được giới Thiết Kỵ các nơi coi là có một không hai trong quân sử Thiết Giáp thế giới. Lý do là không có trường thiết giáp nào của cả khối cộng lẫn khối Tây phương huấn luyện đánh chiến xa trên đỉnh núi.


Image

Trong trận Chi Ðoàn 1/8 M41 Thiết Kỵ leo núi nhổ chốt Chu Pao (NTDKTTQS 2003 trang 174 đến 183), anh bạn sĩ quan Thiết Kỵ của tôi (LÐL) nói ông Ðại Tá Lý Tòng Bá thời đó đã "ban một cái lệnh quái đản", nhưng nếu không có "cái lệnh quái đản" này thì mấy cái chốt oan nghiệt của VC trên đỉnh Chu Pao khó mà bứng đi được...

- "Ðại tá Lý Tòng Bá bóp trán, ông xoay người nhìn khắp núi rừng, nhìn lên đỉnh Chu Pao; bỗng mặt ông nghiêm lại khi nhìn qua tôi (Chi đoàn trưởng Lê Quang Vinh), và như một thứ lệnh bất ngờ từ trên trời, vị tư lệnh Sư Ðoàn nói như đinh đóng: Toàn thể gia đình Tài Lực 1/8 phải nhổ xong chốt Chu Pao nội trong ngày hôm nay! Không cần đợi phi pháo!

Tôi choáng váng, bất ngờ:

- Thưa Ðại Tá Tư lệnh! Nhổ bằng cách nào?

- Cho chiến xa leo lên đỉnh Chu Pao! Chi đoàn sẽ sử dụng con đường mòn xe be kéo gỗ khi xưa để tiến lên đỉnh núi. Con đường không sử dụng đã lâu đó nay đã ngập cây rừng, nhưng chiến xa có thể càn qua được. Ðịch không thể ngờ ta dùng con đường này. Anh cho anh em thám sát ngay và hành động gấp cho tôi!

Sau khi nhận lệnh, tôi đờ người ra, đầu óc xoay tròn những ý nghĩ không có đáp số..." (Trích NTÐKTTQS 2003, trang 177)

Thế nhưng, Chi đoàn Chiến xa 1/8 đã có đáp số: Thiết kỵ đã đánh một trận thần sầu nhổ chốt cộng sản trên đỉnh Chu Pao mà chưa có một đơn vị thiết kỵ nào trên thế giới làm được.

Trong tập Những Trận Ðánh Không Tên Trong Quân Sử 2006, cũng Chi Ðoàn Chiến Xa 1/8 trước đó, tháng 1/1971 đã được lệnh tiến qua Nam Lào theo đường 9, sâu tận đất Lào, đến căn cứ Bravo để làm nút chậm yểm trợ các cuộc lui quân của quân bạn ra khỏi Nam Lào, chận cuộc tiến quân của chiến xa và bộ binh địch truy đuổi quân bạn. Và cuối cùng, khi chiến xa và bộ binh địch xuất hiện thì Chi đoàn Chiến Xa 1/8 một thân một mình, không pháo binh, không bộ binh, không phi cơ, mất liên lạc với Bộ Chỉ Huy Chiến Ðoàn... đã đánh trả cản đường chiến xa và bộ binh địch trong những tình hướng vô cùng nghiệt ngã bằng tất cả sự can đảm, trí thông minh và những gì có trong tầm tay.

Trong quân sử, dường như không có một trận đánh nào mà Thiết Kỵ phải đánh một mình, trên trời không có ai, dưới đất không có ai. Chi đoàn vừa chiến đấu vừa di chuyển từ căn cứ Bravo về căn cứ Alpha, vừa đánh trả những cuộc phục kích, bao vây dưới những trận mưa pháo kinh người của địch. Thoát về gần căn cứ Alpha, Chi Ðoàn và một quân số nhỏ (khoảng một Trung Ðội Dù vừa được tăng phái) đã bị địch vây đánh biển người cấp Trung Ðoàn ở ba ngọn đồi trên đất Lào cách căn cứ Alpha vài cây số. Chi Ðoàn đã đánh trả ác liệt gây tổn thất vô cùng nặng nề cho Bắc quân. Xác và vũ khí địch la liệt trên mấy sườn đồi khi Chi đoàn 1/8 rời trận địa đoạn hậu cho cuộc lui binh khỏi Nam Lào.

Trên đường về Khe Sanh, vừa qua khỏi nhà tù Lao Bảo, Chi Ðoàn1/8 lại bị vây bủa bởi mưa pháo và bộ binh địch, rồi lại một mình phản kích, tấn công đánh trả để đưa Chi Ðoàn và quân bạn về được Khe Sanh. Người ta không thể tưởng tượng nỗi Chi Ðoàn 1/8 Chiến xa đã hoàn tất nhiệm vụ của mình trong một tình huống gần như cô đơn, tuyệt vọng như vậy.

... "Ðoàn xe do Chi Ðoàn 1/8 dẫn đầu tiếp tục di chuyển sau phát đại bác cứu bồ quân bạn. Các chiến xa Hoa Kỳ nằm dọc dài theo trục lộ, mỗi xe cách 200 mét giữ an ninh cho đoạn đường về tới Khe Sanh.

Chiều xuống dần. Vinh cảm thấy màn đêm hôm nay khác màn đêm mấy hôm trước, niềm vui đã tái sinh, bóng dáng tử thần cũng biến đi đâu mất, dù Khe Sanh vẫn chưa là nơi an toàn khỏi tầm pháo địch. Khi Chi đội 1 đầu tiên tiến vào Khe Sanh được lệnh bố trí ở vườn cà phê phía Nam con lộ, lần lượt sau đó là các chi đội.

Anh em hậu trạm túa ra nhìn đoàn xe trở về. Vinh còn ngồi trên xe chỉ huy vừa ngừng, anh thấy gương mặt quen thuộc của Thượng sĩ Nguyễn Văn Tam, Hạ sĩ quan tiếp liệu hành quân của Chi đoàn, 2 tay bưng nồi cơm đứng bên đường, mắt dán vào đoàn xe dưới ánh đèn mờ của căn cứ. Chợt thấy dấu hiệu bên hông xe Chỉ Huy M113 của Chi đoàn 1/8, anh ném nồi cơm xuống đất, nhào r a xe và bật khóc. Vinh ngạc nhiên nhảy khỏi xe:

- Thượng sĩ Tam! Có việc gì mà anh khóc vậy?

- Alpha! Chúng tôi nghe tin cả Chi đoàn mình bị địch đánh tan ở căn cứ Alpha, toàn bộ anh em bị hy sinh hết ráo, chúng tôi đau lòng không muốn trở về nữa. Bây giờ thấy Chi đoàn trở về, tôi mừng quá nên khóc!…." (NTÐKTTQS 2006 trang 214)

Sức chiến đấu và sự sống còn của Chi Ðoàn 1/8 Chiến xa trong trận Nam Lào có một cái gì vô cùng kỳ diệu, và nó là một trong nhưng niềm hãnh diện của Thiết Kỵ nói riêng và QLVNCH nói chung. Ðọc bài Chi Ðoàn 1/8 Chiến Xa và đường vào Nam Lào oan nghiệt (NTÐKTTQS trang 192 - 216)

Trong bài "Chi đoàn 2/20 Chiến xa M48 và TQLC tái chiếm căn cứ Phượng Hoàng" của tác giả Trần Thúc Vũ (NTÐKT 2006/trang 217) có một đoạn trong phụ trang (trang 339/ NTÐKTTQS 2006), anh Trung Chĩnh, Bác sĩ của TÐ6TQLC có mặt tại trận địa Phượng Hoàng đã kể (và Hải Triều viết tiếp)...

- "Khuya 8/4/1972, Tiểu đoàn trưởng TÐ6/ TQLC, Thiếu tá Ðỗ Hữu Tùng, bố trí 2 đại đội trong căn cứ và 2 đại đội nằm ngoài căn cứ. Khuya 8/4 hôm đó, Bắc quân pháo dữ dội rồi ồ ạt tấn công bằng cả chiến xa lẫn bộ binh vào căn cứ Phượng Hoàng. Biển người và chiến xa địch, vừa dứt pháo là tràn vào căn cứ như nước vỡ bờ với hỏa lực mạnh của chiến xa và bộ binh tùng thiết.

Lần đầu tiên anh em TQLC đụng chiến xa địch và quân số địch đông gấp bội, các đơn vị TQLC phải rút khỏi Phượng Hoàng. Ðịch chiếm căn cứ Phượng Hoàng trong đêm đó. Và ngay hừng sáng hôm sau, ngày 9/4, chiến xa địch khai hỏa truy kích TQLC trên đường thoát khỏi lưới lửa địch. Lúc đó, Chi đoàn 2/20 M48 do Ðại úy Hà Mai Khuê trên đường tiến về Phượng Hoàng, gặp TQLC trên đường lui quân. Chiến xa M48 phối hợp cùng TQLC do Thiếu tá Ðỗ Hữu Tùng chỉ huy và cả Bác sĩ Trung Chĩnh lên chiến xa quay trở lại Phượng Hoàng. Khi chiến xa M48 tiến vô Phượng Hoàng với TQLC tùng thiết, thì các chiến xa địch đuổi theo TQLC quay lui trở lại căn cứ mà họ đã tấn công và chiếm khi họ bất ngờ gặp chiến xa M48 của Chi đoàn 2/20.

Ðến lượt M48 và TQLC bao vây địch trở lại. Cuộc ác chiến diễn ra giữa bộ binh địch và TQLC, đấu đại bác giữa M48 và các loại T54, T59 của địch. M48 là loại chiến xa lớn nhất của Thiết Kỵ/ QLVNCH có khả năng cơ động, bắn nhanh và chính xácà đã nhanh chóng bắn cháy nhiều chiến xa địch. Cùng lúc đó là những phi tuần khu trục của Không Quân, Cobra võ trang lâm trận oanh kích bộ binh và chiến xa địch. Hàng loạt tank địch bị TQLC và M48 bắn cháy cả bên trong lẫn bên ngoài căn cứ Phượng Hoàng, đó là chưa kể 3 chiếc thoát thân về hướng Ba Lòng bị các khu trục của Không Quân bắn hạ. Một chiếc tank địch bị bắt sống ngay trên căn cứ Phượng Hoàng..." (Trong trận này, Ðại úy phi công Trần Thế Vinh đã hy sinh...)

* * *


Trong cuộc chiến Việt Nam, một cuộc chiến mà quân ta bị buộc phải bó tay không được quyền thắng trong chiến lược của Hoa Kỳ, cũng như toàn thể các đơn vị quân binh chủng khác, Thiết Kỵ QLVNCH đã chiến đấu lẫm liệt trong tư thế vượt trội đặc biệt trước các chiến xa địch. Trận tử chiến cô đơn trên đất Nam Lào 1971, trận nhổ chốt địch trên đỉnh Chu Pao 1972 của Chi đoàn 1/8 Chiến xa, trận tái chiếm căn cứ Phượng Hoàng của Chi đoàn 2/20 Chiến xa M48 và TQLC tháng 4/1972... là một vài bằng chứng tiêu biểu cho nhận định trên.

Có lần cựu tướng Lý Tòng Bá tâm sự với người viết (Hải Triều) về một đơn vị Thiết Kỵ Việt Nam Cộng Hòa rằng... "Sư Ðoàn 23 BB đã phục hận cho SÐ 22 khi đánh tan các sư đoàn địch trong trận giải tỏa Kontum 1972 khi địch đã chiếm khu nghĩa địa trong thành phố. Trong trận này, nhiều người, kể cả giới chức Hoa Kỳ, đã nghĩ là Bắc quân sẽ lấy Kontum... Nhưng họ đã thảm bại. Thật ra công tâm mà nói, nếu không có Chi đoàn 1/8 Chiến xa tung hoành ngang dọc với chiến xa và bộ binh địch, tôi không hiểu tình thế hung hiểm sẽ ra sao!"

Người viết bài này không thuộc binh chủng Thiết Kỵ, nhưng cũng như những anh em trong các quân binh chủng khác, chúng tôi rất hãnh diện về khả năng và những chiến tích của các đơn vị chiến xa Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến bi hùng năm xưa.

Nhân nay, chúng tôi, nhóm chủ trương các tập "Những Trận Ðánh Không Tên Trong Quân Sử", xin minh xác lại cho rõ một đoạn văn liên quan tới Thiết Kỵ Việt Nam trong trận Phượng Hoàng... "Tôi được biết Thiết Ðoàn 20 Chiến Xa M48 có 3 Chi đoàn 1, 2 và 3. Ngày đầu cuộc chiến Quảng Trị bùng nổ, hai chi đoàn trưởng 1 và 3 đã di chuyển về Ái Tử và Huế và kẹt ở đó. Trung tá Thiết đoàn trưởng vô cùng bối rối khi dưới tay ông duy nhất chỉ còn lại Hà Mai Khuê với Chi đoàn 2/20 Chiến xa, và vì thế tham dự trận chiến khốc liệt phản công chiếm lại căn cứ Phượng Hoàng không ai khác hơn chính là Chi đoàn 2/20 Chiến Xa..." (Những Trận Ðánh Không Tên Trong Quân Sử 2006/tập 2/ trang 222)

Nhà văn Trần Thúc Vũ đã viết những dòng trên nay do những tài liệu anh thu thập được. Anh đã mất tháng 6/2005, nay chúng tôi, người chịu trách nhiệm thành hình tập sách thấy có một cái gì không rõ và cần phải được minh định trở lại, là vị trí hoạt động của hai Chi đoàn 1/20 và 3/20 Chiến xa và những vị Chi đoàn trưởng có thể đang ở một mặt trận nào đó trên chiến trường Quảng Trị chứ không chắc đã lui quân về Ái Tử hay Huế. Và Trung tá Thiết đoàn trưởng đã chỉ thị chi Chi đoàn 2/20 tiến về Phượng Hoàng vì Chi đoàn 2/20 hoạt động gần Phượng Hoàng nhất vào thời điểm dầu sôi lửa bỏng đó.

Tác giả bài viết nay không còn, đại diện Nhóm Nhà Văn Quân Ð?i trách nhiệm việc thực hiện tác phẩm NTÐKTTQS, chúng tôi xin được viết lại cho rõ và chân thành nhận trách nhiệm và tạ lỗi cùng quý Niên Trưởng và chiến hữu thuộc Thiết Ðoàn 20 Chiến xa về những sai sót vô tình và ngoài ý muốn trong bài viết.

Hải Triều
Nhóm Nhà Văn Quân Ðội
604.879.1179
(Bài viết này được post lên internet và sẽ chạy đăng trong NTÐKTTQS tập số 3)

* * *

Image

Thư yêu cầu đính chính:

Vào những ngày chót trước khi tập NTÐKTTQS 2006 bắt đầu trình làng tại Phòng Sinh Hoạt Nhật Báo Viễn Ðông chiều 24/6/2006, chúng tôi tiếp xúc được với Kỵ Binh Hà Mai Khuê, nhân vật được đề cập trong bài viết liên quan tới Chi đoàn 2/20 Chiến xa (NTÐKTTQS 2006 từ trang 217 đến 225). Anh đã có một thư ngắn gửi đến nhóm chủ trương tập NTÐKTTQS ngày 19/6/2006 minh xác như sau:

Kỵ Binh Hà Mai Khuê

Oceanside, CA ngày 19 tháng 6 năm 2006

Kính gửi Nhà Văn Quân Ðội Hải Triều và Nhóm Nhà Văn Quân Ðội

Sau đây là nguyên văn một đoạn ngắn trong trang 222 /NTÐKTTQS tập 2:

... "Tôi được biết Thiết Ðoàn 20 Chiến Xa M48 có 3 Chi đoàn 1, 2 và 3. Ngày đầu cuộc chiến Quảng Trị bùng nổ, hai chi đoàn trưởng 1 và 3 đã di chuyển về Ái Tử và Huế và kẹt ở đó. Trung tá Thiết đoàn trưởng vô cùng bối rối khi dưới tay ông duy nhất chỉ còn lại Hà Mai Khuê với Chi đoàn 2/20 Chiến xa, và vì thế tham dự trận chiến khốc liệt phản công chiếm lại căn cứ Phượng Hoàng không ai khác hơn chính là Chi đoàn 2/20 Chiến Xa..."

Với tư cách là một Kỵ Binh thuộc Thiết Ðoàn 20 Chiến Xa M48, người chỉ huy Chi đoàn Chiến Xa M48 đã tham dự trận tái chiếm căn cứ Phượng Hoàng sáng ngày 9 tháng 4 năm 1972, tôi trân trọng xác nhận những chi tiết kể trên trong trang 222/NTÐKTTQS, tập 2 là không đúng sự thật.

Ngay từ ngày đầu mùa Hè 72, Trung tá Nguyễn Hữu Lý, một cấp chỉ huy tài giỏi, nhiều uy tín của binh chủng Thiết Giáp, đã được BCH/TG/QLVNCH đề cử chỉ huy Thiết Ðoàn Chiến Xa M48 đầu tiên của QLVNCH, đã kịp thời điều động toàn bộ Thiết Ðoàn 20 Chiến Xa M48 lập tuyến án ngữ phía Nam Ðông Hà 3Km để ngăn chận quân cộng sản Bắc Việt tiến vào Quảng Trị. Chi đoàn trưởng Chi đoàn 1/20 Chiến Xa là Ðại úy Nguyễn Hữu Xứng và Chi đoàn 3/20 CX là Ðại úy Ðoàn Chí Sanh. Hai Chi đoàn trưởng kể trên đều có mặt tại tuyến án ngữ. Ðại úy Sanh và Ðại úy Xứng là những sĩ quan đầy tài năng và đã thụ huấn tại trường Thiết Giáp Hoa Kỳ Fort Knox tại tiểu bang Kentucky.

Tôi yêu cầu nhà văn Hải Triều và Nhóm Nhà Văn Quân Ðội ghi nhận và đính chính những chi tiết sai sự thật kể trên (trang 222 từ dòng thứ 24.)

Trân trọng
Kỵ Binh Hà Mai Khuê.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Vũ Văn Ước: “đưa người ta, không đưa qua sông”
Giao Chỉ – San Jose 2006, Jul 09, 2006


Cali Today News - Lịch sử không phải chỉ là chuyện 4,000 năm trước. Đôi khi, lịch sử ngồi bên cạnh ta. Hãy hỏi thăm, lịch sử sẽ trả lời, bởi vì mỗi cuộc đời là một câu chuyện lịch sử.


[left]http://img.photobucket.com/albums/v283/ ... anuoc2.gif[/left]Câu chuyện phi công già Vũ Văn Ước đưa đám ma Pilốt Air “Marốc” Mai Văn Hạnh ngay tại Orange County mấy năm trước đã làm tôi mất ngủ. Câu thơ của Thâm Tâm vốn là lời than thở của ái tình mà sao lại vận vào chuyện đưa đám tang chiến hữu. Mai Văn Hạnh từ Pháp qua chơi Hoa Kỳ, chết ngày 31 tháng 8-2001, hưởng thọ 73 tuổi.

“Đưa người ta, không đưa qua sông. Sao có tiếng sóng ở trong lòng.”

Nhưng mà Vũ Văn Ước là ai? Mai Văn Hạnh là ai?

Thưa quý vị, nếu quý vị tuổi trẻ tài cao sẽ không biết chuyện anh em chúng tôi. May ra quý vị xồn xồn và thất thập bất lão mới biết danh tiếng các bạn chúng tôi. Ai là người ra đi và ai là người đưa đám.

Mai Văn Hạnh là Pilot Không Quân Việt Nam từ thời kỳ sĩ quan quốc gia còn đeo lon gạch vàng và mặc quần xoọt trắng. Thời thế thay đổi, các sĩ quan trẻ của Không Quân như Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh đi Tây từ sớm. Các bác phần đông ở lại Paris lấy vợ đầm đẻ con lai. Cả mẹ lẫn con đều mắt xanh, tóc vàng sợi nhỏ. Lê Quốc Túy xuất quân chỉ có cặp lon chuẩn úy nhưng sau này lại thành lãnh tụ. Còn Mai Văn Hạnh, ra trường thiếu úy gốc Tây lai sau này theo tướng Hinh về Pháp.

Nếu ở Việt Nam tài hoa như Mai Văn Hạnh có thể lái Air Việt Nam. Nếu ở Pháp khéo xoay sở có thể lái Air France. Nhưng bác Hạnh vợ đầm quay ra làm phi công hàng không dân sự cho Air Marốc và Air Algérie. Chuyện thật mà cứ như đùa.

Sau 30 tháng 4-1975, hai chàng cựu Không Quân Việt Nam Cộng Hòa tại Pháp lại trở thành các tay anh hùng chống cộng thứ thiệt. Họp với lãnh tụ sinh viên Trần Văn Bá, anh em tổ chức Mặt Trận Thống Nhất tìm đường Phục Quốc. Dân Việt chống cộng ở Paris tuy không nhiều, nhưng đã nói là làm. Lê Quốc Túy ở lại lo đầu cầu. Trần Văn Bá về Đông Nam Á xâm nhập miền Tây theo ghe thuyền từ Cam Bốt, Thái Lan. Chiến khu ba biên giới có 300 chiến binh đã thực sự lọt cả vào ngả Cà Mau, Minh Hải cả trăm tay súng.

Mai Văn Hạnh từ biệt vợ con về bằng máy bay qua Tân Sơn Nhất mang thông hành quốc tịch Pháp. Việc lớn chưa thành thì Bá bị bắt ở miền Tây và Hạnh bị bắt ngay tại Sài Gòn. Lê Quốc Túy lửa đốt trong lòng, chạy đôn chạy đáo ở Paris. Đảng viên bị bắt rất nhiều người kể cả em ruột của Túy là Lê Quốc Quân.

Phiên tòa xử tại Sài Gòn ngày 17 tháng 2-1976 trong nhà quốc hội cũ trên đường Catinat, Cộng sản bắc cả loa ra ngoài cho dân chúng ngồi coi. Dân “Ngụy” Sài Gòn ngồi cả ngày dài chờ đợi. Từng khuôn mặt đau thương nước mắt khóc thầm chảy xuống con đường Tự Do cũ. Tiếng thở dài giữ trong lồng ngực. Hình ảnh Video một thời vẫn còn được lưu giữ ở hải ngoại qua nhiều hãng truyền hình quốc tế. Khi bản án tử hình và chung thân đọc lên, một người hô to “Việt Nam Cộng Hòa muôn năm.” Công an lấy tay bịt mồm. Hình ảnh hào hùng và đau thương vẫn còn thấy rõ.

Ngồi xem TV tại Quận Cam, Vũ Văn Ước tưởng chừng trái tim tan vỡ. Ngày xưa, Ước và Hạnh là bạn cùng bay trên vùng trời bao la. Bây giờ ngồi đó bất lực nghe tin bạn bị lên án tử hình.

Đó là chuyện Pilốt Air Marốc Mai Văn Hạnh.



[left]http://img.photobucket.com/albums/v283/ ... anuoc2.gif[/left]Bây giờ là chuyện Pilot Air nhà binh của bác Vũ Văn Ước. Ông Ước vào Không Quân từ 1951, khóa sĩ quan đầu tiên học tại Nha Trang. Từ máy bay bà già, bay lạnh cẳng cô đơn trên trời Bắc Việt rồi đến bay trực thăng, khu trục và phản lực.

Vũ Văn Ước trở thành sĩ quan phi công trẻ của Việt Nam duy nhất được bổ nhiệm ra Bắc vào đầu thập niên 50, lúc quân ta còn làm việc với Không Quân Pháp.

Tuy phải thuyên chuyển về Bắc nhưng dù sao anh sĩ quan trẻ cũng là một lần trở lại quê nhà để có dịp kết duyên với một cô gái hàng Đào, người mà chàng Pilot hào hoa vẫn còn chung thủy cho đến ngày nay.

Chuyện đời Không Quân ái tình thì lăng ba vi bộ, còn máy bay thì cũng bị rớt đôi ba lần. Cả hai chuyện đều không nhớ hết. Đối với Vũ Văn Ước chuyện tình ái và bay bổng là chuyện ngày xưa.

Thời kỳ đó, gia đình bên ngoại có một ông anh vợ tên là Phạm Văn Thường bỏ nhà ra đi biệt tích bên trời Âu từ lúc còn thiếu niên. Phần ông Vũ Văn Ước sau Geneve 54 đem vợ Hà Nội vào Sài Gòn rồi gửi trọn một đời cho Không Quân Việt Nam. Đó cũng là giai đoạn chia tay với bạn Không Quân Mai Văn Hạnh. Tình bay bổng thắm thiết nhưng rồi mỗi người theo một phương trời.

Sau hơn 20 năm chinh chiến, ông Đại tá Vũ Văn Ước có lần bay phi vụ Bắc phạt ra Vĩnh Linh vào thời kỳ làm chỉ huy trưởng Liên đoàn Tác chiến. Sau, ông về làm tư lệnh Không đoàn 62 tại Nha Trang. Không đoàn này cải tổ thành Sư đoàn 2 Không quân đảm trách toàn thể không phận Vùng 2 Chiến Thuật. Ông là tư lệnh đầu tiên của SĐ2KQ được một thời gian chưa kịp gắn sao, thì về làm Đại tá Giám đốc Bộ chỉ huy Hành quân Không quân tại Sài Gòn.

Trong thời gian ở miền Nam có chuyện gia đình đặc biệt éo le đã xảy ra mà sau này mới biết. Số là người anh vợ lưu lạc giang hồ từ Pháp về Việt Nam nay đã thành Đại tá Phạm Văn Thường thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Hai đại tá Không Quân và Bộ Binh đã từng có lúc bắt tay nhau mà không biết có liên hệ chặt chẽ chừng nào. Ông Thường bỏ nhà ra đi từ nhỏ tưởng gia đình thất lạc hay là còn ở ngoài Bắc. Cô em gái là vợ Đại tá Ước thì tưởng là ông anh đã chết từ lâu ở phương trời Âu Á. Hai công tử Hà Nội bắt tay nhau ở Sài Gòn mà cứ như người xa lạ.

Vật đổi sao rời, tháng 4-1975, gia đình Đại tá Ước di tản và định cư tại Westminster. Đại tá Thường ở lại, đi tù cải tạo và sau đó vượt biên rất muộn phải ở lại trại tỵ nạn Đông Nam Á trong nhiều năm dài.

Sau cùng ông Thường qua Mỹ hoàn toàn cô đơn, được một hạ sĩ quan người Việt gốc Hoa, trước làm thợ điện cho ông thầy, nhận bảo lãnh. Chú hạ sĩ quan ngày xưa nay là chủ tiệm vàng cư ngụ tại thị xã Westminster.

Rồi vào một buổi chiều buồn, Giao Chỉ tôi được tin, chiến hữu Phạm Văn Thường chết tại Quận Cam. Thân quyến không có một người. Anh em Tổng Tham Mưu cũ họp nhau đưa đám Đại tá Thường về nơi vĩnh cửu. Sau lễ hỏa thiêu, tro tàn để tại nghĩa trang Quận Cam.

Tôi đọc bài điếu văn than cho phần số của ông đại tá già chết cô đơn không người thân nhỏ lệ bên linh cữu. Sau đó báo tin về cho vợ con tại quê nhà.
Và cũng tại Sài Gòn, thân quyến của ông Thường ở Hà Nội có dịp liên lạc được với vợ con. Đường giây nối qua cô em gái là vợ ông Đại tá Ước ở Westminster. Khi ông bà Ước tìm được ông đại diện Giao Chỉ ở Bộ Tổng Tham Mưu thì chỉ còn một đường ra thẳng nghĩa trang mà làm lễ cầu siêu.

Đất nước điêu linh, chiến tranh chia cắt. Hai anh em Bắc Kỳ cùng ở Sài Gòn 20 năm mà không biết để gặp nhau. Đất nước Hòa Bình, quốc gia thống nhất, mà sao cả hai anh em đều phải bỏ nước lưu lạc đất khách quê người. Cùng cư ngụ ở thành phố Westminster nhỏ bé bằng bàn tay trên 10 năm không gặp nhau. Sau khi ông anh đã chết thì cô em gái ngồi xe lăn mới được ông em rể đẩy ra nghĩa trang thăm nơi yên nghỉ sau cùng.

Bà Ước bị đau đã phải ngồi xe lăn trên 10 năm nay. Nếu ở nhà thì bà có thể xoay sở lấy, khi cần ra ngoài thì có Pilot Vũ Văn Ước lái xe lăn.

Trong hơn 10 năm qua, chàng Pilot già dọc ngang không biết trên đầu có ai, nay đã thành một tay đầu bếp và nội trợ số một của miền Nam California. Bài ca hay nhất chàng hát mỗi buổi tối là bài “Em ơi hãy ngủ, anh hầu quạt đây.”

Cuộc đời của bác Ước nhà ta tưởng chừng sẽ không còn nhiều bể dâu thiên hạ sự, nào ngờ lại có dịp gặp lại bạn xưa Mai Văn Hạnh.

Số là các anh chàng Phục Quốc từ Pháp về Việt Nam bị án tử hình thì Trần Văn Bá cùng các tử tội khác đều đã bị xử bắn vào 8 tháng 1-1985. Riêng Mai Văn Hạnh vào giờ chót vì là công dân Pháp được tổng thống và chính phủ can thiệp nên chỉ ở tù. Sau cùng đã được trả tự do về Pháp.

Chuyện sống chết của Mai Văn Hạnh quả thật hết sức đặc biệt. Sau khi bản án tử hình công bố, hai cô con gái lai của bố Mai Văn Hạnh đã hết lòng đấu tranh cho sinh mạng của cha. Các cô con gái hoàn toàn không biết việc ông Hạnh về nước bị bắt. Vẫn tưởng cha còn bay cho hàng không Algérie. Cho đến khi TV Pháp chiếu phiên xử án.

Chính phủ, quốc hội, báo chí và các hãng hàng không dân sự đều lên tiếng xin Hà Nội tha cho Mai Văn Hạnh.

Cuối năm 84, Hà Nội vẫn cương quyết từ chối.

Vào đêm giao thừa 1985, tổng thống Pháp đọc bản văn chúc mừng quốc dân năm mới đã yêu cầu toàn dân cầu nguyện cho một người Pháp sắp bị Hà Nội xử tội tử hình.
Tám ngày sau, trong khám Chí Hòa, cộng sản bắn ba tử tội. Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân và Hồ Thái Bạch.

Bá là con nhà cách mạng Trần Văn Văn đã bị ám sát chết tại Sài Gòn trước 1975. Lê Quốc Quân là em của Lê Quốc Túy. Và Hồ Thái Bạch là người đã cất tiếng hô “Việt Nam Cộng Hòa muôn năm” trong phiên tòa. Riêng Mai Văn Hạnh xuống án chung thân khổ sai và được thả tự do sau vài năm.

Nhưng rồi ngày tháng trôi qua, cũng như biết bao nhiêu số mệnh của các anh hùng cứu quốc, vợ con chung thủy có thể đợi chờ và cũng có thể không chờ đợi mãi mãi. Nhân một chuyến du hành từ Pháp qua Mỹ, Mai Văn Hạnh bây giờ lại cô đơn gặp chiến hữu Vũ Văn Ước tại Quận Cam. Anh em đã ca bài “Tha hương ngộ cố tri – Xa quê gặp bạn cũ.”

Bẵng đi vài tuần lễ, chợt có chú em của Hạnh điện thoại báo cho bác Ước biết là anh Hạnh đã đi rồi.

Đi đâu? Vũ Văn Ước hỏi lại. Người em trả lời: “Anh Mai Văn Hạnh đã chết rồi.” Đành rằng đã có sống là phải chết. Có sinh là có tử. Nhưng con người đã bị cộng sản Hà Nội lên án xử tử mà không chết, lẽ nào đi chơi Hoa Kỳ lại lăn ra chết. Nhưng đó là sự thật. Ông Ước tạm biệt bà vợ đang ngồi xe lăn, tất tả chạy đi đưa đám ma Mai Văn Hạnh.

Đám ma người anh hùng Không Quân Phục Quốc hết sức thê lương và trống vắng. Nhưng theo đúng ý nguyện người quá cố dặn lại chú em. Xin ai đừng hỏi vợ con thân quyến đâu cả. Sẽ không ai trả lời. Bạn bè có thể rất đông nhưng không cho ai biết. Đồng bào có thể rất đông nhưng không cho ai hay. Di hài đem hỏa thiêu nằm trong quan tài bằng bìa cứng. Đặt trên chiếc xe đẩy. Không có lá quốc kỳ thì làm gì còn nói đến lễ phủ cờ. Vàng hương cũng chẳng có. Một vài người thân hữu xa gần lốc thốc đi theo. Người anh hùng sống đã vô danh và chết cũng vô danh.

Đại tá Vũ Văn Ước đã từng là Tư lệnh Sư đoàn 2 Không quân trong vùng trời lửa đạn. Ngày xưa tuần nào mà chẳng có ngày đi đưa đám phi công và chiến hữu. Nhưng đám ma quân đội là phải lễ nghi quân cách đâu ra đấy. Bây giờ sống ở xứ sở văn minh hùng cường, phương tiện thiếu gì. Thế mà trở đi trở lại, có đám ma ông anh vợ hết sức cô đơn thì ông lại đến muộn. Còn đám ma bạn thân một thời bay bổng từ Á châu đến Âu châu, nay trời tạo cơ duyên hạ cánh lần chót ở Hoa Kỳ thì lễ an táng cực kỳ đạm bạc.

Có lẽ số của Pilot Air Marốc Mai Văn Hạnh là số của người tử tội sống thêm. Vì vậy, cái chết của ông cũng chỉ khá hơn bạn Phục Quốc Trần Văn Bá bị vùi dập sau loạt đạn xử án tử hình tại bức tường đẫm máu trong trại giam Chí Hòa.

Đó là lý do tại sao câu chuyện đi đưa đám ma người anh hùng Phục Quốc của bác Vũ Văn Ước đã làm tôi mất ngủ. Nhưng rồi nói lại cho cùng, tang lễ linh đình để mà làm gì. Không lẽ đã là đồng chí của Trần Văn Bá nhưng may mắn sống thêm được 20 năm, Mai Văn Hạnh đâu phải chỉ chờ đợi một đám tang huy hoàng hơn người tử tội chiến hữu một thời.

Đành phải coi như Pilot già Vũ Văn Ước đại diện toàn thể Không Quân Việt Nam tiễn đưa Mai Văn Hạnh. “Đưa người ta, không đưa qua sông. Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng.”

Nhưng ông Ước nhân chuyện đám ma còn nhắc lại biết bao nhiêu là hy sinh gian khổ của các bạn thân một nhà toàn Pilot. Mai Văn Hạnh có các em là Mai Văn Hiền, Mai Văn Hải đều là không quân và đều đã hy sinh.

Nhà họ Bùi có Bùi Quang Các, Bùi Quang Ninh và Bùi Quang Đài cũng đều là dân bay bổng và đã không còn nữa. Chết hết trong chiến tranh. Nhà họ Dương có Dương Thiệu Hùng, Dương Thiệu Cường và Dương Thiệu Ân thì hai anh đã hy sinh chỉ còn em ở Florida.

Ông Ước nói rằng, như vậy không quân chúng tôi hy sinh trước 75 và lại còn có các bạn tiếp tục đánh sau 75. Vậy Bộ Tổng Tham Mưu của các ông đã thấy đủ tài liệu để ghi lại chưa? Vâng thưa bạn, tin tứ như thế là quá đủ rồi.

Hình như tôi đã kể cho quý vị một câu chuyện quá buồn. Bây giờ xin chữa lại.
Pilot Air nhà binh Vũ Văn Ước năm trước bị đau tim đã Email loan báo đi bốn phương trời. “Cầm bằng gửi gió cho mây ngàn bay.” Chàng đã xa con số 70 và gần con số tám chục rồi. Bây giờ đi đâu mà chẳng được. Nhưng rồi Email lại tới tấp loan báo tin bác vẫn KA RA OK.

Mỗi khi bác lên San Jose, Pilot phản lực Vũ Văn Ước đều khoe chuyện tề gia nội trợ, săn sóc cho vợ hiền làm cho cánh đàn ông ở San Jose hết sức vất vả bởi vì không thể nào theo kịp. Ông kể thành tích nấu cơm, rửa bát rồi ông ca tụng đàn bà nên mỗi chuyến viếng thăm của bác Ước thì quý bà chào đón nhưng lại là cơn ác mộng của quý ông.

Nhưng vào ngày 23 tháng 7-2006, chúng tôi vẫn can đảm mời Pilot già Vũ Văn Ước lên tham dự 30 năm hội ngộ tại Kobe. Ông sẽ hát bài ở đời “Không có gì đẹp bằng tình yêu hai chúng ta,” ông sẽ đưa em trên “Đường về Việt Bắc.”

Ôi, người phi công anh dũng muôn đời đã dành trọn vẹn phần cuối của kiếp phù du với 13 năm qua lái xe lăn cho vợ. Hơi thở tình yêu cuối đời sẽ cho ông sống mãi trăm năm.

Giao Chỉ – San Jose 2006

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Những Anh Hùng Vô Danh
Trường Sơn Lê-Xuân-Nhị

"Thành kính tưởng niệm các chiến sĩ Địa Phương Quân anh dũng đồn Dak Seang"


Image

"Đường ra trận mùa này đẹp lắm" Đại úy Ngọc thòng một câu đùa trong chiếc Phi Cơ L19 ở cao độ 8 ngàn bộ, hôm chúng tôi cất cánh từ Nha Trang đi Kontum với hành trang cho 15 ngày biệt phái. Đồng ý đó là một câu đùa, nhưng tôi không cười được chút nào cả vì lòng tôi đang héo hon như cái vỏ xe bị xì lốp.

Đang vui vẻ với đám bạn bè từ Ban-Mê-Thuột về Nha Trang nghỉ mát, ngày nào cũng sáng tiểu yến với cà phê, phở, thuốc lá 3 số 5. Chiều đại yến với la de, nem nướng, sò huyết mà phải khăn gói qủa mướp ra đi như thế này thì thật là đau khổ vô cùng, lại mới bị Thủy giận, tôi chưa có dịp làm hòa. Tính vốn lo xa, tôi đâm ra hãi. Đi biền biệt 15 ngày mà không từ gĩa em được, em tưởng mình... rớt máy bay chết rồi bèn đi cặp thằng khác thì hết một đời trai. Cứ tưởng tượng cái cảnh Thủy cặp tay một thằng chết tiệt nào đó đi coi hát bóng, đi nhảy đầm vung vít là tôi cảm thấy ... hết muốn bay bổng. Đời phi công sao khổ thế nầy, tôi than thở. Có lẽ thấy được những cái vẻ đau khổ khó chịu trên khuôn mặt thằng Thiếu úy trẻ, anh Ngọc cười. Nhìn thấy cái bản mặt táo bón của chú mầy tao nhớ đến cái thuở huy hoàng của những ngày..chưa lấy vợ.

Tôi phản đối "ở Phi Đoàn 114 mà không biết phản đối thì chẳng bao giờ lớn được". Chưa lấy vợ thì khổ bỏ xừ đi chứ huy hoàng gì anh?. Bị đào hành lên hành xuống, quay vòng vòng như con mắm có gì mà huy hoàng. Lại còn phải đi biệt phái lâu ngày như thế này, xát thân ở nơi tiền tuyến không sợ mất mà chỉ sợ... mất đào ở nhà.

Đại úy Ngọc bật cười lên khoái chí.

Hậu sinh.... chẳng biết mẹ gì cả. Mày lấy vợ đi rồi mới thấy cái gía trị của những ngày biệt phái. Này nhé, ở nhà với vợ, có thằng chó nào dám ti teo, đi phải thưa về phải trình, tiền bạc phải "báo cáo"đầy đủ.
Ấy là chưa nói đến chuyện ở gần mặt trời thì phải sống có qui củ, có nề nếp, gặp xếp từ xa là phải cung tay chào rốm rốp. Thằng nào cũng muốn kiếm thêm tí điểm thì phải biết điếu đóm v..v.. Đi biệt phái, nói một cách văn chương, đó là "những ngày nghỉ mát" vì thứ nhất mình thoát khỏi vòng cương tỏa... bà tư lệnh , muốn làm gì thì làm, gặp bất kỳ cô thôn nữ yêu kiều nào cũng có quyền đấu tưới hột sen, muốn khoe mình chưa vợ hay vợ... mới chết thì đó là quyền của mình. Các cô thôn nữ vốn dễ dãi và cả tin, chẳng ai thèm khiểm chứng hay thắc mắt lôi thôi. Thứ hai, đi biệt phái, cuộc sống không gò bó như ở phi đoàn. Mình tự chỉ huy lấy, đời sống thoải mái hơn, chỉ làm sao đừng bê trể công việc, thứ ba, làm việc trực tiếp với bộ binh có nhiều cái thú.

Mười tám tuổi bỏ nhà đăng lính đâu phải để suốt ngày dòm ba cái đồng hồ phi cơ rồi cứ hết cất cánh rồi hạ cánh. Phải có "Action" phải có đánh bomb, có ăn pháo kích v..v.

Nghe anh Ngọc thuyết một lúc là tôi đã thấy xiêu lòng. Mẹ, tôi đâu biết là lấy vợ sẽ khổ như thế này. Sống bị kềm kẹp vậy chả trách gì ông nào cũng có vẻ chán đời. Anh Ngọc cảm thấy hình như tôi đã thấm ý, nên kết luận.

- Đó là những cái khác nhau giữa hai thế hệ, Thế hệ chưa vợ và thế hệ có vợ. Bây giờ nhìn lại mấy chú, anh thấy tiếc hùi hụi.

Rồi hứng tình, anh chơi thêm hai câu thơ, giọng vịt cồ nghe không có tính chất...văn học chút nào hết.

"Tình chỉ đẹp khi còn dang dở
Đời hết vui khi đã vẹn câu thề"

Sau hai câu thơ là một chuỗi cười hì hì nghe rất ngứa lỗ tai. Men rượu của buổi tiệc gĩa từ tối hôm qua còn ngây ngất trong máu tôi, làm đầu óc cứ dật dờ. Tôi tắt radio, bảo anh Ngọc:

- Anh bay hộ, em buồn ngủ quá.

Anh Ngọc dễ dãi:

- Ngủ đi, tao bay cho. Ráng ngủ lấy sức, xuống đến Kontum chuyến này có nhiều chuyện lắm.

Tôi kéo tuột ghế ra sau, nhắm mắt làm một giấc ngon lành....

Biệt đội Kontum lần ấy, các phi hành đoàn ở trong cư xá vãng lai Sĩ Quan của Tiểu Khu. Cả thành phố Kon-tum như một trại lính khổng lồ, đi đâu cũng chỉ gặp toàn lính là lính. Từ lính không quân đến lính bộ binh, lính nhảy Dù, lính Lôi Hồ, lính Biệt Động Quân, lính Biệt Kích.....,ai nấy võ khí trang bị tới răng trông phát khiếp. Lâu lâu, phải chịu khó tìm tòi và chờ đúng giờ tan học mới nhìn thấy được vài tà áo dài phất phơ của các em nữ sinh, Những tà áo dài bé nhỏ xinh xinh coi có vẻ vừa lạc lõng vừa hiền lành làm sao trong cái thế giới đầy dẫy súng đạn của thành phố địa đầu này. Cũng như một con én không làm được mùa xuân, một chiếc áo dài tha thướt cũng không làm mất đi được cái vẻ chinh chiến của quê hương khốn khổ.

Đứng nhìn ngắm những tà áo này, tôi thấy nhớ Thủy chi lạ, buổi chiều cơm nước xong về khu tạm trú thắp đèn cầy đánh bài cho hết giờ.

Image
Buổi tối, cái khổ nhất của chúng tôi là hai cây cà nông 175 ly to tổ bố của thiết đoàn 14 Kỵ Binh đặt cách dẫy nhà chúng tôi ở chừng 500 thước. Hai cây súng mắc dịch này, ban đêm, giữa lúc mọi người đang ngủ say, cứ thỉnh thoảng nổ một vài phát bắn quấy rối rồi nằm im. Đang mơ màng giấc diệp, tiếng súng đại bác ở sát bên bắn một phát làm chúng tôi nẩy tung muốn văng ra khỏi giường:

- "Đêm hôm khuya khoắc, bắn con C...gì mà bắn độc thế? Sao không về nhà mà bắn... bà xã cho được việc", một giọng càu nhàu cất lên.

Lại có giọng khác hăm dọa " ngày mai tao phải "phản đấu" mới được. Đó là tiếng nói của Đại úy Bá, trưởng biệt đội. Ông đại úy này người dân xứ Quảng, lâu lâu phải để cho ông ấy "phản đấu" ai một lần thì ông ăn cơm mới ngon.

Mất cả tiếng sau mới dỗ được giấc ngủ. Nhiều khi vừa mới chợp mắt thì lại "ầm" một tiếng như trời long đất lở tiếp theo, lỗ tai như bi ai tống vào một cây đinh. Đến lúc này thi đại úy Bá không nhịn được nữa, chửi thề um sùm "Đ.." mọa nó, bén chi mà bén miết..".

Thế là hết mẹ nó một tiếng đồng hồ nữa rồi... Tôi không hiểu các anh em bộ binh làm sao mà sống được như vậy không phải chỉ trong 15 ngày biệt phái như tôi mà tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác. Phải đi biệt phái những nơi như vầy mới hiểu được và thương các anh em bộ binh. Người lính bộ binh Việt Nam khổ qúa. Khổ đến độ sự khác biệt giữa sự sống và cái chết hầu như không có ranh giới. Cuộc đời là địa ngục thì chết chắc cũng chẳng có ai sợ. Và có lẽ, chết sẽ là một giải thoát. Tôi đã tận mắt nhìn thấy nhiều người sống suốt mấy tháng trong giao thông hào nước ngập tới háng. Đó là nơi mà anh em vừa ăn, ỡ ngủ v.v.. Các anh cũng là người với những cảm giác bình thường, biết lạnh, biết nóng, biết thèm ăn ngon, biết sợ đau khổ, sợ chết. Mãnh lực nào, sức lôi cuốn nào đã khiến anh em từ bỏ gia đình ôm cây M16 để trở thành người lính bộ binh. Trở thành người lính bộ binh để "chết thay dùm dân tộc" để chấp nhận mọi đắng cay, mọi hiểm nguy. Chắc chắn không phải để lãnh số lương mười mấy ngàn, chỉ đủ mua bao gạo. Cũng không phải vì sợ cảnh sát bắt đi quân dịch ở đầu ngõ. Cũng càng không phải vì mủi lòng bỡi vài cái bích chương kêu gọi rẻ tiền của chính phủ dán trong thành phố, hay vì câu hát của Hùng Cường, Mai Lệ Huyền. Tôi nghĩ, anh em đã ra đi chỉ vì lòng yêu nước. Vì, anh em nghĩ rằng cầm súng chiến đấu là bổn phận của ngững người trai thời ly loạn. Chỉ biết rằng đi để thể hiện chữ "Yêu" yêu Quê Hương yêu Tổ Quốc, không cần tính toán, không đo lường gía cả.

Chỉ vài ngày đi bay mà anh em ai cũng bị hốc hác thấy rõ. Đêm mất ngủ, lên trời gió mát, chỉ muốn nhắm mắt. Cùng tắc biến, biến tất thông, mấy hôm sau chúng tôi biết cách trị.. Pháo Binh. Trước khi leo lên giường ngủ, chúng tôi lấy bông gòn nhét kín hai lỗ tai. Thế là mấy chú thiết giáp cứ mặc sức mà bắn.
Có thằng... Thiếu úy tên On nằm gần giường tôi, mới được cho đi hành quân lần đầu nên lẩm cẩm không chịu được. Tên nghe đã lẩm cẩm mà người lại còn lẩm cẩm hơn. Đang đêm, tôi thấy nó thỉnh thoảng ngồi dậy, móc bông gòn ra khỏi hai lỗ tai, nghe ngóng một chút rồi lại nhét vào, nằm xuống. Mặt mày nó làm ra vẻ quan trọng lắm. Trằn trọc không ngủ được, tôi thắc mắc:

- Mày làm cái trò khỉ gì đó ông Thiếu úy On?

Nó đáp tỉnh queo :

- Tao phải thức dậy để nghe ngóng xem có pháo kích không.

Tôi suýt bật cười. Đúng là thằng lẩm cẩm, nó làm như Việt Cộng chờ nó tháo bông gòn ra khỏi hai lỗ tai rồi mới thèm pháo. Tôi phịa một câu :

- Tao có ý kiến này hay hơn. Mày chỉ cần rút bông gòn ra khỏi một lỗ tai thôi. Một tai bịt kín để khỏi nghe pháo binh mình, tai kia bỏ trống để nghe VC pháo kích.

Một thoáng êm lặng, rồi như biết được câu móc lò của tôi, thằng On chửi thề:

- Đ.. M.. thằng mất dạy. Mày mà đòi móc lò tao sao được. Tao đâu có ngu.

Thấm thoát mà 15 ngày biệt phái của tôi trôi qua mau. Con người quả thật là dể thích ứng với hoàn cảnh mới. Tôi chỉ còn nhớ Thủy... sơ sơ thôi chứ không còn "nồng nàn da diết" như những ngày mới đến đây nữa.
Cuộc đời biệt phái cũng có nhiều niềm vui khác như đi uống cà phê đêm, nhậu nhẹt, gặp lại bạn bè cũ, kết bạn bè mới. Với lại, chúng tôi vừa khám phá ra một quán cà phê mới khai trương. Cô Cashier coi xinh không chịu được. Thế là chiều chiều cơm nước xong, chúng tôi bảy tám người chất nhau lên chiếc xe Jeep ra quán cà phê ngồi... lì đến tới tối.


Giữa khu rừng núi hoang dại này, dể gì kiếm được một cành hoa. Tôi để ý thấy Thiếu úy On yêu đời ra mặt. Không hiểu nó tính dợt le với ai mà đi biệt phái ở nơi rừng sâu núi thẩm này cũng mang theo được mấy cái khăn quàng cổ đủ các màu. Đi uống cà phê những lần sau này nó nhất định phải đóng thêm cái khăn quàng cổ màu tím vào cho ra cái điều như là... màu tím hoa sim, coi chán đời không chịu được. Vào quán cà phê, Thiếu úy On ăn nói chững chạc đàng hoàng, không láu cá nham nhở như tôi.. Có mấy lần tôi tính thò tay ra sờ mông em thì bị nó gạt phắt đi, điệu hung hãn làm như nó... chưa sờ đít ai bao giờ. Nó muốn mang khăn quàng màu gì hay tán tỉnh gì thì kệ nó, tôi không để ý tới. Cái làm tôi thích thú nhất là mỗi lần ra về, cu cậu nhất định dành trả tiền cho kỳ được. Dĩ nhiên, tôi không bao giờ phản đối cái mục này. Tôi biết thằng khỉ này nó có bao giờ trả tiền cà phê cho ai đâu. Hóa ra là con người khi yêu ai cũng trở thành dễ thương hết. Chả trách gì nhà văn Shakespeare đã phán một cau "everybody loves the lover". Cả thế giới đều yêu một kẻ si tình. Đúng thật. Tôi ước giá phi đoàn có chừng chục thằng như Thiếu úy On thì tôi khỏi sợ tốn tiền cà phê thuốc lá. Được trớn, tôi xúi dại nó, bảo hay là mầy xin ở lại Kontom luôn cho anh em nhờ. Nhưng nó quắc mắt lên, cười khỉnh " Vừa phải thôi... tám. Tao tuy ngu nhưng đâu có ngu hơn mày".

Lần biệt phái này, trái với lời anh Ngọc tiên đoán, sư đoàn 23 BB không có đụng trận nào ra hồn cả. Thỉnh thoảng một bọn " giặc cỏ" đến quấy rối rồi lặn mau như chuột. Dường như cả hai bên đang nghỉ ngơi dưỡng sức. Dưới đất mà không thèm đánh nhau thì trên trời biết ăn thua với ai. Những phi vụ air cover nhàn rỗi, tôi hỏi đại úy Ngọc đi " duy trì khả năng" bắn rocket. "duy trì khả năng" là một danh từ không quân dành cho những anh chàng phi công văn phòng, sợ lâu quá không bay thì lúc leo lên tàu, thì quên béng nó mất cái cần lái nằm chỗ nào nên phải bay "duy trì khả năng" cho khỏi quên.

Image

Tôi thì khoái tập bắn rocket sao cho nó đẹp như 'Dăng gô" bắn súng. Chỉ đâu bắn trúng đó. Cái kiểu bắn rocket của tôi phi đoàn ai cũng chán vì lối bắn mất dạy. Bay trên mục tiêu, Tôi cắt ga cho tàu rơi cái rào nhiều khi gần như cắm đầu thẳng xuống. Cứ thế mà bóp cò. Bắn thì dể nhưng khi kéo tàu lên mới là cực hình. "G" đâu mà lắm thế , mặt mũi cứ dài ra cả thước. nhưng đại úy Ngọc chịu chơi, lần nào cũng cho tôi bắn. Nhiều khi anh còn nhìn "tác phẩm" của tôi phê bình "Số mày sinh ra để bay khu trục mà bị trời bắt lái .. L19. Đúng là con nhà vô phúc".

Ngày cuối cùng của cuộc biệt phái, chúng tôi cất cánh phi vụ thứ hai vào khoảng 3 giờ chiều. Lên trời, làm vài vòng, tôi hỏi đại úy Ngọc :

- Hay mình làm vài vòng, nếu không có gì thì đi kiếm cái chòi thượng nào đó "duy trì khả năng" rồi về đáp. Mai đổi biệt đội khác rồi.

Đại úy Ngọc tự nhiên phản đối:

- Thôi cứ để đó, mày bay dọc lên Dak Pek đi. Tao đi quan sát lần chót để bàn giao vùng trách nhiệm cho phi hành đoàn mới.

Có cái gì thắc trong đầu anh mà tôi không nghĩ ra. Lát sau anh nói:

- Mày để ý thấy chiến trường lần này, đặc biệt là cách mấy ngày hôm nay yên lặng một cách quá đáng không?

Tôi chả biết gì, trả lời:

- Yên thì có yên đó, nhưng mà có gì không anh?

- Thường thường mà yên quá như thế này là thế nào cũng có đánh lớn.

Tôi nói xuôi:

- Mai mình về rồi, nhằm nhò gì.

Khoảng 5 giờ chiều tôi đang lơ lửng gần một cái đồn nhỏ gọi là đồn Dakseang, phía Nam của Dakto. Đại úy Ngọc chợt giật cần lái, quẹo một vòng.

- Để tao coi. Đ.M. hình như đồn này đang bị pháo kích.

Chỉ một thoáng sau anh la lên:

- Đ.M. đúng rồi. Đ.M. nó đang pháo vô đồn.

Anh Ngọc gọi máy về Trung Tâm Hành Quân, báo cáo những gì mình thấy và xin tần số liên lạc ngay. Chỉ trong vài phút, Trung Tâm Hành Quân xác nhận với chúng tôi là đồn bị pháo kích, và có nhiều dấu hiệu cho thấy đồn sẽ bị tấn công. Chúng tôi được chỉ thị ở lại làm việc với đồn. Bắt được liên lạc, trao đổi danh hiệu xong là chúng tôi giảm cao độ. Vừa tà tà bay vô thì bổng hàng chục cây phòng không nhắm vào chúng tôi nổ tới tấp. Chắc chắn phải có vài viên trúng tàu vì tôi nghe lên vài tiếng bụp bụp. Tôi càu nhàu: "15 ngày biệt phái không sao, ngày cuối cùng mà lãnh một viên vào.. đít là xui quảy.." vô không nổi, tôi quẹo ra. Đại úy Ngọc phê bình:

- Trên trời mà phòng không "kèm cứng một rừng" như vậy là dưới đất nó đã chuẩn bị trận địa pháo rồi. Lạng quạng thì đồn này chắc mất tối nay.

Anh giở tấm bản đồ, ba cái FM trên phi cơ được sử dụng liên tục. Cái gọi pháo binh, cái trực với đồn Dakseang, cái nói thẳng với Bộ Tư Lệnh chiến trường. Cường độ pháo kích càng ngày càng trở nên khốc liệt, Tôi lên cao chút xíu rồi rình rình lại chui vào từ một hướng khác. Bố khỉ, tôi lúc ấy mới khám phá ra là khu vực làm việc bị mây "broken" từng cụm nhỏ bao phủ khoảng từ 5 đến gần 8 ngàn bộ trên trời. Đang quan sát, tàu chui vào mây là coi như mù. Ra khỏi mây thì phải mất một lúc mới trở lại được chổ quan sát cũ. Đại úy Ngọc chửi thề:

- "Đ.M. mây mà cũng bị VC dụ dỗ đâm sau lưng chiến sĩ. Trời đất bao la sao không kiếm chỗ bay mà cứ lẩn quẩn làm con C.. ở đây."

Tôi đã cắt ga xuống dưới trần mây mấy lần nhưng vừa xuất hiện là bị hàng chục họng phòng không thổi rào rào vô mặt, đuổi trở lên "súng đâu mà chúng nó lắm thế" Tôi đành vật lộn với mấy cụm mây...VC này.
Bi thảm hơn, giặc bắt đầu nả 130 ly vào đồn, Hai cây đại pháo, một cây đặt ở ven làng cách đó chừng 15 cây số, cây kia ở hướng đối diện cứ tà tà nã từng trái một vào đồn. Từ trên, tôi nhìn thấy rõ ràng những quả đạn rơi rất chính xác vào trong đồn. Cứ mỗi quả đại bác rơi xuống là có chừng mười mấy trái súng cối nổ kèm theo "phụ diễn". Tôi và anh Ngọc lồng lộn trên tàu bay. Máy vô tuyến gọi đến gần nát cả họng, nhưng bất ngờ quá, chả thấy phi tuần xuất hiện, anh Ngọc gọi pháo từ căn cứ pháo binh gần đó nhất để yểm trợ. Vừa nhận được tọa độ, đã nghe ở dưới đất kêu trời:

- Vô ích bạn ơi. Xa quá, bắn tới... Têt cũng huề.

- Thì bạn quay nòng xuống thổi đại cho một chục tràng đi, bắn dọa nó cũng được.

- Xong rồi, để tôi cho yếu tố tác xạ

- Yếu tố mẹ gì, bắn đi bạn....

Khoảng 5 giờ rưỡi chiều, người chỉ huy đồn Dakseang có vẻ bối rối:

- Bạch Ưng, đây Thanh Trị.

- Nghe 5 bạn

- Báo cho bạn biết đến giờ phút này con cái tôi đếm được là 500 trái rồi đó bạn. Hầm hố tôi 50% thiệt hại.

Tôi muốn nhảy nhổm trong tàu bay. 500 trái vừa cối vừa pháo xuông một diện tích tí teo như thế kia thì còn hầm còn hố nào. Anh Ngọc bổng nẩy ra một kế...chết người.

- Nếu để nó pháo điệu này thì chừng tí nữa quân mình chẳng còn gì hết. Mình phải "chiến tranh chính trị" mới được.

- Có học trường chiến tranh chính trị ngày nào đâu mà đòi...chiến tranh chính trị anh?

Người phi công chiến tranh chính trị bất đắc dĩ lên mặt dạy dỗ.

- Từ từ để tao cắt nghĩa. Chiến tranh chính trị nghĩa là...có là không, không là có. Bây giờ chưa có phi tuần thì mình phải làm như có phi tuần. Mình phải xuống ngay trên đầu mấy cây pháo làm bộ như phi tuần sắp tới thì pháo nó mới câm được.- Xong rồi.

Mặc dù vẫn còn ngán mấy chục họng phòng không nhưng trong hoàn cảnh này, đạn tránh người chứ người làm sao tránh đạn? Tôi cắt ga cho tàu rơi cái rào, cứ nhắm họng đại bác bay tới. Đạn nổ tùm lum chung quanh tàu. Anh Ngọc trấn an tôi:

- Mầy đừng lo, tao có bùa nanh heo rừng. Đạn nó né tao.

Nghe sao mà chán đời, Tàu bay chỉ có 2 người, đạn nó bay vào đây mà né anh Ngọc thì nhất định nó phải kiếm người khác để chui vào. Người đó còn ai khác hơn tôi. Bỗng nhớ ra điều gì, anh sờ tay vô ngực quờ quạng rồi rú lên:

- Bỏ mẹ rồi, nanh heo rừng đíu có đem theo. Đ.M. hôm qua đi tắm treo nó chỗ phuy nước quên đeo vô rồi.
Nhưng anh nói ngay:

- Nhưng tử vi nói tạo sống thọ lắm, yên chí lớn đi thằng em.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Tôi nghiệm ra rằng con người, lúc ở trong những hoàn cảnh nguy hiểm đều kiếm ra một lý do gì đó để tự tin và hy vọng. Càng đi xa đồn thì phòng không càng bớt dần.

Thấp thoáng con gà cồ của giặc đã nằm ngay dưới cánh, chúng tôi xuống thấp thêm tí nữa, lượn vòng chung quanh cây pháo. Đúng y như anh Ngọc đoán, pháo im bặt. Rồi như một cơn mưa rào đổ xuống mùa hạn hán, một hợp đoàn Cobra của Tây xuất hiện. Đại úy Ngọc qua được tần số của Tây xí xa xí xồ một chập, tôi nghe được mấy tiếng "everywhere". Vừa vào vùng là mấy anh Cobra làm ăn liền. Tôi ngạc nhiên thấy họ thay phiên nhau bắn rào rào chung quanh đồn. Như vậy con cháu họ Hồ đang "tùng thiết" đi vô chăng? Dĩ nhiên phòng không giặc bây giờ đổi mục tiêu, nhắm mấy anh Cobra nhả đạn. Trận thư hùng coi rất đẹp mắt nhưng ngắn quá. Mấy ông Tây bắn chừng 5 phút là hết đạn, quay lui. Khốn nạn hơn cái món chiến tranh chính trị xem ra hết ép phe. Có lẽ giặc biết chúng tôi chỉ dọa giả nên cây pháo bắt đầu nổ trở lại. Đại úy Ngọc gầm lên:

- Đ.M. tụi mày, lát nữa khu trục lên tao cho nó...bỏ bomb thấy mẹ mày.

Tức quá mà không làm gì được thì...chửi cho đã tức. Chúng tôi chỉ có 4 quả Rocket khói, chẳng sơ múi gì được. Rồi Peacock gọi thông báo sẽ có phi tuần khu trục A-1 đang cất cánh khẩn cấp từ Pleiku lên làm việc với chúng tôi. Đại úy Ngọc hớn hở gọi máy:

- Thạnh Trị, đây Bạch Ưng

- Nghe 5 bạn, gần ngàn trái rồi. Tụi nó mới xung phong đợt đầu đó bạn.

- Có sao không bạn?

- Không, mấy thằng chuồn chuồn tới đúng lúc với lại con cái tôi đánh giặc còn "tới" lắm bạn ơi. Tụi nó rút hết rồi. Khoảng chùng 50 xác nằm dài dài. Mấy thằng Tây đánh đẹp lắm.

- Chúng tôi sẽ có 2 phi tuần lên liền bây giờ với bạn.

- Bạn ráng dùm, hầm hố gần nát hết rồi bạn.

- Tôi hiểu bạn.

Cây 130 ly quái ác vẫn đì dạch phọt ra từng cụm khói đen. Tôi bảo anh Ngọc.

- Anh để em lên làm đại một trái khói vô đó coi, may ra....

- Ờ, may ra....

Tôi làm vòng bắn, nghiêng cánh quẹo vào, nhắm và bóp cò. Oành cái Rocket nổ...gần cây đại pháo. L-19 mà bắn được vậy là nhất rồi, nhưng có chết thằng chó nào đâu? Không chết nhưng cây pháo lại im tiếng một lần nữa. Tốt! Tôi tính cứ lâu lâu nhào xuống xịt cho tụi nó một trái để mua thời gian chờ khu trục lên.

Rồi tiếng rè rè thử vô tuyến của mấy ông khu trục A-1 nghe lên bên tai. Phải thú nhận, cái tiếng rè rè đực rựa lúc này nghe sao mà nó...đáng yêu thế. Đó là thứ tiếng nói của hy vọng, của niền tin, của sức mạnh, của tình chiến hữu. Anh Ngọc trao đổi vô tuyến với phi tuần khu trục rồi gọi máy cho quân bạn.

- Thạnh Trị, đây Bạch ưng

- Nghe bạn 5.

- Chim sắt của tôi lên rồi đó bạn. bạn muốn tôi đánh đâu?

- Bạn lo dùm mấy con gà cồ trước đi.

- OK! Roll

Phi tuần khu trục vừa xuất hiện thì cả bầu trời biến thành một biển lửa. Số lượng phòng không bây giờ không biết là bao nhiêu cây, nhưng dòm hướng nào cũng chỉ thấy lửa và lửa. Trời đã về chiều nên những viên đạn lửa bay vút lên cao càng được thấy rõ ràng hơn. Phi tuần đầu nhào lên nhào xuống mấy lần vẫn không làm câm họng được cây pháo phòng không vì trời quá xấu. Những đám mây...phản quốc, khốn nạn vẫn chình ình khắp nơi. Khó khăn lắm họ mới kiếm được cái lỗ chui xuống, bay giữa những loạt đạn phòng không trùng điệp, để tới mục tiêu, bấm rơi bomb, rồi kéo lên. Còn 2 trái cuối cùng, người phi công A-1 "để" vào ngay trên ổ súng chính xác như để bi vào lỗ. Ầm một tiếng vang lên rồi tiếp theo là nhiều tiếng nổ phụ. Cha con nó đang đền tội. Xong một cây. Anh Ngọc hướng dẫn phi tuần thừ hai đang làm ăn thì tôi nghe tiếng gọi:

- Bạch ưng, đây Thạnh Trị

- Nghe 5 bạn

- Báo bạn biết, hầm chỉ huy tôi xập rồi. Tôi ra giao thông hào với mấy đứa con.

- Bạn nhớ giữ liên lạc với tôi.

- Bạn...

Không có tiếng trả lời. Tôi hoang mang. "ra giao thông hào với mấy đứa con" vậy là bi đát lắm rồi. Anh Ngọc bảo tôi:

- Anh đang bận hướng dẫn khu trục, em qua FM gọi thẳng TTHQ xin gấp cho anh ít nhất là 2 phi tuần nữa, lên liền lập tức, nếu không kịp là tụi nó sẽ "over run" Dakseang trong vòng nửa tiếng đồng hồ.

Tôi đổi tần số FM, Anh Ngọc cẩn thận dặn dò thêm:

- Phải nhớ la ơi ới lên như là đang bị bóp...dái thì cha con nó mới chịu chạy dùm.

Tôi phì cười, ông đại úy nầy lúc nào cũng đùa được. Khỏi cần bị ai bóp dái tôi cũng la được vì hò hét và tả oán là sở trường của tôi. Tôi gọi máy và có kết qủa ngay. Anh Ngọc mừng rú lên khi được thông báo có một phi tuần F4 của Hải Quân Mỹ sẽ cất cánh ngay từ hàng không mẫu hạm vào làm việc. Giọng nói từ dưới đất bây giờ nghe có vẻ hốt hoảng:

- Bạch ưng, đây Thạnh trị

- Nghe bạn 5

- Bạn cho mấy con chim sắt đánh sát quanh đồn gấp đi bạn. Tụi nó đang "à lát xô" lên.

Anh Ngọc la ùm lên trong tần số khu trục. Hai chiếc khu trục A-1 còn mấy trái bomb bỏ dở cây, hối hả trở về đồn nhào xuống đánh sát chung quanh rào. Một ông la to khi kéo tàu lên.

- Tụi nó đông như kiến bạn ơi.

- Còn phải hỏi.

Khu trục đánh hết bomb nhưng vẫn bay trên mục tiêu để bắn hết những tràng cà nông 20 ly. Tình hình lúc này đã bi đát lắm rồi. Giặc xung phong lên ào ào. Thạnh trị thông báo là một góc phòng tuyến đã bị vỡ và con cái anh đang xáp lá cà với giặc. Tôi nghe Trung tâm hành quân "TTHQ" thêm ba căn cứ khác cũng bị tấn công một lúc. Anh Ngọc bảo tôi:

- Tao còn lạ gì cái trò này, tụi nó đánh nghi binh để dứt điểm Dakseang đó. Phải cẩn thận.


Trong vô tuyến, tiếng tàu bay gọi nhau tiếng trao đổi gã trên trời và dưới đất nghe loạn cào cào.. Bởi trong những tiếng ồn ào đó, có tiếng gọi của mấy ông F 4 Hoa Kỳ. Mấy ông Tây trang bị vũ khí tận răng. Hai chiếc F4 mỗi chiếc mang 18 trái 500 pouds đang làm vòng chờ ở khoảng 20 ngàn bộ. Anh Ngọc chỉ "briefing" một tí, mấy ông "Roger" và "Sir" lia lịa nhào xuống làm ăn liền. Khu trục Việt Nam đánh đã đẹp, mấy ông Tây đánh cũng không thua ai. Từ khoảng 15 ngàn, mấy ông nhào xuống dưới trần mây, để những trái bomb
thật chính xác. Phòng không bắn dữ dội nhưng xem ra không ăn thua gì với mấy chiếc F4 này. Đang đánh ngon lành thì tôi nghe tiếng gọi từ dưói đất:

- Bạch ưng, đây Thạnh trị

Giọng nói lúc này không có vẻ hốt hoảng mà bình tĩnh lạ thường.

Anh Ngọc bấm máy:

- Nghe bạn 5, cho biết tình hình đi bạn.

- Tôi yêu cầu Bạch ưng cho đánh ngay vào trong đồn.

Cả hai chúng tôi giật nẩy mình, chỉ hy vọng là mình nghe... lộn. Chúng tôi sững sờ không trả lời được. Người chỉ huy phía dưới đất xác nhận lại:

- Bạch ưng, tôi xác nhận lại, tôi xin bạn đánh xuống đầu tôi.

- Bạn nói bạn xin đánh thẳng vào đồn?

- Đúng 5. Hết hy vọng rồi bạn ơi. Cứ đánh vào đây để tụi nó chết chùm luôn với chúng tôi.

- Bạn suy nghĩ kỹ chưa?

Giọng nói dưới đất lúc này nghe có vẻ hết kiên nhẫn:

- Không còn lựa chọn nào khác bạn ơi. Bạn đánh lẹ giùm. Chúc bạn may mắn. "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi" mà bạn...

Image

Đó là những tiếng nói cuối cùng tôi nghe được từ đồn Dakseang "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi". Anh Ngọc hốt hoảng gọi máy về xin chỉ thị quân đoàn. Quân đoàn trả lời phải xác nhận với đồn Dakseang một lần nữa rồi cho biết kết quả. Chúng tôi gọi muốn đứt hơi nhưng không còn liên lạc được với Thạnh Trị nữa. Báo cáo trở lại, quân đoàn quyết định: cho đánh thẳng vào đồn nhưng phải... cẩn thận.

- "Cẩn thận con C... ông" anh Ngọc lẩm bẩm chửi thề rồi gọi máy thông báo cho mấy ông Tây, bảo đánh thẳng vào đồn. Người phi công hải quân Mỹ vừa kéo con tàu lên sau một loạt tấn công cũng bối rối không kém:

- Roger! Sir, Did you say...right on it? Over

- Yes sir, it's all over. I said you salvo right on it. Over.

- Roger, sir, I understood, sir, Over.

Image


Chỉ có vậy thôi, đồn Dakseang biến thành một biển lửa sau hai đợt bomb salvo của mấy chiếc Phantom. Tôi đang chứng kiến một hình ảnh mà có lẽ suốt đời sẽ không bao giờ quên được. Tôi biết nói gì lúc này đây cho những người chiến sĩ Địa Phương Quân QLVNCH? Tất cả những ngôn từ, những ý nghĩ đều trở thành vô nghĩa trước cảnh tượng bi thảm hào hùng này. Bay cách đó chừng 5 cây số với cao độ 5 ngàn bộ mà con tàu tôi như rung lên dưới tiếng nổ và sức ép khủng khiếp của mấy chục trái bomb 500 cân Anh nổ một lần. Làm sao còn có ai sống sót sau cơn tàn phá khủng khiếp này?. Những thịt, những xương, những máu của các anh hùng Dakseang đã tung bay khắp nơi rồi rơi xuống lẫn lộn với bụi, với đá, với sắt, để rồi nằm im trên mặt đất. Cũng trên mặt đất nầy của quê hương, ở một nơi nào đó, những người vợ, những đứa con, những bà con thân bằng quyến thuộc của các anh đâu biết người thân của mình vừa anh dũng đền nợ nước, vừa " Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi" như lời trăn trối cuối cùng của người đồn trưởng, vừa chết để cho cả dân tộc được sống, được hít thở không khí Tự Do dù chỉ trong một khoảnh khắc...

Ngày mai đây, những chiếc khăn tang trắng sẽ được chít vội vã lên đầu những người thiếu phụ nghèo nàn khổ sở kia, những khuôn mặt bầu bĩnh vô tội của trẻ thơ. Nước mắt nào khóc cho hết nỗi bi thương của người vợ lính VNCH đây hỡi ông trời xanh thẩm? Hình ảnh nào có thể thay thế được hình ảnh ngọt ngào của Cha chúng nó, suốt khoản đời còn lại của những em bé hồn nhiên vô tội kia hỡi ông trời? Dân tộc tôi đã làm gì nên tội, "Tử biệt sinh ly" câu nói nghe được từ thuở học trò bầy giờ mới thấy trọn nghĩa ý đau thương. Máu nào chảy mà ruột không mềm, mắt tôi bỗng chan hòa nước mắt. Tôi tống ga bay trở lại đồn. Qua màn lệ nhạt nhòa, tôi chẳng còn thấy gì, ngoài những cụm khói đen bốc lên giữa đồn. Những cụm mây oan khiên vừa rồi vẫn còn vần vũ như những chiếc khăn tang trắng lồng lộng bao phủ cả bầu trời. Mây ơi là mây, còn sống chẳng chịu giúp nhau, bây giờ người đã chết, đồn đã mất sao còn lảng vảng để khóc thương.

Trời chiều cao nguyên vốn đã thê lương cô quạnh lại càng trở nên tang tóc sầu thảm hơn. Hai chiếc Phantom Hoa kỳ ráp thành một hợp đoàn tác chiến bay những vòng tròn thấp chung quanh đám đất đá điêu tàn không hiểu để quan sát hay để chào vĩnh biệt những chiến sĩ gan dạ anh hùng của Địa Phương Quân QLVNCH. Dưới trời chiều nắng tắt, trông hợp đoàn Phantom như hai con chim hải âu ủ rủ lượn từng vòng quanh xác chết của đồng loại. Sau khi nhận kết oanh kích của anh Ngọc, giọng nói xúc động của người phi tuần trưởng Phantom vang lên:

- Sir, may I reach out across the fires and destructions of today to tell you this: Those people down there have fought like men and have gone in honor.

Giọng anh Ngọc run run nghẹn ngào:

- Yes sir, they have gone in honor. That was an Alamo by all means, sir. An ever greater Alamo than ours, Over.

Tôi thấy hai hàng nước mắt chảy dài trên má anh Ngọc.

- Roger! We have thousand of Alamo like that every day in our country.

- Roger, I believe that, sir, God bless you all. Over.

Hai chiếc Phantom liếc cánh chào vĩnh biệt rồi bốc lên cao, mất hút giữa bầu trời ảm đạm. Alamo, cái tên nghe đã đi vào huyền sử của dân tộc Hoa Kỳ mà bất cứ công dân Mỹ nào nghe cũng phải hảnh diện. Alamo, làm tôi nhớ đến bài học Anh văn năm đệ ngũ. Alamo, đúng ra là một ngôi nhà thờ "Y pha nho" mà hai ngàn chiến sĩ kỵ binh Hoa Kỳ đã tử thủ khi chống cự lại với hàng chục ngàn quân Mễ Tây Cơ cho đến giây phút cuối cùng. Không ai đầu hàng và tất cả đã bị tàn sát. Người Mỹ chỉ có một thành Alamo trong suốt 200 năm lập quốc mà cả thế giới đều biết, đều mến phục. Đất nước tôi có bao nhiêu thành Alamo còn tàn khốc hơn, đẩm máu gấp ngàn lần hơn suốt bao nhiêu năm chinh chiến.

Sáng hôm sau tôi và anh Ngọc bay thêm một phi vụ sớm trước khi bàn giao biệt đội. Tối đêm qua một trận mưa bomb của B52 đã cày nát khu tập trung quân giặc. Dù biết là vô ích, chúng tôi vẫn mở lại tần số cũ để gọi cho Thạnh trị. Nhưng chả còn Thạnh trị nào để trả lời cho Bạch ưng nữa. Đồn Dakseang chỉ còn là đống đất vụn điêu tàn. Gió thổi lên từng cơn cuốn theo những lớp bụi đỏ mù. Tôi nhìn xuống đó, tưởng nhớ đến những cái chết oai hùng chiều qua. Trong một quê hương khói lửa, kiếp người quả thật mong manh như gió, như đám bụi mù kia. Mới nói nói cười cười mà giờ đây đã ngàn thu vĩnh biệt.

Image

Bay thêm vài vòng quanh đồn để tưởng nhớ ngậm ngùi cho các anh rồi cũng đến lúc phải từ giã để ra đi. "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi". Thôi thì xin thành kính nghiêm trang giơ tay chào vĩnh biệt các anh.
Những người lính Địa Phương Quân âm thầm của một tiền đồn xó núi. Địa Phương Quân, cái tên nghe khiêm nhường và hiền lành như đất, như bộ đồ xanh bạc màu của các anh. Địa Phương Quân, thứ lính...âm thầm nhất trong các thứ lính của quân lực; không màu mè, không áo rằn ri, không có những huyền thoại khủng khiệp, không "truyền thống, binh chủng" không có đến những khẩu hiệu nẩy lửa chết người. Nhưng Địa Phương Quân Pleiku chiều hôm qua đã bình tỉnh xin "cho nó nổ trên đầu tôi". "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi bạn ơi". Xin vĩnh biệt và cảm tạ. Cảm tạ các anh đã đem cái qúi giá nhất của cuộc đời là mạng sống mình để đổi lấy cho quê hương dù đã rách nát tả tơi còn có được những ngày xanh hy vọng. Cho buổi hợp chợ ban mai, dù nghèo nàn thưa thớt vẫn còn được an bình. Cho ngôi trường quận lỵ thấp lè tè những mái tôn cháy nắng còn rộn tiếng trẻ thơ cười. Cho mái chùa cong cong nơi sườn núi còn được ngân lên những hồi chuông tín mộ. Và cho những người ở lại như tôi đây biết rằng mình sống tức còn nợ phải trả.... Các anh chính là những người được mô tả trong một bài học thuộc lòng tôi thuộc làu làu lúc còn là một đứa bé :

Họ là kẻ khi quê hương chuyển động
Dưới gót giày của những kẻ xâm lăng
Đã xông vào khói lửa quyết liều thân
Để bảo vệ tự do cho tổ quốc
Trong chiến đấu không nài muôn khó nhọc
Cười hiểm nguy bất chấp nỗi gian nan
Người thất cơ đành thịt nát xương tan
Những kẻ sống lòng son không biến chuyển
Tuy tên họ không ghi trong sử sách
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khẩn nguyền dâng lễ vật
Nhưng máu họ đã len vào mạch đất
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông
Và linh hồn chung với tấm tình trung
Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt.


Xin thành kính viết lại một phần bài thơ của Đằng Phương để tặng các anh.

Các anh chính là những "Anh Hùng Vô Danh". Tổ Quốc Việt Nam, dân tộc Việt Nam ngàn đời sẽ còn ghi ơn các anh. Xin vĩnh biệt và cảm tạ.

Trường Sơn LÊ XUÂN NHỊ

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Những đồng minh anh hùng





Harry F. Noyes III
Ngô Kỷ chuyển ngữ


Nguyên bản Anh ngữ "Heroic Allies" của Harry F. Noyes III được đãng trong nguyệt san "Vietnam", phát hành vào tháng 8 nãm 1993
Do Ngô Kỷ chuyển ngữ để kính tặng và tri ân sự chiến đấu dũng cảm và tuyệt vời của những Chiến Sĩ Quân Lực VNCH

Họ dáng người thì nhỏ nhắn, nói chuyện bằng những âm ngữ líu lo, thường chan nước mắm vào thức ãn và hay cầm lấy tay nhau. Chẳng ai ngạc nhiên lắm khi thấy những quân nhân Mỹ gởi qua Đông Nam Á - phần lớn họ còn rất trẻ, có một kiến thức nông cạn, được đào tạo trong một xã hội vị kỷ và hiểu rất ít về những nền vãn hóa khác - họ không cảm thông được tâm trạng của các binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Thật đau lòng khi có nhiều cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại VN lại đi cấu kết với cái đám phản chiến cấp tiến, những tên trốn quân dịch và bọn chính khách hoạt đầu xúm nhau bôi nhọ danh dự của một Quân Lực đã chẳng còn có cõ hội để được tự bào chữa. Nhục mạ một quân đội đã sa cõ trên chiến trường vì bị Hoa Kỳ phản bội là một hành động đê tiện và bất xứng của những người Hoa Kỳ.

Có thể một số quý vị sẽ ngạc nhiên về lý luận của tôi. Làm sao tôi có thể biện hộ cho quân lực VNCH được?

Phải chãng tất cả binh sĩ VNCH đều thuộc loại bất tài, xảo trá và hèn nhát?

Không, không phải vậy.

Trong bài này tôi sẽ vạch ra một số bằng chứng xác đáng để phản bác lại cái luận điệu đê hèn đó và phân tích lý do tại sao cái luận điệu đó phát sinh.

Dĩ nhiên, quân đội VNCH không toàn hảo. Họ cũng có một số lãnh đạo tồi tệ, một số lính tráng hèn nhát, vài ba lần hoảng hốt bỏ chạy, xằng bậy và hung bạo.

Tuy nhiên, các điều này cũng đã từng xảy ra đối với quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại Đông Nam Á.

Trong một số lãnh vực như: tổ chức, tiếp vận, tham mưu và chỉ huy, quân đội VNCH thua kém quân đội Hoa Kỳ thật. Nhưng họ làm gì khác hơn được khi đất nước họ là đất nước đang phát triển, họ mới giành độc lập từ tay chế độ thuộc địa và bất ngờ lao vào một trận chiến khốc liệt, đối đầu với kẻ thù hung hãng được vũ trang hùng hậu từ cả khối CS?

Thật ra, các khuyết điểm của quân đội VNCH có cũng giống như các khuyết điểm mà quân đội Hoa Kỳ mắc phải trong Trận Chiến Dành Độc Lập, dù rằng Hoa Kỳ vào thời cuối thế kỷ 18 đó có nhiều lợi điểm hơn, như:

- Tầm vóc của Cuộc Cách Mạng Dành Độc Lập hạn hẹp hơn và dễ điều khiển hơn.

- Khác với sự bị trị của VN, Hoa Kỳ qua kinh nghiệm bị trị đã nuôi dưỡng tinh thần tự trị địa phương và tạo thuận lợi cho quốc gia đào tạo nên những nhà lãnh đạo ưu tú.

- Quân đội Hoàng Gia Anh không bền bỉ như quân đội Bắc Việt.

- Có phải các binh sĩ Hoa Kỳ giỏi giang hơn các chiến hữu đồng minh của họ đến độ người Mỹ đối xử miền Nam VN với một thái độ khinh rẻ như vậy.

Câu trả lời cho cả hai câu hỏi trên là: "Không!"

Bằng chứng cho câu trả lời đó thật rõ ràng. Ý đồ Tổng Công Kích Tết Mậu Thân của Cộng quân là bẻ gẫy ý chí phòng thủ của miền Nam VN. Nhưng chúng đã thất bại, binh sĩ VNCH đã chống trả một cách quyết liệt và hữu hiệu: không một đõn vị nào bị tan rã hay tháo chạy. Thậm chí cảnh sát cũng đã chiến đấu, họ dùng cả súng lục để bắn lại bộ đội chính quy của Bắc Việt trong khi những người bộ đội CS này thì lại được võ trang với vũ khí hạng nặng. Theo báo cáo cho thấy là vào thời điểm đó, số người tình nguyện nhập ngũ lên quá cao, đến nỗi chính phủ phải ngưng tuyển mộ lính trong một thời gian.

Trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, các binh sĩ VNCH bị vây hãm tại An Lộc đã anh dũng tử thủ chống trả lại lực lượng hùng hậu của địch, cùng với những trận mưa pháo bất tận, và cuối cùng họ đã đè bẹp được những trận tấn công liên tục của các chiến xa địch quân. Sau đó, tôi được một cố vấn Mỹ kể lại chuyện một tiểu đội bộ binh VNCH được lệnh phải phá hủy 3 chiếc xe tãng của địch. Ông kể:

- Các binh sĩ của tiểu đội này phá hủy được một chiếc xe tãng, rồi sau đó họ lại tự quyết định bắt sống hai chiếc xe tãng kiạ Họ rượt bộ và bắt được thêm một chiếc nữa, còn chiếc kia thì chạy thoát. Khi trở về phòng tuyến, họ bị khiển trách nặng nề.. vì đã để chiếc xe tãng kia tẩu thoát."

Tuy hành động của tiểu đội lính này không đúng với quân kỷ lắm, nhưng cái hành động đó đã nói lên tinh thần chiến đấu cao độ và sáng kiến tác chiến của rất nhiều binh sĩ VNCH. Chắc chắn sự kiện trên không thể hỗ trợ luận điệu cáo buộc họ hèn nhát được.

Một chứng cớ điển hình hơn, trong những giờ phút cuối cùng của miền Nam VN nãm 1975, khi mà nỗi tuyệt vọng bao trùm lên cả đất nước họ, khi mà biết rõ rằng Hoa Kỳ sẽ không yểm trợ gì nữa (ngay cả nhiên liệu và đạn dược); ấy thế mà một sư đoàn VNCH đã anh dũng cầm cự chiến đấu với bốn sư đoàn quân Bắc Việt trong suốt hai tuần lễ tại Xuân Lộc. Trên mọi bình diện, trận chiến Xuân Lộc đó cũng hào hùng như bất cứ trận chiến nào trong quân sử Hoa Kỳ. Các binh sĩ VNCH cuối cùng đã phải rút lui vì không lực của họ không còn bom cluster để yểm trợ cho lực lượng bộ binh đụng trận dưới đất.

Có lần tôi được coi một phim tài liệu truyền hình nói về một người phóng viên Úc đặc trách quay phim chiến trường. Khác với các phóng viên Mỹ, ông ta dành nhiều thì giờ theo sát binh sĩ VNCH. Ông ta công nhận tinh thần chiến đấu anh dũng của họ, và để minh chứng điều đó, ông đã cho trình chiếu cả cuốn phim. Ông ta nhớ lại rằng, trong chuyến thãm viếng một khu làng do địch quân kiểm soát, ông được nghe kể rằng CS sợ binh sĩ VNCH hơn là sợ binh sĩ Mỹ. Cái lý do chính là binh sĩ Mỹ quá ồn ào, do đó địch quân luôn nghe trước được đường tiến quân của họ. Làm sao có được điều so sánh này nếu trên thực tế các binh sĩ VNCH không thuộc loại lính thiện chiến.

Tuy nhiên, cái chứng cớ quan trọng nhất để chứng minh tinh thần chiến đấu cao độ của binh sĩ VNCH nằm trong hai sự kiện thật đõn giản và rõ ràng sau đây, dù rằng các sự kiện này thường bị làm ngõ hoặc giả vờ không biết nhằm che đậy sự thất bại của Hoa Kỳ tại VN.

Sự kiện thứ nhất: Chiến tranh đã bắt đầu từ 7 nãm trước khi quân đội tác chiến Hoa Kỳ bước chân vào VN, và trận chiến đó vẫn tiếp tục kéo dài suốt 5 nãm sau khi Hoa Kỳ rút quân. Phải có những người đứng ra chiến đấu trong thời gian đó, và không ai khác hơn là các binh sĩ VNCH.

Sự kiện thứ hai: Có độ 1/4 triệu binh sĩ VNCH hy sinh trong cuộc chiến. Nếu đem so sánh tỷ lệ dân số hai nước, thì con số này phải tương đương với khoảng hai triệu người Mỹ chết (gấp đôi tổng số thương vong của tất cả cuộc chiến Hoa Kỳ cộng lại). Bạn không thể tổn thất lớn lao như vậy nếu bạn không thực sự chiến đấu.

Thế thì tại sao thanh danh quân đội VNCH lại bị xúc phạm nặng nề như vậy ?

Dĩ nhiên quân đội VNCH cũng có một số lần chiến đấu kém hiệu nãng hoặc bị khủng hoảng, nhưng các trường hợp này cũng từng xảy ra trong quân đội Hoa Kỳ. Tôi biết một vị chỉ huy đõn vị pháo binh Hoa Kỳ đã có lần ra lệnh trực xạ vào địch quân vì lực lượng bộ binh Mỹ "bảo vệ" cho cãn cứ pháo binh đã hốt hoảng tháo chạy trước hỏa lực hùng hậu của địch.

Sự kiện trên không có nghĩa là toàn thể quân đội Hoa Kỳ hèn nhát, và đôi lần thất bại của binh sĩ VNCH cũng không có nghĩa là toàn thể quân đội VNCH hèn nhát.

Dù vậy, người ta lại rất dễ tin như thế khi được nghe kể lại từ chính miệng các cựu chiến binh Hoa Kỳ hoặc từ các chính trị gia nhằm chạy tội cho chính phủ Hoa Kỳ về việc bỏ rõi miền Nam VN trong cõn hấp hối.

Sự thật của vấn đề được diễn tả khéo nhất qua mẩu đối thoại cách đây gần hai thế kỷ khi một mệnh phụ Anh hỏi Quận Công Wellington rằng: "Có bao giờ quân Anh tháo chạy trên chiến trường không?" Vị Thiết Quận Công này trả lời: "Thưa bà, tất cả binh sĩ đều bỏ chạy trên chiến trường."

Chỉ cần lướt qua quân sử cũng đủ để xác nhận điều này. Trong suốt cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ, chúng ta đã thấy rất nhiều tấm gương can đảm nhưng cũng không thiếu gì các hành động khiếp nhược. Trên mặt trận, lúc đầu binh sĩ của hai phe Nam Bắc đều chiến đấu rất dũng cảm, rồi phòng tuyến vỡ, rồi bỏ chạy, rồi tái phối trí và chiến đấu trở lại. Không có quân đội nào được xem là có lòng hy sinh anh hùng hơn họ, nhưng những binh sĩ tham dự trận nội chiến này cũng không tránh khỏi những lúc thất điên bát đảo, và đó cũng là chuyện thường tình trên chiến trường.

Tác giả S.L.A. Marshall đã tường thuật chuyện một đại đội lính Mỹ trong Đệ Nhị Thế Chiến đã tháo chạy tán loạn trước tiếng la ré xung phong của một toán lính Nhật. Nhưng đại đội lính Mỹ khác thì lại tiếp tục chiến đấu, giết sạch hết toán lính Nhật (độ 10 người), và khám phá ra rằng hầu hết những tên lính Nhật này không võ trang gì cả.

Nếu chuyện trên xảy ra cho một đõn vị quân đội VNCH, thì chắc chắn những kẻ muốn bôi nhọ quân đội này sẽ lợi dụng đó như là một "cõ hội bằng vàng" để mạ lị rằng toàn thể quân lực VNCH là hèn nhát. Tại sao vậy ? Tôi đã nêu ra câu trả lời rồi. Tất cả tùy thuộc vào màu da và ngôn ngữ của các binh sĩ liên hệ. Sự thật bỉ ổi là việc mạ lị quân đội VNCH lại xuất phát từ tinh thần kỳ thị chủng tộc và bồng bột của nền vãn hóa Hoa Kỳ.

Tôi có thể làm chứng cho việc xuyên tạc đầy ác ý và phổ quát này. Khi vừa đến VN vào tháng 6 nãm 1969, tôi đã chứng kiến ngay sự ngu ngõ và thái độ khinh bỉ của một số người Mỹ đối với nhân dân và quân đội VNCH. Cái thái độ đó nằm trong mọi tập thể quân nhân da trắng lẫn da đen, trong các giới dân sự cũng như ký giả Hoa Kỳ. Phong trào thù ghét đất nước và nhân dân VN bị lan tràn như một thứ bệnh dịch truyền nhiễm đáng ngạc nhiên.

Tôi quen một viên đại úy Hoa Kỳ tốt nghiệp về môn điện ảnh từ một viện đại học danh tiếng (một ngành chuyên môn được dùng để giúp nâng cao trình độ nhận thức quan sát). Khi viên đại úy này trở lại đõn vị sau một chuyến công tác ngắn tại Thái Lan, anh ta ca ngợi đáo để dân tộc Thái Lan. Anh nói rằng: "Dân Thái Lan cho con cái đi học khác hẳn với dân VN". Anh ta ngạc nhiên nhưng lại không lộ vẻ hối hận khi tôi chỉ cho anh thấy một ngôi trường VN sát nách doanh trại chúng tôi. Bất cứ ai có mắt cũng đều thấy hàng trãm em học sinh mặc đồng phục quần xanh áo trắng qua lại mỗi ngày, chỉ trừ anh chàng phim ảnh này không nhìn thấy các em mà thôi. Thật là mỉa mai khi người VN có tiếng hiếu học hơn người Mỹ, và miền Nam VN đã nâng cao được mức biết đọc biết viết từ 20% lên 80% trong khi đất nước chiến tranh triền miên (và mặc dù CS chủ trương giết hại các giáo chức), thế mà lại bị anh chàng phim ảnh này cho rằng VN không có trường học. Vì bị gởi đi chinh chiến xa xôi và bị cách biệt gia đình, nên anh Mỹ này nảy sinh lòng oán ghét VN, và tạo nên thành kiến rằng mọi người VN đều đáng khinh. Do đó, trong đầu anh cứ ám ảnh là VN không có trường học, dần rồi cái tâm lý bệnh hoạn đó đã làm huỷ đi cái khả nãng nhận thức và đánh lừa cả thị giác của anh.

Hãy tưởng tượng cái tâm trạng của một tập thể lính Mỹ ít học, sống giữa một nền vãn hóa xa lạ và thần kinh lúc nào cũng bị cãng thẳng ra sao ?! Có lẽ chúng ta không nên trách cứ những người lính thiếu học này, lỗi là do nõi các cấp chỉ huy Hoa Kỳ đã huấn luyện họ hiểu một cách mõ hồ về đất nước VN cũng như về thực chất của cuộc chiến.

Tuy nhiên, đó không phải là cái cớ để các cựu chiến binh Mỹ huênh hoang rằng họ hiểu những cái mà họ đã thấy tại VN. Các cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại VN cần được vinh danh về các đức tính can đảm, hy sinh, ái quốc của họ. Nhưng can đảm và hy sinh không đồng nghĩa với kiến thức. Đánh giặc tại VN không làm cho những người lính này trở thành những chuyên viên thông thạo về đất nước hoặc cuộc chiến VN, cũng như việc mang nặng đẻ đau không thể biến người đàn bà trở thành một chuyên gia về thai nhi học được.

Giới truyền thông Mỹ cũng chẳng khá gì hơn. Trong một phóng sự đầy thành kiến, tôi nghe một phóng viên lên án Không Lực VNCH - dù đã được tân trang qua chương trình VN Hóa Chiến Tranh - thế mà lại "đẩy cho Không Quân Hoa Kỳ" thực hiện những phi vụ nguy hiểm ngoài Bắc Việt. Trên thực tế Hoa Kỳ không muốn Không Quân VNCH bay ra Bắc (chỉ trừ vài phi vụ oanh tạc ban đầu). Các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ muốn kiểm soát kế hoạch oanh tạc để dùng nó như một lá bài thương thuyết. Vì không muốn miền Nam VN có bất cứ quyền kiểm soát nào trong chính sách oanh tạc, Hoa Kỳ đã trang bị cho Không Quân VNCH những vật dụng không thích hợp cho các phi vụ ra Bắc. Miền Nam VN không được cung cấp oanh tạc chiến đấu cõ, phi cõ tiếp liệu trên không, vũ khí hay các dụng cụ điện tử cần thiết cho các phi vụ này. Đó là quyết định của người Mỹ.

Câu hỏi đặt ra là có phải người phóng viên truyền hình nêu trên dốt đặc về sự kiện đó hay giả vờ không biết nhằm đi hạ nhục những đồng minh của Hoa Kỳ. Dựa vào các lời lẽ lố bịch, chói tai và thanh âm của anh ta, tôi kết luận rằng anh ta chủ mưu làm như vậy.. Một thí dụ khác nói lên cái thành kiến của giới truyền thông, đó là trận chiến vây hãm Khe Sanh. Nếu bạn đi hỏi một ngàn người Mỹ từng nghe biết về trận đánh này rằng đõn vị nào chiến đấu tại Khe Sanh, thì có lẽ hầu hết đều trả lời là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Nhưng sẽ làm họ ngạc nhiên nếu có một người trong số ngàn người đó nói rằng có một tiểu đoàn Biệt Động Quân VNCH đã cùng chia sẻ nỗi gian lao với các đồng minh Thủy Quân Lực Chiến Hoa Kỳ trong trận chiến ngặt nghèo đó.

Có nhiều đõn vị VNCH khác cũng đã hỗ trợ chiến đấu bên ngoài vòng đai cãn cứ Khe Sanh. Giới truyền thông Mỹ không đếm xỉa đề cập đến các chiến hữu đồng minh của Hoa Kỳ, mà họ chỉ để ý đến những điều bê bối thôi, bởi vậy những binh sĩ VNCH chiến đấu cam khổ này đã bị trở thành những chiến sĩ "vô hình" của Khe Sanh. Tất cả thành kiến - trong quân đội cũng nhưtrong truyền thông - được thể hiện rõ ràng qua các bản tin chiến sự về cuộc hành quân Hạ Lào nãm 1972.

Trong cuốn phim tài liệu truyền hình mười nãm trước đây, có một đoạn phỏng vấn lính Mỹ trong lúc chiến trường Hạ Lào đang tiếp diễn. Các lính Mỹ được phỏng vấn này đang sống an toàn tại hậu cứ Nam VN. Họ "giải thích" về sự chiến đấu của quân đội VNCH với những lời lẽ khinh bỉ và kỳ thị. Thế mà sau đó người phóng viên này đã ca ngợi khen mấy người lính G.I Mỹ đó am tường về tình hình chiến sự hơn là các nhà tướng lãnh Hoa Kỳ.

Trận Hạ Lào đã trở thành đề tài vì nó có liên quan đến một tấm hình có cảnh người lính VNCH bám vào cái càng máy bay trực thãng để trốn chạy khỏi chiến trường. Tấm hình này bị bêu riếu khắp nước Mỹ ngày này qua tháng nọ như là một "bằng chứng" về sự khiếp nhược của quân lực VNCH. Thực tế, đây là một trò cổ điển nói lên mãnh lực của sự xuyên tạc hình ảnh. Thật ra thì sự việc nó diễn tiến như sau : Binh sĩ VNCH bị tấn công bởi một lực lượng Cộng quân hùng hậu. Quân đội Hoa Kỳ đã thất bại trong việc yểm trợ như đã hứa vì hỏa lực phòng không của địch quá mạnh. Những báo cáo cho biết là lính trên trực thãng đã đạp những thùng đạn đại bác từ cao độ 5,000 feet xuống với hy vọng chúng sẽ rõi vào vòng đai của quân đội VNCH. Các trực thãng đó đã không thể nào bay thấp hơn được.

Đại tá Robert Monelli, một sĩ quan Hoa Kỳ có mặt trong mặt trận đó đã kể lại trên báo Armed Forces Journal số 19 tháng 4 nãm 1972 nhưsau: "Một tiểu đoàn VNCH với 420 binh sĩ bi bao vây liên tiếp trong ba ngày bởi một trung đoàn CS độ 2,500 đến 3,000 tên. Quân đội Hoa Kỳ không thể tiếp tế cho họ được. Họ phải chiến đấu cho tới khi gần hết đạn, rồi mở đường máu bằng khí giới tịch thu của địch. Họ đã mang theo tất cả binh sĩ bị thương và cả một số xác chết. Không ảnh thám sát chụp được rõ ràng có 637 xác địch rải rác chung quanh cãn cứ. Về phía quân đội VNCH, tiểu đoàn trên chỉ còn lại có 253 binh sĩ sau khi đến được vòng đai bạn. Chừng 17 người trong số binh sĩ này bị khủng hoảng và đã bám vào càng trực thãng để chạy trốn, số binh sĩ còn lại thì không làm như vậy."

Bây giờ, có thể một số người cho rằng hành động bám vào càng trực thãng đang bay và dễ làm mồi cho hỏa lực phòng không địch là một hành động gan dạ. Hãy xếp đề tài đó qua một bên, tôi muốn đề cập đến việc là tại sao chỉ có một trường hợp riêng lẻ như vậy - xáp lá cà mở đường máu rút lui (được coi là một chiến thuật khó khãn nhất trong binh thư) lại bị thổi phồng để đi lên án cả một quân lực, cả một quốc gia, cả một dân tộc?

Câu trả lời là tại vì kỳ thị chủng tộc. Các người lính VNCH bám lủng lẳng vào trực thãng bị coi là những tên ngoại quốc hợm hĩnh. Nhưng nếu là lính Mỹ, hay cả lính Anh, thì hành động này đã gây được lòng trắc ẩn vì được biện minh rằng họ vừa trải qua một cuộc thử thách đầy cam go. Bằng cớ cho lập luận này có thể thấy được qua cái phản ứng của người Mỹ đối với cuộc rút lui của binh sĩ Hoàng Gia Anh trong những ngày đầu của trận Đệ Nhị Thế Chiến. Từng có một số lần nhục nhã đã xảy ra trong quân đội Hoàng Gia Anh tại Dunkirk và nhiều nõi khác. Tại Dunkirk, một trung sĩ trên một chiếc tàu cấp cứu đã chĩa súng tiểu liên vào các binh sĩ khủng hoảng để duy trì trật tự. Trên một con thuyền khác, binh sĩ phải dùng báng súng đánh vào đầu một viên sĩ quan để ông ta khỏi leo qua mép thuyền làm nước tràn vào. Tại Crete, một lữ đoàn Tân Tây Lan phải lập vòng đai an toàn quanh biển bằng dao gãm để ngãn chặn binh sĩ Hoàng Gia Anh tràn ngập lên thuyền. Cái hình ảnh quân đội Hoàng Gia Anh đõn thân độc mã chống lại Hitler nãm 1940 thì ca ngợi là một biểu tượng đầy đủ dữ kiện, còn những trường hợp riêng lẻ như các trường hợp kể trên không được phép làm hoen ố cái bức tranh toàn cảnh dũng cảm và tận tụy của những người lính chiến.

Thành thật mà nói thì quân đội VNCH đã chiến đấu một cách tầm thường trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, ngoại trừ trận đánh hào hùng và tuyệt cú tại mặt trận Xuân Lộc. Nói vậy chứ nó cũng có những nguyên do của nó. Và cũng có nhiều yếu tố để ta tin rằng nếu nhận được sự yểm trợ chân thành từ phía Hoa Kỳ, quân đội VNCH đã có thể tạo được những trận thư hùng như kiểu Xuân Lộc, và không chừng ngay cả việc họ đã cứu vãn được đất nước.

Vấn đề đặt ra đây một lần nữa không phải đề bàn đến cách ứng xử của miền Nam VN, nhưng chính là đem so sánh cách ứng xử của họ với Hoa Kỳ để xem liệu Hoa Kỳ ứng xử ra sao nếu Hoa Kỳ bị nằm trong một hoàn cảnh, tình huống tương tự. Và thật sự - nếu binh sĩ Hoa Kỳ bị bỏ rõi giống như Hoa Kỳ đã cắt viện trợ Miền Nam VN một cách nặng nề trong nãm 1974, nhiều tháng trước khi địch quân mở những trận tổng công kích lần chót. Hậu quả là chỉ có rất ít nhiên liệu và đạn dược cung cấp cho miền Nam VN. Phi cõ và quân xa của VNCH bị nằm ụ vì thiếu phụ tùng. Binh sĩ phải ra trận với máy truyền tin mà không có batteries, và các toán cứu thương thiếu cả các loại thuốc thang cãn bản. Pháo binh thì bị giới hạn bắn được ba trái đạn mỗi ngày trong ngày cuối cùng của cuộc chiến. Tình trạng bi đát đến nỗi tư lệnh quân đội Bắc Việt xâm lãng miền Nam VN, tướng Vãn Tiến Dũng cũng thừa nhận rằng khả nãng di động và hỏa lực của quân đội VNCH đã sút giảm phân nửa. Bên cạnh những ảnh hưởng trực tiếp về vật chất, chúng ta cũng phải để ý đến những tác hại tinh thần đối với các binh sĩ VNCH. Lợi dụng tình thế bi thảm này, quân đội Bắc Việt đã ào ạt tấn công với đầy đủ vũ khí tối tân, chiến xa và đại bác di động.

Vâng, quân đội VNCH đã bại vong. Họ đã vất bỏ các chiến cụ (phần lớn đã không còn dùng được vì thiếu phụ tùng) và một số đạn dược (số đạn mà họ đã dành dụm tối đa cho đến khi nó trở thành quá muộn để bắn, bởi vì họ biết rằng sẽ không bao giờ nhận được tiếp tế nữa). Vậy thì lỗi của ai ? Của họ.. .hay của Hoa Kỳ ?

Vâng, miền Nam VN rút quân khỏi các tỉnh cao nguyên e có phần trễ và vụng về, đưa đến sự khủng hoảng và sụp đổ. Nhưng làm sao chính phủ miền Nam VN lại cam tâm bỏ rõi đồng bào họ sớm hơn trước được, khi mà địch quân chưa tung ra một áp lực nào ? Đã có lúc miền Nam VN hy vọng oanh tạc cõ B52 Hoa Kỳ sẽ trở lại giúp họ ngãn chặn làn sóng tiến quân của CS. Nhưng khi rõ ràng là việc này sẽ không xảy ra, binh sĩ trở nên hoang mang là một điều dễ hiểu thôi. Tinh thần chiến đấu suy sụp, nhiều binh sĩ bị bỏ ngũ - không phải họ hèn nhát hay không muốn chiến đấu bảo vệ tổ quốc, nhưng bởi vì họ không muốn chết một cách vô ích trong khi gia đình đang cần.

Liệu Hoa Kỳ đã có thể làm gì khá hơn nếu ở trong tình trạng y hệt miền Nam VN thời 1975 ? Liệu các đõn vị Hoa Kỳ có tiếp tục hãng say chiến đấu trong lúc quân xa và hệ thống truyền tin thì hư hỏng, y tế thì què quặt, nhiên liệu và đạn dược thì thiếu thốn, không được máy bay yểm trợ - lại phải đương đầu trước một địch quân hùng hậu hỏa lực, đầy đủ tiếp liệu và tinh thần phấn khởi ? Tôi không tin như vậy. Liệu miền Nam VN có thể chiến thắng vào nãm 1975 nếu chính phủ Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ cho họ một số lượng tương đương với số tiếp liệu mà khối CS đổ vào Bắc Việt ? Câu trả lời không ai biết được. Nhưng chắc chắn một điều là họ cũng có được cõ hội chiến đấu bình đẳng, thế mà Hoa Kỳ đã phản bội tước đi cái cõ hội này của họ. Chắc chắn họ đã có thể chiến đấu một cách hiệu quả hơn. Rồi dù có thua, họ cũng thua một cách hào hùng trong một trận chiến để đời, và biết đâu đã chẳng tạo được một cuộc kháng chiến thần thánh như A Phú Hãn.

Ví dù miền Nam VN có bị đại bại hoàn toàn, cái yểm trợ tận lực của Hoa Kỳ sẽ cho phép người Mỹ nhún vai và nói rằng họ đã cố gắng hết sức. Nhưng, Hoa Kỳ đã không tận lực, mà trái lại người Mỹ lại còn cố gắng che đậy sự thật bằng cách bôi nhọ miền Nam VN và nhục mạ quân lực VNCH đã sai lầm.

Bây giờ đã quá trễ để Hoa Kỳ chuộc lại tội ác tầy trời khi bỏ rõi nhân dân miền Nam VN vào tay CS. Nhưng nó chưa quá trễ để Hoa Kỳ thú nhận lỗi lầm trong việc nhục mạ miền nam Việt Nam. Và cũng chưa quá trễ để bắt đầu vinh danh các thành quả và lòng dũng cảm của những binh sĩ VNCH đã chiến đấu bảo vệ lý tưởng tự do .



Ngô Kỷ chuyển ngữ

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

ÐOÀN CB/XDNT & CÁC TRẬN ÐÁNH TẠI RẠNG
(Xã Thiện Khánh, Mũi Né) :



Sau khi rời khỏi Trung Tâm Huấn Luyện CB/XDNT Chí Linh hoặc Trung Tâm Lam Sơn tại Vũng Tàu. Với túi hành trang trở về Tỉnh nhà đến tận Xã,Thôn thực hiện đúng theo đường lối, Chính Sách đề ra, nghĩa là hoạt động công tác Xây Dựng và Phát Triển Nông Thôn theo kim chỉ nam của người Cán Bộ áo đen là: Cùng ăn, cùng ở, cùng làm, không ngoài chỉ đạo “Ði dân nhớ, Ở dân thương”.




Theo kế hoạch phân phối và điều hành của Tỉnh Ðoàn Cán Bộ, sau gần 2 năm công tác ở các Ðoàn Bắc Bình Thuận (Tuy Phong, Thanh Lương Duồng, Hòa Ða) rồi Nam Bình Thuận ( Ðại Tại, Ðại Nẫm, Phú Hội, Phú Khánh, Phú Lâm, Ma Lâm, Gò Bồi, Sa Ra, Tùy Hòa, Thiện Giáo) Sau đó khoản năm 68 tôi được lệnh Tỉnh Ðoàn CB chỉ thị về nhận nhiệm vụ Trưởng Ðoàn 17 CB/XDNT/BT, Ðoàn này đang hoạt động tại Xã Thiện Khánh thuộc Quận Hải Long (tức Rạng, Mũi Né) Quận này, lúc đó do Th/Tá Kiều Văn ÚT đương kim Chi Khu Trưởng. Ð/UÔy BÉ Chi Khu Phó. Ðại UÔy LONG Trưởng Ban Thường Vụ XDNT/Quận.



Dĩ nhiên trên toàn lãnh thổ VNCH bất cứ địa bàn Nông Thôn nào mất an ninh là Ðoàn CB áo đen được đưa đến đó phối hợp làm việc với các Vị Cán Bộ Hành Chánh Aãp, Xã, Quận cùng với đồng bào địa phương mà Ðoàn CB trách nhiệm ngày đêm hoạt động cho đến khi kết quả hoàn tất.



A.- NHỮNG PHƯƠNG ÁN HOẠT ÐỘNG CỦA ÐOÀN CB/XDNT :



Sau khóa tu nghiệp 3 tháng, người CB/XDNT trở về Nông Thôn với nhiều trách vụ, nhưng điều chính yếu luôn luôn trau dồi gắn bó với đức tính “Ða Năng, Ða Nhiệm”. Bắt tay vào công tác, người Ðoàn Trưởng liên hệ chặt chẽ với các Cấp Quận trước tiên, cùng các Ðơn Vị Trưởng Yểm Trợ Quân Sự. Và bước đầu công tác, chúng tôi liên hệ với các vị Xã Aãp tổ chức vận động đồng bào tham dự cuộc Meetting để Ðoàn Ra mắt cũng như trình bày nhiệm vụ của Ðoàn Cán Bộ gần gũi với đồng bào cùng góp tay xây dựng đáp ứng nhu cầu những tiện ích Xã Hội cho địa phương. Tiếp theo đó, chúng tôi phối trí công tác chung cho Ðoàn để chuẩn bị bước công tác trước tiên là :



1.- Công Tác Dân Sự Vụ :

-Thống kê dân số, và bổ túc lập sổ gia đình.

-Thành lập các Ðoàn Ngũ Giới.



2.- Công Tác Dân Ý :

-Sau khi thiết lập Danh Sách các Ðoàn Ngủ Giới, Ðoàn CB đặt kế hoạch sinh hoạt luân phiên hầu thảo luận nhu cầu tu sửa hoặc xây dựng các tiện nghi công ích, để nâng cao dân trí và phát triển cuộc sống của đồng bào khá hơn. Công tác này ưu tiên về cả 4 phương diện : -Xã Hội, Văn Hóa, Tôn Giáo, và Kinh Tế .

Xã Hội : Nhu cầu xây dựng Cầu, Ðường (Vét đập, đào Mương, Cống Rãnh và đấp đường Hương lộ) Nhà Thương, Trạm Y Tế.

Văn Hóa : Nhu cầu xây dựng Trường Học, tổ chức các lớp Mù Chữ, tổ chức kịch nghệ và Giáo Lý cho các Em Thiếu nhi am tường căn bản giá trị nền Văn Hóa nước nhà.

Tôn Giáo : Nhu cầu xây dựng Thánh Thất, Ðình Chùa, Lăng Miếu.

Kinh Tế : Nhu cầu xây dựng các Tổ Chăn Nuôi (Heo, Trâu, Bò, Dê, Gà, Vịt)

-Nông Nghiệp, huấn luyện công thức và kỹ thuật phân bón trồng trọt.

-Ngư nghiệp, huấn luyện kỹ thuật đánh bắt cá, và cấu trúc Lưới cùng các dụng

cụ khác .



Song song trong nhiều công tác, tùy theo tình hình cho phép sau 3 Tuần lễ chúng tôi tổ chức luân phiên 1 bữa cơm thân mật tại mỗi gia cư có Cán Bộ phụ trách, dĩ nhiên là không phải bữa cơm mâm cao cổ đầy, mà là bữa cơm thanh đạm cây nhà lá vườn, với mục đích để người Cán Bộ ấy có dịp nói lên những việc làm giúp ích thiết thực hằng ngày trong gia đình này tạo được tình cảm xâu xa, và cũng để những người trong nhà này phát biểu một vài cảm tưởng nhận CB làm Con, làm Cháu y như Con Cháu Ruột của gia đình vậy. Thêm vào đó, Ðoàn chúng tôi còn có nhiệm vụ vận động tổ chức đồng bào bình bầu trong địa phương đối với thành phần uy tín ra nhận lãnh phần vụ Gia trưởng, Nhóm trưởng, Khu hoặc Aãp Trưởng hầu điền khuyết các vị vì già yếu bệnh tật.



3.- Công Tác Xây Dựng & Phát Triển :



Dĩ nhiên trong nhiều công tác nêu trên, Ðoàn CB chúng tôi có những Toán, Tổ chuyên môn đã được Ðoàn phân nhiệm rõ ràng, tránh việc giẫm chồng công tác lên nhau. Trong mỗi công tác chúng tôi đều tổ chức những buổi meetting để thảo luận, đề cử và thành lập Danh Sách cho mỗi UƯy Ban Xây Cất, và mỗi công tác liên hệ chúng tôi đều thiết lập Hồ Sơ trình về Quận, Tỉnh xin chứng thực và giúp đỡ.



Trách nhiệm vẽ sơ đồ, liệt kê và chiết tính từng loại vật liệu xây dựng, tất cả Hồ Sơ đều có chữ ký thi thực của Chính Quyền Xã, Quận, cùng lúc báo cáo công tác về Tỉnh Ðoàn CB những đồ án ngay sau đó cũng như kết quả hoàn tất công tác. Ðặc biệt mỗi khi dự án khánh thành, Ðoàn CB đều có tổ chức kịch nghệ do các em Thiếu nhi học sinh Ca hát, Vũ điệu như “Giã gạo đêm trăng” hoặc kịch “Xóa nạn mù chữ”... v.. v đã được CB tập luyện trình diễn ngay tại địa phương ấy.



Với đức tính của người Cán Bộ gần gũi với đồng bào trong làng, từ Xóm trên đến Xóm dưới dân chúng ai ai cũng đếu biết và đặt nhiều thiện cảm sâu xa với anh em CB chúng tôi, từ đó vấn đề lúc đầu còn bỡ ngỡ hoặc e ngại, nhưng dần dần về sau không còn là vấn đề khoảng cách nữa. Nhờ vậy mà Bà Con Cô Bác đã thật sự tin tưởng, và tỏ thiện cảm phục hồi an ninh, sung túc phát triển cuộc sống hằng ngày nhộn nhịp hơn.



Ðể kiện toàn công tác, Ðoàn CB phải thực hiện công tác sau cùng hết sức quan trọng là công tác thành lập một “Hương Ước” chung cho đơn vị Xã và điều kiện uyển chuyển tùy theo cuộc sống, sinh hoạt của dân chúng trong từng Ấp. Công tác này qua nhiều cuộc gập gở với nhiều Vị Thân Hào Nhân Sĩ trong Làng, các vị Liên Gia, Khu, Nhóm trưởng, các vị Ðại Diện Tinh Thần các Tôn Giáo, Ðại Diện các Ðoàn Ngủ Giới. Theo tinh thần thảo luận các điều lệ, thể lệ (Nội Quy, Qui Ước) không ngoài mục đích phát huy tinh thần Ðạo Ðức, Luân Lý, Thuần Phong Mỹ Tục, nêu cao tinh thần Tương Thân, Tương Trợ, bảo vệ truyền thống Văn Hóa nước nhà. Bản Hương Ước có nhiều Chương, Khoản qui định rõ ràng điều kiện, Thể Lệ, hầu dân chúng địa phương áp dụng và thi hành về sau.



Từ nhiều công tác và trách vụ của Ðoàn CB/XDNT chúng tôi vừa nêu trên, chúng tôi không quên trình bày thêm vài nét then chốt đối với những gia đình có Con Em tập kết hoặc trốn rừng, lúc đầu chắc chắn các gia đình này thấy Ðoàn CB đến làm việc, họ cảm thấy khó chịu, ngột ngạt, có phần lo ngại, nhưng rồi ngày qua tháng lại nhờ gần gũi với anh em CB giải thích cũng như giúp đỡ một hai vấn đề cần thiết hằng ngày mà người CB áo đen chúng tôi sinh hoạt ăn ở hòa nhã mật thiết trong những gia đình kế bên, tự nhiên dần dần họ tìm cách xích lại gần và ôn tồn nhã nhặn mến thương người CB phụ trách. Từ đó nhờ sự lưu tâm của Ðoàn CB họ thật sự bày tỏ tâm tư và nguyện vọng muốn kêu gọi Con Em họ Chiêu hồi quay về sum hợp với gia đình.



Ðối đầu công tác hằng ngày của Ðoàn CB, dĩ nhiên các cơ sở nằm vùng của cộng sản đều bị tê liệt, không làm sao bọn Kinh Tài cộng sản tiếp tục lén lúp về thâu thuế, cướp bóc lúa gạo và cả việc bắt cóc Thanh Thiếu Niên Nam Nữ theo chúng làm dân công. Từ đó chúng dồn hết mọi nỗ lực tập trung quân ồ ạt bao vây tấn công Ðoàn CB và Ðơn vị Yểm Trợ, nhưng trong những cuộc tấn công nào của chúng đều hoàn toàn thất bại, vì chúng tôi được cung cấp tin tức từ Mật Báo Viên hằng ngày ở những họp thơ Dân Ý mà Ðoàn CB chúng tôi đặt ở những nơi đặc biệt, chỉ có Cán Bộ Ðiều Nghiên và CB trách nhiệm biết mà thôi, từ đó chúng tôi liên hệ báo trình với Ðơn Vị Yểm Trợ phối trí đặt kế hoạch đối phó.



Trên khắp 7 Quận của Tỉnh Bình Thuận, chúng tôi đều có mặt ở những Thôn Ấp xa xôi hẻo lánh, ngày lẫn đêm chúng tôi đều chạm trán với cộng sản ở các trận đánh qui mô cấp Tiểu đoàn có cả bọn chính qui bộ đội cs Bắc Việt lẫn cả Du kích cộng sản. Vì bọn Trung Ương đầu não của cs đã nhận nhiều báo cáo của chúng từ hạ tầng cơ sở đều bị tê liệt mỗi khi có mặt Ðoàn CB/XDNT xuất hiện, bởi thế chúng tìm đủ mọi cách để tấn công tiêu diệt Ðoàn CB và Ðơn Vị Yểm Trợ. Với vũ khí thô sơ (Carbin M1 + Garant phóng lựu + Tiểu liên Tompson M1 + Trung Liên Bar và số ít lựu đạn M26) cấp số này duy chỉ để bảo vệ cá nhân trong lúc hành sự. Tuy nhiên vì Ðoàn chúng tôi thường bị cs tấn công nên dần dần được Tỉnh Ðoàn tăng cường thêm vài súng Carbin M2, vài súng M16, 01 súng M79 và 01 máy liên lạc PRC/10. Thêm vào đó cũng chính vì nhu cầu chiến đấu và tác động tinh thần tác chiến cho Ðoàn CB, chúng tôi ngoại giao với Ðơn Vị bạn xin thêm một số lựu đạn M26, vì ưu thế của lựu đạn này giúp phá hủy được ổ súng lớn của VC, tiêu diệt được các mũi xung kích của VC lúc tấn công.



DIỄN TIẾN NHỮNG TRẬN ÐÁNH TẠI RẠNG, MŨI NÉ (tức Quận Lỵ Hải Long) :



Ðoàn 17/CB/XDNT/BT như trên chúng tôi đã trình bày, vì không phải là đơn vị tác chiến thuần túy với VC, nhưng không vì thế mà Ðoàn chúng tôi không một lần chạm địch. Ngược lại Ðoàn CB chúng tôi thật sự mà nói là khi Ðoàn CB đến đâu, cộng sản đều quyết tử thử lửa đến đó, vì chúng cho Ðoàn CB là thành phần ác ôn nguy hiểm của chúng, thế nên bất cứ giá nào chúng đều cố gắng tiêu diệt Ðoàn CB cho bằng được. Nhưng chúng đã lầm và nhận chịu thất bại ê chề từ Du Kích chiến đến qui ước, như kết quả cho thấy chúng đã nướng gần một triệu Thanh Thiếu Niên gọi là “Sinh Bắc tử Nam ” song cùng nhiều trăm ngàn Du kích địa phương. Về Cán Bộ XDNT trên toàn lãnh thổ VNCH tổn thất cũng không kém.



Khoản tháng 9/1968 Một trận đánh diễn ra từ 9 giờ tối đến 3 giờ sáng tại địa điểm Ðoàn CB chúng tôi phụ trách tại RẠNG, Nũi Né (tức Xã Thiện Khánh, thuộc Quận Hải Long, Tỉnh Bình Thuận) . Sau thời gian nhận chỉ thị về điều hành Ðoàn CB tại đây khoản 2 tháng, vì thời gian còn quá sớm nên tin tức tình báo nhân dân chưa được tin cậy, yếu tố phối kiểm nguồn tin thiếu chính xác, nên Ðoàn CB chúng tôi chưa nắm vững tình hình Cơ Sở VC tại đây. Cũng hằng đêm công tác bố trí an ninh cùng với Ðơn Vị Yểm trợ Ðịa Phương Quân. Trong đêm trách nhiệm Ðại Ðội 128 do Trung UÔy Hiệp Ðại Ðội Trưởng, cùng Ðoàn chúng tôi phối trí một vòng đai cho vị trí đóng quân, ngay khi nhận lệnh trên máy truyền tin PRC/10 với Ðơn Vị Trưởng Ðịa Phương Quân, chúng tôi truyền lệnh cho Anh Ðoàn Phó Dân Quân điều động các Trưởng Toán di chuyển đến vị trí theo kế hoạch và đội hình tác chiến. Nhận trách nhiệm chiều dài vòng đai đóng quân khoản 120 mét hướng Ðông ngó thẳng về Quận Lỵ, cách ranh giới Xã Thiện Nghiệp chừng 500 mét, phía trái là vòng đai của Ðơn vị Yểm Trợ 128/ÐPQ cách đường lộ xe đò về Phan Thiết khoản 100 mét, và phía bên kia đường là bìa rừng và đồi cát.



Sau khi đào hố cá nhân quanh vị trí phòng thủ vừa xong độ khoản 9 giờ tối, vì còn sớm chưa ngủ được, chúng tôi còn đang kiểm soát lại các trạm gát, nhưng rồi tôi nghe tiếng Chó sủa inh ỏi ở phía trước vọng gác của Ðoàn CB chúng tôi. Lúc bấy giờ tôi vẫn còn đứng gần vọng gác để quan sát và nghe ngóng, thì một CB trách nhiệm gác vào báo cáo cho biết có thấy chập chờn vài bóng đen qua lại, từ góc Dừa này đến góc Dừa nọ. Biết chắc chắn là VC sắp dàn trận tấn công, tôi liền ra lệnh cho Ðoàn CB : xuống hố cá nhân ! sẵn sàng ! Vì chưa kịp báo cáo tình hình VC đã xuất hiện phía trước mặt Ðoàn CB cho Ðơn Vị Trưởng ÐPQ thì một loạt đạn AK47 bay ngang qua tai tôi, nghe chát chúa tôi liền chùm người xuống và lăn qua khỏi Hố cá nhân tác xạ phóng lựu của 2 CB có tên Nguyễn Văn Hồi và Nguyễn văn Phần, tiếp tục tôi lăn mấy trọc nữa để vào hố cá nhân của CB Âm Thoại Viên, cầm ống Liên Hợp báo cáo Ðơn Vị Trưởng biết là VC xuất hiện tấn công Ðoàn. Anh Ðoàn Phó Dân Quân cũng đang bám vị trí của Toán 01 lệnh xạ thủ 3 ổ Trung Liên Bar nhã đạn từng loạt , trận đánh phút đầu quyết liệt, thình lình một trái đạn P/40 của VC nổ ầm vang ngay hố cá nhân 2 xạ thủ phóng lựu khi nẫy tôi vừa lăn qua khỏi hố. Tôi nghe rõ tiếng rên hì hì của 2 Cán Bộ này, vội vàng tôi báo cáo cho Ðơn Vị rằng Ðoàn CB bị thương nặng 2 con. Nhưng tiếng đạn réo như mưa không làm sao tải thương 2 CB vào nơi an toàn được. Mặc dầu trận chiến từng hồi ác liệt, Ðoàn chúng tôi vẫn bám hố cá nhân chiến đấu đến cùng, thế rồi tiếng báo cáo trên máy HT/1 của Toán 2 &3 là hai con gà cồ (Trung Liên Bar) bị cát sỏi chui vào làm ngẹt đạn, tôi trả lời cứ sử dụng lựu đạn M/26. Vội trả máy HT/1 cho liên lạc viên , sang qua ốÔng liên hợp nghe lệnh của Ðơn Vị Trưởng ÐPQ cho biết là sắp có Trăng lên từ C/130 ! Trung UÔy Hiệp cũng cho tôi biết là Con Gà Cồ (Cối 60 ly bị ngẹt ) vì bị trúng đạn P/40 của VC. Nghe vậy tuy phút chốc tôi xuống tinh thần, nhưng nhờ C/130 đến quầng trên đầu thả trái sáng nên tôi vững tâm, cùng lúc tai tôi nghe Anh xạ thủ Trung liên tên C của Toán 1 Dân Quân nhờ đặt dưới chùm góc Chuối đất cứng nên Anh đã khạc đạn liên thanh ngay chính mục tiêu VC đang lôi xác tải thương đồng bọn của chúng.



Lúc này hỏa lực của VC yếu, cầm chừng, nhờ vậy và lợi dụng đèn sáng, tôi phóng nhanh mắt tới ngay hố cá nhân của 2 Cán Bộ, thấy cát bụi phủ lấp hố gần ngập đầu, biết chắc 2 đồng đội này không thể sống nỗi, tôi lệnh ngay cho 2 CB thuộc Bộ Chỉ Huy Ðoàn lấy poncho đến hố cá nhân 2 CB tử trận, gói xác khiên lui vào phía sau của BCH Ðoàn để nằm cho an toàn, nhưng khi C/130 ngưng thả trái sáng thì chúng hô xung phong tấn công vào, và cứ như thế trong 5 đợt tấn công, Ðoàn chúng tôi cố thủ và ném lựu đạn thẳng tới mục tiêu chúng la xung phong, chắc chắn bọn chúng thiệt hại nặng nề.



Lúc này khoản gần 4 giờ sáng, hỏa lực của VC thật sự im lặng, tôi nghe trên ống liên hợp từ Ðơn Vị Trưởng ÐPQ báo cho lệnh lục soát, nhưng Ðoàn CB chúng tôi giậm chân tại chổ, và chờ lệnh mới được nổ súng. Vì trời còn tối nên được Chi Khu yểm trợ trái sáng lai rai cho đến mờ sáng, quyết định trận đánh kết thúc tôi lệnh cho Ðoàn lấp hố cá nhân và thu xếp gọn gàng chuẩn bị tải thương cho 2 CB chúng tôi về Chi Khu, đồng báo cho Thân Nhân biết tin đến nhận mang về mai táng.



Cùng lúc Tr/UÔy HIỆP cho biết kết quả lục soát thấy nhiều vũng máu đổ đầy ngay dưới góc Dừa, và nhiều vết chạy dài quanh co đứt đoạn được phũ bởi là Dừa khô, và vài ổ đạn Trung liên Dĩa (Tiệp Khắc) bị trúng đạn của ta xé móp méo bỏ lại hiện trường, và có lẽ nhờ các đợt tấn công thí mạng nên chúng lôi được hết xác mang đi không để lại xác nào.



Sau vài ngày, trận đánh được phối kiểm tin tức, và nhờ cuộc phục kích của Trung Ðội Nghĩa Quân ở địa phương đã truy kích, kết quả bắt sống một tên, y khai rằng trận đánh cách vài ngày qua hỏa lực của chúng cấp Ðại Ðội và tên Xã Ðội Phó bị gục chết ngay tại trận cùng 5 tên khác, và khoản chục tên bị thương, nhưng tất cả, chúng cố liều tấn công để lấy xác mang đi.



Sau trận đánh, Ðoàn chúng tôi được lệnh hằng đêm di chuyển vào Ðồn đóng quân của Trung Ðội Nghĩa Quân trách nhiệm Xã kế bên, Ðồn này ở vị thế trên đồi cát nhìn xuống con Suối được gọi là Suối Cầu Thiện Nghiệp. Ðể chấn an và xoa dịu tinh thần CB ít nhiều vì căn thẳng, xúc cảm tiếc thương 2 CB đồng đội đã ra đi vĩnh viễn. Chúng tôi không vào Ðồn nữa sau gần 2 tuần le,ấ mà hằng đêm Ðoàn chúng tôi tiếp tục phối trí với Ðơn Vị Yểm trợ thay phiên giữa 2 Ðại Ðội ÐPQ/128 Tr/UÔy HIỆP và ÐPQ/290 do Th/ UÔy SÂM quyền Ðại Ðội Trưởng. Chúng tôi tiếp tục hoạt động công tác như thường lệ khoản hơn 01 tháng sau, bọn VC lại đột nhập về thử lửa lần Hai cách trận đánh trước không đầy 2 cây số tại Chợ Rạng gần Trụ Sở Xã. Chúng lợi dụng bìa rừng địa thế đồi cao nên chúng cố triệt hạ để tổ chức, củng cố và nuôi dưỡng các Cơ Sở nằm vùng của chúng.



Trận này Ðơn Vị Yểm Trợ ÐPQ/290 + Trung Ðội Nghĩa Quân Xã cùng Ðoàn CB chúng tôi. Một lần nữa chúng tập trung quân mở 2 mũi tấn công, một hướng thẳng vào Trường Tiểu Học, và hướng khác vào Chợ Rạng. Lần này trận đánh khởi điểm gần 12 giờ khuya, hỏa lực Ðại Liên và P/40 của chúng từ trên đồi Chợ Rạng xả xuống như mưa, để yểm trợ cho 2 mũi tấn công theo kế hoạch bọc hậu từ Chợ và Trường Học hầu dập nát Trụ Sở Xả, nhưng kế hoạch trên của chúng bị Ðơn Vị Yểm trợ Quân sự bẻ gãy ngay trong phút đầu mũi tấn công hướng vào Trường học, bọn chúng đụng phải 2 quả mìn LAYMORE của Ðơn Vị Nghĩa Quân, chúng gục chết nhiều tên và một số bị thương, còn hướng vào Chợ cũng bị đụng phải hỏa lực của 290/ÐPQ đẫy chúng tháo lui, lần này không tài nào chúng lôi xác đi hết, phải bỏ lại 3 xác. Cũng trong trận này vị trí trách nhiệm của Ðoàn CB chúng tôi phối trí vòng đai phía sau lưng Trường học nên không chạm địch, và kết quả bên ta hoàn toàn vô sự, VC bỏ lại 3 xác tại chỗ.



Sau trận đánh này, Ðoàn CB chúng tôi vững tinh thần hơn, nhờ vậy chúng tôi xúc tiến công tác hữu hiệu, và sau gần 6 tháng Ðoàn CB chúng tôi hoàn tất công tác, tổ chức lễ Bàn Giao tất cả Hồ Sơ cho Cơ Quan Hành Chánh Xã trực thuộc. Ngay khi đó Ðoàn CB chúng tôi được lệnh từ Tỉnh Ðoàn CB/XDNT cho di chuyển đến địa phận Xã Thiện Nghiệp, cận ranh giới Xã Thiện Khánh vừa hoàn tất. Tiếp tục tiến hành công tác tuần tự như vậy tại đây cho đến ngày hoàn tất, Ðoàn CB chúng tôi không còn bị VC tấn công nữa. Trước khi rời khỏi địa điểm này đến nơi khác, Ðoàn CB chúng tôi có tổ chức đêm Văn Nghệ cho đồng bào xem giãi trí, buổi văn nghệ đông đảo đồng bào đến xem, chúng tôi cũng thấy đồng bào ở Xã kế cận cũng rủ nhau kéo đến xem thật vui nhộn.



Tóm lại những trận đánh mà Ðoàn CB/XDNT chúng tôi như trên đã trình bày chi tiết, vì không phải là đơn vị thuần túy tác chiến với VC. Ðoàn CB chúng tôi chỉ hoạt động trách nhiệm công tác hướng dẫn và giúp đỡ đồng bào cùng chung tay xây dựng các công ích Xã Hội, giúp cho người dân hiểu biết và sử dụng kỹ thuật nghề nghiệp để nâng cao mức sống. Thế mà VC lại xua quân đột nhập vào Thôn Ấp tấn công vào Ðoàn CB cũng như đơn vị yểm trợ hầu tàn phá, gây rối trật tự an ninh, âm mưu thâu thuế, cướp bóc lương thực Lúa Gạo, tài sản của đồng bào, chúng còn bắt cóc Thanh Thiếu Nữ vào rừng đi dân công cho chúng. Sự thật rõ ràng đây là một cuộc chiến hết sức bỉ ổi và mỉa mai mà bọn Ðầu Gấu Bắc Bộ Phủ thi hành hết sức ngông cuồng lệnh của đảng cộng sản đệ tam quốc tế, thờ tổ Mác Lê và đồ têẩ ngoan ngoãn cho Nga Tàu xúi giục bọn tôi mọi gọi là “Mặt trận giải phóng Miền Nam” đó chỉ là con thiêu thân, và rồi để rơi mặt nạ ngay sau ngày 30-4-75.



San Jose ngày 24-8-06

KHAI TRINH
Cựu HS. TH Phan Bội Châu 56-63

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Ấp Bắc: Thực Tế và Huyền Thoại

Post by phu_de »

Ấp Bắc: Thực Tế và Huyền Thoại


Soạn thảo: Ký giả Hải Triều phỏng vấn cựu Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá
Lời tòa soạn: Nhân mùa 30/4 năm nay, sau khi nói chuyện qua điện thoại, cựu tướng Lý Tòng Bá đã gửi tới tòa soạn một bài ký viết tay, trong đó, tướng Bá đã viết lại tỉ mỉ những sự thực về trận Áp Bắc, những sự thực mà một số sách báo ngoại quốc và Cộng Sản đã xuyên tạc hay bóp méo sự kiện.

Trong trận Ấp Bắc (gần thị xã Mỹ Tho, tỉnh Định Tường) xảy ra vào đầu năm 1963, Đại Úy Lý Tòng Bá là người chỉ huy trưởng của Đại Đội 7 với các thiết vận xa M-113. Với sự chấp thuận của tướng Lý Tòng Bá, bài viết này được Hải Triều viết lại (cách hành văn) mà không sửa đổi bất cứ ý chính và chi tiết nào. Toàn bộ nội dung bài viết vẫn được giữ nguyên vẹn. Mong là bài viết này giải tỏa được một phần nổi uất nghẹn của tướng Lý Tòng Bá nói riêng và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) nói chung về những bất công và bất hạnh của quân lực trong cuộc chiến Việt Nam.

HẢI TRIỀU


-------------------------------------

Trận Ấp Bắc được ghi vào quân sử trong cuộc chiến Việt Nam. Báo chí quốc tế, và kể cả sách báo Cộng Sản cũng nhắc nhiều về Ấp Bắc. Đó là một trong những trận đụng độ khốc liệt quan trọng giữa Đại Đội 7 với các thiết vận xa M-113 của Việt Nam Cộng Hòa và quân Việt Cộng tại Khu Chiến Thuật Tiền Giang. Nói rõ hơn, là tại mật khu Đồng Tháp Mười thuộc miền Tây Nam Bộ của Việt cộng, cách xa quận Cai Lậy trên dưới chỉ 10 cây số về hướng Đông Bắc.

Không giống như những lần trước với những cuộc đụng độ cấp trung đội hay đại đội, lần này, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh VNCH đã phải sử dụng cả một trung đoàn, lần đầu tiên mở ra cuộc hành quân trực thăng vận với một tiểu đoàn Bảo An của tiểu khu Mỹ Tho tăng cường mà Đại Đội 7 M-113 của Sư Đoàn 7 làm nỗ lực chính để đối đầu với Việt Cộng.

Và cũng là lần đầu tiên mở rộng chiến tranh, cộng quân đã bất ngờ tung vào trận Ấp Bắc một lực lượng đáng kể gồm Tiểu Đoàn 514 Chủ Lực Mỹ Tho, Tiểu Đoàn Chủ Lực Miền 263, chưa kể những thành phần dân quân du kích khác. Lợi dụng địa thế hiểm yếu quen thuộc, Ấp Bắc không khác gì hơn là một cái làng bỏ trống nằm giữa khu đồng ruộng ngập nước quanh năm, chằng chịt kinh rạch, và cũng là nơi Việt Cộng luôn có mặt kiểm soát với nhiều lần chạm trận trong cuộc chiến 1945-55.

Đến năm 1963, một lần nữa tại Ấp Bắc họ đã áp dụng lối đánh lén, phục kích, bắn sẻ để trì hoãn thế trận và gây thiệt hại cho các cánh quân VNCH trong giai đoạn đầu, hầu có thể tập trung lực về vị trí chọn lựa với hầm hố của "chiến thuật công kiên chiến," đánh cầm cự để tùy nghi khai thác chiến quả nếu được, bằng không, khi thấy thế yếu, họ lần lượt trốn chạy, rút nhanh theo kiểu mà họ thường nói là "chém vè" trong đêm tối, rút lui mất dạng. Ý đồ và hoạch định trận Ấp Bắc khi đó là vậy.

Muốn hay không, Việt Cộng đã biết lợi dụng những kẽ hở của quân đội VNCH mà người chỉ huy phía VNCH không để ý hoặc không tiên liệu những biện pháp thích ứng để bất ngờ khai thác tình hình cho nhu cầu "tâm lý chiến và chính trị" trong chủ trương một cuộc chiến tiêu hao lâu dài kiểu "tầm ăn lá," nhất là trong thời gian đó, Việt Cộng có nhu cầu phải gây lại uy tín và tinh thần cán binh đã mất trong vài tháng trước khi Tiểu Đoàn 502 Chủ Lực ở tỉnh Sa đéc bị tổn thất hàng trăm cán binh tại ranh giới Mỹ Tho - Sa Đéc trong trận đụng độ ác liệt với Đại Đội 7 thiết vận xa M-113 vào ngày 18 tháng 2 năm 1962.

Trong trận này, một nửa quân số của Tiểu Đoàn 502 bị loại ra khỏi vòng chiến ngay trong những giờ phút đầu tiên của trận đánh, một nửa còn lại đã phải ngụp lặn trong cánh đồng ngập nước để tìm cách rút lui trong đêm tối. Thế nhưng số Việt Cộng định rút lui này đều bị bắt sống. Kiểm điểm tổn thất, Đại Đội 7 M-113 chỉ có một tử thương là Thượng Sĩ Ninh, người trung đội trưởng, và một số binh sĩ khác bị thương.

Image

Tại sao sự tổn thất giữa hai bên chênh lệch như thế này? Nguyên nhân, chúng ta phải hiểu là các đơn vị Việt Cộng không biết được khả năng của loại xe M-113 do hãng Chrysler của Mỹ chế tạo hoàn toàn không giống loại xe được cho là những con cua lội nước, hay "Crabe" của quân Pháp cũng do Mỹ chế tạo, được sử dụng trong Đệ Nhị Thế Chiến, và được trang bị cho các chiến đoàn xe lội nước gọi là "GA," viết tắt từ chữ Groupement Amphilies mà có lần bị chính Tiểu Đoàn 502 của Việt Cộng đánh thiệt hại nguyên một đơn vị.

Từ những yếu tố không biết về khả năng mới, cơ động trên của M-113, các đơn vị Việt Cộng đã dàn trận. Đúng như lời của một anh tù binh kể lại thì tình thế quả không giống như lần phục kích đoàn xe "Crabe" của quân Pháp. Những gì Việt Cộng điều nghiên, dàn thế trận, chuẩn bị tinh thần cho cán binh lâm trận đã không xẩy ra như những gì họ hoạch định và mong đợi.

Chẳng hạn xe M-113 không có lần nào bị súng nhỏ bắn thủng như loại xe "crabe" của Pháp, và cũng không một lần nào thấy bất cứ một xa đội M-113 nào phải ngừng lại từng chập để cho lính nhảy xuống gỡ rơm rạ, cỏ lúa, kẹt trong bánh xích xe làm xe không chạy được, để nhân cơ hội này, Việt Cộng bất thần nổ súng tấn công.

Khi thế trận bùng ra, tôi (Lý Tòng Bá) đã ra lệnh các xa đội, từng chiếc lội nước, khai hỏa phóng thẳng ngay vào ổ phục kích của Tiểu Đoàn 502 đang dàn thành đội hình bán nguyệt ở giữa ruộng nước. Mũi tiến quân xông vào vị trí địch đang ngâm mình dưới nước, các xa đoàn M-113 được đại liên và trung liên BAR đặt trên các xuồng ba-lá bắn yểm trợ. Các thiết vận xa M-113 đã tung hoành với những khả năng đa hiệu bất ngờ ngoài dự liệu và sự hiểu biết của các cấp quân sự Việt Cộng, đã làm cho thế trận phục kích giăng bẫy của Việt Cộng bị tan vỡ thê thảm.

Khi thanh toán chiến trường, không biết quân Việt Cộng đã bố trí ở đó lúc nào, nhưng trên mình của mỗi cán binh Việt Cộng còn sống sót, bị bắt làm tù binh, mỗi anh ít lắm cũng phải đeo ba bốn con đỉa, loại đỉa trâu không nhỏ của đồng bằng sông Cửu Long, no tròn đầy máu lớn bằng cỡ ngón tay cái, muốn rức nó ra phải dùng điếu thuốc đang cháy chấm vào đầu nó. Một anh Việt Cộng được anh em binh sĩ kéo lên từ ruộng nước, đặt ngồi trên M-113. Anh ta ngơ ngẩn nhìn quanh quẩn như mất hồn. Anh ta và đồng đội đã tham dự một trận đánh hoàn toàn không giống những gì cấp chỉ huy của anh ta huấn thị và dạy trên sa bàn hành quân.

Nhân viết lại những dòng này, chúng ta một lần nữa có thể nói đây không phải là lần duy nhất mà chạm trận với Quân Lực VNCH, địch đã bị tổn thất nặng nề, không phải chỉ có một lần, chỉ có Đại Đội 7 thiết vận xa M-113 thành đạt được song thường ít khi giới truyền thông bạn triệt để khai thác, mà chính Neil Sheehan, người phóng viên chiến trường đã viết quyển The Bright Shining Lie nói về chiến tranh Việt nam đã nhiều lần nghe nói đến.

Có lần, Neil Sheehan theo xe M-113 với tôi trong một vài cuộc hành quân tại Mỹ Tho, nhưng những lần đó lại không đụng độ với Việt Cộng, vì thế anh ta vẫn chưa chịu hiểu, và chưa thấy sự thật, và vẫn mang nặng tinh thần trái ngược khi đề cập tới cuộc chiến đấu tự vệ của Quân Lực VNCH, mà thường là chỉ tìm và chú trọng tới chiến thắng, dù lớn hay nhỏ của Việt Cộng để phóng đại, cho nên mãi đến bây giờ, dù Neil Sheehan tôi (Lý Tòng Bá) coi là một người bạn quen thân, tôi cũng chẳng biết Shehan có chủ trương hay mục đích gì.

Một người chịu khó, khá thông minh, đỗ đạt từ trường đại học Harvard nổi tiếng, thích tự do mà chỉ viết những bài báo lập luận phê bình ác ý và không chính xác nhắm vào Quân Lực VNCH. Nhất là sau ngày 30 tháng 4/1975, anh ta đã cho xuất bản quyển The Bright Shining Lie với những biện luận bất công nhắm vào Quân Lực VNCH, một quân lực bị bất ngờ "ngã ngựa" vì sự phản bội của đồng minh.

Sau khi xuất bản quyển sách nói trên, có một lần Shehan đã viết một bài khá lịch sự liên quan đến tôi trên tờ The New Yorker, đó là bài After The War Was Over xuất bản ngày 18 tháng 11/1991, và anh ta đã gửi tặng cho tôi tờ báo đó. Phải chăng đây là lần cuối Sheehan gián tiếp muốn tôi bỏ qua những lỗi lầm mà anh ta đã viết về tôi khi chỉ huy Đại Đội 7 thiết vận xa M-113 trong trận Ấp Bắc với những lập luận vô căn cứ và lệch lạc khi được vài cố vấn Mỹ thời đó kể lại câu chuyện với dụng ý bào chữa những khuyết điểm nông nổi của mình.

Sau gần 13 năm ở tù cộng sản ra, tôi gặp Neil Sheehan một lần tại Việt Nam, đến Mỹ năm 1991, tôi gặp lại Neil Sheehan tại Las Vegas khi anh ta tham dự một "convention" (cuộc hội thảo) với sự có mặt của tướng Powell. Đó là lần gặp mặt lâu nhứt trong đó tôi kể lại tình tiết và sự thật của trận Ấp Bắc cho anh ta nghe:

Image

Ngày đó, sau đêm cuối cùng, Đại Đội 7 thiết vận xa M-113 rời thị xã Mỹ Tho đến quận Cai Lậy, xuất phát theo đội hình hàng dọc (để giảm làm thiệt hại lúa) hướng về mục tiêu. Đại Đội thiết vận xa ít lắm cũng đã vượt qua 2 con kinh ngang trước khi vào vùng tiếp giáo với mật khu Bà Bèo của Việt Cộng nằm dọc theo hai bờ kinh Tổng Đốc Lộc mà Ấp Bắc là một trong những vùng ven biên.

Cùng lúc tôi nhận được lệnh từ Bộ Chỉ Huy Hành Quân nhẹ đặt ở Cai Lậy, Tiểu Khu Mỹ Tho là phải nhanh chóng đưa Đại Đội 7 M-113 đến mục tiêu, vì nơi đó đã có một chiếc trực thăng bị rơi trong cuộc đổ quân lần đầu mà nguyên nhân có thể là lỗi vụng về kỹ thuật của phi công chứ chưa chắc là do đạn Việt Cộng bắn. Đó là chiếc trực thăng H-21 hình thù như quả chuối già quá cũ gần đến ngày phế thải. Vì theo anh trung úy chỉ huy toán nhảy đợt đầu xuống mục tiêu Ấp Bắc cho tôi biết, anh không nghe bất cứ tiếng nổ nào lúc phi cơ đáp xuống mà chỉ nghe vài tiếng súng nhỏ sau đó.

Không lâu sau đó, Đại Đội 7 M-113 phải đối diện với con kinh thiên nhiên mà nông dân địa phương gọi là "kinh lạn" không bờ ác nghiệt. Lần đầu dưới mắt tôi, nó như một dòng nước chảy xuôi qua một bãi ruộng bằng phẳng, lởm chởm vài bụi cỏ với lá rủ mình quặt què theo nước. Quả thật, nếu là một thi sĩ, con kinh lạch trước mặt sẽ là nguồn cảm hứng của muôn bài thơ, nhưng ở đây, nó như là khúc xương khó nuốt của những con trâu sắt M-113.

Canh cánh với trách nhiệm, lo cho sự an nguy của phi hành đoàn, tôi phân vân chưa biết phải xử trí ra sao. Có lần tôi đưa ra ý kiến lên ban cố vấn cũng như Bộ Chỉ Huy Hành Quân nên chỉ thị cho một cánh quân bạn nào gần đó mở cuộc hành quân bộ đến nơi chiếc trực thăng bị rơi, dù chậm nhưng chắc chắn hơn là sử dụng Đại Đội 7 M-113. Lý do là không làm sao chúng tôi đoán biết việc vượt qua kinh lạch để tiến đến mục tiêu phải mất bao nhiêu thời gian.

Xa đội chúng tôi thay nhau từng bước mò mẫm độc bờ kinh nhưng không lần nào cho xe băng ngang được vì lòng kinh toàn là bùn không đáy. Vì không hiểu và nhận ra yếu tố đặc biệt này mà phía cố vấn Mỹ đã hiểu lầm, cho tôi là thiếu tinh thần trách nhiệm, không muốn đụng độ với địch quân. Đó là một nhận định phiến diện, cạn cợt, không hiểu thực trạng của địa thế chiến trường. Lối suy nghĩ và nhận định ấu trĩ ấy tôi không hề hay biết. Đến khi qua Mỹ, đọc quyển The Bright Shining Lie của Neil Sheehan có viết những điều ngộ nhận sai lầm đó về tôi, tôi mới biết. Lúc đó thì quá trễ để nói lại vần đề cho rõ.

Nghĩ lại, trong cảnh đầu tắt mặt tối của tôi và anh em các xa đội, ông sĩ quan cố vấn J. Scanlon của chúng tôi ngồi luôn trên xe với chiếc máy truyền tin, không nhúc nhích một bước, đã nói gì với Trung Tá John Paul Vann, cố vấn Sư Đoàn 7 đang bay trên đầu với chiếc phi cơ L-19. Sau khi Scanlon đưa ống nói cho tôi, lần đầu tiên tiếp chuyện thẳng với Vann, tôi nghe được một câu hắc búa của John Paul Vann:

- Anh Bá! Nếu anh không cho xe qua kinh thì tôi sẽ nói cho Đại Tướng Lê Văn Tỵ bỏ tù anh!

Câu nói này tôi không bao giờ quên. Lúc vừa nghe, tôi tức giận đỏ bừng cả mặt. Tôi âm thầm tự nhủ, tại sao ông Vann này lại có thể thốt ra một câu như vậỷ! Tôi thẳng thắn trả lời:

- Trung tá Vann! Tôi rất mong thấy ông đáp xuống đây để tận mắt ông nhìn thấy những khó khăn thực tế của trận địa và những gì chúng tôi đang làm. Bằng không, vì lý do nào đó mà tôi phải đi ở tù, thì đó chẳng qua là vì danh dự của người lính!

Khi đó, trong đầu tôi bỗng thấp thoáng cái câu "một ngày lính là chín ngày tù" của ai đó đặt ra và bây giờ tôi thấy như rất đúng. Tôi nói lời chào cám ơn Trung Tá Vann rồi cúp máy. Theo tôi, đó là đầu dây mối nhợ của câu chuyện "ăn thua" trong trận Ấp Bắc.

John Paul Vann, một sĩ quan cố vấn, nóng nảy quá độ, hăng say quá trớn, sợ bị qui trách nhiệm, "ăn thì OK, thua thì đổ thừa." Mà thực ra, trong trận Ấp Bắc có gì phải quan trọng hóa việc ăn thua, ngoài những trở ngại, những khó khăn chồng chất, chết chóc xảy ra khi phải đánh nhau với kẻ thù dùng du kích chiến kiểu "nói láo, đánh lén, bắn sẻ, chém vè." Ngày đó, trong trận cuối cùng, Việt Cộng cũng đã bị Đại Đội 7 M-113 đẩy lui để lại 8 xác tại chỗ, kể cả người chỉ huy.

Không bao giờ tôi quên những khó khăn gian khổ mà tôi và những anh em binh sĩ thuộc quyền tưởng là không tài nào vượt qua được, kể cả lần các M-113 bị kẹt xích, kẹt bùn loay hoay giữa ruộng hơn một ngày đêm, anh em các xa đội phải thay nhau liên tiếp móc kéo xe ra khỏi vùng nguy hiểm. Cuối cùng, Đại Đội 7 M-113 cũng vượt qua được con kinh lạn ác nghiệt đó để tiến đến mục tiêu Ấp Bắc khoảng trên dưới 4 giờ chiều.

Sau khi anh trung úy chỉ huy toán quân nhảy trực thăng đầu tiên xuống trận địa cho tôi biết tình hình tại chỗ, tôi ra lệnh cho cố Chuẩn Úy Nguyễn Văn Nho (anh là cây vợt vô địch bóng bàn của binh chủng Thiết Giáp) đưa Trung Đội 1 áp sát vào mé làng Ấp Bắc để dò dẫm. Trung đội chỉ huy và các trung đội khác tiếp theo tiến theo đội hình hàng dọc, trước khi tôi ra lệnh mở rộng đội hình thành hàng ngang, quân Việt Cộng đã bất thần nổ súng cách Trung Đội 1 chỉ khoảng 50 thước, mở đầu cho trận đánh Ấp Bắc. Trong những giây phút khai hỏa đầu tiên của địch, Chuẩn Úy Nguyễn Văn Nho của Trung Đội 1, Thượng Sĩ Nguyễn Văn Hào của xe chỉ huy bị hy sinh, chưa kể một số xạ thủ đại liên 50 của các trung đội khác vừa chết vừa bị thương.

Tổng số thiệt hại của Đại Đội 7 M-113 từ phút đầu cho đến tàn trận là 8 chết và 14 bị thương. Số thiệt hại này phần lớn do các khẩu đại liên thời đó không có trang bị tấm chắn đỡ đạn. Sau trận Ấp Bắc, các loại lá chắn này mới thực hiện để che đạn cho các xạ thủ đại liên M-113.

Nhắc lại chuyện này, tôi vẫn phân vân thắc mắc tại sao người ta chỉ chịu trang bị thêm phương tiện và vũ khí mới cho quân đội VNCH sau khi các đơn vị quân đội chúng ta bị thiệt hai hay bị mất đi những chiến sĩ và cán bộ chỉ huy tài giỏi, gan dạ vì thiếu phương tiện chiến đấu thích hợp. Chỉ riêng một yếu tố là nếu trên xe M13, các xạ thủ đại liên có những lá chắn đạn an toàn cho xạ thủ thì trong trận Ấp Bắc thì số thương vong của chúng ta giảm nhiều, đồng thời Đại Đội 7 M-113 có thể đã đưa Tiểu Đoàn 514 Chủ Lực Việt Cộng ở Mỹ Tho tan tác đi theo Tiểu Đoàn 502.

Tôi nhớ một lần trước trận Ấp Bắc, đoán được ý đồ của Việt Cộng là khi không còn cách nào khác để mở trận mới đánh với Đại Đội 7 M-113, thì họ chỉ còn dựa vào ven làng, vào một thế đất mà chọn lựa để có thể dễ dàng gây khó khăn cho Đại Đội 7 M-113 khi bất ngờ xuất hiện từ các hầm hố kiên cố được che khuất, tấn công khai hỏa vào các xạ thủ đại liên 50 trên xe M-113 chứ không dám nằm giữa đồng ruộng phục kích như lần Tiểu Đoàn 502 của họ bị tiêu diệt ở tỉnh Sa Đéc.

Tiên liệu điều như trên, tôi gửi lên cấp chỉ huy cũng như cố vấn Mỹ một đề nghị khẩn cấp và thiết thực việc trang bị lá chắn đạn an toàn cho xạ thủ đại liên càng sớm càng tốt. Đề nghị đó không được chấp thuận. Chuẩn Tướng Joseph W. Stilwell của Bộ Tư Lệnh Việt Trợ Quân Sự tại Việt Nam (Military Assistance Command Vietnam, hoặc MACV đã trực tiếp trả lời cho Trung Tá Nguyễn Văn Thiện (*), nguyên chỉ huy trưởng binh chủng Thiết Giáp (1957-64) bằng một câu mà tôi không bao giờ quên. Câu nói nguyên văn bằng tiếng Pháp của tướng Stiwell như sau: "le meilleur moyen de défance c'est tirer." Có nghĩa là " muốn bảo vệ mình, người lính chỉ có bắn!"

Theo tôi, trên lý thuyết thì quá đúng, hoặc trong phim xi-nê cao bồi, hay tại "desert storm" với "bão sa mạc" thì còn có lý. Chứ đối với chiến tranh du kích kiểu Việt Cộng trên địa thế núi rừng, sông lạch Việt Nam thì chưa chắc câu của tướng Stilwell là câu thần chú hộ mạng, mà trận Ấp Bắc là một thí dụ điển hình. Làm sao chúng ta thấy được Việt Cộng nằm phục kích trong nước, dưới lá, dưới sình mà bắn trước để bảo vệ mình.

Nhắc lại, cả một chiến đoàn gọi là GM100 của quân Pháp đã bỏ mạng tại đèo An Khê ở Pleiku trong chiến tranh Việt Pháp trước đây đã ở trong tình huống trên. Tôi rất may đã sống sót trong trận Ấp Bắc. Từng tràng đạn địch "thay nhau tránh né" khi bay qua đầu tôi, một điều kỳ lạ, mãi cho đến bây giờ tôi không biết tại sao mạng tôi còn, tại sao tôi còn sống với hàng loạt đạn vượt qua đầu để lại những tiếng kêu "bực bực" bên tai.

Có lần tôi đang bắn trả qua lại với đám Việt Cộng đứng trong những hầm hố không quá 20 thước trước mặt, bất ngờ tôi thấy Đại Úy J. Scanlon đang ngồi trong thiết vận xa M-113 của tôi mở cửa sau M-113 chỉ huy nhảy ra ngoài chạy mất dạng. Trong xe chỉ huy của tôi lúc đó có xác của Thượng Sĩ Nguyễn Văn Hào bị tử thương, và có lẽ lần đầu tiên anh chứng kiến tận mắt xác chết trong xe chỉ huy, chưa kể hai người bị thương khác nằm la liệt máu me, đó là anh Kiên, tài xế xe Jeep riêng của tôi bị đạn xuyên cổ và anh lính kèn ngả xuống sau tiếng kèn xung phong ngả xuống bên tay mặt của tôi.

Tình trạng này có lẽ đã làm cho Scanlon mất tinh thần, và đã thật sự gây khó khăn không nhỏ cho tôi trong việc điều động đơn vị. Thành phần bị chết và bị thương trong những giây phút chạm súng đầu tiên phần đông là những anh em chỉ huy trưởng xa và xạ thủ đại liên 50 chứ không ai khác. Dĩ nhiên, trong tình huống đó, sức mạnh và đà tấn công của Đại Đội 7 M-113 bị yếu và khựng lại, nhất là ở phía trước mặt tôi, giữa Đại Đội 7 M-113 và mé làng chỉ là một bãi nước không biết là ruộng hay là một vũng bùn. Nếu M-113 kẹt dính ở đó thì vô cùng nguy hiểm.

Image

Trước tình huống đó, tôi dự định cho các xa đội lui về phía sau vài chục thước để bảo đảm an toàn hầu có thể dùng các loại pháo hỏa tập tiêu diệt mục tiêu (fire of destruction) mà tôi mới chợt nghĩ ra, vô cùng cần thiết để giải quyết một tình huống khó khăn. Không dùng pháo trong trường hợp này là một thiếu sót nghiêm trọng. Lúc đó, kể cả cố vấn John Paul Vann lúc đó cũng chỉ lo cho an ninh phi hành đoàn của chiếc trực thăng bị rớt mà không có sáng kiến gì khác. Sau khi việc yêu cầu cung cấp hỏa tập được đáp ứng và ban ra, nó đã vừa tiêu diệt địch, vừa dọn đường cho một trận xung phong cuối cùng.

Từ bộ chỉ huy hành quân nhẹ của Tiểu Khu Mỹ Tho, Trung Tá Lâm Quang Thơ (lúc đó là tỉnh trưởng) ra lệnh cho tôi lui về phía sau 400 thước an toàn cho đơn vị để một phi tuần 2 chiếc B-26 oanh tạc mục tiêu. Cần nói rõ thêm, mỗi lần dùng "phi pháo yểm" là mỗi làn từng đợt pháo và từng đợt phi cơ thay nhau đánh vào mục tiêu. Thường thì Việt Cộng hay nằm dọc theo mé rừng hay ven làng trong các hầm hố kiên cố, còn nếu địa thế là vùng núi thì họ không nằm trên đỉnh mà lại bám các vùng yên ngựa hay bên sườn đồi. Cho nên, tại Ấp Bắc, những đợt oanh kích của 2 chiếc B26 lúc đó chỉ có tác dụng tâm lý hơn là tiêu diệt đối phương.

Đúng khoảng trên dưới 5 giờ chiều, sau quả bom cuối cùng mà tôi thấy rõ rời bụng phi cơ rớt xuống giữa mục tiêu Ấp Bắc với hai cánh máy bay dường như run rẩy báo hiệu ngày phế thải, thì Đại Đội M-113 ào ạt mở đợt tấn công lần chót, đẩy lui không khó quân Việt Cộng ra khỏi các vị trí. Các toán quân Việt Cộng bị đánh bật ra khỏi vị trí đã bỏ chạy tán loạn, để lại 8 xác chết, trong đó có cả một người ở cấp chỉ huy.

Đúng như trong bài viết thêm của Neil Sheehan về trận Ấp Bắc trong nguyệt san The New Yorker với bài After The War Was Over," bài viết có đoạn: "Tối lại, quân Việt Cộng có cho một thành phần nhỏ nào đó bò về mục tiêu Ấp Bắc để tìm xác anh chỉ huy..." Nhưng việc nói Việt Cộng lén về Ấp Bắc tìm xác cũng là chuyện không thật. Làm sao có chuyện đó khi toàn Đại Đội 7 M-113 đang nằm dàn trận chờ sẵn tại chỗ. Một tên chỉ huy Việt Cộng bị tử thương là có thật, nhưng toán Việt Cộng mò về lấy xác thì không.

Tôi nhớ chiều hôm đó, khoảng 6 giờ, sau khi Đại Đội 7 M-113 đã hoàn toàn làm chủ tình hình và chấm dứt trận đánh, thì việc cho một đơn vị Nhảy Dù nhảy xuống cánh đồng trống phía sau lưng Đại Đội 7 là một điều vô ích. Có một toán nhỏ quân Dù bị gió chiều bọc cuốn đưa lạc vào một vùng không an ninh, đã gặp một thiệt hại nhỏ, nhưng đó quả là một thiệt hại không đáng xẩy ra và rất oan uổng. Đúng là tháng xui ngày rủi của quân ta.

Trong lửa đạn, trong trận đánh, cái đầu tôi với cái mũ nồi đen kỵ binh lúc nào cũng nhoi ra khỏi M-113 mà đạn mọi phía bắn ào ào tới mà cái đầu chẳng bị trúng viên nào, làm cho tôi có cảm tưởng Việt Cộng bắn rất tồi! Nhưng chưa hết, vào sáng sớm hôm sau, vì còn ấm ức về cái vùng sâu phía trong của mục tiêu Ấp Bắc chưa được chế ngự và lục soát kỹ, tôi đã quyết định mở cuộc hành quân loại bỏ túi (tức là "hạ chiến") với một thành phần nhỏ của các xa đội tạm thời rời M-113 để đánh bộ. Đến hơn nửa đường đi quân, bất ngờ không biết ai gọi mà những tràng pháo binh loại 105 ly của phe ta không mời mà đến, thay nhau từng đợt 4 quả với 4 tiếng "bụp - bụp - bụp - bụp" nghe từ quận Cai Lậy vọng lại báo hiệu những lần đạn rời nòng bay đi.

Những trái đạn chạm đất nổ vang, và chúng tôi mừng là nó không rơi vào vị trí chúng tôi. Có khoảng 40 trái đạn bắn đi, có trái rơi cách chúng tôi khoảng 10 thước. Từ trong một cái hố với với máy truyền tin PRC trên lưng, Hạ Sĩ Tòng lúng túng gọi khẩn cấp về xe chỉ huy để chuyển lời yêu cầu của tôi yêu cầu Bộ Chỉ Huy Hành Quân cho ngưng cuộc pháo kích vì "chúng tôi đã đầu hàng vô điều kiện!" Trong khi tôi đang trong thế ngồi chồm hổm, đẩy mạnh lưng vào thành hố để tim bớt đập mạnh thì anh Đại Úy cố vấn J. Scanlon mất tinh thần, bò quanh bò quẩn trước mặt tôi trông ngơ ngác như một con bê lạc bầy. Theo tôi, nếu cảnh đó được Neil Sheehan chứng kiến và viết đầy đủ lại trong quyển The Bright Shining Lie của anh ta thì chắc anh ta đáng lãnh giải Nobel ở Thụy Điển chứ không phải giải Pulitzer mà anh ta nhận ở Mỹ.

Cả Cộng Sản, vì nhu cầu tuyên truyền chính trị, lẫn các nhà báo Mỹ, vì thiếu chứng liệu và nhiều thiên kiến, đã viết sai sự thật, xuyên tạc sự thực về cuộc chiến tự vệ anh dũng của quân dân miền Nam. Và cũng thể theo lời yêu cầu của một số chiến hữu cựu quân nhân Quân Lực VNCH và đồng minh, tôi đã gạn lọc trí nhớ để tìm lại những dữ kiện thật thuộc loại "đầu dây mối nhợ" của trận Ấp Bắc mà vì lý do chính trị và nhu cầu phản chiến, họ đã cố tình bóp méo sự thật. Tôi đã viết lại bằng tay, bằng chính thủ bút của mình, và như chiến trường Ấp Bắc tan hoang, khi tôi viết xong bài này trên mấy trang giấy cuối thì dưới bàn viết của tôi là một đống giấy nháp với cây viết "bi" đã gần hết mực "dàn trận tan tác ngổn ngang" dưới gầm bàn.

Viết bài này, tôi cũng có ý nhắc cho những ai chưa biết sự thật, là, với chiến thắng và kinh nghiệm từ trận Ấp Bắc, không biết bao nhiêu lần tôi đã đánh thắng những đơn vị địch quân từ các cấp tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn và cả quân đoàn của Việt Cộng, bất cứ ở đâu, từ miền Tây, miền Đông Nam phần đến Tây Nguyên, đặc biệt là hầu hết các lần đó đều có sự hiện diện của John Paul Vann, kẻ có lần đã đề nghị lên Đại Tướng Lê Văn Tỵ cho tôi đi tù, và sau này cũng chính John Paul Vann vận động cho tôi lấy quyền chỉ huy Sư Đoàn 23 Bộ Binh đánh tan 3 sư đoàn Bắc Việt do tướng Hoàng Minh Thảo, một trong những tướng hùng hổ nhất của Bắc Việt chỉ huy.

Từ những điều trên trong bài này, việc sách báo Việt Cộng và Tây phương nói quân VNCH thua trong trận Ấp Bắc là xuyên tạc, là sai sự thật. Và nếu còn sống (**) đến hôm nay, chưa chắc John Paul Vann đã cho Neil Sheehan viết trận Ấp Bắc một cách thiếu sót và sai lệch. Vì đó cũng chính là cái thiếu sót của John Paul Vann trong những phút giây đầu tiên của trận Ấp Bắc, vì ông chưa đủ kinh nghiệm và hiểu biết về chiến tranh du kích kiểu Việt Cộng. Sự thiếu sót và thiếu kinh nghiệm đó của ông và ký giả Tây phương đã làm cho các bài viết về trận Ấp Bắc (cũng như nhiều lãnh vực khác) bị bóp méo và hiểu lệch khác đi.

HẾT

GHI CHÚ:

* Trung Tá Nguyễn Văn Thiện, sau lên đại tá, phục vụ tại Quân Đoàn 1 của Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, là một trong hai người được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gọi về Dinh Độc Lập để gắn sao cấp tướng. Chẳng may chiếc phi cơ chở anh về Sài Gòn bị ngộ nạn và mất tích.
** Ông John Paul Vann, trong một chuyến đến thăm ông Lý Tòng Bá (lúc đó là Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh ở Kontum) đả tử thương trong một tai nạn máy bay tại Cao Nguyên. Chiếc trực thăng chở ông trên Quốc Lộ 14 gần Chu Pao. Đại Tá Nhu chỉ huy Biệt Động Quân là người chỉ huy cuộc tìm và thu hồi xác ông Vann và phi hành đoàn. Anh em Biệt Động Quân cho biết không hề nghe tiếng súng khi máy bay bi rớt. Dù đến nay vẫn chưa rõ nguyên nhân tai nạn, song người ta có thể dự đoán là máy bay rớt vì trục trặc kỹ thuật chứ không phải vì đạn phòng không. Chi tiết này ghi lại từ tướng Lý Tòng Bá qua cuộc điện đàm sáng ngày 9 tháng 4/2001.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

SINH NAM . . . TỬ BẮC

Kinh dâng anh linh các Chiến hữu:

Nguyễn Chuyên - Ðinh Như Khoa - Nguyễn Hữu Thảo
và các Chiến hữu đã yên nghỉ trong lòng đất mẹ.

Cá kình NGUYỄN VĂN TÂM

(Sở Bắc và Sở Khai Thác Ðịa Hình)

Image

Buổi chiều cuối Hạ bên bờ biển Mỹ Khê, trong ngôi nhà nghỉ mát yên tịnh. Nó không ồn ào rầm rộ như một cuộc hành quân qui mô, nhưng rất quan trọng, tỷ mỷ cẩn thận với những trang bị đặc biệt và mìn định giờ.

Tại căn cứ nầy có anh Ba là người điều khiển và huấn luyện Toán Công Tác cùng với ba người Mỹ tên Bil, Dan và Bob phụ trách kỹ thuật và thực tập. Anh Phan điều khiển và huấn luyện Toán Biệt Hải.

Toán Công Tác người nhái có nhiệm vụ phá hoại gồm bốn người: Tôi (anh Tư) và anh Năm, hai đứa chúng tôi từ Liên Ðoàn 77 Sở Khai Thác Ðịa Hình, còn anh Sáu và anh Bảy do Hải Quân gởi qua. Toán Biệt Hải gồm mười hai người có nhiệm vụ lái tàu hoặc thuyền đưa Toán Công Tác đi hoạt động dẫn đường đi và đón về.

Sau nhiều tháng thực tập, nghiên cứu địa hình, địa thế, không ảnh, kiểm soát lại dụng cụ, hôm nay là thời điểm xuất phát vào cuối mùa Hạ năm 1962.

Dưới ánh sao lờ mờ, một chiếc thuyền lớn trang bị máy chạy dầu với lưới đánh cá nằm gọn dưới cột buồm. Thủy bàn gần tay lái. Một chiếc thuyền cao su chưa bơm hơi và chiếc thuyền gỗ nhỏ sức chứa độ mười ngưới. Ở giữa thuyền gỗ có một lỗ vuông thòng xuống nước là chỗ để gắn máy nổ nhỏ cho Toán Công Tác và người hướng dẫn di chuyển trong sông. Thuyền được cải trang thành thuyền đánh cá của ngư dân trong vùng trên bờ nhìn xuống không thể phân biệt được là thuyền của Toán Công Tác. Toán nầy thương xuyên công tác ở Vịnh Hạ Long, Móng Cái, Bạch Long Vĩ.

Toán Công Tác được trang bị gọn và nhẹ gồm: Hai đèn bấm điện tử để liên lạc giữa hai thuyền. Súng lục để tự vệ khi cần. Mìn đặc biệt định giờ có thể sử dụng từ 5 phút đến 30 ngày. Một đơn vị hỏa lực nhỏ cho tập thể sử dụng khi cần để tháo chạy.

Màn đêm phủ xuống, những bóng đen bắt tay từ giã trong tiếng "Good luck" của ba anh bạn Mỹ.

Tiếng sóng vỗ nhẹ vào mạn thuyền nghe lách tách,thuyền hướng mũi ra khơi. Bầu trời đầy sao, nhìn quanh là biển cả bao la, với bản tính tự tin, dày dạn với công tác thường xuyên nên một số đã an giấc. Riêng mấy anh em chúng tôi còn ngồi hướng tầm mắt về phía trước tuy chưa phải lúc cảnh giác địch vì một đêm và một ngày sau thuyền mới tới địa điểm công tác. Mặc dù vậy, chuyến đi bí mật vào đất địch, đầu óc luôn suy nghĩ kỹ lại những việc phải làm trong đêm mai. Ðang triền miên suy nghĩ, có tiếng nhắc nhở các anh nên nghỉ đi để đêm mai mà công tác chứ.

Chiều ngày hôm sau, thì anh thuyền trưởng và thợ máy nói đến rồi. Lúc nầy thuyền còn đang ngoài hải phận quốc tế từ từ tiến vào bờ, khi nhìn thấy lờ mờ một giải màu xanh đậm thì đúng chín giờ tối. Thuyền lớn thả neo, thuyền máy nhỏ đã được hạ thủy. Nhanh nhẹn mà không gây một tiếng động. Bốn chúng tôi qua thuyền nhỏ cùng ba người hướng đẫn viên nhắm cửa Sông Gianh tiến vào. Tiếng máy nổ rất nhỏ mà thuyền lướt đi rất nhanh đã qua khỏi khu Phà, chúng tôi quan sát thấy trên bờ mấy bóng đèn như đom đóm.

Yên tâm, chúng tôi bắt đầu mang trang bị, dụng cụ sẵn sàng. Khi chúng tôi nhìn qua ống dòm thấy bóng đèn xanh nhỏ phía trước. Nếu không để ý kỹ, nó như một ngôi sao trong đêm tối phía dưới là ba bóng đen đậm, đúng là tàu hải quân Cộng sản rồi, chúng đang neo tại vị trí đúng như trong không ảnh. Cho thuyền chạy qua để quan sát thật kỹ, trở lại ghi nhận điểm tiếp đón, rồi quay lại điểm thả. Anh Bảy xuống trước, đến tôi, sau cùng là anh Sáu. Lặng lẽ bơi đến gần tôi thấy rõ mục tiêu mới lặn để khỏi lạc vị trí. Tôi lặn tới gắn mìn vào thân tàu phía dưới gần chân vịt là nơi có buồng máy.

Khi tôi bắt đầu tìm hướng lặn ra xa thì thình lình một tiếng nổ lớn vang lên. Tôi cảm thấy đầu óc choáng váng rồi bất tỉnh một hồi lâu. Khi tỉnh lại tôi biết là mìn nổ quá sớm. Nhờ những lườn tàu nằm cách nhau khá xa nên tôi đã thoát chết. Kế hoạch đã bị lộ. Tôi cố gắng trấn tĩnh tinh thần lặn tới vị trí tiếp đón. Khi đã xa vừa nhẹ trồi đầu lên để quan sát thì thuyên tiếp đón đã không còn nữa, lại nghe một tiếng la thất thanh ở trên bờ và tiếng chân chạy vội, tôi liền lặn ra xa bờ. Lúc nầy đầu còn choáng váng căng thẳng, chưa tính lên bộ hay tiếp tục đi dưới nước. Quyết định là phải thoát bằng đường bộ, ngày trốn nghĩ tối đi. Từ vị trí công tác vào sông Bến Hải chỉ có một trăm cây số.

Càng lo khi nghe tiếng máy động cơ của tàu địch. Nguy rồi, đèn của địch chiếu sáng rọi quét toàn vùng và di chuyển dần ra cửa biển. Khoảng cách giữa tôi và tàu không quá ba mươi thước. Hễ khi ánh đèn quét về phía tôi, thì tôi lặn xuống, ngửa mặt nhìn lên khi không còn ánh sáng, ngoi lên mặt nước quan sát. Cứ thế nhiều lần như vậy. Giữa khoảng thời gian nầy tôi nhìn thấy hai chiếc xà lan không người tôi liền đứng vào giữa khe ẩn nấp. Aùnh sáng đèn vẫn tìm kiếm, càng lúc tàu chạy càng xa dần cho đến khi yên lặng. Tôi lần mò ra phía sau. Cuối xà lan thì giật mình vì hai chiếc thuyền của dân cột gần đó. Im lặng quan sát hồi lâu thì ra trên thuyền không có người. Bơi nhẹ đến gần. Một chiếc có mui kín, chiếc bên cạnh không mui, nhìn vào khoan thuyền, một tia hy vọng mỏng manh, tôi liền nhẹ nhàng nhổ cây sào lên, đẩy ra giữa giòng sông mới trèo lên thuyền. Dưới cái nón lá là cái rổ có ít tôm, rổ thứ hai là cá nhỏ, thực phẩm đây rồi. Nắng nóng mùa Hạ cứ phơi khô, gặm nhắm dần cũng được mấy ngày. Dấu vật dụng xuống dưới chổ đứng, tôi lắp chèo vào. Lúc nhỏ tôi đã thạo chèo ghe. Cứ chèo ra ngoài hải phận quốc tế thì yên tâm. Trong người độc nhất chiếc quần xà lỏn. Lấy nón đội lên, nhờ xuôi nước nên thuyền đi khá nhanh.

Trời đêm ba mươi tối đen như mực, thuyền đã ra gần cửa biển. Bất thình lình hai ngọn đèn pha chiếu sáng ngay vào thuyền của tôi. Nguy rồi, bọn chúng đã đón ở cửa sông. Thoáng nghĩ nhanh. Ngồi xuống thả bình hơi, thủy bàn, đồng hồ chỉ còn lại cây súng lục. Dự tính ít nhất cũng hạ được mấy tên, dành cho mình một viên. Suy nghĩ đổi thế thì lỗ quá. Qua bao nhiêu tháng, năm được đào tạo, học tập, huấn luyện mà trả với cái giá như thế sao? Ðến lúc nào đó quá sức chịu đựng thì tự sát. Nhưng ánh đèn pha chói sáng choang không nhìn thấy tên nào cả, đành phải thả súng xuống nước luôn.

Có tiếng hỏi từ trên tàu: Ai? Ði đâu đó?

Tôi trả lời: Tôi đi mừng lưới.

Hỏi: Tại sao đi có một mình?

Trả lời: Hôm nay vợ con bệnh, mừng chung với người ta.

Dưới ánh sáng đèn pha chúng đã phát hiện ra cái áo cao su và chân vịt (chưa kịp thả, có thả nó cũng nổi trên mặt nước) dưới chổ đứng của tôi nên chúng la lên tên Biệt Kích đây rồi. Không biết bao nhiêu tiếng lên đạn, sẵn sàng nhả nạn nếu tôi có hành dộng gì. Chưa tính ra phải làm gì trong lúc cùng, thì bốn, năm tên nhảy qua thuyền đánh đập tới tấp vào người tôi, bảo đầu hàng.

Bọn chúng lấy giây trói khuỷu cánh tay tôi lại đưa vào bờ. Hai tên cầm súng chỉa vào tôi và cầm chắt sợi giây thừng khoảng cách 3, 4 thước. Trời vẫn chưa sáng. Hừng đông dẫn tôi đi, sáng ra thì chúng bịt mắt. Trong lúc khập khễnh từng bước, bên tai nghe tiếng nói của dân đi làm hỏi ai đó các anh : Biệt Kích đó. Có tiếng ồ, to béo quá, đen thui. Ðến khi chúng nó bảo dừng lại, ngồi trên chiếc ghế, trói vào một cây cột. Không nghe tiếng nói, mà chỉ nghe tiếng chân đi lại nhiều. Chiều thì chúng đưa tôi lên vào trại Quảng Bình. Phòng nhỏ hôi hám, lại bị cùm cả hai chân, chúng mới mở mắt cho tôi. Phần ăn là bát cơm gạo lức đỏ, mấy cọng rau muống, làm sao nuốt vô được. ôn lại càng thắc mắc. Tại sao qua bao nhiêu ngày tháng tôi và Bill đã kiểm tra thử đồng hồ rất chính xác. Vậy tại sao?

Không kể ngày đêm chúng đều kêu lên hỏi cung. Trước mặt là cái bàn nhỏ, bàn đối diện là năm tên hỏi cung, hết tốp nầy đến mấy tên khác. Chúng hỏi đơn vị, nơi xuất phát, bao nhiêu người, nhiệm vụ làm gì ?

Tôi chỉ trả lời ra thám sát bến phà Sông Gianh, đo độ dốc bờ sông, mức nước, độ sâu. Trách nhiệm cấp trên giao cho tôi chỉ có vậy thôi. Còn để làm gì thì tôi không biết. Vì tôi bị bắt tại cửa sông mà.

Mở ngoặc ở đây một tí. Chúng hỏi tôi trong Nam ăn tiêu chuẩn bao nhiêu? Ngẫm nghĩ hồi lâu tôi trả lời: Tiêu chuẩn là gì? Xã hội tự do làm gì phải có tiêu chuẩn. Tên ngồi giữa đập bàn cái rầm, làm gì có ăn uống bừa bãi vậy. Rõ ràng mấy tên nầy đều bị mù quáng cả trong sinh hoạt.

Trải qua đã hơn mười ngày. Chúng không khai thác được gì ở tôi. Cuối cùng chúng đưa toàn bộ vật dụng hình ảnh ra chứng minh và nói rằng anh là một người đại ngoan cố, tất cả đều bị bắt hết rồi. Gây tội lỗi trong Nam chưa đủ còn ra phá hoại thành quả Xã Hội Chủ Nghĩa ở miền Bắc! Cuối cùng tôi nhận là ra phá tàu hải quân.

Một trò hề mà tôi đã ý thức được như sau:

Một người độ hơn 50 tuổi, tự giới thiệu là luật sư, cùng đi với một người nữa độ chừng 30 tuổi, xưng là thư ký. Mỉa mai quá! Thư ký mà mang xắc cốt công an. Tôi cũng thừa biết CS làm gì có luật để mà cãi chứ, mà có phát biểu cũng phải nói theo đường lối CS mà thôi. Ông ta nói một hơi. Tôi liền trả lời. Việc tôi làm đã rõ ràng, không cần phải biện hộ. Tự bản thân tôi trả lời cũng đủ rồi. Mấy lần sau trong câu nói của luật sư như khẩn thiết, cho nên tôi nói nhiệm vụ của ông được họ giao phó thì tùy, hiểu biết như thế nào thì nói như thế đó, tôi không xin xỏ, không bào chữa, vì tôi làm việc cho Tổ Quốc, thi hành nghiêm chỉnh kỷ luật Quân đội đã giao phó.

Hai mươi ngày sau thì mở phiên tòa.

Tám giờ sáng, chúng còng tay tôi và dặn nếu trên đường đi mà đồng bào có hành động gì thì không được chống đối lại. Ðến đây tôi mới biết mọi người đều bị bắt. Không có anh Năm và anh Bảy. Sau nầy ở chung trại tôi mới biết anh Bảy chết tại chỗ vì mìn nổ, còn anh Năm tử thương sau khi chống trả quyết liệt với chúng trên biển. Các anh kể lại rằng khi biết bị lộ, nhân viên thuyền nhỏ chạy ra thuyền lớn nhổ neo chạy thoát. Thuyền chạy cả máy lẫn buồm suốt đêm hôm đó cho đến gần trưa hôm sau thì tàu Hải quân CS chạy máy lớn hơn nên đuổi kịp, ban đầu thì chúng nó bắn bao vây, cố ý muốn bắt sống tất cả. Anh em trên thuyền bắn trả lại bằng trung liên BAR, súng phóng lựu. Hai bên vừa chạy vừa bắn nhau như trong phim.Vũ khí trên tàu CS thì lớn hơn và đầy đủ, con bên thuyền thì chỉ bắn để phòng thân, cuối cùng hết đạn. Lúc nầy anh Năm trúng đạn, vài người khác bị thương, quyết định của thuyền trưởng là lao mũi thuyền đâm vào tàu địch, hai bên cùng tan vỡ. Vị trí lúc nầy gần Cồn Cỏ, nơi ranh giới Nam - Bắc. Tàu Hải quân máy mạnh, nên nhanh hơn. Thuyền của ta luồn lách mãi sau cùng bị tàu địch càn lên chìm. Lập tức chúng bắt những người còn sống đưa lên bong tàu phủ bạt kín, vội vã trở ra Bắc.

Thường trong cái xui, còn có cái hên cho một người. Anh ta lặn núp vào trong cánh buồm. Vì đây là ranh giới giữa hai bên, bọn chúng sợ quân ta có thể tấn công nên vội vàng rút lui. Anh ta sống lênh đênh trên biển cả một ngày một đêm với một tấm ván thuyền, và vớt được vài trái cam. Nhờ tàu Hải Quân mình đi tuần, anh ta cởi áo lót vẫy và được Tàu Hải Quân ta cứu thoát.

Trở lại phiên tòa quân sự Quân Khu IV. Viên Trung tá chánh án, hai Ðại úy phụ thẩm, viên Thiếu tá Viện Kiểm Sát, một Thư ký, hội trường đông nghẹt người. Chúng bắt loa ra cả sân Vận Ðộng cho dân chúng nghe. Quay phim, chụp hình. Mục đích của chúng bày trò cho thật to chuyện để nói với thế giới là miền Nam xâm phạm miền Bắc.

Ghê rợn nhất là lời buộc tội của viên công tố, thôi thì đủ điều để mà phát biểu, gán ghép bao nhiêu điều ác cho Chánh phủ VNCH. Hai luật sư biện hộ cho hơn mười người đều nói theo bản luận tội, nói là biện hộ cho nó có lệ thôi, chớ chế độ Cộng Sản làm sao dám đưa luật ra mà cãi, dám nêu lên cái đúng cái sai nếu không muốn gỡ lịch hàng năm. Phiên tòa kéo dài hai ngày đêm. Trước khi nghị án, tôi phát biểu một công dân sống trong chế độ phải làm tròn nhiệm vụ, kỷ luật Quân đội, phải thi hành trách nhiệm được giao phó. Việc tôi làm đã rõ ràng. Tòa xử như thế nào thì tùy tòa mà thôi.

Uất ức, tức tối muốn điên cả cái đầu. Nếu phá được cả ba chiếc tàu không bị lộ thì phiên tòa hôm nay dành cho bọn chúng, chứ không phải mà anh em Chiến hữu chúng tôi.

Kết thúc phiên tòa: Tôi, tù chung thân; anh Sáu, tù 20 năm; thuyền trưởng, tù 16 năm; thuyền phó, tù 6 năm; thợ máy kiêm hướng dẫn viên, tù 18 năm; hai anh tù 5 năm; bảy anh tù 3 năm; một anh tù 2 năm vì anh này chưa đến 18 tuổi. Bản án là một trò hề. Hai năm hay chung thân đều cùng chung một số phận ở tù từ 18, 20, 22 năm mới ra tù..

Sau đó chúng đưa đi các trại tù lao động khổ sai. Thôi thì không kể xiết những cảnh lao lý cực hình mà bọn chúng đã hành hạ chúng tôi. Ðúng! Ai có nếm mới biết mùi. Tôi muốn nêu lên vài điểm để làm sáng tỏ vấn đề thực tế cho những ai còn mơ tưởng về chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa nó ác độc như thế nào.

Chúng tôi đã trải qua các trại như Sơn Tây, hai lần trại Hà Giang thường gọi là cổng trời. Hà giang Bắc một đi có, về không. Trại Phú Lu Lào Cai, Tuyên Quang là trại cuối cùng. Về đây vì CSVN sợ Trung Quốc tấn công.

Quá trình mấy chục năm trong lao tù tàn độc dã man của CSVN, tôi nêu lên đây những tình thần tranh đấu bất khuất, những thương yêu đùm bọc lẫn nhau trong hoàn cảnh cùng chung số phận.

Ðiển hình và quyết liệt nhất là vụ tuyệt thực bảy ngày năm 1973 của anh em chúng tôi tại Phu Lu, Lao Cai.

Ngày ấy lên hội trường họ cho chúng tôi biết đã ký Hiệp Ðịnh Paris. Lúc nào phần thắng cũng thuộc về CSVN. Theo chủ trương của Ðảng. Chánh phủ, một số cán bộ lên hướng dẫn cho chúng tôi học tập, trong đó có vấn đề gọi là bồi dưỡng, rêu rao là nhân đạo nhằm mục đích nếu sau nầy có được trao trả bớt phần nào với bộ xương cách trí, da bọc xương, một bóng hình còn di động được tố cáo tội ác dã man của chế độ lao tù Cộng Sản.

Họ đủ điều thuyết phục chúng tôi, bày trò bàn thờ Tổ quốc rồi tuyên thệ không gây thêm tội ác, cũng như phá hoại các công việc của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa.

Trước mặt họ chúng tôi cũng ừ hữ, gật, cũng hứa hẹn, vì đang còn trong cái thế phải vờ chấp nhận. Làm thế nào mà họ có thể hiểu hết được trong tiềm thức của chúng tôi. Miễn làm sao được đặt chân lên miền Nam đã.

Họ giết chết cha mẹ, họ hàng, anh em, vợ con của những người dân vô tội trong dịp Tết Mậu Thân tại Huế năm 1968. Mối thù không đội trời chung với Cộng sản.Lúc nầy là thời điểm căng thẳng, bốn phía chòi canh bốn cây đại liên sẵn sàng nhả đạn tiêu diệt, nếu chúng tôi bạo động, và toán tù hình sự sẽ là vật hy sinh trước. Sở dĩ vì sao chúng tôi biết được tin tức nhờ anh em chúng có liên lạc được với tù là những phần tử bất mãn, oán hờn chế độ Cộng Sản thông tin cho chúng tôi biết để đề phòng.

Từ đó chúng tôi tuyệt thực tranh đấu đòi trao trả, vì anh em đã nghe đơn vị Dù được trao trả rồi.

Hàng ngày tên công an trực đưa thức ăn vào đều bị anh em la ó, phản đối, tên công an đã nói rằng tôi vào đây để nghe các anh chửi bới, các anh không ăn thì đưa về. Sau đó chúng dở trò thâm độc ly gián anh em để hành động dã man hầu dập tắt tinh thần đấu tranh đang dâng cao.

Tên công an tự giới thiệu là người của Bộ đưa xuống tuyên bố "hôm nay các anh chuyển trại" bắt tất cả hơn trăm người tập hợp, chung quanh là bộ đội có võ trang với tư thế sẵn sàng để đàn áp. Chúng kêu tên từng người lên xe, năm chiếc xe bắt đầu chuyển bánh. Chúng sắp đặt trước, chiếc xe đầu chở 21 người, chúng nghi là có khả năng lãnh đạo, trong đó có tôi chạy thẳng lên trại Quyết Tiến Hà Giang. Mấy tiếng đồng hồ sau, bốn xe kia quay trở lại trại, lùa tất cả vào phòng khóa cửa.

Anh em tranh đấu cho rằng Cộng Sản đưa số anh em đó đi thủ tiêu rồi. Chúng kêu từng người nói là lên sinh hoạt, thật chất là đưa vào phòng kỷ luật còng chân lại, dùng thủ thuật hành hạ dã man. Chúng đánh ông già Trình thuyền trưởng rụng cả hai hàm răng, các anh em khác người bầm ngực, bầm lưng, hộc máu mồm không được săn sóc chữa trị chi cả. Chúng lại chuyển tiếp một số anh em đợt hai lên Hà Giang. Phòng kỷ luật chật hẹp, tường đất dày 5 tấc, nền nhà luôn có nước đọng, khí hậu âm u rét buốt có ngày xuống 4 độ âm, mỗi ngày ăn một chén bắp độ chừng 5 đến 60 hạt, vài hột muối trắng. Mục đích của chúng hành hạ cho đến chết thì thôi. Số chết ở trại nầy hơn ba chục anh em.

Trong một buổi sáng tên công an vào cho sinh hoạt, trước khi bắt đầu, nó bảo các anh hát một bài đi. Một anh liền trả lời: Chúng tôi chỉ biết hát nhạc vàng, không biết hát nhạc đỏ. Chúng liền đưa anh bạn ấy đi vào hầm và cùm hết chín tháng.

Bản thân tôi hai lần ở trại Quyết Tiến Hà Giang. Trại nằm sâu trong rừng. Khí hậu ở đây vô cùng khắc nghiệt. Một năm cộng lại có hơi nắng vài ba tháng, còn lại là mưa gió, sương mù cách nhau 3 thước không nhìn thấy nhau. Những lúc này chúng tôi đều bị nhốt trong phòng. Mỗi lẫn có gió mùa Ðông Bắc thổi về cơn lạnh thấu xương. Ðói lạnh, ghẻ lở vô cùng cực khổ. Làm mà không đủ mức ấn định chúng dùng hình thức vô nhân đạo hạ mức ăn. Lao động khổ sai nên bị cụp xương sống, rối loạn thần kinh.

Một lần tôi bị kỷ luật cùm một tháng. Nguyên nhân là cái khăn lau mặt của tôi có ba sọc đỏ đem phơi ngoài trời. Một tên nào đó báo cáo với tên công an nói tôi treo cờ VNCH. Sau buổi sinh hoạt kiểm điểm chúng kết luận tôi còn mong đợi Chánh phủ miền Nam. "Lúc này là thời kỳ oanh tạc miền Bắc".

Kể về tội ác của Cộng Sản thì không giấy bút nào có thể tả hết những thâm độc của chúng.

Hồi tưởng lại gần một phần tư thế kỷ bị giam cầm, hơn mười ba năm sống dưới ách thống trị độc tài tàn ác của chế độ Cộng Sản, con người là cái xác không hồn, già yếu và bệnh tật.

Viết bài này tôi không có tham vọng nói lên điều sai hay đúng, chỉ mong mỏi những người còn lại, bạn đồng đội đốt nén hương để tưởng nhớ, thương tiếc và tri ơn các bạn đã hy sinh cho Tổ Quốc.




Image
Cá Kình Nguyễn Văn Tâm đứng ngay giữa, mặt áo trắng,
ở hàng sau cùng, kế Dân Biểu Bob Dornan.

Chỉ Huy Trưởng Sở Bắc, Cố Ðại Tá Ngô Thế Linh
đứng ở hàng sau, người cuối cùng bên tay phải.





Trích từ trang Biệt Hải


Mời quý bạn nghe truyện đọc bài Sanh Nam tử Bắc
Sinh Nam tử Bắc

Post Reply