Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

CHUYỆN BỐN BÀ VỢ
Một anh nhà giàu ...có 4 bà vợ. Ông yêu người vợ thứ thứ nhất, luôn mua sắm cho bà ta những bộ đồ sang trọng đắt tiền. Ông nâng niu chiều chuộng, coi người vợ thứ tư như một món đồ trang sức quý.

Ông cũng rất yêu người vợ thứ ba. Ông tự hào về người vợ này và luôn muốn "khoe" vợ với bạn bè. Tuy nhiên, trong ông luôn thường trực nỗi lo sợ bà bỏ đi với người đàn ông khác.

Ông cũng yêu người vợ thứ hai. Ông coi bà như người bạn tâm tình, người giúp ông vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Bất cứ khi nào gặp khúc mắc, ông đều tìm đến bà.

Người vợ thứ nhất lại là người rất chân thành, chung thủy, luôn kề vai sát cánh bên ông lo toan chu đáo chuyện gia đình. Tuy nhiên, ông lại không yêu bà vợ thứ nhất. Mặc dù bà rất yêu ông, ông hầu như chẳng bao giờ chú ý đến bà.

Một ngày nọ, ông ngã bệnh. Ông tự biết rằng mình sắp từ giã cõi trần. Ông nghĩ về cuộc sống giàu sang xa hoa và tự nhủ: "Hiện mình có 4 bà vợ. Nhưng khi mình chết, lại chỉ có một mình. Thật cô đơn làm sao!".

Ông ta hỏi bà vợ thứ tư: "Tôi yêu mình nhất, luôn dành cho mình sự quan tâm đặc biệt và những điều tốt đẹp nhất. Tôi chẳng còn sống được bao lâu nữa, liệu khi tôi chết, mình có nguyện đi theo tôi không?".

"Không đâu" - Bà vợ thứ tư đáp lại và bước đi.

Câu trả lời như một nhát dao cứa vào. Ông hỏi người vợ thứ ba: "Tôi yêu bà nhiều lắm, tôi sắp chết rồi, bà có nguyện theo tôi không?".

"Không, cuộc sống vẫn đang đẹp mà. Sau khi ông chết, tôi sẽ tái hôn". Trái tim ông run lên đau đớn.

Sau đó, ông hỏi người vợ thứ hai: "Bất cứ khi nào gặp vấn đề khó khăn rắc rối gì tôi cũng đều tìm đến bà. Bây giờ tôi xin bà hãy kề vai sát cánh cùng tôi lần cuối cùng. Khi tôi chết, bà có nguyện đi theo tôi không?".

Bà vợ thứ hai trả lời: "Xin lỗi, lúc này tôi không thể giúp ông được. Nếu có, tôi chỉ đưa linh cữu ông ra mộ thôi". Ông nghe câu trả lời mà như sét đánh ngang tai. Ông thực sự quá đau đớn vì người mà ông nghĩ có thể tin tưởng nhất cũng bỏ rơi ông.

Bỗng có một giọng nói cất lên: "Tôi sẽ đi cùng ông, đi đến bất cứ nơi nào ông tới". Ông dáo dác tìm kiếm chủ nhân của giọng nói và nhận ra đó chính là người vợ thứ nhất, người mà chẳng mấy khi ông để ý tới.

Trông bà gầy và xanh xao quá. Rưng rưng xúc động, ông nói: "Đáng lẽ ra trước đây tôi phải chăm sóc bà nhiều hơn nữa"...

* * *

Mỗi chúng ta ai cũng có 4 bà vợ. Bà vợ thứ tư chính là thân thể của chúng ta. Cho dù ta có chăm chút, trau chuốt đến mấy, rồi nó cũng rời bỏ ta khi ta chết.

Còn bà vợ thứ ba? Đó chính là của cải, địa vị.. Khi chúng ta chết, chúng sẵn sàng đi theo người khác.

Bà vợ thứ hai chính là gia đình và bạn bè. Cho dù có thân thiết đến mức độ nào, khi ta chết, họ cũng chỉ khóc đưa ta ra mộ mà thôi.

Bà vợ thứ nhất chính là tâm hồn ta, thường bị lãng quên khi ta chạy theo tiền tài, địa vị, danh vọng, của cải, nhưng nó sẽ theo ta suốt cuộc đời.

Tốt hơn hết là nuôi dưỡng tâm hồn ngay từ bây giờ, vì đó là "người" thân tín nhất bên ta. Đừng để phải hối hận vì đã lãng quên nó.

(Nguồn: Tín Ngưỡng Á Châu www.asia-religion.com)

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Án tù hai năm cho nhà báo Nguyễn Việt Chiến
Tác giả: DCVOnline



HÀ NỘI – Hôm nay thứ Tư ngày 15 tháng Mười, Việt Nam tuyên án hai năm tù ở cho một nhà báo đã từng tường thuật một vụ tham nhũng trước đây, và đã làm giới truyền thông ở đất nước Việt Nam Cộng sản bàng hoàng.

Tòa án Hà Nội cũng tuyên án tù ở một năm cho một cựu thượng tá cảnh sát, là người đã cung cấp tin tức tham nhũng này cho giới báo chí, nhưng tòa án đã tha bỗng một cựu thiếu tướng và nhà báo thứ hai, người cũng đã tường thuật vụ tham nhũng này.

Nhà báo bị án tù, là ông Nguyễn Việt Chiến, người đã khui vụ tham nhũng của PMU 18, thuộc Bộ Giao thông ba năm trước đây, qua đó những viên chức cao cấp của bộ đã biển thủ công quỹ để cá độ túc cầu Âu châu.
Image
Bà Nguyễn Việt Hằng, em của nhà báo Nguyễn Việt Chiến sau khi nghe tòa tuyên án. Nguồn: AFP


Loạt tường thuật tham nhũng này đã đưa đến một số bắt bớ và làm đẩy mạnh phong trào chống tham nhũng trở thành trung tâm điểm của chính sách nhà nước, cùng lúc Việt Nam được khen ngợi bởi cộng đồng quốc tế vì đã dành cho giới báo chí vốn bị nhà nước kiểm soát những tự do chưa từng có trước đây.

Nhưng, tháng Năm năm nay, cảnh sát đã bắt hai ông nhà báo dẫn đầu chuyện tường thuật tham nhũng ở Bộ Giao thông này, là ông Nguyễn Việt Chiến của tờ Thanh Niên và ông Nguyễn Văn Hải của tờ Tuổi Trẻ.

Hai ông phó Tổng biên tập của hai tờ báo này bị mất chức và sau đó, ban tuyên giáo của Trung Ương đảng Cộng sản Việt Nam đã thu hồi thẻ nhà báo nhiều nhà báo khác, những người đã đứng ra bênh vực cho hai đồng nghiệp của mình.

Hôm nay thứ Tư, Tòa án Nhân dân Hà Nội kết tội cả hai nhà báo này “đã lạm dụng tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích nhà nước.”

Ông Chiến, 56 tuổi, đã từng được giải thưởng dành cho nhà báo trước đây cho rằng ông vô tội suốt phiên tòa hai ngày nay, ông đã bị kết án hai năm tù ở, tính từ ngày ông bị bắt.

Ông Hải, 33 tuổi, đã thừa nhận ông đã vi phạm những sai lầm không cố ý trong khi tường thuật vụ án tham nhũng này và đã một lần bật khóc giữa phiên tòa, đã nhận án hai năm tù treo nhẹ nhàng hơn và được thả tự do sau đó.

Tòa án cũng kết án hai ông cựu sĩ quan cảnh sát cao cấp, vì đã cung cấp tin tức cho giới báo chí trong cuộc điều tra vụ biển thủ ở PMU 18 suốt hai năm 2005-2006.

Cựu thiếu tướng Phạm Xuân Quắc, 62 tuổi, người cầm đầu cuộc điều tra này, chỉ nhận sự cảnh cáo chính thức, nhưng thượng tá Đinh Văn Huynh, 50 tuổi, bị tuyên án hai năm tù ở kể từ ngày ông bị bắt.

Công tố viên cho rằng những tường thuật của hai nhà báo này có những sai lầm và định kiến và đã làm xấu đi cái hình ảnh của viên chức nhà nước, của đảng viên đảng Cộng sản, cũng như làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam và giới lãnh đạo, trước ngày họp của Trung ương đảng trong năm 2006.

Image
Nhà báo Nguyễn Việt Chiến
trước vành móng ngựa.
Ông cho rằng mình vô tội
trong hai ngày qua. Nguồn: AFP

Quan tòa, khi tuyên án, đã lập đi lập lại rằng “những lực lượng thù địch, phản cách mạng và những kẻ cơ hội chính trị” đã lợi dụng vụ tai tiếng này để tấn công lãnh đạo và nhà nước Việt Nam “cùng lúc khuấy động, xúi dục những hành động làm rối loạn an ninh và trật tự” trước ngày họp của đảng Cộng sản.

Ông Chiến nói rằng cho đến ngày ông bị bắt, ông chưa bao giờ bị khiển trách, bị phỉ báng hay bị than phiền từ một độc gỉa của ông.

“Khi vụ án PMU 18 được khui ra, nguyên cả hệ thống chính trị của Việt Nam để ý chăm chú về chuyện này,” ông nói thêm.

Vụ tai tiếng này đưa đến chuyện từ chức của ông Bộ trưởng Đào Đình Bình và ông phó Thứ trưởng Nguyễn Việt Tiến bị bắt, trong lúc nhiều viên chức của PMU 18 bị tù vì tội tham nhũng và cá độ bất hợp pháp.

Nhưng ông cựu thứ trưởng Tiến đã được thả tự do sau đó và được trắng án.

Các nhà báo và ngoại giao ngoại quốc được phép theo dõi phiên tòa hai ngày qua hệ thống truyền hình trực tiếp, trong lúc nhiều nhà báo Việt Nam theo dõi và chờ đợi tin tức diễn tiến trong phiên tòa trên đường phố bên ngoài tòa án.

Tổ chức Phóng viên Không Biên giới đã lên án phiên tòa này là “sự trả thù” của nhà nước dành cho hai “nhà báo dám tiết lộ những trường hợp xấu hổ và mang đến sự tự do hơn cho báo chí Việt Nam.”

“Đó là một sự sỉ nhục công lý. Phiên tòa này là ở ngay tâm điểm của một cơn địa chấn phá hủy cái căn bản vẫn đang còn mong manh của một nền báo chí độc lập, muốn đóng vai trò thách đố một nhà cầm quyền đã được cũng cố, vững chắc.”

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Ðảng CSVN Thi Hành Chính Sách
“Cấm Sách Vở, Giam Học Trò”


Trần Nam – ÐDCND

Image
Tần Thủy Hoàng


Trung Tướng Trần Ðộ, trong cuốn nhật ký Rồng Rắn, đã viết “Nền chuyên chính tư tưởng hiện nay ở Việt Nam là tổng hợp các tội ác ghê tởm của Tần Thuỷ Hoàng và các vua quan tàn bạo của Trung Quốc, cộng với tội ác của các chế độ phát xít, độc tài”. Một người cả đời đi theo đảng, từng giữ những trọng trách cao cấp nhưng cuối đời đã dũng cảm quay lại phê phán đảng. Nhận xét của Tướng Trần Ðộ đáng cho chúng ta suy gẫm.



Nhắc đến Tần Thủy Hoàng, là nhắc đến chế độ “đốt sách vở, chôn sống học trò”. Một chế độ tàn ác trên cả tận cùng của tội ác. Tâm điểm chính sách tàn bạo đời Tần là “dùng tất cả tài nguyên trong thiên hạ để phụng sự cho sự cai trị của Hoàng Ðế”. Ðể đạt mục tiêu này, Tần Thủy Hoàng đã gieo rắc sự khủng khiếp trong nhân dân, sử dụng luật lệ tàn bạo, tra tấn và trừng phạt nhằm trấn áp những ai dám chống lại chính sách của Tần. Chính sách đàn áp, tra tấn và trừng phạt nhà Tần không những chỉ nhắm vào người phạm tội mà luôn cả gia đình, thân nhân, dòng họ của kẻ phạm tội, nhằm gây khiếp đãm trong thiên hạ, giử chế độ Tần Thủy Hoàng được tồn tại.



Nổi bật lên trên sự dã man của nhà Tần là chủ trương triệt để kiểm soát tư tưởng, độc quyền chân lý, cấm tất cả những chính kiến ngược lại quan điểm của Hoàng Ðế. Dưới nhà Tần, những ai dám phê phán triều đình đều bị giết. Ðể cho chắc ăn, bảo đảm không bất cứ ai có thể gieo rắc tư tưởng ngược lại quan điểm của Hoàng Ðế, Tần Thủy Hoàng ra lệnh “đốt sách vở và chôn sống học trò”. Những kẻ phản kháng, những kẻ đối nghịch có hành động nguy hiểm cho triều đình, nặng thì bị giết, nhẹ thì bị tù, thân bị đày đi làm nô lệ. Thời Tần, dân số chừng 10 triệu, thì đã có hơn hai triệu người bị bắt làm nô lệ, bị đày ải, bị chết thãm bên bờ tường Vạn Lý Trường Thành. Sử sách ghi nhận, số học trò bị giết nhiều đến nỗi quan chức nhà Tần phải đẩy ra biển cho chết, thay vì đem chôn sống.



Ðời Tần, tội nặng nhất là “Tự Do Tư Tưởng”. Các sách như Tứ Thư, Ngũ Kinh đều bị đem đi đốt hết. Cả nước chỉ được lưu truyền sách bói toán, sách trồng trọt.. v.v…Kẻ nào dám lưu trử, truyền bá các sách bị cấm. Nếu bị bắt sẽ bị truy tố tội “phản nghịch”, chịu hình phạt bêu đầu. Một chế độ cai trị tàn độc, dã man nhất cũng không đứng vững được 100 năm. Nhà Tần xụp đổ chỉ trong vòng 15 năm (221 TCN - 206 TCN), kết thúc trang sử đẫm máu của vị Hoàng Ðế tàn bạo nhất trong lịch sử nhân loại.



Chế độ độc tài CS cai trị Việt Nam từ năm 1945-2008. Trải qua bao thăng trầm, CS đã tồn tại 63 năm. Mặc dù không lộ liểu “chôn sống học trò”, nhưng nhà cầm quyền Hà Nội, vào những ngày đầu chiếm chánh quyền ở Miền Nam, đảng CSVN từng thì hành chính sách, tịch thu và “đốt sách vở Ngụy”, đối với các viên chức, trí thức của chế độ cũ thì “bị đày ải, giam cầm” cho đến chết, thân tàn ma dại nơi rừng sâu nước độc. Gần đây, ở kỷ nguyên thế kỷ 21, trước sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản, chính sách cai trị Ðảng CSVN tinh vi hơn, nhưng mục tiêu vẫn là tìm mọi cách kiềm soát và độc quyền tư tưởng. Từ chính trị, kinh tế, tôn giáo đến xã hội, văn hoá, truyền thông, giáo dục, báo chí, giải trí v.v.. Không lãnh vực nào không có sự hiện diện và kiểm soát chặt chẻ của đảng CSVN. Ðiều này, không khác gì tư tưởng chủ đạo của Tần Thuỷ Hoàng, “lấy hết của cải trong thiên hạ mà phụng sự cho ngai vàng của Hoàng Ðế”.



Ðối với Tần Thủy Hoàng, tội nặng nhất là “Tự do Tư tưởng” thì đối với Ðảng CSVN, cũng không có khác biệt. Vụ án Nhân văn Giai phẩm, những cuộc đàn áp các nhà bất đồng chính kiến như bắt giữ nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng, nhà thơ Trần Ðức Thạch, sinh viên Ngô Quỳnh, chị Phạm Thanh Nghiên… v.. v , những bản án tù cáo buộc vi phạm điều “88” tức “làm ra và tàng trử tài liệu chống chế độ” dành cho Linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Ðài, bác sĩ Lê Nguyên Sang, luật sư Trần Quốc Hiền, Nguyễn Bắc Truyễn, ký giả Huỳnh Nguyên Ðạo v.v…. đều nằm trong phạm trù không chấp nhận quyền “Tự do Tư tưởng”. Nếu có khác đời Tần, thay vì dã man “đốt sách vở, chôn sống học trò” thì tinh khôn và tàn độc hơn, đảng CSVN đã và đang thi hành chính sách “hậu” Tần “cấm sách vở, giam học trò”.



Mục tiêu của chế toàn trị vẫn là triệt hết các tư tưởng đối nghịch, đi ngược lại quan điểm “chủ nghĩa xã hội” của đảng cầm quyền. Ðảng CSVN tận dụng mọi phương tiện trong tay như công an, nhà tù, luật pháp để huỷ diệt những mầm móng phản kháng, nhằm giữ chính quyền độc tài từ đời này sang đời khác. Ðảng CSVN bất kể hậu quả của độc quyền tư tưởng, bất kể tương lai đất nước đi về đâu, bất kể nhân dân phẩn uất, căm hận đến mức độ nào. Nếu ở Việt Nam không có cảnh “truyền ngôi” thô bỉ như ở Bắc Hàn, hoặc phẩn nộ “anh nhường ngôi cho em” như ở Cuba; thì sự liên tục cai trị của chế độ độc đảng, hết Tổng bí thư CS này, đến đời Tổng bí thư CS khác cũng là hình thức đánh tráo quyền lực. Từ khuôn mẫu dòng họ truyền ngôi, nhà nước hậu phong kiến CSVN đã ma mãnh, biến thái qua mô thức truyền nhau vai trò lãnh đạo suốt 63 năm qua.



Lãnh tụ CS Joseph Stalin từng nói “Tư tưởng mạnh hơn súng. Chúng ta không cho kẻ thù có súng thì tại sao lại để bọn chúng có tư tưởng chứ”. (1) Stalin, chủ trương tiêu diệt hết mọi tư tưởng độc lập, phản kháng, dám chỉ trích chế độ Sô Viết. Thời Stalin, biết bao kẻ vô tội, trong và ngoài đảng, đã chết thảm vì bị đày ải đến các nhà tù ở vùng băng tuyết Tây Bá Lợi Á. Văn hào Nga, Alexander Solzhenitsyn, người từng đoạt giải Nobel Văn Chương năm 1970, là nhân chứng sống cho nhân loại trước sự tàn ác khủng khiếp của chế độ nhà tù thời Stalin.



“Ai dám cưỡng lại và tìm cách chứng tỏ rằng mình đúng, kẻ đó phải rời hàng ngũ lãnh đạo và sau đó sẽ bị tiêu diệt về tinh thần và thể xác. Ðiều này đã xảy ra sau Ðại hội thứ XVII của đảng, khi rất nhiều lãnh tụ xuất sắc của đảng và các đảng viên nòng cốt - biết bao chiến sĩ trung thực và ngay thẳng của sự nghiệp cộng sản - đã là nạn nhân của sự bạo ngược của Stalin.” Ðó là bản báo cáo Mật mà chính Tổng bí thư Ðảng CS Liên sô Khrushop đã báo cáo về Stalin. Dù vậy, chủ nghĩa Cộng sản ở Liên Bang Sô Viết, sau nhiều năm gieo rắt tai hoạ cho nhân loại, đã kéo dài 73 năm, bằng tuổi thọ của một đời người.



Các chế độ từ phong kiến, thực dân đến phát xít, cộng sản qua độc tài toàn trị đều sợ hãi quyền “Tự do Tư tưởng”. Một quyền tự nhiên, khi sinh ra con người đã có. Nó là hơi thở của sự sống, trong đó con người đúng nghĩa phải được quyền tư duy độc lập, không bị chi phối và kiểm soát bởi bất cứ quyền lực độc đoán nào. Tự do tư tưởng không phải là thứ xa xí phẩm mà chế độ độc tài dành quyền ban phát. Tự bản thân, giá trị của “tự do tư tưởng” đã hình thành khi nhân loại hiện hữu, như cách nói “tôi tư duy tức là tôi hiện hữu”. Một sự hiện hữu trọn vẹn, độc lập không bị trói buộc bởi những quyền lực giả hình.



Trong bản Hiến chương Quốc tế Nhân Quyền, quyền tự do tư tưởng và phát biểu quan điểm, điều 19 ghi “Ai cũng có quyền tự do tư tưởng và phát biểu chính kiến của ḿình, được quyền tự do giữ vững quan điểm mà không bị người khác can thiệp. Ai cũng có quyền t́ìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tin tức và sư kiện về mọi vấn đề, bằng mọi phương tiện truyền thông không phân biệt biên giới quốc gia”



Tự do tư tưởng là một quyền căn bản nằm trong nhiều quyền, gọi chung là Nhân Quyền. Bao gồm quyền tự do báo chí, tự do lập hội, tư do đi lại, tự do tôn giáo v.v... Tuy nhiên, để cai trị và bảo vệ chế độ, những nhà nước toàn trị, luôn tìm mọi cách kiểm soát chặt chẽ quyền tự do tư tưởng. Việc này, Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền trong phần mở đầu đã cảnh báo các chế độ độc tài… “việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đă đưa tới những hành động dã man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, được giải thoát khỏi sự sợ hãii và khốn cùng, được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của con người”.

Tự do tư tưởng là quyền bẩm sinh, nó hiện hữu và hình thành trước các chế độ chính trị. Và nhiều chế độ chính trị đã nhờ rao giảng quyền “tự do tư tưởng” này để nắm được chính quyền. Ông Hồ Chí Minh, ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Hà nội, khi đọc bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập, đã từng nhắc nhở “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Trời cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập năm 1776 của nước Mỹ, suy rộng ra câu ấy có ý nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản tuyên ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Ðó là những lẽ phải không ai chối cải được”.



Ðúng vậy, “đó là những lẽ phải không ai chối cải được” kể cả Ðảng CSVN. Nhưng đến khi nắm được chính quyền thì ông Hồ và Ðảng CS của ông lại phản bội ngay mục tiêu đã từng chiến đấu và cổ xuý.



Một chế độ cai trị nhân dân chỉ biết dựa vào sức mạnh của bạo lực, chế độ đó, tự bản chất sẽ không ổn định và bền vững lâu dài. Khi sức mạnh của công an, mật vụ, pháp luật rừng và nhà tù không còn là nỗi sợ hãi của nhân dân, chế độ sẽ nhanh chóng sụp đổ. Khi đám đông khốn cùng dám ngẩng cao đầu đi đến lao tù, chấp nhận bị đày ải; đó cũng là lúc tiếng chuông vang báo tử của chế độ độc tài, toàn trị.

–––––

(1) Joseph Stalin (1879-1953) “Ideas are far more powerful than guns. We don't allow our enemies to have guns, why should we allow them to have ideas? “

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Đêm Nhạc Vinh Danh Lê Văn Khoa:
‘người Viết Lịch Sử Việt Nam Bằng Âm Nhạc’


Image

Vào ngày Thứ Bẩy, 11 tháng 10, 2008 vừa qua một đêm nhạc giao hưởng “độc nhất vô nhị” và vô cùng giá trị của người Việt Nam từ trước đến nay đã được tổ chức tại Carpenter Performing Arts Center, thành phố Long Beach, California nhằm vinh danh nhà soạn nhạc tài ba Lê Văn Khoa. Đêm nhạc này đã được Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ và một số thân hữu cùng đứng ra tổ chức với trưởng ban là nhạc sĩ Nam Lộc.


Có thể nói buổi trình diễn này đã thành công thật tốt đẹp với một chương trình kéo dài gần 4 tiếng đồng hồ ở một địa điểm trang trọng, với sức chứa hơn 1,200 ghế ngồi, đầy nghẹt khán thính giả, không còn một chỗ trống. Ngay từ khi bắt đầu khai mạc lúc 7:30 tối thì mọi người trong rạp đã ngồi im lặng để thưởng thức âm nhạc một cách say mê tưởng chừng như ở đó bạn có thể nghe tiếng thở của người ngồi bên cạnh. Không gian chỉ vỡ oà sau mỗi màn trình diễn qua những tiếng vỗ tay khen ngợi khắp nơi. Nếu nói đây là một chương trình “có một không hai” thì cũng không phải là quá đáng vì ban tổ chức đã huy động một giàn nhạc hợp tấu symphony orchestra (sau này thường gọi là “giao hưởng”) với hơn 60 nhạc công Việt, Mỹ và một số quốc gia khác cùng với hàng chục ca sĩ tài dành trình diễn thì mới thấy được giá trị và mức độ trang trọng của chương trình này.

Image Ngoài những ca sĩ chuyên hát nhạc thính phòng, nhạc kịch opera hoặc những giọng nữ cao vút (gọi là soprano), giọng nam tenor… đã thành danh nhiều năm, từng cộng tác với ban hợp xướng Ngàn Khơi và Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ như Kim Tước, Quỳnh Giao, Bích Liên, Ngọc Hà, Lê Hồng Quang, Bích Vân, Phạm Hà .v..v.., khán giả đặc biệt chú ý đến những ca sĩ trẻ từ Trung Tâm Asia đặc biệt xuất hiện ở buổi trình diễn này là Y Phương, Lâm Nhật Tiến và Nguyễn Hồng Nhung. Dù đây là lần đầu tiên họ trình diễn chung với dàn nhạc giao hưởng, nhưng ba ca sĩ từ trung tâm Asia này đã hát thật xuất sắc và hoàn thành trọng trách khó khăn. Họ đã không hổ thẹn khi đứng chung trên một sân khấu với các bậc đàn chị như Kim Tước, Quỳnh Giao hoặc những giọng hát chuyên nghiệp về opera hay soprano khác.

Đặc biệt nhất là nữ ca sĩ Nguyễn Hồng Nhung đã mang một trách nhiệm thật quan trọng và chịu đựng áp lực nặng nề khi cô được chọn là người hát ca khúc mở màn cho đêm nhạc hội. Đó là một bài hát thuộc loại bán cổ điển serenade, nhưng là serenade Việt Nam do nhạc sĩ Lê Văn Khoa sáng tác có tựa đề là “Nhạc Chiều Năm Đó”. Ở bài hát này những lời ca thân thiết của quê hương chúng ta đã được Nguyễn Hồng Nhung diễn tả cùng với phần hòa tấu của giàn nhạc khiến người nghe như thả hồn vào những âm thanh vô cùng quyến rủ, tình tứ. Nhiều người đã từng say mê Serenade của Schubert và Serenata của Tosseli thì hôm nay và sau này sẽ nhớ mãi serenade “Nhạc Chiều Năm Đó” của Lê Văn Khoa.
Image Trước đó vài phút, chương trình đã được mở màn bằng một tấu khúc trích trong “Vietnam 1975 Symphony” do ban nhạc của Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ (Vietnamese American Philharmonic / VAP) trình diễn. Khán giả đã ngạc nhiên khi nghe những âm thanh quen thuộc của làn điệu dân ca miền nam với những nốt nhạc ngũ cung như “tang tình tang tính tang, tính tang tình tang tính tình tang” mà nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã khéo léo mang vào tấu khúc “Vietnam 1975” này. Kế đến, nhạc sĩ Nam Lộc với tư cách là Trưởng Ban Tổ Chức đã ngỏ lời chào mừng quan khách như sau:

Thay mặt ban tổ chức cùng Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ, tôi xin được trân trọng chào đón toàn thể quý vị hiện diện trong buổi nhạc hội vinh danh nhạc sĩ Lê Văn Khoa, "Người Viết Lịch Sử Bằng Âm Nhạc", mà ngay chính tên tuổi cuả ông cũng đã chiếm một khoảng không nhỏ trong phần lịch sử đó.


Tuy nhiên, trong số quý vị quan khách tham dự ngày hôm nay, có người chỉ biết Lê Văn Khoa là một nhạc trưởng và là một nhà soạn nhạc tài ba. Có người thì biết Lê Văn Khoa qua những tác phẩm nhiếp ảnh giá trị và đầy nghệ thuật. Còn một số người khác thì chỉ biết ông là một nhà giáo hiền lành và thường khuyến khích con cái theo dõi những chương trình giáo dục trên đài truyền hình do "thầy Khoa" thực hiện. Riêng tôi thì chỉ được hân hạnh quen biết, được học hỏi và được hoạt động cùng với ông trong lãnh vực xã hội, và phục vụ cộng đồng từ nhiều năm qua.

Với những đóng góp vừa kể, nên nhiều người thắc mắc rằng, tại sao cho đến ngày hôm nay mới có buổi họp mặt để vinh danh một nhân tài hiếm quý của người Việt tại hải ngoại? Thưa quý vị, đó chính là vì sự hoạt động thầm lặng, kín đáo, cộng với lòng khiêm tốn của một người mà chúng ta sẽ nhắc đến và được nghe thật nhiều về ông trong buổi tối hôm nay....
Image Sau đó nhạc sĩ Nam Lộc đã giới thiệu hai MC cho chương trình này là cô Diệu Quyên, xướng ngôn viên của đài truyền hình SBTN và nhạc sĩ Hoàng Trọng Thụy từ Vietnam Cali. Radio (VNCR) cùng điều khiển chương trình.

Hai người MC này đã khéo léo dẫn dắt chương trình một cách rất gọn gàng, chừng mực và lịch sự tuy thỉnh thoảng cũng có những câu nói dí dõm, tạo cho không khí chung quanh trở nên nhẹ nhàng hơn nhưng rất thích hợp với tinh thần của một buổi nhạc thính phòng.

Gia tài nghệ thuật của nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa thật là to lớn, nhưng ở chương trình này, ban tổ chức chỉ thu hẹp vào lãnh vực sáng tác âm nhạc của ông. Đúng như chủ đề đã nêu ra, nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã diễn tả những thời điểm quan trọng của giòng lịch sử Việt Nam, trong đó có cá nhân ông và cả chúng ta như bị cuốn hút vào những vận nước điêu linh theo từng năm tháng. Khi Nguyễn Hồng Nhung trình diễn xong “Nhạc Chiều Năm Đó” thì những âm thanh tiếp nối trên sân khấu như đưa mọi người trở về vùng trời quê hương của thời gian đúng bốn mươi năm về trước. Đó là thời điểm của biến cố Mậu Thân khi quê hương đắm chìm trong khói lửa khắp nơi. Ngồi im lặng một mình trong bóng đêm khi Sài Gòn đang trong giờ giới nghiêm, phố phường tĩnh mịch, nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã mơ ước một bình mình rạng rỡ trên quê hương thanh bình. Trong đêm đó ông đã hoàn thành tác phẩm “Bình Minh Quê Hương” làm kinh ngạc mọi người. Tiếng hát Lê Hồng Quang đã đưa khán giả trở về thời dĩ vãng đau thương đó của quê hương Việt Nam tang tóc. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã mơ ước một quê hương Việt Nam với :

“Trời xanh mơ màng và gió dịu dàng,
Nhẹ bông hoa vàng tuyệt thay

đất ta Việt Nam, nước ta Việt Nam, sông núi ta Việt Nam

Với thôn nữ hiền, góp sức thanh xuân

tắm nắng vàng tươi, đẹp nụ cười duyên ….”
Image
Sau đó là những tấu khúc tràn đầy kỷ niệm trong đời nhạc sĩ Lê Văn Khoa như Remembrance với nét nhạc đơn sơ nhưng tràn đầy tình cảm khi ông viết riêng cho người con gái lớn ở tuổi trưởng thành. Khúc nhạc này đã được nhạc sĩ Irina Starodub, giáo sư của nhạc viện quốc gia Tchaikowsy tại Kiew, một người đã chiếm nhiều giải thưởng âm nhạc quốc tế ngồi độc tấu piano với dàn nhạc phía sau. Ít người biết là một người con trai của nhạc sĩ Lê Văn Khoa là nhạc sĩ Lê Minh Khải đã sáng tác một bài luân vũ rộn ràng. Đặc biệt bài luân vũ “Tình Mơ” này đã được nhạc sĩ Lê Văn Khoa soạn lại cho dàn nhạc giao hưởng VAP do nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng điều khiển và giới thiệu với khán giả hôm nay.

Ngoài những ca khúc do nhạc sĩ Lê Văn Khoa sáng tác trên đất Mỹ như “Trăng Thu” do hai ca sĩ Kim Tước và Quỳnh Giao song ca , “The Last Time” (Lần Cuối) do Ngọc Hà trình bày song ngữ Việt-Anh, “Gọi Nhớ” do cô giáo thanh nhạc người Phi Luật Tân, Melody Versoza hát bằng tiếng Anh và những màn độc tấu, hòa tấu các tác phẩm khác của ông khán giả còn có dịp thưởng thức những bài hát nổi tiếng khác được nhạc sĩ Lê Văn Khoa soạn hòa âm cho dàn nhạc symphony. Đó là tuyệt tác “Hòn Vọng Phu” của nhạc sĩ Lê Thương do ban hợp xướng Ngàn Khơi trình diễn với sự điều khiển của nhạc trưởng Vũ Tôn Bình. Một bài hát khác là “Qua Suối Mây Hồng” của nhạc sĩ Phạm Duy cũng được Bích Liên đơn ca. Nhờ tài hòa âm và phối khí cho dàn nhạc giao hưởng của nhạc sĩ Lê Văn Khoa mà những bài hát quen thuộc này trở nên sống động, hùng tráng hơn lên nhất là khi được phụ hoạ bằng những âm thanh của bộ gõ hoặc chiêng trống vang lừng.

Sau ca khúc này thì nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, tác giả của những bài du ca nổi tiếng đã được ban tổ chức mời lên để tuyên dương thành tích họat động của nhạc sĩ Lê văn Khoa, đồng thời giới thiệu một video clip ngắn về tiểu sử của "Người Viết Lịch Sử Việt Nam Bằng Âm Nhạc".

Chương trình được nối tiếp với tiếng đàn Cello của nhạc sĩ Nhật Bản Hitoshi Suzuki qua bản Memory của Lê văn Khoa. Có một ca khúc cũng được nhạc sĩ Lê Văn Khoa sáng tác ở Sài Gòn vào khoảng cuối thập niên 50 rất lạ lùng và rất ít người biết đến là bài “Nhớ Tiếng Xưa”. Ca khúc này lạ lùng vì nó không theo một khuôn mẫu của loại nhạc phổ thông thường thấy. Giai điệu nhạc đang dâng cao lên lần lần thì đột ngột kết thúc thật nhanh và thật gọn. Bài hát này lần đầu tiên được hát ở hải ngoại vào đêm vinh danh tác giả với giọng hát cao vút của nữ ca sĩ Y Phương chắc chắn đã gây ngạc nhiên cho nhiều khán thính giả.

Ở chương trình video Asia 54 “Trầm Tử Thiêng - Trúc Hồ” khán thính giả khắp nơi đã được nghe các nghệ sĩ ở trung tâm Asia hợp ca bài hát “Con Đường Việt Nam” của nhạc sĩ Trúc Hồ, lời Anh Bằng. Bài hát này đã được nhạc sĩ Trúc Hồ sáng tác trong khi đang đi trên những con đường ở thủ đô nước Tiệp Khắc. Lúc đó anh đã “trông nước người mà nghĩ đến nước ta” và hồi tưởng lại những kỷ niệm vui buồn của thời thơ ấu ở quê nhà. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã chú ý đến bài hát này, nên ông đã soạn lại phần hoà âm cho dàn nhạc giao hưởng và điều này cũng cho thấy ông đã chú ý đến những nhạc sĩ trẻ trong cộng đồng chúng ta ở hải ngoại. Hôm nay Lâm Nhật Tiến đã đơn ca bài hát này với dàn nhạc đại hòa tấu.

Nói về những ca sĩ trẻ cùng góp tiếng cho chương trình này thì phải công nhận phần trình diễn của ca sĩ Bích Vân được coi là một trong những tiết mục thành công nhất. Cô trình bầy bản “Mơ Về Quê Tôi” của nhạc sĩ Lê Văn Khoa, diễn tả tâm trạng xa xứ, nỗi đau hãi hùng trong bước đường đi tìm tự do, đó cũng chính là tâm trạng và hoàn cảnh của Lê Văn Khoa cùng của biết bao người trong cộng đồng ly hương đã phải trải qua. Bích Vân diễn tả ca khúc “Mơ Về Quê Tôi” một cách rất điêu luyện, sống động, thiết tha, và lôi cuốn, làm sững sờ người nghe từ đầu đến cuối bài hát. Khán giả đã vỗ tay tán thưởng cho màn trình diễn này tưởng như không muốn dứt.

Ngoài phần hoà ca điêu luyện của ban hợp xướng Ngàn Khơi, thì một trong những tiết mục hợp ca nổi bật là phần trình diễn của ban tứ ca Thùy Dương với bài dân ca “Xe Chỉ Luồn Kim”, hoà âm bởi Lê Văn Khoa, gồm 4 giọng hát Thùy Hạnh, Kim Yến, Tiến Dũng và Ngọc Diệp, một giọng ca mới thay thế cho Vũ Tuấn Đức.
Image Vào phần cuối, trước khi chấm dứt chương trình, nhạc sĩ Nam Lộc, trưởng ban tổ chức đã thay mặt khán thính giả mến mộ, cùng ban tổ chức cũng như Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ, trao tấm plaque tri ân đến nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Toàn thể hội trường đều đứng dậy để chào đón và vinh danh ông.

Sau khi nhạc sĩ Lê Văn Khoa ngỏ đôi lời tâm tình cùng tất cả mọi người, thì ngay đó nhạc trưởng Khánh Hồng đã trân trọng kính mời và trao lại chiếc đũa điều khiển dàn nhạc để Lê Văn Khoa bước lên bục điều khiển chung khúc “Hymn To Freedom” (Ca Ngợi Tự Do) với giàn nhạc giao hưởng VAP cùng phần hợp ca cuả ban hợp xướng Ngàn Khơi.

Cuối cùng toàn thể nghệ sĩ tham dự trong chương trình đã cùng bước ra sân khấu để chung vui với nhạc sĩ Lê Văn Khoa đồng thời chào từ giã khán thính giả. Hầu như mọi người đều ở lại cho đến giờ phút chót và ra về trong mối lưu luyến, mãn nguyện với một đêm trình diễn âm nhạc hiếm hoi và đầy giá trị nghệ thuật của nền âm nhạc Việt Nam.

Duy Khiêm

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Trận Bão Tài Chánh
Làm Rung Rinh Hệ Thống Siêu Cường Hoa Kỳ

Tác giả: Lý Đại Nguyên


Do nhu cầu Kinh Tế Thị Trường Tự Do Toàn Cầu Hóa, mà nước Mỹ đương nhiên là Thống Soái, nên dù đảng Dân Chủ Mỹ vốn có khuynh hướng bảo hộ mậu dịch thì năm 1999, tổng thống Mỹ, Bill Clinton cũng đã phải ban hành quyết định cải cách ngân hàng theo hướng giảm chánh. Đến khi tổng thống George W Bush của đảng Cộng Hòa với khuynh hướng tự do mậu dịch lên cầm quyền, thì việc giản lược hành chánh và luật lệ ngân hàng để cho thị trường được sinh hoạt tự do càng được coi trọng. Mặc dầu, năm 2001 vụ bê bối Enron nổ ra, khiến có Đạo Luật Sarbannes-Oxley, nhằm tăng cường kiểm soát kế toán và quản trị xí nghiệp được ban hành. Nhưng chính quyền Cộng Hòa vẫn duy trì chủ trương không can thiệp vào thị trường. Nên hệ thống Ngân Hàng rộng tầm, vung tay quá trớn. Nhiều doanh nghiệp tài chánh vô trách nhiệm bất lương không bị truy tố. Wall Street luôn luôn giữ chiếc đũa thần tài chánh trong tay. Vận mệnh chứng khoán cả thế giới đều được quyết đinh từng ngày tại New York. Lãi xuất được hạ xuống gần số 0. Dollars giảm giá đã thổi trái bóng địa ốc phình to, hút vốn đầu tư đổ vào đất chết đó. Đến khi lãnh vực đầu tư nhà đất sụp đổ. Chính phủ Mỹ chỉ cứu 2 hệ thống tài chánh bán công Fannie Mae và Freddie Mac, bỏ mặc cho ngân hàng tư doanh đầu tư địa ốc khổng lồ khác phá sản. Tạo ra một cuộc khủng hoàng tài chánh rộng khắp thế giới.

Lưỡng đảng tại Quốc Hội Mỹ thỏa thuận với Tổng Thống về chương trình trị gía 700 tỷ USD để vực dậy lãnh vực tài chánh. Nhưng ngày 29-09-08 đa số dân biểu của đảng Cộng Hòa cùng với thiểu số dân biểu đảng Dân Chủ tại Hạ Viện đã bác kế hoạch đó, với tỷ lệ 228/205. Ngay lập tức Thị Trường Chứng Khoán New York bay mất 1.000 tỷ USD, kéo theo cả thị trường Âu, Á xuống vực thẳm. Ngày 03-10-08, Hạ Viện Mỹ lại bỏ phiếu chấp thuận cho kế hoạch chi tiêu 700 tỷ USD để cứu tài chánh Mỹ với tỷ lệ 263/171. Với nội dung: " 1- Chính phủ Mỹ sẽ nhận tiền qua từng đợt $250 tỷ Mỹ Kim ngay lập tức, và 100 tỷ sau đó nếu như tòa Bạch Ốc yêu cầu. Quốc Hội Mỹ có quyền phủ quyết $350 tỷ còn lại". "2- Ngân hàng nhận tiền trợ giúp của Liên Bang sẽ phải đưa lại cổ phiếu cho Bộ Tài Chánh nắm giữ để một khi ngân hàng hồi phục và có lời, người thọ thuế sẽ hưởng lợi nhuận này". "3- Lương và thưởng của ban giám đốc điều hành ngân hàng, sẽ phài chiụ giới hạn, và các khoản cho hay thưởng vô tội vạ khi thay ban điều hành, sẽ bị cấm". "4- Toàn bộ khu vực ngân hàng sẽ bỏ tiền vào để trợ giúp nhau, nếu như các ngân hàng đang có vấn đề không đứng vững nổi". "5- Cả thảy sẽ có 4 văn phòng theo dõi thoả thuận trợ giúp, trong đó Tổng Thanh Tra hoạt động dưới tư cách độc lập, và việc thành lập Hội Đồng Kiểm Tra với thành viên đều từ 2 đảng". "6- Các nhà băng sẽ phải mua bảo hiểm để tự bảo vệ họ nếu như các chứng khoán liên quan tới tín dụng sụt giá". Nội tại nước Mỹ thì khuynh hướng tự do mậu dịch đã thất thế trước khuynh hướng bảo hộ mậu dịch.

Nhưng một mình nước Mỹ cũng không thể cứu nổi cả hệ thống tài chánh quốc tế. Trong cuộc họp Hội Nghị của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế - IMF và Ngân Hàng Thế Giới — WB tại Hoa Thịnh Đốn, lãnh đạo IMF, Dominique Strauss-Kahn hối thúc: "Các nước phải hành động nhanh chóng mạnh mẽ và có phối hợp nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế toàn cầu". Chủ tịch WB, Robert Zoellick cảnh báo: "Không để cuộc khủng hoảng tài chánh trở thành khủng hoảng con người". Ông nói; "Mọi sự còn tùy thuộc vào nhóm các nước công nghiệp phát triển G7 có hợp tác và đưa ra một kế hoạch giải quyết khủng hoảng hiện nay hay không?". Ông thêm: "Các nước sẽ có hành động khác nhau, tuỳ thuộc vào các hoàn cảnh của họ, tuy nhìên, các hành động này cần phài hướng tới việc xử lý các vấn đề cơ bản" Sáng sớm hôm thứ bảy 11-10-08, tổng thống Bush và bộ trưởng Tài Chánh Mỹ, Henry Paulson, họp với các nhà lãnh đạo tài chánh Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Canada trong khối G7 đã thoả thuận: "Cùng cam kết sẽ hoạt động chặt chẽ với nhau trong nỗ lực ồn định thị trường tài chánh để nền kinh tế toàn cầu tiếp tục phát triền". Buổi chiều cùng ngày khối G7 họp với quan chức tài chánh 20 nước trong nhóm các nước đang phát triển như: Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil...để thảo luận vấn đề kinh tế toàn cầu. Qũy Dự Trữ Liên Bang Hoa Kỳ, Ngân Hàng Trung Ương Châu Âu, Ngân Hàng Anh Quốc, Ngân Hàng Quốc Gia Thụy Sĩ cùng tuyên bố: "sẽ cho các ngân hàng thương mại vay bao nhiêu cũng được, để đủ năng tính thanh khoản cho hoạt động tài chánh hữu hiệu". Nhờ vậy, ngày thứ Hai 13-10-2008 chỉ số chứng khóan Daw Jones tăng vọt tới mức kỷ lục hơn 936 điểm. Thị trường từ Âu sang Á khắp thế giới cùng lên. Kinh tế Thế Giới tạm thời hồi sinh.

Vấn đề còn lại tùy thuộc vào nền tài chánh Hoa Kỳ, nước mặc nhiên đang là chủ soái kinh thế thế giới, có tìm được đúng hướng đi cho mình và nhân loại hay không? Không thể theo khuynh hướng "Bảo Hộ Mậu Dịch" cứng ngắc, cũng không thế theo khuynh hướng "Tự Do Mậu Dịch" buông thả, mà cần có Luật Lệ Tài Chánh Dân Chủ Nghiêm Minh vì toàn bộ tài sản của Quốc Dân Mỹ, kể cả giới kinh doanh quốc tế đều đặt niềm tin và ký thác tiền trong các Ngân Hàng Hoa Kỳ. Vậy, quan trọng hơn hết là giới Kim Dung Tư Bản Mỹ phải có trách nhiệm về một Hệ Thống Siêu Quyền Lực Hoa Kỳ của Quốc Gia, như cha ông mình trước nay. Trong đó Tư Bản Tài Chánh, Chính Quyền Dân Chủ, Quân Lực Tối Tân và Truyền Thông Tự Do là 4 trụ cột tạo thành Hệ Thống Siêu Quyền Lực Hoa Kỳ trên thế giới. Nhờ thế, mà Hoa Kỳ đã hoạch định và thực hiện thành công được những Chiến Lược Toàn Cầu dài hạn, như; Diệt Phát Xít, Loại Thực Dân, Dẹp Cộng Sản, và đang Chống Khủng Bố. Có lẽ vì đối lực Khủng Bố hiện nay, tuy ác hiểm nhưng không cân xứng với sức mạnh Hoa Kỳ như thời chiến tranh lạnh, nên giới Kim Dung Hoa Kỳ mới đổ đốn để tự đánh mất Niềm Tin của Dân Chúng và Nhân Loại vào mình, qua việc gây ra trận bão tài chánh vừa đây.

Tai hại nhất là nó đang tác động vào cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ sắp tới, khiến dân Mỹ rơi vào tâm trạng cần thay đổi, mà không biết rõ, sự thay đổi đó đưa mình tới đâu? Đưa vận mệnh Hoakỳ đi về đâu? Chiến tranh để xóa bàn làm lại từ đầu? Hay tiếp tục hợp tác với các cường quốc Dân Chủ Phát Triển để thành một Liên Minh Các Nước Dân Chủ? Đối tác với các nước đang phát triển mà còn nằm trong cơ chế độc tài? Hỗ trợ cho các nước kém phát triển sớm Dân Chủ Hóa để cùng gia nhập tiến trình Toàn Cầu Hóa? Ngày 04 tháng 11 năm 2008 này sẽ có câu trả lời. Xin ơn trên linh thiêng độ trì cho cuộc chiến tranh xóa bàn làm lại đừng xẩy ra. Mà giúp cho: Kế hoạch tổng phản công kinh tế của các khối tài chánh thế giới được thành công.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image


TU THEO VỌNG NGHIỆP:
LÊ MẠNH THÁT THIỀN SƯ?


NGUYỄN-CHÂU

Tháng 10, năm 1988, cựu Ðại Ðức Thích Nguyên Tánh, thế danh là Phạm Công Thiện, đã viết một bài nhan đề "Hai Vị Thiền Sư" với nội dung tán tụng Lê Mạnh Thát và Tuệ Sĩ, đồng thời cũng để tự giới thiệu thân thế và sự nghiệp của bản thân Phạm Công Thiện (Ðại Ðức Thích Nguyên Tánh đã hoàn tục ngay sau 30-4-1975, và đang định cư tại Úc, con gái đầu của ông năm nay cũng trên 40 tuổi).

Phạm Công Thiện viết:
"Tôi được may mắn quen biết Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát khi hai vị này còn rất trẻ và còn dưới hai mươi tuổi. Bây giờ cả hai vị đã được 45 tuổi (cả hai đều sinh năm 1943).

"Lúc tôi quen biết hai vị thì hai vị hãy còn là những chú tiểu ở chùa; bây giờ thì hai vị đã trở thành hai vị Thiền sư lỗi lạc và lại cũng là Anh Hùng Dân Tộc của Lịch Sử Việt Nam hiện đại. Tại sao gọi là “Anh Hùng Dân Tộc" thì rất dễ nhận thấy (mà cụ thể nhất là cái án tử hình về tội "phản cách mạng và bạo động vũ khí lật đổ chế độ", vân vân).

"Nhưng tại sao gọi Lê Mạnh Thát và Tuệ Sỹ là "hai vị Thiền sư lỗi lạc nhất, thông minh nhất, uyên bác nhất, trong sạch nhất của Việt nam hiện nay"?

"Thiền sư" à? Chỉ nội cái danh hiệu "thiền sư" đã là mệt rồi, lại còn thêm mấy chữ mơ hồ như "lỗi lạc nhất, thông minh nhất.."? Tôi muốn nói về Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát với tất cả thận trọng và suy nghĩ chín chắn cặn kẽ, và tôi xin chịu mọi trách nhiệm về cái nhìn khác thường của tôi đối với nhị vị.

"Tại sao là "thiền sư"? Và "thiền sư": Là thế nào?

Không cần trả lời trực tiếp về những câu hỏi bất thường này. Nơi đây, tôi chỉ xin nhấn mạnh đôi điều gián tiếp và ai muốn hiểu gì thì cứ hiểu. Không ai có thể tự nhận đủ thẩm quyền tôn giáo và tâm linh để trả lời dứt khoát những câu hỏi bất thường trên. Chỉ có những kẻ bỏ cả trọn đời mình lặng lẽ sống chết với cái gọi là "Bồ Ðề tâm" hay "Phát Bồ Ðề Tâm" thì may ra mới trực nhận đâu đó khí phách và thần dụng bảng lảng của "nghịch hành thiền".

"Mấy chữ "thiền sư" đã bị người ta lạm dụng để tự truy tặng một cách lố bịch hay truy tặng kẻ khác với nông nổi dễ dãi tự mãn phè phỡn nông cạn, nhất là từ lúc Thiền hay Zen trở thành cái mốt trí thức đốn mạt. Bất cứ người nào tỏ vẻ "kiêu ngạo khác thường" một chút là có những hành động cử chỉ "ngược đời trái đạo" một chút thì tự gán hay bị gán là "thiền sư”.

"Lê Mạnh Thát và Tuệ Sỹ không bao giờ tự nhận lời "thiền sư" và cũng không bao giờ nghĩ mình là cái gì cả trên mặt đất này. Hai người này chỉ là những kẻ lễ độ khiêm tốn một cách tự nhiên và không bao giờ biết giả vờ "hạ mình" với ý đồ kín đáo chà đạp lên trên kẻ khác.

"Có sống bên cạnh Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát từ ngày này qua ngày khác, trong những hoàn cảnh khác nhau, thì mới may ra cảm nhận đôi chút tác phong thiền sư kín đáo toát ra một cách tự nhiên và một cách "vô công dụng hạnh" từ đời sống thường nhật và tinh thần "diệu nhập" của hai vị. Tôi xin gọi hai vị này là "thiền sư" với tất cả đắn đo thận trọng và với tất cả ý nghĩa cao đẹp và "như thực" của một danh xưng "xung thiên chí"...

Giữa dòng thác lũ ào ạt và địa chấn thường trực của sinh mệnh, thế mệnh, và tính mệnh của quê hương, một sớm hôm nào đó, tôi đã được xô đẩy lặn hụp với Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát; tất cả ba anh em chúng tôi đều xuất thân từ Viện Phật Học miền Trung mà vị cha già của chúng tôi Hòa Thượng Trí Thủ (người đã bị Cộng sản Hà Nội thủ tiêu ngay lập tức sau khi Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát bị bắt giam vào ngày 1 tháng 4 năm 1984, vì "tội tán thành, ủng hộ, che chở, đùm bọc hành động phản cách mạng, lật đổ chế độ Cộng sản").(Ngưng trích).


Phạm Công Thiện (tuổi Tân Tị, 1941 - "Ngày Sinh của Rắn") viết bài này sau khi các Ðại Ðức Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát và Ni sư Trí Hải bị nhà cầm quyền Hà Nội buộc tội "âm mưu lật đổ chính quyền". Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát bị kết án tử hình, Ni sư Trí Hải 20 năm tù giam.

Theo Phạm Công Thiện thì "Thực sự từ những năm 1966 cho đến 1970, Lê Mạnh Thát đang còn du học tại Hoa Kỳ, học ban tiến sĩ tại Viện Ðại Học Wisconsin, Madison, hình như mãi đến năm 1973 mới về Ðại Học Vạn Hạnh nhưng chúng tôi vẫn liên lạc với nhau thường xuyên, nhất là qua bài vở của tạp chí Tư Tưởng. Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát đều sinh năm 1943 (Thát sinh quán tại Quảng Trị và Tuệ Sỹ thì nguyên quán tại Quảng Bình và ra đời ở Paksé tại Lào)."

Phạm Công Thiện chỉ nói từ năm 1966 đến 1970, Lê Mạnh Thát đang còn du học tại Hoa Kỳ, học ban tiến sĩ, mà không cho biết là học Tiến sĩ ngành nào.

Viện Ðại Học Wisconsin - Madison là một Viện Ðại Học danh tiếng của Hoa Kỳ, có rất nhiều người xuất thân từ Ðại Học này được giải Nobel. Tôi đã tìm vào danh sách các Tiến sĩ (Ph.D.) của Viện Ðại Học Wisconsin - Madison, nhưng không thấy tên Lê Mạnh Thát và cũng chẳng thấy tên của Luận án tiến sĩ (tức là đề tài nghiên cứu) của Lê Mạnh Thát. Thế mà nhà báo Hoàng Hải Vân của báo Thanh Niên (trong nước) đã viết:

"Thượng Tọa Thích Trí Siêu là một nhà tu hành xuất gia từ bé, ông không chỉ là một thiền sư, mà còn là nhà khoa học có nhiều bằng tiến sĩ, thông thạo hơn 15 ngôn ngữ (Anh, Pháp, Nga, Ðức, Nhật, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Do Thái, Hy Lạp, Ả Rập, Tây Tạng, chữ Phạn, chữ Hán cổ...), ông còn là một người Việt Nam "nguyên chất" với tất cả lòng tự trọng tự hào về dân tộc mình, thể hiện một cách lạ lùng ngoạn mục ở tất cả các công trình khoa học của ông. Với những khám phá của ông, chúng ta có đủ tư liệu để dựng lại lịch sử vẻ vang của dân tộc ta từ hai ngàn năm trước...

"Là một nhà tu hành xuất gia từ bé, nhưng Thượng Tọa Thích Trí Siêu (tức giáo sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát) vẫn để tóc. Thú thật là quá tò mò về chuyện đó, tôi mạnh dạn hỏi ông vì sao như vậy. Ông cười phá lên, chỉ vào bức ảnh Ðức Bồ Ðề Ðạt Ma: "Ông ấy có cạo đầu đâu! Tôi còn thua ông ấy một bộ râu". Tôi ngộ ra rất nhiều điều trong tiếng cười của ông.

"Tôi đã gặp ông nhiều lần, trước hết là để viết bài về Ðại lễ Phật Ðản Liên Hiệp Quốc (VESAK) được tổ chức tại Việt Nam sắp tới mà ông là Chủ Tịch Ủy ban Quốc tế (IOC) đồng thời là Tổng thư ký Ủy ban điều phối quốc gia Ðại lễ này. Tôi cũng đã đọc nhiều sách ông viết. Nhưng với trình độ nông cạn của tôi, hiểu về con người cùng sở học mênh mông vi diệu của vị cao tăng này thật không dễ chút nào."


Những lời tâng bốc mê muội (nếu không muốn nói là ngu dốt) của nhà báo Hoàng Hải Vân trên báo Thanh Niên đã làm cho giới học giả và nhiều nhà nghiên cứu tại Việt Nam nhẩy thót lên. Nhất là khi cái anh nhà báo "với trình độ nông cạn" này bị lóa mắt trước cái mà anh ta gọi là "sở học mênh mông vi diệu của vị cao tăng" Lê Mạnh Thát trong tham vọng "dựng lại lịch sử vẻ vang của dân tộc ta từ hai ngàn năm trước."

Qua loạt bài báo tâng bốc Lê Mạnh Thát, cái dốt của Hoàng Hải Vân (báo Thanh Niên) đã lòi hết ra và "thói nói trạng"- một bẩm tính của phong thủy Quảng Trị - nơi Lê Mạnh Thát sinh, cũng lộ nguyên hình.

Trước hết là cái dốt của nhà báo Hoàng Hải Vân về hệ thống bằng cấp. Hoàng Hải Vân viết "ông không chỉ là một thiền sư, mà còn là nhà khoa học có nhiều bằng tiến sĩ, thông thạo hơn 15 ngôn ngữ (Anh, Pháp, Nga, Ðức, Nhật, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Do Thái, Hy Lạp, Ả Rập, Tây Tạng, chữ Phạn, chữ Hán cổ...).

- Nhà khoa học có nhiều bằng tiến sĩ. Theo cách nói này thì quả thật là Hoàng Hải Vân mù tịt, không biết tiến sĩ là cái bằng gì, làm thế nào để có được. Ông Lê Mạnh Thát "có nhiều bằng tiến sĩ". Thử hỏi: nhiều là bao nhiêu? Tiến sĩ là một học vị được các trường Ðại Học cấp cho những sinh viên, những nhà nghiên cứu đã bảo vệ thành công luận án của mình trước Hội Ðồng Giám Khảo. Hầu hết các luận án tiến sĩ đúng nghĩa đều phải đưa ra một khám phá hoặc một phát minh mới về khoa học, văn chương, hoặc triết lý. Không có khám phá mới thì không thể gọi là luận án tiến sĩ. Trường hợp Lê Mạnh Thát, có lẽ ông đã có bằng Master. Vào thập niên 1970, tại Việt Nam khi có nhiều người xuất thân từ hệ thống giáo dục Hoa Kỳ về nước, Bộ Giáo Dục đã đề nghị xem bằng Master của Mỹ tương đương với bằng Tiến sĩ (Docteur -Doctorat trong hệ thống giáo dục Pháp). Có lẽ vì đó mà người ta tôn Lê Mạnh Thát là tiến sĩ, chứ thực sự Lê Mạnh Thát chưa có bằng Ph. D. (Philosophy Doctor) của Mỹ. Thông thường, sau khi trình luận án tiến sĩ và được chấm đậu, luận án này được in ra và lưu trữ ở thư khố Ðại Học, nhiều tiến sĩ đã in luận án của mình thành sách. Ðiều này không xẩy ra đối với Lê Mạnh Thát. Ông Thát không thể có nhiều bằng tiến sĩ như Hoàng Hải Vân đã tâng bốc.

- Ông Lê Mạnh Thát "thông thạo hơn 15 ngôn ngữ (Anh, Pháp, Nga, Ðức, Nhật, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Do Thái, Hy Lạp, Ả Rập, Tây Tạng, chữ Phạn, chữ Hán cổ...)” lời tâng bốc này thì thật là ghê gớm nó có thể làm cho người nghe "ngất xỉu", nhưng ông Hoàng Hải Vân lại không kể ra đủ 15 ngôn ngữ, chứ đừng nói là hơn.

Ðây cũng là kiểu ca ngợi Hồ Chí Minh "Bác Hồ biết bảy thứ tiếng" bởi vì "Bác"từng đi làm bồi, làm tay sai cho cộng sản Ðệ Tam quốc tế khắp thế giới, đến đâu cũng có một "nữ gia sư" cận kề dạy cho. Còn Lê Mạnh Thát thì ăn cơm chùa, ngủ nhà chùa, nên có thời suốt ngày đêm đọc sách chữ Tàu, sách chữ Phạn... "Anh, Pháp, Nga, Ðức, Nhật, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Do Thái, Hy Lạp, Ả Rập, Tây Tạng, chữ Phạn, chữ Hán cổ... (theo Hoàng Hải Vân) chỉ thiếu ngôn ngữ Lào, Khờ-Me, Chăm-Pa!

Thứ hai, là cái dốt của Hoàng Hải Vân về "Công trình khoa học". Một công trình khoa học đích thực thường khởi đi từ "giả thuyết" (hypothèse - hypothesis) qua "thí nghiệm kiểm chứng" (Expérience - vérification) đến kết luận. Nhưng Hoàng Hải Vân đã xem những suy diễn Lê Mạnh Thát về thời "huyền sử" của Việt Nam, những suy đoán chưa được kiểm chứng một cách có phương pháp như là "tư liệu để dựng lại lịch sử".

Thứ ba, nhà báo Hoàng Hải Vân cũng đã cho thấy sự yếu kém của ông trong nghiệp vụ thông tin: Chính ông phải biết rõ rằng "Thượng Tọa Thích Trí Siêu đã hoàn tục", nay chỉ còn là Lê Mạnh Thát, một người không bình thường như mọi người: Thượng Tọa Thích Trí Siêu không có cái đầu trọc như các thầy tu Phật khác! Do đó, dù nhà báo Hoàng Hải Vân được chỉ đạo của Ðảng Cộng sản đến gặp Lê Mạnh Thát để viết bài bốc ông ta lên mây, nhằm mục đích mà mắt thiên hạ, thì thiết nghĩ Hoàng Hải Vân cũng nên giữ lại một chút lương tri, chứ sao mà táng tận như vậy. Cách Hoàng Hải Vân ca tụng Lê Mạnh Thát giống hệt như Ðảng ca ngợi Bác "suốt đời vì lo việc nước mà không có thời giờ lập gia đình" (tuy Bác vẫn sống "độc thân" với hơn mười bà vợ đủ mọi quốc tịch, vừa có hôn thú vừa già nhân nghĩa non vợ chồng mà cả thế giới đều biết.)

Trở lại với Lê Mạnh Thát. Nhà báo Hoàng Hải Vân đã kể lại sự "đốn ngộ" của ông khi tò mò hỏi về chuyện “đầu Thượng Tọa Thích Trí Siêu" Lê Mạnh Thát "vẫn để tóc".

"Thú thật là quá tò mò về chuyện đó, tôi mạnh dạn hỏi ông vì sao như vậy. Ông cười phá lên, chỉ vào bức ảnh Ðức Bồ Ðề Ðạt Ma: "Ông ấy có cạo đầu đâu! Tôi còn thua ông ấy một bộ râu". Tôi ngộ ra rất nhiều điều trong tiếng cười của ông."

Như thế là trong phòng Lê Mạnh Thát có bức ảnh Bồ Ðề Ðạt Ma. Lê Mạnh Thát lấy hình tượng Bồ Ðề Ðạt Ma để biện minh cho sự vi phạm "giáo luật tu trì" của bản thân. Hoàng Hải Vân khoe là "Tôi ngộ ra nhiều điều trong tiếng cười của ông". Thực ra, Hoàng Hải Vân chỉ ngụy tín mà thôi. Bởi vì, chính Lê Mạnh Thát được xem là đã tu trì khoảng 50 năm, nhưng chưa chứng được một quả vị nào, thì đã hoàn tục vì vọng nghiệp.

Ðến đây, tưởng có thể nhắc lại nhận định của Phạm Công Thiện về ý niệm và danh xưng "Thiền sư" để nhà báo Hoàng Hải Vân mở mắt, mở lòng, đừng mê muội nữa!

"Mấy chữ "thiền sư" đã bị người ta lạm dụng để tự truy tặng một cách lố bịch hay truy tặng kẻ khác với nông nổi dễ dãi tự mãn phè phỡn nông cạn, nhất là từ lúc Thiền hay Zen trở thành cái mốt trí thức đốn mạt. Bất cứ người nào tỏ vẻ "kiêu ngạo khác thường" một chút là có những hành động cử chỉ "ngược đời trái đạo" một chút thì tự gán hay bị gán là "thiền sư”.

"Thiền sư" mà còn chấp tướng

Lê Mạnh Thát còn treo hình Bồ Ðề Ðạt Ma rất lớn trên tường, nhiều tượng Phật trên bàn làm việc. Ðiều này cho thấy trong tâm Lê Mạnh Thát chưa có Phật, Bồ Ðề Ðạt Ma cũng chỉ là vọng tưởng mà thôi. "Ông ấy có cạo đầu đâu! Tôi còn thua ông ấy một bộ râu!"

Ôi! Ðây là tư tưởng (hay tư duy) của một người tu hành hay của một phàm nhân? So sánh để biện minh cho bản ngã của mình, rồi từ "chấp ngã", Lê Mạnh Thát nghĩ đến chuyện hơn thua "bộ râu". Bồ Ðề Ðạt Ma (Bodhidharma) là Tổ sư thứ 28 của Thiền Tông (Zen Shu) bên Trung Hoa thế kỷ thứ 6. Hạnh nguyện và phương pháp tu trì của phái Thiền này là "Tham thiền để thấy Phật nơi ta. Kiến Phật nơi mình là đắc đạo." Nghe nói rằng "Thuở ấy, đức Thế Tôn ở trong núi Kỳ Xà Quật. Ðức vua thời Ðại Phạm Thiên có cúng dường cho Ngài một cái hoa sen vàng (kim liên) và cầu Ngài thuyết pháp. Ðức Phật Thế Tôn cầm hoa sen lộn vòng qua các ngón tay, không nói một lời nào cả. Bấy giờ hầu hết đạo chúng đi theo Ngài, không ai hiểu được sự im lặng ấy có ý nghĩa gì, chỉ có ông Ca Diếp mỉm cười. Ðức Thế Tôn liền nói với ông Ca Diếp rằng: "Ta có cái tư tưởng hay và lạ về Niết Bàn, cái chìa khóa của Chánh Pháp muốn truyền cho ngươi."

Sự im lặng đó là đặc trưng của Thiền Tông: các hành giả (người cùng tu) hiểu được nhau bằng tương truyền tư tưởng, ý hội chứ không ngôn ngữ. Pháp này được Ca Diếp (Kacyapa) truyền lại cho A Nan rồi Thương Na Hoa Tu cho đến Bồ Ðề Ðạt Ma là Tổ sư thứ 28. Sau 60 năm đi thuyết pháp từ Thiên Trúc đến Trung Hoa, Bồ Ðề Ðạt Ma đã đi vào Tung Sơn, trú tại chùa Thiếu Lâm. Ngài ngồi quay mặt vào vách mà tham thiền trong vòng 9 năm và viên tịch năm 529.

Lê Mạnh Thát tôn thờ Bồ Ðề Ðạt Ma để tu theo hạnh nguyện của vị sư này. Lê Mạnh Thát nói là "ông chỉ còn thua Bồ Ðề Ðạt Ma một bộ râu". Xin mách bảo cho ông Lê Mạnh Thát một kế để có thể bằng ông Ðạt Ma trong một thời gian ngắn: đó là mua thuốc mọc tóc, mọc râu, xức đâu mọc đó, đang được quảng cáo rầm rộ khắp nơi, giá cả phải chăng, công năng diệu dụng!

Thực ra, Lê Mạnh Thát hơn Bồ Ðề Ðạt Ma nhiều lắm. Tháng 9, năm 520, Bồ Ðề Ðạt Ma đến thành Kiến Khương, kinh đô của Lương Võ Ðế. Võ Ðế có tiếng là mộ đạo, nhưng căn cơ thấp kém, lại có tâm ác, nên Ðạt Ma không truyền được pháp Tâm ấn và Thiền Ðịnh, phải rời khỏi nước của Lương Võ Ðế.

Trong lúc, Lê Mạnh Thát, sau khi được Cộng sản ân xá khỏi án tử hình và các thứ án khác, ông đã thức thời hoàn tục, và đến ngày 10 tháng 11 năm 2007, Lê Mạnh Thát đã được báo chí Cộng sản Việt Nam tôn lên làm Chủ Tịch Ủy Ban Tổ Chức Ðại Lễ Phật Ðản Liên Hiệp Quốc "VESAK" tại Việt Nam, đồng thời là Tổng Thư Ký Ủy Ban Ðiều Phối Quốc gia của đại lễ này.

Tuy biết Lê Mạnh Thát đã hoàn tục, đang sống đời một cư sĩ, nhưng Cộng sản Việt Nam vẫn cố lập lờ đánh lận thế giới với cái "tít lớn" trên báo "Thượng Tọa Giáo Sư Tiến Sĩ Lê Mạnh Thát". Tinh thần "vô liêm sỉ" và "vô úy" (không sợ ai) đã thúc giục Lê Mạnh Thát hăng hái nhận luôn, không một chút do dự. Thượng Tọa Thích Hoàn Tục Lê Mạnh Thát đã họp báo và lấy làm vinh dự lắm với cái chức "Ai-Âu-Xi (IOC) cho nên không còn biết chính tà gì nữa.

Nhà cầm quyền Hà Nội đã sử dụng công cụ Lê Mạnh Thát để phá hoại nền nếp sinh hoạt của Phật giáo chính thống. Thay vì mời một vị tăng đạo cao đức trọng đứng ra chủ trì và chứng minh Ðại Lễ Phật Ðản Quốc Tế, Hà Nội đã chọn một tu sĩ đã hoàn tục và phong cho một giáo phẩm kỳ cục ""Thượng Tọa Giáo Sư Tiến Sĩ Lê Mạnh Thát".

Một thượng tọa không có Pháp danh, nhưng lại có nhiều tham vọng thế tục, được nhà cầm quyền Hà Nội nhử miếng mồi "xây dựng đại học Khuôn Việt" tại Sài Gòn trị giá 40 triệu Mỹ kim, mà cái chức Viện Trưởng thì Lê Mạnh Thát tưởng như đã nắm chắc trong tay. Do đó, Lê Mạnh Thát mở miệng ra là nhắc tới chính quyền, ca tụng Nhà Nước, nịnh bợ Hồ Chí Minh.

Lê Mạnh Thát nói với báo Thanh Niên "Sau ngày độc lập, rất chính xác khi lấy tên Hùng Vương đặt cho con đường chính giữa thủ đô, ngang qua Hội trường Ba Ðình, đó là điều hết sức có ý nghĩa."

Cựu tử tù về tội âm mưu lật đổ chế độ Cộng sản, Lê Mạnh Thát đã thành một tên nịnh thần. Vừa nịnh cộng sản vừa nói sảng "Giữa lúc người Mỹ tuyên bố đưa Việt Nam vào thời đại đồ đá, thì Việt Nam lại có một cuộc khảo sát lớn về thời đại Hùng Vương do chính Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng chỉ đạo. Giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã thực hiện 4 tập sách về thời đại Hùng Vương. Ðó là một cuộc nghiên cứu nghiêm túc nhất từ trước tới nay..." (nguyên văn).

Nhân được làm chủ tịch Ủy Ban Tổ Chức Ðại Lễ Phật Ðản Liên Hiệp Quốc "VESAK", Lê Mạnh Thát đã "thừa thắng xông lên" đả phá các nhà viết sử Việt Nam từ xưa tới nay, đòi viết lại lịch sử theo cuốn sách có tên là "Lục Ðộ tập kinh" mà ông ta cho là một nguồn tài liệu cơ bản để tìm hiểu lịch sử dân tộc Việt Nam. Lê Mạnh Thát đã tự cho mình là uyên bác lỗi lạc nhất. Khi được Hoàng Hải Vận bốc: "Nói như vậy có nghĩa là để đối chiếu chỉ hai chữ "trung tâm" thầy đã phải đọc hết tất cả của Trung Quốc trong 3 thế kỷ?" Lê Mạnh Thát đáp ngay "Ðúng vậy. Không đọc hết thì làm sao mà khảo sát, đối chiếu được!"

Cuốn "Lục Ðộ Tập Kinh" mà Lê Mạnh Thát đã đọc và xem như bửu bối của sự nghiệp nghiên cứu của ông, viết bằng chữ Hán. Nhưng ông Lê Mạnh Thát nói "căn cứ vào những "tàn dư" của ngữ vựng, ngữ pháp và cú pháp tiếng Việt, chỉ có thể giải thích là tập kinh đó đã được dịch ra chữ Hán từ một nguyên bản tiếng Việt."

Ðây là một hoang tưởng, tương tự như tại Mỹ hiện nay có một số người đang tìm cách chứng minh là Việt Nam đã có chữ viết, có văn tự từ ngàn xưa, và ngôn ngữ Việt là khởi đầu của ngôn ngữ nhân loại. Có người đã đưa ra "bằng chứng" là Chúa Jesus đã nói tiếng Việt khi bị đóng đinh trên Thập Tự giá! (Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang).

Căn cứ vào “Lục Ðộ Tập Kinh”, Lê Mạnh Thát đưa ra nhiều luận chứng thiếu nền tảng khoa học về lịch sử, nhưng lại tự cho là duy nhất đúng, còn tất cả tài liệu khác đều sai. Lê Mạnh Thát đã nói về sử gia Ngô Sĩ Liên như sau:

"Bộ Việt luật còn đó. Bài Việt ca còn đó. Truyện trăm trứng còn đó... Thế mà cứ nhắm mắt nói càn nước ta thành ra nước văn hiến từ Sỹ Vương. Thật khốn nạn hết chỗ nói!"

Ông Lê Quý Ðôn và những bài thơ sưu tập trong Kiến Văn tiểu lục, Lê Mạnh Thát tìm thấy một vài bài không đúng tên tác giả, và đã nói với Hoàng Hải Vân rằng "Ông Lê Quý Ðôn mà cũng lôi thôi quá!".

Qua những hành trạng và ngôn ngữ trên đây, chúng sanh tính của Lê Mạnh Thát đã lộ rõ ra hết. Cái ngã mạn trong Lê Mạnh Thát đã biến ông thành một kẻ cuồng ngôn, loạn ngữ đối với tất cả mọi người, trừ nhà báo Hoàng Hải Vân, môn đồ mê muội của ông và chính quyền Cộng sản mà ông đang tôn thờ.

Lê Mạnh Thát đọc và nghiên cứu Lục Ðộ Tập Kinh, nhưng lại quên câu "Nhất niệm tâm sân khởi bát vạn chướng môn khai", thì thật rất nguy hiểm cho một con người ở tuổi gần "thất thập" mà vẫn con bị "huyễn hoặc" bởi "hư danh".

Kinh "Tứ Thập Nhị Chương" - Tu Lục Ðộ Hạnh, Phật nói "Người tùy theo thế tình, tham cầu danh vọng. Khi được công danh hiển đạt, thì thân thể đã già yếu. Kẻ tham danh lợi ở đời, không hiểu thấu đạo, chỉ uổng công nhọc xác. Ví như cây hương đốt, khi được người ta ngửi thấy mùi thơm, thì thân hương đã hóa thành tro bụi, vì lửa lung đốt cháy liền thân hương vậy."

Ðại Lễ Phật Ðản VESAK đã xong. Môn đồ mê muội Hoàng Hải Vân đã bốc Lê Mạnh Thát lên tận đỉnh mây làm cho nhiều người bất bình, bất phục, bất mãn, nhất là khi nghe Lê Mạnh Thát thóa mạ các tiền nhân quá vãng. Báo chí cộng sản đã bắt đầu phản ứng. Thiết nghĩ, Lê Mạnh Thát cũng nên tụng lại phẩm Lục Ðộ Hạnh trên đây để cầu sám hối trước khi quá muộn. Chúng sanh sở tại chư vọng nghiệp, giai do vô thỉ tham sân, si.

Mục Kiền Liên, đệ nhất Thần Thông vì đã ỷ vào phép thần thông mà vong mạng. Mê, Ngộ cách nhau một niệm.

NGUYỄN-CHÂU

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Bắc Hàn chuẩn bị cho 'một thông báo quan trọng'.
Tác giả: DCVOnline



BÌNH NHƯỠNG (Pyongyang) - Bắc Hàn đã làm xôn xao dư luận về vấn đề sức khỏe của ông Kim Jong Il sau khi ngoại giao đoàn của Bắc Hàn ở ngoại quốc được lệnh chuẩn bị cho một “thông báo quan trọng” hôm nay ngày thứ Hai 20 tháng Mười 2008.

Theo nhật báo Yomiuri của Nhật Bản, thông báo này có thể liên quan đến chuyện quan hệ giữa Bắc Hàn và Nam Hàn, hoặc liên quan đến vấn đề sức khỏe của nhà lãnh đạo Bắc Hàn ông Kim Jong Il.

Cũng theo tờ báo này, giới ngoại giao của Bắc Hàn ở Bình Nhưỡng còn được lệnh hoãn những chuyến công du cho đến khi bản thông báo quan trọng này được công bố. Tuy nhiên, tờ báo này không nói rõ khi nào nó sẽ được công bố.

Nhưng theo một tờ báo khác của Nhật Bản, tờ Sankei Shimbun, thì bản thông báo quan trọng này sẽ được công bố hôm nay. Theo tờ báo này, Bắc Hàn có thể thông báo sự qua đời của ông Kim Jong Il hay là một sự thay đổi lãnh đạo qua một cuộc đảo chính.

Tờ báo cũng cho hay là Bình Nhưỡng có thể cấm người ngoại quốc vào Bắc Hàn kể từ ngày hôm nay.

Báo Sankei, dựa vào một nguồn tin dấu tên cho hay: “Rõ ràng là Bắc Hàn đang cảnh giác với chuyện tin tức đổ vào Bắc Hàn cũng như sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Đây có thể là một nghiệm pháp để siết chặt những vấn đề nội bộ.”

Một vài nhà phân tích cho rằng Bình Nhưỡng có thể trục xuất người Nam Hàn hiện đang làm việc ở một khu công nghiệp hợp doanh hay ở một khu nghỉ mát nằm trên núi phía bắc của biên giới giữa hai bên vốn được canh gát và võ trang tận răng.

Bình Nhưỡng đã trục xuất người Nam Hàn về lại nước hôm tháng Tám năm nay khi tình hình giữa hai bên ngày càng căng thẳng, sau vụ một du khách Nam Hàn bị bắn chết bởi lính gác Bắc Hàn hôm tháng Bảy.

Sự căng thẳng trong mối quan hệ giữa hai bên ngày càng tăng. Mới hôm thứ Năm tuần rồi, Bình Nhưỡng đã hăm dọa chấm dứt tất cả mọi quan hệ với Nam Hàn vốn là nguồn cung cấp viện trợ và tiền mặt hàng đầu cho Bắc Hàn, bởi Bình Nhưỡng đã giận dữ với những chính sách cứng rắn của ông Tổng thống có khuynh hướng bảo thủ Lee Myung Bak của Nam Hàn.

Bộ Ngoại giao Nhật Bản từ chối bình luận về bản tin đi trên nhật báo Sankei. Thông tấn xã Yonhap của Nam Hàn thì nói rằng Nam Hàn đã không thấy có những sự di chuyển quân bất thường từ Bắc Hàn.

Chuyện sức khỏe của ông Kim Jong Il đã là một đề tài bàn qua tán lại với nhiều suy đoán sau khi viên chức Hoa Kỳ và Nam Hàn nói rằng ông Kim Jong Il bị đột qụy hôm tháng Tám.

Năm 1994, khi ông Kim Il Sung (Great Leader) người thành lập nước Bắc Hàn Cộng sản và cũng là cha của ông Kim Jong Il hiện nay (Dear Leader) qua đời, viên chức nhà nước Bắc Hàn cũng được lệnh sẵn sàng để nghe một “thông báo quan trọng”.

Tuy nhiên, các chuyện gia chuyên nghiên cứu Bắc Hàn nói rằng họ nghĩ bản thông báo lần này có thể liên quan đến mối quan hệ quốc tế.

Ông Kim Jong Il hiện không có người thừa kế được chỉ định cho rõ ràng, nhưng ba người con trai của ông, cũng như nhiều thân nhân và người thân cận khác, và những đảng viên cao cấp trong đảng Công nhân đều thèm muốn nắm lấy quyền lực này.

Giới quan sát cho rằng cái chết của ông Kim sẽ mở màn cho chuyện đấm đá, dành giật quyền lực trong nội bộ hay có thể đưa đến sự sụp đổ của chế độ này.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Chiến binh David Fisher trở về Úc
sau 39 năm nằm lại rừng núi Việt Nam


Image




Hôm nay ngày 14/10/2008. Chúng tôi gồm có 7 người cựu quân nhân, đã đi ra nhà quàn Funeral Magnolia Chapel Macquarie Park, để đặt vòng hoa cho chiến binh David Fisher mà lòng ngậm ngùi đau đớn.
Bởi hình ảnh một người lính Biệt Cách (SASR), từ một đất nước xa xôi đã đi chiến đấu hy sinh trên chiến trường Việt Nam, để làm tròn nghĩa vụ quốc tế mà nước Úc Đại Lợi là một đồng minh tham chiến từ năm 1962 cho tới năm 1975 mới rút hết quân về nước.
Trời hôm nay mưa nặng hột, chúng tôi cứ thắc thỏm lo âu, sợ mình đến trễ thì sự có mặt hôm nay cũng bớt đi ý nghĩa. Nhưng nhờ chiếc xe đã chiến, mà người chủ của nó lại chiến hơn. Nên anh cầm tay lái rất vững vàng, thỉnh thoảng lại liếc mắt vào cái màn ảnh của GPS mà tăng tốc lực.

Nhưng rồi chúng tôi cũng đến đúng giờ, có lẽ đây là lần đầu tiên tôi mới được đi dự một cuộc di quan của lính đồng minh, nên trong lòng tôi có một cảm xúc dâng lên thật là kỳ lạ. Khi tôi thấy trong hội trường Nhà Quàn, các ghế ngồi đã được đánh số cẩn thận cho quan khách, nên trật tự lặng trang. Chỉ có mấy người ký giả, và mấy cái máy quay phim họ xách chạy tới chạy lui mà thôi. Còn ngoài ra thì khách tham dự, đều được mời vào chỗ ngồi chỉ định.

Đúng 2 giờ 15 phút, thì đội quân nhạc trổi lên. Khi chiếc xe nhà binh sơn màu xanh lá cây từ từ bò vô sân, phía sau thớt xe có chở theo quan tài của cựu chiến binh David. Ông linh mục đi trước cầu kinh, chắc có lẽ cầu hương linh cho người quá vãng.

Một toán lính mặc đồng phục rất nghiêm trang, đồng vịn tay vào chiếc quan tài. Họ lặng im chừng vài phút, đó là nghi lễ rất trang nghiêm. Sau đó họ cất lên vai tiến vào nhà quàn rất là trang trọng.

Ông Chaplain Denis Galloway, đảm trách vai trò tổ chức lễ nghi đứng trước máy vi âm nói đôi lời. Sau đó ông David Lewis đọc lại tiểu sử của chiến binh David Fisher, cho biết dòng tộc nầy là một dòng tộc anh hùng, tình nguyện đăng vào đơn vị SASR (biệt cách). Một đơn vị mà có lẽ vừa nghe nói qua, thì mọi người cũng có thể hình dung ra bao nỗi khổ cực của một người lính chiến.

Ngày đó David đăng vào lính còn quá trẻ, cho nên anh chưa có vợ con. Mà anh chỉ có cha mẹ và bạn bè đưa tiễn. Ngày hôm nay sau 39 năm anh từ giã quê hương, bây giờ anh trở về chỉ còn có một bà mẹ già chống gậy bước ra mừng đón. Nhưng trên đôi mắt của mẹ già đã đọng lại những giọt lệ khô, nhưng cũng phải rán gượng bắt tay cám ơn quan khách đã đến đây đưa tiễn con mình về nơi an nghĩ đời đời.

Rồi những người thân, bước lên đưa tay rờ lên nấp quan tài để nói lời từ biệt. Sau bài cầu kinh của vị linh mục để tiễn đưa người lính SASR về bên kia thế giới, làm cho đôi mắt của mọi người tham dự dường như đang đọng lại giọt sầu. Tiếp theo thì ban nghi lễ bắn 3 phát súng tiễn đưa. Một phút mặc niệm chiêu hồn tử sĩ, ban quân nhạc lại trổi bài chiến sĩ trận vong. Thế là David được yên lòng nằm trong đất mẹ, mà 39 năm qua chắc gia đình không thể ngờ được có ngày nầy. Bởi cuộc chiến đã tàn từ lâu, mà sự tìm kiếm hài cốt của quân nhân đồng minh tử trận trên chiến trường Việt Nam dường như vô vọng.

Tuy nhiên trường hợp tìm được hài cốt của David Fisher nó rất lạ kỳ. Nếu chúng ta tin vào tôn giáo thần linh, thì cũng còn lý giải được. Còn đằng nầy David là người Úc, thì lý giải sau đây. Bởi ở Việt Nam những chỗ rừng núi ngày xưa, bây giờ có thể trở thành làng mạc, hoặc nương rẫy của người dân cày cấy hằng ngày. Thì việc mồ mả vô chủ đâu có gìn giữ chi đâu, nên việc nó bị san bằng đã xảy ra là một việc rất thường không làm ai chú ý.

Nhưng mà David rất linh thiêng, anh đã phù hộ độ trì cho Kim Tất Minh chỉ có một đêm gần sáng, để cho anh nhớ lại mà vẽ ra một bản đồ và địa thế không thể nào sai. Nhờ đó mà phái đoàn đi tìm hài cốt của Úc, mới có cơ hội đi về Việt Nam khai quật.

Nguyên nhân phát hiện cũng là một việc tình cờ. Số là anh Kim Tất Minh cũng là lính Biệt Kích, nên sau tháng tư năm 1975 anh cũng đi vô tù cải tạo như bao nhiêu người khác trong trại Suối Máu Long Giao, nơi hậu cứ của sư đoàn 18 do tướng Lê Minh Đảo làm tư lịnh. Nhưng nhờ những năm đi lính, vì là Biệt Kích cho nên anh đã ở trong rừng. Có lúc sống lẩn lúc với người dân, để từ đó mới báo cáo những đơn vị của Việt cộng cho quân đội của mình chận đánh.

Rồi trại tù nào cũng vậy, cán bộ quản giáo họ vắt kiệt hết sức lao động của mọi người. Riêng anh Kim Tất Minh vì có kinh nghiệm những năm tháng ở rừng, cho nên anh được sắp vào toán thợ rừng, luồng sâu vào rừng để tìm ra gỗ quý. Hễ gặp cây danh mộc nào thì toán của anh đóng búa vào đó làm dấu, để cho xe be chạy tới hạ xuống xẻ gỗ sau. Trong lúc luồng rừng như vậy, anh Minh đã nhìn thấy một cái mả lạng trong rừng, có mấy cục đá chất chồng lên chắc có lẽ là do một người có tấm lòng nhân đạo, để làm dấu sau nầy cho khỏi thất lạc. Đến buổi ăn trưa hỏi thăm cán bộ dẫn đi thì ông nầy cho biết, đó là nấm mồ của thằng giặc mũi lõ mắt xanh ở nước ngoài. Đi đánh giặc mướn, nên bây giờ phải đành bỏ xác lại đây cho mối rừng đục khoét...

Rồi ngày ra tù cũng đến, anh Minh cũng phải mưu sinh. Anh đạp xích lô trên đường phố Sàigòn, nhưng trong đầu lại quên đi nấm mộ lạng ngày xưa. Có lẽ nhờ vậy mà sau nầy mới còn hai cốt. Còn anh cán bộ dẫn toán đi rừng, sau nầy không biết còn sống hay đã thuyên chuyển đi đâu. Cái đó mới là số phận, đã an bài cho David có được ngày nay.

Đến năm 1983. Anh Minh và vợ con vượt biển đến Mã Lai ở đảo Paulo Bidong, anh được phái đoàn Mỹ phỏng vấn cũng như bao nhiêu thuyền nhân khác. Nhưng ở vào thời điểm nầy thì phái đoàn họ chú trọng hỏi đến tình hình quốc phòng của Cộng sản Việt Nam, cũng như căn cứ Rada đặt ở Mũi Tàu Phú Lam, để từ đó họ hỏi phăng ra những hài cốt hoặc những người lính đồng minh đang mất tích.

Chính trong những ngày nầy, anh Kim Tất Minh mới nhớ lại và hồi tưởng, hồi anh bị bắt đi cải tạo, được phân công vào tổ luồng rừng để tìm gỗ quý. Có gặp một cái mả lạng, và một chiếc thiết vận xa M113 đã bị bắn cháy, chỉ còn là một đống sắt đen thui. Nhưng bây giờ những di vật đó không biết có còn không, bởi từ khi anh được thả về thì đạp xích lô quanh quẩn trên đất Sàigòn sanh sống.

Thế là phái đoàn Mỹ, họ liền chợp lấy lời khai. Họ o bế anh như là một con gà nòi, họ ưu đãi anh trong mọi vấn đề, để cho anh nhớ lại từng chi tiết và vẽ lại cho họ bản đồ để họ tìm kiếm những người lính thất tung. Mà nước Mỹ hiện nay, muốn chuộc lại lỗi lầm. Khi đưa quân đội vào tham chiến, rồi bị dân chúng chống chiến tranh. Nên vội vã rút quân, để cho miền Nam thất thủ...

Nhờ trí nhớ còn tốt, anh Kim Tất Minh vẽ lại rất rành mạch bản đồ. Từ chỗ cái mả lạng cách dòng suối bao xa, từ dòng suối cách căn cứ Black Horse nếu tính bằng đường chim bay thì bao xa, còn đi đường bộ thì phải băng qua những rừng núi làng mạc như thế nào. Khu vực rừng núi của cái mả lạng đó thuộc xã Cẩm Tiến, gần sông Rây, nằm chếch sâu trong dãy núi gần con suối có tên là suối Lút.

Rồi anh Kim Tất Minh được nước Úc Đại Lợi nhận định cư vào năm sau. Từ ngày đó đến nay dường như anh đã quên hẳn cái mả lạng năm nào. Mãi cho đến khi chánh quyền Mỹ, gởi thơ qua Bộ Quốc Phòng Úc báo tin, rồi họ nhắn tin anh trên bán tuần báo Việt Luận đến mấy tuần mà anh không hề hay biết. Sau đó thì vào khoảng tháng 3/2008 có người bạn là anh Phú gốc lính không quân cho hay, là không biết có chuyện gì mà Bộ Quốc Phòng Úc nhắn tin anh trên báo, rồi còn nhắn tin trên đài phát thanh của ông Nguyễn Đình Khánh nữa.

Cũng bắt đầu từ đó, anh Minh mới liên lạc với thẩm quyền. Sau khi biết rõ lý do, anh Minh đồng ý hợp tác. Nhưng anh không thể dẫn phái đoàn về lại Việt Nam, vì anh sợ bọn Việt cộng trả thù, vì miếng mồi câu ngon như vậy mà bị anh trao cho phái đoàn MIA "tìm hài cốt và người thất tung của Úc".

Bộ Quốc Phòng Úc, họ mua vé máy bay khứ hồi mời anh đi lên Canberra để cung cấp thêm tin tức. Mặc dầu đã từng là lính Biệt Kích, đã từng nhảy toán vào mật khu Việt cộng nhiều lần. Vậy mà khi lên tới Canberra, anh mới thấy mình hồi hộp lạ thường. Bởi từ sự săn đón, đến sự an ninh và cách làm việc của họ vô cùng kín đáo. Sau những giờ làm việc căng thẳng, cuối cùng thì anh Minh xin Bộ Quốc Phòng cho anh một tuần lễ về lại Cabramatta nhớ lại để vẽ bản đồ.

Khi về đến nhà anh Minh mới bắt đầu lo sợ. Bởi từ ngày đó đến nay có biết bao nhiêu vật đổi sao dời, cũng có thể nơi đó bây giờ là nhà cửa hoặc ruộng rẫy cũng nên. Hai vợ chồng anh bắt đầu lo sợ, những tờ giấy trắng đã trải ra trước mặt, nhưng tấm bản đồ không thể vẽ xong. Bởi anh đã quên đi hết những chi tiết ban đầu, cột móc cần thiết để làm chỗ khởi điểm. Như vậy thì làm sao tìm ra cái mả lạng đó đây...

Cho đến một đêm chót hết hạn, anh nằm van vái "David Fisher, anh đã sống chiến đấu cho dân tộc tôi. Dân tộc chúng tôi không bao giờ quên được anh, vì máu của anh đã đổ xuống cho dân tộc tôi được sống. Mặc dầu tới năm 1975 miền Nam chúng tôi phải chịu bức tử đầu hàng, bây giờ thì gia đình chúng tôi đang trôi giạt sang định cư trên đất nước của anh. Vậy anh hãy phù hộ độ trì cho tôi được minh mẫn, nhớ lại từng chi tiết ngôi mả lạng năm xưa, để tôi vẽ lại bản đồ, cung cấp cho Bộ Quốc Phòng để liên lạc với chánh phủ Việt Nam xin khai quật. Nếu đó không phải là hài cốt của anh, thì cũng là đồng đội của anh, hay đồng minh của anh để cải táng đem về quê nhà chôn cất. Vì Bộ Quốc Phòng Mỹ, với Bộ Quốc Phòng Úc đã có hồ sơ, nhưng chưa biết rõ đích xác địa điểm chỗ nào nên chưa tiến hành khai quật".

Sau một hồi van vái linh hồn David, thì anh Kim Tất Minh lại chìm vào trong giấc ngủ muộn màng. Đến gần 4 giờ sáng thì anh bỗng dưng giựt mình thức dậy, đầu óc tỉnh táo một cách lạ thường, dường như chuyện mấy chục năm về trước lại hiện nguyên về. Thế là anh bình tỉnh ngồi vào bàn phác thảo. Từ vị trí chỗ con đường nào để đi đến cái mả lạng năm xưa, rồi phía bên phải bên trái có những đặc điểm gì. Con suối Lút nó chảy qua đâu, đến cái làng Cẩm Tiên hay "Cẩm Liên" gì đó thì hỏi dân làng để nhờ người dân hướng dẫn.

Sau khi giao nạp bản đồ cho Bộ Quốc Phòng Úc, thì giữa anh Minh với họ liên lạc rất thường. Họ đã báo cáo với anh, là bên Việt Nam có ý hướng dẫn phái đoàn (MIA) của Úc đi lên Đà Lạt khai quật. Nhưng cuối cùng phía Úc cam kết, là khi khai quật dù có hài cốt hay không, cũng vẫn đền bù lại tài sản của người dân xứng đáng. Nhưng phải là chỗ mà phái đoàn của Úc đề nghị, chớ không thể thay đổi địa điểm ở bất cứ chỗ nào. Cuối cùng thì chánh phủ Việt Nam cũng phải thuận theo, cuộc khai quật đang tiến hành trong thuận lợi.

Những ngày chờ đợi lặng lẽ trôi qua, cho đến tháng 8/2008. Phái đoàn MIA đã điện thoại về anh Minh báo tin mừng, là đã tìm được hài cốt của David Fisher và đã làm công việc thử nghiệm DNA vừa xong. Hiện nay chánh phủ đang đài thọ vé máy bay cho gia đình của anh David bay qua Việt Nam để nhìn hài cốt của đứa con thân yêu của mình, đã vùi thây ở một chiến trường xa xôi trong suốt 39 năm ròng không núm mộ.

Đến ngày 10/10/2008 Bộ Quốc Phòng Úc lại thông báo với anh Kim Tất Minh, là khoảng 10 giờ sáng máy bay chở quan tài người chiến sĩ David Fisher sẽ đáp xuống phi trường quân sự Richmond Sydney. Vậy hai vợ chồng anh hãy ráng thu xếp gia đình, đi đến đón một người bạn đồng minh sau 39 năm mất tích. Họ còn căn dặn, nếu anh không biết đường lái xe, thì cứ việc kêu một chiếc Taxi bao luôn bận về, vì chánh phủ Úc Đại Lợi coi anh là một người ơn đã tìm ra hài cốt.

Cả gia đình anh đến nơi đều rơi lệ, lúc đó thì hình ảnh một người lính hào hùng năm xưa lại trở về. Anh thì đang đứng ở đây với tấm thân tỵ nạn, còn người bạn đồng minh của anh thì nằm trong cổ quan tài có phủ lá quốc kỳ. Ôi người lính nào rồi cũng da ngựa bọc thây, nhưng đã là thân trai trong thời loạn thì đành phải chịu.

Bộ Quốc Phòng Úc, họ rất trang trọng khi tiếp đãi gia đình anh. Vợ chồng anh và hai đứa con, mỗi người đều cài lên miệng túi phù hiệu của người lính đồng minh đã có mặt tham chiến tại Việt Nam. Trong giây phút ngắn ngủi và thiên thu đó, anh Minh có cảm tưởng rằng mình đang đứng trước hàng binh, hay đang lặn lội trong rừng để tìm ra dấu chân của địch quân đang ẩn náo. Nên anh lặng lẽ đưa tay lên chào kính bạn mình, mà ngày xưa khi còn đi cải tạo, vì mang tấm thân tù nên anh không làm được.

Thôi hãy yên nghỉ một giấc ngàn thu nghen David, một vòng hoa của Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa NSW đang trang trọng dâng đến cho anh, dẫu có muộn màng nhưng cũng vẫn là tấm lòng thành kín. Bởi hiện giờ đây, còn biết bao nhiêu đồng đội của chúng ta, thân xác còn thất lạc Hạ Lào, Khe Sanh, Đất Tô, Măng Bút. Nhưng rồi sẽ có ngày tổ quốc ghi công, bởi mỗi người chiến sĩ khi nằm xuống, là xương máu của họ sẽ điểm tô thêm giang sơn gấm vóc. Vĩnh biệt David thân yêu. Người chiến sĩ sau khi tàn cuộc chiến, trở về nơi cố quốc rất muộn màng. Hãy ngủ một giấc ngủ bình yên, sẽ không còn tiếng kèn đồng thúc quân cho anh thức dậy. Ngủ đi David, đây là vùng đất rất thanh bình. Hầu như từ khi lập quốc cho tới bây giờ chưa có biết chiến tranh, chỉ có đem thân trai đi làm nghĩa vụ quốc tế. Ôi cái chết nào rồi cũng giống nhau thôi, nhưng chỉ có khác nhau, khi cái chết được tổ quốc ghi công và người đời thương tiếc. Ngủ ngon đi David.

Phùng Nhân

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Ðại Hội 5 của Tập Thể Chiến Sĩ VNCH kết thúc tốt đẹp

Image
Ðại ban hợp ca Quân Dân Cán Chính VNCH
tưng bừng ca hát trong đêm vui kỷ niệm 5 năm thành lập TTCSVNCH hải ngoại.


Image
Giáo Sư Chủ Tịch Nguyễn Xuân Vinh đang giới thiệu một “flyer”
vận động chiến dịch “Nuôi Heo Ðất” giúp TPB/VNCH
trong cuộc họp báo sau 2 ngày đại hội TTCSVNVCH lần 5.


Bài và hình: Nguyên Huy/NV

WESTMINSTER, California (NV).- Liên tiếp trong hai ngày cuối tuần qua, hơn 100 đại diện các tổ chức cựu quân nhân trong Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại đã tiến hành các cuộc hội họp tại Orange County, Nam California để cùng nhau duyệt xét lại những công tác đã thực hiện được trong thời gian qua và cũng cùng nhau đề ra và soạn thảo những công tác phải thực hiện trong thời gian tới.

Ðại Hội 5 cũng là kỷ niệm 5 năm ngày thành lập “Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại”. Giáo Sư Chủ Tịch Nguyễn Xuân Vinh và nhiều niên trưởng tướng lãnh đã về tham dự cùng anh em như Ðề Ðốc Trần Văn Chơn, Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình.

Sau hai ngày hội họp, đại hội đã kết thúc bằng một cuộc họp báo tại phòng sinh hoạt của thị xã Westminster vào lúc 3.30 chiều hôm Chủ Nhật 19 tháng 10 và một buổi dạ tiệc hội ngộ vào lúc 7 giờ tối tại nhà hàng Hoàng Sa Paracel's Seafood.

Cuộc họp báo với các vị đại diện trên bàn chủ tọa gồm giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, chủ tịch Hội Ðồng Ðại Diện, Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, chủ tịch Hội Ðồng Tư Vấn, các chiến hữu Trần Quan An và Nguyễn Văn Ức trong Hội Ðồng Giám Sát. Phía báo chí có nhật báo Người Việt, nguyệt san KBC Hải Ngoại, báo điện tử Ánh Dương.

Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh đã thay mặt ban chủ tọa thông báo kết quả tốt đẹp sau hai ngày đại hội. Ðại hội vẫn giữ được tinh thần thống nhất. Lực lượng hậu duệ đang tiến hành ráo riết việc tăng cường thêm nhiều bạn trẻ có kinh nghiệm, có thành tích cũng như có khả năng. Ðại hội cũng bàn đến công tác giúp đỡ Thương Phế Binh VNCH và đã bầu ra một phó chủ tịch đặc trách chương trình “Mỗi Gia Ðình Trợ Giúp Cho Một Thương Phế Binh Ở Quê Nhà”. Cụ thể, tổ chức Tập Thể CSVNCH hải ngoại sẽ tiến hành chương trình “Nuôi Heo Ðất” trong các gia đình cựu chiến sĩ VNCH hải ngoại, để hàng năm cứ vào Ngày Quân Lực 19 tháng 6, sẽ cùng nhau ‘mổ’ heo đất mà gửi về cho anh em thương phế binh ở quê nhà. Qua đại hội lần này, nhiều tổng hội và liên hội của anh em cựu quân nhân khắp nơi về tham dự đã rút được những kinh nghiệm điều hành trong thời gian vừa qua. Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh cũng nhắc lại những cuộc cải tổ trong vòng 5 năm qua nhằm kiện toàn tổ chức khi mà tập thể chiến sĩ VNCH cư ngụ rải rác khắp các châu lục. Nay thì tổ chức có được phó chủ tịch điều hành, đã tạo được sự thông cảm để “Tập Thể CSVNCH hai ngoại” đúng nghĩa là một tập hợp chung cho các quân binh chủng của QLVNCH ngõ hầu thể hiện được đúng đường lối mà tập thể qua các đại hội đã thông qua.

Nói về đường lối và mục đích chung thì Tập Thể CSVNCH Hải Ngoại đã luôn luôn giữ vững được ngọn cờ Vàng Chính Nghĩa và duy trì sự có mặt thường xuyên của QLVNCH trong tất cả các cuộc đấu tranh chống độc tài cộng sản.

Vào lúc 7 giờ tối, hơn 400 cựu chiến sĩ VNCH thuộc các quân binh chủng của QLVNCH đã cùng gia đình đến tham dự ngày vui kỷ niệm 5 năm thành lập “Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại”. Trong số khách đến tham dự cùng các các chiến binh VNCH trong ngày kỷ niệm này, anh chị em trong Tổng Hội Sinh Viên VN ở Nam California và các dân cử địa phương như Diệp Miên Trường, Nguyễn Quang Trung, Andy Quách, Dina Nguyễn và Tạ Ðức Trí cũng có mặt. Các cựu tướng lãnh như Ðề Ðốc Trần Văn Chơn, Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, Chuẩn Tướng Võ Dinh và các niên trưởng Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, Hạnh Nhơn, Trần Ðức Cử... cũng cùng tham dự với anh em cho đến gần hết đêm vui. Giới ca nhạc sĩ đang được mến chuộng trong cộng đồng cũng đến với anh em cựu quân nhân để như theo lời ca sĩ Diễm Liên “phải đến hát cho các chú các bác đã hy sinh cho chúng cháu nghe chứ”. Ca sĩ Phương Hồng Quế, ca sĩ Phượng Khanh đã làm cho sinh hoạt của đêm vui kỷ niệm này thêm bốc lửa với những tình khúc chinh chiến xưa. Rồi Huy Tâm, Khánh Hoàng, Ðan Vy... những ca sĩ trẻ đã cùng Minh Phượng, Ðỗ Tân Khoa và cả Việt Dũng nữa liên tục làm cho sân khấu lúc nào cũng sinh động, hào hứng. Ba ban “đại” hợp ca Thủy Quân Lục Chiến, Không Quân và Phụ Nữ và Việc Nước đã cùng ban hợp ca tổng hợp nam nữ QLVNCH thay nhau gợi nhớ hết không quân đến hải quân, lục quân lại đến phụ nữ Việt, khiến cho bầu không khí càng về cuối càng thêm nhộn nhịp tình chiến hữu, tình quân dân cá nước.

Mãi đến hơn 10 giờ khuya, đêm vui mới chấm dứt nhưng các chàng chiến binh xưa, trong những quân phục binh chủng của mình vẫn còn bịn rịn với nhau nơi cửa nhà hàng cả nửa tiếng sau vẫn chưa vãn. (NH)

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Bà Năm Xóm Chợ Bà Chiểu

Phan Đức Minh
Mấy hôm nay, Bà Năm mất cả ăn, cả ngủ vì chỉ còn 1 ngày nữa thôi, sáng mai là Bà lên máy bay sang Mỹ đoàn tụ gia đình, sống với đứa con gái lớn đã sang sinh sống ở Mỹ dễ chừng hơn 2 chục năm rồi.

Lâu lâu nó vẫn gửi thư cho Bà và gửi tiền nữa. Với số tiền 5, 6 trăm đô la mỗi lần nó gửi về, đem đổi ra tiền Việt Nam gần cả chục triệu lận. Bà ngồi mà ăn, cúng vô Chùa, giúp đỡ bà con, chòm xóm, kẻ nhiều người ít, cũng không cách nào cho hết. Bà già rồi, sống với đứa con gái út, hàng ngày chỉ có việc ăn 2,3 bửa rồi đi chùa, đi thăm bà con, bè bạn. Về nhà thì mở Ti Vi , coi băng video cải lương , phim hài, phim chưởng… đủ thứ trên đời. Cuộc sống của Bà nghĩ thật sung sướng. Bao nhiêu người già cả ở quanh cái chợ Bà Chiểu, Quận Bình Thạnh nơi đất Sài Gòn này, ước mơ có được một phần cuộc sống của Bà mà đâu có được. Họ phải đầu tắt, mặt tối, chạy xuôi chạy ngược, buôn bán tảo tần nơi lề đường, hè phố, bị công an rượt đuổi chạy có cờ… để kiếm miếng ăn cho no cái bụng thôi mà cũng không nổi.

Bà Năm có đứa con gái vượt biển rồi đi Mỹ mà cuộc đời sướng như thế đó. Người ta bảo "Bà Năm ăn ở phúc đức lắm mới được đứa con gái như thế. Chớ biết bao nhiêu người, sinh con đẻ cái, gái trai cả bầy mà có làm nên cơm cháo gì đâu ? ".

Cuộc đời của Bà quả là sướng như tiên ở Sài Gòn rồi còn chi nữa. Bảo đứa con gái út viết thư cho chị nó, Bà cứ bảo nó viết cái tên Sài Gòn, vưà quen, vưà gọn, vưà dễ nghe, chớ đâu lại có cái tên dài lòng thòng…Thành Phố Hồ Chí Minh, nghe mệt thấy mồ.

Mỗi khi nhận được thư của đứa con gái từ Mỹ gửi về Sài Gòn cho Bà, có lúc kèm theo vài tấm ảnh… theo thói quen từ hồi có... “ loại thư Việt Kiều gửi về quê “, Bà lại dúi vào tay người đưa thư mấy ngàn bạc cho người ta vui vẻ, lương tiền nhà nước làm chi đủ sống . Chu cha ! Đất Mỹ đẹp quá trời ! Con Nguyệt, con gái Bà, nói nó ở thành phố San Diego, tiểu bang Ca-li, một thành phố đẹp lắm. Coi những tấm ảnh, Bà thấy thành phố San Diego quả là đẹp thật. Nhà cửa, đồ đạc, xe cộ của con gái Bà sao mà đẹp chi lạ! Hai đứa con trai của nó trong ảnh còn đẹp hơn cả mấy đứa trẻ trong những bức tranh Tầu ôm quả đào tiên nữa lận. Con Nguyệt nó bảo làm thủ tục bảo lãnh cho Bà sang Mỹ ở với nó. Nó bảo Bà già rồi, sang Mỹ khỏi có phải làm ăn chi hết, rồi ít lâu sau thành dân Mỹ, lại có tiền chính phủ nuôi, chỉ ở nhà chơi vơiù cháu thôi. Bà muốn coi cải lương hả ? - Băng Video phim Việt Nam, phim Tầu, phim chưởng Hồng Kông nhiều vô số kể. Chẳng thiếu thứ gì. Nó mua, nó thuê về nhà cả thùng lận. Bà tha hồ mà coi. Bà muốn đi Chùa hả ? - Nó lái xe Mỹ, xe Nhật êm ru bà rù, chở Bà đi Chùa Việt Nam, Chùa Tầu, chỉ nháy mắt là tới nơi, chớ đâu có phải đi bộ mỏi cả giò, đổ mồ hôi hột hay đi xích lô chạy loạng quà loạng quạng, cứ như muốn ủi vào xe lam, xe đạp, xe Honda, ô tô con, ô tô mẹ , chạy tưới hạt sen, lộn xộn xà ngầu… kinh khủng, muốn chết quá!

Mấy năm trước, khi Ông Cụ còn sống mà ai nói tới chuyện kéo Ông đi Mỹ sống với con gái là Ông chửi toáng cả lên: " Không có đi đâu cả ! Ở quê nhà với bà con, chòm xóm bạn bè, mồ mả Tổ Tiên không sướng hơn hay sao ? Tiền bạc nó gửi về, ngồi mà ăn đến chết cũng không hết. Già cả rồi, sang đó làm nên cái giống chi mà làm ? "

Thế nhưng từ ngày Ông Cụ mất đi, Bà Cụ thấy buồn buồn làm sao ấy. Thiếu người bầu bạn. Đôi khi có cằn nhằn gấu ó với nhau về cái chuyện " Đi hay ở " thật đấy, nhưng lúc này Bà Năm mới cảm thấy cô đơn, cô đơn thưc sự. Người già có cái tình yêu thương cũng như nỗi cô đơn của người gia. Thế là càng ngày Bà càng cảm thấy cần phải đi Mỹ để sống với đứa con gái mà Bà từng mang nặng, đẻ đau, rồi còn gian nan về những phen chạy giặc, chiến tranh nữa chớ. Bà phải đi Mỹ để sống với hai đứa cháu ngoại trong ảnh thật dễ thương. Lắm lúc Bà ngồi một mình mà nước mắt rưng rưng, Bà thương đứa con gái hiếu thảo và hai đứa cháu ngoại quá chừng chừng…

Sáng nay, Bà gọi con Lan, đứa con gái út, dậy thật sớm để kịp ra phi trường Tân Sơn Nhất. Máy bay cất cánh lúc 7 giờø sáng nhưng xe đón từ lúc 5 giờ. Bà Năm có 2 đứa con gái, con Nguyệt là lớn, vượt biển đi Mỹ đã hơn 2 chục năm. Con Lan là thứ nhì mà cũng là út, lúc ấy còn bé tí ti. Bây giờ con Lan đã lớn tướng rồi, đã vào Đại Học và theo mấy khoá Tiếng Anh.Chị nó bảo " Sang Mỹ, con Lan sẽ vào Đại Học, tha hồ mà học." Con Lan đang ở cái tuổi mới lớn, nó còn thích đi Mỹ hơn cả bà Năm nữa, tuy rằng đi Mỹ thì nó phải xa vô số bạn bè, thân thiết, đã từng gắn bó với nhau trong những tháng ngày khốn khổ, gian nan, kinh hoàng nữa chớ. Nó nghĩ lại mới ngày nào đó, vậy mà Chị nó đi Mỹ cũng đã hơn 2 chục năm, mau dễ sợ ! Nó tính trong đầu : sang Mỹ chịu khó mất vài 4 năm thì cũng lấy xong cái B.S. hay B.A. chi đó như Chị nó nói. Học thêm vài năm cũng lấy được cái bằng Master cho nó hách, rồi đi làm. Thế là sẽ có vô số tiền. Nó sẽ đáp máy bay từ Mỹ về Sài Gòn. Lúc đó là đi thẳng cái một, khỏi có… quá cảnh xứ này, nước nọ lôi thôi. Bạn bè của nó kéo cả băng, cả đoàn đi đón. Vui ơi là vui ! Nó sẽ cho tiền những đứa bạn nào nghèo khó, chồng con vất vả đầu hôm sớm mai. Nó sẽ lôi hết bạn bè cũ cùng học lớp 12 với nó ở Sài Gòn, thuê vài cái xe đi chơi khắp mọi chỗ kêu bằng… danh lam, thắng cảnh, quay video, chụp ảnh, đi ăn nhà hàng chết bỏ… cho bõ ghéùt những ngày… con nít chẳng dám đi đâu hay làm cái gì…

Có tiếng xe pin ! pin ! ở ngoài cổng. Người ta tới đón mẹ con Bà Năm ra phi trường. Bà con, bạn bè lối xóm bu lại, nước mắt ngắn dài, kẻ ở người đi… Ôí! Cảnh biệt ly sao mà buồn thế ! Mẹ con Bà Năm với mấy cái va-li bự chảng, hai cái xách tay nho nhỏ đã lên xe. Một số bà con thân thiết cũng leo lên xe để tiễn mẹ con bà Năm tới tận phi trường. Một số bà con ở lại, vẫy tay từ biệt khi cái xe 12 chỗ ngồi đã từ từ lăn bánh.

Bà Năm cố nhìn lại cái xóm cũ đã gắn bó, sống chết với Bà từ bao nhiêu năm nay. Những dẫy nhà hai bên đường phố chạy thụt lui lại phiá sau cùng những bóng cây, cột đèn, thân thương quá đỗi. Vài chiếc xích-lô đưa khách sớm, dăm cái xe đạp, vài chiếc Honda rồ máy chạy ào ào… Tự nhiên Bà Năm thấy nhớ, thấy thương Sài Gòn quá đi mất thôi. Vậy mà Bà nỡ bỏ nó để đi xa, chẳng biết bao giờ mới trở lại nơi này.

Bác tài xế bấm còi pim ! pim! khi tới chỗ ngã tư đông người lộn xộn làm con Lan giật mình khi còn đang ngủ gà, ngủ gật vì sáng nay nó phải dậy sớm. Xe qua cổng phi trường, vòng qua vòng lại rồi đậu phiá trước một ngôi nhà đông nghẹt những người.

Hai mẹ con Bà Năm đã lọt vào trong căn phòng " cách ly " để lạï bên ngoài số bà con, bạn bè thân thiết với bao nhiêu nỗi niềm thương nhớ đến độ sót sa. Thoát được cái cảnh lo sợ bị rạch túi, mất giấy tờ, tiền bạc như thiên hạ vẫn đồn đại, Bà Năm thấy an tâm đỡ khổ. Bà Năm đã già, lẩm cẩm, may mà có con Lan đi theo chớ không dám chết quá. Bà có biết trời trăng, mây nước gì đâu. Hết nạp giấy tờ, kêu tên, rồi nạp tiền đủ thứ linh tinh. Đến chỗ mấy ông, mấy bà công an áo vàng, cầu vai đỏ choé, bà hơi run khi thấy họ lục xét, bới tung đồ đạc của mấy người đi trước. Con Lan hích hích cùi chỏ rồi thò tay bấm Bà " Má để con ! " Con nhỏ này nó học ở đâu mà bữa nay nó lanh … như quạ.dấm dúi tiền bạc cho đám công an bằng những cái phong bì " có nhân " ở bên trong. Kẹt quá, nó dúi đại cả mớ tiền Hồ vào tay bọn công an tỉnh bơ, chẳng còn coi ai ra gì cả . Công việc đi qua nhanh như gió. Cuối cùng một lão công an, mặt lạnh như tiền, hất hàm hỏi " Bà và Cô có đem theo đô la không ? " - Thưa không ! - Thế còn giữ tiền Việt Nam không ? Con Lan lại hích hích cái cùi chỏ vào ba sườn Mẹ nó. Bà Năm lôi trong người ra cái phong bì to bự đựng mớ tiền Hồ còn lại, đưa cho lão công an, miệng líu ríu " Còn lại mấy trăm ngàn, xin biếu… đồng chí uống cà phê ." Lão công an phì cười khi nhét cái phong bì vào ngăn kéo bàn gần đó nhanh như người ta làm xiệc . Lão ta cười chắc là vì lão ta có đồng chí đồng choé gì với Bà Năm bao giờ đâu…

Hành khách lên xe, ra chỗ máy bay đậu. Ngồi trong máy bay rồi, con Lan buộc dây lưng an toàn cho Mẹ. Sau một hồi gầm gừ, lắc lư, chiếc máy bay Hàng Không Việt Nam từ từ cất cánh. Bà Năm nhăn mặt vì khó chịu, nôn nao trong người. Ngồi cạnh cửa kính máy bay, Bà Năm thấy phố xá, đồng ruộng quanh vùng Sài Gòn lu mơ,ø xa dần rồi mất hẳn. Chung quanh chỉ còn là mây trắng xoá, mịt mờ…

Nỗi buồn xa xứ ở đâu tự nhiên kéo đến. Hai hàng nước mắt chạy quanh. Con Lan giương tròn đôi mắt nhìn Mẹ nhưng chắc là nó không làm sao hiểu nổi. Máy bay dừng lại ở Thái Lan để chuyển sang máy bay quốc tế, nghe nói bự lắm. Con Lan lúc này lanh lẹ, dễ thương vô cùng. Nó thương Mẹ nó. Nó lo cho Bà đủ chuyện trong chuyến đi nưả vòng trái đất đầu tiên và chắc cũng là cuối cùng của đời Bà. Mới ăn có một bữa trên máy bay với một bữa ở khách sạn để chờ chuyển máy bay mà Bà Năm đã thấy nhớ món cá lóc nấu canh chua, cá nục kho khô, nhất là điã giá sống… Con Lan cứ ăn tỉnh bơ, ào ào hết sạch. Con gái 17 bẻ gẫy sừng bò còn được, huống hồ năm nay nó đã lớn tướng, dư sức lấy chồng được rồi. Bà lẩm cẩm lo nghĩ vẩn vơ " Nếu cứ ăn uống hoài kiểu này chắc chết quá ! " Mà không, con gái Bà nó bảo ở bên Mỹ đồ ăn không thiếu cái chi cả. Chợ Mỹ, Chợ Tầu, chợ Việt Nam có đủ hết. Tha hồ mà làm… bún bò giò heo, bún cá, phở, mì, bánh canh, bánh xèo, chả giò, bánh cuốn… Tự nhiên Bà Năm lại thấy … lên tinh thần.

Người ta hướng dẫn Mẹ con Bà Năm lên cái máy bay to chi lạ. Nghe nói nó chở cả mấy trăm con người và vô số đồ đạc, va-li, thùng, xách, linh tinh. Dễ sợ thật ! Bà thấy hành khách đông vô số kể, ngồi trông tưà tưạ như cái rạp cải lương ở gần Chợ Bà Chiểu thân quen của Bà. Mấy cái màn ảnh chiếu phim cả ngày cả đêm, hoạ hoằn mới cho chúng nó… giải lao nghỉ xả hơi một lúc. Cứ độ 2 tiếng đồng hồ, mấy cô tiếp viên lại đẩy cái xe đi quanh, dọn ăn, dọn uống cho khách. Bà nghe nói ở Mỹ cả chục triệu người béo phị, đi không nổi. Chắc tại họ ăn uống lu bù tối ngày sáng đêm như thế này chăng. Bà ăn đâu có nổi, Chỉ có con Lan là cứ tỉnh bơ như sáo sậu, hết coi phim lại ăn, lại uống. Bà bảo con Lan " Con ăn nhiều thế, mai mốt béo phị ra thì ai nó thèm lấy ! " Con Lan phì cười " Má đừng có lo ! Con biết hết trơn rồi ."

Máy bay bay miết, bay hoài, dễ chứng cả ngày lẫn đêm chi đó. Bà Năm thấy cái lối sống ở trên máy bay và chắc cả ở Mỹ nữa nó không đơn giản như ở quê nhà, nơi gần chợ Bà Chiểu. Cái chi cũng máy với móc, lộn xà lộn xộn, không biết đâu mà rờ cả.

Máy bay hạ cánh xuống phi trường Mỹ. Con Lan bảo là Phi Trường quốc tế Los Angeles. Bà Năm mệt mỏi nhừ tử cả người, đứng lên muốn hết nổi.

Con gái Bà, con Nguyệt sẽ lái xe từ San Diego lên đón Mẹ con Bà ngay tại nơi này. Người đâu mà đông thế ? Người ta ăn mặc thật là kỳ cục. Cả đời, bây giờ Bà mới thấy người ta ăn mặc chẳng giống dân Sài Gòn của bà tí nào. Đàn ông, con trai thì lắm người mặc áo để phanh cả bộ ngực lông lá tùm lum. Có người ăn mặc đồ lớn như dân Sài Gòn đi ăn cưới.có người chỉ mặc có mỗi chiếc áo " may-ô ba lỗ " , có người cởi trần trùng trục đi lại tự nhiên, thoải mái. Đàn bà con gái cũng mặc quần, mặc váy như mấy cô, mấy bà hạng sang ở sài Gòn, nhưng có nhiều người lại mặc váy , quần cụt, ngắn cũn cỡn trông chẳng giống ai. Ở chỗ đông người thế này mà đàn bà con gái chi lạ, cứ như ở trần, ở trên thì vú vê to nung núc, rùng rà rùng rình, để ra cả đống cho người ta coi, ở dưới cứ như là … để ra ngoài hết trơn, cái quần, cái váy ngắn tí teo, lại còn xẻ rạch lên một khúc nữa... Trông dễ sợ quá ! Bà Năm không biết con gái mình, con Nguyệt nó có ăn mặc như thế này không ? Nếu nó lại bắt Bà phải ăn mặc như thế nữa thì không biết rồi ra làm sao ? Liệu Bà sống nổi hay không Tự nhiên Bà chặc lưỡi … kệ nó tới đâu thì tới, đã đến đất Mỹ thì cũng như… đã leo lên lưng cọp rồi, tụt xuống đâu còn được nữa. Thôi thì …cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem …đất Mỹ xoay vần tới đâu .

Sau khi làm thủ tục giấy tờ này nọ, Mẹ con Bà đẩy xe hành lý ra phiá ngoài . Còn đang ngơ ngác thì con gái Bà, con Nguyệt, đã la lên " Má ! Má Con đây nè !" Con gái Bà lúc này nó cao, nó to con, nó đẹp như " đầm " ấy, Bà nhận ra không nổi. Nó chỉ người đàn ông đứng bên cạnh " Đây là chồng con . Đây là hai đứa cháu ngoại của Má ! Và đây là bạn bè của con…" Con Lan đứng sau lưng Bà, bây giờ mới đến phiên người ta ôm lấy nó cứng ngắc, hỏi thăm rối rít tít mù, làm cho nó đỏ bừng cả mặt, cả tai …

Mấy cái xe Mỹ, xe Nhật bóng láng đưa Mẹ con Bà Năm về nhà con gái. Bà thấy cái chi cũng lạ. Nhà to và đẹp quá, nhưng không bầy đồ đạc tùm lum tà la như nhà của Bà ở gần Chợ Bà Chiểu. Con rể và con gái Bà chắc hẳn giầu lắm. Hai đứa cháu ngoại thì cứ nhìn Bà mà nói với nhau bằng thứ tiếng gì Bà không hiểu. Chắc là tiếng Mỹ ! Vợ chồng con Nguyệt nói với Bà thì bằng tiếng Việt, còn khi chúng nó nói chuyện với nhau lại bằng tiếng Mỹ chi đó, làm Bà chẳng hiểu chi hết trơn.

Gặp mấy ngày nghỉ cuối tuần, bà con bạn bè người Việt ở gần, nghe tin Bà Năm sang Mỹ, cũng kéo tới thăm. Bà cũng thấy vui vui một chút. Cơm nước bầy ra đầy cả bàn, nhưng Bà ăn sao nó dở ẹt, không bằng món cá bống kho tiêu, cá lóc nấu canh chua của Bà ở Sài Gòn. Chúng nó lấy xe chở Mẹ con Bà đi chơi tùm lum đủ chỗ, đẹp mắt và to lớn, vĩ đại vô cùng. Sạch sẽ nữa chớ, không có tạp nhạp, lộn xộn, dơ dáy như cái xóm cũ của Bà.

Mấy ngày đầu đoàn tụ qua đi. Vợ chồng con Nguyệt đi làm, hai đứa cháu ngoại được đưa đến trường học con nít. Chỉ còn Bà với con Lan ở nhà, cái nhà rộng thinh rộng thang, phòng dưới nhà, phòng trên lầu, đủ kiểu . Chẳng bù với cái nhà của Bà gần Chợ Bà Chiểu, chỉ có một cái phòng để ngủ, một phòng cho khách ngồi chơi, còn lại là nhà bếp với bộ bàn ghế ăn cơm và linh tinh đủ thứ. Ấy vậy mà mới ở Mỹ chưa được một tháng, Bà Năm đã lại thấy nhớ nhung luyến tiếc nếp sống của Bà ở gần chợ Bà Chiểu. Đến cái ngày con Lan được Chị nó dẫn đi học ở cái trường nào đó xa lắm, phải đi bằng xe hơi, chớ không có đi bộ hay đi xe đạp được đâu. Thế là chỉ còn có một mình Bà ở lại với ngôi nhà to lớn rộng thênh thang mà thôi. Lúc này, Bà thấy quả thiệt là buồn, cái buồn miên man khó tả. Con Lan đã chỉ cho bà cách bật Ti Vi bằng cái… bấm cầm tay. Bật máy lên thì Bà chỉ thấy toàn là đánh lộn, la hét um xùm. Bật sang kênh khác thì lại bắn súng đùng đùng, máu me tùm lum. Bà ráng thử bật sang kênh khác nữa. Trời đất quỷ thần ! Một lão đàn ông, một mụ đàn bà ôm nhau cứng ngắc, hôn hít cứ y như là cắn nhau vậy thôi. Rồi cả hai … tụt quần, cởi áo, nhào lên giường vật lộn. Con mụ đàn bà chịu thua, nằm nhắm mắt, giật đùng đùng, kêu lí nhí, rên hừ hừ rồi bỗng nó vùng vẫy nhào lên trên, đè hung hãn, như người ta phi ngựa nước đại, trông mà phát khiếp, chi mà kỳ lạ ! Chán quá, Bà tắt máy chẳng buồn lắp phim, coi cải lương với lại chưởng Tầu. Hết đi ra lại đi vô, Bà đâm ra cứ muốn ngủ gà, ngủ vịt. Mà nằm xuống thì đâu có ngủ được…

Bà từng nghe nói thành phố San Diego là nơi ấm áp mà sao muà lạnh mới sang Bà đã thấy lạnh chi mà lạnh dữ. Ở Sài Gòn, Bà có thấy lạnh bao giờ đâu. Buổi sáng sớm và ban đêm, ở Mỹ, Bà cứ phải mặc cả mớ quần áo, trông to bự trác như hình vẽ Ông già Nô-en vậy. Có bữa con Lan mở Ti Vi, Bà thấy cảnh động đất, mưa lụt, bão bùng, xe cộ tông nhau, người chết, nhà cửa tan tành…Ở Mỹ cái gì đối với Bà cũng vĩ đại, to lớn, dễ sợ, kinh hoàng, dựng tóc gáy, nổi da gà. Nó không yên tĩnh, hiền lành như cái vùng đất chợ Bà Chiểu của Bà.

Tối đến vợ chồng con Nguyệt mới đi làm về. Cả nhà chỉ gặp nhau vào lúc ăn cơm. Ăn xong, ai về phòng người nấy, hay vợ chồng con Nguyệt lại lấy xe đi đâu đến khuya. Bà Năm muốn chơi với hai đứa cháu ngoại. Khốn nỗi hai đứa nhỏ lại chỉ biết nói tiếng Mỹ mà thôi, Bà đâu có hiểu. Còn có con Lan thì nó lo học và làm bài túi bụi. Rảnh một tí, nó mở cái Ti Vi để coi ca nhạc mà kẻ đàn, người hát cứ như đánh vật với nhau, la hét um xùm. Hình như nó bảo nhạc Rốc, nhạc riếc chi đó, nghe đến chóng cả mặt, đau cả đầu. Không thế thì nó lại ôm cái điện thoại nói chuyện với bạn với bè. Nói liên hồi, không biết mệt. Chuyện chi mà nhiều thế ? ***

Bà Năm đau nặng phải vô nằm bệnh viện, lắm lúc mê man rồi lại tỉnh. Vợ chồng con Nguyệt chỉ biết thương Bà, nhưng vẫn không hiểu được Bà Chỉ có con Lan về sau nó hiểu, nó hỏi " Có phải ở đây Má buồn, Má không chuyện trò được với ai, nhất là với hai đứa cháu ngoại, Má nhớ Quê Hương, bạn bè của Má, Má nhớ mồ mả Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, Má nhớ Chợ Bà Chiểu… nên má đau, má bịnh phải không ?" Bà Năm nắm lấy tay nó rồi gật đầu. Con Lan bỗng nhiên mím môi lại, nước mắt chẩy hai hàng " Sao Má không ở lại Việt Nam với chòm xóm, bạn bè, với Chợ Bà Chiểu của Má ? Má không chịu đi Mỹ thì đâu con có đi ! Con nhất định ở với Má cho đến khi nào Má… không còn nữa, Má đi với Ba cơ mà ! " Rồi nó ôm mặt khóc rưng rức sót thương cho Mẹ, người đã suốt đời khổ cực vì chồng vì con, hình như chẳng có lúc nào để nghĩ đến chính mình… Bỗng Bà Năm tỉnh táo, vẫy tay cho vợ chồng con Nguyệt cùng tới gần. Bà nắm lấy tay 2 đứa con gái, nói trong hơi thở nghẹn ngào " Má chấp nhận rời bỏ tất cả để ra đi vì Má thấy thương con Nguyệt, nó muốn Má được an nhàn, sung sướng lúc tuổi già, nhất là Má thương con Lan, Má hy sinh vì mong cho nó được ăn học nên người và có một cuộc sống tốt đẹp như Chị nó ở đất nước văn minh, giầu có, vĩ đại như thế này. Má già rồi nên không quen, nhưng Má chấp nhận… Má chỉ tiếc một điều là không được chết và nghỉ yên bên cạnh Ba con…"

Nguyệt lúc này mới cảm thấy một nỗi xót xa thật to lớn . Nguyệt đã chịu một phần trách nhiệm trong cái chết của Bà Năm. Vợ chồng Nguyệt đã không làm được một việc mà nhiều gia đình Việt Nam khác đã làm được. Đó là vợ chồng Nguyệt không để ý hay không làm được cái việc : dậy cho 2 đứa con những khi ở nhà với Cha Mẹ, tập nói tiếng Việt. Nếu hai đứa con của Nguyệt nói được tiếng Việt như nhiều đứa trẻ gốc Việt Nam khác thì Bà Năm đã có nhiều giờ phút khuây khỏa, vui chơi, chuyện trò với hai đứa cháu ngoại mà Bà thương hết mình. Đằng này, Bà không làm sao gần gũi được với chúng nó. Khi Bà và hai đứa cháu ngoại gần nhau, thay vì chuyện trò như nhiều gia đình gốc Việt Nam khác, thì lại chỉ biết nhìn nhau như những người xa lạ ở đâu đâu ấy. Nguyệt cũng úp mặt vào hai bàn tay để dấu đi những giọt nước mắt xót thương người Mẹ già đã từ giã tất cả để đến nơi đây sống với mình. Nguyệt thương Mẹ nhưng đã không hiểu được Mẹ. Bây giờ thì mọi sự đã trễ mất rồi, không cách nào làm lại được nữa dù chỉ một lần... Nếu 2 đứa con của Nguyệt nói được tiếng Việt để Bà cháu hủ hỉ với nhau thì...

Bà Năm không nói được nữa, Bà đã vĩnh viễn ra đi để được sống với chồng Bà bên kia thế giới, có lẽ gần gũi hơn với Quê Hương Đất Tổ, ở đó có nhiều bạn bè thân thiết và có cái chợ Bà Chiểu thân thương gắn bó với Bà từ những ngày khốn khổ xa xưa...

San Diego, California
Phan Đức Minh

Post Reply