Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Người Trung Quốc bất mãn

Ngô Nhân Dụng


Hai hiện tượng đang diễn ra ở Trung Quốc, mà cảnh tượng cũng không khác gì ở Việt Nam: Người nghèo thì bất mãn vì xã hội bất công, còn người kiếm ra tiền, thật nhiều tiền, thì tìm đường ra sống ở các nước Tây phương.

Nhà báo Gordon Chang đã mô tả cảnh tượng công nhân nổi loạn trên Asia Times. Bốn ngàn công nhân Trung Quốc đình công và biểu tình vào giữa tháng 6 năm 2011 ở một nhà máy của người Ðại Hàn tại thành phố Phiên Ngu (Panyu), gần thành phố Quảng Châu. Nhà máy thuộc công ty Simone Ltd chuyên sản xuất túi xách tay bằng da cho những nhãn hiệu danh tiếng như Coach, DKNY, Burberry, vân vân. Hơn 6 công nhân bị đánh đập và bắt giam, trong đó có một cô 20 tuổi, “di dân” từ một tỉnh khác tới làm việc tại đây. Người bạn cô hỏi phóng viên nhật báo South China Morning Post: “Một con bé yếu như nó làm sao chịu được bao nhiêu người đàn ông đánh đập như vậy?”

Một công nhân khác nói với nhà báo: “Ban giám đốc coi chúng tôi như không phải là con người!” Công ty Simone trừ tiền cơm trong lương bổng của thợ nhưng chỉ cho họ ăn gạo hẩm đen. Các quản đốc người Nam Hàn tự tiện vào phòng vệ sinh phụ nữ bất cứ lúc nào. Công nhân phải làm việc 12 giờ mỗi ngày, chỉ được đi vệ sinh 2 lần, và trong lúc làm việc không được phép uống nước! Giữa tháng 6, 2000 công nhân làm cho nhà máy sản xuất đồng hồ Citizen Watch của Nhật Bản tại Ðồng Quan, cùng trong tỉnh Quảng Ðông, cũng đình công.

Những nhà máy như trên tạo nên “Sức mạnh kinh tế” của Trung Quốc trong ba chục năm qua: Bóc lột người lao động, để làm hàng xuất cảng cho các công ty tư bản ngoại quốc, bị bạc đãi nhất là những nông dân thiếu việc làm, tìm việc ở các thành phố. Tại thành phố Triều Châu, hàng trăm “lao động di dân” đánh nhau với cảnh sát. Tại Tăng Thành, thủ đô Quần Bò (Blue Jeans) thế giới, hàng ngàn công nhân từ các tỉnh khác tới làm việc đã gây bạo động sau khi bọn cô đồ do công an thuê mướn đã đánh ngã một công nhân phụ nữ đang mang thai; họ đốt các trụ sở chính quyền và lật đổ xe của công an.

Theo nhà báo Gordon Chang, trong năm 2010 có 280,000 vụ biểu tình phản đối chính quyền cộng sản Trung Hoa, từ lớn đến nhỏ. Con số đó đã tăng lên nhanh chóng, vì trước đây dăm mười năm trung bình mỗi năm chỉ có từ 80 đến 90 ngàn vụ dân biểu tình chống nhà nước. Lòng dân bất mãn được kích thích lên cao vì chính sách của đảng Cộng sản Trung Quốc đưa tới khoảng cách lợi tức bất công trầm trọng, nông dân và công nhân vẫn không được một guồng máy tư pháp độc lập bảo vệ, và đảng cộng sản thả lỏng cho cán bộ tìm đủ cách tham nhũng. Một nguyên do thực tế khác là các tỉnh ở miền ven biển bắt đầu thiếu lao động, người thợ không sợ bị đói nếu bị đuổi nữa.

Nhưng những người khá giả không phải dân lao động bần cùng có thỏa mãn với cuộc sống trong nước Trung Hoa hay không? Một bài đăng trên Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times) ngày 29 tháng 4 năm 2011 cho thấy hiện tượng nhiều người Trung Quốc có tiền đang tìm đường ra nước ngoài sống. Tờ báo trên thuật lại kết quả một cuộc nghiên cứu của Ngân Hàng Thương Mại Trung Quốc (China Merchants Bank) báo tin mừng là trong năm 2010 số người Ðại Gia đã tăng gần một phần năm so với năm 2009, lên tới 500,000 người. Những người được coi là Ðại Gia thì phải có tài sản trên 10 triệu đồng nguyên, khoảng hơn một triệu rưỡi đô la Mỹ, không kể giá trị ngôi nhà họ đang cư ngụ. Ngân hàng trên tiên đoán năm nay cả nước Trung Hoa sẽ có 585,000 Ðại Gia.

Trong số những người Ðại Gia này, cuộc nghiên cứu cho biết có khoảng 60% đã hoặc đang làm thủ tục xin nhập cư một nước khác bằng cách đem vốn tới đầu tư. Tỷ lệ đó tăng cao hơn trong lớp người có tài sản cao nhất, từ 100 triệu nguyên trở lên. Trong đám Thượng Ðại Gia này, 47% đang tìm cách làm di dân, và 27% đã được một quốc gia khác công nhận làm di dân hợp pháp rồi. Bài phúc trình kết luận rằng đám người Ðại Gia ở Trung Quốc đang có phong trào “di dân qua ngả đầu tư” với tỷ lệ gia tăng 73% trong năm năm qua. Cuộc nghiên cứu thực hiện qua việc phỏng vấn hơn 2,600 người thuộc loại giầu có, và sử dụng các dữ liệu khác nữa. Bài báo dẫn lời nhà kinh tế Trọng Ðại Quân, (Zhong Dajun), đứng đầu một viện nghiên cứu ở Bắc Kinh, nhận xét rằng: “Chúng ta đã nỗ lực phát triển trong 30 năm qua, bây giờ bao nhiêu người kiếm được nhiều tiền nhất lại đem phần lớn tài sản của họ ra nước ngoài; số tiền mà họ đem đi còn lớn hơn số đầu tư ngoại quốc vào trong nước.” Ông ví hiện tượng đó cũng giống như một nhà nông trồng cây, nhưng đến mùa hái quả thì trái cây lại rơi xuống sọt nhà người khác!

Thời Báo Hoàn Cầu là một cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Trung Quốc, thuật lại một bài trên báo Thanh Niên, cũng của đảng, cho biết lý do khiến những người giầu có trên tìm cơ hội di dân là vì họ không cảm thấy an toàn khi sống ở quê hương. Mặc dù giầu nhất nước, nhưng họ làm giầu là nhờ có “quan hệ” với các quan chức trong đảng, và vì dựa vào một chế độ độc quyền cai trị nên họ sẽ khó làm ăn trong thị trường đích thực. Ðồng thời, họ cũng bất mãn vì cứ phải hối lộ quan trên mà vẫn bị công chúng phỉ nhổ. Một nhà buôn kim hoàn từ tỉnh Triết Giang, nay đã di cư sang Hồng Kông và xin giấu tên, nói với báo Thời Báo Hoàn Cầu rằng một nguyên nhân khiến ông di cư là mối lo lạm phát và giá nhà cửa tăng lên như quả bóng sẽ có ngày bùng nổ.

Phong trào “chạy của ra nước ngoài” này lên cao nhất vào năm 2008, là năm Bắc Kinh tung ra 600 tỷ Mỹ kim để “kích thích kinh tế,” đối phó với tình trạng hàng xuất cảng bị ế vì thế giới bên ngoài đang khủng hoảng. Số tiền đó được đưa cho các doanh nghiệp nhà nuớc đầu tư, xây dựng đường sá và cao ốc khắp nơi giúp cho công nhân bớt mất việc, có xí nghiệp nhà nước còn dùng tiền để đầu tư vào chứng khoán và địa ốc. Chính cơn sốt địa ốc trong hai năm qua đã khiến nhiều cá nhân trở thành đại gia vì trúng mối; trong đó có nhiều người đang tìm đường chạy! Trong 2 năm nữa, nhóm “Vương tôn Công tử,” như ông Tập Cận Bình, là con cái của các người lãnh đạo cũ, lên cầm đầu ở Trung Nam Hải. Họ tự nhiên có khuynh hướng bảo vệ các vương tôn công tử khác, do đó, nhiều nhà kinh doanh tư sẽ cảm thấy cần phải tìm cơ hội di cư hơn.

Một cuốn sách biểu lộ nỗi bất mãn của người Trung Hoa, nhưng lại nhắm thúc đẩy tinh thần đề cao chủng tộc được xuất bản năm 2009, nhan đề là “Trung Quốc Không Vui” (Trung Quốc Bất Cao Hứng), của một số tác giả đã vào năm 1996 từng in cuốn “Trung Quốc Dám Nói Không” (Trung Quốc Năng Cấu Thuyết Bất). Họ bày tỏ nỗi uất ức về địa vị của nước họ trên trường quốc tế, tuy không dám chỉ trích chính quyền nhưng đã viết thẳng rằng các nhà chính trị trong nước cũng toàn nói những lời rỗng tuếch không khác gì các chính trị gia ở Tây Phương. Cuốn sách mới này gây nhiều phản ứng bất đồng vì luận điệu đề cao văn minh Hán tộc và đổ tội cho người nước ngoài, khiến có độc giả đã phản ứng trên mạng, gọi nó là “xấp giấy vệ sinh quá đắt tiền!

Một cảnh bất công và cũng là một chướng ngại cho việc phát triển kinh tế ở Trung Quốc là do chế độ hộ khẩu gây ra. Mỗi người dân Trung Hoa trên nguyên tắc chỉ được cư ngụ ở nơi họ có hộ khẩu. Các nông dân lên thành phố tìm việc làm không được hưởng các chế độ xã hội, con cái không có quyền đi học, bệnh không được nhận vào nhà thương; họ trở thành những công dân hạng nhì so với dân thành phố. Tuần báo Người Kinh Tế (The Economist) mới thuật chuyện ở một thị xã Diêm Ðiền (Yan Tian) gần thành phố Ðồng Quan, có 100,000 dân nhưng chỉ một số nhỏ có hộ khẩu. Cũng như nhiều làng xã cổ ở Trung Quốc, đa số dân thuộc gia đình họ Ðặng với 3,000 người. Trong khi đó rất nhiều dân cư trong thị xã là người từ các nơi khác đến, có người di cư từ làng khác trong vùng tới, tất cả đều không được chấp nhận hộ khẩu. Người họ Ðặng lập ra luật lệ buộc quản lý các xí nghiệp hoạt động ở đây phải là “dân làng” tức là có hộ khẩu chính thức. Hậu quả là tất cả những người họ Ðặng không cần làm gì cũng sống khá giả! Họ chiếm đa số trong các cuộc bỏ phiếu bầu trong làng, và họ không chịu thay đổi những luật lệ này!

Chế độ hộ khẩu cản trở việc phát triển kinh tế vì làm cho thị trường nhân dụng cứng nhắc, không lưu hoạt, tạo cảnh bất công ưu đãi những người dân thành phố, nông dân bị thiệt thòi. Các thành phố lớn như Trùng Khánh, Thành Ðô đã thí nghiệm việc cải tổ chế độ này, nhưng không thành công, mà trái lại chỉ tạo thêm cơ hội tham nhũng cho các quan chức! Trên các báo cáo lý thuyết hiện nay một nửa dân số Trung Hoa lục địa sống ở các thành phố; nhưng tổng số người có hộ khẩu ở các thành phố chỉ là 35% dân số. Tức là có 15% dân số 1,300 triệu người sống trong cảnh không hộ khẩu. Một số thành phố Trung Cộng đã làm luật cấm di dân không hộ khẩu không được mua nhà (để không cho giá nhà tăng), và không được mua xe hơi (để tránh nạn kẹt xe), tất cả đều làm cho cảnh bất công trầm trọng hơn.

Vào đầu năm 2011, Vụ Thông Tin của chính phủ Bắc Kinh đã ra lệnh tất cả các mạng lưới không được phép đăng hoặc bình luận về một bản tin, nói “94% dân Trung Hoa không cao hứng vì tài sản được tập trung vào nhóm người ngồi ở trên cùng của xã hội.” Bản tin trên là do một cuộc nghiên cứu dư luận của Gallup, cho biết 82% dân Ðan Mạch nói họ thấy hạnh phúc, đứng hàng đầu, trong khi chỉ có 6% dân Trung Hoa nghĩ như vậy khiến Trung Quốc đứng hàng thứ 125.

Một quốc gia mà lòng dân đầy bất mãn như vậy khó gọi là một nước mạnh. Những hành động phô trương (sắp có hàng không mẫu hạm) hay đe dọa các nước láng giềng chỉ có tác dụng kích thích tự ái dân tộc để người dân Trung Hoa quên bớt những nỗi bất mãn. Nhưng còn những người giầu có tìm đường bỏ nước ra đi thì sao?

Gordon Chang cho biết rằng cơ quan thuộc Bộ Tài Chánh Mỹ phụ tách theo dõi các vụ chuyển ngân lậu cho biết trong một năm 2010 số tiền chuyển ngân bất hợp pháp từ Trung Quốc ra ngoài đã tăng vọt, mặc dù đã vi phạm luật kiểm soát ngoại tệ của nhà nước. Tổ chức tư nhân Financial Integrity ước đoán từ năm 2000 đến 2008, số tiền chạy ra khỏi nước Trung Hoa lên tới 2,180 tỷ đô la Mỹ. Tức là bằng 2 phần 3 tổng số dự trữ ngoại tệ của Ngân Hàng Nhân Dân Trung Quốc!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Cơn bão biểu tình tại Việt Nam

Hoàng Liên Sơn

BKL (04/07/2011) - Cứ mỗi chủ nhật tại Hà Nội và Sài Gòn, người dân lại sẵn sàng cho một cuộc biểu tình vì Hoàng Sa - Trường Sa với lời kêu gọi trên các trang báo mạng không lề. Cảnh tượng đầu tiên dễ nhận thấy là việc cấm đường hiển nhiên của nhà chức trách. Ở Việt Nam dường như đã quá quen với việc “cái gì không quản được thì cấm” nên sự chấp nhận của người dân cũng có phần ôn hoà đúng như tính chất của cuộc biểu tình.

Lực lượng cảnh sát, cơ động đón đầu theo sát đoàn biểu tình từng bước và sẵn sàng chia cắt theo chiến lược đã được vạch sẵn để đoàn biểu tình nhanh chóng bị chia rẽ, đồng thời tranh thủ như kiểu “đánh lén ” thỉnh thoảng “nuốt” vài người yêu nước. Cuộc chiến thực sự bắt đầu khi “đàn cừu ” phản kháng đòi thả tự do cho vài con cừu lỡ bị bày sói tham lam đánh tỉa. Do lo sợ một trận giáp lá cà chăng mà bày sói đã có sự nhượng bộ chấp nhận?Âu cũng coi như là thắng lợi vậy!

Đoàn biểu tình đi trong thời tiết nắng nóng và tủi cực như chính cảnh sống của người Việt Nam đương đại. Những ông già bà cả tuổi đã ngoài 70 dắt chiếc xe đạp có lẽ là từ thời bao cấp, đội trên mái đàu bạc trắng là những khẩu hiệu “HS–TS-VN” hay ”Chống Trung Quốc bành trướng xâm lược”. Nhìn nụ cười mãn nguyện của bậc cha ông mỗi khi thấy một người trẻ mang theo lá cờ tổ quốc, cất cao tiếng hát của dân tộc như một lời thề ”quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Đất nước cần thanh niên như dòng máu nóng của tuổi trẻ xây dựng nên bản sắc anh hùng Việt Nam. Nhưng một câu hỏi đặt ra là chúng ta chiến đấu vì cái gì? Vì sự bành trướng của Trung Quốc đã đến mức dân ta không còn chịu được? Và biểu tình chống Trung Quốc thì người dân sẽ được lợi gì? Nhà chức trách vì sao phải huy động lực lượng đông đúc đến vậy để theo dõi đoàn biểu tình ôn hoà đến mức vô hại kia? Ngàn đời nay Trung Quốc vẫn luôn lăm le chiếm Việt Nam với khát vọng của loài hổ đói. Khát vọng đó của Trung Quốc mạnh dần lên khi Việt Nam yếu dần đi. Trung Quốc ngày nay đang đánh giá Việt Nam vào thời kỳ yếu kém mạt vận?

Nhìn những dụng cụ mang theo cho đoàn biểu tình là những nhạc, những kèn, những lá cờ và những biểu ngữ khi thì khiêm tốn ở một trang giấy khổ nhỏ A4, khi thì to tát bằng tấm chăn đắp với tất cả hừng hực khí thế mạnh mẽ đầy quyết tâm. Đoàn biểu tình tự hào hai tiếng Việt Nam trong sự ngỡ ngàng đến ngơ ngác của những người du khách. Họ tranh thủ hỏi han và chụp ảnh vì ở Việt Nam khác với xứ họ, chuyện biểu tình là một chuyện hi hữu. Những thanh niên Việt Nam đang từng đôi từng cặp tự tình bên bờ hồ cũng tỏ ra quan tâm chú ý chuyện gì đang xảy ra nhưng chưa sẵn sàng nhập cuộc cùng đám đông vì do hiểu biết hạn chế và tâm lý sợ dính dáng đến pháp luật.

Đoàn biểu tình cứ đi trong không khí ôn hoà, và lực lượng công an cảnh sát cũng vẫn được tiếp tục huy động để giữ gìn an ninh hay đàn áp?. Một du khách nước ngoài người Nhật Bản trong lúc đoàn biểu tình chuẩn bị giải tán, các chiến sĩ áo vàng đang đứng hoặc ngồi nói chuyện nhàn tản đã tranh thủ hỏi chuyện “Excuse me, What is the Problem here?”(xin lỗi, ở đây xảy ra chuyện gì vậy ạ?). Anh công an trả lời đầy tự tin “no speak english”. Cô gái xin lỗi bằng tiếng anh và bỏ đi vì có thể hiểu được thứ tiếng anh của người làm việc cho pháp luật đã giải thích.

Pháp luật Việt Nam không thích nói tiếng anh và không cần nói tiếng anh là điều hiển nhiên mặc dù Việt Nam đã là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO. Dường như tiêu chí cho một Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế còn rất xa vời và chuyện Việt Nam còn phải đối mặt với các vụ kiện tại sân chơi lớn vẫn là chủ đề cũ đến quen thuộc.

Chứng kiến không khí biểu tình ngày 03.07 vừa qua còn có đông đảo đoàn thí sinh dự thi kỳ thi tuyển sinh đại học đang tranh thủ đi thăm Hà Nội trước khi bắt đầu vào những ngày thi quan trọng. Có những em ngỡ ngàng vì thấy một đám đông vừa đi vừa hô hai chữ Việt Nam nhưng chắc chỉ không lâu nữa, khi trở thành sinh viên ở mảnh đất nghìn năm văn hiến này các em sẽ thấy và học được những thứ mà trường học chưa bao giờ dạy. Chúng ta hãy kiên nhẫn, chờ đợi.

Ai cũng chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí vì quá khứ đớn hèn và ti tiện của mình, đến lúc nhắm mắt xuôi tay có thể cảm thấy tự hào vì cả cuộc đời đã sống một cách hữu ích, cống hiến sức lực cho sự nghiệp giải phóng con người.

Cơn bão biểu tình tại Việt Nam?

Cứ mỗi chủ nhật tại Hà Nội và Sài Gòn, người dân lại sẵn sàng cho một cuộc biểu tình vì Hoàng Sa -Trường Sa với lời kêu gọi trên các trang báo mạng không lề. Cảnh tượng đầu tiên dễ nhận thấy là việc cấm đường hiển nhiên của nhà chức trách. Ở Việt Nam dường như đã quá quen với việc “cái gì không quản được thì cấm” nên sự chấp nhận của người dân cũng có phần ôn hoà đúng như tính chất của cuộc biểu tình. Lực lượng cảnh sát, cơ động đón đầu theo sát đoàn biểu tình từng bước và sẵn sàng chia cắt theo chiến lược đã được vạch sẵn để đoàn biểu tình nhanh chóng bị chia rẽ, đồng thời tranh thủ như kiểu “đánh lén ” thỉnh thoảng “nuốt” vài người yêu nước. Cuộc chiến thực sự bắt đầu khi “đàn cừu ” phản kháng đòi thả tự do cho vài con cừu lỡ bị bày sói tham lam đánh tỉa. Do lo sợ một trận giáp lá cà chăng mà bày sói đã có sự nhượng bộ chấp nhận?Âu cũng coi như là thắng lợi vậy!

Đoàn biểu tình đi trong thời tiết nắng nóng và tủi cực như chính cảnh sống của người Việt Nam đương đại. Những ông già bà cả tuổi đã ngoài 70 dắt chiếc xe đạp có lẽ là từ thời bao cấp, đội trên mái đàu bạc trắng là những khẩu hiệu “HS-TS-VN” hay ”Chống Trung Quốc bành trướng xâm lược”. Nhìn nụ cười mãn nguyện của bậc cha ông mỗi khi thấy một người trẻ mang theo lá cờ tổ quốc, cất cao tiếng hát của dân tộc như một lời thề ”quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Đất nước cần thanh niên như dòng máu nóng của tuổi trẻ xây dựng nên bản sắc anh hùng Việt Nam. Nhưng một câu hỏi đặt ra là chúng ta chiến đấu vì cái gì? Vì sự bành trướng của Trung Quốc đã đến mức dân ta không còn chịu được? Và biểu tình chống Trung Quốc thì người dân sẽ được lợi gì? Nhà chức trách vì sao phải huy động lực lượng đông đúc đến vậy để theo dõi đoàn biểu tình ôn hoà đến mức vô hại kia? Ngàn đời nay Trung Quốc vẫn luôn lăm le chiếm Việt Nam với khát vọng của loài hổ đói. Khát vọng đó của Trung Quốc mạnh dần lên khi Việt Nam yếu dần đi. Trung Quốc ngày nay đang đánh giá Việt Nam vào thời kỳ yếu kém mạt vận?

Nhìn những dụng cụ mang theo cho đoàn biểu tình là những nhạc, những kèn, những lá cờ và những biểu ngữ khi thì khiêm tốn ở một trang giấy khổ nhỏ A4, khi thì to tát bằng tấm chăn đắp với tất cả hừng hực khí thế mạnh mẽ đầy quyết tâm. Đoàn biểu tình tự hào hai tiếng Việt Nam trong sự ngỡ ngàng đến ngơ ngác của những người du khách. Họ tranh thủ hỏi han và chụp ảnh vì ở Việt Nam khác với xứ họ, chuyện biểu tình là một chuyện hi hữu. Những thanh niên Việt Nam đang từng đôi từng cặp tự tình bên bờ hồ cũng tỏ ra quan tâm chú ý chuyện gì đang xảy ra nhưng chưa sẵn sàng nhập cuộc cùng đám đông vì do hiểu biết hạn chế và tâm lý sợ dính dáng đến pháp luật.

Đoàn biểu tình cứ đi trong không khí ôn hoà, và lực lượng công an cảnh sát cũng vẫn được tiếp tục huy động để giữ gìn an ninh hay đàn áp?. Một du khách nước ngoài người Nhật Bản trong lúc đoàn biểu tình chuẩn bị giải tán, các chiến sĩ áo vàng đang đứng hoặc ngồi nói chuyện nhàn tản đã tranh thủ hỏi chuyện ” Excuse me, What is the Problem here?”(xin lỗi, ở đây xảy ra chuyện gì vậy ạ?). Anh công an trả lời đầy tự tin “no speak english”. Cô gái xin lỗi bằng tiếng anh và bỏ đi vì có thể hiểu được thứ tiếng anh của người làm việc cho pháp luật đã giải thích.

Pháp luật Việt Nam không thích nói tiếng anh và không cần nói tiếng anh là điều hiển nhiên mặc dù Việt Nam đã là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO. Dường như tiêu chí cho một Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế còn rất xa vời và chuyện Việt Nam còn phải đối mặt với các vụ kiện tại sân chơi lớn vẫn là chủ đề cũ đến quen thuộc.

Chứng kiến không khí biểu tình ngày 03.07 vừa qua còn có đông đảo đoàn thí sinh dự thi kỳ thi tuyển sinh đại học đang tranh thủ đi thăm Hà Nội trước khi bắt đầu vào những ngày thi quan trọng. Có những em ngỡ ngàng vì thấy một đám đông vừa đi vừa hô hai chữ Việt Nam nhưng chắc chỉ không lâu nữa, khi trở thành sinh viên ở mảnh đất nghìn năm văn hiến này các em sẽ thấy và học được những thứ mà trường học chưa bao giờ dạy. Chúng ta hãy kiên nhẫn, chờ đợi.

Ai cũng chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí vì quá khứ đớn hèn và ti tiện của mình, đến lúc nhắm mắt xuôi tay có thể cảm thấy tự hào vì cả cuộc đời đã sống một cách hữu ích, cống hiến sức lực cho sự nghiệp giải phóng con người.

Tham gia biểu tình tại Hà Nội, 03/07/2011

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Chính trường Thái Lan ra sao thời hậu bầu cử
Em gái cựu thủ tướng bị lật đổ Thaksin lãnh đạo phe đối lập giành chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử ngày 3/7, hứa hẹn đem lại cho Thái Lan sự ổn định và hoà giải, nhưng chính trường nước này vẫn tiềm ẩn nhiều bất trắc.
Sau khi giành chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên tại Thái Lan kể từ năm 2007, đảng Pheu Thai do bà Yingluck Shinawatra đứng đầu tuyên bố lập một liên minh với 4 đảng nhỏ, dù Pheu Thai giành được 265 ghế trên tổng số 500 ghế của quốc hội, đủ để có thể tự mình lập chính phủ.

Tuy nhiên, chiến lược liên minh của Pheu Thai nhằm kiểm soát được 60% ghế của quốc hội giúp đảm bảo một chính phủ ổn định trong tương lai và tạo điều kiện cho bà Yingluck dễ dàng hơn trong việc thúc đẩy những cam kết cải cách đã đưa ra trong quá trình vận động tranh cử.
Image
Thủ tướng tương lai của Thái Lan Yingluck Shinawatra. Ảnh: AFP.
Cái bóng của Thaksin

Những cuộc đàm phán phân chia nội các giữa Pheu Thai với các đảng trong liên minh đang được tiến hành, trong đó Pheu Thai nhắm các ghế chủ chốt như Bộ trưởng Nội vụ, Quốc phòng, Tài chính, Ngoại giao và Vận tải. Những vị trí này đóng vai trò quyết định trong việc thực thi chính sách kinh tế của đảng và cũng có thể mở đường cho khả năng trở về của Thaksin.

Thaksin Shinawatra, người hùng trong mắt những người thuộc tầng lớp nghèo và sống ở vùng nông thôn của Thái Lan, từng hai lần đắc cử ghế thủ tướng trong các năm 2001 và 2005. Nhưng tháng 9/2006, ông này bị lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự rầm rộ và đang phải sống lưu vong tại Dubai, nhằm tránh án tù 2 năm vì tội tham nhũng.

Dù sống ở nước ngoài, ảnh hưởng của Thaksin vẫn bao trùm toàn bộ quá trình bầu cử tại Thái Lan vừa qua. Ông này được cho là lãnh đạo trên thực tế của đảng Pheu Thai và chiến thắng vang dội của đảng này mang nhiều dấu ấn cá nhân cũng như thương hiệu chính trị của anh trai bà Yingluck Shinawatra.

Chiến thắng cách biệt của Pheu Thai đã xoá tan lo ngại sẽ có bất ổn sớm tại Thái Lan nếu không có đảng nào chiếm ưu thế. Nhưng giới phân tích nhận định bầu không khí yên bình sẽ sớm chấm dứt, nếu Pheu Thai tìm cách ân xá để dọn đường cho Thaksin trở về như một công dân tự do. Động thái này có thể châm ngòi cho sự bất bình của phe quân đội, lực lượng từng hất cẳng Thaksin trước đây.

Những người ủng hộ Thaksin ca ngợi ông là chính trị gia duy nhất có thể giải quyết những khó khăn mà họ đang phải đối mặt, trong khi những người phản đối thì coi ông là kẻ mị dân, tham nhũng và nguy hiểm.

Biết rõ những hậu quả nếu đề cập đến tương lai của Thaksin quá sớm sau bầu cử, nên Pheu Thai đã ra một tuyên bố chính thức nói rằng họ không ủng hộ một lệnh ân xá cho cựu thủ tướng. Bản thân Thaksin cũng nhanh chóng làm giảm nhẹ mối lo ngại khi tuyên bố hạnh phúc với cuộc sống tại Dubai và muốn nghỉ hưu, đồng thời khẳng định không có kế hoạch quay lại ghế thủ tướng.

Tuy nhiên, những động thái trên chưa thể làm yên lòng phe đối lập Thái Lan vì mối quan hệ anh em ruột thịt giữa lãnh đạo Pheu Thai với Thaksin. Những người chỉ trích bà Yingluck vẫn giữ nguyên sự nghi ngờ và họ lo ngại bà sẽ tìm cách để anh trai được xoá các tội danh bị toà án tuyên trước đây.

Vai trò của quân đội

Quân đội từ lâu đã đóng vai trò trung tâm trong nền chính trị Thái Lan. Kể từ khi Thaksin bị các tướng lĩnh lật đổ trong cuộc đảo chính không đổ máu năm 2006, đất nước Đông Nam Á này đã chìm sâu trong sự chia rẽ giữa phe áo đỏ ủng hộ Thaksin và phe áo vàng bảo hoàng căm ghét chính trị gia này.

Năm ngoái, quân đội đã phải ra tay để trấn áp các cuộc biểu tình chống chính phủ kéo dài của phe áo đỏ, sự kiện làm hơn 90 người thiệt mạng và được coi là nội chiến tại Thái Lan. Ngay sau khi chiến thắng, bà Yingluck Shinawatra thuộc phe áo đỏ đã tuyên bố vấn đề khẩn cấp đầu tiên cần phải giải quyết là làm sao đem đến sự hoà giải cho đất nước.

Trong bối cảnh đó, quân đội Thái tuyên bố ủng hộ kết quả bầu cử và cam kết đứng ngoài cuộc để các chính trị gia làm phận sự của mình. BBC dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng sắp mãn nhiệm Prawit Wongsuwan nhấn mạnh, quân đội sẽ không làm bất cứ điều gì có thể làm tổn hại đến đất nước.

Tuy nhiên vẫn có những lo ngại về việc quân đội sẽ làm gì khi kết quả bầu cử cho thấy phe áo đỏ ủng hộ Thaksin, người mà họ lật đổ trước đây, giành chiến thắng. Do đó việc quân đội có thực sự đứng ngoài chính trường Thái Lan trong tương lai hay không, phụ thuộc nhiều vào việc Thaksin có quyết định đứng ngoài cuộc hay sẽ lại dấn thân vào chính trường.
Image
Cựu thủ tướng Thaksin Shinawatra tại Dubai. Ảnh: AFP.
Những tác động kinh tế
Thị trường chứng khoán Thái Lan và đồng Bath đều tăng giá trị vì những kỳ vọng về sự ổn định chính trị sau khi đảng của em gái Thaksin giành chiến thắng áp đảo trong cuộc tổng tuyển cử hôm chủ nhật. Bản thân bà Yingluck cũng được biết đến nhiều với tư cách là một doanh nhân thành đạt dù ít kinh nghiệm chính trường.

Nhưng giới lãnh đạo doanh nghiệp Thái cũng bày tỏ mối lo ngại về việc liệu đất nước có thể tiến hành các cải cách dân tuý mà đảng Pheu Thai đã cam kết hay không. Đảng mới chiến thắng hứa sẽ nâng mức lương tối thiểu, cải thiện kết nối giao thông tới khu vực miền bắc đất nước, mở rộng dịch vụ và giảm chi phí chăm sóc y tế, đồng thời tiếp tục quan tâm đến khu vực nông thôn. Pheu Thai còn hứa sẽ cung cấp máy tính bảng cho khoảng 800.000 học sinh mới mỗi năm.

Những biện pháp cải cách dân tuý nói trên sẽ đòi hỏi một khoản chi tiêu bổ sung khổng lồ và có thể kích thích nền kinh tế Thái Lan, nền kinh tế lớn thứ hai tại Đông Nam Á. Tuy nhiên, theo giới phân tích, đây cũng sẽ là nguyên nhân khiến chính phủ mới của Thái Lan phải đối mặt với mức thâm hụt ngân sách lớn hơn dự toán, đồng thời đẩy mạnh nợ công và tăng sức ép lạm phát.

Đình Nguyễn

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Ðòi quyền hội họp, quyền thông tin tự do

Ngô Nhân Dụng



Hai bản ý kiến mới được công bố trong vòng hai tuần lễ cho thấy giới trí thức Việt Nam đã mạnh bạo nhập cuộc trong việc tranh đấu của người dân Việt trước những hành động gây hấn mới của Trung Quốc tại biển Ðông. Nhưng đằng sau những đòi hỏi vì lòng yêu nước đó, các nhà trí thức cũng nêu lên và đòi thực hiện những quyền tự do căn bản mà người dân Việt chưa được hưởng: Tự do hội họp và tự do thông tin.

Những bản ý kiến này thực ra chỉ nhắc lại một cách chính thức các ý kiến đã được nêu lên trong các blog do nhiều nhà trí thức và văn nghệ sĩ đã thực hiện gần đây, như các ông Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Xuân Diện, Tô Hải, vân vân. Bản ý kiến thứ nhất được làm tại Sài Gòn ngày 25 Tháng Sáu, mang tên là một Tuyên Cáo “Về Việc Nhà Cầm Quyền Trung Quốc Liên Tục Có Những Hành Ðộng Gây Hấn, Xâm Phạm Nghiêm Trọng Chủ Quyền Và Toàn Vẹn Lãnh Thổ Việt Nam Trên Biển Ðông.”

Sau khi lên án nhà cầm quyền Trung Cộng với những hành động gây hấn nhằm xâm chiếm biển Ðông, sau khi tuyên bố ủng hộ các cuộc biểu tình của đồng bào, tuyên cáo này nhấn mạnh “biện pháp đấu tranh hiệu quả nhất vẫn là phải dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc, của tất cả mọi người Việt Nam yêu nước ở trong nước cũng như ở ngoài nước.” Ðó là xác định không ai được chiếm độc quyền yêu nước. Nhưng ý kiến cụ thể nhất là nói với nhà cầm quyền ở Việt Nam “không vì lý do gì ngăn chặn những hành động yêu nước của nhân dân bao gồm các cuộc biểu tình, mít tinh ôn hòa, trật tự của thanh niên, sinh viên học sinh và đồng bào Việt Nam trên toàn quốc.” Nói cách khác, người Việt Nam phải có quyền tự do hội họp để phát biểu ý kiến khi cần bảo vệ tổ quốc.

Bản ý kiến thứ nhì là một kiến nghị gửi Bộ Ngoại Giao ngày 4 Tháng Bẩy 2011, “Yêu Cầu Bộ Ngoại Giao Cung Cấp Thông Tin Liên Quan Ðến Quan Hệ Với Trung Quốc.”

Giống như bản tuyên cáo trước đó, kiến nghị này dựa trên một sự kiện cụ thể gần đây, là một bản tin bằng tiếng Anh của Tân Hoa Xã ngày 28 Tháng Sáu 2011 loan báo cuộc gặp gỡ giữa ông Hồ Xuân Sơn, thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Việt Nam, với ông Trương Chí Quân, thứ trưởng Bộ Ngoại Giao về phía nhà nước Trung Quốc, và ông Ðới Bỉnh Quốc, ủy viên Bộ Chính Trị đặc trách về ngoại giao trong đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Bản tin Tân Hoa Xã nói rằng trong các cuộc gặp gỡ trên hai chính quyền đều “...phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam...” Nếu đúng như vậy thì hai đảng Cộng Sản đã tước bỏ quyền của nước Việt Nam nếu muốn liên minh với các nước Ðông Nam Á hay các cường quốc khác khi phải đối đầu với Bắc Kinh! Và Tân Hoa Xã viết tiếp là hai bên “nguyện sẽ tích cực hướng dẫn công luận và ngăn ngừa những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nghị và sự tin cậy...” Lời “nguyện” này rõ ràng là lời Bắc Kinh bắt chính quyền Hà Nội phải ngăn chặn các cuộc biểu tình của dân phản đối các hành động gây hấn của Trung Quốc. Nếu thực hiện lời “nguyện” này, đảng Cộng Sản đã mặc nhiên nghe lệnh Bắc Kinh bác bỏ lời yêu cầu tự do hội họp nêu trong bản tuyên cáo thứ nhất, giống như họ vẫn làm trước đây.

Bản tin của nhà nước Trung Quốc còn nhấn mạnh, “Những hồ sơ lịch sử của Trung Quốc đã cho thấy rằng năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã khẳng định các hòn đảo trên Biển Hoa Nam như là bộ phận thuộc lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc, và kế đó Thủ Tướng Việt Nam Phạm Văn Ðồng đã bày tỏ sự tán đồng trong bức thư ngoại giao ngắn của mình gửi tới thủ tướng khi đó là ông Chu Ân Lai.” Bản tin Tân Hoa Xã không cho biết ông Hồ Xuân Sơn đã phản ứng thế nào khi được nhắc nhở điều đó. Những người ký kiến nghị nhận xét: “Những thông tin trên chúng tôi không thấy đăng trên báo chí của Việt Nam.”

Chính vì thấy bản tin của thông tấn xã nhà nước cộng sản ở Việt Nam không hề nói đến các chi tiết trên, cho nên những người ký kiến nghị đã yêu cầu phải công bố tất cả những thỏa thuận giữa ông Hồ Xuân Sơn và chính quyền và đảng Cộng Sản Trung Quốc; đặc biệt là thỏa thuận cấm dân Việt bày tỏ ý kiến và lời cam kết không mời nước nào khác tham dự các cuộc hội đàm về hải đảo.

Những nhà trí thức đưa ra các đòi hỏi trên nhân danh hai điều ghi trong Hiến Pháp năm 1992, Ðiều 53 nói: “Công dân có quyền... tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước,...”, và Ðiều 69 nói: “Công dân... có quyền được thông tin;...”

Hai bản tuyên cáo và kiến nghị trên đây đánh dấu một chuyển biến trong nhiều nhà trí thức trong nước, trong đó một số từng là đảng viên cộng sản hoặc đã ủng hộ chế độ cộng sản. Ðó cũng chỉ là một bước tiến trong quá trình phản kháng của giới trí thức Việt Nam gần đây, khi họ lên tiếng đòi các quyền tự do dân chủ cho đồng bào. Những người làm blog từng nêu lên những ý kiến giống như vậy sớm hơn, và còn đi xa hơn nữa. Những người đã đấu tranh trong vòng pháp luật như Nguyễn Văn Ðài, Nguyễn Vũ Hải, Nam Phương, Tạ Phong Tần, vân vân, còn đưa ra những đòi hỏi cụ thể với tính chất toàn diện và căn bản hơn nữa. Tất cả phong trào tranh đấu trên mặt trận tư tưởng, tác động trên dư luận trong mấy năm nay cũng có thể coi là đã noi theo truyền thống của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm ở Hà Nội trước đây hơn nửa thế kỷ. Năm 1958 chế độ chuyên chính đã dập tắt phong trào Nhân Văn Giai Phẩm và đày đọa những Phùng Quán, Trần Dần, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Hữu Ðang, Ðặng Ðình Hưng. Năm nay, người Việt Nam sẽ không cho phép tái diễn hành động đó.

Trong những năm 1955, 56, các văn nghệ sĩ và trí thức Nhân Văn Giai Phẩm chưa nêu lên vấn đề quyền làm người, một khái niệm mà ngày nay đương nhiên ai cũng phải quan tâm. Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm cũng chỉ giới hạn trong việc tranh đấu để giới trí thức văn nghệ được góp ý kiến với đảng cộng sản trong việc lãnh đạo văn nghệ. Ngày nay, phong trào trí thức tranh đấu mới đòi hỏi thực hiện các quyền làm người, cụ thể nhất là những quyền căn bản như tự do hội họp, tự do thông tin, cho tất cả mọi người dân Việt.

Những đòi hỏi tự do của các nhà trí thức sẽ ảnh hưởng lâu dài trên tương lai đất nước nếu được đấu tranh bền bỉ cho tới khi đảng cộng sản phải nhượng bộ. Chỉ cần một quyền tự do được thể hiện, như quyền tự do hội họp, là có thể sẽ có một bước ngoặt mở đầu một trang mới trong lịch sử đất nước. Trong 5 tuần lễ qua, người dân Hà Nội đã đi biểu tình liên tiếp để bày tỏ lòng yêu nước trước các hành động ngang ngược và thái độ xấc láo của chính quyền Trung Cộng. Ðiều cốt yếu trong yêu cầu tự do hội họp này là đòi quyền tự do yêu nước, không còn để cho một nhóm người chiếm độc quyền nữa. Nhưng đó cũng là tiếng nói đòi cho mọi người dân quyền tập họp và phát biểu những nguyện vọng chính đáng. Ngày Chủ Nhật vừa qua, đoàn người biểu tình đã tiến đến trước Nhà Hát Lớn Hà Nội, một địa điểm đã chứng kiến lịch sử Việt Nam thay đổi. Chúng ta không quên rằng cuộc biểu tình ngày 19 Tháng Tám năm 1945 do giới trí thức tiểu tư sản Hà Nội tổ chức cũng khởi đầu tại Nhà Hát Lớn, trước khi bị các cán bộ cộng sản “cướp diễn đàn.” Tại Sài Gòn, thanh niên cũng đã biểu tình chống Trung Quốc trên các đường mang tên cũ là Duy Tân, Thống Nhất, nơi đã xuất phát các cuộc biểu tình chống Hiến Chương Vũng Tầu năm 1964, biểu tình đòi bầu cử Quốc Hội lập hiến năm 1966, mà từ đó mới thiết lập bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa năm 1967. Những địa điểm trên đã đi vào lịch sử, và sẽ còn làm lịch sử. Ðảng Cộng Sản Việt Nam biết khó kiểm soát người dân Sài Gòn, trong đó có những người đã từng đi theo cộng sản trong thời chiến, cho nên công an Sài Gòn đã đàn áp mạnh mẽ hơn trong hai tuần qua, các người tổ chức biểu tình đã bị chặn lại từ khi chưa bắt đầu. Nhưng dân Hà Nội vẫn được phép tụ họp, chứng tỏ nhà nước cộng sản đã phải nhượng bộ trước tinh thần bất khuất của người dân.

Khi người dân một nước tự đứng ra thực hiện quyền hội họp tự do, một xã hội công dân sẽ thành hình, làm động lực thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa. Chúng ta biết rằng Phong trào Công Ðoàn Solidarnos tự phát ra đời năm 1980 cũng là một biểu hiện cụ thể của xã hội công dân ở Ba Lan. Trước đó, ở Ba Lan chỉ có giáo hội Công Giáo đứng bên ngoài guồng máy kiểm soát của nhà nước, tạo được một không gian tư và “dễ thở.” Lần đầu tiên năm 1980 mới có một tổ chức đứng ngoài guồng máy đảng cộng sản, Solidarnos vừa độc lập vừa tự nguyện, tự giành lấy quyền hoạt động công đoàn và đảng Cộng Sản Ba Lan cũng phải nhượng bộ. Nhờ những hoạt động của xã hội công dân như thế mà quá trình dân chủ hóa ở Ba Lan từ năm 1990 đã tiến nhanh hơn nhiều nước cựu cộng sản khác. Một Xã hội Công dân gồm các tổ chức độc lập và tự nguyện phát xuất từ những khát vọng và nhu cầu cụ thể của người dân, là căn bản để xây dựng nếp sống dân chủ. Nó khác với xã hội dân sự trong đó bao gồm cả guồng máy hành chính dân sự và các tổ chức phụ dân sự do chính quyền dựng lên, tiếng gọi là tư nhân nhưng hoàn toàn lệ thuộc đảng cầm quyền.

Nhưng bản kiến nghị ngày 4 Tháng Bẩy 2011 còn nêu lên một đòi hỏi lớn là yêu cầu chính quyền Cộng Sản Việt Nam xác định lập trường của họ đối với lá thư Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958. Như nhiều lần đã trình bày trong mục này, muốn lên tiếng nói được quốc tế kính trọng, nhà cầm quyền ở Việt Nam phải xác định dứt khoát rằng lá thư của Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958 là vô giá trị. Lúc đó, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền cai quản của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, ông Phạm Văn Ðồng đứng đầu một chính phủ chỉ cai trị phía Bắc vĩ tuyến 17 cho nên không có thẩm quyền trên các đảo đó. Mặc dù ông Phạm Văn Ðồng có viết thư nói ông đồng ý với ông Chu Ân Lai, nhưng về một vấn đề lãnh thổ quốc gia, văn kiện đó không phải là một hiệp ước, không được một Quốc Hội nào của nước Việt Nam thông qua, thì cũng vô giá trị. Ngược lại, hành động đánh chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc đầu năm 1974, việc đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa năm 1988 rõ rệt là những cuộc tấn công xâm lược của quân đội Trung Hoa đối với các hải đảo thuộc nước Việt Nam. Xác định những điều trên là một dịp để đảng cộng sản tạ tội đối với tổ tiên, với các thế hệ tương lai, về một hành động lầm lẫn trong quá khứ.

Tháng Tám năm 1945, khi các công chức thành phố Hà Nội, thuộc bộ máy hành chánh của chính phủ Trần Trọng Kim, tổ chức mít tinh ở Nhà Hát Lớn, giấc mộng của toàn dân là giành độc lập quốc gia. Cuộc mít tinh đó đã bị chiếm đoạt, đảng cộng sản sau đó đã cướp quyền lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, đưa đến cảnh cốt nhục tương tàn. Bây giờ người dân Việt Nam còn tự hỏi trong 55 năm qua nước mình có thực sự độc lập toàn vẹn hay vẫn luôn luôn bị ngoại bang thao túng; mà chính vì thế đã đưa tới cảnh cốt nhục tương tàn? Người trí thức Việt Nam bây giờ khi tiến đến Nhà Hát Lớn Hà Nội, chắc không phải chỉ nghĩ đến ước vọng quốc gia độc lập thực sự mà còn phải biết đòi hỏi những quyền tự do căn bản cho mọi người dân Việt được sống xứng đáng với phẩm giá làm người. Tự do thông tin, tự do hội họp, là những quyền căn bản để thực hiện các quyền tự do bỏ phiếu chọn những chính phủ của dân, do dân và vì dân đích thực.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Trung Quốc bác tin đồn Giang Trạch Dân qua đời

Image
Cựu Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân. Ảnh: BBC.
Hãng thông tấn trung ương Trung Quốc bác bỏ thông tin cựu Chủ tịch nước Giang Trạch Dân đã từ trần và khẳng định đây hoàn toàn là "tin đồn."
Suốt hôm qua, có nhiều tin đồn lan trên mạng rằng nhà lãnh đạo 84 tuổi này đã qua đời. Ngày 7/7, Tân Hoa Xã bác bỏ các tin trên và nói rằng họ dẫn lời "những nguồn tin có thẩm quyền".

"Tin tức gần đây của một số cơ quan truyền thông nước ngoài nói rằng ông Giang Trạch Dân đã từ trần vì ốm nặng hoàn toàn là tin đồn," Tân Hoa Xã khẳng định.
Thông tin bác bỏ này cũng nhanh chóng được đăng lại trên CNN.

Ông Giang Trạch Dân là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc trong 13 năm và là Chủ tịch nước trong 10 năm. Dưới sự lãnh đạo của ông, Trung Quốc bắt đầu trở thành nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới.

Cũng trong thời gian ông nắm quyền, Hong Kong trở về với Trung Quốc từ tay Anh và Macau trở về từ tay Bồ Đào Nha.

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Cuộc tranh luận về nợ nần ở Mỹ

Ngô Nhân Dụng

Hôm qua 7 tháng 7, Tổng Thống Barack Obama gặp các lãnh tụ thuộc hai đảng trong hai viện Quốc Hội Mỹ để tìm cách thỏa hiệp về việc nâng cao mức trần, cho phép chính phủ Mỹ được vay nợ trên con số tối đa hơn 14 ngàn tỷ Mỹ kim hiện nay.

Ðây là lần đầu tiên ông Obama tham dự chính thức vào cuộc thương thuyết này. Trước đây Phó Tổng Thống Biden phụ trách nói chuyện với Quốc Hội, cho tới khi các đại biểu Cộng Hòa từ chối không thảo luận nữa.

Tại sao chính phủ Mỹ cần Quốc Hội cho phép vay thêm nợ ngay? Vì mức nợ hiện giờ đã “đụng trần” rồi, đi vay thêm là phạm luật. Nhưng nếu không được vay nợ thêm thì nước Mỹ có thể sẽ lâm vào cảnh “vỡ nợ.” Cũng như quý vị đang vay nợ, khi đáo hạn là phải trả tiền lãi và vốn. Một chính phủ với các món nợ khổng lồ, phải liên tiếp vay nợ các khoản mới để trả các món nợ cũ, chưa kể việc đi vay để chi tiêu vì ngân sách khiếm hụt (thu ít, chi nhiều). Ðến ngày 2 tháng 8 sắp tới này, nếu không được phép vay nợ thêm, chính phủ Mỹ sẽ không hoàn trả được nhiều món nợ đáo hạn, theo định nghĩa là vỡ nợ.

Nếu chính phủ Mỹ vỡ nợ, kinh tế toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng; vì người ta vẫn coi việc đem tiền cho chính phủ Mỹ vay là cách đầu tư an toàn nhất; là chỗ trú ẩn cho đồng tiền cho qua những cơn bão tố tài chánh. Hiện nay cả thế giới đang là chủ nợ của nước Mỹ, trong đó Trung Quốc đang cầm những giấy nợ tổng cộng hàng ngàn tỷ Mỹ kim. Khi đi vay lẫn nhau hoặc vay các ngân hàng, các nước đều có thể dùng giấy nợ của chính phủ Mỹ làm vật thế chấp. Nếu các giấy nợ của Mỹ mà mất giá trị thì đồng đô la cũng sụp đổ, dòng tiền tệ trên thế giới sẽ bị ngưng đọng, hoặc tê liệt, một điều không ai dám tưởng tượng! Ðó là chưa kể, mỗi ngày chính phủ liên bang phải chi ra bốn tỷ đô la, không có tiền vô thêm là guồng máy nhà nước chết cứng! Cho nên, thế nào rồi chính quyền Obama và Quốc Hội Mỹ cũng phải tiến đến thỏa hiệp.

Nhưng việc nâng mức trần của tổng số nợ quốc gia không phải là một hiện tượng mới mẻ, tự dưng vừa mới xuất hiện. Trong 8 năm Tổng Thống Gorges W. Bush ngồi ở Tòa Bạch Ốc, Quốc Hội đã đồng ý nâng mức nợ quốc gia lên tất cả 7 lần! Thật ra, nếu ngân sách không thiếu hụt nặng như hiện nay, thì chỉ cần ảnh hưởng của lạm phát khiến đồng tiền mất giá không thôi, bình thường người ta vẫn phải nâng mức nợ tối đa lên. Nếu lạm phát khiến giá cả tăng 3% thì mức nợ tối đa cũng phải tăng 3% mới giữ đúng mức trần cũ, nếu không thì coi như cái trần nhà đã bị hạ thấp xuống 3%!

Vậy tại sao vấn đề có thể coi là bình thường này bỗng dưng trở nên trầm trọng như vậy? Vì các đại biểu Quốc Hội thuộc đảng Cộng Hòa muốn nhân dịp này yêu cầu chính phủ phải là sao cho việc quản lý tài chánh quốc gia cho được lành mạnh và vững chắc hơn. Cụ thể, họ muốn đạo luật cho phép nâng cái trần nợ lên cao phải kèm theo những điều kiện cắt bớt chi tiêu của guồng máy nhà nước liên bang, để giảm bớt số khiếm hụt ngân sách. Khi Tổng Thống Bush lên chấp chánh năm 2001, ngân sách nước Mỹ đang thặng dư; khi ông Obama lên thay thế, ngân sách thâm thủng nặng nề chưa từng thấy. Cả nước Mỹ lo lắng về cảnh khiếm hụt đó, ai cũng đồng ý phải quay lại tình trạng ngân sách cân bằng.

Nhưng có hai cách để cân bằng ngân sách. Một là giảm chi; hai là tăng thu. Bất đồng ý kiến giữa hai đảng trong Quốc Hội khiến việc thương thuyết bế tắc là do bên Cộng Hòa chăm chú nhắm vào việc giảm chi, trong khi phía Dân Chủ nhấn mạnh đến việc tăng thu.

Cả hai đảng đều nêu cao ngọn cờ “cân bằng ngân sách” nhưng muốn đi qua những con đường khác hẳn nhau. Số khiếm hụt ngân sách của chính phủ liên bang năm ngoái đã lên tới trên 200 ngàn tỷ Mỹ kim. Nhưng mối lo chính là ngân sách sẽ càng ngày càng khiếm hụt nặng nề hơn, khi gần 80 triệu người thuộc thế hệ “bùng nổ trẻ sơ sinh” (baby boomers) tới tuổi về hưu. Thế hệ này ra đời sau Ðại Chiến Thứ Hai, sẽ phải cấp hưu bổng xã hội cho họ và chữa bệnh cho họ. Quỹ hưu bổng xã hội và chi phí cho các chương trình y tế của chính phủ hiện chiếm gần 40% các món chi tiêu của nhà nước, các món chi tiêu đó sẽ tăng vọt lên. Cứ mỗi người già bước vào tuổi về hưu sẽ làm tốn cho ngân sách quốc gia trung bình 40,000 đô la một năm, tổng cộng các món Social Seccurity, Medicare và Medicaid (ở California gọi là Medical). Cứ như thế nhà nước sẽ hết tiền chi cho các chương trình dân sự khác!

Muốn tránh thảm họa đó, phải tăng số thu nhập của nhà nước, qua những khoản thuế lợi tức cá nhân, thuế doanh nghiệp, thuế hưu bổng xã hội và y tế, thuế đánh trên di sản. Chính quyền Obama đã đề nghị bãi bỏ những khoản trợ cấp cho các công ty dầu lửa và hơi đốt, trợ cấp dưới hình thức miễn thuế; và lấp các lỗ hổng giảm thuế cho các người giầu. Một số đại biểu Dân Chủ đề nghị tăng thuế ngay trên những người lợi tức trên 250,000 đô la một năm. Phía Cộng Hòa cực lực phản đối việc tăng số thu trên thuế má, và muốn chính phủ phải cắt những khoản chi tiêu đặc biệt là những chương trình xã hội, y tế và hưu bổng.

Muốn tiến đến cân bằng ngân sách thì guồng máy chính phủ liên bang phải chọn, hoặc tăng số thu thêm 64%, hoặc giảm số chi tiêu 40% không kể các số tiền chỉ dùng để trả lãi cho các món nợ của chính phủ.

Nếu chính phủ và Quốc Hội Mỹ trì hoãn, không tăng thu và giảm chi ngay bây giờ mà đợi 20 năm nữa mới bắt đầu, thì trong 20 năm nữa sẽ phải tăng thu thêm 77% hoặc giảm chi bớt 46%. Cắt bây giờ thì những người đang tuổi 65 đến 100 sẽ bị thiệt thòi, họ sẽ kêu trời lên mà phản đối. Nhưng nếu trì hoãn đến năm 2031 mới cắt thì thế hệ con em họ, bây giờ 45 đến 50 tuổi, sẽ bị cắt nặng nề hơn, và những người trẻ hơn sẽ bị tăng thuế nặng nề hơn!

Nếu đến lúc đó còn chần chừ mà đợi thêm 20 năm nữa thì lúc đó phải tăng thu, tức là tăng thuế 93% hoặc giảm chi, các dịch vụ mà guồng máy nhà nước cung cấp cho dân chúng sẽ bị cắt bớt khoảng 53%! Thế hệ con và cháu nội cháu ngoại của các cụ sẽ phải chịu đựng! Tức là càng trì hoãn các biện pháp cân bằng ngân sách thì các thế hệ sau càng phải chịu hậu quả nặng nề, hoặc tăng thuế, hoặc bị giảm bớt các dịch vụ y tế, xã hội! Có một bức tranh hài hước vẽ cảnh một bệnh nhân già nằm trên giường, bà bác sĩ đứng bên trấn an: “Cụ đừng lo. Các hóa đơn chữa bệnh mai mốt sẽ được các con và cháu cụ thanh toán!”

Hiện nay, hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ vẫn nhất định không ai chịu thua ai. Bên Cộng Hòa tuyên bố quyết tâm không tăng thuế bất cứ người nào, giầu cũng như nghèo, kể cả những khoản trợ cấp hiện cho các hãng dầu cũng không được bỏ. Bên Dân Chủ không muốn cắt bớt các chi phí xã hội. Ông Obama tất nhiên cùng quan điểm với các đại biểu Quốc Hội Dân Chủ; nhưng ông đứng ngoài cuộc tranh luận để chờ tới khi hai phe trong Quốc Hội bế tác, ông mới chính thức can dự, với cuộc họp tại Tòa Bạch Ốc ngày hôm qua. Với vai trò người đứng đầu Hành pháp, ông Obama có thể đề nghị một số cắt giảm trong ngân sách để thỏa mãn các đại biểu Cộng Hòa, và ông sẽ yêu cầu họ đáp lễ bằng một số khoản tăng thu mà bên Cộng Hòa vẫn chống lại. Cuộc thương thuyết sẽ kéo dài, nhưng thế nào cũng đến lúc phải đưa tới một thỏa hiệp trong hai tuần lễ, trước ngày 22 tháng 7 này. Vì sau khi hai bên đồng ý với nhau rồi sẽ cần thời gian để viết các điều được thỏa hiệp ra thành dự luật. Mà trong khi diễn tả các chi tiết trong dự luật thì người ta sẽ còn tranh cãi nhau từng chữ, từng câu.

Cuối năm ngoái, nước Mỹ đã trải qua một kinh nghiệm tương tự. Hai đảng trong quốc hội, Cộng Hòa kiểm soát Hạ Viện và Dân Chủ chiếm đa số ở Thượng Viện, hoàn toàn bất đồng ý kiến về việc triển hạn các đạo luật cắt thuế năm 2001 và 2003 của cựu Tổng Thống Bush. Dân Chủ muốn chỉ tiếp tục cắt thuế cho những người lợi tức dưới 250,000 đô la một năm thôi, Cộng Hòa muốn vẫn cắt tất cả. Tổng Thống Obama đã đợi tới phút chót mới tham dự, đồng ý triển hạn cho tất cả, nhưng chỉ trong vòng 2 năm thôi; đợi đến năm 2012 cho các cử tri Mỹ quyết định trong cuộc bỏ phiếu cả Hành pháp lẫn Quốc Hội. Bên Cộng Hòa thỏa mãn, vì những người lợi tức cao không phải trả thuế nhiều như trước thời Tổng Thống Bush; bên Dân Chủ cũng phải chấp nhận vì chính vị tổng thống cùng đảng đã thỏa hiệp.

Còn dân chúng Mỹ, họ nghĩ sao? Một cuộc nghiên cứu dư luận của Pew Research cho thấy có 42% dân Mỹ cho là nếu không đi tới thỏa hiệp tăng mức trần của các món nợ quốc gia thì đảng Cộng Hòa sẽ chịu trách nhiệm. Có 33% cho là lỗi ở ông tổng thống và đảng Dân Chủ.

Khi hỏi làm cách nào để cân bằng ngân sách, 59% dân Mỹ nghĩ nên pha trộn một phần tăng thuế, một phần cắt giảm chi tiêu, theo một cuộc nghiên cứu của đài ABC và nhật báo Washington Post; chỉ có 33% đồng ý là chỉ cần nhà nước cắt chi tiêu cũng đủ. Số người nghĩ chỉ cần tăng thuế thôi thì rất ít, chỉ có 3%.

Một cuộc nghiên cứu khác của đài CNN cho thấy 50% đồng ý với chiều hướng cắt giảm ngân sách của Tổng Thống Obama, và 42% ủng hộ đường lối của đảng Cộng Hòa. Nói chung trong cuộc tranh cãi hiện nay, dân Mỹ tỏ ý bất tín nhiệm các nhà chính trị cả hai đảng, Dân Chủ (67%) và Cộng Hòa (69%).

Cuối cùng, nếu hai bên không thể nào thỏa hiệp được để nâng mức trần nợ quốc gia lên đúng kỳ hạn ngày 2 tháng 8 thì Tổng Thống Barack Obama vẫn còn một món võ cất trong túi, không đến nỗi phải ngưng vay thêm nợ khiến chính phủ Mỹ phá sản. Ðó là một khoản trong Tu Chính Án số 14 trong Hiến Pháp Mỹ, viết rằng: “Giá trị công trái của Hiệp Chủng Quốc,... không thể nghi ngờ được.” (The validity of the public debt of the United States... shall not be questioned.” Ông Obama vốn là một giáo sư về Luật Hiến Pháp, chắc ông có thể giải thích rằng với tư cách người đứng đầu Hành pháp, ông cứ đi vay nợ để bảo đảm giá trị của các tờ giấy nợ đã phát hành. Ai ngăn cản sẽ bị coi là vi hiến! Nhưng chắc ông sẽ không phải dùng đến món võ đó.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Trung Quốc cử tàu ngư chính đến Trường Sa Báo chí Trung Quốc hôm qua cho biết một tàu ngư chính nước này đã rời cảng ở tỉnh Hải Nam lên đường đi thực hiện nhiệm vụ mà họ gọi là tuần tra ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam

Tàu này, mang số hiệu 46012, được đưa xuống để thay thế tàu ngư chính số 301, đến khu vực đảo đá ngầm Vành Khăn và sẽ hoạt động ở đó 50 ngày, trên tàu có 22 người, TTXVN dẫn lại tin của Tân Hoa cho hay.

Theo hãng tin Trung Quốc, đây là lần đầu tiên ngành cá hải dương tỉnh Hải Nam thực hiện tuần ngư chính ở Trường Sa. Ngư chính là một trong năm lực lượng hành pháp bờ biển của Trung Quốc, thuộc dân sự.
Image
Một con tàu ngư chính của Trung Quốc được đưa đến Trường Sa hồi tháng 4 năm nay - hành động vi phạm chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo .
Ảnh: China Daily.
Liên quan tới sự kiện này, hãng thông tấn bình luận Trung Quốc tối qua nói việc "tuần tra bảo vệ ngư chính là cách thể hiện chủ quyền và sự quản lý của Trung Quốc" đối với quần đảo Trường Sa.

Quần đảo Trường Sa trên Biển Đông nằm ở vùng nước bên trong yêu sách 9 đoạn mà Trung Quốc mới đưa ra năm 2009 để đòi chủ quyền. Yêu sách này là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và không được các bên liên quan ở Biển Đông và quốc tế công nhận.

Quần đảo Trường Sa đã được Việt Nam khẳng định chủ quyền trên cơ sở bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý.

Hồi đầu tháng 4, Trung Quốc đã đưa các tàu ngư chính của họ đến vùng nước gần Trường Sa, điều này vi phạm chủ quyền của Việt Nam, và bị Việt Nam phản đối.

"Việc Trung Quốc cử tàu ngư chính đi tuần tra tại khu vực quần đảo Trường Sa là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này", phát ngôn viên ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga tuyên bố hôm 5/4.

Tình hình Biển Đông trong thời gian gần đây gia tăng căng thẳng do việc các tàu Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam. Ngoài việc điều tàu ngư chính đến và ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trên vùng nước thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam, Trung Quốc còn cho các tàu hải giám và tàu cá quấy rối hoạt động của tàu Việt Nam ở thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Philippines trong những tháng qua cũng nhiều lần tố cáo tàu của Trung Quốc xâm phạm vùng nước mà Manila tuyên bố chủ quyền, quấy rối hoạt động của tàu cá và tàu thăm dò của Philippines.

Manila tuần trước cho biết có thể sẽ đưa vấn đề Biển Đông ra diễn đàn an ninh khu vực ARF, nhóm họp tại Indonesia giữa tháng này. Mỹ - nước có quyền lợi quốc gia trong việc đảm bảo an ninh hàng hải ở Biển Đông và là đồng minh của Philippines - cho rằng ARF là cơ hội để giải quyết tranh chấp Biển Đông thông qua phương cách hòa bình.

Thanh Mai

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Cuộc tranh luận về nợ nần ở Mỹ

Ngô Nhân Dụng

Hôm qua 7 tháng 7, Tổng Thống Barack Obama gặp các lãnh tụ thuộc hai đảng trong hai viện Quốc Hội Mỹ để tìm cách thỏa hiệp về việc nâng cao mức trần, cho phép chính phủ Mỹ được vay nợ trên con số tối đa hơn 14 ngàn tỷ Mỹ kim hiện nay.

Ðây là lần đầu tiên ông Obama tham dự chính thức vào cuộc thương thuyết này. Trước đây Phó Tổng Thống Biden phụ trách nói chuyện với Quốc Hội, cho tới khi các đại biểu Cộng Hòa từ chối không thảo luận nữa.

Tại sao chính phủ Mỹ cần Quốc Hội cho phép vay thêm nợ ngay? Vì mức nợ hiện giờ đã “đụng trần” rồi, đi vay thêm là phạm luật. Nhưng nếu không được vay nợ thêm thì nước Mỹ có thể sẽ lâm vào cảnh “vỡ nợ.” Cũng như quý vị đang vay nợ, khi đáo hạn là phải trả tiền lãi và vốn. Một chính phủ với các món nợ khổng lồ, phải liên tiếp vay nợ các khoản mới để trả các món nợ cũ, chưa kể việc đi vay để chi tiêu vì ngân sách khiếm hụt (thu ít, chi nhiều). Ðến ngày 2 tháng 8 sắp tới này, nếu không được phép vay nợ thêm, chính phủ Mỹ sẽ không hoàn trả được nhiều món nợ đáo hạn, theo định nghĩa là vỡ nợ.

Nếu chính phủ Mỹ vỡ nợ, kinh tế toàn cầu sẽ bị ảnh hưởng; vì người ta vẫn coi việc đem tiền cho chính phủ Mỹ vay là cách đầu tư an toàn nhất; là chỗ trú ẩn cho đồng tiền cho qua những cơn bão tố tài chánh. Hiện nay cả thế giới đang là chủ nợ của nước Mỹ, trong đó Trung Quốc đang cầm những giấy nợ tổng cộng hàng ngàn tỷ Mỹ kim. Khi đi vay lẫn nhau hoặc vay các ngân hàng, các nước đều có thể dùng giấy nợ của chính phủ Mỹ làm vật thế chấp. Nếu các giấy nợ của Mỹ mà mất giá trị thì đồng đô la cũng sụp đổ, dòng tiền tệ trên thế giới sẽ bị ngưng đọng, hoặc tê liệt, một điều không ai dám tưởng tượng! Ðó là chưa kể, mỗi ngày chính phủ liên bang phải chi ra bốn tỷ đô la, không có tiền vô thêm là guồng máy nhà nước chết cứng! Cho nên, thế nào rồi chính quyền Obama và Quốc Hội Mỹ cũng phải tiến đến thỏa hiệp.

Nhưng việc nâng mức trần của tổng số nợ quốc gia không phải là một hiện tượng mới mẻ, tự dưng vừa mới xuất hiện. Trong 8 năm Tổng Thống Gorges W. Bush ngồi ở Tòa Bạch Ốc, Quốc Hội đã đồng ý nâng mức nợ quốc gia lên tất cả 7 lần! Thật ra, nếu ngân sách không thiếu hụt nặng như hiện nay, thì chỉ cần ảnh hưởng của lạm phát khiến đồng tiền mất giá không thôi, bình thường người ta vẫn phải nâng mức nợ tối đa lên. Nếu lạm phát khiến giá cả tăng 3% thì mức nợ tối đa cũng phải tăng 3% mới giữ đúng mức trần cũ, nếu không thì coi như cái trần nhà đã bị hạ thấp xuống 3%!

Vậy tại sao vấn đề có thể coi là bình thường này bỗng dưng trở nên trầm trọng như vậy? Vì các đại biểu Quốc Hội thuộc đảng Cộng Hòa muốn nhân dịp này yêu cầu chính phủ phải là sao cho việc quản lý tài chánh quốc gia cho được lành mạnh và vững chắc hơn. Cụ thể, họ muốn đạo luật cho phép nâng cái trần nợ lên cao phải kèm theo những điều kiện cắt bớt chi tiêu của guồng máy nhà nước liên bang, để giảm bớt số khiếm hụt ngân sách. Khi Tổng Thống Bush lên chấp chánh năm 2001, ngân sách nước Mỹ đang thặng dư; khi ông Obama lên thay thế, ngân sách thâm thủng nặng nề chưa từng thấy. Cả nước Mỹ lo lắng về cảnh khiếm hụt đó, ai cũng đồng ý phải quay lại tình trạng ngân sách cân bằng.

Nhưng có hai cách để cân bằng ngân sách. Một là giảm chi; hai là tăng thu. Bất đồng ý kiến giữa hai đảng trong Quốc Hội khiến việc thương thuyết bế tắc là do bên Cộng Hòa chăm chú nhắm vào việc giảm chi, trong khi phía Dân Chủ nhấn mạnh đến việc tăng thu.

Cả hai đảng đều nêu cao ngọn cờ “cân bằng ngân sách” nhưng muốn đi qua những con đường khác hẳn nhau. Số khiếm hụt ngân sách của chính phủ liên bang năm ngoái đã lên tới trên 200 ngàn tỷ Mỹ kim. Nhưng mối lo chính là ngân sách sẽ càng ngày càng khiếm hụt nặng nề hơn, khi gần 80 triệu người thuộc thế hệ “bùng nổ trẻ sơ sinh” (baby boomers) tới tuổi về hưu. Thế hệ này ra đời sau Ðại Chiến Thứ Hai, sẽ phải cấp hưu bổng xã hội cho họ và chữa bệnh cho họ. Quỹ hưu bổng xã hội và chi phí cho các chương trình y tế của chính phủ hiện chiếm gần 40% các món chi tiêu của nhà nước, các món chi tiêu đó sẽ tăng vọt lên. Cứ mỗi người già bước vào tuổi về hưu sẽ làm tốn cho ngân sách quốc gia trung bình 40,000 đô la một năm, tổng cộng các món Social Seccurity, Medicare và Medicaid (ở California gọi là Medical). Cứ như thế nhà nước sẽ hết tiền chi cho các chương trình dân sự khác!

Muốn tránh thảm họa đó, phải tăng số thu nhập của nhà nước, qua những khoản thuế lợi tức cá nhân, thuế doanh nghiệp, thuế hưu bổng xã hội và y tế, thuế đánh trên di sản. Chính quyền Obama đã đề nghị bãi bỏ những khoản trợ cấp cho các công ty dầu lửa và hơi đốt, trợ cấp dưới hình thức miễn thuế; và lấp các lỗ hổng giảm thuế cho các người giầu. Một số đại biểu Dân Chủ đề nghị tăng thuế ngay trên những người lợi tức trên 250,000 đô la một năm. Phía Cộng Hòa cực lực phản đối việc tăng số thu trên thuế má, và muốn chính phủ phải cắt những khoản chi tiêu đặc biệt là những chương trình xã hội, y tế và hưu bổng.

Muốn tiến đến cân bằng ngân sách thì guồng máy chính phủ liên bang phải chọn, hoặc tăng số thu thêm 64%, hoặc giảm số chi tiêu 40% không kể các số tiền chỉ dùng để trả lãi cho các món nợ của chính phủ.

Nếu chính phủ và Quốc Hội Mỹ trì hoãn, không tăng thu và giảm chi ngay bây giờ mà đợi 20 năm nữa mới bắt đầu, thì trong 20 năm nữa sẽ phải tăng thu thêm 77% hoặc giảm chi bớt 46%. Cắt bây giờ thì những người đang tuổi 65 đến 100 sẽ bị thiệt thòi, họ sẽ kêu trời lên mà phản đối. Nhưng nếu trì hoãn đến năm 2031 mới cắt thì thế hệ con em họ, bây giờ 45 đến 50 tuổi, sẽ bị cắt nặng nề hơn, và những người trẻ hơn sẽ bị tăng thuế nặng nề hơn!

Nếu đến lúc đó còn chần chừ mà đợi thêm 20 năm nữa thì lúc đó phải tăng thu, tức là tăng thuế 93% hoặc giảm chi, các dịch vụ mà guồng máy nhà nước cung cấp cho dân chúng sẽ bị cắt bớt khoảng 53%! Thế hệ con và cháu nội cháu ngoại của các cụ sẽ phải chịu đựng! Tức là càng trì hoãn các biện pháp cân bằng ngân sách thì các thế hệ sau càng phải chịu hậu quả nặng nề, hoặc tăng thuế, hoặc bị giảm bớt các dịch vụ y tế, xã hội! Có một bức tranh hài hước vẽ cảnh một bệnh nhân già nằm trên giường, bà bác sĩ đứng bên trấn an: “Cụ đừng lo. Các hóa đơn chữa bệnh mai mốt sẽ được các con và cháu cụ thanh toán!”

Hiện nay, hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ vẫn nhất định không ai chịu thua ai. Bên Cộng Hòa tuyên bố quyết tâm không tăng thuế bất cứ người nào, giầu cũng như nghèo, kể cả những khoản trợ cấp hiện cho các hãng dầu cũng không được bỏ. Bên Dân Chủ không muốn cắt bớt các chi phí xã hội. Ông Obama tất nhiên cùng quan điểm với các đại biểu Quốc Hội Dân Chủ; nhưng ông đứng ngoài cuộc tranh luận để chờ tới khi hai phe trong Quốc Hội bế tác, ông mới chính thức can dự, với cuộc họp tại Tòa Bạch Ốc ngày hôm qua. Với vai trò người đứng đầu Hành pháp, ông Obama có thể đề nghị một số cắt giảm trong ngân sách để thỏa mãn các đại biểu Cộng Hòa, và ông sẽ yêu cầu họ đáp lễ bằng một số khoản tăng thu mà bên Cộng Hòa vẫn chống lại. Cuộc thương thuyết sẽ kéo dài, nhưng thế nào cũng đến lúc phải đưa tới một thỏa hiệp trong hai tuần lễ, trước ngày 22 tháng 7 này. Vì sau khi hai bên đồng ý với nhau rồi sẽ cần thời gian để viết các điều được thỏa hiệp ra thành dự luật. Mà trong khi diễn tả các chi tiết trong dự luật thì người ta sẽ còn tranh cãi nhau từng chữ, từng câu.

Cuối năm ngoái, nước Mỹ đã trải qua một kinh nghiệm tương tự. Hai đảng trong quốc hội, Cộng Hòa kiểm soát Hạ Viện và Dân Chủ chiếm đa số ở Thượng Viện, hoàn toàn bất đồng ý kiến về việc triển hạn các đạo luật cắt thuế năm 2001 và 2003 của cựu Tổng Thống Bush. Dân Chủ muốn chỉ tiếp tục cắt thuế cho những người lợi tức dưới 250,000 đô la một năm thôi, Cộng Hòa muốn vẫn cắt tất cả. Tổng Thống Obama đã đợi tới phút chót mới tham dự, đồng ý triển hạn cho tất cả, nhưng chỉ trong vòng 2 năm thôi; đợi đến năm 2012 cho các cử tri Mỹ quyết định trong cuộc bỏ phiếu cả Hành pháp lẫn Quốc Hội. Bên Cộng Hòa thỏa mãn, vì những người lợi tức cao không phải trả thuế nhiều như trước thời Tổng Thống Bush; bên Dân Chủ cũng phải chấp nhận vì chính vị tổng thống cùng đảng đã thỏa hiệp.

Còn dân chúng Mỹ, họ nghĩ sao? Một cuộc nghiên cứu dư luận của Pew Research cho thấy có 42% dân Mỹ cho là nếu không đi tới thỏa hiệp tăng mức trần của các món nợ quốc gia thì đảng Cộng Hòa sẽ chịu trách nhiệm. Có 33% cho là lỗi ở ông tổng thống và đảng Dân Chủ.

Khi hỏi làm cách nào để cân bằng ngân sách, 59% dân Mỹ nghĩ nên pha trộn một phần tăng thuế, một phần cắt giảm chi tiêu, theo một cuộc nghiên cứu của đài ABC và nhật báo Washington Post; chỉ có 33% đồng ý là chỉ cần nhà nước cắt chi tiêu cũng đủ. Số người nghĩ chỉ cần tăng thuế thôi thì rất ít, chỉ có 3%.

Một cuộc nghiên cứu khác của đài CNN cho thấy 50% đồng ý với chiều hướng cắt giảm ngân sách của Tổng Thống Obama, và 42% ủng hộ đường lối của đảng Cộng Hòa. Nói chung trong cuộc tranh cãi hiện nay, dân Mỹ tỏ ý bất tín nhiệm các nhà chính trị cả hai đảng, Dân Chủ (67%) và Cộng Hòa (69%).

Cuối cùng, nếu hai bên không thể nào thỏa hiệp được để nâng mức trần nợ quốc gia lên đúng kỳ hạn ngày 2 tháng 8 thì Tổng Thống Barack Obama vẫn còn một món võ cất trong túi, không đến nỗi phải ngưng vay thêm nợ khiến chính phủ Mỹ phá sản. Ðó là một khoản trong Tu Chính Án số 14 trong Hiến Pháp Mỹ, viết rằng: “Giá trị công trái của Hiệp Chủng Quốc,... không thể nghi ngờ được.” (The validity of the public debt of the United States... shall not be questioned.” Ông Obama vốn là một giáo sư về Luật Hiến Pháp, chắc ông có thể giải thích rằng với tư cách người đứng đầu Hành pháp, ông cứ đi vay nợ để bảo đảm giá trị của các tờ giấy nợ đã phát hành. Ai ngăn cản sẽ bị coi là vi hiến! Nhưng chắc ông sẽ không phải dùng đến món võ đó.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Tranh cử 2012 bắt đầu

Ngô Nhân Dụng

Chúng ta đang chứng kiến màn chót trong cuộc tranh luận về giới hạn của công trái (debt ceiling, mức nợ tối đa mà chính phủ Mỹ được phép vay); đồng thời, có thể nói hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ ở Mỹ (trong đó có Tổng Thống Barack Obama) đã mở màn cuộc tranh cử năm 2012.

Mọi lời nói, hành động của ông tổng thống và các lãnh tụ hai viện Quốc Hội Mỹ đều được thẩm lượng xem có ảnh hưởng như thế nào đối với lá phiếu của dân Mỹ trong năm tới. Nếu không nhìn như vậy thì không hiểu được hiện tượng bé xé ra to, tại sao một vấn đề bình thường lại trở thành một đề tài tranh cãi gay go suốt mấy tháng trời như vậy. Bởi vì chính phủ Mỹ thường xuyên đi vay, cứ mấy năm Quốc Hội lại cho phép chính phủ vay thêm, ít khi nào vấn đề đó lại khiến guồng máy nhà nước bị bế tắc.

Câu chuyện giới hạn của công trái năm nay bỗng biến thành cuộc tranh luận về đường lối trị quốc, vì đảng Cộng Hòa muốn nhân dịp này đưa ra vấn đề giảm bớt khiếm hụt ngân sách. Ðây là một đề tài tranh cử năm 2010 do nhóm Ðảng Trà (Tea Party) cổ động. Nhờ phong trào đó, đảng Cộng Hòa đã chiếm lại đa số trong Hạ Viện, đảng Dân Chủ thảm bại trong cuộc bỏ phiếu năm ngoái. Từ hơn một năm nay, các nhà chính trị gần như bỏ qua không nói đến nạn thất nghiệp mà chỉ than phiền về ngân sách khiếm hụt. Hạ Viện Mỹ, do đảng Cộng Hòa kiểm soát đã biểu quyết một ngân sách do Dân Biểu Paul Ryan đưa ra, theo chiều hướng cắt giảm chi phí, trong đó có khoản y tế Medicare, và cắt giảm thuế cho các người lợi tức cao. Ðảng Dân Chủ chiếm đa số trên Thượng Viện đã bác bỏ dự luật Ryan. Nay vấn đề lại được đặt ra, nhân dịp Quốc Hội phải quyết định cho phép nhà nước vay thêm nợ: Nếu không quyết định về ngân sách cân bằng thì các đại biểu Cộng Hòa sẽ không bàn chuyện nợ! Thế là dân Mỹ được nghe các đại biểu bàn cãi về chuyện giảm chi hoặc tăng thu.

Cả hai đảng đều đồng ý: Chính phủ Mỹ phải tiến tới ngân sách cân bằng. Họ khác nhau ở chỗ bên Cộng Hòa nhắm vào việc cắt giảm chi tiêu; trong khi bên Dân Chủ muốn tăng thu, bằng cách tăng thuế các người lợi tức cao và lấp những lỗ hổng trong luật thuế khóa mà các công ty dầu và hơi đốt được hưởng. Vì thế cuộc tranh luận kéo dài.

Trước đây ông Obama trao cho Phó Tổng Thống Joe Biden ngồi bàn với các đại biểu hai đảng để tìm cách thỏa hiệp. Ðúng là công việc tiêu biểu mà một ông phó tổng thống Mỹ thường phải làm: Chủ tọa những cuộc thương thuyết kéo dài mà cuối cùng không đưa tới kết quả nào cả, vì một phó tổng thống không có đủ uy quyền khiến hai bên phải thỏa hiệp với nhau! Cuộc họp bàn kéo dài tới cuối Tháng Sáu thì chấm dứt nửa chừng, khi bên Dân Chủ đưa ra đề nghị chấp thuận cắt bớt 2,000 tỷ trong các món chi tiêu nhưng đòi tăng thêm 400 tỷ số thuế thu vào. Người đứng đầu phái đoàn Ðảng Cộng Hòa là Dân Biểu Eric Cantor, lãnh tụ khối đa số ở Hạ Viện đã từ chối không chịu thảo luận đề về việc tăng thuế, bất cứ một đồng thuế nào. Ông Joe Biden được nghỉ ngơi, trái banh được trao tới Tòa Bạch Ốc cho Tổng Thống Obama đá!

Khi ông Cantor bước khỏi phòng họp thì chỉ còn 4 tuần trước khi giới hạn công trái phải được nâng lên, nếu không thì vào đầu Tháng Tám chính phủ Mỹ sẽ “vỡ nợ!” Có thể nói các đại biểu Quốc Hội, đặc biệt là các đại biểu Cộng Hòa, đã cố tình gây ra tình trạng căng thẳng này để bắt cả nước Mỹ phải nghe họ bàn cãi. Họ được dịp trình bày các chính sách trị quốc của họ ngay từ bây giờ, không cần chờ đến cuộc tranh cử năm 2012! Thực ra chính trị nước Mỹ là tranh cử thường xuyên, quanh năm suốt tháng; nhưng ít khi các màn tranh cử lại mở màn sớm trước cả năm trời như lần này!

Ông Obama cũng thấy có cơ hội để lên tiếng chế nhao các đối thủ chính trị! Ông mang chuyện các cô con gái của ông ra nói với công chúng, kể rằng: “Malia và Sasha thường làm xong bài trước khi đến ngày phải nộp cô giáo. Các cháu không đợi tới đêm sau cùng mới làm bài. Chúng mới có 13 tuổi và 10 tuổi. Quốc Hội Mỹ cũng nên làm như vậy. Nếu biết mình có bổn phận nào phải làm thì hãy làm ngay đi!” Có thể coi đây là một bài diễn văn mở màn cuộc tranh cử tổng thống năm 2012!

Ông Obama lại “tranh cử sớm” một lần nữa, khi ông so sánh các đề nghị của hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa. Ông tổng thống yêu cầu Quốc Hội “hãy bỏ bớt những khoản miễn giảm thuế (tax breaks) cho các nhà triệu phú, các tỷ phú,... các công ty dầu lửa, các nhà quản lý quỹ đầu tư lớn và chủ nhân của những máy bay tư nhân.” Nếu không, thì chính phủ sẽ phải cắt giảm các món chi tiêu để nghiên cứu y học, giảm bớt chi tiêu thanh tra an toàn thực phẩm, và cả ngân sách sở khí tượng!

Bài diễn văn trên bị các công ty sản xuất máy bay nhỏ mà các xí nghiệp tư mua cho các quản đốc dùng lên tiếng phản đối. Họ nói, nếu bỏ mất khoản miễn thuế khi dùng máy bay nhỏ thì cả kỹ nghệ máy bay nhỏ sẽ mất khách hàng; hàng triệu công nhân làm trong ngành này sẽ bị ảnh hưởng! Mà số thuế thu thêm được sẽ chẳng đáng là bao so với số thiếu hụt trong ngân sách! Nhưng ông Obama đã đánh trúng mục tiêu mà ông muốn công chúng Mỹ chú ý: Trong lúc kinh tế còn khó khăn, những người lợi tức cao phải hy sinh nhiều hơn, không nên chỉ bắt những người lợi tức thấp chịu hy sinh để chính phủ cân bằng ngân sách! Lập luận này sẽ được lập đi lập lại từ nay cho đến ngày bỏ phiếu năm 2012!

Tuần trước, sau cuộc họp ở Tòa Bạch Ốc để bắt đầu cuộc thương thuyết mới, báo chí loan tin ông Obama đã “đặt lên bàn” hai món chi tiêu lớn của chính phủ liên bang, là Hưu Bổng Xã Hội (Social Security) và Y Tế Xã Hội (Medicare, Medicaid). Có nghĩa là ông sẽ ép các đại biểu Quốc Hội thuộc đảng ông phải chấp nhận cắt bớt các chi tiêu trong các chương trình đó, mà những lúc bình thường thì đảng Dân Chủ coi đó là những tiết mục thiêng liêng không được đụng tới. Các cử tri bầu cho họ sẽ nổi giận nếu họ đồng ý cắt bớt những món chi tiêu này. Những người Mỹ lợi tức hàng triệu đô la trở lên không quan tâm đến các món chi tiêu này của chính phủ, vì dù chính phủ có cắt bớt tiền hưu bổng và y tế, tài sản và lợi tức riêng của họ cũng đủ để trang trải. Nhưng những người thuộc lớp trung lưu trở xuống thì rất lo lắng nếu các chương trình trên bị cắt.

Ðề nghị này được cụ thể hóa trong tuần trước, khi ông Obama nâng con số các món chi tiêu bị cắt lên tới 4,000 tỷ Mỹ kim, gấp đôi con số đưa ra trước đây! Ðề nghị này sẽ làm nhiều người ủng hộ đảng Dân Chủ bất mãn, và nhiều đại biểu đã chỉ trích ông tổng thống “đầu hàng” đảng Cộng Hòa, giống như cuối năm ngoái khi ông đồng ý triển hạn các đạo luật cắt thuế của cựu Tổng Thống Gorges W. Bush. Ðây cũng là một nước cờ tranh cử. Ông Obama muốn cho công chúng thấy hình ảnh một người lãnh đạo quả quyết, dám có những quyết định mạnh bạo, để giải quyết một vấn đề nhanh chóng và dứt khoát. Ðể đổi lại con số 4,000 tỷ đô la bị cắt, ông Obama yêu cầu phải tăng thuế, nhất là những khoản miễn trừ cho các công ty dầu lửa. Ông đã từng đưa ra đề nghị với Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner là cứ cắt giảm chi tiêu ba đồng thì phải tăng thu một đồng. Nhưng ngay trong ngày Thứ Bẩy tuần trước, ông Boehmer đã bác bỏ đề nghị mới của ông Obama, đảng Cộng Hòa nhất định không bàn chuyện tăng thuế, dù chỉ là lấp những chỗ hổng trong luật miễn trừ thuế cho các công ty dầu lửa. Ông Cantor hòa hoãn hơn, đồng ý có thể lấp một số lỗ hổng, nhưng nếu chính phủ thu được thêm đồng thuế nào thì phải bớt một đồng thuế khác để bù lại.

Cho đến ngày Thứ Ba, đó là tình hình cuộc đàm phán khi Tổng Thống Obama mời các đại biểu Quốc Hội đến họp lẫn nữa tại Tòa Bạch Ốc. Trước khi cuộc họp bắt đầu, bỗng dưng Nghị Sĩ Mitch McConnell, lãnh tụ khối Cộng Hòa thiểu số ở Thượng Viện lại đưa ra một ý kiến mới. Ông tuyên bố sẽ không để cho chính phủ Mỹ phải vỡ nợ. Ông đề nghị một số thủ tục để có thể cho phép Tổng Thống Obama tiếp tục ký giấy nợ, tức là nâng cao giới hạn của công trái liên bang, từng bước một, nếu các cuộc thương thuyết vẫn bế tắc. Ðề nghị của ông McConnell khiến giới bảo thủ trong đảng ông nổi giận, vì coi đó là một hành động “tước khí giới” của đảng Cộng Hòa ngay trong lúc họ đang sử dụng một cách hữu hiệu để mặc cả với Tòa Bạch Ốc! Một lãnh tụ nhóm Ðảng Trà nhắc nhở ông Mitch McConnell đừng quên rằng năm ngoái chính nhờ các vận động của họ mà đảng Cộng Hòa đã chiếm được thêm 87 ghế trong Quốc Hội!

Nhưng ông McConnell chắc hẳn đã nghĩ kỹ đến hậu quả của tình trạng bế tắc kéo dài. Người dân Mỹ sẽ đổ tội cho bên nào nếu chính phủ lâm vào cảnh vỡ nợ? Nhiều phần, họ sẽ không kết tội ông tổng thống. Hai phần ba dân Mỹ (62%) nghĩ rằng tình trạng kinh tế khó khăn hiện nay không phải do ông Obama gây ra, mà ông chỉ thừa hưởng di sản của chính phủ Bush để lại; trong số đó cỏ những người ủng hộ đảng Cộng Hòa (30%) và các cử tri độc lập (64%). Cảnh khiếm hụt ngân sách chắc chắn do 8 năm của Tổng Thống Bush để lại. Chiến tranh làm tăng các món chi tiêu; cắt thuế khiến các món thu bị giảm; và chính Tổng Thống Bush đã tăng các khoản chi về y tế, như chương trình trợ cấp thuốc cho người về hưu, tốn đến 400 tỷ Mỹ kim!

Trong khi tỷ lệ thất nghiệp lại ngoi lên tới 9.2% và tỷ lệ tăng trưởng chỉ có 2%, bất cứ ai quan tâm đến kinh tế học cũng biết rằng bây giờ không phải là lúc chính phủ cắt giảm chi tiêu, cũng không phải là lúc tăng thuế. Cả hai đều có thể kéo dài tình trạng kinh tế trì trệ. Nếu cuộc tranh cãi còn tiếp tục, người dân Mỹ sẽ thấy chán các nhà chính trị, và sang năm họ sẽ trừng phạt.

Nhiều người sẽ nhìn vào những cuộc mặc cả lằng nhằng này mà nghĩ rằng nền chính trị nước Mỹ đầy khuyết điểm, nó làm cho chính phủ tê liệt một cách vô ích. Nhưng đó là cái giá phải trả khi người ta chọn thể chế tự do dân chủ. Thực ra, chế độ này có nhiều nhược điểm nhưng nó “vẫn chạy!” Tức là sau cùng người ta vẫn vượt qua các trở ngại để xây dựng một nền kinh tế giầu mạnh, một xã hội ổn định trong đó mọi người có cơ hội bình đẳng. Nước Mỹ vẫn như vậy từ 200 năm nay, không phải chờ tới khi có các ông Obama, Cantor và Boehmer nó mới lằng nhằng như vậy!

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Phải độc lập về tư tưởng

Ngô Nhân Dụng

Ông Ðới Bỉnh Quốc, ủy viên phụ trách về đối ngoại trong Thường Vụ Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc có lần viết rằng nước ông không bao giờ có chính sách xâm chiếm các nước khác.

Ðọc xong ai cũng phải bật cười. Không riêng gì người Việt Nam mà người Tây Tạng, người Uyghur, người Cao Ly (Hàn Quốc), người Mông Cổ, Mãn Châu và Ðài Loan, nếu học sử đều biết đất nước họ đã từng bị người Hán tấn công, chiếm đóng, khai thác, bóc lột rất nhiều lần. Thời gian mà nhà Ðường chiếm nước ta, đặt tên là An Nam thì họ cũng gọi tên Hàn Quốc là An Ðông. Trong các nhóm người này, hiện giờ chỉ còn những dân tộc Việt và Hàn còn đứng riêng chưa bị nuốt vào trong bụng Trung Quốc.

Cái tên Trung Quốc được dùng từ thời nhà Chu, trong sách Mạnh Tử ông nhiều lần nói đến tên này; mà trong thời Chiến Quốc ông sống thì những vùng phía Nam Trường Giang (thường gọi là sông Dương Tử) vẫn chưa thuộc Trung Quốc. Cái tên này chỉ là một danh từ địa lý chứ không phải tên một quốc gia; cho tới khi Tôn Trung Sơn lập Trung Hoa Dân Quốc nó mới thông dụng. Trước đó, để gọi tên nước Trung Hoa người ta chỉ dùng tên của các triều đại, gọi là nước Hán, nước Ðường, nước Tống, vân vân. Ông Tôn Trung Sơn người Quảng Ðông, thời xưa không thuộc vùng đất gọi là Trung Quốc. Nhưng người Tây Tạng, người Mông Cổ ngày nay không ai muốn bị gọi là người Trung Quốc.

Người Uyghur không may mắn như vậy. Họ vốn là một dân tộc hùng cường và văn minh, thuộc giống Turk. Họ cũng dũng mãnh như người Mông Cổ, đã từng làm chủ soái các bộ lạc du mục khác ở phía Bắc nước Tầu. Ðời Ðường gọi họ là Hồi Hột nhưng bị họ phản đối, đổi thành Hồi Cốt, đời Nguyên gọi là Duy Ngô Nhĩ, cho tới bây giờ. Họ đã đặt ra chữ viết riêng trước các bộ lạc du mục khác. Khi Thành Cát Tư Hãn đặt ra những đạo luật đầu tiên cho cả đế quốc Mông Cổ, ông đã phải dùng chữ Uyghur để ghi chép. Ðời Nguyên Thế Tổ, ông nhờ các vị lạt ma thông thái đặt ra một lối viết riêng, thống nhất ngôn ngữ Mông Cổ. Nhưng ngày nay, người Uyghur chịu thân phận làm một giống dân thiểu số trong tỉnh Tân Cương, lâu lâu lại nổi lên chống chính sách đồng hóa của Cộng Sản Trung Quốc và bị đàn áp tàn nhẫn.

Hai dân tộc rất dũng mãnh ở Mãn Châu và Mông Cổ đã từng xâm chiếm và thống trị nước Tầu một cách tàn bạo, nhà Nguyên kéo dài cả trăm năm, nhà Thanh gần bốn trăm năm. Hai triều đại đó đã góp công mở mang ảnh hưởng của Trung Quốc, nhà Nguyên chiếm thêm Ðại Lý và suýt nữa thì chiếm cả Việt Nam; nhà Thanh thì chiếm lấy Tây Tạng, xóa bỏ bản hiệp ước mà vua nhà Ðường công nhận Tây Tạng độc lập vào thế kỷ thứ 8. Người Mông Cổ đã chinh phục một vùng rộng lớn, kéo dài từ Cao Ly, bán đảo Sơn Ðông, qua các nước Hồi Giáo ở Trung Á, cho tới sông Volga, Kiev (Ukraina bây giờ), tới tận Hungary, Ba Lan, về phía Nam tiến xuống tới Syria, trước khi diệt nhà Tống chiếm nước Tầu. Khi Kublai, thường gọi là Nguyên Thế Tổ, chuyển kinh đô của ông từ Karakurum về Bắc Kinh vì thế lực của ông ở cố đô không mạnh bằng người anh họ, ông ta đã mở đầu một quá trình tự đồng hóa, biến người Mông Cổ thành người Trung Quốc, mặc dù trong triều đình ông chỉ dùng các vị thượng thư gốc Mông Cổ, hoặc người Tây Tạng, Uyghur, Á Rập, Thổ, tuyệt nhiên không dùng người Trung Hoa. Người Mông Cổ còn may mắn giữ được một mảnh đất ngoài xa, đất đai khí hậu người Trung Hoa không chịu nổi, bây giờ mang tên nước Mông Cổ. Còn người Mãn Châu thì hoàn toàn bị đồng hóa.

Trung Quốc không phải là một dân tộc. Trên căn bản, đó là một đế quốc, bao gồm rất nhiều dân tộc. Mỗi lần uy quyền trung ương tan rã, các mảnh đất thuộc Trung Quốc hoặc bị các đế quốc khác chiếm, hoặc tự tuyên bố lập thành quốc gia riêng. Vì không có ý thức dân tộc, ít nhất cho tới thời Dân Quốc, người dân Trung Hoa có thể chịu sống dưới các chính quyền ngoại quốc, như những thời Nam Bắc Triều kéo dài nhiều thế kỷ mà miền Bắc do các giống dân từ phương Bắc kéo xuống cai trị, hoặc thuộc vào nước Liêu (từ Mãn Châu), nước Kim, đế quốc Mông Cổ, hoặc triều đình Mãn Thanh,vân vân.

Ngay bây giờ, nhiều người dân ở Quảng Ðông vẫn nuôi lòng hoài cổ, muốn nghiên cứu để xác nhận và phục hồi một nền văn hóa Nam Việt, nhất là sau khi người ta tìm ra ngôi mộ của vị vua nước Nam Việt thấy cái ấn tín viết Văn Ðế Hành Tỷ. Tức là ông vua, cháu nội Triệu Ðà, vẫn tự xưng mình là Ðế, mặc dù trong sử Tầu viết rằng ông đã chịu thần phục hoàng đế nhà Hán, chịu nhận chỉ phong Vương mà thôi. Trong ngôi mộ này, ngoài cái triện đó người ta không thấy chữ Hán, các hình trang trí cũng khác hẳn lối người Hán ở phương Bắc. Tới thế kỷ thứ 10, người Quảng Ðông vẫn lập ra một nước riêng, gọi là Nam Hán, đã từng nuôi mộng độc lập. Tỉnh Vân Nam cho tới thế kỷ thứ 12 vẫn là một quốc gia độc lập, trước gọi là Nam Chiếu, sau họ Ðoàn đổi tên là Ðại Lý; cho tới khi Kublai, một cháu nội của Thành Cát Tư Hãn sai quân Mông Cổ đánh chiếm và đặt quan cai trị. Chưa đầy một ngàn năm, bây giờ thì những người dân Quảng Ðông, Quảng Tây và Vân Nam tự nhận họ là người Trung Quốc mà không thắc mắc gì cả.

Chúng ta phải tự hỏi tại sao đế quốc Mông Cổ đã từng hùng mạnh và rộng lớn như vậy mà lại tàn tạ sau một trăm năm, còn đế quốc Trung Hoa tồn tại cho tới bây giờ? Nền tảng tồn tại của đế quốc đó chính là nền văn minh Trung Hoa. Cũng vậy, đế quốc Hồi Giáo thành hình từ thế kỷ thứ 7, mặc dù bây giờ đã tan rã nhưng vẫn còn để lại một nền văn minh Hồi Giáo kéo dài từ Bắc Phi sang tới Indonesia. Văn minh Hồi Giáo dựa trên một tín ngưỡng. Văn minh Trung Hoa dựa trên cách tổ chức xã hội, gồm một nền luân lý (Khổng Giáo) và một chế độ chính trị tập quyền do Tần Thủy Hoàng thiết lập. Từ đời Hán, tuy các triều đại vẫn bài xích Tần Thủy Hoàng nhưng trong thực tế họ vẫn sử dụng các thuật trị quốc của Pháp Gia (Nội Nho, Ngoại Pháp, hoặc nói ngược lại cũng được!) Ðế quốc Mông Cổ chấp nhận tất cả các tôn giáo. Ðạo luật của Thành Cát Tư Hãn lập ra cho một xã hội du mục, không đủ để duy trì trật tự trong đám dân định cư, phương tiện giao thông thô sơ không đủ để nối liền những vùng đất kéo dài từ Âu sang Á. Ðến đời các cháu nội của Thành Cát Tư Hãn thì đã có một người cải theo đạo Hồi và liên kết với đạo quân Ai Cập chống lại anh em mình, một người khác tự biến thành người Trung Hoa để sử dụng phương pháp cai trị của họ! Cuối cùng, một đế quốc hùng mạnh như Mông Cổ mà biến mất chỉ vì đã tự đồng hóa trước một nền văn minh vững chắc!

Sống hơn hai ngàn năm bên cạnh một nước lớn với lịch sử bành trướng dữ tợn như Trung Quốc, dân tộc Việt Nam (cũng như dân Cao Ly) vẫn còn tồn tại, đó là một hiện tượng lạ, đáng ngạc nhiên. Người Việt Nam có thể tự hào, họ là những người học trò của văn minh Trung Hoa, nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc mình. Trong đó, quan trọng nhất là những đặc tính phóng khoáng, trọng cá nhân và tôn trọng quyền bình đẳng của phụ nữ, những đặc tính văn hóa của các dân tộc phát xuất từ các đảo phía Nam. Người Việt Nam tồn tại cũng nhờ giữ được tiếng nói riêng, với văn phạm khác tiếng Tầu, và xã hội Việt Nam dựa trên làng xã khác với bên Tầu dựa trên các gia tộc.

Trong lịch sử, các vị vua Việt Nam thường chịu thần phục vua Tầu, nghĩa là tự nhận là phận dưới, không dám tranh giành ngôi vị (danh xưng hoàng đế) với các ông vua Tầu ở Biện Kinh hoặc Nam Kinh (đời Tống) hay Bắc Kinh (đời Nguyên). Nhưng ngoài những việc cống tiến giống như các nước nhỏ khác ở chung quanh nước Tầu, vua nước Nam vẫn không chịu khuất phục. Người Mông Cồ thường bắt vua các nước nhỏ trong đế quốc của họ phải tới triều bái hoàng đế nhà Nguyên, nhưng các vị vua nhà Trần đã từ chối. Có lúc Trần Nhân Tôn ngỏ ý muốn chấp nhận điều kiện đó để dân chúng khỏi bị họa binh đao, nhưng các vị tướng như Trần Hưng Ðạo đã phản đối, với câu nói nổi tiếng: Xin chém đầu tôi trước đã! Cuối cùng nhà Nguyên cũng phải thôi. Cùng thời gian đó, vua Miến Ðiện cũng từ chối không gửi con sang Bắc Kinh, và nước họ cũng bị xâm lăng ba lần đẫm máu, như nước ta.

Mặc dù ông Ðới Bỉnh Quốc ba hoa nói nước ông không nuôi tham vọng bá chủ bao giờ, hiện nay Trung Quốc đang chèn ép nước Việt Nam một cách có tính toán. Họ coi cả vùng Biển Ðông của nước ta là ao nhà của họ, cho tầu hải giám, ngư chính đi giám sát, tuần tiễu giống như cho cảnh sát đi tuần trên đường phố của nước Việt Nam!

Người Việt Nam chắc chắn không chịu cảnh làm nô lệ. Trung Quốc vin vào lá thư của ông Phạm Văn Ðồng gửi ông Chu Ân Lai năm 1958 để coi các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về họ, kể cả các vùng biển chung quanh! Ðối với bất cứ nước nhỏ nào ở bên cạnh Trung Quốc, chỉ đợi chính quyền nước đó theo đuổi những chính sách sai lầm là người Trung Quốc nhân dịp đè nén. Mối sai lầm lớn nhất là từ khi đảng Cộng Sản Việt Nam chấp nhận “tư tưởng Mao Trạch Ðông” làm đường lối chỉ đạo quốc gia, rồi sau đó thi hành các chính sách giống hệt như Cộng Sản Trung Quốc, từ chỉnh huấn đến cải cách ruộng đất, cho tới cả chế độ lao cải; rồi sau lại tính đem chủ nghĩa cộng sản với tư tưởng Mao Trạch Ðông bành trướng trong khắp vùng Ðông Nam Á. Trong các thứ nô lệ, không gì nguy hiểm bằng nô lệ tư tưởng. Nếu người cầm quyền ở nước ta còn tiếp tục bắt chước “mô hình Trung Quốc” trong việc phát triển quốc gia, thì tình trạng nô lệ về tư tưởng sẽ còn trầm trọng hơn nữa.

Muốn giữ nền độc lập, trước hết phải độc lập về tư tưởng. Trên thế giới hiện nay, mô thức phát triển có hiệu quả và mang lại hạnh phúc cao nhất cho người dân là lối tổ chức xã hội theo các quy tắc dân chủ tự do, về kinh tế cũng như chính trị. Ðối với người Việt Nam, đi theo con đường đó không những là tìm con đường phát triển hữu hiệu nhất mà còn là con đường duy nhất để bảo vệ độc lập dân tộc đối với nước láng giềng phía Bắc.

Post Reply