Bình Luận Thời Sự
Ðới Bỉnh Quốc bình thiên hạ
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua ông Ðới Bỉnh Quốc (Dai Bingguo) rời Việt Nam sau khi cùng ông Nguyễn Thiện Nhân chủ trì phiên họp thứ năm của ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt-Trung, một ủy ban thành lập từ năm 2006.
Cuối năm ngoái, mục này đã bàn về một bài do ông Ðới Bỉnh Quốc viết trong đó ông khẳng định rằng Trung Quốc “không tìm cách chiếm bá quyền”. Ông còn khẳng định: “Nhìn lại lịch sử, Trung Quốc không có truyền thống chiếm bá quyền.”
Chúng tôi không lập lại những ý kiến đã viết trong bài “Ðới Bỉnh Quôc lừa dối” đăng trên báo Người Việt vào tháng 12 năm 2010. Người Việt Nam (đã bị mang tên An Nam đô hộ phủ), người Cao Ly (An Ðông đô hộ phủ) và những dân tộc kém may mắn hơn như người Tây Tạng, người Mãn Châu, Mông Cổ, người Hồi ở Tân Cương, Thanh Hải, tất cả đều có thể làm chứng họ đã là nạn nhân của chính sách bá quyền do các triều đình Trung Quốc thi hành trong hơn hai ngàn năm lịch sử. Bá quyền, hiểu theo nghĩa như chính sách đế quốc trong thế giới ngày nay.
Nhưng nếu xét về nghĩa gốc các từ ngữ thì có thể ông Ðới Bỉnh Quôc vẫn nói đúng. Trung Quốc không phải chỉ có tham vọng bá quyền. Các hoàng đế Trung Hoa đời trước cũng không thèm nghĩ tới bá quyền. Họ muốn đạt tới một mục tiêu cao lớn hơn nữa: Bình Thiên Hạ. Những ông vua xưng Bá đời Chiến Quốc như Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, cũng chỉ là những vua chư hầu, chưa tỏa rộng uy quyền khắp bốn phương như ngôi thiên tử. Tần Thủy Hoàng mới là người có tham vọng làm chủ tất cả thiên hạ, ông đã đạt được mục đích đó vào năm 221 trước Công Nguyên. Từ đời Tần Thủy Hoàng, các vị hoàng đế Trung Hoa sau này đều ôm mộng theo gương đó: Thống trị thiên hạ bằng một “Trật tự Thế giới mới” trong đó nước Trung Hoa đứng ở địa vị trung tâm, và trên đỉnh là vị “Con Trời” ngự trị.
Thiên Hạ nghĩa là tất cả mọi thứ ở dưới bầu trời. Nó bao gồm cả đất đai, thổ sản, dân cư, và một “trật tự thế giới” theo quan niệm của người Trung Hoa. Trong nước Trung Hoa đời trước, quan niệm “chính thống” đó bao gồm lối tổ chức xã hội bên ngoài gọi là theo Khổng Giáo nhưng trên căn bản lại sử dụng các kỹ thuật cai trị của Pháp Gia. Mà phương pháp cốt tủy của Pháp Gia là tập trung quyền hành tuyệt đối trong tay ông vua, khác hẳn quan niệm rộng rãi, trọng dân hơn, của Khổng Tử hay Mạnh Tử. Có thể gọi đó là chủ trương Ngoại Nho Nội Pháp; hay nói ngược lại cũng được. Các nước Á Ðông xưa kia đều chịu ảnh hưởng của “ý thức hệ” gốc Trung Hoa đó. Các ông vua Việt Nam, Cao Ly, Miến Ðiện, các đại hãn Mông Cổ, Khiết Ðan đều chịu nhường, họ chỉ xưng vương, còn danh hiệu hoàng đế để cho ông vua nước Tàu độc quyền sử dụng. Chỉ có ông vua Trung Hoa được coi là chịu Mệnh Trời, là Thiên Tử, Con của Trời. Nhưng các dân tộc bất khuất thì không bao giờ chịu để cho đất nước họ bị nhập làm một với nước Tàu.
Có hai sắc dân, ở Mông Cổ và Mãn Châu, đã sử dụng ý thức hệ Ngoại Nho Nội Pháp làm khí cụ thống trị dân Trung Hoa hàng thế kỷ. Như Vua Ung Chính Nhà Thanh đã từng bài bác những “người Tàu yêu nước quá khích;” bằng cách vin vào những khái niệm Thiên hạ, Mệnh Trời, để biện minh cho chế độ người Mãn ngồi trên đầu người Hán! Mà người Hán, quả thật, đã chịu phục tùng triều đại Mãn thanh trong ba thế kỷ! Nhưng cuối cùng, chính dân tộc Mãn đã mất nước, cũng như đa số người Mông Cổ trước đó. Sau khi nhà Nguyên sụp đổ, các vua nhà Minh được thừa hưởng cả một đế quốc do người Mông Cổ dựng lên. Họ tiếp tục bắt các dân du mục ở phía Bắc và vùng Trung Á thần phục họ, như đã từng bị thua phải thần phục các vua nhà Nguyên. Trong đó có cả nước tổ tiên của người Mông Cổ! Hai sắc dân Mông và Mãn đã bị thua trên mặt trận văn hóa. Vì họ đã sử dụng vũ khí tư tưởng, có thể gọi là ý thức hệ, của người Trung Hoa, để cai trị nước Trung Hoa. Trong đó có quan niệm về Thiên Hạ, và Bình Thiên hạ! Dùng dao của người Trung Hoa, họ đã tự cắt đứt gốc rễ của chính họ! Trong các hình thức nô lệ, không gì nguy hiểm bằng nô lệ về tư tưởng! Bình Thiên Hạ là một khẩu hiệu cũng dễ mê hoặc giống như tiến tới Chủ Nghĩa Xã Hội sau này!
Trong hàng chục năm qua, Bắc Kinh đã mở mặt trận ngoại giao khắp thế giới để gây ảnh hưởng, lôi kéo các nước đang phát triển về phía mình. Trong đó có việc thành lập những Viện Khổng Tử, truyền bá ngôn ngữ, văn hóa. Nhưng họ không dùng Nho Giáo để thay thế chủ nghĩa Cộng Sản với đặc tính Trung Quốc. Ngược lại, họ vẫn mô tả “mô hình Trung Quốc hiện đại” như là một thứ Chủ Nghĩa Xã Hội mới, để các nước đang phát triển noi theo.
Cuốn bạch thư 10,000 chữ mà chính phủ Bắc Kinh mới phát hành viết họ đang “xây dựng Trung Quốc thành một nước xã hội chủ nghĩa giàu, mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa, và hiện đại từ nay đến... giữa thế kỷ 21”. Ðó là một cách quảng cáo cho mô hình Trung Quốc. Mô hình đó bao gồm việc tập trung quyền bính trong tay một đảng, thâu tóm các quyền lợi kinh tế vào trong tay một giai cấp tư bản mới lên, dùng kinh tế thị trường với sự can thiệp trắng trợn của bộ máy hoạch định nhà nước. Trong mục này đã nhiều lần nêu lên những nhược điểm cơ bản trong nền kinh tế Trung Quốc, chúng tôi không lập lại nơi đây. Nhưng mô hình Trung Quốc vẫn có thể mê hoặc rất nhiều người! Các chế độ độc tài ở các nước đang phát triển rất dễ bị lôi cuốn với mô hình này. Vì đó là một thứ ý thức hệ biện minh cho cảnh tập trung quyền hành chính trị và quyền lợi kinh tế trong tay một thiểu số! Trước đây Mao Trạch Ðông đã tìm cách gây ảnh hưởng trên thế giới thứ ba với lý thuyết cách mạng vô sản kiểu Trung Hoa. Ngày nay, các hoàng đế ở Bắc Kinh lại tiếp tục cuộc tấn công đó, nhưng với lý thuyết mới, để tiếp tục Bình Thiên Hạ!
Khi tái lập năm 1951, đảng Cộng Sản Việt Nam đã tôn thờ tư tưởng Mao Trạch Ðông như cách hay nhất để áp dụng chủ nghĩa Mác-Lê Lin tại Á Châu. Trung Cộng đã ảnh hưởng tới Việt Nam qua guồng máy hai đảng, nhiều hơn cả guồng máy nhà nước. Thời ông Nguyễn Cơ Thạch, có lúc Bộ Ngoại Giao không có việc gì làm, vì mọi giao thiệp giữa hai nước đều cho ban đối ngoại của hai trung ương đảng chuyên quyền quyết định. Khi người ta đã nhân danh đảng mà nói, guồng máy nhà nước phải câm miệng lại! Guồng máy đảng là nơi phát ra những tín hiệu chỉ đạo cái đầu mọi người. Muốn Bình Thiên Hạ, tất cả mọi cái đầu phải suy nghĩ giống nhau!
Từ khi Nông Ðức Mạnh triều yết Bắc Kinh giữa năm 2008, rồi cuối năm Nguyễn Tấn Dũng tiếp theo sang Tàu để kết thúc các hiệp ước biên giới, và mở cửa nước Việt Nam cho các công ty Trung Quốc bán sản phẩm và sang làm ăn, Việt Nam đã hoàn toàn rơi vào quỹ đạo Trung Quốc cả về kinh tế lẫn chính trị. Nhưng muốn nắm đầu cả về văn hóa tư tưởng, họ phải dùng guồng máy đảng. Tình trạng này thể hiện trong cuộc thăm viếng của ông Ðới Bỉnh Quốc vừa qua.
Báo chí trong nước cho biết trong phiên họp của ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt-Trung có “quan chức từ hai đảng cầm quyền, các quan chức quân sự, trung ương và lãnh đạo chính quyền địa phương từ hai quốc gia”. Ðới Bỉnh Quốc không phải là một bộ trưởng ngoại giao, nhưng là người phụ trách đối ngoại trong Bộ Chính Trị Cộng Sản Trung Quốc. Cho nên cuộc họp về bang giao giữa hai nước, thay vì chỉ cần các chuyên gia về vấn đề biên giới, vấn đề hải phận, các chuyên viên kinh tế tài chánh, người ta lại nhấn mạnh tới “quan chức từ hai đảng cầm quyền”.
Với sự có mặt của các quan chức từ hai đảng cầm quyền, mọi quyết định sẽ bắt buộc guồng máy nhà nước phải tuân theo, không thể cãi! Trong cuộc họp mặt này, thay vì chỉ có các nhân vật thuộc chính quyền trung ương, chúng ta còn thấy cả “lãnh đạo chính quyền địa phương từ hai quốc gia” nữa. Bản tin không cho biết đó là những địa phương nào. Có chính quyền tỉnh Quảng Ngãi, nơi các ngư dân bị “tàu lạ” tấn công hay không? Có chính quyền những tỉnh đang cho người Trung Hoa thuê khai thác rừng, mỏ hay không? Có chính quyền những tỉnh mà các công ty Trung Quốc đang làm ăn mang cả ngàn công nhân Tàu sang làm việc mà không cần giấy phép hay không? Nếu có những người đó, thì họ có thể đã nhận được các chỉ thị trực tiếp trong cuộc họp ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt-Trung này, do ông Ðới Bỉnh Quốc chủ trì hay không? Tại sao các quan chức địa phương người Việt lại phải đi nghe các chỉ thị của một ủy viên trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc?
Còn các quan chức địa phương Trung Quốc, sang đây để làm gì? Năm 2008, giữa chuyến đi của hai ông Nông Ðức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng, bí thư tỉnh ủy Quảng Ðông là Uông Dương, ủy viên Bộ Chính Trị, đã qua Việt Nam vào Tháng Chín, bàn bạc về chuyện biên giới và mang theo một đoàn doanh nhân hùng hậu khiến Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Hà Nội phải báo tin gấp về cho Bộ Ngoại Giao Mỹ (Wikileaks, ngày 30 tháng 8, 2011). Chuyến đi của ông Uông Dương có phải là một bước chuẩn bị trước khi ông Nguyễn Tấn Dũng trước khi bay qua Bắc Kinh? Các vua nhà Thanh đời xưa thường trao việc Việt Nam cho các vị tổng đốc Lưỡng Quảng lo liệu. Ngày nay có thể ông Uông Dương (Wang Yang) cũng mang trách nhiệm tương tự hay không?
Trong cuộc họp của ủy ban chỉ đạo vừa rồi, ông Khổng Huyền Hựu, đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội đã nhấn mạnh, “Chúng ta cần thực hiện tốt cơ chế hợp tác giữa các bộ ngoại giao, quốc phòng, công an, v.v. hai nước, cũng như các ban đối ngoại, tuyên giáo của hai đảng.”
Tại sao cần phải có tuyên giáo của hai đảng dính vào việc bang giao giữa hai quốc gia? Ðây chính là một cái đầu cầu để cho đảng Cộng Sản Trung Quốc có thể “giáo dục” đầu óc người dân bản xứ! Trung Quốc đã từng yêu cầu đảng Cộng Sản Việt Nam phải “lãnh đạo” báo đài trong nước làm sao cho dân Việt nguôi bớt mối uất hận đối với việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa.
Ðại sứ Khổng Huyền Hựu còn nói: “Tôi tin rằng, miễn là hai bên nghiêm chỉnh thực hiện những nhân thức chung của lãnh đạo hai nước, tiếp thu, tham khảo một cách đầy đủ kinh nghiệm thành công về phân giới cắm mốc đường biên giới đất liên của hai nước, cũng như về phân định vịnh Bắc bộ của hai nước, thì chúng ta nhất định có trị tuệ để tránh được, không để những bất đồng làm ảnh hưởng tới sự phát triển thuận lợi của quan hệ hai nước”.
Ðọc lời tuyên bố trên, chúng ta có thể hiểu dụng ý của ông đại sứ Trung Quốc. Ông muốn mọi người Việt Nam học tập “tiếp thu, tham khảo một cách đầy đủ kinh nghiệm thành công về phân giới cắm mốc đường biên giới” để cư xử với đàn anh phương Bắc theo đúng “mô thức” này, không được làm khác. Ðối với Trung Quốc, việc “phân giới cắm mốc đường biên giới” được coi là một thành công. Mọi bất đồng đều được vui vẻ xí xóa. Các quan chức địa phương người Việt Nam chắc đều được dịp tiếp thu, tham khảo sự thành công tốt đẹp đó.
Người dân Việt Nam có thể nghĩ khác. Nhưng họ có quyền nghĩ khác hay không? Nếu nghĩ khác, họ có được nói lên hay không? Trước ngày ông Ðới Bỉnh Quốc sang Hà Nội, bộ máy công an của đảng Cộng Sản Việt Nam đã dẹp tan tất cả các cuộc biểu tình kéo dài hơn hai tháng trước đó. Trong ý thức hệ bao gồm với hai chữ Thiên Hạ, thiên hạ phải có trên có dưới! Nếu những người lãnh đạo nước Việt Nam đã chấp nhận theo đường Trung Quốc, tiến lên một Chủ Nghĩa Xã Hội nào đó (với đặc tính Trung Quốc tất nhiên) thì cũng phải hướng dẫn dư luận dân Việt theo chiều hướng của thiên triều. Ông Ðới Bỉnh Quốc đã hoàn tất một công tác trong quá trình Bình Thiên Hạ!
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua ông Ðới Bỉnh Quốc (Dai Bingguo) rời Việt Nam sau khi cùng ông Nguyễn Thiện Nhân chủ trì phiên họp thứ năm của ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt-Trung, một ủy ban thành lập từ năm 2006.
Cuối năm ngoái, mục này đã bàn về một bài do ông Ðới Bỉnh Quốc viết trong đó ông khẳng định rằng Trung Quốc “không tìm cách chiếm bá quyền”. Ông còn khẳng định: “Nhìn lại lịch sử, Trung Quốc không có truyền thống chiếm bá quyền.”
Chúng tôi không lập lại những ý kiến đã viết trong bài “Ðới Bỉnh Quôc lừa dối” đăng trên báo Người Việt vào tháng 12 năm 2010. Người Việt Nam (đã bị mang tên An Nam đô hộ phủ), người Cao Ly (An Ðông đô hộ phủ) và những dân tộc kém may mắn hơn như người Tây Tạng, người Mãn Châu, Mông Cổ, người Hồi ở Tân Cương, Thanh Hải, tất cả đều có thể làm chứng họ đã là nạn nhân của chính sách bá quyền do các triều đình Trung Quốc thi hành trong hơn hai ngàn năm lịch sử. Bá quyền, hiểu theo nghĩa như chính sách đế quốc trong thế giới ngày nay.
Nhưng nếu xét về nghĩa gốc các từ ngữ thì có thể ông Ðới Bỉnh Quôc vẫn nói đúng. Trung Quốc không phải chỉ có tham vọng bá quyền. Các hoàng đế Trung Hoa đời trước cũng không thèm nghĩ tới bá quyền. Họ muốn đạt tới một mục tiêu cao lớn hơn nữa: Bình Thiên Hạ. Những ông vua xưng Bá đời Chiến Quốc như Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, cũng chỉ là những vua chư hầu, chưa tỏa rộng uy quyền khắp bốn phương như ngôi thiên tử. Tần Thủy Hoàng mới là người có tham vọng làm chủ tất cả thiên hạ, ông đã đạt được mục đích đó vào năm 221 trước Công Nguyên. Từ đời Tần Thủy Hoàng, các vị hoàng đế Trung Hoa sau này đều ôm mộng theo gương đó: Thống trị thiên hạ bằng một “Trật tự Thế giới mới” trong đó nước Trung Hoa đứng ở địa vị trung tâm, và trên đỉnh là vị “Con Trời” ngự trị.
Thiên Hạ nghĩa là tất cả mọi thứ ở dưới bầu trời. Nó bao gồm cả đất đai, thổ sản, dân cư, và một “trật tự thế giới” theo quan niệm của người Trung Hoa. Trong nước Trung Hoa đời trước, quan niệm “chính thống” đó bao gồm lối tổ chức xã hội bên ngoài gọi là theo Khổng Giáo nhưng trên căn bản lại sử dụng các kỹ thuật cai trị của Pháp Gia. Mà phương pháp cốt tủy của Pháp Gia là tập trung quyền hành tuyệt đối trong tay ông vua, khác hẳn quan niệm rộng rãi, trọng dân hơn, của Khổng Tử hay Mạnh Tử. Có thể gọi đó là chủ trương Ngoại Nho Nội Pháp; hay nói ngược lại cũng được. Các nước Á Ðông xưa kia đều chịu ảnh hưởng của “ý thức hệ” gốc Trung Hoa đó. Các ông vua Việt Nam, Cao Ly, Miến Ðiện, các đại hãn Mông Cổ, Khiết Ðan đều chịu nhường, họ chỉ xưng vương, còn danh hiệu hoàng đế để cho ông vua nước Tàu độc quyền sử dụng. Chỉ có ông vua Trung Hoa được coi là chịu Mệnh Trời, là Thiên Tử, Con của Trời. Nhưng các dân tộc bất khuất thì không bao giờ chịu để cho đất nước họ bị nhập làm một với nước Tàu.
Có hai sắc dân, ở Mông Cổ và Mãn Châu, đã sử dụng ý thức hệ Ngoại Nho Nội Pháp làm khí cụ thống trị dân Trung Hoa hàng thế kỷ. Như Vua Ung Chính Nhà Thanh đã từng bài bác những “người Tàu yêu nước quá khích;” bằng cách vin vào những khái niệm Thiên hạ, Mệnh Trời, để biện minh cho chế độ người Mãn ngồi trên đầu người Hán! Mà người Hán, quả thật, đã chịu phục tùng triều đại Mãn thanh trong ba thế kỷ! Nhưng cuối cùng, chính dân tộc Mãn đã mất nước, cũng như đa số người Mông Cổ trước đó. Sau khi nhà Nguyên sụp đổ, các vua nhà Minh được thừa hưởng cả một đế quốc do người Mông Cổ dựng lên. Họ tiếp tục bắt các dân du mục ở phía Bắc và vùng Trung Á thần phục họ, như đã từng bị thua phải thần phục các vua nhà Nguyên. Trong đó có cả nước tổ tiên của người Mông Cổ! Hai sắc dân Mông và Mãn đã bị thua trên mặt trận văn hóa. Vì họ đã sử dụng vũ khí tư tưởng, có thể gọi là ý thức hệ, của người Trung Hoa, để cai trị nước Trung Hoa. Trong đó có quan niệm về Thiên Hạ, và Bình Thiên hạ! Dùng dao của người Trung Hoa, họ đã tự cắt đứt gốc rễ của chính họ! Trong các hình thức nô lệ, không gì nguy hiểm bằng nô lệ về tư tưởng! Bình Thiên Hạ là một khẩu hiệu cũng dễ mê hoặc giống như tiến tới Chủ Nghĩa Xã Hội sau này!
Trong hàng chục năm qua, Bắc Kinh đã mở mặt trận ngoại giao khắp thế giới để gây ảnh hưởng, lôi kéo các nước đang phát triển về phía mình. Trong đó có việc thành lập những Viện Khổng Tử, truyền bá ngôn ngữ, văn hóa. Nhưng họ không dùng Nho Giáo để thay thế chủ nghĩa Cộng Sản với đặc tính Trung Quốc. Ngược lại, họ vẫn mô tả “mô hình Trung Quốc hiện đại” như là một thứ Chủ Nghĩa Xã Hội mới, để các nước đang phát triển noi theo.
Cuốn bạch thư 10,000 chữ mà chính phủ Bắc Kinh mới phát hành viết họ đang “xây dựng Trung Quốc thành một nước xã hội chủ nghĩa giàu, mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa, và hiện đại từ nay đến... giữa thế kỷ 21”. Ðó là một cách quảng cáo cho mô hình Trung Quốc. Mô hình đó bao gồm việc tập trung quyền bính trong tay một đảng, thâu tóm các quyền lợi kinh tế vào trong tay một giai cấp tư bản mới lên, dùng kinh tế thị trường với sự can thiệp trắng trợn của bộ máy hoạch định nhà nước. Trong mục này đã nhiều lần nêu lên những nhược điểm cơ bản trong nền kinh tế Trung Quốc, chúng tôi không lập lại nơi đây. Nhưng mô hình Trung Quốc vẫn có thể mê hoặc rất nhiều người! Các chế độ độc tài ở các nước đang phát triển rất dễ bị lôi cuốn với mô hình này. Vì đó là một thứ ý thức hệ biện minh cho cảnh tập trung quyền hành chính trị và quyền lợi kinh tế trong tay một thiểu số! Trước đây Mao Trạch Ðông đã tìm cách gây ảnh hưởng trên thế giới thứ ba với lý thuyết cách mạng vô sản kiểu Trung Hoa. Ngày nay, các hoàng đế ở Bắc Kinh lại tiếp tục cuộc tấn công đó, nhưng với lý thuyết mới, để tiếp tục Bình Thiên Hạ!
Khi tái lập năm 1951, đảng Cộng Sản Việt Nam đã tôn thờ tư tưởng Mao Trạch Ðông như cách hay nhất để áp dụng chủ nghĩa Mác-Lê Lin tại Á Châu. Trung Cộng đã ảnh hưởng tới Việt Nam qua guồng máy hai đảng, nhiều hơn cả guồng máy nhà nước. Thời ông Nguyễn Cơ Thạch, có lúc Bộ Ngoại Giao không có việc gì làm, vì mọi giao thiệp giữa hai nước đều cho ban đối ngoại của hai trung ương đảng chuyên quyền quyết định. Khi người ta đã nhân danh đảng mà nói, guồng máy nhà nước phải câm miệng lại! Guồng máy đảng là nơi phát ra những tín hiệu chỉ đạo cái đầu mọi người. Muốn Bình Thiên Hạ, tất cả mọi cái đầu phải suy nghĩ giống nhau!
Từ khi Nông Ðức Mạnh triều yết Bắc Kinh giữa năm 2008, rồi cuối năm Nguyễn Tấn Dũng tiếp theo sang Tàu để kết thúc các hiệp ước biên giới, và mở cửa nước Việt Nam cho các công ty Trung Quốc bán sản phẩm và sang làm ăn, Việt Nam đã hoàn toàn rơi vào quỹ đạo Trung Quốc cả về kinh tế lẫn chính trị. Nhưng muốn nắm đầu cả về văn hóa tư tưởng, họ phải dùng guồng máy đảng. Tình trạng này thể hiện trong cuộc thăm viếng của ông Ðới Bỉnh Quốc vừa qua.
Báo chí trong nước cho biết trong phiên họp của ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt-Trung có “quan chức từ hai đảng cầm quyền, các quan chức quân sự, trung ương và lãnh đạo chính quyền địa phương từ hai quốc gia”. Ðới Bỉnh Quốc không phải là một bộ trưởng ngoại giao, nhưng là người phụ trách đối ngoại trong Bộ Chính Trị Cộng Sản Trung Quốc. Cho nên cuộc họp về bang giao giữa hai nước, thay vì chỉ cần các chuyên gia về vấn đề biên giới, vấn đề hải phận, các chuyên viên kinh tế tài chánh, người ta lại nhấn mạnh tới “quan chức từ hai đảng cầm quyền”.
Với sự có mặt của các quan chức từ hai đảng cầm quyền, mọi quyết định sẽ bắt buộc guồng máy nhà nước phải tuân theo, không thể cãi! Trong cuộc họp mặt này, thay vì chỉ có các nhân vật thuộc chính quyền trung ương, chúng ta còn thấy cả “lãnh đạo chính quyền địa phương từ hai quốc gia” nữa. Bản tin không cho biết đó là những địa phương nào. Có chính quyền tỉnh Quảng Ngãi, nơi các ngư dân bị “tàu lạ” tấn công hay không? Có chính quyền những tỉnh đang cho người Trung Hoa thuê khai thác rừng, mỏ hay không? Có chính quyền những tỉnh mà các công ty Trung Quốc đang làm ăn mang cả ngàn công nhân Tàu sang làm việc mà không cần giấy phép hay không? Nếu có những người đó, thì họ có thể đã nhận được các chỉ thị trực tiếp trong cuộc họp ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt-Trung này, do ông Ðới Bỉnh Quốc chủ trì hay không? Tại sao các quan chức địa phương người Việt lại phải đi nghe các chỉ thị của một ủy viên trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc?
Còn các quan chức địa phương Trung Quốc, sang đây để làm gì? Năm 2008, giữa chuyến đi của hai ông Nông Ðức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng, bí thư tỉnh ủy Quảng Ðông là Uông Dương, ủy viên Bộ Chính Trị, đã qua Việt Nam vào Tháng Chín, bàn bạc về chuyện biên giới và mang theo một đoàn doanh nhân hùng hậu khiến Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Hà Nội phải báo tin gấp về cho Bộ Ngoại Giao Mỹ (Wikileaks, ngày 30 tháng 8, 2011). Chuyến đi của ông Uông Dương có phải là một bước chuẩn bị trước khi ông Nguyễn Tấn Dũng trước khi bay qua Bắc Kinh? Các vua nhà Thanh đời xưa thường trao việc Việt Nam cho các vị tổng đốc Lưỡng Quảng lo liệu. Ngày nay có thể ông Uông Dương (Wang Yang) cũng mang trách nhiệm tương tự hay không?
Trong cuộc họp của ủy ban chỉ đạo vừa rồi, ông Khổng Huyền Hựu, đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội đã nhấn mạnh, “Chúng ta cần thực hiện tốt cơ chế hợp tác giữa các bộ ngoại giao, quốc phòng, công an, v.v. hai nước, cũng như các ban đối ngoại, tuyên giáo của hai đảng.”
Tại sao cần phải có tuyên giáo của hai đảng dính vào việc bang giao giữa hai quốc gia? Ðây chính là một cái đầu cầu để cho đảng Cộng Sản Trung Quốc có thể “giáo dục” đầu óc người dân bản xứ! Trung Quốc đã từng yêu cầu đảng Cộng Sản Việt Nam phải “lãnh đạo” báo đài trong nước làm sao cho dân Việt nguôi bớt mối uất hận đối với việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa.
Ðại sứ Khổng Huyền Hựu còn nói: “Tôi tin rằng, miễn là hai bên nghiêm chỉnh thực hiện những nhân thức chung của lãnh đạo hai nước, tiếp thu, tham khảo một cách đầy đủ kinh nghiệm thành công về phân giới cắm mốc đường biên giới đất liên của hai nước, cũng như về phân định vịnh Bắc bộ của hai nước, thì chúng ta nhất định có trị tuệ để tránh được, không để những bất đồng làm ảnh hưởng tới sự phát triển thuận lợi của quan hệ hai nước”.
Ðọc lời tuyên bố trên, chúng ta có thể hiểu dụng ý của ông đại sứ Trung Quốc. Ông muốn mọi người Việt Nam học tập “tiếp thu, tham khảo một cách đầy đủ kinh nghiệm thành công về phân giới cắm mốc đường biên giới” để cư xử với đàn anh phương Bắc theo đúng “mô thức” này, không được làm khác. Ðối với Trung Quốc, việc “phân giới cắm mốc đường biên giới” được coi là một thành công. Mọi bất đồng đều được vui vẻ xí xóa. Các quan chức địa phương người Việt Nam chắc đều được dịp tiếp thu, tham khảo sự thành công tốt đẹp đó.
Người dân Việt Nam có thể nghĩ khác. Nhưng họ có quyền nghĩ khác hay không? Nếu nghĩ khác, họ có được nói lên hay không? Trước ngày ông Ðới Bỉnh Quốc sang Hà Nội, bộ máy công an của đảng Cộng Sản Việt Nam đã dẹp tan tất cả các cuộc biểu tình kéo dài hơn hai tháng trước đó. Trong ý thức hệ bao gồm với hai chữ Thiên Hạ, thiên hạ phải có trên có dưới! Nếu những người lãnh đạo nước Việt Nam đã chấp nhận theo đường Trung Quốc, tiến lên một Chủ Nghĩa Xã Hội nào đó (với đặc tính Trung Quốc tất nhiên) thì cũng phải hướng dẫn dư luận dân Việt theo chiều hướng của thiên triều. Ông Ðới Bỉnh Quốc đã hoàn tất một công tác trong quá trình Bình Thiên Hạ!
ÐỪNG MÊ NGỦ NỮA !
Cái tai hại cho dân tộc Việt Nam hiện nay là vai trò làm nô lệ cho Trung Cộng của Cộng Sản Việt Nam. Có nhiều người còn nghĩ rằng Việt Cộng sẽ đương đầu với sự xâm lăng của Trung Cộng. Có người thấy những vũ khí tối tân của Hoa Kỳ bao vây Trung Cộng mà cho là “thế nào Hoa Kỳ cũng không để cho Trung Cộng đánh chiếm Việt Nam”, hoặc một trận chiến sống mái giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng thế nào cũng xảy ra. V.v… và v.v…Ðó là những kẻ nằm mơ giữa ban ngày. Nếu chúng ta, người dân Việt Nam tỉnh thức, chúng ta sẽ thấy thế lực có thể bảo vệ được Ðất Nước hiện nay chính là người Việt Nam.
Trung Cộng đã nắm đầu Bộ Chính Trị của Việt Cộng, chúng cứ thúc đẩy Việt Cộng nhường từ quyền lợi này đến quyền lợi khác cho đến khi không còn gì để nhượng nữa cũng là lúc Việt Nam không còn là của Việt Nam nữa. Dù cho Hoa Kỳ có tăng cường viện trợ cho Việt Cộng bao nhiêu súng đạn, bao nhiêu tiền của chắc chắn cũng như bể, như nước đổ đầu vịt mà thôi. Ðó là chưa kể một khi Chú Sam thấy có lợi là Chú Sam bán ngay không một chút tiếc rẽ, không một chút do dự. Những ngày gần đây, có nhiều người cho rằng Trung Cộng có vẻ hòa hoãn hơn lúc trước, hy vọng vụ Biển Ðông Việt Nam sẽ không mất quyền lợi. Trên thực tế Trung Cộng đang vẫn xâm lăng và bước chân xâm lăng của Trung Cộng thật vững chắc nhờ có Việt Cộng hết lòng giúp đỡ. Sở dĩ Ðới Bỉnh Quốc phải qua Việt Nam đấu dịu với Cộng Sản Việt Nam là vì chúng sắp cho cái giàn khoan khổng lồ của chúng vào hoạt động trên biển Ðông. Tàu Cộng sợ bị quấy nhiễu miếng mồi dầu khí to lớn trong khi chúng khai thác. Tuy nói là đấu dịu, nhưng chỉ có Ðới Bỉnh Quốc “đấu dịu” hay đe dọa chứ hải quân của chúng vẫn tiếp tục quấy nhiễu Việt Nam và cụ thể nhất là chúng quấy nhiễu tàu Ấn Ðộ, dằn mặt Ấn Ðộ mà cũng gởi một thông điệp cho Hoa Kỳ, cảnh cáo Hoa Kỳ “coi chừng” khi vào hải phận Việt Nam. Nói trắng ra là Trung Cộng không muốn bất cứ nước nào giao thiệp với Việt Cộng.
Những sự việc xảy ra hằng ngày trước “thập mục quan chiêm” mà một đứa con nít cũng nhận ra là Việt Cộng không bao giờ chống Trung Cộng.
Muốn cứu nước chúng ta chỉ còn một con đường: nỗ lực vận động đồng bào trong nước cùng đứng lên, buộc Việt Cộng phải công bố tất cả những văn kiện, những sự thật trên biển và trên đất liền đối với Trung Cộng, mất bao nhiêu biển, bao nhiêu đất. Nếu không trả lời thì chúng ta có chính nghĩa để phản đối, lật đỗ chế độ Cộng Sản. Các cuộc biểu tình của dân chúng Việt Nam những tuần lễ vừa qua đã làm cho cả Trung Cộng và Việt Cộng lo sợ, nhất là tin tức cho biết dân chúng Lybia đã dần dần dẹp được tên độc tài Gadhaffi. Chắc chắn chuyến công du Việt Nam vấn đề dân chúng biểu tình cũng là vấn đề “ưu tiên một phải giải quyết”.
Sở dĩ anh em Trung Cộng và Việt Cộng sợ các cuộc biểu tình của dân chúng Việt Nam là vì những lý do sau đây: một là chống Trung Cộng xâm lăng: Sự xâm lăng trên biển và trên đất liền Việt Nam của Trung Cộng đã quá rõ ràng, dân Việt Nam có động lực chính đáng để phản đối, nếu Việt Cộng dùng bạo lực đàn áp thì mọi người đều biết chúng là tay sai của Trung Cộng, chúng đứng về phe với Trung Cộng, chúng mất chính nghĩa trước quốc tế cũng như quốc nội. Hơn nữa, một khi các cuộc biểu tình tại Việt Nam thu hút được nhiều người thì dân chúng Trung Cộng chắc chắn cũng sẽ đứng lên đòi dân chủ tự do. Rất tiếc là những tin tức về bang giao Trung Việt không được phổ biến, văn tự bán nước của Hồ Chí Minh và Phạm Văn Ðồng chưa được phổ biến sâu rộng trong dân chúng. Nhưng dần dà rồi cũng sẽ đến tai mọi người Việt Nam trong nước. Văn tự của Phạm Văn Ðồng có giá trị như một bản cáo trạng Hồ Chí Minh và bè lũ VC là những tên bán nước buôn dân. Do đó, nếu chưa có những cuộc biểu tình qui mô là vì dân chúng chưa nắm được tình hình nguy ngập của đất nước trước nạn xâm lăng của Trung Cộng và với sự “làm tay trong” của Việt Cộng.
Trước đây, khi khởi đầu vụ Biển Ðông Dậy Sóng, những tướng lãnh Trung Cộng hăm doạ sẽ đánh Việt Nam, cụ thể là chúng đã cho một số quân đông đảo tập trận gần biên giới Hoa Việt với một thông điệp: “Trung Cộng sẵn sàng cho Việt Nam một bài học”. Việt Cộng không thể im lặng mới tổ chức một cuộc họp 12 tỉnh biên giới để “sẵn sàng đối phó” với quân thù. Ðây là một lợi thế tuyên truyền cho chúng ta. Tại sao có cuộc họp này?
Vì Trung Cộng hăm dọa đánh Việt Nam. Việt Cộng đã chẳng đặng đừng tiết lộ cho quân đội nhân dân của chúng biết Trung Cộng xâm lăng Việt Nam. Binh lính cũng như các sĩ quan Việt Cộng đã hiểu phần nào tại sao dân chúng biểu tình chống Trung Cộng. Câu hỏi kế tiếp là tại sao Nhà Nước lại đàn áp khi người dân chỉ biểu tình trong ôn hòa? Cũng vì quá sợ nên báo chí Trung Cộng đã phao vu rằng những cuộc biểu tình chống Trung Cộng tại Việt Nam là do Hoa Kỳ giựt dây. Chúng ta phải làm những gì anh em Trung Cộng và Việt Cộng sợ.
Từ văn kiện bán nước của Phạm Văn Ðồng, từ những tang chứng mất Thác Bản Giốc, Suối Phi Khanh, Ải Nam Quan từ những vụ khai thác bâuxít tại Cao Nguyên từ những làng Trung Hoa được Việt Cộng cho hép thiết lập trên đất nước Việt Nam v.v… chúng ta đã có đủ dữ kiện để hô hào toàn dân tham gia biểu tình chống Trung Cộng, quan thầy của Việt Cộng.
Một sự kiện khác đã và đang xảy ra trong nước cũng liên quan mật thiết đến dân tộc Việt nam. Ðó là tình trạng đầu hàng tại chỗ của hàng giám mục Việt Nam. Nếu các giám mục minh định rõ ràng không lật đổ chính phủ, không làm chính trị, chỉ chuyên chú về mặt xã hội và tôn giáo. Nhưng những gì liên quan đến xã hội và tôn giáo? Thưa đó là nạn phá thai, nạn bóc lột dân chúng trắng trợn, nạn buôn phụ nữ ra nước ngoài làm nghề mãi dâm, nạn để cho mấy chục thiếu nữ trần truồng như nhộng để cho ngoại quốc chọn và mua, nạn nhà nước ăn cướp đất đai của nhân dân, giáo dân, những băng hoại xã hội v.v… Ðó là bổn phận của các giám mục, tại sao các ngài im lặng như vậy? Các ngài cũng thần phục Việt Cộng y như Việt Cộng thần phục Trung Cộng? Tuần vừa qua, trong thánh lễ Giáo Hội đã cho đọc bài Cựu Ước, đại ý là Thiên Chúa đã phán với một vị tiên tri: Nếu kẻ gian ác phạm tội mà người (người của Thiên Chúa) nói cho chúng biết mà chúng không ăn năn hối
cãi thì chúng sẽ bị trừng phạt, nhưng nếu chúng làm những sự gian ác mà người không nói cho chúng biết thì chúng cũng bị trừng trị và người cũng bị trừng trị (vì không nói cho kẻ gian ác biết hành động tội lỗi của chúng) Rao giảng chân lý là bổn phận hàng đầu của đạo Công giáo cho đến nỗi một vị lớn nhất trong giáo hội đã ví các giám mục là “chó của Thiên Chúa” và hỏi tại sao không sủa?
Trong bài trước, người viết có trình bày rằng chính Việt Cộng đã làm những điều phản dân hại nước rõ ràng, có thể sờ được, động đến được, đó cũng là cách thức chúng muốn cho dân chúng đứng lên lật đổ chúng, chúng cũng muốn thử thách lòng yêu chuộng công bình, sự thật của dân chúng. Nhưng dân chúng im lặng. Ðó là điều bất hạnh cho đất nước.
Cũng một thể thức đó, Việt Cộng đã “khuyến khích” Giáo Hội Việt Nam bằng những hành động công khai rõ ràng chà đạp lên Giáo Hội, phá đổ Thánh Giá, công khai ăn cướp tài sản của Giáo Hội, của Giáo Dân mà các Giám Mục im lặng. Tại sao? Hay quý vị đã cho rằng những hành động đó không liên quan đến giáo lý? Hay quý vị “đổi chát” với Việt Cộng? Hội Ðồng Giám Mục đã đổi gì? Lấy gì? “Nếu ai không thích Cộng Sản thì người đó đừng yêu cầu chúng tôi khích bác họ”. Ðây là lời tuyên bố của một giám mục Việt Nam phát biểu tại Thánh Ðường Thánh Phao Lồ ở Roma. Ðức Giám Mục này đã đổi cho Cộng Sản chính Ðức Tin của Ngài, chính Giáo Lý và Giáo Luật của Hội Thánh, đi ngượclại những huấn từ của các Ðức Giáo Hoàng. Tội của Giám Mục này đã nặng. Nhưng những ai nghe lời nói phản Chân Lý này mà im lặng cũng bị phạt chung một hình phạt, vì đồng lõa. Ðể Cộng Sản xâm nhập vào vấn đề đào tạo linh mục, điển hình là Giám Mục Tri Bữu Thiên đã cho cán bộ VC tổ chức lớp học giáo dục quốc phòng và an ninh cho Ðại Chủng Sinh giáo phận Cần Thơ (Tương Quan giữa Ðạo Công Giáo và Dân tộc Việt Nam, Lm Cao Phương Kỷ đăng trên Diễn Ðàn Giáo Dân số 117 tháng 8 năm 2011). Giáo phận Cần Thơ đã đổi chát với VC một vật tuy vô hình những rất “phá đạo”. Ðồng lõa với Giám Mục Cần Thơ cũng bị phạt như ngài.
Việt Cộng đã phục vụ Trung Cộng như những tên nô lệ, đem giang sơn của tổ tiên đổi lấy an toàn và địa vị, quyền lợi của chúng. Các Giám Mục Việt Nam đã dùng chân lý, Sự Thật và Sự Sống (thai nhi) đổi cho Việt Cộng và được chúng cho một vài quyền lợi “không đáng chi”, còn những sự trọng đại như phong chức giám mục, linh mục, bổ nhiệm v.v…
đều phải được chúng cho phép, phải “xin – cho”. “Nắm được giám mục là nắm được Giáo Hội Công giáo Việt Nam. Nắm được đảng Cộng Sản Việt Nam là nắm được đất nước Việt Nam.” Trước tình thế này: công dân Việt Nam phải lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam, chúng đã không bảo vệ tổ quốc, dân tộc thì người dân phải ra tay hành động, vì không thể để giang sơn của cha ông lọt vào tay ngoại bang.
Các Giám Mục đã thần phục Việt Cộng, giáo dân thôi đừng chờ lệnh các ngài. Người Công Giáo trước hết phải vâng lời Thiên Chúa mà làm chứng Sự Thật và Công Lý.
Ðừng mê ngủ nữa!.
Lê Văn Ấn
Cái tai hại cho dân tộc Việt Nam hiện nay là vai trò làm nô lệ cho Trung Cộng của Cộng Sản Việt Nam. Có nhiều người còn nghĩ rằng Việt Cộng sẽ đương đầu với sự xâm lăng của Trung Cộng. Có người thấy những vũ khí tối tân của Hoa Kỳ bao vây Trung Cộng mà cho là “thế nào Hoa Kỳ cũng không để cho Trung Cộng đánh chiếm Việt Nam”, hoặc một trận chiến sống mái giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng thế nào cũng xảy ra. V.v… và v.v…Ðó là những kẻ nằm mơ giữa ban ngày. Nếu chúng ta, người dân Việt Nam tỉnh thức, chúng ta sẽ thấy thế lực có thể bảo vệ được Ðất Nước hiện nay chính là người Việt Nam.
Trung Cộng đã nắm đầu Bộ Chính Trị của Việt Cộng, chúng cứ thúc đẩy Việt Cộng nhường từ quyền lợi này đến quyền lợi khác cho đến khi không còn gì để nhượng nữa cũng là lúc Việt Nam không còn là của Việt Nam nữa. Dù cho Hoa Kỳ có tăng cường viện trợ cho Việt Cộng bao nhiêu súng đạn, bao nhiêu tiền của chắc chắn cũng như bể, như nước đổ đầu vịt mà thôi. Ðó là chưa kể một khi Chú Sam thấy có lợi là Chú Sam bán ngay không một chút tiếc rẽ, không một chút do dự. Những ngày gần đây, có nhiều người cho rằng Trung Cộng có vẻ hòa hoãn hơn lúc trước, hy vọng vụ Biển Ðông Việt Nam sẽ không mất quyền lợi. Trên thực tế Trung Cộng đang vẫn xâm lăng và bước chân xâm lăng của Trung Cộng thật vững chắc nhờ có Việt Cộng hết lòng giúp đỡ. Sở dĩ Ðới Bỉnh Quốc phải qua Việt Nam đấu dịu với Cộng Sản Việt Nam là vì chúng sắp cho cái giàn khoan khổng lồ của chúng vào hoạt động trên biển Ðông. Tàu Cộng sợ bị quấy nhiễu miếng mồi dầu khí to lớn trong khi chúng khai thác. Tuy nói là đấu dịu, nhưng chỉ có Ðới Bỉnh Quốc “đấu dịu” hay đe dọa chứ hải quân của chúng vẫn tiếp tục quấy nhiễu Việt Nam và cụ thể nhất là chúng quấy nhiễu tàu Ấn Ðộ, dằn mặt Ấn Ðộ mà cũng gởi một thông điệp cho Hoa Kỳ, cảnh cáo Hoa Kỳ “coi chừng” khi vào hải phận Việt Nam. Nói trắng ra là Trung Cộng không muốn bất cứ nước nào giao thiệp với Việt Cộng.
Những sự việc xảy ra hằng ngày trước “thập mục quan chiêm” mà một đứa con nít cũng nhận ra là Việt Cộng không bao giờ chống Trung Cộng.
Muốn cứu nước chúng ta chỉ còn một con đường: nỗ lực vận động đồng bào trong nước cùng đứng lên, buộc Việt Cộng phải công bố tất cả những văn kiện, những sự thật trên biển và trên đất liền đối với Trung Cộng, mất bao nhiêu biển, bao nhiêu đất. Nếu không trả lời thì chúng ta có chính nghĩa để phản đối, lật đỗ chế độ Cộng Sản. Các cuộc biểu tình của dân chúng Việt Nam những tuần lễ vừa qua đã làm cho cả Trung Cộng và Việt Cộng lo sợ, nhất là tin tức cho biết dân chúng Lybia đã dần dần dẹp được tên độc tài Gadhaffi. Chắc chắn chuyến công du Việt Nam vấn đề dân chúng biểu tình cũng là vấn đề “ưu tiên một phải giải quyết”.
Sở dĩ anh em Trung Cộng và Việt Cộng sợ các cuộc biểu tình của dân chúng Việt Nam là vì những lý do sau đây: một là chống Trung Cộng xâm lăng: Sự xâm lăng trên biển và trên đất liền Việt Nam của Trung Cộng đã quá rõ ràng, dân Việt Nam có động lực chính đáng để phản đối, nếu Việt Cộng dùng bạo lực đàn áp thì mọi người đều biết chúng là tay sai của Trung Cộng, chúng đứng về phe với Trung Cộng, chúng mất chính nghĩa trước quốc tế cũng như quốc nội. Hơn nữa, một khi các cuộc biểu tình tại Việt Nam thu hút được nhiều người thì dân chúng Trung Cộng chắc chắn cũng sẽ đứng lên đòi dân chủ tự do. Rất tiếc là những tin tức về bang giao Trung Việt không được phổ biến, văn tự bán nước của Hồ Chí Minh và Phạm Văn Ðồng chưa được phổ biến sâu rộng trong dân chúng. Nhưng dần dà rồi cũng sẽ đến tai mọi người Việt Nam trong nước. Văn tự của Phạm Văn Ðồng có giá trị như một bản cáo trạng Hồ Chí Minh và bè lũ VC là những tên bán nước buôn dân. Do đó, nếu chưa có những cuộc biểu tình qui mô là vì dân chúng chưa nắm được tình hình nguy ngập của đất nước trước nạn xâm lăng của Trung Cộng và với sự “làm tay trong” của Việt Cộng.
Trước đây, khi khởi đầu vụ Biển Ðông Dậy Sóng, những tướng lãnh Trung Cộng hăm doạ sẽ đánh Việt Nam, cụ thể là chúng đã cho một số quân đông đảo tập trận gần biên giới Hoa Việt với một thông điệp: “Trung Cộng sẵn sàng cho Việt Nam một bài học”. Việt Cộng không thể im lặng mới tổ chức một cuộc họp 12 tỉnh biên giới để “sẵn sàng đối phó” với quân thù. Ðây là một lợi thế tuyên truyền cho chúng ta. Tại sao có cuộc họp này?
Vì Trung Cộng hăm dọa đánh Việt Nam. Việt Cộng đã chẳng đặng đừng tiết lộ cho quân đội nhân dân của chúng biết Trung Cộng xâm lăng Việt Nam. Binh lính cũng như các sĩ quan Việt Cộng đã hiểu phần nào tại sao dân chúng biểu tình chống Trung Cộng. Câu hỏi kế tiếp là tại sao Nhà Nước lại đàn áp khi người dân chỉ biểu tình trong ôn hòa? Cũng vì quá sợ nên báo chí Trung Cộng đã phao vu rằng những cuộc biểu tình chống Trung Cộng tại Việt Nam là do Hoa Kỳ giựt dây. Chúng ta phải làm những gì anh em Trung Cộng và Việt Cộng sợ.
Từ văn kiện bán nước của Phạm Văn Ðồng, từ những tang chứng mất Thác Bản Giốc, Suối Phi Khanh, Ải Nam Quan từ những vụ khai thác bâuxít tại Cao Nguyên từ những làng Trung Hoa được Việt Cộng cho hép thiết lập trên đất nước Việt Nam v.v… chúng ta đã có đủ dữ kiện để hô hào toàn dân tham gia biểu tình chống Trung Cộng, quan thầy của Việt Cộng.
Một sự kiện khác đã và đang xảy ra trong nước cũng liên quan mật thiết đến dân tộc Việt nam. Ðó là tình trạng đầu hàng tại chỗ của hàng giám mục Việt Nam. Nếu các giám mục minh định rõ ràng không lật đổ chính phủ, không làm chính trị, chỉ chuyên chú về mặt xã hội và tôn giáo. Nhưng những gì liên quan đến xã hội và tôn giáo? Thưa đó là nạn phá thai, nạn bóc lột dân chúng trắng trợn, nạn buôn phụ nữ ra nước ngoài làm nghề mãi dâm, nạn để cho mấy chục thiếu nữ trần truồng như nhộng để cho ngoại quốc chọn và mua, nạn nhà nước ăn cướp đất đai của nhân dân, giáo dân, những băng hoại xã hội v.v… Ðó là bổn phận của các giám mục, tại sao các ngài im lặng như vậy? Các ngài cũng thần phục Việt Cộng y như Việt Cộng thần phục Trung Cộng? Tuần vừa qua, trong thánh lễ Giáo Hội đã cho đọc bài Cựu Ước, đại ý là Thiên Chúa đã phán với một vị tiên tri: Nếu kẻ gian ác phạm tội mà người (người của Thiên Chúa) nói cho chúng biết mà chúng không ăn năn hối
cãi thì chúng sẽ bị trừng phạt, nhưng nếu chúng làm những sự gian ác mà người không nói cho chúng biết thì chúng cũng bị trừng trị và người cũng bị trừng trị (vì không nói cho kẻ gian ác biết hành động tội lỗi của chúng) Rao giảng chân lý là bổn phận hàng đầu của đạo Công giáo cho đến nỗi một vị lớn nhất trong giáo hội đã ví các giám mục là “chó của Thiên Chúa” và hỏi tại sao không sủa?
Trong bài trước, người viết có trình bày rằng chính Việt Cộng đã làm những điều phản dân hại nước rõ ràng, có thể sờ được, động đến được, đó cũng là cách thức chúng muốn cho dân chúng đứng lên lật đổ chúng, chúng cũng muốn thử thách lòng yêu chuộng công bình, sự thật của dân chúng. Nhưng dân chúng im lặng. Ðó là điều bất hạnh cho đất nước.
Cũng một thể thức đó, Việt Cộng đã “khuyến khích” Giáo Hội Việt Nam bằng những hành động công khai rõ ràng chà đạp lên Giáo Hội, phá đổ Thánh Giá, công khai ăn cướp tài sản của Giáo Hội, của Giáo Dân mà các Giám Mục im lặng. Tại sao? Hay quý vị đã cho rằng những hành động đó không liên quan đến giáo lý? Hay quý vị “đổi chát” với Việt Cộng? Hội Ðồng Giám Mục đã đổi gì? Lấy gì? “Nếu ai không thích Cộng Sản thì người đó đừng yêu cầu chúng tôi khích bác họ”. Ðây là lời tuyên bố của một giám mục Việt Nam phát biểu tại Thánh Ðường Thánh Phao Lồ ở Roma. Ðức Giám Mục này đã đổi cho Cộng Sản chính Ðức Tin của Ngài, chính Giáo Lý và Giáo Luật của Hội Thánh, đi ngượclại những huấn từ của các Ðức Giáo Hoàng. Tội của Giám Mục này đã nặng. Nhưng những ai nghe lời nói phản Chân Lý này mà im lặng cũng bị phạt chung một hình phạt, vì đồng lõa. Ðể Cộng Sản xâm nhập vào vấn đề đào tạo linh mục, điển hình là Giám Mục Tri Bữu Thiên đã cho cán bộ VC tổ chức lớp học giáo dục quốc phòng và an ninh cho Ðại Chủng Sinh giáo phận Cần Thơ (Tương Quan giữa Ðạo Công Giáo và Dân tộc Việt Nam, Lm Cao Phương Kỷ đăng trên Diễn Ðàn Giáo Dân số 117 tháng 8 năm 2011). Giáo phận Cần Thơ đã đổi chát với VC một vật tuy vô hình những rất “phá đạo”. Ðồng lõa với Giám Mục Cần Thơ cũng bị phạt như ngài.
Việt Cộng đã phục vụ Trung Cộng như những tên nô lệ, đem giang sơn của tổ tiên đổi lấy an toàn và địa vị, quyền lợi của chúng. Các Giám Mục Việt Nam đã dùng chân lý, Sự Thật và Sự Sống (thai nhi) đổi cho Việt Cộng và được chúng cho một vài quyền lợi “không đáng chi”, còn những sự trọng đại như phong chức giám mục, linh mục, bổ nhiệm v.v…
đều phải được chúng cho phép, phải “xin – cho”. “Nắm được giám mục là nắm được Giáo Hội Công giáo Việt Nam. Nắm được đảng Cộng Sản Việt Nam là nắm được đất nước Việt Nam.” Trước tình thế này: công dân Việt Nam phải lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam, chúng đã không bảo vệ tổ quốc, dân tộc thì người dân phải ra tay hành động, vì không thể để giang sơn của cha ông lọt vào tay ngoại bang.
Các Giám Mục đã thần phục Việt Cộng, giáo dân thôi đừng chờ lệnh các ngài. Người Công Giáo trước hết phải vâng lời Thiên Chúa mà làm chứng Sự Thật và Công Lý.
Ðừng mê ngủ nữa!.
Lê Văn Ấn
Nhà nước bất hảo
Không còn cách nói nào khác hơn được để nói về chế độ CS Trung Hoa hiện nay.
Nói điều này hơi thừa, nhưng cũng phải nói, như một cách để hành xử quyền tự do ngôn luận vì ở VN ít có người dân nào dám nói lên sự thật này cho dù ở VN giờ đây có đến 700 tờ báo, hàng trăm đài phát thanh và truyền hình với hàng chục ngàn phóng viên và hàng trăm nhà bình luận thời cuộc, nhưng họ đều im re vì không được phép .
Theo BBC – RFI trích thuật lại một tờ bài báo của tờ Financial Times: “Hải quân Trung Quốc cản đường chiến hạm Ấn Độ tại Biển Đông”
“Sự cố xẩy ra vào hạ tuần tháng Bảy, nhưng đến hôm nay, 01/09/2011 mới được tiết lộ. Chiến hạm Ấn Độ INS Airavat, trên đường đi nhân chuyến ghé thăm hữu nghị Việt Nam, đã bị tàu chiến Trung Quốc xét hỏi ngoài khơi bờ biển Việt Nam. Đây là hành động mới nhất của Bắc Kinh nhằm buộc các nước công nhận chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông.”
Đây là một việc vô cùng nghiêm trọng nhưng Bộ ngoại giao VN – chính phủ VN vẫn lặng im như không có gì xảy ra, và người dân VN sẽ chẳng biết được điều gì nếu tờ báo trên không tiết lộ thông tin.
Tiếp theo đó báo chí và chính phủ Ấn Độ đã công khai về thông tin này nhưng nói thêm là không hề có sự hiện diện của tàu Trung quốc gần đó:
‘Theo nguồn tin này, hôm 22 tháng 7, khi ở ngoài khơi cách Nha Trang 45 hải lý, chiếc INS Airavat đã nhận được qua hệ thống radio của tàu thông điệp của một người tự nhận là “Hải quân Trung Quốc”, nói rằng “Quý vị đang tiến vào hải phận Trung Quốc”.
Đối với hải quân và chính phủ Ấn Độ đây là một hành động khiêu khích gây hấn, nhưng đối với nhân dân VN thì đây là một hành động xâm lược vì hải quân Trung cộng tự cho mình cái quyền làm chủ nhân ông trên lãnh hải VN.
Sau việc này không biết nhân dân và chính phủ Ấn Độ nghĩ gì về đất nước và dân tộc chúng ta? Nghĩ gì về chế độ CS hiện nay khi những người cộng sản đã từng tự hào rằng họ đã đánh bại hai đế quốc lớn là Pháp- Mỹ và nước CHXHXN Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, được “cộng đồng quốc tế đánh giá cao”.?!
Việc làm này của hải quân Trung Cộng (TC) biến những lời tuyên bố hùng hồn về chủ quyền và thành tựu của CSVN thành một trò khôi hài lố bịch. Chúng ta còn nhớ cách đây không lâu, ông Nguyễn Minh Triết trong chuyến thăm hữu nghị Cuba, ông đã tuyên bố rằng: “VN và Cuba cùng gìn giữ hòa bình của thế giới” vậy còn hòa bình và an ninh của VN thì để cho ai giữ đây khi TC ngang nhiên sách nhiễu những vị khách của chúng ta ngay trong hải phận của mình?
Mới đây, RFI, BBC, VOA đều đưa tin rằng: Tháng 7 năm 2011 khi chế độ Gaddafi đang trên bờ sụp đổ, vậy mà những công ty sản xuất vũ khí của Trung Cộng đã mật đàm để bán cho quân đội Gaddaffi một số lượng vũ khí như: Phi đạn chống tăng và bệ phóng phi đạn trị giá 200 triệu USD. Mục đích thực của phi vụ bán vũ khí này là TC muốn bằng mọi giá giúp đỡ cho quân đội Gaddafi đánh bại quân nỗi dậy để ngăn chặn làn sóng Cách mạng đang lan truyền từ Bắc Phi và Trung đông,đây là cách TC cứu nguy cho chính bản thân mình và nhất là các chế độ độc tài đàn em của TC. Người ta tìm thấy tài liệu này trong một cơ quan nhà nước của Gaddafi bỏ lại. Khi mọi việc đổ bể thì nhà cầm quyền Trung Cộng nói là: Họ không hề hay biết gì về vụ mua bán này. Thật khôi hài và vô liêm sỉ hết chỗ nói… Thế giới sẽ tôn trọng Trung Cộng hơn nếu họ công nhiên nhìn nhận trách nhiệm về vụ việc trên. Còn hậu quả của việc này thì xấu như nhau.
Đây không phải là lần đầu tiên Trung Cộng vi phạm lệnh cấm vận vũ khí của Liên Hiệp quốc. Họ vẫn lén lút bán vũ khí cho Iran và các chế độ bất hảo bị Liên Hiệp quốc cấm vận.
Mỹ và Thế giới đã nhiều lần than phiền, cảnh cáo, nhưng mỗi lần như vậy Trung Cộng đều phủi tay một cách trơ trẽn…Còn trong lĩnh vực kinh tế, những gì Trung Cộng đang thực hiện tại Châu Phi làm cả Thế giới quan ngại vì chính sách thực dân tàn bạo của nó.
Nhưng một vấn đề có liên quan đến an ninh và sinh mệnh của đất nước ta là việc TC cho công bố bản đồ hình chữ U xác nhận chủ quyền của họ trên 80% biển Đông,thôn tính Hoàng sa và một phần Trường sa, sách nhiễu, bắn giết ngư dân VN đang hành nghề trên vùng biển truyền thống của mình. Trên đất liền họ chiếm của chúng ta hàng trăm cây số và những vị trí chiến lược, theo một số nguồn tin thì Ải Nam quan và một phần thác Bản Giốc nay thuộc về TC.
Mưu đồ xâm lược VN là dã tâm hiển nhiên của Trung Cộng, nhưng vấn đề làm chúng ta xấu hổ và bị sỉ nhục là những lời tuyên bố của ông Nguyễn Chí Vịnh như sau:
“Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam”.
Tướng Vịnh cũng nói sau chuyến thăm tới Bắc Kinh mới đây:
“Nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác và phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa láng giềng một khi các đồng chí tôn trọng độc lập chủ quyền của Việt Nam và mong muốn Việt Nam cùng phát triển”.
Nhà nước Trung Cộng là nhà nước bất hảo thì ai cũng biết rồi. Nhưng công khai ca ngợi và kết thân với một nhà nước bất hảo thì hành động này gọi là gì? Ca ngợi kẻ xâm lược đất nước mình, bắn giết nhân dân mình CSVN có còn xứng đáng để lãnh đạo đất nước này không?
Xin được nhắc lại lời cảnh báo nghiêm khắc của vua Trần nhân Tông “Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu’..
Cộng sản VN vẫn tiếp tục tư duy theo cái kiểu mà tôi xin mượn lời của ông Stora (một nhà phân tích chính trị) đã nói để áp dụng trong trường hợp này ”hình như là CSVN chưa cập nhật được tình hình địa chính trị ở thời đại mới, thời đại mà bức tường Berlin đã bị hủy, chiến tranh lạnh đã kết thúc…(và thời đại của Cách mạng Hoa lài bùng nổ) Bởi thế họ phân tích các mối quan hệ quốc tế hiện tại bằng những tiêu chuẩn lỗi thời, họ muốn trung thành với một thế giới đã đi vào dĩ vãng, vì thế họ đã tỏ ra thiển cận.”
© Huỳnh Ngọc Tuấn (Quangda1959@gmail.com)
Không còn cách nói nào khác hơn được để nói về chế độ CS Trung Hoa hiện nay.
Nói điều này hơi thừa, nhưng cũng phải nói, như một cách để hành xử quyền tự do ngôn luận vì ở VN ít có người dân nào dám nói lên sự thật này cho dù ở VN giờ đây có đến 700 tờ báo, hàng trăm đài phát thanh và truyền hình với hàng chục ngàn phóng viên và hàng trăm nhà bình luận thời cuộc, nhưng họ đều im re vì không được phép .
Theo BBC – RFI trích thuật lại một tờ bài báo của tờ Financial Times: “Hải quân Trung Quốc cản đường chiến hạm Ấn Độ tại Biển Đông”
“Sự cố xẩy ra vào hạ tuần tháng Bảy, nhưng đến hôm nay, 01/09/2011 mới được tiết lộ. Chiến hạm Ấn Độ INS Airavat, trên đường đi nhân chuyến ghé thăm hữu nghị Việt Nam, đã bị tàu chiến Trung Quốc xét hỏi ngoài khơi bờ biển Việt Nam. Đây là hành động mới nhất của Bắc Kinh nhằm buộc các nước công nhận chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông.”
Đây là một việc vô cùng nghiêm trọng nhưng Bộ ngoại giao VN – chính phủ VN vẫn lặng im như không có gì xảy ra, và người dân VN sẽ chẳng biết được điều gì nếu tờ báo trên không tiết lộ thông tin.
Tiếp theo đó báo chí và chính phủ Ấn Độ đã công khai về thông tin này nhưng nói thêm là không hề có sự hiện diện của tàu Trung quốc gần đó:
‘Theo nguồn tin này, hôm 22 tháng 7, khi ở ngoài khơi cách Nha Trang 45 hải lý, chiếc INS Airavat đã nhận được qua hệ thống radio của tàu thông điệp của một người tự nhận là “Hải quân Trung Quốc”, nói rằng “Quý vị đang tiến vào hải phận Trung Quốc”.
Đối với hải quân và chính phủ Ấn Độ đây là một hành động khiêu khích gây hấn, nhưng đối với nhân dân VN thì đây là một hành động xâm lược vì hải quân Trung cộng tự cho mình cái quyền làm chủ nhân ông trên lãnh hải VN.
Sau việc này không biết nhân dân và chính phủ Ấn Độ nghĩ gì về đất nước và dân tộc chúng ta? Nghĩ gì về chế độ CS hiện nay khi những người cộng sản đã từng tự hào rằng họ đã đánh bại hai đế quốc lớn là Pháp- Mỹ và nước CHXHXN Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, được “cộng đồng quốc tế đánh giá cao”.?!
Việc làm này của hải quân Trung Cộng (TC) biến những lời tuyên bố hùng hồn về chủ quyền và thành tựu của CSVN thành một trò khôi hài lố bịch. Chúng ta còn nhớ cách đây không lâu, ông Nguyễn Minh Triết trong chuyến thăm hữu nghị Cuba, ông đã tuyên bố rằng: “VN và Cuba cùng gìn giữ hòa bình của thế giới” vậy còn hòa bình và an ninh của VN thì để cho ai giữ đây khi TC ngang nhiên sách nhiễu những vị khách của chúng ta ngay trong hải phận của mình?
Mới đây, RFI, BBC, VOA đều đưa tin rằng: Tháng 7 năm 2011 khi chế độ Gaddafi đang trên bờ sụp đổ, vậy mà những công ty sản xuất vũ khí của Trung Cộng đã mật đàm để bán cho quân đội Gaddaffi một số lượng vũ khí như: Phi đạn chống tăng và bệ phóng phi đạn trị giá 200 triệu USD. Mục đích thực của phi vụ bán vũ khí này là TC muốn bằng mọi giá giúp đỡ cho quân đội Gaddafi đánh bại quân nỗi dậy để ngăn chặn làn sóng Cách mạng đang lan truyền từ Bắc Phi và Trung đông,đây là cách TC cứu nguy cho chính bản thân mình và nhất là các chế độ độc tài đàn em của TC. Người ta tìm thấy tài liệu này trong một cơ quan nhà nước của Gaddafi bỏ lại. Khi mọi việc đổ bể thì nhà cầm quyền Trung Cộng nói là: Họ không hề hay biết gì về vụ mua bán này. Thật khôi hài và vô liêm sỉ hết chỗ nói… Thế giới sẽ tôn trọng Trung Cộng hơn nếu họ công nhiên nhìn nhận trách nhiệm về vụ việc trên. Còn hậu quả của việc này thì xấu như nhau.
Đây không phải là lần đầu tiên Trung Cộng vi phạm lệnh cấm vận vũ khí của Liên Hiệp quốc. Họ vẫn lén lút bán vũ khí cho Iran và các chế độ bất hảo bị Liên Hiệp quốc cấm vận.
Mỹ và Thế giới đã nhiều lần than phiền, cảnh cáo, nhưng mỗi lần như vậy Trung Cộng đều phủi tay một cách trơ trẽn…Còn trong lĩnh vực kinh tế, những gì Trung Cộng đang thực hiện tại Châu Phi làm cả Thế giới quan ngại vì chính sách thực dân tàn bạo của nó.
Nhưng một vấn đề có liên quan đến an ninh và sinh mệnh của đất nước ta là việc TC cho công bố bản đồ hình chữ U xác nhận chủ quyền của họ trên 80% biển Đông,thôn tính Hoàng sa và một phần Trường sa, sách nhiễu, bắn giết ngư dân VN đang hành nghề trên vùng biển truyền thống của mình. Trên đất liền họ chiếm của chúng ta hàng trăm cây số và những vị trí chiến lược, theo một số nguồn tin thì Ải Nam quan và một phần thác Bản Giốc nay thuộc về TC.
Mưu đồ xâm lược VN là dã tâm hiển nhiên của Trung Cộng, nhưng vấn đề làm chúng ta xấu hổ và bị sỉ nhục là những lời tuyên bố của ông Nguyễn Chí Vịnh như sau:
“Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam”.
Tướng Vịnh cũng nói sau chuyến thăm tới Bắc Kinh mới đây:
“Nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác và phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa láng giềng một khi các đồng chí tôn trọng độc lập chủ quyền của Việt Nam và mong muốn Việt Nam cùng phát triển”.
Nhà nước Trung Cộng là nhà nước bất hảo thì ai cũng biết rồi. Nhưng công khai ca ngợi và kết thân với một nhà nước bất hảo thì hành động này gọi là gì? Ca ngợi kẻ xâm lược đất nước mình, bắn giết nhân dân mình CSVN có còn xứng đáng để lãnh đạo đất nước này không?
Xin được nhắc lại lời cảnh báo nghiêm khắc của vua Trần nhân Tông “Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu’..
Cộng sản VN vẫn tiếp tục tư duy theo cái kiểu mà tôi xin mượn lời của ông Stora (một nhà phân tích chính trị) đã nói để áp dụng trong trường hợp này ”hình như là CSVN chưa cập nhật được tình hình địa chính trị ở thời đại mới, thời đại mà bức tường Berlin đã bị hủy, chiến tranh lạnh đã kết thúc…(và thời đại của Cách mạng Hoa lài bùng nổ) Bởi thế họ phân tích các mối quan hệ quốc tế hiện tại bằng những tiêu chuẩn lỗi thời, họ muốn trung thành với một thế giới đã đi vào dĩ vãng, vì thế họ đã tỏ ra thiển cận.”
© Huỳnh Ngọc Tuấn (Quangda1959@gmail.com)
Đầu sỏ Al-Qaeda vẫn ẩn náu ở Pakistan
Bộ Quốc phòng Mỹ tin rằng thủ lĩnh Al-Qaeda, Ayman al-Zawahiri, vẫn lẩn trốn tại Pakistan.
Thủ lĩnh Ayman al-Zawahiri của Al-Qaeda. Ảnh: AFP "Chúng tôi không có bất cứ thông tin nào cho thấy Zawahiri ở một nơi nào khác ngoại trừ Pakistan", AFP dẫn lời người phát ngôn Lầu Năm Góc George Little cho hay. Tuyên bố này được đưa ra sau khi mạng lưới khủng bố Al-Qaeda cho công bố một đoạn băng ghi lại hình ảnh kẻ kế tục Osama bin Laden có những lời lẽ khiêu chiến nhằm vào nước Mỹ.
Zawahiri chỉ xuất hiện trong đoạn băng với một hình ảnh được chụp sẵn và chèn vào đoạn băng video được công bố bởi as-Sahab, một cơ quan truyền thông của Al-Qaeda. Lầu Năm Góc cho rằng đoạn băng, có đề cập tới cả cái chết của bin Laden, dường như vẫn được thực hiện với các chất liệu giống như những đoạn băng tìm được sau khi biệt kích Mỹ tấn công hang ổ ẩn náu của cựu trùm khủng bố ở thị trấn Abbottabad, Pakistan, hồi đầu tháng 5.
Zawahiri là một cựu quân nhân Ai Cập và vốn là nhân vật số hai của mạng Al-Qaeda khi bin Laden còn sống. Cũng giống như bin Laden, Zawahiri đã bắt đầu cuộc lẩn trốn sau khi Mỹ tuyên bố cuộc chiến chống lại chủ nghĩa khủng bố thời hậu vụ 11/9.
Kể từ khi Zawahiri lên lãnh đạo Al-Qaeda, Mỹ tuyên bố sẽ tiêu diệt bằng được thủ lĩnh mới của mạng khủng bố này. Trong thời gian gần đây, Mỹ đã liên tục hạ được một loạt các chỉ huy cấp cao của Al-Qaeda, khiến mạng lưới này chịu tổn thất nặng nề. Mỹ khẳng định Al-Qaeda sẽ không thể thực hiện một cuộc tấn công khủng bố như vụ 11/9 nữa.
Hà Giang
Bộ Quốc phòng Mỹ tin rằng thủ lĩnh Al-Qaeda, Ayman al-Zawahiri, vẫn lẩn trốn tại Pakistan.
Thủ lĩnh Ayman al-Zawahiri của Al-Qaeda. Ảnh: AFP "Chúng tôi không có bất cứ thông tin nào cho thấy Zawahiri ở một nơi nào khác ngoại trừ Pakistan", AFP dẫn lời người phát ngôn Lầu Năm Góc George Little cho hay. Tuyên bố này được đưa ra sau khi mạng lưới khủng bố Al-Qaeda cho công bố một đoạn băng ghi lại hình ảnh kẻ kế tục Osama bin Laden có những lời lẽ khiêu chiến nhằm vào nước Mỹ.
Zawahiri chỉ xuất hiện trong đoạn băng với một hình ảnh được chụp sẵn và chèn vào đoạn băng video được công bố bởi as-Sahab, một cơ quan truyền thông của Al-Qaeda. Lầu Năm Góc cho rằng đoạn băng, có đề cập tới cả cái chết của bin Laden, dường như vẫn được thực hiện với các chất liệu giống như những đoạn băng tìm được sau khi biệt kích Mỹ tấn công hang ổ ẩn náu của cựu trùm khủng bố ở thị trấn Abbottabad, Pakistan, hồi đầu tháng 5.
Zawahiri là một cựu quân nhân Ai Cập và vốn là nhân vật số hai của mạng Al-Qaeda khi bin Laden còn sống. Cũng giống như bin Laden, Zawahiri đã bắt đầu cuộc lẩn trốn sau khi Mỹ tuyên bố cuộc chiến chống lại chủ nghĩa khủng bố thời hậu vụ 11/9.
Kể từ khi Zawahiri lên lãnh đạo Al-Qaeda, Mỹ tuyên bố sẽ tiêu diệt bằng được thủ lĩnh mới của mạng khủng bố này. Trong thời gian gần đây, Mỹ đã liên tục hạ được một loạt các chỉ huy cấp cao của Al-Qaeda, khiến mạng lưới này chịu tổn thất nặng nề. Mỹ khẳng định Al-Qaeda sẽ không thể thực hiện một cuộc tấn công khủng bố như vụ 11/9 nữa.
Hà Giang
Khó Mà Che Giấu
Vi Anh Độc tài và dân chủ khác nhau như nước với lửa. Dầu có ranh mãnh, gian ngoan, dàn dựng thế mấy con người của nhà cầm quyền độc tài cũng không che dấu được tính độc tài trong đời sống công cũng như tư. Điều này có thể thấy qua hai thí dụ có tính thời sự sau.
Một là hình ảnh của ông tân đại sứ của một chánh quyền dân chủ, của dân, vì dân, do dân - là Mỹ. Đại sứ Gary Locke đi nhận nhiệm vụ rất nhân bản, bình dân, giản dị làm người dân ở TC vô cùng ngạc nhiên đầy thích thú. Một chuyện khó xảy ra ở Trung Quốc và Việt Nam Cộng sản.
Theo tin Thông tấn xã AP của Mỹ và điện báo Seattlepi - Ông Gary Locke, một người Mỹ gốc Hoa làm Thống Đốc tiểu bang Washington nhiều nhiệm kỳ, được TT Obama đề cử và Thượng Viện phê chuẩn làm đại sứ Mỹ tại TC. Ông đi nhận nhiệm sở ngoại giao ở Trung Cộng, vai mang ba lô như một du khách Mỹ bình thường, lại dẫn theo đứa con gái út nhỏ như bao người Mỹ thương và trọng trẻ em khác. Ông ghé mua cà phê trong một quán ở phi trường quốc tế Tacoma, Washington. Như một người Mỹ sẵn sàng xài lớn khi cần nhưng tiết kiệm từ chuyện nhỏ, Ông trả bằng coupon; tiệm không chịu, thì Ông dùng thẻ tín dụng, không một lời than phiền.
Ông ZhaoHui Tang, một thương gia Mỹ gốc Hoa ở Bellevue, Washington, biết Cựu Thống Đốc, đương kim Đại Sứ Mỹ, xin chụp tấm hình để kỷ niệm. Và hào hứng với cuộc tao ngộ và muốn chia xẻ với đồng bào ở nước nhà TQ, người thương gia này đưa hình ảnh lên trang mạng xã hội của TQ là Sina Weibo.
Người dân TQ vô cùng ngạc nhiên đầy thích thú. Cả 40,000 người vào xem và rất ngạc nhiên về tính bình dân, giản dị của một “quan chức Mỹ”. Một điều không thể có ở một chế độ gọi là cộng hoà nhân nhân nhưng cán bộ đảng viên cấp nhỏ hơn vị đại sứ Mỹ nhiều trở thành một giai cấp mới, đi thì tiền hô hậu ủng, sống vương giả như ông hoàng bà chúa ngày xưa.
Một cách hồn nhiên, vị đại sứ Mỹ bên cạnh nhà cầm quyền CS Bắc Kinh coi như đi vào lòng dân TQ rồi, trước khi trình ủy nhiệm thư cho Chủ Tịch Nước TC.
Hai là sự dàn dựng phức tạp, sắp xếp nhiêu khê để đánh bóng hình ảnh của ông chủ tịch nước TC đi thăm dân, ăn khoai với gia đình dân nhơn dịp Tết Nguyên Đán. Báo cáo của Toà Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh gửi cho Ngoại trưởng Mỹ vào tháng 11/2009, do Wikileaks tiết lộ, cho thấy nhà cầm quyền CS độc tài đảng trị toàn diện chuẩn bị cho người cầm đầu nhà nước, đảng và quân đội tỉ mỉ còn hơn cho vua Tàu khi xưa và dàn dựng biến nhà độc tài thống trị 1 tỷ 3 người dân TQ thành một người bình dân qua “đài báo” công cụ tuyên truyền của CS thật nhiêu khê còn hơn đạo diễn phim ở Hollywood nữa.
Bức điện tín mật này của Toà Đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh nói tin này nhận được từ Shi Jing, cựu bí thư tỉnh ủy Cam Túc. Điều đó cho thấy tại sao ngành an ninh của CSTQ và VNCS lúc nào cũng có một ngành phản gián riêng để chống CIA Mỹ và cũng cho thấy ngành ngoại giao Mỹ không nói ra, chớ CS khó mà che dấu được với Mỹ.
Xin trích ra một vài chuẩn bị mị dân đến cả những chi tiết nhỏ nhặt để đánh bóng, thần thánh hoá lãnh tụ trong kỹ thuật tuyên truyền của CS. Dĩ nhiên là cả trăm cán bộ đảng viên trung ương và địa phương dến tại nhà người nông dân để bày đặt trước. Đó là chưa nói ngành an ninh cận, cận vệ phải coi từ hũ gạo, cái bếp, “nắm” lý lịch từng người trước. Nguyên tắc và nhiệm vụ của những người này phải bảo sẽ không có điều gì sơ suất xảy ra.
Mục đích chánh là “định hướng dư luận”, biến lãnh đạo cao cấp nhứt của Đảng Nhà Nước trở thành một người lãnh đạo thân dân, đi thăm "một nhà nông Cam Túc phong sương điển hình". Họ chỉ thị cho người nông dân là đừng cạo râu - để xem mộc mạc như trong đời thường. Họ “đề nghị” theo thuật ngữ CS là ra lịnh không được làm - đừng sửa sang gì nhà cửa.
Nhưng gian mà không ngoan, bị “sự cố”, trục trặc kỹ thuật do lời nói của trẻ em thường là ngây thơ và chân thật. Khi Ông Hồ Cẩm Đào đưa khoai cho cháu gái của lão nông Li Cai, thì cô bé không nhận mà nói "chán ngấy món khoai".
Thế là bề mánh không thể thực hiện kế hoạch tuyên truyền cho khoai Tây Đinh và biến nơi này thành "thủ phủ khoai Trung Quốc". Và tự nhiên khúc phim cô bé ngây thơ nói chán khoai này bị cắt và ráp nối khúc cháu này ăn khoai sau khi đã được thuyết phục ăn một miếng khoai, để “báo đài” của Đảng Nhà Nước TC như CCTV lon tải về chuyên thăm dân cho biết sư tình của Ôn Hồ.
Chuyện kế tiếp là dàn dựng cho Ông Hồ cầm Đào làm món quẩy xoắn, là món mà người làm phải ném sợi bột đã được nhào kỹ rồi vặn xoắn lại vào chảo dầu sôi. Họ dàn dựng Ông Hồ cầm một đôi đũa thật dài nhún vào chảo dầu nóng 70 độ rủi có văng cũng không phỏng. Sau đó người ta quay hình Ông Hồ ăn một chiếc quẩy khác, đã chuẩn bị sẵn, theo bức điện tín của Toàn Đại sứ Mỹ viết.
Ba và sau cùng, việc bảo vệ lãnh đạo quốc gia là việc dĩ nhiên, nước nào cũng làm, chánh quyền nào cũng làm. Việc lãnh đạo quốc gia thăm dân cho biết sự tình cũng thế ở đâu cũng có, thời nào cũng làm.. Lãnh đạo quốc gia cũng là con người như mọi người. Nhà cầm quyền cũng là con người như mọi công dân. Đâu có cần gì phải làm màu mè, thần thánh hoá như vậy như vậy.
Càng giả dối, dàn dựng, càng thần thánh hoá, khi bể bạt càng tai hại. Dầu trong chế độ độc tài tin tức bị bưng bít. Nhưng mắt dân như mắt khóm, cây kim trong túi giấu cũng có ngày lòi ra. Lúc đó người dân lại càng chán chê.
Vi Anh Độc tài và dân chủ khác nhau như nước với lửa. Dầu có ranh mãnh, gian ngoan, dàn dựng thế mấy con người của nhà cầm quyền độc tài cũng không che dấu được tính độc tài trong đời sống công cũng như tư. Điều này có thể thấy qua hai thí dụ có tính thời sự sau.
Một là hình ảnh của ông tân đại sứ của một chánh quyền dân chủ, của dân, vì dân, do dân - là Mỹ. Đại sứ Gary Locke đi nhận nhiệm vụ rất nhân bản, bình dân, giản dị làm người dân ở TC vô cùng ngạc nhiên đầy thích thú. Một chuyện khó xảy ra ở Trung Quốc và Việt Nam Cộng sản.
Theo tin Thông tấn xã AP của Mỹ và điện báo Seattlepi - Ông Gary Locke, một người Mỹ gốc Hoa làm Thống Đốc tiểu bang Washington nhiều nhiệm kỳ, được TT Obama đề cử và Thượng Viện phê chuẩn làm đại sứ Mỹ tại TC. Ông đi nhận nhiệm sở ngoại giao ở Trung Cộng, vai mang ba lô như một du khách Mỹ bình thường, lại dẫn theo đứa con gái út nhỏ như bao người Mỹ thương và trọng trẻ em khác. Ông ghé mua cà phê trong một quán ở phi trường quốc tế Tacoma, Washington. Như một người Mỹ sẵn sàng xài lớn khi cần nhưng tiết kiệm từ chuyện nhỏ, Ông trả bằng coupon; tiệm không chịu, thì Ông dùng thẻ tín dụng, không một lời than phiền.
Ông ZhaoHui Tang, một thương gia Mỹ gốc Hoa ở Bellevue, Washington, biết Cựu Thống Đốc, đương kim Đại Sứ Mỹ, xin chụp tấm hình để kỷ niệm. Và hào hứng với cuộc tao ngộ và muốn chia xẻ với đồng bào ở nước nhà TQ, người thương gia này đưa hình ảnh lên trang mạng xã hội của TQ là Sina Weibo.
Người dân TQ vô cùng ngạc nhiên đầy thích thú. Cả 40,000 người vào xem và rất ngạc nhiên về tính bình dân, giản dị của một “quan chức Mỹ”. Một điều không thể có ở một chế độ gọi là cộng hoà nhân nhân nhưng cán bộ đảng viên cấp nhỏ hơn vị đại sứ Mỹ nhiều trở thành một giai cấp mới, đi thì tiền hô hậu ủng, sống vương giả như ông hoàng bà chúa ngày xưa.
Một cách hồn nhiên, vị đại sứ Mỹ bên cạnh nhà cầm quyền CS Bắc Kinh coi như đi vào lòng dân TQ rồi, trước khi trình ủy nhiệm thư cho Chủ Tịch Nước TC.
Hai là sự dàn dựng phức tạp, sắp xếp nhiêu khê để đánh bóng hình ảnh của ông chủ tịch nước TC đi thăm dân, ăn khoai với gia đình dân nhơn dịp Tết Nguyên Đán. Báo cáo của Toà Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh gửi cho Ngoại trưởng Mỹ vào tháng 11/2009, do Wikileaks tiết lộ, cho thấy nhà cầm quyền CS độc tài đảng trị toàn diện chuẩn bị cho người cầm đầu nhà nước, đảng và quân đội tỉ mỉ còn hơn cho vua Tàu khi xưa và dàn dựng biến nhà độc tài thống trị 1 tỷ 3 người dân TQ thành một người bình dân qua “đài báo” công cụ tuyên truyền của CS thật nhiêu khê còn hơn đạo diễn phim ở Hollywood nữa.
Bức điện tín mật này của Toà Đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh nói tin này nhận được từ Shi Jing, cựu bí thư tỉnh ủy Cam Túc. Điều đó cho thấy tại sao ngành an ninh của CSTQ và VNCS lúc nào cũng có một ngành phản gián riêng để chống CIA Mỹ và cũng cho thấy ngành ngoại giao Mỹ không nói ra, chớ CS khó mà che dấu được với Mỹ.
Xin trích ra một vài chuẩn bị mị dân đến cả những chi tiết nhỏ nhặt để đánh bóng, thần thánh hoá lãnh tụ trong kỹ thuật tuyên truyền của CS. Dĩ nhiên là cả trăm cán bộ đảng viên trung ương và địa phương dến tại nhà người nông dân để bày đặt trước. Đó là chưa nói ngành an ninh cận, cận vệ phải coi từ hũ gạo, cái bếp, “nắm” lý lịch từng người trước. Nguyên tắc và nhiệm vụ của những người này phải bảo sẽ không có điều gì sơ suất xảy ra.
Mục đích chánh là “định hướng dư luận”, biến lãnh đạo cao cấp nhứt của Đảng Nhà Nước trở thành một người lãnh đạo thân dân, đi thăm "một nhà nông Cam Túc phong sương điển hình". Họ chỉ thị cho người nông dân là đừng cạo râu - để xem mộc mạc như trong đời thường. Họ “đề nghị” theo thuật ngữ CS là ra lịnh không được làm - đừng sửa sang gì nhà cửa.
Nhưng gian mà không ngoan, bị “sự cố”, trục trặc kỹ thuật do lời nói của trẻ em thường là ngây thơ và chân thật. Khi Ông Hồ Cẩm Đào đưa khoai cho cháu gái của lão nông Li Cai, thì cô bé không nhận mà nói "chán ngấy món khoai".
Thế là bề mánh không thể thực hiện kế hoạch tuyên truyền cho khoai Tây Đinh và biến nơi này thành "thủ phủ khoai Trung Quốc". Và tự nhiên khúc phim cô bé ngây thơ nói chán khoai này bị cắt và ráp nối khúc cháu này ăn khoai sau khi đã được thuyết phục ăn một miếng khoai, để “báo đài” của Đảng Nhà Nước TC như CCTV lon tải về chuyên thăm dân cho biết sư tình của Ôn Hồ.
Chuyện kế tiếp là dàn dựng cho Ông Hồ cầm Đào làm món quẩy xoắn, là món mà người làm phải ném sợi bột đã được nhào kỹ rồi vặn xoắn lại vào chảo dầu sôi. Họ dàn dựng Ông Hồ cầm một đôi đũa thật dài nhún vào chảo dầu nóng 70 độ rủi có văng cũng không phỏng. Sau đó người ta quay hình Ông Hồ ăn một chiếc quẩy khác, đã chuẩn bị sẵn, theo bức điện tín của Toàn Đại sứ Mỹ viết.
Ba và sau cùng, việc bảo vệ lãnh đạo quốc gia là việc dĩ nhiên, nước nào cũng làm, chánh quyền nào cũng làm. Việc lãnh đạo quốc gia thăm dân cho biết sự tình cũng thế ở đâu cũng có, thời nào cũng làm.. Lãnh đạo quốc gia cũng là con người như mọi người. Nhà cầm quyền cũng là con người như mọi công dân. Đâu có cần gì phải làm màu mè, thần thánh hoá như vậy như vậy.
Càng giả dối, dàn dựng, càng thần thánh hoá, khi bể bạt càng tai hại. Dầu trong chế độ độc tài tin tức bị bưng bít. Nhưng mắt dân như mắt khóm, cây kim trong túi giấu cũng có ngày lòi ra. Lúc đó người dân lại càng chán chê.
Kinh tế không người lái
Ngô Nhân Dụng
Nếu người dân Việt Nam ai cũng thông minh, hiểu biết như các đại biểu Quốc Hội của họ thì chính phủ Nguyễn Tấn Dũng sẽ chẳng phải lo lắng gì về kinh tế cả.
Mạng Vneconomy mới dẫn ra mấy lời tuyên bố của một ông đại biểu Sài Gòn tên là Ðỗ Văn Ðương. Theo Vneconomy, ông Ðương phát biểu như thế này: “Tôi không nghĩ lạm phát ở nước ta cao nhất khu vực... Theo tôi phải xem lại chỗ này. Tôi đi các nước thấy giá tiêu dùng đắt đỏ, một đĩa rau muống xào ở Thượng Hải tới 200 nghìn (đồng Việt Nam), nhưng ở Việt Nam chỉ mấy chục (nghìn)... Cần xem lại đánh giá chỉ tiêu lạm phát này xem có đúng không, theo tôi (lạm phát ở Việt Nam) không phải là cao nhất.”
Ðó là ông Ðỗ Văn Ðương chưa sang du lịch bên Nga đấy nhé. Ở Saint Petersburg, trong Quán Việt-Cafe chúng tôi được Trần Nguyên Thắng mời tới ăn cho đỡ nhớ cơm, một đĩa rau muống xào nếu tính ra tiền Việt Nam giá tới 300 ngàn đồng lận! Gắp một cọng rau muống lên, cho vào miệng, cứ tưởng như mình đang nhai cả mớ tiền, xót cả ruột! Ðối với dân ăn rau muống, ở Việt Nam sung sướng như trên thiên đường rồi! Muốn biết lạm phát ở Việt Nam thấp đến thế nào, mời ông Ðương thử qua Ðan Mạch chơi. Trước cửa quán Le Le Nhà Hàng bản thực đơn ghi một tô phở giá 135 đồng tiền bản xứ, tính ra thành 27 đô la Mỹ. Hơn 350 nghìn đồng Việt Nam một bát phở Trời Ðất ạ! Hay là qua Little Saigon, một ly “cà phê trong suốt” tính đến (nghe nói) 5 đồng đô la, chắc đắt gấp trăm lần ly cà phê ở Sài Gòn chứ chẳng ít!
Ông Ðỗ Văn Ðương đã đậu bằng Tiến Sĩ Luật. Không biết ở trường chúng nó dậy ông những cái gì ngoài tư tưởng Mác-Lê Nin mà ông lú lẫn, dốt nát về kinh tế đến thế! Nhưng đại đa số người Việt Nam may mắn không có bằng tiến sĩ cho nên vẫn chưa đến nỗi lú lẫn. Họ chỉ cần tính giá mớ rau muống ngày hôm nay so với tuần trước là đủ biết thằng lạm phát nó cắn vào túi tiền của họ như thế nào.
Sáng 14 tháng 9 tại Hà Nội, Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (ADB) họp, báo cáo họ dự đoán lạm phát của Việt Nam trong năm 2011 ở mức 18.7%. Mức lạm phát như vậy là có giảm xuống so với năm ngoái, nhưng vẫn cao nhất trong khu vực Á Châu. Ngân hàng ADB cũng hạ thấp dự đoán tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2011. Năm tháng trước đây họ tính kinh tế Việt Nam sẽ lên thêm 6.1% đến 6.7%, nay nghĩ lại thấy chắc chỉ tăng được 5.8% mà thôi.
Bình thường, khi tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế xuống thấp hơn thì sẽ giảm áp lực lạm phát, ít khi thấy kinh tế vừa đình trệ lại vừa lạm phát. Nhưng kinh tế Việt Nam là một trường hợp đặc biệt. Muốn bớt lạm phát, tất cả mọi người phải giảm chi tiêu. Số tiền lưu hành trong nước phải giảm xuống. Trong khi nhà nước bớt nhiều việc chi tiêu phí phạm để kinh tế không phồng lên một cách giả tạo nữa, thì những người dân bình thường thì vẫn phải ăn, phải uống, phải dùng xăng chạy xe ngoài đường, và buổi tối vẫn phải bật đèn điện. Giá điện, giá xăng đều được chính ông Dũng cho tăng lên; riêng giá thực phẩm thì tự động tăng không giảm, vật giá vẫn kéo nhau lên, mà không đổ tội cho một thế lực thù nghịch nào cả. Giá sinh hoạt chung vẫn tăng, riêng trong đám dân nghèo mà phần lớn tiền kiếm được đều chi vào việc ăn uống, tỷ lệ lạm phát thật còn cao hơn 20%. Nhưng phần chi tiêu của đảng và nhà nước, nếu nó cứ tăng thì người dân không chịu trách nhiệm!
Ðầu tháng 3 năm 2011, ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký nghị quyết số 11 ra lệnh guồng máy tài chánh đẩy tỷ số lạm phát xuống cho chỉ còn một con số, dưới 10%, khoảng 7%, 8% thôi. Ông Dũng dùng tất cả các khí cụ ông nắm trong tay để đẩy: Ngân Hàng Nhà Nước, các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp nhà nuớc, vân vân. Tất cả cùng nhau đẩy. Nhưng, như chúng ta thấy, sau 6 tháng tác dụng của cái nghị quyết 11 cũng giống như người ta cố đẩy một sợi dây thừng vậy. Nó nhích đi được một chút, rồi thun lại, ỳ ra, không nhúc nhích, không còn công hiệu nào nữa.
Tình trạng bi đát đến nỗi một nhà phân tích kinh tế trong nước vừa mới nhận định: “Kinh tế Việt Nam thật sự đang ngắc ngoải trong tình trạng đình lạm,” (stagflation, tức là sản xuất đình trệ trong khi lạm phát vẫn cao, hai hiện tượng thường không xẩy ra cùng một lúc). Nhà kinh tế này còn tiên đoán: “Chính Phủ Việt Nam đang rất tuyệt vọng, từng bước thăm dò phản ứng để có thể kết hối (tịch thu USD) và kết kim (tịch thu vàng) bất cứ lúc nào.” Ðể dẫn chứng cho mối lo tịch thu vàng, bài nhận định trên nêu ra bản tin (Vnexpress, 23/8/2011) nói Thống Ðốc Ngân Hàng Trung Ương Nguyễn Văn Bình đã “gợi ý” rằng: “Ngân Hàng Nhà Nước sẽ giữ vàng giùm cho dân.” Một câu nói đó có thể khiến cho vàng cũng mọc cánh bay thật nhanh ra ngoại quốc, tất nhiên chỉ những người có tài chắp cánh cho vàng mới chạy của thoát!
Nghị quyết 11 đã được khen là “một bước ngoặt lớn về chính sách” vì ông Nguyễn Tấn Dũng đã bỏ chính sách cũ là cứ tung tiền ra cho các doanh nghiệp nhà nuớc chi tiêu thoải mái. Bây giờ, các ngân hàng kềm chế lại, số tiền cho vay không được tăng tới 20% so với năm ngoái; ngân sách nhà nước phải tăng thu khoảng 7%-8% vân vân. Và bản nghị quyết cũng không quên căn dặn: “Ðẩy mạnh thông tin-tuyên truyền;” cho guồng máy kinh tế nó lắng nghe rồi chạy theo tiếng hô các khẩu hiệu.
Nhưng guồng máy kinh tế nó điếc. Phương pháp điều hành kinh tế bằng khẩu hiệu thời ông Mao Trạch Ðông không còn hiệu quả nào trên kinh tế cả.
Muốn bớt lạm phát thì phải giảm bớt chi tiêu, hàng hóa sẽ bớt tăng giá hung hãn. Có hai khâu chính trong việc sử dụng tiền ở nước ta, là nhà nước và dân. Ông nhà nước ra lệnh cho các ông nhà nước khác bớt chi tiêu, nhưng chưa chắc họ đã làm được. Còn những anh chị dân đen thì phần lớn những món chi tiêu của họ là “tối thiểu,” không chi không sống được. Nhu cầu của một gia đình dân, những ăn uống, quần áo, xăng dầu, không tăng hay giảm theo nghị quyết của nhà nước. Còn về phần các bộ phận của nhà nước, thì có khi họ muốn mà cũng không giảm chi tiêu được.
Thí dụ, ngân sách chính phủ vẫn thâm thủng 120 ngàn tỷ đồng Việt Nam, tức là tiền chi ra nhiều hơn tiền thu vào, nhưng không bỏ được. Nhà nước lại chi ra 15 ngàn tỷ đồng để cứu mấy ngân hàng nhỏ bị đe dọa phá sản, không chi cũng không được. Lại còn cứu các thị trường chứng khoán nữa. Lo cho các đại gia mua chứng khoán bị đang lỗ, nhà nước đã bỏ ra 70 ngàn tỷ đồng để nâng giá các cổ phần. Ngoài ra, còn những món tiền mà Ngân Hàng Nhà Nước đem chi hoặc cho phép các ngân hàng thương mại đưa vào thị trường, ngoài tất cả dự liệu của Nghị Quyết 11, phải nói là phản lại bản nghị quyết này!
Theo lệ cũ, các ngân hàng thương mại chỉ được đem 80% tiền ký thác của thân chủ mà cho vay. Nhưng theo thông tư số 22 của Ngân Hàng Nhà Nước mới đổi, từ ngày 1 tháng 9, 2011, các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác sẽ được đem tất cả tiền người ta gửi ra cho vay. Như vậy thì không khác gì cho số tiền lưu thông tăng vọt lên nhiều lần, không còn thấy cái giới hạn 20% của ông Nguyễn Tấn Dũng đâu nữa! Theo công ty Bảo Việt thì với thông tư 22 này, từ đây tới cuối năm, số tiền được phép tung ra cho vay sẽ lên tới 460 ngàn tỷ đồng! Cái thông tư 22 coi như đã hủy bỏ mọi tác dụng của nghị quyết 11! Cho nên, ngân hàng Standard Chartered tiên đoán trong bốn tháng cuối năm nay lượng tiền tệ lưu hoạt (M2) ở Việt Nam sẽ tăng tới 196 ngàn tỷ, so với năm ngoái chỉ có 172 ngàn tỷ. Càng có nhiều tiền trong kinh tế thì lạm phát càng cao. Người dân biết vậy, cho nên ai có tiền cũng lo đi mua vàng, mua đô la!
Rồi lại thêm chính sách lãi suất nữa. Ông thống đốc Ngân Hàng Trung Ương ra chỉ thị số 2, bắt các ngân hàng thương mại không được trả lãi suất trên 14% cho các người gửi tiền. Giữa tháng 9, các ngân hàng báo cáo người ta ào ào rút tiền ra khỏi ngân hàng. Trong một tuần, có ngân hàng bị rút 1,000 tỷ đồng. Chưa tới cảnh “tiền bỏ chạy” (bank run) nhưng cũng mấp mé. Nhưng họ rút hàng tỷ đồng rồi đem đi đâu? Không ai báo cáo, nhưng ai cũng hiểu: Người ta đi mua vàng và đô la. Các đại gia bán vàng và đô la rồi họ đem tiền cất đi đâu, sao không thấy chúng trở lại với các ngân hàng? Cái này thì chỉ các đại gia mới biết!
Nhưng khi Ngân Hàng Trung Ương bắt các ngân hàng thương mại “giảm lãi suất” xuống dưới 14% thì đó là một bước hoàn toàn đi ngược lại với mục tiêu chống lạm phát của nghị quyết 11. Vì xưa nay, khi muốn chống lạm phát thì ở đâu người ta cũng tăng lãi suất cho người ta bớt vay được tiền mà chi tiêu, không ai giảm lãi suất bao giờ! Chắc chỉ có đại biểu Quốc Hội Ðỗ Văn Ðương mới có thể nghĩ ra cách chống lạm phát bằng cách giảm lãi suất, sau khi đi Thượng Hải nếm rau muống Tàu!
Cái chỉ thị đặt mức lãi suất tối đa (trần lãi suất) đã vô hiệu, vì nhiều ngân hàng vẫn lén trả lãi suất cao hơn 14% để có tiền kiếm ra tiền khác, nhất là các ngân hàng ở xa thì không sợ ai cả. Các quan đầu tình cũng không sợ lệnh từ trung ương. Họ phải phê duyệt càng nhiều dự án trong địa phương mình càng tốt. Càng nhiều dự án thì càng thêm cơ hội chấm mút, trước khi phải đổi đi nơi khác. Quan đầu tỉnh bảo ngân hàng trong tỉnh cho vay thì ai dám cãi chỉ tiêu lạm phát là mấy phần trăm cũng chẳng ai cần biết tới!
Nhìn thấy những nghị quyết và thông tư với khẩu hiệu và hành động trái ngược nhau, cuối cùng không biết ai đang cầm tay lái cho con tầu kinh tế Việt Nam. Có thể gọi là một nền kinh tế không người lái. Trong khi đó thì những nguồn ngoại tệ đang giảm, số đầu tư trực tiếp của nước ngoài cho tới số tiền người Việt ở ngoài gửi về đều bớt đi. Cán cân thương mại trong tám tháng đầu năm 2011 đã bị thủng 10 tỷ đô la, so với khoảng 8 tỷ trong cùng thời gian năm ngoái.
Ông Tomoyuki Kimura của Ngân Hàng Phát Triển Á Châu, mới nói trong phiên họp ở Hà Nội, rằng muốn “giải quyết những nguyên nhân gốc rễ của tình trạng lạm phát cao thì phải có những nỗ lực lớn hơn trong việc cải cách cơ cấu nền kinh tế”. Nhưng nếu không thay đổi chính trị thì ai thay đổi cơ cấu kinh tế bây giờ? Những đại biểu Quốc Hội như Tiến Sĩ Ðỗ Văn Ðương có sẵn sàng đứng ra lèo lái con tầu kinh tế nước nhà hay không?
Ngô Nhân Dụng
Nếu người dân Việt Nam ai cũng thông minh, hiểu biết như các đại biểu Quốc Hội của họ thì chính phủ Nguyễn Tấn Dũng sẽ chẳng phải lo lắng gì về kinh tế cả.
Mạng Vneconomy mới dẫn ra mấy lời tuyên bố của một ông đại biểu Sài Gòn tên là Ðỗ Văn Ðương. Theo Vneconomy, ông Ðương phát biểu như thế này: “Tôi không nghĩ lạm phát ở nước ta cao nhất khu vực... Theo tôi phải xem lại chỗ này. Tôi đi các nước thấy giá tiêu dùng đắt đỏ, một đĩa rau muống xào ở Thượng Hải tới 200 nghìn (đồng Việt Nam), nhưng ở Việt Nam chỉ mấy chục (nghìn)... Cần xem lại đánh giá chỉ tiêu lạm phát này xem có đúng không, theo tôi (lạm phát ở Việt Nam) không phải là cao nhất.”
Ðó là ông Ðỗ Văn Ðương chưa sang du lịch bên Nga đấy nhé. Ở Saint Petersburg, trong Quán Việt-Cafe chúng tôi được Trần Nguyên Thắng mời tới ăn cho đỡ nhớ cơm, một đĩa rau muống xào nếu tính ra tiền Việt Nam giá tới 300 ngàn đồng lận! Gắp một cọng rau muống lên, cho vào miệng, cứ tưởng như mình đang nhai cả mớ tiền, xót cả ruột! Ðối với dân ăn rau muống, ở Việt Nam sung sướng như trên thiên đường rồi! Muốn biết lạm phát ở Việt Nam thấp đến thế nào, mời ông Ðương thử qua Ðan Mạch chơi. Trước cửa quán Le Le Nhà Hàng bản thực đơn ghi một tô phở giá 135 đồng tiền bản xứ, tính ra thành 27 đô la Mỹ. Hơn 350 nghìn đồng Việt Nam một bát phở Trời Ðất ạ! Hay là qua Little Saigon, một ly “cà phê trong suốt” tính đến (nghe nói) 5 đồng đô la, chắc đắt gấp trăm lần ly cà phê ở Sài Gòn chứ chẳng ít!
Ông Ðỗ Văn Ðương đã đậu bằng Tiến Sĩ Luật. Không biết ở trường chúng nó dậy ông những cái gì ngoài tư tưởng Mác-Lê Nin mà ông lú lẫn, dốt nát về kinh tế đến thế! Nhưng đại đa số người Việt Nam may mắn không có bằng tiến sĩ cho nên vẫn chưa đến nỗi lú lẫn. Họ chỉ cần tính giá mớ rau muống ngày hôm nay so với tuần trước là đủ biết thằng lạm phát nó cắn vào túi tiền của họ như thế nào.
Sáng 14 tháng 9 tại Hà Nội, Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (ADB) họp, báo cáo họ dự đoán lạm phát của Việt Nam trong năm 2011 ở mức 18.7%. Mức lạm phát như vậy là có giảm xuống so với năm ngoái, nhưng vẫn cao nhất trong khu vực Á Châu. Ngân hàng ADB cũng hạ thấp dự đoán tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2011. Năm tháng trước đây họ tính kinh tế Việt Nam sẽ lên thêm 6.1% đến 6.7%, nay nghĩ lại thấy chắc chỉ tăng được 5.8% mà thôi.
Bình thường, khi tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế xuống thấp hơn thì sẽ giảm áp lực lạm phát, ít khi thấy kinh tế vừa đình trệ lại vừa lạm phát. Nhưng kinh tế Việt Nam là một trường hợp đặc biệt. Muốn bớt lạm phát, tất cả mọi người phải giảm chi tiêu. Số tiền lưu hành trong nước phải giảm xuống. Trong khi nhà nước bớt nhiều việc chi tiêu phí phạm để kinh tế không phồng lên một cách giả tạo nữa, thì những người dân bình thường thì vẫn phải ăn, phải uống, phải dùng xăng chạy xe ngoài đường, và buổi tối vẫn phải bật đèn điện. Giá điện, giá xăng đều được chính ông Dũng cho tăng lên; riêng giá thực phẩm thì tự động tăng không giảm, vật giá vẫn kéo nhau lên, mà không đổ tội cho một thế lực thù nghịch nào cả. Giá sinh hoạt chung vẫn tăng, riêng trong đám dân nghèo mà phần lớn tiền kiếm được đều chi vào việc ăn uống, tỷ lệ lạm phát thật còn cao hơn 20%. Nhưng phần chi tiêu của đảng và nhà nước, nếu nó cứ tăng thì người dân không chịu trách nhiệm!
Ðầu tháng 3 năm 2011, ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký nghị quyết số 11 ra lệnh guồng máy tài chánh đẩy tỷ số lạm phát xuống cho chỉ còn một con số, dưới 10%, khoảng 7%, 8% thôi. Ông Dũng dùng tất cả các khí cụ ông nắm trong tay để đẩy: Ngân Hàng Nhà Nước, các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp nhà nuớc, vân vân. Tất cả cùng nhau đẩy. Nhưng, như chúng ta thấy, sau 6 tháng tác dụng của cái nghị quyết 11 cũng giống như người ta cố đẩy một sợi dây thừng vậy. Nó nhích đi được một chút, rồi thun lại, ỳ ra, không nhúc nhích, không còn công hiệu nào nữa.
Tình trạng bi đát đến nỗi một nhà phân tích kinh tế trong nước vừa mới nhận định: “Kinh tế Việt Nam thật sự đang ngắc ngoải trong tình trạng đình lạm,” (stagflation, tức là sản xuất đình trệ trong khi lạm phát vẫn cao, hai hiện tượng thường không xẩy ra cùng một lúc). Nhà kinh tế này còn tiên đoán: “Chính Phủ Việt Nam đang rất tuyệt vọng, từng bước thăm dò phản ứng để có thể kết hối (tịch thu USD) và kết kim (tịch thu vàng) bất cứ lúc nào.” Ðể dẫn chứng cho mối lo tịch thu vàng, bài nhận định trên nêu ra bản tin (Vnexpress, 23/8/2011) nói Thống Ðốc Ngân Hàng Trung Ương Nguyễn Văn Bình đã “gợi ý” rằng: “Ngân Hàng Nhà Nước sẽ giữ vàng giùm cho dân.” Một câu nói đó có thể khiến cho vàng cũng mọc cánh bay thật nhanh ra ngoại quốc, tất nhiên chỉ những người có tài chắp cánh cho vàng mới chạy của thoát!
Nghị quyết 11 đã được khen là “một bước ngoặt lớn về chính sách” vì ông Nguyễn Tấn Dũng đã bỏ chính sách cũ là cứ tung tiền ra cho các doanh nghiệp nhà nuớc chi tiêu thoải mái. Bây giờ, các ngân hàng kềm chế lại, số tiền cho vay không được tăng tới 20% so với năm ngoái; ngân sách nhà nước phải tăng thu khoảng 7%-8% vân vân. Và bản nghị quyết cũng không quên căn dặn: “Ðẩy mạnh thông tin-tuyên truyền;” cho guồng máy kinh tế nó lắng nghe rồi chạy theo tiếng hô các khẩu hiệu.
Nhưng guồng máy kinh tế nó điếc. Phương pháp điều hành kinh tế bằng khẩu hiệu thời ông Mao Trạch Ðông không còn hiệu quả nào trên kinh tế cả.
Muốn bớt lạm phát thì phải giảm bớt chi tiêu, hàng hóa sẽ bớt tăng giá hung hãn. Có hai khâu chính trong việc sử dụng tiền ở nước ta, là nhà nước và dân. Ông nhà nước ra lệnh cho các ông nhà nước khác bớt chi tiêu, nhưng chưa chắc họ đã làm được. Còn những anh chị dân đen thì phần lớn những món chi tiêu của họ là “tối thiểu,” không chi không sống được. Nhu cầu của một gia đình dân, những ăn uống, quần áo, xăng dầu, không tăng hay giảm theo nghị quyết của nhà nước. Còn về phần các bộ phận của nhà nước, thì có khi họ muốn mà cũng không giảm chi tiêu được.
Thí dụ, ngân sách chính phủ vẫn thâm thủng 120 ngàn tỷ đồng Việt Nam, tức là tiền chi ra nhiều hơn tiền thu vào, nhưng không bỏ được. Nhà nước lại chi ra 15 ngàn tỷ đồng để cứu mấy ngân hàng nhỏ bị đe dọa phá sản, không chi cũng không được. Lại còn cứu các thị trường chứng khoán nữa. Lo cho các đại gia mua chứng khoán bị đang lỗ, nhà nước đã bỏ ra 70 ngàn tỷ đồng để nâng giá các cổ phần. Ngoài ra, còn những món tiền mà Ngân Hàng Nhà Nước đem chi hoặc cho phép các ngân hàng thương mại đưa vào thị trường, ngoài tất cả dự liệu của Nghị Quyết 11, phải nói là phản lại bản nghị quyết này!
Theo lệ cũ, các ngân hàng thương mại chỉ được đem 80% tiền ký thác của thân chủ mà cho vay. Nhưng theo thông tư số 22 của Ngân Hàng Nhà Nước mới đổi, từ ngày 1 tháng 9, 2011, các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác sẽ được đem tất cả tiền người ta gửi ra cho vay. Như vậy thì không khác gì cho số tiền lưu thông tăng vọt lên nhiều lần, không còn thấy cái giới hạn 20% của ông Nguyễn Tấn Dũng đâu nữa! Theo công ty Bảo Việt thì với thông tư 22 này, từ đây tới cuối năm, số tiền được phép tung ra cho vay sẽ lên tới 460 ngàn tỷ đồng! Cái thông tư 22 coi như đã hủy bỏ mọi tác dụng của nghị quyết 11! Cho nên, ngân hàng Standard Chartered tiên đoán trong bốn tháng cuối năm nay lượng tiền tệ lưu hoạt (M2) ở Việt Nam sẽ tăng tới 196 ngàn tỷ, so với năm ngoái chỉ có 172 ngàn tỷ. Càng có nhiều tiền trong kinh tế thì lạm phát càng cao. Người dân biết vậy, cho nên ai có tiền cũng lo đi mua vàng, mua đô la!
Rồi lại thêm chính sách lãi suất nữa. Ông thống đốc Ngân Hàng Trung Ương ra chỉ thị số 2, bắt các ngân hàng thương mại không được trả lãi suất trên 14% cho các người gửi tiền. Giữa tháng 9, các ngân hàng báo cáo người ta ào ào rút tiền ra khỏi ngân hàng. Trong một tuần, có ngân hàng bị rút 1,000 tỷ đồng. Chưa tới cảnh “tiền bỏ chạy” (bank run) nhưng cũng mấp mé. Nhưng họ rút hàng tỷ đồng rồi đem đi đâu? Không ai báo cáo, nhưng ai cũng hiểu: Người ta đi mua vàng và đô la. Các đại gia bán vàng và đô la rồi họ đem tiền cất đi đâu, sao không thấy chúng trở lại với các ngân hàng? Cái này thì chỉ các đại gia mới biết!
Nhưng khi Ngân Hàng Trung Ương bắt các ngân hàng thương mại “giảm lãi suất” xuống dưới 14% thì đó là một bước hoàn toàn đi ngược lại với mục tiêu chống lạm phát của nghị quyết 11. Vì xưa nay, khi muốn chống lạm phát thì ở đâu người ta cũng tăng lãi suất cho người ta bớt vay được tiền mà chi tiêu, không ai giảm lãi suất bao giờ! Chắc chỉ có đại biểu Quốc Hội Ðỗ Văn Ðương mới có thể nghĩ ra cách chống lạm phát bằng cách giảm lãi suất, sau khi đi Thượng Hải nếm rau muống Tàu!
Cái chỉ thị đặt mức lãi suất tối đa (trần lãi suất) đã vô hiệu, vì nhiều ngân hàng vẫn lén trả lãi suất cao hơn 14% để có tiền kiếm ra tiền khác, nhất là các ngân hàng ở xa thì không sợ ai cả. Các quan đầu tình cũng không sợ lệnh từ trung ương. Họ phải phê duyệt càng nhiều dự án trong địa phương mình càng tốt. Càng nhiều dự án thì càng thêm cơ hội chấm mút, trước khi phải đổi đi nơi khác. Quan đầu tỉnh bảo ngân hàng trong tỉnh cho vay thì ai dám cãi chỉ tiêu lạm phát là mấy phần trăm cũng chẳng ai cần biết tới!
Nhìn thấy những nghị quyết và thông tư với khẩu hiệu và hành động trái ngược nhau, cuối cùng không biết ai đang cầm tay lái cho con tầu kinh tế Việt Nam. Có thể gọi là một nền kinh tế không người lái. Trong khi đó thì những nguồn ngoại tệ đang giảm, số đầu tư trực tiếp của nước ngoài cho tới số tiền người Việt ở ngoài gửi về đều bớt đi. Cán cân thương mại trong tám tháng đầu năm 2011 đã bị thủng 10 tỷ đô la, so với khoảng 8 tỷ trong cùng thời gian năm ngoái.
Ông Tomoyuki Kimura của Ngân Hàng Phát Triển Á Châu, mới nói trong phiên họp ở Hà Nội, rằng muốn “giải quyết những nguyên nhân gốc rễ của tình trạng lạm phát cao thì phải có những nỗ lực lớn hơn trong việc cải cách cơ cấu nền kinh tế”. Nhưng nếu không thay đổi chính trị thì ai thay đổi cơ cấu kinh tế bây giờ? Những đại biểu Quốc Hội như Tiến Sĩ Ðỗ Văn Ðương có sẵn sàng đứng ra lèo lái con tầu kinh tế nước nhà hay không?
Một di sản của Phạm Văn Ðồng
Ngô Nhân Dụng
Hôm nay đánh dấu ngày ông Phạm Văn Ðồng ký một bức thư năm 1958 gửi ông Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Cộng.
Trong lá thư đó ông Phạm Văn Ðồng đã nhân danh chính phủ của một nước Việt Nam chính thức đồng ý với bản tuyên bố mươi ngày trước đó của chính phủ Trung Quốc về hải phận. Mà trong bản tuyên bố này Trung Quốc xác nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của họ, giống như Ðài Loan, Bành Hồ. Bức công hàm ngày 14 tháng 9 để lại một di sản nặng nề mà ngày nay người Việt Nam còn chịu hậu quả. Những hậu quả chính trị, ngoại giao nhiều người đã biết; trong bài này sẽ nêu lên một trong những hậu quả về kinh tế. Chữ ký của Phạm Văn Ðồng đã ngăn cản việc khai thác tài nguyên và phát triển đất nước Việt Nam.
Từ năm 1958 tới nay, Bắc Kinh luôn luôn vin vào lá thư của ông Phạm Văn Ðồng để nói rằng chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã công nhận họ là chủ nhân của quần đảo Hoàng Sa. Họ đã dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng kháng cự với bao chiến sĩ đã hy sinh. Hành động cướp đất thô bạo này, diễn ra trong thời gian mới cách đây 37 năm, là một bằng chứng cụ thể chứng tỏ là Hoàng Sa vốn là của Việt Nam, đã bị Trung Cộng cưỡng chiếm. Với bằng cớ hiển nhiên đó bất cứ chính quyền Việt Nam nào cũng có thể đưa ra tòa án quốc tế để đòi xét xử và lấy lại. Nhưng vì lá thư Phạm Văn Ðồng chính quyền Hà Nội há miệng mắc quai. Ngược lại, khi nói ra còn bị Bắc Kinh tố cáo là “vô ơn” và “lật lọng”.
Vin vào lá thư của Phạm Văn Ðồng, với quyền làm chủ Hoàng Sa, Trung Quốc tự cho quyền tấn công các ngư dân Việt Nam từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn không cho đi đánh cá ngoài khơi. Bao đồng bào mất phương tiện sinh sống. Họ còn đe dọa và ngăn cấm cả các công ty quốc tế không cho tìm và khai thác dầu khí trong vùng biển thuộc nước ta. Người Việt Nam không được hưởng những tài nguyên thiên nhiên tổ tiên chúng ta để lại!
Việc ngăn cấm các công ty quốc tế tìm dầu trong thềm lục địa Việt Nam buộc chính quyền Bắc Kinh phải giải thích với nước có những hang dầu bị cấm. Và họ đã viện dẫn lá thư Phạm Văn Ðồng làm bằng cứ. Một điện văn của đại sứ Mỹ ở Hà Nội (mới tiết lộ cuối tháng 8 năm 2011) kể lại mấy cuộc tiếp xúc với quan chức Trung Cộng để nghe họ biện minh việc cấm đoán các hãng dầu Mỹ. Trong cuộc gặp gỡ ngày 7 tháng 3 năm 2008 với nhân viên ngoại giao Mỹ, ông Trịnh Chấn Hoa (Zheng Zhenhua Ð/N), phó chủ nhiệm phòng Kế Hoạch thuộc Vụ Á Châu, Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh, đã nêu lên lá thư do ông Phạm Văn Ðồng ký gửi Thủ Tướng Chu Ân Lai để chứng minh Việt Nam đã chính thức công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1958.
Trước hết, Trịnh Chấn Hoa giải thích về đường Lưỡi Bò (còn gọi là Cửu Ðoạn Tuyến) trong vùng biển Ðông của nước ta, nói rằng nó đã được chính phủ Tưởng Giới Thạch vẽ ra từ năm 1947, rồi lại được nêu lên chính thức trong đạo luật về vùng kinh tế độc quyền ven biển năm 1998 của Bắc Kinh. Trịnh Chấn Hoa cũng nói từ năm đó cho đến thập niên 1960 “không một quốc gia nào kể cả nước Mỹ từng nêu câu hỏi nghi ngờ về chủ quyền của Trung Quốc” trên các quần đảo đó. Ý nói cả chính quyền Việt Nam ở Hà Nội cũng không hề lên tiếng phản đối. (Sự thật thì chính quyền Việt Nam ở Sài Gòn, từ năm 1956 đã nhiều lần xác nhận chủ quyền trên các quần đảo này, bác bỏ lập trường của Bắc Kinh.)
Trịnh Chấn Hoa còn dẫn sự tích lịch sử, nói từ đời Ðông Hán ((23-220) dân Trung Hoa đã sống ở các đảo đó; và trong thời Nam Bắc Triều nhà (Nam) Tống (420-478) đã đặt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc vào tỉnh Quảng Ðông. Nhưng lý luận kiểu này hoàn toàn vô giá trị. Không thể chiếm đóng một nước khác rồi dùng làm chứng cớ coi đó là lãnh thổ của mình. Từ thời Ðông Hán cho tới thời nhà Ðường, tất cả nước Việt Nam bị “chiếm đóng”; Người Việt chỉ tự giải phóng được từ thế kỷ thứ 10. Trong thời gian chiếm đóng thì các vua quan nước Tàu cứ việc coi bất cứ người Việt nào, ở đâu, cũng là “dân” của họ cả. Cứ việc ghi tên bất cứ vùng đất nào của Việt Nam vào một tỉnh nước Tàu. Hoàng Sa và dân sống ở Hoàng Sa cũng vậy. Nếu dùng lý luận của Trịnh Chấn Hoa thì người Tàu có thể nói Lạng Sơn, Hà Nội cho tới Vinh đều thuộc lãnh thổ Trung Quốc hay sao? Các ông Tô Ðịnh, Cao Biền, Trần Bá Tiên chẳng đã từng đặt các tỉnh của Việt Nam vào trong địa giới nước Tàu hay sao? Nói vậy chẳng khác gì chính phủ Anh Quốc tuyên bố các tiểu bang miền Ðông nước Mỹ ngày nay vẫn thuộc chủ quyền của nước Anh vậy!
Cuộc tiếp xúc của Trịnh Chấn Hoa cốt giải thích cho chính phủ Mỹ hiểu lý do họ đã ngăn cản không cho công ty dầu lửa Mỹ Chevron hợp tác với công ty Dầu khí Việt Nam thăm dò tại Block số 122, giữa Hoàng Sa và bờ biển nước ta. Trịnh Chấn Hoa cho nhà ngoại giao Mỹ biết rằng Bắc Kinh chỉ vạch giới hạn 12 hải lý như là hải phận của mình ở quanh các đảo Hoàng Sa, nơi họ coi là có chủ quyền chắc chắn. Còn chung quanh các đảo Trường Sa thì họ không làm, vì còn nhiều tranh chấp với các nước khác “phức tạp hơn”. Sự phân biệt này rõ ràng là vì chính quyền Bắc Kinh dùng lá thư ông Phạm Văn Ðồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 biện hộ việc họ làm chủ Hoàng Sa, coi như không cần bàn cãi nữa. Một hậu quả là Trung Cộng ngăn cản các công ty dầu khí quốc tế không được thăm dò và khai thác gần Hoàng Sa.
Công ty Chevron, hợp tác với Petronas/Carigali đã dự tính thăm dò ở phía Tây Block 122, nằm bên ngoài vùng tranh chấp Hoa-Việt quanh quần đảo Hoàng Sa. Nơi này Chevron cho biết là vùng có triển vọng tìm được dầu và khí đốt cao nhất, chỉ nằm cách bờ biển Việt Nam 17 hải lý, nhưng vẫn bị Trung Cộng ngăn cấm. Một quản đốc cao cấp của công ty Chevron thú nhận rằng họ sợ bị Bắc Kinh trừng phạt, trong một dự án lớn hợp tác với công ty Dầu Khí Trung Quốc, PetroChina khai thác khí đốt ở tỉnh Tứ Xuyên. Chevron phải bãi bỏ việc thăm dò Block 122.
Ngoài công ty Chevron, trong vòng mấy tháng đầu năm 2008 các công ty dầu khí British Petroleum (BP) của Anh; Idemitsu, Nippon Teikoku Nhật Bản; Santos của Úc; Pearl Energy của Singapore; và Lundin Petroleum của Thụy Ðiển cũng phải bỏ các dự án khai thác dầu trong vùng biển Việt Nam vì bị Trung Cộng đe dọa. Ðó là một hậu quả của lá thư ông Phạm Văn Ðồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958! Quyền lợi kinh tế và việc phát triển công nghiệp của nước Việt Nam bị thiệt hại vì bao nhiêu dầu khí không được khai thác. Bắc Kinh còn nêu lên những “bằng chứng phụ” khác để chứng minh Cộng Sản Việt Nam đã công nhận chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, qua những lời tuyên bố của ông Ung Văn Khiêm, một ngoại trưởng, hay những tấm bản đồ chính thức và sách giáo khoa do chính quyền Hà Nội in đều ghi các đảo trên thuộc Trung Quốc. Nhưng các chứng cớ trên không đủ mạnh bằng một văn kiện do một ông thủ tướng Việt Nam ký tên.
Các công điện của đại sứ Mỹ ở Hà Nội cũng cho biết PetroVietNam đã hứa với Chevron rằng Hải quân Việt Nam sẽ bảo vệ các công tác ngoài biển! Chắc Chevron đã biết chính quyền Hà Nội thường “nhún mình” trước Trung Cộng như thế nào. Lời hứa hẹn “bảo vệ” này không thể thực hiện được! Ngay cả việc bảo vệ các ngư dân đi đánh cá bị bắt cóc đòi tiền chuộc mà chính quyền Việt Nam cũng không làm được, thử hỏi làm sao họ dám đương đầu khi đụng vào các quyền lợi lớn như dầu khí?
Trong khi đó thì ngay cả những tàu thủy Petro Việt Nam thuê đi thăm dò đáy biển cũng bị tàu Trung Cộng đến cắt dây cáp thẳng tay, trong lúc các ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng vẫn ca ngợi tình đồng chí anh em với 16 chữ vàng! Cả kho tài nguyên dầu khí của nước ta sẽ bị chính quyền Bắc Kinh phong tỏa, không được sử dụng. Cho tới bao giờ có một chính quyền Việt Nam chịu chấp nhận chia phần với họ trong việc khai thác các mỏ dầu khí trong vùng này, mà trong đó Trung Cộng sẽ chiếm lấy phần lớn; may ra lúc đó các công ty ngoại quốc mới được phép khai thác gần quần đảo Hoàng Sa. Nếu các thỏa hiệp chia chác đó được giữ bí mật theo lối giao thiệp “giữa đồng chí anh em” thì chắc không người dân Việt nào được biết cả.
Nhưng Trung Quốc không đối xử như vậy đối với các nước khác cũng nằm trong tình trạng tranh chấp ở biển Ðông. Trong công điện ngày 7 tháng 9 năm 2007, nhân vụ Chevron, tòa đại sứ Mỹ tại Hà Nội báo cáo về Bộ Ngoại Giao Mỹ cho biết các tòa đại sứ Mỹ ở Phi Luật Tân, Indonesia và Malaysia nói rằng chính phủ Bắc Kinh không hề can thiệp hay ngăn cản các công ty dầu quốc tế khi đến khai thác tại vùng biển các nước này. Những hòn đảo tranh chấp giữa các nước trên với Trung Quốc thường nằm trong vùng Trường Sa, ở phía Nam Hoàng Sa, nhưng đều bị Trung Quốc gom trong Ðường Lưỡi Bò. Công điện này nhận xét: “Trong lúc các nước Ðông Nam Á khác cũng ký các hợp đồng cho khai thác (dầu khí) ở vùng biển Nam Trung Hoa đang có tranh chấp (với Trung Quốc) thì Trung Quốc chỉ phản đối riêng các hợp đồng ký với Việt Nam mà thôi!”
Tại sao họ có hai cách đối xử khác nhau như vậy? “Nhiều công ty năng lượng quốc tế cho là việc tranh chấp có ẩn ý sâu xa hơn, không phải chỉ là vấn đề dầu khí.” Trung Quốc không muốn đối đầu với nhiều quốc gia trong vùng Ðông Nam Á cùng một lúc. Tách riêng Việt Nam ra để thí nghiệm phương pháp đè nén, ép buộc xem kết quả sao; rồi sẽ tính chuyện với các nước khác. Phương pháp của nước mạnh vẫn là “chia để trị”. Cho nên, Bắc Kinh nhất định đòi nói chuyện riêng với Việt Nam, không có nước nào khác can dự. Chấp nhận đàm phán song phương là tự bước vào trong bẫy của họ. Ngay bây giờ, họ đã đối xử theo cách tách rời Việt Nam và Hoàng Sa ra. Như ông Trịnh Chấn Hoa nói với người Mỹ, “trường hợp Trường Sa phức tạp hơn”. Họ chọn Việt Nam để làm áp lực với các công ty dầu quốc tế, bởi vì nó “không phức tạp”. Chính quyền Trung Quốc coi những bất đồng về hải phận đối với Việt Nam không cần bàn cãi. Vì chỉ riêng đối với Việt Nam họ mới nắm được trong tay một văn kiện cụ thể, là bức thư của ông Phạm Văn Ðồng, của ông thủ tướng một nước gửi ông thủ tướng nước khác. Và họ trưng ra bằng chứng đó bất cứ khi nào phải giải thích trước các quan sát viên quốc tế. Các nước Ðông Nam Á khác sẽ thấy khó lòng bênh vực Việt Nam về Hoàng Sa khi Bắc Kinh trưng lá thư Phạm Văn Ðồng ra.
Chính quyền Mỹ thì vốn đã phủi tay, luôn luôn nói nước Mỹ không can dự vào những vùng biển, đảo còn tranh chấp ở Ðông Nam Á. Ngay từ khi quân Trung Cộng tấn công Hoàng Sa năm 1974, các chiến sĩ Việt Nam bị đắm tàu kêu cứu nhưng Hạm Ðội Thứ Bẩy ở gần đó cũng không thèm tới cứu, chắc vì sợ phải can dự! Ông Trịnh Chấn Hoa, ngay trong cuộc nói chuyện kể trên đây, sau khi xác định chủ quyền của Trung Quốc trong vùng Ðường Lưỡi Bò, vẫn cẩn thận trấn an người đại diện chính quyền Mỹ: “Trung Quốc cam kết tàu bè có quyền đi lại tự do trong vùng Ðường Chín Ðoạn.” Hai năm sau, khi bà ngoại trưởng và ông bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ lên tiếng ở Singapore về “quyền tự do hải vận” trong vùng Ðông Nam Á thì Bộ Ngoại Giao Trung Quốc chỉ cần nhắc lại lời cam kết suông mà ông Trịnh Chấn Hoa đã nói. Bằng cách đó, họ có thể tiếp tục cô lập nước Việt Nam. Còn bao nhiêu mỏ dầu khí của dân ta sẽ bị khóa cửa, không cho khai thác. Ðó là hậu quả chữ ký của ông Phạm Văn Ðồng ngày 14 tháng 9 năm 1958.
Khi còn sống ông Phạm Văn Ðồng được tiếng là một ông thủ tướng tốt bụng, hiền lành, chăm chỉ, không muốn làm hại ai. Nhạc sĩ Ðặng Thái Sơn kể khi anh chiếm giải Dương Cầm Chopin năm 1980, anh được ông thủ tướng mời vào khen ngợi. Trước khi từ giã ông còn hỏi, “Cháu có cần bác giúp gì không?” Nhạc sĩ trẻ xin cho thân phụ anh được có lại hộ khẩu ở Hà Nội, và ông Phạm Văn Ðồng giúp ngay. Nhờ thế, thi sĩ Ðặng Ðình Hưng đã được trở về sống ở Hà Nội sau hơn 20 năm bị lưu đầy ở miền quê vì đã tham gia nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Nhà thơ được cư ngụ dưới cầu thang một ngôi nhà gần Chợ Cửa Nam. Ðặng Thái Sơn nhớ cái ơn đó mãi mãi. Nhưng lòng tốt của ông thủ tướng chỉ giới hạn tới mức đó thôi. Việc ký bức thư ngày 14 tháng 9 năm 1958 chắc chắn không phải là sáng kiến của ông Phạm Văn Ðồng. Suốt đời ông chỉ làm công việc ký giấy tờ, do người khác quyết định. Ông Ðồng chỉ là một đảng viên tốt, thi hành mọi việc do đảng sai bảo. Trong thời gian năm 1958, những người nắm quyền quyết định cao nhất ở Hà Nội là Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, vân vân. Cho nên nếu gọi bức thư ngày 14 tháng 9 là một “công hàm bán nước” thì cái tội bán nước không riêng ông Phạm Văn Ðồng phải gánh.
Ngô Nhân Dụng
Hôm nay đánh dấu ngày ông Phạm Văn Ðồng ký một bức thư năm 1958 gửi ông Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Cộng.
Trong lá thư đó ông Phạm Văn Ðồng đã nhân danh chính phủ của một nước Việt Nam chính thức đồng ý với bản tuyên bố mươi ngày trước đó của chính phủ Trung Quốc về hải phận. Mà trong bản tuyên bố này Trung Quốc xác nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của họ, giống như Ðài Loan, Bành Hồ. Bức công hàm ngày 14 tháng 9 để lại một di sản nặng nề mà ngày nay người Việt Nam còn chịu hậu quả. Những hậu quả chính trị, ngoại giao nhiều người đã biết; trong bài này sẽ nêu lên một trong những hậu quả về kinh tế. Chữ ký của Phạm Văn Ðồng đã ngăn cản việc khai thác tài nguyên và phát triển đất nước Việt Nam.
Từ năm 1958 tới nay, Bắc Kinh luôn luôn vin vào lá thư của ông Phạm Văn Ðồng để nói rằng chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã công nhận họ là chủ nhân của quần đảo Hoàng Sa. Họ đã dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng kháng cự với bao chiến sĩ đã hy sinh. Hành động cướp đất thô bạo này, diễn ra trong thời gian mới cách đây 37 năm, là một bằng chứng cụ thể chứng tỏ là Hoàng Sa vốn là của Việt Nam, đã bị Trung Cộng cưỡng chiếm. Với bằng cớ hiển nhiên đó bất cứ chính quyền Việt Nam nào cũng có thể đưa ra tòa án quốc tế để đòi xét xử và lấy lại. Nhưng vì lá thư Phạm Văn Ðồng chính quyền Hà Nội há miệng mắc quai. Ngược lại, khi nói ra còn bị Bắc Kinh tố cáo là “vô ơn” và “lật lọng”.
Vin vào lá thư của Phạm Văn Ðồng, với quyền làm chủ Hoàng Sa, Trung Quốc tự cho quyền tấn công các ngư dân Việt Nam từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn không cho đi đánh cá ngoài khơi. Bao đồng bào mất phương tiện sinh sống. Họ còn đe dọa và ngăn cấm cả các công ty quốc tế không cho tìm và khai thác dầu khí trong vùng biển thuộc nước ta. Người Việt Nam không được hưởng những tài nguyên thiên nhiên tổ tiên chúng ta để lại!
Việc ngăn cấm các công ty quốc tế tìm dầu trong thềm lục địa Việt Nam buộc chính quyền Bắc Kinh phải giải thích với nước có những hang dầu bị cấm. Và họ đã viện dẫn lá thư Phạm Văn Ðồng làm bằng cứ. Một điện văn của đại sứ Mỹ ở Hà Nội (mới tiết lộ cuối tháng 8 năm 2011) kể lại mấy cuộc tiếp xúc với quan chức Trung Cộng để nghe họ biện minh việc cấm đoán các hãng dầu Mỹ. Trong cuộc gặp gỡ ngày 7 tháng 3 năm 2008 với nhân viên ngoại giao Mỹ, ông Trịnh Chấn Hoa (Zheng Zhenhua Ð/N), phó chủ nhiệm phòng Kế Hoạch thuộc Vụ Á Châu, Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh, đã nêu lên lá thư do ông Phạm Văn Ðồng ký gửi Thủ Tướng Chu Ân Lai để chứng minh Việt Nam đã chính thức công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1958.
Trước hết, Trịnh Chấn Hoa giải thích về đường Lưỡi Bò (còn gọi là Cửu Ðoạn Tuyến) trong vùng biển Ðông của nước ta, nói rằng nó đã được chính phủ Tưởng Giới Thạch vẽ ra từ năm 1947, rồi lại được nêu lên chính thức trong đạo luật về vùng kinh tế độc quyền ven biển năm 1998 của Bắc Kinh. Trịnh Chấn Hoa cũng nói từ năm đó cho đến thập niên 1960 “không một quốc gia nào kể cả nước Mỹ từng nêu câu hỏi nghi ngờ về chủ quyền của Trung Quốc” trên các quần đảo đó. Ý nói cả chính quyền Việt Nam ở Hà Nội cũng không hề lên tiếng phản đối. (Sự thật thì chính quyền Việt Nam ở Sài Gòn, từ năm 1956 đã nhiều lần xác nhận chủ quyền trên các quần đảo này, bác bỏ lập trường của Bắc Kinh.)
Trịnh Chấn Hoa còn dẫn sự tích lịch sử, nói từ đời Ðông Hán ((23-220) dân Trung Hoa đã sống ở các đảo đó; và trong thời Nam Bắc Triều nhà (Nam) Tống (420-478) đã đặt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc vào tỉnh Quảng Ðông. Nhưng lý luận kiểu này hoàn toàn vô giá trị. Không thể chiếm đóng một nước khác rồi dùng làm chứng cớ coi đó là lãnh thổ của mình. Từ thời Ðông Hán cho tới thời nhà Ðường, tất cả nước Việt Nam bị “chiếm đóng”; Người Việt chỉ tự giải phóng được từ thế kỷ thứ 10. Trong thời gian chiếm đóng thì các vua quan nước Tàu cứ việc coi bất cứ người Việt nào, ở đâu, cũng là “dân” của họ cả. Cứ việc ghi tên bất cứ vùng đất nào của Việt Nam vào một tỉnh nước Tàu. Hoàng Sa và dân sống ở Hoàng Sa cũng vậy. Nếu dùng lý luận của Trịnh Chấn Hoa thì người Tàu có thể nói Lạng Sơn, Hà Nội cho tới Vinh đều thuộc lãnh thổ Trung Quốc hay sao? Các ông Tô Ðịnh, Cao Biền, Trần Bá Tiên chẳng đã từng đặt các tỉnh của Việt Nam vào trong địa giới nước Tàu hay sao? Nói vậy chẳng khác gì chính phủ Anh Quốc tuyên bố các tiểu bang miền Ðông nước Mỹ ngày nay vẫn thuộc chủ quyền của nước Anh vậy!
Cuộc tiếp xúc của Trịnh Chấn Hoa cốt giải thích cho chính phủ Mỹ hiểu lý do họ đã ngăn cản không cho công ty dầu lửa Mỹ Chevron hợp tác với công ty Dầu khí Việt Nam thăm dò tại Block số 122, giữa Hoàng Sa và bờ biển nước ta. Trịnh Chấn Hoa cho nhà ngoại giao Mỹ biết rằng Bắc Kinh chỉ vạch giới hạn 12 hải lý như là hải phận của mình ở quanh các đảo Hoàng Sa, nơi họ coi là có chủ quyền chắc chắn. Còn chung quanh các đảo Trường Sa thì họ không làm, vì còn nhiều tranh chấp với các nước khác “phức tạp hơn”. Sự phân biệt này rõ ràng là vì chính quyền Bắc Kinh dùng lá thư ông Phạm Văn Ðồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 biện hộ việc họ làm chủ Hoàng Sa, coi như không cần bàn cãi nữa. Một hậu quả là Trung Cộng ngăn cản các công ty dầu khí quốc tế không được thăm dò và khai thác gần Hoàng Sa.
Công ty Chevron, hợp tác với Petronas/Carigali đã dự tính thăm dò ở phía Tây Block 122, nằm bên ngoài vùng tranh chấp Hoa-Việt quanh quần đảo Hoàng Sa. Nơi này Chevron cho biết là vùng có triển vọng tìm được dầu và khí đốt cao nhất, chỉ nằm cách bờ biển Việt Nam 17 hải lý, nhưng vẫn bị Trung Cộng ngăn cấm. Một quản đốc cao cấp của công ty Chevron thú nhận rằng họ sợ bị Bắc Kinh trừng phạt, trong một dự án lớn hợp tác với công ty Dầu Khí Trung Quốc, PetroChina khai thác khí đốt ở tỉnh Tứ Xuyên. Chevron phải bãi bỏ việc thăm dò Block 122.
Ngoài công ty Chevron, trong vòng mấy tháng đầu năm 2008 các công ty dầu khí British Petroleum (BP) của Anh; Idemitsu, Nippon Teikoku Nhật Bản; Santos của Úc; Pearl Energy của Singapore; và Lundin Petroleum của Thụy Ðiển cũng phải bỏ các dự án khai thác dầu trong vùng biển Việt Nam vì bị Trung Cộng đe dọa. Ðó là một hậu quả của lá thư ông Phạm Văn Ðồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958! Quyền lợi kinh tế và việc phát triển công nghiệp của nước Việt Nam bị thiệt hại vì bao nhiêu dầu khí không được khai thác. Bắc Kinh còn nêu lên những “bằng chứng phụ” khác để chứng minh Cộng Sản Việt Nam đã công nhận chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, qua những lời tuyên bố của ông Ung Văn Khiêm, một ngoại trưởng, hay những tấm bản đồ chính thức và sách giáo khoa do chính quyền Hà Nội in đều ghi các đảo trên thuộc Trung Quốc. Nhưng các chứng cớ trên không đủ mạnh bằng một văn kiện do một ông thủ tướng Việt Nam ký tên.
Các công điện của đại sứ Mỹ ở Hà Nội cũng cho biết PetroVietNam đã hứa với Chevron rằng Hải quân Việt Nam sẽ bảo vệ các công tác ngoài biển! Chắc Chevron đã biết chính quyền Hà Nội thường “nhún mình” trước Trung Cộng như thế nào. Lời hứa hẹn “bảo vệ” này không thể thực hiện được! Ngay cả việc bảo vệ các ngư dân đi đánh cá bị bắt cóc đòi tiền chuộc mà chính quyền Việt Nam cũng không làm được, thử hỏi làm sao họ dám đương đầu khi đụng vào các quyền lợi lớn như dầu khí?
Trong khi đó thì ngay cả những tàu thủy Petro Việt Nam thuê đi thăm dò đáy biển cũng bị tàu Trung Cộng đến cắt dây cáp thẳng tay, trong lúc các ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng vẫn ca ngợi tình đồng chí anh em với 16 chữ vàng! Cả kho tài nguyên dầu khí của nước ta sẽ bị chính quyền Bắc Kinh phong tỏa, không được sử dụng. Cho tới bao giờ có một chính quyền Việt Nam chịu chấp nhận chia phần với họ trong việc khai thác các mỏ dầu khí trong vùng này, mà trong đó Trung Cộng sẽ chiếm lấy phần lớn; may ra lúc đó các công ty ngoại quốc mới được phép khai thác gần quần đảo Hoàng Sa. Nếu các thỏa hiệp chia chác đó được giữ bí mật theo lối giao thiệp “giữa đồng chí anh em” thì chắc không người dân Việt nào được biết cả.
Nhưng Trung Quốc không đối xử như vậy đối với các nước khác cũng nằm trong tình trạng tranh chấp ở biển Ðông. Trong công điện ngày 7 tháng 9 năm 2007, nhân vụ Chevron, tòa đại sứ Mỹ tại Hà Nội báo cáo về Bộ Ngoại Giao Mỹ cho biết các tòa đại sứ Mỹ ở Phi Luật Tân, Indonesia và Malaysia nói rằng chính phủ Bắc Kinh không hề can thiệp hay ngăn cản các công ty dầu quốc tế khi đến khai thác tại vùng biển các nước này. Những hòn đảo tranh chấp giữa các nước trên với Trung Quốc thường nằm trong vùng Trường Sa, ở phía Nam Hoàng Sa, nhưng đều bị Trung Quốc gom trong Ðường Lưỡi Bò. Công điện này nhận xét: “Trong lúc các nước Ðông Nam Á khác cũng ký các hợp đồng cho khai thác (dầu khí) ở vùng biển Nam Trung Hoa đang có tranh chấp (với Trung Quốc) thì Trung Quốc chỉ phản đối riêng các hợp đồng ký với Việt Nam mà thôi!”
Tại sao họ có hai cách đối xử khác nhau như vậy? “Nhiều công ty năng lượng quốc tế cho là việc tranh chấp có ẩn ý sâu xa hơn, không phải chỉ là vấn đề dầu khí.” Trung Quốc không muốn đối đầu với nhiều quốc gia trong vùng Ðông Nam Á cùng một lúc. Tách riêng Việt Nam ra để thí nghiệm phương pháp đè nén, ép buộc xem kết quả sao; rồi sẽ tính chuyện với các nước khác. Phương pháp của nước mạnh vẫn là “chia để trị”. Cho nên, Bắc Kinh nhất định đòi nói chuyện riêng với Việt Nam, không có nước nào khác can dự. Chấp nhận đàm phán song phương là tự bước vào trong bẫy của họ. Ngay bây giờ, họ đã đối xử theo cách tách rời Việt Nam và Hoàng Sa ra. Như ông Trịnh Chấn Hoa nói với người Mỹ, “trường hợp Trường Sa phức tạp hơn”. Họ chọn Việt Nam để làm áp lực với các công ty dầu quốc tế, bởi vì nó “không phức tạp”. Chính quyền Trung Quốc coi những bất đồng về hải phận đối với Việt Nam không cần bàn cãi. Vì chỉ riêng đối với Việt Nam họ mới nắm được trong tay một văn kiện cụ thể, là bức thư của ông Phạm Văn Ðồng, của ông thủ tướng một nước gửi ông thủ tướng nước khác. Và họ trưng ra bằng chứng đó bất cứ khi nào phải giải thích trước các quan sát viên quốc tế. Các nước Ðông Nam Á khác sẽ thấy khó lòng bênh vực Việt Nam về Hoàng Sa khi Bắc Kinh trưng lá thư Phạm Văn Ðồng ra.
Chính quyền Mỹ thì vốn đã phủi tay, luôn luôn nói nước Mỹ không can dự vào những vùng biển, đảo còn tranh chấp ở Ðông Nam Á. Ngay từ khi quân Trung Cộng tấn công Hoàng Sa năm 1974, các chiến sĩ Việt Nam bị đắm tàu kêu cứu nhưng Hạm Ðội Thứ Bẩy ở gần đó cũng không thèm tới cứu, chắc vì sợ phải can dự! Ông Trịnh Chấn Hoa, ngay trong cuộc nói chuyện kể trên đây, sau khi xác định chủ quyền của Trung Quốc trong vùng Ðường Lưỡi Bò, vẫn cẩn thận trấn an người đại diện chính quyền Mỹ: “Trung Quốc cam kết tàu bè có quyền đi lại tự do trong vùng Ðường Chín Ðoạn.” Hai năm sau, khi bà ngoại trưởng và ông bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ lên tiếng ở Singapore về “quyền tự do hải vận” trong vùng Ðông Nam Á thì Bộ Ngoại Giao Trung Quốc chỉ cần nhắc lại lời cam kết suông mà ông Trịnh Chấn Hoa đã nói. Bằng cách đó, họ có thể tiếp tục cô lập nước Việt Nam. Còn bao nhiêu mỏ dầu khí của dân ta sẽ bị khóa cửa, không cho khai thác. Ðó là hậu quả chữ ký của ông Phạm Văn Ðồng ngày 14 tháng 9 năm 1958.
Khi còn sống ông Phạm Văn Ðồng được tiếng là một ông thủ tướng tốt bụng, hiền lành, chăm chỉ, không muốn làm hại ai. Nhạc sĩ Ðặng Thái Sơn kể khi anh chiếm giải Dương Cầm Chopin năm 1980, anh được ông thủ tướng mời vào khen ngợi. Trước khi từ giã ông còn hỏi, “Cháu có cần bác giúp gì không?” Nhạc sĩ trẻ xin cho thân phụ anh được có lại hộ khẩu ở Hà Nội, và ông Phạm Văn Ðồng giúp ngay. Nhờ thế, thi sĩ Ðặng Ðình Hưng đã được trở về sống ở Hà Nội sau hơn 20 năm bị lưu đầy ở miền quê vì đã tham gia nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Nhà thơ được cư ngụ dưới cầu thang một ngôi nhà gần Chợ Cửa Nam. Ðặng Thái Sơn nhớ cái ơn đó mãi mãi. Nhưng lòng tốt của ông thủ tướng chỉ giới hạn tới mức đó thôi. Việc ký bức thư ngày 14 tháng 9 năm 1958 chắc chắn không phải là sáng kiến của ông Phạm Văn Ðồng. Suốt đời ông chỉ làm công việc ký giấy tờ, do người khác quyết định. Ông Ðồng chỉ là một đảng viên tốt, thi hành mọi việc do đảng sai bảo. Trong thời gian năm 1958, những người nắm quyền quyết định cao nhất ở Hà Nội là Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, vân vân. Cho nên nếu gọi bức thư ngày 14 tháng 9 là một “công hàm bán nước” thì cái tội bán nước không riêng ông Phạm Văn Ðồng phải gánh.
Benjamin Franklin nghĩ gì về thuế
Ngô Nhân Dụng
Một nhân vật tiêu biểu cho tinh thần dân Mỹ thời lập quốc là Benjamin Franklin. Ông nổi tiếng trên thế giới vì góp công vào những phát minh như đèn điện, cột thu lôi, kiểu lò sưởi đốt củi mới, vân vân.
Nhưng Ben Franklin còn đưa ra và thực hiện những sáng kiến giúp cho xã hội chung quanh, khi ông lập ra rất nhiều hội tư để mở thư viện, trường học, xây hội trường cho mọi người sử dụng, lập đội cứu hỏa, vân vân. Ông đã vận động công chúng đóng góp tiền để làm đèn đường, thuê người quét đường, lát gạch đường đi, đào rãnh thoát nước, những việc công ích mà chính quyền thuộc địa của vua nước Anh lúc đó chưa làm. Ben Franklin nhận thấy các con đường quanh chợ mặc dầu rộng và thẳng, nhưng mùa khô thì bụi đầy, mùa mưa thì ngập lụt, xe ngựa đi qua biến thành một bãi bùn lầy. Ông viết trên báo thuyết phục mọi người, chỉ một quãng đường được trải đá. Ông lại viết trên báo của ông và và in thành tờ rời đi phát từng nhà, đề nghị mọi người đóng góp để thuê một người đi quét dọn bùn đất và bụi bậm hai lần một tuần, tiền công nửa đồng (sixpence) mỗi tháng. Các gia chủ hai bên đường phải đóng tiền trả công người quét. Dần dần cả thành phố ai cũng đồng ý với những khoản đóng góp tự nguyện đó, sau được định chế hóa, gọi là đóng thuế.
Thuế, do dân tình nguyện đóng góp để dùng cho những việc lợi ích chung, chứ không phải vì người cầm quyền ra lệnh phải đóng; đó là một khái niệm “mới mẻ” vào đầu thế kỷ 18. Benjamin Franklin cũng là một người đầu tiên nêu ý kiến người giầu phải đóng thuế nhiều hơn người nghèo Lý do, vì họ được hưởng lợi ích nhiều hơn do các định chế xã hội mang lại. Khoảng năm 1737 khi Franklin 31 tuổi, thành phố Philadelphia có lệ mọi người phải thay phiên nhau gác đêm canh phòng trộm cắp, cùng với ông cảnh sát (constable). Nhiều người dân không muốn gác đêm thì nộp 6 shillings cho ông constable một năm; trên nguyên tắc để ông ta thuê người khác gác thay; còn dư ông bỏ túi, và nhậu nhẹt. Số tiền 6 shillings đó cũng trở thành một thứ thuế. Benjamin Franklin đã viết một bài nêu ý kiến rằng việc bắt mỗi gia chủ phải đóng 6 shillings như nhau là không công bằng. “Một bà góa nghèo, mà tài sản của bà được lính gác bảo vệ không quá 50 pounds, bà cũng phải đóng thuế bằng một thương gia giầu có, với hàng hóa trong tiệm trị giá hàng ngàn pounds!” Ðáng lẽ người giầu phải đóng nhiều hơn! Khi nêu lên ý kiến rằng người giầu được hưởng lợi nhiều hơn người nghèo nhờ định chế canh gác cho nên phải đóng góp nhiều hơn, Ben Franklin đã đưa ra một khái niệm mới về công bằng xã hội. Mà lúc đó, chính ông cũng thuộc loại người giầu trong thành phố.
Ben Franklin đã trình bày ý kiến táo bạo của mình với một “Câu Lạc Bộ Cùng Tự Cải Thiện” (club of mutual improvement) đặt tên là JUNTO mà ông cùng mấy người bạn hiếu học lập ra; mọi người đồng ý thuế phải thay đổi. Họ chuyền bản ý kiến đó đưa cho các câu lạc bộ (club) khác trong thành phố, cũng được nhiều người đồng ý, và mở cuộc vận động. Phải mấy năm sau, chính quyền mới đổi suất thuế theo quan niệm mới để người giầu đóng góp nhiều hơn người nghèo. Ðây là một khái niệm mới về công bằng xã hội, mà Ben Franklin là một người đầu tiên cổ võ. Gần đây, mười sáu người giầu nhất nước Pháp, tháng 8 năm 2011, mới công bố một bức thư tình nguyện đóng thêm thuế “phụ trội” để giúp ngân sách chính phủ đỡ thiếu hụt. Họ cũng nêu ra ý kiến như giống Ben Franklin đã viết từ gần 2 thế kỷ trước: “Chúng tôi ý thức rằng mình đã được hưởng lợi rất nhiều (pleinement bénéficé trong nguyên văn) nhờ mô hình và khung cảnh (kinh tế) Pháp và Âu Châu... và chúng tôi muốn đóng góp để bảo vệ (mô hình đó).”
Benjamin Franklin xuất thân rất nghèo, cha là dân lao động, bỏ nước Anh sang Mỹ tìm tự do tín ngưỡng từ năm 1682. Ông sinh 17 đứa con, Ben sinh năm 1706, sau còn thêm 2 em gái. Năm lên 8 tuổi Ben mới được đi học, lên 10 phải bỏ học để giúp cha trong nghề làm nến, rồi đi tập nghề thợ in. Năm 17 tuổi bỏ nhà đi tự lập, từ Boston xuống tới Philadelphia (đi bộ và đi tầu thủy, mất hơn 10 ngày). Nhưng khi ngoài 30 tuổi, ông đã khá giả, làm chủ một nhà in, một tờ báo, là một người giầu có địa vị trong thành phố.
Khi tham gia Nghị Viện của “tỉnh” Pennsylvania (thời đó chưa gọi là bang), Ben Franklin lại cùng các nghị viên khác chống một dự luật thuế của vị thống đốc. Vì dự luật này bắt dân chúng đóng thêm thuế giúp cho đoàn quân hoàng gia đang được điều động tới bảo vệ tỉnh, nhưng lại miễn cho các địa chủ, phần lớn họ sống bên Anh, không phải đóng. Nghị Viện, đa số thuộc giáo phái Quaker, đã yêu cầu các địa chủ giầu có phải đóng góp cho công bằng. Vị thống đốc không chịu, Nghị Viện bỏ phiếu bác bỏ dư luật. Cuối cùng, chính các địa chủ đành tự nguyện góp một số tiền lớn để đạo luật được thông qua, nếu không thì ông thống đốc sẽ không có tiền! Cuộc tranh luận về thuế đó kéo dài cả chục năm chưa chấm dứt, cho tới khi Ben Franklin được Nghị Viện cử sang Anh thương thuyết với chính phủ hoàng gia và trực tiếp thảo luận với luật sư đại diện của giới địa chủ. Chúng ta biết rằng dân các thuộc địa Mỹ Châu đã nổi lên chống vua Anh khởi đầu cũng vì thuế. Họ nêu khẩu hiệu: Không có đại biểu góp ý kiến thì không được đánh thuế dân!
Những nhà tỷ phú Pháp khi viết ý kiến tự nguyện đóng thêm thuế đã không nêu tên Ben Franklin làm mẫu mà lại nhắc đến tên các ông Bill Gates và Warren Buffett, cùng các tỷ phú Mỹ khác, những người viết thư ngỏ yêu cầu được đóng góp cho xã hội nhiều hơn bằng cách tăng suất thuế họ phải đóng. Tổng Thống Barack Obama khi đưa ra dự án cắt giảm khiếm hụt ngân sách trong đó có khoản buộc những người giầu nhất nước Mỹ phải trả suất thuế giống như trước khi được cắt giảm năm 2011, ông cũng nêu lên “Quy tắc Buffett” mà quên không nhắc tới “Quy tắc Franklin.” Thật là một sơ sót đối với nhà lập quốc này.
Ông Warren Buffett cũng chỉ theo tinh thần của Ben Franklin khi ông than phiền rằng những người giầu như ông nhiều khi đóng ít thuế hơn những người làm công cho họ; trong đó ông nêu thí dụ người thư ký của ông. Bởi vì người giầu biết cách tránh thuế nhờ sử dụng những “lỗ hổng” trong luật thuế khóa. Tiền lời nhờ đầu tư chỉ phải đóng thuế 15% mà các tỷ phú có thể kiếm bạc triệu nhờ đầu tư; trong khi cô thư ký lãnh lương về có thể phải đóng 20%.
Không phải ai cũng đồng ý với ông Warren Buffett. Nhiều người Mỹ cũng không biết cảnh nghèo khó có thật ở chung quanh mình. Một dân biểu Quốc Hội liên bang, ông Michael Steele khi được phỏng vấn, đã không biết hiện nay lương tối thiểu trả người lao động Mỹ là bao nhiêu; chắc vì ông không quen biết ai đang lãnh lương tối thiểu. Dân Biểu Sean Duffy lãnh lương 174,000 đô la một năm, than là không đủ. Dân Biểu John Fleming than phiền bị đóng thuế nhiều quá. Với lợi tức kinh doanh hơn 6 triệu Mỹ kim một năm, ông nói cần đến 600,000 để lo cho gia đình và đầu tư thêm vào business, “Sau khi lo nuôi gia đình xong, tôi chỉ còn dư chừng 400,000 đô la để đầu tư thêm mà thôi!” Nhiều người Mỹ chỉ mong kiếm được một phần mười số tiền dư chưa xài hết của ông Fleming!
Khi Ben Franklin nêu lên thí dụ về người nghèo và người giầu ở Philadelphia vào giữa thế kỷ 18, thì tỷ lệ chênh lệch về tài sản là người giầu có gấp 20 lần người nghèo. Ở nước Mỹ bây giờ, chênh lệch về tài sản và lợi tức cao hơn nhiều. Một phần trăm những người giầu nhất nước nắm 34% tổng số tài sản; còn 90% những người nghèo nhất giữ trong tay 27%. Những người kiếm nhiều tiền nhất nước, trong 10,000 người có một người, lợi tức bình quân hơn 27 triệu Mỹ kim một năm. Những người trong 1% giầu nhất thì lợi tức cũng lãnh về hơn một triệu Mỹ kim. Có hơn 46 triệu người Mỹ sống dưới “Mức Nghèo Khó;” mức nghèo được ấn định là lợi tức 11,139 đô la một năm, nếu độc thân, và 22,314 đô la cho một gia đình 4 người. Con số 46.2 triệu người nghèo là một kỷ lục, chưa bao giờ đông như vậy kể từ khi có số thống kê.
Một sự kiện có thể làm nhiều người Mỹ buồn, là chỉ số chênh lệch giầu nghèo ở Mỹ đứng hàng tệ nhất thế giới, trong một quốc gia giầu có nhất thế giới. Chỉ số Gini đo lường mức chênh lệch cho thấy nước Mỹ đứng ngang hàng với các nước như Cameroon, Madagascar, Rwanda, Uganda, Ecuador về khoảng cách giữa người giầu với người nghèo. Những nước Ấn Ðộ, Trung Quốc mà còn có chỉ số Gini tốt hơn Mỹ!
Cuộc suy thoái kinh tế, bắt đầu năm 2007, đã làm người Mỹ trung lưu nghèo đi. Lợi tức của dân Mỹ ở mức chính giữa, thường gọi là Trung số, Median, vào năm 2010 là 49,445 đô la đã giảm hơn 2% so với năm trước, vì kinh tế xuống. Tính từ năm 1999 thì lợi tức chính giữa đã giảm mất tới 7%, xuống bằng mức năm 1996, khi ông Bill Clinton còn đang làm tổng thống.
Nhưng dân Mỹ vẫn có tinh thần tương trợ rất cao. Chính nhờ tinh thần Ben Franklin vẫn tồn tại ở nước Mỹ cho nên mới nhiều chương trình xã hội giúp người gặp cơn khốn khó. Nếu không nhờ lãnh các khoản trợ cấp thất nghiệp thì sẽ có thêm 3.2 triệu người nữa rớt xuống tình trạng dưới mức nghèo khó. Nếu nước Mỹ không có chương trình Hưu Bổng Xã Hội (Social Security) thành lập từ thời Tổng Thống Franklin Roosevelt, thì số người già nghèo khó sẽ tăng lên gấp 5 lần!
Thanh niên khắp thế giới đều nên đọc cuốn tự truyện của Ben Franklin để thấy hình ảnh một con người đáng noi gương. Từ nhỏ ông đã tự đặt lấy những kỷ luật đạo đức theo suốt đời. Cậu Ben cần cù làm việc; nhiều sáng kiến, phát minh; rộng lượng và vị tha. Khi trưởng thành luôn luôn nghĩ cách vận động bạn bè lập các tổ chức công dân mới để giúp lẫn nhau; tham gia chính trị góp công soạn thảo bản hiến pháp Mỹ, đồng thời là một nhà ngoại giao giỏi được mọi người tin cậy. Có lúc ông phải đeo quân hàm đại tá để chỉ huy một đạo dân quân, lập thành lũy tự vệ cho tỉnh mình, xây dựng xong thành thì trao quyền lại cho một sĩ quan chuyên nghiệp. Có lúc được đề nghị lên chức tướng, vì ông thống đốc biết Franklin được tiếng tốt sẽ tuyển mộ được nhiều người tình nguyện. Nhưng ông từ chối vì biết có nhiều sĩ quan quen trận mạc hơn mình. Suốt đời ông luôn luôn tìm cơ hội vận động cải thiện xã hội bằng các hội tự nguyện. Có thể nói ông là một người đầu tiên xây dựng xã hội công dân ở các thuộc địa Mỹ, một nền tảng của chế độ tự do dân chủ được triết gia người Pháp de Tocqueville vào thế kỷ sau ca ngợi. Một con người như vậy mà bây giờ trên thế giới người ta chỉ biết đến qua chân dung in trên tờ giấy bạc 100 đô la! Nếu thấy hình ông mà chỉ nghĩ đến tiền, không học được tấm gương cuộc đời của ông thì thật là uổng!
Ngô Nhân Dụng
Một nhân vật tiêu biểu cho tinh thần dân Mỹ thời lập quốc là Benjamin Franklin. Ông nổi tiếng trên thế giới vì góp công vào những phát minh như đèn điện, cột thu lôi, kiểu lò sưởi đốt củi mới, vân vân.
Nhưng Ben Franklin còn đưa ra và thực hiện những sáng kiến giúp cho xã hội chung quanh, khi ông lập ra rất nhiều hội tư để mở thư viện, trường học, xây hội trường cho mọi người sử dụng, lập đội cứu hỏa, vân vân. Ông đã vận động công chúng đóng góp tiền để làm đèn đường, thuê người quét đường, lát gạch đường đi, đào rãnh thoát nước, những việc công ích mà chính quyền thuộc địa của vua nước Anh lúc đó chưa làm. Ben Franklin nhận thấy các con đường quanh chợ mặc dầu rộng và thẳng, nhưng mùa khô thì bụi đầy, mùa mưa thì ngập lụt, xe ngựa đi qua biến thành một bãi bùn lầy. Ông viết trên báo thuyết phục mọi người, chỉ một quãng đường được trải đá. Ông lại viết trên báo của ông và và in thành tờ rời đi phát từng nhà, đề nghị mọi người đóng góp để thuê một người đi quét dọn bùn đất và bụi bậm hai lần một tuần, tiền công nửa đồng (sixpence) mỗi tháng. Các gia chủ hai bên đường phải đóng tiền trả công người quét. Dần dần cả thành phố ai cũng đồng ý với những khoản đóng góp tự nguyện đó, sau được định chế hóa, gọi là đóng thuế.
Thuế, do dân tình nguyện đóng góp để dùng cho những việc lợi ích chung, chứ không phải vì người cầm quyền ra lệnh phải đóng; đó là một khái niệm “mới mẻ” vào đầu thế kỷ 18. Benjamin Franklin cũng là một người đầu tiên nêu ý kiến người giầu phải đóng thuế nhiều hơn người nghèo Lý do, vì họ được hưởng lợi ích nhiều hơn do các định chế xã hội mang lại. Khoảng năm 1737 khi Franklin 31 tuổi, thành phố Philadelphia có lệ mọi người phải thay phiên nhau gác đêm canh phòng trộm cắp, cùng với ông cảnh sát (constable). Nhiều người dân không muốn gác đêm thì nộp 6 shillings cho ông constable một năm; trên nguyên tắc để ông ta thuê người khác gác thay; còn dư ông bỏ túi, và nhậu nhẹt. Số tiền 6 shillings đó cũng trở thành một thứ thuế. Benjamin Franklin đã viết một bài nêu ý kiến rằng việc bắt mỗi gia chủ phải đóng 6 shillings như nhau là không công bằng. “Một bà góa nghèo, mà tài sản của bà được lính gác bảo vệ không quá 50 pounds, bà cũng phải đóng thuế bằng một thương gia giầu có, với hàng hóa trong tiệm trị giá hàng ngàn pounds!” Ðáng lẽ người giầu phải đóng nhiều hơn! Khi nêu lên ý kiến rằng người giầu được hưởng lợi nhiều hơn người nghèo nhờ định chế canh gác cho nên phải đóng góp nhiều hơn, Ben Franklin đã đưa ra một khái niệm mới về công bằng xã hội. Mà lúc đó, chính ông cũng thuộc loại người giầu trong thành phố.
Ben Franklin đã trình bày ý kiến táo bạo của mình với một “Câu Lạc Bộ Cùng Tự Cải Thiện” (club of mutual improvement) đặt tên là JUNTO mà ông cùng mấy người bạn hiếu học lập ra; mọi người đồng ý thuế phải thay đổi. Họ chuyền bản ý kiến đó đưa cho các câu lạc bộ (club) khác trong thành phố, cũng được nhiều người đồng ý, và mở cuộc vận động. Phải mấy năm sau, chính quyền mới đổi suất thuế theo quan niệm mới để người giầu đóng góp nhiều hơn người nghèo. Ðây là một khái niệm mới về công bằng xã hội, mà Ben Franklin là một người đầu tiên cổ võ. Gần đây, mười sáu người giầu nhất nước Pháp, tháng 8 năm 2011, mới công bố một bức thư tình nguyện đóng thêm thuế “phụ trội” để giúp ngân sách chính phủ đỡ thiếu hụt. Họ cũng nêu ra ý kiến như giống Ben Franklin đã viết từ gần 2 thế kỷ trước: “Chúng tôi ý thức rằng mình đã được hưởng lợi rất nhiều (pleinement bénéficé trong nguyên văn) nhờ mô hình và khung cảnh (kinh tế) Pháp và Âu Châu... và chúng tôi muốn đóng góp để bảo vệ (mô hình đó).”
Benjamin Franklin xuất thân rất nghèo, cha là dân lao động, bỏ nước Anh sang Mỹ tìm tự do tín ngưỡng từ năm 1682. Ông sinh 17 đứa con, Ben sinh năm 1706, sau còn thêm 2 em gái. Năm lên 8 tuổi Ben mới được đi học, lên 10 phải bỏ học để giúp cha trong nghề làm nến, rồi đi tập nghề thợ in. Năm 17 tuổi bỏ nhà đi tự lập, từ Boston xuống tới Philadelphia (đi bộ và đi tầu thủy, mất hơn 10 ngày). Nhưng khi ngoài 30 tuổi, ông đã khá giả, làm chủ một nhà in, một tờ báo, là một người giầu có địa vị trong thành phố.
Khi tham gia Nghị Viện của “tỉnh” Pennsylvania (thời đó chưa gọi là bang), Ben Franklin lại cùng các nghị viên khác chống một dự luật thuế của vị thống đốc. Vì dự luật này bắt dân chúng đóng thêm thuế giúp cho đoàn quân hoàng gia đang được điều động tới bảo vệ tỉnh, nhưng lại miễn cho các địa chủ, phần lớn họ sống bên Anh, không phải đóng. Nghị Viện, đa số thuộc giáo phái Quaker, đã yêu cầu các địa chủ giầu có phải đóng góp cho công bằng. Vị thống đốc không chịu, Nghị Viện bỏ phiếu bác bỏ dư luật. Cuối cùng, chính các địa chủ đành tự nguyện góp một số tiền lớn để đạo luật được thông qua, nếu không thì ông thống đốc sẽ không có tiền! Cuộc tranh luận về thuế đó kéo dài cả chục năm chưa chấm dứt, cho tới khi Ben Franklin được Nghị Viện cử sang Anh thương thuyết với chính phủ hoàng gia và trực tiếp thảo luận với luật sư đại diện của giới địa chủ. Chúng ta biết rằng dân các thuộc địa Mỹ Châu đã nổi lên chống vua Anh khởi đầu cũng vì thuế. Họ nêu khẩu hiệu: Không có đại biểu góp ý kiến thì không được đánh thuế dân!
Những nhà tỷ phú Pháp khi viết ý kiến tự nguyện đóng thêm thuế đã không nêu tên Ben Franklin làm mẫu mà lại nhắc đến tên các ông Bill Gates và Warren Buffett, cùng các tỷ phú Mỹ khác, những người viết thư ngỏ yêu cầu được đóng góp cho xã hội nhiều hơn bằng cách tăng suất thuế họ phải đóng. Tổng Thống Barack Obama khi đưa ra dự án cắt giảm khiếm hụt ngân sách trong đó có khoản buộc những người giầu nhất nước Mỹ phải trả suất thuế giống như trước khi được cắt giảm năm 2011, ông cũng nêu lên “Quy tắc Buffett” mà quên không nhắc tới “Quy tắc Franklin.” Thật là một sơ sót đối với nhà lập quốc này.
Ông Warren Buffett cũng chỉ theo tinh thần của Ben Franklin khi ông than phiền rằng những người giầu như ông nhiều khi đóng ít thuế hơn những người làm công cho họ; trong đó ông nêu thí dụ người thư ký của ông. Bởi vì người giầu biết cách tránh thuế nhờ sử dụng những “lỗ hổng” trong luật thuế khóa. Tiền lời nhờ đầu tư chỉ phải đóng thuế 15% mà các tỷ phú có thể kiếm bạc triệu nhờ đầu tư; trong khi cô thư ký lãnh lương về có thể phải đóng 20%.
Không phải ai cũng đồng ý với ông Warren Buffett. Nhiều người Mỹ cũng không biết cảnh nghèo khó có thật ở chung quanh mình. Một dân biểu Quốc Hội liên bang, ông Michael Steele khi được phỏng vấn, đã không biết hiện nay lương tối thiểu trả người lao động Mỹ là bao nhiêu; chắc vì ông không quen biết ai đang lãnh lương tối thiểu. Dân Biểu Sean Duffy lãnh lương 174,000 đô la một năm, than là không đủ. Dân Biểu John Fleming than phiền bị đóng thuế nhiều quá. Với lợi tức kinh doanh hơn 6 triệu Mỹ kim một năm, ông nói cần đến 600,000 để lo cho gia đình và đầu tư thêm vào business, “Sau khi lo nuôi gia đình xong, tôi chỉ còn dư chừng 400,000 đô la để đầu tư thêm mà thôi!” Nhiều người Mỹ chỉ mong kiếm được một phần mười số tiền dư chưa xài hết của ông Fleming!
Khi Ben Franklin nêu lên thí dụ về người nghèo và người giầu ở Philadelphia vào giữa thế kỷ 18, thì tỷ lệ chênh lệch về tài sản là người giầu có gấp 20 lần người nghèo. Ở nước Mỹ bây giờ, chênh lệch về tài sản và lợi tức cao hơn nhiều. Một phần trăm những người giầu nhất nước nắm 34% tổng số tài sản; còn 90% những người nghèo nhất giữ trong tay 27%. Những người kiếm nhiều tiền nhất nước, trong 10,000 người có một người, lợi tức bình quân hơn 27 triệu Mỹ kim một năm. Những người trong 1% giầu nhất thì lợi tức cũng lãnh về hơn một triệu Mỹ kim. Có hơn 46 triệu người Mỹ sống dưới “Mức Nghèo Khó;” mức nghèo được ấn định là lợi tức 11,139 đô la một năm, nếu độc thân, và 22,314 đô la cho một gia đình 4 người. Con số 46.2 triệu người nghèo là một kỷ lục, chưa bao giờ đông như vậy kể từ khi có số thống kê.
Một sự kiện có thể làm nhiều người Mỹ buồn, là chỉ số chênh lệch giầu nghèo ở Mỹ đứng hàng tệ nhất thế giới, trong một quốc gia giầu có nhất thế giới. Chỉ số Gini đo lường mức chênh lệch cho thấy nước Mỹ đứng ngang hàng với các nước như Cameroon, Madagascar, Rwanda, Uganda, Ecuador về khoảng cách giữa người giầu với người nghèo. Những nước Ấn Ðộ, Trung Quốc mà còn có chỉ số Gini tốt hơn Mỹ!
Cuộc suy thoái kinh tế, bắt đầu năm 2007, đã làm người Mỹ trung lưu nghèo đi. Lợi tức của dân Mỹ ở mức chính giữa, thường gọi là Trung số, Median, vào năm 2010 là 49,445 đô la đã giảm hơn 2% so với năm trước, vì kinh tế xuống. Tính từ năm 1999 thì lợi tức chính giữa đã giảm mất tới 7%, xuống bằng mức năm 1996, khi ông Bill Clinton còn đang làm tổng thống.
Nhưng dân Mỹ vẫn có tinh thần tương trợ rất cao. Chính nhờ tinh thần Ben Franklin vẫn tồn tại ở nước Mỹ cho nên mới nhiều chương trình xã hội giúp người gặp cơn khốn khó. Nếu không nhờ lãnh các khoản trợ cấp thất nghiệp thì sẽ có thêm 3.2 triệu người nữa rớt xuống tình trạng dưới mức nghèo khó. Nếu nước Mỹ không có chương trình Hưu Bổng Xã Hội (Social Security) thành lập từ thời Tổng Thống Franklin Roosevelt, thì số người già nghèo khó sẽ tăng lên gấp 5 lần!
Thanh niên khắp thế giới đều nên đọc cuốn tự truyện của Ben Franklin để thấy hình ảnh một con người đáng noi gương. Từ nhỏ ông đã tự đặt lấy những kỷ luật đạo đức theo suốt đời. Cậu Ben cần cù làm việc; nhiều sáng kiến, phát minh; rộng lượng và vị tha. Khi trưởng thành luôn luôn nghĩ cách vận động bạn bè lập các tổ chức công dân mới để giúp lẫn nhau; tham gia chính trị góp công soạn thảo bản hiến pháp Mỹ, đồng thời là một nhà ngoại giao giỏi được mọi người tin cậy. Có lúc ông phải đeo quân hàm đại tá để chỉ huy một đạo dân quân, lập thành lũy tự vệ cho tỉnh mình, xây dựng xong thành thì trao quyền lại cho một sĩ quan chuyên nghiệp. Có lúc được đề nghị lên chức tướng, vì ông thống đốc biết Franklin được tiếng tốt sẽ tuyển mộ được nhiều người tình nguyện. Nhưng ông từ chối vì biết có nhiều sĩ quan quen trận mạc hơn mình. Suốt đời ông luôn luôn tìm cơ hội vận động cải thiện xã hội bằng các hội tự nguyện. Có thể nói ông là một người đầu tiên xây dựng xã hội công dân ở các thuộc địa Mỹ, một nền tảng của chế độ tự do dân chủ được triết gia người Pháp de Tocqueville vào thế kỷ sau ca ngợi. Một con người như vậy mà bây giờ trên thế giới người ta chỉ biết đến qua chân dung in trên tờ giấy bạc 100 đô la! Nếu thấy hình ông mà chỉ nghĩ đến tiền, không học được tấm gương cuộc đời của ông thì thật là uổng!
Dậy cho con tiếng nói thật thà.
Đòan Thanh Liêm Cách đây 40 năm, ngay từ thời kỳ trước tết Mậu thân 1968, các sinh viên học sinh hội họp với nhau, thì luôn say sưa phấn khích hát bài “Gia Tài cuả Mẹ” cuả nhạc sĩ họ Trịnh. Trong đó có câu thật là tâm đắc : “ Dậy cho con tiếng nói thật thà. Dậy cho con chớ quên màu da. Ôi lũ con cùng cha : Quên hận thù …” Thế nhưng sau 1975, khi người cộng sản chiếm được trọn vẹn miền Nam rồi, thì họ không cho hát bài này nữa.
Cũng vào khỏang thời gian đó, tôi được đọc cuốn Hồi ký cuả văn hào André Malraux, nguyên là Bộ trưởng Văn hoá và là người rất thân cận với Tổng thống De Gaulle cuả nước Pháp. Cuốn Hồi ký có cái tựa đề thật ngộ nghĩnh, đó là “Anti-Mémoires” mà có người dịch là “Phản Hồi Ký”. Nhưng tôi nghĩ chữ Anti ở đây có nghiã là “Trước”, như trong chữ Anticipation, chữ “Antichambre” = Phòng đợi ở bên ngoài phòng khách chính. Như vậy, thì phải gọi là “Tiền Hồi ký” mới đúng với ý cuả tác giả. Vì ông chỉ muốn xuất bản một phần cuốn Hồi ký, khi tác giả còn sinh tiền. Và chỉ khi tác giả qua đời, thì mới cho phổ biến toàn bộ cuốn Hồi ký mà thôi.
Đấy là chuyện bên lề, viết ra cho vui vậy thôi. Còn chính yếu, thì tôi chú ý đến cái câu chuyện trao đổi, khi lần đầu tiên ông Malraux gặp tướng De Gaulle lúc nước Pháp vừa được giải phóng khỏi sự chiếm đóng cuả quân đội Đức quốc xã vào muà Hè 1944, nhờ cuộc đổ bộ cuả quân đội đồng minh lên bờ biển Normandie miền Bắc nước Pháp. Ông Tướng từ ngòai nước trở về, thì muốn tìm hiểu về tình hình trong nước, nên mới hỏi Malraux là một trong những lãnh tụ quân kháng chiến ở trong nội điạ nước Pháp, mà hồi đó thì được gọi là FFI ( = Forces Francaises de l’Interieur tức là Lục lượng võ trang Pháp ở trong Nội địa). De Gaulle rất tâm đắc với cách đánh giá cuả Malraux về tình hình tại nước Pháp hồi đó, với chỉ bằng có một chữ thôi, đó là : “Sự Nói Dối” (nguyên văn tiếng Pháp = Le Mensonge). Tác giả thuật lại : “ Tôi chỉ nói có một chữ Le Mensonge thôi, mà Ông Tướng đã gật đầu tâm đắc với sự đánh giá tình hình nội bộ nước Pháp cuả tôi. Và ngay từ đó, chúng tôi trở thành hai người bạn tri kỷ gắn bó với nhau…” Và rồi như ta đã biết suốt cuộc đời còn lại, Malraux là người cộng tác thân tín nhất với Tướng De Gaulle. Đặc biệt trong những năm 1960-61 trở đi, Bộ Trưởng Văn Hoá André Malraux đã thay mặt Tổng Thống De Gaulle đi gặp gỡ trao đổi với các lãnh tụ thế giới như Kennedy, Nehru, Mao Trạch Đông v.v…
Cũng giống như vậy, văn hào Nga được giải thưởng Nobel về văn chương năm 1958 là Boris Pasternak, tác giả cuốn tiểu thuyết lừng danh “Doctor Zivago”. Trong cuốn sách này, tác giả có ghi như sau : “Muốn chiều lòng người cộng sản, thì cũng dễ thôi. Bạn cứ việc nói là yêu cái điều bạn ghét, và ghét cái điều bạn yêu”.
Còn mô tả về tình hình nước Nga dưới thời Staline thập niên 1930-40, thì Pasternak chỉ cần viết có một câu như sau : “Tất cả chỉ là sự giả dối, giả hình mà thôi ! “ (tiếng Pháp = Tout n’est que Pharisianisme).
Đó là ở nước ngòai. Còn ở Việt nam ta, thì ngay từ hồi 1946-47, tôi đã được nghe nhiều người thốt ra câu nói này : “Nói dối như Vẹm” , tức là chữ VM = Việt Minh thì đọc nhanh ra thành chữ Vẹm. Xưa kia, dân gian thường nói : “Nói dối như Cuội”. Nhưng từ khi có cộng sản Việt Minh, thì bà con lại nói như thế đó.
Và cho đến ngày nay, sau trên 60 năm đảng cộng sản nắm giữ chính quyền, thì tính trạng dối trá lại càng lan rộng, phổ biến trầm trọng hơn gấp bội. Cụ thể là lời phát biểu vừa mới đây cuả Hoà Thượng Thích Quảng Độ với nhân viên ngoại giao nước ngoài : “ Chính quyền cộng sản luôn luôn dối trá, lừa gạt dân chúng…” Nhà văn Võ Thị Hảo tố cáo “Sự giả trá trở thành thường nhật, thành đương nhiên …Những sự giả trá ấy còn tiếp tục làm mục ruỗng nhân cách ngưới Việt nam.” Và bà kêu gọi phải tìm cách giải trừ sự gian dối, giả trá trong sinh hoạt thường ngày cuả xã hội. Mà ngành giáo dục phải đi đầu trong việc “giải trừ bệnh giả dối” này.
Tiến sĩ Hà Sĩ Phu thì viết là : “ Cái bệnh Liệt kháng về Nhân cách “.
Giáo sư Hoàng Tụy thì than phiền sự biến chất, tha hoá, căn bệnh thành tích đã làm hư hỏng bao nhiêu thế hệ con người. Rồi đến Hội Đồng Giám Mục Công giáo trong Thư ngỏ công bố ngày 25/9/2008 cũng lên tiếng cảnh giác : “ Ngày nay, một trong những điều gây nhức nhối lương tâm là sự gian dối trong nhiều lãnh vực, kể cả trong môi trường cần sự thật nhiều nhất là giáo dục học đường . Chắc chắn tất cả những ai tha thiết với tiền đồ của đất nước và dân tộc, không thể không quan tâm đến tình trạng này…”
Như vậy là cả giới trí thức, văn nghệ sĩ, cũng như giới lãnh đạo tôn giáo, thì đều đã đồng thanh nhất trí nói lên sự quan ngại và cảnh giác về tệ trạng luân lý suy đồi, xã hội đầy dãy sự gian trá lươn lẹo. Đó là một thực tế rất đau lòng đến tủi nhục cho một dân tộc vốn có truyền thống trên 4000 năm văn hiến. Và hơn thế nữa, chuyện tham nhũng bê bối về hối lộ ỏ cấp cao tại Saigon và nạn thu gom và vận chuyển đồ ăn cắp cuả phi công Air Việt nam đang được báo chí ở bên nước Nhật phanh phui ra liên tục từ mấy tháng nay, đến nỗi chính phủ Nhật phải cúp viện trợ ODA. Công luận ở Nhật gọi đó là thứ “giòi bọ đáng ghê tởm”. Sự việc này quả là một mối nhục quốc thể tệ hại nhất cho đất nước và con người Việt nam, trước con mắt của tòan thế giới trong giai đọan tòan cầu hóa ngày nay.
Vấn đề đối với người dân chúng ta là phải làm sao vực lại được cái tinh thần nghiã khí liêm xỉ như cha ông chúng ta vẫn thường dậy bảo từ xưa nay. Trước khi đòi hỏi người cộng sản phải thay đổi, phải chấn chỉnh cái này, cái nọ, thì chính chúng ta trong khu vực Xã hội Dân sự, chúng ta phải chủ động làm lấy cho nhau và với nhau trước đã. Việc này hoàn toàn nằm trong tầm tay cuả mỗi người chúng ta.
Đó là lý do thúc đẩy người viết bài này lấy tiêu đề “Dậy cho con tiếng nói thật thà” như đã ghi ở trên. Mỗi người chúng ta, ai mà chẳng yêu mến bà mẹ cuả mình. Vì thế, chúng ta nhất định đều phải làm theo lời dậy dỗ cuả mẹ là “ Phải sống cho ra con người tử tế, chân thật, hầu làm đẹp lòng mẹ và bảo toàn được tiếng thơm cuả dòng họ nhà mình”.
Việc này phải bắt đầu trước hết từ trong nội bộ mỗi gia đình, rồi sau mới đến ngoài xã hội. Các đoàn thể, hiệp hội, các tổ chức tôn giáo là nòng cốt cuả khu vực Xã hội Dân sự, thì phải phát động khuyến khích mỗi gia đình phải rèn luyện, đào tạo con cháu mình theo tinh thần đạo hạnh lễ nghiã truyền thồng cho thật đàng hoàng nghiêm túc. Ta không thể nại lý do ngoài xã hội luân thường đảo lộn, để mà buông xuôi, bỏ mặc chuyện giáo dục con cái trong nội bộ gia đình cuả chính mình ta được. Như dân gian thường nói : “Con hư tại mẹ. Cháu hư tại bà”. Hay là “Nhà dột từ nóc” “Thượng bất chính hạ tắc loạn”... Tức là trách nhiệm cuả mỗi gia đình là chính yếu, các bậc làm cha làm mẹ, thì tuyệt đối “Không thể sao lãng nhiệm vụ dậy dỗ, hướng dẫn đàn con, bằng chính cái nhân cách trong sáng, cái tấm gương đạo hạnh cuả mình.” Đúng như cha ông ta từ ngàn xưa vẫn từng dậy “Dĩ thân nhi giáo”.
Câu hát cuả nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng làm chúng ta nhớ đến nhà thơ Phùng Quán trước đó 10 năm, vào thời kỳ báo “Nhân Văn - Giai Phẩm” ở ngoài Bắc năm 1956-57, đã cống hiến bài thơ đanh thép bất hủ “ Lời Mẹ Dặn “, xin được trích dẫn mấy đoạn tiêu biểu như sau :
Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
. . .
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã.
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
Nhà thơ Phùng Quán, như ta đã biết, cũng như nhiều nhân vật khác trong Nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm đã phải trả một cái giá rất đắt vì tinh thần khẳng khái bất khuất như thế. Và mới đây, trên Đặc san Xuân Kỷ sưủ cuả Báo Người Việt vừa phát hành tại miền Nam California, dịp cuối năm 2008, ta còn được đọc mấy trang Hồi ký thật là cảm động cuả cô giáo Vũ Bội Trâm là người bạn đời cuả nhà thơ.Trong bài nhan đề : “ Tôi đã được Sống như tôi muốn “, chị Bội Trâm đã ghi lại bao nỗi truân chuyên vì làm vợ một người bị chế độ trù dập, săn đuổi tàn tệ. Và anh chị đã trụ vững được, đó là nhờ ở sư nâng đỡ bảo bọc cuả bao nhiêu bà con, bạn bè thân thiết, đặc biệt là nhờ tấm lòng hy sinh nhẫn nại rất mực cuả bà mẹ yêu quý cuả chị.
Và với một người cha bất khuất lẫm liệt như thế và với một người mẹ hy sinh tận tuỵ như chị Bội Trâm, tôi tin là hai cháu Phùng Đỗ Quyên và Phùng Quân cuả hai anh chị sẽ tiếp nối được cái tinh thần đạo hạnh, khẳng khái sáng ngời cuả cả hai dòng họ nội ngoại cuả các cháu.
Viết đến đây, tôi lại nhớ đến chị Như Khuê, người bạn đời cuả nhà thơ Trần Dần. Tôi có dịp đến thăm anh chị tại nhà gần ga Hàng Cỏ Hanoi vào cuối năm 1989. Hồi đó, anh Dần đã bắt đầu đau yếu nhiều, nên ít nói chuyện và để cho chị kể cho tôi nghe về những khó khăn đày đọa mà cả gia đình phải gánh chịu suốt mấy chục năm, chỉ vì anh tham gia vào vụ “Nhân Văn – Giai Phẩm”. May mà mới đấy, vào giữa năm 1989, thì cháu Vũ con anh chị được các người bạn giúp cho sang Pháp học thêm về hội hoạ, nên gia đình mới có chút hy vọng tương lai. Trước đó, thì cháu Vũ đã được Luật sư Nguyễn Mạnh Tường rèn cặp trau dồi về phần tiếng Pháp cho. Nhưng chị Dần còn cho biết : “Anh xem đó : Chúng tôi cũng phải cắn răng, bấm bụng rút ruột mất một số tiền “lót đường” cho cháu mới ra đi êm thắm được đấy.!”
Dân tộc chúng ta mà còn tồn tại đứng vững được qua bao nhiêu thử thách cuả các chế độ phong kiến hủ lậu, chế độ thực dân đế quốc đã qua và cả cuả chế độ độc tài toàn trị cộng sản từ trên nửa thế kỷ nay. Đó chính là vì còn có nhiều bà mẹ nhân ái, bất khuất, mà nhẫn nhục như bà mẹ cuả nhà thơ Phùng Quán, bà mẹ cuả cô giáo Bội Trâm. Và cuả những người vợ hết lòng hy sinh, nhẫn nhục chăm sóc cho chồng, cho con như chị Bội Trâm, chị Như Khuê…
Dân số Việt nam ở trong nước hiện nay là trên 86 triệu, và ở hải ngoại là khoảng 3 triệu. Mà số đảng viên cộng sản cỡ 3 triệu, và tôi không tin rằng tất cả số 3 triệu đảng viên này đều là những con người sắt máu với lòng tràn ngập hận thù, mà lại còn vô cảm, vô trách nhiệm trước những bất công, hủ hoá thối nát, gian dối lừa lọc đầy dãy trong xã hội chúng ta hiện nay. Tôi tin rằng trong đảng cộng sản hiện vẫn còn có những người có lương tâm, biết phân biệt phải trái, biết đâu là chính nghiã, đâu là gian tà. Chỉ có điều là đa số nhân dân chúng ta cũng phải ra sức tranh thủ thuyết phục, mời gọi số người còn có lương tâm và liêm sỉ như thế tham gia tích cực và cụ thể, thiết thực hơn vào công cuộc phục hồi lại cái căn bản truyền thống nhân bản và nhân aí từ ngàn đời cuả cha ông chúng ta truyền lại.
Chúng ta cần phải xác tín rằng : “Nhân nghiã nhất định phải thắng hung tàn . Và Tình thương rồi sẽ xoá thù hận. “ Nhất định là dân tộc ta rồi ra sẽ xoá bỏ hết sạch được cái chủ thuyết ngoại lai “Bạo lực Cách mạng, Hận thù giai cấp. Chuyên chính vô sản…”, mà người cộng sản đã du nhập từ nước ngoài vaò, khiến gây ra bao nhiêu tang thương đổ vỡ, tàn phá huỷ diệt từ mấy chục năm nay, đối với cái nếp sống thuận hoà, nhân ái theo truyền thống tốt đẹp ngàn xưa cuả cha ông chúng ta.
Đó là niềm hy vọng tươi sáng chứa chan cho toàn thể dân tộc Việt nam chúng ta trong thế kỷ XXI này vậy./
California, Cuối năm Mậu Tý 2008
Đoàn Thanh Liêm
Đòan Thanh Liêm Cách đây 40 năm, ngay từ thời kỳ trước tết Mậu thân 1968, các sinh viên học sinh hội họp với nhau, thì luôn say sưa phấn khích hát bài “Gia Tài cuả Mẹ” cuả nhạc sĩ họ Trịnh. Trong đó có câu thật là tâm đắc : “ Dậy cho con tiếng nói thật thà. Dậy cho con chớ quên màu da. Ôi lũ con cùng cha : Quên hận thù …” Thế nhưng sau 1975, khi người cộng sản chiếm được trọn vẹn miền Nam rồi, thì họ không cho hát bài này nữa.
Cũng vào khỏang thời gian đó, tôi được đọc cuốn Hồi ký cuả văn hào André Malraux, nguyên là Bộ trưởng Văn hoá và là người rất thân cận với Tổng thống De Gaulle cuả nước Pháp. Cuốn Hồi ký có cái tựa đề thật ngộ nghĩnh, đó là “Anti-Mémoires” mà có người dịch là “Phản Hồi Ký”. Nhưng tôi nghĩ chữ Anti ở đây có nghiã là “Trước”, như trong chữ Anticipation, chữ “Antichambre” = Phòng đợi ở bên ngoài phòng khách chính. Như vậy, thì phải gọi là “Tiền Hồi ký” mới đúng với ý cuả tác giả. Vì ông chỉ muốn xuất bản một phần cuốn Hồi ký, khi tác giả còn sinh tiền. Và chỉ khi tác giả qua đời, thì mới cho phổ biến toàn bộ cuốn Hồi ký mà thôi.
Đấy là chuyện bên lề, viết ra cho vui vậy thôi. Còn chính yếu, thì tôi chú ý đến cái câu chuyện trao đổi, khi lần đầu tiên ông Malraux gặp tướng De Gaulle lúc nước Pháp vừa được giải phóng khỏi sự chiếm đóng cuả quân đội Đức quốc xã vào muà Hè 1944, nhờ cuộc đổ bộ cuả quân đội đồng minh lên bờ biển Normandie miền Bắc nước Pháp. Ông Tướng từ ngòai nước trở về, thì muốn tìm hiểu về tình hình trong nước, nên mới hỏi Malraux là một trong những lãnh tụ quân kháng chiến ở trong nội điạ nước Pháp, mà hồi đó thì được gọi là FFI ( = Forces Francaises de l’Interieur tức là Lục lượng võ trang Pháp ở trong Nội địa). De Gaulle rất tâm đắc với cách đánh giá cuả Malraux về tình hình tại nước Pháp hồi đó, với chỉ bằng có một chữ thôi, đó là : “Sự Nói Dối” (nguyên văn tiếng Pháp = Le Mensonge). Tác giả thuật lại : “ Tôi chỉ nói có một chữ Le Mensonge thôi, mà Ông Tướng đã gật đầu tâm đắc với sự đánh giá tình hình nội bộ nước Pháp cuả tôi. Và ngay từ đó, chúng tôi trở thành hai người bạn tri kỷ gắn bó với nhau…” Và rồi như ta đã biết suốt cuộc đời còn lại, Malraux là người cộng tác thân tín nhất với Tướng De Gaulle. Đặc biệt trong những năm 1960-61 trở đi, Bộ Trưởng Văn Hoá André Malraux đã thay mặt Tổng Thống De Gaulle đi gặp gỡ trao đổi với các lãnh tụ thế giới như Kennedy, Nehru, Mao Trạch Đông v.v…
Cũng giống như vậy, văn hào Nga được giải thưởng Nobel về văn chương năm 1958 là Boris Pasternak, tác giả cuốn tiểu thuyết lừng danh “Doctor Zivago”. Trong cuốn sách này, tác giả có ghi như sau : “Muốn chiều lòng người cộng sản, thì cũng dễ thôi. Bạn cứ việc nói là yêu cái điều bạn ghét, và ghét cái điều bạn yêu”.
Còn mô tả về tình hình nước Nga dưới thời Staline thập niên 1930-40, thì Pasternak chỉ cần viết có một câu như sau : “Tất cả chỉ là sự giả dối, giả hình mà thôi ! “ (tiếng Pháp = Tout n’est que Pharisianisme).
Đó là ở nước ngòai. Còn ở Việt nam ta, thì ngay từ hồi 1946-47, tôi đã được nghe nhiều người thốt ra câu nói này : “Nói dối như Vẹm” , tức là chữ VM = Việt Minh thì đọc nhanh ra thành chữ Vẹm. Xưa kia, dân gian thường nói : “Nói dối như Cuội”. Nhưng từ khi có cộng sản Việt Minh, thì bà con lại nói như thế đó.
Và cho đến ngày nay, sau trên 60 năm đảng cộng sản nắm giữ chính quyền, thì tính trạng dối trá lại càng lan rộng, phổ biến trầm trọng hơn gấp bội. Cụ thể là lời phát biểu vừa mới đây cuả Hoà Thượng Thích Quảng Độ với nhân viên ngoại giao nước ngoài : “ Chính quyền cộng sản luôn luôn dối trá, lừa gạt dân chúng…” Nhà văn Võ Thị Hảo tố cáo “Sự giả trá trở thành thường nhật, thành đương nhiên …Những sự giả trá ấy còn tiếp tục làm mục ruỗng nhân cách ngưới Việt nam.” Và bà kêu gọi phải tìm cách giải trừ sự gian dối, giả trá trong sinh hoạt thường ngày cuả xã hội. Mà ngành giáo dục phải đi đầu trong việc “giải trừ bệnh giả dối” này.
Tiến sĩ Hà Sĩ Phu thì viết là : “ Cái bệnh Liệt kháng về Nhân cách “.
Giáo sư Hoàng Tụy thì than phiền sự biến chất, tha hoá, căn bệnh thành tích đã làm hư hỏng bao nhiêu thế hệ con người. Rồi đến Hội Đồng Giám Mục Công giáo trong Thư ngỏ công bố ngày 25/9/2008 cũng lên tiếng cảnh giác : “ Ngày nay, một trong những điều gây nhức nhối lương tâm là sự gian dối trong nhiều lãnh vực, kể cả trong môi trường cần sự thật nhiều nhất là giáo dục học đường . Chắc chắn tất cả những ai tha thiết với tiền đồ của đất nước và dân tộc, không thể không quan tâm đến tình trạng này…”
Như vậy là cả giới trí thức, văn nghệ sĩ, cũng như giới lãnh đạo tôn giáo, thì đều đã đồng thanh nhất trí nói lên sự quan ngại và cảnh giác về tệ trạng luân lý suy đồi, xã hội đầy dãy sự gian trá lươn lẹo. Đó là một thực tế rất đau lòng đến tủi nhục cho một dân tộc vốn có truyền thống trên 4000 năm văn hiến. Và hơn thế nữa, chuyện tham nhũng bê bối về hối lộ ỏ cấp cao tại Saigon và nạn thu gom và vận chuyển đồ ăn cắp cuả phi công Air Việt nam đang được báo chí ở bên nước Nhật phanh phui ra liên tục từ mấy tháng nay, đến nỗi chính phủ Nhật phải cúp viện trợ ODA. Công luận ở Nhật gọi đó là thứ “giòi bọ đáng ghê tởm”. Sự việc này quả là một mối nhục quốc thể tệ hại nhất cho đất nước và con người Việt nam, trước con mắt của tòan thế giới trong giai đọan tòan cầu hóa ngày nay.
Vấn đề đối với người dân chúng ta là phải làm sao vực lại được cái tinh thần nghiã khí liêm xỉ như cha ông chúng ta vẫn thường dậy bảo từ xưa nay. Trước khi đòi hỏi người cộng sản phải thay đổi, phải chấn chỉnh cái này, cái nọ, thì chính chúng ta trong khu vực Xã hội Dân sự, chúng ta phải chủ động làm lấy cho nhau và với nhau trước đã. Việc này hoàn toàn nằm trong tầm tay cuả mỗi người chúng ta.
Đó là lý do thúc đẩy người viết bài này lấy tiêu đề “Dậy cho con tiếng nói thật thà” như đã ghi ở trên. Mỗi người chúng ta, ai mà chẳng yêu mến bà mẹ cuả mình. Vì thế, chúng ta nhất định đều phải làm theo lời dậy dỗ cuả mẹ là “ Phải sống cho ra con người tử tế, chân thật, hầu làm đẹp lòng mẹ và bảo toàn được tiếng thơm cuả dòng họ nhà mình”.
Việc này phải bắt đầu trước hết từ trong nội bộ mỗi gia đình, rồi sau mới đến ngoài xã hội. Các đoàn thể, hiệp hội, các tổ chức tôn giáo là nòng cốt cuả khu vực Xã hội Dân sự, thì phải phát động khuyến khích mỗi gia đình phải rèn luyện, đào tạo con cháu mình theo tinh thần đạo hạnh lễ nghiã truyền thồng cho thật đàng hoàng nghiêm túc. Ta không thể nại lý do ngoài xã hội luân thường đảo lộn, để mà buông xuôi, bỏ mặc chuyện giáo dục con cái trong nội bộ gia đình cuả chính mình ta được. Như dân gian thường nói : “Con hư tại mẹ. Cháu hư tại bà”. Hay là “Nhà dột từ nóc” “Thượng bất chính hạ tắc loạn”... Tức là trách nhiệm cuả mỗi gia đình là chính yếu, các bậc làm cha làm mẹ, thì tuyệt đối “Không thể sao lãng nhiệm vụ dậy dỗ, hướng dẫn đàn con, bằng chính cái nhân cách trong sáng, cái tấm gương đạo hạnh cuả mình.” Đúng như cha ông ta từ ngàn xưa vẫn từng dậy “Dĩ thân nhi giáo”.
Câu hát cuả nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng làm chúng ta nhớ đến nhà thơ Phùng Quán trước đó 10 năm, vào thời kỳ báo “Nhân Văn - Giai Phẩm” ở ngoài Bắc năm 1956-57, đã cống hiến bài thơ đanh thép bất hủ “ Lời Mẹ Dặn “, xin được trích dẫn mấy đoạn tiêu biểu như sau :
Con ơi một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
. . .
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã.
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
Nhà thơ Phùng Quán, như ta đã biết, cũng như nhiều nhân vật khác trong Nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm đã phải trả một cái giá rất đắt vì tinh thần khẳng khái bất khuất như thế. Và mới đây, trên Đặc san Xuân Kỷ sưủ cuả Báo Người Việt vừa phát hành tại miền Nam California, dịp cuối năm 2008, ta còn được đọc mấy trang Hồi ký thật là cảm động cuả cô giáo Vũ Bội Trâm là người bạn đời cuả nhà thơ.Trong bài nhan đề : “ Tôi đã được Sống như tôi muốn “, chị Bội Trâm đã ghi lại bao nỗi truân chuyên vì làm vợ một người bị chế độ trù dập, săn đuổi tàn tệ. Và anh chị đã trụ vững được, đó là nhờ ở sư nâng đỡ bảo bọc cuả bao nhiêu bà con, bạn bè thân thiết, đặc biệt là nhờ tấm lòng hy sinh nhẫn nại rất mực cuả bà mẹ yêu quý cuả chị.
Và với một người cha bất khuất lẫm liệt như thế và với một người mẹ hy sinh tận tuỵ như chị Bội Trâm, tôi tin là hai cháu Phùng Đỗ Quyên và Phùng Quân cuả hai anh chị sẽ tiếp nối được cái tinh thần đạo hạnh, khẳng khái sáng ngời cuả cả hai dòng họ nội ngoại cuả các cháu.
Viết đến đây, tôi lại nhớ đến chị Như Khuê, người bạn đời cuả nhà thơ Trần Dần. Tôi có dịp đến thăm anh chị tại nhà gần ga Hàng Cỏ Hanoi vào cuối năm 1989. Hồi đó, anh Dần đã bắt đầu đau yếu nhiều, nên ít nói chuyện và để cho chị kể cho tôi nghe về những khó khăn đày đọa mà cả gia đình phải gánh chịu suốt mấy chục năm, chỉ vì anh tham gia vào vụ “Nhân Văn – Giai Phẩm”. May mà mới đấy, vào giữa năm 1989, thì cháu Vũ con anh chị được các người bạn giúp cho sang Pháp học thêm về hội hoạ, nên gia đình mới có chút hy vọng tương lai. Trước đó, thì cháu Vũ đã được Luật sư Nguyễn Mạnh Tường rèn cặp trau dồi về phần tiếng Pháp cho. Nhưng chị Dần còn cho biết : “Anh xem đó : Chúng tôi cũng phải cắn răng, bấm bụng rút ruột mất một số tiền “lót đường” cho cháu mới ra đi êm thắm được đấy.!”
Dân tộc chúng ta mà còn tồn tại đứng vững được qua bao nhiêu thử thách cuả các chế độ phong kiến hủ lậu, chế độ thực dân đế quốc đã qua và cả cuả chế độ độc tài toàn trị cộng sản từ trên nửa thế kỷ nay. Đó chính là vì còn có nhiều bà mẹ nhân ái, bất khuất, mà nhẫn nhục như bà mẹ cuả nhà thơ Phùng Quán, bà mẹ cuả cô giáo Bội Trâm. Và cuả những người vợ hết lòng hy sinh, nhẫn nhục chăm sóc cho chồng, cho con như chị Bội Trâm, chị Như Khuê…
Dân số Việt nam ở trong nước hiện nay là trên 86 triệu, và ở hải ngoại là khoảng 3 triệu. Mà số đảng viên cộng sản cỡ 3 triệu, và tôi không tin rằng tất cả số 3 triệu đảng viên này đều là những con người sắt máu với lòng tràn ngập hận thù, mà lại còn vô cảm, vô trách nhiệm trước những bất công, hủ hoá thối nát, gian dối lừa lọc đầy dãy trong xã hội chúng ta hiện nay. Tôi tin rằng trong đảng cộng sản hiện vẫn còn có những người có lương tâm, biết phân biệt phải trái, biết đâu là chính nghiã, đâu là gian tà. Chỉ có điều là đa số nhân dân chúng ta cũng phải ra sức tranh thủ thuyết phục, mời gọi số người còn có lương tâm và liêm sỉ như thế tham gia tích cực và cụ thể, thiết thực hơn vào công cuộc phục hồi lại cái căn bản truyền thống nhân bản và nhân aí từ ngàn đời cuả cha ông chúng ta truyền lại.
Chúng ta cần phải xác tín rằng : “Nhân nghiã nhất định phải thắng hung tàn . Và Tình thương rồi sẽ xoá thù hận. “ Nhất định là dân tộc ta rồi ra sẽ xoá bỏ hết sạch được cái chủ thuyết ngoại lai “Bạo lực Cách mạng, Hận thù giai cấp. Chuyên chính vô sản…”, mà người cộng sản đã du nhập từ nước ngoài vaò, khiến gây ra bao nhiêu tang thương đổ vỡ, tàn phá huỷ diệt từ mấy chục năm nay, đối với cái nếp sống thuận hoà, nhân ái theo truyền thống tốt đẹp ngàn xưa cuả cha ông chúng ta.
Đó là niềm hy vọng tươi sáng chứa chan cho toàn thể dân tộc Việt nam chúng ta trong thế kỷ XXI này vậy./
California, Cuối năm Mậu Tý 2008
Đoàn Thanh Liêm
Chính trị dối trá
Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Ở Tây phương, người ta thường nói: Có hai nghề rất khó tìm ra người tử tế và nói thật: Những người bán xe cũ và các chính trị gia.

Nhà độc tài Gadhafi (phải), kẻ nói láo lớn nhất mọi thời đại? (Hình: AP Photo)
Xe cũ đến mấy, khi vào tiệm, cũng đều được đánh bóng; và qua miệng của người bán hàng, tự nhiên biến thành mới, đẹp, an toàn, sang trọng và, dĩ nhiên, mắc tiền hơn hẳn. Có điều sự gian dối của những người bán xe cũ, nghĩ lại, cũng chẳng thấm tháp gì. Thứ nhất, họ chỉ lừa được từng người. Và mỗi người chỉ bị lừa, xui lắm, vài lần trong đời. Là hết. Vả lại, mức lừa cũng có giới hạn. Chiếc xe cũ trị giá thực khoảng năm ngàn, họ nâng lên khoảng 7, 8 ngàn là nhiều. Có lẽ hiếm khi nào tăng được gấp đôi. Lý do là họ còn chịu sức ép cạnh tranh của các đối thủ khác. Thứ hai, dù sao đó cũng là chuyện mua bán. Mà nguyên tắc chính của mua bán là sự đồng thuận (thuận mua vừa bán).
Các chính trị gia thì khác. Từ mà giới chính trị gia thường nói nhiều nhất có lẽ là từ “sự thật” hay “chân lý” (kiểu “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi!”). Nhưng rất hiếm khi chân lý ấy là chân lý thật. Thường là giả. Lại là thứ giả do cố ý: Chúng là những sự dối trá. Có thể nói một cách ngắn gọn: Chính trị là dối trá. Tìm được một nhà chính trị thành thực, nhất là thực thà, là một điều bất khả. Sự khác biệt giữa nhà chính trị này và nhà chính trị kia, về phương diện này, chỉ là ở mức độ, kể cả mức độ dối trá cũng như mức độ khôn khéo khi dối trá. Vậy thôi.
Nói đến sự dối trá của các nhà chính trị, tôi nhớ ngay đến một nhận định của một nhà cựu ngoại giao người Singapore, Kishore Mahbubani, trong một bài viết trên The Financial Times mới đây:
“Các nhà độc tài đang sụp đổ. Các chế độ dân chủ cũng đang sụp đổ. Một trùng hợp lạ lùng chăng? Hay có lẽ, đó là dấu hiệu của một sự thay đổi căn bản nào đó trong khuynh hướng lịch sử nhân loại? Tôi ngờ là như vậy. Tại sao các nhà độc tài tồn tại? Tại chúng nói láo. Muammar Gaddafi là một trong những tên nói láo lớn nhất của mọi thời đại. Hắn tuyên bố là nhân dân nước hắn yêu hắn. Hắn kiểm soát mọi nguồn thông tin đến nhân dân hắn bằng cách ngăn chận mọi sự thật khác với những gì hắn kể. Rồi các máy điện thoại di động đơn giản ra đời nối kết mọi người lại với nhau. Sự thật lan tràn rộng rãi, cuốn trôi mọi sự dối trá mà tên đại tá đã phát đi phát lại trên các đài truyền thanh. Tương tự như vậy, ở Ai Cập và Tunisia, các chế độ mất quyền kiểm soát trên các tự sự. Nói một cách vắn tắt, kỹ thuật đã và đang xói mòn khả năng nói láo của các tên độc tài đối với nhân dân nước chúng. Vậy tại sao các nền dân chủ cũng đang sụp đổ cùng lúc? Câu trả lời đơn giản: Các nền dân chủ cũng đang nói láo.”
Cho các nền dân chủ đang sụp đổ kể cũng vội. Có lẽ Mahbubani chỉ căn cứ vào sự suy thoái kinh tế ở một số nước. Cho Gaddafi là kẻ nói láo lớn nhất mọi thời đại kể cũng hơi vội. Nghĩ xem, những điều Mahbubani kể về tội nói láo của Gaddafi, với người Việt chúng ta, nghe quen thuộc lắm, phải không? Thì, ở nước ta, cũng có người lúc nào cũng xưng xưng tuyên bố là được cả nước yêu mến đó thôi. Không phải chỉ yêu mến suông. Mà yêu mến như bác, như cha, như ông cơ! (Nhớ câu hát: “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn các em nhi đồng”).
Không ai có thể chối cãi là ở các nước dân chủ, các chính trị gia cũng nói láo. Nói láo trắng trợn nữa là khác. Ðã có nhiều người viết nhiều cuốn sách dày cộm về thứ chính trị dối trá (the politics of lying) ở Tây phương với vô số bằng chứng hùng hồn. George W. Bush nói láo về sự hiện diện của các loại vũ khí giết người hàng loạt của Sadam Hussein như cái cớ để tấn công Iraq. Ðã đành. Ngay chính Barack Obama cũng bị kết tội nói láo khi không dám nhìn nhận sự thật là kinh tế Mỹ đang bị khủng hoảng nghiêm trọng và cần phải có những biện pháp cứu vãn mạnh mẽ và quyết liệt. Nhưng đó chỉ là những lần nói láo lớn. Còn những lần nói láo nhỏ hơn thì chắc chắn là nhiều hơn.
Tuy nhiên, dù nhiều đến mấy, chắc chắn các chính trị gia ở các nước dân chủ cũng không thể nói láo nhiều bằng các chính trị gia ở các nước độc tài. Ở các nước dân chủ, ít nhất cũng còn có các phe đối lập và giới truyền thông vốn lúc nào cũng rình rập để bắt quả tang những lời nói láo. Rồi tri hô. Rồi vạch mặt. Rồi phê phán. Biết vậy, giới làm chính trị, dù muốn nói láo, cũng đâm ra dè dặt. Ở các nước độc tài thì ngay cả những sự dè dặt tối thiểu cũng không có. Họ độc quyền trên các cơ quan truyền thông. Radio là của họ. Truyền hình là của họ. Báo chí là của họ. Không ai dám nghi vấn họ cả. Họ cứ nói như thánh phán. Rồi sẽ có cả bọn nịnh bợ xúm vào tâng bốc. Thành ra họ nói láo dễ dàng như việc họ mở miệng ban huấn từ. Nhân dân yêu mến họ. Nhân dân tin tưởng họ. Nhân dân ủng hộ họ. Một triệu người là nhân dân. Một ngàn người là nhân dân. Thậm chí, một người - chính họ - cũng là nhân dân nốt.
Một mình họ tha hồ tô vẽ các tự sự hoang đường về chính họ. Họ nói láo không biết ngượng mồm là vì vậy. Có thể nói, nếu đặc điểm đầu tiên của các tên độc tài là nói láo, thì đặc điểm thứ hai của chúng chính là: Tuyệt đối không biết xấu hổ khi nói láo. Tuyệt đối.
Ví dụ, ở Việt Nam, sau khi câu chuyện Lê Văn Tám, cậu bé bán đậu phộng rang tẩm xăng tự đốt rồi chạy đến kho xăng, nhảy vào một thùng xăng gần nhất, làm bùng cháy cả một kho xăng lớn của Pháp vào năm 1946, gần đây, bị vạch trần là một câu chuyện hoàn toàn bịa đặt. Có ai xấu hổ không? Có. Hai người: Một là Trần Huy Liệu, một sử gia; và hai là Phan Huy Lê, cũng là sử gia. Còn giới chính trị thì sao? Không ai lên tiếng cả. Lê Văn Tám, cho đến bây giờ, vẫn được đặt tên đường, tên công viên và tên trường học. Hàng ngày, học sinh vẫn ra rả đọc các bài ca tụng “anh Tám” anh hùng chống Pháp.
Còn bao nhiêu chuyện khác nữa.
Nhưng thôi. Lại nhớ một câu viết của Mahbubani trong đoạn văn dẫn trên: “Kỹ thuật đã và đang xói mòn khả năng nói láo của các tên độc tài đối với nhân dân nước chúng.” Kẻ thù của những tên độc tài, như vậy, chẳng phải là đảng này đảng nọ đứng đằng sau xúi giục các biểu tình chống Trung Quốc đâu. Chúng chính là các blog, twitter, facebook và những chiếc máy điện thoại di động đấy, các “đồng chí” ạ. (Nhớ trả công tôi về việc tố giác này đấy nhé!)
Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)
Ở Tây phương, người ta thường nói: Có hai nghề rất khó tìm ra người tử tế và nói thật: Những người bán xe cũ và các chính trị gia.

Nhà độc tài Gadhafi (phải), kẻ nói láo lớn nhất mọi thời đại? (Hình: AP Photo)
Xe cũ đến mấy, khi vào tiệm, cũng đều được đánh bóng; và qua miệng của người bán hàng, tự nhiên biến thành mới, đẹp, an toàn, sang trọng và, dĩ nhiên, mắc tiền hơn hẳn. Có điều sự gian dối của những người bán xe cũ, nghĩ lại, cũng chẳng thấm tháp gì. Thứ nhất, họ chỉ lừa được từng người. Và mỗi người chỉ bị lừa, xui lắm, vài lần trong đời. Là hết. Vả lại, mức lừa cũng có giới hạn. Chiếc xe cũ trị giá thực khoảng năm ngàn, họ nâng lên khoảng 7, 8 ngàn là nhiều. Có lẽ hiếm khi nào tăng được gấp đôi. Lý do là họ còn chịu sức ép cạnh tranh của các đối thủ khác. Thứ hai, dù sao đó cũng là chuyện mua bán. Mà nguyên tắc chính của mua bán là sự đồng thuận (thuận mua vừa bán).
Các chính trị gia thì khác. Từ mà giới chính trị gia thường nói nhiều nhất có lẽ là từ “sự thật” hay “chân lý” (kiểu “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi!”). Nhưng rất hiếm khi chân lý ấy là chân lý thật. Thường là giả. Lại là thứ giả do cố ý: Chúng là những sự dối trá. Có thể nói một cách ngắn gọn: Chính trị là dối trá. Tìm được một nhà chính trị thành thực, nhất là thực thà, là một điều bất khả. Sự khác biệt giữa nhà chính trị này và nhà chính trị kia, về phương diện này, chỉ là ở mức độ, kể cả mức độ dối trá cũng như mức độ khôn khéo khi dối trá. Vậy thôi.
Nói đến sự dối trá của các nhà chính trị, tôi nhớ ngay đến một nhận định của một nhà cựu ngoại giao người Singapore, Kishore Mahbubani, trong một bài viết trên The Financial Times mới đây:
“Các nhà độc tài đang sụp đổ. Các chế độ dân chủ cũng đang sụp đổ. Một trùng hợp lạ lùng chăng? Hay có lẽ, đó là dấu hiệu của một sự thay đổi căn bản nào đó trong khuynh hướng lịch sử nhân loại? Tôi ngờ là như vậy. Tại sao các nhà độc tài tồn tại? Tại chúng nói láo. Muammar Gaddafi là một trong những tên nói láo lớn nhất của mọi thời đại. Hắn tuyên bố là nhân dân nước hắn yêu hắn. Hắn kiểm soát mọi nguồn thông tin đến nhân dân hắn bằng cách ngăn chận mọi sự thật khác với những gì hắn kể. Rồi các máy điện thoại di động đơn giản ra đời nối kết mọi người lại với nhau. Sự thật lan tràn rộng rãi, cuốn trôi mọi sự dối trá mà tên đại tá đã phát đi phát lại trên các đài truyền thanh. Tương tự như vậy, ở Ai Cập và Tunisia, các chế độ mất quyền kiểm soát trên các tự sự. Nói một cách vắn tắt, kỹ thuật đã và đang xói mòn khả năng nói láo của các tên độc tài đối với nhân dân nước chúng. Vậy tại sao các nền dân chủ cũng đang sụp đổ cùng lúc? Câu trả lời đơn giản: Các nền dân chủ cũng đang nói láo.”
Cho các nền dân chủ đang sụp đổ kể cũng vội. Có lẽ Mahbubani chỉ căn cứ vào sự suy thoái kinh tế ở một số nước. Cho Gaddafi là kẻ nói láo lớn nhất mọi thời đại kể cũng hơi vội. Nghĩ xem, những điều Mahbubani kể về tội nói láo của Gaddafi, với người Việt chúng ta, nghe quen thuộc lắm, phải không? Thì, ở nước ta, cũng có người lúc nào cũng xưng xưng tuyên bố là được cả nước yêu mến đó thôi. Không phải chỉ yêu mến suông. Mà yêu mến như bác, như cha, như ông cơ! (Nhớ câu hát: “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn các em nhi đồng”).
Không ai có thể chối cãi là ở các nước dân chủ, các chính trị gia cũng nói láo. Nói láo trắng trợn nữa là khác. Ðã có nhiều người viết nhiều cuốn sách dày cộm về thứ chính trị dối trá (the politics of lying) ở Tây phương với vô số bằng chứng hùng hồn. George W. Bush nói láo về sự hiện diện của các loại vũ khí giết người hàng loạt của Sadam Hussein như cái cớ để tấn công Iraq. Ðã đành. Ngay chính Barack Obama cũng bị kết tội nói láo khi không dám nhìn nhận sự thật là kinh tế Mỹ đang bị khủng hoảng nghiêm trọng và cần phải có những biện pháp cứu vãn mạnh mẽ và quyết liệt. Nhưng đó chỉ là những lần nói láo lớn. Còn những lần nói láo nhỏ hơn thì chắc chắn là nhiều hơn.
Tuy nhiên, dù nhiều đến mấy, chắc chắn các chính trị gia ở các nước dân chủ cũng không thể nói láo nhiều bằng các chính trị gia ở các nước độc tài. Ở các nước dân chủ, ít nhất cũng còn có các phe đối lập và giới truyền thông vốn lúc nào cũng rình rập để bắt quả tang những lời nói láo. Rồi tri hô. Rồi vạch mặt. Rồi phê phán. Biết vậy, giới làm chính trị, dù muốn nói láo, cũng đâm ra dè dặt. Ở các nước độc tài thì ngay cả những sự dè dặt tối thiểu cũng không có. Họ độc quyền trên các cơ quan truyền thông. Radio là của họ. Truyền hình là của họ. Báo chí là của họ. Không ai dám nghi vấn họ cả. Họ cứ nói như thánh phán. Rồi sẽ có cả bọn nịnh bợ xúm vào tâng bốc. Thành ra họ nói láo dễ dàng như việc họ mở miệng ban huấn từ. Nhân dân yêu mến họ. Nhân dân tin tưởng họ. Nhân dân ủng hộ họ. Một triệu người là nhân dân. Một ngàn người là nhân dân. Thậm chí, một người - chính họ - cũng là nhân dân nốt.
Một mình họ tha hồ tô vẽ các tự sự hoang đường về chính họ. Họ nói láo không biết ngượng mồm là vì vậy. Có thể nói, nếu đặc điểm đầu tiên của các tên độc tài là nói láo, thì đặc điểm thứ hai của chúng chính là: Tuyệt đối không biết xấu hổ khi nói láo. Tuyệt đối.
Ví dụ, ở Việt Nam, sau khi câu chuyện Lê Văn Tám, cậu bé bán đậu phộng rang tẩm xăng tự đốt rồi chạy đến kho xăng, nhảy vào một thùng xăng gần nhất, làm bùng cháy cả một kho xăng lớn của Pháp vào năm 1946, gần đây, bị vạch trần là một câu chuyện hoàn toàn bịa đặt. Có ai xấu hổ không? Có. Hai người: Một là Trần Huy Liệu, một sử gia; và hai là Phan Huy Lê, cũng là sử gia. Còn giới chính trị thì sao? Không ai lên tiếng cả. Lê Văn Tám, cho đến bây giờ, vẫn được đặt tên đường, tên công viên và tên trường học. Hàng ngày, học sinh vẫn ra rả đọc các bài ca tụng “anh Tám” anh hùng chống Pháp.
Còn bao nhiêu chuyện khác nữa.
Nhưng thôi. Lại nhớ một câu viết của Mahbubani trong đoạn văn dẫn trên: “Kỹ thuật đã và đang xói mòn khả năng nói láo của các tên độc tài đối với nhân dân nước chúng.” Kẻ thù của những tên độc tài, như vậy, chẳng phải là đảng này đảng nọ đứng đằng sau xúi giục các biểu tình chống Trung Quốc đâu. Chúng chính là các blog, twitter, facebook và những chiếc máy điện thoại di động đấy, các “đồng chí” ạ. (Nhớ trả công tôi về việc tố giác này đấy nhé!)

