Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image

Cà phê Sài Gòn có thể không phải cà phê

Phùng Thức/Người Việt
Khi người Pháp mang thói quen uống cà phê tới đô thị lớn nhất xứ Ðông Dương, đến thời điểm hiện nay, có thể nói chưa có một đô thị nào có nhiều quán cà phê như Sài Gòn.

Từ tầng lớp thị dân có mức sống sung túc cho đến dân lao động, thói quen uống cà phê trở thành một nếp sinh hoạt văn hóa đô thị. Nhiều người nhớ lại, ngay cả những năm đầu sau biến cố 1975 hệ thống tuyên truyền của chế độ cộng sản cho rằng uống cà phê là thói quen ăn bám - tiểu tư sản, nhưng nếp sống tận hưởng sự tỉnh táo với ly cà phê của người Sài Gòn cũng không thay đổi.

Ngày nay mọi con đường, mọi ngõ hẻm thậm chí trên lầu các chung cư người ta vẫn có thể tìm thấy quán cà phê. Từ quán cà phê sang trọng bậc nhất ở khu trung tâm cho đến các quán ngồi bẹp xuống lề đường, quán nào cũng đông khách. Nhưng liệu phần lớn người thích uống cà phê của cái đô thị xấp xỉ 10 triệu dân này có phải đang và được uống cà phê hột hái xuống từ cây cà phê không. Câu trả lời là không. Thế họ uống cái gì?



Thực trạng cà phê giá rẻ



Không tính các công ty lớn sản xuất cà phê, riêng ở Sài Gòn có hàng trăm cơ sở tư nhân chế biến cà phê thành phẩm. Sẽ rất dễ nhận ra những người bỏ mối cà phê của những cơ sở này, với một chiếc xe gắn máy chở một cái bao lớn họ chạy khắp các hang cùng ngõ hẻm để giao mối. Chúng tôi tìm gặp một người làm cà phê bỏ mối, anh thiệt tình vừa than thở vừa kể. “Nghề này cạnh tranh khốc liệt lắm anh ơi. Nhưng cũng tội lỗi lắm. Tôi dám cá là cà phê giá rẻ không có chút cà phê nào, toàn là đậu nành với hóa chất hương liệu không hà.” Ðiều anh nói làm chúng tôi bất ngờ, vì theo lẽ thường ai cũng biết cà phê giá rẻ thì không thể đòi hỏi chất lượng, tiền nào của nấy, nhưng nói trong ly cà phê mà đại bộ phận người Sài Gòn, nhất là người lao động đang uống không có chút cà phê hột nào thì thật là khó tưởng tượng.

Thấy chúng tôi ngớ người. Anh giao mối cà phê cho biết thêm. Những quán cóc ở vỉa hè, ở hẻm lao động giá uống một ly cà phê đá khoảng 6,000-7,000 đồng/ly, để pha chế, người bán lấy mối cà phê mỗi ký khoảng từ 60,000 đến 70,000 đồng. Với giá đó thì cái gọi là cà phê thật ra chỉ có đậu nành rang và tẩm hóa chất hương liệu. Nếu cơ sở sản xuất nào có lương tâm thì pha cho chút vỏ xác hột cà phê cho có vị tượng trưng.

Tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết qui trình chế biến cà phê giá rẻ như sau: Ðậu nành, hóa chất tạo bọt, hương liệu ca cao, bơ, hóa chất tạo vị đắng, đường, muối, nước mắm...

Thông thường người ta rang một chảo đậu nành 50 kg, hao hụt khoảng 1/3 trọng lượng. Nếu tính thêm tiền nhiên liệu, tiền nhân công, tiền thuế... Nếu không lấy đậu nành (giá 18,000/kg) thay cà phê hột thì không không ai sản xuất có lời, bởi cà phệ hột (giá dao động trên dưới 45,000/ kg).

Như vậy người ta có thể chắc một chuyện là nếu anh vào một quán cà phê và được tính giá dưới 10,000 đồng/ly thì anh đang uống xác đậu nành tẩm hóa chất. Nhưng nếu anh uống cà phê với giá của dân trung lưu từ 15,000 đến 20,000 thì đúng là anh đang uống khoảng 50% đậu nành. Còn bước vào những quán sang trọng uống một ly cà phê với giá từ 30,000 đồng trở lên thì anh có chút hy vọng cái thứ đang uống đúng là cà phê. Chỉ là hy vọng thôi, vì ở chợ đầu mối Kim Biên luôn sẵn sàng các loại hóa chất dùng để chế biến cà phê cao cấp có xuất xứ từ Trung Quốc.

Có một ông giáo viên, người không bao giờ dám uống cà phê ở các tiệm quán nói nửa đùa nửa thật: “Ðã đến lúc các nhà trí thức ở Việt Nam nên nghiên cứu coi tâm hồn và thể xác các người Việt hiện đại thay đổi ra sao khi nhiều thế hệ đã uống cà phê đậu nành.” Tất nhiên ngày nay ai cũng biết tỷ lệ mắc các chứng bệnh ung thư ở Việt Nam có nguyên nhân từ thực phẩm nhiễm hóa chất độc hại vào hàng cao nhất thế giới. Nhưng đâu ai biết tinh thần người Việt suy nhược đến mức nào khi mỗi ngày uống thứ đậu nành rang cháy khét.

Chúng tôi còn nhớ trong một lần đón một gia đình Việt kiều về từ Canada, thấy họ mang theo cả một vali cà phê xay Brazil, chúng tôi tưởng họ mang về làm quà biếu. Hỏi ra mới biết rằng nhà họ vốn ghiền cà phê nhưng không dám uống cà phê sản xuất trong nước. Có người cho rằng họ chảnh, nhưng người hiểu chuyện thì tán đồng bởi cẩn thận như vậy vẫn tốt hơn. Trở lại với hàng triệu người thuộc giới lao động Việt Nam đang uống thứ cà phê đậu nành giá rẻ, một câu hỏi đặt ra là liệu họ có biết nguy cơ tiềm ẩn khi sử dụng thức uống này không? Câu trả lời là có, tất cả đều biết, nhưng lấy tiền đâu để uống cà phê hột thứ thiệt. Một bác xe ôm, mỗi ngày uống tới ba, bốn ly cà phê nói “Chừng nào chết thì hay. Mà kỳ nghe, uống cà phê dỏm quen rồi tới lúc được mời uống ly cà phê thiệt không thấy ngon, không thấy đã chú ơi.”

Thực trạng và tác hại của thứ thức uống cà phê đậu nành này của người Sài Gòn đã thấy rõ, nhưng nếu kêu gào trách nhiệm của hệ thống kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm của nhà nước có khi lại mắc thêm bệnh ngớ ngẩn. Từ chuyện người Sài Gòn ngày ngày uống cà phê-đậu nành tẩm hóa chất, người ta mới vỡ lẽ ra một điều chua xót có một không hai rằng.

Theo bản tin của báo tài chính Bloomberg ngày 23 tháng 9 năm 2011, nhờ thời tiết thuận lợi và gia tăng diện tích trồng, sản lượng cà phê của Việt Nam năm nay có thể tăng kỷ lục. Ước tính từ đầu mùa cho vụ mùa cà phê năm nay là khoảng 1.24 triệu tấn. Nhưng hãng tin khảo sát 12 công ty từ đại diện thu mua, xuất cảng và trồng cà phê của Bloomberg thì ra kết quả lên tới 1.32 triệu tấn. Vụ mùa năm ngoái chỉ được 1.12 triệu tấn.

Ở đất nước trồng cà phê xuất khẩu đứng hàng thứ hai thế giới không ít người dân lại phải uống thứ cà phê là xác đậu nành pha hóa chất độc hại và cả nước mắm.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra giàu cỡ nào?

Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra sở hữu khối tài sản trị giá 541 triệu baht (17 triệu USD),
ít hơn nhiều so với tài sản của anh trai là cựu Thủ tướng Thaksin.

Image
Bà Yingluck cùng chồng và con trai.
Theo bản kê khai tài sản của Uỷ ban chống tham nhũng quốc gia (NACC), con trai bà Yingluck sở hữu 142.000USD, trong khi người chồng Anusorn Amornchat sở hữu 2,5 triệu USD cùng khoản nợ 12 triệu USD.

Tài sản của nữ Thủ tướng bao gồm bất động sản và các khoản đầu tư khác nhưng bà Yingluck không phải là thành viên giàu nhất trong nội các.

Người giàu nhất trong chính phủ Thái là Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Plodprasop Suraswadi với khối tài sản 31 triệu USD.

Trước khi nhậm chức, bà Yingluck là chủ tịch công ty bất động sản SC Asset Corp và trước đó từng giữ các vị trí khác nhau trong tập đoàn kinh tế của anh trai bà, ông Thaksin.

Tài sản công khai của bà Yingluck được cho là ít hơn nhiều so với anh trai, cựu Thủ tướng Thaksin.

Hồi tháng 2 năm ngoái, Toà án tối cao Thái Lan đã tịch thu 1,4 tỷ USD của ông Thaksin - tương đương hơn 1 nửa tài sản của ông - vì cáo buộc lạm dụng quyền lực.

Trong nỗ lực nhằm ngăn chặn tham nhũng, tất cả các chính trị gia Thái đều phải công khai toàn bộ tài sản của họ với Uỷ ban chống tham nhũng quốc gia trong vòng 1 tháng sau khi nhậm chức và sau khi rời nhiệm sở.

Bất kỳ ai bị phát hiện đưa các thông tin sai lệch về kê khai tài sản đều đối mặt với lệnh cấm tham gia chính trường 5 năm.

Cựu Thủ tướng Abhisit Vejjajiva đã kê khai tài sản tăng gần 100.000USD lên 1,7 triệu USD trong thời gian 2 năm tại vị.

An Bình
Theo AFP

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image

Tiên sư Bố!

Trần Văn Giang

Ông Nguyễn Cao Kỳ (NCK) đã hui nhị tì từ ngày 23/7/2011 (trên hai tháng rồi còn gì!) vậy mà chuyện đi theo sau cái chết của ông loại “chó chết hết chuyện” vẫn chưa thể hết chuyện… Đã từ lâu lắm rồi, tôi không hề quan tâm đến chuyện ông NCK sống như thế nào; thì nay chuyện ông ta chết cũng y như chuyện ông ta sống vậy thôi; Nhưng vì lẽ “cây muốn lặng mà gió không để yên.” “Phe nhà ta” cứ liên tục thay phiên nhau quẳng lên mạng (internet) những câu chuyện khá buồn cười, đánh bóng “thành tích” của ông NCK. Thật ra, chuyện “phe nhà ta” đánh bóng nhau (giới bình dân gọi là “gắp mắm cho nhau”) kể cho cùng cũng chẳng có chết thằng tây nào! Nhưng oan trái là ở chỗ “phe nhà ta” lại nhân cái chuyện “hui nhị tì” và “đánh bóng” này quàng thêm những lời chửi xiên chửi xéo cộng đồng tị nạn cs thì tôi thấy hơi “quá độ.” Tôi đã đọc liên tục 5-6 bài loại này (xin xem bảng liệt kê ở phần tham khảo). Mặc dù tôi không nói rành tiếng Đan Mạch (ĐM); thế mà bây giờ tôi đành phải tìm cách học thêm tiếng Đan Mạch để biết còn cách dùng ngôn ngữ đặc biệt này mà góp vài tiếng vào dòng dư luận chung; trước hết để “gọi là” (so called) tỏ tinh thần “đoàn kết cộng đồng tị nạn cs” sau đó để giới thiệu vài mẩu “sự thật” mong “ơn trên” nhắn nhủ “phe nhà ta” bớt hung hăng con bọ xít…

Và lời chào tiếng Đan Mạch mở hàng cho bài viết này là:

“Tiên sư Bố nó?!”

Một mặt “phe nhà ta” cứ ra rả “nghĩa tử là nghĩa tận;” “phải biết tha thứ,” “không nhốt mình trong tù đầy căn hận,” (*) trong khi mặt khác vợ cũ, con gái, con trai, con rể, và đám đàn em tà loọc… cứ thay phiên nhau chơi đòn “sấm động nam bang:” liên tiếp thả bom thối nổ rất to giữa đám đông trời sáng làm thối um cả trời đất chẳng giống con giáp nào; không còn nể mặt nể mũi ai? Các bài viết “nổ sảng” có chung một công thức đánh bóng ông bố “Bú đà chai” (Buddha‘s Child) tới bến - chỉ còn một tấc nữa là tới trời… Nhưng “sự thật” cho thấy là chưa tới trời (chẳng đi đến đâu cả!) vì vẫn chỉ còn thiếu đúng một tấc.

Bà vợ hơi cũ – vì ông NCK có bà vợ còn cũ hơn bà vợ cũ này! - người vợ mà bàn dân thiên hạ được biết là người đẹp “hoa soan bên thềm cũ,” chính “người,” không biết vô tình hay cố ý, đã mỉa mai binh chủng Không quân, dùng binh chủng oai hùng của QLVNCH như một cái “catwalk” biểu diễn thời trang qua các bộ đồ bay may thật chẽn vào thân thể, khăn quàng cổ mầu tím (?) hoa cà, mắt kiếng mát “à la mode” và giầy da dạ hội. Bà ta đã ly dị ông NCK từ năm Ất dậu nào (hu ke?), đã có lần bà tuyên bố tuyên mẹ những lời “Điệp ơi Lan đã cắt đứt dây chuông,” khá cạn tầu ráo máng như “…chính tôi đã bỏ anh! Tim còn nặng trĩu giận hờn, thù nghịch,” “đã cảm thấy quá mệt mỏi; ngỡ ngàng đến thù hận” hay “giọt nước cuối cùng đã trào khỏi ly!…” Lúc này bà ta lại đem cái “máng” cũ đi rửa lại; đổ bớt nước trong cái ly cũ đầy nước ra và ca rằng (?):

“Anh ơi anh đâu dzồi…’Đã mất anh thật dzồi (!)’ ”

Bà vợ hơi cũ đánh bóng ông chồng cũ thì chuyện đó, có thể vì thông lệ ngoại giao trước mắt công chúng, cũng không có gì lạ. Chẳng hạn như:

“Anh Kỳ có lỗi riêng với tôi. Nhưng riêng về lý tưởng và lòng yêu nước của anh vẫn chiếm trọn sự ngưỡng mộ của tôi.”

Tuy vậy, bà vợ hơi cũ cũng nhân cái dịp “hui nhị tì” của ông NCK, khai chuyện riêng tư là:

“Tôi thật sự ao ước, có một lần nào đó, gập lại anh và cho anh biết là tôi đã hết giận hờn.”

Lý do bà khai như vậy chỉ tại vì thấy ông NCK lúc gần đây đã có những “thay đổi” làm bà thấy mát lòng mát dạ, nhưng lại làm cộng đồng người Việt tị nạn thấy rõ khuôn mặt thật của ông NCK sau bao nhiêu năm ông chịu khó “nín thở qua sông”:

“…quay về bắt tay với người ngày xưa ở bên kia chiến tuyến, đã chĩa mũi súng vào anh…,” “anh đã chủ trương hòa giải,’ “nên xin trả lại sự thật cho sự thật.” (Xin xem thêm về cái “sự thật của sự thật” của ông NCK sẽ đề cập ở phần dưới).

Cô con gái út “rượu” – cái tên do ông chồng “cũng hơi cũ” của cô đặt cho cô Nguyễn Cao Kỳ Duyên (KD) - KD có lẽ là người hăng tiết vịt và muốn ăn thua đủ nhất! Bởi vì, thứ nhất, cô KD là người có học (học luật?) và là một “em-xi” nổi tiếng có duyên (chưa nói đã cười!) Cô ta lại có một trang mạng cá nhân riêng (KyDuyen house) cho nên cô tha hồ “múa gậy vườn hoang.”

Trong “Điếu văn cho Bố” mà cô đọc trước đám tang ở Mã lai ngày 27/7/2011, ngay sau khi nói vài lời ngoại giao cám ơn mọi người, cô nhanh tay không bỏ lỡ cơ hội đánh bóng ông bố NCK:

“… chúng con thấy rất hãnh diện về lý tưởng, về lòng yêu nước cũng như ‘tinh thần khởi bước hòa bình’ của bố.”(?)

(người viết sẽ viết thêm về cái vụ “tinh thần khởi bước hòa bình của bố” cũng ở phần dưới).

Cô KD đã nêu ra một vấn đề dễ gây tranh luận, chỉ nghe thôi đã thấy không ổn chút nào:

“Bố đúng hay sai, sau này sử xanh sẽ phán xét.”

Vào thời buổi “mì ăn liền,” “thức ăn nhanh” “drive thru services” này, thiên hạ đâu có hưởn mà chờ đến “ngày sau, năm sau, sau này…” Hãy nghe chú Lưu Trọng Văn một văn công cs, con trai của bác “Tiếng thu” Lưu Trọng Lư, từng “giải bầy” về cái vụ “sau này” là:

“… thôi
Làm gì có trăm năm mà đợi
Làm gì có kiếp sau mà chờ...”
(“Về thôi” – Lưu Trọng Văn)

Chưa kể với “cách mạng tin học,” tin tức được truyền đi rộng rãi khá chính xác và sự kiện được ghi lại bằng hình ảnh và âm thanh rất rõ ràng trắng đen không phải phí thời giờ võ đóan chi cả đến bàn dân thiên hạ chỉ trong một vài giây đồng hồ… “Bố đúng hay sai?” thì các “video clips” bố láo của bố đã cho câu trả lời nhãn tiền rồi còn gì nữa? Sử xanh nào (?) (ngoại trừ cái loại sử xanh “Lê Văn Tám” của cs) vào đây mà phán xét bố nó sau này?

Khoảng cuối tháng 8/2011, khi Thầy Thích Minh Mẫn của chùa Huệ quang (thuộc thành phố Westminster, Orange County, California, USA) từ chối làm lễ giỗ 49 ngày cho ông NCK, thì cô KD cho báo chí biết là gia đình ông NCK đã in giấy mời với thời giờ và địa chỉ (chùa Huệ Quang) về buổi giỗ này đến quan khách rồi. Thầy Minh Mẫn cũng giải thích (và xác nhận) với nhật báo “Người Việt” như sau:

“Lý do phải hủy bỏ lễ cầu siêu của bác Kỳ vì khóa tu học tại chùa trong dịp lễ Lao Ðộng đã kéo dài tới hôm Thứ Hai. Sau đó thì các thầy cô phải trở lại trường học hoặc đi làm. Chùa không có đủ nhân sự để làm lễ cầu siêu và lo thức ăn chay cho 200 người.

Chúng tôi (Chùa Huệ Quang) đã đề nghị với anh Nguyễn Cao Ðạt, con trai của ông Nguyễn Cao Kỳ, rằng nếu gia đình làm ở chùa Tây Lai hay mướn hội trường công cộng nào đó, thầy sẽ làm lễ cầu siêu cho bác Kỳ. Ngày nào cũng được, không nhất thiết là phải đúng 49 ngày. Nhưng cho đến nay, gia đình chưa cho biết gì về ý kiến này.”


Thầy Minh Mẫn đã có “nhận lỗi” với cô KD:

"Thầy không làm lễ cho ông cụ là Thầy thấy tự hổ thẹn với lương tâm lắm rồi… "

Cô KD cho là, theo báo Người Việt, “bỏ qua vấn đề chính trị,” chùa đã nhận đặt cọc $1000.00 từ gia đình cô, thì đây là chuyện vi phạm luật pháp:

“…khi Thầy tự ý ‘cancel’ mà không có một lý do chính đáng (!) thì Thầy đã vi phạm luật gọi là ‘in breach of oral contract.’ ”

Nếu cô KD bớt nóng giận, dừng lại ở lời nói này thì thật đẹp đẽ; có lẽ sẽ có không ít người chịu khó tạm “bỏ qua vấn đề chính trị,” đồng ý với cô KD là chùa “có vấn đề” vì đã không thi hành cái mà cô KD gọi là “oral contract”… Nhưng (chữ “nhưng” tai hại!) cô KD đã nổi dóa, “cả giận mất khôn,” hơi vội vã xổ ra tiếp theo một lô các danh từ “luật (?)” khá cẩu thả chứng tỏ rõ ràng cô KD là luật sư không (hề) hành nghề luật sư đã lâu (!) Cô KD “có cái cảm tưởng” thật tài tình, phong phú, đầy vẻ sáng tạo như sau:

“Không biết có Phật tử nào trong chùa (?) hay một thế lực nào đó (?) trong cộng đồng làm áp lực nên Thầy phải hủy bỏ. Tôi có cảm tưởng (!) như một ‘undercover mafia’.”

Bá ngọ! Giá mà cô KD là luật sư (thiệt hôn?) mà nói vung vít với quan tòa là cô “không biết” rõ nhưng lại đưa ra “cái cảm tưởng” loại này thì cô và vụ kiện của cô chắc chắn sẽ ăn một bát kim chi no nê (nếu cô đưa chùa ra tòa). Luật sư của chùa sẽ “rebut” cái “cảm tưởng” kỳ lạ “hearsay” này và chùa sẽ thắng kiện dễ dàng… Đó là chưa kể là có thể sẽ có một số Phật tử “fanatic” (tôn giáo nào mà chẳng có một số không ít tín hữu loại “quá tích cực” này! Chẳng hạn, tín hữu hồi giáo còn dám đeo cả bom trong người giữa đám đông cho nổ banh càng mọi người chung quanh, có kể gì mạng sống của chính mình!) của chùa Huệ quang cảm thấy họ bị hạ nhục. Ai biết đâu nào? Họ có thể cũng sẽ liều mình bất chấp, “bỏ qua vấn đề luật pháp” đòi “làm việc” với cô cho ra trò thì kể cũng hơi phiền cho cô… Lớn cả rồi; chớ dại dột!

Vâng, thưa cô KD! Xin tạm “bỏ qua vấn đề chính trị,” và “bỏ qua vấn đề luật pháp,” người viết có một đề nghị nho nhỏ: Khi gởi thiệp mời, hay loan báo qua báo chí cho các buổi lể sắp tới của gia đình cô (giỗ 100 ngày, giỗ đầu của bố cô chẳng hạn...) xin cô KD làm phước thêm một hàng nhỏ vào đâu đó trên thiệp mời một cái danh sách chữ nổi mạ vàng tên các quan chức của lãnh sự quán csvn, những người cũng được gia đình cô mời tham dự hôm đó, để một số người Việt quốc gia tị nạn cs thành tâm còn chút tình riêng với ông NCK biết trước mà tránh cái cảnh “bẽ bàng,” “khó xử,” “lúng túng,” “ngỡ ngàng…” như đã từng xẩy ra trong lần lể truy điệu ông NCK tại khu nghĩa trang Rose Hill, California ngày Chủ nhật 7/8/2011 nhe Cô…

Kế tiếp, đến lượt cậu ấm Nguyễn Cao Trí rõ thật là cao trí. Nhân ngày giỗ 49 ngày của bố “Bú đà chai” NCK (vào ngày 8/9/2011), sau khi theo thông lệ sẵn có của gia đình Nguyễn-Cao, đánh bóng bố như sau:

“Bố đã tận tụy cả đời cho tổ quốc. Cho đến lúc chết bố vẫn còn trong sạch (?)” (Chời đất! Thiệt hôn?)

Và:

“Bố đã tận hết sức với mấy chục triệu người Việt và chúng con cũng hãnh diện là Bố đã làm như thế (?)” (Hết biết!)

Nếu cậu Cao trí này cứ thong thả dừng bút “un-point-final” ở đây thì mọi người dầu sao cũng thông cảm cho vai trò con cái, lúc nào / con ai cũng vậy, cần phải biểu lộ sự kính trọng đối với đấng sinh thành; Nhưng (lại nhưng!) đằng này, cậu lại “ngựa con háu đá;” tính phóng một cú đá giò lái vào chỗ vị trí nằm khoảng bên dưới thắt lưng cộng động tị nạn cs – một cộng đồng khá phức tạp xưa nay vốn dĩ không có nhiều thiện cảm cho lắm với ông bố NCK:

“Thưa Bố, con thấy một số nhỏ người Việt ở đây ‘hèn hạ’ lắm Bố ơi (!)”(OMG!?)

Chờ một chút (“Wait a minute!”) Cậu Cao trí có hiểu nghĩa của chữ “hèn” là gì không? Cậu hình như đã quên bẵng đi là “bố nó” đã công khai giữa ban ngày ban mặt đưa, đẩy ý nghĩa của chữ “hèn” này lên một đẳng cấp mới… Nếu lỡ cậu chưa có dịp, hay “không biết” thi xin cậu làm ơn mở xem lại cái “video clip” “sự thật” đã được thâu hình từ lâu rồi mà bây giờ sau khi “bố nó đã đi dzồi,” chính quyền Hà nội (qua đài truyền hình vi-xi) vừa mới cho phát tán trên mạng:



Nếu phải che cái màn ảnh nhỏ TV đi, không xem hình mà chỉ nghe âm thanh thôi (phần audio) thì người nghe, nếu không lãng tai, sẽ nghe thật đúng, thật rõ ràng các ngôn từ, bài bản mà chính quyền csvn vẫn ra rả chửi người Việt tị nạn cs ở ngòai nước; chứ có ai tin đó là lời nói của một ông cựu tướng lãnh QLVNCH, một ông cựu thủ tướng, một ông cựu phó tổng thống của chính phủ VNCH??? Ông NCK đã không thèm đâm sau lưng mà ông NCK đã ngang nhiên đâm vào ngay trước ngực những người dân, quân, cán chính đã hy sinh cả cuộc đời họ để ông được sống lâu thêm, lấy thêm vợ, có dịp về Việt Nam sủa bậy. Ông NCK tự bôi đen mặt mình, không hề ngượng mồm (mà lại còn làm mặt với giọng nói tỏ vẻ tức giận cho thêm “ấn tượng” !!!) Ông NCK gọi những người bị ông đâm (trước ngực) là “một lũ côn đồ, một lũ phản quốc, hám danh hám lợi, lường gạt???” rồi sau đó ông xin vi-xi cho phép cho ông được tham gia vào việc “hòa giải dân tộc…” Nhìn lại, cho đến khi ông hui nhị tì, ông NCK đã về Việt Nam hơn 7 năm; Ông NCK đã làm được những gì mà vợ con ông đã vội “đánh bóng” là: “… đã chủ trương hòa giải,” “tinh thần khởi bước hòa bình???” chết tiệt của ông?

Nếu gọi ông NCK là “hèn” thì đây là một sỉ nhục lớn cho những người thật sự “hèn” vì ông còn “xuống cấp” thấp hơn cái cấp “hèn…” bình thường.

Sau chót, nhưng chưa phải là hết chuyện! Có anh chàng con rể luật sư hơi cũ Trịnh Hội (vì còn có anh con rễ cũ hơn anh này nữa kìa – thiệt tình! gia đình ông NCK sao có nhiều đồ cũ quá há?) viết một bài “trải lòng mình” nhưng thực ra cũng lại để “đánh bóng” ông bố vợ cũ rất tuyệt với tựa đề là “Bố Kỳ.” Theo phong tục, người Việt thường xem rể là người ngoài, nhất là rể đã “legally” ra rìa rồi, có nghĩa là ngòai của bên ngoài? thì rể có nói trời nói đất về bên nhà vợ cũng khó lấy được sự thông cảm (credits) của nhà vợ cũ. Nên biết chính cái bài “giải độc” của anh chàng lục sự (typo?) này viết mà anh gọi là “muốn viết đôi dòng cho những ai chưa hiểu về Bố!” là “giọt nước làm cho ly nước đầy” của tôi (người viết) tràn… Anh Trịnh Hội đem “4 năm làm con rể bố” ra so sánh với trên 30-40 năm và một chục cái “video clips” mà dân tị nạn cs đã biết bố anh ta, rồi nói:

“Tôi nghĩ đối với bất cứ trường hợp nào chính chúng ta phải sống và phải trải qua những kinh nghiệm của người mà chúng ta muốn phê phán, chúng ta phải bước qua những khổ đau của họ, phải biết khóc cười với thân phận của chính họ từ lúc họ mới ra đời cho đến ngày họ trưởng thành, thấy những gì chỉ có họ đã thấy, nghe những câu chuyện chỉ có họ được nghe, chỉ đến khi ấy tôi nghĩ họa chăng chúng ta mới có thể hiểu được tại sao và trong hoàn cảnh nào họ đã chọn con đường mà họ đã chọn, xử sự theo cách mà chỉ có họ mới có đủ thẩm quyền để quyết định cho riêng họ.

Còn không thì tất cả chỉ là đoán… mò.”
(Ậy! Láo lếu vừa vừa thôi cha nội lục sự!)


Muốn “spin,” giải độc, hay chữa lửa miễn phí thì cũng biết điều, biết người biết ta một tí. Tôi cũng “đoán mò” là lúc này anh Trịnh Hội đang thất nghiệp, có nhiều thời giờ hưởn thì thế nào chẳng có dịp xem mấy cái “video clips” của “Bố Kỳ?” Nếu có xem và nghe rồi thì nhìn lại bản thân anh… có lẽ anh Trịnh Hội cũng nhận ra phần nào chính anh là một trong những thành viên của cái “lũ côn đồ, một lũ phản quốc, hám danh hám lợi, lường gạt???” mà ông Bố cũ đã gọi đám người tị nạn cs. Phần anh, anh cũng đã từng bị bàn dân tị nạn ác ý vin cho cái tội “hám” cái danh hão nhẩy bàn độc mà phí đi cả một cái tương lai sán lạn cá nhân anh để lấy cô con gái út rượu đã có cái “resumé” hơi dài rồi.

Sau phần giải độc thì anh Trịnh Hội không quên đánh bóng ông Bố cũ một phát cho nó có vẻ thấm nhuần văn hóa nhà vợ (cũ):

“… tôi thật sự khâm phục cái ‘Dũng’ (viết hoa) ở nơi bố. Đó là ông dám làm, dám nói.” (Tuyệt chiêu!)

Thật buồn cười. “Dám làm và đám nói” chuyện phải thì mới khá… chứ nói bậy và làm bậy thì, như ông anh vợ cũ Cao trí đã nói ở trên rồi (‘hèn hạ’ lắm Bố ơi! ) chữ “Dũng,” có vẻ hơi kẹt đạn…


Nói tóm lại qua hình ảnh và âm thanh sống thực đã được ghi lại, chúng ta thấy không còn có lý do gì an toàn để biện hộ cho ông NCK nữa. Ông ta chỉ là một người phản bội, hèn hạ, vô liêm sỉ, một thứ cặn bã của người Việt quốc gia chống cs. Già đầu cỡ này mà ông vẫn còn chẳng hiểu “son mother” gì ráo! Vẫn còn quá khờ khạo tin là ông có thể cảm hoá, có thể hòa giải được với cs. Ông có cần được ở “tù cải tạo” một thời gian để có thể khôn hơn không? Mẹ kiếp! Miền Nam có Tư lịnh Không quân. Thủ tướng, Phó tổng thống mà như vậy hèn chi đám dân đen miền Nam Việt Nam “see mother” gần hết ráo trọi…

Riêng “phe nhà ta” thật sự còn nghĩ đến bố NCK thì chuyện đâu còn có đó, cứ thong thả để cho “bố” nó nằm yên trong “lọ tro cốt” đặt ở chùa tầu Tây lai (Hsi Lai Temple), hằng ngày được nghe kinh tầu; đừng có dại mà lôi cái lọ (tro cốt) mà đánh bóng để người ta lại có dịp phải chửi ông thêm nữa có tội.

Cầu mong linh hồn ông NCK tiếp tục “bám trụ” chùa tầu Tây lai cho đến ngàn thu; vì ở “cuối trời thênh thang…” nào đó đang có cái đám người mà ông đã gọi là “một lũ côn đồ, một lũ phản quốc, hám danh hám lợi, lường gạt…” đã vắn số hơn ông; và những người quân cán chính VNCH đã bỏ mình ngoài mặt trận cũng như tại những nhà tù cs; những người đi tị nạn cs đã chết trên đường tìm tự do đang xếp hàng chờ ông từng giây từng phút để họ sẽ thay phiên nhau “làm việc” với ông ???

Trên trời có… Tiên
Ở chùa có … sư
Ở chùa (tầu) cũng có… Bố
Ở đây chỉ có… nó!!!


Thiện tai… thiện tai… Hay là cứ mặc kệ nó… cho đỡ đau đầu?

Cẩn cáo.
_______
Ghi chú:

(*) Những chữ in nghiêng trong ngoặc kép được trích “nguyên văn” từ các bài viết truy cập trên mạng.
________________
Tài liệu tham khảo:

Qua các bài viết sau đây (đọc giả có thể tìm đọc thêm trên mạng – dùng “Google search” cái tựa bài):

- “Đã mất anh thật rồi” – Đặng Tuyết Mai.
- “Điếu Văn của Nguyễn Cao Kỳ Duyên đọc cho Bố Nguyễn Cao Kỳ” - Nguyễn Cao Kỳ Duyên.
- “Kỳ Duyên phát biểu về việc chùa không cho làm giỗ 49 ngày tướng Nguyễn Cao Kỳ” – Nhật báo người Việt.
- “Cửa Chùa Khép Kín” – Nguyễn Cao Kỳ Duyên.
- “Ngày sinh nhật của Bố`” – Nguyễn Cao Trí.
- “Bố Kỳ” – Trịnh Hội.

Trần Văn Giang
9/30/2011

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

BIA MIỆNG NGÀN NĂM!

Lão Móc

Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ
(Ca dao)
Thời trước, mỗi khi muốn ghi lại một việc gì cho hậu thế, ngoài việc chép vào sử, người ta còn hay khắc vào đá. Ý hẳn tin vào sự bền vững của đá. Khắc sự tích hoặc lời văn vào đá thì sẽ lưu lại muôn đời. Đình chùa, lăng miếu thường có bia đá. Nổi tiếng về bia đá chắc không đâu hơn Văn Miếu ở Hà Nội. Kế là Quốc Tử Giám ở kinh đô Huế. Những tấm bia đá đầu tiên ở Văn Miếu Hà Nội, khắc tên những người đậu các khoa thi Tiến Sĩ thời Lê.

Theo khoa chế thời Nguyễn, người có học muốn đi thi, phải qua kỳ khảo hạch ở Tỉnh. Rồi mới được đi thi Hương. Hương thí ba, bốn năm mới có một kỳ; lại chỉ mở ở các tỉnh thành lớn. Sĩ tử bốn phương phải lều chõng, cơm niêu nước lọ tới trường thi. Hương thí có bốn trường. Ai đậu cả bốn được gọi là Cử Nhân; thời Lê hay gọi là ông Cống. Ai đậu được 3 kỳ thi là Tú Tài. Ai chỉ qua được 2 kỳ thì dù bị coi như thi rớt, song cũng được người ta trân trọng gọi là ông nhị, tức nhị trường. Thường thì năm trước thi Hương, năm sau thi Hội. Hội thí chỉ mở ở kinh độ. Các ông Cử phải cơm ghe bè bạn, khăn gói quả mướp vào đấy để thi. Thường thì khi đi thi Hội, ông Cử nào cũng một hai người theo phục dịch tùy theo gia cảnh. Bề gì cũng là ông Cử mà. Ai đậu kỳ thi Hội được gọi là Tiến sĩ. Vượt qua cái chặng này mới được vào đình thí để phân cao thấp. Gọi là Đình thí vì khi ấy các ông Nghè tân khoa được vào hẳn trong điện Vua mà làm văn chứ không phải lều chõng ngoài trời nữa. Và Vua sẽ là Chánh Chủ Khảo. Cụ Nguyễn Khuyến thời ấy đậu đầu Hương thí tức Giải nguyên, thi Hội cụ vẫn đậu đầu gọi là Hội nguyên, và Đình thí cụ cũng đứng đầu nốt, gọi là Đình nguyên. Có 3 cái Nguyên thì cụ chiếm tất, nên gọi là Tam Nguyên. Thơ phú của cụ thì chả phải bàn. Mấy ông Tiến Sĩ được Vua cho khắc tên vào bia đá dựng ở Quốc Tử Giám. Rồi vinh quy bái tổ, ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau. Oai ghê lắm! Vậy mà có ông còn dám làm hai câu đối để đùa:

“Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới
Đá xanh xây cống, hòn dưới nống hòn trên”.

Chả gì cứ ông Nghè, ông Cống; chỉ Tú Tài thôi mà cũng lắm ông văn hay chữ lỏng. Cụ Tú Xương đấy. Thơ của Cụ mà đọc lên thì cứ gọi là rung cả đùi.

Thi cử khó như vậy nên cả cái đất Nam Kỳ lục tỉnh, suốt hơn trăm năm triều Nguyễn chỉ có hai người đậu được Tiến Sĩ. Đó là ông Phan Thanh Giản và ông Phan Hiển Đạo. Ông Phan Thanh Giản làm quan đến chức Hiệp Biện Đại học sĩ, hàm Tòng nhất phẩm, từng làm Chánh sứ đi Tây. Năm 1865, vua Tự Đức phái ông vào Nam làm Kinh Lược Sứ, có nhiệm vụ giữ gìn 3 tỉnh Miền Tây chống âm mưu thôn tính của Pháp. Năm 1867, thành Vĩnh Long mất vào tay Pháp, ông tự sát sau khi căn dặn con cháu không được hợp tác với giặc. Vua Tự Đức ra lệnh truy đoạt tất cả chức tước phẩm hàm, đục bỏ tên ông trong bia Tiến Sĩ. Quê ông ở Bến Tre. Trước 75, tại bùng binh tỉnh lỵ này có tượng ông. Việt Cộng vào chúng gỡ đem đi đâu mất.

Tháng Tư năm 1975, Cộng sản miền Bắc tấn chiếm miền Nam. Và nhà cầm quyền miền Bắc đã cai trị miền Nam như một đoàn quân ngoại nhập. Trước ngày 30-4 năm 1975, một số người có điều kiện đã ra đi khỏi nước. Sau đó, cả nước là một trại tập trung khổng lồ. Và nhiều người đã tiếp tục ra đi bằng cách vượt biển Đông tạo nên phong trào thuyền nhân làm rúng động lương tâm nhân loại.

“Lưu vong là một hiện tượng bất thường trong lịch sử nhân loại nhưng không phải vì thế mà lại ít có hoàn cảnh lưu vong. Khi một tập thể không còn sống được dưới một chính thể mà đành xé lòng bỏ nước ra đi thì tập thể đó có thái độ khác, hoàn toàn khác, hết sức khác, đối với những kẻ tuy trên danh nghĩa đang cai trị họ nhưng trên thực tế là những tên đang tra tấn đồng bào họ, thậm chí đang là những tên đao phủ đối với đồng bào họ”.


Nhận xét này của bác sĩ Trần Văn Tích hoàn toàn đúng khi áp dụng vào việc Đảng và Nhà Nước do đảng CSVN cai trị đất nước trong 36 năm qua. Và do đó, có thể khẳng định những kẻ nào trong tập thể người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại mà lại tìm mọi cách để xin xỏ hòa giải hòa hợp với nhà cầm quyền CSVN thì chính những kẻ này đã tự nguyện xé bỏ căn cước tỵ nạn chính trị của mình!

Trong 36 năm qua, CSVN đã tìm mọi cách để “thôn tính” cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại về mọi mặt. CSVN đã phải “nhờ” tới một trường đại học qua một tên Việt gian “mai phục” ở trường này tìm cách “viết lại căn cước của người tỵ nạn”; nhưng chúng đã hoàn toàn thất bại vì người Việt tỵ nạn CS đã phát giác.

Cố Thủ Tướng VC Võ Văn Kiệt đến Paris kêu gọi người Việt hải ngoại hãy thôi chiến đấu dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ cũng đã thất bại !

Biến cố “người đuôi chó” Trần Trường treo cờ máu và hình Hồ ở Nam California đã bị cộng đồng người Việt tỵ nạn biểu tình phản đối 53 ngày đêm. Trần Trường đã phải bán sới tài sản về nước đào ao “Bác Hồ” để nuôi cá và đã bị chính bọn cầm quyền cộng sản giở trò cướp giựt tài sản như thế nào mọi người đều đã rõ.

Đau đớn nhất là chuyện ông cố Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ của chế độ miền Nam đã về nước hoà hợp hòa giải với VC để góp phần xây dựng đất nước và kết quả như thế như thế nào mọi người đã rõ, xin miễn kể ra đây.

“Sự cố” nổi bật nhất là vào ngày 21 tháng 8 năm 2011, ông trí thức Lê Xuân Khoa và 35 ông bà trí thức khác đã “theo đuôi” 95 trí thức ở trong nước gửi cái gọi là “Thư Ngỏ” đến 5 vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà Nước CSVN để xin xỏ Đảng và Nhà Nước “nên tận dụng sức mạnh của dân tộc để chống lại việc Trung Cộng chiếm đất, lấn biển của VN” và xin xỏ hòa hợp hòa giải.

Điều chua xót là lời lẽ của “Thư Ngỏ” còn quỵ lụy, đớn hèn hơn cả kiến nghị của những trí thức và nhân sĩ ở trong nước!

“Bảo ra đường
Ra đường
Bảo nằm gầm giường
Nằm gầm giường
Bảo sủa
Sủa
Bảo im
Im”.

Ở một đất nước mà một nhà thơ ở trong nước đã diễn tả tình cảnh, thân phận của người dân (dĩ nhiên có cả trí thức) mà 95 vị nhân sĩ, trí thức trong nước còn có can đảm viết một bản kiến nghị đâu ra đó. Trong khi ở hải ngoại, có toàn quyền tự do ngôn luận mà 36 ông bà trí thức viết bức thư ngỏ sặc sụa mùi nịnh bợ, quỵ lụy thì thật là tội nghiệp vô cùng!

Tôi không ngạc nhiên gì khi biết ông Lê Xuân Khoa là người chủ xướng và viết cái gọi là “Thư Ngỏ” này. Theo tôi, ông Lê Xuân Khoa là một người có học nhưng không phải trí thức!

Cách đây 6 năm, tôi đã có bài viết về chuyện ông ta ra mắt sách ở San José kêu gọi hòa hợp hòa giải. Khi ra mắt sách không chào cờ cũng như hát quốc ca VNCH. Bị chất vấn ông ta bàu chữa là ông ta “luôn luôn ấp ủ lá cờ vàng ba sọc đỏ trong tim” (sic!) Nhưng, cũng như ông nhà văn Nhật Tiến, bị những người cầm bút trong nước chê bai là “những kẻ hôi mùi thực dân” không xứng đáng cùng đồng hành với họ để tranh đấu cho tự do, dân chủ; ông Lê Xuân Khoa cũng bị báo chí VC đăng lời chỉ trích; trong khi ông ta viết bài ca tụng VC bị cộng đồng người Việt hải ngoại lên án.

Dư luận khắp nơi đã lên tiếng về Thư Ngỏ của 36 nhà trí thức. Ông Lê Xuân Khoa đã thành công trong nhiệm vụ khuấy động dư luận cũng như gây tranh cãi trong cộng đồng người Việt hải ngoại vì một mục đích nào đó mà chỉ có ông ta và 34 ông bà trí thức cùng ký tên với ông ta biết mà thôi.

Chuyện tên của nhà văn Doãn Quốc Sỹ bị bắt có bỏ “dĩa” (Thư Ngỏ) thì mọi người đều đã rõ, nhất là qua bài viết “Đi thăm nhà văn Doãn Quốc Sỹ” của ông Trần Huy Bích cho thấy tư cách và việc làm ma giáo của “thằng người có đuôi” Lê Xuân Khoa.

Có người nói với tôi tội nghiệp nhất là giáo sư Vũ Quốc Thúc già đời mà chưa trọn! Khôn ba mươi sáu năm mà dại một giờ! Không biết có phải như vậy hay không? Chắc chỉ có ông ta biết mà thôi!

Mấy cái bia trong Văn Miếu Hà Nội nhiều chỗ đã mòn. Có lắm cái tên đọc không còn rõ. Ấy là tôi nói hồi trào Tây, bây giờ hẳn còn mòn hơn nữa. Còn như cụ Phan, tên đã khắc vào; đến năm Tự Đức thứ 18 lại bị đục ra. Năm 1886, Đồng Khánh nguyên niên, mới được khắc lại.


Bia đá coi vậy cũng không lấy gì làm bền lâu. Cũng như danh vị, chức tước con người, thấy đó rồi mất đó. Chỉ có tiếng thơm, tiếng xấu, tức cái bia miệng kia thì ngàn năm còn mãi. Có người lưu danh thiên cổ thì cũng có kẻ lưu xú vạn niên. Cũng sinh một thời mà Trần Bình Trọng thì lưu danh; Trần Ích Tắc thì lưu xú! Trần Văn Hương thì lưu danh; Dương Văn Minh thì lưu xú. Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú thì lưu danh; Nguyễn Hữu Hạnh thì lưu xú. Hùm chết để da, người ta chết để tiếng. Làm người mà không để được tiếng thơm cho đời sau thì cũng rán đừng lưu tiếng xấu.

Mấy ông bà Tiến sĩ, mấy ông bà đã có cái danh Tiến Sĩ, nếu là ngày xưa thì cũng bia đá, bảng vàng như ai; tự nhiên lại ghi tên vào cái Thư Ngỏ do ông Tiến sĩ Lê Xuân Khoa khởi xướng theo đuôi mấy ông trí thức ở trong nước. Cái “Thư Ngỏ báo đời” đã biến quý vị trở thành… “Tiến sĩ Bác Hồ”!

Bia miệng ngàn năm!

Lão Móc

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Phương Tây ‘mù tịt’ về ‘quả bom’ hạt nhân Iran Dù luôn miệng khẳng định Iran đang theo đuổi chương trình hạt nhân quân sự để chế tạo vũ khí nguyên tử nhưng cả giới lãnh đạo lẫn chuyên gia phân tích phương Tây đều không thể đưa ra chứng cứ rõ ràng và nhất quán.

Tuyên bố mập mờ

Bất chấp những khẳng định của Iran rằng chương trình hạt nhân chỉ nhằm phục vụ mục đích hòa bình nhưng giới chức phương Tây vẫn kiên quyết cho rằng, Tehran đang bí mật chế tạo vũ khí hạt nhân.

Ngày 14/9 vừa qua, người đứng đầu phái đoàn Mỹ tại Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) Glyn Davies tuyên bố rằng, Iran có thể đang tiến hành các cuộc thử nghiệm hạt nhân.

“Quả thực là hiện tại Iran vẫn tiếp tục vi phạm các quy định của quốc tế mà chúng tôi xem là một hành động khiêu khích”, ông Glyn Davies quả quyết.

Cùng giọng điệu này, trong một bài phát biểu nhân kỷ niệm 10 năm vụ tấn công khủng bố ngày 11/9 nhằm vào toà tháp đôi của nước Mỹ, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu nhận định, chương trình hạt nhân của Iran vẫn là một mối đe doạ kinh hoàng đối với an ninh toàn cầu.

“Một thập kỷ sau, khả năng loại vũ khí chết người nhất này rơi vào tay của những kẻ khủng bố là điều hiển nhiên. Một vụ tấn công khủng bố bằng hạt nhân có thể sớm chứng minh cho một mối nguy hiểm hiện hữu và bởi vậy, chúng ta không thể để điều đó xảy ra. Mỹ cần làm mọi thứ có thể để ngăn cản Iran sở hữu vũ khí hạt nhân”, ông Benjamin Netanyahu nhấn mạnh.

Trong khi đó, người đứng đầu Ủy ban năng lượng nguyên tử Israel cũng khăng khăng: “Israel chắc chắn rằng, Iran đang theo đuổi chương trình hạt nhân nhằm chế tạo vũ khí nguyên tử”.
Image
Thủ tướng Israel luôn đưa ra những tuyên bố cứng rắn về chương trình hạt nhân của Iran.
Bên cạnh giới chức Mỹ và Anh, Tổng thống Pháp mới đây cũng không bỏ qua cơ hội “gán tội” cho chương trình hạt nhân của Iran. “Các tham vọng tên lửa và hạt nhân quân sự của Iran gây ra mối đe dọa ngày càng lớn, có thể dẫn tới một cuộc tấn công phủ đầu nhằm vào các mục tiêu của Iran”, ông Sarkozy cảnh báo.

Không chỉ vậy, đến cả quan chức hàng đầu của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA cũng tuyên bố “ngày càng quan ngại về khả năng Iran từ trước đến nay vẫn bí mật tiến hành các hoạt động hạt nhân với sự tham gia của nhiều tổ chức quân sự liên quan”.

Tuy nhiên, điểm chung của tất cả những tuyên bố của giới chức là hết sức không rõ ràng. Dường như những cáo buộc của họ đối với chương trình hạt nhân Iran đều xuất phát từ cái gọi là “đức tin”.

Nhận định “đá” nhau

Giới lãnh đạo đã đành, các chuyên gia của phương Tây cũng không thể đưa ra phân tích và nhận định chung về chương trình hạt nhân Iran.

Mới đây, nhà phân tích quân sự Mỹ Greg Jones tại Trung tâm Giáo dục chính sách không phổ biến vũ khí hạt nhân đưa ra một nhận định gây “sốc” rằng, nếu Iran quyết định chế tạo một quả bom hạt nhân thì chỉ cần trong 8 tuần, quả bom đó sẽ “ra lò” bởi khoảng thời gian đó đủ để quốc gia Hồi giáo sản xuất đủ lượng uranium được làm giàu ở mức độ cao.

“Đến cuối năm sau thì thời hạn để chế tạo một quả bom hạt nhân rút ngắn xuống chỉ còn bốn tuần bởi khi đó, khả năng làm giàu uranium của Iran được nâng cao hơn nhiều”, ông Greg Jones khẳng định.

Chuyên gia này nhấn mạnh thêm rằng, đã đến lúc Iran được đối xử như một cường quốc hạt nhân bởi tiềm lực hạt nhân của nước này đã quá rõ ràng.

Nhận định này của ông Greg Jones ngay lập tức bị nhà nghiên cứu Shannon Kile tại Viện nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm phản bác. “Tôi cho rằng chúng ta đang quá đề cao khả năng tiến tới việc sản xuất vũ khí hạt nhân của Iran. Thật không thể tưởng tượng được có ai đó lại có thể khẳng định rằng Tehran có khả năng chế tạo bom chỉ trong 8 tuần. Kể cả 18 tháng thì điều đó cũng chưa thể xảy ra”, ông Shannon Kile khăng khăng.
Image Giới phân tích phương Tây có cái nhìn khác nhau về tiềm lực hạt nhân Iran.

Trong khi đó, Mark Fitzpatrick, một chuyên gia tại Viện nghiên cứu Khoa học và an ninh quốc tế (ISIS) cũng cho rằng, cách tính toán của ông Jones “không thực tế” bởi Iran còn đang gặp rất nhiều trở ngại trong chương trình hạt nhân của mình.

“Những tính toán kiểu vô căn cứ như vậy thật vô trách nhiệm. Thực tế là nếu khả năng nhanh nhất có thể xảy ra thì cũng phải đến cuối năm 2012, Iran mới có đủ lượng uranium làm giàu ở mức 20% để sản xuất một vũ khí hạt nhân. Ngay cả khi đã có đủ uranium ở mức độ có thể chế tạo bom thì Tehran cũng phải mất nhiều thời gian để chuyển hóa chúng từ dạng khí sang rắn, sau đó thu nhỏ để có thể ghép vào đầu tên lửa”, ông Mark Fitzpatrick nhấn mạnh.

Nhận định xa hơn nữa, lãnh đạo tình báo quân sự Israel Aviv Kochavi cho rằng, với một số khó khăn trước mắt, Iran sẽ phải mất khoảng hai năm mới có thể sản xuất bom nguyên tử.

Tuy nhiên, không phải duy chỉ có chuyên gia Jones đánh giá cao chương trình hạt nhân của Iran. Một báo cáo mới đây của Trung tâm chính sách hai đảng Mỹ cho rằng, Iran có thể chế tạo được 20kg uranium được làm giàu ở mức độ cao, lượng uranium đủ để sản xuất một đơn vị hạt nhân trong vòng hai tháng.

Dẫu sao, báo cáo này vẫn thận trọng khi nhận định, hiện vẫn chưa rõ là Iran làm chủ được công nghệ chuyển hóa uranium ở mức độ cao thành vũ khí hay chưa. “Thông thường thì sau khi tiếp cận công nghệ đó thì phải mất 6 tháng mới có thể thực hành được”, báo cáo lưu ý.

Ngay cả giới phân tích còn “ông nói gà, bà nói vịt” thì làm sao các nhà lãnh đạo có cơ sở để cáo buộc Iran. Đó cũng là lý do vì sao vì chương trình hạt nhân gây tranh cãi này, Tehran và phương Tây cứ chơi trò dền dứ và vờn nhau bằng hàng loạt tuyên bố “có – không” suốt từ trước đến nay. Điểm đặc biệt của trò chơi này là nó có thể luôn bắt đầu lại và chẳng biết đến khi nào mới kết thúc.

Trà My (theo Reuters, AP)

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Kéo quần lên!“

Chưa đi chưa biết Hoa Kỳ -
Đi rồi mới thấy… kỳ kỳ làm sao!” -
Phải, một trong những sự “kỳ kỳ” ở xứ Mỹ này là đạo luật “Pull Your Pants Up” hay “Kéo quần lên” mới được ban hành ngày 31 tháng 8 vừa rồi.

“Chưa đi chưa biết Hoa Kỳ - Đi rồi mới thấy… kỳ kỳ làm sao!” - Phải, một trong những sự “kỳ kỳ” ở xứ Mỹ này là đạo luật “Pull Your Pants Up” hay “Kéo quần lên” mới được ban hành ngày 31 tháng 8 vừa rồi. Đây là thành quả vĩ đại mà thượng nghị sĩ Gary Siplin thuộc đảng Dân Chủ ở Orlando, tiểu bang Florida đã gặt hái được sau hơn 6 năm vận động. Nhân mùa khai giảng niên học 2011-2012, các cậu đương kim sinh viên trở lại trường và các cựu nam học sinh vừa từ cấp trung học bước lên ngẫng cửa đại học đã được “cụ thượng” Siplin hồ hởi phấn khởi chào mừng bằng việc phân phát miễn phí 200 dây nịt hay còn gọi là thắt lưng hoặc “xanh-tuya” (phát âm theo tiếng Pháp: “Ceinture”). Món quà này không phải nhằm vận động các cậu nhớ bỏ phiếu cho ứng cử viên tổng thống của đảng Dân Chủ vào tháng 11 năm tới hoặc để các cậu diện cho bảnh hầu bắt mắt con gái - nhưng thông điệp rất rõ rệt: Dây nịt này dùng để giữ quần không bị xệ xuống mà lòi bộ mông của chủ nhân ra! Nói nhẹ thì như có vẻ khuyên bảo nhẹ nhàng, nhưng thật sự là nghiêm cấm đấy dù mông có đẹp, có trắng, có tròn, có nẩy nở hay phát triển khổng lồ hoặc sexy cỡ nào thì cũng không được triển lãm ra trong phạm vi học đường. Đã gọi là đạo luật thì hẳn nhiên có phần qui định hình phạt. Theo đạo luật “Pull Your Pants Up”, kẻ nào không chịu thường xuyên “kéo quần lên” mà cứ “vô tư” để quần xệ khiến lòi cả mông ra cho mát mẻ hay vì một mục đích thầm kín nào đó thì lần đầu tiên được nhắc nhở; sau đó nếu còn ngoan cố tái phạm thì phạm nhân sẽ bị đuổi học “tối đa 3 ngày và lên đến 30 ngày cho các sinh hoạt ngoại khóa”.

Về phía nữ sinh viên, đạo luật này cấm “mặc áo hở ngực và váy quá ngắn”. Cô nào mặc quần thì cũng phải tuân thủ đạo luật mới này, nghĩa là không được mặc quần xệ, mà nếu nó lỡ xệ thì phải lo mà… kéo lên chứ không được nhân danh phái đẹp mà khoe mông ra. Khiếp, ngứa mắt lắm!

Trong chiến dịch “chống nạn sinh viên quần xệ” của thượng nghị sĩ Gary Siplin ở Florida, không nghe nói và không thấy báo chí viết, nữ sinh viên có được phân phát dây nịt không hay “cụ thượng” này cũng lại áp dụng quan niệm “trọng nam khinh nữ”. Trong trường hợp này, “trọng” là làm hại, gây thiệt còn “khinh” thì lại mang lợi, sinh ích. Bởi con giai đã nhận được dây nịt mà còn để quần xệ ắt hết lý do để bào chữa cho hiện tượng lòi mông. Ngược lại, con gái mà có bị bắt về tội phơi mông, vẫn có thể chống án bằng cách viện lý không được “bố thí” dây nịt trong khi lại sống trong hoàn cảnh nghèo, có bao nhiêu tiền thì đã dốc vào mục đóng học phí, còn đâu nữa để mua dây nịt hay có tiền đấy, nhưng chưa kịp sắm thắt lưng hoặc chưa chọn được thứ đúng ý, hợp mốt. Đã gọi là ai cũng được bình đẳng trước luật pháp mà vẫn có cảnh “người ăn ốc, kẻ đổ vỏ”, nghĩa là bất công thì Hoa Kỳ vẫn chỉ là đất… “kỳ kỳ làm sao”!

Kể cũng lạ, giữa thời buổi kinh tế xuống dốc, giữa lúc hàng triệu người dân thất nghiệp khiến phải “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi”, bỗng dưng QUẦN lại chiếm được một vị trí quan trọng trong luật pháp Hoa Kỳ. Mà quần là cái thá gì, bỗng có giá quá như thế? Đó chẳng qua theo định nghĩa thông dụng trong các tự điển Việt ngữ, là vật dùng để che phần dưới thân thể. Chữ “vật” ở đây quá ư mơ hồ, thứ gì miễn che được hạ thể mà chẳng là “vật” chứ đâu cứ phải là vải? Quay trở lại lịch sử loài người, ta thấy ngay.

Chẳng nhà khảo cứu cổ học nào có thể xác nhận quần có từ niên đại nào và ở đâu có đầu tiên. Thế nhưng, có điều chắc chắn bất khả chối cãi là trong tôn giáo, điển hình Thiên Chúa giáo, tổ tiên loài người “thuở ban đầu lưu luyến ấy” sống trần truồng, bởi chưa phạm tội nên không biết xấu hổ, mà đã không biết xấu hổ thì cần gì che với đậy. Một bài đọc trong cuốn Cựu Ước kể rất rõ: Chỉ sau khi ăn trái cấm, ông A Dong và bà E Và mới nhận ra từ thuở tạo thiên lập địa đến giờ mình vẫn… trần như nhộng, bèn mắc cở - dù chỉ có hai người nhìn nhau và hai người này từ xưa vẫn là vợ chồng với nhau, tức là của người này cũng là của người kia, vậy mà nay nhìn lại những cái của nhau (cũng là vật sở hữu của chính mình) vẫn thấy… kỳ kỳ làm sao ấy. Thế là… mắc cở. Sách không kể tiếp “mắc cở” hay “xấu hổ” rồi thì ông A Dong và bà E Và làm gì để chế ngự những cảm giác và nhận thức ấy, nhưng xem nhiều bức họa thì được thấy các họa sĩ đã lấy một chiếc lá - giống lá nho 3 cạnh - to hơn bàn tay mà che dùm cho ông A Dong; còn với bà E Và thì có họa sĩ cũng cung cấp cho bà một chiếc lá be bé - y chang lá tre - có họa sĩ lại để bà đứng núp sau một bụi cây. Nói là “che” cũng chỉ để nói cho có lệ, cho oai tí chút chứ thật sự chỉ làm khuất đại khái được rừng, núi còn thì những vùng hoang địa khác thì vẫn là phần thiên nhiên. Thế nhưng nhân đấy, ta vẫn có thể coi chiếc lá là “cái quần” đầu tiên của loài người.

Vâng, vẫn theo Kinh Thánh (Bible), vì phạm tội không vâng lời Thiên Chúa mà ông A Dong và bà E Và bị trục xuất khỏi vườn Địa Đàng. Từ đó ông bà sống cơ cực, tự biên tự diễn lấy các kế sinh nhai đồng thời cũng sinh con đẻ cái vô số kể cho lan tràn khắp mặt đất.

Rồi chẳng hiểu cuộc sống tiến triển như thế nào mà rồi các thế hệ sau này cuối cùng chiếc lá che thân của “thuở ban đầu… mắc cở ấy” cũng không cánh mà bay đi đâu mất. Lại trần hơn nhộng. Có bộ lạc nào trong rừng sâu núi thẳm mang “quần” đâu. Cả nam lẫn nữ đều tô hô “bình đẳng bình quyền” nên “cả nút chẳng xấu hổ”. May mà phái nam sớm khám phá ra sự bất tiện, nhận diện được vật cản trở những bước tiến trong việc săn bắn hay lúc bị voi rượt, cọp đuổi… nên lấy dây cỏ cột “chướng ngại vật” này lại hoặc nhét nó vào một cái ống cho “an toàn trên xa lộ”. Vậy ta lại có lý do xem sợi dây hay cái ống ấy là một thứ “quần” sơ khởi của nam giới. Còn phái nữ, chắc cũng chỉ cái lá hẳn là “ắt có và đủ” chứ chẳng có thứ gì “vừa tiện lại vừa lợi” hơn thế nữa.

Đến khi đời sống nhân loại được tổ chức thành xã hội, nghĩa là khởi sự có những hoạt động về kinh tế, quân sự, chính trị… - dĩ nhiên chỉ “qua loa rờ măng”, nhưng đã có chút ánh sáng văn minh - tổ tiên loài người dệt được vải. Cái khố ra đời. Dụng cụ này bọc được phía trước, che được phần giữa phía sau. Hiện nay trong rừng rậm còn rất đông bộ lạc đóng khố; ở nhà quê cũng không thiếu dân cư “thi đua” đóng khố. Đã đóng khố thì có đóng… kịch đến cỡ nào cũng vẫn lòi cái nghèo ra. Bởi thế có câu: “Khố rách áo ôm”. Thảm hơn nữa khi gặp cảnh: “Con đóng khố bố cởi truồng”. Nhưng rồi theo thời gian mà cái khố được “phăng” rộng ra, kéo dài xuống để rồi thành cái quần chính hiệu. Thế nhưng cái quần lúc đầu chỉ cần đậy cho “chủ nhân” những phần được coi là “chiến trường”, dần dần ngoài công tác che chở, còn trở thành đồ trang sức cho loài người.

Nói tổng quát, quần cũng thay hình đổi dạng theo thời gian, nhưng nếu chiều dài từ thắt lưng xuống đến mu chân thì gọi là quần dài, nhưng nếu được cắt ngắn lửng lơ trên đầu gối lại mang tên là quần đùi (chỉ che đùi) hay sà-loỏng hoặc “soóc”. Tuy nhiên bài này không có ý tường thuật lý lịch của cái quần, cũng không nhằm sưu tầm các kiểu quần - dù chỉ là quần của nam giới, chứ chẳng dám sờ đến quần đàn bà vốn nhiêu khê và phức tạp vô cùng tận y như tâm lý của nữ giới vốn muôn đời là: “Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người (nữ) nham hiểm ai đo cho cùng”.

Ấy vậy mà cái quần cũng góp phần vào việc qui định địa vị của chủ nhân của nó trong xã hội. Chẳng thế mà những ai mặc “quần chùng áo dài” là được thiên hạ đặt vào giai cấp giầu sang, luôn ăn mặc chỉnh tề, sống phong lưu nhàn hạ, không phải lam lũ, vất vả, nhưng lại chuyên “làm cha” tất cả “dân ngu khu đen”, chỉ huy những kẻ “cầy sâu cuốc bẫm” hay “buôn thúng bán mẹt” vốn là giới ngày đêm chỉ biết “quần manh áo vá” hay “quần manh áo vải”.

Thế nhưng, nhà giầu mà keo kiệt, ăn uống không bằng người nghèo thì dân gian chế là: “Quần dài thì ăn mắm thối - quần đến đầu gối thì xơi mắm thơm”.

Mà thôi, giờ xin trở về với chủ đề: “Kéo quần lên!” - Vâng, một khi đã kêu gọi “kéo lên” thì hẳn nhiên cái quần phải ở vị thế “xệ”. Một thời trước năm 1975 ở Việt Nam, chữ “xệ” đã được xử dụng để chê bai nặng nề một người kém cỏi “quá cỡ thợ mộc” đến độ không thể ngóc đầu lên được: “Sao mày ‘xệ’ quá vậy?” hay đơn giản: “Xệ!”. Các tác giả trong Tự Lực Văn Đoàn đã sản xuất hai nhân vật đặc biệt tên là Xã Xệ và Lý Toét. Xã Xệ là hình ảnh một người có chức vụ ở làng quê, chuyên môn ăn trên ngồi chốc nên béo phì, đi đứng khó khăn như thể thân xác mang quá nhiều thịt mỡ nên “quá tải” mà… xệ hẳn xuống. Trong khi đó Lý Toét gầy hơn cò bợ khiến “qua cầu gió bay” và dĩ nhiên “nghèo rớt mùng tơi”.

Quần đã xệ thì mông lòi ra. Đó là lẽ tự nhiên. Nhưng hình ảnh này đã làm thượng nghị sị Gary Siplin ở Orlando ngứa mắt thật sự nên ông không những đã soạn ra đạo luật “Pull Your Pants Up” mà sau khi đã được Quốc Hội thông qua, ông còn xuất quỹ (chắc là công quỹ hoặc quỹ tranh cử chứ không phải tiền túi của ông) để mua những 200 chiếc dây nịt để giúp các sinh viên chuyên mặc quần xệ lòi mông kéo quần lên. Ông Siplin tâm sự với hãng thông tấn Reuters rằng ông “mong muốn các bạn trẻ tin rằng họ đang cắp sách đến trường đại học với cung cách ăn mặc sao cho văn minh và lịch sự”. Nhân ngày phân phát dây nịt, “cụ thượng” Siplin khoe rằng các giáo chức cũng ủng hộ việc làm của ông, bởi thế có câu: “Kéo quần quá rốn mới hay - Lòi mông, hở ngực… các thày ớn ghê”!
Trong khi đó ở hầu hết nước Tây Phương, chính quyền chủ trương lột bớt y phục của các nữ tín đồ Hồi Giáo, đòi càng hớ hênh nhiều càng tốt, nhưng với ông Siplin thì khác, trai không lòi mông, gái chẳng hở ngực. Nhưng có dư luận đặt câu hỏi: Ông đã cung cấp dây nịt cho nam sinh viên, tại sao ông không cùng lúc ủng hộ “cái khiên đỡ đạn” để che ngực cho nữ sinh và phân phát vải cho các cô may thêm vào những chiếc “váy quá ngắn”? Hóa ra ông vẫn chưa công bằng hay ông chỉ ghét mông con giai còn chỉ giả vờ tấn công “ngực hở và váy ngắn” của con gái chứ ông không chịu đưa ra biện pháp và vật dụng cụ thể nào để triệt tiêu tệ trạng, phải chăng như ông muốn ngầm bảo “ừ, cứ như vậy nhé!”.

Xét ra thì việc ăn mặc ở học đường vốn thuộc phạm vi kỷ luật (discipline) mà thôi hay cùng lắm nằm trong các bài học “công dân giáo dục”, vậy mà “cụ thượng” Gary Siplin lại đưa lên tận hàng đạo luật tiểu bang thì kể cũng hơi… quá đà. Chẳng thế mà “ông và các đồng viện đã phải thúc đẩy từ hơn 6 năm qua”, dự thảo luật mới được thông qua. Người ta tặng ông tấm phiếu thuận chắc phần lớn để tưởng thưởng đức tính kiên nhẫn của ông.

Sau hết, đạo luật mới này trừng phạt các cô, cậu sinh viên nào vẫn ngoan cố mặc quần xệ bằng cách đuổi học tối đa 3 ngày. Kẻ hèn này lại thắc mắc, “cụ thượng” Siplin mong muốn “các bạn trẻ cắp sách đến trường đại học” một cách đàng hoàng mà sao lại nỡ bắt tội nhân ở nhà những 3 ngày, mất biết bao bài vở cần thiết và quan trọng. Không những thế, mỗi phân khoa đại học lại phải thành lập một ủy ban chuyên môn đi săn lùng “các bạn trẻ nào mặc quần xệ”, bắt ngay về hoặc dùng cellphone chụp ngay tại trận cái mông đang lòi ra để làm tang chứng. Rồi lại phải thêm một ủy ban chuyên môn khác nữa xét định mức lòi mông như thế đã vi phạm đạo luật “Pull Your Pants Up” hay chưa. Theo tinh thần dân chủ, bị cáo có quyền đưa luật sư riêng tới, đấu khẩu với các ủy ban chuyên môn nói trên trước khi có phán quyết chung thẩm. Trời, đang khi đó ngân sách giáo dục bị cắt giảm thảm hại; giáo chức bị sa thải, học trò, sinh viên phải đóng thêm học phí chết bỏ. Không lý lại giao các công tác kiểm soát “mông lòi, ngực hở, quần xệ, váy ngắn” cho cảnh sát? Bộ ông Siplin chắc đã quên công dụng của cái mông rồi sao? Thưa ông, ngoài việc để ngồi, để khoe khoang hay để hấp dẫn, cái mông - tự mông đít - còn để quất roi vào. Cổ nhân Việt Nam đã dậy: “Yêu cho roi cho vọt” - lại còn căn dặn cẩn thận: “Cứ mông mà đét” hay “Cứ đít mà quật” - ắt mọi sự sẽ đâu vào đấy. Bố bảo “bạn trẻ” nào còn ngoan cố mặc quần xệ “để lòi mông ra” nữa. Roi đâu?! – (HM)

Hoài Mỹ

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image

Huyền Thoại Đại Cathay


Ngày ấy, truoc 1975, danh tiếng của người đứng đầu “tứ đại giang hồ” là Đại Cathay được cả miền Nam đều biết tiếng, nhất là sau này qua cuốn tiểu thuyết của nhà văn Duyên Anh “điệu ru nước mắt”. Trận hỗn chiến giữa Đại Cathay với Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái, Nguyễn Kế Thế đã đưa Đại lên đứng đầu nhóm này. Trận chiến kinh hồn với băng đảng người Hoa của Tín Mã Nàm đã cho Đại Cathay lập nên một đế chế mà khắp Sài Gòn chẳng có một băng nhóm nào dám đối đầu. Cả một bộ máy quân sự khổng lồ của miền Nam cũ phải sợ một tên du đãng Đại Cathay đến nỗi tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ phải “xuống nước” mời ra làm nhân viên công lực quốc gia hay tướng cảnh sát Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan mời làm đại úy cảnh sát.


Hình ảnh của Đại Cathay với mái tóc bồng bềnh, quần Jean, giày cao cổ, trên môi không rời điều thuốc, Zippo, ... Những gì mà Đại Cathay đã tạo dựng chỗ đứng của mình trong giới giang hồ thật khác biệt. Ở đó sự liều lĩnh không được đánh giá cao bằng lối sống "tình nghĩa" đáng để suy ngẫm...

Ngay cả đám giang hồ cộm cán, đám đàn em tin cẩn cũng không ai biết hắn con ai, tên thật là gì. Chính Đại Cathay cũng… không biết tên thật của mình nốt. Hơn chục lần bị điệu về bót cảnh sát, Đại tự khai cho mình hơn chục lai lịch khác nhau. Theo đó, cha của hắn lúc là Lên Văn Cự, lúc lại là Trần Văn Trự… Mẹ của Đại Cathay cũng khá… nhiều tên, lúc là Hương, lúc là Duyên, sống hay chết thì “có trời mà biết”. Nói tóm lại, như Đại Cathay thường tự nhận, gã là một thằng… con trời có lẽ xuôi tai hơn cả.

Kì thực, Đại tuổi Thìn, sinh năm 1940. Theo tìm hiểu của chúng tôi, mẹ của Đại tên gì không rõ, chỉ biết người xung quanh thường gọi là bà Sáu. Còn cha Đại thì chính tên là Lê Văn Cự, vốn cũng là một tay giang hồ hảo hớn ở khu vực chợ Cầu Muối. Sau năm 1945, Hai Cự tham gia kháng chiến, trở thành lính của “Mười ban tự vệ công tác thành”, sau đó bỏ vào chiến khu rừng Sác đầu quân vào bộ đội Bình Xuyên của thủ lĩnh Ba Dương (tức Dương Văn Dương). Đại sinh ra giống cha như đúc nhưng tuổi thơ rất ít được gần cha. Thuở nhỏ, gã sống với cha mẹ ở đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội (nay la Đoàn Văn Bơ Quận 4). Cả cha lẫn mẹ của hắn đều nghèo, làm nghể chẻ củi thuê cho một vựa củi nằm bên kia Cầu Mống, cạnh chợ cũ, Quận 1. Đại thường xuyên trốn học chạy sang chơi vơi đám trẻ con bụi đời cạnh vựa củi. Hiền lành, ít nói, dù khuôn mặt rất ngầu, tính phóng khoáng, lại rất "lì đòn", những đức tính được "thừa kế" đầy đủ từ cha đã giúp Đại nhanh chóng được đám trẻ đồng cảnh mến mộ. Mới 10 tuổi, gã đã thường xuyên luồn lách vào các chợ, sạp hàng xung quanh, ăn trộm dưa, chuối về chia cho chúng bạn.

Sau 1945 cha Đại tham gia kháng chiến và bị bắt vào cuối năm 1946, bị đày ra Côn Đảo và ít lâu sau thì chết. Cha mất, mẹ lấy chồng khác. Bố dượng là 1 tay máu me cờ bạc, lại nghiện thuốc phiện năng nên gia sản dần dần biến hết. Cáu bẳn vì sinh kế, ông dượng thường nọc đứa con riêng của vợ ra hành hạ để hả cơn bực tức. Không chịu nổi, Đại bỏ học hẳn, sang vườn hoa Cầu Mống đánh giày, bán báo tự nuôi thân. Khu vực làm ăn của Đại là xung quanh ngã tư Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) – Nguyễn Công Trứ. Tại đó có 1 rạp chiếu bóng tên là Cathay. Không ngày nào trước cửa rạp hát không xảy ra những vụ đánh lộn giành khách giữa đám trẻ bụi đời. Lì lợm và liều lĩnh, Đại cứ lăn xả vào đối thủ liên tục tấn công, dù kẻ đó có cao hơn nửa cái đầu cũng mặc. Trăm lần như một, Đại luôn là kẻ chiến thắng, dù tay chân mặt mũi đầy vết rách bầm. Nghiễm nhiên, hắn trở thành thủ lĩnh của đám nhóc tì du thủ du thực trong khu vực. Cũng nghiễm nhiên, gã được quyền ráp thêm "tên đất" vào sau tên cúng cơm để trở thành Đại Cathay, "đại ca" đường Nguyễn Công Trứ. Đó là năm 1954 lúc Đại mới 14 tuồi.

Trở thành "anh chị", Đại được quyền sống mà không mó tay vào bất cứ việc gì. Hắn vẫn đóng thùng đánh giày, nhưng là để giao cho đàn em "đi làm" mang tiền về nộp. Mỗi buổi sáng, hàng chục thiếu niên Ba Binh, Ba Tướng, Ba Gà (hỗn danh để gọi đám trẻ du đãng chưa có tên tuổi. Ba Binh là quân sư, Ba Tướng là những thằng trực tiếp đi đánh nhau còn Ba Gà là những tên thuyết khách) cả trai lẫn gái tụ tập quanh Đại Cathay nhận công việc và địa bàn do hắn cắt cử, sau đó túa đi, chiều lại đem tiền về cho Đại. Được cái, hắn rất hào phóng, Đại Cathay chia hết tiền cho đàn em, chỉ giữ lại cho mình 1 khoản nhỏ, đủ cà phê, thuốc lá cho ngày kế tiếp. Những đàn em không may bị ế báo, bị mưa ướt thuốc, kẹo phải đền tiền, Đại Cathay cũng không chửi bới, đánh đập như những tên "chăn chíp" tham lam khác mà còn lấy của đứa "trúng mánh" cho thêm. Vì vậy, đàn em rất khoái và chịu nghe lời "anh Đại". Tình trạng đánh lộn, tranh giành khách trong khu vực của Đại Cathay được dẹp yên.

Nằm ngay cạnh khu vực của Đại Cathay là bót cảnh sát quận Nhì, thường được gọi là bót Dân Sinh, nổi tiếng dữ dằn. Rất nhiều lần, sau khi dẫn đàn em đi chinh phạt các khu vực khác hoặc đánh dằn mặt người của các băng nhóm đến giành lãnh địa, Đại Cathay đã bị các công cò bót quận Nhì xách tai lôi về bót. Hăm dọa, tát tai, đá đít đủ kiểu, thằng nhóc vẵn trơ trơ không chịu khai tên tuổi những đàn em tham gia ẩu đả, đám mã tà phú lít lại đành thả Đại về. Hết thuốc, các ông cò nảy ra đòn độc để trị Đại Cathay, bắt đàn em của đại đứng xem. Chúng bắt thằng nhóc quỳ giữa sàn nhà, hai ông cò hai bên xốc ngược tay Đại lên, cạy mồm, thả vào một con gián sống. Con vật lập tức chui tọt vào cổ họng lao thẳng xuống dạ dày. Ngứa ngáy, kinh tởm và nhột không chịu được, Đại Cathay ói ra mật xanh, mật vàng. Đám Ba Binh, Ba Tướng xung quanh lè mắt, có đứa hét lên ngất xỉu và đái ra quần. Đại Cathay, sau một hồi nôn thốc nôn tháo, bắt đầu trấn tĩnh, lại tiếp tục câm như hến, tuyệt đối không khai. Không còn cách nào khác, các thầy cảnh sát đành tống Đại Cathay vào trại tế bần hoặc Trại giáo hóa thiếu nhi phạm pháp ở Thủ Đức.

Ở miền Nam trước giải phóng, có bốn nơi được coi là “lò đào tạo du đãng”. Nơi thứ nhất là Trại nuôi dạy trẻ mồ côi, cơ nhỡ nằm tại địa điểm nhà hát Hòa Bình hiện nay. Nơi thứ hai, Làng cô nhi Thủ Đức, điều kiện sống khá hơn nhưng vẫn rất lỏng lẻo, tha hồ cho đám tiểu yêu phá phách. Những tên nhóc bất trị nhất, hai trại trên đều không chứa nổi thường bị cảnh sát lùa vào Trại giáo hóa Thủ Đức. Thực chất, đây chỉ là nơi nuôi báo cô đám du thủ du thực, chờ chúng đủ tuổi là đẩy vào quân đội. Nơi thứ tư, Trại Tế Bần nằm bên kia cầu Trình Minh Thế (nay là cầu Tân Thuận), là một Trạm trung chuyển giam giữ những tên lưu manh sắp hết tuổi vị thành niên. Sau nửa tháng bị giam, nếu có người nhà bảo lãnh, đóng phạt, tên tiểu yêu sẽ được cho ra. Nếu không chúng sẽ bị nhốt lại, chờ đủ tuổi là tống vào đội quân “cưỡng bức phục vụ” tức lao công phục vụ chiến trường. Kẻ nào bị liệt vào hạng này coi như cầm chắc cái chết. Ngoài mặt trận, việc của họ là đi trước phát cây, mở đường, đào công sự, trong khi chân không giày dép, hai người chung một sợi dây xích chân, muốn chạy cũng không được, mặc kệ mưa đạn vãi cả trước mặt lẫn sau lưng. Biết trước số phận “bia thịt” của mình nên đám du đãng vào trại tế bần chưa ấm chỗ đã tìm cách trốn. Lọt ra khỏi vòng rào các trại, đám nhóc lại lần về với các băng nhóm du đãng, bụi đời.

Hầu hết đám giang hồ Sài Gòn nổi tiếng sau này đều đã từng qua đủ các trại nói trên. Thuộc hang vào ra như cơm bữa, Đại Cathay được liệt vào loại “tù con rạ”, để phân biệt với đám “tù con so” mới nhập trại lần đầu. Ở các trại, Đại Cathay đã làm quen với những Của Gia Định, Lâm chín ngón, Hắc quảy quảy, Hòa áo thun… những chiến hữu đắc lực sau này trên chốn giang hồ.

Mỗi lần vào trại rồi trốn ra, Đại Cathay càng liều lĩnh hơn, kinh nghiệm hơn, càng “tích cực” lao đầu vào những trận thư hùng - vốn là thứ năng khiếu nổi trội hơn cả ở hắn.

Năm 1955, Đại Cathay chuyển sang sinh sống ở khu vực Hãng phân Khánh Hội cạnh Nhà máy thuốc lá Bastos. Đám trẻ con khu vực này đón tiếp Đại Cathay khá nồng nhiệt bằng những trận hỗn chiến. Một lần nữa, sự lì đòn của Đại lại giành phần thắng. Toàn bộ nhóc tì khu vực Khánh Hội, quanh cầu Ông Lãnh, gồm toàn dân bến tàu vựa cá, vựa rau cải – vốn có hạng trong nghề dao búa – đều bị Đại Cathay qui phục về dưới trướng.

Khi Đại Cathay còn là một cậu bé đánh giày thì toàn bộ khu vực Cầu Mống - Dân Sinh - Cầu Ông Lãnh mà dân giang hồ gọi là khu Da Heo, đều do một tay giang hồ nổi tiếng là Tám Lâu cai quản. Ở trần, quần dài vắt vai, đi đứng nói năng khụng khiệng, nét mặt luôn đằng đằng sát khí, Tám Lâu bị bà con khu Da Heo coi như một hung thần. Nghề chính là đạp xích lô, nhưng thực chất Tám Lâu là kẻ nhận quyền bảo kê thu thuế toàn bộ khu Da Heo, dưới trướng có hàng chục đàn em. Dưới nệm xích lô, Tám Lâu luôn thủ sẵn "hàng mã", sẵn sàng vung ra bất cứ lúc nào với bất cứ ai.

Nhiều lần chứng kiến thằng nhóc đánh giày dẫn quân đập lộn, Tám Lâu đâm "chịu" Đại. Thỉnh thoảng ngồi nhậu thấy Đại đi qua, Tám Lâu lại ngoắc vào kê ghế cho ngồi cạnh mần hơi cho ấm bụng. Qua những lần nhậu ké đó, Đại Cathay được Tám Lâu giới thiệu như một tay trẻ tuổi tài cao đầy hứa hẹn với đám giang hồ đàn anh: Ba Hội, Cảnh Tượng... Tám Lâu cũng thường đưa Đại đến các khu Lò Heo (cũ), Chánh Hưng, hẻm Hai mươi để làm quen với các tay anh chị khu vực khác. Nể tình Đại Cathay cũng hay ghé đến hẻm 110 Nguyễn Công Trứ để thăm hỏi Tám Lâu.

Tuy hung tợn, dữ dằn nhưng Tám Lâu vẫn phải thúc thủ trước uy thế của anh em Bé Bún, một trùm giang hồ quận 4, khu vực cạnh Hãng phân nơi Đại Cathay trú ngụ. Cậy đông quân lắm mã, đám này thường kéo rốc qua Cầu Ông Lãnh, tràn vào "thu thuế" giật bà con thiểu thương chợ vựa Cầu Muối, Tám Lâu không cản nổi.

Một ngày cuối năm 1957, tình cờ nghe đàn anh thở ngắn than dài, nộ khí xung thiên, Đại Cathay đề xuất:
- Anh Tám để đó em lo. Phải cho Bé Bún nằm viện, đám này mới ngán!

Tám lâu gạt phắt:
- Con nít biết gì? Tao còn thua nó, mày là cái đinh gỉ!

Tự ái Đại Cathay bỏ về. Lúc này đám Ba Binh, Ba Tướng của Đại cũng đã lớn, toàn thanh niên 17, 18 tuổi, lại lăn lộn lề đường nhiều nên cũng khá dày dạn. Nghe lời Đại Cathay, đám này vác dao qua Bến Vân Đồn "chém bậy" vài tay em của Bé Bún để khiêu khích. Điên tiết, Bé Bún hô toàn bộ em út tấn công sang khu Da Heo hỏi tội Tám Lâu. Quân Bé Bún quá đông, khiến Tám Lâu và đám đàn em hoảng hốt, định bỏ chạy. Nhưng vừa qua khỏi Cầu Ông Lãnh, băng Bé Bún đã ôm đầu máu chạy ngược trở lại, kêu la vang trời. Không nói trước với đàn anh nửa câu, Đại Cathay đã âm thầm cho đàn em của mình "trải đệm", bất ngờ "luộc" băng Bé Bún. Dưới sự chỉ huy của Đại Cathay, đám giang hồ tân binh tả xung hữu đột lăn xả vào chém quân Bé Bún, xộc thẳng sang cả bên kia cầu. Nói là làm, Đại Cathay đã xỉ cho Bé Bún mấy nhát sau đó phải nằm viện thật, không dám bén mảng sang giành mối ở khu Da Heo nữa.

Sau trận hỗn chiến, Tám Lâu đâm ớn "tài ba" của Đại Cathay. Một mặt, Tám Lâu tuyên bố trong khu Da Heo, Đại Cathay có toàn quyền xử sự, mặt khác y lại lo ngay ngáy bị Đại Cathay lấy làm đối thủ. Biết ý, Đại tuyên bố không giành đất, khu Da Heo vẫn của Tám Lâu. Phần Đại, gã chỉ thu thuế các sòng bài, ổ đề, tiệm hút trong khu vực. Tiếp đó, Đại vươn tay bảo kê tất cả các ngành nghề kinh doanh lậu bao gồm xưởng nấu xà phòng, lò mổ heo, lò rượu...trong khu. Có tiền có quyền, Đại dần dần đã khiến các tay anh chị khác phải dạt ra. Đại Cathay tha hồ ăn chơi và làm mưa làm gió.

Đầu những năm 1960, thuyết hiện sinh và phong trào hippie bắt đầu thâm nhập vào miền Nam. Các cậu ấm cô chiêu con nhà giàu tuy được ăn học đàng hoàng nhưng cũng học đòi nhau, thường xuyên có mặt ở các nhà hàng, vũ trường, tiệm hút với đủ kiểu quần áo tóc tai dị hợm. Đại Cathay tuy ít học nhưng cũng không hề kém cạnh các bậc trí... giả trong khoản ăn chơi. Nhẵn mặt ở các nơi đốt tiền nổi tiếng của quận 1, quận 3, Đại Cathay và đám đàn em bắt đầu quen biết với một đám sinh viên, kỹ sư, bác sĩ con nhà gia thế, trong đó có anh em Dzách Bửu, Dzí Bửu, Hùng Đầu bò, Hoàng Sayonara (tay này móc classic bản Sayonara rất "não nùng")... và nhiều văn sĩ nghệ sĩ khác. Đám nghệ sĩ trí thức cũng nể Đại Cathay chịu chơi và khoái vẻ ngang tàng, bụi bặm của gã- trông bụi đời, hippi hơn cả. Chính Hoàng Sayonara sau đó đã trở thành quân sư hoạch định chiến lược làm ăn và chinh phạt cho Đại. Nghe lời các quân sư, Đại Cathay đứng ra cùng với Bảy Si, bà Bảy Trà đá mở sòng bài lấy xâu ở khu vực Cầu Muối.

Ban Đầu Đại Cathay không thích mở sòng bài vì dân giàu có đã có các sòng Đại Thế Giới, Kim Chung... Mở nữa e không cạnh tranh nổi, Hoàng Sayonara vẽ:
- Không chỉ giàu mới máu me đen đỏ. Các sòng lớn như Kim Chung, Đại Thế Giới toàn dân quí tộc, chức sắc, dân giang hồ, người buôn bán ngại vô. Ta mở sòng vừa vừa kéo khách từ đám này.

Đại Cathay đồng ý. Ở chợ Cầu Muối trước đó Bảy Si (anh vợ Năm Cam – ông trùm sòng bạc sau này) đã có sòng bài sẵn, nhưng khi nghe Đại Cathay đề nghị hùn hạp, Bảy Si cũng không thể chối từ. Thừa thắng, Đại mở rộng ra cả lĩnh vực làm huyện đề 40 con chung với Hỏi, trùm, khu Cây Da Xà. Hắn mua của Hùng đầu bò một chiếc Traction - 15, chiều chiều cho đàn em lái đi khắp các ngả đường vứt lên từng xấp "phơi" đề cùng với hàng cọc tiền chở về. Quyền lực được tiền bạc hậu thuẫn khiến Đại Cathay càng thêm uy thế. Đến năm 1962, 1963, Đại Cathay đã trở thành một ông trùm khét tiếng. Gần như hầu hết nhà hàng khách sạn, động mại dâm, tiệm hút chích, sàn nhảy ở khu vực quận 1, quận 2 đều chịu sự bảo kê của Đại. Các vũ trường nổi tiếng như Olympic, Queen Bee, Barcara, Paramouth đều coi hắn như ông chủ đích thực, Đại Cathay và đàn em tha hồ ăn chơi nhảy múa mà không một nơi nào dám viết hóa đơn, thậm chí còn lấy làm vinh hạnh vì được đàn anh chiếu cố.

Nhưng nguồn lợi lớn hơn cả mà Đại Cathay thu được lại không phải từ tiền thuế bảo kê. Chính giới doanh nghiệp làm ăn lớn là kẻ tình nguyện đóng góp đều đặn để Đại nuôi quân, đồng thời để nhờ vả Đại làm hậu thuẫn khi cần gây sức ép hay giành giật trên thương trường với kẻ khác. Cả anh em tỉ phú Hoàng Kim Qui (Vua kẽm gai), Xí Ngàn mặt rỗ (vua thuốc Bắc), La Thành Nghệ (vua thuốc đỏ) và hơn chục ông vua các ngành nghề khác của người Hoa là những người đều đặn chu cấp cho Đại. Cũng nhờ uy thế của các "vu", Đại Cathay cũng làm quen, "chơi chịu" được với khá đông nhân vật quyền thế và tên tuổi khác.

Chỉ năm năm sau ngày khởi sự ở khu Da Heo, Đại Cathay đã trở thành một ông trùm không đối thủ, được toàn giới giang hồ kiêng dè, sợ hãi. Nhưng vẫn còn ba ông trùm "lừng lẫy" khác không ưa gì Đại Cathay, đó là Huỳnh Tỳ, ông trùm Lê Lại, Ngô Văn Cái và Ba Thế. Cho rằng Đại "chơi kèo trên", giành mối, giành đất, Huỳnh Tỳ và Ngô Văn Cái quyết định "hội đồng" diệt Đại. Hai tên giang hồ họp nhau tại vũ trường Aristo (sau này là khách sạn Lê Lai, cạnh khách sạn New World) cùng một giang hồ gộc là Thế Aristo - chủ vũ trường - có thêm Hùng phốc và Luân - 2 giang hồ cộm cán khác cùng hỗ trợ, mời Đại đến "bàn công việc". Không chút nghi ngờ, Đại Cathay đã bất ngờ bị Thế Aristo đá lộn cổ trở xuống. Bốn kẻ phục kích cũng nhất tề rút dao xông vào chém. Đại Cathay vừa đỡ đòn vừa tìm đường thoát thân, chạy được ra ngoài, mình mẩy đầy thương tích nhưng may không chết. Những vết thương chưa kịp kéo da non, Đại đã đơn thương độc mã giắt dao đi tìm từng tên một trị tội. Cả năm tên đều lần lượt bị Đại Cathay chém trọng thương. Cuối cùng Tám Lâu phải nhờ Cảnh Tượng, Ba Hội và một số tay đàn anh khác xin lỗi giúp cho năm tên, Đại Cathay mới nguôi giận, đồng ý "hòa giải". Danh xưng "Tứ Đại giang hồ" ĐẠI - TỲ - CÁI - THẾ bắt nguồn từ đó.

Lẽ ra, với những thành tích bất hảo chồng chất lên nhau, Đại Cathay đã ngồi tù mọt gông từ những năm trước đó. Nhưng xã hội miền Nam đầy nhiễu nhương với bộ máy quan chức được mua bán bằng tiền đã tỏ ra bất lực không trị nổi Đại Cathay và đám du đãng, để mặc kệ cho chúng làm mưa làm gió. Vào thời đó, chức quận trưởng quận 1 trị giá 30 triệu đồng, trong khi lương lính chỉ hơn 300 đồng cho nên những kẻ đương chức chỉ tìm cách vơ vét, làm giàu để bù lại số tiền đã bỏ ra mua lon tước. Cò Ly, quận trưởng quận 1 còn cố tình dung túng cho Đại Cathay mở sòng bài, hoạt động bảo kê thu thuế. Bù lại, hằng tháng, Đại đều có những khoản riêng béo bở tuồn vào cửa sau cho vợ ông Cò. Mỗi chiều thứ bảy, cò Ly và Đại Cathay lại sánh vai nhau bước vào các vũ trường nhà hang sang trọng ăn chơi, đập phá thâu đêm. Đương nhiên, lương quận trượng một năm cũng không đủ chi cho một lần nhất dạ đế vương nên ông cò chẳng bao giờ phải nghĩ đến chuyện móc hầu bao.

Có tiền, có quyền, có thế, Đại Cathay quyết định bành trướng xuống Chợ Lớn, lãnh địa của Tín Mã Nàm, ông trùm giới Hắc Đạo người Hoa, xưa nay vẫn được coi là bất khả xâm phạm.

So với băng du đãng của Đại Cathay, giới Hắc Đạo của Tín Mã Nàm có tổ chức chặt chẽ và hùng hậu hơn nhiều. Dưới thời Diệm - Nhu, toàn bộ hoạt động kinh tài của các bang hội Hoa Kiều Chợ Lớn đều có cổ phần của giới Hắc Đạo. Toàn bộ nhà hàng, sòng bạc, tiệm hút... đều do giới này quản lý hoặc hùn hạp. Tuy nhiên, sau đảo chính tháng 11/1963, do tham lam, chính Tín Mã Nàm đã khiến giới Hắc Đạo suy yếu. Bắt tay với khá nhiều tướng lĩnh, chính khách thuộc phe đảo chính, "Con ngựa điên" đã bán đứng một số cơ sở kinh tài của các bang hội cho chính quyền mới, tố họ là "cơ sở kinh tài của Diệm - Nhu". Mặt khác, Tín Mã Nàm cũng tố cáo và giao nộp cho cảnh sát một loạt tay giang hồ Hoa kiều không ăn cánh với y như Hỏi Phòong Kin, Sú Hồng, Cọp Chảy, Quầy Thầu Hao, Hắc Quẩy Chảy... nhằm củng cố địa vị "Vua Hắc Đạo" của mình. Vì vậy, Tín Mã Nàm được trung tá Lê Ngọc Trụ - Trưởng ty cảnh sát quận 5 trọng dụng và ưu đãi, trong khi bị nhiều đàn em oán giận và tìm cách trả đũa.

Trong những kẻ oán Tín Mã Nàm có tay tài pán tên Chó, người giúp việc cho Tín Mã Nàm quản lý ngành kinh doanh cờ bạc. Biết được sự chia rẽ đó, Đại Cathay đã sai đàn em dụ hàng tên này. Chó đã bán đứng Tín Mã Nàm, kéo một lượng lớn các con bạc nặng ký từ các sòng Đại Thế Giới, Hào Huê về Cầu Muối cho sòng của Đực Bà Tiều và Bảy Si thuộc quyền Đại Cathay, đồng thời bỏ luôn khu Chợ Lớn về theo Đại Cathay mở mang sòng bạc ở khu Sài Gòn. Biết chuyện, Tín Mã Nàm hạ lệnh cho giới Hắc Đạo:
- Chém bất cứ tên đàn em nào của Đại Cathay bén mảng xuống Chợ Lớn.

Chỉ chờ có thế, suốt 12 tháng trời, Đại Cathay đã liên tục đổ quân tập kích xuống các điểm làm ăn của Tín Mã Nàm ở vùng Chợ Lớn, chém phứa vào bất cứ ai rồi tức tốc bỏ chạy. Người bị chém thường là dân lành, khách chơi, chính vì vậy họ đâm sợ các điểm ăn chơi giải trí của Hắc Đạo, không dám lui tới nữa. Vắng khách, thu nhập thấp, đám cô hồn bảo kê của Tín Mã Nàm đành túa ra làm ăn lẻ để gỡ gạc, bất chấp kỷ luật của ông trùm. Nhưng cứ tên Hắc Đạo nào lọt xuống khu Sài Gòn là tên đó bị đàn em của Đại Cathay chặn đánh. Đầu năm 1964, biết phe Hắc Đạo đã hết phong độ, Đại Cathay quyết định đánh trận cuối, Đại dẫn theo 9 tên đàn em "chiến đấu" nhất, trong đó có Ba Thế và Lâm chín ngón đi trên 5 xe Goebel bất thình lình tấn công vào quán cà phê ngay trước rạp Hào Huê, đối diện với Đại Thế Giới. Đây là điểm tụ tập của các tay đàn em Tín Mã Nàm vào 2 buổi sáng chiều.

Cuộc tập kích thất bại, hai bên đều thiệt hại nặng nề. Nhưng máu liều của Đại Cathay càng được giới giang hồ truyền tụng và vị nể. Tín Mã Nàm cũng lo lắng: nếu cứ để cho Đại Cathay tập kích mãi như vậy, giới Hắc Đạo chỉ còn nước dẹp hết sòng bài, tiệm hút vì không còn ai dám bén mảng. "Con ngựa điên" phải kìm cơn điên, cử người đến mời Đại Cathay lên nhà hàng Đồng Khánh điều đình. Đàn em cố khuyên Đại đừng vào hang cọp, e bị "trải điệm" nhưng Đại Cathay nổi máu yêng hùng, vẫn quyết định nhận lời. Để tài xế ngoài cửa, Đại một mình tay không lên nhà hàng hội kiến với Tín Mã Nàm. Cử chỉ ngang tàng này khiến Tín Mã Nàm thầm phục. Hắn nhượng bộ, đồng ý giao toàn bộ khu vực từ chợ Nancy về Sài Gòn cho Đại Cathay toàn quyền . Phần quận 5, Chợ Lớn, đàn em của Đại được phép hoạt động với điều kiện không lấn vào những khu vực đã có sẵn người của Hắc Đạo. Riêng các khu vực chợ Sắt, chợ Tân Thành, hẻm "dzách bạc hồ hãn" (hẻm 100), Đại Cathay và đàn em tuyệt đối không được xâm phạm, vì đó là giang sơn riêng của Tín Mã Nàm, nơi vợ bé của y sinh sống.


Mỗi lần ra đường, Đại Cathay và băng du đãng lại một phen khiến người đi đường khiếp vía. Như một gã con trời thứ thiệt, Đại Cathay chễm chệ trên băng trước chiếc Mustang mui trần do Năm Công lái, có cả chục tên đàn em phóng xe máy theo sau hộ tống. Xe chạy xả ga, hú còi vô tội vạ khiến mọi người hốt hoảng chạy giạt sang hai bên đường, trong khi đám lưu manh tha hồ vỗ tay cười hô hố. Có lúc cao hứng, Đại Cathay còn thượng cả hai chân ra trước kính xe hoặc thò ra bên cửa hông gỏ thùng xe loạn xạ…

Sự ngang ngược coi thường luật pháp của Đại Cathay khiến những kẻ tai to mặt lớn và cảnh sát hết sức tức tối, nhiều lần tống cổ Đại vào khám. Nhưng bắt cóc bỏ đĩa, chẳng lần nào cảnh sát đủ bằng chứng để giam giữ hắn lâu, đành phải thả. Dùng luật không xong nhiều quan chức chính phủ VNCH tìm cách mua chuộc hắn.

Biết Đại Cathay đang tuổi quân dịch, viên tướng cao bồi Nguyễn Cao Kỳ - có lẽ do muốn chơi trội – bèn cho gọi tên du đãng đến. Kỳ phủ dụ:

- Tôi biết anh là người có chí, nhưng luật là luật, anh không thể trốn mãi được đâu. Về làm vệ sĩ cho tôi, anh vừa khỏi đăng lính, lại vẫn có quyền hành, muốn đi đâu làm gì mặc sức mà khỏi bị ai thù oán. Anh cứ suy nghĩ cho kỹ, ba ngày nữa trả lời tôi cũng được.

Tên du đãng ít học đời nào chịu suy nghĩ những ba ngày. Kỳ chưa dứt Đại Cathay đã trả lời luôn:

- Dạ, cảm ơn thiếu tướng đã có thịnh tình chiếu cố. Phiền nỗi tôi đi đâu cũng có cả chục gạc-đờ-co hộ tống, giờ tôi lại làm gạc-đờ-co cho người khác, không lẽ để cho tụi nó thất nghiệp?

Tướng râu kẽm bầm mặt nhưng vẫn ngọt nhạt:

- Làm vệ sĩ của tôi, anh là nhân viên công lực của quốc gia, danh giá đâu kém cạnh gì ai? Là quí anh tôi mới bảo thế, chứ nếu cần vệ sĩ tôi đâu thiếu người giỏi.

Đại Cathay vẫn ngổ ngáo:

- Dạ, xin lỗi, tôi không hầu thiếu tướng được…

Sau Nguyễn Cao Kỳ đến lượt tướng Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan, giám đốc Nha cảnh sát Đô Thành. Tuyên bố “Đặt giang hồ ra ngoài vòng pháp luật”, tướng Sáu Lèo cho mở “Trung tâm bài trừ du đãng” đặt ở bên kia cầu Bình Triệu (quận 9) và lập “Biệt đội hình cảnh” nhằm tiêu diệt giang hồ do đại úy Trần Kim Chi làm đội trưởng. Theo lệnh Sáu Lèo, “Biệt đội hình cảnh” được bắn bỏ bất cứ tên giang hồ nào trên đường phố nếu chúng gây án và chống lại cảnh sát. Sau một thời gian hoạt động, “Biệt đội hình cảnh” vẫn chỉ tóm được một số tên du đãng “tép riu”, tướng Sáu Lèo bèn quay sang tìm cách mua chuộc Đại Cathay hòng “dĩ độc trị độc”. Đính thân Mã Sâm Nhơn, phụ tá của tướng Sáu Lèo đến gặp, đưa giấy mời của ngài chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan cho Đại Cathay. Cùng một đàn em, Đại Cathay có mặt y hẹn. Nguyễn Ngọc Loan ra giá:

- Tôi sẽ nhận anh vào chức vụ đại úy Phó ty cảnh sát quận 7. Anh được toàn quyền hành động, nhưng phải giúp tôi tiêu diệt hết đám lưu manh du đãng.

Đại Cathay từ chối:

- Tôi xuất thân du đãng, làm sao có thể quay lưng diệt du đãng được? Nếu tôi nhận lời, du đãng không chém, tôi cũng chết vì thân bại danh liệt.

Nguyễn Ngọc Loan hạ giá:

- Anh không muốn nhận, tôi không ép, nhưng anh phải giải tán băng nhóm, không được lộng hành.

Đại Cathay đồng ý với điều kiện để cho y và đàn em toàn quyền làm ăn và cai quản khu cảng Sài Gòn, Khánh Hội, khu vực chợ vựa Cầu Muối, và hai bên bờ Kinh Tẻ. Thấy tên giang hồ cứng đầu, Nguyễn Ngọc Loan nổi đóa:

- Tôi lệnh cho anh giải tán hết, nếu không giang hồ, du đãng sẽ không còn đất sống!

Đại Cathay trả lời:

- Giang hồ không có vua, tôi đâu có ra lệnh cho các băng khác được.

Cuộc mặc cả kết thúc. Tiếng tăm Đại Cathay nổi như cồn trong giới giang hồ vì “dám vuốt râu kẽm” tướng Nguyễn Cao Kỳ và từ chối chức tước của Nguyễn Ngọc Loan ban cho. Đại Cathay càng vênh váo hơn. Nhưng chính bằng sự nổi tiếng ấy, Đại Cathay đã tự ký cho mình bản án tử hình.

Quá ngạo mạn, đang đang là giai đoạn cực thịnh của băng Cathay, Đại vẫn tiếp tục lộng hành. Không chi ngổ ngáo với tướng Sáu Lèo trong công việc, Đại Cathay còn công khai qua mặt và thách thức viên tướng này trong cả khoản ăn chơi, chẳng thèm lưu tâm gì đến sức nặng của cái lon chuẩn tướng và trọng trách “Chief” ngành cảnh sát mà Nguyễn Ngọc Loan đang nắm giữ.

Vào thời điểm đó, Sài Gòn ngập tràn trong không khí sống gấp và hưởng thụ, không cần biết đến tương lai. Một trong những mốt thời thường của các nhà buôn giàu có, các sĩ quan cộng hoà hào hoa, các công tử con nhà gia thế là công khai có nhân tình nhân ngãi hoặc cặp bồ với cave, nghệ sĩ trẻ đẹp. Đường đường là một vị tướng, Nguyễn Ngọc Loan đâu thèm để mắt tới các cô cave, ca sĩ phòng trà bình thường. Người ta thường thấy “ông tướng độc nhỡn” thường xuyên có mặt tại vũ trường Olympic trên đường Lê Lợi vào mỗi tối thứ 7. Tại đó, Nguyễn Ngọc Loan là chủ nhân của một vưu vật: ca sĩ Phương Dung nổi tiếng xinh đẹp và quý phái, người được mệnh danh là “con nhạn trắng Gò Công”, lấy vũ trường này làm đất biểu diễn. Mỗi lần đến thăm tình nhân, viên tướng xách theo cả chục tên vệ sĩ thuộc hàng thiện xạ, cũng nổi tiếng ngổ ngáo và chịu chơi, phóng xe Jeep bạt mạng với những đường cua cong lề bạt phố, đạp phanh cháy cả mặt đường.

Olympic cũng là chốn mà băng Đại Cathay thường xuyên lui tới. Hơn thế nữa, Thủy Tàu – tài pán vũ trường Olympic còn là một “mối” rất khoái Đại Cathay. Khác với viên tướng và đám lâu la bụi bặm, Đại Cathay thường lướt trên một chiếc Chevrolet có gắn điều hoà không khí, choáng lộn và êm ru nhẹ nhàng bơi đến cửa vũ trường. Loại xe đó, cả Sài Gòn chỉ có dăm ba chiếc.

So với đám vệ sĩ với lương lính còm cõi, Đại và băng Cathay luôn sẵn sàng “xài lớn”, rút tiền chẳng bao giờ đếm, người ngợm củng “kẻng” hơn, dĩ nhiên là được các em cave ở đây săn đón nồng nhiệt hơn nhiều. Bị “gác kèo”, đám vệ sĩ tức lắm, nhiều lần hậm hực, nhưng Đại Cathay và đám đàn em vẵn phớt ănglê, coi như “chuyện tép”.

Một tối, Đại và khoảng chục đàn em, trong đó có Lâm Chín ngón và Lành Cầu Muối – một tay cảnh sát ăn “rơ” với giang hồ kéo đến Olympic từ khá sớm. Thấy các đàn anh, đám cave ríu rít túa ra vây lấy bá cổ níu tay, chí choé cả gian bar trên lầu 2. Cả đám “vui vẻ” mới chừng nửa tiếng, cánh cửa lại xịch mở. Đám vệ sĩ của Sáu Lèo – không có chủ tướng đi cùng – xộc vào, cũng cỡ chục tên. Ngồi chờ cả 15 phút, đám vệ sĩ vẫn không thấy cô cave nào đến săn sóc. Trong khi đó, ở mấy bàn bên vẵn liên tục vọng sang tiếng cấu véo giỡn hớt rúc rich của băng Cathay với đám cave như thể trêu ngươi. Nổi cáu, cả đám vệ sĩ đưa mắt nhìn nhau và đứng bật dậy. Thiếu úy Hải, một tay nổi tiếng thiện xạ tiến sang, đứng đối diện với Hải Súng của băng Cathay, hất hàm:

- Vui vẻ quá hả? Sang bớt mấy em chứ, để bên này ngồi không, coi sao đặng?”

Vẫn không buông vai cô “đào nhí”, Hải Súng hất mặt:

- Đâu có được, đến trước có phần trước, trâu chậm phải uống nước đục, trách gì?

Viên thiếu úy gườm gườm, đưa tay vào bụng đặt lên báng súng:

- Đừng chơi quê tụi này chớ!

- Thì đã sao? – Hải Súng hếch mặt lên. Lúc này băng Cathay và đám cave cũng đã ngưng đùa giỡn, ngẩng lên thủ thế. Được khích lệ, Hải Súng tiếp: - Thịt người tanh không ăn được, đừng doạ nhau, tụi này không thích!

Bị khiêu khích, mắt thiếu úy Hải vằn lên. Hắn xấn xổ chụp lấy tay cô đào nhí kéo về phía mình, tuyên bố:

- Không thích cũng bắt!

Sợ hãi, cô cave thét lên. Không nói không rằng, Hải Súng vớ ngay chai Black and White trên bàn giáng thẳng xuống đầu đối thủ. Phản xạ nhanh, thiếu úy Hải vội buông cô cave nhảy vọt sang một bên và móc súng. Hai băng xông vào nhau. Bàn ghế ly tách bay tứ tán. Đột nhiên, Đại Cathay hét lên:

- Tụi nó chơi súng, rút, tụi bây.

Pằng! Pằng! Pằng! Ầm

Đại chưa dứt câu, dàn đèn phe lê đã rơi ụp xuống sàn, vỡ tung toé, đồng thời một viên đạn cũng nhằm đầu gối Đại găm tới, xô y gục xuống. Hải Súng vội xô tới xốc Đại lên bỏ chạy. Trong băng chỉ có Hải và Lâm Chín ngón giắt súng theo. Cả hai cũng vội móc ra bắn loạn xạ. Lâm Chín ngón gào lên:

- Anh em rút đi, để tôi lo!

Lúc này, đám cave, bồi bàn đã hoảng hồn bỏ chạy hết. Thủy Tàu khá nhanh trí, vội chạy bổ vào trong sập cầu dao điện. Bóng tối chụp lấy vũ trường đã hỗ trợ cho băng Cathay bỏ chạy. Bị thương, Đại Cathay khó khăn lắm mới được Hải Súng và Ngân Pôcon dịu được xuống lầu và kéo thẳng ra đường. Lúc này, Lành Cầu Muối cũng vừa vặn trờ chiếc Mustang tới, hốt cả bọn lên xe chạy thẳng. Lâm Chín ngón chạy sau cùng. Sau khi nhả hết đạn, y cũng vội đu cửa số phóng xuống được Tạ Thu Thâu cắm đầu chạy luôn một mạch. Sau lưng, đám vệ sĩ Sáu Lèo vẫn nã đạn theo chíu chíu.

Không thu phục được Đại Cathay, tướng Sáu Lèo đã ra lệnh cho “Biệt đội hình cảnh” bắt bỏ tù hàng loạt đàn em nhằm cô lập hắn. Núng thế, Đại Cathay đành tìm cách hoãn binh. Một buổi tối, hắn mua nguyên nhà hàng Paramouth mời đại úy Trần Kim Chi đến dự tiệc. Khi rượu đã chếnh choáng, Đại Cathay mới ngỏ ý:

- Nếu đại úy chịu tha một số anh em của tôi vừa bị bắt, chúng tôi sẽ không quên ơn anh…

Viên đội trưởng “Biệt đội hình cảnh” cũng thuộc loại ngang tàng không kém gì Đại Cathay, từ chối thẳng thừng:

- Ăn nhậu là ăn nhậu, bắt là bắt. Nếu anh mời tôi đến đây là để mặc cả thì coi như tàn tiệc, tôi xin kiếu.

Nếu là trước đó mười hôm, máu côn đồ của Đại Cathay sẽ nổi lên ngay. Nhưng đang yếu thế nên Đại vẫn nhũn nhặn:

- Ồ không không. Nếu đại úy không ưng thuận thì thôi. Còn hôm nay mời đại úy đến là để anh em vui vẻ. Mời đại úy cứ tự nhiên, đêm nay toàn bộ nhà hàng này là chỉ để phục vụ chúng ta, đại úy đừng bận tâm làm gì.

Viên đại úy không vui vẻ được lâu, cũng chẳng còn thời gian để bận tâm lâu hơn nơi cõi thế. Sau buổi tiệc chỉ nửa tháng, một chiếc xe “be” chở gỗ không rõ xuất xứ đã “bò” ngang qua chiếc xe hơi CV2 của Trần Kim Chi khi viên đại úy này đang đi công vụ trên xa lộ. Đại úy Chi và viên lái xe chết tại chỗ, chiếc xe gây tai nạn bỏ chạy mất tăm, “không nhận dạng được biển số”. Giới giang hồ đều cho rằng chính Đại Cathay đã sát hại Trần Kim Chi.

Cái chết của Trần Kim Chi đã đánh dấu chấm than cuối cùng cho cuộc đời du đãng của Đại Cathay. Tháng 8/1966, với tội danh “Du đãng đặc biệt”, Đại Cathay lại bị tóm cổ. Cùng với một loạt du đãng khác, ngày 28/11/1966, Đại Cathay bị tống lên máy bay vận tải C47 đưa ra giam giữ tại đảo Phú Quốc.

Gọi là “Trung tâm hướng nghiệp” nhưng chính xác, đây là nơi lưu đày những tên lưu manh ngoại hạng dày thành tích bất hảo nhưng không có chứng cớ để bắt quả tang, do chính Nguyễn Ngọc Loan đề nghị thành lập nhằm “bài trừ du đãng, chấn hưng đạo đức, thượng tôn luật pháp”.
Trại là những dãy nhà dã chiến thấp lè tè nằm trong rào kẽm gai bịt bùng đặt cạnh sân bay Phú Quốc ngay tại thị trấn Dương Đông. Gọi là “hướng nghiệp” cho oai, kỳ thực đám tù suốt ngày chỉ ngồi ngáp vặt, đánh mạt chược mà không hẹn ngày về chứ chẳng có việc gì để làm. Một hôm, đang đánh mạt chược, Đại Cathay bảo:

- Gọi “hướng nghiệp” nghe chán thấy mẹ, tụi mình đặt lại tên cho nó đi.

Cả bọn đồng ý. Bác sĩ Nghiệp, một tên du đãng có học đề xuất:

- Bốc đại một con mạt chược, trúng con gì, đặt tên đó.

Đại Cathay quơ được con Cửu Sừng, vậy là “Trung tâm hướng nghiệp Phú Quốc” nghiễm nhiên trở thành “Trại Cửu Sừng”.

Không giống như dự định của tướng Sáu Lèo, Trại “Cửu Sừng" chẳng những không “hướng” được chút “nghiệp” nào cho đám đầu trâu mặt ngựa mà ngược lại hoàn toàn. Toàn bộ đám du đãng bị bắt vào đây như Đại Cathay, Hải Súng, Hoà áo thun, Lâm Chín ngón, Bảy Si, Hỏi Phoòng Kin, Thanh tưa, Quẩy Thầu Hao... sau này đều là những tên giang hồ cộm cán nhất của Sài Gòn – Chợ Lớn, càng ngày càng hung hãn hơn. “Trại Cửu Sừng” như một con dấu chất lượng để đánh giá giang hồ. Tên nào từng ngồi ở “Trại Cửu Sừng” sau này đểu trở thành đàn anh, được quyền ăn trên ngồi trốc trên chốn giang hồ.

Người vợ cuối cùng, cũng là cuộc tình sâu nặng nhất của Đại Cathay là cô Nhân, con gái chủ tiệm đồ gỗ Đồng Nhân nổi tiếng nằm trên đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) đối diện với vũ trường Olympic. Khi Đại và cả đám đàn em bị tống ra đảo Phú Quốc, Nhân ở lại Sài Gòn, biết chắc rằng loại tù không án như chồng mình e khó có ngày về. Cô cùng anh trai vung tiền ra tìm cách cứu Đại Cathay.



Đầu tháng 1/1967, Nhân có mặt trong đoàn thân nhân ra thăm nuôi đám du đãng bị nhốt ở Trại Cửu Sừng. Gặp Đại Cathay cô báo cho chồng biết đã lo xong việc tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục. Đám lính gác sẽ làm ngơ cho Đại Cathay và một số đàn em trốn ra khỏi trại. Một xuồng máy chờ sẵn sẽ đưa đám tù ra khơi, có tàu hải quân do Nhân bố trí sẵn rước về đất liền. Để mua chuộc đám lính gác, Nhân đưa cho Đại một chiếc áo bluson và dặn dò kỹ lưỡng. Nhìn bề ngoài, nó chỉ là một chiếc áo lạnh rẻ tiền, sau lưng có một con rồng ấp quanh bản đồ Việt Nam thêu hai màu, nửa miền Bắc màu đỏ, nửa miền Nam màu vàng. Loại áo này bán nhan nhản dọc các tiệm đường Lê Thánh Tông, trong chợ Dân Sinh… chủ yếu để đám lính Mỹ sắp hồi hương mua về làm kỉ niệm.

Khi chuyển áo cho Đại Cathay, tên lính canh của trại hướng nghiệp Phú Quốc thấy nó nặng hàng ký nên đâm nghi ngờ. Lần theo lưng áo hắn sờ thấy giữa hai lần vải có hàng chục miếng kim loại mỏng được khâu đầy trong đó. Đoán là vàng, tên lính canh định lôi ra khám xét. Lập tức cái liếc xéo mắt của tên sĩ quan đứng cạnh đã ngăn hắn lại. Tên lính đành trả lại áo cho Đại Cathay mang về phòng.

Theo lời đồn đại của giới giang hồ thì khi về phòng, Đại Cathay đã xé chiếc áo lấy ra đúng 62 lá vàng loại 1 lượng khâu trong đó. Với số vàng này, Đại đã mua chuộc đám cai ngục để chúng bố trí cho lính gác làm ngơ khi Đại bỏ trốn.

Đi theo Đại Cathay có khoảng một chục đàn em trong đó có Xì kíp, Lắm Mổ bụng, Hùng Mỏ chuột, Hải Súng và Lâm Chín ngón… Đến phút cuối, Đại Cathay theo lời Hải Súng tham mưu, quyết định để Lâm Chín ngón – gã đệ tử thân nhất - ở lại. Đại nói với cả đám:

- Thằng Lâm lóc choc, dễ làm bể chuyện lắm. Vả lại, chuyến đi này lành ít dữ nhiều, nó còn trẻ, tội lắm. Chi bằng để nó lại, mình thoát rồi lo cho nó về sau an toàn hơn.

Trước giờ khới sự, Đại Cathay gọi Lâm Chín ngón đến và bảo:

- Mày phải bỏ xì ke đi, hại lắm. Tao chích cho mày một lần cuối cùng, sau đó là phải chừa hẳn, nếu không đừng trách.

Đại đã tự tay chích cho Lâm một mũi gấp đôi đô bình thường do chính tay Hải Súng pha chế, có độn thêm một ít tân dược để tăng nồng độ. Phê thuốc, Lâm Chín ngón quay ra ngủ say như chết. 12 giờ đêm ngày 7/1/1967, Đại Cathay dẫn đàn em đào thoát ra ngoài.

Theo sự phân công của Đại Cathay, đám tù trốn trại chia làm hai tốp. Tốp thứ nhất gồm năm tên đi trước để nghi binh. Tốp thứ hai, có Đại Cathay và Hải Súng chạy theo hướng bờ biển. Bất ngờ, khi cả hai tốp vừa vọt ra khỏi vòng rào thì phía trại báo động inh ỏi. Tốp thứ nhất, gồm Xì kíp, Hùng Mỏ chuột,.. bị tóm cổ lại ngay. Đại Cathay và Hải Súng vội đổi kế hoạch, chạy lên phía Bắc đảo, lần vào khu núi tượng, nơi có Quân giải phóng hoạt động. Đến đây, không ai còn tận mắt gặp lại Đại Cathay và Hải Súng. Và hàng loạt giai thoại giải thích sự mất tích của hai tên du đãng đầu sỏ bắt đầu xuất hiện.

Theo hồ sơ về cái chết của hai tên du đãng mà chúng tôi có được: Biết không trị nổi Đại Cathay, lại nhiều lần bị tên đãng làm bẽ mặt, chuẩn tướng Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan rất hận, tìm cách loại trừ vĩnh viễn Đại Cathay. Khi biết cô Nhân – vợ Đại – đang tìm cách lo lót tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục… Nguyễn Ngọc Loan đã chỉ đạo cứ để cho Đại Cathay thực hiện kế hoạch. Đến giờ chót, theo lệnh Loan, toàn bộ toán lính gác của trại hướng nghiệp bất ngờ bị đổi. Toán lính gác mới ráo riết truy kích đám tép riu, còn Đại và Hải, chúng cố ý để cho đào thoát vào núi Tượng. Sau đó, Loan cho một tiểu đội biệt kích do thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy, được trực thăng chở từ Sài Gòn ra truy kích Đại và Hải, bắn hạ chúng. Khi đi, toán biệt kích dù phải thay quần áo bà ba, đội mũ tai bèo, mang dép râu và sử dụng súng AK47, giả trang làm Việt Cộng để đổ vấy cho việc giết Đại Cathay và Hải Súng cho Việt Cộng. Diệt xong, toán biệt kích dù phải đắp mộ, đề bia tử tế để dễ bề nhận diện và gây dư luận. Chính thiếu úy Trần Tử Thanh sau này đã từng huênh hoang khoe với nhiều phóng viên của một số tờ báo ở Sài Gòn trước 1975 rằng chính tay y đã nổ súng hạ gục Đại Cathay. Khá nhiều người cũng biết rõ ngọn nguồn sự việc, song trước khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ, không một tờ báo nào dám viết về âm mưu hại địch thủ của tướng Nguyễn Ngọc Loan. Vì vậy, lời đồn đại, đoán non đoán già vẫn cứ loang ra mãi, đắp thêm chất huyền thoại vào cuộc đời và cái chết của Đại Cathay – tên du đãng ngoại hạng.

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image
Trái tim đàn bà

Hà Thúc Sinh


Tuần báo “Teen People” mới đây ra một số chủ đề “Love Issue.” Bài mang tựa “Love Around the World” thấy cũng có điểm đáng lưu ý. Có 5 cặp trai gái qua 5 địa danh Peru, Luân Ðôn, Jerusalem, Hương Cảng, và Sydney được phỏng vấn. Là bài viết về đàn bà, người viết lược bỏ phần trả lời của mấy cậu, chỉ giữ những câu trả lời của mấy cô thôi.

Gái Peru tên Michelle Kilimajer, 16 tuổi, bồ bịch với Kevin Heringman, trai gốc Mỹ 16 tuổi, đến nay được 9 tháng, phát biểu: “Anh ấy luôn làm em cười. Anh ấy pha trò suốt ngày.”

Gái Ăng Lê tên Clemmie Ashton, 17 tuổi, bồ bịch với Mark Brennan 18 tuổi, đến nay được 13 tháng, phát biểu: “Có lên mặt ‘bà chủ’ nhưng một cách vui vẻ thôi.”

Gái Do Thái tên Ella Shippin, 19 tuổi, bồ bịch với Rami Hieb, trai Palestine 23 tuổi, đến nay được 3 năm, phát biểu: “Chúng em sợ những cuộc tấn công tự sát. Hồi tháng Giêng chiếc buýt chở chúng em bị nổ…”

Gái Hương Cảng tên Tiffany Chan, 16 tuổi, bồ bịch với Tony Kwan 18 tuổi, đến nay được 8 tháng, phát biểu: “Tony tìm thấy ảnh em trên một website và gửi cho em một điện thư. Thoạt đầu em không nghĩ nhiều về việc trả lời vì đã có vô số chàng điện thư cho em. Thật may mắn cho em là em đã hồi âm cho Tony.”

Gái Sydney tên Nellie Washington, 17 tuổi, bồ bịch với Jamie Moss 18 tuổi, đến nay được 10 tháng, phát biểu: “Chúng em có lối sống khác nhau nhưng cố tìm cách dính vào nhau. Cuối tuần anh ấy đi chơi với bạn anh ấy, còn em đi chơi với bạn em.”

Nhìn chung, lý do dẫn đến ái tình trai gái ngày nay và cách họ cảm nhau, cư xử với nhau chán ngắt như thế. Trừ mối tình không biên giới Do Thái—Palestine có vẻ khá liều mạng và tang chế có thể xảy ra bất cứ lúc nào, còn thì những mối tình kia xem ra như đều hờm sẵn cuộc chia tay ở một cuối đường nào đó mà một trong hai người chỉ cần nhảy cò cò vài bước là tới. Yêu gì mà quái dị như cái cặp ở Sydney: “Cuối tuần anh ấy đi chơi với bạn anh ấy, còn em đi chơi với bạn em.” Xử sự với nhau như thế phải chăng cô cậu này đã lạm dụng cái chữ yêu, một chữ vốn dĩ thiêng liêng đến nỗi thời cha mẹ họ đã dính vào nó rồi là… nhất nhật bất kiến như tam thu hề!

Dù sao ta cũng nên thông cảm. Mình khó khăn quá đám trẻ chúng biến ra một bọn toàn gay và lesbian thì nguy to. Thời nào, tuổi nào, có kiểu có mốt yêu của thời đó tuổi đó. Ta cứ biết rằng chỉ một ngày thiếu yêu thế giới này sẽ rã ra như một miếng ruột bánh mì ném vào lavabo và vặn nước. Ấy là bởi vốn có một ông tây nào đó nói một câu chí lý: “Khi ông A-dong phàn nàn về cảnh cô đơn thì sau đó không phải là một tá bạn trai Chúa tạo ra cho ông mà chỉ là một người đàn bà.” Như thế đàn bà được đem đến cho người đàn ông vào cái thời ông ta là người duy nhất. Thảm kịch đầu tiên cho đàn bà là chỗ này đây: bà E-và đã không có quyền lựa chọn. Ông A-dong dẫu có uống rượu như hũ chìm, bát đũa không dùng toàn ăn bốc, rồi quẹt mồm mỡ vào… bệ cửa (thời đó chắc chưa có tay áo), có thể thích nói chuyện bằng chân tay, đêm ngủ ngáy như sấm và gác chân thì toàn gác ngang qua cổ người ta vân vân và vân vân, thì bà cũng đành phải chịu; còn các cô con gái của bà thì tha hồ, nhất là ngày nay, chọn lầm cho chọn lại đến khi tìm ra một người mà nàng thấy đã hội đủ điều kiện là một tri kỷ. Vâng, tính tri kỷ vô cùng quan trong giữa liên hệ nam nữ. Chẳng thế mà nhà văn Pháp André Maurois phải nói “Muốn cho tình yêu gây được hạnh phúc, cần thiết nhất người yêu phải là người tri kỷ.” Và tri kỷ thì phải có tính tương xứng. Cây quế giữa rừng tri kỷ thế quái nào được với cái kiểu… leo xồng xộc lên người người ta của mấy chú mán chú mọi!

Nhưng mà nói gì thì nói, người viết và bạn bè nam nữ cùng thế hệ nên hãnh diện là mình đã được sinh ra bởi một thế hệ phụ mẫu vẫn còn cái yêu đương rất là… cổ kính; nó vừa lãng mạn, vừa say đắm, lại vừa bền bỉ mà ngày nay thế hệ con cháu chúng ta sống ở các nước Âu Mỹ, thậm chí ngay cả trong nước, chẳng cách gì cảm nhận nổi. Thời nay dễ gì gái yêu trai còn được như thế này:

Yêu anh mấy núi cũng trèo,
Mấy sông em cũng lội mấy đèo em cũng qua…

Hoặc ngay ở thế hệ chúng ta, thế hệ cuối cùng bắt đầu biết yêu từ hậu bán thế kỷ 20:

Yêu anh mấy biển cũng pha,
Mấy chuyến bay em cũng chấp mấy nhà ga em cũng liều.

Nhưng, chữ nhưng đáng ghét này thì thời nào cũng có, đàn bà mỗi thời yêu mỗi cách khác nhau, duy chỉ cái khoản lên cơn hen xem ra là không khác nhau lắm (hen = suyễn = không thở được, hoặc thở hổn hển, có khi cò cưa, có khi hồng hộc, có khi ngưng thở luôn thành chết giả mà không giật tóc mai, không bơm thuốc vào họng cứu kịp là chết thật, chết đứ đừ; hen loại này trong Kiều có Hoạn Thư bị rất nặng). Và sau khi thoát chết vì cơn hen có người dám làm những chuyện phi thường ngoài sự tưởng tượng của các quan toà, đám bồi thẩm, và công tố. Tội họ phạm thật tày trời nhưng thường là hiếm, do đó gần như chưa có một án lệ (?) để dựa vào đó mà cân nhắc sự nặng nhẹ, gia trọng hay đáng giảm khinh, ngõ hầu toà có thể đưa ra một bản án thích hợp. Có lẽ vì sự lúng túng đó mà các bà Chúa Hen thường được hưởng những bản án rất là… thông cảm hay được tha bổng. Ở Sài Gòn xưa có vụ án cô Quờn (Hoàn?) đốt chồng. Vụ này nổi tiếng đến độ nó biến thành tuồng cải lương, và được giới thương buôn xuất bản những cahier nho nhỏ in sáu câu vọng cổ mang tựa đề “Cô Quờn Ðốt Chồng” đem bán ở các bến xe đò, bến tàu, và nhiều nơi công cộng khác trong thập niên 1950 lúc người viết mới di cư vào nam. Cô bị án nhẹ và sau đó được tha.

Ngay ở Mỹ hồi 1993 cũng có một vụ án gọi là “Thẻo ngọt.” Người đẹp ác đức Lorena Bobbitt có chồng tên là John Wayne Bobbitt. Chàng đẹp trai, bay bướm, nhưng hiền lành giùm một chút đi, không, đã thế còn mang cái bệnh hở một tí là uỵch vợ. Một ngày kia bậc hiền thê của chàng nổi cơn hen pha cơn khùng lên, chờ khi chàng mệt phờ râu cáo và ngủ như chết, nàng ngồi dậy, xoa tay, cười khẩy, rút ra con dao dài 8 inches dưới nệm bén đến cạo râu được, và, a lê… hấp, thẻo ngọt một phát. Thi hành xong sự trừng phạt ác ôn mà ngay tu chính án thứ Tám của Mỹ đã cực kỳ nghiêm cấm trong hệ thống pháp lý của nó là “. . . không được thực hiện những hình phạt ác độc và khác thường,” cô nàng nắm cái khúc dồi rắc rối ấy ra xe, lái một vòng cho hạ nhiệt rồi xuống kính quăng luôn nó ra ngoài đường cho xe “cán chết cha cái thằng con của cái thằng cha ấy cho rồi.” Nhưng trời ngó lại. Cảnh sát tìm ra được khúc giò trường và đem nó vào bệnh viện kịp thời. Nền y khoa Mỹ hàn gắn được mọi thứ. Thế là châu về hiệp phố, bưu vật về lại với chàng.

Lorena Bobbitt sau đó được tha bổng với lý do cơn hen đã làm cô điên quá là điên; thêm vào, cô còn là nạn nhân của những vụ bạo hành trong gia đình.

Nhưng lạ, về một mặt khác quí bạn đọc cứ để ý kỹ mà xem. Văn minh kỹ thuật và tình yêu hình như là hai đối tượng tăng giảm ngược chiều. Nói một cách dễ hiểu hơn, văn minh kỹ thuật càng tăng thì sự say đắm của trái tim, đặc biệt ở đàn bà, càng giảm. Kể từ cái ngày 20 tháng 7 năm 1969 sau khi phi hành gia Neil Armstrong lái phi thuyền Apollo 11 đáp xuống thân thể chị Hằng, muôn vàn thi sĩ trên đời đã… bỏ làm thơ, muôn triệu cặp tình nhân đã chấm dứt chuyện nhìn trăng mà thề ước vân vân và vân vân. Ngay trong văn chương, âm nhạc, kịch nghệ đông tây ngày nay thấy cũng hiếm, gần như không còn nữa những thiên tình sử lớn—những tình sử mà hai nhân vật nam nữ chính, khi cần chứng minh nồng độ chất ngất của tình yêu, đã sẵn sàng chấp nhận mọi thảm kịch xảy ra cho họ như Tristan và Isolde hoặc Roméo và Juliet.

Qua nghệ thuật, dù sao, người viết chưa bao giờ được xem thêm một phim nào nói đến tình yêu trai gái say đắm, dữ dội, và rốt ráo như cái phim tình cảm do Ba Lan thực hiện và trình chiếu ở Sài Gòn thời người viết mới ra tù cải tại năm 1980. Cốt truyện thế này: một người đàn ông, một người đàn bà, một mối tình say đắm, một thế giới đặc thù thành hình, và một mụn con gái ra đời. Người đàn ông lao động nuôi gia đình và người đàn bà làm nhiệm vụ người vợ người mẹ đảm. Thế rồi bà vợ thình lình qua đời và người đàn ông lâm vào hoàn cảnh đúng y chang với câu thơ: người đi một nửa hồn tôi chết; một nửa hồn kia bỗng dại khờ (Hàn Mặc Tử).

Sau những suy nghiệm nghiêm chỉnh về lẽ sinh ly tử biệt của kiếp người, ông ta giác ngộ và thấy ra câu “tình là dây oan” không sai. Nó chính là nguồn khổ cho con người chứ tuyệt nhiên không là dây tơ hồng hay là nguồn hạnh phúc gì hết trọi. Các thi sĩ đều đúng cả khi bảo, “Tình hết vui khi đã vẹn câu thề,” (Hồ Dzếnh) hoặc “Les plus desèspérances sont les chants les plus beaux.” (Alfred de Musset). Vì thế sau bao đêm ôm con trằn trọc, ông quyết định: không thể để núm ruột của mình mười lăm năm, hai mươi năm nữa lại lâm luỵ vào cái khổ của chữ tình. Ông đốt nhà, đem con vào rừng, nơi sâu nhất mà ông tin rằng sẽ không bao giờ có ai có thể vào tới và con gái ông nhờ thế sẽ không bao giờ có được ý niệm về thế giới, về đồng loại, về văn minh, về văn hoá, về kiến thức, và nhất là về tình yêu luyến ái. Nó chỉ biết trên đời này có hai con người duy nhất là nó và bố nó. Ông đốn cây, cắt tranh làm nhà, đào giếng, khai hoang trồng tỉa.

Thời gian trôi qua và cô gái lớn lên. Cô xinh đẹp như một đoá lan rừng và tâm hồn trong như nước suối. Lý do cũng dễ hiểu. Ðã có người hùng nào nhảy vào giấc mơ cô đâu! Trong khi đó tóc cha cô bắt đầu bạc, chân bắt đầu run, và hai bàn tay không còn sức mạnh như xưa để chẻ những khúc củi đốt vào mùa đông. Gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu. Cô một mình làm hết. Nhìn ban mai, nhìn hoàng hôn, nhìn hoa nở, nhìn chim bay, không biết hát bài “Một Thế Giới Khác” của người viết nhưng biết huýt sáo như chim oanh chim yến.

Thốt nhiên ngày kia có một thằng cha râu ria lạc loài đến đây. Chả không đi xe Camry hay Lexus, mà cỡi ngựa và bị thương nữa. Ông bố vạn bất đắc dĩ phải vực kẻ lạ xuống và đem vào nhà cứu chữa. Cô gái nghiễm nhiên đóng vai nữ trợ tá bất đắc dĩ. Rồi thân thể được tắm rửa, những vết thương được băng bó, và râu ria được cạo. Mèng ơi, cô gái cứ ngẩn ra, và tự hỏi rồi tự trả lời: ai đây? cái gì vậy? thế đấy? ồ ra vậy! vân vân và vân vân. Thế rồi lần đầu tiên trong đời, cô gái không có gương soi mà tự thấy đỏ mặt, không ai check mức độ vi khuẩn như check nước trong spa hay trong hồ bơi, thế mà cô cũng tự biết tâm hồn cô đã… đục dễ sợ, cầu phải có một liều chlorine lớn may ra nước suối lại mới sạch được như xưa.

Chàng bình phục. Rồi thì họ yêu nhau! Ông bố khám phá ra sự thật này đã hết lời giải thích cho con gái ông biết: “Ðừng, đừng bao giờ con đụng vào thằng ấy hay để nó đụng vào con con ơi. Kết quả, coi kìa, bụng con sẽ to bằng bụng con bò ngoài kia rồi có ngày con… lăn ra chết!” Nhưng chết thì chết, cô gái bất chấp. Trong cơn tuyệt vọng của một người phá sản, ông bố giết chàng trai rồi nổi lửa đốt luôn căn nhà. Ông lôi con gái ông đi. Nhưng cô giằng khỏi tay ông, và nước mắt đầm đìa, mặc người cha gào thét, cô lặng lẽ đi thẳng vào căn nhà đang bốc cháy trong có người đàn ông cô đã chọn.

oOo

Trái tim đàn bà xưa sau có những điểm tích cực và tiêu cực khá giống nhau, dù sự rung động của nó cũng có những thay đổi qua các thời đại, chẳng hạn ngày xưa say đắm, lãng mạn, thiết tha, thậm chí yếu mềm, còn ngày nay bộc bạch, thẳng thắn, sòng phẳng đôi khi đến tàn nhẫn; nhưng dù thế nào, phải có nó nhân loại mới có tình yêu. Cộng trừ nhân chia xong cánh đàn ông phải lặng lẽ thừa nhận đó là thứ đáng thờ, duy có mỗi điểm này quý ông cần phải sáng suốt nắm vững khi đã quyết chọn một trái để thờ: đừng mong hiểu nó! Vâng thế đấy, làm sao ta hiểu nổi một đối tượng khi sự khôn ngoan của cánh đàn ông đa thê Hồi giáo (tức thừa thãi kinh nghiệm hơn bọn đàn ông tầm thường chỉ có một con sư tử ở nhà là chúng ta), đã cô đọng lại thành lời cảnh giác thế này: “Bạn ơi, dẫu suốt đời bạn đã tận tuỵ thờ một người đàn bà nhưng chỉ một ngày bạn làm phật ý nàng bằng một việc nhỏ nhất, nàng sẽ sẵn sàng đay nghiến bạn, tự xỉa xỉa ngón tay vào ngực, họng gào lên, rít lên: ‘Cả đời tôi, tôi chưa bao giờ thấy anh làm được một việc gì tốt lành cho tôi cả!’” ./.

Hà Thúc Sinh

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Xử Trảm
Một bữa nọ, Thượng Đế nói với Adam:
“Ta có một tin vui và một tin xấu cho con. Con muốn nghe tin nào trước?”

Adam ngước nhìn Thượng Đế và trả lời:
“Xin hãy cho con được biết tin vui trước.”

“Được! Ta cho con hai bộ phận mới, một cái gọi là não. Nó sẽ giúp con tạo ra những thứ mới lạ, giải quyết các vấn đề và có những cuộc trò chuyện thông minh với Eva. Cái thứ hai là bộ phận sinh dục. Nó sẽ mang lại cho con những khoái cảm thể chất, giúp con lưu truyền lại trí tuệ của mình và nhân rộng cuộc sống trên trái đất. Eva sẽ rất hạnh phúc khi con có bộ phận này để giúp nàng sinh con. ”

Adam vui sướng thốt lên :
“Đó là những món quà thật tuyệt vời mà Ngài ban cho con. Còn tin gì xấu sau sự kiện vui mừng này, xin Ngài cho con biết.”

Thượng Đế nhìn Adam với đôi mắt xót xa và nói:
“Con sẽ không thể sử dụng hai món quà này cùng một lúc!”

Nhận được hai món quà quý giá này Adam giữ chúng bằng hai cách khác nhau. Ông giấu bộ não vào sâu trong một chiếc hộp trên đầu và khơi khơi gắn bộ phận sinh dục vào giữa hai chân. Ở trong một vị trí chông chênh như vậy, bộ phận quý giá này đã không biết nép mình kín đáo lại cứ hay nghểnh cổ lên nhìn khắp chung quanh. Cứ vênh váo lên như một khẩu súng ngoài chiến trường, bộ phận này quên chỉ thị của Thượng Đế là “Eva sẽ rất hạnh phúc khi con có bộ phận này để giúp nàng sinh con” mà hào phóng ban…hạnh phúc cho khắp bàn dân thiên hạ. Đó là chuyện về sau này của con cháu ông Adam, còn vào thời kỳ của chính Adam thì ông chẳng còn cách nào khác hơn là chỉ có mỗi bà Eva để…mưa móc.

Chính lòng…bác ái của con cháu ông Adam đã gây chiến tranh trên khắp quả địa cầu này! Nguyên do là tại…Thượng Đế. Ngài đã ban cho ông Adam và dòng dõi của ông một khẩu súng thần! Cứ tha hồ tác xạ mà đạn vẫn cứ còn.

bao năm đeo lủng lẳng
một khẩu colt 45
khóa an toàn mở sẵn
viên đạn vẫn trong lòng…
(Luân Hoán)

Dư đạn, súng cứ ngông nghênh đi tác chiến trên khắp các vùng chiến thuật, chẳng màng tới lãnh thổ nhà. Vậy là có chuyện. Chuyện lớn chứ không phải chơi. Đó là chuyện chia lìa tức tưởi. Chuyện biệt ly này xảy ra trên khắp thế giới và Việt Nam chúng ta cũng là một bãi chiến trường lớn.

Dư luận ở Việt Nam vừa hoảng hốt ghi nhận những “trận đánh” sau xảy ra ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tháng 7 năm 2005, ông C., 55 tuổi, bị chị T. dùng lưỡi hái cắt lúa phăng ngay cái hoang đàng hư đốn.

Ngày 25/8/2005, ông N.H.T. ở Tân Biên, Tây Ninh bị vợ cắt phăng súng khi đang ngủ.

Tối 14/9 ông Nguyễn văn Đ. ở Đức Hòa cũng bị vợ phong tước hoạn quan. Ngày 5/10 ông Nguyễn K. ở quận 2, Sài gòn, bị lưỡi dao lam của vợ sớt đẹp cục thịt dư.

Rồi anh M., cư ngụ tại ấp Xóm Lớn, xã Lý Văn Lâm, tỉnh Cà Mau bị vợ thiến trong khi anh đang say mèm, máu chảy ra lênh láng cả nhà mà không ai biết!

Đó là tình hình chiến sự mới nhất tại Việt Nam.

Bản tin chiến sự đau buồn này chỉ là tiếp nối tình hình sôi động trên khắp thế giới mà vụ anh John Wayne Bobbitt xảy ra vào ngày 23 tháng 6 năm 1993 tại Virginia, Mỹ, là cao điểm. Cũng cần nhắc lại vụ cắt nổi danh này để cùng nhau…học tập. Trong cái ngày “lịch sử” đó, bà vợ Lorena Bobbitt để cho chồng thỏa mãn sau khi anh đi uống rượu về, và sau khi chồng ngủ say, bà mới vào bếp lấy con dao bén nhất ra thi hành…án quyết!

Cắt xong, bà cho cái của nợ vào túi nhựa mang đi vứt vào một bụi cây tại một khu vực của thành phố Manassas, tiểu bang Virginia. Cảnh sát đã phải mất nhiều thời gian kiếm tìm mới thấy được cái túi oan nghiệt đó. Họ liền bỏ ngay vào thùng nước đá mang về bệnh viện để cho các bác sĩ nối lại. Sau đó là màn ly dị như mọi người đều đoán được. Phiên tòa xử vụ án này diễn ra vào tháng 2 năm 1994, theo cuộc thăm dò của tuần báo Newsweek, đã được 60% dân số Hoa Kỳ căng mắt theo dõi!

Nhưng câu chuyện của anh Bobbitt lại ồn ào hơn khi anh chơi một màn náo động dư luận sau khi… súng gãy lại lành. Anh chứng tỏ cùng bàn dân thiên hạ là súng của anh vẫn tốt bằng cách đi đóng phim sex! Dĩ nhiên những cuốn phim này bán đắt như tôm tươi vì anh nào cũng muốn rút kinh nghiệm.



Cái thứ đầy gân cốt nhạy cảm khi trồi khi sụt đó khi bị cắt lìa lại có thể…nối vòng tay lớn đánh đông dẹp bắc được như vậy sao? Được chứ! Bác sĩ Dương Quang Vũ thuộc chuyên khoa niệu, bệnh viện Chợ Rẫy, Sài gòn, đã bật mí việc phẫu thuật tế nhị này. Trong trường hợp bị cắt, bệnh nhân phải đến bệnh viện trong vòng 6 tiếng mới có khả năng nối lại và hồi phục được.

Thông thường một ca phẫu thuật mất từ 2 tiếng rưỡi đến 3 tiếng rưỡi. Trong thời gian sửa soạn ra tay, các bác sĩ phải… tu sửa khúc đoạn trường này trong môi trường lạnh. Đầu tiên, phẫu thuật gia sẽ khâu nối hai thể hang và thể xốp. Sau đó mới nối các mạch máu. Phải rửa sạch máu trong lòng mạch để tránh tắc mạch sau khi nối. Tiếp theo là sử dụng các dụng cụ vi phẫu thuật nối động mạch và tĩnh mạch lưng của chú nhỏ. Động tác này khá rắc rối vì có khi không tìm được động mạch và tĩnh mạch để nối, các bác sĩ bắt buộc phải bỏ qua giai đoạn này mang tới kết quả thảm sầu là chú nhỏ chỉ có thể là một vật trang trí cho đẹp mắt chứ không sử dụng được trong trường đao trận kiếm! Trong trường hợp phẫu thuật thành công thì chỉ 20 ngày sau vết thương có thể lành. Khi các mạch máu đã được nối và thông trở lại thì mọi hoạt động tâm sinh lý đều có thể coi là bình thường.

Việc có thể phục hồi được những vật thể ý nghĩa nhất của cuộc đời đã phân chia ra hai loại…sát nhân!

Thứ nhất là loại “còn một chút gì”. Cái còn đây là những…mảnh đời đứt đoạn. Cắt nhưng vẫn còn vương vấn chẳng nỡ đành đoạn. Trong 5 trường hợp ra tay của những bà vợ Việt Nam trong năm ngoái, 2005, đã được diễn tả ở trên thì có ba trường hợp các bà vợ vẫn còn…từ tâm! Các bà đã nộp chiến lợi phẩm cho bệnh viện và các bác sĩ đã nối lại thành công.

Thứ hai là loại “cạn tàu ráo máng”. Cắt xong là phi tang phần mềm vừa rời khỏi nguồn gốc một cái rột! Các bà thuộc loại này có rất nhiều sáng kiến. Như bà Kim Trần ở Alaska. Sau khi cắt xong, bà ném cái của nợ vào bồn cầu rồi giật nước cho trôi đi. Cảnh sát đã phải gọi cho Sở Vệ Sinh đến xem xét mọi ngõ ngách trong ống cống để tìm xem nó có toòng teeng ở đâu không. Phúc bảy mươi đời cho nạn nhân, sau hai tiếng đồng hồ lục lạo, họ đã tìm được anh chàng cố thủ ngay dưới cổ bồn cầu hình chữ S.

Bên Đài Loan, bà Hsiu Chan cũng làm y chang bài bản như bà Kim Trần ở Alaska. Cũng mạnh tay dục vào trong bồn cầu, cũng giận dữ giật nước cho trôi đi cái thứ khó nuốt. Báo hại cảnh sát cũng phải mầy mò tìm kiếm. Lần này “chàng” phiêu lưu xa hơn, chạy tuốt ra tận ống cống!

Nàng Antoinette Pasquez, 26 tuổi, bên xứ Côte d’Ivoire, chơi trò…nội trợ! Sau khi dùng dao bén cắt phăng thằng nhỏ của anh chàng chồng hờ lãng mạn 39 tuổi người Pháp từ mẫu quốc sang, nàng bèn bắc chảo chiên cục thịt không mất tiền mua như chiên xúc xích. Sau đó nàng trút ra đĩa làm một màn điểm tâm ngon lành. Khi bị bắt, nàng khai là vì quá thương yêu anh chàng Jean này mà chàng thì cứ mang gươm đi múa loạn xạ trong vườn của người khác nên cắt đi để giữ độc quyền. Cắt xong, báu vật đã nắm trong tay, nàng vẫn còn thương nên cho vào bụng để có được niềm riêng một cách chắc ăn. Nghe dễ thương biết bao!

Cũng thuộc trường phái bếp núc nhưng kỹ càng hơn là bà Kristina Popova, 28 tuổi, người Nga. Chắc là vì bà kiêng mỡ nên sau khi cắt cái…gậy thằng ăn mày của chồng là anh nhân viên hỏa xa Nikolai Ivanovich, 36 tuổi, bà liền cắt thành từng khúc, cho vào nồi hầm với khoai và cà rốt như hầm ragout rồi ngồi ăn ngon lành món ngầu pín!

Tại Houston, Texas, cô Delmy Ruiz lại mở ra một trường phái khác. Cô đã ra tay hành động khi ông chồng Rene Aramando đang say giấc điệp. Cô vứt cái thứ bạc bẽo đó qua cửa sổ cho chú cẩu sơi tái!

Dù vì lý do gì đi nữa thì hành động đành đoạn của các bà vợ có máu hoạn thư nồng độ cao này cũng phải ra tòa trả lời trước pháp luật. Họ bị kết tội gì bây giờ nhỉ? Tội ăn cướp đồ vật của người khác? Hay là tội xâm phạm…tư gia? Tội chiếm đoạt một thứ đã tưởng như là của riêng? Hay là tội ăn cắp…thịt?

Luật gia Huỳnh Minh Vũ cho biết là những bà cắt của quý của chồng bị ghép vào tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được dự liệu trong điều 104 của Bộ Hình Luật ở Việt Nam. Nguyên văn điều luật này như sau: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm: dùng hung khí gây nguy hiểm; gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; người ốm đau hoặc không có khả năng tự vệ; đối với người nuôi dưỡng mình; có tổ chức; có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm”.

Như vậy rõ ràng cắt là tội cố ý gây thương tích chứ không phải những cái tội cà chớn mà tôi đã hài ra ở trên. Nhưng có phải chỉ là cố ý gây thương tích thôi chăng? Có mỗi thằng nhỏ làm vốn cho cuộc sống có hương hoa mà chơi luôn một phùa trăm phần trăm như thế e rằng chuyện phải…ầm ĩ hơn nhiều.

Đau đớn thay phận đàn ông!

Chưa hết. Người vợ chỉ bị ra ba tòa quan lớn nếu ông chồng làm đơn khởi tố theo đúng qui định trong Điều 105 của bộ luật Tố Tụng Hình Sự! Như vậy, nếu sự giận dữ không lớn bằng sự mắc cở không muốn chường mặt ra trước công chúng với vết thương lòng thì huề cả làng. Nếu ông chồng nhất định khiếu tố thì hình phạt và mức án do tòa án tuyên xử tùy theo tính chất của hành vi vi phạm và mức độ thương tích. Ngoài ra còn có những yếu tố giảm khinh: các bà thuộc loại “còn một chút gì” mà lại còn tỏ ra ăn năn hối lỗi, bảo vệ con chim đã rời tổ ấm, đưa chồng đi bệnh viện nối cánh chim giang hồ sẽ có điểm trước tòa. Còn các bà chằng thuộc trường phái “cạn tàu ráo máng” cho tang vật một đi không trở lại thì sẽ bị coi như là tăng trách nhiệm hình sự.

Luật thì như vậy, nhưng với tòa án…nhân dân thì luật nó lung tung lắm. Như trường hợp bà Kim Trần. Không phải bà Kim Trần ở vùng xứ lạnh cóng Alaska nói ở trên đâu mà là bà cũng tên Kim Trần ở Vancouver, Canada cơ. Bà này 38 tuổi, có 6 con với ông chồng tên Phùng Học Vi, 42 tuổi. Ông Vi ham vui có một cô bồ non trẻ đẹp khiến bà vợ nổi máu tam bành lên. Bà cắt lìa gươm thiêng của chồng bằng một con dao làm bếp. Sự việc ra trước tòa án của Tỉnh bang British Columbia, Canada do ông chánh án Patrick Dohm chủ trì. Tòa đã cân nhắc các sự kiện như sau.

Thứ nhất, người chồng Phùng Học Vi đã chung sống 18 năm với bà Kim Trần và có 6 đứa con, nay lại léng phéng có nhân tình khiến bà vợ ra tay cắt đứt của quý, tuy đã được nối lại nhưng hoạt động tiểu tiện và truyền giống không còn được như xưa.

Thứ hai, người vợ Kim Trần là người lo săn sóc cho 6 đứa trẻ mà nếu bà vào tù thì 6 đứa trẻ này sẽ mất đi tình mẫu tử thiêng liêng, gia đình sẽ tan vỡ để lại hậu quả điêu đứng cho những trẻ nhỏ. Do đó, tòa tuyên án 2 năm tù treo.

Tòa xử xong, tòa án…nhân dân mới cãi cọ. Dựa vào sự kiện bà Kim Trần đã trình bày trong nước mắt trước tòa là bà đã nài nỉ van xin chồng bỏ người tình trở về chung sống với vợ con mà ông vẫn say duyên mới không đoái hoài gì tới gia đình nên bà mới cắt vì quá thương yêu ông, Hội Phụ Nữ Chống Bạo Hành Với Phụ Nữ mà đại diện là bà Fatima Jaffer mới phát biểu: “Thật là bất công khi người chồng đi theo một phụ nữ khác mà bỏ rơi người đàn bà có con cái như vậy!”

Phía các ông phản pháo lại. Tiến sĩ Gerry của Hội Bảo Vệ Người Đàn Ông Bị Sách Nhiễu vùng Vancouver mỉa mai: “Thật kinh ngạc khi một người làm hành vi tệ mạt đến thế mà vẫn được quyền sống chung và săn sóc đám trẻ thơ.”

Một hội đực rựa khác, Liên Đoàn Các Người Đàn Ông vùng Lower Mainland tại Canada hỏi móc lại: “Chúng ta thử lấy ví dụ người vợ bị cắt mất một vú thì người chồng làm việc đó trong cơn cuồng nộ sẽ bị tòa án xử phạt ra sao?”. Ừ, không trả thù được vào cái chỗ đáng phải cắt mà không thể cắt được thì kiếm chỗ dễ cắt mà cắt chứ sao? Nhưng đã biết tìm tới điểm đáng cắt mà cắt như vậy thì bình tĩnh quá đi chứ, cuồng nộ ở chỗ nào? Trong ví dụ này, các ông đã xử dụng tới cái não, bộ phận mà Thượng Đế đã cấm dùng khi đã dùng tới cái thứ ở miệt dưới. Hóa ra Con Tạo thông minh tiên liệu hết mọi chuyện từ trước rồi.

Có thấy vụ cắt cái gò bồng đảo của vợ bao giờ đâu! Cũng rắc rối đấy chứ!

Anh chàng Tarzan mình trần chỉ có độc một cái khố trong rừng xanh tưởng một mình một cõi, thế mà cũng rắc rối. Chàng đã mất cái chỗ để giải thủy. Chẳng ai cắt cả, chỉ là một…chiến công!

Sau trận huyết chiến với chúa tể sơn lâm để dành quyền cai trị khu rừng già, cọp chúa bị hạ gục nhưng Tarzan bị thương nặng: mất một mắt, một cánh tay và…cái đó. Tất cả thú rừng bèn họp lại để quyết định cứu người hùng. Chim ưng tặng Tarzan một con mắt, đười ươi tặng một cánh tay và một chú voi con tặng chàng… cái vòi. Sau cuộc phẫu thuật tại bệnh viện, Tarzan trở lại rừng xanh, báo đen hỏi:

“Chẳng hay người hùng có bằng lòng với một thân thể mới như thế này không?”

Tarzan ngậm ngùi trả lời:
“Mắt chim ưng cho ta rất tốt, ta có thể nhìn được rất xa và rất rõ. Cánh tay của đười ươi cũng rất tốt, dài và khỏe. Chỉ duy có cái vòi của chú voi nhỏ tặng ta thì hơi bất tiện. Suốt ngày nó cứ vặt cỏ rồi nhét vào mông của ta!”

Song Thao

User avatar
Dau Do
Posts: 445
Joined: Sat Dec 11, 2004 3:00 am

Post by Dau Do »



Bâng Quơ

Thirty years ago, we had Steve Jobs, Johnny Cash and Bob Hope.
Now we have no jobs, no cash, and no hope.

-Unknown
Triệu người quen có mấy người thương

Post Reply