Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Niềm hy vọng của Miến Ðiện

Ngô Nhân Dụng

Bà Aung San Suu Kyi nói bà sẽ ra ứng cử, sẵn sàng “đánh cá” là chính quyền quân phiệt Miến Ðiện có ý định thật sự muốn tiến bước trên đường dân chủ hóa.

Ðây là một quyết định can đảm; thêm một biểu hiện của đức can đảm mà bà Suu Kyi từng chứng tỏ từ hơn hai chục năm qua.

Năm 1997 bà Suu Kyi hoàn toàn không tin tưởng nhóm quân phiệt; khi họ hứa sẽ cho phép bà trở về nếu đi London thăm ông chồng người Anh đang bị ung thư, chờ chết. Bà không đi, thà xa chồng còn hơn xa đất nước. Chính quyền Miến đã từ chối không cấp chiếu khán cho ông Michael Aris vào Miến Ðiện gặp vợ lần chót; mặc dù có lời yêu cầu của Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan, của Ðức Giáo Hoàng Gioan Phao Lô II, và các chính phủ Anh, Mỹ. Hai năm sau, ông qua đời, không được nhìn vợ, sau lần gặp cuối cùng vào năm 1995. Bà Suu Kyi cũng phải xa cách hai người con trai; mặc dù thời còn trẻ họ đã từng vào chùa, cạo đầu, sống theo phong tục Miến, cho tới năm 2011 họ mới được phép về thăm mẹ. Người phụ nữ này đã hy sinh tình cảm gia đình, vì một lý tưởng: Cứu nước khỏi nạn độc tài. Chế độ độc tài đã gây nên tình trạng chậm tiến, hơn 50 triệu dân sống trong cảnh nghèo đói nhất Châu Á, mặc dù khi còn sống dưới chế độ thực dân Anh Miến Ðiện vốn là một nước giàu nhất Ðông Nam Á.

Năm 1988 nghe tin thân mẫu, bà Khin Kyi đang lâm bệnh nặng, ngày hôm sau Aung San Suu Kyi bay về nước trông nom mẹ. Lúc đó bà chưa hoạt động chính trị. Trong 9 tháng cho tới khi mẹ qua đời, Suu Kyi chứng kiến cảnh đất nước suy vong, nhân dân nghèo khó và mất hết tự do. Trước giờ hạ huyệt, Aung San Suu Kyi đã phát nguyện trước linh hồn cha mẹ là bà sẽ tiếp tục công cuộc tranh đấu cho người dân Miến Ðiện được tự do, dù có chết cũng không ngần ngại. Từ đó, bà đã cương quyết ở lại quê hương tham dự cuộc tranh đấu đòi dân chủ như cha mẹ đã theo đuổi suốt đời. Ðó là một hành động can đảm đáng ngưỡng mộ.

Nước Miến Ðiện đã nếm mùi sống dân chủ sau khi được Anh trao trả độc lập năm 1947; ông Aung San thân phụ bà vốn là một lãnh tụ kháng chiến đã bị ám sát năm đó, thân mẫu bà nuôi ba con, có lúc đã đưa bà sang sống ở Ấn Ðộ, khi nhậm chức đại sứ ở đó. Aung San Suu Kyi mang tên cả mẹ lẫn cha, Suu là tên bà nội. Năm 1962, Tướng Ne Win đảo chính xóa bỏ chế độ dân chủ, với chiêu bài “xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa theo lối Miến Ðiện”. Ông tiếm quyền cho tới năm 1988 mới từ chức sau những cuộc biểu tình phản đối chế độ độc tài trên toàn quốc. Chính quyền vẫn nằm trong tay nhóm quân phiệt. Kinh tế Miến Ðiện xuống dốc, các quyền tự do bị tước bỏ, quốc gia bị cả thế giới tẩy chay, trừ các nước độc tài còn giao dịch; trong đó Trung Cộng đứng hàng đầu.

Suu Kyi đã trở thành ngọn hải đăng cho cả phong trào dân chủ ở Miến Ðiện, sau khi bà diễn thuyết lần đầu tiên lên tiếng đòi tự do dân chủ vào năm 1988, trước ngôi chùa Shwedagon nổi tiếng mà bà Clinton mới được đi thăm trong chuyến công du Miến Ðiện đầu tiên của một ngoại trưởng Mỹ kể từ năm 1955. Bà Suu Kyi cùng các người cùng chí hướng thành lập Liên Ðoàn Dân Tộc vì Dân Chủ (NLD), bà đi diễn thuyết khắp nơi, mặc dù bị chính quyền cấm đoán.

Chính quyền quân phiệt đã hứa hẹn thay đổi chế độ một lần năm 1990, tổ chức bỏ phiếu bầu Quốc Hội. Aung San Suu Kyi và đảng NLD đã tin tưởng và tham dự cuộc bầu cử này. Ðảng NLD thắng 60% số phiếu bầu và chiếm 80% số ghế trong Quốc Hội. Chính quyền quân phiệt đã trắng trợn bãi bỏ kết quả bầu cử, bắt giam các dân biểu đối lập, cấm NLD hoạt động. Bà Aung San Suu Kyi bị bắt giam nhiều lần. Cả thế giới văn minh đã tạo áp lực trên chính quyền quân phiệt đòi trả tự do cho Aung San Suu Kyi, trừ chính quyền Trung Quốc. Năm 2009 chính quyền quân phiệt quyết định quản thúc bà Suu Kyi 18 tháng, mục đích không cho bà tham dự cuộc bầu cử năm 2010. Các nước khối ASEAN tính lên tiêng kêu gọi Miến Ðiện trả tự do cho bà, nhưng bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam phản đối. Phát ngôn viên Lê Dũng nói Hà Nội luôn luôn ủng hộ chính quyền Miến Ðiện, kể cả quyết định quản thúc mới này.

Nhưng năm nay, nước Miến Ðiện đang biến chuyển. Các người lãnh đạo mới của nhóm quân phiệt đã đưa ra những hành động bầy tỏ thiện chí nới lỏng vòng kềm tỏa trên dân chúng. Họ đã thả một số tù nhân chính trị, cho phép các mạng lưới được tự do hơn, và đã chính thức mời bà Suu Kyi tái lập Liên Ðoàn Dân Tộc Dân Chủ, và tham dự cuộc bầu cử bổ túc sắp tới để điền khuyết 48 ghế dân biểu trong Quốc Hội bầu vào năm ngoái. Ngày bỏ phiếu chưa được quyết định, nhưng sau khi gặp lãnh tụ nhóm quân nhân, bà Aung San Suu Kyi đã quyết định sẽ ra tranh cử!

Các hành động có vẻ bất ngờ của các lãnh tụ quân phiệt thực ra đã được bắt đầu từ năm ngoái, khi họ đưa một người dân sự (tướng về hưu) ra làm thủ tướng. Chính phủ mới này đã bắt đầu nới lỏng tự do, sửa đổi đạo luật bầu cử để chứng tỏ thiện chí, chuẩn bị cho các bước tiến mới hiện nay. Khi đồng ý tham dự cuộc bầu cử, bà Aung San Suu Kyi đã giúp cho nhóm quân phiệt được tiếng tốt, và bà chấp nhận cuộc tranh đấu ở nghị trường giữa đa số các dân biểu “gia nô” do chính quyền tuyển chọn. Chắc phải có những dấu hiệu vững chắc từ phía các tướng lãnh mới khiến bà Aung San Suu Kyi chấp nhận cuộc “đánh cá” lịch sử này. Bà tuyên bố, “Tôi tin tưởng đa số nhân dân Miến Ðiện muốn diễn ra một cuộc dân chủ hóa bình an và hòa hài... Tôi nghĩ là một số người trong chính quyền bắt đầu nhìn thấy nước Miến Ðiện không thể tiếp tục con đường hiện nay được nữa.” Bà nhấn mạnh điều quan trọng là phải thiết lập một thể chế trọng pháp luật, quan trọng hơn cả việc thả tù nhân chính trị. Bởi vì dù thả hết tù nhân chính trị, nếu không tôn trọng luật pháp thì lúc nào họ cũng có thể bắt lại.

Cuối cùng, vì thấu hiểu lòng người dân, cho nên Aung San Suu Kyi quyết định tham dự cuộc đánh cá này bắt lấy một cơ hội với hy vọng dân chủ hóa đất nước. Một dấu hiệu của lòng dân Miến Ðiện thấy rất rõ là phong trào chống lại tình trạng Trung Quốc bành trướng thế lực trên quê hương họ. Lòng dân sôi sục qua các cuộc biểu tình khắp nơi khiến chính các tướng lãnh quân phiệt cũng bị động tâm, lòng yêu nước của họ được đánh thức dậy.

Từ hai chục năm qua, Trung Quốc đương nhiên chiếm độc quyền về ngoại giao và thương mại với Miến Ðiện khi các nước Âu, Mỹ cấm vận chính quyền quân phiệt để đòi thi hành dân chủ. Trung Quốc đã đầu tư với những dự án nhiều tỷ đô la Mỹ, để khai thác tài nguyên Miến Ðiện, trong đó có dầu lửa và khí đốt, gỗ rừng, ngọc thạch, vân vân, tổng số đầu tư đã trên 14 tỷ Mỹ kim. Trung Quốc mở hải cảng trên bờ Vịnh Bengal nhìn qua Ấn Ðộ Dương, một quân cảng đã khiến chính phủ Ấn Ðộ phản đối. Một đường ống dẫn hơi đốt đi từ vịnh Bengal lên tới tỉnh Vân Nam, giúp Trung Quốc nhập cảng năng lượng mà không phải đi qua đường biển vùng Ðông Nam Á. Trung Quốc hiện là nước giao thương lớn nhất của Miến Ðiện (cũng như của Việt Nam), đang tràn ngập thị trường nước này với hàng hóa Made in China. Các công ty Trung Quốc đã đưa mấy trăm ngàn công nhân sang làm việc ở Miến Ðiện, trong các khu khai thác rừng, mỏ, làm đường, xây đập, không khác gì ở Lào và Việt Nam. Nhưng vụ “Bô Xít Miến Ðiện khiến lòng công phẫn bùng nổ là vụ xây đập Myitsone, đe dọa sẽ thay đổi khung cảnh thiên nhiên cả lưu vực con sông Irrawaddy. Nhân dân Miến Ðiện đã biểu tình phản đối khắp nơi. Ngày 30 Tháng Chín, chủ tịch nước Thein Sein đã phải ra lệnh ngưng cả dự án này mặc dù Trung Quốc đầu tư 3.6 tỷ đô la, hy vọng sẽ sử dụng 90% điện lực do con đập đó sản xuất. Khi công bố quyết định ngưng dự án đập Myitsone, ông Thein Sein giải thích là làm “theo ý nguyện của nhân dân”. Chính quyền Trung Quốc đã sững sờ trước quyết định này, và lập tức tố cáo chính quyền Barack Obama nhúng tay xúi giục Miến Ðiện.

Nếu chính quyền Mỹ có can dự vào các quyết định gần đây ở Miến Ðiện thì cũng nằm trong chính sách chung của họ là trở lại vùng Á Châu Thái Bình Dương; như họ đã lên tiếng trong suốt hai năm qua. Trước sau, các chính phủ Mỹ đều theo đuổi chủ trương cấm vận Miến Ðiện để gây áp lực dân chủ hóa. Ông Obama đã nhanh chóng gửi bà Hillary Clinton sang Miến Ðiện khi thấy có dấu hiệu chính quyền nước này sẽ thay đổi, vì họ không chịu được áp lực của Trung Quốc trong khi nhân dân thì phản kháng.

Có những tín hiệu từ các lãnh tụ quân phiệt, trong đó có lãnh tụ tối cao Than Shwe, cho thấy họ đã cảm thấy “ngột ngạt” dưới sức ép của Trung Quốc. Ðám quân nhân cầm đầu Miến Ðiện không có những ràng buộc về “chủ nghĩa” hay “ý thức hệ” với đảng Cộng Sản Trung Quốc. Họ coi chế độ độc tài như một phương tiện để sử dụng quyền hành mưu đồ lợi ích cho bản thân và gia đình, chứ không vì muốn theo một chủ nghĩa bắt buộc phải chuyên chính. Cho nên họ có thể thay đổi chế độ nếu thấy có một con đường khác đạt được các mục tiêu cá nhân.

Các lãnh tụ quân phiệt biết rằng một chế độ độc tài quen bất chấp pháp luật sẽ có ngày làm hại chính họ hoặc con cháu họ. Không có gì bảo đảm một nhóm độc tài khác, trong 10 năm hay 20 năm nữa, sẽ tôn trọng những tài sản mà các nhà độc tài thời nay thu góp cho gia đình hưởng. Chỉ có một thể chế tôn trọng pháp luật mới bảo vệ quyền tư hữu lâu dài. Ðó có lẽ là lý do chính khiến nhóm lãnh tụ quân phiệt muốn thay đổi.

Bà Aung San Suu Kyi chắc biết rõ tình hình nội bộ của chính quyền quân phiệt cho nên đã tỏ ra tin tưởng họ muốn dân chủ hóa thật sự. Năm ngoái, đảng NLD còn tẩy chay không tham dự cuộc bầu cử Quốc Hội; năm nay, không những chấp nhận ra tranh cử, Suu Kyi còn chuẩn bị mở các trụ sở đảng ở nhiều nơi, sẽ xuất bản báo chí; để đòi các quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận phải được tôn trọng. Chúng ta mong ước bà sẽ thành công khi “đánh cá” tham dự vào diễn trình dân chủ hóa mà bà tin là có thật. Bà là niềm hy vọng của nước Miến Ðiện. Bà cũng mang hy vọng cho một Mùa Xuân Á Châu, đang tiếp theo sau cơn gió Xuân từ các nước Á Rập và Trung Ðông.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Dân Nga chán Putin

Ngô Nhân Dụng


Cuộc bỏ phiếu của dân Nga hôm Chủ Nhật vừa qua là bài học cho các chế độ độc tài còn sót lại trên thế giới: Ðừng bao giờ cho dân tự do bỏ phiếu! Bởi vì khi được tự do, dân sẽ bầy tỏ ý kiến thành thật, lúc đó thì quá trễ.

Ðảng của Thủ Tướng Vladimir Putin vẫn thắng và sẽ kiểm soát Quốc Hội (Viện Duma quốc gia), nhưng kết quả chưa được 50% dân tín nhiệm, mặc dù đã cố ý gian lận. Ông Putin mất mặt. Vì năm 2007 đảng Nga Thống Nhất chiếm gần hai phần ba số phiếu. Mất mặt hơn nữa vì Tháng Chín vừa rồi ông Putin mới báo tin sẽ “hy sinh ra ứng cử” tổng thống lần nữa, sau 4 năm tạm nghỉ “nhường ngôi” cho Dmitry Medvedev; vì hiến pháp không cho ông ngồi quá hai nhiệm kỳ liền nhau. Dù phe Putin chỉ “thắng nhỏ” như vậy nhưng hàng ngàn dân chúng vẫn đi biểu tình phản đối bầu cử gian lận. Tại thủ đô Moskva (người Nga đọc là Mátx Cơ Va), năm nay đến 10 ngàn người biểu tình, họ hô khẩu hiệu: “Putin là tên côn đồ, trộm cướp!” Người ta tố cáo thủ đoạn nhét thêm phiếu vô thùng phiếu. Có những đoàn xe buýt chở từng đoàn cử tri của chính quyền đi từ phòng phiếu này sang phòng phiếu khác. Có 400 đảng viên cộng sản cũng tham dự biểu tình mặc dù đảng này thắng 20% số phiếu. Họ tố cáo đây là một cuộc bỏ phiếu “nhơ bẩn nhất” trong lịch sử, ý nói còn nhơ bẩn hơn thời cộng sản! Còn hai đảng khác sẽ được vào Quốc Hội, một đảng “dân tộc chủ nghĩa” quá khích của Zhirinovsky và một thuộc loại “đảng bỏ túi” của ông Putin, như cụ Nguyễn Minh Cần gọi tên. Ðảng Nhân Dân đối lập mạnh nhất, do cựu Thủ Tướng Nemtsov cầm đầu đã bị gạt ra ngoài không được ứng cử. Hai đảng có khuynh hướng dân chủ tự do không được ghế nào vì không đủ 7% số phiếu. Tổng kết lại, đảng của ông Putin (mà ông không thèm vào làm đảng viên) bị hơn 50% dân gạt bỏ, dù ủy ban bầu cử đã cố ý gian lận. Ðây là một thất bại không thể che đậy được!

Có điều chắc chắn là ông Putin vẫn sẽ tái đắc cử tổng thống vào Tháng Ba sang năm; vì dân Nga không có ai khác để lựa chọn. Trong hơn 10 năm qua ông đã loại bỏ dần dần hết các đối thủ có khả năng thay thế ông, bằng đủ mọi cách, hợp pháp hoặc không hợp pháp. Kết quả cuộc bầu cử này là một thông điệp dân Nga gửi cho ông Putin: Chúng tôi chán lắm rồi!

Ông Putin vẫn cố giữ vẻ tỉnh bơ, nhưng hình ảnh mà ông cố dựng lên cho mình, như một lãnh tụ siêu việt được lòng dân hiện nguyên hình là một ảo tưởng, vỡ tan như bong bóng. Trong mươi năm ông tự tạo cho mình hình ảnh một lãnh tụ không ai thay thế được. Ông là người đã đứng lên đối đầu với Mỹ và Âu Châu; đã bảo vệ quyền lợi còn sót lại của đế quốc Nga Xô; người đã đe dọa các nước tách ra khỏi Liên Xô, đàn áp các nhóm thiểu số nổi dậy. Và cũng là người đã cầm quyền trong một thập niên kinh tế phát triển giúp cho giới trung lưu ở các thành phố tiêu thụ thỏa thuê. Hầu như ngày nào cũng có hình ảnh người hùng Vladimir Vladimirovich Putin trên ti vi. Tên được gọi là VVP cho gọn! Bộ máy tuyên truyền của Kremlim đã đưa ra những hình ảnh một ông Putin đấu võ, một Putin cởi trần cưỡi ngựa trên sườn núi ở Siberia, một Putin bắn cọp, hay đang bơi trong dòng sông lạnh sắp đóng băng; và một Putin đang lắng nghe các cụ già trò chuyện. Một thứ rượu vodka mang nhãn hiệu Putin bán rất chạy. Ông muốn lịch sử sẽ nước Nga ghi tên ông như một Ðại Ðế Peter của thế kỷ 21. Với các hệ thống truyền thông nắm trong tay, các báo đối lập bị đàn áp, ông Putin nghĩ sẽ đàng hoàng lên làm tổng thống thêm 12 năm nữa, tới năm 2024 mới về hưu, vào tuổi 71. Nhưng cả bộ máy tuyên truyền đã thất bại. Không thể lòe bịp người dân. Dân Nga đã thấy sự thật, và đã chán. Họ bỏ phiếu để nói sự thật; giống như đứa trẻ hồn nhiên kêu lên, “Ông vua không mặc quần!”

Trong tháng trước, ông Putin đã xuất hiện trên võ đài, để khen ngợi một võ sĩ người Nga mới thắng đối thủ người Mỹ. Ông tưởng đó là một thủ đoạn kích thích tự ái dân tộc sẽ được mọi người hoan hô. Nhưng nhiều khán giả đã lo ó, vài người hô lớn: “Cút đi! Cút đi!” Phát ngôn viên phủ tổng thống giải thích rằng lời kêu gọi đó nhắm vào võ sĩ người Mỹ; nhưng không ai tin! Bởi vì có ai cần phải đuổi một võ sĩ đã bị thua rồi? Ðó không phải là lần đầu tiên dân Nga công khai bầy tỏ nỗi bất mãn với chế độ Putin. Trong cuộc bầu cử các vùng và các thành phố vào Tháng Ba năm nay, đảng của Putin đã không thu được đa số phiếu tại bảy trong số 12 vùng. Ở hai nơi, Kirov và Kaliningrad, đảng Nga Thống Nhất không được 40% phiếu ủng hộ. Lúc đó dư luận thế giới không chú ý đến kết quả này, vì mọi người đang quan tâm đến nạn động đất và sóng thần ở Fukushima bên Nhật.

Lý do quan trọng nhất khiến Putin bị dân chán ghét là nạn tham nhũng. Người ta coi đảng cầm quyền là một lũ xôi thịt bám quanh Putin để cùng đục khoét nước Nga. Lên làm tổng thống, Putin đã sửa luật pháp, xóa bỏ quyền bầu cử của dân để ông ta bổ nhiệm các chức vụ như thống đốc các vùng và thị trưởng các thành phố lớn. Dân Nga đồn rằng giá một chức vụ như vậy là 50 triệu đô la Mỹ. Các chức giám đốc hạng trung giá nửa triệu đô la. Tham nhũng tràn ngập tất cả hệ thống giáo dục và các tổ chức y tế công cộng. Bà thị trưởng cố đô Saint Petersboug, thành phố lớn thứ nhì, đã được Putin bổ nhiệm từ 10 năm qua, dân Nga đồn hai người là tình nhân, rất giỏi trong việc dùng côn đồ phá các cuộc biểu tình đòi bầu cử; bà nổi tiếng về dùng công quỹ để làm giầu qua các cuộc đấu thầu. Trong bảng xếp hạng của tổ chức Minh Bạch Quốc Tế về tệ nạn tham nhũng, nước Nga đứng hàng thứ 154, cùng hạng với Kenya, Phi Châu.

Từ năm 2000 đến 2008, khi ông Putin làm tổng thống, dân Nga đã chịu đựng chế độ ăn cướp này vì kinh tế phát triển đều đặn, 7% mỗi năm, đưa mức sống của dân Nga lên, từ trình độ Việt Nam lên ngang bằng người Ba Lan. Nhưng phần lớn kết quả đó là nhờ giá dầu lửa tăng lên trên thị trường thế giới; mà dầu khí chiếm 50% số hàng Nga xuất cảng. Năm 2008 kinh tế thế giới xuống vì khủng hoảng, sang năm 2009 kinh tế Nga đã sa sút, tổng sản lượng nội địa đã giảm gần 8%. Trong thời gian 8 năm may mắn, ông Putin đã tập trung quyền kiểm soát nền kinh tế vào trong tay bè đảng, quốc hữu hóa trở lại một số xí nghiệp lớn, tạo ra một tầng lớp quý tộc mới chia nhau quyền hành và lợi lộc. Mặc dù dầu lửa là nguồn lợi lớn nhất cho ngân sách nhưng trình độ kỹ thuật vẫn không được cải thiện mà chỉ chú trọng đến việc chia phần khai thác với các công ty ngoại quốc. Hiện nay giá dầu đã xuống đến mức 100 đô la một thùng, mà nếu giá dầu ở mức dưới 115 đô la thì ngân sách chính phủ Nga sẽ thiếu tiền; trong ngân sách thu 40% là do thuế đánh trên dầu xuất cảng. Vì vậy năm nay đồng “Rúp” đã xuống giá không ngừng. Nếu giá dầu xuống tới 70 đô la thì đồng rúp sẽ xuống khiến giá thực phẩm và thuốc trừ bệnh tăng thêm 30%, vì hầu hết các món này đều nhập cảng. Mùa gặt năm nay nông dân đã thu hoạch gấp rưỡi năm ngoái, nhưng đồng rúp vẫn không lên được, vì hàng xuất cảng sang Âu Châu xuống thấp. Ngân hàng quốc tế HSBC báo động là số sản xuất công nghiệp ở Nga trong quý thứ ba đã xuống đến mức thấp nhất kể từ năm 2009, là năm kinh tế suy thoái. Cũng trong quý đó số dầu lửa xuất cảng cũng giảm bớt hơn 8%.

Trong thực tế, nước Nga đang xuống dốc vì chế độ độc tài tham nhũng. Những người có tiền và có khả năng đang tìm đường đi ra nước ngoài, và gửi tiền ra trước. Hồi Tháng Mười, Tổng Thống Dmitry Medvedev đã báo động về nạn “xuất não” khi có hai nhà khoa học Nga sang Anh Quốc làm việc, kéo theo rất nhiều đồng nghiệp. Ông Medvedev nói, “Chúng ta phải cố không để cho nhân tài ra đi!” Nhưng trong mười năm qua đã có hơn một triệu 250 ngàn người Nga ra đi, trong một nước với dân số 142 triệu và số dân đang giảm đi vì ít sinh sản, nạn ghiền rượu, và hệ thống y tế quá kém. Nhiều người tìm cách gủi con đi học nước ngoài, rồi không trở về. Giới trẻ có học là những người nóng lòng ra đi nhất. Một cuộc nghiên cứu dư luận hỏi ý kiến 5,000 sinh viên Nga ở Ðại Học Moskva cho thấy 80% muốn sống ở nước ngoài. Trong nước Nga của chế độ Putin họ không thấy tương lai! Cả giới tư bản cũng tìm đường chạy. Vì ở trong nước pháp luật không được tôn trọng, quyền nằm trong tay một thiểu số mà bọn này nắm toàn quyền; không có gì bảo đảm tài sản của họ sẽ giữ được. Sáu tháng đầu năm 2011, đã có 31 tỷ đô la tiền vốn chạy đi; tới nay số tiền vốn đi ra khỏi nước cao hơn số tiền vốn đi vào khoảng 70 tỷ đô la; lớn gấp đôi số khiếm hụt năm ngoái.

Tháng Chín vừa qua, trước khi ông Putin tuyên bố sẽ tranh cử tổng thống lần nữa, cựu Tổng Thống Nga Mikhail Gorbachev đã khuyên nên tự kềm chế, đừng biến nước Nga thành một thứ nước Phi Châu với các vị tổng thống cầm quyền vài ba chục năm. Ông Gorbachev so sánh tình trạng Nga hiện nay giống như những năm tệ nhất dưới thời cộng sản. Về mặt kinh tế, người Nga đang ví triều đại Putin như triều Tổng Bí Thư Leonid Brezhnev, một quãng thời gian 18 năm phẳng lặng; bên ngoài thấy yên ổn nhưng bên dưới là tình trạng kinh tế trì trệ, dần dần đưa tới sụp đổ toàn diện. Ông Putin không nghe lời khuyên đó, còn tuyên bố rằng ông muốn chứng tỏ cho dân Nga thấy ông luôn luôn đứng về phía họ. Chủ Nhật vừa qua, dân Nga đã lên tiếng cải chính: Không, họ không ở phía ông Putin. Sau khi sử dụng các mánh khóe gian lận, đảng của ông Putin chưa đạt được nửa số phiếu đi bầu.

Người Nga chắc sẽ không “làm cách mạng” nữa, vì họ đã chán cách mạng quá rồi. Nhưng nếu không thay đổi thì cả nước sẽ tiếp tục chịu đựng Putin thêm 12 năm như thời Brezhnev. Viễn ảnh đó thật kinh hoàng! Cho nên, khi có cơ hội bầy tỏ ý kiến bằng lá phiếu kín, người dân đã nói thật. Người dân cũng đã xuống đường chống bầu cử gian lận. Với thời tiết Mùa Ðông, các hành động phản kháng này khó tiếp tục để biến thành một phong trào Mùa Xuân Nga, như đã diễn ra ở Trung Ðông và Miến Ðiện gần đây. Nhưng với kinh nghiệm 70 năm cộng sản, không chế độ độc tài nào có thể đánh lừa dân Nga mãi được. Sẽ có ngày Mùa Xuân Nga trở về. Như Boris Pasternak mô tả, người ta không trông thấy lịch sử đang biến chuyển thế nào, cũng như không ai trông thấy cỏ đang mọc lên vậy mà Mùa Xuân vẫn tới.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Gian trá của Hà Nội

Võ Long Triều

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh cho Bộ Công An soạn thảo luật biểu tình đưa ra Quốc Hội thảo luận và biểu quyết.

Image
Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. (Hình: Hoàng Ðình Nam/AFP/Getty Images)

Một vài vị đại biểu khù khờ, như ông Hoàng Hữu Phước, đơn vị Sài Gòn, không hiểu vai trò của lập pháp, không thuộc biến chuyển thời cuộc trên thế giới, không ý thức được nhiệm vụ đại diện nhân dân của mình, do đó ông tuyên bố sàm bậy, lăng nhăng, nhiều điều vô ý thức và kết luận rằng: “Không cần luật biểu tình bởi vì Việt Nam chưa đủ trình độ dân trí.” Lời tuyên bố làm dư luận phê phán gắt gao. Tiếc thay, ông Phước không cô đơn, còn nhiều đại biểu dốt nát không kém ông, như Huỳnh Thế Kỳ (Phan Thiết), Ðặng Ngọc Nghĩa (Thừa Thiên), Nguyễn Thành Tùng (Bình Ðịnh) biểu đồng tình với ông bằng những lời phát biểu kém phẩm chất không đáng ghi lại. Các ông đại biểu kiểu nầy khiến Quốc Hội bị quần chúng khinh khi nhiều hơn ngoài tính “bù nhìn” của họ.

Trong phiên họp ngày 25 tháng 11, có hai lời tuyên bố của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng khiến nhiều người phải ngạc nhiên, đầu tiên là các đại biểu do “đảng cử dân bầu,” khi ông trả lời những câu chất vấn của 22 đại diện dân gởi hơn 30 câu hỏi, nhưng ông Dũng chỉ trả lời 2 vấn đề mà thôi.

Vấn đề thứ nhứt về luật biểu tình

Ông Nguyễn Tấn Dũng nói: “Các đại biểu Quốc Hội ngồi đây chắc thấy rõ có một thực tế trong cuộc sống hiện nay của chúng ta là nhiều đồng bào tụ tập đông người rồi biểu tình để bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị với chính quyền, Thực tế là như vậy.” Nhưng vì chưa có luật nên chính quyền khó thi hành nhiệm vụ của mình.

Thực tế có khi nào nhà cầm quyền Hà Nội áp dụng luật lệ hay tôn trọng Hiến Pháp của chính họ bày vẽ đâu. Kể cả tòa án là cơ quan cầm cán cân công lý mà cũng bất chấp luật lệ bằng cớ, công an bịt miệng Linh Mục Nguyễn Văn Lý trước tòa, thì bây giờ bày ra luật biểu tình để làm gì? Phải chăng để vịn vào đó giải thích tùy tiện, để buộc tội những ai không đồng quan điểm với nhà cầm quyền. Người dân hãy còn nhớ nhóm biểu tình chống Trung Quốc ngày Chủ Nhật hôm trước được giám đốc Sở Công An hoan nghênh là những người yêu nước. Chủ Nhật liền sau đó cũng nhóm người ấy, bị công an bắt, khiêng liệng lên xe còn đạp vào mặt và truyền hình báo chí nhà nước tố cáo họ là “phản động” và bị xúi giục. Các nhà trí thức danh tiếng trong cuộc phản đối, yêu cầu giám đốc đài truyền hình phải xin lỗi vì hai chữ “phản động” bằng nghĩa với “phản bội.” Nhà nước làm ngơ.

Có lẽ Nguyễn Tấn Dũng muốn phô trương cho mọi người, trong và ngoài nước, thấy Việt Nam cũng có luật pháp như mọi nơi.

Nhưng thực tế ngay cả Hiến Pháp, Ðiều 69 ghi nguyên văn: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo qui định của pháp luật.”

Thực tế nhà nước luôn luôn áp dụng những biện pháp trái ngược với hiến pháp của họ. Bằng cớ: Bàn luận chính trị ngược ý đảng và nhà nước là đi tù. Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Ðịnh, Lê Thị Công nhân, Nguyễn Tiến Trung, v.v... đã chứng minh. Báo chí phải theo lề phải nghĩa là, theo giáo huấn của Bộ Thông Tin. Nhà nước cấm Internet, kiểm soát gắt gao blogger. Nguyễn Tấn Dũng ra quyết định số 38 năm 2005 cấm tụ tập đông người, bây giờ lại ra lệnh cho công an soạn thảo luật biểu tình với mục đích gì? Phải chăng là gian ý dùng luật pháp để ràng buộc nhân dân hay giải thích tùy tiện đề vu cáo bắt bớ?

Vấn đề thứ hai về chủ quyền biển đảo

Ông Nguyễn Tấn Dũng nói: “Từ thế kỷ thứ 17 chúng ta làm chủ khi hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa chưa thuộc về bất kỳ quốc gia nào. Sau năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đống các đảo phía Ðông của quần đảo Trường Sa. Ðến năm 1974 Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý của chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã lên tiếng phản đối và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam của chúng ta lúc đó cũng tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng nầy.” Và ông nói tiếp, “Năm 1975 hải quân ta tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa do quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đang quản lý.”

Chỉ có thế thôi mà dư luận trong ngoài nước đổ xô bình luận vắn dài, suy diễn xa gần. Ký giả Mặc Lâm của đài phát thanh RFA hô hào “Vận Hội Mới,” chiến lược gia người Úc Carl Thayer suy đoán có thể Việt Nam thay đổi chính sách, cứng rắn hơn với Trung Quốc, bởi vì lần đầu tiên người ta mới nghe một đảng viên cao cấp, một nhà lãnh đạo có quyền lực công khai mở miệng nói “chính quyền Việt Nam Cộng Hòa” thay vì họ luôn luôn kinh sợ mấy chữ nầy, không bao giờ dám nhắc đến dù rằng Việt Nam Cộng Hòa được cả thế giới công nhận sau hiệp định Genève, cũng như công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở miền Bắc.

Bây giờ bí thế, bị người “đồng chí tốt,” “láng giềng hữu nghị” đè đầu đè cổ, hà hiếp quá đáng, trấn áp, bó buộc mọi bề nên Nguyễn Tấn Dũng phải công khai xác nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam Cộng Hòa mà các “đồng chí tốt” đã dùng vũ lực cướp đoạt trong tay của một chính quyền hợp pháp.

Tiếc rằng Nguyễn Tấn Dũng quên nhắc trong khi đó đồng chí Phạm Văn Ðồng của ông đã chính thức gởi công hàm thỏa thuận quyết định của Trung Quốc nới rộng lãnh hải của họ bằng cái lưỡi bò liếm trọn Biển Ðông. Ông Dũng cũng quên nhắc rằng khi Bắc Kinh cướp đoạt Hoàng Sa, Hà Nội im hơi lặng tiếng, vì đã tán đồng.

Bây giờ nại cớ, cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam mà các ông gọi là chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam “của chúng ta” có lên tiếng phản đối.

Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia không thể có hai chính phủ. Chỉ có một chính phủ được quốc tế công nhận, còn nhóm phản loạn Mặt Trận Giải Phóng, bị loại “ngoài vòng pháp luật,” tay sai của cộng sản Hà Nội mà Bắc Việt luôn chối cãi, bây giờ Nguyễn Tấn Dũng xác nhận cái gọi là Mặt Trận đó là “của chúng ta.”

Có người phê phán rằng ông Dũng muốn tự cho mình trong nhóm Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để xí phần ăn có rằng tôi, Nguyễn Tấn Dũng có phản đối Trung Cộng trong thời gian đó vì tôi cũng thuộc nhóm Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Thật hoang đường, ai cũng biết các ông từ xưa tới nay vẫn là một bè, một lũ, một loại đảng viên với nhau cả.

Tại sao mấy chục năm qua không có một người lãnh đạo cộng sản nào dám hé môi tố cáo Bắc Kinh cướp đoạt Hoàng Sa trong tay của Việt Nam Cộng Hòa?

Tại sao tàu Trung Cộng đụng chìm ngư thuyền Việt Nam ngay tại hải phận Hoàng Sa, bắt ngư dân đòi tiền chuộc mạng mà Nguyễn Tấn Dũng không dám nói động tới Bắc Kinh, buộc truyền thông báo chí trong nước phải gọi “tàu lạ”?

Phải chăng bây giờ nhờ thế cờ chính trị quốc tế có phần chuyển hướng do Mỹ bao vây Trung Quốc bằng cách liên minh với Úc Châu, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Nam Hàn, Philippines, v.v... Và Bắc Kinh xuống giọng hòa hoãn, bớt hung hăng, cho nên Hà Nội mới dám lên tiếng ồn ào chỉ với mục đích xoa dịu sự phẫn uất cực độ của dân chúng lên án “đảng hèn với giặc, ác với dân.” Sự thật rõ là như thế.

Bằng cớ câu hỏi của đại biểu Lê Bộ Lĩnh đặt ra là: “Những giải pháp cụ thể nào mà chính phủ sẽ thực hiên trong thời gian tới để bảo vệ chủ quyền biển đảo của chúng ta”?

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng không đáp đúng ý câu hỏi, không đưa giải pháp cụ thể nào cả mà chỉ nói Trung Quốc cướp Hoàng Sa trong tay của Việt Nam Công Hòa và hứa sẽ đàm phán. Hai chữ đàm phán nghe đã nhàm chán, có phải đàm phán theo kiểu hai bên đàm phán về biên giới Bắc Việt không? Trung Quốc buộc Hà Nội phải dời cột mốc, nhường Bản Giốc, lấn rừng Việt Nam?

Tóm lại Nguyễn Tấn Dũng mượn diễn đàn Quốc Hội để chạy tội hèn với giặc và thừa cơ, cũng muốn chứng tỏ không phải một mình Trương Tấn Sang dám nói cứng với Trung Quốc và chiều ý dân tố cáo “bầy sâu tham nhũng” trong đó Nguyễn Tấn Dũng là sâu chúa.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Chế Linh bị hủy show: Vì hối lộ không đẹp hay vì chính trị?
Thursday, December 08, 2011 4:00:02 PM

Sau hai tuần bỏ phiếu, đa số độc giả Người Việt Online cho rằng lý do Chế Linh bị hủy show là vì “Hối lộ không đẹp với các cơ quan chức năng.”

Image
Chế Linh mặc đồ lính trên sân khấu Asia: Có độc giả cho là vì nhạc lính mà Chế Linh bị hủy show,
lại có độc giả cho rằng đã mặc đồ lính lên sân khấu, mà về Việt Nam, là phản bội.

Trong số hơn 2000 phiếu bầu, có tới 66% (1415 phiếu) chọn câu trên để trả lời câu hỏi “Vì sao Chế Linh bị hủy show.”

Hai chọn lựa khác chỉ được vài trăm phiếu:

“Trâu buộc ghét trâu ăn nên bị phá đám” được 519 phiếu tức 24%.

“Bầu sô vi phạm luật biểu diễn của Việt Nam” được 91 phiếu, vỏn vẹn 4%. Ðây lại là nguyên nhân chính thức được giới chức thẩm quyền đưa ra.

Ðặc biệt là có tới 128 phiếu, tức 6%, chọn “Ý kiến khác.”

Một trong những “ý kiến khác” đó, có lẽ là ý kiến cho rằng Chế Linh bị cấm vì bị mang tiếng là người hát nhạc lính.

Ðộc giả Thanh Ucraina khẳng định lý do Chế Linh bị hủy show là vì chính trị. Ðộc giả này trích dẫn việc Chế Linh hay hát nhạc lính, và nói:

“Chế Linh là ca sĩ chuyên hát ca ngợi về người lính VNCH nên bị hủy show là phải, đây chỉ là cái cớ, thực chất mang động cơ chính trị. Người khác được, Chế Linh thì không.”

Ðộc giả Nguyen Thanh Hung cũng nghi nghi: “Chắc có liên quan tới vấn đề chính trị.”

Ðộc giả Tony Nguyen cũng suy nghĩ tương tự:

“Lý do đơn giản là làn ranh Quốc Cộng vẫn còn nặng nề trong lòng dân tộc, và đặt biệt là đối với giới lãnh đạo của VN ngày nay. Có ai hát nhạc lính VNCH nhiều như CL? Hình ảnh của CL luôn gắn liền với bộ đồ lính trận VNCH trên sân khấu đến nỗi nhiều người lầm tưởng CL từng là lính VNCH. Ðể một người như CL về VN hát quả là quá bẽ mặt cho nhà cầm quyền. Ðặt ngược lại, hải ngoại có thể chấp nhận một ca sĩ trong nước chuyên lên sân khấu với bộ đồ bộ đội và nón cối ra hải ngoại hát không? Ðơn giản chỉ có thế thôi. Chúng ta không thể trách CL về VN ca hát được. CL cũng làm điều mà hầu hết các ca nghệ sĩ hải ngoại đã làm đó thôi. Có điều CL đã quá ‘nhu nhược’ và để nhà cầm quyền quay như con vụ mà không tỏ thái độ.”

Ðộc giả Phong Nam ở miền Bắc cũng đặt câu hỏi có phải vì “nhạc lính” mà Chế Linh bị cấm:

“Nói thật với các bạn là Chế Linh không có trong tủ nhạc hiện nay của tôi nhưng tiếng hát Chế Linh đã thắm vào tim máu của người dân già trẻ gái trai Việt Nam, đặc biệt là dân miền Bắc, nhất là ‘bộ đội cụ Hồ.’ Tiếng hát Chế Linh diễn cảm thế nào mà trong nhà người dân và cán bộ miền Bắc nước ta lúc nào cũng mở băng đĩa Chế Linh hát. Ngay cả 1 “ủy viên trung ương đảng” (trước đây là đảng viên thành ủy Tuy Hòa) trong xe lúc nào cũng yêu cầu tài xế mở nhạc Chế Linh hát mà phải hát bài “Trên 4 Vùng Chiến Thuật” cơ! Ðây lại cũng chính là lý do Chế Linh bị cấm hát ở VN lần này chăng?”

Nhưng nhiều độc giả khác lại lấy việc Chế Linh hay hát nhạc lính để cho rằng ông đã trở cờ. Ðộc giả lấy tên “Người Việt tị nạn CS” viết:

“Khi mới vượt thoát ra khỏi nước thì hát những bài chống Cộng, ca ngợi tình người chiến sĩ VNCH và được nuôi dưỡng bởi người Việt tị nạn CS. Bây giờ biết đã già, tài năng trên đà đi xuống theo thời gian... luồn cúi, chui lòn trở về phục vụ chế độ phi nhân bán nước để kiếm chút tiền cuối đời.”

Ðộc giả Ho Dam Tac:

“Có ai còn nhớ lần Chế Linh tham gia biểu tình ở Canada, lúc đó Chế Linh đóng vai người tù ngồi trong khung cũi của bọn CSVN, thế thì chưa bị ngồi tù thật cũng là may lắm rồi, mong sao Chế Linh hãy nhớ lại vì sao mà các show diễn của mình bị gặp khó khăn là đúng rồi.”

Ðộc giả D.V.Oanh:

“Nói làm gì hoài với cái bọn ca nghệ sĩ phản thùng. Hồi mới chạy khỏi nước thì nói hăng lắm, bây giờ theo bám gót bọn VC có bị bọn chúng nó chơi thì cũng đáng đời cho bạn ca sĩ phản thùng. Ðừng nhắc đến cái bọn nầy nữa đọc hoài chán lắm.”

Ðộc giả Nguyễn Tâm Tri (Ottawa) viết:

“Cách duy nhất để mình còn chút danh dự là không nên về Việt Nam với tư cách chính thức như thế. Vô tình, mình cũng có thể vướng vào một cái tội: góp phần vào cuộc chiến thắng của những người theo chủ nghĩa cộng sản tàn bạo. Chế Linh cũng như những ca sĩ VN ở hải ngoại, nếu có tấm lòng yêu quá khứ đã tạo nên cái danh của mình ngày nay, nếu có lòng biết tôn trọng và trân quý quá khứ này, nên chọn con đường: Không Nên Về VN! Cách làm việc hiện nay ở VN không đáng cho chúng ta mất thì giờ và công sức để rồi cũng chỉ mua được hai chữ: thất vọng!”

Ðộc giả Phi mượn lời an ninh văn hóa:

“Tôi thấy hủy bỏ show diễn là biện pháp quá nhẹ. Nên nhốt và cải tạo đám ăn không ngồi rồi nầy đi cho rồi. Hát nhạc ‘lính chê’ tuyên bố ‘chống cộng’ hà rầm trên TV, DVD, Ðài PT rồi lại về VN hát hò nhạc trước 75. Nếu không là “diễn biến hòa bình” thì cũng tuyên truyền, đầu độc, ru ngủ (trước là lính, nay là bộ đội). Ít nhứt tôi cho là có ‘ý đồ.’ Thử hỏi đám ‘ca sĩ hải ngoại’ có ai theo hoặc trung thành với chế độ XHCN hay không? Hãy xét lại và nhốt cả lũ chúng đi để trừ hậu hoạn.”

Ðộc giả Saigon Tự Do hỏi tại sao muốn hát ở Việt Nam làm chi cho bị “hành là chính”:

“Tại sao đang ở xứ tự do muốn hát bài nào thì hát, muốn mặc gì thì mặc khi trình diễn lại về VN chịu cúi đầu xin xỏ để được CS cho hát là sao? Tại sao lại muốn chui vào ngục tù vậy?”

Ðộc giả Nguyễn Thị Huyền Châu đau xót với kỷ niệm về nhạc trước 75:

“Khi nghe tin Chế Linh về VN biểu diễn tôi hơi buồn, gần như là hụt hẫng. Vì ai cũng biết khi nói đến Chế Linh là gắn liền với đời lính phong sương, lính VNCH những người bạn, những người tôi yêu đã ngã gục trên chiến trường, những người bạn, những người thân của tôi trong những nhà tù cải tạo của CS. Nỗi đau không bao giờ lắng xuống trong tôi. Bao giờ cũng như còn quá mới. Ðau nhức. Tôi không hỏi tại sao anh làm thế. Càng ngày các ca sĩ hải ngoại càng có khuynh hướng ‘trở về.’ Ai trong chúng ta không có niềm khao khát đó? Ngày trở về quê hương thăm lại mái nhà xưa, ngôi trường cũ, nhưng nơi chúng ta khi ra đi đã bỏ lại biết bao nhiêu kỷ niệm. Cho nên tôi không bao giờ nỡ trách những người quay về. Tôi chỉ biết buồn. Khi còn ở VN những dĩa nhạc hải ngoại phát hành gần như là công khai. Ðêm đêm qua ngõ nhà tôi, người ta đẩy những chiếc xe trong thùng có gắn cặp loa từ đó phát ra những bài hát mà CS cố gắng ‘giết chết’ sau năm 75 với tên gọi... ‘nhạc vàng,’ nhưng như một điều kỳ diệu những cố gắng của bọ chúng trở thành bất lực. Không phải chỉ những người dân miền Nam mà những người Bắc Ðược Giải Phóng đều say sưa theo tiếng nhạc lời ca. Cái âm điệu giọng ca của các ca sĩ miền Nam hát giọng Bắc thường khó chuẩn hơi cứng một chút nhưng ngọt ngào, thánh thót. Tôi không chê những giọng ca phía Bắc được ‘rèn’ từ các ‘lò’ chính quy họ được dạy theo trường lớp cách phát âm, cách ngân nga luyến láy rất chuẩn mực nhưng trong đó cái ‘hồn’ nhạc đã không có hoặc họ đã không thổi được ý nhạc vào bài hát cho nên người ta vẫn thích giọng ca ngọt ngào của Hương Lan, Thanh Tuyền, Chế Linh, Nhật Trường... Thanh Lam, Hồng Nhung, Quang Thọ không thể nào hát nhạc Trịnh tôi không hiểu sao họ lai thích cái lối gọi vắn tắt nầy. Riêng tôi sau 1975, tôi không còn thấy hứng thú để nghe Trịnh Công Sơn mặc dù lịch sử còn mơ hồ về Trịnh Công Sơn ‘nằm vùng.’ Mỗi lần biết thêm một người từng ‘ăn cơm quốc gia’ lại thờ ma CS tôi lại đau nhói. Vâng tôi chỉ có quyền đau nhói chớ còn biết làm gì hơn? Tôi đau vì những người bạn những người tôi yêu đã không bị kẻ thù bắn gục đằng trước mà lại bị đâm sau lưng.”

Ðộc giả Christine phát biểu:

“Chế Linh là ca sĩ có tên tuổi nên mỗi bước đi của ông đều có ảnh hưởng nhất định. Tuy nhiên, ảnh hưởng ra cả Hà Nội thì chỉ ngạc nhiên với một số người. Việc để cho tên tuổi này gặp phiền toái là chuyện phải xảy ra. Chỉ buồn cho mối lương duyên của ca sĩ và khán giả gặp trắc trở. Ðừng nản chí.”

Ðộc giả lấy tên “Het Ngu Chua” so sánh CSVN với VNCH:

“CSVN nổi tiếng lọc lừa. VNCH cũng tham nhũng nhưng không tham tàn như CS. Nghệ sĩ hải ngoại hay ở trong nước thì cũng chỉ mê tiền và lậu thuế kể cả MC... hay nhà báo... HO một số đông còn về VN ăn chơi thì thôi ta xin nhận xứ Mỹ làm quê hương... Phở ở VN thua xa ở Mỹ và ăn vào thiếu vệ sinh hoặc tiêu chảy. Vậy thì ở VN còn gì ngoài kiếm thật nhiều tiền...”

Ðộc giả Ca khen ngợi ca sĩ Chế Linh và lấy làm buồn là khán giả trong nước không được nghe giọng hát này:

“Nói đến ca sĩ Chế Linh tôi rất là hâm mộ, tại sao mọi người không nghĩ lại, nếu mọi người không được may mắn như những người còn đang ở lại VN, thì mong mỏi được nghe tiếng hát của Chế Linh bằng người thật và giọng hát thật. Chắc tại mấy năm qua mọi người đã nghe nhàm chán rồi nên không còn hâm mộ nữa. Nhưng tại sao ca sĩ từ VN qua thì mọi người hưởng ứng vậy thì Chế Linh về VN ca cho khán giả nghe thì có tội gì đâu, tại sao những ca sĩ trẻ sau này đi đi về về có ai biểu tình không? Chẳng hạn như Minh Tuyết, Phi Nhung và nhiều ca sĩ trẻ khác nữa sao không thấy mọi người chửi bới hay tại vì họ trẻ đẹp là là phái nữ nên không nói lại đi nói một ông già 70 tuổi, còn mang tiếng hát cho mọi người được bao lâu nữa. Ở xứ Mỹ cuộc sống rất là thoáng mà sao suy nghĩ của mọi người gắt gao quá, thong thả chút đi.”

Từ diễn đàn này, độc giả Thương và Ghét tóm tắt luôn thành tính cách của người Việt Nam bằng một ý kiến rất vần vè:

“Người Việt Nam có cái hay là chửi không hay không ăn tiền. Chuyện trên mây hay dưới trần... tui chửi, anh chửi, ai đứng ngửi, tui xô vào, ai không chịu thì đừng lải nhải, ai còn lì, tui chửi láng, ai không ngán, cứ việc làm tàng, ai ngỡ ngàng, thì đừng lóng ngóng, ai cố chống tui bẻ làm đôi, ai lôi thôi, cứ việc chống... không tin thì cứ đi thân cộng, nếu có thì hãy mau dông, không dọn đồ xong thì tui đây chửi tiếp... không khiếp ấy mà không thôi... (cho xin ly nước... anh em nào yêu nước, xin giúp một tay).”

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Trung Quốc vẫn hận Na Uy vì giải Nobel cho Lưu Hiểu Ba

BẮC KINH (AFP) - Trung Quốc hôm Thứ Sáu cho biết mối giao hảo với Na Uy vẫn còn “khó khăn”, một năm sau khi giảm mức độ liên hệ ngoại giao
với Oslo để trả đũa việc giải Nobel Hòa Bình được trao cho nhà tranh đấu hiện đang bị cầm tù Lưu Hiểu Ba (Liu Xiaobo).

Image
Bức hình của nghệ sĩ Liu Xia chụp chồng bà, ông Lưu Hiểu Ba (Liu Xiaobo), trưng bày trong cuộc triển lãm ảnh tại Boulogne-Billancourt, ngoại ô Paris.
Cho tới nay, chính quyền Trung Quốc vẫn còn giận Na Uy vì Ủy Ban Nobel trao giải Hòa Bình cho ông Lưu. (Hình: Mehdi Fedouach/AFP/Getty Images)



“Các khó khăn giữa Trung Quốc và Na Uy xảy ra vì chính phủ Na Uy có quyết định sai lầm khi Ủy Ban Nobel Hòa Bình trao giải cho Lưu Hiểu Ba,” theo lời phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Hong Lei.

“Chúng tôi hy vọng phía Na Uy sẽ có các nỗ lực thực tế để tái lập sự phát triển trong mối quan hệ song phương,” ông Hong Lei nói với báo chí.

Lời phát biểu này được đưa ra trong khi có sự kiện năm người từng đoạt giải Nobel Hòa Bình cùng khởi sự cuộc vận động đòi tự do cho ông Lưu Hiểu Ba, nói rằng họ lo ngại Bắc Kinh bóp nghẹt tiếng nói của gia đình và bè bạn khiến thế giới sẽ quên đi hoàn cảnh của ông.

Ông Lưu, công dân Trung Quốc đầu tiên đoạt giải Nobel Hòa Bình, bị tuyên án 11 năm tù vào năm 2009 sau khi ký vào bản Hiến Chương 08, một tuyên ngôn có chữ ký của nhiều ngàn người đòi hỏi có dân quyền trong quốc gia cộng sản này.

Quyết định trao giải Nobel Hòa Bình cho ông Lưu đã khiến giới lãnh đạo Bắc Kinh hết sức giận dữ, đưa đến việc ngưng thảo luận với Oslo về một thỏa thuận tự do mậu dịch và ra lệnh kiểm soát khắt khe việc nhập cảng cá salmon từ Na Uy.

Năm thành viên của Hội Ðồng Giải Nobel Na Uy, những người có nhiệm vụ chọn người được trao giải, do Quốc Hội Na Uy bổ nhiệm nhưng hoàn toàn độc lập với chính phủ và Quốc Hội Na Uy. (V.Giang)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Dân Chủ ích lợi gì?

Ngô Nhân Dụng

Ở các nước dân chủ, mỗi lần có một cuộc vận động tranh cử, người ta lại thấy nhiều bất mãn về không khí chính trị.

Như cuộc vận động tranh cử hiện đang diễn ra ở nước Mỹ chẳng hạn. Ngược lại, tại một nước độc tài, một cuộc bầu cử hơi tự do một chút cũng khiến mọi người thêm tin tưởng rằng cơ chế chính trị dân chủ hy vọng sẽ giúp quốc gia sẽ tiến bộ hơn. Như tình trạng ở Nga trong mấy ngày nay. Chế độ dân chủ giống như một cái bánh: Ðược nếm một chút thì người ta thèm muốn ăn nhiều hơn; nhưng khi được ăn mãi thì lại dễ thấy chán!

Sang năm nước Mỹ mới có bầu cử tổng thống và Quốc Hội. Nhưng không khí chính trị đã sôi nổi, hào hứng nhờ các nhà chính trị bên đảng Cộng Hòa đang giành nhau để được đảng đưa ra làm ứng cử viên tổng thống. Một tháng nữa mới có những cuộc bầu cử sơ bộ ở Iowa nhưng từ nửa năm nay đã có hàng chục nhà chính trị rất sáng giá vận động hòng được đảng đưa ra đối đầu với đương kim Tổng Thống Barack Obama. Hãy tạm coi họ đều là những ứng cử viên tổng thống. Với tình trạng kinh tế đang trì trệ và khó hy vọng khá lên nhiều trong 12 tháng tới, ai chính thức được làm ứng cử viên Cộng Hòa sẽ hy vọng được làm tổng thống nước Mỹ từ năm 2013.

Nhưng chính cuộc vận động sôi nổi này làm nhiều người thấy chán nản. Theo dõi các cuộc tranh luận của họ, có những vị ứng cử viên tổng thống làm người ta phát chán. Nhiều người Mỹ tự hỏi: Cái ông (hay bà) này mà sẽ làm tổng thống của tôi hay sao? Thí dụ như ông Herman Cain, nhà triệu phú chủ nhân nhiều tiệm ăn thành công, có tài ăn nói, có lúc đã vượt lên đứng hàng đầu. Ông đưa ra một chính sách thuế rất giản dị, ai cũng hiểu được, gọi là “999,” ba thứ thuế cái nào cũng đánh 9%. Ai cũng biết các suất thuế như vậy sẽ làm ngân sách chính phủ Mỹ thiếu tiền tiêu, nhưng nếu có ai đặt câu hỏi thì ông Cain coi như chuyện đó không quan trọng! May mắn cho đảng Cộng Hòa, có đến 4 phụ nữ xuất hiện tố cáo ông đã sách nhiễu tình dục họ; rồi chính ông cũng thú nhận đã từng ngoại tình. Sau cùng ông Cain phải rút lui, ai cũng thở phào nhẹ nhõm.

Một ứng cử viên sáng giá khác là ông Rick Perry, thống đốc tiểu bang Texas. Ông có những khẩu hiệu rất hay, dựa trên thành tích đã quản trị thành công trong một tiểu bang vào hạng lớn và giầu nhất nước Mỹ. Có lúc ông đã vượt lên chạy hàng đầu, qua mặt cả Mitt Romney và Newt Gingrich; được coi như niềm hy vọng của đảng. Nhưng bây giờ ông đã xuống, rất thấp. Ông Perry có cái tật hay quên một cách thảm hại, đặc biệt là quên tên! Ðãng trí một lần thì dễ được bỏ qua, vì ai cũng có lúc quên; nhưng quên đến mấy lần, quên toàn những chuyện quan trọng, thì những người ủng hộ ông cũng phải lo! Một lần, lên ti vi tranh luận với các ứng cử viên khác, ông trình bày dự án chính trị sẽ thi hành khi lên làm tổng thống: Chính phủ liên bang to lớn quá, phải cắt bớt (Ai cũng đồng ý!). Cho nên Tôi, Perry, sẽ xóa bỏ bớt ba bộ trong chính phủ Mỹ. Thứ nhất là Bộ Thương Mại; thứ hai là Bộ Giáo Dục; và thứ ba là bộ... bộ nào nhỉ, quên mất rồi!

Mới ngày hôm qua, ông Rick Perry lại biểu diễn tính đãng trí một lần nữa. Ðang đi vận động ở Iowa, nói chuyện với ban biên tập tờ báo lớn nhất tiểu bang, The Des Moines Register, ông Perry chỉ trích Tổng Thống Obama đã Ðề Cử Hai Thẩm Phán Tối Cao, “thí dụ như là...” Nói tới đó ông Perry lúng túng nghĩ không ra cái tên vị thẩm phán này. Ông tự hỏi thầm, nhưng ai cũng nghe thấy, “Không, không phải là Montemayor...” Một nhà báo có hảo ý nhắc tên vị nữ thẩm phán: “Sotomayor.” Ông Perry sung sướng nhắc lại: “Sotomayor, đúng, Sotomayor.” Sau đó, ông chỉ trích các quan tòa Tối Cao Pháp Viện đã can thiệp vào “quyền tự do cầu nguyện” ở trong các trường học. Ðó là một đề tài rất hấp dẫn. Cho nên ông lên tiếng phản đối “Tám vị thẩm phán tối cao không do dân bầu ra; thành thật mà nói, họ không chịu trách nhiệm với ai hết!” Ý kiến này sẽ được nhiều người đồng ý. Chỉ có một điều bất ổn, là Tối Cao Pháp Viện nước Mỹ xưa nay vẫn có chín vị thẩm phán. Ðề tài Tối Cao Pháp Viện là do ông Perry chọn, để ông phê phán định chế này. Tôn giáo là một lãnh vực ông được rất nhiều người tán thưởng. Vậy mà ông quên cả con số 9 người hay 8 người. Nhiều người sẽ tự hỏi: Sao ông không chịu học trước khi lên trả bài?

Chắc cuối cùng ông Rick Perry khó qua mặt được Mitt Romney và Newt Gingrich để giành lấy vai trò ứng cử viên chính thức của đảng Cộng Hòa. Nhưng các màn biểu diễn tính hay quên khiến nhiều người đã thất vọng về khả năng chính trị của ông. Và nếu ông cứ tiếp tục vận động thêm vài tháng nữa, có lúc người ta sẽ thất vọng cả về những chuyện tranh cử và bầu cử sơ bộ. Liệu hai chính đảng lớn ở Mỹ không tìm ra cách nào khác để chọn một ứng cử viên chính thức hay sao?

Chưa hết, hãy chờ đến sang năm. Khi đảng Cộng Hòa chọn xong rồi, cuộc tranh cử giữa ông Barack Obama với, hoặc ông Mitt Romney hoặc ông Newt Gingrich, sẽ diễn ra với những cảnh đấu đá, chê bai, bới móc và có khi bôi bẩn nhau rất nặng nữa. Dân chúng sẽ còn chứng kiến nhiều cảnh không phải lúc nào cũng hay ho, đáng ngưỡng mộ. Vậy mà, sau cùng, một trong mấy người đó sẽ lên làm tổng thống cai trị dân Mỹ trong bốn năm! Có cách nào khác hay không?

Nhưng khi nhìn lại những vị tổng thống được kính trọng nhất trong lịch sử Mỹ, như ông Lincoln, như hai ông Roosevelt, ta thấy ông nào cũng đều đã trải qua những cuộc tranh cử giống y như vậy cả! Ðọc lịch sử nghe những điều các đối thủ bôi nhọ ông Lincoln, phải thấy là kỳ lạ!

Chế độ Dân Chủ có một khuynh hướng kỳ lạ này, là rất thích phơi bầy những cái xấu của mình! Sống giữa các cuộc vận động tranh cử, nhiều người phải phát chán. Một người quan sát ngoại quốc sẽ lại đặt câu hỏi: Có cách nào khác (coi lành mạnh và sạch sẽ hơn), để chọn một người cai trị quốc gia hay không?

Ở một nước độc tài thì khác hẳn. Chế độ độc tài rất giỏi trong nghề che đậy, giấu diếm. Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại. Dân chúng biết càng ít càng tốt!

Thử nhìn ông Vladimir Putin mà coi. Ông ta chỉ xuất hiện trước công chúng để đóng trò một người hùng; chỉ thua Thống Chế Stalin ngày xưa mà thôi! Putin bắn súng. Putin đấu võ. Putin cưỡi ngựa (cởi trần, khoe bộ ngực lực sĩ). Putin lái máy bay, lái cả tầu ngầm. Putin đứng giữa đoàn nữ vệ binh (các cô y phục rất khiêm tốn). Ðầy rẫy trên truyền hình, trên báo, trên màn ảnh lớn, trên cả nhãn hiệu Vodka. Ông Putin còn được các đồng chí Trung Quốc chọn trao giải Hòa Bình mang tên ông Khổng Tử nữa!

Trước đây hai tháng cả nước Nga và cả thế giới chỉ thấy một chính quyền Putin vô địch, được toàn dân ngưỡng mộ, kính yêu, không ai thay thế nổi; sang năm ông chắc chắn sẽ làm chúa tể Ðiện Kremlin thêm 12 năm nữa. Ai than vãn hay tỏ ý nghi ngờ sẽ bị công an mật vụ hỏi thăm, nhiều nhà báo can đảm đã mất mạng.

Nhưng chỉ cần cho dân chúng bỏ phiếu tự do hơn một chút, bầu không khí đã thay đổi. Tự nhiên hàng chục ngàn người dân bỗng thấy họ mạnh dạn hơn. Họ dám xuống đường tố cáo bầu cử gian lận! Một phụ nữ nói, “Trước đây tôi không bao giờ đi biểu tình. Vì sợ cũng có, mà còn vì tôi nghĩ đi biểu tình cũng chẳng thay đổi gì được. Nhưng bây giờ khác. Chủ Nhật này tôi sẽ đi biểu tình!” Một người dân bình thường bỗng thấy can đảm. Vì bắt đầu tin tưởng vào những quyền tự do căn bản của thể chế tự do dân chủ: Tự do hội họp; và tự do phát biểu. Chắc những quyền đó phải hấp dẫn, phải đưa tới những kết quả tốt hơn tình trạng độc tài! Một điều chắc chắn: Những người Nga đi biểu tình ngày mai, Chủ Nhật 11 tháng 12 năm 2011, đều mong muốn đất nước họ được tự do dân chủ hơn.

Ðể làm gì? Tất nhiên, để cuộc sống kinh tế, xã hội tốt đẹp hơn. Ðể con cháu họ sống hạnh phúc hơn. Nhưng, sẽ đến ngày nước Nga tự do dân chủ thật, các cuộc bầu cử sẽ có nhiều ứng cử viên tham dự, họ sẽ tranh luận với nhau trước công chúng, cãi nhau như mổ bò, y như ở Mỹ bây giờ. Và sau đó nhiều người sẽ thất vọng, sẽ tự hỏi: Có cách nào khác để chọn người cai trị mình hay không?

Nhưng chúng ta biết, chế độ dân chủ tự do không bảo đảm sẽ tìm ra những người lãnh đạo tốt nhất, giỏi nhất, đẹp trai hay xinh gái nhất nước để trao quyền. Dân chủ tự do là một chế độ không hoàn hảo, và không hứa hẹn những kết quả hoàn hảo. Dân chủ tự do không cam kết sẽ tạo ra một xã hội “lý tưởng” - như các chủ nghĩa viển vông thường mê hoặc những người dại dột.

Vậy thì đâu là giá trị đặc biệt của thể chế dân chủ tự do khiến loài người đã mất bao công tranh đấu, theo đuổi, muốn thực hiện bằng được? Hiện nay ở nước Miến Ðiện người ta cũng náo nức đặt những viên đá đầu tiên xây dựng con đường tự do dân chủ cho các thế hệ tương lai. Nhiều người dân các nước Á Rập cũng đang hào hứng xây dựng xã hội mới dân chủ tự do hơn.

Ưu điểm của chế độ tự do dân chủ là nó tạo ra một cái khung, cái sườn cho cuộc sống chung; để giới hạn quyền hành của những người đóng vai cai trị. Khi sống trong khung cảnh pháp lý đó, có thể ngăn ngừa được những tai hại do tình trạng lạm quyền sinh ra. Chỉ cần cho người dân quyền thay đổi người cầm quyền một cách tự do, khuynh hướng lạm quyền sẽ bị hạn chế. Trong một nước độc tài thì tham nhũng, bất công, đàn áp, tham quyền cố vị sẽ khó sửa chữa được. Khi được tự do, người ta có hy vọng thay đổi. Dân chủ tự do không hứa hẹn thiên đường. Nhưng sẽ giúp xã hội loài người tránh rơi xuống địa ngục. Vì vậy loài người vẫn tiếp tục khát khao tự do dân chủ.

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Thế chiến thứ 3 có thể nổ ra ở châu Á – Thái Bình Dương? Lo sợ quân đội Trung Quốc phát triển vượt bậc mỗi ngày, Mỹ tìm mọi cách kìm chế mà việc tăng cường hợp tác quân sự với Australia là động thái mới nhất.

Bất chấp thất bại trong cuộc chiến ở Triều Tiên và Việt Nam, hơn nửa thế kỷ qua, Mỹ vẫn duy trì vai trò thống trị ở khu vực Thái Bình Dương, nơi cư ngụ của một nửa dân số thế giới.

Tuy nhiên, mọi thứ đang thay đổi. Với sự tăng trưởng thần kỳ của nền kinh tế, giới phân tích ví von rằng Trung Quốc - “người khổng lồ ngủ say” bắt đầu thức giấc.

Điều đáng nói là, sức mạnh kinh tế đang mang lại cho Trung Quốc một nguồn sức mạnh mới: Sức mạnh quân sự khi đi kèm sự thịnh vượng là khả năng hiện đại hóa quốc phòng. Và Trung Quốc không ngần ngại phô trương các khả năng này ngay tại châu Á – Thái Bình Dương với tham vọng kiểm soát khu vực vốn từ lâu là lợi ích của người Mỹ.

Điều này vô hình chung đánh thức nỗi ám ảnh về một cuộc đối đầu giữa hai siêu cường như cuộc đối đầu Liên Xô – Mỹ trong quá khứ.

Quan sát quan hệ Trung – Mỹ thời gian qua, nhà báo kỳ cựu Max Hastings cảnh báo nếu căng thẳng giữa Washington và con rồng châu Á tiếp tục bị đẩy lên cao thì một cuộc chiến thực sự giữa hai bên ngay tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương là điều khó tránh.

Đồng quan điểm, chiến lược gia kỳ cựu người Mỹ Paul Stares cũng nhấn mạnh: “Soi vào các sự kiện từng xảy ra trong quá khứ giữa hai nước, nếu những căng thẳng, bất đồng và thái độ thù địch hiện nay giữa Bắc Kinh và Washington không được điều hòa hiệu quả sẽ dẫn đến một cuộc khủng hoảng trầm trọng trong tương lai giữa hai bên”.
Image
Giới phân tích phương Tây quan ngại đối đầu Trung - Mỹ. Ảnh minh họa: AFP.

Quan ngại của giới phân tích phương Tây xuất phát từ sự khiêu khích, gây hấn, đối đầu mà Bắc Kinh công khai nhằm vào Washington từ đầu năm đến nay và sức mạnh đang gia tăng từng ngày của quân đội nước này.
Đầu tiên là sự kiện hồi tháng giêng. Khi sắp đón Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ sang thăm, Trung Quốc "làm lễ ra mắt" mẫu chiến đấu cơ tàng hình J-20 với thiết kế vô cùng phức tạp và tinh vi. Ngay lập tức, giới phân tích phương Tây dồn dập chỉ trích động thái nhằm phô trương tiềm lực quân sự này của Trung Quốc.

Thứ hai là sự kiện Bắc Kinh từ chối cho không các tàu hải quân của Mỹ cập cảng của họ để trú bão khiến người Mỹ "tức điên". “Trung Quốc đang thách thức và hủy hoại các quy tắc và luật pháp toàn cầu bởi lối hành xử vô lý, quá quắt của họ”, ông Michael Auslin, đại diện cho quan điểm của nhiều người Mỹ mạnh mẽ lên án.

Dường như việc làm phật lòng hay chọc giận Washington trở thành thói quen khó sửa của Bắc Kinh. Việc Trung Quốc “bênh chằm chặp người anh em” Triều Tiên liên trong vụ tàu chiến Cheonan của Hàn Quốc, “đồng minh ruột” của Mỹ và sau đó là vụ nã pháo vào đảo Yeonpyeong khiến Washington sôi sục.

Dù Bắc Kinh giải thích rằng họ luôn đánh giá sự việc một cách công tâm và chỉ đang cố kìm chế các bên, Mỹ vẫn đáp trả bằng việc ra lệnh cho lực lượng hải quân triển khai các tàu chiến ở biển Hoàng Hải để hỗ trợ và bảo vệ đồng mình chiến lược của họ.

Tiếp theo là, Trung Quốc do phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ dồi dào của Iran nên cùng với Nga kiên quyết giữ lập trường phản đối Mỹ và phương Tây áp dụng các biện pháp trừng phạt Tehran liên quan đến chương trình hạt nhân, nối dài mâu thuẫn Trung – Mỹ. Xuất phát từ động thái này của Trung Quốc, nhiều nhà phân tích phương Tây ái ngại về chính sách đối ngoại của Bắc Kinh hiện nay khi cho rằng nước này đang bỏ ngoài tai yêu cầu hợp lý của phương Tây và hành động với niềm tin rằng: là một lực lương toàn cầu mới, họ phải đóng một vai trò nhất định trong việc thiết lập trật tự thế giới mới. Chứng minh cho nhận định của mình, nhóm các nhà phân tích trên dẫn lời một lãnh đạo Trung Quốc rằng: “Trong nhiều thế kỷ qua, phương Tây đã lợi dụng trật tự thế giới để làm những gì mà họ muốn để thỏa mãn lợi ích của họ. Nay đến lượt chúng tôi để thiết lập trật tự toàn cầu mới phù hợp với những lợi ích của chúng tôi”.

Ngoài ra, Ngoại trưởng Trung Quốc trong một bài phát biểu gần đây còn công khai thể hiện tư tưởng nước lớn đối với các quốc gia láng giềng Đông Nam Á khi nhấn mạnh rằng họ chỉ là những nước bé bên cạnh một Đại lục rộng lớn.

Ông Michael Auslin, chuyên gia tại viện Doanh nghiệp Mỹnkịch liệt lên án bài phát biểu trên và cáo buộc đây là chính biểu hiện của tư tưởng nước lớn ức hiếp nước nhỏ.

Không dừng lại ở đó, trong kỷ nguyên máy tính kiểm soát gần như mọi thứ, căng thẳng Trung – Mỹ còn bắt nguồn từ những vụ tấn công mạng nhằm vào Mỹ bởi các tin tặc người Trung Quốc. Mục tiêu “ưa thích” của giới tin tặc Trung Quốc là hệ thống máy tính của Chính phủ cũng như của giới quân sự Mỹ và thậm chí, không “tha” cho các tập đoàn hay các công ty lớn của đối thủ. Nguyên nhân thứ 2 khiến giới phân tích phương Tây chìm trong nỗi quan ngại về một cuộc chiến tranh Trung – Mỹ còn xuất phát từ việc Mỹ vô cùng quan ngại sức mạnh ngày càng vượt trội của quân đội đối thủ nhờ chủ trương hiện đại hóa quân sự của chính phủ nước này.

Trong đó đáng chú ý nhất là việcTrung Quốc tìm mọi cách để gia tăng các khả năng cho hải quân nhằm đối trọng với Mỹ, quốc gia sở hữu sức mạnh hải quân “đỉnh” nhất thế giới nhằm đối đầu với cường quốc số 1 thế giới tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Được trang bị tàu sân bay và các hệ thống tên lửa tinh vi, hải quân Trung Quốc đang phát triển thần tốc, khiến Mỹ vô cùng quan ngại.

Việc Trung Quốc không tiếc tiền của để hiện đại hóa quân đội và thực tế đã thu được nhiều thành tựu đáng chú ý khiến Mỹ nhận ra nguy cơ là các căn cứ quân sự của họ ở Tây Thái Bình Dương có khả năng nằm trong tầm ngắm của tên lửa Trung Quốc.

Nguy cơ này thúc đẩy Mỹ “kết đôi” với Australia nhằm tăng cường hợp tác quân sự giữa hai bên với một thỏa thuận lịch sử vừa đươc ký cho phép triển khai 2.500 thủy quân lục chiến tinh nhuận của Mỹ trên lãnh thổ phía Bắc nước này.

Ngoài ra, Richard Haas, Chủ tịch Hội đồng Quan hệ đối ngoại Mỹ cũng nhấn mạnh: "Chính sách của nước Mỹ phải đặt mục tiêu để tạo ra sự liên kết khu vực chặt chẽ nhằm kìm chế nỗ lực gia tăng ảnh hưởng ở bên trong lẫn bên ngoài khu vực Thái Bình Dương của Trung Quốc”.

Điều này phản ánh quan ngại của giới lãnh đạo Mỹ khi tưởng tượng đến viễn cảnh với đà đầu tư hiện đại hóa quân đội như hiện nay thì chỉ trong khoảng một thập kỷ nữa thôi, khi các lực lượng vũ trang của Trung Quốc lớn mạnh, họ sẽ không ngần ngại sử dụng vũ lực để giành lấy những gì mà họ muốn.

Dĩ nhiên, Bắc Kinh kịch liệt lên án thỏa thuận này với lời cảnh cáo rằng đây không phải là thời điểm "thích hợp để tăng cường và mở rộng liên minh quân sự và điều này có thể không mang lại bất cứ lợi ích nào cho các quốc gia trong khu vực”.

Điều đáng nói là quan điểm này của Bắc Kinh nhận được sự đồng tình của một số nhà chuyên gia Australia, trong đó có quan điểm của ông Hugh White, công tác tại ĐH Quốc gia Australia.

Ông White cho rằng thỏa thuận hợp tác quân sự Mỹ - Australia đầy rủi ro và rằng trong một thế giới mới, tốt nhất Mỹ nên từ bỏ tham vọng bá chủ tại khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương và nên chia sẻ quyền lực với Trung Quốc cũng như các quốc gia khác.

Tuy nhiên, phản ứng giận dữ từ phía Bắc Kinh hay quan ngại của một số nhà phân tích Australia không thể ngăn được chiến lược ngăn chặn Trung Quốc của Mỹ. Hơn thế nữa, không chỉ thiết lập liên minh với Australia, Washington còn đang tiến hành chiến thuật “ve vãn” Myanmar, đồng minh truyền thống và chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực Đông Nam Á. Chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton đến Myanmar hồi đầu tháng này là minh chứng mạnh mẽ nhất cho kế hoạch của Washington để kéo nước này ra khỏi “vòng tay” của Bắc Kinh, có nguy cơ khiến đối đầu Trung – Mỹ leo thang. Ngoài ra, “đổ thêm dầu vào lửa”, ông Michael Auslin mới đây đưa ra tuyên bố gây sốc rằng: "Vai trò lãnh đạo toàn cầu và địa vị của nền kinh tế nước Mỹ trong tương lai phụ thuộc vào việc duy trì vai trò của chúng tôi trong khu vực năng động nhất của thế giới”. Tất nhiên, Trung Quốc không ngồi yên để Mỹ thích làm gì thì làm. Do đó, trong những thập kỷ tới, hòa bình tại khu vực châu Á, thậm chí toàn cầu sẽ bị đe dọa bởi những động thái “không ai nhường ai” của cả Mỹ lẫn Trung Quốc. Và nếu những mâu thuẫn, căng thẳng truyền thống giữa hai cường quốc không được kìm chế hiệu quả thì cuộc đụng độ Trung – Mỹ tại Ấn Độ - Thái Bình Dương sẽ không chỉ là cảnh báo của giới phân tích nữa mà sẽ là thực tế khủng khiếp mà khu vực này lẫn cộng đồng thế giới phải đối mặt. >> Tổng thống Obama: 'Mỹ không sợ Trung Quốc'

Lê Dung
(Daily mail)

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Trung Quốc càng rắn càng thiệt thân? Tổng thống Obama đang ra sức thúc đẩy sự hình thành của một khu mậu dịch tự do xuyên Thái Bình Dương bao gồm nhiều đối tác thương mại chính của Trung Quốc nhưng lại có vẻ muốn đẩy Bắc Kinh ra rìa.

Thực tế, Trung Quốc vẫn có khả năng “chơi chung" với Mỹ và các quốc gia trong khu vực bởi không gì ngăn cấm họ gia nhập Hiệp ước đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP). Song nếu thực sự tham gia vào TPP, họ sẽ phải chấp nhận luật chơi của TPP, có thể phần lớn bị thao túng bởi Mỹ.

Do đó, nếu TPP được hoàn thiện và trở thành cơ chế thương mại chung của châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt thêm sự góp mặt của hai thế lực lớn là Mỹ và Nhật Bản, nền kinh tế Trung Quốc sẽ thực sự đối mặt với nhiều nguy cơ bị đẩy ra rìa.

Trong khi đó, trên mặt trận an ninh, Trung Quốc luôn chìm trong nỗi lo bị xâm hại bởi thực tế, họ không có bất cứ đồng minh thật sự nào trừ Triều Tiên, quốc gia từ lâu núp dưới ô an ninh của Bắc Kinh.

Dù không tiếc tiền của đầu tư cho lĩnh vực quốc phòng và hiện đại hóa quân đội, tiềm lực và các khả năng quân sự của Trung Quốc vẫn chưa thể nào “chọi” lại được với Mỹ.
Image
Quân sự của Trung Quốc vẫn chưa thể "chọi" lại được với Mỹ. Ảnh minh họa: Rachelburger.

Tuy nhiên, dường như không biết lượng sức mình, trong vài năm trở lại đây, Trung Quốc lại cố phô trương sức mạnh quân sự vốn được thúc đẩy nhờ đà tăng trưởng “nhanh như vũ bão” của nền kinh tế.

Và mục tiêu thử nghiệm mà Bắc Kinh nhắm đến là khu vực biển Đông.

Tuy nhiên, đây là một lựa chọn không khôn ngoan của Bắc Kinh. Nguyên nhân chính là vì miếng cắt rộng lớn của khu vực Thái Bình Dương này là huyết mạch thương mại quan trọng bậc nhất của thế giới và được dự đoán là “rốn dầu và khí đốt” dồi dào, béo bở, trong khi đó, sự tăng trưởng thành công của Bắc Kinh lại nhờ quá trình toàn cầu hóa.

Do đó, hiển nhiên Trung Quốc muốn kiểm soát khu vực này nhằm tối đa hóa lợi ich riêng của họ. Song tham vọng này của Bắc Kinh lại “đụng chạm” đến lợi ích của các quốc gia trong khu vực nên vấp phải sự phản đối dữ dội từ phía họ. Kết quả là để kìm chế con rồng châu Á, nhiều quốc gia trong khu vực không ngần ngại bắt tay với quyền lực hải quân mạnh nhất thế giới là Mỹ.

Hiện, Washington được khuyến khích và được tiếp thêm động lực bởi sự ủng hộ này từ nhiều quốc gia châu Á – Thái Bình Dương.

Điều này khiến Mỹ tích cực hơn trong việc thực thi các cam kết của họ đối với khu vực và là lý do để chính quyền Obama nhanh chóng rút khỏi “vũng lầy” Trung Đông và Afghanistan để trở lại với khu vực năng động bậc nhất thế giới.

Tất nhiên, việc Washington gia tăng ảnh hưởng ở châu Á – Thái Bình Dương khiến Bắc Kinh không vui vẻ gì và quan hệ Trung - Mỹ ít nhiều vì vấn đề này mà bắt đầu trở nên căng thẳng. Tuy nhiên, trong khi Tổng thống Obama cố xoa dịu Bắc Kinh bằng việc khẳng định rằng “sự trở lại châu Á – Thái Bình Dương” của Mỹ không có nghĩa là Mỹ muốn kìm chế Trung Quốc như nhiều suy đoán và thậm chí, cáo buộc từ phía Chính phủ Trung Quốc thì Bắc Kinh dường như lại muốn duy trì trạng thái đối địch với Washington hơn.

Các học giả Trung Quốc lẫn nhiều tầng lớp người Trung Quốc khác không hề được ủy nhiệm phát ngôn chính thức nhưng lại liên tục tuôn ra hàng loạt những lời cáo buộc, chỉ trích Mỹ trong những ngày gần đây.

Họ thậm chí công kích cả Ấn Độ liên quan đến kế hoạch tăng quân đồn trú dọc biên giới với Trung Quốc của Delhi. Không dừng lại ở đó, những người này cũng chỉ trích Philippines quá phô trương và ầm ĩ trong việc tiếp đón Ngoại trưởng Hillary Clinton khi bà có chuyến thăm tới Manila mới đây.

Cụ thể, một bài bình luận của tờ People's Daily, một tờ báo hàng ngày của Trung Quốc, mạnh mẽ đe dọa rằng: “Philippines đang chỉ ra các hành động khiêu khích đối với Bắc Kinh và động thái này chỉ tổ ảnh hưởng tiêu cực đến cục diện chính trị của khu vực và rằng Chính phủ Trung Quốc phải có biện pháp trả đũa thích hợp đối với Manila”.

Thực tế, lợi ích kinh tế và thương mại của Trung Quốc có ở gần như mọi nơi và chủ yếu được hoan nghênh. Tuy nhiên, việc Trung Quốc cố phô trương sức mạnh quân sự một cách quá đáng, xâm hại đến lợi ích và an ninh của các nước láng giềng trong khu vực nhưng lại không thèm đếm xỉa đến quan ngại và những yêu cầu chính đáng của họ mới chính là yếu tố gây bất ổn cho nền chính trị trong khu vực. Hậu quả là các quốc gia láng giềng sẽ ngày càng “xa lánh” Bắc Kinh để sà vào “vòng tay” của Mỹ.


Lê Dung (theo Realclearpolitics)

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Làm thế nào để thua Trung Quốc thật nhanh? Tôi mới đọc bài “Làm thế nào để Trung Quốc đánh bại Mỹ?” (How China Can Defeat America) của Diêm Học Thông (Yan Xuetong) trên tờ The New York Times. Một bài viết thật hay. Trong đó, Diêm Học Thông vạch ra kế sách để Trung Quốc có thể thắng Mỹ và trở thành siêu cường quốc số một trên thế giới.

Diêm Học Thông sinh năm 1952, tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Berkeley, California năm 1992 và hiện đang làm giám đốc Viện Nghiên cứu Quốc tế Hiện đại tại Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh, tác giả của nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng, người được tạp chí Chính sách Đối ngoại (Foreign Policy) của Mỹ bình chọn là một trong 100 trí thức công chúng có ảnh hưởng nhất thế giới vào năm 2008. Ông cũng là người, như lời chính ông tự nhận trong bài viết, bị nhiều học giả Tây phương liệt vào thành phần “diều hâu” ở Trung Quốc.

Trong bài viết nêu trên, Diêm Học Thông cho biết, trong tình hình hiện nay, khi kinh tế của Trung Quốc càng ngày càng phát triển mạnh mẽ, một cuộc đối đầu giữa Trung Quốc là Mỹ là điều không thể

tránh khỏi. Nhiều nhà lãnh đạo trấn an dân chúng là cuộc đối đầu sẽ diễn ra trong hòa bình. Nhưng Diêm Học Thông không tin vào điều đó. Theo ông, một siêu cường mới nổi bao giờ cũng muốn khẳng định vị thế của mình, điều mà siêu cường được xem là độc nhất và độc tôn trong hiện tại không bao giờ chấp nhận được. Huống gì giữa Trung Quốc và Mỹ lại có những xung khắc hầu như không thể hóa giải được về ý thức hệ và thể chế chính trị. Không hóa giải được thì sao? Thì có chiến tranh. Chứ còn gì nữa?

Nhưng theo Diêm Học Thông, nếu xung đột diễn ra, trong tình hình hiện nay, Trung Quốc không thể thắng được. Dù Mỹ có suy thoái đến mấy thì Mỹ vẫn mạnh hơn ở hai điểm quan trọng: Thứ nhất, Mỹ có nhiều kinh nghiệm chiến tranh hơn. Gần đây, Mỹ tiến hành cả ba cuộc chiến tranh cùng lúc: ở Iraq, Afghanistan và Libya. Mà vẫn đầy sinh lực. Còn Trung Quốc thì từ sau chiến tranh với Việt Nam vào năm 1979, không hề tham gia vào một trận đánh lớn nào. Hầu hết các tướng lãnh, do đó, đều không có kinh nghiệm trận mạc. Nhưng yếu tố thứ hai này mới thực quan trọng: Mỹ có đồng minh quân sự ở khắp nơi. Với hơn 50 quốc gia. Trong đó không ít đồng minh sẵn sàng sống chết với Mỹ. Còn Trung Quốc thì hoàn toàn không. May lắm thì có Bắc Hàn và Pakistan. Nhưng đó không hẳn là đồng minh. Khi xảy ra chiến tranh với Mỹ, chưa chắc đã có nước nào nhảy vào đứng chung chiến tuyến với Trung Quốc.

Theo Diêm Học Thông, đó chính là điểm yếu nhất của Trung Quốc. Muốn khắc phục được nhược điểm ấy, tức muốn mạnh hơn Mỹ và đánh thắng được Mỹ, Trung Quốc phải chiến thắng, trước tiên, trái tim của mọi người trên thế giới. Nhưng để chiến thắng mặt trận đó, những cuộc viện trợ kinh tế hào phóng mà Trung Quốc đã vung tay thực hiện rõ ràng là không đủ. Diêm Học Thông đề nghị: để chinh phục thiện cảm của thế giới, phải bắt đầu từ ngay trong nhà mình: chính phủ phải chuyển trọng tâm từ việc phát triển kinh tế sang việc xây dựng một xã hội hài hòa, bình đẳng, không có khoảng cách quá xa giữa người giàu và người nghèo; phải từ bỏ tâm lý sùng bái tiền bạc để đề cao các giá trị đạo đức truyền thống; phải chống tham nhũng để xây dựng một quốc gia công chính và bình quyền. Đối với nước ngoài, Trung Quốc phải thể hiện một gương mặt nhân đạo, phải có chính sách ngoại giao có chất lượng cao hơn hẳn Mỹ, đặc biệt về phương diện đạo đức, phải dám nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ các nước nhỏ và yếu. Hơn nữa, Trung Quốc phải cố gắng thu hút thật nhiều nhân tài từ khắp nơi trên thế giới để nâng cao khả năng quản trị của mình.

Nói cách khác, theo Diêm Học Thông, cuộc chiến tranh thực sự giữa Trung Quốc và Mỹ là cuộc chiến tranh nhằm tranh thủ nhân tâm trên thế giới. Cuối cùng, quốc gia nào chứng minh được rõ thứ quyền lực nhân đạo nhất, quốc gia ấy sẽ chiến thắng.

Kể ra, nếu, trong tương lai, Trung Quốc thực sự là một siêu cường mang bộ mặt nhân đạo như thế thì việc nước nào thắng trong trận chiến Trung-Mỹ cũng chẳng phải là một vấn đề gì quan trọng khiến chúng ta phải quan tâm.

Tôi nhắc đến bài báo của Diêm Học Thông vì một lý do khác. Đọc xong, trong óc lóe lên ý nghĩ: sẽ viết một bài, đại khái, làm thế nào để Việt Nam thắng Trung Quốc? Nhưng nghĩ tới nghĩ lui, thấy không ổn. Thứ nhất, mình chỉ là một blogger chứ chả phải chính khách chính khiếc gì cả; bàn những vấn đề như vậy, nghe “nổ” quá. Thứ hai, chuyện Việt Nam thắng Trung Quốc giống như một thứ khoa học viễn tưởng. Cả hai đều không nên chút nào. Thôi thì bàn chuyện làm thế nào để thua Trung Quốc một cách nhanh chóng vậy.

Một đề tài như thế đã bao hàm cái ý là Việt Nam nhất định thua Trung Quốc. Không cần bàn cãi nữa. Chỉ phân tích vấn đề là: làm thế nào để thua cho nhanh thôi.

Nói thế, tôi biết, nhiều người sẽ cho là nhảm. Muốn thua nhanh ư? – Dễ quá! Cứ ký một hiệp ước trao nhượng chủ quyền cho Trung Quốc là xong ngay thôi. Hay cứ để Trung Quốc tràn qua biên giới tiếp quản Bộ chính trị, Trung ương Đảng và guồng máy chính phủ. Là xong. Chỉ mất vài tuần, hay nhiều lắm, vài tháng.

Nhưng một “kế hoạch” như thế chắc chắn là bất khả thi. Lý do thứ nhất là dân chúng sẽ bất mãn và sẽ quyết liệt tranh đấu, thứ nhất, với những kẻ bán nước, và thứ hai, với những kẻ cướp nước. Lý do thứ hai là các nước Đông Nam Á sẽ hoảng lên: Trung Quốc chiếm Việt Nam, thế nào cũng tràn qua Lào và Miên, sau đó, Thái Lan, Miến Điện, Singapore, Mã Lai Á và Indonesia. Thuyết domino một thời nổi tiếng lừng lẫy lại tái hiện. Úc, xa xôi đến vậy, cũng sẽ run bắn lên. Dĩ nhiên, họ sẽ không khoanh tay chờ Trung Quốc xông vào nhà. Nhưng có lẽ sẽ không có nước nào đủ can đảm trực diện khai chiến với Trung Quốc. Cách thức quen thuộc, ít tốn kém và không chừng hiệu quả nhất là đổ viện trợ, kể cả vũ khí cho dân chúng Việt Nam để họ đánh nhau với Trung Quốc.

Như vậy, chiến tranh sẽ dằng dai. Và cuối cùng, như ngày xưa, Việt Nam sẽ đánh bật Trung Quốc và giành lại độc lập.

Bởi vậy, có thể nói “Kế hoạch” trao nhượng chủ quyền nghe tưởng dễ, nhưng thực tế, lại không thể thực hiện được. Đó là chưa kể, nó khá nguy hiểm. Lỡ lúc quân Trung Quốc chưa sang “tiếp quản”, dân chúng nổi giận đứng lên tiêu diệt giới cầm quyền thì không biết họ sẽ chui vào đâu để trốn? Số lượng ống cống ở Việt Nam chắc không bằng Libya. Lại dơ bẩn nữa.

Tôi xin đề nghị một cách khác:

Hiểm họa lớn nhất đối với “kế hoạch thua nhanh” chính là ở dân chúng. Trọng tâm chiến lược, do đó, phải là dân chúng. Nhưng không thể giết hết dân chúng. Mà cũng không cần giết hết. Chỉ cần làm sao cho họ không thấy chuyện Trung Quốc đe dọa Việt Nam, đừng bất mãn vì chuyện Trung Quốc xâm lấn Việt Nam, đừng nổi giận nếu một ngày nào đó lính Trung Quốc tràn sang Việt Nam. Làm được những điều đó là bảo đảm an toàn. Sẽ không có ai, trong dân chúng, nổi giận chính quyền nếu chính quyền ký hiệp ước trao nhượng chủ quyền. Sẽ không có ai, trong dân chúng, căm thù Trung Quốc khi Trung Quốc kiểm soát hết đất đai, rừng núi, hải đảo và cả vùng biển mênh mông của Việt Nam. Mọi người sẽ coi đó là những chuyện bình thường.

Dĩ nhiên, những việc như vậy cần phải có thời gian. Không nên sốt ruột. Cần có thời gian để dân chúng tập thói quen không quan tâm đến việc nước. Cần có thời gian để mọi người tập thói quen xài hàng giả của Trung Quốc và xem phim lịch sử Việt Nam đóng theo khuôn mẫu của Trung Quốc để dần dần nhận ra Việt Nam, thật ra, chỉ là một tỉnh lẻ của Trung Quốc. Cần có thời gian để mọi người tập thói quen nhịn nhục trước Trung Quốc. Cần có thời gian để mọi người tập thói quen xem bất cứ chuyện gì xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam đều không phải chuyện của mình.

Sau khi những việc như vậy đã hoàn tất thì việc Việt Nam được sát nhập vào Trung Quốc sẽ vô cùng an toàn và dễ dàng. Sẽ chẳng có ai bất mãn hay phản kháng cả. Lúc ấy, ngay cả khi Mỹ hay bất cứ nước nào “quỳ lạy” xin dâng vũ khí cho dân chúng Việt Nam để họ chống lại Trung Quốc thì cũng chẳng ai thèm nhận.

Lúc ấy, sứ mệnh coi như hoàn thành mỹ mãn.

À, mà này, đến đây, tôi mới nhận ra “kế hoạch” tôi vừa viết ở trên hình như cũng chẳng mới mẻ gì lắm, phải không?

Không chừng đã có kẻ áp dụng rồi.

Nguồn: Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Trung Cộng đã bắt đầu bị vỡ trận Từ năm 2010 đến nay ngoại giao Mỹ đã có những bước đi ngoạn mục, đó là sự dọn đường quang quẻ cho sự trở lại của Mỹ ở Châu Á-Thái Bình Dương. Sự trở lại được coi như là “nhu cầu tất yếu của khu vực”. Sự hiện diện của Hoa Kỳ làm cho địa chính trị vốn đang thay đổi dưới sự tác động của Trung Quốc lại càng diễn ra nhanh chóng hơn. Trung Quốc đã bắt đầu vỡ trận.

Nếu như ai đó cho rằng Trung Quốc-một quốc gia Cộng sản kinh tế tăng tốc phát triển như vũ bão, sẵn sàng soán ngôi siêu cường số 1 mà Mỹ không “để mắt” tới Trung Quốc là nhầm. Chẳng qua là Mỹ chưa rảnh tay, lợi ích của Trung Quốc với Mỹ còn nhiều nên đang chơi con bài lẫn nhau đó thôi. Tuy nhiên, đánh chặn từ xa trừ hậu họa không phải là điều Mỹ không dám. Châu Phi, Trung Quốc đầu tư vào rất nhiều tiền của nhằm đảm bảo nguồn năng lượng cho tương lai. Tại Sudan, dưới sự đạo diễn của Mỹ, nước nam Sudan thành lập với ¾ trữ lượng dầu mỏ khiến Trung Quốc ngậm đắng nuốt cay. Li bi thì họ ủng hộ Cadafi, tuồn vũ khí vào nhưng cuối cùng cũng hoàn toàn mất trắng. Nói chung những tử huyệt quan trọng về năng lượng của Trung Quốc đều bị Mỹ khống chế.

Dù vậy, việc nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ cao, GDP xấp xỉ Mỹ và vượt Nhật đã làmTrung Quốc lóa mắt quên đi tất cả. Bộ máy tuyên truyền của Mỹ thì không ngừng thổi phồng lên sức mạnh quân sự của Trung Quốc, nào là tàu ngầm Trung Quốc đuổi tàu SB Mỹ, nổi lên cách vài trăm mét mà Mỹ không biết; nào là trong 5-10 năm tới Trung Quốc sẽ đuổi kịp và vượt Mỹ…Trung Quốc cũng tự mình xếp hạng đứng thứ 2 sau Mỹ về quân sự. Việc chiếc máy bay trực thăng của Mỹ bị rơi trong vụ tấn công tiêu diệt Bin Laden là cố tình hay vô tình thì không dám chắc nhưng việc Mỹ để lại phần đuôi là cố ý. Mỹ chứng tỏ cho thế giới biết là trùm khủng bố bị tiêu diệt, đồng thời với loại máy bay tàng hình này Mỹ có thể tấn công kẻ khủng bố cho dù nó ở bất kỳ đâu, ở quốc gia nào mà Mỹ cho là cần thiết. Đây giống như sự “lộ hàng” của một cô hoa hậu thế giới vừa đạt vương miện khiến giới mày râu phát sốt. Trung Quốc cũng chả kém. Khoe hàng với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, các phóng viên nhiếp ảnh cắm trại cạnh sân bay chờ khi chiếc máy bay J20 được gọi là tàng hình cất cánh là ghi hình khoe khoang…Mặc dù đây giống như sự “lộ hàng” của cô gái làng chơi rẻ tiền chẳng ai để ý nhưng bộ máy tuyên truyền Mỹ được phen tung hô…

Một thực tế là Trung Quốc có tiến bộ vượt bậc về kinh tế và quân sự khiến thế giới ca ngợi. Nhưng với bản tính bá quyền, nước lớn cộng với sự thổi phồng sức mạnh của bộ máy tuyên truyền Mỹ làm Trung Quốc mất tỉnh táo sinh ra ngộ nhận. Thứ nhất họ cho rằng Mỹ bị khủng hoảng kinh tế, sa lầy ở Iraq, Afghanistan nên suy yếu, việc Trung Quốc đuối kịp và vượt chỉ là vấn đề thời gian. Thời cơ soán ngôi đã đến. Thứ hai là tiềm lực quân sự của họ cho phép họ tuyên bố “lợi ích cốt lõi” (là lợi ích mà Trung Quốc có quyền dùng vũ lực để bảo vệ hoặc chiếm giữ) ở nơi mà họ muốn (trước mắt là biển Đông, tiếp theo là Châu Á TBD chẳng hạn).

Cái bẫy của Mỹ giăng ra, Trung Quốc chui vào không ngần ngại. Trung Quốc lập tức thay đổi thái độ và hành động với các quốc gia láng giềng, khu vực. Thái độ thì hung hăng, hiếu chiến, nước lớn. Hành động thì ngang ngược, chèn ép, bắt nạt, đe dọa dùng vũ lực. Ngay như Nhật Bản - siêu cường biển châu Á thật sự mà vụ Nhật bắt Thuyền trưởng tàu đánh cá TQ xét xử mà TQ gầm lên hùng hùng hổ hổ (đúng là nghé không sợ cọp). Vậy thử hỏi những nước nhỏ khác trong khu vực Trung Quốc coi ra gì? Ai dám bắt tay thân thiện với một quốc gia như thế mà không bất an? Họ sẽ làm gì, chịu hòa tan, lệ thuộc, nô dịch hay là tìm lối khác? Và đây là những bước đi của họ.

Đầu tiên là tăng cường tiềm lực quân sự, hợp tác với nhau để tạo nên sức mạnh. Việt Nam là một trong những nước có tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc nhiều nhất và đương nhiên bị gây căng thẳng, đe dọa nhiều nhất. Bởi vậy tăng cường tiềm lực quân sự, xây dựng Hải quân hiện đại đủ sức đương đầu với nguy cơ xâm lược là điều không thể không làm. Thực tế, với sự hợp tác với Nga, Ấn Độ về quân sự, Việt Nam đã tăng cường đáng kể sức mạnh phòng thủ của mình, có đủ tự tin để quan hệ với Trung Quốc một cách bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hòa bình và cùng phát triển. Việt Nam đã học được từ lịch sử bài học không nên đặt niềm tin vào những lực lượng bên ngoài. Nhưng Việt Nam cũng đang đứng trước một cơ hội khác thường trong việc xây dựng một liên minh quốc tế và khu vực hiệu quả trong việc bảo vệ những tuyên bố chủ quyền hợp pháp. Rõ ràng Việt Nam không còn đứng một mình trong việc phản đối bá quyền Trung Quốc. Các nước khác như Philippine, Malaisia, Indonisia… cũng có những bước đi như vậy.

Bước đi tiếp theo là tìm đối tác để đối trọng, cân bằng với sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc (Mỹ, Nga, Nhật, Ấn Độ…) và Mỹ là sự lựa chọn tối ưu. Hoa Kỳ cũng chỉ chờ có thế. Giống như một vở kịch có 3 màn tuyệt phẩm. Màn thứ nhất: Bi kịch tàu ngầm Hàn Quốc bị đánh chìm. Không cần biết nguyên nhân ai là thủ phạm chỉ biết rằng mối quan hệ giữa Mỹ - Hàn tưởng như đã nguội lạnh bỗng nhiên ấm áp trở lại. Một cuộc tập trận ở Đông Hải với sự hiện diện của hơn 500 quả tên lửa Tomahawk loại bắn đâu trúng đấy trước mũi Trung Quốc. Màn thứ hai: Sự kiện tranh chấp với Nhật Bản. Những tưởng Mỹ không còn chỗ đứng chân trên đất Nhật nào ngờ thái độ như muốn ăn tươi nuốt sống Nhật Bản khiến cho Liên minh Mỹ Nhật có thêm sức sống mới. Trung Quốc vô tình khiến Nhật nổi máu “Võ sĩ đạo”.

Và bước đi cuối cùng là giảm bớt sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Một nước như CHDCND Triều Tiên mà quan hệ với Nga để giảm bớt sự lệ thuộc vào Trung Quốc thì đủ biết sự lệ thuộc vào Trung Quốc nó phức tạp như thế nào. Đối với các nước Asean thì Myanmar là một minh chứng sinh động. Ngả theo phương Tây đã đành Myanmar còn quyết định ngừng hợp đồng xây thủy điện với Trung Quốc khiến ông lớn hàng xóm tức ói máu mà chịu. Tư lệnh các lực lượng Vũ trang Myanmar sang thăm Việt Nam để “học hỏi kinh nghiệm” khiến Trung Quốc lo ngại. Không nói cũng rõ hoạt động đối ngoại Việt Nam trong tháng 10/2011 đã chứng tỏ sự linh hoạt, tính quyết đoán trên nguyên tắc độc lập, tự chủ, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi.

Nhìn lại trong thời gian qua Trung Quốc thu được gì? Bạn làm ăn xa thì bị phá, láng giềng gần thì tự mình khiến họ xa lánh, mất lòng tin. Trung Quốc không có bạn, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Việc Mỹ đường đường chính chính hiện diện ở Châu Á TBD, triển khai quân ở Australia làm Trung Quốc phải “thốt” lên “Trung Quốc chưa từng thành lập một liên minh quân sự như vậy” ( Lưu Vi Dân). Tại sao vậy Trung Quốc? Tại sao Mỹ làm được, các nước họ tin Mỹ mà sao Trung Quốc lại không?

Có thể nói các diễn biến ở Đông Bắc Á kết hợp với tính hiếu chiến và cách hành xử ngoại giao gây bất mãn của Trung Quốc ở Đông Nam Á dường như là dấu hiệu của sự suy yếu, bất lực hơn là sức mạnh. Trong khi chờ vào một sự thay đổi ở một thế hệ lãnh đạo mới năm 2012, giới lãnh đạo Trung Quốc hiện tại có lẽ phải gặm nhấm một sự thất bại ê chề. Gần 3 thập kỷ xây dựng lòng tin… họ chỉ phá trong phút chốc. Thế trận bị vỡ.

Động thái của Mỹ, không còn hồ nghi gì nữa, họ đang cô lập, kiềm chế Trung Quốc, bắt Trung Quốc như họ nói “là phải tuân thủ theo luật chơi”. Trước tình thế này liệu Trung Quốc và Mỹ có xảy ra một cuộc chiến tranh hay không?

Rõ ràng là khi quyết định tiến hành phát động một cuộc chiến tranh thì không có chỗ cho sự ngộ nhận về sức mạnh theo kiểu hiếu chiến, bầy đàn. Không thể lấy kết quả từ sự phô trương thanh thế phục vụ cho mục đích chính trị làm cơ sở xây dựng quyết tâm chiến tranh mà phải có sự đánh giá, so sánh thế và lực khách quan, khoa học, chính xác. Thế và lực của Trung quốc hiện nay như nào so với Mỹ? Khi Mỹ tự tin, quyết đoán trong việc triển khai lực lượng ở Châu Á TBD; Khi Mỹ đã chuẩn bị trong cách tiếp cận chiến tranh nếu xảy ra sẵn sàng và bình tĩnh thì điều đó có nghĩa thế và lực của Mỹ đã vượt trội so với Trung Quốc, có nghĩa là cuộc chiến nếu xảy ra hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của Mỹ. Tuy nhiên nó sẽ không bao giờ xảy ra bởi Trung Quốc thừa biết khả năng của mình đến đâu và phải làm gì.

Lê Ngọc Thống

Post Reply