Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Tượng Angelina Jolie cho con bú gây tranh cãi

Bức tượng minh tinh Hollywood cho hai bé Knox và Vivienne bú dòng sữa mẹ ngọt ngào lần đầu tiên được ra mắt,
góp phần xoá bỏ định kiến về việc cho con bú nơi công cộng.

Image
Tượng Angie cho con bú lần đầu ra mắt. Ảnh: News9.
Theo News9, sau một thời gian chờ đợi, những người yêu nghệ thuật đã được ngắm nhìn bức tượng Angelina tại cuộc triển lãm ở Norman, Oklahoma. Tác phẩm "Tượng đài cho con bú" của nghệ sĩ Daniel Edwards tạo hình nữ diễn viên 33 tuổi khỏa thân, cho hai em bé bú sữa.

Tuy nhiên, hình ảnh nude của Angie đã khiến một số người không thiện cảm với bức tượng. Điều phối dự án Cory Allen cho biết: "Mọi người thường gặp khó khăn khi phân biệt giữa khỏa thân nghệ thuật và tình dục. Đây chỉ là một hành động của loài người, tôi không thấy có vấn đề gì với bức tượng này cả".
Image
Bức tượng góp phần xoá bỏ định kiến của xã hội về việc cho con bú nơi công cộng. Ảnh: News9.
Từ lâu, dư luận thường có cái nhìn khắt khe khi các bà mẹ cho con bú nơi công cộng. Vì vậy, thông điệp của bức tượng nhằm xoá bỏ định kiến này của xã hội. Beth Leinau, bà mẹ có con hai tuổi thể hiện sự ủng hộ. Cô cùng với một số phụ nữ khác cho con bú trước mặt đám đông trong triển lãm. "Tôi từng cho con bú ở cửa hàng thực phẩm, sân chơi hay nhà thờ. Mọi người hãy cho con bú bất cứ khi nào cần thiết", Leinau nói.

Sau khi được triển lãm, bức tượng sẽ được đặt trong công viên. Tuy nhiên, trong khi một số người ủng hộ cho rằng, bức tượng cần được trưng bày trước công chúng thì số khác lại nghĩ, bức tượng đã được ưu ái quá nhiều.

Trước đây, nghệ sĩ Daniel Edwards cũng từng tạc tượng Britney Spears trong tư thế khỏa thân sinh con và tượng nude của Hillary Clinton.

Thanh Hương

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

LĂNG ÔNG BÀ CHIỂU tức LĂNG ĐỨC THƯỢNG CÔNG LÊ VĂN DUYỆT



Người dân Miền Nam trong bản chất chất phác cố hữu của họ, họ luôn luôn nhớ ơn những anh hùng, những quan viên, khi sinh tiền đã thương yêu lo lắng bảo vệ cho họ, làm cho đời sống của họ được bình yên no ấm, và khi quy tiên trở nên linh hiển tiếp tục giúp đỡ phù hộ cho họ vượt qua những cơn ngặt nghèo hay gặp được ít nhiều may mắn trong công việc làm ăn của họ. Những vị anh hùng, hay những quan viên đó luôn được họ yêu thương sùng bái lúc sống cũng như khi đã khuất.

Họ kính trọng tôn sùng những vị đó hơn cả nhà vua, hơn cả những vị anh hùng dân tộc được người xưa thờ phụng vì những vị này gần gũi với họ hơn. Nơi an nghỉ của những vị này thường được gọi là LĂNG, được người dân đem công sức và tiền của ra tu bổ, làm đền thờ để tháng năm thăm viếng thờ phụng. Nhiều nhà giàu có tiếng tăm khi chết đi cũng được con cháu dùng chữ lăng để gọi miếu mộ họ.
Trong quyển Sài Gòn Năm Xưa, ông Vương Hồng Sển có ghi một số các Lăng Mộ ở vùng Sài Gòn-Gia Định. Đó là Lăng Thượng Công Lê Văn Duyệt ở tại chợ Bà Chiểu, Lăng Phò Mã Hậu Quân Võ Tánh nằm trong vùng đất quân sự, Lăng Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu ở trên đường Trương Tấn Bửu, Lăng Bình Giang Bá Võ Di Nguy ở Phú Nhuận, Lăng Bá Đa Lộc thường gọi là Lăng Cha Cả ở Tân Sơn Nhứt, Lăng Nguyễn Văn Học được người Pháp gọi là "tombeau du Marechal Nguyễn Văn Học", Lăng Oâng Nhiêu Lộc trong sân bay Tân Sơn Nhứt. Ở các tĩnh có Lăng Nguyễn Huỳnh Đức, Lăng Trương Công Định, vv. . .
Trong số các Lăng ở Miền Nam, Lăng Oâng Ở chợ Bà Chiểu là quan trọng nhất, được nhiều người biết đến nhất. Người dân Miền Nam biết Lăng Oâng là Mộ phần của Đức Thượng Công hay Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt. Người dân Miền Nam tin rằng Đức Thượng Công rất linh hiển, luôn luôn phò hộ cho người dân trong vùng Ngài làm Tổng Trấn, giúp dân chúng vượt nhiều cảnh khó khăn khốn cùng khi họ đến cầu xin Ngài. Hằng năm không biết bao nhiêu người đã đến đây xin xăm, hái lộc, van vái cầu xin sự bình an hạnh phúc cho gia đình mình.

LĂNG ÔNG: BIỂU TƯỢNG CỦA MIỀN NAM

Cách đây không lâu, một số cộng đồng người Việt tị nạn tại San Jose đã họp nhau lại dự định cùng chung sức xây dựng một công viên đặc biệt Việt Nam gọi là Công Viên Văn Hóa. Theo dự tính thì trong công viên sẽ có ba di tích lịch sử tượng trưng cho ba miền Nam, Trung, Bắc của dân tộc Việt. Uûy ban đặc trách Công Viên Văn Hóa ở San Jose đã lựa chọn Chùa Một Cột làm biểu tượng cho nhánh văn hóa Miền Bắc, Chùa Thiên Mụ biểu tượng cho nhánh văn hóa Miền Trungï, và Lăng Oâng Bà Chiểu tức Lăng Đức Thượng Công Lê Văn Duyệt làm biểu tượng cho nhánh văn hóa Miền Nam. Đây là một lựa chọn rất có lý và rất có ý nghĩa.

Lăng Oâng Bà Chiểu được xem là biểu tượng của Miền Nam vì nhiều lý do:
Nằm ngay tại Sài Gòn-Gia Định, Thủ Đô của Miền Nam từ lúc Miền này được thành hình, Lăng Oâng Bà Chiểu là một di tích lịch sử quan trọng của nền văn hóa Việt Nam. Cơ sở khang trang nằm trên long mạch rất tốt về phương diện phong thủy, lại được dân chúng bồi đắp tu bổ săn sóc luôn nên càng ngày càng uy nghiêm hùng tráng. Đông đảo dân chúng, người Việt cũng như người Hoa vùng Sài Gòn-Gia Định và các tĩnh lân cận rất sùng bái Đức Thượng Công (mà người Hoa xưng tụng là Phò Mả Da Da), thường tới Lăng Ông xin xăm, cầu nguyện, lễ bái. Sự linh hiển của Đức Thượng Công cũng như sự linh thiêng của Lăng Oâng luôn được dân chúng Miền Nam nhắc nhỡ. Một hội tế tự cũng đã được thành hình từ nhiều năm nay dưới danh xưng "Hội Thượng Công Quý Tế"để lo việc bảo tồn di tích lịch sử cũng như truyền thống tế tự đặc biệt tại Lăng Đức Thượng Công.

Nhưng lý do quan trọng nhất để người dân Miền Nam chọn lựa Lăng Oâng làm biểu tượng của Miền này là NHÂN CÁCH, ĐỨC ĐỘ, CÔNG ƠN của Đức Thượng Công cũng như TẤM LÒNG của Ngài đối với người dân và vùng GIA ĐỊNH xưa tức là cả vùng ĐỒNG NAI-CỬU LONG hay trọn vùng NAM KỲ LỤC TĨNH sau này.

NHÂN CÁCH, ĐỨC ĐỘ CỦA ĐỨC THƯỢNG CÔNG

Tuy sinh trưởng trong gia đình nông dân ít học và không mấy khá giả, không có cơ hội học hành để có vốn học thức cao thâm, nhưng Đức Thượng Công có tính thông minh Trời cho cùng với cách suy tư và hành động của người quân tử. Không học nhiều nhưng Ngài biết nhiều về truyện Tàu, nhất là có những nhận xét rất sâu sắc về nhân cách và hành vi của những nhân vật đặc biệt trong đó. Ngài học hỏi cách xử sự anh hùng, trung dũng, ngay thẳng của nhân vật này để áp dụng trong cuộc đời làm quan phò vua, giúp nước, trị dân của Ngài. Ngài hết lòng phò vua Gia Long, đánh Nam dẹp Bắc, giúp Gia Long thống nhất giang san lập nên Nhà Nguyễn. Ngài là một trong những "ĐỆ NHẤT CÔNG THẦN" của Nguyễn triều. Ngài luôn giũ dạ trung thành đối với Nhà Nguyễn dù sau này Ngài không ưa thích kính phục vua Minh Mạng. Ngài giàu lòng từ thiện nhân ái đối với những kẻ yếu đuối cô thế, lúc nào Ngài cũng sẵn sàng đem hết tài sức mình ra giúp đỡ bảo vệ họ, chống lại sự chèn ép, hà hiếp, áp bức của những kẻ mạnh, ỷ quyền, cậy thế. Ngài vốn hết sức thanh liêm, đi tới đâu là thẳng tay trừng trị bọn quan lại tham tàn bốc lột, bức hiếp dân lành tới đó. Ngài rất sáng suốt trong chánh sách trị loạn. Ngài biết rõ sở dĩ dân lành phải nổi loạn vì họ không còn sống nổi dưới ách cai trị áp bức tàn nhẫn của bọn quan lại tham lam ích kỷ cho nên muốn bình định cho hữu hiệu thì phải quét sạch hết đám quan lại tham nhũng. Ngài đến đâu là đem lại sự an bình thịnh vượng cho người dân đến đó. Ngài có cái uy dũng mà người, (nhất là những kẻ bất lương) và vật đều khiếp sợ. Những con voi, cọp dữ dằn đều khuất phục dưới cái uy nghi của Ngài. Người Xiêm (Thái Lan), người Chân Lạp (Khờ Me), người Lào đều sợ oai Đức Thượng Công. Người Aâu Tây sang buôn bán có dịp yết kiến Ngài đều rất kính nể Ngài.

CÔNG ƠN CỦA ĐỨC THƯỢNG CÔNG

Từ năm 22 tuổi là năm Ngài bắt đầu theo phò vua Gia Long trên đường phục quốc, cho đến năm 69 tuổi là năm Ngài trút hơi thở cuối cùng, Ngài đã trải thân phụng sự cho triều đình, cho quốc gia dân tộc, trong suốt hơn 45 năm. Đối với triều Nguyễn Ngài là đệ nhất công thần được miễn lạy khi vào chầu vua, và được đặc quyền "tiền trảm hậu tấu" ở ngoài triều nội. Công lao của Ngài đối với triều Nguyễn và tổ quốc Việt Nam thật hết sức lớn lao nhưng công lao đó không phải là công ơn để cho dân Miền Nam ghi nhớ và tôn thờ Ngài từ hơn thế kỷ nay. Công lao lớn nhất của Ngài mà người dân Đồng Nai Củu Long đời đời mang ơn tôn kính là công khai phá, mở mang, phát triển vùng đất Gia Định xưa chạy dài từ Bình Thuận đến Cà Mau nơi Ngài đã từng hai lần làm Tổng Trấn.
Xin nhắc lại là khi vừa thành hình trong thập niên 1770 và bắt đầu phát triển chưa được bao lâu thì Miền Nam bị quân Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ trên đường rượt đuổi Nguyễn Aùnh, tàn phá cướp bốc tan tành. Dân chúng vô cùng khốn khổ với những cuộc nội chiến tàn phá này. Sơn Nam trong quyển "Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam" ghi lại như sau, căn cứ trên Gia Định Thông Chí:
"Trước năm 1776, thương cảng lớn nhứt của Miền Nam là cù lao Phố.
Năm 1776 và 1777 quân Tây Sơn tràn vào Gia Định, đánh cù lao Phố "chiếm dỡ lấy phòng ốc, gạch đá, tài vật chở về Qui Nhơn."
Nông Nại Đại Phố tức là thương cảng cù lao Phố suy sụp luôn, thương gia Hoa Kiều bèn kéo nhau xuống vùng Chợ Lớn ngày nay để lập chợ Sài Gòn, sát với chợ Tân Kiểng thành hình từ trước 1770.
Thương cảng Sài Gòn (nên hiểu là Chợ Lớn ngày nay) thành hình và phát triển nhanh từ năm 1778. . . Nhưng 4 năm sau, năm 1782, Nguyễn Nhạc tới 18 thôn Vườn Trầu, bị phục kích thua thảm hại, hộ giá Ngạn của Tây Sơn tử trận. Nhạc nhận ra bọn phục kích là đạo binh Hòa Nghĩa gồm nhiều người Tàu theo giúp Nguyễn Aùnh."Nhạc bèn giận lây, phàm người Tàu không kể mới cũ đều giết cả hơn 10.000 người. Từ Bến Nghé đến sông Sài Gòn, tử thi quăng bỏ xuống sông làm nước không chảy được nữa. Cách 2, 3 tháng người ta không dám ăn cá tôm dưới sông. Còn như sô, lụa, chè, thuốc, hương, giấy, nhất thiết các đồ Tàu mà nhà ai đã dùng cũng đều đem quăng xuống sông, chẳng ai dám lấy, qua năm sau, thứ trà xấu một cân giá bán lên đến 8 quan, 1 cây kim bán 1 tiền, còn loại vật khác cũng đều cao giá, nhân dân cực kỳ khổ sở".
Ngoài việc trả thù riêng người Tàu, Nguyễn Nhạc còn có dụng tâm tiêu diệt đầu não kinh tế của miền Nam, nơi chúa Nguyễn nắm được nhân tâm từ lâu." (tr. 41-43)

Ở trấn Vĩnh Thanh, trong lúc Tây Sơn vào chiếm cứ thì dân chúng "đều chôn cất của cải không dám phơi bày ra, cho nên bọn cường đạo không cướp lấy được vật gì." "Chợ phố lớn Mỹ Tho, nhà ngói cột chạm, đình cao chùa rộng, ghe thuyền ở các ngả sông biển đến đậu đông đúc làm một đại đô hội rất phồn hoa huyên náo. Từ khi Tây Sơn chiếm cứ, đổi làm chiến trường, đốt phá gần hết, từ năm Mậu Thân (1788) trở lại đây, người ta lần trở về, tuy nói trù mật nhưng đối với lúc xưa chưa được phân nữa."
Chánh sách của Tây Sơn ở miềnNam là phá căn cứ địa, chận các đường thủy từ Sài Gòn, Cần Giờ đến vùng vàm sông Củu Long, chận các vị trí chiến lược nối liền Tiền Giang qua Hậu Giang." (tr. 45-46)

Cuộc nội chiến đã gây bao nhiêu tàn phá đổ vở cho Miền Nam trên đường phát triển, gây trở ngại lớn lao cho dân chúng Miền Nam trên đường gầy dựng sự nghiệp. Đâu đâu dân chúng cũng mong đợi cảnh hòa bình, cuộc trị an, cơ hội thuận lợi để làm ăn xây dựng lại cuộc đời, xây dựng lại nền an ninh thịnh vượng cho xứ sở. Những mong ước chính đáng đó của người dân Đồng Nai Cửu Long đã được đáp ứng đúng sau khi Gia Long thống nhất đất nước và nhất là khi Đức Thượng Công Lê Văn Duyệt hai lần vào làm Tổng Trấn Gia Định.
Ngài đã làm cho người Xiêm La nể sợ không dám dòm ngó phá phách Việt Nam. Ngài làm cho Cao Miên hết sức cám ơn thần phục, luôn trông cậy vào sự bảo vệ của Ngài. Ngài cho đào kinh, mở đường để sự giao thông được nhiều phần tiện lợi trong vùng Đồng Nai Cửu Long, cũng như giữa Cao Miên và Miền Nam nước Việt để cho việc vận chuyển quân binh cũng như hàng hóa được dễ dàng thuận lợi. Ngài kiểm soát chặt chẽ các quan viên lớn nhỏ trong vùng cai trị của Ngài để không có nạn tham nhũng, chèn ép áp bức dân lành xảy ra, để cho người dân được yên lòng làm ăn. Trong khi triều đình chủ trương bế môn tỏa cảng, xem thường thương mãi (theo đúng thứ tự Sĩ, Nông, Công, Thương của nho gia), không giao tiếp với các nước ngoài (ngoại trừ Trung Hoa), triệt để cấm đạo Thiên Chúa, thì ở Gia Định sự giao thương được mở rộng, việc giảng đạo không bị bắt bớ, người dân lương thiện có cơ hội làm ăn, gầy dựng, phát triển sự nghiệp của mình trong không khí an bình thuận lợi. Nhờ chính sách cai trị sáng suốt và nhân đạo đó mà sau bao năm bị tàn phá cướp bốc, Miền Nam lại sống dậy, phát đạt và phồn thịnh chưa từng thấy trong toàn cõi Việt Nam (xin xem thêm bài "Khâm Sai Gia Định Thành Tổng Trấn Chưởng Tả Quân Quận Công Lê Văn Duyệt" trong đặc san này). Công ơn lớn lao đó của Ngài Tổng Trấn không bao giờ ngừơi dân Đồng Nai Cửu Long có thể lãng quên. Họ đời đời ghi nhớ.

TẤM LÒNG CỦA ĐỨC THƯỢNG CÔNG

Tấm lòng của Ngài đối với vùng đất Gia Định và người dân Đồng Nai Củu Long thật như trời biển. Ngài đúng là bậc cha mẹ dân luôn luôn thương dân như con đẻ. Có thể nói là đối với Ngài "dân vi quí, xã tắc thứ chi" vậy. Chính vì vậy mà người dân Gia Định mang ơn Ngài, tôn sùng Ngài hơn cả vua chúa, hơn cả những vị anh hùng dân tộc thường được lịch sử ca tụng từ trước đến giờ. Trong quyển tiểu thuyết lịch sử "Lê Văn Duyệt, Từ Nấm Mồ Oan Khuất Đến Lăng Oâng" của Hoàng Lại Giang có một đoạn văn nói lên tâm trạng buồn lo và tấm lòng của Ngài đối với quê hương xứ sở như sau:
"Lâu nay ta vẫn coi chết sống là lẽ thường. Ta chẳng đã từng bao lần đứng trước cái chết, vậy mà ta không chết. Vậy thì chết đâu phải dễ. . . Dẫu sao ta vẫn là ta, là Lê Văn Duyệt. Mong ước của ta là trừ khử được lũ cường bạo, giúp những người dân lành vô tội, sống đói rách mà quanh năm vẫn phải quần quật. . .
Ta muốn trở về quê ta, trở về Gia Định. Dân Gia Định là dân cùng đường chạy về đây. Chính đám dân này đã khai sáng đất Gia Định này. Họ sống hào hiệp nghĩa khí lắm.
Đời ta nghĩ lại, có gì đâu. Không vợ, nhà vua cho cung phi làm vợ. Không con, lấy cháu làm con. Ta không ham hố điều gì. Ta coi thường mọi công danh.
Phải, ta sẽ trở về với dân Gia Định thuở hàn vi. Chút tình quê hương, chút nghĩa đồng bào một thuở. . . , tranh thủ mà ơn đền nghĩa trả. Công lớn lắm. Nghĩa nặng lắm. Dân không bao giờ đòi ta. Bao giờ nhắc tới dân Gia Định ta cũng thấy mình mang nợ." (tr. 93)
Trên đây là một đoạn văn tiểu thuyết nhưng người viết tiểu thuyết đã phần lớn thấy đúng tâm trạng của Đức Thượng Công. Ngài thương dân Gia Định, Ngài thương đất Gia Định vô cùng. Ngài đã đem tất cả tài sức giúp dân, giúp quê hương xứ sở. Tấm lòng của Ngài đối với dân Đồng Nai Cửu Long và mảnh đất thân yêu này thật là vô bờ bến.
Sống đã vậy mà khi mất đi rồi vẫn tiếp tục bảo bọc phù hộ con dân của mình. Thác rồi Ngài trở thành một vị thần hiển linh mà người dân Gia Định hết lòng tín ngưỡng phụng thờ. Lăng Oâng Bà Chiểu nổi tiếng từ bấy lâu nay là vậy. Lăng Oâng Bà Chiểu rất xứng đáng làm biểu tượng cho cả Miền Nam.

GS Nguyễn Thanh Liêm

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Người Việt và văn hóa tranh luận Có những cuộc tranh luận rất gay go nhưng luôn trong hòa khí, với kết thúc bằng những đồng thuận không có bởi áp đặt, cũng như không xảy ra sứt mẻ quan hệ giữa những người tham gia. Người ta học được gì đó mới trong mỗi nội dung mà mình tranh luận. Điều đó chỉ có thể xảy ra khi các bên tham gia tranh luận có văn hóa tranh luận. Văn hóa tranh luận – đương nhiên nằm trên nền văn hóa của mỗi cá nhân, và rộng hơn là văn hóa của dân tộc. Một dân tộc có nền văn hóa ra sao, nó thể hiện phần nào qua cách mà người dân tộc đó tranh luận.

Với người Việt, văn hóa tranh luận thể hiện rõ qua kết cục thường thấy: tranh luận biến thành cãi lộn. Người ta luôn cố gắng bác bỏ ý kiến của đối phương, bảo vệ đến cùng quan điểm của bản thân. Hiếm khi thấy người ta thừa nhận cái sai của mình. Hòn bấc ném đi hòn chì ném lại, nặng lời, to tiếng rồi chuyển sang mạt sát lẫn nhau trong sự không kiềm chế. Kết cục là không giải quyết được vấn đề gì trong khi chuốc thêm bực mình thậm chí thù hằn lẫn nhau. Không nhiều người Việt có văn hóa tranh luận, âu cũng là do dân tộc này không có truyền thống tranh luận – chuyện không có gì khó hiểu đối với nền văn hóa của một dân tộc nô lệ và có truyền thống gia trưởng – không dám nói trái ý cha mẹ, lời thày là khuôn vàng thước ngọc; từ ngàn đời nay người ta phải tuân theo chiếu chỉ của vua quan của các triều đại phong kiến nối tiếp nhau cho tới triều đại phong kiến biến tướng ngày nay. Không được phép nói trái ý vua, phạm húy, vi phạm các chiếu chỉ và nghị quyết trong điều kiện pháp luật xử lý tùy tiện đã tạo ra một môi trường giết chết tranh luận. Một cách tổng quát - người ta không thể tranh luận khi không có tự do ngôn luận – linh hồn của tự do.

Trong thời đại internet ngày nay đã xuất hiện ngày càng nhiều các cuộc tranh luận. Thiết nghĩ việc tìm hiểu thế nào là văn hóa tranh luận là cần thiết nhằm tránh vết xe đổ của vô vàn các cuộc tranh luận đã có, nhưng trước nhất ta cần xác định mục đích của tranh luận là gì? Ngay trong thread này đã thấy những ý kiến khác nhau về mục đích của tranh luận. Việc gì cũng vậy, khi mục đích không thống nhất thì kết cục việc làm sẽ chẳng đi đến đâu. Điều này cũng đương nhiên đúng đối với tranh luận. Người viết cho rằng mục đích tranh luận là để tìm ra chân lý – đây là quá trình tự nhiên của hoạt động tư duy của con người đồng thời nó cũng là một nhu cầu của con người - việc này làm động lực cho xã hội phát triển. (Xin được miễn đi sâu phân tích điểm này ở đây để tránh lạc đề). Khi có cùng mục đích tìm hiểu đâu là chân lý thì người ta thấy việc nỗ lực thuyết phục người khác hoặc khăng khăng bảo vệ quan điểm của mình sẽ trở thành lố bịch.

Nếu đồng ý mục đích tranh luận là như vậy thì một cách giản dị và tổng quát, văn hóa tranh luận bao gồm ba yếu tố sau:

1- Điều kiện tiên quyết của một cuộc tranh luận đúng nghĩa: Người tham gia tranh luận phải có tâm cầu thị. Đơn giản vì đây là hệ quả của mục đích tranh luận. Nếu không có cái tâm cầu thị thì người ta sẽ tranh luận với rất nhiều mục đích khác nhau. Khi đã không có cái đích chung thì cuộc tranh luận sẽ chắc chắn chẳng đi tới đâu. Khi đã không có tâm cầu thị, chắc chắn người ta sẽ tham gia tranh luận với những động cơ thiếu lương thiện, điều này không khó nhận ra đối với những bạn đọc tỉnh táo.

2-Tranh luận phải có tính học thuật: điều này có nghĩa người tham gia tranh luận nên/phải tôn trọng thực tế khách quan, trình bày quan điểm có cơ sở lý luận hoặc cơ sở thực tế, có dẫn chứng minh họa. Để cho rõ ràng, đôi khi việc qui ước những tiêu chuẩn để đánh giá thế nào là đúng, sai cũng là cần thiết. Tóm lại, cần phải có chung hệ qui chiếu. Những nội dung tranh luận càng phức tạp sẽ càng đòi hỏi nhiều kiến thức. Điều quan trọng nhất ở đây là phải thống nhất với nhau các vấn đề nền tảng trước khi đi vào tranh luận chi tiết. Nhiều cuộc tranh luận gay gắt lẽ ra sẽ không xảy ra nếu người ta biết rằng vấn đề chỉ là cách hiểu khác nhau về một khái niệm nào đó, thậm chí một từ ngữ nào đó. Cuối cùng nhiều lúc người ta thấy mình đã phí thời gian vô ích chỉ vì không thống nhất trước vài vấn đề cơ bản. Với người Việt, cảm tính thường được dùng thay lý tính khi tiếp cận một vấn đề, đây là một đặc tính văn hóa không thích hợp trong tranh luận.

3- Tôn trọng đối phương khi tranh luận. Nếu thực sự coi mục đích của tranh luận là để phân minh phải trái đúng sai, thì không có lý do gì để thiếu tôn trọng đối phương. Sự sai lầm của một quan điểm có giá trị chứng minh cho sự đúng đắn của một quan điểm khác. Mặt khác, không có gì đảm bảo cho sự đúng đắn của một ý kiến là vĩnh viễn. Tất cả chỉ có giá trị giới hạn trong điều kiện hiện tại của các dữ liệu hiện có.Vậy nên giữ thái độ tôn trọng lẫn nhau là cần thiết. Ngôn từ đúng mức, thể hiện quan điểm một cách ôn hòa trong giới hạn vấn đề đang được tranh luận là điều nên có trong tranh luận. Ở những xã hội phát triển văn minh con người ta tôn trọng nhau hơn ở những xứ còn lạc hậu, đó là sự khác biệt về văn hóa.

Mong rằng có nhiều hơn những cuộc tranh luận đúng nghĩa trên diễn đàn này giúp bạn đọc mở mang thêm nhiều kiến thức, tiếp nhận thêm nhiều thông tin và quan điểm khác nhau - đặc biệt về chính trị, xã hội từ đó tự rút ra kết luận cho bản thân. Đó sẽ là những đóng góp thiết thực của diễn đàn vào tiến trình dân chủ hóa trong bối cảnh đất nước không có tự do thông tin và không có tự do ngôn luận như hiện nay. Cảm ơn diễn đàn và tác giả mở topic này đã tạo điều kiện để người viết chia sẻ vài suy nghĩ về một vấn đề rất cơ bản thường gặp trong ngôn luận – đó là tranh luận

Khoainhacngua, X-cafe http://www.x-cafevn.org/node/2158

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Những bức ảnh làm thay đổi thế giới

Đây là các bức ảnh ghi lại dấu ấn cả một thời đại hoặc tố cáo tội ác kinh hoàng của chiến tranh,
được tờ Telegraph đánh giá là đã có tác động làm thay đổi thế giới của chúng ta.

Việc bình chọn được thực hiện nhân kỷ niệm 170 năm ngày ra đời công nghệ chụp ảnh.
Dưới đây là một số hình ảnh trong tập hợp mà tạp chí trên đưa ra.

1. Cảnh nhìn từ cửa sổ ở Le Gras - 1826 của Joseph Niépce
Image

Một tấm ảnh không có gì nhiều: Một bức tường, một mái nhà, một ống khói.
Nhưng ý nghĩa nó tạo ra lại vô cùng lớn. Bức ảnh đánh dấu lần đầu tiên, con người ghi lại được hình ảnh thực của thế giới.

Để chụp được hình ảnh này, Joseph Niépce - một sĩ quan, thị trưởng của Nice, Pháp - đã sử dụng quy trình gọi là heliography (thuật khắc bằng ánh sáng mặt trời) với 8 giờ phơi sáng.
Đây là cơ sở để năm 1839, Louis Daguerre - nhà hóa học người Pháp - phát minh ra quy trình chụp hình thực tiễn.

2. Thung lũng chết chóc - 1855 của Roger Fenton
Image

Fenton được coi là nhiếp ảnh gia chiến tranh đầu tiên của thế giới.
Năm 1855, do yêu cầu thời gian phơi sáng quá nhiều của máy móc thời bấy giờ, Fenton không chụp được các bức ảnh về những trận chiến.
Ông đành ghi lại hình ảnh một dải đất vắng bóng người nhưng đầy rẫy những quả đạn đại bác.

Bức hình gần như trống không một cách kỳ lạ và đầy tính ẩn dụ này là minh chứng rằng nhiếp ảnh cũng có thể đầy triết lý và có ảnh hưởng như những bài thơ, ngay cả khi chủ đề của nó là về chiến địa.

3. Nagasaki - 1945 do Không quân Mỹ chụp
Image

Một minh chứng cho thấy sức hủy diệt kinh khủng của con người. Đám mây hình nấm trên bầu trời Nagasaki,
Nhật năm 1945 này đã giết chết 80.000 người và đến nay vẫn là nỗi ám ảnh cho hòa bình nhân loại.

4. Hans Conrad Schumann nhảy sang Tây Berlin - 1961, của Peter Leibing
Image

Bức ảnh chớp được khoảnh khắc một người lính liều mình nhảy qua hàng rào dây thép gai chia cắt Đông và Tây Berlin.
Ảnh lột tả mức độ căng thẳng của Chiến tranh Lạnh vào đầu thập niên 60 của thế kỷ trước.

5. Kim Phúc trong trận bom napalm của Mỹ ở Việt Nam - 1972, của Nick Ut
Image

Hình ảnh 5 đứa trẻ Việt Nam vẻ mặt khiếp đảm chạy trốn một cuộc bỏ bom napalm.
Đáng thương nhất là cô bé giữa khuôn hình - Kim Phúc - trần truồng, gào khóc với cánh tay gầy gò xương xẩu.
Bức ảnh chạm đến trái tim của những người yêu hòa bình trên khắp thế giới.
Tấm ảnh này đã góp phần thay đổi nhận thức của nhiều người về cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam, khiến phong trào phản chiến thêm mạnh mẽ.

6. Kền kền chờ đợi - 1994 của Kevin Carter
Image

Được trao giải Pulitzer 1994, bức ảnh ghi lại khoảnh khắc một em bé ở Sudan sắp chết đói đang cố lết về phía trại phân phát lương thực của Liên Hợp Quốc cách đó khoảng một km.
Cách đó không xa, một con kền kền đang chờ em bé chết để ăn thịt. Bức ảnh khiến cả thế giới bàng hoàng.

Không ai biết điều gì xảy ra với em bé sau đó. Cả nhiếp ảnh gia cũng không biết bởi anh rời đi ngay sau khi chụp ảnh.
Nhiều người lên án sự lạnh lùng sau ống kính của tác giả. Ba tháng sau khi chụp bức ảnh này, nhà nhiếp ảnh Kevin Carter đã tự tử vì trầm cảm.

7. Tra tấn tù nhân ở nhà tù Abu Ghraib
Image

Một trong một loạt hình ảnh về các biện pháp tra tấn và nhục hình đối với tù nhân Iraq mà quân đội Mỹ thực hiện tại nhà tù Abu Ghraib.
Việc công bố các hình ảnh như thế này là kết quả của cuộc điều tra do cơ quan điều tra tội phạm thuộc quân đội Mỹ tiến hành năm 2004.

Lưu Hà

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Hình ảnh 3.000 người dự Lễ Khánh Thành
Tượng Đài Tỵ Nạn tại cảng Hamburg, Đức quốc


Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

http://catholicvideo.org/Albums/90912CapAnamur12092009/

http://unser-vietnam.de/index.php?optio ... Itemid=222

Enthüllung des Gedenksteins am 12.09.2009 in Hamburg, Eingesendet von Hamburg Gedenkstein Initiative e.V. 09.08.2009

Image

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

NƯỚC MẮT MÙA THU

Giao Chỉ San Jose
Mùa thu vĩnh biệt

Mùa thu năm nay, tại San Jose có một đám tang hết sức trẻ trung và khác biệt. Phần lớn người đến tiễn đưa là tuổi trẻ. Có cả chương trình chiếu phim. Có những bài ca vĩnh biệt và lại có cả di chúc của người ra đi an ủi vỗ về người ở lại.

Bà mẹ trẻ đứng yên lặng bên cạnh quan tài con gái. Người đứng đó rất lâu và nỗi buồn làm tê cứng bàn chân tượng đá. Mẹ tên là Hoàng Mộng Thu và con gái tên là Michelle. Mùa xuân năm 2007, Michelle 25 tuổi, tốt nghiệp đại học, tương lai mở cửa chào đón cuộc đời nở hoa đúng lúc bắt đầu dược tin bị ung thư máu (Acute myeloid leukemia). Cuộc chiến bất ngờ không lựa chọn xảy ra suốt một năm dài. Hết sức gian khổ đau thương. Ai là bệnh nhân ung thư, ai là thân nhân của bệnh ung thư đều biết rõ hoàn cảnh mắc bệnh tử hình và việc trị liệu bằng hóa chất đau đớn dường nào.

Mùa xuân 2008, sau 1 năm hóa trị (chemotherapy) bệnh tình thuyên giảm và đã có hy vọng. Nhưng chỉ được 2 tháng mong manh, đến tháng 5-2008 thì bệnh tái phát, mãnh liệt hơn. Tương lai lúc đó hoàn toàn trông cậy vào việc thay tủy. Hy vọng hết sức xa vời, nhưng đó là hy vọng của bước đường cùng. Và đành tuyệt vọng.

Bây giờ phút cuối cùng đã đến. Các thanh thiếu niên trong nhóm hoạt động để cứu Michelle đành thất vọng họp mặt về nghĩa trang Oak Hill để cùng khóc thương cho một cuộc chiến bất thành. Các bạn của em cùng nhìn thấy hình ảnh Michelle tươi cười như khích lệ bạn bè hãy mạnh mẽ tiếp tục cuộc đấu tranh.

Những cô gái mặc tang phục nhỏ lệ khóc người đi. Những thanh niên cạo trọc đầu trong biểu tượng quyết tâm cứu Michelle bây giờ ngậm ngùi vì thua cuộc.

Michelle là ai

Michelle ra đời tại Texas, trưởng thành tại California và là 1 thiếu nữ hết sức năng động. Ngay từ khi học trung học tại miền Ðông Vịnh, cô đã là chủ tịch của hội học sinh. Tốt nghiệp từ 2004 Michelle đã bắt đầu hoạt động cộng đồng về mọi lãnh vực.
Image
Michell chụp với Cha.
Làm tư vấn cho tổ chức KPMG và đạp xe qua cầu Golden Gate. Từ tinh thần đến thể chất, Michelle luôn luôn tham dự nhiệt thành cùng với tuổi trẻ thân hữu. Vì vậy cô có rất nhiều bạn. Và Michelle theo mẹ là chị Hoàng Mộng Thu tham dự hầu hết các công tác của nhóm Tình Thương tại San Jose. Riêng về phần cô, cũng đã có riêng một mối tình đầu với chàng trai Việt Nam.

Hoa Tình Thương, kể lại từ đầu

Ở San Jose từ nhiều năm nay có một hoạt động khá đặc biệt của nhóm Tình Thương. Quanh năm vận động người tình nguyện đi làm toàn những công việc từ thiện rắc rối. Thăm phụ nữ trong tù. Thăm các em thiếu niên trong trại quản giáo. Mới đầu thì chỉ giới hạn thăm nom người Việt Nam trong vòng lao lý. Sau rồi mở rộng thăm viếng tất cả mọi trẻ em ở tù. Công việc tiến hành đều đặn và đã trở thành truyền thống hàng năm.

Sáng kiến hay nhất là mua hoa đem vào trại tù thiếu nhi dạy các em làm một giỏ hoa. Ðến ngày Mother day, lễ Tạ ơn hay Giáng sinh mẹ em vào thăm, em bé tù thiếu nhi có món quà cho mẹ. Thật không còn gì hay hơn. Giới chức Hoa Kỳ rất ngưỡng mộ. Các nhân viên xã hội rất hoan nghênh.
Image
Michell chụp với Mẹ.
Người đứng ra tổ chức các chương trình thăm viếng như thế được trại tù đặt tên là Flower Lady. Cô tên thực là Hoàng Mộng Thu, suốt đời hăng hái làm việc thiện nguyện. Ðôi khi hơi quá hăng hái nên cũng gặp trở ngại, nhưng với tấm lòng chân thành, Flower Lady vượt qua mọi khó khăn.

Rất ít người biết về cuộc sống riêng tư của thiếu phụ Việt Nam bôn ba lận đận nầy. Cô lập gia đình với ông chồng người Thái Lan khi mới qua Mỹ. Sinh hạ được 3 người con thì chia tay đôi ngả. Nhưng Hoàng Mộng Thu rất bằng lòng với 3 đứa con trưởng thành và xinh đẹp : 2 con gái, một con trai.

Những đứa con gái theo mẹ Việt Nam tham gia sinh hoạt cộng đồng từ lúc còn thơ ấu nhưng lại biểu diễn tài nghệ múa hát theo máu huyết của ông bố Vọng Các. Con gái đầu lòng Michell là giai nhân mang hai dòng máu Á Châu: Thái Việt.

Tốt nghiệp Ðại học Berkley với hai văn bằng kinh tế thương mại và quản trị hành chánh. Tương lai cô con gái của Flower Lady như nụ tầm xuân mới nở.

Cho đến tháng 2 năm 2007 Michell thấy nhức đầu khó chịu trong người bèn đi khám bệnh, tưởng là chuyện bình thường. Nhưng rồi bản án của y khoa rơi xuống số mệnh của cô bé bất hạnh như trời xập. Hết sức lo sợ và buồn rầu. Những giọt nước mắt tiểu thư đầu tiên của cuộc đời đau thương chảy xuống.

Em bị bệnh Leukaemia là một thứ ung thư máu nguyên do vì bạch huyết cầu phát triển nhưng không còn khả năng hữu dụng. Ðó là mầm bệnh mà 40 năm trước trong chuyện tình

“Love story”, cô vợ trẻ mới cưới của chàng sinh viên Hoa Kỳ đã phải chịu đựng rồi qua đời trong vòng tay người yêu làm cả nước Mỹ nhỏ lệ.

Em Michell có đọc chuyện này từ thời trung học nhưng không bao giờ nghĩ rằng sẽ đến lượt mình. Sau khi thử máu đã xác định bệnh lý. Người ta giữ em lại nhà thương để làm Chemotherapy ngay lập tức. Bây giờ chữ nghĩa Việt Nam gọi là “Hóa chất trị liệu”. Nhiều gia đình chúng ta có bệnh nhân ung thư ngày nay đã quen thuộc gọi là đi làm “Ki mô”. Thường là những bệnh nhân lớn tuổi khi cơ thể cũng như các tế bào bắt đầu lão hóa dễ mắc ung thư. Nhưng ở đây, số phận không đợi tuổi.

Michelle phải xin nghỉ việc để chữa bệnh dù mới ở tuổi hoa niên. Cô tuyên chiến với một căn bệnh hiểm nghèo nhất của nhân loại. Bệnh Ung Thư.

Vì em còn trẻ nên bác sĩ cho điều trị Chemo liên tiếp cả tuần. Một tháng của em không phải là chu kỳ 30 ngày mà là 5 tuần lễ. Sau 1 tuần từ nhà thương trở về, em phải qua 2 tuần liền chịu đựng rất mệt nhọc. Tốt nghiệp về quản trị hành chánh, nhưng các con số rơi rụng hết cùng với những chữ nghĩa thị trường. Bây giờ em tự theo học về y khoa, và chỉ học về một bệnh duy nhất mà mầm bệnh nằm trong máu của em. Em biết có bao nhiêu cơ hội sống và bao nhiêu phần sẽ ra đi. Nhưng trên cuộc hành trình nầy nếu em gặp được may mắn có dịp ghép đúng tế bào tủy sống của 1 người vô danh trên thế giới thì việc điều trị sẽ đầy triển vọng.

Do đó mẹ của em, cả nhà của em, và tất cả thân nhân đều nhẩy vào một mặt trận mới. Ðó là chiến dịch đi tìm người hiến máu liên quan đến việc cứu bệnh nhân ung thư máu.

Hoa Kỳ có cả ngàn bệnh nhân trong danh sách chờ phép lạ. Cũng tại Mỹ có hàng triệu người đã đồng ý ghi danh cho máu liên quan đến bệnh này. Tiếc thay, bệnh nhân Á Châu vốn hy vọng nhiều ở người Châu Á thì dân Việt Nam ta có rất ít người ghi danh .

Một thoáng y khoa

Thống kê cho biết tại Hoa Kỳ có 7 triệu người ghi danh đồng ý sẽ hiến máu hoặc tủy cho người bệnh. Nhưng không phải cho máu thông thường. Hai người có những dữ kiện máu và tủy giống nhau là chuyện hiếm có. Khi phát giác ra mầm bệnh, các con số thần bí của y khoa ghi nhận ám số riêng của bệnh nhân và lập tức lên máy điện toán để dò xem có ai trùng hợp trong số người đã tình nguyện.

Michell được đưa dữ kiện lên dò một lượt với 7 triệu người ghi danh. Việc chờ đợi kết quả hết sức xúc động và thường rất ít hy vọng. Ðúng như vậy, trong số hàng tỉ người sống trên mặt đất chỉ có 7 triệu người ghi danh. Và trong 7 triệu này không có ai trùng hợp với máu huyết của Michell. Một người nào đó đang ở nơi nào có những dữ kiện trùng hợp nhưng lại chưa ghi danh. Vì vậy tên của cô chuyển qua danh sách 6 ngàn người ngồi chờ.

Thực sự trong nhiều năm qua, cũng đã có hàng chục ngàn người đã gặp phép lạ. Bị phát giác ra căn bệnh nầy, lên máy gặp ngay quý nhân ở chân trời. Liên lạc và thuyết phục lại, người ta chịu mất công nhận lời chính thức là mình sống lại cuộc đời mới.

Ngay tại San Jose, đứa bé Việt Nam 14 tháng tuổi con Bác sĩ Ðỗ Lâm đã bị ung thư máu. May mắn thay, từ tiểu bang Washington, ông cảnh sát, tên trong danh sách có điều kiện trùng hợp. Ðứa bé được cứu sống, bây giờ 7 tuổi. Do ông cảnh sát to lớn xa lạ đã tái tạo một mầm sống từ đất chết.

Theo khoa học, sác xuất trùng hợp khá cao nếu cùng chung sắc tộc. Vì vậy rất cần có thêm người Việt Nam và Á Châu vào danh sách tình nguyện. Người Việt tại Hoa Kỳ theo tỷ lệ phải có con số ghi danh là 15,000 ngàn. Nhưng hiện nay mới có 8 ngàn người gốc Việt ghi danh . Thêm người Việt Nam trong danh sách, hy vọng của Michell cũng cao hơn. Tuy nhiên dù sao cũng vẫn cần phép lạ. Phép lạ không có tỷ lệ.

Chắc chắn Michell biết rằng em chỉ còn trông cậy vào Chemo để chiến đấu với cuộc đời. Năm mươi, năm mươi. Cả em và mẹ em đều nhất quyết dành phần đời còn lại cho cuộc chiến đấu sinh tử. Dù cho số người ghi danh tăng thêm nhưng cơ duyên chưa đến thì cũng tạo vận may cho người khác. Mỗi khi có thêm 100 người hay 1 ngàn người ghi danh vào danh sách mới là lại có một vài người trong danh sách chờ đợi được trúng số.

Project Michell

Ðó là lý do chiến dịch Michell ra đời. Nói cách văn vẻ và mạnh mẽ hơn ta có thể gọi là chiến dịch cứu mạng Michell (Save Michell life). Mục đích cố gắng vận động cho nhiều người Việt Nam ghi danh tham dự.

Nếu đang ở các nước trên thế giới rất có thể đến các nhà thương địa phương hỏi thăm, thế nào cũng có tin tức. Hãy ghi danh và thử nghiệm. Rất giản dị và rất căn bản.

Bước đầu chỉ là lấy một chút nước miếng để thử nghiệm. Tên tuổi và dữ kiện sẽ đưa về Hoa Kỳ. Mỗi ngày đều có bệnh nhân mới lên máy để dò tìm. Nếu mà trúng người, sẽ được khám nghiệm rồi bảo trợ du lịch qua Hoa Kỳ. Làm 1 chuyến Mỹ du, cứu đựơc một người, mà công việc chỉ là lấy máu trong giây phút.

Vấn đề chính là Trời có cho ta cái duyên để làm phúc hay không.

Rất tiếc tại Á Châu hiện nay thì mới có văn phòng tại Thái Lan. Có thể trong tương lai gần sẽ mở tại Sài Gòn. Ngay tại Hoa Kỳ và trên toàn thế giới, nếu độc giả có lòng, ở đâu cũng có nhà thương. Nhà thương nào cũng có các văn phòng lập danh sách để chúng ta tình nguyện cho máu cứu người bị bệnh này. Muốn là được, chẳng có gì khó cả.

Nếu bạn từ 18 đến 60 tuổi, không có bệnh nan y đều được thử để ghi tên vào danh sách. Khi có đúng người cần, việc nầy cũng như là 2 bên cùng trúng số. Bệnh nhân trúng số vì có quý nhân phù trợ. Người ghi danh trúng số vì trời giao cho nhiệm vụ cứu người.

Chỉ cần 1 chút nước miếng thử nghiệm khi ghi danh, rồi đến khi thực sự cần mới lên đường đi lấy chút máu hay 1 chút tủy sống trong chốc lát. Bạn trở thành anh hùng cải tử hoàn sinh cho 1 người trong số 6,000 người đang chờ đợi sống chết từng ngày.

Mẹ khóc con khóc

Hai năm trước, tin tức đưa lên truyền hình, câu chuyện của Michell đã làm cho ông quay phim phải bỏ máy lau nước mắt. Trên TV Việt Nam bà mẹ Flower Lady khóc quá chừng làm đứa con vừa khóc theo vừa dỗ dành cho mẹ. Qua hình ảnh ghi nhận được, khán giả tưởng chừng chính bà mẹ là nạn nhân và cô gái là người an ủi.

Chị Hoàng Mộng Thu trải qua 12 năm vào tù ra khám chỉ để thăm những đứa trẻ trong trại giáo hóa thiếu tình thương. Flower Lady đem tình thương reo rắc khắp mọi nơi. Ngày nay, không ngờ mẹ con lại ôm nhau khóc để kêu gọi tình thương của mọi người. Cháu Michell chịu đựng Chemo rất nặng sắc diện thay đổi. Tóc không còn đen mướt như xưa. Mặt sẽ không còn sinh khí mạnh mẽ như ngày nào. Tình yêu đến, tình yêu đi nào ai biết, nhưng em cương quyết giữ vững một tấm lòng kiên trì chiến đấu với số mệnh mong manh của cuộc đời. Michell nói rằng em vẫn còn có được 50% chiến thắng. Em chiến đấu cho sinh mạng của em và em chiến đấu cho niềm hy vọng của me.

Chúng tôi ngồi coi cảnh thu hình câu chuyện trên TV. Mẹ Thu ngồi kể lể mà nước mắt chan hòa. Con gái Michell nhìn mẹ như một đứa bé thơ ngây lạ lẫm lần đầu thấy mẹ khóc. Trên khuôn mặt trẻ thơ căng thẳng, nước mắt của em cũng ngập ngừng chẩy ra. Nước mắt con, nước mắt mẹ. Nước mắt của Hoa Tình Thương, của Flower Lady một thời rộn rã tiếng cười. Bây giờ Michell bỏ cuộc ra đi, nhắc lại chuyện xưa, cười ra nước mắt.

Chuyện tình Việt Nam

Khi đi đưa đám Michelle có người hỏi về chuyện tình yêu. Mẹ của cô, sau này kể lại rằng 2 đứa yêu nhau đã 4 năm. Anh chàng Lê Minh Vân là bạn trai cùng tuổi 27, làm việc tại bệnh viện và đại học Stanford. Anh đã phải xin nghỉ việc để đi cùng Michelle lên Seatle chữa bệnh 5 tháng tại tiểu bang Washington. Rất tiếc điều trị không thành công. Ðành trở về Cali. Khi có tin Michelle bị bướu trên não, có thể phải mổ rất tốn kém, hai cháu đã vội vàng kéo nhau đi làm hôn thú. Dù sống hay chết cũng phải thành vợ chồng và thực tế hơn nữa, đóng góp cái bảo hiểm của Stanford để có thêm phương tiện mà điều trị.

Chị Thu kể rằng Michelle thân yêu của gia đình, sau 2 năm 6 tháng chiến đấu, cháu biết rằng ngày cuối cùng sẽ đến, nên đã sắp xếp cho chuyến ra đi lần cuối chu đáo và bình thản. Bác sĩ cho biết chỉ còn sống từ 4 đến 6 tuần. Michelle muốn về chết tại nhà. Cô viết chúc thư ghi rỏ quần áo sẽ mặc, việc hỏa táng đem theo những gì, nghi lễ và hình ảnh ra sao. Cô từ chối tất cả các thuốc ngủ và thuốc dịu đau. Chiều thứ sáu, gia đình gọi mọi người về đông đủ. Không khí đau thương, nhưng tuyệt đối không 1 tiếng khóc. Michell không muốn mọi người khóc than. Cô nằm đó, bình thản, lời nói điềm đạm nhắn gửi từng người. Dặn em trai. Dặn em gái. Dặn dò cha. Dặn dò mẹ và nhắn gửi cho chồng. Mỗi người đều có một lời nhắn gửi và 1 niềm mơ ước để lại. Sau cùng, Michelle nói là cô đã sẵn sàng. Cô để cho em gái nhỏ vào miệng những giọt morphine và cô ra đi lúc 2 giờ sáng thứ bẩy 25 tháng 8-2009.

Chồng của cô, anh Lê Minh Vân sẽ trở lại đại học Stanford theo học nốt chương trình cao học vào tháng 9-2009. Ðây là hạn chót để học bổng còn hiệu lực.

Em ra đi đem theo tình yêu, nhưng vừa đúng lúc để cho anh đủ thì giờ làm lại cuộc đời.

Michelle dặn mẹ Hoàng Mộng Thu phải tiếp tục Project Michelle. Từ ngày chương trình này bắt đầu đã có 14 trường hợp được tìm thấy, Bẩy hồ sơ đã thành công và 7 hồ sơ đang đợi chờ ghép tủy.

Dự án đi cứu Michelle không thành, nhưng con đường em đi đã cứu được nhiều người khác.

Chị Hoàng Mộng Thu ghi nhận di chúc ủy thác của con gái, bây giờ đang tiếp tục cuộc đấu tranh pháp lý xin cho các công chức chánh phủ tiểu bang nếu đi hiến tủy được phép nghỉ có lương. Coi như đi làm công tác nhân đạo.

Quyết định này tuy không tốn kém nhiều nhưng sẽ có giá trị tinh thần rất đáng kể.

Trưa chủ nhật 13 tháng 9-2009 là dịp họp mặt 49 ngày của Michelle tại chùa An Lạc San Jose. Một lần nữa, mùa thu lại khóc cho thân phận con người.

Giao Chỉ

(giaochisanjose@sbcglobal.net)

muoiot
Posts: 100
Joined: Sat Sep 19, 2009 6:52 pm

Post by muoiot »

Tính ồn ào lắm chuyện của người Việt


Quả thật chúng ta lắm chuyện theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Khác với người Mỹ những nơi hội họp hay làm việc của họ thật yên lặng. Họ chăm chú làm việc hay lắng nghe người khác nói, không muốn nghe họ cũng giữ yên lặng để người khác nghe. Nếu vào thư viện hay vào phòng mạch của các Bác sĩ Mỹ chúng ta thấy họ giữ yên lặng gần như tuyệt đối. Cần nói với nhau điều gì, người ta nói rất nhỏ đủ nghe để không làm phiền người khác. Còn người Việt chúng ta chỗ nào tụ tập độ năm, bảy người trở lên là ồn ào rồi.

Điều đáng ngạc nhiên là đến sở làm, đến những nơi người Mỹ làm việc phần
lớn chúng ta biết giữ im lặng nhưng ở những cơ sở hay nơi làm việc của
người Việt thì chúng ta lại theo thói quen cũ cười cười, nói nói rất huyên
náo.

Tết Nguyên Đán năm 2006 cộng đồng người Việt ở chỗ tôi tổ chức Hội Chợ được
ông Thị Trưỏng thành phố tới thăm. Ông đọc diễn văn chào mừng nhưng trên
khán đài ông nói một thì ở dưới đồng bào nói mười, rất ồn ào chẳng ai thèm
nghe, thèm biết ông ấy nói gì. Chúng ta quá ư vô ý và không một chút lịch
sự với khách. Đến phần văn nghệ, nữ danh ca Mai Lệ Huyền có giọng hát mạnh
và truyền cảm như vậy mà cũng không át được số khách dự đang huyên náo ở
phía dưới.

Cái lắm chuyện thứ hai mới thực là lắm chuyện. Nó luôn luôn gây phiền toái
cho người khác, đó là đi soi mói chuyện của người rồi đem loan truyền khắp
nơi. Ở bên nhà công việc này dành cho những người rảnh rỗi chuyên đi “ngồi
lê đôi mách”. Ra ngoại quốc dù làm ăn vất vả người ta vẫn không quên được
cái tính ấy: thích nói và thích nghe chuyện xấu của người khác. Nhà này có
đứa con hư hỏng sì ke ma túy, nhà kia vợ chồng xích mích... chỉ một thời
gian ngắn mọi người trong sở đều biết, rồi mọi người trong thành phố đều
biết.

Ai không có ưu điểm, khuyết điểm; nhà nào không có chuyện tốt chuyện xấu.
Nếu chúng ta đem chuyện tốt đẹp, may mắn của người khác nói để nghe, để
mừng cho nhau, để tìm cách học hỏi, bắt chước không nói làm gì nhưng lại
lôi những điều bất hạnh, những điều xấu của người khác rồi thêm bớt loan
truyền để dè bửu, đàm tiếu. Hình như chúng ta hẹp hòi, kém thông cảm nên
thay vì chia xẻ, xót thương chúng ta lại vô tình nghiệt ngã đem ra phơi bày
làm người ta thêm đau buồn, tủi hổ.

Ông cha chúng ta nói "đầu cầu nào không có con chó chết ", ngụ ý chẳng ai
tốt đẹp hoàn toàn:

Chân mình dính đất bèm bèm,
Lại đi đốt đuốc tìm xem chân người.
(Ca dao)

Ngày nay đời sống khác đi nhưng không có nhà nào không có thùng rác mùi rất
khó chịu phải đem đổ đi mỗi ngày!

Vì tính lắm chuyện của người mình, một số người Việt sợ ở gần hay giao tiếp
với người Việt. Những người này một phần có lý nhưng một phần mắc cái tính
thông thường sẵn có của chúng ta, đó là tính tự cao tự đại coi mình thuộc
thành phần ưu tú, cao quý nên xa lánh nhóm người mà họ cho là ô hợp, thấp
kém. Thế nhưng đôi khi giao tiếp với người quen họ lại đem nhà, đem xe, đem
con cái, bằng cấp... ra khoe và không quên chê bai, đàm tiếu người khác hết
lời. Tưởng sao, như vậy mèo vẫn hoàn mèo.

Cái "lắm chuyện" thứ ba mới thực đáng nói. Nó làm cho chúng ta tủi hổ khi
cùng nhau sống ở xứ người và làm cho các sắc dân khác khinh bỉ, đánh giá
thấp tất cả người Việt chúng ta. Hầu hết chúng ta đi lánh nạn với 2 bàn tay
trắng: của cải, tiến bạc, học hành, kiến thức, địa vị... đều đã vứt bỏ khi
đến xứ người. Người ít học cũng như người có học, dân cũng như quan, lính
cũng như xếp của lính hầu hết đều kiếm những công việc lao động trong các
nhà máy để làm lấy tiền sinh sống và nuôi gia đình. Nhưng ở nơi nào có đông
công nhân người Việt là nơi ấy có những việc đáng buồn, đáng xấu hổ xẩy ra
(chúng tôi không vơ đũa cả nắm vì có rất nhiều người có tư cách, có tinh
thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau). Chúng tôi chỉ đề cập đến một
số nhỏ tất cả độ trên mười phần trăm. Cái thành phần đáng buồn này “xuất
thân” thuộc đủ tầng lớp: không có học, có học; lính, quan; dân, quan... vẫn
giữ nguyên tác phong cũ quen có ở bên nhà.

Nếu làm việc cho chủ Việt, những người này tìm mọi cách luồn lọt, xu nịnh
và khi đã được chủ tin cậy thì tỏ ra hách dịch, phách lối. Ai chống đối
hoặc không ưa ai họ tìm cách đặt diều, bịa chuyện để làm hại. Nếu làm cho
chủ Mỹ họ tìm cách xum xoe biếu xén để mong sớm được vô permanent (vào
ngạch, vào biên chế) hay được lên lương. Cách thức này hình như ít có hiệu
qủa đối với cấp chi huy người Mỹ nên nhiều người tỏ ra cay cú khi không
được thoả mãn. Nên một cách thức khác những người này hay dùng là đi tâu,
đi báo, bịa chuyện hoặc nhận làm ăng ten chỉ điểm. Nhưng qua ý kiến chung
thì chúng ta, nhất là các bà các cô, không nên sợ loại người này vì người
Mỹ, và người Âu châu nói chung người ta không nhẹ dạ, cả tin như các ông
chủ người Việt. Họ phải thu thập có đủ bằng chứng khách quan trước khi có
quyết định.

Cái nạn gây gổ chửi bới, kéo bè kéo cánh trong sở làm cũng rất thường xẩy
ra, nhất là cái nạn xô đẩy,giành giựt công việc của nhau (trong các ngành
làm màn cửa, may khoán, bóng đèn...) làm người ngoại quốc chê cười.

Như chúng tôi đã nói ở trên, loại người này không nhiều nhưng lại làm người
ngoại quốc chú ý và làm mang tiếng người Việt chúng ta. Chúng tôi thử
estimate (ước lượng) những con số sau đây:

- Hay nghe và đem chuyện của người khác ra nói - ngồi lê đôi mách: 8%
- Hay cãi cọ: 4%
- Xu nịnh, luồn cúi: 2%
- Kéo bè kéo cánh: 3%
- Đâm bị thóc chọc bị gạo: 1%

Không biết đến bao giờ những người bà con của chúng ta mới trút bỏ được những cái cố tật đáng buồn này.

"3 people would create 4 stories & 5 people would create 15 stories"

Tác Giả Phạm Hy Sơn

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Một đời mẹ…
Tôi lớn lên trong vòng tay yêu thương của mẹ. Từ nhỏ, tôi đã mang tiếng là đứa “con hoang”, đứa con vô thừa nhận của một người đàn ông đốn mạt nào đó...

Tuổi thơ của tôi trôi qua không hề bình lặng khi vây quanh tôi luôn là những câu châm chọc đầy độc địa của đám bạn đồng trang lứa: “Mẹ mày là đồ chửa hoang”, “Huy à, bố mày đâu? Mẹ mày tài thật đấy!”.

Mỗi lần bị chúng bạn nhạo báng, tôi như thằng điên lao vào đấm đá túi bụi, sẵn sàng giết chết bọn chúng nếu có thể. Để rồi sau mỗi vụ ẩu đả của tôi, mẹ lại bị gọi lên văn phòng Nhà trường nhắc nhở về vấn đề giáo dục con cái.

Mỗi lần như vậy, mẹ không hề trách mắng tôi, chỉ nhẹ nhàng khuyên bảo tôi phải cố gắng kiềm chế bản thân. Như con chim bị thương, tôi không hề cảm thấy mình có lỗi, càng hận mẹ hơn. Tôi đổ mọi tội lỗi lên đầu mẹ với suy nghĩ “mẹ là đồ hư hỏng”. Tôi hận mẹ vì đã sinh ra tôi trên cõi đời này.

Cho đến một lần, mẹ bị nhà trường gọi lên, thông báo tôi sẽ bị đuổi học nếu còn vi phạm thêm một lần nữa. Về nhà, vừa gặp tôi ở cửa, mẹ đã giang tay tát thẳng vào má tôi.

Đau! Nhưng tôi không khóc, chỉ dửng dưng nhìn mẹ. Như không chịu đựng nổi cái nhìn ấy, mẹ ôm chầm lấy tôi và khóc. “Huy à, mẹ xin lỗi. Mẹ không cố ý làm như vậy”. Tôi vùng khỏi vòng tay mẹ, trái tim vẫn lạnh băng, lòng chất đầy căm phẫn: “Bà không đủ tư cách để dạy bảo tôi”.

Tôi học hết lớp bốn, mẹ quyết định rời quê vào Nam lập nghiệp. Không người thân thích, không đồng vốn dắt lưng, mẹ làm thuê cuốc mướn nuôi tôi ăn học. Vất vả, cuộc sống kham khổ nhưng tôi không còn bị những lời lăng nhục hành hạ. Bằng cách nào đó, mẹ đã che giấu được thông tin về người bố vô danh của tôi.

Tôi không hỏi vì sao, cũng không cảm ơn mẹ. Tôi vẫn hận bà, sống trốn tránh và xa lánh tất cả. Tôi tìm thú vui bằng cách kết bạn cùng mấy đứa đầu gấu hư hỏng trong trường. Biết chuyện, mẹ đánh tôi một trận nên thân nhưng vẫn không thể can ngăn được thằng con lì lợm. Tôi biết mình đang đi chệch hướng, phụ lòng mẹ nhưng như người mộng du, tôi vẫn lao thân vào hố sâu phía trước.

Lớn lên, cuộc sống đã khá hơn rất nhiều. Nhờ giỏi làm lụng, chắt chiu, mẹ mua được 10 ha rẫy trồng cà phê. Tôi vẫn sống lêu lổng. Ban ngày,buổi đi học, buổi lên rẫy. Tối đến, tôi tụ tập bạn bè đàn đúm, có hôm đi thâu đêm suốt sáng. Sáng hôm sau về nhà, thấy mắt mẹ đỏ hoe, chợt thấy ân hận, nhưng tôi vẫn lặng thinh. Những lần sau, tôi đi chơi khuya nhưng vẫn về nhà. Mẹ thường đỏ đèn chờ tôi về rồi mới đi ngủ.

Dần dà, tôi trở thành đàn anh của nhóm quậy trong trường. Những vụ vác dao phay “thanh toán” lẫn nhau, rồi đua xe, quậy phá… đều do một tay tôi lãnh đạo. Có lần, mẹ phải lên đồn công an bảo lãnh tôi về. Vẫn như xưa, mẹ không trách mắng tôi, chỉ nhẹ nhàng khuyên bảo tôi rồi khóc. Tôi bỏ đi trước khi nhìn thấy nước mắt lăn trên má mẹ; sợ trong phút yếu lòng, tôi lại “tha thứ” cho mẹ vì tội lỗi đã sinh ra tôi trên cõi đời này.

Thành tích quậy của tôi ngày càng dày lên. Theo một số nguồn tin, mẹ bảo tôi đang lọt vào “tầm ngắm” của công an huyện. Vừa lo tôi bị công an túm, lại không muốn tôi tiếp tục cuộc sống buông thả, cuối cùng mẹ quyết định gửi tôi về quê đi học. Tôi ngạc nhiên trước quyết định của mẹ, bởi lẽ từ trước đến nay, có bao giờ mẹ chịu rời xa tôi nửa bước.

Đưa tôi ra bến xe, mẹ lặng lẽ đứng nhìn xe xuất bến. Xe chạy, tôi ngoái đầu nhìn lại. Bóng mẹ gầy gò, lẻ loi, cô độc lẫn khuất vào đám đông khiến lòng tôi chợt thấy nhói đau. Tự kiềm chế bản thân, tôi không cho phép mình yếu đuối nhưng nước mắt đã lăn trên má tự bao giờ.

Tôi về sống với người ông (mẹ gọi bằng cậu) . Ông là người nổi tiếng nghiêm khắc với lối sống rất quy củ. Vợ mất, một mình ông nuôi năm đứa con ăn học, vậy mà đứa nào cũng nổi tiếng ngoan ngoãn, học giỏi.

Với tôi, cuộc sống ở trong gia đình ông là cả trường huấn luyện hà khắc. Bữa cơm chỉ là cà muối và rau luộc, vừa ăn đến bát thứ ba đã phải vét nồi. Mùa đông nằm ngủ chỉ có tấm chăn mỏng, tôi phải co người mới không bị thừa chân. Sống với ông, tôi “ngộ” ra nhiều điều. Ông dạy tôi về cách sống, cách làm người. Và hơn hết, qua ông, tôi biết được “tấn bi kịch” của đời mẹ - câu chuyện mẹ đã giấu tôi suốt 18 năm trời.

“Vụ mùa năm ấy, mẹ con tranh thủ ánh sáng trăng để đi cấy đêm. Lúc về, đi qua nghĩa địa, mẹ con bị một thằng khốn nạn làm nhục. Thân gái một mình giữa đồng khuya thanh vắng, chẳng có ai nghe thấu tiếng kêu cứu của mẹ. Con là kết quả của đêm hôm đó. Mọi người đã khuyên mẹ bỏ con đi, nhưng bà không chịu. Bà bảo sinh linh bé bỏng này không có tội tình gì. Mẹ con đã phải chịu nhẫn nhục trước thái độ khinh bỉ và những lời đàm tiếu của xóm làng để giữ lại sự sống cho con…”.

Tôi lặng người trong cay đắng. Lời ông vẫn sang sảng bên tai mà tôi chỉ nghe câu được câu chăng. Nước mắt giàn giụa, tôi căm giận chính mình khi nghĩ về thái độ trước đây của tôi đối với mẹ. Mười tám năm qua, mẹ cắn răng gánh hết mọi ưu phiền để cho tôi được hạnh phúc. Vậy mà tôi đã làm gì với mẹ? Càng giận mình, tôi càng thấy thương mẹ hơn. Từ hôm nay, tôi phải tu sửa bản thân, phải gắng học thật giỏi để mùa hè năm nay về chuộc lỗi với mẹ. Mẹ sẽ tha thứ cho tôi bởi từ trước đến nay, mẹ luôn là bà tiên đầy nhân hậu, bao dung trước đứa con lầm lỗi là tôi.

Gạt nước mắt, tôi quyết định viết thư cho mẹ. Lần đầu tiên trong đời cầm bút viết một bức thư, tôi chẳng biết nên bắt đầu thế nào. Nghĩ về mẹ, nước mắt lại tuôn rơi. Hai chữ đầu thư “Mẹ ơi” nhạt nhoà trong dòng nước mắt.

Moonlight

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Phạm Việt Tuyền, người chọn "vắng mặt"
(Du Tử Lê)

Image
Từ trái qua phải: Châm Vũ, Lê Phương Chi, Huỳnh Thiên Kim, Vi Huyền Ðức, bà Minh Quân,
Vũ Hoàng Chương, Nhật Tiến, Lan Giao, Trần Thanh Diệu, Phạm Việt Tuyền.

Image
Nhà văn, Giáo Sư Phạm Việt Tuyền. 1965, Saigòn. (Hình: Lê Phương Chi)
Trong sinh hoạt 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam Việt Nam, nếu có một người từng giữ nhiều vai trò quan trọng, nhưng không bao giờ muốn bước ra “tiền trường;” thì đó là giáo sư, nhà văn, nhà báo Phạm Việt Tuyền. (1)

Chúng ta được biết, ông là một nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học với nhiều tác phẩm đã được xuất bản. Ðiển hình như những cuốn “Trên Ðường Phụng Sự,” (Kịch, Xb năm 1947;) “Nghệ Thuật Viết Văn,” (Biên khảo, Xb năm 1952;) “Phá Lao Lung,” (Thơ, Xb năm 1956;) “Quan Ðiểm Về mấy Vấn Ðề Văn Hóa,” (Biên khảo, Xb năm 1953;) hay “Phương Pháp Nghị Luận, Phân Tích và Phê Bình Văn Chương,” (Biên khảo, Xb năm 1969) vân vân...

Chúng ta cũng được biết ông là giáo sư dạy chứng chỉ dự bị ban Việt Hán, ở Ðại Học Văn Khoa, Saigòn; hay chứng chỉ Văn Chương Việt Nam, cho năm thứ nhất ở Ðại Học Văn Khoa, Huế.

Về con người dạy học của họ Phạm, nhà báo Nguyễn Chí Khả, người từng học ông ở Ðại Học Văn khoa Huế, kể rằng, ông là giảng viên thỉnh giảng dạy về phương pháp phê bình văn chương cho chứng chỉ dự bị Văn Khoa 1963-1964. Cứ khoảng mỗi 2 tháng, ông lại ra Huế một lần. Ông dạy liên tục trong ít ngày, rồi về lại Saigòn. Vẫn theo nhà báo Nguyễn Chí Khả thì Phạm Việt Tuyền là người rất thương vợ. Mỗi lần ra Huế dạy học, dù chỉ ít ngày, ông thường đến bưu điện Huế để đánh điện tín về cho vợ, bà Ðặng Thị Phương Anh.

Nói về con người làm báo của Phạm Việt Tuyền, những người theo dõi sinh hoạt báo chí miền Nam Việt Nam hẳn chưa quên, nhật báo Tự Do là một trong vài nhật báo uy tín, có số lượng phát hành rất cao thời Ðệ Nhất Cộng Hòa. Khởi đầu tờ báo này ngoài Phạm Việt Tuyền, còn có hai nhân vật quan trọng khác là Mặc Thu và Như Phong.

Với bút hiệu Lý Thắng, Như Phong nổi tiếng với trường thiên tiểu thuyết “Khói Sóng;” đăng tải hằng ngày; song song với tiểu thuyết trường thiên “Tỵ Bái” của Nguyễn Hoạt, tức Hiếu Chân (người phụ trách mục “Nói hay Ðừng.”)

Nhật báo Tự Do cũng nơi cho thấy mặt khác của tài hoa Ðinh Hùng qua truyện dài dã sử “Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu” (ký bút hiệu Hoài Ðiệp Thứ Lang). Thơ trào phúng của Thiết Bản Ðạo Nhân (Trần Việt Hoài); Hà Thượng Nhân (Phạm Xuân Ninh). Nhật báo Tự Do còn là cơ quan truyền thông đầu tiên, giới thiệu bút hiệu Toàn Phong của khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh, qua những lá thư gửi cho nhân vật tên Phượng; sau này được in thành sách, nhan đề “Ðời phi công”. Tuyệt nhiên, độc giả không gặp bất cứ một tác phẩm nào, mang tên Phạm Việt Tuyền, xuất hiện trên tờ báo.

Bên cạnh đó, cơ sở xuất bản Tự Do cũng giới thiệu tới độc giả miền Nam, những tác phẩm đầu tay của nhiều tài năng văn chương, nổi tiếng sau này. Thí dụ Nguyễn Ðình Toàn, với “Chị Em Hải”.

Cơ sở này cũng là cơ sở đầu tiên tổ chức một thứ giống như “chợ sách” ở miền Nam vào giữa thập niên 1960; một sinh hoạt tương đối mới mẻ với Việt Nam, thời đó.

Nhưng nói tới Phạm Việt Tuyền mà không kể tới những năm tháng ông giữ vai trò tổng thư ký Trung Tâm Văn Bút Việt Nam (TTVBVN), tôi cho là một thiếu sót không thể chấp nhận được.

Nhà báo kiêm nhà văn Lê Phương Chi, có lần nói với tôi rằng, nếu không có sự tận tụy, kiên nhẫn, quên mình của Phạm Việt Tuyền, thì, sinh hoạt của TTVBVN thời đó, sẽ không có gì đáng nói. Ông cho biết, ngoài việc lo nhật tu sổ sách, giấy tờ, phát triển hội viên và, tổ chức những sinh hoạt có tính cách văn học cho hội, hàng tháng, họ Phạm còn phải trách nhiệm sự sống còn của nguyệt san Tin Sách nữa.

Vẫn theo ông Lê Phương Chi, thư ký tòa soạn lâu đời và, cuối cùng của nguyệt san Tin Sách thì, trên nguyên tắc, chủ nhiệm Tin Sách là chủ tịch đương nhiệm; và chủ bút là tổng thư ký của hội. Nói cách khác, nhà văn Phạm Việt Tuyền là “xếp” trực tiếp của ông. Nhưng:

“Trong suốt bao nhiêu năm tôi làm thư ký tòa soạn, chủ bút Phạm Việt Tuyền tin cậy tôi hoàn toàn. Ông không đòi hỏi hay đề nghị tôi nên giới thiệu tác phẩm này, hoặc tác giả kia. Ông cũng cho tôi toàn quyền mời người điểm những cuốn sách mà tôi dự định giới thiệu...”

Tác giả truyện dã sử “Ðào mả Tần Thủy Hoàng” cũng không quên nói thêm:

“Mặc dù cá nhân ông Phạm Việt Tuyền thỉnh thoảng cũng có tác phẩm xuất bản, nhưng mỗi khi tôi đề cập tới việc giới thiệu trên Tin Sách, ông đều gạt đi. Ông bảo, ông không nên. Sợ mang tiếng!”

Về đức tính khiêm tốn, luôn chọn cho mình vị trí đằng sau sân khấu, bên trong cánh gà của tổng thư ký TTVBVN, tôi nhớ, giữa thập niên 1960, để tạo sinh hoạt đều đặn cho hội, họ Phạm đưa ra sáng kiến, mỗi tháng, mời một hội viên thuyết trình về một đề tài văn học hay nghệ thuật, do hội viên đó, tự chọn. Nơi chốn (luôn luôn là thính đường trường Quốc Gia Âm Nhạc, ở đường Nguyễn Du), cùng những nhu cầu khác như người phụ diễn, trợ huấn cụ, quảng bá tin tức, mời khách tham dự... đều do ông đích thân liên lạc, cung ứng. Diễn giả chỉ cần cho biết đề tài bài nói chuyện mà, không phải đưa ông duyệt trước...

Tháng Mười, năm 1965, cá nhân tôi được mời. (2) Trước khi nhận lời, tôi hỏi ông, tại sao, một người tên tuổi, uy tín như ông lại không phải là một trong những người đầu tiên thực hiện kế hoạch? Ông đáp:

“Thì các anh, các chị cứ chịu khó nói trước đi. Khi không còn ai khác, lúc đó, tới phiên tôi cũng đâu có muộn màng gì...”

Tôi hiểu, ông trung thành với chủ trương “tránh mang tiếng!”

Nói tới sự mang tiếng, tôi nghĩ, một số người có thể vẫn còn nhớ, nhật báo Tự Do, trong số Xuân Canh Tý, 1960, in bức tranh vẽ 5 con chuột, đục khoét một quả dưa hấu của họa sĩ Phạm Tăng. Bức tranh được những người chống đối chế độ của Tổng thống Ngô Ðình Diệm cắt, treo trong nhà. Họ cho rằng tác giả bức tranh ám chỉ 5 nhân vật trong gia đình họ Ngô. Khi sự việc đến tai những nhân vật hữu trách, họa sĩ Phạm Tăng cũng như nhà văn Phạm Việt Tuyền bị gọi, hỏi. Không một ai bị bắt. Nhưng, vốn là người quan tâm tới đời sống của các cộng tác viên, với tư cách chủ nhiệm nhật báo Tự Do, Phạm Việt Tuyền đã đứng ra, xin Bác Sĩ Trần Kim Tuyến cho họa sĩ Phạm Tăng xuất ngoại... (3)

Tôi vẫn nghĩ: Bất cứ một tổ chức, một cơ quan uy tín nào, cũng thường có một, vài người ở vai trò trách nhiệm; nhưng lại chọn cho mình cái vị trí hậu trường. Chỗ đứng phía sau sân khấu. Họ nhường tiền trường với hào quang, tiếng vỗ tay, cùng những vòng nguyệt quế... cho kẻ khác...

Mặc dù, nếu không có họ, thì cũng sẽ không có tiền trường. Không có hào quang. Không tiếng vỗ tay và, luôn cả những vòng nguyệt quế (dù khiêm tốn).

Với tôi, nhà văn, giáo sư, người tổng thư ký TTVBVN thuộc 20 năm văn học miền Nam, Phạm Việt Tuyền, chính là một trong những người, một đời, duy trì cho mình, cái vị trí “vắng mặt”, cao quý đó.

Du Tử Lê,

(16 Tháng Chín, 2009)


Chú thích:

(1) Theo tài liệu của một số trang web thì, nhà văn Phạm Việt Tuyền, bút hiệu Thanh Tuyền, sinh ngày 15 Tháng Bảy, năm Bính Dần (giấy tờ ghi ngày 15 Tháng Tám, năm 1926.) Ðầu thập niên 1980, ông chọn định cư tại thành phố Strasbourg, Pháp. Ông mất ngày 16 Tháng Hai, năm 2009.

(2) Cần chi tiết, xin đọc Tin Sách, số đề Tháng 12, năm 1965, Saigòn. Tr. 2.

(3) Theo ông Phạm Hải Nam (hiện cư ngụ tại miền Nam Cali,) thân nhân của họa sĩ Phạm Tăng thì ngay trong năm 1960, họa sĩ Phạm Tăng được 1 học bổng về hội họa ở Ý. Ông từng được trao nhiều giải thưởng hội họa rất cao quý. Trong số đó, có một giải của Toà Thánh La Mã. Các phiên bản tranh Phạm Tăng hiện nay, cũng được bán với giá rất cao, ở Âu Châu.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Nhiều hơn cả một lời… Tri Ân


CẢNG HAMBURG - Có nhiều cách diễn tả lời cám ơn: Cám ơn bằng ánh mắt, cám ơn bằng lời nói, cám ơn bằng cách bắt tay,
cám ơn bằng quà tặng… và lời cám ơn được ghi trên những trang sách.

http://catholicvideo.org/Albums/90912CapAnamur12092009
Xem hình ảnh
Đúng như thế, hôm thứ bảy, 12/9/2009 tại bến cảng Hamburg, Đức quốc những Thuyền Nhân Tỵ Nạn Việt Nam tại Đức đã trang trọng viết bằng „những chữ hoa đẹp nhất“ trên cuốn sách to bằng đồng để tri ân dân tộc Đức và con tàu Cap Anamur: „Tri ân nhân dân Đức, chính quyền Đức, chính quyền Tiểu Bang Hamburg, nơi xuất phát của các con Tàu Cap Anamur, đã tiếp nhận người Việt Tỵ Nạn cộng sản. Tri ân Ủy Ban Cap Anamur do tiến sĩ Rupert Neudeck sáng lập, đã cứu vớt 11.300 Thuyền Nhân Việt Nam. Tưởng niệm các đồng hương tỵ nạn cộng sản đã bỏ mình trên đường tìm tự do.“
Image

Khoảng 3.000 quan khách Việt-Đức tham dự Lễ Khánh Thành Tượng Đài Tỵ Nạn để tri ân Nhân Dân, Chính Quyền Đức và Ủy Ban CAP ANAMUR với một lễ hội trang trọng đặc biệt ngay bên bến cảng Hamburg với các con tàu qua lại và với trời nắng ấm nồng nàn của đầu thu, chính nơi bến cảng này "Ein Schiff für Vietnam" - „Một Con Tàu cho Việt Nam“ mang danh Cap Anamur khởi hành ra khơi chuyến đầu tiên vào ngày 13/8/1979 trực chỉ hướng Biển Đông. Và cũng tại nơi đây một lần tàu Cap Anamur đã mang hàng trăm người VN vượt biên được vớt từ Biển Đông đến thẳng tới Đức.

Khách Đức cũng đông và khách Việt càng đông hơn, có thể nói đó là những người đã được trao tặng mạng sống lần thứ hai từ sự cứu vớt của tàu Cap Anamur trên Biển Đông đầy sóng gió nguy hiểm và đã vượt thoát khỏi ngục tù cộng sản Việt Nam. Các yếu nhân chính trị cao cấp của Đức từ Liên Bang tới Tiểu Bang đều có mặt như Ông Dr. Wolfgang Schäuble (Bộ trưởng Bộ Nội Vụ CHLB Đức), Ông Franz Müntefering (Chủ tịch đảng Xã Hội SPD Liên Bang), Ông Arnold Vaatz (Phó chủ tịch Liên đảng CDU/CSU tại quốc hội Đức), Ông Dr. Ernst Albrecht (Cựu thống đốc tiểu bang Niedersachsen), Ông Hans-Ulrich Klose (cựu thống đốc tiểu bang Hamburg), Bà Prof. Dr. Karin von Welck (Bộ trưởng bộ Văn Hóa, Thể Thao và Truyền Thông tiểu bang Hamburg), Ông Heinz Georg Bamberger (Bộ trưởng bộ Tư Pháp tiểu bang Rheinland-Pfalz), Ông Dr. Philipp Rösler, gốc Việt Nam (Bộ trưởng bộ Kinh Tế và Giao Thông tiểu bang Niedersachsen), Ông Harry Voss (chủ tàu Cap Anamur, Port de Lumière), Ông Dr. Hans-G. Tafel và Bà Dr. Beate Lemke (bác sĩ thiện nguyện trên tàu Cap Anamur)… và còn rất nhiều quan khách Đức có liên quan đến Ủy Ban Cap Anamur đang có mặt.

Trong ngày hôm nay không thể thiếu hai nhân vật quan trọng nhất và là linh hồn của chiếc tàu Cap Anamur, đó là ÔB. Dr. Rupert và Christel Neudeck. Ông Neudeck vẫn như thuở nào cách đây 30 năm với dáng người gầy còm được tô điểm bằng hàm râu quai nón muôn thuở tuy đã bạc trắng theo thời gian, với chiếc áo thun trắng mang dòng chữ đỏ Cap Anamur và rất đơn sơ đôn hậu. Nếu không có hai ÔB Neudeck trong số 11.300 Thuyền Nhân được cứu vớt thì ai còn ai mất trước sóng gió hiểm nguy của Biển Đông, trước sự cướp bóc, hãm hiếp… của hải tặc Thái Lan?

ÔB Neudeck không lên mặt, không tự phụ, không khoe khoang, không áp đặt… nhưng rất hiền hòa giản dị (nhiều người Việt hôm nay còn mặc đẹp, lịch sự và trang trọng hơn cả hai ông bà nhiều) và giàu lòng nhân ái. Có lẽ hai ông bà đã thấm nhuần tinh thần Phúc Âm Công Giáo: „Ta đến để phục vụ“! Chẳng lạ gì điều này vì ông Neudeck là một vị tiến sĩ Thần Học.

Hàng ngàn người Việt hiện diện hôm nay đến từ đông tây nam bắc của nước Đức với gương mặt rạng rỡ, với tâm tình biết ơn và cũng có một chút tự hào về con tàu Cap Anamur. Con tàu này được ghi mãi trong tâm khảm người Việt tỵ nạn, đó là một biểu tượng của tự do, đó là một sự cứu sống lần thứ hai.

Điều ngạc nhiên cho người Việt hôm nay, họ đến bến cảng Hamburg không phải để nói lên lòng tri ân nhân dân Đức, nhưng ngược lại họ đã nhận được rất nhiều sự khen ngợi từ các nhà chính trị cao cấp của Đức. Ông Bộ trưởng Bộ Nội Vụ, Dr. Wolfgang Schäuble nhắc đến danh từ „Bereicherung“ nghiã là mang lại sự giàu có cho xã hội Đức chính là những «Boat People», Thuyền Nhân Tỵ Nạn cộng sản Việt Nam. Họ thành công trong cuộc sống, họ hội nhập tốt đẹp: «Wenn es ein Beispiel gibt, dass Integration keine Bedrohung ist, sondern Bereicherung, ist es die Geschichte der Menschen aus Vietnam, die unter uns leben». (Nếu cho một thí dụ về sự hội nhập không mang tính chất hăm dọa thì đó chính là lịch sử của những người dân đến từ Việt Nam, họ đang sống giữa chúng ta).

Hôm nay không cần nhắc đến những lời ngợi khen „quá cỡ“ về người Việt Nam từ ông Dr. Neudeck, một điểm chú ý khi ông phê bình về các „thày dùi chính trị“: Lúc khởi xướng con tàu Cap Anamur thì có bao nhiêu chống đối và ngăn cản thối lui. Khi ấy ông chỉ cần một hành động cụ thể phải được ra khơi thì các thuyền nhân VN mới không bị đắm chìm trong lòng biển. 30 năm sau hành động này của ông Dr. Neudeck đã đúng và nước Đức đã tự hào về chương trình nhân đạo cứu người Việt từ Biển Đông.

Việc xây dựng Tượng Đài Tỵ Nạn tại Hamburg đã được kết thúc sau 4 năm chuẩn bị. Bao nhiêu công lao và đóng góp của những người khởi xướng lấy danh Hội Xây Dựng Tượng Đài Tỵ Nạn Hamburg. Một thành quả chung của tập thể người Việt tỵ nạn tại Đức. Tượng đài tỵ nạn tại Hamburg sẽ là một ấn chứng của lòng nhân đạo vô bến bờ từ dân tộc Đức; Tượng đài sẽ là một nhắc nhở cho thuyền nhân VN nhớ đến sự vượt thoát nạn cộng sản để tìm đến nơi có tự do và nhân quyền thực sự.

Bến cảng Hamburg hôm nay đẹp hơn vì hàng ngàn người hiện diện trong bầu khí tự do, thân thiện, trong tâm tình tri ân. Và có lẽ đẹp hơn vì có thêm một di tích đẹp đáng xem.

Vì thế bến cảng Hamburg đã được mệnh danh là „Das Tor zur Welt“ (Cửa ngõ ra thế giới) và hôm nay còn được thêm danh xưng „Das Tor zur Menschlichkeit“ (Cửa ngõ đến tình người).

Chúng ta hãy trang trọng viết bằng những chữ HOA đẹp nhất: LÒNG TRI ÂN!

Cảng Hamburg, ngày 12/9/2009
Hà Long

http://www.vietcatholicnews.com/News/Html/71122.htm

Post Reply