Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Đôi Chim Sáo
Lời tác giả:

Mùa thu sắp trở về, những mùa thu rất ngắn của đất trời vẫn mỗi năm một lần trở lại, nhưng những mùa thu của đời người thì mãi mãi ra đi. Khu vườn nhuốm chút heo may để giàn mướp rung rinh những bông hoa cuối mùa, bụi mía xào xạc thoảng qua hồn chút gió hắt hiu, và đôi chim sáo vẫn mải miết tìm mồi trên sân cỏ úa...

"Đôi chim sáo" là hình ảnh một đôi vợ chồng già, khi những con sáo non đã đủ lông đủ cánh để bay đi xa lìa cha mẹ, chỉ còn lại đôi sáo già buồn bã, ủ ê trong cái tổ ẩm ướt với những ngày Đông dài lê thê . . . "

Nguyên Nhung

Khi người hàng xóm sửa chữa lại chỗ mái hiên bị giột, là từ lúc ấy đôi vợ chồng chim bị mất tổ. Không biết đấy có phải là nỗi éo le của cuộc đời, hạnh phúc của kẻ này lại là nỗi bất hạnh của người kia, vẫn hay kề cận bên nhau khi cuộc sống luôn luôn là những thay đổi. Như một thành phố được tân trang cho mới mẻ, lại cũng mất đi nét cổ kính của một vẻ đẹp yên tĩnh, rất nên thơ.

Mỗi buổi sáng, khi mặt trời vừa thức dậy, vợ chồng đôi chim sáo đã lo tần tảo kiếm ăn. Tôi không biết đó là loại chim gì, nhưng tiếng hót khá hay, với màu lông xám có một mảng phơn phớt bạc ở trên đầu. Mình to gấp hai lần chim sẻ, tôi cho chúng là một loại sáo, vì chúng hay hót, có khi hót cả ngày vì một điều gì vui trong thế giới của loài chim.

Đấy là một đôi vợ chồng chăm chỉ, còn trẻ tuổi, chưa con cái. Hôm nào mưa, anh chồng bay lên sợi dây điện, ngó quanh, hót lên mấy tiếng, có ý than thở cảnh đất trời u ám, khiến một kẻ chăm làm tham công tiếc việc phải bất đắc dĩ nghỉ ngơi. Còn lại chị vợ trong hốc tối ở mái hiên, chị cũng hay hót, như đàn bà thường lắm điều hơn đàn ông, thỉnh thoảng chị bay sà xuống cây thông đất trước cửa nhà tôi để rỉa lông, rỉa cánh.

Khoảng đầu xuân, khi vợ chồng chim đến làm tổ trên cái hốc tối con con nơi mái hiên nhà hàng xóm, tôi thấy họ bận rộn lắm. Qua khung cửa kính, tôi quan sát đôi chim như một đôi vợ chồng mới cưới, có thể cô vợ đang mang thai, và họ cần một tổ ấm cho gia đình. Vợ chồng sáo ríu rít vào ra cái hốc nhỏ, được hình thành khi mảnh ván bị mục vì nước mưa, lâu ngày đã vô tình khoét một chỗ trống, vừa vặn cho gia đình một đôi chim sáo.

Hai người trẻ tuổi yêu nhau, bước vào đời rộn ràng như thế nào thì đôi chim sáo cũng y như vậy. Từ mờ sáng, ánh đèn đường còn lung linh dưới tàn cây tối thẫm, tôi đã nghe đôi chim ríu rít, trò truyện. Họ dậy sớm lắm, sớm hơn cả lũ trẻ phải dậy đi học, nhất là những ngày vào Xuân, năm ấy đâu là mùa Xuân đầu tiên của vợ chồng sáo. Không biết họ ở đâu đến đây, nhưng ngay những ngày đầu, tiếng hót của họ đã làm những người trong khu chung cư thức dậy, và biết là mùa xuân đã tới. Những giọt mưa xuân đêm qua còn lóng lánh trên những lá cỏ non, khi bình minh đến, chiếu những tia nắng dịu dàng lên cỏ hoa, để những giọt nước li ti ấy biến thành những viên kim cương diễm lệ.

Đúng là những người yêu đời nhất thế gian, đôi vợ chồng chim bắt tay vào việc xây dựng tổ ấm rất hăng hái, bay ra bay vào suốt ngày, mỗi lần trở về lại cắp theo một nhánh cây khô, một cọng cỏ héo, và cả những chiếc lá xanh. Họ có cái rộn ràng, tất bật khi phải cố hoàn thành cho nhanh, một cái nôi cho lũ con thơ sắp chào đời nay mai. Được một dạo, khi anh chồng đi kiếm ăn, chị vợ có vẻ mệt mỏi đậu xuống cành thông đất trước hiên nhà, chị hững hờ mổ mổ chiếc lá non, như người phụ nữ đang mang thai thèm ăn dở.

Sáng nào, tôi cũng ngồi hằng giờ ngắm nghía hạnh phúc của vợ chồng chim sáo, ngay cả khi chị sáo khẽ khàng đậu trên nhánh thông, tôi cũng không dám mở cửa, sợ kinh động cái thảnh thơi của chị. Chị sáo có cái thảnh thơi của một tâm hồn trong sáng, hình như không có gì để suy nghĩ ngoài những hạnh phúc chị đang có. Chị nhảy từ cành này sang cành kia, thỉnh thoảng lơ đãng ngó mông lên rặng cây bên đường, có thể chị đang nghĩ đến anh chồng đang luẩn quẩn đâu đó. Khi anh sáo về, chị cũng cuống quýt bay lên, đôi vợ chồng chim lại lục đục trên cái hốc tối. Ấm áp lắm, nồng nàn lắm, tôi ưa nhìn cái hạnh phúc của muôn loài, và cảm nhận được cái vui từ chút hạnh phúc nhỏ nhoi, đơn giản ấy.

Đấy là những ngày đầu tiên của vợ chồng chim sáo, hạnh phúc khi có thì ở đâu cũng hạnh phúc, chưa chắc gì trong những căn phòng đẹp đẽ, tiện nghi của loài người, hạnh phúc đã thèm hiện diện.

Đôi vợ chồng chim sống thật êm đềm, đơn giản đến không còn gì đơn giản hơn. Sáng. Dậy sớm. Hỏi han nhau ba điều bốn chuyện, qua những tiếng hót làm vui tai mọi loài. Rồi khi nắng lên, bay đi kiếm ăn. Tuy nhiên, họ lại là những kẻ rất chu đáo trong vấn đề chăm sóc gia đình, rất bận rộn cho miếng ăn hằng ngày, nhưng vẫn không bỏ bê nhà cửa. Tôi thấy vợ chồng sáo về nhà luôn luôn, tha thêm những nhánh cỏ khô, chiếc lá héo.Tôi tưởng tượng trên đống cỏ khô được khoanh tròn lại bằng những chiếc mỏ khéo léo của vợ chồng sáo, dăm chiếc trứng xinh xinh, tròn trĩnh đã được chị vợ sắp xếp gọn gàng, vừa đủ cho chị mỗi ngày ủ ấp lũ con thơ, đang hình thành trong lớp vỏ trứng.

Cái ấp yêu của vợ sáo, là cái ấp yêu của những người mẹ yêu con ngay từ lúc còn là bào thai, vừa mới tượng hình trong lòng mẹ. Tình mẫu tử đã được ràng buộc giữa mẹ và con, chị sáo cũng như bao người mẹ khác, đã nâng niu những đứa con yêu của chị trong những quả trứng mỏng manh kia. Chị sáo chắc hẳn cũng đã từng nghe ngóng, chờ đợi. Một hôm nào nghe lũ con cựa mình trong vỏ trứng, rất khẽ khàng chị dùng chiếc mỏ cứng, giúp con đẩy chiếc cửa đầu tiên vào đời. Mấy chú sáo non run rẩy, trần trụi lớp lông tơ, nếu không có tổ ấm của cha, sự săn sóc của mẹ, làm sao để sống?

Từ đấy, tôi có cái ngạc nhiên khi nhìn cuộc đời ở một khía cạnh khác, khi biết rằng trong thế giới loài người, có những người con thành đạt, lớn lên trong nỗi nhọc nhằn của cha mẹ, đã hắt hủi cái tổ ấm của mình, và nhìn nó bằng những đôi mắt ghẻ lạnh.

Khi lũ con ra đời thì vợ chồng sáo có vẻ bận rộn hơn. Ở góc cạnh này, tôi rất khâm phục anh sáo, nếu là người, anh rất xứng đáng là một người cha gương mẫu. Anh ta vốn là một người chăm chỉ, bây giờ lại càng chăm chỉ hơn, khi trên chiếc tổ chim ấy, đã vang lên tiếng liếp chiếp đòi ăn của bầy con dại. Chị sáo dạo này thỉnh thoảng mới bay ra cây thông, có lẽ vì bận con mọn. Trông chị có vẻ tất bật, không còn cái vẻ thảnh thơi của độ còn son rỗi, vì lo ngại lũ con thơ có thể lăn ra khỏi tổ lúc chị vắng nhà, rồi cứ thế lăn lông lốc xuống thềm xi măng dưới kia, thì dẫu có Trời giúp, chị vẫn không đủ sức để đem con về tổ. Quan sát kỹ để thấy, chị luôn luôn lấp ló nơi cửa , đầu ló ra ngoài, hai con mắt trong veo như hai hạt đậu. Người mẹ ấy chăm sóc con cẩn thận lắm, lũ sáo non dường như đã được đẩy tít vào phía trong, cho dù một cơn gió lang thang, cũng không thể thổi hắt vào cái tổ nhỏ bé ấy.

Qua hết mùa hè, mải miết kiếm ăn nuôi lũ con thơ, anh sáo trông có vẻ phờ phạc hơn. Tôi rất khâm phục sự hy sinh của anh. Khoảng cách từ nhà anh ra rặng cây xanh không xa, vì anh bay khá nhanh, nhưng phải nói sự vật lộn để mưu sinh giữa chợ đời đâu phải là dễ dàng, khi trên ấy có đủ loại khác nhau như sóc, quạ, hoàng oanh, chim sẻ. . . . Anh sáo chắc có lúc cũng nhận ra cái thực tế phũ phàng và cay đắng trong việc tìm miếng cơm, manh áo, sự tranh giành giữa muôn loài với nhau, đâu có gì là dễ chịu, cho dù anh có đạt được chân lý “ăn để sống”.

Cuối hè ấy, khi lũ chim non đã đủ lông đủ cánh, tôi thấy mấy cái đầu xinh xinh ngó ngó, nghênh nghênh ngoài cửa tổ, chiêm chiếp kêu. Chị sáo cũng phục hồi sau thời gian ở cữ, tròn trịa hơn, mũm mĩm và xinh đẹp hơn, như người đàn bà sau kỳ sinh nở, những đường nét trên cơ thể nẩy nở ra như một đóa hoa thời kỳ mãn khai. Lũ con lớn hơn thì người cha càng vất vả, có vẻ như kiệt sức, bộ lông sáo không mượt mà như xưa, cái nóng của mùa hè khiến anh thêm hốc hác. Trong nhà, người ta mở máy lạnh suốt ngày đêm, lúc cần ra đường, người ta vội vã chui ngay vào xe, rồi hối hả đi vào những căn phòng có máy lạnh khác. Chắc anh sáo cũng mệt mỏi lắm. Anh phải đi kiếm ăn, suốt ngày bay tới bay lui từ hàng hiên ra rặng cây xồi ven đường, lúc ấy râm ran những tiếng ve gọi hè, chỉ còn mẹ con nhà sáo chui rúc trong cái tổ nóng bức chật chội. Ba đứa con chưa biết bay, nhưng ăn tợn, thỉnh thoảng tôi thấy chị sáo cùng chồng bay xuống sân cỏ, nhặt nhạnh những hạt cơm, vụn bánh, hột cỏ rồi lại bay ù về tổ. Bây giờ chị cũng phải cùng chồng đi tìm mồi về nuôi lũ con háu đói kia, chiêm chiếp suốt ngày đến sốt ruột.

Sang đầu thu, mẹ sáo dạy con tập bay. Mới đầu là những khoảng ngắn từ tổ xuống hàng hiên, những cánh chim non sợ hãi, rụt rè bay xuống hiên, rồi lại bay về tổ. Những bước chân chập chững vào đời, trong nỗi buồn vui của cha mẹ. Như còn đấy, như mất đấy, một ngày nào tổ ấm sẽ yên lặng, không còn tiếng chim vui như tiếng trẻ khóc, trẻ học. Khi những đứa con lớn lên, sắp ra khỏi tầm tay cha mẹ, là lúc ấy đời dường như ngắn lại, rồi ở đâu kia đã hình dung ra màu tàn phai của những chiếc lá héo, thấy mình trong gương bỗng xa lạ với mình ngày trẻ tuổi.

Ngày hôm ấy là một sáng đẹp trời, tôi đã nhìn thấy, nghe thấy lũ sáo con ríu rít bay ra khỏi tổ. Không hiểu vợ chồng sáo buồn hay vui, khi thấy con mình đã đủ sức bay đi, rồi mấy đứa đã quay về cái nôi êm ái đó?

Lũ sáo con thật hồn nhiên khi mở to đôi mắt nhìn bầu trời khoảng khoát, rồi như kẻ đã nhìn thấy tự do, chúng bật lên những tiếng hót thánh thót, du dương như một bản nhạc vui. Cái gì cũng mới lạ, khoảng trời xanh bao la cho những cánh chim rộn ràng xoải cánh đến những vùng trời thênh thang, trên vòm cây xanh, những âm thanh mời gọi của bạn bè khiến lòng nao nức lạ. Phải nhập cuộc thôi, một khung trời mới mẻ có hoa thơm và mồi ngon, để túy lúy với men say cuộc đời. Trong những con người trẻ, tâm hồn trẻ, đâu đã biết ngậm ngùi trước cảnh chia ly với mái ấm gia đình.

Tôi đã nhìn thấy những con sáo con bay ra khỏi tổ vào đầu thu hôm ấy. Nó có trở về không nhỉ? Làm sao tôi có một câu trả lời, nhưng tôi cứ chờ đợi, như đợi những đứa con của mình đi đâu đó, sẽ trở về, sẽ mãi mãi không bao giờ quên tổ ấm.

Sang thu, có một chút heo may chợt đến vào buổi chiều, gia đình sáo có vẻ yên lặng hơn, vì những đứa con chưa trở về. Anh chị sáo buổi sáng vẫn dậy sớm từ mờ đất. Hôm ấy có thể mặt trời không lên, đám mây xám giăng ngang bầu trời, cho cơn mưa thu chợt đến và kéo dài suốt những ngày tháng tám.

Mưa kéo dài suốt một mùa thu, vài cơn bão rớt từ đâu ghé lại khiến lòng người cũng chùng xuống bao nhung nhớ. Cây cỏ ướt sũng dưới mưa, vợ chồng chim thưa thớt tiếng chim vui, những giọt mưa luồn vào tấm gỗ mục trên mái hiên, làm tổ ấm của đôi chim chừng ẩm ướt hẳn đi.

Vào mùa thu, vài tia nắng dịu dàng ươm trên hàng cây đã có nhiều lá úa, để một cơn gió tới, đã cuốn theo những chiếc lá vàng từ trên cây rớt xuống như mưa, rồiø cứ thế lăn tròn xuống cuối dốc. Mùa thu bao giờ cũng ngắn ngủi và rưng rưng buồn, giàn mướp hương còn lại những chiếc lá cuối cùng vẫn xào xạc nghe như dư âm của một cung đàn đềm êm trong quá khứ. . .

Hết mùa thu lại tới một mùa đông, không gian như càng ảm đạm và lạnh lẽo. Gã mặt trời lười biếng không thức dậy, ánh đèn vẫn tỏa sáng trong vòm cây tối. Vợ chồng sáo không hót lên câu chào hỏi mỗi ban mai, những giọt mưa mùa đông vẫn rớt trên mặt đường, loang loáng ánh đèn từ những chiếc xe qua lại vội vã.

Vợ chồng sáo như đôi vợ chồng già, lủi thủi trong chiếc tổ ẩm ướt, nùi cỏ khô như tả tơi thêm khi anh sáo già không có cái hăng hái ngày trẻ tuổi, đi tha những cọng cỏ khô về làm tổ cho lũ con. Thỉnh thoảng, vào một ngày khô ráo. vài tia nắng yếu ớt lách ra khỏi màn mây màu xám đục, tỏa xuống nhân gian một chút ấm áp. Anh chị sáo bay ra khỏi tổ, đậu trên sợi giây điện, hai cái bóng chim như hai nốt nhạc sậm màu cho một bản nhạc buồn.

Sao tôi ngậm ngùi thế. Buổi sáng, chỉ còn một mình trong căn phòng vắng, tôi nghe đôi chim sáo buông ra những tiếng kêu rời rạc, khắc khoải như tiếng ca cẩm cái chân đau, chiếc lưng mỏi cho một tuổi già lụm khụm.

Hết mùa Đông, lũ sáo con vẫn không trở về, nhưng một biến cố đã xảy ra cho đôi vợ chồng sáo. Người ta chuẩn bị sửa nhà đón mùa xuân mới, người hàng xóm đã gọi thợ đến sửa lại mái hiên bị giột, thay vào đó một tấm ván mới, bít lại cái tổ chim. Khi đám thợ mang cưa, búa, gỗ đến, tôi thấy đôi chim hoảng hốt bay ra, mắt nhớn nhác nhìn loài người như một loài quỷ dữ, nhất là khi âm thanh của tiếng cưa kèn kẹt nghiến vào tấm ván, như nhát dao cuối cùng trên cổ người tử tội, thì mới hình dung được cái hãi hùng của người sắp chết.

Chiều hôm ấy, khi mái hiên nhà hàng xóm đã được sửa chữa xong, còn nồng mùi sơn mới. Mới mẻ, cứng cát, không còn một cái hốc nào làm chỗ trú cho loài chim. Tôi thấy đôi chim sáo bay về, ngơ ngẩn đậu trên sợi giây điện như hai nốt nhạc buồn, ngơ ngẩn nhìn về tổ ấm dưới mái hiên, rồi chúng vụt bay đi. Không biết ở mắt chúng có ứa ra giọt lệ nào không? Riêng tôi, sao buồn quá, và tôi đã khóc.

Nguyên Nhung

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

CON BÚP-BÊ VÀ CÀNH HOA HỒNG

TG chuyển ngữ.


Tôi đi vòng trong một tiệm Target và chứng kiến cảnh người thu-ngân đang trao lại một số tiền cho cậu bé. Cậu chỉ độ 5 hay 6 tuổi.
Người thu- ngân nói, “Rất tiếc là em không có đủ tiền để mua con búp-bê này”.
Đoạn cậu bé quay sang bà cụ đứng cạnh: “Bà à, bà có chắc là con không có đủ tiền không, bà?”
Bà cụ đáp: Con à, con biết là con không có đủ tiền để mua con búp-bê này mà”.
Rồi bà cụ bảo cậu bé cứ đứng đó chừng 5 phút để bà đi một vòng trong tiệm. Rồi bà lẩn đi ngay.
Cậu bé vẫn cầm con búp-bê trong tay.
Cuối cùng , tôi bước đến cậu bé và hỏi là cậu muốn tặng con búp-bê này cho ai.

“Đây là con búp bê mà em gái của con yêu thích lắm và ước ao có được trong Giáng Sinh này. Em ấy tin là Ông già Noel sẽ mang quà này lại cho em ấy.”
Tôi trả lời cậu bé rằng “thế nào Ông già Noel rồi cũng sẽ mang lại cho em con, con đừng lo.”
Nhưng cậu trả lời buồn bã. “Không, Ông già Noel không mang đến chỗ em đang ở được. Con phải trao con búp-bê này cho mẹ con, rồi mẹ con mới có thể trao lại cho em con khi mẹ đến đó.”
Đôi mắt cậu bé thật buồn khi nói những lời này.
“Em con đã trở về với Chúa. Ba con bảo là mẹ cũng sắp về với Chúa, bởi vậy con nghĩ là mẹ có thể mang con búp-bê này theo với mẹ để trao lại cho em con.”
Tim tôi như muốn ngừng đập.
Cậu bé nhìn lên tôi và nói: “Con nói với ba là hãy bảo mẹ đừng có đi vội. Con muốn mẹ con hãy chờ con đi mall về rồi hãy đi.”
Rồi cậu lấy ra cho tôi xem một tấm ảnh trong đó cậu đang cười thích thú.
“Con muốn mẹ mang theo tấm ảnh này của con để mẹ sẽ không quên con.
Con thương mẹ con và mong ước mẹ không phải bỏ con để đi, nhưng ba con nói là mẹ phải đi để ở cạnh em của con.”
Rồi cậu lặng thinh nhìn con búp-bê buồn bã.
Tôi vội vàng tìm ví bạc trong túi và nói với cậu bé: “hãy thử coi lại xem, biết đâu con lại có đủ tiền mua con búp-bê này thì sao!”
“Dạ”, cậu bé đáp, “con mong là có đủ tiền”. Không cho cậu bé thấy, tôi kẹp thêm tiền vào mớ tiền của cậu bé, và chúng tôi cùng đếm. Chẳng những đủ số tiền cho con búp-bê mà còn dư thêm một ít nữa.
Cậu bé nói: “Cảm ơn Chúa đã cho con đủ tiền!”
Rồi cậu nhìn tôi và nói thêm, “tối qua trước khi đi ngủ, con đã hỏi xin Chúa hãy làm sao cho con có đủ tiền để mua con búp-bê này để mẹ con có thể mang đi cho em con. Chúa đã nghe lời cầu xin của con rồi.”
“Con cũng muốn có đủ tiền mua hoa hồng trắng cho mẹ con, nhưng không dám hỏi Chúa nhiều. Nhưng Ngài lại cho con đủ tiền để mua búp-bê và hoa hồng trắng nữa.”
“Mẹ con yêu hoa hồng trắng lắm.”
Vài phút sau bà cụ trở lại, và tôi cũng rời khỏi tiệm.
Tôi làm xong việc mua sắm trong một trạng thái hoàn toàn khác hẳn với khi bắt đầu vào tiệm. Và tôi không thể rứt bỏ hình ảnh của cậu bé ra khỏi tâm trí tôi.
Đoạn tôi nhớ lại một bài báo trong tờ nhật báo địa phương cách đây hai hôm. Bài báo viết về một tài xế say rượu lái xe vận tải đụng vào xe của một thiếu phụ và một bé gái nhỏ.
Đứa bé gái chết ngay tại hiện trường, còn người mẹ được đưa đi cứu cấp trong tình trạng nguy kịch. Gia đình phải quyết định có nên rút ống máy trợ-sinh khỏi bệnh nhân hay không vì người thiếu phụ này không còn có thể hồi tỉnh ra khỏi cơn hôn mê.
Phải chăng đấy là gia đình của cậu bé?
Hai ngày sau khi gặp cậu bé, tôi đọc thấy trên báo là người thiếu phụ đã qua đời. Tôi bị một sự thôi thúc và đã mua một bó hoa hồng trắng và đi thẳng đến nhà quàn nơi tang lễ của người thiếu phụ đang diễn ra và mọi người đến nhìn mặt người quá cố lần cuối cùng.
Cô nằm đó, trong cỗ áo quan, cầm trong tay một cành hồng màu trắng với tấm ảnh của cậu bé và con búp-bê được đặt trên ngực của cô.
Tôi rời nơi đó, nước mắt đoanh tròng, cảm giác rằng đời tôi đã vĩnh viễn thay đổi. Tình yêu của cậu bé dành cho mẹ và em gái cho đến ngày nay thật khó mà tưởng tượng. Và chỉ trong một phần nhỏ của một giây đồng hồ, một gã lái xe say rượu đã lấy đi tất cả những gì thân thiết nhất của đời cậu.


Bây giờ bạn có 2 chon lựa:
Post lại sứ điệp này.
Cứ phớt lờ đi giống như câu chuyện này chẳng bao giờ đụng chạm gì đến tấm lòng của bạn.
“Chỉ một chút thiếu cố gắng sẽ luôn là nguyên nhân gây thất bại”.
Robert A. Schreiber

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Một câu chuyện cảm động

Để câu truyện thêm rõ ràng, tưởng cũng cần nói thêm là mấy lúc sau nầy, trong mục đích cạnh tranh giảm tiền vé tối đa, các hảng hàng không không còn serve thức ăn trên tàu cho hành khách economy class ( trừ business class hay first class và những chuyến oversea long haul) mà thay vào đó chỉ bán sandwich, snack dưới hình thức BOB (buy on board) những bao đồ ăn trưa.


NHỮNG NGƯỜI LÍNH


Tôi đặt hành lý vào hộc ở trên đầu rồi ngồi xuống ghế. Đây là chuyến bay dài làm tôi ước gì mình có một quyển sách hay để đọc trên phi trình. Có lẽ tôi cũng cần chợp mắt một chút.
Vừa lúc trước khi máy bay cất cánh, một nhóm 10 người lính trẻ men theo lối đi và ngồi hết vào các chỗ trống rải rác còn lại. Chẳng có gì để làm, tôi bắt đầu gợi chuyện người lính ngồi gần nhất:
- Các cậu đi tới đâu vậy?
- Petawawa. Chúng tôi sẽ ở đó hai tuần để thụ huấn một chương trình huấn luyện đặc biệt rồi sau đó sẽ bổ sung tới A Phú Hản.
Sau khi máy bay cất cánh độ một tiếng thì tiếng loa thông báo là trên máy bay có bán thức ăn nhẹ đựng trong bao giá 5 mỹ kim.
Cũng còn lâu lắm chuyến bay mới tới phía Đông nên tôi quyết định mua một bao đồ ăn để vừa ăn vừa giết thì giờ.. Khi tôi móc bóp lấy tiền thì chợt nghe một người lính hỏi bạn mình là có muốn mua thức ăn không.
- Không! Có vẻ như mắc quá đó.. Bao lunch gì mà tới 5$.
Thôi tao ráng đợi tới căn cứ hẳn hay.
Và anh lính trẻ gật gù đồng ý với bạn.
Tôi đảo mắt nhìn chung quanh thì thấy mấy người lính khác cũng không có ý định mua gì cả mặc dù lúc đó cũng đã tới giờ ăn trưa rồi. Một ý nghĩ chợt đến trong đầu, tôi gọi người nữ tiếp viên tới đưa cho bà ta 50$ và nói:
- Xin bà vui lòng lấy thức ăn cho những người lính nầy.
Người tiếp viên ngạc nhiên nắm chặt lấy tay tôi, qua đôi mắt long lanh ngấn lệ vì xúc động, bà ngõ lới cám ơn tôi và nghẹn ngào:
- Con trai tôi cũng là một quân nhân đang chiến đấu tại Iraq . Nghĩa cử nầy của ông như đang dành cho nó vậy. Rồi bà xăng xái đi lấy 10 bịch đồ ăn trao cho tất cả các người lính trên tàu. Sau đó bà dừng lại chỗ tôi hỏi:
- Thưa ông dùng gì ạ? Bò, gà rất hảo hạng.
- Xin cho tôi gà
Tôi trả lời bà ta trong một thoáng ngạc nhiên vì theo tôi biết hạng economy bây giờ chỉ có BOB thôi mà.
Người nữ tiếp viên đi về phía trước của máy bay độ một phút sau trở lại với nguyên khay thức ăn nóng hổi dành cho hành khách vé hạng nhất, bà trịnh trọng nói với tôi:
- Đây là tấm lòng tri ân nho nhỏ của những người trên chuyến bay nầy đối với ông
Sau khi ăn xong với tâm trạng sảng khoái nhẹ nhàng, tôi bước tới phòng vệ sinh ở phía sau cùng. Trên đường đi, một người đàn ông thình lình đứng lên chận tôi lại nói:
- Tôi rất cảm phục việc ông làm, xin ông cho tôi được chia phần mà vui lòng nhận cho.
Nói xong, ông ta dúi vào tay tôi 25 mỹ kim.
Sau đó không lâu, viên phi công trưởng rời buồng lái vừa đi vừa nhìn số ghế ghi trên hộc hành lý, linh cảm khiến tôi thầm mong ông ta đừng kiếm tôi nhưng Chúa ơi! Ông ta dừng lại ngay hàng ghế của tôi rồi cười thật tươi và chìa tay ra nói:
- Tôi muốn được bắt tay ông
Cực chẳng đã, tôi mở dây an toàn đứng dậy bắt tay viên phi công trưởng.
Với giọng hân hoan, ông ta nói lớn như để mọi người cùng nghe:
- Tôi cũng đã từng là một quân nhân và cũng là phi công chiến đấu. Có một lần có người cũng mua cho tôi thức ăn. Điều đó thực sự thể hiện cả một tấm lòng tốt đẹp mà tôi không bao giờ quên.
Cả một tràng pháo tay tán thưởng vang dội làm tôi đỏ bừng mặt vì mắc cở.
Chỉ với một hành động nhỏ nhặt tầm thường của tôi mà đánh động lương tâm con người đến thế sao?
Vì chuyến bay quá dài nên có một lúc, tôi phải đi bộ về phía trước để rản gân cốt thì bỗng nhiên có một nam hành khách ngồi trên tôi độ sáu dãy đưa tay ra bắt và để lại trong tay tôi cũng 25 mỹ kim.
Bầu không khí trên chuyến bay thật nhẹ nhàng và chan hoà tình người cho tới khi máy bay hạ cánh. Tôi lấy hành lý và bắt đầu bước ra khi vừa tới cửa máy bay thì một người đàn ông chận tôi lại và nhét nhanh vào túi áo tôi một thứ gì đó xong ông ta vội vả bước đi mà không nói một lời. Lại thêm 25$ nữa.
Nếu tính ra, tôi chỉ chi có 50$ mà bây giờ thu lại tới 75$. Kiếm được 25$ dễ dàng đến thế sao! À ! Quên! Còn bữa ăn thiệt ngon miệng nữa chứ.
Đúng là khi ta làm phải thì không bao giờ lỗ lã cả.
Tôi vui vẻ bước nhanh vào cửa phi trường thì thấy mấy người lính trẻ kiểm điểm nhân số để chuẩn bị về căn cứ. Tôi tiến tới trao cho họ 75 mỹ kim và nói:
- Từ phi trường về tới trại phải khá xa. Mà bây giờ cũng đã tới giờ để dằn bụng một cái sandwich chứ. Chúa sẽ ban ơn cho các cậu.
Mười người lính trẻ trong ngày hôm đó chắc đã rời chuyến bay trong tâm trạng yêu thương và kính mến những hành khách đồng hành. Tôi hăng hái bước tới xe với lời thì thầm nguyện cầu cho tất cả sẽ được trở về trong an bình.
Những chàng trai nầy đã hy sinh tất cả cho quê hương mà tôi chỉ biếu họ có một vài phần ăn. Thật là quá ít ỏi nếu không muốn nói là chỉ trong muôn một.
Nghĩ xa hơn nữa, người cựu chiến binh đã từng đánh đổi cả cuộc đời khi viết lên chi phiếu trắng đề tên người nhận là “Hiệp Chủng Quốc” mà số tiền có thể lên đến chính sinh mạng của họ.
Đó là một vinh dự tối cao lẽ ra cả đất nước phải dành cho họ nhưng than ôi! Có nhiều người đã không cần biết tới và bỏ quên họ.
Xin Chúa ban sức mạnh và lòng can đảm cho bạn chuyển tiếp câu chuyện nầy tới bạn bè quen biết.
Riêng tôi thì đã làm xong.

Toronto Sept 4,2009
Nguyên Trần

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Khoảng Cách

Có một vị hiền triết đã hỏi các đệ tử rằng:
“Tại sao trong cơn giận dữ người ta thường phải hét thật to vào mặt nhau ?”
Sau một lúc suy nghĩ, một trong những đệ tử ấy đã trả lời:
“Bởi vì người ta mất bình tỉnh, mất tự chủ!”
Vị hiền triết không đồng ý với câu trả lời, ngài bảo:
“Nhưng tại sao phải hét lên trong khi cả hai đang ở cạnh nhau, tại sao không thể nói với một âm thanh vừa phải đủ nghe ?”
Các đệ tử lại phải ngẫm nghĩ để trả lời nhưng không có câu giải thích nào khiến vị thầy của họ hài lòng. Sau cùng ông bảo:
“Khi hai người đang giận nhau thì trái tim của họ đã không còn ở gần nhau nữa. Từ trong thâm tâm họ cảm thấy giữa họ và người kia có một khoảng cách rất xa, nên muốn nói cho nhau nghe thì họ phải dùng hết sức bình sinh để nói thật to. Sự giận dữ càng lớn thì khoảng cách càng xa, họ càng phải nói to hơn để tiếng nói của họ bao trùm khoảng cách ấy.”
Ngưng một chút, ngài lại hỏi:
“Còn khi hai người bắt đầu yêu nhau thì thế nào? Họ không bao giờ hét to mà chỉ nói nhỏ nhẹ, tại sao? Bởi vì trái tim của họ cận kề nhau. Khoảng cách giữa họ rất nhỏ…”
Rồi ngài lại tiếp tục:
“Khi hai người ấy đã yêu nhau thật đậm đà thì họ không nói nữa, họ chỉ thì thầm, họ đã đến rất gần nhau bằng tình yêu của họ. Cuối cùng ngay cả thì thầm cũng không cần thiết nữa, họ chỉ cần đưa mắt nhìn nhau, thế thôi! Vì qua ánh mắt đó họ đã biết đối phương nghĩ gì, muốn gì ..”

Ngài kết luân:

“Khi các con bàn cãi với nhau về một vấn đề, phải giữ trái tim của các con lúc nào cũng cận kề. Đừng bao giờ thốt ra điều gì khiến các con cảm thấy xa cách nhau… Nếu không thì có một ngày khoảng cách ấy càng lúc càng rộng, càng xa thì các con sẽ không còn tìm ra được đường quay trở về !”

User avatar
CarteNoire
Posts: 374
Joined: Mon Sep 21, 2009 11:58 pm

Post by CarteNoire »

Cái đầu gà

Huy Phương
Tôi rất thích mấy lời hát sau đây của nhạc sĩ Trần Quang Lộc: “...Về đây nghe em, về đây nghe em/ Về đây cùng khóc trên sông nước buồn/ Chở lòng người trở về quê hương/ Chở hồn mình vào dòng suối mát/ Chở thật thà vào lòng dối trá...” Nhưng tôi cũng vừa bật cười vừa xót xa khi đọc câu chuyện sau đây xẩy ra trên quê hương: “Trong khi chuyến tàu dừng lại ga, một bà hành khách trên tàu đang trả giá mua một con gà luộc của một em bé bán hàng dưới sân ga. Cuộc ngã giá chưa xong thì tàu lại bắt đầu chuyển bánh. Cuối cùng cũng thuận mua vừa bán, khách trả tiền xong, em bé chạy theo con tàu, vội vã đưa con gà lên cho khách. Khách cầm lấy đầu con gà kéo lên, nhưng... tàu đã chạy nhanh, trong tay bà khách chỉ còn cái đầu gà, còn thân gà ở lại trên sân ga trong tay con bé bán hàng. Người đàn bà bị lừa giận dữ, chỉ còn cách kêu lên: “Tổ mẹ nó!”

Người khách ấy chửi con bé mới nứt mắt ra đã biết đi lừa thiên hạ, mấy tiếng “tổ mẹ nó” như còn âm vang trong tai của tôi, một người bàng quang không dính líu gì tới chuyện cái đầu gà, mà vẫn thấy đau. Nếu đây là một câu chửi của một du khách ngoại quốc đến du lịch Việt Nam thì câu chửi đó dành cả cho dân tộc này, nhưng đây là câu chửi của một người đàn bà bình thường đi lại trên con đường Bắc-Nam, thì hẳn lời chửi này dành cho chế độ đương thời. Cái gia đình sống nhờ vào hành khách của những chuyến tàu xuyên Việt này được một ngày vui vì một con gà luộc bán được hai lần. Chuyện này cũng có thể lặp lại nhiều lần trên sân ga này mà không bị phát hiện, vì trong hàng trăm nghìn hành khách, sẽ không có ai bị lừa hai lần vì một lối lừa cũ. Người ta có thể vịn vào cái lý do nghèo, đói để gian dối, lừa bịp người khác như thế không?

Trong chế độ Cộng Sản, phải dối trá mới mong sống còn, báo cáo láo, thành tích láo, lường gạt con người, điều có thì phát ngôn viên chính phủ nói là không, điều không thì chủ tịch nước cũng có thể nói là có. Hiến pháp CSVN cũng có ghi nhận những quyền con người như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do biểu tình, tự do tôn giáo, nhưng lại có các luật lệ khác ban hành để hủy bỏ, kềm kẹp các quyền ấy. Sự dối trá của đảng cầm quyền bắt người dân phải dối trá theo. Con nít tập nói dối. Cán bộ cao cấp mang bằng cấp giả. Khẩu hiệu “mình sống vì mọi người” đổi thành “mình phải lừa dối mọi người” để sinh tồn. Năm 2008, Saigon mở cuộc thi “nói dối” cho học sinh với đề tài “Tìm hiểu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, có 2.4 triệu bài trắc nghiệm và 80 ngàn bài viết dự thi, có nghĩa là hơn hai triệu em học sinh nhắm mắt khen bừa Hồ Chí Minh để được thành tích học tập, trong khi chúng ta biết Hồ Chí Minh chẳng đạo đức, lại là tay nói dối lừa bịp có hạng. Xin các bạn đọc kỹ câu này: “...Ðáp lại tình cảm mong muốn của đồng bào và bạn bè trên thế giới, Hồ Chủ Tịch với bút danh Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm Những Mẩu Chuyện Về Ðời Hoạt Ðộng Của Hồ Chủ Tịch...” (“Những Tác Phẩm Văn Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh - Hà Minh Ðức). Dối trá mà công khai, dối trá mà còn biện bạch bất chính, không hề biết ngượng.

Tin vào lời xúi dại của đảng, năm 1956, tại một Ðại hội MTTQ, Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường đọc một bài diễn văn ngay thẳng, đả phá những sai lầm của chuyện cải cách ruộng đất và đề nghị những phương thức sửa sai. Ông mất chức giáo sư đại học, về vườn, bị trù dập cho đến chết, và ông đã viết: “Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của họ chưa hề thấy trong lịch sử loài người” (Kẻ Bị Khai Trừ). Bao nhiêu nhà văn, nghệ sĩ dưới chế độ Cộng Sản đã hèn, chỉ biết nói dối để sống còn, để có cơm ăn, vì nói thật thì chỉ có chết, không những chết một mình mà chết đến ba đời, không thua gì chuyện “tru di tam tộc” ngày xưa, vậy thì vì sao phải nói thật? Năm 1958, nghe theo lời đường mật, nói thật, nói hết, không bẻ cong ngòi bút, Tòa Án Nhân Dân Hà Nội quy án, chụp mũ “gián điệp” cho Thụy An, Nguyễn Hữu Ðang, nhóm Nhân Văn Gia Phẩm với bản án 15 năm tù, và báo chí “hồ hởi” loan tin: “Năm tên gián điệp, phản cách mạng, phá hoại hiện hành cúi đầu nhận tội, Nguyễn Hữu Ðang và Thụy An, đầu sỏ chủ mưu, bị phạt giam 15 năm và mất quyền công dân 5 năm sau khi hết hạn giam”.

Trương Như Tảng đã kể kinh nghiệm của ông về phương sách của các tầng lớp lãnh đạo Cộng Sản cai trị: “Người Cộng Sản là chuyên gia về nghệ thuật chiêu dụ và có thể làm bất cứ cách nào để dụ bạn về phe họ một khi họ chưa nắm được chính quyền. Nhưng một khi đã nắm được quyền lực lập tức họ trở thành sắt máu và tàn nhẫn”. Ông tóm tắt tình hình tại Việt Nam hiện nay, “Gia đình ly tán, đạo đức suy đồi, xã hội phân ly, ngay cả đảng cũng chia rẽ”. Bây giờ nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, tôi chỉ cảm thấy buồn rầu cho sự ngây thơ của mình khi tin rằng Cộng Sản là những người cách mạng và xứng đáng được ủng hộ. Trên thực tế, họ đã phản bội nhân dân Việt Nam và làm thất vọng các phong trào tiến bộ trên toàn thế giới (Ðoàn Văn Toại 2/15/2009).

Ngày nay, chính Trần Quốc Thuận, Văn Phòng Quốc Hội CSVN, người của chế độ, đã phát biểu: “Những cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống. Nói dối hằng ngày nên thành thói quen. Thói quen đó lặp lại nhiều lần thành ‘đạo đức’, mà cái ‘đạo đức’ đó là rất mất đạo đức”.

Một thế hệ gian dối, lừa đảo, bạo tàn rồi sẽ qua đi, cho những mầm non lớn lên, trong sáng, nhưng với những đứa trẻ con lang thang ngoài chợ đời, học cách mưu sinh, kiếm tiền bằng kiểu lưu manh, cướp giật như thế thì còn gì để “tổ quốc mong cho mai sau!” Chỉ tiếc là ngày nay dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam, sự dối trá đã đi vào học đường, thì lấy gì hy vọng cho tương lai đất nước khá hơn. Chính Hội Ðồng GMVN đã có ý kiến đặc biệt trong lãnh vực giáo dục: “Ngày nay, một trong những điều gây nhức nhối lương tâm là sự gian dối trong nhiều lãnh vực, kể cả trong môi trường cần đến sự thật nhiều nhất là giáo dục học đường”.

Một người dân đã viết thư than với bộ trưởng giáo dục rằng: “Làm sao yên lòng khi cháu tôi về kể lại rằng trước khi vào tiết thao giảng, cô giáo của cháu dặn tất cả học sinh đều phải giơ tay phát biểu khi cô hỏi, nhưng em nào biết thì đưa tay thẳng, em nào không biết thì đưa tay hơi cong cong để cô biết chừng” (để cho thanh tra thấy rằng cô dạy giỏi, các em đều hiểu bài- Tuổi Trẻ 30/6/2006).

Tôi cũng muốn cùng Nguyễn Quang Lộc “Chở hồn mình vào dòng suối mát/ Chở thật thà vào lòng dối trá...” mà sao như vẫn còn nghe lùng bùng trong tai mấy tiếng chửi “Tổ mẹ nó!” Nhưng mà nghĩ lại, lên án đảng Cộng Sản đã lừa cả dân tộc Việt Nam, lên án chi con bé tội nghiệp chỉ lừa khách qua đường có mỗi cái đầu gà luộc. “Cách mạng” thành công, đổ bao nhiêu xương máu của người dân vô tội, chiếm được chính quyền rồi, đảng Cộng Sản cho nhân dân mút cái đầu gà, còn đùi cánh, lòng lườn, phao câu béo bở dành cho bọn băng đảng cầm quyền.

- “Tổ mẹ nó!” Tôi muốn kêu lên thật lớn. Tiếng chửi này, như tôi đã thưa trước, của bà khách bị con nhỏ lừa, trả tiền nguyên một con gà mà chỉ nhận được một cái đầu gà, chứ không phải của tôi.

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »


LÒNG TRI ÂN


CẢNG HAMBURG - Có nhiều cách diễn tả lời cám ơn: Cám ơn bằng ánh mắt, cám ơn bằng lời nói, cám ơn bằng cách bắt tay, cám ơn bằng quà tặng… và lời cám ơn được ghi trên những trang sách.




Image

Đúng như thế, hôm thứ bảy, 12/9/2009 tại bến cảng Hamburg, Đức quốc những Thuyền Nhân Tỵ Nạn Việt Nam tại Đức đã trang trọng viết bằng „những chữ hoa đẹp nhất“ trên cuốn sách to bằng đồng để tri ân dân tộc Đức và con tàu Cap Anamur: „Tri ân nhân dân Đức, chính quyền Đức, chính quyền Tiểu Bang Hamburg, nơi xuất phát của các con Tàu Cap Anamur, đã tiếp nhận người Việt Tỵ Nạn cộng sản. Tri ân Ủy Ban Cap Anamur do tiến sĩ Rupert Neudeck sáng lập, đã cứu vớt 11.300 Thuyền Nhân Việt Nam . Tưởng niệm các đồng hương tỵ nạn cộng sản đã bỏ mình trên đường tìm tự do.“

Khoảng 3.000 quan khách Việt-Đức tham dự Lễ Khánh Thành Tượng Đài Tỵ Nạn để tri ân Nhân Dân, Chính Quyền Đứ c và Ủy Ban CAP ANAMUR với một lễ hội trang trọng đặc biệt ngay bên bến cảng Hamburg với các con tàu qua lại và với trời nắng ấm nồng nàn của đầu thu, chính nơi bến cảng này "Ein Schiff für Vietnam" - „Một Con Tàu cho Việt Nam“ mang danh Cap Anamur khởi hành ra khơi chuyến đầu tiên vào ngày 13/8/1979 trực chỉ hướng Biển Đông. Và cũng tại nơi đây một lần tàu Cap Anamur đã mang hàng trăm người VN vượt biên được vớt từ Biển Đông đến thẳng tới Đức.

Khách Đức cũng đông và khách Việt càng đông hơn, có thể nói đó là những người đã được trao tặng mạng sống lần thứ hai từ sự cứu vớt của tàu Cap Anamur trên Biển Đông đầy sóng gió nguy hiểm và đã vượt thoát khỏi ngục tù cộng sản Việt Nam. Các yếu nhân chính trị cao cấp của Đức từ Liên Bang tới Tiểu Bang đều có mặt như Ông Dr. Wolfgang Schäuble (Bộ trưởng Bộ Nội Vụ CHLB Đức), Ông Franz Müntefering (Chủ tịch đảng Xã Hội SPD Liên Bang), Ông Arnold Vaatz (Phó chủ tịch Liên đảng CDU/CSU tại quốc hội Đức), Ông Dr. Ernst Albrecht (Cựu thống đốc tiểu bang Niedersachsen), Ông Hans-Ulrich Klose (cựu thống đốc tiểu bang Hamburg), Bà Prof. Dr. Karin von Welck (Bộ trưởng bộ Văn Hóa, Thể Thao và Truyền Thông tiểu bang Hamburg), Ông Heinz Georg Bamberger (Bộ trưởng bộ Tư Pháp tiểu bang Rheinland-Pfalz), Ông Dr. Philipp Rösler, gốc Việt Nam (Bộ trưởng bộ Kinh Tế và Giao Thông tiểu bang Niedersachsen), Ông Harry Voss (chủ tàu Cap Anamur, Port de Lumière), Ông Dr. Hans-G. Tafel và Bà Dr. Beate Lemke (bác sĩ thiện nguyện trên tàu Cap Anamur)… và còn rất nhiều quan khách Đức có liên quan đến Ủy Ban Cap Anamur đang có mặt.

Tr ong ngày hôm nay không thể thiếu ha i nhân vật quan trọng nhất và là linh hồn của chiếc tàu Cap Anamur, đó là ÔB. Dr. Rupert và Christel Neudeck. Ông Neudeck vẫn như thuở nào cách đây 30 năm với dáng người gầy còm được tô điểm bằng hàm râu quai nón muôn thuở tuy đã bạc trắng theo thời gian, với chiếc áo thun trắng mang dòng chữ đỏ Cap Anamur và rất đơn sơ đôn hậu. Nếu không có hai ÔB Neudeck tr ong số 11.300 Thuyền Nhân được cứu vớt thì ai còn ai mất trước sóng gió hiểm nguy của Biển Đông, trước sự cướp bóc, hãm hiếp… của hải tặc Thái Lan?

ÔB Neudeck không lên mặt, không tự phụ, không khoe khoang, không áp đặt… nhưng rất hiền hòa giản dị (nhiều người Việt hôm nay còn mặc đẹp, lịch sự và trang trọng hơn cả hai ông bà nhiều) và giàu lòng nhân ái. Có lẽ hai ông bà đã thấm nhuần tinh th n Phúc Âm Công Giáo: „Ta đến để phục vụ“! Chẳng lạ gì điều này vì ông Neudeck là một vị tiến sĩ Thần Học.

Hàng ngàn người Việt hiện diện hôm nay đến từ đông tây nam bắc của nước Đức với gương mặt rạng rỡ, với tâm tình biết ơn và cũng có một chút tự hào về con tàu Cap Anamur. Con tàu này được ghi mãi tr ong tâm khảm người Việt tỵ nạn, đó là một biểu tượng của tự do, đó là một sự cứu sống lần thứ hai.

Điều ngạc nhiên cho người Việt hôm nay, họ đến bến cảng Hamburg không phải để nói lên lòng tri ân nhân dân Đức, nhưng ngược lại họ đã nhận được rất nhiều sự khen ngợi từ các nhà chính trị cao cấp của Đức. Ông Bộ trưởng Bộ Nội Vụ, Dr. Wolfgang Schäuble nhắc đến danh từ „Bereicherung“ nghiã là mang lại sự giàu có cho xã hội Đức chính là những «Boat People», Thuyền Nhân Tỵ Nạn cộng sản Việt Nam. Họ thành công tr ong cuộc sống, họ hội nhập tốt đẹp: «Wenn es ein Beispiel gibt, dass Integration keine Bedro hung ist, sondern Bereicherung, ist es die Geschichte der Menschen aus Vietnam , die unter uns le ben ». (Nếu cho một thí dụ về sự hội nhập không mang tính chất hăm dọa thì đó chính là lịch sử của những người dân đến từ Việt Nam , họ đang sống giữa chúng ta).

Hôm nay không cần nhắc đến những lời ngợi khen „quá cỡ“ về người Việt Nam từ ông Dr. Neudeck, một điểm chú ý khi ông phê bình về các „thày dùi chính trị“: Lúc khởi xướng con tàu Cap Anamur thì có bao nhiêu chống đối và ngăn cản thối lui. Khi ấy ông chỉ cần một hành động cụ thể phải được ra khơi t hì các thuyền nhân VN mới không bị đắm chìm tr ong lòng biển. 30 năm sau hành động này của ông Dr. Neudeck đã đúng và nước Đức đã tự hào về chương trình nhân đạo cứu người Việt từ Biển Đông.

Việc xây dựng Tượng Đài Tỵ Nạn tại Hamburg đã được kết thúc sau 4 năm chuẩn bị. Bao nhiêu công lao và đóng góp của những người khởi xướng lấy danh Hội Xây Dựng Tượng Đài Tỵ Nạn Hamburg . Một thành quả c hung của tập thể người Việt tỵ nạn tại Đức. Tượng đài tỵ nạn tại Hamburg sẽ là một ấn chứng của lòng nhân đạo vô bến bờ từ dân tộc Đức; Tượng đài sẽ là một nhắc nhở cho thuyền nhân VN nhớ đến sự vượt thoát nạn cộng sản để tìm đến nơi có tự do và nhân quyền thực sự.

=0Bến cảng Hamburg hôm nay đẹp hơn vì hàng ngàn người hiện diện tr ong bầu khí tự do, thân thiện, tr ong tâm tình tri ân. Và có lẽ đẹp hơn vì có thêm một di tích đẹp đáng xem.

Vì thế bến cảng Hamburg đã được mệnh danh là „Das Tor zur Welt“ (Cửa ngõ ra thế giới) và hôm nay còn được thêm danh xưng „Das Tor zur Menschlichkeit“ (Cửa ngõ đến tình người).

Chúng ta hãy trang trọng viết bằng những chữ HOA đẹp nhất: LÒNG TRI ÂN!



TD/






















__,_._,___

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Đóa Hoa Vô Thường


Truyện Nguyên Nhung

Hai người đàn ông mở cánh cổng gỗ thông ra khu vườn nhỏ. Cả hai chỉ độ gần sáu mươi, tóc đã lốm đốm bạc. Một người dáng cao cao mạnh mẽ, còn người kia thấp nhỏ hơn, nét mặt trầm ngâm, hình như đang nghĩ ngợi điều gì.
Đó là một khu vườn mang dáng dấp Á Đông, rải rác những loại cây vùng nhiệt đới, ven rào là vài bụi tre trúc đủ loại, chủ nhân có vẻ là một người biết hưởng thú điền viên với cây cỏ. Nhưng đặc biệt giữa khu vườn nhỏ lại là một hồ sen, tuy đã vào cuối hạ lập thu mà trong hồ vẫn nở rải rác vài nụ sen trắng, sen hồng. Trên chiếc lá sen buổi sớm còn đọng lại những giọt sương đêm, lóng lánh như những viên kim cương khi tia nắng đầu ngày vừa lên. Hương sen rất nhẹ, khách nghiêng mình vít một bông sen để thưởng thức mùi hương thật dịu mà có lẽ đã lâu lắm rồi, đến mấy mươi năm khách mới tìm lại được mùi hương ấy. Hai người không nói với nhau câu nào, dường như ai cũng sợ kinh động sự yên tĩnh của một buổi sớm mai, có con chim xanh đậu trên bờ rào hót líu lo. . .
Dưới gốc cây đào xum xuê, tạo thành bóng mát đủ che một cái bàn vuông và bốn chiếc ghế thấp, chủ khách ngồi thưởng thức chén trà với cơn gió thoảng mùi hương sen. Trà cũng thơm ngát mùi hương sen, chủ nhân đã cầu kỳ gói nhúm trà trong chiếc túi vải, bỏ vào cái nụ sen sắp nở ướp suốt đêm ngoài trời, sáng mới đem đãi khách. Nhấp tách trà thơm, hai người bạn già kể nhau nghe nhiều chuyện cũ, trong ấy có chuyện về đoá sen trắng và những hạt sương long lanh trên chiếc lá sen màu xanh biếc.
* * *
Đó là một chiều muà hè, Viễn say mê đứng nhìn những bông sen trắng, hồng vươn mình lên trên mặt nước ở chiếc ao sen cạnh ngôi chuà cổ. Lá sen xanh biếc, to như những cái dĩa tròn màu xanh, nếu là buổi sớm khi giọt sương còn đọng lại trên lá, dưới ánh mặt trời giọt sương ấy y như một viên kim cương lóng lánh, trong suốt.
Cơn gió chiều đưa mùi hương sen thoảng qua, mùi hương dịu dàng thanh khiết quá khiến Viễn như chìm vào cái tịch mịch cuả chốn thiền môn. Trong sự yên tĩnh ấy, lẫn với tiếng reo của tre trúc trồng rải rác ven bờ giậu, mái chuà cong tạo thành một đường viền lên nền trời xanh giăng giăng những giải mây trắng. Hít thở mùi hương sen trong không gian tinh khiết của buổi chiều êm ả, Viễn mơ màng nhìn theo những giải mây lang thang, vài cánh chim bay qua điểm những chấm màu đen buồn rầu lên nền trời bát ngát. Không biết những giải mây kia bay đi đâu, và những cánh chim có phải đang tìm về tổ ấm?
Hằng tuần, Viễn có ba buổi chiều đến chuà đón cô em gái đang học lớp Hán Văn do ni cô Diệu Linh hướng dẫn. Cô bé tự nhiên thích đến chùa để tìm tòi học kinh Phật , những câu thơ cổ bằng Hán tự. Lớp học là cái chái của ngôi chùa cổ, vách được ghép bằng những tấm phên nưá, khi ánh nắng của buổi chiều rọi vào tạo nên một khoảng tranh tối tranh sáng rất đẹp mắt. Viễn có lần tò mò nhìn vào, chỉ độ mười cô học trò với một ni cô còn rất trẻ, đang nắn nót viết những chữ Hán trên chiếc bảng đen, bàn tay gầy với những ngón nhỏ khiến chàng ngây ngây một cảm giác lạ lùng, vì bàn tay ấy bỗng đẹp như đoá sen trắng trên mặt ao sóng gợn.
Thấp thoáng trong chấn song bằng nưá là khuôn mặt cuả người sư nữ, thanh thoát và dịu dàng dưới nếp khăn màu xám nhạt , cả tấm áo màu lam nhạt cũng đủ làm nền cho đôi mắt đen long lanh như hai hạt nhãn. Từng chấm sáng lay động trên dãy bàn học bằng gỗ nâu xậm , tạo nên một bức tranh nửa sáng nưả tối rất tuyệt vời. Không biết vì yêu thích những đoá sen trắng, sen hồng nở trên ao nhà chùa, hay vì hình ảnh ni cô trong lớp học, Viễn thường đến đón em sớm hơn giờ tan học. Chàng bâng khuâng nhìn vào lớp học, len lén nhìn bàn tay xanh gầy của ni cô Diệu Linh trên bảng đen. Tâm hồn chàng lãng mạn quá, có ai lại đi yêu một bàn tay trên tấm bảng đen, rồi từ chỗ tơ tưởng ấy, có lúc Viễn đã bồi hồi khi mơ ước một lần được nắm và hôn lên bàn tay mềm mại ấy.
Ni cô Diệu Linh còn trẻ lắm, chỉ nhỉnh hơn cô em gái chàng độ vài tuổi, nhưng căn duyên nào mà lại gửi đời vào chốn thiền môn? Ai bắt Viễn phải băn khoăn tìm hiểu, nhưng mỗi câu chuyện về lớp học do cô em gái kể lại, đã khiến chàng tò mò hơn, và hai chữ Diệu Linh như chút gì êm dịu lắm cứ lởn vởn trong óc chàng. Những câu chuyện nho nhỏ từ cô em gái, hôm nào không chở em đi học và đón em về Viễn lại bâng khuâng buồn. Hôm nay ni cô Diệu Linh nấu chè hạt sen cho cả lớp thưởng thức. Hôm nay ni cô Diệu Linh dạy bài Nhân Quả cho cả lớp nghe. Hôm nay ni cô Diệu Linh trồng cây hoa ngâu gần bể nước. Lúc nào câu chuyện của cô em cũng là ni cô Diệu Linh, hình như từng lời nói, việc làm của ni cô Diệu Linh đều tác động lên tâm hồn cô em nhỏ, rồi thấm thiá đi luôn vào lòng người anh trai. . .
Đôi khi nhớ lại, Viễn cho rằng chuyện gì xảy ra trên cõi đời này, đều do cơ duyên mà tới, muốn cũng không được, chạy trốn cũng không xong. Đấy là chuyện tình cờ chàng lại gặp ni cô Diệu Linh trong giảng đường Đại học Văn khoa ngày đầu năm học, mắt nhắm mắt mở chạy vội đến trường vì dậy muộn. Viễn dáo dác tìm chỗ ngồi, và không ngờ lại len vào được một chỗ trống trong khu giảng đường gần đầy nghẹt sinh viên. Khi an vị, Viễn bỗng giựt mình thấy ni cô Diệu Linh ở ghế bên cạnh , nghiêm trang nghe giáo sư giảng bài, đôi mắt đen to tròn ấy thỉnh thoảng nhìn xuống tập giấy trắng trên mặt bàn, ghi ghi chép chép. Tự nhiên Viễn như bị cuốn hút vào bàn tay có những ngón tay xanh gầy của ni cô, mảnh dẻ và yếu ớt đến tội tình.
Nàng đi học. Ước gì Diệu Linh là một cô sinh viên Văn khoa bình thường như mọi người để Viễn không phải luống cuống, tấm khăn màu lam nhẹ trên đầu và chiếc áo tu hành đã là một hàng rào cản bước chân mạo hiểm của chàng vào khu vườn cấm. Phiền nỗi ở đời hễ cái gì càng khó lại càng kích thích lòng ham muốn, Viễn buồn cười ngẫm nghĩ đến những quả táo thơm tội lỗi trong vườn Địa Đàng thuở xưa, nếu là chàng thì không bao giờ bắt tổ tông loài người trả cái nợ "đồng lần" ấy . . .
Nhận ra người thanh niên vẫn hay tới chuà đón cô em là học trò của mình, ni cô Diệu Linh có vẻ hơi bối rối, nhất là đôi mắt kia tuy không nhìn cô với cái nhìn hỗn xược, nhưng dường như lúc nào cũng mang một vẻ đắm đuối. Cô mỉm cười. Lần đầu tiên Viễn lại bị cuốn hút vào nụ cười của cô, nụ cười ấy dành cho cả thế giới chứ không riêng mình chàng, nhưng lúc ấy đầu chàng lẫn lộn, si mê đến nỗi cứ cho là cô đang mỉm cươì với riêng mình, và nụ cười hiền dịu ấy, quả là một bông sen trắng vưà hé nở. Đẹp, đẹp quá, tất cả ở cô đều toát ra sự thanh cao của một đài hoa sen vươn lên trên mặt hồ, và mùi hương toát ra từ cô, cũng là mùi dìu dịu của đoá sen vưà hé nở. Suốt buổi học hôm đó, Viễn không nghe được bao nhiêu bài giảng của giáo sư, lòng ngất ngây sung sướng vì ngẫu nhiên chàng lại được ngồi gần ni cô Diệu Linh, người chàng thầm yêu trộm nhớ.
Oan nghiệt! Quả là oan nghiệt khi chàng đặt tình yêu không đúng chỗ, giá như khi hiểu được vậy mà chàng tìm cách để tránh đi cái vòng oan nghiệt ấy thì lòng chàng đã không phải ray rứt, thương hoài đoá sen trắng. Sau buổi học, Viễn vội vã đạp xe theo sau đuôi người sư nữ, buổi trưa trời mưa lưa thưa, chỉ đủ ướt những lá cỏ, Viễn thú vị nhớ mấy câu thơ của Phạm thiên Thư "....em tan trường về, đường mưa nho nhỏ". Buổi trưa hôm ấy Viễn cảm thấy yêu đời làm sao, chàng ước rằng con đường cứ dài mãi ra thì ngôi chùa đã hiện ra trước mặt, bóng người sư nữ đã khuất sau hàng cây bồ đề trên lối đi trước cổng chùa.
Năm học ấy quả là đẹp quá, đẹp nhất trong đời sinh viên của Viễn. Chàng dự định trong tương lai, nếu không phải đi lính, Viễn sẽ đi dạy học, ngôi trường Trung Học của ông anh họ thế nào cũng dành cho chàng một chỗ. Từ hôm ấy Viễn chăm chỉ đến trường rất sớm, hồi hộp mong đợi bóng dáng nhỏ nhắn, mảnh dẻ của ni cô Diệu Linh, nụ cười e ấp khiến khuôn mặt cô bừng sáng lên như một đoá huệ . Bây giờ có lẽ bao nhiêu thứ hoa trên đời này chẳng có thứ nào ví von được với dung nhan xinh đẹp ấy, chỉ có mùi hương của hoa sen và vẻ trong sáng của hoa huệ mới diễn tả được nét kiều mỵ trên khuôn mặt thanh tú của Diệu Linh. Ngoài ra, Viễn còn được thấy cô luôn, vì em gái vẫn chăm chỉ đến chùa học Hán tự. Ni cô Diệu Linh được cho ra ngoài học thêm vì lý do đó, là một ni cô trẻ tuổi, có học, cô cần có kiến thức rộng rãi để nghiên cứu và phổ biến giáo lý nhà Phật , đến với những Phật Tử có trình độ hiểu biết rộng, đạo Phật không thể chỉ đào tạo những ni sư thụ động, chỉ loanh quanh ở chùa trong nếp sống thanh đạm rau dưa để tìm Phật cho bản thân.
Viễn ôm mối tình câm lặng rồi cứ thắc mắc tại sao một người đẹp như ni cô Diệu Linh, có ăn học lại chịu gửi thân vào chốn tu trì buồn bã ấy. Đầu óc tưởng tượng của Viễn đi xa hơn bóng dáng khiêm nhu của người sư nữ trẻ tuổi. Có khi chàng khoác cho cô chiếc áo dài màu tím hoàng hôn, có khi chàng nằm mơ thấy được ôm cô vào lòng âu yếm. Sau này chàng mới biết tại sao người ta lại cho rằng tư tưởng cũng dự phần trong việc làm cho con người xấu hay tốt, với những rung động phát nguồn từ một thân thể khỏe mạnh, có lúc chàng đã nghĩ về ni cô Diệu Linh bằng những mê say rất trần tục.
Năm đó Viễn thi rớt. Mộng được trở thành một giáo sư không thành, chàng sắp sửa phải lên đường nhập ngũ. Sắp đi lính, Viễn vẫn cứ loay hoay mãi không biết làm sao tỏ thật được nỗi lòng với Diệu Linh. Lặng lẽ ra đi hay là viết một lá thư cuối cùng,kẹp vào một cuốn sách Thiền mới xuất bản, có lẽ Diệu Linh sẽ đọc và hiểu được mối tình câm nín của chàng. Không gửi được lá thư tỏ tình cho Diệu Linh, Viễn nghe đời trống vắng vô vàn, và sự ra đi im lặng của chàng để rồi sẽ bị lãng quên, như một cơn gió thổi chiếc lá rơi xuống sân chùa, để rồi chẳng ai biết, chẳng ai hay. Viễn thấy lòng buồn bã khi ngày đi sắp tới, hình bóng của Diệu Linh vẫn ám ảnh mãi với những ngón tay thon dài gầy guộc, xanh xao làm Viễn xốn xang. Không chịu nổi những dằn vặt của tâm hồn, Viễn nhất định gửi đi lá thư tỏ tình mà cũng là lời từ biệt nếu như ni cô Diệu Linh trốn tránh mối tình bồng bột của chàng, để mai này chàng đi xa, sống hay chết, hình ảnh và mối tình của chàng ít là cũng đọng lại mãi trong tâm tưởng của người sư nữ.
Lá thư gửi đi để rồi vẫn chỉ là sự im lặng của ni cô Diệu Linh. Bây giờ lớp học chiều đã tạm ngưng nên cô em của chàng không còn đi học như độ trước. Buổi chiều cửa Phật không còn xôn xao những tiếng nói cười của những cô học trò Phật tử, nắng quái chiều hôm vẫn nghiêng vai chiếu vào lớp học những vệt nắng buồn ngây ngất, cảnh vật quanh chùa hình như cũng cô đọng một nỗi buồn yên lặng đến mênh mang.
Trước khi đi lính Viễn đến thăm chùa một lần cuối. Hôm ấy là một sáng cuối hè, nắng dịu, Viễn đạp xe đến chùa để bất ngờ thấy ni cô Diệu Linh đang tưới cây trong vườn. Nét mặt cô nghiêm trang, hơi xanh xao trong tấm khăn màu xám nhạt. Bất chợt gặp Viễn, dường như cô hơi lúng túng, nửa muốn tiếp tục làm việc , nửa muốn đi vào hậu liêu, Viễn thấy đôi mắt cô thoáng một chút ngại ngùng nhưng chỉ vài phút yên lặng, Diệu Linh đặt thùng nước xuống chân và chắp tay chào chàng, như thói quen vẫn chào những Phật tử đến thăm chùa. Viễn nhìn chăm chăm vào khuôn mặt dịu hiền của Diệu Linh, lấy hết can đảm để nói nốt những điều chàng muốn nói:
" Tôi đến thăm chùa lần chót, để từ giã. Ngày mai tôi đi rồi, biết khi nào mới được trở lại..."
Diệu Linh cũng im lặng, đôi mắt trầm ngâm nhìn ra mặt ao, những bông sen trắng nở lác đác lẫn trong những chiếc lá xanh, nhô mình lên trên mặt ao xanh biếc. Viễn nói:
" Tôi biết mình không phải, khi đem con tim đặt vào một nơi không phải chỗ của nó, xin cô tha thứ . Nhưng nếu không nói được điều này, có lẽ cả đời tôi sẽ im lặng với một nỗi buồn, nhất là đời lính sẽ đưa tôi đi xa, xa mãi, đầy những bất trắc của chiến tranh."
Diệu Linh thở nhẹ, hai người đứng gần nhau đến nỗi Viễn ngửi được cả hơi thở của nàng lẫn với mùi hương sen. Cô nói nhỏ:
" Mình chỉ là bạn, bạn học. Mỗi người có một lý tưởng khác nhau, tôi đã chọn con đường này khi chỉ là cô bé mười lăm tuổi. Sau những đổ nát của gia đình, tôi nhìn ra cái khổ của kiếp người, và tôi cho là mình đã đi đúng con đường mình đã chọn lựa."
Viễn hấp tấp ngắt lời cô:
" Tôi không quan niệm trốn tránh điều đau khổ để tìm cho mình một sự giải thoát, càng lăn vào nỗi đau khổ mình sẽ tìm ra hạnh phúc. Như người lính nếu không ra chiến trường lao vào vùng lửa đạn, tìm đâu ra sự bình yên cho người khác hưởng."
Diệu Linh mỉm cười, nụ cười tự tin khi biết mình khó bị lay chuyển:
" Mỗi hạt cát có hình thể khác nhau, mỗi con người có một đời để sống. Nhưng nói chung, nếu mục đích nào cũng đem lại cho đời sự tốt đẹp của nó, thì không so sánh được hoàn cảnh này với hoàn cảnh kia. Không trả lời được lá thư của ông, tôi mong rằng ông cũng hiểu cho rằng, đời tôi không thể thuộc về một người, vì nó là của chúng sinh. Con người tôi được sinh ra là để phục vụ mọi người, như ý nguyện của tôi từ khi chớm hiểu biết. Ông hãy quên tôi đi, thân phận nhỏ nhoi của một hạt cát."
Những lời lẽ vừa từ tốn, vừa quyết liệt của ni cô Diệu Linh khiến Viễn lặng người, một chút hối hận dâng lên trong lòng, chàng tự trách mình quá bồng bột đã phá vỡ sự yên tĩnh trong tâm hồn Diệu Linh. Nhưng thôi, " thà như giọt mưa, rớt trên tượng đá, có còn hơn không,có còn hơn không...", chưa bao giờ chàng lại cảm phục được ý thơ của người làm thơ như lúc này. Cho đến giây phút đó, chàng vẫn bướng bỉnh cho rằng chính chàng đã biết sống, can đảm sống và can đảm nói những điều mình mong mỏi, còn con đường tu hành của Diệu Linh, chẳng qua chỉ vì bi quan, yếm thế, thấy cái khổ của đời đã vội chạy trốn để tìm sự giải thoát.
Trước khi từ biệt, hai người còn đứng lại trước sân chùa, đôi mắt dịu dàng của Diệu Linh vẫn nhìn ra chiếc ao sen có những bông sen trắng, dường như cô muốn gửi hết nỗi buồn của sự biệt ly, vào những đóa hoa vô thường nơi cửa Phật. Hình ảnh cha mẹ, anh em đã chết vì quả đại bác rớt vào thành phố một đêm mùa Xuân năm nào như vẫn còn đó, trong khi cô bé may mắn thoát được vì đi thăm bà ngoại của cô ở một thành phố khác, được bà giữ lại vài hôm để bà cháu hủ hỉ. Âu là định mệnh, ông Trời đã sắp xếp quá đau buồn để cô bé mưới lăm tuổi ở lại trần gian có một mình, một mái gia đình đang đầm ấm hạnh phúc bỗng trong một đêm chỉ còn là cảnh tang tóc, tử biệt. Từ đấy, Diệu Linh về ở với bà ngoại, nhà ở gần một ngôi chùa. Ngày nào sau giờ học Diệu Linh cũng sang chùa để gần gũi với mấy ni cô đang trụ trì trong ngôi chùa nhỏ vùng ngoại ô, cô bé đã tìm được tình yêu thương, nỗi chia xẻ cho thân phận một cô bé mồ côi cả cha lẫn mẹ. Cô cũng hằng ngày nhìn thấy những mất mát tương tự, những " sinh ly tử biệt" giữa một đất nước chiến tranh bày trải trước mắt, bởi vậy khi bà ngoại qua đời, Diệu Linh học xong Trung Học, cô bé cởi chiếc áo trắng tuổi học trò để khoác cho mình chiếc áo màu lam nhạt. Màu áo của sự tĩnh lặng, của khiêm nhu và chịu đựng, cô xa dần những phồn hoa không thực của cuộc đời muôn mặt.
Trong yên lặng cô hồi tưởng một mình về dĩ vãng, những bày tỏ sôi nổi về tình yêu của chàng sinh viên trẻ đứng trước mặt cô, mai đây chỉ một thời gian sẽ trở thành người lính. Người ấy sẽ đi đâu, cuộc chiến sẽ đem anh ta đến phương trời nào, những đạn bom, nhưng chiến trường khét mùi thuốc súng, anh ta có trở về?
Bất chợt giây phút ấy, cô nghe tiếng nói êm đềm của người thanh niên si tình kia:
" Hôm nay đến chùa vào buổi sáng, tôi mới thấy rằng hoa sen đẹp quá, mà hương sen thì thanh khiết vô cùng. Diệu Linh , cô nhìn xem hạt sương còn đọng trên chiếc lá sen, đẹp như những viên kim cương diễm lệ. . ."
Đôi môi Diệu Linh mấp máy, cô nói khẽ lắm, nhưng câu nói buổi sáng hôm ấy như đọng lại trong tâm tư Viễn suốt một đời không phai:
" Vâng thưa ông, những giọt sương chỉ đẹp khi nó nằm trên chiếc lá sen, dưới ánh mặt trời mà thôi. Ông để nó trên tay, nó cũng chỉ là một giọt nước."
* * *
Viễn nhập ngũ. Bỏ lại đời sinh viên và căn gác xép bừa bộn những kỷ niệm một thời tuổi trẻ. Bỏ lại tất cả để đi vào một cuộc đời khác, đời lính nhiều tập tành gian khổ nơi quân trường, và khi ra trường được thuyên chuyển ra đơn vị tác chiến. Khi ấy, chàng mới thấu hiểu được những đau khổ của con người, mới thực sự đồng cảm với ni cô Diệu Linh khi chọn con đường tu hành để dâng hiến cuộc đời cho tha nhân.
Những ngày lặn lội hành quân trên vùng Đồng Tháp Mười, sông rạch chằng chịt nơi vùng đồng bằng tôm cá, lúa gạo đầy ắp nhưng đời sống phập phồng trước lằn tên mũi đạn. Có những nơi chàng đi qua, rừng dừa sơ sác và những ao truôm đầy hoa sen, hoa súng. Trời vẫn ban cho trái đất chút tươi mát của cỏ cây, nếu không, trước mắt chàng tất cả những vùng chàng đi qua, con người như ngơ ngáo chờ đợi cái chết đến không biết đâu mà tránh. Giữa tên bay đạn lạc, đôi khi lòng chàng vẫn ngất ngây vì cảnh đẹp của một ao sen miền thôn dã, mà những đóa sen trắng, hồng, vẫn phảng phất trong gió mùi hương sen rất dịu dàng. Những lúc đó lòng chàng lại nhớ đến ni cô Diệu Linh, trong lần nghỉ phép khi sắp ra đơn vị, chàng có đến chùa nhưng được biết ni cô Diệu Linh đã đi tu học ở một nơi khác, không ai nói cô đi đâu, chỉ có mình Viễn mới hiểu được sự thay đổi này.
Hai năm vào lính đã đào tạo cho Viễn sự trưởng thành, để thấu hiểu và phân biệt thế nào là sự đau khổ và hạnh phúc. Viễn đã nhìn thấy cái khổ của người dân trong vùng xôi đậu, Viễn đã nhìn thật gần xác anh em đồng đội bầy nhầy, nát bấy, méo mó, giá lạnh trong những tấm "poncho" nhà binh, những đôi mắt thất thần của trẻ con, những tiếng khóc bằn bặt , đôi vai gầy run run của bà mẹ già gục xuống trên xác con, và vành khăn trắng quấn trên đầu người vợ trẻ. . ..
Giây phút ấy chàng hối hận vô cùng, chút nữa thì Viễn đã lôi kéo ni cô Diệu Linh vào nỗi khổ này, nếu như ngày ấy. . . Ôi! mỗi ngày thức dậy là chờ chực những khổ đau sẽ tới, thì ra Diệu Linh đã nhìn ra và chọn lựa đúng con đường của nàng, mà đối với tâm hồn bồng bột của tuổi thanh niên, Viễn cho rằng ít ra một lần, chàng sẽ là giọt mưa rớt trên tượng đá. Cũng may, may thật là may, hình ảnh ni cô Diệu Linh vẫn ở trong trái tim chàng, nhưng không bị chàng giữ lấy một mình và lôi kéo vào nỗi đau khổ giữa lằn ranh sống, chết của người lính. Chỉ tiếc rằng chàng đã bồng bột làm khuấy động tâm hồn của người sư nữ trẻ tuổi ấy, với cái ích kỷ của đàn ông, biết đâu rằng dù Diệu Linh quyết chí gửi đời mình vào cửa Phật, nhưng tâm tư cô làm sao khỏi có lúc không nghĩ về Viễn.
Viễn bị thương trong một lần hành quân chạm địch, vết thương khá nặng phải đưa về bịnh viện Cộng Hòa dưỡng thương một thời gian dài. Bây giờ mới là lúc Viễn nhìn ra cái đau khổ của thân xác, của chính mình và của anh em đồng đội trong Quân Y viện, chàng lại càng hiểu ra cái khổ của kiếp người, cái mất còn của cõi nhân gian. Chồng chất lên đời sống đầy rẫy những khổ đau này nối tiếp những khổ đau khác, chàng lại càng hay nhớ đến khuôn mặt hiền dịu và những lời nói êm đềm mà thấm thía của ni cô Diệu Linh.
Khi chiến tranh chấm dứt, Viễn còn trải qua một thời gian nữa trong tù, đói, khát, bịnh tật, ân oán chập chùng nơi lòng người, kẻ trả người vay, tiếp tục nối tiếp bởi con người khó gần gũi nhau, thương yêu nhau. Những lúc quá buồn cho tình đời, tình người, Viễn thường ngẫm nghĩ đến những đóa sen trắng trong cái ao gợn màu rêu trước sân chùa năm xưa, nhớ đến Diệu Linh năm nào đã sớm nhìn ra " tu là cội phúc, tình là giây oan".
* * *
Người đàn ông tóc bạc, dáng đậm chắc nhấp một ngụm trà sen thơm ngát, rồi tiếp tục kể nốt câu chuyện của ông cho bạn nghe:
" Sau hơn hai mươi năm, tôi về thăm quê nhà lần đầu tiên. Nhớ nhà lắm anh ạ, nhưng có nhẽ lại nhớ cái tuổi trẻ của mình, căn nhà, con đường, trường học, và ngôi chùa. Ừ, ngôi chùa ngày xưa thuở tôi còn là một sinh viên văn khoa trước khi đi lính, có bóng dáng ni cô Diệu Linh mà tôi đã yêu tha thiết. Đến bây giờ tôi mới thấy không có gì tàn nhẫn bằng thời gian, nó tàn phá tất cả, tôi gần như không còn tìm được những gì thân quen của nhiều năm tháng cũ. Đấy, kể từ ngày tôi ra đi, hơn hai mươi năm rồi anh ạ. Từ một người lính trẻ thuở nào, nay đã là ông lính già đi tìm quá khứ, nhưng quá khứ cũng không còn. Sách Phật dạy dĩ vãng thì đã qua, tương lai thì chưa biết, chỉ còn có hiện tại. Hiện tại thì tôi có một gia đình, nhưng không hạnh phúc, tôi như người lạc loài vì mãi vẫn không bắt kịp cái hiện tại xô bồ này, quay trở lại tìm dĩ vãng thì cũng muôn đời không tìm thấy, buồn lắm anh ạ."
Người bạn già vẫn yên lặng lắng nghe, tôn trọng nỗi buồn chất ngất trong lòng bạn. Ông lơ đãng nhìn đóa sen nở trong chiếc hồ nhỏ, những cánh hoa trắng muốt, ủ trong lòng hoa là những chiếc nhụy vàng. Hạnh phúc nhỏ nhoi thế kia mà bạn ông không nắm được, mà những đau khổ lại vẫn không rũ ra được. Tiếng nói của người bạn cũ vang lên trầm trầm bên tai ông:
" Tôi đi về quê nhà, như đi tìm lại cái đau khổ của chúng sinh trong mái chùa cong, chứ không phải tôi định đi tìm lại ni cô Diệu Linh nơi mái chùa đó. Đấy là một cơ sở nuôi trẻ mồ côi, tàn tật, cô em gái của tôi đưa tôi đến mà không hề báo trước cho tôi biết rằng ni cô Diệu Linh vẫn ở trong ngôi chùa ấy. . . ."
Người bạn nhắp một ngụm trà, ngụm trà vừa nhấp vào hơi đắng nhưng cái hậu của trà như đọng lại nơi cuống họng ông vị ngọt thật dễ chịu:
" Thế là "quy cố hương" lại " ngộ cố tri", quả là trái đất vẫn tròn."
Cả hai cùng cười, ấm trà đã vơi đi một nửa:
" Tôi ngỡ ngàng khi gặp lại ni cô Diệu Linh nơi mái chùa xưa, bây giờ cô đã chững chạc và già dặn với thời gian, nhưng dáng vóc vẫn gầy gò, nhanh nhẹn, đôi mắt của cô không còn đen nhánh nét tươi vui của thời trẻ tuổi, nhưng cô vui vẻ, tự tin,. Gặp lại tôi cô không hề bối rối, đến nỗi tôi tưởng là cô không hề nhớ đến những lời tỏ tình của tôi ngày xưa, vì nó đã thuộc về dĩ vãng. Cô dẫn tôi đi thăm cơ sở của chùa, thăm mái nhà tình thương mà ở đó là những đứa bé mồ côi , tàn tật được săn sóc bởi tình thương của những người tu hành. Bao nhiêu năm trở về, điều thú vị nhất đối với tôi là cái ao sen của chùa vẫn còn đó, đầy những đóa sen tàn, hoa với nhụy tả tơi rụng trên mặt nước. Tôi nghĩ đến kiếp người, rồi có lúc nó cũng tả tơi như những đóa sen tàn, tôi hình dung lại khuôn mặt xinh đẹp của ni cô Diệu Linh năm xưa, dĩ nhiên nó đã thay đổi rồi với thời gian."
Người bạn cất tiếng hỏi:
" Anh thất vọng ư? Nếu là tôi, tôi sẽ không bao giờ đi tìm những hình bóng cũ..."
Nghe có tiếng cười vang lên trong nắng sớm:
" Đừng nói như vậy khi anh chưa biết tôi tìm được gì trong chuyến trở về ngày hôm ấy. Trở lại câu chuyện cũ anh nhé. Sau khi đi thăm các cháu bé, tôi trở lại nhà khách của chùa để nghỉ chân, ni cô Diệu Linh đã cho tôi thưởng thức bát chè hạt sen tuyệt trần đời anh ạ. Cô cho biết đó là những hạt sen thu hoạch sau mỗi độ sen tàn, cô để dành nấu chè đãi khách thập phương. Lúc ra về, tôi có trở ra ngắm lại vườn sen và bất chợt cúi nhìn xuống ao, tôi thấy bóng mình rung rinh dưới đáy nước, không tìm đâu ra hình bóng của thuở đến chùa lúc ngoài hai mươi tuổi. Những đóa sen tàn, tàn đi để rồi còn lại những gương sen, có những hạt sen bùi thơm như bát chè của ni cô Diệu Linh đãi khách thập phương. Tôi lại nghĩ đến ni cô Diệu Linh, đời cô quả là một đoá hoa vô thường, dẫu đến khi tàn vẫn không sống một đời vô ích..."

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Từ Công Phụng và ‘Bây Giờ Tháng Mấy’ -

Image
Từ Công Phụng (người đầu tiên tính từ phải) trước Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.
Du Tử Lê
(Bài 2)


Tôi không biết Từ Công Phụng tìm đến với âm nhạc hay âm nhạc đưa tay gõ những tiếng gõ rụt rè đầu tiên, nơi cánh cửa tâm hồn, khi ông mới 13 tuổi, lúc còn theo học bậc tiểu học ở quê hương Phanrang, Ninh Thuận. (*)

Ông kể, thời điểm đó, một lần, khi tình cờ nghe người anh cả đàn và hát bài “Con Thuyền Không Bến” của Ðặng Thế Phong, và “Trương Chi” của Văn Cao, ông bồi hồi, xúc động. Chạm mặt đầu tiên với âm nhạc, nơi Từ Công Phụng khiến ông ngây ngất, như sự chạm mặt với tình yêu thứ nhất. Ông bắt đầu học nhạc với người anh, qua những câu hỏi đơn giản về các nốt nhạc, cách đánh đàn.

Ông nói:

“Nhưng mãi tới năm 16 tuổi, tôi mới thực sự hiểu biết về âm nhạc một cách sâu sắc qua cuốn sách nhạc nhan đề 'Harmonie et Orchestration' của Robert de Kers, bản tiếng Pháp, xuất bản tại Paris, năm 1944; mà tôi vẫn còn giữ, như một kỷ niệm quý báu.”

Cũng thuộc về kỷ niệm thời niên thiếu, Từ Công Phụng kể, lần đầu tiên ông bước lên sân khấu là khi đang học năm lớp nhất, trường Nam Phanrang (lớp 5 bây giờ). Sau đó, ông được đề cử đi hát ở các buổi lễ lớn, thi đua cùng các trường tiểu học khác. Con đường “nghệ sĩ trình diễn” này, tiếp tục đon đả mời ông bước tới khi lên trung học. Ông luôn được chọn lên sân khấu đơn ca trong các buổi sinh hoạt văn nghệ toàn trường. Hai năm cuối cùng của bậc trung học ở các trường Duy Tân, Phanrang và Trần Hưng Ðạo, Ðà Lạt, ông được chọn làm trưởng ban văn nghệ toàn trường.

Năm 1961, ông sáng tác ca khúc “Bây Giờ Tháng Mấy.”

“Nhưng tôi không dám trình bày trước công chúng. Phần vì nhát, phần chưa tin tưởng lắm vào tài sáng tác của mình,” họ Từ tâm sự.

Thời gian ở Ðà Lạt, Từ Công Phụng cùng một số bạn học mới, thành lập ban nhạc Ngàn Thông, chơi hàng tuần cho đài phát thanh Ðà Lạt. Ca khúc “Bây Giờ Tháng Mấy” của họ Từ được trình bày lần đầu tiên, qua làn sóng điện này.

Ngay sau đó, ông nhận được rất nhiều thư khen ngợi. Những bức thư khen ngợi kia, đã khuyến khích Từ Công Phụng mạnh dạn hơn trong lãnh vực sáng tác. Và lần lượt, những ca khúc như “Mùa Thu Mây Ngàn,” “Bài Cho Em” ra đời.

Tác giả “Bây Giờ Tháng Mấy” kể, một thành viên cùng trong ban Ngàn Thông với ông, sau này cũng trở thành nhạc sĩ nổi tiếng. Ðó là nhạc sĩ Lê Uyên Phương.

Tuy nhiên, vẫn theo Từ Công Phụng, kể từ khi di chuyển về Saigòn, học Ðại Học Quốc Gia Hành Chánh, thì:

“Con đường âm nhạc của tôi mở ra thênh thang hơn. Sách vở về âm nhạc nhiều hơn, đã cho tôi một cái nhìn khác về âm nhạc. Tôi bắt đầu mê nhạc hòa tấu giao hưởng và thích nghe nhạc cổ điển Tây phương nhiều hơn. Trường hợp ca khúc ‘Bây Giờ Tháng Mấy’ cũng là một cái duyên kỳ lạ, đưa nó tới quảng đại quần chúng. Ban đầu nó chỉ nằm trong khuôn viên ký túc xá của trường Quốc Gia Hành Chánh. Ðêm đêm anh em ngồi quây quần chung quanh, nghe tôi hát. Bản ‘Bây Giờ Tháng Mấy’ đã bị một anh bạn ‘chôm’, đem ra nhà xuất bản gạ bán giùm tôi. Nhà xuất bản Minh Phát lúc bấy giờ đã trả giá bản nhạc ấy có $4,000; và được hứa hẹn khi nào bán chạy sẽ trả thêm. Sau khi ca sĩ Nhật Trường trình bày ca khúc ấy, lần đầu tiên trên đài Quân Ðội, bản nhạc bán chạy như tôm tươi. Nhạc lẻ in ra bán hết chục ngàn này tới chục ngàn khác, mà lời hứa hẹn của Minh Phát ngày nào, cũng tan bay theo gió!”


Về nguồn gốc của ca khúc đầu tay vừa đề cập, Từ Công Phụng nói:

“‘Bây Giờ Tháng Mấy’ là một sáng tác hoàn toàn hư cấu, là những mơ mộng của chàng học sinh mới lớn, là tâm tư của một tên học trò đọc quá nhiều tiểu thuyết lãng mạn,” cho nên, như ghi nhận của nhà văn Song Thao: “‘Bây Giờ Tháng Mấy’ đã bắt được nhịp đập con tim của giới trẻ lúc bấy giờ. Lúc họ đang sống thấp thỏm trong hoàn cảnh chiến tranh, khao khát một tình yêu trong sáng lãng mạn. Và Từ Công Phụng đã mang lại cho họ món ăn tinh thần ấy.”

Sau gần 40 năm, kể từ sáng tác đầu tay, cảnh thổ âm nhạc mang tên Từ Công Phụng vẫn là tình ca. Ông tâm sự:

“Với tôi, tình ca vẫn là con đường đẹp nhất dẫn mọi người đến gần nhau hơn, chia sẻ được với nhau nhiều hơn vì cùng chung một hơi thở.”

Họ Từ nói thêm:

“...Cho đến tuổi này, chúng ta không còn thì giờ để chia lìa. Quá muộn màng cho một bắt đầu mới (?). Dĩ nhiên mỗi tuổi cái nhìn về cuộc đời có khác đi (tùy người). Và dĩ nhiên sự chuyển hướng có đậm nét hay không, chắc chắn là phải có trong sáng tác của tôi sau này khi ra hải ngoại và khi tuổi đời đã chồng chất.” Nhân đề cặp tới tình khúc, nhạc sĩ Từ cũng đưa ra quan niệm của ông chung quanh hai danh từ “ca khúc” và “nhạc phẩm.”

Ông đề nghị những bài hát hiện nay các ca sĩ thường hát, chúng ta nên gọi là “ca khúc” hay “bài hát”, hơn là “nhạc phẩm.”

“Vì danh từ ‘nhạc phẩm’ thường được dành cho những sáng tác âm nhạc lớn. Những sáng tác dùng nốt nhạc để diễn tả tâm tư hay hình ảnh v.v... Nhưng vì dùng nốt nhạc để diễn tả khiến không mấy ai hiểu nổi. Nên chúng ta mới có ca khúc. Ca khúc dùng nốt nhạc để chuyển lời ca đến với khán thính giả thì dễ hiểu hơn. Cho nên, nhạc và lời bao giờ cũng phải quyện với nhau sao cho tương xứng. Nói cách khác là khéo xếp đặt lời ca và nốt nhạc làm sao dễ đi vào lòng người. Tóm lại, ca khúc là chuyển tâm tư của người viết đến người nghe bằng những lời thơ qua âm nhạc” Ông nói.

Về thói quen sáng tác, Từ Công Phụng cho biết, ông không biết các nhạc sĩ sáng tác ca khúc như thế nào; nhưng riêng với ông, ông coi trọng cả hai thứ: Nhạc và Lời. Ông nói, Nhạc phải cho hay, Lời phải cho đẹp và ý nghĩa. Ðôi khi ông viết nhạc trước theo dòng cảm hứng và tìm lời phù hợp với nốt nhạc gắn vào. Ðôi khi ông lại làm lời trước. Ðó là trường hợp ông muốn nói tới một điều gì đặc biệtà Sau đó ông mới tìm nốt nhạc gắn vào.

Ông tóm gọn:

“Tôi luôn tìm cách hành âm cho có sự thay đổi khác lạ; gây thích thú cho người nghe. Và cũng có đôi khi, tôi viết luôn hai thứ một lúc.”

Du Tử Lê

(Tuần sau tiếp)


Chú thích:

(*): Từ Công Phụng sinh ngày 27 Tháng Bảy, năm 1943 tại xã Văn Lâm, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

CUỘC ĐỜI TRƯỚC MẶT :
NGUYÊN ĐẰNG SAU CÁI CHẾT CỦA ANNIE LÊ VÀ HỘI CHỨNG RELATIVE DEPRIVATION
Án mạng làm cho cô Annie Lê bị chết một cách oan uổng đã được xác nhận bởi Cảnh sát trưởng New Haven ( CT ) là một trường hợp bạo hành tại nơi làm việc ( work place violence ) và thủ phạm là Raymond Clarke, một chuyên viên chăm sóc các thú vật ( lab technician ) tại phòng thí nghiệm mà Annie làm khảo cứu về những chứng bệnh nan y như ung thư, tiểu đường.

Giữa hai người hoàn toàn không có thù oán riêng tư hay liên hệ tình cảm hay tiền bạc nên làm cho nhiều người thắc mắc tại sao Raymond lại nhẫn tâm dùng tay bóp cổ Annie làm cho cô sinh viên Đại học Yale bị chết ? Nguyên nhân nào đã khiến cho Raymond có một hành động tàn bạo như trên vì các nhân chứng có quen biết Raymond cho biết đương sự là một người bình thường, tính tình hoà nhã ?

Raymond có công việc làm ổn định tại Đại học Yale tuy khiêm nhường nhưng không có gì hèn kém và đương sự không hề có tiền án hay một hành vi bạo hành nào đáng kể.. Cảnh sát trưởng James Lewis nói : chúng tôi chưa thể biết được nguyên nhân cho đến khi nào Raymond chịu khai trước toà..

Nguyên nhân bí ẩn..

Nhưng thám tử FBI Brad Garrett nhận định rằng khi Annie bị giết bằng hình thức bị bóp cổ làm cho nghẹt thở ( death by asphyxion) bởi Raymond thì rất có thể đây là một trường hợp sát nhân vì lý do ’ ’ ghen tỵ ’’ và ’’ tức giận ’’ ( road rage and anger ), một tình trạng càng ngày càng phổ biến ở Mỹ khi mà con người có thể có những hành động bất thường rồi gây ra án mạng.

BS Jack Levin của Đại học Northern University phân tích đây là một trường hợp ’’ thua kém tương đói ’’ tức relative deprivation đã được các BS tâm thần mô tả trước đây ở Mỹ trong thời kỳ sau đệ nhị thế chiến khi mà đời sống vật chất được cải thiện sau những năm khó khăn trong thời chiến. BS Levin cho rằng ’’ khi hai người cùng một hoàn cảnh nhưng lại có tương lai cách biệt nhau quá xa ví dụ như Annie Lê , một nghiên cứu sinh tại Yale đang trên đường thành công sáng lạn và nhất là sắp làm đám cưới còn Raymond thì tương lai mù mịt với công việc thấp kém, chăm sóc những con vật được dùng làm thí nghiệm. Giống như câu truyện của ông lão nuôi ong và vua Lê Lợi thời xưa, tuy sinh ra cùng một tuổi nhưng vai vế thì khác nhau.

Trong khi Annie đang tham gia vào những cuộc khảo cứu Y học vô cùng quan trọng như đi tìm thuốc chữa trị các chứng bệnh nan y và có thể sau này sẽ trở nên danh tiếng như cô đã từng được các thày giáo khen ngợi là có thể sẽ là một Albert Einstein trong tương lai còn Raymond thì sẽ suốt đời lau chùi, dọn dẹp tại căn phòng thí nghiệm u tối, vô vọng.
BS Ann Turner nói ‘’ có một sự cách biệt khá xa giữa những người làm khảo cứu Y học và những người giữ trách nhiệm cung cấp và bảo trì các phương tiện khảo cứu nhưng không có lý do gì để mà hận thù nhau cả.. vì bình thường thì người làm khảo cứu và người phụ giúp đều kính trọng lẫn nhau .’’

Relative deprivation.

Hội chứng này được nghiên cứu kỹ lưỡng vào năm 1966 bởi BS W Runciman và đến năm 1980 thì được môn luật Y công nhận là một chứng bệnh tâm thần bởi BS John Braithwaite vì giải thích được hiện tượng tại sao các tội ác gia tăng trong thời kỳ hậu thế chiến thứ 2 khi mà đời sống của tất cả mọi người được cải thiện, đờI sống no đủ và không còn khó khăn như trước trong thời chiến tranh mà tất cả phải hy sinh, đồng lao cộng khổ.
Hội chứng này xảy ra khi một nhóm người cùng một hoàn cảnh khó khăn nhưng sau khi cuộc sống được cải thiện thì có những người có cơ hội tiến thân và một số thì bị bỏ lại đằng sau tạo nên một sư cách biệt sau một thời gian phấn đấu làm việc. Nhưng người bị thua kém thì có mặc cảm bị đối xử bất công và tức giận. Hiện tượng này có thể xảy ra trên một phạm vi rộng lớn rồi tạo nên những phong trào tranh đấu, đòi quyền lợi , bình đẳng xã hội như phong trào Cộng Sản đấu tranh giai cấp trước đây..

TS Merton viết trong luận án’ Social structure and Anomie ‘ rằng tại những xã hội chậm tiến, nghèo nàn thì tộI ác tương đói thấp còn tại một số xã hội tân tiến có đờI sống cao hơn thì tỷ lệ tộ ác lại rất cao như tại Mỹ hiện nay mà các tệ đoan đày rẫy, các nhà tù chật cứng các tội phạm !
Nói chung hiện tượng relative deprivation xảy ra khi trong một xã hội hay một nơi làm việc mà một người có tương lai sáng lạn hơn người bên cạnh dù rằng không có ai bị thiếu thốn cả như trường hợp của Raymond và Annie.

Ngoài ra Annie Lê là một người Việt Nam tỵ nạn da màu còn Raymond là một người Mỹ trắng nên cũng dễ xảy ra tình trạng ghen tỵ rồi dẫn đến bạo hành. Tình trạng một số người Việt Nam, người Á Đông tương đối thành công và giàu sang rồi tạo nên sự ghen ghét của một số người dân Mỹ khác cũng một phần do hiện tượng relative deprivation ví dụ như vụ bạo loạn trước đây tại Nam Los Angeles khi người da đen nổi loạn rồi đập phá cửa tiệm của người Á Đông dù rằng nguyên do là vụ Rodney King gây ra.

Controlling behavior và road rage..

BS Levin còn cho biết một nguyên tâm lý khác nữa trong vụ Annie Lê là ’ thói quen muốn kiểm soát ’ tức controling behavior của Raymond. Ông tin rằng những tên sát nhân như Raymond có thể trở nên tức giận bất thường ( road rage ) khi cảm thấy không kiểm soát được hoàn cảnh khi thấy Annie sắp sửa làm đám cưới và rời khỏi nơi làm việc.

Ông gọi Raymond thuộc vào những hạng người ’ control freaks ’ hay ‘ work place avengers ’ như trước đây đã xảy ra những vụ sát nhân hàng loạt tại Bưu Điện khi mà mội người nổi điên dùng súng AK bắn chết hàng chục người vì bất mãn hoặc như trường hợp kỹ sư Mike McDermott dùng súng shotgun bắn chết 7 người tại Edgewater technology (Massachusetts).
Raymond muốn chứng tỏ quyền hạn bằng cách dùng tay bóp cổ chết Annie , một người tương đối thành công hơn. Những người có thói quen muốn kiểm soát tất cả mọi người thường hay dễ nóng giận và tạo nên bạo hành và một người hàng xóm của Raymond cho biết là đương sự thường hay có tính muốn kiểm soát và canh chừng người bạn gái ở cùng.

Sống ở xứ người..

Cái chết oan uổng của Annie Lê nhắc nhở chúng ta rằng tình trạng relative deprivation khá phổ biến ở Mỹ và chúng ta , những người Việt Nam và Á đông, tương đối thành công nhờ công sức của chúng ta cần đề phòng những trường hợp kể trên như cổ nhân đã dạy là ’’ sống ở xứ người thì đứa trẻ lên mười phải gọi bằng anh..’’
Thứ nhất là cần ý thức đề phòng và thủ thân, khiêm nhường và thận trọng trong khi làm việc vì khó biết được những người làm việc bên cạnh có thể hàng ngày cư xử bình thường nhưng trong một lúc nóng giận thì có thể có những hành động không ai có thể đoán trước được !

BS Vũ văn Dzi, MD.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Tình người bố Mỹ cho con gái yêu Ðây là một bài viết đọc được trên net mong được phổ biến,
Bruce Weigl nói:
- “Ðây là con gái tôi, cô làm bạn của nó nhé, nó rất mắc cỡ và ít bạn người Việt Nam lắm”.
Người cha nói với tôi như vậy ngay từ khi vừa gặp tôi lần đầu ở Boston.


1. Khi tôi kết thúc cuộc trò chuyện đầu tiên với cô gái nhỏ nhắn người Việt Nam kia thì người cha hỏi tôi, giọng đầy sự quan tâm:
- “Cô thấy phát âm tiếng Việt của con gái tôi như thế nào?”
Tôi bày tỏ sự thán phục:
- “Cô ấy nói tiếng Việt giọng Bắc rất đúng và tiếng Việt của cô ấy thật hay. Chắc cô ấy cũng mới sang Mỹ phải không?”
Ðôi chân mày của người cha giãn ra, vẻ mặt đầy hân hoan và hạnh phúc:
- “Con bé sang đây đã 13 năm”.

Tôi nhìn hai cha con, lòng đầy nghi hoặc. Làm thế nào để người cha Mỹ kia giữ gìn tiếng Việt cho đứa con gái Việt trong suốt 13 năm ấy trong khi ông không biết nói tiếng Việt? Cô gái tôi gặp kia dạ thưa rất lễ phép, nói năng e ấp và đáng yêu như một cô gái Bắc Hà chính hiệu được giáo dục trong một gia đình nền nếp đạo hạnh, đã gây cho tôi một nỗi ngạc nhiên lớn lao. Và rồi sự ngạc nhiên trong tôi đã chuyển thành thán phục, khi tôi được nghe bạn bè kể về cuộc nhận và nuôi đứa con nuôi này.

Ðó là một ngày của 13 năm trước, người đàn ông Mỹ, ông Bruce Weigl sang Việt Nam và tìm đến cô nhi viện để kiếm một bé gái nhận làm con nuôi. Khi ấy, ông đã nói với những người có trách nhiệm ở cô nhi viện:

- “Hôm nay, tôi nhận của quý vị một đứa bé Việt Nam, tôi hứa sau này sẽ trả lại quý vị một cô gái Việt Nam. Tôi sẽ không biến cô ấy thành người Mỹ”.

Ðể thực hiện lời hứa của mình, trong ngần ấy năm qua vợ chồng ông đã thay phiên nhau chăm sóc tâm hồn Việt cho cô bé, cứ đến cuối tuần họ lại chở cô bé đến những nơi có người Việt sống để cô bé nói chuyện bằng tiếng Việt. Người cha cũng “thuyết-phục” bạn bè người Việt của mình ở Mỹ, gặp ai ông cũng bảo họ “nói tiếng Việt với con gái tôi” và tôi không phải là người đầu tiên được ông nhờ. Người cha ấy cũng tìm hiểu văn hóa Việt Nam, cho con gái ăn thức ăn Việt Nam để chắc chắn rằng khi cô bé trở lại quê cha đất tổ sẽ không xua tay bịt mồm trước nước mắm quê nhà.

Ông nói rằng sẽ thật là mắc cỡ nếu để con gái mình không hiểu gì về văn hóa Việt, đời sống Việt. Tháng Tám 2009, cô gái sẽ trở về và làm việc tại Việt Nam sau khi tốt nghiệp đại học ở Mỹ.

Ông nói:

- “Ðó là lựa chọn của con gái tôi và cũng là mong muốn của tôi. Tôi thật sự lo cho con gái nhưng tôi luôn muốn con bé tự lập trên quê cha đất mẹ của nó”.

2. “Bố tôi luôn yêu cầu tôi nói tiếng Việt ngay khi có thể. Ông tìm hiểu về văn hóa Việt Nam và dạy cho tôi. Ông mua những băng nhạc Việt Nam để tôi nghe và tìm kiếm những người bạn Việt Nam để tôi giao tiếp với họ bằng tiếng mẹ đẻ của mình”. Cô con gái đã nói về người cha của mình như thế. Cô gọi ông bằng “bố” hoặc “bố tôi” đầy trìu mến và thương yêu.

Cô kể rằng khi nhận nuôi mình, người cha đã lặng lẽ học tiếng Việt, tìm hiểu văn hóa Việt Nam từ đền chùa, miếu mạo đến phong tục tập quán hằng ngày. Ðến nay, tuy ông không nói được tiếng Việt nhưng hiểu tiếng Việt khá nhiều. Và điều quan trọng nhất là ông đã dạy dỗ và “giữ gìn” cô theo cách của một ông bố Việt Nam.

Cô nói:

- “Bố đã dạy tôi từng chút một, từ những việc đơn giản nhất trong ứng xử của đời sống thường nhật đến những suy nghĩ, hành động. Bố luôn muốn tôi phải là một người Việt Nam, phải nói tiếng Việt thật giỏi, để khi tiếp xúc với tôi, người ta không được nói tôi là một Việt kiều gì đó...”

Trong iPod của cô con gái, ngoài những bản nhạc jazz mà cô rất yêu thích là những bài hát Việt.

Buổi bế mạc trại sáng tác ở trường đại học Umass Boston cuối Tháng Sáu vừa qua, cô đã cùng với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và những người bạn Việt Nam làm thành một đội biểu diễn dân ca, vừa hát say sưa vừa gõ nhịp theo những bài quan họ Bắc Ninh lả lướt.

3. Người cha đó là một tên tuổi lớn của nền thi ca nước Mỹ đương đại. Thơ của ông được đọc ở nhiều nơi và được rất nhiều người yêu thích. Ông đang giảng dạy tại trường đại học Oberlin ở Ohio. Hồi ký ông viết về một quãng thời gian hai năm tại Việt Nam cùng với những dòng thơ tặng con gái trong The Circle of Hanh: A memoir đã trở thành một trong những cuốn hồi ký hiếm hoi là best-seller lúc bấy giờ. Ông là Bruce Weigl. Còn cô con gái tên là Hạnh. Khi viết những dòng này, tôi nhớ đến gương mặt rạng rỡ đầy tự hào của ông khi nghe tôi nhận xét tiếng Việt của con gái ông thật là đẹp.

Tôi thật sự muốn nói với ông lời cảm ơn vì ông (và gia đình) đã giữ gìn và nuôi dưỡng một người con gái chính cống Việt Nam.

Sau đây là bài thơ ông làm bằng tiếng Anh mà tôi dịch ra tiếng Việt:

Con gái bố

Thật là ngạc nhiên khi con không hề sợ hãi,

Kể cả đêm đen với những bóng đêm đe dọa xung quanh.

Trên con đường chúng ta tìm kiếm chính mình,

Trong suy tưởng...

Con đã làm gián đoạn thời gian đơn độc của bố,

Thời gian bố đối diện với cái chết và mỉm cười trước nó.

Nhưng, con đã đến đây,

Trong bộ đồ con mặc ở nhà sáng màu

Mà chúng ta đã mua ở Hà Nội.

Con tập nói tiếng Anh bập bẹ...

Và trong đôi mắt đen của con,

Những dòng sông với bầy Lục Bình vẫn chảy êm đềm.

Ðôi mắt con ẩn chứa cả một đại dương bao la

Tình thương khi con đến với bố...

Bố muốn nói với con rằng

Con là dòng sông của bố

Hoặc con là bông hoa của bố,

Hay con là con chim vàng anh xinh xắn của bố.

Nhưng,

Bố không muốn dùng những từ ngữ để miêu tả con,

Bố không muốn con bị giới hạn trong những ý nghĩa của từ ngữ.

Và vì thế, bố yên lặng.

Bố ngắm nhìn con....


Bruce Weigl

Ðây là một trong rất nhiều bài thơ mà Bruce Weigl đã làm tặng con gái mình. Bài thơ bằng tiếng Anh nhưng có tựa đề tiếng Việt không dấu là Con Gai Bo. Bruce đã đọc bài thơ này trong buổi đọc thơ tại thư viện Menard, Boston vào cuối Tháng Sáu 2009, khi đọc ông nhìn con gái đầy thương mến.
Bên dưới khán phòng, Hạnh Nguyễn Weigl đã khóc và rất nhiều độc giả khác cũng đã khóc vì cảm động. Bài thơ này được in trong tập thơ mới nhất của Bruce: Declension in the village of Chung Luong.
Một người bạn của tôi khi biết chuyện này đã nói rằng:
- “Ông ấy đến từ một nền văn hóa lớn nên ông ấy biết tôn trọng một nền văn hóa lớn khác”.
Còn tôi, tôi chỉ nghĩ đơn giản:
- “Ông ấy là một người cha thực thụ, và khi làm một người cha, người ta sẽ biết cách để làm điều gì tốt nhất cho con mình vì thương con”...

Post Reply