Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Tận Thế Qua Rồi

Tác giả : Trần Khải

Vậy là qua rồi. Tận thế không xảy ra. Mọi chuyện vẫn bình thường. Mưa thuận gió hòa nhiều nơi trên thế giới, chỉ trừ tuyết ngập miền Trung Tây Hoa Kỳ làm hoãn, huỷ bỏ nhiều chuyến bay.

Nhưng tuyệt vời là tại quê nhà, mọi người đều xem chuyện tận thế như một dịp để mở tiệc uống bia. Không thấy ai lo sợ -- tất nhiên, chỉ trừ những nỗi lo thường ngày về kinh tế, về mất mùa, về nợ xấu kinh doanh, về thất nghiệp... nhưng các mối lo này không phải là chuyện tận thế, vì ai cũng biết “nỗi lo thiên đàng xã hội chủ nghĩa” đó vốn vừa là bản chất, vừa là hiện tượng của đất nước thời Hồ+ vậy.

Tuy nhiên, một thiên đàng xã hội chủ nghĩa khác lại sôi động chuyện tận thế và do vậy, công an liền biểu diễn màn bạo lực chuyên chính.

Bản tin RFI kể rằng tại Trung Quốc, có gần 1.000 thành viên giáo phái bị bắt. RFI kể:

"Theo tờ Tân Kinh báo xuất bản tại Bắc Kinh hôm nay 20/12/2012, gần một ngàn tín đồ của giáo phái «Thượng đế toàn năng», một giáo phái Thiên chúa giáo đã tiên đoán nhiều tai họa sẽ diễn ra vào ngày tận thế theo lịch của người Maya ngày 21/12, đã bị bắt tại nhiều tỉnh của Trung Quốc.

Ngoài 400 người đã bị bắt tại tỉnh Thanh Hải hôm thứ Ba 18/12, có 357 thành viên khác của giáo phái trên «là đối tượng bị điều tra và đã bị trừng phạt» tại Quý Châu, một tỉnh nghèo ở miền tây nam.

Cũng theo Tân Kinh báo, thì 37 tín đồ cũng đã bị bắt ở thành phố Phật Sơn gần Quảng Đông, trong đó có 27 người bị tống giam; và mấy chục thành viên khác bị câu lưu ở thành phố Vô Tích tỉnh Giang Tô, trong số đó 11 người vẫn đang bị giam giữ. Nhiều vụ bắt bớ khác cũng diễn ra ở Nội Mông, Giang Tây, Phúc Kiến và Tân Cương.

Tân Kinh báo cho biết thêm, Thượng đế toàn năng được thành lập vào đầu thập niên 90 ở Hà Nam, bị xếp vào danh sách các giáo phái cấm hoạt động từ năm 1995, và người sáng lập là Triệu Vệ Sơn (Zhao Weishan) đã bỏ trốn sang Mỹ..."(hết trích)

Cũng lạ, điều để suy nghĩ: có thể tại Việt Nam cũng có những người giáo pháí này, hay giáo phái tương tự bị công an bắt, nhưng tin bị ém, không ai biết? Vì một thời đã có những tin đồn này, tin đồn kia... và rồi nhiều tín đồ một số giáo phái Cơ Đốc đã "tụ tập chờ đợi" và rồi bị công an truy bắt.

Không lẽ dịp thế giới sôi nổi chuyện tận thế mà tại Việt Nam laị êm ru bà rù?

Báo Dân Trí đã kể chuyện tuổi trẻ VN đón tin này tưng bừng, không lo lắng gì. Bản tin tưạ đề “Dân mạng đón "tận thế" vui như đón... Tết” đã kể:

“Từ đêm qua tới sáng nay (21/12), cư dân mạng đã trải qua nhiều cung bậc cảm xúc vì "tận thế", từ hồi hộp theo dõi từng phút như đón giao thừa cho tới thất vọng vì không thấy "tận thế" đâu.

Đêm qua, hàng nghìn người đã thức trắng, đón đợi "cái kết của loài người", hay còn gọi là "Ngày tận thế". Trên các diễn đàn, các bạn trẻ đua nhau lập chủ đề bàn tán về các kiểu tai nạn, đại hoạ mà loài người có thể gặp phải. Mạng xã hội Facebook cũng tràn ngập các dòng status (trạng thái) nói về tin đồn “tận thế”.

Cộng đồng mạng chăm chú lắng nghe động tĩnh từ khắp nơi trên thế giới. Thậm chí, nhiều người còn đếm ngược từng phút tới thời khắc 0h ngày 21/12. Ngay tại thời điểm này, sắc màu của "ngày tận thế" vẫn đang bao trùm Facebook.

Tuy nhiên, điều kì lạ là trong giờ phút "tận thế", cư dân mạng Việt Nam lại tỏ ra háo hức khác thường, thay vì lo lắng, căng thẳng. Bầu không khí nhộn nhịp này khiến cho nhiều người liên tưởng tới thời khắc Giao thừa, đón Tết hàng năm.

Nhưng cũng do kỳ vọng quá nhiều nên cư dân mạng càng thất vọng khi tới tận sáng nay 21/12, vào thời điểm 10-12h theo như tính toán (cộng lệch múi giờ) của một số người, vẫn chưa có hiện tượng gì đặc biệt xảy ra tại Việt Nam...”(hết trích)

Nhưng tuyệt vời là một bài phân tích trên báo Xã Luận về thế tận của túc cầu VN.

Bài viết tưạ đề “Bóng đá Việt trong ngày “tận thế”...” viết, trích:

“Hôm nay là một ngày không như mọi ngày. Ngày mà cả thế giới đang bán tín bán nghi có hay không ngày tận thế, theo dự đoán của người Maya. Nếu đúng, có nghĩa, tất cả trở về số 0, với cát bụi...

...Bây giờ nói đến chuyện thể thao. Bóng đá ta đang phải trả giá sau 12 năm chuyên nghiệp phát triển chỉ thiên về khai thác, tận thu, thay vì luôn chăm sóc, tái tạo để cơ thể nền bóng đá chuyên nghiệp phát triển tỷ lệ thuận.

Nhiều đội bóng truyền thống thực sự đã rơi vào tình trạng “tận thế”, hoặc đang hành trình trở về với số 0. Nhiều cầu thủ cũng đang trả giá, khi không biết quý trọng cái nghề của mình. Giờ đây, nghề cầu thủ đã không còn hái ra tiền, không còn là niềm mơ ước của bao ông bố, bà mẹ.

Các hot girl hẳn nhiên cũng phân vân nếu như phải có sự lựa chọn giữa anh cầu thủ và chàng kỹ sư. Ai đó ví von so sánh, V-League nói chung đang trở về vạch xuất phát năm 2000, cũng không phải là quá lời.

Hôm nay ngày tận thế ư? Điều đó không quan trọng và bất hạnh bằng việc dù vẫn sống, nhưng đang phải lầm lũi trên hành trình trở về với số 0...”(hết trích)

Bùi ngùi cho nền bóng đá Việt đang mấp mé (hoặc đã vào?) hố sâu tận thế.

Dịp này, cũng gợi nhớ rằng mấy tháng trước, trên trang Dự đoán kinh tế VN, đã có bài viết tựa đề “Ngày tận thế của kinh tế Việt Nam đang tới gần” đăng ngày 30-9-2012, trong đó nhìn “tận thế” nghĩa là kinh tế sụp đổ, trong đó có dẫn ra vài vụ:

“...Ngày 28/09/2012, cơ quan xếp hạng tín dụng Moodys tuyên bố đánh sụt hạng tín dụng 8 Ngân hàng TMCP của Việt Nam xuống hạng Caa1 và mức tín nhiệm quốc gia Việt Nam xuống mức B2...

Nhưng VN bị xuống B2, tức là thua Angola (Ba3), Bangladesh (Ba3), Mông cổ (B1), Senegal (B1), Sri Lanka (B1), Trinidad (Baa1), Tunisia (Baa1). (Wikipedia)

Có tin mừng: bằng Cambodia!

Tại Á châu, VN thua Bangladesh, Mông cổ, Sri Lanka, thì coi như đội sổ, may là còn anh Cambodia đứng chung cho đỡ buồn.

VN ta hay chê các nước Phi châu là “mọi đen”.

Nay, TÍN DỤNG, tức mức độ tin cậy của đồng tiền, của nền KT, tài chánh, TRÁI PHIẾU, VN đều thua xa lắc các nước này...

------
Trong nước, không 1 ngân hàng nào có thể đòi nợ VINASHIN. Họ chây lỳ không trả, cho dù hồi còn tiền bạc dư dã. Và làm gì có việc tịch thu tài sản phát mãi, vì đó là “tài sản XHCN”, ai dám đụng vào? (Vietstock, 27/08/2010)

Thế là ngân hàng đành cộng tiền lời vô tiền vốn, làm “sạch” sổ sách, và chính họ tự trả lương cho họ rất cao, vì họ vẫn tính như thu được số tiền lời không đòi được.

Các ngân hàng cho VINASHIN vay gần 100 ngàn tỉ đồng, tiền lời hàng năm có lúc 25 ngàn tỉ đồng, các ngân hàng tha hồ “chia lợi tức” trên số tiền lời này, cho dù không thu về 1 xu!

Quan chức ngân hàng giàu sụ, họ tự trả lương cho họ hàng tỉ đồng hàng tháng, chưa kể biết bao áp phe, tiền lót tay, các mánh mung làm ăn khác.

Và thế là nợ toàn quốc chồng chất lên nhau như núi, mỗi năm tăng mấy chục %, cho đến nay hơn Tổng sản lượng quốc gia đến 50%, tiền lời chiếm 20% GDP – theo con số chính thức...”(hết trích)

Dù vậy, thông tấn VnExpress trong bản tin hôm Thứ Năm 20-12-2012 cũng ghi nhận tình hình trái nghịch tại VN. Hầu hết cư dân ở Sài Gòn và Hà Nội không tin chuyện tận thế, nhưng lại có người ở Đà Nẵng kêu gọi lên núi để tránh sóng thần tận thế. Bản tin "'Ngày tận thế' không làm người Việt lo sợ" trích:

"Hầu hết người Việt Nam không tin 21/12/2012 là ngày thế giới hủy diệt, nên sẽ xem nó là "một ngày như mọi ngày", lo toan cho cuộc sống, việc làm, tiền lương...

Chị Phan Thu Trang, sống ở khu vực Đền Lừ, Hoàng Mai, Hà Nội thắc mắc không biết vì sao mà lại có người tin ngày mai là tận thế được.

Chị Trang kể, mấy ngày nay, ở công ty, mọi người luôn bắt đầu câu chuyện vui liên quan đến ngày tận thế như"đi ăn đi không mai không kịp, làm gì làm gì mai tận thế rồi đó".

Chị và mọi người cơ quan đều không tin vào câu chuyện ngày tận thế. "Nếu có ngày đó chẳng nhẽ lãnh đạo và nhà khoa học lại không có hành động hay biện pháp gì".

Đồng tình quan điểm, chị Trần Lâm Thao, ở xã Hợp Lý, huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc cho rằng, nếu ngày đó có thật, thì chắc mọi người sẽ rộn ràng đi mua sắm, tìm đủ biện pháp để cứu vãn tình thế, chứ không im ắng như thế này.

Cô Nguyễn Ngọc Anh, 60 tuổi, ở quận Hải Châu, Đà Nẵng kể lại, ở thành phố này từng có người đến kêu gọi mọi người lên núi mới may mắn thoát được ngày tận thế, nhưng cô không tin. "Khi nghe thông tin tôi chỉ cười, tôi nghĩ họ chưa hiểu hết về bộ lịch của người Maya trước đây".

"Tôi nghĩ các bạn trẻ nên dừng làm việc đó tốt hơn là ngồi tán gẫu mấy chuyện khiến người lo sợ", cô Ngọc Anh bày tỏ..."(hết trích)

Thiệt lạ, không biết mấy bác Đà Nẵng tin chuyện tận thế này có thực sự lên núi ẩn núp hay không.

Nhưng hiển nhiên là, lịch sử đã qua hàng triệu trận động đất, hàng triệu trận sóng thần, hàng triệu dịch bệnh tàn phá nhân loại rồi... vậy mà có tận thế gì đâu.

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

Nỗi niềm Giáng sinh
Huỳnh Thục Vy
(Danlambao) - Mùa Giáng Sinh, mùa của lòng nhân ái, xin tất cả chúng ta hãy dành cho những người cùng khổ, tù đày trên đất nước này một chỗ khiêm tốn trong tim; để chúng ta còn biết thổn thức, âu lo; để bên những dạ tiệc linh đình, chúng ta còn nhận thức sống động rằng, trong cái đất nước đầy bất công đau khổ này, sự may mắn mà chúng ta đang có được đã không đến với đại đa số người khác...

Không khí Giáng sinh đang tràn ngập khắp địa cầu. Các thành phố lớn trên thế giới trong những đêm trước Noel đã được trang hoàng lộng lẫy: Stockholm lung linh với cây thông Noel cao 36m, Lisbon sặc sỡ với quả cầu khổng lồ, đại lộ Champs Elysees Paris sáng bừng trong hàng ngàn bóng đèn rực rỡ. Khắp nơi người ta hân hoan đón chào thêm một mùa mua sắm- vui chơi mới lại đến.

Mặc cho những khốn đốn kinh tế và những bế tắc về chủ quyền quốc gia, ở các thành phố lớn của Việt Nam như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hà Nội, khung cảnh Noel cũng không kém tưng bừng. Rồi sẽ có những tiệc tùng tụ hội… những cây thông Noel lớn được dựng lên, những hang đá đẹp rực rỡ đã được bài trí sang trọng trong những gia đình khá giả.

Quả tình tôi không có ấn tượng đặc biệt với những rộn ràng, xa hoa đó. Những chốn ồn ào hoang phí như nhà hàng, tiệc tùng, lễ hội đối với tôi là những thứ xa lạ. Tất nhiên giàu có và hưởng thụ không có gì là xấu, hơn nữa nó còn là một quyền chính đáng với sự lao động tương xứng. Nhưng là một cô gái sinh ra trên một miền quê nghèo của một đất nước bất hạnh với những bất công vẫn diễn ra hằng ngày, tôi luôn có cái cảm giác ngậm ngùi vô cớ đối với những xa hoa lễ lạc. Khung cảnh vui chơi tốn kém đó dường như đối lập một cách tàn nhẫn với những mảnh đời cô đơn, nghèo khó, thiếu mặc đói ăn trên khắp đất nước này. Sự đối lập đó làm rỉ máu những trái tim biết rung cảm trước nỗi đau của đồng loại.

Chúng ta kỷ niệm ngày Chúa cứu thế sinh ra đời. Nhưng không giống như cách chúng ta đang mừng đón, ngày xưa Chúa Jesus đã khởi đầu Công cuộc ở trần gian của Ngài bằng việc sinh ra trong một máng cỏ tồi tàn ở Bethlehem. Và như chúng ta đã biết, Kitô giáo lúc sơ khởi đã là tôn giáo của những người nô lệ bần cùng, đau khổ, trước khi nó trở thành quốc giáo của Đế chế La Mã. Tượng Chúa đã ở trong những túp lều rách nát của những nô lệ châu Âu trước khi hiện diện ở Roma trong những vương cung Thánh đường tráng lệ.

Một thông điệp “Yêu Thương và Hòa Giải” được đem đến với nhân loại từ một Người Thanh Niên xuất thân bần hàn rồi chấp nhận cái chết đau đớn trên Thập Giá chắc phải để lại trong chúng ta điều gì đó hơn là những thú vui phù phiếm chứ?! Dù không cổ vũ cho sự khó nghèo, cũng không coi thường sự giàu có, nhưng sự hiện diện của chúng ta trong cuộc đời này phải mang ý nghĩa gì đó thiêng liêng hơn là hưởng thụ chứ?!

Mỗi dịp Giáng sinh về, bên cạnh những niềm vui sum họp, ký ức về câu chuyện “Cô Bé Bán Diêm” vẫn như là tiếng chuông ngân lên nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm với cộng đồng, đặc biệt là những người kém may mắn. “Cô bé bán diêm” của Andersen hôm nay chính là mỗi một người dân quê tôi trong những ngôi nhà tồi tàn trên sườn núi rét mướt ở Bắc Trà My, vì họ đã rời bỏ những ngôi nhà nứt đổ do động đất Sông Tranh 2. “Cô bé bán diêm” của Đan Mạch ngày xưa, ngày hôm nay đang hiện diện trong những bà con dân oan mất đất, mất nhà, phải chịu cái giá rét của Hà Nội mà đi đòi Công lý (dù Công lý từ lâu không có mặt trên xứ sở này). “Cô bé bán diêm” ấy đang là những tù nhân lương tâm trong nhà tù Cộng sản ở vùng xa xôi, hẻo lánh. Cô bé cũng hiện diện trong những nông dân bỏ con thơ, mẹ già, từ quê lên thành phố làm công nhân trong các nhà máy bóc lột, cuối năm không có tiền về quê…

Mùa Giáng Sinh, mùa của lòng nhân ái, xin tất cả chúng ta hãy dành cho những người cùng khổ, tù đày trên đất nước này một chỗ khiêm tốn trong tim; để chúng ta còn biết thổn thức, âu lo; để bên những dạ tiệc linh đình, chúng ta còn nhận thức sống động rằng, trong cái đất nước đầy bất công đau khổ này, sự may mắn mà chúng ta đang có được đã không đến với đại đa số người khác.

Một mùa Noel và một năm mới nữa lại đến trong những sự kiện đáng đau buồn của đất nước, xin cầu chúc cho chúng ta, dù là Phật tử hay Kitô hữu, biết sống để làm nhân chứng cho những giá trị mà chúng ta tôn thờ, biết sống như các Ngài đang sống trong chúng ta, biết sống như một Thái Tử rời bỏ cung vàng điện ngọc và như một vị Vua không ngồi trên ngai vàng thế gian.

Xin kính chúc cô chú bác anh chị em, cùng quý độc giả một mùa Giáng sinh an lành và một Năm mới với nhiều thắng duyên.

Buôn Hồ ngày 16 tháng 12 năm 2012

Huỳnh Thục Vy

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Từ Chống TC Đến Chống VC?

Tác giả : Vi Anh

Điện thoại bằng thẻ dấu số và dấu tên để bảo vệ nguồn tin là thân hữu trong nước cho biết và khuyên: “Bình tĩnh ai ơi, khéo giữ lòng. Đừng vội nghe những gì mấy ông chuyên biểu tình chống Việt Nam Cộng Hoà ngày xưa đã ngậm miệng ăn tiền theo Việt Cộng mấy chục năm bây giờ tái xuất giang hồ, giở trò kêu gọi diễn tuồng biểu tình chống Trung Cộng tại Nhà Hát Lớn.” Bây giờ họ tuyên bố tá lả bùng binh trước và sau cuộc biểu tình như chống TC rồi chống Việt Công nhu nhược. Họ giả bộ đó, họ làm bộ như biểu tình chống TC rồi chống VC. Thấy vậy chớ không phải vậy đâu, họ còn tệ hơn vậy nữa. Họ kêu gọi biểu tình “cuội” đó, họ tạo cơ hội xì xú páp bất mãn của người dân dùm cho Đảng Nhà Nước. Họ lấy dân làm bàn đạp cho CS Hà nội xin xỏ TC đừng làm hại tài sản của Đảng CSVN như cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 2 thuộc tập đoàn quốc doanh Petro VN đó. Những Hồ ngọc Nhuận, Hùynh tấn Mẫm là “vua đi đêm” ban ngày biểu tình chống chánh quyền Kỳ, tối lấy tiền và phương tiện của Ô. Kỳ để gọi là “Phát Triển Đời Mới” do đường dây là một đàn anh theo và làm cho Ô Kỳ bí mật cấp. Thời Ô. Thiệu ban ngày biểu tình chống TT Thiệu, tối lò dò gặp mấy tay Mỹ xin “đồ” Xây Dựng Nông Thôn.

Họ là người cũ của VNCH, được vào đảng CS, họ sợ đảng còn hơn đảng viên chánh tông nữa. Họ kêu gào nhưng họ không đi biểu tình, viện lẽ bị “bất động hoá” ở nhà dù họ muốn đi thì với kinh nghiệm tránh né họ thừa sức qua mặt công an. Như Huỳnh tấn Mẫm được giao nhiệm vụ đến diễn tuồng kêu gọi lớp trẻ, đã ra khỏi nhà trước một ngày, tĩnh bơ tới Nhà Hát Lớn có sao đâu”.

Hai cuộc biểu tình chống TC ở Hà Nội và Sài Gòn vào ngày 9-12 bị nhà cầm quyền Đảng Nhà Nước CSVN trấn áp, giải tán không kéo dài được nửa tiếng đồng hồ. Chỉ sau hai ngày sau năm người đứng tên trong ban tổ chức kêu gọi biểu tình ở Saigon, Bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm, Giáo sư Tương Lai, Cựu Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Lê Công Giàu, Luật gia Lê Hiếu Đằng tỏ vẻ “làm dữ”. Họ ra một “'Tuyên bố phản đối hành vi trấn áp thô bạo vi phạm pháp luật xâm phạm nghiêm trọng quyền công dân.”

Những người có tên đề họ để này được công dân không gian ảo của tin học và xa lộ thông tin Internet ngưỡng mộ như những “trí thức yêu nước”, những sĩ phu vì dân. Hai đài phát thanh quốc tế có chương trình tiếng Việt có lẽ vì thế gọi quí vị này là “nhân sĩ trí thức”.

Còn những người từng sống trong chế độ Việt Nam Cộng Hoà thì không còn lạ gì mấy người tự xưng là thành phần thứ ba này, chuyên ăn cơm Quốc Gia mà thờ ma Cộng Sản này. Đó là những người “sống và làm việc” biểu tình chống “Mỹ cứu nước”, chống chánh quyền Việt Nam Cộng Hoà” . Và khi CS Bắc Việt vào được Saigon thì làm cán bộ, đảng viên, công nhân viên cho Đảng Nhà Nước CS. Tiêu biểu như Ô. Mẫm là Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Saigon Gia Định, thành Bác sĩ Phó Chủ Tịch Hội Chữ Thập Đỏ của Thành Phố thời CS. Ô Hồ ngọc Nhuận Cựu Dân biểu VNCH trở thành “đại biểu nhân dân” của cái gọi là Quốc Hội “đảng cử dân bầu” một khoá rồi sau về nằm im với chức Phó Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc. Ông Lê hiếu Đằng trở thành Luật Gia, Phó Chủ Tịch Mặt Trân Tổ Quốc. Ông Tương Lai Giáo sư Viện trưởng Viện Khoa học- Xã hội của VNCS tham gia trong nhóm Tư Vấn cho Thủ Tướng Việt Cộng Võ văn Kiệt và Phan văn Khải. Nói tóm lại trong nhóm năm người trong ban tổ chức kêu gọi biểu tình này đa số là những người đã từng giúp cho Việt Cộng thời VNCH và làm việc cho VC thời CS Bắc Việt nắm chánh quyền.

Nhưng sau gần 40 năm im hơi lặng tiếng, lần đầu tiên những người này đứng ra công khai, đương trường kêu gọi biểu tình chống TC thì bị Việt Cộng ngăn chận, trấn áp bằng những hình thức cũ rích của công an CS. Thực sự muốn tránh thì dễ như ăn cháo bào ngư ở Chợ Cũ. Như Bs Huỳnh tấn Mẫm nói ở trên. Nhứt là với Cựu Dân biểu Hồ ngọc Nhuận muốn tránh thì dễ như móc khăn musoa trong túi ra vậy. Anh từng là lý thuyêt gia, kế hoạch gia, vua biểu tình cùng với DB Kiều Mộng Thu với “hai bàn tay lá đổ” nơi người đàn ông trong các cuộc biểu tình chống VNCH dưới nhiều hình thức như “Ký giả ăn mày”, “chống tham nhũng,” v.v...

Nhưng với kinh nghiệm đầy mình để luồng lọt, len lỏi đi biểu tình, ban tổ chức có 5 người, chỉ có 1 người gọi là “uốn mình qua ngõ hẹp” là Bs Mẫm đến được Nhà Hát Lớn. Chỉ có Bs Mẫm rời khỏi nhà ngày trước, chèm dè, ngày sau tới Nhà Hát Lớn tập trung biểu tình được. Nhưng nghe nói cũng bị đám du đãng phá biều tình chen lấn suýt té trên bậc thềm của Hạ nghị Viện VNCH khi xưa.

Còn số người kia thì bị công an bất động hoá, vô hiệu hoá bằng nhiều hình thức cũ rích của công an CS: mời đến cơ quan công an “làm việc”, viếng thăm kềm chân tại nhà, bao vây không ra khỏi cửa.

Nhưng tất cả năm người trước và sau cuộc biều tình đều tuyên bố tá lả bùng binh, chống TC “mút mùa lệ thủy” tỏ vẻ “chơi xả láng sáng về sớm” đối với TC và “chơi qua cho biết mùi hoa” đối với VC vậy.

Cả hai “vua” biểu tình Nhuận, Mẫm thời VNCH vận dụng xảo thuật “đối lập” để cuộc biểu tình hấp dẫn, bằng cách yêu cầu nhà cầm quyền ủng hộ và ra biểu tình với dân, dù thừa biết có đi ngược đi nữa thì Bí Thư Thành Ủy, Chủ Tịch Ủy Ban Thành phố cũng không thể ra dự.

Hai chuyên viên biểu tình này nói rang rảng trên đài phát thanh RFI của Pháp và RFA của Mỹ những lời cò mồi cho hồi hai thời hậu biểu tình. Ông Nhuận nói trên RFI nếu “Chánh quyền Thành Phố, Chánh quyền Việt Nam … cứ để cho Trung Quốc nói láo trước thiên hạ về những điều chúng không có, về những gì chúng cướp giựt của chúng ta …”, là chúng ta “đắc tội với tổ tiên, là đắc tội với các thế hệ mai sau.” Ông Mẫm nói trên RFI, “Còn nếu mà ngăn cản thì người ta thấy Đảng và Nhà nước chỉ làm một mình, giống như là có một cái quyền tối thượng.”

Hồi hai hậu biểu tình có vẻ như từ chống Trung Cộng đến chống Việt Cộng ở Saigon với những lời “Tuyên bố phản đối hành vi trấn áp thô bạo vi phạm pháp luật xâm phạm nghiêm trọng quyền công dân.”

Một số trong năm Ông này còn không tiếc lời khi tường thuật những hành động của công an. Giáo sư Tương Lai kể bị mời về phường để làm việc. Ông ra một tuyên bố cá nhân Ông phản đối hành động của nhà cầm quyền thành phố trấn áp thô bạo, vi phạm quyền tự do công dân.

Ông Lê Hiếu Đằng kể bị bất dộng hoá ở nhà, cá nhân Ông 'Tố cáo và đòi hỏi bí thư Lê Thanh Hải, chủ tịch Lê Hoàng Quân trả lời về hành động trấn áp trí thức hôm ngày 9 tháng 12'.

Và hai ngày sau cuộc biểu tình bị trấn áp, năm Ông Mẫm, Nhuận, Tương Lai, Giàu, Đằng ra một tuyên bố chung, công khai phổ biến trên mạng, công khai lên án nhà cầm quyền đã “chà đạp lên luật pháp, các hành vi thô bạo trấn áp công dân” và đòi hỏi chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra và có giải pháp thích đáng đối với những cán bộ phạm pháp, vi phạm quyền công dân.”

Chắc chắn nếu là người dân thuần túy hay tôn giáo thuần túy, những công dân độc lập, những nhân sĩ trí thức chân chính, năm ông này nói như vậy là “xộ khám”, vào trại tù Phan Đăng Lưu biệt giam hay Chí Hoà kiên giam “gỡ lịch” vài năm là cái chắc.

Nhưng nếu chịu khó tinh ý quan sát một chút, thì thấy CS Hà nội giả bộ nhắm mắt làm ngơ nhưng dàn dựng rất kỹ lưỡng. Không “báo đài” nào trong nước thông tin, nghị luận về những lời tuyên bố của những “nhân sĩ trí thức” này. Chỉ có truyển thông “lề trái” trên Internet, chỉ có truyền thông quốc tế nhứt là của Pháp và Mỹ đi thông tin, nghị luận, làm phỏng vấn, phóng sự có thể nói là quá thừa nữa. Điều đó chứng minh là CS Hà nội muốn cho quốc tế thấy dân chúng VN chống TC, VN có tiếng nói của dân, thành phần đối lập của VNCH được hoạt động – như VNCS có dân chủ vậy.

Nhưng dàn dựng của CS có mức độ, chỉ hé một chút, giở nấp vung một tí để xì bất mãn của nhân dân thôi. Chớ tuyệt đối không để đám đối lập của VNCH dù thân Cộng làm lợi cho CS Bắc Việt thời Chiến tranh VN, “ăn quen nhịn không quen”. CS Hà nội để cho họ kêu gọi mà không để cho họ hành động, chỉ biều tình một chút là dẹp ngay.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Cầu Cho Người Thiện Tâm

Tác giả : Vi Anh
“Bình an dưới thế cho người thiện tâm”, là một thông điệp Giáng Sinh cho người trần thế. Giáng Sinh bây giờ vừa là lễ đạo vừa là lễ đời,không những ở Tây Phương và cả ở Đông Phương nữa. Ở Mỹ sau lễ Tạ Ơn, là đến ngày Thứ Sáu Đen, bắt đầu mùa mua sắm Christmas, Năm Mới gởi thiệp chúc mừng và treo đèn trang trí nhà cửa ăn Giáng Sinh và Tết Dương Lịch, cả chục ngày. Người Việt Nam trong thời tự do trước đây hay thời CS gần đây, ở nước nhà VN mỗi lần cuối năm trời trở mát là mỗi lần mừng Giáng Sinh, người thì như lễ đạo, người thì như lễ đời. Nếu không tất cả thì cũng đại đa số đều đã nghe, nhớ câu hát Giáng Sinh “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

Thiện tâm với cá nhân, với gia đình, và với xã hội, với tôn giáo mình đang sống đời và đạo là một đức tính. Nhưng thiện tâm thiết thực và thiết tha hơn là thiện tâm đối với quốc gia dân tộc.

Con người là một linh vật có khả năng liên tưởng siêu việt. Không có liên tưởng thì không có thơ văn, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật.

Con người cũng là một linh vật siêu việt có giác quan thứ sáu, thần giao cách cảm, người Trung Hoa tưởng tượng thành “thiên lý nhãn và thiên lý nhĩ”.

Nên trong mùa Giáng Sinh, người Việt hải ngoại, nhứt là người Mỹ gốc Việt hưởng Giáng Sinh bình an, đoàn tụ, sung túc không ít thì nhiều nhứt định có nghĩ đến những người thiện tâm với quốc gia dân tộc đang gặp khó khổ ở nước nhà VN, theo qui trình liên tưởng cư an tư nguy và chia xẻ với những người khó khổ qua thần giao cách cảm cầu nguyện, tưởng nghĩ.

Người Việt Hải ngoại với cuộc sống sung túc, Giáng sinh đi mua sắm, đoàn tụ gia đình, giải trí vui chơi sau một năm làm việc, vì thế làm sao khỏi nhớ đến những đồng bào đang ngục tù, đang đau khổ trong nước chỉ vì có thiện tâm với đất nước và nhân dân VN. Tiêu biểu như một vị chân tu như Hòa Thượng Quảng Độ học hành xuất sắc, tiếng Anh làu thông, được tín đồ Phật Giáo tôn kính như tăng thống có thể sống như một đời an lành, thừa thải tiện nghi. Một Hội Trưởng Phật Giáo Hòa Hảo từng là sĩ quan cấp tá, tỉnh trưởng, dân biểu, có thể đi HO sang Mỹ dễ như như ăn cháo để sống cuộc đời an nhàn. Một Lm Nguyễn văn Lý, có họ đạo, có nhà thờ thừa sức sống một đời đầy đủ vật chất và tinh thần. Một luật sư Lê thị công Nhân, một luật sư Nguyễn xuân Đài có ăn học, có văn phòng luật sư thừa sức sống sung túc. Một nhà báo Điếu Cày, có nhà cho mướn, viết blog rất hay có thể viết báo kiếm tiền. Một Đỗ Nam Hải, Nguyễn Khắc Toàn, LM Phan Văn Lợi, Lê Nguyên Sang, Trương Minh Đức, nhà văn Nguyễn Xuân Nghiã, cô Phạm Thanh Nghiên, ông Phạm Văn Trội và nhà giáo Vũ Hùng với sự ăn học thừa sức có mức sống cao nếu sống bình thường. Một Ls Lê công Định được học bổng Fulbright của Mỹ, làm việc cho nhiều cơ sở kinh doanh ngoại quốc thù lao rất cao. Cô Phạm Thanh Nghiên, anh Ngô Quỳnh vì thương nước bị TC chiếm tọa kháng ở nhà vì thương đồng bào đi Thanh Hóa thăm ngư dân Việt Nam. Anh Nguyễn Tiến Trung từng du học ở Pháp vì vận động dân chủ có thể bị án tử hình.

Nhưng tất cả những người có thiện tâm vì đạo pháp và dân tộc, có thiện chí với dất nước và nhân dân VN ấy bị CS Hà nội sách nhiễu, trấn áp, quản thúc tại gia, bắt giam, kêu án tù theo Điều 88 hay điều 79 Bộ Luật Hình Sự, hình phạt từ tù đày cho đến tử hình. Chỉ vì điều mà CS gán cho quí vị ấy cái tội đấu tranh một cách ôn hòa cho tự do tôn giáo, tự do, dân chủ, nhân quyền cho đồng bào, cái tội lên tiếng bất bạo động khi giang sơn gấm vóc VN bị quân Tàu xâm lấn. Và CS làm nhục những người yêu nước, thương dân ấy, những tù nhân lương tâm, tù chánh trị ấy bằng thủ tục hình sự hóa và chối bỏ đó không phải là tù chánh trị.

Nhà Tù CS – Trung Cộng cũng như Việt Cộng – sau khi đổi mới kinh tế mà khóa chặt chánh trị, dù ở đầu thế kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ 3, vẫn là nơi ác nghiệt nhứt.

Hàng trăm ngàn người Việt cựu tù cải tạo đang vui vẻ ăn Giáng Sinh ở Mỹ, qua tin tức báo chí ngoại quốc nhận thấy thấy ngục tù của TC, VC bây giờ có khác gì ngục tù cải tạo của CS Hà nội mấy chục năm trước đâu. Như ở số 4 Phan đăng Lưu do CS làm ra hiện nay vẫn còn ở Saigon. Một người từng ở đó có một bài thơ Đường: “Biệt giam độc lắm bạn tù ơi, Thiếu thốn, thúi hôi, bị tách rời. Đêm trắng muỗi kêu đòi nợ máu, Ngày dài phòng kín nấu thân đời. Tóc râu hơn khỉ, người thua chó, Cùm xích vướng chân, cổ nghẹn lời. Nằm đụng cầu tiêu, ngồi bó gối. Cô đơn đến nỗi muốn kêu trời.”

Tất cả những người đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, già trẻ bé lớn, nam nữ, tôn giáo, trí thức bây giờ bị bắt vào đều bị biệt giam như thế.

Còn tù ở các trại thì đỡ hơn, có nắng, có gió nhưng bị cưỡng bức lao động như tù khổ sai, biệt xứ nhưng khác thời Pháp một cái là CS bỏ đói, bỏ khát thê thảm và tra tấn tâm hồn tù nhân một cách ghê gớm qua các buồi học tập chánh tri và “ thu hoạch”.

CS là chế độ người tù phải cất nhà tù để nhốt mình, thân nhân gia đình phải thăm nuôi tù. Người tù trồng trọt mà không được ăn. Một củ khoai mì nhổ lén bị quản giáo phát giác, hay ăn ten “bá cáo” là cả một trận đòn thù của quản giáo, trật tự, nhiều ngày biệt giam, kiên giam, ra chỉ còn xương với da.

Trong thời kỳ năm cũ sắp qua năm mới, trong bầu không khí Giáng Sinh lễ đạo và đời, con người là sinh vật linh thiêng có khả năng cư an tư nguy, giác quan thứ sáu, thần giao cách cảm. Người dân Việt nhứt là người ở hải ngoại may mắn đang cư an nếu dành một phút tư nguy, cầu nguyện, tưởng nhớ đến những đồng bào có thiện tâm lớn đối với quốc gia dân tộc. Thì Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhơn. Ơn Trên Chúa, Trời, Phật sẽ vận lực càn khôn chuyển thiện tâm của người dân Việt cho những người có thiện tâm với quốc gia dân tộc đang ở tù CS./.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Tây Tạng: Tự Do Hay Chết

Tác giả : Vi Anh
Hành động kềm kẹp, trấn áp dân chúng, cào bằng văn hoá, phong tục của Tây Tạng mà Trung Cộng đã làm khiến người Tây Tạng trẻ cũng như già, có đạo hay không hết sợ Trung Cộng. Thành phần thấm nhuần Phật Giáo được coi như quốc giáo cả mấy ngàn năm nay, thành phần yêu nước, thương nòi quyết tâm đấu tranh sinh tồn: Tự do hay là chết. Những người Tây Tạng ưu tú này tự thiêu để thấp sáng niềm tin, thức tĩnh lương tâm đồng bào và nhân dân cũng như chánh quyền thế giới. Những người yêu nước này dùng mạng sống của mình làm vũ khí để đấu tranh cảm tử. Và trước phong trào quyết chết để Phật Giáo và dân tộc sống còn khiến cho CS Bắc Kinh tỏ ra sợ hãi. Chỉ trong tháng 11 của năm 2012 thôi, đã có 27 người Tây Tạng tự thiêu. Tất cả đều chỉ có một ước nguyện, quyết tử để đạo pháp và dân tộc được sống trước làn sóng Hán hoá và nền cai trị đồng hoá diệt chủng Tây Tạng của Trung Cộng. Gần như một ngày có một người biến thân xác mình thành ngọn đuốc để thấp sáng niềm tin dân tộc và đánh động lương tâm Nhân Loại. Và kể từ khi một nhà sư đầu tiên tự thiêu vào tháng 2/2009 đến nay đã có khoảng một trăm người Tây Tạng tự thiêu như thế.

Đây không phải là những người tuyệt vọng, những người tự tử vì tuyệt vọng. Mà đây là những người tự chọn cái chết bằng ngọn lửa hồng. Chọn một cách bình tĩnh như nhà hiền triết Socrate bình tĩnh nhận ly thuốc độc ung dung uống, khiến bạo quyền rung sợ. Như một chiến sĩ yêu nước xông pha vào vòng lửa đạn của quân ngoại xâm để bảo vệ Tổ Quốc. Như một nhà tu lấy mạng sống của mình để cúng dường mong giải trừ pháp nạn và quốc nạn.

Báo Liberation của Pháp mới đây đã dành hai trang đi một phóng sự đặc biệt về hiện tượng này nay đã thành phong trào trong cộng đồng người Tây Tạng ở các vùng đất mà TC đã lấn chiếm và sáp nhập vào lãnh thổ của TC. Đây là những cái chết kinh hoàng và những hy sinh dũng cảm ngoài sức tưởng tượng của Con Người. Người hy sinh, cảm tử tự chế xăng vào mình, bật hột quẹt tự thiêu, nhưng chân cố bước đi, miệng cố đọc kinh, cầu nguyện cho Tây Tạng độc lập, Đức Đạt Lai Lạt Ma được về nuớc trước khi ngã gục. Trong khi đó người dân Tây Tạng và các nhà sư cầu nguyện và thường hô to Tây Tạng độc lập!

Những người tự thiêu gồm đủ các thành phần xã hội, từ nhà tu, nông dân, thanh niên, học sinh, người lao động, cho đến các nghệ sĩ người Tây Tạng, ở thành thị cũng như nông thôn. Nhưng tất cả những người này có một điểm chung là chọn cái chết bằng tự thiêu, tự hy sinh cho chánh nghĩa và nguyện vọng Tây Tạng được độc lập, Phật Giáo được tự do tu hành, Đức Đạt Lai Lạt Ma được về nước.

Theo tác giả bài phóng sự trên Liberation, là Philippe Grangereau «80% người Tây Tạng đã hiểu ý đồ của Trung Quốc là gì. Họ muốn đồng hóa, muốn triệt bỏ ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo, lịch sử, nhân cách của người Tây Tạng.» Những người tự thiêu này lấy cái chết của mình để ngăn chận TC thôn tính, cào bằng văn hoá Tây Tạng, để quê cha đất tổ Tây Tạng của mình không chết trước đà bánh trướng và thôn tính của TC.

Theo nhà báo này, sự kiểm soát của TC đối với người Tây Tạng vô cùng nghiệt ngã, nghiệt ngã hơn bất cứ chế độ nghiệt ngã nào mà lịch sử Nhân Loại đã từng chứng kiến. TC đàn áp, kiểm soát người dân Tây Tạng đến mức không còn sợ chết nữa theo nhận định của phóng viên Liberation của Pháp viết phóng sự này.

Về di chuyển, người Tây Tạng phải xin năm thứ giấy và bị năm thứ quân canh chừng, lục soát: quân đội , công an chìm, cảnh sát nội, cán bộ công nhân viên, và dân quân trong đó có những du đãng như ở TC và VC. Có nơi đi một khoảng đường vài cây số có cả chục nút chặn. Gắt gao hơn trong thiết quân luật nhiều.

Phóng sự nhận định theo nhân chứng Tây Tạng cho biết, “thủ phủ Lhassa không khác gì một nhà tù rộng lớn. Công an, cảnh sát khám xét người ở hầu như khắp các nẻo đường, Người Hán hiếm khi bị kiểm tra, nhưng người Tây Tạng thì không người nào thoát, ngay cả trẻ em cũng bị lục soát trong người. Để viếng một ngôi chùa thì phải đưa vào máy thẻ căn cước và bên trong lại bị khám soát. Trên một đoạn đường 500 mét thôi, bà đã đi qua 21 chốt gác của cảnh sát, 2 bót cảnh sát và 3 đội tuần tra. Công an cảnh sát được trang bị những công cụ khá đặc biệt, họ có một loại dây thòng lọng có cán dài. Có đội thì mang bình cứu hỏa, hay mặc áo có chất amiante chống lửa.”

Nhưng làn sóng chết vì đạo pháp và dân tộc của người Tây Tạng làm cho CS Bắc Kinh sợ hãi. Trấn áp của TC không ngăn được làn sóng phản kháng. Trước và sau đại hội đảng CS thứ 18 ở Bắc Kinh, TC tăng cường biện pháp áp chế, nhưng làn sóng tự thiêu của người Tây Tang tăng lên. Báo Pháp Le Monde nhận định «Sự bất lực của Bắc Kinh trước các vụ tự thiêu của người Tây Tạng», không những tăng trong thời gian đại hội Đảng CSTQ mà còn tăng chớ không giảm từ năm 2008, là năm người Tây Tạng nổi dậy, bị TC trấn áp tàn bạo như nhận định của tổ chức Internationnal Campaign for Tibet. Đến đổi cán bộ, đảng viên TC nào bị điều tới những vùng có cộng đồng người Tây Tạng là họ rất sợ. Họ lính quýnh không biết phải đối phó ra sao trước cái chết bình tỉnh của người tự thiêu, và hàng trăm hàng ngàn những vị sư và đông bào người Tây Tạng chứng kiến và hộ niệm. Công an, cảnh sát, dân phòng, dân quân, du đãng nanh vuốt của công an không thể giành xác đem giấu tránh gây náo động và cũng không giải tán được vì ít người hơn “quần chúng nhân dân” cũng có mà vì run sợ trước sự hy sinh cao quí của người tự thiêu cũng có.

Như vụ tự thiêu của Phật tử Sonam Dargye ở Rebkong ngày 14 tháng 3, tăng ni, Phật tử đến để hộ niệm và làm đám tang có tới 8000 trong một thành phố chỉ có 80,000 cư dân.

Sự hy sinh cao cả và quí báu đó trên phương diện đối nội phát huy lòng yêu nước, trọng đạo của tòan dân Tây Tạng ở trong nước và hải ngọai, từ già đến trẻ. Trên phương diện đối ngọai lương tâm Nhân Lọai bị đánh động, vấn đề TC cưỡng chế, cưỡng chiếm quốc gia dân tộc Tây Tạng, vấn đề TC đàn áp, bách hại tôn giáo, cào bằng văn hóa Tây Tạng, cưỡng bức, bức bách Hán hóa Tây Tạng -- trở thành vấn đề lương tâm của nhiều nhân dân và chánh quyền trên thế giới.

Trung Cộng càng ngăn cấm, càng bưng bít càng bị phanh phui. TC lập vòng vây cấm không cho báo chí ngọai quốc, người ngọai quốc đến những vùng đất của người Tây Tạng bị TC sáp nhập thành tỉnh hạt của TC như Tứ Xuyên trên không gian thực. Nhưng TC không thể làm việc ấy trên không gian ão nhưng rất thực qua truyền thông kỹ thuật số với Internet chuyển đi hình ảnh, thông tin, nghị luận bằng nhiều cách. Chỉ cần một cái bấm trên điện thọai cầm tay tân thời có thể sử dung như máy chụp hình, máy computer chuyển thông tin, nghị luận bằng một cái bấm, tốc độ tranh với ánh sáng.

Sau cùng, vì tự do, vì phục quốc, vì bảo tồn văn hóa, ngôn ngữ,vì quyền tự do hành đạo, phong trào ngươi dân Tây Tạng tư thiêu đã bùng lên và lan rộng. Kẻ thù xâm lược, thực dân TC gọi những người hy sinh mạng sống mình cho đạo pháp và dân tộc Tây Tạng là «quân khủng bố» tuyệt vọng. Nhưng người dân Tây Tạng, quốc gia dân tộc Tây Tạng trên nóc nhà của Trái Đất, diện tích bằng ba lần nước Pháp, coi Phật Giáo là quốc giáo, tôn vinh tăng ni, Phật tử chọn sự hy sinh bằng cách tự thiêu như là vũ khí đấu tranh giải trừ quốc nạn và pháp nạn do CS Trung Quốc đang thống trị quốc gia dân tộc mình – là những anh hùng dân tộc./.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Quân đội là của ai?

Ngô Nhân Dụng

Một bản tin trên Nhật báo Người Việt cho biết ngày 3 tháng 10, 2012 một bài trên tờ Quân Ðội Nhân Dân ở Hà Nội nhìn nhận “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị diễn ra hằng ngày, hằng giờ trong từng nơi, từng lúc, với mức độ khác nhau. Một bộ phận không nhỏ những đảng viên rất thiếu ý thức khi học tập, nghiên cứu, quán triệt, thực hiện nghị quyết của đảng.”

Quân Ðội Nhân Dân là cơ quan tuyên truyền của đảng Cộng Sản nhắm vào những người cầm súng. Khi nói đến “bộ phận không nhỏ những đảng viên thiếu ý thức,” chắc tờ báo này nhắm vào đối tượng chính của họ là các đảng viên ở trong quân đội. Lời cảnh cáo trên cho thấy mối lo chung của nhóm cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ lo không thể tiếp tục coi tất cả các người cầm súng còn nhắm mắt làm tay sai cho các lãnh tụ đảng mãi mãi. Quyền hành của đảng Cộng Sản hiện đang được đám công an vũ trang bảo vệ. Nhưng nếu quân đội có thái độ trung lập, hay đứng về phía nhân dân, thì quyền hành đó sẽ tiêu tan.

Vì vậy, đảng Cộng Sản phải “động viên” lòng trung thành của quân đội bằng mọi cách. Ngày 23 tháng 12, 2012 cũng trên tờ Quân Ðội Nhân Dân phải đăng một bài khác nói rõ hơn, với tựa đề: “Không thể chấp nhận quan điểm quốc gia hóa quân đội,” ký tên Nguyễn Tiến Bình, một trung tướng, giám đốc Học Viện Quân Y. Không chấp nhận quốc gia hóa quân đội, Nguyễn Tiến Bình hô hào: “Quân đội phải được đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của đảng, phải bảo vệ các lợi ích của đảng!” Lời hô hào này lại càng cho thấy các lãnh tụ Ba Ðình đang lo lắng thật sự. Người Việt Nam nào bây giờ cũng biết đám cầm đầu đảng Cộng Sản, từ cao nhất đến cấp huyện, cấp xã, chỉ là một nhóm người vừa ngu dốt, bất lực vừa tham lam, bày ra mọi thủ đoạn bòn rút. Chính bọn người này gây ra tình trạng kinh tế yếu kém, giáo dục sa sút, đạo đức suy đồi, trong mấy chục năm qua.

Không một người nào có lương tâm lại chịu đóng vai làm tay sai đi “bảo vệ lợi ích” cho bọn quan chức “cướp ngày” này.

Trong một quốc gia tiến bộ, quân đội không bao giờ phải đóng vai tay sai của bất cứ một đảng chính trị nào cả. Ở các nước chưa tạo được tập quán dân chủ, có những lúc quân đội đảo chính để lật đổ một chính quyền không được lòng dân. Nhưng cuối cùng, các quân nhân cũng trao trả quyền hành cho các người lãnh đạo được dân bỏ phiếu bầu lên. Nam Hàn, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, vân vân, đã sống qua những thời kỳ quân đội nắm quyền. Nhưng cuối cùng quân đội cũng “rút về doanh trại,” để người dân quyết định chọn người lãnh đạo theo thể thức dân chủ. Gần đây nhất, năm 2006 các tướng lãnh Thái Lan đã đảo chánh lật đổ ông Thaksin, một vị thủ tướng bị tố cáo tham nhũng, lạm quyền. Nhưng chỉ trong một năm sau, người dân Thái Lan lại được cầm lá phiếu quyết định ai là người lãnh đạo quốc gia. Trong cuộc bầu cử năm 2011, đảng Pheu Thai lại thắng và cô em gái của ông Thaksin đã lên làm thủ tướng; mặc dù chính ông ta không dám về nước vì bản án về tội lạm quyền vẫn chưa được xóa bỏ.

Những nhóm quân nhân cầm quyền lâu nhất, sau cùng cũng phải rút về doanh trại, khi người dân ý thức được quyền tự do quyết định vận nước của họ. Tướng Suharto nắm quyền tại Indonesia hơn 30 năm, sau cùng bị dân nổi lên lật đổ. Hơn 10 sau đó nước Indonesia sống trong chế độ dân chủ tự do. Các tướng lãnh ở Miến Ðiện ý thức được sự bất lực của họ trước cảnh kinh tế suy sụp và lo sợ áp lực của Trung Quốc đè nặng, đang quay đầu về với dân, bước lên con đường dân chủ hóa. Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang lo ngại vì tin tức về tiến trình dân chủ hóa tại Miến Ðiện có thể khiến nhiều người trong quân đội cũng tự hỏi tại sao nước Việt Nam lại chịu thua người ta, toàn dân phải tiếp tục sống dưới một chế độ độc tài bất lực và thối nát! Trước đây, một quân nhân đã được đảng Cộng Sản đưa lên cầm quyền ở Ba Lan là Tướng Wojciech Jaruzelski, chính ông đã góp công dân chủ hóa đất nước khi mời một người thuộc Công Ðoàn Ðoàn Kết lập chính phủ.

Nỗi lo sợ của đảng Cộng Sản Việt Nam thúc đẩy tờ báo tuyên truyền nhắm vào quân đội phải lớn tiếng báo động: Không thể chấp nhận “quốc gia hóa quân đội!” Mục đích là bắt quân đội tiếp tục ngoan ngoãn làm tay sai cho nhóm người cầm đầu đảng.

Nhưng ngay ở trong nước đã có nhiều người chế nhạo những luận điệu hàm hồ của bài báo trên. Ngày 26 tháng 12, 2012 đã xuất hiện một bài trên Facebook Doan Phung Viet phê phán những lý luận và bằng chứng sai lầm của tác giả. Một sai lầm nặng nhất là khi Nguyễn Tiến Bình dẫn chứng các sắc lệnh do Hồ Chí Minh ký từ năm 1946: Sắc lệnh số 71/SL, Sắc lệnh số 47/SL, Sắc lệnh số 60/SL.

Doan Phung Viet viết: “Tôi chỉ mới tra cứu sơ sơ đã thấy, ba sắc lệnh trưng dẫn, & cả ba không có điều, khoản nào đề cập đến chuyện ‘quân đội phải được đặt dưới sự lãnh đạo của đảng và phải bảo vệ lợi ích của đảng!’” Nói rõ hơn: Sắc lệnh số 71/SL ngày 22 tháng 3 năm 1946, quy định chi tiết về biên chế và cấp số của Ðại đoàn Quân đội Quốc gia Việt Nam. Sắc lệnh số 47/SL ngày 1 tháng 5 năm 1947, qui định về việc tổ chức bộ tổng chỉ huy. Sắc lệnh số 60/SL ngày 6 tháng 5 năm 1946, đổi tên ủy ban kháng chiến toàn quốc thành Quân sự Ủy viên hội.

Ai cũng thấy: Tên gọi đầu tiên của quân đội là “Quân đội Quốc gia” chứ không phải là “Quân đội của đảng Cộng Sản!”

Các sắc lệnh trên, Hồ Chí Minh ký khi vẫn còn đeo mặt nạ “quốc gia,” trong thời gian đảng Cộng Sản đã được Hồ chính thức tuyên bố “giải tán” để đóng trò yêu nước! Tất nhiên, trước khi được Trung Cộng viện trợ để tái lập đảng dưới tên đảng Lao Ðộng, Hồ không dám nói quân đội chỉ là tay sai của một đảng!

Nguyễn Tiến Bình còn viết khen ngợi Hồ Chí Minh là biết “mềm dẻo về sách lược” khi nói một đằng, làm một nẻo. Doan Phung Viet nhận xét: “Khen như thế còn độc địa, nham hiểm hơn là chửi đó! Cứ như bác viết thì chẳng lẽ đảng ta và Chủ Tịch Hồ Chí Minh dùng Hiến pháp để bịp mọi người sao?”

Trong hai thế hệ, từ 1945 đến 1990, bao nhiêu thanh niên Việt Nam bị bịp hy sinh xương máu cho tập đoàn tham nhũng lên ngôi, để đất nước tới nỗi này!

Ðó là điều mà nhiều người trong quân đội tự đặt ra. Và họ thì thầm hỏi lẫn nhau: Không lẽ đến bây giờ lại để cho bọn Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, bịp bợm tiếp hay sao? Những người biết đặt câu hỏi đó được báo Quân Ðội Nhân Dân mô tả: “Suy thoái về tư tưởng chính trị diễn ra hằng ngày, hằng giờ trong từng nơi, từng lúc, với mức độ khác nhau...” Những lời hô hào “Không chấp nhận quốc gia hóa quân đội! Quân đội phải bảo vệ các lợi ích của đảng!” là những lời hoảng hốt kêu cứu.

Ðúng là những lời kêu cứu. Bởi vì Nguyễn Tiến Bình lo sợ quân đội chỉ biết đến quốc gia, không biết đến đảng sẽ “làm cho đảng không nắm được quân đội, dẫn đến mất vai trò đảng cầm quyền!” Bình đã đưa tấm gương sụp đổ của đảng Cộng Sản Liên Xô ra đe dọa. Khi chế độ Cộng Sản Liên Xô sụp đổ, “lúc đó quân đội Liên Xô còn 3.9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược...” Chỉ vì đảng không kiểm soát được quân đội nên Liên Xô tan rã.

Nguyễn Tiến Bình đã quên, là vào năm 1991 không phải chỉ có quân đội Nga lọt ra ngoài tầm tay của đảng Cộng Sản. Ngay cả tổ chức KGB khổng lồ toàn mật vụ và công an cũng biết chán chế độ rồi. Họ thấy dù họ được hưởng đủ thứ đặc quyền đặc lợi, nhưng cứ tiếp tục sống trong một chế độ bất lực và tham nhũng thì con cháu họ sẽ không có tương lai! Chính các sĩ quan KGB đã từ chối không đưa tay ra cứu những người đảo chính bảo vệ chế độ Cộng Sản, cho nên cuộc cách mạng ở Nga mới thành công.

Bài báo của Nguyễn Tiến Bình chứng tỏ đảng Cộng Sản Việt Nam đang lo sợ là quân đội sẽ thức dậy. Không ai có thể cúi đầu làm tay sai mãi mãi. Ðầu năm 2012 có mấy quân nhân trong huyện đội Tiên Lãng đã được đưa tới tham dự vụ cướp đất ở khu đầm cá do anh em ông Ðoàn Văn Vươn khai phá. Ngay sau đó, một số tướng lãnh cảm thấy cả tập thể quân đội phải chịu nỗi nhục đi cướp đất của dân, đã lên tiếng phản kháng.

Quân đội còn cảm thấy nhục nhã hơn nữa, trước cảnh đảng Cộng Sản Việt Nam nhu nhược chịu khuất phục và bám lấy Trung Cộng. Khi các ngư dân Việt Nam bị bắn, giết, bắt cóc; khi các con tàu Việt Nam bị cắt dây cáp, người dân đều hỏi: “Thế quân đội mình đang ở đâu?”

Hàng triệu quân nhân nhìn nhau không biết trả lời sao! Dân Việt Nam còn tiếp tục biểu tình chống Trung Cộng, sẽ tới ngày lực lượng công an cũng không đủ để đàn áp. Nếu tập thể quân đội ý thức được rằng họ không phải là tay sai của một nhóm người nào, mà chỉ có bổn phận bảo vệ lợi ích của toàn dân, thì họ sẽ không bao giờ quay họng súng bắn dân để “bảo vệ các lợi ích của đảng” như lời kêu gọi của Nguyễn Tiến Bình.

Các chế độ độc tài chuyên chế chắc chắn sẽ sụp đổ, dù cộng sản hay không cộng sản. Loài người đang cùng nhau tiến trên con đường tự do dân chủ, không có đường nào khác. Trong mọi quốc gia văn minh, quân đội là của nhân dân, của đất nước. Những người quân nhân tự trọng không bao giờ cúi đầu làm tay sai cho một đảng phái nào cả! Dân Việt Nam không ngu đến nỗi không biết điều đó. Dân Việt Nam không hèn đến nỗi cứ cúi đầu chịu nhục mãi.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Một năm đầy sợ hãi của nhà cầm quyền CSVN
Song Chi


Năm 2012, có thể nói là năm đầy sợ hãi của những người cộng sản hay nhà cầm quyền Việt Nam.
Họ sợ mất thế độc quyền lãnh đạo, sợ đảng cộng sản và chế độ bị sụp đổ, sợ mất mát tất cả những gì đang sở hữu...

Image
Công an trấn áp người biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội. Ðảng CSVN lo sợ các cuộc biểu tình chống Trung Quốc trở thành ngòi nổ
của người dân đứng lên lật đổ chế độ.
(Hình: Hoang Dinh Nam/Getty Images)
Ðảng cộng sản cầm quyền càng lâu thì những căn bệnh trầm kha và quá trình thoái hóa, biến chất của đảng ngày càng lộ rõ. Nỗi sợ của nhà cầm quyền vì vậy cũng ngày càng tăng.

Năm 2012 sắp hết. Nhìn lại tâm trạng của nhà cầm quyền Việt Nam trong năm qua, người ta có thể thấy rõ 2 điều: Sợ hãi và bất lực.

Một phần, với Việt Nam năm 2012 thật sự là một năm khó khăn về mọi mặt, trong đó, nổi bật là sự khó khăn, khủng hoảng về kinh tế, sự lấn lướt, o ép của Trung Quốc đưa tới thảm họa mất chủ quyền trên biển Ðông đối với Việt Nam ngày càng rõ ràng, cuối cùng là sự bất mãn ngày càng lớn của dân chúng.

Ðứng trước tình hình trên, nhà cầm quyền hầu như bất lực không biết làm cách nào để giải quyết cùng lúc quá nhiều vấn đề. Càng bế tắc, bất lực thì càng sợ hãi - có những nỗi sợ có thật và cả nỗi sợ do chính họ tự thổi phồng, tự hù dọa chính mình.

Ðiều lạ lùng là trước mối họa bành trướng có thật từ Trung Quốc, nhà cầm quyền không sợ mất nước, mất biển như đại đa số người dân Việt Nam vốn nặng lòng yêu nước. Họ sợ gì? Sợ chiến tranh xảy ra.

Cũng vẫn cái đảng cộng sản trước kia không biết ngán chiến tranh cho dù có phải hy sinh hàng triệu sinh mạng người dân, biến Việt Nam thành bãi chiến trường trong bao nhiêu năm, sau đó lại kéo quân sang Cambodia, đương đầu với Trung Quốc trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, nay lại sợ chiến tranh hơn hết.

Không phải ai xuyên tạc, chính miệng họ nói ra.

Từ ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, một mặt tuyên bố phải “Giữ vững chủ quyền, một tấc đất cũng phải bảo vệ” (báo Lao Ðộng), nhưng mặt khác, luôn luôn lập đi lặp lại: “Phải giữ cho được môi trường hòa bình ổn định để xây dựng đất nước”.

Lọc trong rất nhiều những lời tuyên bố tương tự của ông tổng bí thư và các nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam, có thể thấy quan điểm chủ đạo của họ là giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ bằng con đường hòa bình.

Ðiều đó lý giải vì sao Trung Quốc tha hồ lấn lướt Việt Nam trên biển Ðông, nhà cầm quyền vẫn một mực nhẫn nhục. Sợ đến nỗi khi tàu Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí Việt Nam cũng không dám nói là “cắt cáp” mà phải là “vô tình làm đứt cáp” chẳng hạn, và khi người dân đi biểu tình chống Trung Quốc thì đàn áp, bắt bớ...

Không chỉ các ông lãnh đạo cấp cao, trong hàng ngũ tướng, tá bên quân đội, quốc phòng nhiều người cũng có suy nghĩ, quan điểm như vậy.

Mới đây, khi đi giảng về biển Ðông cho lãnh đạo các trường đại học, ông Ðại Tá Trần Ðăng Thanh, Học Viện Quốc Phòng, nhấn mạnh: “Không được mất chủ quyền và quyền chủ quyền nhưng phải ưu tiên tối thượng là giữ được môi trường hòa bình”. Bởi vì “Ðể xảy ra chiến tranh, xin thưa với các đồng chí vất vả lắm.” (“Ðại Tá Trần Ðăng Thanh giảng về biển Ðông cho lãnh đạo các trường đại học, Nhật báo Ba Sàm).

Còn đây, Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ Quốc Phòng: “Củng cố hòa bình để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và xây dựng tổ quốc” (báo Quân đội Nhân dân).

Hòa bình là điều ai cũng muốn nhưng có nên giữ hòa bình bằng mọi giá, trước một Trung Quốc tham lam không hề có ý dừng lại?

Một nỗi sợ to lớn khác nữa của nhà cầm quyền là sợ đảng cộng sản bị nhân dân khai tử, chế độ bị sụp đổ.

Ðể cứu vãn uy tín của đảng, cứu vãn chế độ, nhà cầm quyền đã phát động cả một cuộc vận động chỉnh đốn đảng, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, như lời kêu gọi của ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tại buổi khai mạc hội nghị “Chỉnh đốn đảng vì sự tồn vong của chế độ”. Bắt đầu từ Bộ Chính Trị đến các tỉnh thành trong cả nước. Kéo dài qua hội nghị lần thứ 6 ban chấp hành trung ương đảng vào tháng 10.

Cuối cùng, kết quả là “Bộ Chính Trị đã xin nhận hình thức kỷ luật tập thể, ban chấp hành trung ương trong hội nghị lần thứ 6 đã nghiêm túc tự phê bình và thành thật nhận lỗi trước toàn đảng, toàn dân”. Nhưng thực sự thì không có cá nhân nào bị kỷ luật cụ thể cái gì cũng không có ai bị mất chức!

Cuộc vận động chỉnh đốn đảng bị phá sản. Ðọng lại trong người dân là hình ảnh ông tổng bí thư nghẹn ngào lúc đọc bài phát biểu kết thúc hội nghị 6 như chính thức thừa nhận sự thất bại của bản thân và của đảng cộng sản.

Bi hài hơn, chính ông tổng bí thư còn cho rằng “Chỉnh đốn đảng không nhằm kỷ luật một ai, mà chỉ nhằm chỉ ra những khuyết tật để sửa chữa” và “Kỷ luật mà không tính kỹ thì lại rối, mai kia là ân oán, thù oán, đối phó, thành phe phái, rối nội bộ.”

Có nghĩa là vì sợ mất đoàn kết, mất ổn định nên nhà cầm quyền thà tiếp tục duy trì tình trạng mục rỗng từ bên trong, còn hơn quyết tâm làm trong sạch đến cùng, dễ có nguy cơ đưa đến sự sụp đổ của đảng như tấm gương cải tổ của Liên Xô trước kia.

Sợ đa nguyên đa đảng-nên trong các cuộc họp Quốc Hội về dự thảo sửa bản Hiến pháp trong tháng 10 vừa qua, vẫn nhất định giữ điều 4 duy trì vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng cộng sản.

Sợ “diễn biến hòa bình” từ các nước dân chủ tác động đến Việt Nam, từ trong nhận thức của người dân và từ trong nội bộ đảng viên. Cái nguy cơ tan vỡ từ bên trong này mới là lớn nhất. Nhà cầm quyền đã tổ chức các hội thảo khoa học “Phòng chống tự diễn biến, tự chuyển hóa trong cán bộ đảng viên”, lặp đi lặp lại mối nguy này như mê sảng.

Sợ nhân dân. Coi nhân dân như thù địch, trong năm qua thế giới đã chứng kiến nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục sử dụng bàn tay sắt với nhân dân như thế nào. Bóp nghẹt mọi quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, thông tin...

Con số các nhà báo tự do, blogger bị bắt, bị đem ra xử với những bản án nặng nề ngày càng nhiều mà điển hình là 3 blogger của CLB Nhà Báo Tự Do.

Ngay các nhà báo làm việc cho báo chí nhà nước cũng không thoát khỏi, điển hình là vụ nhà báo Hoàng Khương báo Tuổi Trẻ bị kết án 4 năm tù vì đã viết bài đụng chạm đến thực trạng tham nhũng trong ngành công an giao thông.

Năm 2012 người dân cũng chứng kiến nhà cầm quyền sợ hãi những tiếng nói, thông tin độc lập đến nỗi chính ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo “Các cơ quan chức năng điều tra, xử lý nghiêm việc đăng tải nội dung chống đảng và nhà nước” qua công văn hỏa tốc số 7169/VPCP-NC.

Văn bản cũng cấm “Các bộ, ngành, các địa phương lãnh đạo cán bộ, công chức, viên chức không xem, không sử dụng, loan truyền và phổ biến các thông tin đăng tải trên các mạng phản động”.

Tại hội nghị công an toàn quốc chiều 17 tháng 12, ông thủ tướng chỉ đạo cho ngành công an phải “làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch... cương quyết không để nhen nhóm hình thành các tổ chức chính trị đối lập chống phá và đi ngược lợi ích của đất nước, của nhân dân”. (“Thủ tướng chỉ đạo công tác công an thời gian tới”, báo điện tử chính phủ)

Tại hội nghị về phát triển kinh tế xã hội năm 2003 trong hai ngày 25-26 tháng 12, ông thủ tướng lại nhắc lại điều này, kêu gọi cảnh giác với “kẻ xấu lợi dụng công nghệ cao, Internet để bôi nhọ, tuyên truyền chống phá đảng, nhà nước” (“Thủ tướng chỉ đạo các nhiệm vụ năm 2013”, báo điện tử chính phủ).

Ðó là chưa kể phát biểu của các quan chức lãnh đạo khác.

Xem thế để thấy nỗi sợ của nhà cầm quyền đã rõ như thế nào.

Nếu như sự sợ hãi trước viễn cảnh sụp đổ của đảng, của chế độ có thể đưa đến những quyết định can đảm, sáng suốt là chấp nhận hy sinh đảng, chế độ vì quyền lợi to lớn hơn gấp nhiều lần của đất nước và dân tộc, thì có vẻ như nhà cầm quyền Việt Nam lại đang chọn lựa con đường ngược lại: Tiếp tục tăng cường bạo lực để bóp nghẹt mọi sự phản kháng, nhằm hy vọng giữ được sự tồn tại của đảng.

Liệu đó có phải là sự lựa chọn khôn ngoan?

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Ðọc “Bên Thắng Cuộc”

Tiến Sĩ Ðinh Xuân Quân
Quyển sách “Bên Thắng Cuộc” của Huy Ðức đã, đang và sẽ tạo nhiều tranh luận cho người đọc trong và ngoài nước. Hiện nay quyển sách này mới chỉ có thể mua trên Amazon (phiên bản tin học). Cuốn 1, có tên là Giải Phóng, gồm 2 phần và 11 chương:

Phần I:

Chương 1: Ba Mươi Tháng Tư - Miền Nam - Ði từ bưng biền - Xuân Lộc - Tướng Big Minh - Trại Davis - Nguyễn Hữu Hạnh - Sài Gòn trong vòng vây - Xe tăng 390 - Ðầu hàng - Tuẫn tiết; Chương 2: Cải tạo Những ngày đầu “Ngụy Quyền” - “Ngụy Quân” - “Ðoàn tụ” - “Phản động” - Tù và cải tạo - “Thăm Nuôi” - “Học Tập”; Chương 3: Ðánh tư sản “Chiến dịch X-2” - Ðổi tiền - “Gian thương” - “Cải tạo công thương nghiệp tư doanh” Hai gia đình tư sản - Kinh tế mới; Chương 4: Nạn Kiều Ðội quân thứ năm Hiệp định Geneva “Chổi ngắn không quét xa” - Hoàng Sa - Sợ “con ngựa thành Troy” - “Nạn Kiều” “Phương án II” - “Ban 69” - Vụ Cát Lái; Chương 5: Chiến tranh - Biên giới Tây Nam - Pol Pot - Ði dây - Khmer Ðỏ và Campuchia dân chủ - “Kẻ Thù Lịch Sử” - Thất bại trong tấn công ngăn chặn (Pre-emptive War) “Nhất Biên Ðảo” - “Áo lính lại khoác vào ngay”; Chương 6: Vượt biên - “Vượt biên” - Từ “trí thức yêu nước” - Ðến “thường dân” - Trước khi tới biển - Ðường tới các trại tị nạn - Chương 7: “Giải Phóng” - Sài Gòn thay đổi - Kinh tế mới Ðốt sách - Cạo râu - “Cách mạng là đảo lộn” - Lòng người - Những người được sinh ra không đúng cửa - “Cánh cửa” Thanh niên Xung phong - “Nổi loạn” - “Sài Gòn lại bắt đầu ghẻ lở”.

Phần II: Thời Lê Duẩn

Chương 8: Thống nhất Nước Việt Nam là một - “Bắc hóa” - Chủ nghĩa xã hội - “Con đường của Bác” - “Mỗi người làm việc bằng hai” - Lê Duẩn và mối tình miền Nam - Chấp chính và chuyên chính - Chương 9: Xé Rào - Bế tắc - Mậu dịch quốc doanh - Máy bỏ không, công nhân cuốc ruộng - Tháo gỡ - Nghị quyết Trung ương 6 - Bù giá vào lương - Cắm cờ xé rào - Khoán chui - Ông Kiệt xé rào, ông Linh lãnh đạn - “Ai thắng ai” - Chương 10: Ðổi mới - Hội nghị Ðà Lạt - Nhóm giúp việc mới - Người của những khúc quanh lịch sử - Từ chính sách Kinh Tế Mới - Ðến chọc thủng thành trì bao cấp Giá-Lương-Tiền - Nã pháo vào bộ tổng - Khép lại trang sử Lê Duẩn - Vai trò của Mikhail Gorbachev Tuyên ngôn đổi mới - Bàn tay Lê Ðức Thọ - Phút 89 - Chương 11: Campuchia - “Pot ở đầu phum ta cuối phum” “Xuất khẩu cách mạng” - Tư tưởng nước lớn - Bị cô lập - Phương Bắc - Hội nghị Thành Ðô - Campuchia thời hậu Việt Nam.

Ðã có nhiều nhận xét về cuốn “Bên Thắng Cuộc” về phần chính trị, về những sai lầm trong nội dung, và chúng ta đã nghe một số chỉ trích, chê bai. Riêng đối với người viết này thì ta cần biết lịch sử cận đại Việt Nam qua nhiều phía kể cả về phần kinh tế. Muốn tranh đấu ta phải hiểu đối thủ và do đó phải tìm hiểu và phân tích những thành công và thất bại của họ ở chỗ nào?

Người ta nói lịch sử thường được viết theo những người thắng cuộc nhưng từ 1975 đến nay đã bao nhiêu tài liệu được giải mật và nay cuộc chiến tại Việt Nam được đánh giá qua nhiều khía cạnh mới. Người ta nói có sách, mách có chứng nhưng với điều kiện là sách viết đúng, không tuyên truyền. “Bên Thắng Cuộc” đã mang một ánh sáng mới cho những trang sử cận đại Việt Nam khi tác giả đã cố gắng có cái nhìn cân bằng - trung thực mặc dù thiếu phân tích.

Dưới khía cạnh kinh tế ta có thể xem cuốn sách như một nguồn tài liệu và có ghi lại nhiều điều hữu ích cho sự nghiên cứu lịch sử hay tài liệu tra cứu. Nó cho thấy là chính các chính sách kinh tế ngây thơ “của một nền kinh tế tập trung bao cấp” đã phá kinh tế miền Nam. Và sự yếu kém về kinh tế vẫn tiếp tục đến ngày nay vì “tư duy” trên nền tảng kinh tế chỉ huy với não trạng rất hẹp hòi của giới lãnh đạo.

Cuốn sách được viết bằng giọng rất bình thản, khách quan, khác hẳn ký ức của nhiều người đã trải qua những tình huống cay đắng của bên thua trận, trong đó có người đang viết những dòng này. Những chính sách sau ngày 30 tháng 4, 1975 của những “đỉnh cao trí tuệ của Bộ Chính Trị” đã thực thi tại miền Nam, đã lộ rõ trong quyển sách này. Nó cho thấy những suy nghĩ thô sơ, hiểu biết quá lạc hậu về các vấn đề quản trị một đất nước, nhất là về quản lý kinh tế.

Thật vậy quyển sách có trên 3 chương (chương 3, 9 và 10) nói về kinh tế mà ta có thể gọi là “quy trình phá hoại kinh tế miền Nam” qua việc áp đặt một cách máy móc guồng máy “tập trung bao cấp” vào kinh tế. Chương 3 kể lại quy trình phá hoại kinh tế VN bởi tập thể Bộ Chính Trị qua việc cải tạo kinh tế. “Theo nhận thức của những người cộng sản, đánh đổ giai cấp tư sản là bước đi tất yếu, là nhiệm vụ của “cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”. Chưa đầy ba năm sau khi chủ nghĩa xã hội được áp dụng ở miền Nam, các nhà doanh nghiệp, với tên gọi mới là “tư sản”, đã phải trải qua hai lần bị “đánh”.

Các “Chiến dịch X-2” ngày 10-9-1975, việc “Ðổi tiền” ngày 22 và 23-9-75, khi đồng tiền cũ của chế độ Sài Gòn đã được thay thế bởi đồng tiền mới được coi là “chiến dịch” còn gọi là “X-3” trong đó mỗi hộ gia đình được đổi tối đa 100,000 đồng tiền với 500 đồng tiền VNCH ăn một đồng tiền mới Ngân hàng [nói theo kinh tế thì đây là một cuộc đổi tiền bóc lột]. Ngày 3-9-1975, Ngân hàng tuyên bố “Công khố phiếu (miền Nam) không còn giá trị”, [Chính quyền giải thích: “Các loại công khố phiếu dù của các ngân hàng hay của tư nhân là những giấy nợ của Nguyễn Văn Thiệu vay để thêm ngân sách cho guồng máy chiến tranh, nay Nguyễn Văn Thiệu và bè lũ đã mang tiền của tháo chạy, Chánh quyền Cách mạng hiện đang quản lý tài sản của toàn dân.]

Các chiến dịch “Ðánh tư sản” - “Chiến dịch X-2”, việc đổi tiền (X-3), việc đánh “Gian thương” hay việc “Cải tạo công thương nghiệp tư doanh.” Tác giả kể lại một cách bình thản một số sự kiện đã đưa đến sự phá hoại kinh tế miền Nam qua việc áp đặt các chính sách “XHCN” được áp dụng một cách ngây thơ - nếu không nói là mù quáng trong vấn đề cải tạo công thương nghiệp tại miền Nam.

Chương 9 kể lại quy trình tìm mò các giải pháp kinh tế do những bế tắc của kinh tế tập trung bao cấp của Việt Nam qua việc “Xé Rào”. Chỉ mấy năm sau 1975, những người như ông Võ Văn Kiệt nhận ra là các chính sách cơ chế “tập trung quan liêu bao cấp” cho kinh tế thất bại và họ đã phải tìm cách “xé rào” để giải quyết các bế tắc của kinh tế VN. “Bên ngoài thì giặc giã, bên trong thì bức bối, đói kém, không khí càng trở nên ngột ngạt, nhất là từ giữa năm 1978. Lượng người bỏ nước ra đi càng lúc càng tăng, cỗ xe như đang lao xuống dốc mà không ai nhìn thấy chân phanh ở đâu...” Các bế tắc kinh tế do mậu dịch quốc doanh - Máy bỏ không, công nhân cuốc ruộng và cách nào Việt Nam đã cố tháo gỡ các khó khăn kinh tế do việc áp dụng hệ thống “bao cấp” tại VN. [Ông Kiệt không phải chờ quá lâu để chứng kiến những gì mà chủ nghĩa xã hội mang lại cho Sài Gòn. Ðại hội Ðảng lần thứ IV đề ra mục tiêu: “Năm 1980 đạt ít nhất hai mươi mốt triệu tấn lương thực quy thóc, một triệu tấn thịt hơi các loại”.] Trên thực tế là, tại vựa lúa Ðồng Bằng Sông Cửu Long, sau khi “cưỡng bức tập thể hóa”, sau khi máy cày, máy kéo của tư nhân bị đưa vào hợp tác xã, tập đoàn đã trở nên tàn phế, mặc kệ các chỉ tiêu đại hội, sản lượng lương thực, thực phẩm giảm mạnh. [Nhưng gạo lại để ẩm mốc ở Long An trong khi dân Sài Gòn vẫn đói.] Quyển sách nói đến “Nghị quyết Trung ương 6” hay việc nhận ra nguyên nhân đất nước khó khăn là vì “những khuyết điểm chủ quan” và chủ trương xóa bỏ ngay những chính sách chế độ bất hợp lý, gây trở ngại cho sản xuất, khuyến khích việc phát triển sản xuất... Chương này cũng nói về vấn đề xé rào và khoán chui và hai lần đổi tiền năm 1985. Quyển sách cũng nhắc lời của KS Dương Kính Nhưỡng (cựu bộ trưởng của VNCH) một cách rất chí lý: Cần phải có luật lệ mới quản lý được một đất nước.

Hậu quả các chính sách kinh tế “tập trung bao cấp” là “Cuộc sống của những người dân ở hậu phương cũng trăm bề khó khăn: Cây đinh phải đăng ký / Trái bí cũng sắp hàng / Khoai lang cần tem phiếu / Thuốc điếu phải mua bông / Lấy chồng phải cai đẻ / Bán lẻ chạy công an / Lang thang đi cải tạo / Hết gạo ăn bo bo / Học trò không có tập...” Nhờ tình trạng này cho nên chương 10 nói về Ðổi mới - Hội nghị Ðà Lạt - Nhóm giúp việc mới - Người của những khúc quanh lịch sử Từ chính sách Kinh Tế Mới - Ðến chọc thủng thành trì bao cấp Giá-Lương-Tiền - Nã pháo vào bộ tổng - Khép lại trang sử Lê Duẩn - Vai trò của Mikhail Gorbachev - Tuyên ngôn đổi mới - Bàn tay Lê Ðức Thọ - Phút 89. Ðây là quy trình tìm cách giải quyết các khó khăn của kinh tế Việt Nam.

Tác giả này trong bài (1) được viện ISEAS của Ðại Học Singapore xuất bản đã chứng minh là đến 1972, không ai của “nhóm đỉnh cao trí tuệ” của BCT tại Việt Nam có một mảnh bằng bằng đại học. Hậu quả của việc quản lý yếu kém của lãnh đạo có “Mác xít nhưng trình độ quá thấp” [đỏ hơn chuyên] là những tai hại mang đến cho đất nước Việt Nam.

Một điểm đáng lưu ý là tác giả Huy Ðức đã dùng chữ Tuẫn Tiết để chỉ cái chết của các tướng lãnh miền Nam như Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ hay Ðại Tá Ðặng Sĩ Vinh, những người đã tự kết liễu đời mình vào thời điểm miền Nam sụp đổ. Theo tác giả thì nhiều quân nhân VNCH vô danh đã tìm đến cái chết trong danh dự những ngày sau đó.

Tác giả cũng đã trích dẫn huyền thoại về Hồ Chí Minh và bà Nguyễn Thị Năm do Hoàng Tùng dàn dựng. Chương Nạn kiều trong sách làm sáng tỏ việc tổ chức cho người Hoa vượt biên để gom vàng của nhà nước. Phương án II cũng giúp chúng ta thấy bao nhiêu thảm cảnh đã xảy ra, trong sách ghi lại: “Người di tản được đóng vàng để công an mua thuyền hoặc đóng thuyền cho đi mà không sợ bị bắt hay gây khó khăn. Việc thực hiện Phương án II chỉ do ba người là bí thư, chủ tịch và giám đốc công an tỉnh quyết định. Công an được giao làm nhiệm vụ đứng ra thu vàng và tổ chức cho người di tản”.

Quyển sách cho thấy đảng Cộng Sản là một tổ chức vô cùng tàn bạo mà lại rất yếu kém về chuyên môn. Người Cộng Sản Việt Nam mang bộ mặt đạo đức giả, mị dân, nhưng cũng có nhiều người cố gắng tìm giải pháp khi bế tắc.

Quyển sách này giúp hai phe (thắng và thua, nói tóm là dân Việt Nam) tái khẳng định sự thật qua những việc gì đã xảy ra từ 1975 đến nay. Vì mù quáng hay ngây thơ theo một chủ nghĩa mà Việt Nam đã phải trải qua bao vấn nạn - bao khó khăn, hoàn toàn phá kinh tế miền Nam chỉ vì... “quá ngu xuẩn vì duy ý chí”.

Cái tên sách “Bên Thắng Cuộc” có lẽ cũng nói lên cái thâm ý của tác giả Huy Ðức, là không coi sự thắng trận của miền Bắc là một cái gì quá vĩ đại và tuyệt đối. Hai chữ “thắng cuộc” cho người đọc cái cảm giác đó chỉ là một cái gì ở tầm cỡ nhỏ, tạm thời, trong khi dòng chảy phong phú và đa dạng của lịch sử ngày càng cho thấy cái chính nghĩa lại thuộc bên thua cuộc là miền Nam. Nhân quyền, tự do về tư tưởng, tín ngưỡng, ngôn luận, cư trú và về kinh tế, v.v... là những đặc điểm vốn đã là nền tảng cho chế độ miền Nam, ngày càng là các đòi hỏi bức thiết của mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam hiện tại, sau gần 40 năm chế độ cộng sản được áp đặt cho cả nước, nhất là hiện tượng phụ thuộc vào Trung Cộng ngày càng rõ rệt, và việc “đảng đàn anh” đương nhiên coi Hoàng Sa và Trường Sa là của họ.

Vào thời điểm này ai thắng ai thua không còn là điều quan trọng, mà việc tái khẳng định sự thật lịch sử, để từ đó sửa chữa các sai lầm và đưa đất nước đến độc lập, thịnh vượng và dân chủ mới là điều đáng quan tâm nhất cho tất cả người dân Việt Nam. Quyển sách này chính là bước đầu giúp việc đánh giá lại “giấc mơ XHCN” mà tác giả cho thấy đã mang bao tai họa cho dân Việt Nam. Người viết bài này cũng đã sống tại Việt Nam giai đoạn sau 1975, từ tù cải tạo đến việc bị phân biệt đối xử bị coi là loại công dân hạng hai, cho đến khi vượt biển tìm được tự do; và sau đó còn có dịp về làm việc tại Việt Nam trong chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) nhằm giúp cải tổ hành chánh và kinh tế. Với các kinh nghiệm đã trải qua, người viết đánh giá là ngoài vài sai lầm nhỏ, quyển sách này đã cố nói lên được nhiều sự thật. Nó cần phải được đọc nhiều lần một cách cẩn thận, để hiểu được những gửi gắm của tác giả, trong khi chờ đọc nốt cuốn thứ hai của Huy Ðức.

T.S. Ðinh Xuân Quân

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Chuyện vui đầu năm

Ngô Nhân Dụng

Trên các mạng internet đang chuyền nhau một bức hình chụp cửa vào một bệnh viện tâm thần ở Sài Gòn. Trên cánh cổng ra vào bệnh viện tâm thần có tấm biểu ngữ mầu đỏ, viết: Bệnh nhân tâm thần TP HCM tích cực học tập (xuống dòng) “Tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời.”


Đây là bức hình ghép trông giống như thật, chỉ cốt vui đùa nhân dịp đầu năm dương lịch, nhưng vẫn có ý nghĩa. Có thể chuyển cho cho tất cả các đảng viên cộng sản ở Việt Nam cũng như ở Cuba, Bắc Hàn, Trung Quốc cùng học tập. Bởi vì trong thế kỷ 21 này, ở những xã hội lành mạnh, bình thường, ai còn tin vào chủ nghĩa cộng sản đều có thể coi là đang “mắc bệnh tâm thần”cả.


Trong tiểu thuyết hài hước “Kiểm duyệt một truyện tình ở Iran” (Bản dịch tiếng Anh: Censoring an Iranian Love Story, 2009), nhà văn Shahriar Mandanipour viết nửa trang kể chuyện về một đảng viên cộng sản xứ Iran. Đó là một nhân vật phụ, không có tên, tác giả gọi là “người cha của Dara;” Dara là tên cậu tình nhân trong chuyện.


Trước cuộc cách mạng Hồi Giáo năm 1979, Cha của Dara là một thanh tra ở phi trường ngay thủ đô Tehran, tuy cơ hội ăn hối lộ nhưng ông rất thanh liêm, để gia đình sống nghèo nàn. Ông bí mật theo đảng Cộng sản Iran, đến lúc bị lộ, bị bắt vô nhà tù Evin đã nổi tiếng từ thời quân chủ, ông bị tra tấn. Sau hai năm, dân Iran biểu tình lật đổ chế độ quân chủ, Cha của Dara được giải thoát, được các sinh viên công kênh đưa đi như một anh hùng. Ông trở lại làm thanh tra ở phi trường và vẫn sống thanh bạch như cũ. Được sáu năm, ông bị công an của chế độ mới bắt vi ông theo đảng Cộng sản, điều này công khai, ai cũng biết. Lại bị giam vào ngục Evin, lại bị đánh đập. Nhưng trước sau ông chẳng có điều gì có thể khai báo để khỏi bị tra tấn. Bị giam khoảng bốn năm thì được tha. Tại sao họ thả cha của Dara về nhà?


Bởi vì lúc đó là đầu năm 1990, sau khi bức tường Berlin sụp đổ, các nước Đông Âu đang ra tay tẩy rửa sạch các tàn tích của chủ nghĩa cộng sản. Nhà nước Hồi Giáo độc tài ở Iran quyết định tha cho các đảng viên cộng sản, vì trừng phạt họ cách khác hay hơn. Nhà văn Mandanipour giải thích: Không có sự trừng phạt nào độc địa hơn là cho một đảng viên cộng sản trở về nhà, để anh ta nhìn thấy bao nhiêu đảng cộng sản trên thế giới đang ăn năn hối lỗi, đang tự xóa bỏ quá khứ của họ! “Cha của Dara và đồng đảng của ông ta chợt khám phá ra là bao nhiêu năm họ bị giam cầm, bị tra tấn trong nhà tù bỗng chốc lát thành ra hoàn toàn vô giá trị!”

Cứ như thế, Cha của Dara sống như một người tâm thần, không làm lụng gì cả, vẫn được lãnh đồng lương hưu nho nhỏ, ông ta chọn một góc nhỏ giống sống cách biệt vợ con, như vẫn sống trong phòng biệt giam, trải chiếu nằm nằm không đủ chỗ duỗi chân. Để khuây khỏa quên mình đang bị bệnh tâm thần, suốt ngày ông mở các đài phát thanh của người Iran từ hải ngoại, đài VOA, RFI, BBC, nghe ngóng tin tức và chờ ngày tàn của chế độ Hồi Giáo cực đoan ở xứ Iran. Một đảng viên cộng sản Iran bây giờ cũng trông đợi xem bao giờ nước Mỹ có thể giúp nước họ thoát ra khỏi một chế độ thần quyền lạc hậu!

Shahriar Mandanipour kể câu chuyện một nhà văn vừa viết vừa lo tự kiểm duyệt để hy vọng sách được in ra, cách viết của ông rất hài hước và thâm sâu. Nếu Lưu Quang Vũ còn sống, chắc chúng ta đã được coi nhiều vở kịch hài hước và sâu xa như vậy. Cứ tưởng tượng trên một sân khấu hài kịch, cô con gái đưa một chàng trai bảnh bao về giới thiệu với cha mẹ lần đầu. Bà mẹ nhìn chàng trai từ đầu tới chân, tóc tai quần áo đúng mốt, tay ôm cái iPad mới, bà hỏi: “Thế cậu đi học ở Úc hay ở Mỹ về đấy nhỉ?” Chàng trai ưỡn ngực trả lời: “Thưa bác, cháu là đảng viên cộng sản!” Nghe thế là đủ cho khán giả bật cười vỡ rạp ra rồi!

Nhưng ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều người không biết cười. Thí dụ, các ông trong Hội đồng lý luận trung ương. Họ không thể cười được, bởi vì nghề nghiệp của họ là “lý luận.” Nếu không còn một đảng cộng sản, nếu không còn chế độ cộng sản, thì họ thất nghiệp. Nếu anh là một đảng viên kiêm công nhân nghề tiện, một đảng viên kiêm thợ sửa ống nước hay kiêm nghề cắt tóc, thì dù chế độ cộng sản còn hay mất anh vẫn có thể kiếm ra việc làm.

Nhưng các chuyên viên lý luận thì không. Họ chỉ biết một nghề là nói, nói dài, nói dai, cố thuyết phục mọi người phải tin tưởng chủ nghĩa Mác Lê Nin. Mặc dù họ biết mình nói cũng chẳng ai thèm nghe, và người nghe cũng chẳng ai thèm tin. Nhưng nếu không còn đảng cộng sản, không còn chủ nghĩa cộng sản thì họ biết làm nghề ngỗng gì? Đảng còn thì mình còn! Đó là khẩu hiệu của công an. Nhưng ta biết khi chế độ cộng sản Liên xô chấm dứt thì các cựu nhân viên KGB vẫn tìm ra việc làm. Họ đi “bảo vệ” các nhà tư bản đỏ, buôn lậu, hoặc đâm thuê chém mướn. Còn các giáo sư triết học Mác Lê, các nhà lý luận thì khác: Sểnh đảng ra là thất nghiệp! Vì thế ở Việt Nam họ kiên định lập trường bảo vệ đảng còn mạnh hơn cả đám công an nữa.

Cho nên trong lúc năm cùng tháng tận, ngày 31 tháng 12 năm 2012, Hội đồng lý luận trung ương của đảng ta vẫn họpđể kiểm điểm công tác! Trong hội nghị lý luận trung ương này, ôngchủ tịch Đinh Thế Huynh, ủy viên Bộ chính trị, nói, "Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng bộc lộ xung khắc với thực tế, càng làm cho thực tế trở nên rối bời và đẩy xã hội Việt Nam đến những mâu thuẫn lớn khiến cho bùng nổ phản kháng, biểu tình và dân oan ngày càng đông đảo lên." Ông này chỉ nói tới các vụ biểu tình, kêu oan, đòi đất, nhưng chưa nói đến phản ứng tập thể của các công dân mạng; thí dụ như khi họ phân phát cho nhau bức hình bệnh nhân tâm thần học tập để cười chơi!


Ba chục năm nay, sau khi quay đầu 180 độ, lý luận để bảo vệ ngôi vị đế quốc của đảng Cộng sản Việt Nam được tóm tắt trong khẩu hiệu: “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” Bây giờ ông chủ tịch hội đồng lý luận thú nhận rằng cái lý luận đó nó hỏng bét! Nó hoàn toàn xung khắc với thực tế. Không những thế, nó còn làm cho xã hội rối bời và dân chúng ngày càng phẫn uất nhiều hơn!


Nếu một người bình thường, không cư ngụ lâu năm trong bệnh viện tâm thần, thì sau khi nhìn ra sự thật như vậy, người đó phải kết luận rằng những lý luận trước đây của mình sai hết cả rồi, phải xóa đi làm lại! Nhưng ông Đinh Thế Huynh vẫn thản nhiên báo cáo tiếp về công tác của các chuyên viên đồng nghiệp, nói rằng: “cuộc đấu tranh lý luận bước đầu có những chuyển biến tích cực!” Khổ quá, đảng Cộng sản Việt Nam đã hơn 70 tuổi đầu rồi, các cụ đảng viên lão thành còn sống cũng trên dưới 90 tuổi cả rồi! Thế mà bây giờ bỗng nhiên họ được nghe báo cáo rằng lý luận của đảng họ, trong “bước đầu,” đã có “những chuyển biến tích cực!” Mới bước đầu thôi! Và mới “chuyển biến tích cực” chứ chưa có cái gì thật sự tích cực! Nghe báo cáo như vậy, chắc các cụ lão thành phải ôm mặt khóc! Đó cũng là những người Cha của Dara.


Nhưng ngày đầu năm, dù là đầu năm dương lịch, chúng ta không nên nói đến chuyện khóc. Cho nên bài hôm nay kết thúc bằng một chuyện cười. Chuyện cười này không được chuyển đi bí mật trên các mạng như bức hình bệnh viện tâm thần, mà lại in ngay trên cái tựa của báo Tiền Phong, một tờ báo của đảng.


Gần đây, đảng Cộng sản hô hào đảng viên phải cùng nhau tự “kiểm điểm.” Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ví công tác này như một cuộc “tắm rửa” vĩ đại; nếu không thì đảng và nhà nước sẽ sụp đổ. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng công nhận có “một bầy sâu” đang làm hại đảng vì chỉ biết ăn bòn của dân. Để kiểm điểm, họ bèn họp một hội nghị trung ương. Họp xong, chằng thấy họ bắt được con sâu, con chấy, con giận nào cả. Tổng Bí thư chỉ sụt sùi xin lỗi, còn những con sâu thì chỉ được “cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe,” và hứa sẽ ngăn chặn! Các con sâu đã bị kiểm điểm! Đồng chí X (Ếch) cũng xin lỗi, nhưng lại nhấn mạnh là mình không làm cái gì sai cả, trách hiệm đều do Bộ Chính trị lãnh cả!


Trong không khí chán mớ đời như vậy, báo Tiền Phong in một cái tựa to tướng để tuyên dương thành tích Đảng: “Kiểm điểm sâu!”


Người đọc có thể hiểu hai cách: Đảng kiểm điểm vào chiều sâu. Hoặc: Đảng kiểm điểm các con sâu! Loài sâu bọ mừng quá! Không ai dùng đến thuốc trừ sâu! Các giống sâu, bọ, chấy, giận, chuột, đang út máu mủ, gậm nhấm cả nước Việt Nam chỉ bị đem ra kiểm điểm thôi!



Nếu Shahriar Mandanipour biết chuyện này chắc ông cũng phải khâm phục tài “lách” của các nhà báo Việt Nam. Trong cuốn truyện ông đã kể bao nhiêu mánh khóe một nhà văn Iran phải thi thố để lách khỏi lưỡi kéo kiểm duyệt, trong đó có cách dùng chữ hai nghĩa trong tiếng Farsi. Ông sẽ thích thú khám phá ra trong tiếng Việt cũng đầy những chữ hai nghĩa!



Nhưng, sau khi chia sẻ một nụ cười với Mandanipour, cũng xin nhắc đến một kinh nghiệm của ông khi vừa viết vừa tự kiểm duyệt. Ông nhận thấy là sau khi cố gắng tìm mọi cách để đánh lừa các quan văn hóa tư tưởng, sẽ đến lúc nhà văn cũng đánh lừa luôn cả độc giả của mình!


Xin kính gửi thông điệp của Mandanipour tới các nhà văn ở Việt Nam, những Bảo Ninh, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Quang Tuyến, vân vân, và vân vân, cùng với lời chúc mừng năm mới.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Mất Nước Ở Biển Đông:
Niềm Đau Từ Một Sự Sai Lầm Trong Lãnh Đạo Đất Nước

Võ Ngọc Phước

Biển Khơi Đó Là Của Việt Nam Chúng Ta

Có thể nói trong lịch sử của Việt Nam chúng ta không có một sự sai lầm hay sơ suất nào lớn lao như sự sai lầm đưa đến “sự mất nước ở Biển Đông” như hiện nay. Bởi vì, nguyên nhân của sự “mất nước ở Biển Đông” này không phải chỉ là do sự chủ động bành trướng xâm chiếm của phía Trung Quốc mà còn là do sự “hổ trợ phụ giúp từ căn bản” cho sự xâm chiếm này từ phía đảng Cộng Sản Việt Nam.

Mà đau đớn thay cho “hậu quả của sự hõ trợ này” là cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, do ông cha chúng ta đã khổ công gầy dựng xây đắp đến ngày nay, cũng đã bị Trung Quốc ngang nhiên xâm chiếm như đang được thấy rành rành trước mắt hiện nay.

Trong suốt hàng ngàn năm lịch sử cúa Việt Nam, dù có phải trải qua nhiều thời kỳ cay nghiệt bị ngoại bang đô hộ hay chìm đắm trong khói lữa binh đao của việc huynh đệ tương tàn, nhưng một khi người dân nhìn ra biển khơì thì vẫn biết đó là biển khơi của Việt Nam, là của đất nước.

Nhưng, ngày nay, khi nhìn ra biển khơi, thì vẫn là màu nước biển như xưa kia nhưng không ai cón có thể nghĩ được điều tất nhiên đó là như trước đây. Đúng vậy, chúng ta đang bị mất nước ở Biển Đông. Đây là một niềm đau vô cùng cho đất nước và cho cả dân tộc.

Nhín ra biển khơi, các nhóm đảo xa bờ của chúng ta nay đã bị ngoại bang mặc nhiên đến chiếm đóng và đang cho xây cất ồ ạt các cơ sở, các, công trình của họ mà không gặp phải sự kháng cự nào của phía chúng ta. Hơn thế nữa, các tàu thuyền bé nhỏ của ngư dân chúng ta lại đang bị phía Trung Quốc chận bắt và hà hiếp lúc nào không hay ngay trên các vùng biển của chúng ta.

Đó là điều thật quá oái ăm cho “tình thần liên đới huynh đệ giữa hai nước xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc và Việt Nam”., mà các cấp lãnh dạo của hai đảng cộng sản của hai nước này vẫn luôn luôn ca ngợi lẫn nhau và tuyên truyền cho người dân hai nước.

Trong một bối cảnh như vậy, chắc chắn là các “lãnh đạo của phía nước Cộng Hoà Xã Hội Việt Nam” đã phải thật quá ngỡ ngàng và vỡ lẽ khi được nghe “đàn anh Trung Quốc” cho biết cái “hải phận chín khúc” mà họ đã tự vẽ ra bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các vùng biển của chúng ta, và bắt buộc phía Việt Nam phải chấp nhận tuân thủ các qui định phi lý của họ đặt ra. Họ đã căn cứ váo chứng cớ các tuyên cáo trước đây của họ vè việc chủ quyền biển đảo ở Biển Đông với sự đồng tùnh của các lãnh đạo ở Hà Nội.trong thập niên 1950.

Đến mức này thì các “lãnh đạo của phía đảng Cộng Sản Việt Nam” đã phải “sáng mắt” ra vì sự việc này. Nhưng vì trong vị thế yếu kém trước đàn anh Trung Quốc, do các sai lầm sơ khởi khi “bày tỏ sự đồng tình ban đầu với họ trong việc này”, nên đành phải muối mặt chấp nhận thân phận của kẽ “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Vì vậy chăng mà phải chỉ cho phép “đàn em phản đối bằng miệng cho xong chuyện” hay “tự mình trình bày lanh quanh về các phương cách đối phó vấn đề” nơi công khai mà thôi.

Cùng lúc cho những việc này, thì ngoài sự trấn áp tàn bạo người dân quá nóng lòng trong vấn đề này, nhà nước cộng sàn Việt Nam lo việc thực hiện các “hoạt động mị dân” bằng nhiều phương cách bao gồm việc cho cái quốc hội của đảng làm ra cái Luật Biển, cho mua vài chiếc tàu lặn và chiến đấu cơ của Nga, cho đóng vài tàu tuần dương, hay cho đăng lên các hình ảnh tuyên truyền của một vài vị trí trên các quần dảo này với cờ xí của phía Việt Nam được giương lên để nhằm làm cho người dân có cái cảm tưởng là “nước non vẫn còn đó”.và “đảng đang lo đối phó”.

Trong lúc đó thì Trung Quốc vẫn cứ ngang nhiên, sau khi cho qui pháp về hành chính và quân sự cho Thành Phố Tam Sa vừa được thánh lập, đã cho xây dựng ồ ạt các hải cảng, sân bay, căn cứ và hạ tầng cơ sở ở các vị trí chính yếu trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của chúng ta và cho lực lượng hải quân triển khai hung hậu trên các vùng biển này để bảo trợ chắc chắn cho sự cai trị ngang ngược này của họ.

Lầm Lỡ Chỉ Vì Lãnh Đạo Quá Dại Khờ

Như mọi người đã được biết, kể từ đầu năm nay 2013, các tàu tuần tra hải giám của Trung Quốc được phép bắt giữ và tra xét các tàu thuyền nước khác trên cái “hải phận chin khúc” đó; nhưng như ai ai cũng biết, chắc chắn là Trung Quốc nhằm điều này vào các tàu thuyền của phía Việt Nam.

Như vậy, liệu các đối phó chậm chạp và yếu ớt của phía Việt Nam như hiện nay có kịp thời chận đứng hữu hiệu được các động thái ngang ngược của Trung Quốc hay không. Câu trả lời là “Chắc Chắn Không”. Như vậy là có nghĩa Việt Nam sẽ phải tiếp tục cúi đầu thuần phục Trung Quốc. Và đây cũng là điều ước mong của nhóm lãnh đạo thân Trung Quốc trong hang ngũ đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.

Nhằm đến nhiều mục đích cho việc muón trở thành một nước lớn, tham vọng bành trướng ra xâm chiếm toàn vùng Biển Đông, thật ra, dã được Trung Quốc ấp ũ nuôi dưởng từ trước nay, ngay sau khi đảng Cộng Sản Trung Quốc thâu tóm và cai trị được phần lục địa của nước này.

Tuy nhiên sự hiện diện của Mỹ ở Biển Đông và Đông Nam Á không những đã thật sự làm cản trở cái kế hoạch này, mà còn cản trở cả tham vọng trở thành một nước lớn của Trung Quốc. Vì vậy, Trung Quốc đã quyết tâm dùng “chiêu bài chi viện cho Hà Nội” để đánh Mỹ, đánh chiếm Miền Nam, và do đó có thể xua đuổi được Mỹ ra khỏi vùng biển này để “dọn đường cho việc bành trướng xâm chiếm“. Rồi cùng với sự trưởng thành kinh tế, Trung Quốc sẽ có thể trở thành một nước lớn.

Cái “chương trình từng bước” như vậy thật ra quá là quá đơn thuần và dể hiểu nhưng không biêt vì sao các lãnh đão của Hà Nội vào lúc ấy không thể “nhìn thấy được cái “dã tâm xúi dục cho anh em một nhà đánh giết nhau” này của Trung Quốc để mà phòng tránh.

Có thể đã có sự hỗ trợ của nhóm lãnh đạo thân Trung Quốc trong hang ngũ đảng Cộng sản Việt Nam vào lúc đó. Hay cũng có thể chỉ vì quá mãn nguyện khi được nước đàn anh xã hội chủ nghĩa này cung cấp cho vô số súng ống đạn dược để đánh Mỹ, đánh chiếm Miền Nam và lại còn được họ tung hô ca ngợi là “anh hung này nọ” nên đã vô cùng hăng hái dù phải hy sinh bao sinh mạng để việc đánh phá để “dọn đường cho họ chiếm cứ Biển Đông này”

Dù với bất cứ lý do nào đi nữa, thì hậu quả đau thương dưa đến cho đất nước ngày nay cũng đã chứng tỏ rõ ràng sự khinh xuất hay sai lầm trong lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam khởi đầu từ những thới điểm đó.

Vì rằng chắc chắn các lãnh đạo ở Hà Nội đã phải lắm ngỡ ngàng khi phải nhìn thấy hình ảnh Chu Ân Lai “mớm cơm” Kissiger ở Thượng Hải vào năm 1972, rồi quan cảnh “thân tình thân thiết” giữa Mao Trạch Đông và Nixon cùng các lãnh đạo của hai nước Mỹ-Trung trong những hội họp và tiệc tùng ở Bắc Kinh ngay sau đó, những “vị khách quí của Trung Quốc” mà chỉ vài ngày trước đây được hai nước xã hội chủ nghĩa Trung Quốc và Việt Nam gọi là “kẽ thù chung”.

Cũng như nhờ vào “thành quả của sự xúi dục Hà Nội đánh Mỹ, đánh phá Miền Nam” mà Trung Quốc đã thỏa được nguyện vọng là “kéo Mỹ đến lại gần để nói chuyện bang giao” và để dàn xếp những chuyện lợi ích liên quan cho nhau.

Ngay sau đó thì Mỹ đã cho oanh tạc Hà Nội dữ dội để “dằn mật trước khi ra đi” và Hà Nội đã phải điều đình để vay mua trên 500 hỏa tiển phòng không SAM của Nga để có thể đối phó với B52. Món nợ khổng lồ này nay cả nước đang phải trang trải bằng sự hợp tác cho khai thác các giếng dẩu ở Biển Đông. Nghĩa là cả Trung Quốc và Nga đã hăng hái chi viện cho Hà Nội “chiến đấu” là đều có “lý do lợi ích ở Biển Đông”.

Bao nhiêu sinh mạng người dân và tài nguyên ở hai miền đất nước Việt Nam đã phải hy sinh để cho ngày nay Trung Quốc được ngang nhiên ra chiếm cứ Biển Đông và trả nợ cho Nga. Phải chăng chỉ có con đướng đau thương này để đi đến sự thống nhất đất nước. Nhất là phải còn đày đọa người dân dưới cái ách cộng sản ác nghiệt và lỗi thời..Trách nhiệm về sai lầm lãnh đạo, dù ở thời đại nào, rồI cũng sẽ được lịch sử xét xử phân minh về sau này.

Có thể ngày nay một sốcác lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhận thấy được các sai lầm sơ đẳng hay cũng là các sơ suất ấu trĩ của họ trong việc lãnh đạo đất nước trước đây đã làm cho nước nhà phải đi vào tình trạng chinh chiến điêu linh rồi phài “mất Biển Đông cho Trung Quốc”.

Nguyên do chỉ là vì quá dại khờ, nhưng khó thẳng thắn chấp nhận việc sai lầm này trước người dân. Bởi vì, trên quá trình lịch sử của đất nước cho đến nay, với bản chất lòng dạ của những người cộng sản, việc thành thật chấp nhận các sai lầm trong đường lối lãnh đạo thường không được thực hiện trước người dân. Thay vào đó, sự đàn áp hãm hại các công dân có ý kiến chống lại sự cai trị độc tài của họ thì lại được cho tăng cường áp dụng.

Phải Cùng Toàn Dân Lấy Lại Và Gìn Giữ Non Sông

Trước sự ngang ngược của Trung Quốc trong việc ngang nhiên bành trướng chiếm cứ Biển Đông và sự bạc nhược của các lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay trong việc kháng cự lại Trung Quốc để gỉn giữ đất nước, người dân Việt Nam không còn mong đợi được gì nữa ở đảng Cộng Sản Việt nam.

Bởi vì, trước sự việc và tình hình nghiêm trọng cho đất nước như vậy, nhưng các lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam thì một mặt vẫn cho tiếp tục các phương cách đối phó một cách bạc nhược và chậm chạp bằng cách chỉ “nói phản đối cho có chuyện” như đã thấy hiện nay. Một mặt khác thì lại cho tăng cường trấn áp bằng cách bắt giam và hãm hại các công dân đòi hỏi nhà nước cộng sản Việt nam phải cương quyết việc bảo vệ non sông.

Trước tình hình như vậy, chúng ta chỉ còn phương cách là phải cùng toàn dân thấu hiểu sự quí báu của giang sơn gấm vóc mà ông cha chúng ta đã khổ công gầy dựng để tận tâm tận lực ra sức gìn giữ bảo vệ các phàn đát biền đảo và vùng biển đang bị Trung Quốc chiếm cứ ngày nayy.

Có nghĩa chúng ta phải cùng toàn dân luôn luôn tận lực kêư gọi nhắc nhở việc này cho các lớp trẻ trong và ngoài nước. Dù biết rằng các lớp trẻ trong nước đang bị “bóp nghẹt để chùn chân” trong ý thức tranh đấu cho đất nước. Dù biết rằng các lớp trẻ ở ngoài nước, do bối cảnh và môi trường sinh hoạt ở nước ngoài, có phần khó khăn trong tiếp cận với tinh thần tranh đấu cho đất nước.

Đièu chắc chắn là chúng ta không thể có binh lực to lớn như Trung Quốc được. Nhưng, để dối phó hiệu quả với sự xâm lăng của Trung Quốc, chúng ta phải chứng tỏ có lòng đoàn kết yêu nước thương nòi cao hơn họ. Chúng ta phải chứng tỏ cho Trung Quốc và cả thế giới biết rõ được điều này Và chúng ta phải cùng toàn dân cương quyết phản kháng sự bạc nhược và sai lầm lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt nam trước Trung Quốc.

Có làm được như vậy thì chúng ta mới có thể cùng toàn dân làm ra được các sách lược tranh đấu và chương trình hành động hữu hiệu để lấy lại và gìn giữ các vùng biển đảo đang bị kẽ thù xâm chiếm. Mà trước hết là việc phải loại bỏ các thành phần thân Trung Quốc, bọn làm tôi tớ cho Trung Quốc, trong hang ngũ lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. Bọn họ đang nối giáo cho giặc.

Trước bài học đau thương mà Tây Tạng đã phải hứng chịu, chúng ta phải cùng toàn dân luôn luôn tâm niệm là nếu chúng ta không đồng tâm mạnh dạn cùng nhau kháng cự mãnh liệt trước kẽ thù, thì một ngày nào đó, không riêng gì các biển đảo ở Hoàng sa và Trường sa và các vùng biển của chúng ta ở Biển Đông bị mất đi luôn mà là cả giang sơn đất nước Việt nam của chúng ta cũng có thể trở thành một Tây Tạng thứ hai trước kẻ thù Trung Quốc.

Võ Ngọc Phước

Post Reply