Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

LÀM THINH

(Tiểu Tử )
Cái làng nhỏ đó nằm gần biển Manche, cách thành phố Etretat (miền bắc nước Pháp ) độ 10 km. Trong làng có chừng năm chục nóc gia nằm chùm nhum lại thành một khu, trừ một cái nhà nằm rời xa một mình về phía biển. Người trong làng gọi cái nhà đó là " nhà ông Lê ".

Cách đây mấy năm, ông Lê - người Việt Nam độ 40 tuổi - từ Paris ra đây mua lại cái nhà đó để làm nhà nghỉ mát. Mùa hè và các ngày lễ lớn, ông đưa vợ con - vợ người Pháp và hai con trai chín mười tuổi - ra đây đổi gió và lâu lâu ông cho bạn bè mượn năm bảy hôm. Ông có mướn một người trong làng - tên Jean Marie - trông nom nhà cửa và cắt tỉa vườn tược cây trái.

Mới đầu, người trong làng cứ tưởng ông Lê là người Tàu. Cho nên, họ hơi dè dặt. Chừng biết ổng là người Việt Nam, họ cởi mở hơn, thân thiện hơn. Làm như, đối với họ, người Tàu là người ngoại quốc xa lạ, còn người Việt Nam thì ít nhiều gì cũng đã từng được xem là người .. trong nhà ! Họ càng có cảm tình với ông Lê khi biết rằng ổng qua Pháp học từ hồi mười lăm tuổi, rằng ổng tốt nghiệp trường Arts et Métiers, rằng ổng làm chức lớn trong cơ quan Nhà Nước .v.v .. Họ hay nói với nhau:"Vợ chồng ông Lê thật dễ thương".

Vùng này cao hơn mặt biển hai ba chục thước mà cuộc đất lại không lài lài xuống lần khi ra gần biển như ở những nơi khác, nên không có bãi. Ở đây, biển đâm thẳng vô bờ, loại bờ đá dựng thiên nhiên sừng sững như một bức tường cao thật cao. Những ngày biển động, sóng đập vào chân tường đá nghe ầm ầm. Vì nhà ông Lê nằm cách bờ đá dựng không xa, nên vào những ngày đó, từ trong nhà nghe âm vang tiếng sóng giống như những tiếng thở dài ..

Hè năm đó, ông Lê và gia đình ra đây nghỉ mát chỉ có ba tuần thay vì một tháng như thường lệ. Ông nói với ông Jean Marie - người quản gia - rằng phải trở về Paris để đón cha mẹ từ Việt Nam qua. Ông Jean Marie hỏi ông có định đưa ông bà cụ ra đây chơi không thì ông Lê trả lời rằng không, bởi vì ông bà cụ mới xuất ngoại lần đầu tiên nên phải đợi một thời gian cho quen với khí hậu phong thổ.

Vậy mà chỉ mươi ngày sau, thấy ông Lê chở ra đây một ông già tóc trắng với hai va-ly hành trang. Người quản gia nghĩ:"Chắc định ở lâu nên mới mang hành trang nhiều như vậy". Ông Lê giới thiệu:"Đây là cha tôi. Còn đây là Jean Marie, quản gia". Sau đó, ông nói:"Trong thời gian cha tôi ở đây, tôi xin nhờ bà Jean Marie lo dùm việc nấu nướng giặt giũ giống như những lúc gia đình tôi ra đây nghỉ mát. Có điều là cha tôi không thể đi chợ ở Etretat như chúng tôi vẫn làm lâu nay, nên tôi nhờ ông bà lo giùm luôn vụ này. Đổi lại, tôi sẽ tăng tiền thù lao của hai ông bà lên mười phần trăm. Tôi xin ông bà chấp nhận cho".

Sau khi gọi điện thoại về nhà bàn tính với vợ, ông Jean Marie bằng lòng. Tiếp theo đó, ông Lê trao cho ông Jean Marie một số tiền và nói:"Đây, tôi gởi ông bà một tháng tiền chợ. Tôi dự trù dư dả phòng khi cha tôi cần mua những gì khác, nhưng nếu thấy thiếu thì điáO‡n thoại cho tôi hay để tôi gởi ra thêm. Mỗi cuối tháng, tôi sẽ gởi tiền để gối đầu cho tháng kế tiếp, ông bà yên tâm". Ông Jean Marie hỏi:"Còn bà cụ đâu ? Sao không cùng ra đây với ông cụ ?". Ông Lê trả lời như không trả lời:" Mẹ tôi ở Paris". Rồi sau khi nói mấy lời cám ơn ông Jean Marie, ông bắt tay từ giã người quản gia và ông già tóc trắng để trở về Paris, vội vã như không muốn vấn vương gì nữa ! Thấy ông Lê đối xử với ông già tóc bạc như là một người quen thường, ông Jean Marie vừa ngạc nhiên vừa bất nhẫn, bởi vì ông nhận thấy rõ ràng ông già tóc bạc đó và ông Lê thật sự giống nhau như hai cha con ..

Ông già ở trong nhà ông Lê như một cái bóng. Ông không xem tê-lê, không nghe ra-đi-ô. Ông cứ ngồi ở xa-lông hút thuốc liên miên, mắt nhìn thẳng ra cửa kiếng hướng về phía biển, giống như đang coi một cái gì ở ngoài đó. Ở ngoài đó không có gì hết ! Không có một cái cây, không có một lùm bụi. Cỏ dại cũng không mọc cao. Mặt đất trống trơn chạy thẳng ra bờ đá dựng. Từ chỗ ông ngồi, nhìn ra chỉ thấy đất và trời. Lâu lâu, vài con hải âu bay phớt ngang, và lâu lâu trên nền trời trong xanh của mùa hè, một sợi mây đi lạc .. Chỉ có bao nhiêu đó, vậy mà ông cứ ngồi nhìn, nhìn đăm đăm ..

Mới đầu, ông bà Jean Marie cứ tưởng rằng ông già không biết nói tiếng Pháp. Nhưng sau mấy lần hỏi han thấy ông trả lời trôi chảy mạch lạc, ông bà mới yên tâm. Có điều là hỏi thì ông mới trả lời chớ không thấy bao giờ tự ông gợi chuyện. Suốt ngày, ông làm thinh. Cần dùng gì thì ông viết ít chữ rồi gắn trên mặt tủ lạnh. Ông bà Jean Marie thấy vậy cũng ráng giữ ý không làm tiếng động khi quét dọn hay đi ra đi vào. Nhiều khi, họ có cảm tưởng như trong nhà không có ai hết ! Chỉ có mùi khói thuốc là nhắc đến sự hiện diện của ông già ..

Ông già đó tên Lê Tư. Hồi thời trước - cái thời mà miền nam Việt Nam chưa biết mùi cộng sản - ông Tư là một nhà thầu xây cất rất có bề thế ở Sàigòn. Ông giao du rộng, lại "biết cách giao du", thêm giỏi tính toán sắp xếp nên ông trúng thầu nhiều công trình lớn của Nhà Nuớc và của các công ty ngoại quốc. Do đó, càng ngày ông càng nổi tiếng và sự nghiệp thì cứ nhân lên gấp năm gấp mười. Dù vậy, ông không bao giờ chối bỏ cái gốc hàn vi của ông và rất tự hào đã bắt đầu bằng hai bàn tay trắng.

Ông thường nói:" Hồi tôi từ Đà Nẵng vô Sàigòn, tôi chỉ có một chiếc xe đạp cũ và cái nghề thợ hồ. Ban ngày đạp xe đi làm, ban đêm đạp xe đi học thêm ở Trung Tâm Văn Hóa Pháp và hội Việt Mỹ. Hồi thời đó, quanh năm suốt tháng , tôi chỉ biết có thắt lưng buộc bụng, ăn uống kham khổ, để dành tiền gởi về cho cha mẹ ở Đà Nẵng và để đóng các học phí. Vậy mà tôi vẫn không ngã lòng. Lúc nào trong đầu tôi cũng nghĩ rằng phải cố gắng vươn lên, bởi vì không ai giúp mình bằng mình hết. Nhờ vậy mà bảy tám năm sau, tôi đã có một cơ sở vững chắc để cạnh tranh với các nhà thầu khác. Rồi thì xây cất hết công trình này đến công trình khác, có khi hai ba công trình cùng một lúc, cơ sở cứ lớn lần lớn lần để trở thành bề thế như ngày hôm nay. Nghe tôi nói tôi bắt đầu sự nghiệp bằng con số không chẳng có mấy ai tin hết ".

Khi đã khá giả, ông mới cưới vợ. Ông hay nói đùa:" Tình phải có tiền đi theo nó mới vững. Giống như bê-tông phải có cốt sắt nó mới bền !"

Ông bà Lê Tư chỉ sanh có một người con trai đặt tên Lê Tuấn. Năm Tuấn được mười lăm tuổi, ông gởi con qua Pháp học. Ông muốn nó học ngành kiều lộ để sau này trở về nối nghiệp ông. Ông nói :"Việt Nam mình cạnh tranh không nổi với hãng thầu ngoại quốc bởi vì mình có binh mà thiếu tướng". Và ông hy vọng trong tương lai, con ông sẽ thực hiện những công trình vĩ đại, vượt trội hẳn những gì ông đã làm. Để cho ông được nở mặt.

Cái tương lai đó bỗng tắt ngúm chỉ trong một thời gian ngắn sau ngày 30 tháng tư, 1975 ..

Trước cái ngày đen tối đó, một người như ông Lê Tư dư sức để di tản dễ dàng. Vậy mà không thấy ông nhúc nhích. Ông cứ điềm nhiên hút thuốc, uống trà, xem truyền hình, nghe ra-đi-ô. Giống như một kẻ bàng quan. Bà Lê Tư thì cứ đi ra đi vô, hết gọi điện thoại cho bà bạn này đến gọi cho bà bạn khác. Rồi thúc giục ông đi di tản. Bà nói :

- Trời ơi ! Mấy bả đi hết rồi kìa !

Ông cười :

- Thì ai sợ cứ đi. Bà yên tâm. Tôi bảo đảm không có sao hết. Nói thiệt với bà, "họ" đã liên lạc với tôi cách đây hơn tháng, nói rõ rằng họ cần dùng những người như tôi để xây dựng lại đất nước. Cho nên, bà thấy tôi không ? Tôi bình chân như vại !

Điều mà ông không nói cho bà biết là từ bao lâu nay, ông vẫn đều đặn gởi tiền giúp cách mạng qua ngả thằng cháu - cũng gốc liên khu năm như ông - đang hoạt động ở mấy tỉnh miền Đông. Chính người cháu đó đã cho người về gặp ông để giải thích rõ ràng chủ trương đường lối của cách mạng. Nhờ vậy, ông mới vững tâm tin tưởng.

Đâu dè, sau khi cách mạng "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", cách mạng quay về đánh tư sản. Ông Lê Tư cũng "bị" mời đi "làm việc" như mọi người. Ông có xuất trình giấy chứng minh của liên khu bảy, là vùng ông đã giúp đỡ, nhưng lá "bùa" đó không linh ! Ông cũng có nghĩ đến thằng cháu cách mạng, nhưng bây giờ ông không biết nó ở đâu để gọi nó đến làm chứng. Vì vậy, ông vẫn bị mời tới mời lui để "làm việc". Mỗi lần làm việc, họ quay ông như .. con dế ! Đến nỗi về sau, mệt mỏi quá, chán chường quá, thấy nói gì cũng vô ích, nên ông bèn làm thinh, mặc cho họ muốn nói gì thì nói, hỏi gì thì hỏi. Rồi đến lần "làm việc" cuối cùng , ông cũng làm thinh ký tên trên xấp giấy tờ họ đưa ra, ông ký mà không thèm đọc qua một chữ ! Lần đó, ông bước ra khỏi cơ quan, có cảm tưởng như đang sống trong một thế giới khác, một thế giới .. lộn ngược ! Ông không còn khái niệm không gian thời gian. Ông chỉ biết rằng sau cái phút ký tên đó, ông trắng tay. Và ông còn nghe trong đầu câu nói ơn nghĩa "nhờ ông đã sớm giác ngộ cách mạng nên không phải đi cải tạo". Ông lái xe về nhà như một người máy. Ông đâu biết rằng trong cuộc " đổi đời vĩ đại " này, con người đâu còn sống bằng lý trí : con người chỉ sống bằng bản năng thôi !

Về đến trước cổng nhà, bỗng nhiên ông Lê Tư nhận thức rằng tất cả những gì trực thuộc về ông bây giờ chỉ còn lại người vợ đang đợi ông ở nhà ..

Xưa nay, mọi việc trong gia đình đều do ông quyết định. Bà Lê Tư luôn luôn làm theo ý của ông, không bao giờ thắc mắc. Bởi vì bà hoàn toàn tin tưởng vào người chồng mà lúc nào bà cũng cảm phục như một thần tượng. Bà nói :"Từ bàn tay trắng dựng nên sự nghiệp đồ sộ như vầy, không phải ai làm cũng được !". Và bà thường ví chồng bà như một cây cau vững chắc để bà bám vào đó như một giây trầu .. Vậy mà bây giờ .. bây giờ .. Ông Lê Tư không biết ví mình như cái gì nữa. Cách mạng mà ông đã giúp từ ngày ông dựng nghiệp, hôm nay nhân danh gì gì đó, đã biến ông thành con số không. Dễ dàng như người ta cầm nùi giẻ bôi hết những hàng chữ phấn trên một bảng đen, bôi mà không cần biết những hàng chữ đó viết những gì ! Chỉ trong có một khoảnh khắc, ông chẳng còn gì hết và bản thân ông cũng không là gì hết ! Ông đã trở thành một "thứ gì" đó không có tên, một sản phẩm của cách mạng mà sách vở xưa nay chưa thấy có định nghĩa !

Ông bước vào nhà mà cảm thấy mình lêu bêu như bọt nước, không làm chủ được gì hết, kể cả làm chủ chính bản thân mình ! Cái biệt thự có hồ tắm vườn hoa, có năm ngăn bảy nắp, mà ngày xưa ông đã xây cất cho tương xứng với địa vị xã hội của ông .. bây giờ bỗng trở nên ngạo nghễ, vô duyên.

Nhà vắng teo. Một số gia nhân đã xin nghỉ việc từ những ngày sôi động, số còn lại đã được cho nghỉ ngay sau ngày 30 tháng tư. Bà Lê Tư chắc đang làm gì ở dãy nhà sau nên ông không nghe tiếng động. Ông đốt điếu thuốc rồi ngồi xuống phô-tơi nhìn thẳng ra vườn. Ông nhìn mà không thấy gì hết ! Yên lặng ..

Tiếng bà Lê Tư làm ông giựt mình :
- Sao ông ? Họ đòi gì nữa vậy ?
- Họ đâu có đòi. Họ lấy.
- Lấy gì ?
- Lấy hết tài sản của mình.

Giọng bà bỗng cao lên một nấc :
- Lấy hết tài sản ?
Ông nhìn bà rồi trả lời bằng cái gật đầu. Giọng của bà lại cao thêm một nấc :
- Gì lạ vậy ? Tự nhiên rồi đòi lấy tài sản của người ta. Đó là ăn cướp chớ đâu phải lấy ! Rồi ông trả lời làm sao ?

Ông thở mấy hơi thuốc, rồi mới nói :
- Thì tôi giao hết lại cho họ chớ còn làm sao ?
- Bà chỉ kêu lên được một tiếng "Trời" rồi ngồi phịch xuống ghế, mắt nhìn thẳng ra vườn. Bà nhìn mà cũng không thấy gì hết ! Yên lặng ..

Một lúc sau, ông nói, giọng thật trầm tĩnh :
- Bà nghĩ coi. Bây giờ họ là kẻ chiến thắng. Quyền sanh sát nằm hết trong tay, họ muốn nói gì làm gì mà không được.
- Còn luật pháp để đâu ?
- Luật pháp của ai ?

Bà làm thinh. Một lúc sau, bà nói :
- Hôm trước ông nói họ đã móc nối với ông để ông ở lại giúp họ xây dựng gì gì đó. Sao bây giờ họ lột hết của ông vậy ?

Ông làm thinh. Khói thuốc trong miệng bỗng trở nên thật đắng. Ông nghe thèm một hớp trà hay một hớp nước lạnh, hay bất cứ một chất lỏng nào cũng được .. để ông nuốt xuống " cái gì đó" đang nghẹn ngang ở cổ. Ông dụi điếu thuốc rồi đi lại bar ở góc xa-lông rót một ly nhỏ Porto uống ực một cái, giống như người ta bị mắc xương. Xong ông trở lại phô-tơi ngồi xuống, đốt điếu thuốc. Chất rượu đang nồng trên mũi, nhưng sao khói thuốc vẫn còn nghe thật đắng !

Giọng bà Lê Tư có vẻ trách móc :
- Chớ phải ông nghe lời tôi đi di tản như thiên hạ thì đâu có sao.
- Đi di tản cũng mất hết chớ hơn gì.
- Sao mất hết được ? Ông quen lớn nhiều mà không hốt được một mớ đem đi theo à ? Có nhiều người còn gởi được bàn ghế và vô số đồ cổ nữa. Như anh X., như anh T., như ông tướng Z .. toàn là bạn thân của ông không.

Ông làm thinh. Bà vẫn nói, càng nói giọng càng gay gắt :
- Thà rằng mình đi, cái gì không đem theo được là mình bỏ. Tụi nó có lấy, cũng là lấy những gì mình bỏ. Chớ còn bây giờ, tụi nó bóp họng ông để lấy, bộ ông không thấy tức sao ?

Ông làm thinh. Ngừng một lúc như để suy nghĩ, rồi bà nói một câu giống như bà đóng sập cánh cửa sắt để nhốt ông trong một nhà tù :
- Chẳng bằng ông muốn ở lại để giúp cách mạng chớ gì ? Phải không ?

Ông nuốt nước miếng mấy lần, rồi tiếp tục làm thinh. Bây giờ, ông thật sự thấy mình như bọt nước trôi lêu bêu, không bám được vào đâu hết ..

Chiều bữa đó, cách mạng đưa đến mười mấy thanh niên trai gái và một toán bảo vệ cầm súng để làm công tác kiểm kê. Họ bắt mở hết các hộc, các kệ, các tủ .. để họ đem ra đếm từng món, không bỏ sót một nơi nào hết, một món nào hết. Đêm, họ ngủ lại trong nhà ông Lê Tư để sáng sớm hôm sau họ tiếp tục. Xong công tác kiểm kê, người cán bộ chỉ huy chỉ định một nhóm bốn người ở lại để canh giữ những gì đã kiểm kê, sợ ông bà Lê Tư .. ăn cắp mang đi ! Gã còn nói như ra lịnh :

- Từ hôm nay trở đi, anh chị phải dọn ra nhà sau để ở, không được bước lên đây nữa. Anh chị cũng không được quyền sử dụng chiếc ô-tô bây giờ thuộc diện quản lý của Nhà Nước. Khi ra vào nhà, anh chị phải dùng cái cổng hậu, không được đi bằng cổng chánh. Rõ chớ ?

Ông Lê Tư làm thinh. Bà Lê Tư cũng làm thinh. Nhưng hai sự làm thinh đó không cùng một ý nghĩa : ông làm thinh vì biết rằng có nói gì cũng vô ích còn bà làm thinh là vì bà hận ông vô cùng !

.. Từ ngày dọn xuống ở trong một nhà phụ - có ba dãy nhà phụ trước đây dùng cho gia nhân - và từ ngày biết rằng văn phòng, các kho vật liệu, kho dụng cụ cơ giới, biệt thự ở Núi Lớn Vũng Tàu, các chương mục ở ngân hàng .. v.v. đã hoàn toàn nằm trong tay Nhà Nước, bà Lê Tư ít nói chuyện với ông. Nhưng hầu như ngày nào bà cũng ngồi nói một mình, nói trổng, cố tình nói lớn tiếng để cho ông "phải" nghe. Bà cứ lải nhải với giọng trách móc chanh chua, hết chuyện tin lời cách mạng, đến chuyện mất hết của cải, rồi bắt qua chuyện di tản, chuyện ở "chui rút" trong nhà của bếp của bồi .. Còn ông thì cứ làm thinh ngồi nghe, nghe riết mà tóc của ông càng ngày càng bạc trắng !

Thời gian đi qua .. Một hôm bà bỗng nói với ông :
- Tôi đã nhờ người quen trong toà đại sứ liên lạc được với thằng Tuấn ở Paris. Nó sẽ lo giấy tờ cho mình qua bển.

Bây giờ, mọi sự đều do bà quyết định, ông chỉ làm thinh đi theo. Bây giờ, người chồng " thần tượng" của thời trước chỉ còn là một cái bóng ! Bây giờ, bà mới là thân cây cau, còn ông , ông chỉ là một thứ giây trầu .. Đúng là một sự "đổi đời vĩ đại" !

Ít lâu sau, chính bà đã chạy chọt đút lót để có xuất cảnh cho hai vợ chồng bay qua Paris, vào giữa mùa hè năm đó.

.. Ông Lê, người con trai của ông bà Lê Tư, đến đón ông bà ở phi trường Charles De Gaulle. Gặp lại nhau, mừng mừng tủi tủi. Ông Lê Tư có cảm tưởng như mình vừa sống lại. Ông ôm con siết mạnh, rồi buông ra để nhìn. Lòng tràn sung sướng, ông vừa cung tay đấm nhẹ lên vai con, vừa chửi đổng :" Cha mày !". Rồi tiếp :" Ba tưởng không còn gặp lại con nữa chớ !" Trong một khoảnh khắc, ông tìm lại được lời nói và cử chỉ của một con người bình thường, con người của thời trước tháng tư 1975 ..

Trên đường về nhà, ông Lê vừa lái xe vừa hỏi về những chuyện đã xảy ra ở Việt Nam trong những ngày sôi động của tháng tư, nhứt là ở đoạn "mấy thằng Mỹ kéo nhau chạy sút quần". Nghe lời nói và giọng điệu của con, ông Lê Tư cảm thấy có "cái gì không ổn", nhưng ông nghĩ :" Có lẽ tại nó ở bên nây lâu quá nên nó nói tiếng Việt không biết chọn lời". Rồi ông kể lại những điều mắt thấy tai nghe. Người con lâu lâu khoái chí, vỗ tay lên tay lái, gục gặc đầu :" Cho tụi nó chết!"

Bỗng người con hỏi :
- Còn mấy thằng tướng ngụy ?

Câu hỏi đó như một ánh sáng bật lên trong bóng tối để ông nhìn thấy rõ sự thật: không phải con ông không nói rành tiếng Việt mà là con ông nghiêng về phía bên kia, cái phía đã lật lọng, ăn cháo đá bát, cái phía đã lấy hết tài sản của ông một cách ngang nhiên trắng trợn ! Trời đất chung quanh bỗng như sụp xuống ! Tuy nhiên ông vẫn trả lời:

- Mấy người đó thì ba không biết.
- Tụi nó chạy ra đảo Guam hết. Thằng chủ chạy thì thằng tớ phải chạy theo chớ dám ở lại đâu. Tưởng ba biết gì kể lại nghe chơi chớ ở bên nây báo chí tê-lê nói đầy đủ. Trên tê-lê thấy nhiều thằng tướng ngơ ngác như bầy gà nuốt giây thun !

Người con nói xong cười lên khoái trá. Ông Lê Tư nghe giận phừng lên mặt ! Ông đưa tay định xáng cho thằng con một cái, nhưng ông kềm lại kịp. Ông bỏ tay xuống mà nghe ngực mình tức ran. Tự nhiên, ông ứa nước mắt. Từ phút đó, ông làm thinh. Thấy như vậy, tưởng cha bị mệt vì cuộc hành trình quá dài nên ông Lê cũng không hỏi tiếp.

Bà Lê Tư ngồi ở băng sau, không chen vô một lời. Bà cảm thấy rồi đây sẽ không thể nào ở chung với một thằng con như vậy được. Bà đã tưởng đi ra khỏi xứ để khỏi phải thấy hằng ngày những chuyện trái tai gai mắt, nào ngờ qua đây gặp thằng con không biết học ở đâu mà ăn nói giống "tụi nó" y chang ! Nhưng không sao. Rồi bà sẽ mua nhà ở riêng. Bà dư sức. Với số hột xoàn mà bà đã cất giấu sau 1975 và bây giờ đang nằm an toàn trong cái giỏ mây hai đáy bà ôm trong lòng, bà dư sức. Cho dù bà phải cưu mang suốt phần đời còn lại ông chồng mà bà đã không còn coi là thần tượng nữa, từ lâu ..

Về đến nhà - ở Neuilly Sur Seine, khu nhà giàu - ông Lê giới thiệu vợ con rồi đưa cha mẹ lên phòng trên lầu, nói :
- Ba má nghỉ một chút rồi xuống ăn trưa.

Bữa ăn được dọn lên từng món theo phong cách tây phương. Vợ ông Lê hỏi han lễ độ và kín đáo chăm sóc ông bà Lê Tư. Hai thằng con ông Lê - giống mẹ hơn giống cha nên ít thấy lai Việt - không biết một tiếng Việt. Chúng ăn nhanh nhanh. Xong món thứ nhì, chúng không đợi món kế tiếp, vội vã rút lên phòng. Suốt bữa ăn, câu chuyện chỉ vây quanh mấy món ăn nấu theo tây, bởi vì ông Lê khoe có bà bếp giỏi. Bà bếp, người Pháp, có bước ra chào ông bà Lê Tư ..

Nhờ vậy, không khí trong bữa ăn không đến nỗi nào tẻ lạnh.

Sau bữa ăn, vợ ông Lê vì tế nhị, muốn để cho chồng và cha mẹ nói chuyện riêng với nhau, nên xin phép lên lầu. Bà dặn chồng :
- Anh không nên nói chuyện nhiều. Ba má chắc cần phải ngủ vì sai giờ giấc. Mình còn nhiều thì giờ mà ..
Khi bước qua xa-lông để uống cà phê, ông Lê hỏi :
- Ba má định qua đây ở chơi bao lâu ?
Ông Lê Tư châu mày, nhìn bà. Bà trả lời :
- Ba má định qua ở luôn chớ đâu phải ở chơi.
Người con ngạc nhiên :
- Ủa ? Sao lại ở luôn ? Bây giờ nước nhà độc lập rồi, không còn thằng nào ngồi trên đầu trên cổ mình hết. Tất cả đều thuộc về mình, không còn sợ thằng ác ôn nào cướp giựt nữa. Như vậy mà ba má định bỏ xứ qua đây ở luôn. Thiệt là vô lý !

Hồi nãy, trên xe về đây, ông Lê Tư còn nghĩ rằng thằng con ông chỉ nghiêng về phía bên kia. Bây giờ thì quá rõ ràng : nó đã đứng hẳn về phía bên đó. Ông nghe lòng quặn thắt : chẳng những cách mạng đã cướp hết tài sản của ông, mà tụi nó còn cướp luôn thằng con duy nhứt của ông, cướp từ hồi nào rồi ..

Ông Lê Tư làm thinh. Bà Lê Tư hơi mất bình tĩnh:
- Tại con không biết. Tụi nó lấy hết tài sản của ba má rồi còn đuổi xuống ở căn nhà của bồi, rồi lại bắt không được đi cổng chánh phải đi cổng hậu. Bây giờ tụi nó sợ mình không chấp hành chỉ thị nên kéo kẽm gai cô lập căn nhà ba má ở. Con nghĩ coi sống làm sao ?
- Buổi đầu lúc nào chẳng có chuyện sai sót. Rồi cách mạng sẽ trả lại hết cho ba má, yên tâm đi ! Điều mà con muốn nói là chưa chi mà ba má đã muốn bỏ xứ ra đi giống như bè lũ đĩ điếm trộm cắp tháo chạy mấy ngày trước giải phóng .. làm con thấy không hãnh diện chút nào hết !

Câu nói chưa dứt, ông Lê Tư đã đứng phắt dậy, làm thinh đi thẳng lên lầu. Bà Lê Tư cũng nối gót, nhưng bước chân bà nặng chình chịch. Đứa con máu mủ mà bà mới ôm hun thắm thiết hồi nãy trên phi trường, bây giờ bỗng giống như người xa lạ. Bà cảm thấy hụt hẫng đến độ bà không biết phải làm gì, nói gì. Đến giữa cầu thang, kềm không được, bà ôm mặt khóc tức tưởi ..

Suốt buổi chiều, ông Lê Tư ngồi trong phòng làm thinh hút thuốc. Ông không nghe buồn ngủ, ông chỉ nghe mệt - thật mệt và chán chường - thật chán chường. Ông bắt gặp lại tâm trạng của ông vào những ngày cuối cùng của thời ông bị cách mạng quay hằng bữa để ông kê khai tài sản một cách "đầy đủ và trung thực" !

Bà Lê Tư cũng không ngủ. Bà điện thoại để liên lạc mấy bà bạn đã định cư ở Pháp, nhứt là ở vùng phụ cận Paris. Rồi bà hẹn hò .. Sung sướng như thấy chân trời đang mở rộng.

Sau bữa ăn tối, đợi bà Lê và hai con lên lầu, bà Lê Tư nói :
- Chị bác sĩ A. sáng mai lại rước má về nhà chỉ chơi vài bữa. Sau đó, có lẽ sẽ qua nhà bà dược sĩ L . Ở đây, má có nhiều bạn bè lắm, con đừng lo cho má. Con chỉ cần lo cho ba thôi.

Ông Lê Tư nhìn thẳng mặt con, giọng nghiêm trang :
- Ba nói thật : ba với con không hạp nhau. Ba không thể ở chung với con được. Ba xin con cho ba ở một nơi nào khác, ở một mình cũng không sao.

Ông nói "xin con cho ba" , đó là sự thật. Bởi vì bây giờ ông hoàn toàn trắng tay. Xưa nay, tiền dư ra, ông cho bà một phần để mua hột xoàn, còn bao nhiêu ông chuyển hết qua chưi¡ng mục của người con ..
Ông Lê ngồi làm thinh, không biết ông đang nghĩ gì. Cũng là làm thinh, nhưng sự làm thinh của ông khó hiểu hơn sự làm thinh của ông bà Lê Tư !

Vậy rồi sáng hôm sau, bà bác sĩ A lái xe lại rước bà Lê Tư. Tiếp theo là ông Lê chở người cha ra ở cái nhà nghỉ mát ở gần bờ đá dựng. Suốt cuộc hành trình dài mấy tiếng đồng hồ, hai cha con không nói với nhau một lời !

Từ ngày ra đây ở, ông Lê Tư cảm thấy cuộc đời mình như đang đi vào một ngõ bí. Không sống được với cách mạng, đã đành. Còn lại bà vợ thì bây giờ bả coi mình như cục bứu trên lưng. Rồi đến thằng con, đối với mình, nó còn lạ hơn người xa lạ ! Cứ nghĩ quẩn nghĩ quanh như vậy hết ngày này qua ngày khác mà con người ông sa sút thấy rõ. Bây giờ, ông ốm nhom. Đi đứng đã phải chống ba-toon và đêm đêm cứ phải nằm trằn trọc tới khuya lơ mới dỗ được giấc ngủ. Thấy tội nghiệp, ông bà Jean Marie hay thừa dịp đưa nước trà hay cà phê để ngồi lại gợi chuyện vẩn vơ. Họ cũng ngạc nhiên tự hỏi sao không thấy ai gọi điện thoại hỏi thăm ông già này hết. Làm như ông không có mặt trong cuộc đời này ... Cho nên họ tận tình chăm sóc ông từng chút. Đến nỗi, về đêm, bà Jean Marie thường đợi ông lên giường nằm đàng hoàng mới tắt đèn đóng cửa đi về nhà ! Ông Lê Tư rất cảm kích nên lâu lâu ông phá lệ làm thinh để nói hai tiếng "cám ơn", nhẹ như hơi thở ..

Một hôm, ông Lê Tư bỗng thèm nhìn mặt biển, cái biển mà từ hôm ra đây - đã gần hai tháng - ông chỉ nghe tiếng của nó rì rào ngoài kia thôi. Ông bèn chống ba-toon bước từng bước run run đi lần ra hướng đó. Cứ đi vài bước là ông phải dừng lại một lúc để thở, nhưng ông vẫn cố bước đi ..

Bây giờ thì ông đã đứng trên mép bờ đá dựng. Dưới chân ông, rất sâu phía dưới, là biển. Biển xanh dờn, kéo dài ra chân trời. Trời nước mênh mông. Gió muối và mùi thơm thơm của rong rêu nhắc ông nhớ cái biệt thự ở mỏm núi lớn Vũng Tàu. Ông đã xây cất biệt thự đó để làm nơi tiếp tân nên có một sân gạch thật rộng hướng về phía biển. Ông hay đứng ở đó nhìn chân trời như ông đang đứng nhìn chân trời bây giờ. Cũng trời, cũng nước, cũng một đường gạch ngang. Hồi đó, lúc nào ông cũng thấy chân trời đang mở rộng cho ông, cái hồi mà ông làm chuyện gì cũng thành đạt. Bây giờ, cũng trời, cũng nước, cũng một đường gạch ngang nhưng sao ông không thấy nó mở rộng cho ông một chút nào hết ! Ông chỉ thấy toàn là bế tắc. Chân trời là đường chấm dứt một cái gì : trời cao nghiêng xuống đến đó là hết, biển rộng vươn dài đến đó cũng là hết ! Giống như cuộc đời của ông bây giờCủa cải: hết ! Vợ con : hết ! Sức khoẻ của ông rồi cũng sẽ hết ! Hết ! Hết !

Bỗng, ông Lê Tư liệng mạnh cây ba-toon xuống biển, giống như ông dứt khoát không cần dùng đến nó nữa. Rồi ông hít một hơi dài, nhắm mắt bước thẳng vào khoảng không trước mặt, giống như bước qua một lằn ranh tưởng tượng.

Từ bây giờ, ông Lê Tư làm thinh vĩnh viễn ..

Chiều hôm đó, ông Jean Marie gọi điện thoại về Paris. Không có người bắt máy, nhưng có máy nhắn tin nên ông nhắn : "A lô ! Tôi là Jean Marie. Tôi xin báo tin buồn: ông cụ đã từ trần. Ông đi dạo gần tường đá dựng chẳng may rơi xuống biển. Nhà chức trách đã vớt được xác đem về nhà xác bịnh viện Etretat. Yêu cầu ông bà ra gấp. Vợ chồng tôi xin chia buồn. Thành thật chia buồn .."

Không biết, khi hay tin, vợ con ông có nhỏ cho ông một giọt nước mắt ?


TIỂU TỬ

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

ĐẠP XÍCH LÔ
Trung đã cao lớn lại ham chơi thể thao và tập thể dục đều đặn nên anh ta rất “đô” con. Đi với tụi bạn đồng nghiệp người Pháp hay người da đen, Trung là người Việt Nam mà vóc dạc ngang ngửa với tụi nó. Có đứa nói giỡn: “Thằng này, nó ăn phở không mà nó lớn con như vậy. Nếu nó ăn bánh mì “xúc xích – phô mai” như mình chắc nó thành ông khổng lồ quá!”.

Cách đây hai năm, Trung về thăm Việt Nam. Đó là lần đầu tiên anh về. Tôi không có dịp gặp anh để hỏi thăm. Mãi đến gần đây tình cờ gặp nhau ở khu 13 Paris, anh mới kể cho tôi nghe chuyến về Việt Nam của anh lần đó. Tôi xin ghi lại chuyện nhỏ sau đây …

… Con qua Pháp với ba mẹ hồi con mới năm tuổi, bây giờ về, thấy cái gì cũng lạ ! Cho nên con dành mấy ngày đầu để đi vòng vòng cho biết Sài gòn. Con nhờ anh tiếp viên của khách sạn kêu cho con một anh xích lô bao chạy một ngày.
Vậy là sáng hôm sau, đúng theo lời con dặn, anh tiếp viên gọi con dậy bằng điện thoại cho hay xích lô đang đợi, đồng thời cho biết luôn số tiền thuê bao. Con đếm số tiền rồi để riêng vào một túi quần, con muốn tránh móc bóp đếm tiền trước mặt mọi người sợ bọn lưu manh nó giựt. Con xuống tới quầy thì anh tiếp viên vui vẻ chỉ ra phía trước. Con cám ơn rồi bước ra ngoài.

Thấy con, ông xích lô đang ngồi chồm hổm trên vỉa hè vội vã đứng lên chấp tay chào. Tự nhiên, con khựng lại, mặc dù ông ta đang đón con bằng một nụ cười rạng rỡ.
Bác biết không ? Ổng già khú, ốm nhom, nhỏ xíu. Cái nón vải đen ổng đội, đã rách bươm. Còn bộ đồ trên người ổng, con không biết tả làm sao cho bác thấy. Nó là cái áo bà ba xanh dương vá chầm vá đụp và không còn hai ống tay ! Còn cái quần ka-ki là loại quần dài đã bị xé mất hai khúc ống cỡ ngang đầu gối, một bên cao một bên thấp.
Đó ! Ông xích lô của con đó ! Bác coi : con như vầy thì nỡ lòng nào lên ngồi cho ông già ốm nhom đó đạp xe đưa con đi. Mà liệu ổng có đạp nổi một ngày cho con xem chỗ này chỗ nọ không ?
Con định hồi không đi nhưng nghĩ lại tội nghiệp ông già. Cái cười tươi rói của ổng cho thấy là ổng đang “ trúng mối lớn ”.

Con bước lại bắt tay ổng, móc túi đưa tiền, nói :
- “Đây, tiền công của bác trọn ngày nay đây !”.
Ổng mừng rỡ, móc trong lưng ra một túi vải miệng có dây rút, run run tay mở ra cho tiền vào.
Con hỏi :
- “Bác không đếm sao ?”.
Ổng cười, nhìn con :
- “ Khỏi ! Hổng lẽ cậu như vầy mà đi ăn gian tui sao ?”.
Rồi ổng xăng xốm chạy lại kềm phía sau xe, mời:
- “Cậu lên ngồi, đi !”.
Con lắc đầu:
- “Không! Bác lên ngồi đi, để tôi đạp!”.
Nụ cười của ổng tắt mất:
- “Ủa! Gì kỳ vậy?”.
Con giải thích:
- “Tôi như vầy mà để cho bác đạp, coi sao được!”.
Ổng vỗ vỗ lên yên xe:
- “Tôi đạp được! Bảo đảm! Cậu đừng lo! Cậu lên ngồi đi!”.
Con nghĩ chắc ổng sợ con chê ổng rồi không đi, lấy tiền lại, nên con ôn tồn nói:
- “Bác yên tâm. Bác cứ giữ số tiền tôi đưa, rồi lên xe ngồi. Tôi đạp từ từ”.
Ổng bắt đầu nhìn con nửa ngạc nhiên nửa hốt hoảng. Để khỏi cù cưa, con bước lại đưa hai tay cặp eo ếch của ổng nhấc bổng lên đặt vào chỗ ngồi của khách. Ổng nhẹ đến nỗi cái xe không nhúc nhích! Rồi con trèo lên đạp đi. Ông già cứ nhìn ngược về phía sau, lo lắng:
- “Cậu liệu được không cậu?”.
Con vui vẻ trả lời cho ông yên tâm:
- “Được mà … Dễ ợt hà!”.
Con men theo lề đường đạp chầm chậm để tránh luồng xe chạy ồ ạt trên lòng đường. Thiên hạ nhìn con chở ông già, cười nói chỉ trỏ. Ông già ngồi không yên, lâu lâu ngoáy nhìn lại coi con ra sao! Có lẽ vững bụng nên không nghe ổng nói gì hết.
Một lúc sau bỗng ổng la lớn:
- “Quẹo mặt! Quẹo mặt! Khúc này cấm xe xích lô!”.
Từ đó, ổng chỉ cho con chạy:
- “Từ từ … Đằng trước có xe đậu. Khi nào kềm bằng chân không nổi thì kéo thắng ở dưới đít ….”
Có lúc thấy con xiên xiên định quẹo vô một con đường nằm ngang, ổng la lên:
- “Đừng! Đừng! Đường cấm xe xích lô!” …
Và như vậy, con đạp đi loanh quanh, nhìn ngang nhìn ngửa, yên chí có ông già coi chừng đường nhắc trước con phải làm gì … làm gì … Gần trưa, con tấp vô một quán phở, nói:
- “Mình vô ăn cái gì đi”.
Ổng nói:
- “Cậu vô ăn đi, tôi không đói”.
Con kéo tay ổng để cùng đi vào tiệm, ổng rị lại:
- “Thôi mà cậu! Tôi lạy cậu mà cậu! Cậu để tôi ngồi ngoài này giữ xe!”. Rồi ổng gỡ tay con ra, bước lại vệ đường ngồi chồm hổm bên cạnh xe xích lô, vấn thuốc hút. Trong quán, con nhìn ông già mờ trong khói thuốc sao bỗng nghe bất nhẫn vô cùng. Không còn lòng dạ đâu để ăn phở, con kêu tách cà phê uống đại rồi đi ra.
Thấy con, ổng quăng điếu thuốc, đứng lên vẻ ngạc nhiên:
- “Ăn gì mau vậy cậu?”.
Con nói trớ:
- “Thấy không ngon nên không ăn”.
Rồi con nói tiếp:
- “Bây giờ, tôi trả xe lại cho bác đó! Bác cứ giữ nguyên số tiền tôi đưa hồi sáng, đừng thắc mắc. Tôi đi bộ chơi lanh quanh được rồi”.

Nói xong con bước đi, lâu lâu ngừng coi cửa hàng này cửa hàng nọ. Thấy ông già cứ đạp xe rề rề đi theo, con bèn gọi một xe Honda ôm đang đợi khách ở ngã tư đường, trèo lên “ôm” đi thẳng !

Kể xong, Trung hỏi:
- “Nhà Nước đang có lịnh cấm sử dụng xe xích lô xe ba gác, không biết bây giờ ông già đạp xích lô sẽ sống làm sao, hả bác?”.
Tôi nói: “Ờ … ”. Rồi nín luôn. Một cách trả lời để không trả lời !

Tiểu tử

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tổng thống Argentina chê Viagra

Tổng thống Argentina Cristina Fernandez đã khuyên người dân dùng thịt lợn thay Viagra,
vì bà đã có một kỳ nghỉ cuối tuần thỏa mãn với chồng sau khi dùng món thịt lợn nướng.

Image
Tổng thống Argentina Cristina Fernandez. Ảnh: Xinhua.
"Tôi đã được mách một điều mà mình chưa từng biết, rằng ăn thịt lợn có thể thúc đẩy cuộc sống tình dục của mình", Cristina Fernandez nói với các nhà lãnh đạo trong ngành công nghiệp sản xuất thịt lợn hôm qua. "Tôi có thể nói rằng ăn một miếng thịt lợn ngon hơn nhiều so với uống Viagra".

Bà cũng tiết lộ đã có một kỳ nghỉ cuối tuần với chồng vô cùng thỏa mãn sau khi ăn thịt lợn, "vì vậy điều này hoàn toàn đúng".

Argentina có số người tiêu dùng thịt bò lớn nhất thế giới, nhưng chính phủ nước này đang tìm cách thúc đẩy ngành chăn nuôi thịt lợn do giá cả thịt bò gia tăng và cũng coi đó là một cách để đa dạng hóa ngành công nghiệp.

"Thử nghiệm không tốn kém một chút nào, mọi người hãy thử đi", Fernandez tuyên bố trong bài phát biểu được phát trên truyền hình cả nước.

Diệu Minh

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »


“...Các anh có hãnh diện không?”


Trong bài “Ðêm Của Những Cánh Bướm Việt Ở Malaysia” tuần trước trên Nhật Báo Người Việt, ký giả Ðông Bàn đã vô tình nhắc lại câu nói của giới taxi Kuala Lumpur, rằng “con gái Việt Nam đẹp lắm.” Khốn nạn thay câu nói này cũng đã phát ra từ cửa miệng một ông chủ tịch nước, Nguyễn Minh Triết trước đây. Thủy, một “cánh bướm đêm” tại Beach Club đã cay đắng hỏi lại những người ký giả cùng quê hương với cô: “Người ta nói vậy, các anh có hãnh diện không?”

Câu hỏi này đáng cho chúng ta chảy nước mắt. Lẽ cố nhiên câu trả lời là trăm nghìn lần không! Nhưng có một bọn người hãnh diện với câu rao mời trên, đó là những cái mặt mo như Nguyễn Minh Triết. Mặt mo vì không biết đến nỗi đau xót của thân phận đàn bà, là chị, là em, là đồng bào ruột thịt của chúng ta, vì vô phúc, phải sống dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam, “đem thân cho thiên hạ mua cười” từ xứ sở này đến quốc gia khác. Chúng tôi đánh giá nhân cách của một “con đĩ” hơn các ông chính khách của đảng Cộng Sản nhiều, vì họ còn biết liêm sỉ, còn biết thế nào là tủi nhục cho mình và cho đất nước hơn các ông.
Chuyện khổ đau của phụ nữ Việt Nam và cũng là điều ô nhục của cả dân tộc từ lâu nay đã được các cơ quan truyền thông hải ngoại kể cả trong nước thông tin đầy đủ, tuy vậy nhà cầm quyền Cộng Sản trong nước vẫn ngủ yên ù lì như những con gấu Mùa Ðông, không hề biết đến xót xa, khổ đau của đồng loại. Nói ra thì cũng chuyện thường tình, mà không nói ra, phải nuốt điều uất nghẹn vào lòng cũng là điều không chịu được.
Chỉ trong năm 2000, có khoảng nửa triệu phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị bán qua Trung Hoa, Macao, Ðại Hàn, Cao Miên, Thái Lan và nhiều nước khác. Năm 2003 phụ nữ Việt Nam bị đăng bán đấu giá trên Ebay Taiwan Website với giá bắt đầu là $5,400. Riêng trong năm 2005, theo bản tin của cơ quan UNICEF và Bộ Tư Pháp Việt Nam cho biết có 400,000 phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị bán ra ngoại quốc (10% của tổng số nạn nhân khắp thế giới). Cũng trong năm này, nhiều thiếu nữ Việt Nam bị đem ra trưng bày như món hàng sale, ngồi trong những tủ kính để khách qua lại lựa chọn ở Trade Fair ở Singapore.
Chỉ tính riêng con số phụ nữ Việt lấy chồng Ðài Loan là bao nhiêu? Theo thống kê chính thức Hà Nội, tính đến cuối năm 2003, có hơn 65,000 phụ nữ Việt Nam được cấp giấp phép (!)nhập cảnh vào Ðài Loan để “làm dâu...”, nhưng theo đại diện của chính phủ Ðài Loan ở Sàigòn trong thời gian đó, thì “Hiện nay có khoảng 77,000 cô dâu Việt Nam tại Ðài Loan. Dự tính trong khoảng hai năm nữa con số cô dâu Việt Nam tại Ðài Loan sẽ lên tới khoảng 100,000 người”. Chỉ riêng tại Cần Thơ mỗi năm có khoảng 2,500 phụ nữ lấy chồng Ðài Loan, đó là con số thống kê từ năm 2000 đến 2004, được chính Hội Phụ Nữ Cần Thơ nêu ra. Con số ấy tính đến năm 2010 là bao nhiêu?
Ðàn ông ngoại quốc có thể bỏ tiền mua phụ nữ Việt Nam đem về nước làm người giúp việc không công kiêm nô lệ tình dục, hay cả hai. Tại các cơ sở môi giới, đàn bà đôi khi cầm bảng số đi trình diễn, hay cởi trần truồng cho người mua chọn lựa. Trên danh nghĩa là đi lấy chồng ngoại nhưng khi cô dâu đã theo chồng ra ngoại quốc, họ đã trở thành nô lệ bị giam giữ, không có quyền đi lại vì không có giấy tờ tùy thân, họ cũng có thể làm vợ cho cả gia đình hay bị mua đi bán lại như một món hàng để tiếp tục sa chân vào những ổ mãi dâm. Ðau đớn hơn là số trẻ em Việt Nam hiện nay đang ở trong các động điếm tại Phnom Penh, Kampuchea trong 15 ngàn gái mãi dâm, 52% là thiếu nữ và trẻ em Việt Nam.
Theo nguồn tin địa phương Prague, Tiệp Khắc được hãng thông tấn Việt Nam thuật lại chỉ trong vòng thời gian 15 tháng, các tổ chức mãi dâm đã đưa khoảng 50 cô gái Việt vào nước này. Các cô gái này phải trả từ $5,000 để được đưa lậu từ việt Nam sang với các hứa hẹn là giúp họ tìm được việc làm tại Ðông Âu. Họ có biết trước là sẽ bị đưa vào hang động của các tổ chức mãi dâm hay không, hay dù biết trước, thì đó cũng là lối thoát tốt đẹp nhất mà họ đã chọn.
Cảnh tượng hàng trăm cô gái xếp hàng cho bọn đàn ông Ðại Hàn, Ðài Loan đến xem mắt, lựa chọn đã là chuyện thường tình ở Saigon, đâu có gì mới lạ, không gây khó chịu hay làm ai động lòng xúc cảm. Cả một hệ thống làm tiền trên thân xác còm cõi của những cô gái đáng thương này, từ ma cô, công an, cảnh sát, nhân viên phường khóm cho đến các tổ chức làm giấy tờ xuất cảnh, khám bệnh, chích ngừa... Ðây là một dịch vụ béo bở lâu nay được thả nổi, không được chính phủ kiểm soát hoặc được địa phương làm ngơ để chia chác, thủ lợi, nên Việt Nam loan báo, lần đầu tiên sẽ thành lập một công ty “tư vấn hôn nhân quốc tế” tại Saigon nhằm “bảo vệ quyền lợi của phụ nữ”, nghĩa là nhà nước sẽ điều hành chính thức việc bán phụ nữ ra nước ngoài ở đợ hay làm đĩ.
Tại Việt Nam, nạn mãi dâm bị coi là bất hợp pháp nhưng trên thực tế, tình trạng gái chơi, gái gọi dưới nhiều hình thức, công khai hay giấu kín đã lan tràn, phổ biến. Từ các thành phố lớn cho đến những vùng nông thôn, rừng núi, bãi biển xa xôi ở đâu cũng có nạn mãi dâm. Cuối năm 2002, chính phủ Việt Nam nói là Việt Nam có 14 ngàn gái mại dâm, nhưng con số do giới truyền thông ước tính lại là 37 ngàn người. Con số này, chính quyền lấy ở đâu, phải chăng là trên những con số do địa phương báo cáo lấy lệ hay con số đã đưa vào trại “phục hồi nhân phẩm”? Trong đất nước Việt Nam từ Nam chí Bắc, đâu là không có đĩ điếm, đâu là không có các dịch vụ “ôm”. Phụ nữ Việt Nam hẳn là món hàng rẻ nhất thế giới? Con gái Việt Nam đẹp lắm! Nhưng con gái Việt Nam cũng rẻ lắm -“Người ta nói vậy, các anh có hãnh diện không?”
Con gái Việt Nam quả tình là đẹp, chẳng đẹp sao dám đem phô bày dưới nhãn hiệu “Duyên Dáng Việt Nam” đi trình diễn khắp nơi, không đẹp sao dám tổ chức hoa hậu toàn cầu, hoa hậu quốc gia, hoa hậu Biển, hoa hậu Núi mà người bỏ cả vài nghìn đô la để mua vé vào xem? Con gái Việt Nam đẹp lắm, không đẹp sao đàn ông tứ xứ đểu đổ xô đến Việt Nam để mua dâm hay đem về làm vợ?
Sao số phận đàn bà con gái Việt Nam lại ra nông nỗi này? Tại sao đến nay lại có hiện tượng cả một phong trào con gái Việt Nam coi rẻ nhân phẩm mình, đổ xô chạy theo đồng tiền, ra đi lấy chồng xứ lạ hay tự nguyện bán thân ngay ở trong nước. Ca sĩ, người mẫu, hoa hậu, sinh viên đại học đều có thể là gái bao, gái gọi. Vì sao trước khi Cộng Sản vào miền Nam con gái lấy Mỹ, lấy Phi, lấy Tây... đều bị xã hội lên án và coi rẻ. Còn bây giờ con gái lấy Ðài Loan, Ðại Hàn đều hãnh diện, tự hào. Người ta nêu ra những nguyên nhân kinh tế: gia đình khó khăn (78.94%), thất nghiệp (65.5%), cần tiền để giải quyết những nhu cầu trước mắt (62.56%), và do tâm lý hãnh diện được lấy chồng ngoại quốc (47.1%).
Tôi mạn phép xin nhắc lại, lời một đứa bé Việt Nam ăn xin ca cẩm, mà tôi đã viết trên trang này: “Ngoại ơi ngoại! Ngoại cho con 5,000 đồng, con cầu nguyện Bà cho con gái ngoại lấy được chồng Ðài Loan! Ngoại ơi ngoại! Ngoại cho con 5,000 đồng, con...”
Chỉ có một xã hội nền đạo đức suy đồi mới xẩy ra những thảm họa như thế.
- “Con gái Việt Nam đẹp lắm! Người ta nói vậy, các anh có hãnh diện không?”
Qua cuộc đời bất hạnh, khốn nạn của những người con gái Việt Nam sinh lầm trong chế độ, phải bán thân đi mười phương, câu hỏi này đáng ném vào mặt bọn lãnh tụ hôm nay. Câu hỏi khiến cho những người còn chút liêm sỉ phải đau lòng, nhưng bọn chúng thì không?
Tôi xin lập lại: “Chúng tôi đánh giá nhân cách của một ‘con đĩ’ hơn các ông chính khách của đảng Cộng Sản nhiều, vì họ còn biết liêm sỉ, còn biết thế nào là tủi nhục cho mình và cho đất nước hơn các ông”.
Huy Phương

============ ========= ========= ========= ========= ========= =

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Thấy Được Những Huyền Bí Bên Kia Cõi Chết
Qua Hiện Tượng Hàn Mặc Tử

Cả ngàn trường hợp những người đã được các bác sĩ chứng nhận là đã chết thực sự rồi vì một lý do huyền bí nào đó bổng dưng sống lại, đã được bác sĩ Raymond Moody thu góp trong cuốn "Đời Sau" (Life After Life) xuất hiện năm 1975. Tôi đã tìm đọc trước hết vì tò mò muốn biết những điều bí ẩn về hiện tượng này. Nhưng trong lòng thì vẫn hồ nghi, không biết những kết luận của bác sĩ Moody có thực không, hay cũng chỉ do phản ứng thuốc và cơ thể lúc hấp hối, vì óc cũng như các tế bào đang chết mà nảy sinh ảo giác và những hình ảnh như kiểu "nảy đom đóm mắt" vậy.

Nhưng rồi cái tò mò này dẫn tôi đi xa hơn. Về những thay đổi kỳ lạ và bất ngờ nơi những người như thế, mà cụ thể là Hàn Mặc Tử.
Hàn Mặc Tử là một nhà thơ thiên tài và thần bí. Thơ của ông chất chứa những ý tưởng và hình ảnh lạ lùng vượt qua ngôn ngữ loài người. Bí ẩn gì đàng sau hiện tượng này? Những vần thơ tuyệt tác của ông do tài năng riêng hay do một nguồn huyền bí nào khác? Đời sống của ông đã từ những vật vã cô đơn cùng độ đến những cảm nghiệm hút hồn đầy hoan lạc. Điều gì lạ vậy?

Được Ánh Sáng Biến Đổi (Transformed by the Light)

Đó là tựa đề cuốn sách do cuộc nghiên cứu nhiều năm bằng phương pháp khoa học của bác sĩ Melvin Morse về hiện tượng những người chết sống lại, mới được xuất bản (Villard Books, 1992), sau sự thành công của chương trình nghiên cứu khác tại Seattle trong cuốn Gần Ánh Sáng Hơn (Closer to The Light, Ivy Books 1990). Thực ra thì bác sĩ Raymond Moody đã thu góp, phân tích và đưa tới những kết luận chung về những trường hợp trên từ lâu, nhưng chưa mang tính cách khoa học như của bác sĩ Melvin Morse xác nhận trong cuốn "Được Ánh Sáng Biến Đổi": "Tôi muốn chứng minh một cách khoa học những điều mà những người nghiên cứu khác chỉ phỏng đoán, xem những người chết sống lại được thay đổi như thế nào..." (trang 29)

Đã chết thật khác với tình trạng hôn mê bất tỉnh. Tôi đã có dịp nói chuyện với một người quen, đã bị hôn mê cả tháng trời sau khi mổ, thì không thấy có hiện tượng như trường hợp chết đi sống lại, mà chỉ có những cơn mơ dài. Vì tình trạng hôn mê vẫn chưa phải là chết thật. Những gì xẩy ra trong thời gian một người đã thực sự chết rồi sống lại? Có người chết 5 phút, có người chết nửa giờ. Cả mấy trăm trường hợp như vậy được khảo sát bằng phương pháp khoa học đàng hoàng. Tất cả mọi trường hợp trên đều có 4 điểm chính:

1. Hồn ra khỏi xác: Bay lơ lửng trên không nhìn xuống xác của mình, thấy rõ mọi người và mọi sự đang xẩy ra trong khung cảnh mình vừa tắt thở. Thấy các y tá và bác sĩ chạy hối hả. Thấy những người thân yêu đang khóc...

2. -ng tối dài: Sau đó hồn như bị hút vào một cái ống dài thật tối đen với một tốc độ nhanh kinh khủng. Betty Eadie kể lại kinh nghiệm của chính mình trong cuốn "Được Ánh Sáng Ấp Ủ" (Embraced by The Light, Gold Leaf Press 1992): Đây đúng là thung lũng bóng tối sự chết" (trang 39) như Kinh Thánh đã từng nói tới.

3. Nguồn sáng: Bỗng thấy một nguồn sáng xuất hiện đầy yêu thương và an bình. Ánh sáng này thật sáng nhưng không chói mắt. Có người cảm nghiệm thấy Chúa, có người thấy Đức Mẹ Maria... "thấy tắm trong ánh sáng và thấy một bà mầu nhiệm mặc áo trắng đến cầm tay nâng đỡ tôi" (trang 191). Lúc đó hồn được soi sáng nhìn lại và thấy tất cả cuộc đời của mình hiện lên trong một nháy mắt. Giáo lý vẫn gọi là phán xét. "Tôi thấy tôi là chính những người tôi xúc phạm, và cũng là chính những người tôi giúp đỡ". Lời thuật này làm chứng lời Chúa trong Phúc Âm Thánh Gioan: Chúa không sai Con của Ngài xuống để luận phạt thế gian mà là để cứu rỗi; ai đi trong bóng tối thì đã tự luận phạt rồi.

Rồi hồn sung sướng sửa soạn bước vào vùng ánh sáng thì lại nghe rõ lệnh: Chưa phải lúc, hãy trở về. Thế là sống lại. Tất cả đều không thích trở lại như vậy. Cũng có một số trường hợp, thay vì gặp vùng ánh sáng yêu thương, thì lại gặp vùng đen tối hiện hình như quỉ sứ trong biển lửa thật sợ hãi, như bác sĩ Raymond Moody thuật lại trong "Ánh Sáng Muôn Năm" (Light Beyond, Bantam Books 1989, trang 26-27).

Betty Eadie tả kỹ về cảm nghiệm nguồn ánh sáng: "Bây giờ thì tôi biết có Chúa thật. Không còn chỉ tin vào một lực vũ trụ, mà tin vào một Đấng đàng sau sức mạnh đó. Tôi thấy Đấng đầy yêu thương đã dựng nên vũ trụ và đặt mọi khôn ngoan vào đó. Tôi thấy Ngài điều khiển trí khôn ngoan và sức mạnh này. Tôi thấy trực tiếp rằng Chúa muốn chúng ta trở nên giống như Ngài, và Ngài cho chúng ta những đặc tính giống như Chúa, như óc tưởng tượng và sáng tạo, ý chí tự do, trí thông minh, và nhất là khả năng yêu thương... " (trang 61). "Tôi cảm nhận tình yêu của Chúa vô điều kiện, vượt trên mọi tình yêu trần thế... Và tôi được ấp ủ trong cánh tay của ánh sáng vĩnh cửu này" (trang 53).

Được biến đổi: Bác sĩ Morse cho biết: "Tất cả mọi trường hợp đều được biến đổi sau khi đã gặp ánh sáng này... Họ trở nên đầy nhiệt lực và dễ thương hơn, đôi khi họ được sức cảm thụ lạ về những lãnh vực tâm linh trước kia không hề biết" (trang 6). Một số người biết trước truyện sẽ xảy ra trong tương lai hay ở xa "Họ ít sợ hoặc không sợ chết nữa, vì họ biết có một cuộc sống mới. Một số người tự nhiên thông minh hơn ra nhiều... biết nhiều nguyên lý toán học ngay cả về nguyên tử... thuyết tương đối của Einstein... phát triển nhiều khả năng tâm linh..." (trang 9-10).

Tất cả những cái thấy trên đây đều được bác sĩ Melvin Morse chứng nghiệm là có thật, chứ không phải do phản ứng của thuốc hay cơ thể lúc chết do ảo giác vì thiếu dưỡng khí hay vì những thần kinh óc bị hủy hoại. (xem Được Ánh Sáng Biến Đổi trang 194). "Cảm nghiệm ánh sáng không thể tự tạo ra được, mà chỉ có thể có được ở điểm chết hoặc nơi những thị kiến tâm linh rất đặc biệt... Sự thay đổi mạnh nhất và kéo dài lâu nhất được thấy nơi những người đã trông thấy ánh sáng này" (trang 197).

Hàn Mặc Tử Đã Chết Mấy Lần Và Đã Thấy Gì?

Trong thơ Hàn Mặc Tử, có nhiều ý tưởng và hình ảnh kỳ lạ khó hiểu. Một vài người vội nghĩ ngay đó chỉ là những tưởng tượng hay bám víu vào niềm tin cho khuây khỏa cơn bệnh, hay chỉ là những kiểu chơi chữ cho bay bướm cao siêu. Nhưng qua những khảo cứu và những khám phá khoa học trên thì chắc chắn ai cũng phải nhận rằng những ý tưởng và hình ảnh này đúng là của một người đã chết, đã thấy nhiều điều huyền bí từ "cõi chết" (phải nói là cõi sống thật mới đúng), rồi sống lại trở về kể lại như một lời chứng.

Sự kiện đầu tiên được Nguyễn Bá Tín trong "Hàn Mặc Tử Anh Tôi" thuật lại. Hồi nhỏ Hàn Mặc Tử rất ham chơi. Hết thích bắn ná cao su thì sang bắn súng, rồi quần Anh và tắm biển, nhất là thời gian gia đình ở Qui Nhơn. "Có lần cả hai anh em xuýt chết vì lội ra quá xa bờ, khi vào bị gió nồm quá mạnh, anh Trí đuối sức gần ngất đi, phải nằm ngửa cho gió đẩy vào bờ. Trông anh sợ hãi khác thường, thần sắc ngơ ngác, như không còn trông thấy gì nữa. Anh thều thào: "Ở Huế, bơi qua cầu Bạch Hổ bị rong quấn chân kéo chìm không lội được, mà sao ít sợ hơn bữa ni". Rồi anh lẩm bẩm nghe như: Đức Mẹ... Đức Mẹ... Tôi tưởng anh cầu nguyện. Trông anh khác lạ đi, tôi càng hoảng sợ: anh không còn giống anh nữa, với đôi mắt lạc thần. Từ đó, anh không tắm biển nữa, sợ nước, ít hoạt động, nói năng nhỏ nhẹ như sợ ai nghe. Thường ngồi khoanh tay nghe hơn là nói, thân thể gầy sút đi. Nhiều lúc như xuất thần, anh không hay biết gì chung quanh, nhất là lúc anh ngâm thơ, giọng như run run đau đớn" (trang 20-21).

Thật lạ lùng, các diễn tiến trong thơ Hàn Mặc Tử cũng giống hệt như 4 điểm chính trong khảo sát của bác sĩ Melvin Morse:

Đã Thoát Hồn Ngoài Xác

Hàn Mặc Tử đã thấy gì hôm đó? Trong "Ánh Sáng Biến Đổi" bác sĩ Morse thuật lại một truyện xảy ra của Jim cũng suýt chết đuối ở bờ biển California y như trường hợp Hàn Mặc Tử, mà ông gọi là "fear death" (chết vì quá sợ ):

"Khi thấy càng bị đẩy xa bờ hơn, tôi quá sợ hãi, và càng đạp mạnh hơn. Bỗng tôi thấy mình bay lên trên không khí nhìn xuống tôi đang bơi, giống như có hai cặp mắt cùng nối vào một óc... Rồi tôi được tràn ngập bởi một nguồn sáng, như mây bao phủ quanh tôi. Tôi thấy thích thú... Bỗng tôi trở lại thân xác tôi. Tôi nghĩ rằng tất cả cảm nghiệm này kéo dài khoảng một phút". (161-162)

Ánh sáng trong trường hợp Hàn Mặc Tử ở bờ biển Qui Nhơn được biểu hiện là chính Đức Mẹ Maria, mà sau này được ghi lại trong bài Thánh Nữ Đồng Trinh Maria:

Maria, linh hồn tôi ớn lạnh
Run như run thần tử thấy long nhan
Run như run hơi thở chạm tơ vàng
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến.


Chính Nguyễn Bá Tín cũng xác nhận điều này: "Anh xúc động đến rơi lệ và thì thầm cảm tạ được ơn cứu thoát trong tai nạn đó" (Hàn Mặc Tử Anh Tôi, trang 82).

Lạy Bà là Đấng tinh truyền thanh vẹn
Giàu nhân đức giàu muôn hộc từ bi
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.


Và ít nhất ba chỗ trong cuốn "Hàn Mặc Tử", Ông Trần Thanh Mại có nhắc tới việc Hàn Mặc Tử chết đi sống lại trong thời gian bệnh đã nặng: đôi ba lần (trang 55, 80) rồi bốn năm lần (trang 136).

Chính Hàn Mặc Tử đã ghi lại:

Toan ngất đi trong cơn mê khoái lạc
Mẹ dấu yêu liền vội đền tay nâng.
...
Anh đã thoát hồn anh ngoài xác thịt
Để chập chờn trong ánh sáng mông lung.
(Sáng láng)


Trong Kinh Thánh, Thánh Phaolô có lần kể lại chuyện về chính mình bị ném đá chết ngất đi tại Lystra: "Tôi sắp kể về các cuộc thị kiến và khải minh Chúa ban cho tôi. Tôi biết có một người trong Đức Kitô, cách đây mười bốn năm (hồn còn ở trong xác hay đã ra ngoài xác tôi không biết, có Thiên Chúa biết) được bốc lên tầng trời thứ ba; và tôi biết người đó (hồn còn ở trong xác hay đã ra khỏi xác tôi không biết, có Thiên Chúa biết) đã được bốc lên Thiên Đàng và được nghe thấy những tiếng nói mà người thường không có thể cũng không được phép phát ra. Đó là người tôi muốn khoe chứ tôi đây thì khoe làm gì, vì chỉ thấy những điểm kém hèn. Giả tỉ tôi nhất định khoe thì cũng chớ ai cười tôi là khùng, vì tôi nói đúng sự thực; nhưng tôi sẽ không nói nữa, vì những vụ thị kiến kia quả là vĩ đại khác thường, tôi sợ vì đó mà có người đánh giá tôi cao hơn những tư cách họ mắt thấy tai nghe ở nơi tôi" (2Co 12:1-6).

Hồn Bay Vùn Vụt

Nhất là trong "Hồn Lìa Khỏi Xác", Hàn Mặc Tử đã diễn lại y như bác sĩ Melvin Morse đã khảo sát trong giai đoạn sau khi chết bị hút vào ống tối dài, mà Betty Eadie tả là thung lũng bóng tối sự chết:

Há miệng cho hồn văng lên muôn trượng
Chơi vơi trong khí hậu chín tầng mây
Ánh sáng lạ sẽ tan vào hư lãng
Trời linh thiêng cao cả gợi nồng say.
Vì không giới nơi trầm hương vắng lặng
Nên hồn bay vùn vụt tới trăng sao
Sóng gió nổi rùng rùng như địa chấn
Và muôn vàn thần phách ngả lao đao...
Rồi hồn ngắm tử thi hồn tan rã
Bốc thành âm khí loãng nguyệt cầu xa
Hồn mất xác hồn sẽ cười nghiêng ngả
Và kêu rêu thảm thiết khắp bao la...
Đêm nay ta khạc hồn ra khỏi miệng
Để cho hồn bớt nỗi bi thương
Nhưng khốn nỗi xác ta đành câm tiếng
Hồn đi rồi không nhập xác thê lương.
Tắm Gội Ở Trong Nguồn Ánh Sáng


Thấy ánh sáng muôn năm là yếu tố then chốt trong thiên tài nghệ sĩ sáng tác của Hàn Mặc Tử. Ông thấy và diễn tả lại một cách trung thực. Không phải như một luận đề, suy diễn, hay kết luận của hệ thống giáo lí nào cả, mà là một thực chứng. Nhiều khi ông điên cả lên vì cảm thấy như vậy mà không làm sao dùng ngôn ngữ loài người mà diễn đạt nổi. Cái điên trong tập "Thơ Điên" không nhất thiết vì quá đau đớn, mà vì cái xốn xang như trong "Kêu Gọi":

"Ý còn ở trong lòng thì rạo rực xốn xang, khi phô phang lên giấy thì tê dại, ngất ngư, như không có chút gì là rung động nữa... Lòng ta hừng hực mỗi khi nắng hanh lên. Ấy là dấu hiệu mùa thơ đã chín. Gặt hái cho mau, kẻo ngọn thơ càng cao, người thơ càng điên dại... " (Chơi giữa mùa Trăng, trang 27-28).

Nguồn ánh sáng mà Hàn Mặc Tử thấy là một ngôi vị Thiên Chúa tình yêu, chứ không phải là một lực vũ trụ vô vi, vô vị nhạt nhẽo. Là chính Chúa Giêsu trong cảm nghiệm của thánh Phaolô trên đường Đa-mát: "Đương khi còn đi đường, khúc đó đã gần tới Đa-mát ngay trước cổng mở vào thành, chợt ông trông thấy có ánh sáng từ trời bủa xuống bao kín chung quanh ông. Ông ngã xuống đất, và nghe thấy có tiếng bảo rằng: Sau-lô, Sau-lô, sao nhà ngươi bách hại ta hoài? Ông hỏi: Ngài là ai? Tiếng nói trả lời: Ta là Giêsu..." (TĐCV 9:3-5).

Cảm thông và kết hợp với Thiên Chúa là một tương giao rung động con tim chứ không phải như kiểu tượng muối trở về hòa tan trong biển cả là cội nguồn mình. Đó là một tương giao thân tình kiểu "I - Thou" trong tâm tình của Buber.

Và như Betty Eadie, Hàn Mặc Tử thấy hồn sung sướng được ấp ủ trong Tình Yêu:

Ai tới đó mà chẳng nao thần trí
Tòa châu báu kết bằng hương kỳ di.
Của Tình Yêu rung động lớp hào quang
...
A ha hả, say sưa chê chán đã
Ta là ta hay không phải là ta?
Cò gì đâu cả thể với cao xa
Như cội rễ của trăm ngàn đạo hạnh.
(Siêu Thoát)


Và trong bài "Ngoài Vũ Trụ", hồn thơ còn thấy rõ hơn:

Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền
Không u tối như cõi lòng ma qủi
Vì có Đấng Hằng Sống hằng ngự trị
Nhạc thiêng liêng dồn trỗi khắp u linh.
...
Tình thơm tho như ngấn lệ còn nguyên
Ta ước ao đầu đội mũ triều thiên
Và tắm gội ở trong nguồn ánh sáng.
Được Biến Đổi: Quy Tụ Thâu Về Một Mối


Nhiều người trong cuộc khảo cứu của bác sĩ Melvin Morse, sau khi chết đi sống lại, đã trở nên khác lạ với những khả năng cảm thụ đặc biệt. Trường hợp Olaf trong "Được Ánh Sáng Biến Đổi" thì thấy: "đang trôi trong vũ trụ vô bờ bến... Vũ trụ như những bọt xà bông đang qui về trọng tâm theo một hình thái phức tạp, nhưng tôi hiểu được trọn vẹn, thấy được mọi sự đều có nghĩa... cảm thụ được toàn thể vũ tru..." (trang 12-13).

Hàn Mặc Tử cũng đã được khả năng lạ lùng này, là thấy mọi trắng đen đỏ vàng, buồn vui, trầm bổng cuộc đới không phải là những mảnh vỡ vô nghĩa hay những cù lao trôi nổi phi lý, mà đều qui tụ thâu về trong một mối, mang trọn ý nghĩa trong một chương trình mầu nhiệm như lời Kinh Thánh: "Chúng ta biết rằng mọi sự đều đi liền với nhau sinh ích cho những ai được Chúa yêu thương, tức là những người được Chúa kêu gọi theo chương trình của Người" (Roma 8:28).

Cái thấy này cũng đang phù hợp với những khám phá mới nhất về khoa học vật lý. Từ nhãn quan vật lý cá biệt "những cù lao" của Newton đến thuyết tương đối của Albert Einstein, và bây giờ là "quantum physics", dịch thoát là "vật lý vũ trụ nhất thể", mọi sự xuất phát và "qui tụ thâu về trong một mối", đều liên hệ tới nhau vì chia sẻ cùng một lực sống.

Hàn Mặc Tử đã tả lại cái thấy này trong bài Siêu Thoát:

Những cù lao trôi nổi xứ mênh mang
Sẽ qui tụ thâu về trong một mối.
Và tư tưởng không bao giờ chắp nối
Là vì sao? Vì sợ kém thiêng liêng
Trí vô cùng lan nghĩ rộng vô biên
Cắt nghĩa hết những anh hoa huyền bí
Trời bát ngát không cần phô triết lý
Thơ láng lai chấp chóa những hàng châu
Ta hiểu chi trong áng gió nhiệm mầu?
Những hạt lệ của trích tiên đầy đọa.


Làm Một Nhà Văn

Tất cả những cái thấy trên đúng là như vẽ ra cảnh thiên đàng trong hình ảnh Kinh Thánh qua các thị kiến của các tiên tri và Khải Huyền, thật lạ lùng vượt qua sức hiểu biết con người, nhưng có thực, giống như cái thấy của thánh Gioan: "Tôi thấy một trời mới và một đất mới, cảnh trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến dạng, cả biển cũng không thấy đâu. Tôi thấy thành thánh, thành Giêrusalem mới, từ Thiên Chúa trên trời hạ xuống, xinh đẹp như một tân nương trang điểm chờ chồng. Rồi tôi nghe có tiếng lớn phán ra từ bảo tòa: Ngươi có thấy đô thị này chăng? Tại đây Thiên Chúa sống giữa loài người. Người sẽ đặt trụ sở của Người giữa chúng; và chúng sẽ là thần dân của Người, và chính Người sẽ là Thiên Chúa của họ, đúng như mấy chữ Thiên-Chúa-Ở-cùng-họ. Người sẽ lau mắt họ cho ráo lệ sầu, sẽ không còn chết chóc, không còn tang chế hay là buồn rầu nữa. Thế giới cũ đã qua" (Khải Huyền 21:1-

4). Với cái thấy đã một lần cảm nghiệm, Hàn Mặc Tử đã diễn ra thành những vần thơ tuyệt tác có một không hai trong nền văn học Việt Nam, và của nền tu đức Công Giáo. Ông nhìn cuộc sống và mọi sự, ngay cả con người cùi của mình, với một nhãn quan mới chan hòa ánh sáng chứ không u ám vật vã như trước nữa.

Ông Thái Văn Kiểm trong bài nói chuyện tại giáo xứ Paris dịp giỗ 50 năm Thi Hào Hàn Mặc Tử ngày 11.11.1990 đã có những nhận xét: "Nhà thơ của chúng ta bẩm thụ được cái thiên tư cao quí là nhìn thấy được cái hư ảo, cảm được cái vô lượng và nghe được sự yên lặng của vô thủy vô chung". "Nơi đây vang dội những lời cầu nguyện, những hương lạ mê ly, những âm thanh kỳ diệu, tất cả chìm ngập trong bể hào quang và trong tinh hoa của thi vị". Vì "theo Hàn Mặc Tử, thi ca là một sáng tạo thuần túy của Thượng Đế, và để báo đáp công ơn đó, thi sĩ phải là kẻ xướng thánh ca, cảm thông với thượng Đế, ca ngợi chân thành sự nghiệp thiêng liêng và vinh quang bất diệt của Người. Thi sĩ là gạch nối, là trung gian ưu tú giữa Hóa Công và nhân loại". Đức Tin tuyệt đối nơi Thượng Đế đã giúp Hàn Mặc Tử trải qua những thống khổ nơi trần gian, đồng thời hoàn bị thi ca của chàng đến mức độ cao siêu và thành tựu".

Hàn Mặc Tử đã làm chứng đức tin bằng thơ văn về những gì huyền bí đã thấy bằng thực chứng qua những lần chết đi sống lại. Đọc thơ Hàn Mặc Tử, thì một người ngoài Công Giáo cũng nhận ra có linh hồn, có thung lũng "ngục tổ tông" bóng tối sự chết, có phán xét, có thiên đàng, có hỏa ngục, có buồn có vui, mọi sự sẽ "qui tụ thâu về trong một mối", và nhất là có Chúa là nguồn Ánh Sáng Tình Yêu.

Có nhiều người Công Giáo viết văn, làm thơ, nhưng chỉ khi nào chuyển được sứ điệp Chúa Kitô, của Thập Giá và Phục Sinh, thì mới có được những nhà văn, nhà thơ Công Giáo như Hàn Mặc Tử. Đúng như lời Hoài Thanh đã nhận xét trong Thi Nhân Việt Nam: "Thơ Hàn Mặc Tử ra đời, điều ấy chứng rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đã tạo ra một cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ. Tôi tin rằng chỉ những tình cảm có thể diễn ra thơ mới thiệt là những tình cảm đã thấm tận đáy hồn đoàn thể" (trang 212)
.
LM. Dũng Lạc Trần Cao Tường

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Image
Luân Vũ, Âm nhạc- sự thủy chung tuyệt đối
Dù quen biết anh đã khá lâu, giữa anh và tôi luôn có một khoảng cách vô hình khó hiểu. Tôi đổ tội cho bản tính bảo thủ, khô khan của mình đã không chấp nhận được cách phục sức táo bạo của anh. Và cũng chính sự cố chấp, độc đoán, tôi đã đánh mất cả một thời gian quá dài để có cơ hội biết được một con người, một đời sống đầy thanh âm, sắc màu.

Anh sinh ra trong gia đình nghệ sĩ. Bố anh là một họa sĩ nổi tiếng. Tuy nhiên, ông không muốn cho con mình nối nghiệp hội họa, sợ ông trời sẽ không bao dung cho cả hai thế hệ cùng một lúc. Bố Luân Vũ muốn anh phải tìm cho mình một chỗ đứng trong nghệ thuật, bất cứ lãnh vực nào.

Khi anh vừa chào đời, trên con đường từ bệnh viện về nhà, ôm đứa con trai chờ mong vào lòng, ông hân hoan, hớn hở... Một điệu luân vũ nhảy múa trong ông. Và, anh đã được mang tên Luân Vũ khởi đi từ thanh âm rộn rã, vòng quay nối nhau, bước chân mở hội, đón chào đứa con khởi từ tình yêu của một tài hoa Trịnh Cung và một người đàn bà yêu mê âm nhạc là Mẹ anh.

Trước ngày Luân Vũ đón chào cuộc đời, cha mẹ anh đã có một cháu gái. Khi hai chị em vừa tập tễnh bước vào trường học cũng là lúc họ đã được làm quen với những nốt nhạc đầu tiên. Bố anh đã có công mở cánh cửa tinh khôi dắt tay anh bước vào thế giới âm nhạc, nhưng người đã giúp anh sống trong thế giới đó thật thủy chung lại chính là Mẹ anh.

“Em biết không, Việt Nam muỗi quá nhiều nên mỗi lần anh tập đàn, Mẹ anh đã ngồi bên cạnh để quạt cho anh.” Hình ảnh đó đã đi theo anh suốt 30 năm. Luân Vũ kể lại thời thơ ấu của mình. Khác với những đứa trẻ khác, thời thơ ấu của anh không có trò chơi trẻ thơ, không có tiếng cười đùa nghịch ngợm. Luân Vũ rất thích đá banh, anh kể, khi còn bé, mỗi lần bạn anh đứng ngoài cửa rủ đi chơi, thì lập tức trong nhà vang lên tiếng nài nỉ, “Tụi con đi chỗ khác chơi, bác xin tụi con, tụi con để yên cho thằng Bờm tập đàn!” Ðiểm đáng ngạc nhiên là, khi kể lại những chuyện này, Luân Vũ không hề tỏ vẻ tiếc nuối một tuổi thơ, Bờm có vẻ rất hài lòng, hãnh diện với những lời rầy la của Mẹ.

Tiếng đàn ò e ò e mỗi sáng, là nỗi phiền hà của lối xóm. Mẹ anh phải tìm cách làm dịu sự bực tức của láng giềng. Phần anh, lúc ấy còn rất bé, nhưng cũng ý thức, và nhiều nhất là lòng thương Mẹ phải áy náy với những người chung quanh. Cái đứa bé 7 tuổi kia đã nghĩ ra được một cách.

Anh nói, “Em biết không, anh đã tìm được một chỗ thích hợp cho việc tập đàn, trong phòng tắm! anh vào phòng tắm, đóng kín cửa lại, nhúng chân vào xô nước, để trừ việc bị muỗi cắn, mà tiếng đàn lại càng hay hơn vì có tiếng echo.”

Anh kể lại giọng bình thản, trong khi tôi nghe như có muối xát vào lòng. Anh làm tôi thương cảm, tội nghiệp. Tôi chỉ mong anh nhỏ lại, còn tôi thì già đi, để có thể ôm anh vào lòng, thương mến, chở che. Cái sáng kiến vào phòng tắm tập đàn, chẳng giúp được anh dài lâu, anh cũng chỉ được an ổn trong một thời gian ngắn, cho đến một hôm, anh chưa kịp tập đàn thì ngoài cửa nhà anh, có ai đó treo một tờ giấy, “Bờm, nếu mày còn đàn lớn, tụi tao sẽ đánh cho mày chết luôn.”

Cũng may bản án của lũ trẻ trong xóm đã không được thực hiện. Năm 1982 Luân Vũ và chị thi đậu vào Nhạc Viện với số điểm khá cao. Tuy nhiên, đến năm 1989 khi bước vào bậc trung cấp, dù đạt điểm rất cao, anh vẫn không được vào bảng A, lý do đơn giản, theo đúng chữ của họ, anh là con Mỹ Ngụy. Và, đó cũng chính là ngày buồn bã nhất trong cuộc đời của anh. Luân Vũ được tin mẹ anh mang bịnh ung thư. Hai tình yêu lớn nhất trong đời anh, Âm Nhạc và Mẹ, vụt khỏi tầm tay.

Dù gì thì anh vẫn không bỏ cuộc. “Mẹ anh đã quá khó nhọc để cho anh học đàn, anh đâu thể bỏ được!” Luân Vũ nhấn mạnh với tôi. “Như vậy, phải chăng anh yêu đàn, vì anh quá yêu Mẹ?” Tôi hỏi. Anh cười.

Người Việt Nam thường nhắc đến những đứa trẻ chào đời trong thời chinh chiến, lớn lên trong một xã hội đổ nát nghèo nàn, ít nhiều, chúng cũng bị ảnh hưởng cuộc sống mà chúng không hề lựa chọn. Tuy nhiên, theo tôi, Luân Vũ là một người may mắn. Dù Luân Vũ đã sinh ra và lớn lên trong giai đoạn đó, nhưng anh lại tìm được cho mình một nơi ẩn trú, rất riêng, trong âm nhạc.

“Lúc vui cũng như khi buồn, cây đàn luôn bên cạnh anh. Cây đàn đã chia sẻ với anh biết bao nhiêu kỷ niệm trong cuộc sống!”

Cây đàn của Luân Vũ, một vật, mà, không ít người, trong thời điểm sau chiến tranh, cho đó là món xa xỉ phẩm. Món hàng xa xỉ phẩm đã là người tình, thật thủy chung, đối với Luân Vũ trong suốt ba mươi năm. Luân Vũ kể, “Bố mẹ anh đã khó nhọc tiết kiệm từng đồng để mua cho anh cây đàn, hỏi sao anh không quý cho được.”

Ðược hỏi về kỷ niệm với cây đàn, Luân Vũ kể, “Hồi anh 7 tuổi, một hôm ra sân xem đá banh, đến khi quay lại không thấy cây đàn đâu cả. Anh nghĩ chỉ có cách bỏ nhà đi mà thôi, anh không dám quay về nhà. Thế rồi anh lang thang, và thật là kỳ diệu, lúc đi ngang hàng bán đồ cũ, anh thấy một người đàn ông đang lau chùi cây đàn của mình. Anh đến xin lại nhưng ông kia đòi một cây vàng, trong khi gia đình anh lúc bấy giờ cơm không có ăn. Bố anh gom góp đồ trong nhà giá trị chỉ một chỉ vàng để chuộc lại cho con. Nhà coi như bó tay thì may quá, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói để ông can thiệp. Vậy là anh có lại cây đàn, và điều quan trọng nhất là anh không phải bỏ nhà ra đi, không phải xa Mẹ. Anh mang ơn người nhạc sĩ tài hoa.”

Hình như đối với anh, đàn không những là cầu nối cho anh đến với âm nhạc, mà nó như một hình tượng thiêng liêng đưa anh đến gần với Ðạo. Cách anh nói khiến tôi hiểu âm nhạc là Ðạo. Nói chuyện với anh, quanh co gì thì anh cũng quay câu chuyện về âm nhạc, Ðàn và Mẹ. Ðôi khi chuyện anh kể đầy huyền bí, khó tin...

“Em biết không, có lần trên đường đi học về, trong lúc đạp xe, dây đeo đàn của anh bị đứt. Anh hoảng quá, sợ đàn rơi, anh buông tay xe, chụp lấy đàn, anh mất thăng bằng té xuống. Một chiếc xe sà tới, xém chút xíu nữa là đâm thẳng vào người anh. Ông lái xe chửi anh như tát nước. Một người đi đường thấy vậy cũng năn nỉ giùm anh, “Thôi anh tha cho thằng nhỏ đi, nó té mà không lo thân chỉ lo chụp cây đàn, như vậy là biết nó nghệ sĩ đến mức nào rồi.” Luân Vũ như sợ tôi không nhận ra phép lạ trong câu chuyện của anh. Anh giải thích thêm, “Em thấy không, nhờ cây đàn mà ổng tha cho anh, rõ ràng cây đàn cứu anh!”

Tôi bật cười vì câu giải thích của anh. Tôi tiếp nhận câu chuyện hoàn toàn khác hẳn lời anh. Theo tôi, cây đàn không hề cứu anh, cũng chính vì cây đàn mà anh xém toi mạng. Và, cũng chính ý nghĩ này làm tôi vừa hổ thẹn, vừa tội nghiệp chính mình. Tôi đã không có được một tình yêu âm nhạc mãnh liệt như anh. Anh quá hồn nhiên, trong sáng, và nhân hậu biết bao! Tình yêu của anh dành cho cây đàn, dành cho âm nhạc biến anh thành một người cuồng tín. Phải vậy không? Trong ý nghĩ của tôi, hay là tôi quá thực tế, quá cằn cỗi. Ðối với anh, cây đàn là phép lạ, nó có khả năng biến tất cả tai ương trong đời anh thành ân phúc.

Bằng giọng nói đều, rất bình thản, như là nói về một chuyện cổ tích nào đó. Anh kể, có người con gái, thân thiết lắm! xinh đẹp vô cùng và anh cũng yêu thương vô cùng. Cô muốn có một cuộc sống an tâm, vững chắc, cô muốn có một gia đình bình an... Sự bình an, theo cô không đi cùng đường với âm nhạc. Ðêm tưởng niệm một nhạc sĩ vừa mới qua đời. Người nhạc sĩ anh ngưỡng mộ và yêu mến, cô gái khóc lóc, nài nỉ xin anh đừng đi. Cô ra tối hậu thư, nếu anh bước ra khỏi nhà với cây đàn, là..., anh đã lựa chọn!

Và, anh đã chọn. Anh, với chỉ cây đàn trên tay, cắm cúi đi. Ðêm đó anh đi bộ trên con đường Garden Grove đến tận nơi trình diễn. “Hôm đó trong lúc đàn, anh đã khóc, Anh đã khóc cho người nhạc sĩ tài ba mà anh yêu mến vừa qua đời. Anh khóc tình yêu dành cho âm nhạc của anh bị tổn thương. Ðiều anh biết rất rõ, rất rõ là anh không hề khóc cho tình yêu vừa chấm dứt.”

-Cuối cùng, tôi cũng hiểu được rằng, anh đã “lựa” rất nhiều, nhưng anh chỉ “chọn” một: Âm nhạc - Cây đàn, mà anh đã theo nó suốt cuộc đời anh. Thế đó ai dám nói “Ðàn ông không thủy chung?!”

Orchid Lâm Quỳnh

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Đổi trắng thay đen


Nguyễn Ðạt Thịnh

“Chúng cháu bị thầy Xương đe dọa sẽ hạ thấp kết quả học tập ép chúng cháu quan hệ tình dục với thầy”, cô nữ sinh Nguyễn thị Thanh Thúy viết trong lá thư gửi cho luật sư Trần Ðình Triển, người được chỉ định để bênh vực cô. Trong thư cô liệt kê một danh sách chi tiết về những người bạn của thầy Sầm Ðức Xương mà cô và các bạn cô phải “quan hệ tình dục.”
Nói cách khác thầy giáo Xương không những lạm dụng quyền chấm điểm, mà còn đem quyền này ra làm áp lực bắt cô Thanh Thúy ăn nằm với thầy; không chỉ riêng cô nữ sinh Thanh Thúy, thầy còn ép cô nữ sinh Nguyễn thị Hằng, và 15 nữ sinh khác thất thân với thầy. Hành động biến nữ sinh thành đối tượng giúp thầy thoả mãn thú tính làm thầy trở thành một con yêu râu xanh tác oai tác quái trong lớp học.
Chưa hết, thầy còn khoe việc thầy làm với bè bạn như khoe một chiến tích vinh quang, và giúp họ được hưởng thú nhục dục mà thầy đã hưởng bên những cô nữ sinh nạn nhân. Hành động chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao khiến thầy Xương trở thành một thứ ma cô nguy hiểm hơn những ma cô chuyên nghiệp, vì thầy dùng quyền lực ép nữ sinh học với thầy “đi khách”.
Chuyện ngược đời là cha mẹ học sinh gửi con đến trường để chúng học điều hay, lẽ phải, văn chương, khoa học, chứ không phải để “vỡ lòng học lấy những nghề nghiệp hay”. Nếu việc làm của thầy Xương xẩy ra ở một nước văn minh thì không những thầy ngồi gỡ lịch trọn đời trong khám đường, mà “nhà nước” trả lương cho thầy cũng sẽ trách nhiệm bồi thường cho cô Thúy, cô Hằng, và 15 bạn học của cô những số tiền lớn lao, mặc dù tiền không bù đắp được những cái ngàn vàng của các cô mà thầy Xương cướp mất.
Ngược đời thêm nữa là cả hai cô cùng bị truy tố về tội mãi dâm, và cả hai cùng viết những lá thư cho luật sư bênh vực họ, mà họ gọi là “những lá đơn kêu cứu, viết bằng máu và nước mắt.”
Cô Thanh Thúy ghi trong thư gửi luật sư, là cô viết vào lúc 10 giờ sáng ngày 20 tháng Giêng tại trại giam, sau khi phiên tòa phúc thẩm bị hoãn. Trong lá thư máu cô viết, ““Đây là lá đơn kêu cứu cháu viết bằng máu và nước mắt, kính mong các cô chú cứu cháu. Đã 4 tháng 16 ngày nay, cháu bị giam giữ toàn với người lớn là người dân tộc không biết tiếng Kinh (như mù, như điếc). Trong 2 tháng qua, cháu không được gặp người thân và không nhận quà, rất khó khăn và khổ sở khi tới ngày vệ sinh phụ nữ. Tội là tội của người lớn mà bọn cháu là nạn nhân sao lại giam cầm cháu. Do đó cháu xin các cô chú cứu cháu với.”.
Lá đơn kêu cứu của bị cáo Nguyễn Thị Hằng gửi luật sư Nguyễn Văn Tú cũng có nội dung tương tự. Tờ VietnamNet viết, “Ngoài việc cung cấp tên tuổi những người mà Hằng đã quan hệ tình dục, bị cáo Hằng còn cho biết thêm: ‘cháu có khai toàn bộ tên tuổi những người ngoài Sầm Đức Xương mà các cháu phải quan hệ tình dục, nhưng hiện nay trong hồ sơ vụ án không có tài liệu nào thể hiện lời khai của cháu".

Ra tòa cô Hằng mới biết là tên tuổi những quan chức nhà nước hưởng thụ thân xác học trò của cô đã được các quan chức nhà nước khác xóa bỏ. Do đó không hề có việc cô bị thầy giáo Xường và những người bạn của thầy hiếp dâm mà cô chỉ là một cô gái mãi dâm tiếp khách.
Cái trò đổi trắng thay đen của pháp luật Việt Cộng quả là khiếp đảm; luật sư Nguyễn Văn Tú, biện hộ cô Hằng, nhũn nhặn nói: “các luật sư chúng tôi chỉ mong muốn cơ quan chức năng của tỉnh Hà Giang làm minh bạch, công khai và đúng pháp luật để đảm bảo đúng người, đúng tội!”.
Ông Tú cũng như ông Triển không đòi hỏi thực hiện công lý, không biện hộ cho người vô tội mà chỉ “mong muốn”, chỉ “xin” quý tòa xử công khai và công bằng để bảo đảm một nguyên tắc của nhà nước là truy tố “đúng người, đúng tội.”
Hai “bị can” Thúy và Hằng đã cung cấp tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại, chức vụ công tác của những người đã quan hệ tình dục với các cháu vị thành niên. Trong số đó, nhiều người là quan chức, công chức nhà nước của tỉnh Hà Giang, nhiều người là chủ doanh nghiệp… Những người này được Sầm Đức Xương “môi giới” đưa các cháu vị thành niên tới để họ thực hiện quan hệ tình dục, và trả tiền cho Sầm Đức Xương.
Danh sách thứ nhì ghi nhận tên của 15 cháu gái trong độ tuổi từ 13 đến 17 tuổi bị ép “ăn ngủ” cũng trong trạng huống giống 2 bị can: bị cưỡng ép, dụ dỗ, khống chế, đe dọa… buộc phải quan hệ tình dục hoặc lôi kéo người khác phục vụ tình dục cho “nhóm bạn của thầy Xương”.
Bà Nguyễn Thị Toán, vợ bị cáo Sầm Đức Xương cho biết, trong lúc cơ quan điều tra vụ chồng bà ăn nằm với nữ sinh, bà được nhiều người tự xưng là cán bộ của tòa án, viện Kiểm Sát, công an gọi điện hoặc đến gặp bà Toán và “tư vấn” cho bà mang tiền đi “khắc phục hậu quả” (bồi thường cho nạn nhân bằng tiền mặt) để từ đó có tình tiết giảm án cho Sầm Đức Xương.

Ðiều trái cẳng ngỗng trong tòa án Việt Cộng là chỗ ngồi của hai cô Thúy và Hằng: họ không có lý do gì để phải ngồi ghế bị cáo; cũng như 4 chiến sĩ dân chủ Lê Công Ðịnh, Nguyễn Tiến Trung,Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, họ cũng bị đặt ngồi sai chỗ.
Ðiều tréo cẳng ngỗng đó càng tròng tréo hơn với thái độ nhận tội của 2 ông Ðịnh và Trung; liệu hai cô nữ sinh Thúy và Hằng, hai nạn nhân bị quan chức nhà nước bề hội đồng có phải nhận tội mãi dâm không?

Tòa án Việt Cộng man rợ đến như vậy mà dân biểu luật sư Cao Quang Ánh vẫn ca tụng chế độ đổi trắng thay đen là tự do!
Nguyễn Ðạt Thịnh

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Lá thư London






Lá Thư từ Anh Quốc
Lời bàn: Ngẫm lại số phận con dân nước Việt mình sao nó chua chát thế hả giời. Trên thế gian này có lẽ chỉ có dân Việt mình mới có ước mơ được sang Tư Bản đế... đi tù.



Mình nhận được lá thư của một cô gái quen đang ở Anh Quốc gửi về. Ua chầu, có bạn từ bên Anh Quốc cơ đấy. Dạ không. Cô này cùng nhiều người nữa ở quê mình do điều kiện gia đình khó khăn, mỗi người vay 500 triệu, nộp cho ai đó, rồi cái ông ai đó này lập kế hoạch như thế nào đó, thế là tất cả bay sang Pháp, từ Pháp lại có đường dây ai đó mang sang Anh.

Tại đây họ làm đủ nghề, nhưng kiếm tiền khá nhất là trồng cây cần sa. Cô bạn mình sang mấy tháng, gửi tiền về thanh toán xong nợ, lại còn đưa được cậu em trai sang. Như vậy cũng là may mắn. Mình cũng mừng. Ai ngờ vừa rồi nhận được lá thư tay của cô ấy, gửi ai đó tại Hà Nội, rồi ai đó ở Hà Nội gọi điện thoại cho mình, lấy địa chỉ, gửi về lá thư.

Lá thư rất dài. Nhưng có một đoạn cô ấy “ vui mừng” thông báo là đã bị cảnh sát bắt giam vì tội nhập cư trái phép. Giam 6 tháng nay rồi. Và nghe nói, hơn một tháng nữa thì sẽ được thả. Trong thư có đoạn này mình đọc thấy là lạ. Mình trích nguyên văn nhé để bà con đọc, bình luận xem thế nào nhé:


“Em nói chắc anh không tin, bên này, đi tù như đi an dưỡng. Ăn uống thì ngày 3 bữa, đủ dinh dưỡng. Thức ăn thì mình tự chọn, cứ như ăn ở khách sạn 3 sao. Trong ngày lại còn cho thêm một hộp sữa tươi, một hộp sữa chua, một hộp nước cam, một hộp bánh qui, bốn gói sữa bột, 4 gói trà, 4 gói đường, còn trái cây, bơ kẹo thì tha hồ. Anh nghĩ, ăn uống như thế em không mập mới là lạ. Áo quần bọn em hàng ngày có người giặt ủi. Bọn em đi làm mỗi tuần 3 ngày, làm việc chỉ là đi nhặt cỏ thôi và được trả mỗi tuần là 15-20 bảng, nói chung là mua hàng tẹc-ga ở trong tù. Trong tuần còn có 2 ngày học tiếng Anh. Từ chiều thứ 6 đến chủ nhật là ở nhà nghỉ. Họ cho hát Karaoke thoải mái. Hàng ngày, buổi sáng là đi thể dục thẩm mỹ. Cảnh sát và phạm nhận là như bạn bè, không hề phân biệt đối xử gì. Nếu trong ngày mình thấy mệt, hay ăn không ngon, hoặc có ai đó uy hiếp thì viết đơn bỏ vào thùng góp ý là có người giúp đỡ ngay. Nếu thấy bệnh, thì bấm chuông là có bác sĩ tới liền.
Còn em báo cho anh một tin vui. Bên này họ xem con người, đặc biệt là phụ nữ là rất coi trọng. Hồi ở trong nước, các bác sĩ nói em không làm mẹ được, em buồn lắm. Sang đây, trong tù, em có nói với bác sĩ chuyện đó.
Lập tức Hội từ thiện đến, chi phí mọi thứ cho em đi khám hết, xét nghiệm cẩn thận và họ nói sẽ cho em đi phẫu thuật. Phẫu thuật xong chắc chắn em sẽ làm mẹ. Em khóc mấy đêm liền vì hạnh phúc anh ạ. Giờ thì em không cần gì nữa. Chỉ cần được làm mẹ là em vui lắm, em về sẽ lấy chồng, sinh con, thế là thỏa nguyện lắm rồi anh ạ.
Bây giờ mọi thủ tục đã xong, chỉ đợi ngày đi phẫu thuật nữa thôi anh ạ. Nếu tính ra chi phí cho việc phẫu thuật, tính sang tiền mình là khổng lồ, nhưng em được Hội từ thiện và nhà tù giúp đỡ hết anh ạ.
Trong tù, có 300 phụ nữ, người Việt ít lắm. Tù nhân nữ hình như đồng tính hết anh ạ. Họ làm tình ngay trước mặt cảnh sát. Cảnh sát nữ thì tóc nhuộm mấy màu liền, trông như cá cảnh anh ạ.
Người mình vì cuộc sống, vay mượn tìm đường sang đây, nhưng bị bắt nhiều lắm anh ạ. Em trai em cũng qua đây được rồi, nhưng hiện giờ làm ăn cũng rất khó khăn.
Anh chú ý giữ sức khỏe nhé. Em chỉ mong tự do để hàng ngày lại vào Blog đọc bài anh viết, vui lắm….”

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Cú phone đường dài

Truyện Nguyên Nhung

Gần cuối năm, nhận một lúc ba bốn lá thư từ Việt Nam gửi sang, đầu hắn rối như tơ vò. Những lá thư nhắc nhở bổn phận cho người phương xa, nhớ tới nhiều thứ để nhớ. Trước tiên là nhắc đến Tết ở quê nhà, khiến những ngày Ðông rét ngọt như thế này, lxa quê lại càng nhung nhớ đến thắt ruột.

Gì chứ Tết ở quê nhà thì không nơi đâu sánh bằng. Trước tiên là khu chợ Tết, bánh mứt, hoa quả bày tràn cung mây, nhưng những thứ ấy cũng không hấp dẫn bằng cái thú đi chợ hoa ngắm nam thanh nữ tú chen chân trên đường phố, người người quần là áo lượt. Ở quê người chả mấy khi có được những ngày hội đông đảo như thế, mà nếu có thì cũng không tìm đâu ra không khí náo nức mừng Xuân như những buổi chợ Tết ở quê hương. Hắn nhớ nhất đêm giao thừa cả nhà kéo nhau đi chuà lễ Phật xin xăm, hái lộc cầu bình an cho cả năm. Bên này chùa chiền, nhà thờ cũng mở cửa làm lễ nghinh Xuân, nhưng đêm ba mươi rét cắt ruột, thò đầu ra gió thổi lồng lộng buốt nhức óc, bao nhiêu không khí ấm áp đầu xuân bay đi mất biệt. Mấy lần hắn cũng định thu xếp về quê hương ăn Tết một lần với gia đình, nhưng ngoài khoản vé máy bay, nghĩ đến món tiền biếu tết và lì xì lại làm hắn khựng ngay ước muốn đó.

Nhận thư bên nhà, hắn cũng chẳng đủ văn chương hay thú vị để trả lời một lúc những ba bốn lá thư gửi sang, trong đó ngoài những lời chúc tụng và ao ước sự no đủ, sung sướng cho người ở bên này, cuối cùng kèm theo nhiều ý nhắn gửi rất mông lung mà đầy những nhắc nhở gần xa. Thương thì thương lắm những người thân cuả mình đang nghĩ về nơi xa xôi như nghĩ về miền đất hưá, chẳng qua cũng chỉ vì khổ, từ cái khổ mà mơ ước, nhưng sống ở đâu thì cũng phải đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt, rồi tin vào miệng những ông những bà về quê nổ như bắp rang, khoe sang khoe giàu mà làm khổ những người thân cuả mình đang đầu tắt mặt tối ở quê người.

Thôi thì sẵn đầu năm, gọi một cú phôn về thăm cả nhà, chúc tụng thế là xong, lâu nay đi cày tối mày tối mặt hắn đâu có cầm tới cây bút, tay chân đã cứng còng, ngồi gò gẫm mất thì giờ rồi cũng chẳng viết được gì. Viết gì người ta cũng không tin, đôi khi hắn thèm hét lên cho nhẹ bớt những lo lắng, những vất vả cuả cuộc sống hằng ngày oằn nặng trên đôi vai, những điều ấy chỉ làm người bên nhà cho là hắn ích kỷ, trốn tránh sự giúp đỡ cha mẹ, anh em.

Hắn sang đây chỉ có một mình, hồi mới sang cũng định đi học để có tý bằng cấp làm cần câu cơm cho xứng đáng, nhưng cả một gánh nặng bên nhà, hắn không đành lòng làm ngơ, ăn trợ cấp và theo đuổi việc học. Thôi đành đi làm vậy, ba cọc ba đồng nhưng tháng tháng có tý tiền gửi về giúp mẹ già, anh em đỡ khổ một chút, nhất là những năm quê nhà còn duy trì chính sách “bế quan toả cảng” chả thèm chơi với ai. Ðược ít lâu thì vướng vào nghiệp yêu, đàn ông ai không phải lấy vợ, thế mới hợp với lẽ âm dương của trời đất. Sống ở quê người thui thủi một mình cũng thèm không khí ấm cúng cuả bữa cơm nhà hơn là cơm hàng cháo chợ, ngoài ra còn lý do nữa, đàn ông không vợ tính hay dở hơi, dễ về chầu trời vì con tim thiếu nhịp đập.

Lấy vợ rồi có trăm thứ phải lo, nhất là khi lũ nhóc con ra đời, nỗi vất vả ấy tăng lên gấp năm gấp mười. Ấy là hắn chỉ có hai đứa con, vợ hắn cũng đi làm, hai đứa nhỏ phải gửi nhà trẻ, cho nên khoản tiền gửi trẻ cũng nuốt hết bao nhiêu tiền lương của hắn. Cứ tính toán mãi thì chắc đất nước này sẽ không có nụ cười trẻ thơ, các nhà trường phải đóng cửa, và cuối cùng chỉ còn lại những người lớn sống với nhau mặt mũi đăm đăm như khỉ ăn gừng. Bây giờ hai đứa nhỏ đã lớn, nhưng lớn lại có nỗi lo cuả lớn, mà nỗi lo này có khi lại còn to bằng mười nỗi lo kia, chưa kể khoản thuế má xứ này ai có đi làm rồi mới thấy thất kinh, những thứ "dở thầy dở thợ" lại càng chết dở. Thà cứ nghèo "tận cùng bằng số" lại được hưởng chút mưa móc cuả chính phủ, hơn là đi làm để chỉ mỗi việc mua bảo hiểm sức khoẻ hắn đã muốn đau tim nín thở.

Riêng việc gửi tiền về Việt Nam, cũng nằm trong nguyên nhân làm gia đình hắn xào xáo, vì nhu cầu bên nhà thì nhiều, sự cung ứng lại không bao giờ đủ, cho nên mỗi lần nhận thư nhà gửi sang, mặt vợ hắn chưa gì đã nhăn nhăn , méo xẹo như bánh bao chiều ướt nước. Có nhiều khi vấn đề viện trợ này đã làm vợ chồng hắn cắng đắng nhau mãi, những món chi tiêu bất ngờ dồn dập tới ngoài sự trù liệu , hắn lại phải dấu diếm để gửi tiền về bên nhà mà không dám nói cho vợ biết. Hắn nhận được thư nhà, đọc xong rồi dấu béng đi. Không phải hắn sợ vợ và theo đạo "thờ Bà", nhưng hắn biết có đưa cho vợ coi thì trước tiên nhìn cái bản mặt chằm vằm, nhăn nhó cuả vợ , hắn cũng khổ lắm rồi. Hắn im lặng và chờ khi nào tiện thì dấu diếm gửi về theo nhu cầu bên kia, còn thì im lặng là vàng, không nói năng chi cho nhà cưả xào xáo thêm ra.

Lần này, hắn quyết định phải gọi về bên nhà. Nói hết, kể hết, để thông cảm với nỗi khổ của nhau, vì thực ra cuộc sống của mỗi người, có bao giờ lại chỉ toàn những điều may mắn, đẹp đẽ. Cũng tại mấy tay họ Nổ, “áo gấm về làng xem hoa dạo kiểng” nổ như bắp rang mà hắn bị vạ lây. Lần đầu đưa vợ con về Việt Nam thăm gia đình, hắn đã gần chết vì nghe mọi người than thở. Chẳng biết bên ấy họ xài tiền ra sao, chứ ân cần đưa biếu một trăm đô la hắn chỉ nhận lại được lời cám ơn hờ hững với vẻ mặt buồn buồn. Hắn cứ nghĩ hoài không ra, bên này đi làm nếu may mắn được thưởng cho một trăm, hắn đã mừng húm. Hoá ra không phải vì một trăm nó. . . nhỏ, chỉ tại vì sự mơ ước của người ta nó. . . lớn, mà thành ra món quà tặng bỗng trở nên rất . . . ít.

Còn nhớ lại cái thuở mới liên lạc lại được với người nhà ở Việt Nam, điện thoại viễn liên mắc ơi là mắc, mỗi phút kim đồng hồ nhúc nhích được tính tương đương với hột xoàn. Chưa kể là lần nào cũng phải ngưng chờ cho tiếng “sụt sịt” ở đầu dây bên kia giảm bớt niềm xúc cảm, còn con mắt người bên này cứ dán chặt vào cái đồng hồ sốt ruột vì thời gian sao nó đi gì mà lẹ thế, bên nhà càng thổn thức bên này càng sốt ruột …

Sau này đến thời kỳ dễ chịu hơn, mỗi lần muốn gọi về nhà, mua một cái thẻ điện thoại nói hết bấy nhiêu phút là xong, nhưng mấy lần hắn đã bị lừa khi thời gian quy định là ba mươi phút, hai bên vừa ráp vào được hơn mười lăm phút thì đã nghe báo chỉ còn "zero" đồng, chuẩn bị lời tạm biệt kẻo không kịp. Thế là mất đứt mười tì, cả hai bên đều ngẩn ngơ vì câu chuyện trao đổi chưa ra ngô khoai gì cả. Bây giờ đã qua cảnh ấy, nhưng hết rồi một thời thương nhớ cách trở hai bờ đại dương, nhờ một lần về thăm nhà hắn đã trắng mắt ra khi biết mình không phải cái máy in ra bạc, đã làm thất vọng cho vô khối người thân ở bên nhà.

* * *

Bấm một lúc gần hai chục con số, hắn đã nghe đầu giây bên kia có tiếng chuông reo, đợi ba bốn hồi thì một giọng con gái cất lên:
" Alô, alô. . ."
Ðường giây lại bị nhiễu cho nên sau khi cả hai cùng “alô” thì im bặt, hắn vội nói to hơn:
" Có ai ở nhà không?"
Bên kia, lại nghe hỏi:
" Xin lỗi ông hỏi ai?"
Hắn mừng rỡ:
" Chú Hùng đây, có ba ở nhà không?"
Ðứa con gái reo lên hớn hở:
" Dạ có, chú chờ ba con một chút. Ba ơi ba, có chú Hùng gọi".
Bên kia đầu giây im lặng, sau đó thì vẫn giọng đứa cháu gái cất lên:
" Ba con đang tắm, chú chờ chút xíu nghe. Chú khỏe không? Thím và các em khỏe không? Chà, ở bển ăn Tết chắc vui lắm hén chú?"
Hắn nghĩ thầm, vui gì mà vui, đang buồn nẫu ruột đây, nhưng vẫn trả lời:
" Ừ khỏe, khỏe hết, nhưng bên này không có Tết đâu."
Ðứa cháu lại tiếp tục nói theo mục đích của nó:
" Chú nhớ lì xì cho tụi con nghe chú. Năm nay em con sắp vào Ðại Học, nó phải đóng nhiều tiền lắm. Hôm rồi ba con có viết thư sang, chú có nhận được chưa?"
Hắn hừ hừ trong cổ họng, nói hết muốn nổi:
" Ừ, có nhận, nhận đủ. Ba tắm xong chưa?"
Con bé eo éo gọi , hắn tưởng tượng ông anh mình mẩy còn ướt nhem, quấn chiếc khăn lông chạy vội ra khỏi nhà tắm. Bên kia một giọng đàn ông khàn khàn cất lên:
"Alô, Hùng đó hả? Khỏe không em?"
Lại hỏi thăm sức khỏe, đầu tiên là mất cha nó 15 phút đồng hồ để hỏi thăm sức khoẻ và nghe ông anh kể bệnh. Kể ra hắn cũng hơi tệ với anh em, vì xa cách cả nửa vòng trái đất, ai cũng muốn hỏi thăm nhau về sức khỏe cái đã, như người Mỹ ngày nào cũng gặp nhau, ngày nào cũng hỏi "how are you?", ngày nào cũng phải trả lời như cái máy, khỏe, khỏe, huống gì lâu lâu hắn mới gọi phôn về nhà. Hắn sốt ruột hỏi:
" Mẹ lúc này ra sao? Còn nhớ ra ai nữa không?"
Bên kia đầu giây, giọng ông anh càng thảm não:
" Mấy tháng nay mẹ không ăn uống gì mấy, mẹ chờ chú về rồi có nhắm mắt mới đành lòng. Chú thu xếp về thăm mẹ được không?"
Hắn nghe vã mồ hôi dù trời tháng mười hai lạnh như cắt. Thật tình thì cũng rất muốn về thăm mẹ, nhưng thời gian sau này trí nhớ cuả cụ đã lẫn lộn chẳng nhận ra ai với ai, nên có về cũng như không, chi bằng để khoản tiền ấy lo thuốc thang cho cụ thì tốt hơn. Với lại,nghĩ tới chuyến về quê lần trước, hai vợ chồng với hai đứa con, hắn bay mất mười mấy ngàn mà vẫn không đủ để quà cáp, chút đỉnh cho anh em, cháu chít, bạn bè, khiến hắn nghe xa xôi những lời trách móc, cho hắn chỉ là thứ Việt Kiều "kẹo kéo" .

Hắn định nói gì với ông anh mà quên tiệt, bên kia ông anh lại thao thao kể:
" Mẹ ho hoài, anh đưa đi nhà thương nhưng người ta bảo bịnh già, không có thuốc chữa. Chỉ khuyên bà cụ thay đổi chỗ ở nếu có điều kiện."
Hắn mau mắn nói:
" Em cũng muốn về thăm nhà và gia đình, nhưng ( thở dài), thôi thì anh đưa mẹ đi đổi gió ngoài Vũng Tàu, Long Hải gì đó."
Bên kia ông anh như vớ được vàng:
" Ừ, anh cũng định nói với chú điều đó, nhưng ngại chú từ chối."
Hắn ngạc nhiên:
" Từ chối cái gì, em đâu biết gì mà hỏi?"
Ông anh dù dừ một chút rồi thở ra:
" Ðó, vậy là chú bằng lòng nghen. Anh định ra ngoải mua cái nhà nho nhỏ cho mẹ ở, vùng biển khí hậu tốt lắm em ơi. Sài Gòn bây giờ nhà cửa chật chội, người đông đúc, xe cộ như nêm, muốn băng qua đường đợi nửa tiếng đồng hồ chưa sang được. Mẹ không có không khí để thở, tiền chú gửi về chỉ lo đủ trả tiền thuốc men và bác sĩ. Bà ho hoài, bác sĩ cũng bảo chỉ có ra ngoài ấy. . ."
Hắn giựt mình, đúng là tự nhiên chuyện này lại xọ ra chuyện kia. Hắn vội nói:
" Chứ không phải lâu lâu ra đó nghỉ ngơi khi nào khỏe thì về sao? Ồ, nhà cửa Vũng Tàu mắc lắm, em đâu có tiền, với lại..."
Hắn định nói cái chuyện hồi nãy hắn chưa nói được thì ông anh đã cắt đứt giòng tư tưởng của hắn:
" Em tiếc làm gì với mẹ. Mình chỉ có một mẹ thôi mà, mai mốt mẹ chết đi còn tìm đâu ra mẹ để mà báo hiếu. Anh biết có một chỗ đất lý tưởng mà lại rẻ, ở ngay Long Thành thôi, chỗ này khí hậu tốt mà anh cũng có thể lập vườn trồng cây ăn trái. Chú có mua thì cũng là của chú , sau này về quê có nơi nghỉ ngơi an hưởng tuổi già."

Hắn nghĩ thầm trong bụng, "chả biết có sống được tới già để mà an hưởng không". Hắn đang sắp chết dở đây, kinh tế tuột dốc, việc làm từ từ giảm bớt, mới tuần trước lão chủ đã tuyển một số người cho ở nhà ăn tiền thất nghiệp, không hiểu chừng nào thì tới lượt hắn đây. Hắn sợ nhất cái cảnh vưà sáng sớm, mới bước chân vào xưởng đã có người chặn đường mời lên văn phòng nói chuyện. Chuyện gì thì ai cũng biết, đó là cái lễ "farewell" rất âm thầm như đưa một cái áo quan ra nghĩa địa. Hắn thở dài, mắt liếc nhìn đồng hồ:
" Dạo này kinh tế khó khăn, em chẳng tính được chuyện gì đâu. Nếu mẹ không khoẻ, anh đưa cụ lên Ðà Lạt nhờ chị Ba trông hộ, tháng tháng em gửi tiền về để chị ấy lo..."
Giọng ông anh có vẻ buồn phiền:
" Chú nói thế sao được. Tôi là con trai thì phải lo cho mẹ chứ, nó là con gái, đã lấy chồng, con mình đã vậy còn con rể thì sao?"
Hắn chẳng hơi đâu cãi lý với ông anh lúc này. Con nào chả con, hễ có tiền thì đứa nào chả muốn rước mẹ về phụng dưỡng. Bên kia đầu giây, ông anh đổi đề tài như chớp:
" Thôi chuyện ấy tính sau, tạm thời chú gửi thêm tiền về để thuốc men, săn sóc cho mẹ, vật giá bây giờ đắt đỏ quá (ông anh lại rỉ rả làm một con toán về những chi phí cho bà mẹ). Bây giờ còn chuyện này nữa, chú có quen ai đem được cháu Hạnh sang bên đó cho có chú có cháu không?"

Hắn nhăn nhó lắc đầu, nhưng qua đường dây điện thoại, ông anh làm gì thấy được bộ mặt như khỉ ăn gừng cuả hắn. Ông thao thao tiếp tục câu chuyện theo ý muốn của ông:
"Chả dấu gì chú, có người đề nghị về kết hôn với cháu, chỉ lấy hai chục ngàn thôi. Anh định bàn với chú, nếu người ta mang được cháu đi thì chú ứng cho anh cái khoản tiền ấy nhé. Cháu nó đi được nó cũng mang ơn chú, với lại hai chục ngàn đâu có là bao, hì hì, sau này nó làm ăn khấm khá, nó sẽ trả lại chú."
Giữa lúc đang lo sốt vó vì viễn ảnh thất nghiệp tới nơi, nghe ông anh nói “hai chục ngàn” một cách thản nhiên, hắn cứ vã mồ hôi hột. Hắn nói:
" Không ổn đâu anh, coi chừng bị chúng lừa mà tiêu cả chì lẫn chài đấy. Anh bảo cháu ở bên ấy hễ thương ai thì lấy người ấy, lấy nhau phải vì tình chứ không đem tình yêu mà đuà bỡn kiểu ấy. Hiện giờ em . . ."
Hắn chưa kịp nói hết ý thì tiếng ông anh đã đầy vẻ hờn giận:
" Bên này cả nhà trông mong vào chú, mà hễ nói việc gì ra chú cũng cản. Thôi, còn mẹ đấy, chú không gửi tiền về để lo cho mẹ thì bên này anh cũng phải lo, nhưng nếu có con ăn sung mặc sướng , nhà cao cửa rộng, còn mẹ thì thiếu thốn trăm bề, chú tính sao cũng được?"

Hắn định vặc lên với ông anh, nhưng chẳng lẽ gọi phôn về chúc Tết, anh em lại cãi nhau. Hơn nưã, tính hắn vốn hiền lành, ưa dấu kín nỗi khổ một mình, cho nên nghe ông anh hờn trách, hắn chỉ im lặng. Bên kia ông anh hình như cũng tức tôí, im lặng không nói gì, hắn lại sốt ruột nhìn đồng hồ. Cuối cùng, hắn dứt khoát:
" Chuyện lo cho mẹ thì em không từ chối, nhưng những chuyện vớ vẩn khác em không có khả năng, anh có trách em cũng chịu."

Thấy không ép được ông em, ông anh đành chuyển sang chuyện khác:
" Thằng Út năm nay lên Ðại Học. Nhà xa, nó cần cái xế nổ, chỉ độ hai ngàn thôi, chú cho cháu cái xe đi học vậy."

Thế là chuyện này đẻ ra chuyện kia, hắn thấy đời mình như vướng hết món nợ này đến món nợ khác, nhưng nãy giờ hai ba vấn đề hắn đều từ chối, nay lại tiếp tục từ chối nưã, hắn thấy có vẻ kỳ cục quá. Hắn tìm cách hoãn binh:
" Thong thả rồi em tính, bên này em cũng ..."
Vẫn chưa nói hết câu thì đã nghe tiếng cười ha hả cuả ông anh từ bên kia đầu giây vọng sang:
"Chú bằng lòng cho cháu rồi nhé! Xa xôi quá, chứ ở gần chắc chú cho luôn chiếc xe hơi chứ tiếc gì."

Hắn nghẹn họng, ruột rối như mớ bòng bong, lẩm nhẩm tính: "Lại hai nghìn, tháng giêng là giấy thuế má gửi về nườm nượp, cái nhà cũng đến lúc phải mua bảo hiểm”. Ðang nói chuyện với ông anh mà hắn lại nghĩ vẩn vơ đến chuyện "lay off" , người ta cũng đã thông báo cho nhân viên hay là công việc đã đến lúc kiệt quệ, tối qua cố nghe hết bài nói chuyện cuả tổng thống Obama về kinh tế, y tế , chiến tranh nhưng có nghe được đâu, lào xào những lời hưá hẹn ... cho một chiếc xe không phanh đang trên đà xuống dốc. Trước mắt là nếu thất nghiệp lúc này, nỗi kinh hoàng nhất là không có bảo hiểm sức khoẻ cho cả nhà gồm hai vợ chồng với hai đưá con. .

Hắn hừ hừ trong cổ họng như bị mắc nghẹn. Gần xa, xa gần, chính vì ở xa mà hắn mới khổ như thế, bởi vì chẳng ai nhìn thấy những cái lo cuả hắn, những cái trời ơi từ trên trời rơi xuống nơi xứ này, mà nhu cầu thì lại không đơn giản như ở quê nhà. Nếu ở Việt Nam, chỉ cần ba trăm đô hắn cũng gói ghém đủ chi tiêu cho một tháng, nhưng ở bên này thì không như thế được. Tiền nhà không trả được là mất, tiền xe không trả là đi bộ, và nếu việc, nhà, xe đều mất thì hắn có cơ hội mất luôn nhiều thứ nữa, kể cả vợ con. Hai vợ chồng đi làm, hắn mới đủ xoay sở để mua nhà , mua xe, dư chút đỉnh đẩy vào tiền thuế má hằng năm và mục sửa chữa nhà cửa. Chưa kể hai đứa con đang đi học, một đứa sắp vào Ðại học, cũng đang cần một chiếc xe, hắn cũng chỉ dám nghĩ đến việc mua một cái "used-car" cho thằng nhỏ, nhưng khoản bảo hiểm thấy đã toát mồ hôi trán. Vụ bão lụt vừa qua bảo hiểm nhà, xe cứ thế nhảy vọt như diều gặp gió, cơ khổ là không dám tiết kiệm những khoản này, chỉ vì trăm thứ " nhỡ " có thể xảy ra trên cõi đời này lắm.

Bên kia đầu giây ông anh vẫn không ngớt than thở vài chứng bịnh cuả tuổi già. Hắn cũng chỉ ậm ừ cho qua, bởi vì chính hắn đây ngoài những thứ bịnh thể xác có nguyên nhân hẳn hoi, còn có thứ bịnh phiền, bịnh lo mà hắn chưa có người để chia xẻ. Đã có tiếng chuyển máy điện thoại:

"Em nói chuyện với chị nhé!"

Hắn lại nhìn đồng hồ. Bỏ mẹ rồi, nãy giờ hắn chưa chấm dứt được câu chuyện với ông anh thì lại sang bà chị, chưa kể là không nói chuyện được với bà mẹ vì cụ bị nghễnh ngãng đã lâu. Không nói cũng không được, bên kia đầu giây một giọng phụ nữ rè rè vọng sang:
" Chú khoẻ hả chú? "
Hắn nghĩ bụng : " Lại khoẻ, nãy giờ mất nhiều thì giờ cho cái vụ hỏi thăm sức khoẻ ", nhưng hắn cũng lịch sự trả lời:
" Cám ơn chị, em vẫn bình thường, còn chị thế nào?"
Như chớp được cơ hội, bà chị dâu bắt đầu rỉ rả vào máy:
" Ðau nhiều lắm chú ơi, đêm ít khi ngủ được, mình mẩy nhức như rêm, mà tới bữa cũng hổng muốn ăn cơm."

Hắn nhớ tới kỳ về thăm nhà mấy năm trước, hắn đã ngạc nhiên khi cả nhà suốt ngày ngồi dán mắt vào cái truyền hình coi phim bộ, rồi ăn uống lai rai, chiếc bánh giò, đĩa bánh cuốn, ly cà phê sữa đá, cứ thế mà bồi dưỡng khi bận bịu theo dõi những màn chưởng mà lại có tý tình cảm ướt át lâm ly Trung Hoa trên màn ảnh. Tới bữa, mâm cơm dọn lên thì bụng đã ứ hự, còn ăn vào đâu được. Ðêm hai ba giờ sáng vẫn mải mê theo dõi các màn gay cấn trong phim bộ Đại Hàn, chưa kể còn sụt sịt khóc theo nhân vật chính cuả phim đang gặp cảnh hoạn nạn trên bước đường giang hồ, lưu lạc. Gía mà họ thấy được nỗi vất vả của thằng em bên này, muà Ðông giầm mình trong tuyết lạnh để đi làm, muà hè nắng chang chang đốt cháy da thịt, chưa kể nhiều thứ kèn cựa , bon chen trong sở làm khiến hắn nhiều khi muốn chảy nước mắt.

Cả nhà bên ấy hầu như sống dựa vào bên này, bao nhiêu năm rồi mà nhà nước vẫn chẳng ổn định được đời sống thằng dân, hở ra là lại gọi "khúc ruột ngàn dặm" kéo cái ruột dài ra nối nửa quả địa cầu. Hắn rầu lắm, chả biết nhà người ta thế nào, chứ nhà hắn ai cũng than khổ, đến nỗi từ hôm ấy đến nay, trở về Mỹ, mỗi lần nhận được thư bên kia nhắc gửi tiền, vợ hắn lại trì triết hắn mãi.Hắn cũng nói theo cho có chuyện:

" Bây giờ già cả rồi, chẳng ai mà không bịnh này bịnh nọ. Em cũng vậy chị ơi, phải đi cày từ mờ sáng đến chiều tối, chả thấy mặt trời đâu. Bây giờ lại sắp sửa . . ."

Hắn đang định nói cái chuyện hắn cần nói từ lúc gọi cú phôn đường dài về Việt Nam, nhưng bà chị đã cướp lời:
" Bên ấy chú có thứ thuốc gì uống cho ăn được, ngủ được, mua gửi về cho anh chị một ít. Hay là cứ gửi tiền về đây chị mua cũng tiện, chẳng mất công chú gửi để tốn tiền cước phí, bên này bây giờ cái gì cũng sẵn, chỉ ngặt không có tiền thôi. Nãy giờ, anh đã nói chuyện với chú rồi phải hông? Thằng nhỏ đến hè này lên Ðại Học rồi, chèn ơi sau này nó cũng thông minh giỏi giang như chú vậy, chị mong chú mang được cả nhà qua bên đó thì thiệt là nhà mình có phước. Ðể chị nói cháu đi coi xe lần lần, hễ chú gửi “dzià” là nó mua ngay. Tụi nhỏ bên này tội nghiệp lắm chú ơi, không được bằng mấy em ở bển đâu, đứa nào cũng lên xe xuống ngựa. . . "

Hắn nghe mà muốn rụng cả tim vì sợ. Thế là khi khổng khi không hắn mắc thêm một món nợ. Mắc một món nợ chỉ vì không nói thẳng được điều hắn muốn nói. Bây giờ thì hắn sợ những cú phôn đường dài, vì chính nó cũng là món nợ mà hắn phải thanh toán, vợ hắn thế nào cũng cằn nhằn là "nói gì mà nói lắm thế!"

Hắn lại nhìn đồng hồ. Cần phải học tính dứt khoát cuả người Mỹ đi là vừa, nãy giờ hắn đã để tình cảm lấn áp thực tế quá nhiều, khiến hắn cả đời điêu đứng vì hai chữ tình cảm. Hơn một tiếng đồng hồ qua đi, hắn vội vã nói mấy câu từ biệt và sức khoẻ cuả mẹ già một lần nưã, chỉ biết ừ ào vì những lời dặn dò cuả bên kia, hình như hắn chả kịp nói gì, vì người bên đầu giây cứ thao thao bất tận không cần biết là hắn có sốt ruột không.

Ðặt chiếc máy điện thoại xuống, hắn thấy nhẹ cả người, thôi kệ đầu năm chỉ nói nhiều có một bận. Nhưng hắn bỗng nhớ ra có một điều hắn cần nói mà chưa nói được, "hắn sắp thất nghiệp rồi!"
NGUYÊN NHUNG.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image


MÀU TÍM MỒNG TƠI

Hồ Truờng An
Trên đất Pháp, tôi đã từng ăn canh rau mồng-tơi xanh nấu với tôm he. Đôi khi lười biếng, tôi đi ăn self-service, món légume ăn kèm với thịt vẫn là rau mồng tơi xanh nghiền trộn bơ lạt và kem tươi . Khó mà tìm được mồng tươi tím. Mồng tơi xanh to lá hơn, cọng bụ bẫm hơn, nấu canh tôm he cũng ngọt không kém mồng tơi tím. Vậy mà trong tâm hồn tôi, lá mồng tơi tím đã mọc rễ từ lâu lắm rồi, trải qua bao khúc quanh éo le của lịch sử và đã tỏa một màu tím thật lãng mạn và thật thi vị trong suốt thời thơ ấu của tôi.

Bạn ơi, chắc bạn chưa quên lá mồng tơi tím ngoài bờ giậu khi bạn còn ở bên quê nhà? Dường như chỉ ở xứ miền nhiệt đới như xứ sở mình mới có mồng tơi tím mà thôi . Tôi còn nhớ vào thuở ba tôi về Ngã Ba Trung Lương (tỉnh Mỹ Tho) lập nghiệp, bà ngoại tôi bảo tôi và chị tôi nên gầy dây một giậu mồng tơi tím chung quanh khu trồng rau thơm. Chị em tôi chẻ nứa thành những thanh hơi mỏng để đan giậu . Chỉ chừng hai ngày thôi, bờ giậu thành hình với những thanh nứa đan nhặt với những ô hình mắt cáo . Chị tôi lôi từ gian bếp đen óng vì mồ hóng và khói bếp, lấy một cái gói nhỏ đựng trong mo cau . Mở gói giấy ra, tôi chỉ thấy những hột đen đen ngoài bọc một lớp vỏ nhăn nheo . Chúng tôi đào những lỗ nhỏ cỡ đồng xu và sâu ba phân, mỗi lỗ cách nhau nửa thước, rồi bỏ một hột mồng tơi trong đó.
Ngoại tôi nói:

- Bây giờ là vào giữa mùa mưa, các cháu không cần tưới làm gì. Mồng tơi tím dễ trồng lắm.

Chúng tôi chỉ chăm bón những loại rau khác, hầu như quên lãng những hột mồng tơi gây giống đi.

Mùa mưa tháng bảy kéo về. Những trận mưa kéo dài có khi suốt ngày, suốt đêm. Mưa ngập ở dãy cây đu đủ và làm cho mấy gốc đu đủ úng thủy chết đi . Rồi vào một ngày nắng đẹp, tôi bắt gặp trên lớp đất ướt mịn, những mầm cây lá non mơn mởn nhú lên. Những cơn nắng lũ đã làm cho hột mồng tơi nứt vỏ, những trận mưa rào ấp ủ cho mầm sống nhú lên. Rồi thì cùng với mưa nắng, sương buổi sáng làm cho mầm cây trưởng thành mau chóng; chỉ độ hai tuần thôi, nó đã thành một sợi dây leo bò dọc theo một thanh nứa, lá vẫn xanh mơn mởn để rồi cùng với cọng dây ửng lên màu tím và rồi tím sẫm dần. Lá mồng tơi có hai mặt: mặt dương quay về ánh sáng mặt trời nên có màu xanh của diệp lục tố, còn mặt dưới ẩn trong bóng râm thì có màu tím. Từ dây chính, len qua những nách lá, những vòi dây mồng tơi mọc dài ra thành những dây phụ bám ngang, bám dọc theo những thanh nứa đan hình mắt cáo, chỉ trong vòng một tháng thôi, bốn mặt giậu chung quanh khu trồng rau đã được lá mồng tơi mặt xanh mặt tím che kín rợp.

Dù mùa mưa trôi qua, dù dầu giãi dưới những cơn nắng trong tiết trời khô ráo, dây mồng tơi vẫn mượt mà, tươi mát, thấm nhuần nhựa sống dồi dào.

Thế là khu trồng rau của chúng tôi, nhờ giậu mồng tơi đã có một chỗ riêng biệt giữa những cây cỏ hoang dại mọc hỗn tạp. Ngoại tôi giậm thêm những cây bồ ngót để nấu canh tôm, giậm thêm những khóm cao kỷ để nấu canh thịt. Rồi thì cải ngọt, rau tần ô, rau diếp, rau thơm, ngò gai, rau cần tàu được trồng theo từng luống. Những loại rau này cần phải tưới nước và chăm bón cẩn thận. Riêng những dây mồng tơi thì không cần săn sóc, vẫn đâm tược nẩy vòi.

Tôi đã từng say ngắm sự tăng trưởng của những dây mồng tơi ngoài giậu . Những ngày nắng ráo, lá mồng tơi trông thật mướt, mặt lá bóng láng rung rinh dưới những cơn gió nhẹ hiu hiu, lóe lên những chấm sao nhấp nháy . Tôi hái một vài lá vò sát trong lòng bàn tay, khoan khoái cảm nhận chất nhựa trĩn ướt của lá. Và có những đêm rằm, trời trong mây tạnh, tôi cũng đến thăm giậu, mê mải nhìn ánh trăng giát bạc và trắng thủy tinh trên những phiến lá lung linh, hư ảo.

Ngoại tôi không nấu canh mồng tơi suông đâu . Bà cũng hái rất nhiều lá mồng tơi, rồi cùng với rau tập tàng, rau bồ ngót, rau cải trời, rau dịu để nấu canh tôm. Những con tôm he được ngắt đầu, bóc vỏ, bỏ đuôi, rút gân máu, đem quyết nhuyễn và tra thêm tiêu, hành lá, nước mắm... rồi vo từng cục tròn tròn, dẹp dẹp thả vào nồi nước sôi, trước khi bỏ rau mồng tơi và rau khác vào. Canh rau do đó, thật ngọt, được múc vào những chiếc tô sành sản xuất từ Lái Thiêu, với một nét họa phóng bút bằng tay.

Mâm cơm thuở tôi còn thơ ấu chẳng mấy thịnh soạn. Cùng với canh rau, ngoại tôi kho cá bống trứng, hoặc cá rô mề, kho bằng tộ để cho cá được thấm tháp, mặn mòi hơn. Đôi khi trên mâm cơm có thêm món xào, nhưng độn rất nhiều giá hoặc rau càng cua hay rau cần ta . Mâm đựng thức ăn thì bằng thứ gỗ tầm thường, đũa vót bằng tre; chén dĩa và muỗng cũng bằng sành, cùng do các lò gốm Lái Thiêu sản xuất.

Những thuở đó, ba má tôi rất yêu thương nhau, cùng chấp nhận cảnh nghèo để tách ra khỏi đại gia đình dưới sự quản trị nghiêm khắc của ông nội tôi . Má tôi tự hào là chồng mình đã bắt đầu sống cuộc đời tự lập. Rồi đó, công cuộc làm ăn của ba má tôi dễ dàng hơn, cảnh nhà được sung túc hơn. Bàn ăn phủ khăn trắng, chén dĩa sành được thay thế bằng đồ sứ mỏng tanh và bóng hơn, đũa tre được đổi thành đũa mun có đầu bịt bạc hoặc đũa sơn son. Vậy mà, canh rau mồng tơi vẫn được dọn thường xuyên. Bà ngoại tôi nói:

- Sắp nhỏ hay nổi rôm sảy và đổ ghèn con mắt, phải cho tụi nó ăn canh mồng tơi hay ăn canh bồ ngót để cho tụi nó giải nhiệt.

Bồ ngót nẩy lá không kịp theo nhu cầu những nồi canh rau trong gia đình tôi thuở đó. Chỉ có giậu mồng tơi mới cung cấp đủ món canh rau thường xuyên mà thôi . Mặc kệ nắng cháy hay tiết trời khô hạn, những giây mồng tơi vẫn thản nhiên hiến dâng lá và mầm sống phong phú. Chúng tươi mát, mềm mại như cô gái đẹp dậy thì. Chỉ cần trải qua một đêm sương là lá và đọt đã thấm nhuần chất nước trong mát rồi.

Và thú vị hơn nữa, những trái mồng tơi tím thẳm, to cỡ đầu mút đũa, bóp dẹp trái mồng tơi giữa hai ngón tay, chất nước màu tím tươi tiết ra . Chị tôi hái rất nhiều trái mồng tơi để làm mực tím, viết một lá thư kể tội tràng giang đại hải cô bạn trong xóm mà nhờ tôi chuyển giao.

Tôi còn nhớ rõ thuở đó, chị tôi cỡ bảy tám tuổi, để tóc và ăn mặc nam trang, theo lũ con trai chơi những trò chơi con trai . Lối xóm hầu như quên chị tôi là gái . Lúc nào cũng liếng thoắng nghịch ngợm, lấy mực mồng tơi vẽ lên mặt rồi đi dọa con nít. Những đêm rằm, chị thủ sẵn những bông nấm sáng (nấm lân tinh) đợi những bà hàng xóm đem bánh và trái cây ra sân cúng rằm, chị rên hừ hừ, rồi núp vào lùm bụi đối diện với sân, tay cầm nấm sáng quơ lên. Các bà tưởng là ma, la bài hải, rồi lết vào nhà, bỏ bánh trái lại . Chị chui ra lấy hết bánh trái và không quên bỏ lại vỏ trái cây và giấy phong bao bánh cho khổ chủ.

Ba má tôi vì mãi lo làm ăn nên ít khi săn sóc và giáo dục chúng tôi . Như rau mồng tơi, chúng tôi tăng trưởng tươi mát khỏe mạnh. Những người ở xa mới tới xóm thường nhìn chúng tôi khen:

- Hai đứa nhỏ coi " ngộ" quá chớ. Nhứt là cái thằng anh, vừa cao ráo, trắng trẻo, mắt sáng như sao.

Bà lối xóm ở gần nhà chúng tôi nhất, nhún trề:

- Đứa lớn là con gái đó đa . Con gái gì mà như quỉ sống, ma vương. Khạp nước trong của tui để dành nấu nước pha trà mà nó dám thọc chân dơ vô để rửa chớ.

Tuy ghét chị tôi như vậy mà mỗi khi chị tôi mang qua tô canh mồng tơi do ngoại tôi nấu, bà không quên thưởng cho chị khi thì trái ổi, khi thì khúc mía, phong bánh in.

Năm 1946, ba má tôi đem chị em chúng tôi đi chạy giặc. Với chiếc xuồng ba lá, ba má tôi vượt từ Cai Lậy (Mỹ Tho) qua Cái Tàu Thượng, Cái Tàu Hạ (Sa Đéc), vượt qua sông Bassac (Cần Thơ) rồi theo kinh Bảy Ngàn xuống tới Hỏa Lựu, Hóc Hỏa . Ở Hóc Hỏa ba tháng, gia đình tôi trôi xuống Chắc Băng, và ở tại xóm Cây Đa cách chợ Chắc Băng sáu cây số. Ở đây đất phèn, chẳng có rau cỏ chi cả. Chung quanh là đồng hoang, nắng cháy . Nhưng con kinh đào, chạy qua xóm có rất nhiều cá sặc rằn lẫn cá rô mề. Chị em tôi thường vào rừng tràm hái đọt choại về nấu canh hoặc luộc. Thèm canh rau mồng tơi và quê nhà ở Ngã Ba Trung Lương (Mỹ Tho) biết chừng nào!

Vào năm 1946, vừa thấy tình hình yên ổn, má tôi đem chị em tôi hồi cư . Về quê cũ, gia đình tôi trở lại nếp sống đạm bạc như xưa . Má tôi bán bớt tư trang và những món đồ sứ. Canh rau mồng tơi được nấu thường xuyên, nhưng không còn nấu với tôm thịt, mà chỉ nấu suông và nêm thêm một chút mắm ruốc cho ngọt. Chiến tranh càng lúc càng khốc liệt. Con lộ băng qua trước ngõ nhà tôi thường xảy ra những cuộc chạm súng kinh hồn.

Chúng tôi nghỉ học. Tìm được tập giấy trắng và ngòi viết lá tre cũ, tôi hái trái mồng tơi pha chế thành mực tím chép những bài hát nổi tiếng đương thời . Trên nền giấy ố vàng, những hàng chữ gò gẫm, sắc nét và lối trình bày sạch sẽ cũng làm cho tập giấy có vẻ ngoạn mục riêng.

Trong cuộc chạm súng ở trước nhà, tôi bị một vết đạn trên đầu . Sau hai tuần hôn mê ở bệnh viện Mỹ Tho, tôi được giải phẫu . Vừa khi tôi lành mạnh ăn giả bữa, chị tôi đem một " gà-men" đựng canh rau vào để tôi ăn cho ngon miệng hơn. Lúc đó, tôi ngạc nhiên quá đỗi, chị để bôm-bê và mặc quần sa-teng đen, áo bà ba lụa tím, đi guốc sơn đen. Áo lụa tím vẫn là màu mực mồng tơi mà tôi ưa chuộng.

Rồi chúng tôi bỏ Ngã Ba Trung Lương, về Vĩnh Long sống nhờ ông nội chúng tôi . Chung quanh nhà, chúng tôi rào giậu mồng tơi, trồng bồ ngót, cao kỷ, bạc hà, cây lá giấm. Mâm cơm quê nội có bát dĩa sang trọng, nhưng thức ăn rất đạm bạc. Việt Minh đã sung công hết ruộng đất của ông nội tôi . Sản nghiệp của ông dần dần khánh kiệt. Với tài chế biến khéo léo, má tôi làm những món đạm bạc nhưng ngon lành và tinh khiết: canh rau nấu bột ngọt, cá cơm kho tương ăn với dưa leo và rau thơm, cá linh, cá rô kho sả ớt, con ruốc chấy tóp mỡ... Giậu mồng tơi quê nội đã giúp cho mẹ con tôi chịu đựng cái nghèo trong cuộc chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh suốt chín năm.

Gia đình tôi lại bắt đầu sung túc khi ba tôi đi kháng Pháp trở về. Mâm cơm đã có những món xúp nấu với bột mì hoặc xúp nấu với cải bắp, khoai tây, hành tây và thịt bò, nhưng chúng tôi vẫn thích ăn canh mồng tơi, nhứt là để tưởng niệm bà ngoại tôi chết vào năm 1948.

Từ năm 1967, chị tôi thực sự bước vào làng văn do sự giúp đỡ của ông bà Võ Phiến. Vừa viết văn, làm báo, vừa đi dạy Anh văn, chị tôi có nhiều tiền. Vậy mà chị vẫn ở trong căn nhà hẹp té ở gần tòa đại sứ Cam- bốt. Chị cho rằng chỉ ở trong cái nhà đó, chị mới làm ăn khấm khá. Tôi cứ ăn chực, sống nhờ chị để đi học, mà rồi cứ lận đận ở bực đại học hoài. Mâm cơm ở nhà thật thịnhsoạn. Vậy mà vào những buổi xế nóng nực, uống nước cốt trái cây, uống bia và coca mà không đã khát, chị tôi dặn cô giúp việc:

- Em nấu canh mồng tơi và kho cá bống trứng cho chị đi.

Rồi tôi vào trường Bộ Binh Thủ Đức, khóa 26, bắt đầu từ khoảng đầu thu 1967. Vào Tết Mậu Thân, Việt cộng mở một cuộc tổng tấn công, trường hoãn việc huấn luyện. Các sinh viên sĩ quan phải ở trong tình trạng ứng chiến. Nhà bàn dọn cơm ăn toàn là thịt trâu nấu với khoai lang hoặc các thực phẩm đóng hộp. Không có chất rau cỏ trong người, chúng tôi (các bạn đồng khóa và tôi) cảm thấy táo bón, bực bội .

Nhiều đêm, tôi nằm ngủ trong căn liều cắm bên giao thông hào, mơ thấy mình lạc vào những khu rừng xanh mát, có những bồn nước mưa trong vắt, có những rẫy trồng rau mơn mởn và tươi hơn hớn, nhứt là giậu mồng tơi với những phiến lá mặt tím, mặt xanh, lung linh hư ảo dưới ánh trăng huyền hoặc. Trong thời gian đó, chị tôi kẹt ở Lộc Ninh. Khi về được Sài gòn, có đến Thủ Đức thăm tôi, đem theo rất nhiều trái cây và rau . Tôi và các bạn bắc ba cục gạch, chất củi khô nhúm lửa rồi dùng nón sắt đun nước sôi, thả rau vào luộc hoặc nấu canh với bột ngọt. Bữa cơm rau mồng tơi đầu tiên trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân mới ngon lành làm sao!

Anh bạn Q. đem cơm và nước tương ở nhà bàn về, cả bọn bốn đứa ngồi xúm xít bên nón sắt, chan canh vào cơm, rồi chấm rau vào nước tương, nhai rau ngau ngáu, húp nước canh xì xụp, cảm thấy gan ruột mình mát mẻ, mình được chút sinh tố tươi mát, mình được nhuận trường...ó một thời gian, nằm trong căn phòng tại thành phố Meudon, cách Paris hàng mười cây số, trên ngọn đồi cao, đêm đêm vọng tiếng cú rúc ở bìa rừng, tôi hình dung lại giậu mồng tơi và tô canh mồng tơi tím nấu với vài thứ rau khác cùng tôm he .

Tôi đã thấy rồi, qua hồi ức, trên những phiến lá óng mượt dưới ánh trăng, trong đáy bát canh cả một cuộc đời thăng trầm của gia đình tôi, những vận mệnh bi đát của quê hương tôi . Tuy vậy, cùng với mái tóc sớm điểm bạc, tôi đã giữ một chút tươi mát tận trong cõi tiềm lực thâm thúy, để còn hy vọng ngày về, để kể cho con cháu nghe lại một loại rau mát lành của quê hương từng nuôi sống gia đình tôi và
gieo cho tôi ý niệm về cái ung dung, tươi mát của một tâm hồn thơ mộng không bao giờ hủy diệt

Hồ Trường An

Post Reply