Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Mớ

Nguyễn Ðạt Thịnh
Mớ là nói trong cơn chiêm bao, những lời nói chỉ đi đôi với giấc mơ, không liên quan gì đến thực tế; nhiều bà vợ lợi dụng con mớ của chồng để điều tra xem chồng có tình ý với cô nào không.Nhưng mớ không chỉ là hiện tượng cá nhân, một dân tộc cũng có thể mớ nói lên những nguyện vọng, mơ ước của mình; và đó là trường hợp đài phát thanh BBC:
đài đã mớ khi phổ biến, hôm thứ Sáu mùng 5 tháng Ba, bài “Mỹ thành ‘đối tác chiến lược’ của Việt Nam?”, việc nhiều người mơ ước nhưng khó thành.
BBC cũng biết là việc Mỹ nhẩy vào Ðông Nam Á thủ vai trò quả cân đối trọng với Trung Cộng, thế lực đang hùng cứ Biển Ðông, là điều khó xẩy ra, do đó họ đánh dấu hỏi sau cái tựa để tránh cho bài báo tính xác nhận, nhưng dấu hỏi cũng không có nghĩa là hoài nghi.
BBC còn đem một nhân vậy không đủ uy tín, ông tiến sĩ Ðinh Hoàng Thắng, cựu đại sứ Việt Cộng tại Hà Lan, để dẫn chứng là ông ta từng nói trong cuộc trả lời phỏng vấn của báo trong nước rằng Hoa Kỳ có khả năng duy trì ổn định tại vùng Đông Nam Á.
“Việt Nam cần Hoa Kỳ đóng vai trò đối trọng trong việc đương đầu với các tham vọng lẫn thách thức truyền thống và phi truyền thống trong khu vực,” tiến sĩ Thắng nói trong cuộc trả lời phỏng vấn mạng VietnamNet ngày 17/2, mà cả ông Thắng lẫn VietnamNet đều không dám minh định tham vọng đó là của Trung Cộng, và thách thức đó đến từ bên Tầu.
Có thể Hoa Kỳ cần vào Biển Ðông, cũng còn có thể Hoa Kỳ muốn vào Biển Ðông, nhưng họ không thể tự nhiên, vô cớ đưa Hạm Ðội 7 vào đó; việc ông Thắng nói chỉ là quan điểm, hay ao ước riêng của cá nhân ông. Nhà nước Việt Cộng không đồng quan điểm với ông.
Do không đồng quan điểm nên chỉ một ngày sau khi đưa cuộc phỏng vấn lên mạng, VietnamNet âm thầm rút bài ra, không đăng nữa. BBC nói một số Website khác không cùng rút. Có thể họ chưa rút kịp.
Dĩ nhiên đối với người Việt yêu nước cái mớ của BBC cũng có chỗ dễ thương, vì dù không cùng giường, nhưng BBC cũng chia với đa số người Việt Nam giấc mơ “Hoa Kỳ trở thành đối tác chiến lược của Việt Cộng” để đem tầu lớn, súng dài vào Biển Ðông đóng vai trò đối trọng với sức mạnh của hải quân Trung Cộng.
Góc nhìn của ông Thắng không có gì mới: ông cho là trên bình diện hải lực, Trung Cộng không gặp đối thủ xứng tay trên Biển Ðông; ông muốn nói những liên kết của Việt Cộng với Ấn Ðộ, với Nga, Nam Hàn, Nhật đều không phải là giải pháp tìm kiếm. Giải pháp đó chỉ có thể là Hoa Kỳ.
BBC và VietnamNet lôi thêm một chính khách không uy tín nữa ra dẫn chứng là điều họ mớ rất có thể không phải là mớ; chính khách thứ nhì là ông Raymond Burghardt, một cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam .
Burghardt nói, "Hoa Kỳ và Việt Nam cùng có chung nhiều lợi ích chiến lược, trong số đó có cả việc duy trì quân bình lực lượng ở Đông Nam Á".
Trong cơn mớ, hai cơ quan ngôn luận này không nhắc cho độc giả nhớ là ông Burghardt là đại sứ tại Việt Nam từ năm 2001. Họ còn lôi thêm một chính khách nữa: nghị sĩ Jim Webb, chủ tịch tiểu ban Đông Nam Á-TBD. BBC nói ủy ban đối ngoại Thượng viện Mỹ từng tỏ ý quan ngại Trung Cộng gia tăng hoạt động quân sự tại Biển Đông thời gian gần đây.
Ông Thắng quả quyết với VietnamNet là chính trị gia Dân Chủ Mỹ muốn Hoa Kỳ có vai trò rõ ràng hơn trong tranh chấp về lãnh thổ, lãnh hải tại Biển Đông. Ông trích phát biểu của Jim Webb: “Hoa Kỳ cần xác định rõ ràng, chi tiết và cụ thể công việc bảo vệ chủ quyền của các quốc gia trong khu vực này.”
Ông Thắng nói nhu cầu tìm kiếm đồng minh từ phía Việt Nam là có thật, và nhu cầu từ phía Mỹ cũng có thật, rồi nóng ruột đặt câu hỏi, “sao cần nhau như vậy mà ‘quan hệ chiến lược’ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ lại chưa xẩy ra?”
Ông Thắng xủ quẻ rồi phán mọi việc sẽ đến vào năm 2010, thời điểm hai nước kỷ niệm 15 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao.
“Nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược với Hoa Kỳ nhân dịp 15 năm hai nước thiết lập bang giao (1995-2010) lại đúng vào thời điểm Đảng ta đang chuẩn bị Đại hội 11 sẽ là một tín hiệu quan trọng cho thấy tầm nhìn toàn cầu của lãnh đạo hai nước.”
Ông nói, “cục diện thế giới và khu vực có quá nhiều yếu tố bấp bênh.”
Sự trỗi dậy (nhiều mặt) của Trung Quốc và Ấn Độ, theo ông Thắng, sẽ gây ra một số thay đổi lớn, “đến mức diện mạo của cái trật tự được kiến tạo và xây dựng từ sau thế chiến thứ hai sẽ không tồn tại nữa.”
Để đối ứng với tình trạng này, ông Thắng đề nghị Việt Nam khẩn trương “hoàn thiện khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược với tất cả các nước lớn,” coi các quan hệ này “là nền móng chắc chắn và bền vững trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và hội nhập.”
Một diễn biến mang tính chất thời sự là việc ông Kurt Campbell trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ chuyên trách Á châu sang Việt Nam; khẩu khí của Campbell lại không có vẻ gì là khẩn trương.
Ông nói ông sang Việt Nam "để thảo luận một loạt vấn đề". Ðiều trần trước Ủy ban Đối ngoại Hạ viện ở Washington , Campbell nói muốn xây dựng quan hệ bền chặt với Mỹ, "Việt Nam cần cải thiện hồ sơ nhân quyền của mình".
Khẩu khí này không cho thấy một khẩn độ quân sự nào trên Biển Ðông hết, vì chỉ khi nào nhẩn nha, vô sự Hoa Kỳ mới nói chuyện đòi nhân quyền cho Việt Nam. Ông bảo các dân biểu: "Tôi có thể nói rằng ch́úng ta có một sự phân đôi (trong quan hệ) với Việt Nam".
"Một mặt, đang có quan ngại thực sự về bước lùi trong các vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo trong những năm gần đây. Mặt khác, chính quyền Việt Nam hiện nay đang muốn một quan hệ chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ vì lý do chiến lược."
Ông Campbell gọi mâu thuẫn là “phân đôi”, rồi nói: "Sẽ rất khó có quan hệ như vậy nếu Việt Nam không có bước tiến rõ rệt để cải thiện tình hình trong nước".
Nói cách khác nhu cầu của Việt Cộng tạo lực lượng đối trọng với Trung Cộng trên Biển Ðông không chi phối chủ trương nhân quyền, một nguyên tắc chính trị của Hoa Kỳ; mà ngược lại nhân quyền đang trở thành yếu tố đòi hỏi của Hoa Kỳ để thoả mãn nhu cầu tự vệ của Việt Cộng.
Hoa Kỳ đã lên tiếng chỉ trích gay gắt các vụ bỏ tù đối kháng ở Việt Nam, qua các phiên tòa xử quý ông Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long hồi giữa tháng 01/2010.
Được biết ông Lê Công Định (người lãnh án 5 năm tù tội Hoạt động Lật đổ chính quyền) và ông Trần Huỳnh Duy Thức (15 năm tù vì cùng tội danh) đã nộp đơn kháng án. Hai ông Trung (7 năm tù) và Lê Thăng Long (5 năm tù) không kháng cáo.
Chưa rõ trong chuyến đi này ông Campbell có đề cập tới các trường hợp vừa nêu nhất là trường hợp ông Lê Công Định, người được phương Tây biết nhiều.
Ông Campbell cũng có dự tính thăm Lào, chỉ dấu cho thấy Hoa Kỳ muốn tìm hiểu sâu sắc hơnvề các nước cộng sản Đông Nam Á.
Chuyến đi Việt Nam của ông Campbell có thể tạo cho chúng ta đôi chút hy vọng, nhưng e là hy vọng này vẫn là cảnh mớ nói nhảm, vì một chuyến đi khác đã xẩy ra 2 tuần trước: chuyến đi của thứ trưởng quốc phòng Việt Cộng, tướng Nguyễn Chí Vịnh; ông ta đi sang Tầu.
Tân Hoa Xã, hãng tin của nhà nước Tầu nói ông Vịnh sang Tầu để hối thúc việc “tăng cường quan hệ quốc phòng Việt Cộng-Trung Cộng”. THX đặt câu này làm tựa cho bài báo tường thuật công tác của ông Vịnh.
Chỉ riêng cái tựa của bài báo đã chuyên chở đến 3 câu hỏi: (1) Tại sao lại phải “tăng cường quan hệ quốc phòng”? (2) và trên thực tế việc “tăng cường” được thực hiện như thế nào? (3) để làm gì? Xin lần lượt trả lời 3 dấu hỏi viết chung, và dấu kín vào một câu ngắn.
Trước nhất, nếu “tăng cường quốc phòng” là việc tìm thêm đồng minh, mua thêm tầu ngầm, khu trục, thì ngược lại việc “tăng cường quan hệ quốc phòng” lại đặt những phương tiện chiến tranh đó vào chung với những phương tiện chiến tranh của Trung Cộng, để sử dụng trong mục đích chung. Tầu-Việt chỉ có những mục tiêu quân sự đối chỏi chứ không có mục đích chung. Do đó đem quân lực Việt Cộng góp sức với quân lực Tầu để thực hiện mục đích chung của hai nước, chỉ là nói loanh quanh để che dấu thái độ đầu hàng của Việt Cộng.
Ðiều thứ nhì là Trung Cộng đã hóa giải mục đích quốc phòng cấp bách nhất của Việt Cộng là bảo vệ Biển Ðông và bảo vệ những hải đảo trong biển này, bảo vệ tài nguyên nhiên liệu nằm trong lòng biển, thành một công tác võ trang của cả hai nước; điều trái cẳng ngỗng là hai nước này cùng đang tranh dành vùng biển đó.
Ðiều thứ ba là mục đích của việc bỏ tất cả mọi phương tiện chiến tranh vào chung một tụ là để tất cả mọi chiến cụ của Việt Cộng đều chỉ tác động theo lệnh của tướng lãnh Trung Cộng, sau khi quan hệ quốc phòng Hoa-Việt đã tăng cường.
Tân Hoa Xã “Việt Nam hoá” việc “tăng cường quan hệ quốc phòng” bằng cách trình bầy là Trung Cộng không chủ trương việc này mà chính thứ trưởng Quốc phòng Việt Cộng Nguyễn Chí Vịnh tự ý đến thăm Trung Cộng để thúc đẩy hợp tác giữa hai quân đội, nhân kỷ niệm 60 năm quan hệ song phương.
Tân Hoa Xã cho hay ông Vịnh vừa hội kiến Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt và Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Trung Quốc Trần Bình Đức hôm thứ Hai 3/01.
Họ gặp nhau tại trụ sở Bộ Quốc phòng TQ, tòa nhà Bát Nhất ở Bắc Kinh.

Hãng tin chính thức của nhà nước Trung Cộng nói hai bên đã thảo luận về phương hướng phát triển quan hệ song phương, đặc biệt là quan hệ quốc phòng.
Bộ trưởng Lương Quang Liệt được trích lời nói quan hệ Việt -Trung đang bước vào giai đoạn phát triển mới với sự hợp tác hiệu quả giữa quân đội đôi bên.
"Trung Quốc sẵn sàng hợp tác với Việt Nam để đẩy mạnh trao đổi và cộng tác nhằm mục tiêu xã hội chủ nghĩa và các tiêu chí đối tác chiến lược."
Không ý thức được việc làm bán nước, bán biển Việt Nam cho Trung Cộng, tướng Chí Vịnh nói Việt Nam hy vọng sẽ thu gặt nhiều lợi ích từ quan hệ hữu nghị và hiệu quả giữa hai quân đội, vì an ninh khu vực.
Hai bên đồng ý sẽ tăng cường trao đổi quốc phòng trong năm 2010, năm được cả Trung Cộng lẫn Việt Cộng coi là năm hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc.”

Quả là khiếp đảm: Trung Cộng giải giới nửa triệu quân Việt Cộng chỉ bằng một chữ ký của tướng Chí Vịnh.
Lần đầu tiên Hà Nội và Bắc Kinh thiết lập quan hệ ngoại giao là vào năm 1950, một năm sau ngày Trung Cộng làm chủ lục địa Trung Hoa, nhưng liên hệ song phương bị gián đoạn sau 1975, vì Trung Cộng cáo buộc Việt Cộng là có mưu đồ tiểu bá Ðông Dương; quan hệ giữa đôi bên chỉ bình thường hóa từ năm 1991.
Tân Hoa Xã không cho biết chuyến thăm Trung Cộng của tướng Vịnh bắt đầu và kết thúc khi nào. Báo chí Việt Nam cũng không nhắc gì tới chuyến thăm này.
Đây là lần đầu tiên tướng Vịnh dẫn đầu một phái đoàn cao cấp của quân đội Việt Cộng thăm chính thức Bắc Kinh và hội đàm với giới lãnh đạo Quốc phòng Trung Cộng.
Chỉ qua một chuyến viếng thăm của tướng Vịnh, Trung Cộng giải quyết vấn đề Biển Ðông, Tầu hoá toàn thể quân đội Việt Cộng để hoá giải tất cả mọi nguy cơ chạm súng trên Biển Ðông.
Từ nay đoàn tầu “ngư chính” của Tầu sẽ đóng vai cảnh sát biển, giúp Việt Cộng giữ an ninh, trật tự trên toàn lãnh hải Việt Nam, giới hạn hoạt động ngư nghiệp của người dân chài Việt Nam vào vài chục cây số quanh bờ biển, và vào 9 tháng hành nghề mỗi năm.
Mùa nào luật Tầu cấm đánh bắt hải sản, mùa đó ngư dân Việt Nam đành kéo nhau ra đồng mót lúa về ăn cầm hơi.
Tất cả những mất mát hải phận, hải sản, và tài nguyên nhiên liệu lớn lao đó diễn ra vô cùng êm thấm, Trung Cộng không cần nổ một tiếng súng xâm lược nào cả. Và kỹ thuật của Tân Hoa Xã ngụy trang việc Việt Cộng đầu hàng bằng chữ nghĩa hoa mỹ còn giúp bọn trùm Việt Cộng vẫn cứ đeo mặt nạ làm người để cai trị gần một trăm triệu người Việt Nam .
Mục tiêu duy nhất của mọi nỗ lực quốc phòng Việt Nam là tự vệ chống Trung Cộng, hầu bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, lãnh hải. Ngoài Trung Cộng ra, đe dọa quân sự không đến từ bất cứ quốc gia láng giềng nào khác nữa cả.
Tướng Vịnh đã ký kết những hiệp ước “tăng cường quan hệ quốc phòng” với Trung Cộng thì còn nói chuyện ông Campbell , ông Burghardt, hay ông Thắng nữa làm gì. Chính vì đang đứng trước tình trạng Việt Cộng không mặn mòi với việc đối trọng hải quân Trung Cộng nữa, nên ông Campbell mới nói chuyện nhân quyền.
Người Việt hải ngoại cũng không nên mớ nữa: con đường duy nhất còn lại là lật Việt Cộng xuống. Cô Lê thị Công Nhân đã nói rất rõ: cô không hối tiếc việc cô làm, và cái giá tù tội mà cô đã trả; cô chỉ buồn vì cô mới làm được có 1 phần 90 triệu công việc cần làm, phần còn lại là việc của 87 triệu nguời quốc nội, và 3 triệu người hải ngoại.
Bắt tay vào việc đi thôi, đừng mớ nói nhảm nữa.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

TRƯỜNG XUÂN

Giao Chỉ


Tháng 4 năm 1975-Saigon / “ Một con tàu ngơ ngác ra khơi ” (Nam Lộc) / Một thuyền trưởng tuyệt vọng / Gần 4 ngàn hành khách của định mệnh / Cuộc hành trình không bờ bến / Vỏn vẹn 3 ngày hải hành trôi nổi / Hai người tự tử thủy táng / Hai đứa trẻ ra đời / Con tàu kéo Song An, cứu tinh số 1 / Thương thuyền nhân đạo Ðan Mạch, cứu tinh số 2 / Sau cùng, tàu Trường Xuân không chìm được kéo về Hồng Kông với thi hài của người khách cuối cùng:

Ðại tá Wong A Sáng, sư đoàn 5 bộ binh / Câu chuyện 34 năm trước được kể lại vào dịp ghi dấu 35 năm sau (1975-2010 ). / Và giới thiệu người con gái của biển Ðông: Chiêu Anh. (Shining Light).
Có con tầu nằm trên bến đỗ...
Ngày xưa tại Việt Nam gần như chỉ có 1 hãng thương thuyền hàng hải lớn nhất là Vishipcoline của chủ nhân Trần đình Trường. Hiện ông Trường là nhà tư bản có nhiều tài sản và hotel tại Nữu Ước.
Một trong các thương thuyền của hãng là tàu Trường Xuân, vị thuyền trưởng lúc đó là ông Phạm Ngọc Lũy. Ông Lũy sinh quán tại Nam Ðịnh, ra đời năm 1919. Vào tháng 5-1975 thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đã có 30 năm kinh nghiệm hàng hải.

Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Trường Xuân đã xuống hàng hoàn tất chuẩn bị chở sắt vụn đi Manila. Một chuyến đi vô thưởng vô phạt. Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy lúc đó 56 tuổi, Bắc kỳ di cư, quyết không ở lại sống với cộng sản. Ông tìm đường ra đi bằng mọi giá. Ông ước mong dùng được Trường Xuân chở đồng bào tỵ nạn. Trên đống sắt vụn của Trường Xuân lần này phải là sinh mệnh của những con người. Ông cần có thủy thủ đoàn và ông cần cả hành khách. Trải qua bao nhiêu là gian nan phức tạp vào cái tuần lễ cuối cùng của cái tháng 4 đen oan nghiệt. Sau cùng tới 29 tháng 4-1975 thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy viết lên tàu hàng chữ định mệnh. Tàu Trường Xuân khởi hành 12 giờ trưa 30/4/75.
Image Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy.

Lúc đó thủy thủ đoàn gần 30 người nhưng ông chỉ có vỏn vẹn 5 người. Có lẽ ông cần chừng 300 hay 400 hành khách, nhưng chưa có người nào.

Con tàu Trường Xuân ngủ yên trên bến Saigon giữa đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4-1975.

Saigon hấp hối
Tại Saigon mặt trận Long Khánh đã tan vỡ, tất cã 3 quân khu đều nằm trong tay giặc. Chỉ còn miền tây vẫn yên tĩnh. Sáu sư đoàn cộng quân 3 mặt tiến về Saigon. Các đơn vị pháo của Bắc quân đã chuẩn bị trận địa pháo vào thủ đô. Các tiền sát viên chỉ điểm cộng sản đã có mặt tại các vị trí quân sự.

Phi cơ trực thăng Hoa Kỳ đang bay di tản những phi vụ cuối cùng. Nội các mới của Việt Nam Cộng Hòa họp bàn về việc bỏ súng và bàn giao. Ðài phát thanh Saigon chuẩn bị đọc những lời tuyên bố đau thương của tổng thống Dương văn Minh gửi người anh em phía bên kia , xin mời vào nói chuyện. Thủ tướng Vũ văn Mẫu kêu gọi người anh em đồng minh Hoa Kỳ phía bên này, xin vui lòng ra đi.

Giữa mùa hè chói chang, radio của quân đội Hoa Kỳ chơi bài Tuyết Trắng, một ám hiệu kêu gọi ra đi lúc trái gió trở trời. Ðài quân đội Việt Nam Cộng Hòa hát nhạc quân hành trong tuyệt vọng.

Ðó là Saigon của đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4-1975. Con tầu Trường Xuân bụng đầy sắt vụn vẫn nằm ngủ yên trên bến sông Khánh Hội. Lửa bắt đầu bốc cháy bên kho đạn Thành Tuy Hạ.

Cô gái thuyền nhân trong bụng mẹ
Cũng vào cái tuần lễ sau cùng của tháng 4 nghiệt ngã đó, có bà sản phụ vào nhà thương ngày 27/4/1975 để chuẩn bị sanh đứa con thứ hai.
Image Bà dược sĩ trẻ tuổi có mang 9 tháng 10 ngày. Ðứa bé sẽ ra đời bất cứ lúc nào. Bây giờ tính sao đây. Xin mổ để sanh sớm rồi chạy, hay là tìm đường chạy rồi muốn ra sao thì ra. Chợt có được giấy phép di tản bèn bỏ nhà thương vào tòa đại sứ Mỹ. Nhưng rồi máy bay không trở lại. Cộng sản vào đến cửa ngõ Saigon. Gia đình tìm đường xuống Khánh Hội. Tìm ghe chạy ra tàu Trường Xuân sáng 30 tháng 4-75. Bà bầu cùng gia đình, mẹ già, con trai nhỏ 2 tuổi leo giây lên Trường Xuân.



MS Clara Maersk (Denmark) Mother and children.

Gia đình bà dược sĩ Saigon, mới ra trường năm 1972 đã thành những người khách không mời của chuyến hải hành vô định trên tàu Trường Xuân, ra đi xế chiều 30 tháng 4-1975.
Ðứa bé gái hoài thai từ Saigon tự do, nhưng gan lì nằm trong bụng mẹ hay sợ súng đạn nên không chịu chào đời. Cho đến khi Trường Xuân ra đến hải phận quốc tế. Ðứa bé mới chịu ra đời. Ðó là câu chuyện 34 năm trước viết lại cho ngày kỷ niệm 35 năm sau vào tháng năm 2010.

Trở lại với Trường Xuân
Vào chiều 30 tháng 4-1975, con tàu Trường Xuân sau khi đã thành lập xong 1 thủy thủ đoàn tình nguyện và có gần 4,000 hành khách ngẫu nhiên đã lên đường hết sức vất vả trong điều kiện kỹ thuật tồi tệ và bị phá hoại mọi bề.

Hành khách không vé của Trường Xuân gồm đủ tất cả hai ba thế hệ Việt Nam Cộng Hòa, mọi thành phần, mọi giai cấp, mọi hoàn cảnh. Ðủ cả ba ngành lập, hành và tư pháp. Có mặt sĩ nông công thương binh. Không hề thiếu nam phụ lão ấu. Các nghệ sĩ sáng tác và nghệ sĩ trình diễn. Chuyến hải hành vào chân trời vô định với một ông thuyền trưởng nhân đạo và hết sức kiên định. Những tay phụ tá tình nguyện rất xuất sắc và sau cùng định mệnh đã đưa 3,628 con người đi tìm tự do đến được bến tự do.

Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đã nói rằng Trường Xuân sẽ không thoát được nếu không có Song An. Song An là ai ? Ðây chỉ là tên con tàu kéo nhỏ bé đang trên đường từ Vũng Tàu về cảng Saigon. Anh già Trường Xuân đang mắc cạn bèn túm lấy đứa bé Song An đòi nó kéo. Vậy mà nó kéo được. Ra đến hải phận, cho đến lúc anh già Trường Xuân tự chạy được bác cháu mới chia tay. Lẽ dĩ nhiên câu chuyện hải hành của đêm dài 30 tháng 4-75 không giản dị như thế ! Với lửa cháy ngập trời Thành Tuy Hạ và tiếng súng đuổi theo trên sông Lòng Tào, đêm hôm đó là đêm dài nhất của cuộc đời Trường Xuân.

Khi anh già Trường Xuân từ giã cậu bé Song An trên đại dương, khách Trường Xuân góp tiền cho Song An trở về Saigon. Hai, ba bị tiền hàng chục triệu đồng Việt Nam đưa qua. Lái tàu Song An nói 1 câu kỳ diệu “ Thôi ! tiền nhiều quá, đủ rồi. Ðừng đưa nữa “.Trong đời chúng ta hiếm khi nào nghe được những lời nói đó.

Với tâm tình như vậy, tàu kéo Song An từ giã Trường Xuân. Tiếng còi tạm biệt trên trùng khơi nghe những nghẹn ngào.

Có vài hành khách bỏ Trường Xuân nhẩy theo Song An trở về Saigon. Trên 3,600 khách Trường Xuân ngó theo Song An nhỏ dần trên đường trở lại quê hương. Khóe miệng chợt thấy vị mặn. Ðây là nước biển sóng đánh bên thành tàu hay là nước mắt biệt ly.

Rồi con tàu Trường Xuân chạy 1 mình. Gần 4,000 hành khách. Không đủ nước, không có thức ăn. Máy móc trục trặc. Nước tràn vào khoang tàu. Sắt vụn vô tri dưới hầm tầu. Con người tuyệt vọng ở trên boong.

Hai người tự tử được thủy táng. Việt cộng phá hoại chỗ này. Máy tàu hư hỏng chỗ kia.

Con tàu vô định có thể sẽ là quan tài nổi. Một hỏa diệm sơn chưa nổ. Các tin tức bi quan được lệnh của thuyền trưởng phải dấu kín. Trường Xuân nín thở, ỳ ạch tiếp tục chạy. Chợt có tiếng kêu : “Có người rớt xuống biển.”

Ông thuyền trưởng Nam Ðịnh đứng im trên đài chỉ huy lặng người bất động. Nửa giờ trôi qua như 1 thế kỷ. Captain Phạm ngọc Lũy sau cùng ra lệnh quay tàu lại vớt người. Một quyết định vô vọng. Hành khách nói. Một quyết định sai lầm. Hành khách nói. Hy sinh 4,000 người để cứu 1 người là nhầm lẫn. Hành khách nói. Captain điên rồi.

Tại sao ? Thuyền trưởng sau này trả lời. Tìm vớt 1 người để cứu 4,000 người.

Như vậy có thể hiểu rằng con tàu Trường Xuân đang là một hỏa diệm sơn sẵn sàng phun lửa nổi loạn. Hành động bình tĩnh quay tầu lại tìm 1 người là bài học nhân đạo cho mọi người và giữ cho được sự bình an của toàn thể con tàu.

Có thể Thượng Ðế trên cao đã nhìn thấy chuyện vớt người giửa biển của Trường Xuân nên đã đem lại vị cứu tinh số hai. Ðó là con tàu Ðan Mạch. Tiếng Trường Xuân kêu cứu vọng trên đại dương. Tàu Ðan Mạch trên đường viễn du hỏi rằng thế đã kêu hạm đội Mỹ chưa? Trả lời : “Có số đâu mà kêu.” Ðan Mạch thở dài. “Thôi chờ đó, chúng tôi sẽ đến tiếp tế và rước chừng 1,500 đàn bà trẻ con.”

Ra đời giữa trời biển mênh mông
Trước đó vài giờ đồng hồ, sáng ngày 2/5/75, bà dược sĩ họ Bùi đau đẻ. Gần 4,000 con người phải chừa ra 1 chỗ trống cho sản phụ. Ðứa bé gái ra đời khoảng 2 giờ sáng. Con bé gốc Saigon Việt Nam, nằm trong bụng mẹ trên Trường Xuân, được kéo đi bởi Song An. Sanh ra giữa biển Ðông, Thái bình dương. Không sữa, không nước, không cơm, không cháo. Một người dúi vào tay sản phụ miếng cam thảo.

Bà nhai ra rồi lấy nước miếng bôi vào miệng con gái. Tiếng khóc chào đời vang trên biển rộng mênh mông. Một thanh niên nhấc bổng đứa bé đưa qua tàu Ðan Mạch. Bà mẹ nhìn theo bóng con vươn lên trời xanh, nước mắt một lần nữa lại như vị mặn của biển khơi.

Khai sanh của cháu đề ngày 2/5/1975 trên tàu Ðan Mạch, tên cháu là Chiêu Anh.

Trường Xuân: Ôi, Trường Xuân !
Như vậy là tổng cộng ba ngàn sáu trăm hai mươi tám người đến bến tự do, bây giờ định cư ở bốn phương trời. Một thế hệ Trường Xuân ra đời và nối tiếp.

Thoạt tiên tất cả được đưa về tạm trú ở Hồng Kông. Nhà chức trách Hương Cảng hứa hẹn sẽ không trả về Việt Nam.

Trước khi rời con tàu, thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đi thanh sát một vòng. Hình ảnh cảm động sau cùng là một người đàn ông mệt mỏi cúi xuống cõng bà mẹ già tê liệt. Trên khoang tàu mênh mông hiện chỉ còn là bãi rác. Một người đàn ông ạch đụi cõng mẹ qua tàu Ðan Mạch, quả thực là hình ảnh hết sức ngậm ngùi. Ðó là ông thiếu tá nhẩy dù Phan Huy Hoàng, sau này đưa mẹ về định cư tại Texas.

Khi vị thuyền trưởng rời tàu Trường Xuân thì nước đã tràn vào khoang máy. Vẫn còn dưới hầm, thân xác 1 ông già sẽ thủy táng theo con tàu.

Nhưng sau này được biết, khi người lên hết tàu Ðan Mạch, Trường Xuân ngập nước nhưng không chìm. Hai tháng sau được kéo về Hồng Kông, đi theo hành khách của nó.

Con rể của ông già nằm trên Trường Xuân đã nhận xác cha. Di hài vị dân biểu gốc Nùng của Việt Nam Cộng Hòa: Ðại tá Wong A Sáng của sư đoàn 5 bộ binh, một thời đồn trú tại Sông Mao. Con người và con tàu, cả hai đều làm xong nhiệm vụ cuối cùng cho hai chữ tự do.

Một thế hệ tương lai

Bà dược sĩ trẻ tuổi họ Bùi bây giờ định cư tại Montreal, Canada và học lại nghề cũ từ 1977. Pharmacie BUI tại Gia nã Ðại có từ ngày đó.

Ðứa bé gái Chiêu Anh ra đời giữa Thái Bình Dương tháng 5-75, hai mươi tư năm sau vẽ 1 bức tranh họa cảnh tàu Trường Xuân nộp cho trường đại học Parkson school of Design, New York. Cô được nhận vào học và tốt nghiệp danh dự với huy chương vàng về ngành sáng tạo y phục thời trang. Hiện Chiêu Anh còn độc thân và làm việc tại San Francisco Hoa Kỳ. Trong một bản văn tự thuật bằng Anh ngữ, Chiêu Anh kể chuyện mình như sau.

“Con là Trường Xuân Baby. Từ biển cả, con là một thuyền nhân sống sót. Khi Sài Gòn thất thủ, cha mẹ chạy xuống tầu Trường Xuân của thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy. Trong cái đêm dài sâu thẳm, vào lúc 2 giờ sáng 2 tháng 5-75 con sanh ra đời. Ðó là giây phút của hãi hùng và hy vọng. Ðời con khởi sự vất vả. Mắt hài nhi không mở. Xương quai bị gẫy, vai bị cụp. Mẹ đói không có sữa cho con. Vị cam thảo ngọt bôi vào miệng sơ sinh vẫn còn ghi nhận cho đến ngày nay. Tầu Danish của thuyền trưởng Ðan Mạch Anton Martin Olsen đã cứu gia đình con và đưa vào nhà thương Anh Quốc tại Hồng Kông. Khai sanh của con với chứng chỉ công dân Denmark trên tầu MS Clara Maersk. Vì những giấy tờ này, tòa đại sứ Ðan Mạch lo cho cả gia đình định cư tại Canada trong 21 ngày. Con đã tiếp tục sống trong những ngày thơ ấu khó khăn vất vả như những gia đình tỵ nạn khác. Cùng với người anh hơn con 2 tuổi, chúng con cố sức học hành để xây dựng tương lai. Con xin được học bổng để theo ngành sáng tạo thời trang và tốt nghiệp 1998 với bằng danh dự tại đại học hàng đầu New York. Con bắt đầu làm việc cho các hãng thời trang nổi tiếng tại Paris, New York và San Francisco. Con đã có dịp đi đến tất cả các đô thị lớn nhỏ từ Âu châu, Á châu, Mỹ châu trong thế giới của ngành sáng tạo thời trang. Nhưng con luôn luôn nhớ rằng mãi mãi vẫn là một thuyền nhân sống sót, một Trường Xuân Baby.”

35 năm nhìn lại

Kể từ tháng 4-75 cho đến tháng 4-2010 chúng ta có 35 năm nhìn lại. Mỗi năm chúng tôi sẽ chọn 1 nhân vật hay 1 sự kiện để giới thiệu.

Trên sân khấu CPA của San Jose tháng 5-2010, người đầu tiên được giới thiệu sẽ là cô Chiêu Anh, Shining Light.

Cô sẽ hiện diện với thân mẫu từ Canada, với bác thuyền trưởng Phạm ngọc Lũy 91 tuổi, với hình ảnh của Trường Xuân, của Song An, và của con tàu Ðan Mạch.
Khởi đầu từ năm 75 trở đi, qua 76, 77 cho đến 2009 và 2010. Lịch sử giở lại từng trang. Bi thảm, hào hùng, tuyệt vọng và hy vọng. Nhưng mở đầu vẫn là chuyến hải hành ngắn ngủi nhưng hết sức đặc thù.

Chuyến đi của Trường Xuân

Trường Xuân, ơi Trường Xuân, Saigon tháng 4 đen
Bốn ngàn người vượt biển, Bỏ đất nước điêu linh. Trên con tàu vô định

Trường Xuân, ơi Trường Xuân. 35 năm nhìn lại
Xem ai còn ai mất, Lệ tuôn khắp dặm trường. Bốn phương trời thế giới

Trường Xuân, ơi Trường Xuân. Gần bốn ngàn người sống.
Với ba mạng tử vong. 2 đứa bé lọt lòng. Giữa mênh mông trời biển

Trường Xuân, ơi Trường Xuân. Một thế kỷ vừa qua...
Tương lai rồi sáng chói. Chuyện này cần kể lại...

Trường Xuân, ơi Trường Xuân, Ngàn năm còn nhớ mãi...

Giao Chỉ-San Jose

Image
Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy.
Một trong các thương thuyền của hãng là tàu Trường Xuân, vị thuyền trưởng lúc đó là ông Phạm Ngọc Lũy. Ông Lũy sinh quán tại Nam Ðịnh, ra đời năm 1919. Vào tháng 5-1975 thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đã có 30 năm kinh nghiệm hàng hải.

Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Trường Xuân đã xuống hàng hoàn tất chuẩn bị chở sắt vụn đi Manila. Một chuyến đi vô thưởng vô phạt. Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy lúc đó 56 tuổi, Bắc kỳ di cư, quyết không ở lại sống với cộng sản. Ông tìm đường ra đi bằng mọi giá. Ông ước mong dùng được Trường Xuân chở đồng bào tỵ nạn. Trên đống sắt vụn của Trường Xuân lần này phải là sinh mệnh của những con người. Ông cần có thủy thủ đoàn và ông cần cả hành khách. Trải qua bao nhiêu là gian nan phức tạp vào cái tuần lễ cuối cùng của cái tháng 4 đen oan nghiệt. Sau cùng tới 29 tháng 4-1975 thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy viết lên tàu hàng chữ định mệnh. Tàu Trường Xuân khởi hành 12 giờ trưa 30/4/75.

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

DIỄM XƯA – NGÔ VŨ BÍCH DIỄM
ĐÃ PHẢN BỘI CHÍNH THÂN PHỤ CỦA MÌNH, GS. NGÔ ĐỐC KHÁNH
Trần Cao Lãnh
QGHC

Kính thưa Bà Con Tỵ Nạn khắp nơi,
Thưa các Bạn QGHC;

Lý do chính thúc đẩy tôi viết bài nầy là vì Ngô Vũ Bích Diễm, nguyên là một công chức cao cấp của VNCH, phục vụ với chức vụ Giám Đốc tại Bộ Xã Hội. Chị Bích Diễm đã tốt nghiệp khóa 12 Ban Đốc Sự của Học Viện QGHC, nơi duy nhứt đào tạo công chức cao cấp cung ứng cho guồng máy hành chánh của VNCH từ địa phương, đến các Bộ Phủ Trung Ương.

Trên nguyên tắc và danh nghĩa những người tốt nghiệp Học Viện QGHC phải là những người tiêu biểu và đại diện cho chế độ VNCH về lãnh vực Hành Chánh. Cũng như Quân Lực VNCH là lực lượng chính yếu để bảo vệ chính thể Tự Do VNCH của Miền Nam Việt Nam .

Do đó, hơn ai hết, hơn mọi ngành nghề chuyên môn khác của VNCH; người công chức tốt nghiệp HV/QGHC phải có trách nhiệm về LẬP TRƯỜNG TỰ DO, chống lại chế độ độc tài Việt Cộng. Bởi vì chính lập trường tự do đó mà người công chức VNCH đã ưng thuận, để được tuyển dụng ăn lương hàng tháng và đương nhiên phải có bổn phận và trách nhiệm bảo vệ lập trường tự do đó !

Theo thiển nghĩ của tôi, tuy VNCH không còn tồn tại nữa ! Nhưng không phải vì thế mà người công chức cũ đã hết trách nhiệm và bổn phận đối với lập trường tự do. Tôi tin chắc rằng nếu người công chức VNCH luôn thức tỉnh và có ý thức thì vẫn nhận ra trách nhiệm của mình. Cụ thể dễ nhìn thấy nhứt là người công chức VNCH cũng bởi không từ bỏ lập trường gắn bó với VNCH nên mới được các nước đồng minh và tự do CHẤP NHẬN cho tái định cư ở những nước của họ với tư cách là người Tỵ Nạn Cộng Sản.

Cho nên những ai , đặc biệt là những công chức VNCH đang sống tỵ nạn ở các nước tự do đều phải có trách nhiệm giữ gìn tư cách tỵ nạn để tự mình trung thành với những lý do mà mình được chấp nhận cho sống bình thường với đầy đủ quyền lợi như bất cứ một công dân địa phương nào.

Hành động cố tình bỏ quên những điều kiện tỵ nạn, lúc nào, hoàn cảnh nào cũng là MỘT HÀNH VI PHẢN BỘI, không thể nào chấp nhận và tha thứ được về phương diên lương tâm và về ân nghĩa mà các nước tiếp cư đã ưu ái dành cho người tỵ nạn Việt Nam chúng ta.

Vì lý đo đó mà tôi xin đề cập đến trường hợp một chị Cựu công chức VNCH là chị Ngô Vũ Bích Diễm, sau nhiều năm sống tỵ nạn tại Hoa Kỳ, gần đây đã đột ngột trở lại Việt Nam theo phái đoàn gọi là từ thiện của Nhóm Phật Giáo Về Nguồn ở California tổ chức.

Tôi không dám đoán chắc là việc chị Bích Diễm đi theo nhóm Phật Giáo Về Nguồn, tức là Phật Giáo Quốc Doanh của Việt Cộng tổ chức trong nước và kéo dài thành tôn giáo vận ở Hải ngoại đã được nhiều đồng môn QGHC thuộc Hội QGHC ở Nam Cali biết rõ từ lâu ??? Tuy nhiên tôi tin chắc là đã có một số ít QGHC thân cận với chị Bích Diễm đã biết từ khuya, mà vì nể tình , vì sợ mích lòng nên đã nín thinh để cho chị Bích Diễm ngang nhiên tiến dần lên mức độ đã CÔNG KHAI VỀ VN “GIAO LƯU” VỚI VIỆT CỘNG vào chuyến đi hồi đầu tháng 3/2010 nầy! (*Chữ “giao lưu” là chữ mà báo chí VC đã dành cho chị Bích Diễm trong bài tường thuật tại Huế ngày 10-3-2010).

Hành động trở về VN theo phái đoàn PG Về Nguồn là một HÀNH ĐỘNG PHẢN BỘI cả Cộng Đồng Tỵ Nạn Hải Ngoại và phản bội cả với đồng bào yêu chuộng, tha thiết mong mỏi tự do ở quê nhà , mà chính những người như Lm. Nguyễn Văn Lý, Ls. Lê Thị Công Nhân, Ls. Trương Công Định … và rất nhiều người khác đang xả thân tranh đấu với bạo quyền Việt Cộng, một Đảng Cướp Chính Hiệu đã hiện nguyên hình.

Mọi việc làm VÔ Ý THỨC như chị Bích Diễm đang làm đều KHÔNG ÍT đã LÀM LỢI CHO VIỆT CỘNG, đều đi ngược lại với mọi tranh đấu cho tự do dân chủ của mọi cố gắng bằng xương máu và tù đày.


Tôi tin chắc rằng: Sẽ có rất nhiều người đã thức tỉnh và quyết chọn đường lối MỚI như Ls. LÊ DUY SAN đã thể hiện gần đây, đã mạnh dạn đứng lên TỐNG CỔ Nguyễn Hữu Liêm ra khỏi bữa tiệc của Hội Luật Gia Cali. Qua việc làm dứt khóat của Ls.San cho thấy đã đến lúc chúng ta phải hành động, nhứt định loại những tên nằm vùng, những tên thân cộng ra khỏi mọi sinh hoạt của Người Tỵ Nạn chúng ta. Thực tế đã chứng minh cho thấy một cách thức mới NHƯ THẾ rất hữu hiệu để cô lập những tên ăn cơm QG thờ ma Cộng Sản. Từ nay đừng hòng trà trộn để tiếp tục gây chia rẽ, gây xáo trộn trong hàng ngũ QG Tỵ nạn mà chúng đã thực hiện an toàn trong nhiều thập niên qua tại Hải Ngoại.


Trường hợp Ngô Vũ Bích Diễm, các anh trong Hội QGHC ở Nam Cali có dám can đảm đứng lên vạch mặt Bích Diễm như Ls. San đã dành cho tên NHLiêm không ???

Vì tôi tin rằng câu chuyện Diễm Xưa- Ngô Vũ Bích Diễm sẽ không dễ dàng chấm dứt ở đây, dù cho cả KHỐI QGHC hay nguyên cả Hội QGHC Nam Cali CỐ LỜ LUÔN thì những người có lương tâm khác sẽ không bỏ qua để làm sáng tỏ vấn đề, vạch mặt Bích Diễm, vạch mặt những đứa núp bóng tỵ nạn để thân cò béo nở , để mà về VN ĐÚ ĐỞN “GIAO LƯU” VỚI VIỆT CỘNG.

Cho nên, trong phạm vi cố thu ngắn bài viết hôm nay, tôi xin phép đi sâu một chi tiết mà đề tài đã ghi rõ bên trên:

NGÔ VŨ BÍCH DIỄM đã phản bội ngay chính thân phụ của mình là giáo sư khả kính NGÔ ĐỐC KHÁNH, một thời ở Huế đã được học sinh Huế rất nể trọng.


GIAI THOẠI.

Tôi xin thưa ngay đây là một GIAI THOẠI, là vì tôi chỉ nghe nói và đã đọc được ở một tài liệu, một bài viết nào đó mà tôi đã quên tên tác giả và cũng chỉ nghe một chiều. Nên cá nhân tôi không dám quả quyết câu chuyện nhỏ sau đây là thật 100% ! Vì thế nếu bất cứ ai hiểu rõ đâu là sự thật thì xin mạnh dạn lên tiếng giùm !!!

NHƯNG, nếu như GIAI THOẠI sau đây là THẬT , thì so với những gì mà chị Bích Diễm đang làm công khai ở VN thì quả là MỘT HÀNH VI PHẢN BỘI CHA MÌNH Gs. NGÔ ĐỐC KHÁNH trước tiên hơn ai hết.

“ Từ trước đến nay, đã kéo dài chừng 50 năm qua, mà hầu hết những ai sống dưới thời VNCH đã ít nhiều nghe đến chuyện: Trịnh Công Sơn đã MÊ cô Ngô Vũ Bích Diễm một chiều, say đắm mà không được đáp ứng, vô vọng nên đã sáng tác bài nhạc DIỄM XƯA (Diễm Ngày Xưa) rất hay, nổi tiếng để đời và từ đó nhân vật là nguồn cảm hứng đã đi vào huyền thoại với cái tên Diễm Xưa.

Và trong suốt 50 năm qua, chưa ai từng chính thức được nghe đương sự Diễm Xưa - tức là Ngô Vũ Bích Diểm , một tên tuổi có thật bằng da, bằng thịt … đứng ra xác nhận một điều gì !!!

Chính thái độ im lặng đó đã mặc nhiên ÁM CHỈ , Ngô Vũ Bích Diễm không phải là người tình của Trịnh Công Sơn và sau năm 1975 khi mà Trịnh Công Sơn đã hiện nguyên hình là một tên VIỆT CỘNG VĂN CÔNG VẬN CHO VIỆT CỘNG , thì những người QG và nhứt là Tỵ Nạn Hải Ngoại đều không ưa, đều thù oán Trịnh Công Sơn và từ đó đa số mọi người hình như đều gia tăng sự kính nể Ngô Vũ Bích Diễm ; là bởi vì người ta tin rằng : Ngô Vũ Bích Diễm ĐÃ KHÔNG THÈM NGÓ TỚI TRỊNH CÔNG SƠN !!!?

Bên cạnh đó, Giáo sư Ngô Đóc Khánh , một người Cha khá nghiêm khắc đã để lại một câu chuyện đồn đại về Trịnh Công Sơn và Bích Diễm như vầy đây:


Một hôm, Ngô Vũ Bích Diễm đã tiếp Trịnh Công Sơn ở nhà. Sau khi TCSơn ra về, giáo sư Khánh hỏi Bích Diễm: Con tiếp ai vậy ? Khi được biết người đó là Trịnh Công Sơn thì giáo sư Khánh đã ra lệnh cho Bích Diễm là từ nay phải chấm dứt, không được quen biết với Trịnh Công Sơn nữa.

Hình như vì sự ngăn cấm đó mà Bích Diễm không hề quen biết với Trịnh Công Sơn xa hơn ! Câu chuyện nầy được lưu truyền ra ngoài , khiến cho nhiều người rất có cảm tình với Bích Diễm và đa số đều ngầm thán phục tấm lòng nể cha, vì cha, biết ngoan ngoãn nghe lời cha của Bích Diễm.

NHƯNG MÀ mới đây tại Huế, Ngô Vũ Bích Diễm phát biểu , được báo chí VC ghi lại như sau:

"người xưa" tâm sự: "Trong bài này anh Trịnh Công Sơn viết về vẻ đẹp của Huế nhiều hơn là về... tôi.

Tôi nghĩ vậy. Ðó là bóng dáng của Thành nội cổ kính, của dòng sông Hương xanh mát và huyền hoặc, là không khí lãng đãng của thơ, của nhạc". "Nhiều người tò mò vì sao Diễm im lặng trong suốt mấy mươi năm?". "Vì tính tôi như vậy, không muốn ra trước công chúng. Tôi cũng không biết nói gì và không biết có ai cần gì ở mình hay không. Và cũng bởi vì bóng dáng to lớn của anh Trịnh Công Sơn đã đủ rồi!", "Diễm xưa" nói.
Và điều chờ đợi của tất cả mọi người trong đêm, đó là câu chuyện của Diễm: “Tôi là gái Bắc, theo cha vào Huế năm 1952, bố tôi là giáo sư Ngô Đốc Khánh, dạy tiếng Pháp ở Trường Quốc học. Tôi theo học lần lượt ở Trường Đồng Khánh, Quốc học, đến năm 1963 tôi vào học đại học ở Sài Gòn, sau đó sang định cư ở Mỹ. Nhà tôi ở số 46 đường Phan Chu Trinh (cũ), gần cầu Phủ Cam, là nơi gần anh Sơn ở (khu cư xá trên đường Nguyễn Trường Tộ - TP Huế). Lần đầu tôi gặp anh Sơn ngay tại nhà tôi. Anh đi theo anh Đinh Cường đến thăm Nguyễn Việt Hằng, một người bạn thân của tôi lúc đó đang ở lại nhà tôi để học hè. Sau đó thấy anh Sơn một mình quay trở lại. Anh viết nhạc và có tặng tôi mấy bài. Hồi đó còn trẻ lắm nên cũng biết lơ mơ vậy thôi… Sau này tôi mới biết thông qua hai người em của anh Sơn về câu chuyện nhánh dạ lan hương mà tôi tặng anh đã gây một chấn động mạnh nơi anh. Đó là một kỷ niệm thật đẹp, thật liêu trai…!”.

Qua những lời phát biều nầy, NẾU ĐÚNG 100% NHƯ VẬY, thì chính Bích Diễm nay đã CỐ XÍCH GẦN LẠI TRỊNH CÔNG SƠN . Điều mà Giáo Sư NGÔ ĐỐC KHÁNH đã CẤM ĐOÁN những năm xưa.”

Do đó, theo tôi ngày nay Ngô Vũ Bích Diễm đã thay đổi, đã công khai PHẢN BỘI NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN và cụ thể nhứt, rõ ràng nhứt là NGÔ VŨ BÍCH DIỄM đã nhẫn tâm PHẢN BỘI người cha thân yêu, đáng kính của mình là Giáo Sư Ngô Đốc Khánh. Bằng cách sau 50 năm dài, tưởng rằng Bích Diễm đã nghe lời cha, tôn trọng cha… nào ngờ đó chỉ là một thái độ giả dối, được che giấu kỹ , để rồi vì hám danh mà trở thành một đứa vô liêm sỉ, sẵn sàng nói những lời bợ đỡ “GIAO LƯU” với kẻ thù.

Tôi xin mạn phép dừng lại ở đây và mong rằng quý bà con và quý đồng môn QGHC sẽ có nhiều nhận xét và phán đoán chính xác cần thiết hơn !./-


Trần Cao Lãnh
QGHC/USA.
Tháng 3/2010

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

50 năm trước: Hà Nội khởi xướng cuộc chiến Việt Nam

Image
Binh chủng Nhảy Dù Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. (Hình: Hội Quân Y Nhảy Dù)
* Uwe Siemon-Netto


Tết 2010 đánh dấu một cộc mốc quan trọng cho người Mỹ gốc Việt. Theo số liệu của Cơ Quan Thống Kê Hoa Kỳ (U.S. Census Bureau), cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã lên tới con số 1.6 triệu và trở thành cộng đồng thiểu số gốc Á Châu lớn thứ hai toàn nước Mỹ (sau người Trung Hoa*). Ðối với họ, năm 2010 cũng chứa đựng một khía cạnh đau buồn bởi vì là kỷ niệm thứ 50 của một biến cố khiến họ phải bỏ xứ lưu lạc đến bến bờ này. Năm 1960, cộng sản Bắc Việt thành lập “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam,” gọi tắt là Việt Cộng. Ðiều này đã mở màn cho một cuộc chiến mà hậu quả là nỗi đau đớn chưa nguôi cho hàng chục ngàn người đã từng nếm trải ngục tù cộng sản. Một công trình nghiên cứu y khoa dựa trên nhóm 200 người sống sót đã từng bị hành hạ cho thấy 64% đã biểu lộ những sự hư hại rõ rệt về thần kinh.

Khám phá của Richard F. Mollica, bác sĩ tâm thần của trường Ðại Học Harvard và các cộng sự viên đã minh họa một điều là mặc dù người Mỹ cố quên đi chiến tranh Việt Nam, hậu quả cuộc chiến này vẫn luôn còn đó. Rất nhiều cựu chiến binh Hoa Kỳ không thể quên được sự đón tiếp tồi tệ khi họ trở về Mỹ và bị phỉ báng là những “tên sát nhân trẻ em.” Uất ức vì sự phản bội của đồng hương, hàng ngàn cựu chiến binh Hoa Kỳ đã phải tự tử.

Trong khi đó, dư luận Hoa Kỳ không hề nhắc đến số phận của các cựu chiến binh miền Nam Việt Nam đang sinh sống trên đất nước này. Bây giờ mới rõ ra là họ cũng chịu đựng đau đớn bởi những vết thương vô hình sau khi bị bỏ rơi vào tay bạo ngược. Ðiều này không có gì ngạc nhiên cả. Suốt chiều dài lịch sử, các chiến binh luôn luôn phải gánh chịu hai loại tổn thương - về thể xác gây ra bởi vũ khí và về tinh thần do những ám ảnh đau thương, đặc biệt là nỗi đau bị bỏ rơi ngay tại quê hương của mình.

Hẳn nhiên có nhiều cựu chiến binh miền Nam Việt Nam với những vết thương như vậy trong đám đông nồng nhiệt đầy tiếng pháo đón chào “Năm Canh Dần” vào sáng Chủ Nhật đầu năm. Họ có thể không để lộ ra nhưng sau nhiều năm nghiên cứu, Bác Sĩ Mollica đã khám phá ra là những vết thương vẫn luôn còn đó.

Khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt, những nhà phê bình chính sách Hoa Kỳ đã đồng lòng vào sự bịa đặt rêu rao bởi những tư tưởng gia quá khích và một số bộ phận của truyền thông. Họ cho là Washington và những “tay sai tham nhũng” tại Sài Gòn đã tạo ra cuộc chiến Việt Nam. Ðến nay đã có đầy đủ bằng chứng để chỉ mặt đích danh thủ phạm: đó là Hồ Chí Minh. Dưới cái tên Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí Minh là một thành viên cốt cán của Cộng Sản Quốc tế (Comintern) với nhiệm vụ rõ rệt là áp dụng chủ thuyết Lê-Nin-Nít vào Việt Nam. Hồ Chí Minh đã theo đuổi không mệt mỏi sứ mạng được giao, ngay cả sau khi Hiệp Ðịnh Geneve 1954 tạm thời chia đôi đất nước với Bắc Việt theo Cộng Sản và miền Nam Việt Nam theo khối Tây Âu.

Vài tháng trước kỳ đại hội Ðảng Lao Ðộng lần thứ ba, Quốc Hội Bắc Việt đẻ ra tổ chức Việt Cộng vào tháng 9 năm 1960. Ðiều này chứng tỏ giới lãnh đạo cộng sản đã chuyển từ giai đoạn “khuấy động và tuyên truyền,” giai đoạn đầu của chiến tranh du kích vẽ ra bởi Võ Nguyên Giáp, sang thành “đấu tranh bạo động,” giai đoạn hai của chiến lược này. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn tổng công kích với hình thức chiến tranh qui ước mà thế giới đã được biết qua màn hình TV hàng ngày.

Vào tháng 1, 1960, chính quyền Sài Gòn ghi nhận hàng ngày một số lượng trung bình khoảng 7 “hành vi” khủng bố tại các vùng tiền đồn Việt Nam. Danh từ “hành vi” mà phát ngôn viên quân sự loan báo hàng ngày cho giới báo chí trong “bản tin vào lúc 5 giờ” nghe có vẻ tầm thường nhưng thực chất là những hành động ghê tởm mà số lượng tăng lên nhanh chóng thành hàng trăm và hàng ngàn vụ mỗi ngày.

Ðầu năm 1965, bản thân người viết làm nhân chứng cho một “hành vi” như vậy tại một ngôi làng đã được một toán Việt Cộng chiếu cố đêm hôm trước. Gia đình trưởng làng gồm cha mẹ và 11 người con bị treo cổ chết trên cây. Toàn làng bị bắt buộc phải chứng kiến cuộc tắm máu này. Trong khi đó, một tên cán bộ Việt Cộng răn đe họ “đây là hậu quả cho bất cứ ai cộng tác với ngụy quyền Sài Gòn.” Vị trưởng làng đã trung thành với chính quyền miền Nam Việt Nam trước đó.

Những ký ức như vậy không bao giờ phai mờ được, thì làm sao có thể quên được sự chịu đựng của những cựu chiến binh và công chức miền Nam Việt Nam đã trải qua khi đất nước họ bị đồng minh bỏ rơi và lọt vào tay cộng sản. Nhắc lại lần thứ 50 ngày thành lập tổ chức Việt Cộng cũng là dịp để tỏ lòng tri ân những người đồng minh cũ của Hoa Kỳ, những người đã bỏ mình ngoài biển cả trốn chạy chế độ cộng sản, và đồng thời cho những người đã không ngừng làm kinh ngạc người Mỹ với sự siêng năng, cần cù và lòng trung thành với đất nước này.

Ðã từng chịu đựng sự chế nhạo, nay họ xứng đáng được kính trọng và nhớ ơn sâu sắc. Rất mong năm Canh Dần này sẽ là một năm hạnh phúc và thành công cho tất cả những “Sài Gòn nhỏ” trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ.

(Người dịch: Duy Anh. Bản gốc tại www.uwe-thebeat.org)


(*) Phần thêm của người dịch:

Giáo Sư Uwe Siemon-Netto, Ph.D gốc người Ðức, nguyên tổng biên tập về tôn giáo của United Press Internationa, hiện là bình luận gia quốc tế và một nhà thần học (không phong chức)của đạo Lutheran. Ông là sáng lập viên của Center for Lutheran Theology and Public Life (CLTPL) và chủ tịch của tổ chức “Tthe League of Faithful Masks” đặt bản doanh tại Capistrano Beach và trường Concordia University Irvine, California.

Với tư cách một nhà báo, ông chuyên về những đề tài liên quan đến niềm tin, xã hội và ngoại giao. Ông hiện là cộng tác viên thường trực của tờ “The Atlantic Times,” một tờ báo tiếng Anh hàng đầu của giới báo chí Ðức tại Mỹ.

Ông đã từng là phóng viên tường thuật những sự kiện lịch sử quan trọng như vụ xây dựng bức tường Bá Linh năm 1961, hoạt động của Liên Hiệp Quốc, phong trào nhân quyền tại Mỹ, vụ ám sát TT John F. Kennedy, cuộc chiến Việt Nam (trong thời gian 5 năm), cuộc chiến 6 ngày Ả Rập-Do Thái, và Cách Mạng Văn Hóa tại Trung Cộng.

Trong thời gian làm phóng viên chiến trường tại Việt Nam, ông đã chứng kiến tội ác Việt Cộng tại Huế kỳ Mậu Thân 1968, trong đó một số người quen của ông là 3 bác sĩ người Ðức cùng với vợ của một người đang làm việc thiện nguyện tại trường Y Khoa Huế đã bị thảm sát.

daudua
Posts: 77
Joined: Sat Oct 10, 2009 6:05 am

Post by daudua »

Không biết người VN phải zùng chất gì đễ tẩy cho sạch cái nhục nầy !!

HAI BÀ TRƯNG TẾ MÃ VIỆN Ở ĐÔNG HƯNG!

Ngày 21.3.2010, khi cả nước nhộn nhịp tổ chức Lễ hội kỷ niệm 140 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng thì “nước lạ” kế bên cũng tổ chức “Miếu Hội Phục Ba Tướng Quân” tại Đông Hưng (thành phố giáp giới với cửa khẩu Móng Cái của Việt Nam). Nhưng đặc biệt là trong vài năm nay, cụ thể là từ năm 2008 đến nay “Miếu Hội Phục Ba Tướng Quân” có sự tham dự “âm thầm” của Đoàn Nghệ Thuật do chính phủ Việt Nam gửi sang.

CSVN gỡi ziễn viên Vietnam dóng vai
Hai Bà Trưng qua Tế Mã Viện Ở Đông Hưng!

Hoạt Động Kỷ Niệm 140 Năm Khởi Nghĩa Hai Bà Trưng

HAI BÀ TRƯNG TẾ MÃ VIỆN Ở ĐÔNG HƯNG!

Chân Mây

Sự tham dự của Đoàn Nghệ Thuật Việt Nam được báo đài Trung Cộng ca ngợi là “hiện tượng văn hóa” thể hiện sự hợp tác giao hảo ngày càng đậm tình của Việt Nam.


Báo chí Trung Quốc đưa tin: “Kỷ Niệm Dân Tộc Anh Hùng, Quảng Dương Phục Ba Văn Hóa” (Nhật Báo Đông Hưng, 17.2.2008). Khung màu đỏ trong hình giới thiệu đoàn nghệ nhân Việt Nam.

Quảng Dương Phục Ba Tinh Thần, Hiển Vinh Phục Ba Văn Hóa!


Vệ Quốc Anh Hùng, Vạn Dân Kính Ngưỡng

“Phục Ba” là ai? Phục Ba hay Phục Ba Tướng Quân chính là Lộ Bác Đức tức Mã Viện (Mã Văn Uyên), tên lãnh tướng đời Hán Vũ Đế đã đàn áp cuộc tranh đấu giành độc lập của nước cổ Việt dưới sự lãnh đạo của Trưng Trắc-Trưng Nhị tại Giao Châu. Thành tích của Mã Viện còn lưu lại trong sử sách của hai phía Việt-Hoa là những chiếc cột đồng bí ẩn với lời nguyền : “Đồng Trụ Chiết Giao Chỉ Diệt ! ”

Lịch sử Việt Nam, trời đất núi sông Việt Nam đang quay cuồng hay sao ? Ải Nam Quan không còn, Thác Bản Giốc cũng mất, Vịnh Bắc Bộ thuộc về Quảng Tây, và những vòng hoa ghi ơn “liệt sĩ Trung Quốc” v.v. Thì nay những hậu duệ của Hai Bà Trưng thay vì tuẫn tiết lãng mạn ở sông Hát đất Giao Chỉ giờ lại sang chầu phục tế hồn Mã Viện ở Quảng Tây! Có người Việt Nam nào chấp nhận nhìn những hình ảnh này hay không ? Vẫn có đấy, những tên Việt gian cộng sản xưng tụng Mã Viện là “danh tướng trong lịch sử Việt Nam ” trên mạng hỏi đáp Yahoo. Hay những tên gian lận lịch sử mắng người Việt Nam dám chửi Mã Viện trên Wikipedia. Con cháu “Mã Lưu Nhân” của ngày xưa nào giờ lại nhan nhản xuất hiện. Tôi đã đọc và nay tôi lại nhìn thấy những hình ảnh đau đớn này. Có những lúc nhìn quê hương thật buồn và cười ra nước mắt...

Những hình ảnh sau đây biên tập từ các hình ảnh “Phục Ba Miếu Hội” tại Đông Hưng năm 2008 đến năm 2010.

Image
“Phục Ba Miếu” tại cảng Thành Phòng, thành phố Đông Hưng

Image
Những chiếc áo dài đỏ Việt Nam sẽ có vai trò trong màn trình diễn sau.

Image
Mâm cúng

Image
Cõi tăm tối linh thiêng

Image
Nhìn ra bên ngoài, Việt-Trung hữu nghị. Đoàn văn công Việt nam kính viếng

Image
Tượng Phục Ba Tướng Quân. Chắc “ngài” rất hài lòng!

Image
Những màn xiên lình rùng rợn

Image
Tướng quân xuất hiện! (Bà đồng Trung Cộng nhập vai Mã Viện)

Image
Gọi hồn Mã Viện thì phải có Hai Bà Trưng! Hai Bà Trưng và Thi Sách của đoản nghệ nhân Việt Nam

Image
Thuyết minh cho cuộc giao lưu

Image
Cùng những nữ tướng thuộc quyền của Hai Bà Trưng: Ngọc Phượng Công Chúa, Khâu Ni Công Chúa, Bà Chúa Bầu, Đệ Bát Vị Đông Cung, Ngọc Lâm Công Chúa, Thiều Hoa v.v...
Tất cả được chính phủ CSVN gửi sang Quảng Tây thăm Mã Viện. Màn chập chén truyền thống Việt Nam!


Image
Đến màn quy thuận Hán tộc, Hai Bà Trưng phục trang Kinh tộc thiểu số theo hầu rượu, dâng kiếm cho Mã Viện

Image
Lễ nhập đồng. Gọi hồn Mã Viện chứng giám Hai Bà Trưng sang chuộc tội ở Quảng Tây

Image
Lên đồng!

Image
Văn tế Mã Viện phiên âm ra tiếng Việt. Có chỉnh sửa chính tả cho rõ ràng để người Việt Nam phát âm chuẩn. Không khéo “ngài” giận thì bay đầu!


Image
Đọc văn tế Mã Viện. Hai Bà Trưng, Bà Lê Chân, Thi Sách

Image
Vừa đọc vừa dò. Màn này chưa quen với văn công cộng sản

Image
Đồng nhập! Dâng rượu cho “ngài”

Image
Hai Bà Trưng múa hát ngợi ca công đức Phục Ba Tướng Quân

Image
Thi Sách tươi cười trên "nước lạ".

Image
Tươi cười giao lưu. Ký tên lưu niệm.

Image
Nhận thư pháp lưu niệm của “bạn bè”

Image
Lẳng lặng một em Việt Nam cầm máy ảnh theo đoàn. Em người miền nào? Hà Nội? Hải Phòng hay Móng Cái? Hình như em muốn khóc!


Image
Chân dung Mã Viện trên đường chinh Nam.

Lịch sử! Ôi lịch sử! Những trang hùng sử Việt Nam đang bị cộng sản dẫm đạp không thương tiếc! Có ai ngờ đâu những lời thơ của Nguyễn Du trong bài “Giáp Thành Mã Phục Ba Miếu” lại ứng vào thời đại ngày nay. Bi thảm!


“Tính danh hợp thướng Vân Đài họa
Do hướng Nam trung sách tuế thì”
(Mây tầng công cán không ghi
Nước Nam sao lại phải thờ khói hương)


Chân Mây

Để xem đầy đủ các hình ảnh xin theo các link dẫn sau:

hongdou.gxnews. com.cn/viewthrea d-3936482- 3.html
Đông Hưng Phục Ba Miếu Hội

hongdou.gxnews. com.cn/viewthrea d-3177054. html
Trung Việt Biên Giới Phục Ba Miếu Hội 2008

http://hongdou. gxnews.com. cn/viewthread- 4903276.html
Quảng Dương Phục Ba Tinh Thần,...2010 Đông Hưng

http://hongdou. gxnews.com. cn/viewthread- 4902417.html
Kỷ niệm Vệ Quốc Anh Hùng: Phục ba Tướng Quân.

Hoặc chép từ 中越边境的伏波庙会 (Trung Việt Biên Giới Phục Ba Miếu Hội) vào mạng google Trung Văn để xem thêm.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Image

Nhìn Tây Tạng, thấy Việt Nam
Rời Thành Đô trên chiếc phi cơ cánh quạt loại nhỏ chứa khoảng sáu chục người, sau hơn một giờ bay chúng tôi đã thấy nhấp nhô những đỉnh núi phủ đầy tuyết trắng của xứ Tây Tạng. Bỏ lại sau lưng căn nhà tranh di tích của Đỗ Phủ, bỏ lại mảnh đất dựng nghiệp của Lưu Bị thời Tam Quốc, bỏ lại miếu thờ Khổng Minh, Quan Công, Trương Phi cùng những thành lũy bằng đất xây dựng từ thời Tần-Hán nằm gần quận lỵ Đôn Hoàng, khi chiếc máy bay chuẩn bị hạ cánh xuống phi trường Lhasa thì kim đồng hồ chỉ 1 giờ 22 phút, giờ địa phương, buổi chiều.

Mỗi người được phát cho một túi nhỏ đựng dưỡng khí và được dặn dò phải cẩn thận kẻo bị choáng váng hay té ngã vì áp suất thay đổi. Trong số hơn 60 hành khách thì gần ba chục là du khách Âu Mỹ, 5 hay 6 người mặc binh phục, hơn hai chục là thường dân nói tiếng Hoa, và vỏn vẹn chỉ có 4 người Việt. Lúc rời Washington DC nhóm anh em chúng tôi có tới 12 người, nhưng lúc đi Tây Tạng chỉ còn lại vợ chồng anh chị Trần Dương và vợ chồng tôi. Trong lúc chuẩn bị rời máy bay, tôi bỗng chợt nhớ tới bài địa lý thuở còn nhỏ:

Nước Tây Tạng rộng bằng hai nước Pháp, có dãy núi Hymalaya (Hy Mã Lạp Sơn) là dãy núi cao nhất thế giới, có ngọn Everest quanh năm tuyết phủ. Tuổi ấu thơ của tôi lại được kích thích khi nghe kể chuyện những nhà tu trên đất Tây Tạng ngồi xếp bằng tròn, bay vù vù từ đỉnh núi này qua đỉnh núi khác, hoặc những chuyện rùng rợn về thiên táng, xác người chết được đem lên đỉnh núi xẻ thịt ra từng mảnh quăng cho chim ăn theo triết lý: vật nuôi người, người nuôi vật, trái ngược với phong tục của chúng ta là địa táng, đào huyệt chôn dưới đất, hay hỏa táng là đem thiêu xác, lấy cốt về thờ. Lớn lên, đọc sách, đọc báo, đọc được những bức thư của nhà cách mạng Phan Bội Châu gửi cho nhà cách mạng Phan Chu Trinh, trên đầu thư cứ một điều Hy Mã Tôn Ông nhã giám, hai điều Hy Mã Tôn Ông nhã giám, thì lòng lại càng nao nức muốn biết Tây Tạng và Hy Mã Lạp Sơn lắm. Tưởng rằng “nhưng chỉ là giấc mơ thôi”, không ngờ có ngày tâm thành ý đạt.

Độ cao của nước Việt Nam ta trung bình so với mặt biển là khoảng 19 m (63 feet), nhưng độ cao của Tây Tạng so với mặt biển là 3,658 m (12,000 feet) và đỉnh cao của ngọn Everest so với mặt biển tới 8,848 m (29,000 feet). Cho nên, trừ dân địa phương, còn du khách khi đã có ý định mò lên thăm cái xứ sở nằm cao tít trên nóc nhà thế giới này thì đều đã dự liệu về chuyện áp suất không khí thay đổi. Tinh thần chuẩn bị kỹ càng như thế nhưng lúc máy bay đáp xuống phi trường, cánh cửa mở ra, chân mới chạm đất thì gió thổi mạnh đến nỗi không thể tự chủ nổi, chỉ bước được mấy bước thì cái mủ lưởi trai đem từ D.C. đã bị gió thổi văng xuống và cuốn đi như một chiếc lá. Một tay che đầu, một tay kéo cái túi hành lý nhỏ, chạy lọt được vào tới phòng chờ đợi thì cổ họng khô cứng lại như đã ba ngày không được một hớp nước.

Nhân viên hãng du lịch ra đón bốn người chúng tôi là một phụ nữ có tên Mã Dung. Cái tên này làm tôi chợt nhớ đến mấy cái tên Mã Đằng, Mã Đại và Mã Siêu trong bộ Tam Quốc Chí. Nghĩ vậy thôi, chứ cô Mã Dung không mang một nét đặc thù nào của Hán tộc. Thân hình dong dỏng cao, khoảng hơn thước rưỡi, tóc dài chấm lưng vai, da rám nâu, nói tiếng Anh đủ để chúng tôi hiểu được. Sau một vài câu trao đổi ngắn gọn, cô đưa chúng tôi lại chỗ lấy hành lý và ra ngay chiếc xe Van hiệu Toyota chờ sẵn. Trái với cô Mã Dung, người lái xe rõ ràng là một chú người Hoa chính hiệu, hai mắt ti hí, má phệ, tóc ngắn, nước da màu vàng tái, tương phản hẵn màu nước da của những người Tây Tạng mà chúng tôi từng gặp trong chùa Tây Tạng Labrang Monastery trên đất Sa Hẹ. Ra khỏi phi trường, xe chạy vòng vèo, một bên vách núi, một bên bờ sông, nước trong xanh ngắt. Độ chừng mười cây số xe dừng lại tại một khúc quẹo và người tài xế ra hiệu cho chúng tôi xuống để chụp hình. Đó là một cái hang thô sơ thờ hình Đức Phật ngồi thiền, miệng hang treo vô số tấm phướn và cờ đuôi nheo cùng những miếng vải to cỡ ba bốn bàn tay, màu sắc, xanh, trắng, đỏ, vàng, trông rất sặc sỡ. Chụp hình xong, chúng tôi lên xe về thẳng khách sạn Holiday Inn trên đường Beijing Lu.

Ở đâu quen đấy. Sau một buổi chiều và một đêm dài nghỉ ngơi chúng tôi đã làm quen được với thời tiết. Sáng hôm sau chúng tôi ra ngồi nhâm nhi cà phê trong phòng khách để chờ xe đến đón. Phía bên kia đường là một dinh thự lớn, bảng hiệu nền đỏ chữ vàng viết bằng chữ Hán, hai người lính gác, súng gắn lưởi lê, quân phục màu xanh phân ngựa, thứ quân phục của lính Trung Cộng mà chúng tôi từng gặp ở Bắc Kinh và Tây An. Tại tiền đình, trên đỉnh cao của cột cờ là lá cờ Trung Cộng, một ngôi sao lớn bốn ngôi sao nhỏ phất phơ trước gió. Ngôi sao lớn tượng trưng cho Đại Hán, bốn ngôi sao nhỏ tượng trưng cho bốn sắc dân chư hầu Mãn, Mông, Hồi, Tạng.

Mặt trời lúc này đã lên cao. Những tia nắng ban mai đã rọi xuyên qua khung kính cửa sổ của phòng khách dệt thành những sợi nắng đan chéo trên tường nhưng không khí vẫn còn se se lành lạnh. Xe cộ qua lại thưa thớt, lâu lắm mới thấy một chiếc xe tự chế, là chiếc xe có một bánh bằng gỗ do một người đẩy hay kéo, chậm chạp đẩy qua. Theo lịch trình, đúng 9 giờ cô Mã Dung cùng người tài xế mới có mặt đưa chúng tôi tới đến Jokhang là ngôi đền được Hoàng hậu Wengcheng, vợ thứ của vua Songtsen Gampo, xây cất vào năm 647, và sau đó tới đền Lublinka. Hai ngôi đền thờ này khá lớn nhưng chỉ có một tầng, tường xây bao bọc chung quanh, vôi tróc loang lổ, thiếu người săn sóc, cũng hệt như quang cảnh sở thú ở Trùng Khánh, cây cỏ thì xơ xác, con người thì nhếch nhác. Thỉnh thoảng một nhóm dân Tây Tạng ngồi nhặt cỏ nhìn chúng tôi đi qua với ánh mắt vô cảm lạnh lùng rồi sau đó họ lại ngồi chồm hổm tiếp tục dọn cỏ hay đứng lên uể oải cầm chổi quét những chiếc lá rụng. Không khí ở đây ảm đạm buồn tênh chứ chẳng thấy gì gơi cảm.

Đến bữa ăn trưa chúng tôi được đưa vào nhà hàng quốc doanh nằm cùng dãy nhà với siêu thị do nhà nước quản lý. Tổ chức du lịch của Trung Quốc rất chặt chẽ. Chuyên chở đưa đón thì có China Travel Services, viết tắt là CTS, và chúng tôi gọi đùa là Communist Total Shit. Bữa ăn thì bị lùa vào nhà hàng quốc doanh. Mua sắm thì vào các thương xá Friendship của nhà nước luôn luôn được xây cất kế ngay nhà hàng ăn, hoặc xe bus chở thẳng vào các công ty sản xuất. Tiếng gọi là công ty nhưng thực chất là công ty quốc doanh, nhân viên phục vụ đều là người của chế độ mặc thường phục. Hầu hết đồng tiền của du khách đều lọt vào túi của nhà nước chớ rất khó mà rớt đến tay người dân. Sau bữa cơm trưa, chúng tôi được đưa đi chơi băng qua sông Lhasa bằng thuyền Yak-Skin. Thuyền này làm bằng da con Yak, một loại bò đen to lớn, lông rất dài và rất dày để chống lạnh. Còn sống và khỏe mạnh thì con Yak được dùng để kéo cày và lấy sữa. Lúc chết thì thịt dùng làm thực phẩm, mỡ dùng làm dầu nến thắp, da dùng làm trống hoặc ghép lại làm thuyền. Con bò Yak mật thiết tới đời sống người dân Tây Tạng nên bò Yak là biểu tượng của xứ Tây Tạng. Con đường Beijing Lu kéo dài từ Bakhor tới Drapung Monastry chia thủ phủ Lhasa ra làm đôi, đoạn dẫn vào khu thương mại trung tâm thành phố cũng có tượng Yak. Đi xem trình diễn văn hóa dân tộc cũng có vũ điệu muá với bò Yak. Ở Lhasa thuyền Yak không đậu dưới sông mà được dựng ở các bến, mỗi bến có cả chục chiếc thuyền làm bằng da con Yak xếp thành dãy dài chờ du khách. Mỗi thuyền chở được sáu hay tám người và có thể chở thêm cả xe đạp hoặc xe gắn máy . Nước sông Lhasa rất trong nhưng do tuyết tan từ các đỉnh núi chung quanh đổ xuống nên thò tay xuống thấy lạnh buốt. Khi có du khách, một người Tây Tạng đưa lưng ra cõng một chiếc thuyền bằng da con Yak đến bến cho khách xuống và dùng sào chống con đò qua sông như hình ảnh người chèo đò Trương Chi trong truyện cổ Việt Nam.

Hôm sau chúng tôi đựợc đưa đến thăm cung điện Potala là nơi ngày trước các vị Phật sống Tây Tạng ngự trị. Cung điện này cao ba từng quét vôi nửa trắng, nửa nâu xây trên triền núi gồm nhiều dãy nhà nối tiếp nhau. Nửa trắng phía dưới là nhà khách, nhà ăn, nhà chứa vật cụ, phần trên màu nâu được phân chia thành các phòng thờ phượng. Phía trước, ở dưới thấp là một sân rộng phía trước chừng hơn hai mẫu tây để tín đồ tụ hội, từng toán du khách đổ xuống từ những chiếc xe bus hòa nhập với những người dân địa phương chạy theo bán nhang đèn và các tu sĩ khoác áo choàng màu huyết dụ hay màu vàng nghệ làm không khí ở đây thêm nhôn nhịp. Từ trên cao, tôi nhìn khắp bốn phía để mong thấy những tín đồ đi hành hương, cứ bước một bước lại nằm dài thẳng cẳng xuống đất, duỗi hai tay về phía trước, miệng đọc kinh, sau đó lại đứng dậy bước thêm một bước khác, rồi lại nằm dài người xuống đất, như những con sâu đo. Chúng tôi đến cung điện Potala không nhằm vào ngày lễ nên ngoài du khách ra chỉ thấy những người dân Tây Tạng dẫn vợ con đến cúng vái. Người chồng nét mặt khắc khổ, quần áo nhiều mảnh, có khi khoác áo nhà binh sờn rách, người vợ mặc váy, cổ đeo nhiều chiếc vòng bằng đồng, đầu quấn khăn tua sặc sỡ, chân bước, tay cầm chiếc “vòng luân hồi” vừa đi vừa quay, miêng lẩm bẩm đọc kinh một cách thành kính.

Con đường đi lên điện Potala là những phiến đá lát bậc thang, không dốc lắm nhưng rất hẹp khiến người lên người xuống phải chen chúc len lách. Càng lên cao càng ngộp thở. Hơi người, hơi khói, và nhất là hơi bốc ra từ những ngọn nến và những bình dầu đốt bằng mỡ Yak khiến không khí thật ngột ngạt. Qua tầng một, tầng hai, là lên đến khu chánh điện, được chia làm nhiều gian nhỏ, cờ quạt, lọng phướn treo kín mít. Tại mỗi phòng đều có bàn thờ Phật hoặc bàn thờ linh vị các Đạt Lai Lạt Ma đã hóa kiếp. Mỗi phòng đều có một nhà sư lo việc đèn dầu và ngay gần cửa ra vào của mỗi phòng là một thùng kiếng để thập phương bỏ tiền dâng cúng. Một lần vừa lấy máy ảnh định chụp một tấm hình thì vị sư già khẳng khiu ngồi gần chánh điện xua tay ra hiệu chỉ thẳng vào một người to béo mặc thường phục ngồi ở góc cửa ra vào. Người đó mới thực sự quyền hành còn vi sư già chỉ là cây cảnh.

Rời tu viện Potala chúng tôi được đưa đi xem một khu sản xuất thủ công nghệ gồm nhà đan lát, nhà dệt thảm, nhà chạm khắc đồ gỗ. Mỗi nhà đều có khu sản xuất và khu bán hàng. Tại những khu sản xuất, nhân công là người Tạng, nét mặt khắc khổ chịu đựng, ngồi từng dãy im thin thít, quấn sợi, kéo chỉ. Ở khu dệt thảm đa số thợ là trẻ nhỏ, thấy du khách đến chúng lấm lét ra hiệu cho du khách lại gần rồi hai mắt dáo dác, đưa tay xin tiền. Không biết là chúng sợ bị bắt, bị trừng phạt, hay sợ bị thu lại số tiền xin được. Đến khu bán hàng thì chỉ thấy người Hoa, líu lo nói tiếng Hoa, nét mặt sung mãn. Buổi chiều chúng tôi được đưa đi mua sắm ở khu thương mại nằm phía đông thành phố, trong lòng bốn con đường chính có tên Wengduixinca, Dongzisu Road, Hebalinlu và Zinzudong Lu. Ở mấy dãy phố này không có nhà cao từng. Bảng hiệu hoặc viết bằng Anh Ngữ hoặc bằng chữ Hán. Bước vào đây không khác gì bước vào các khu phố Tàu ở Philadelphia hay phố Tàu ở Los Angeles. Có lẽ người dân Tây Tạng đã “tự nguyện xin đi các vùng kinh tế mới”, hệt như người Sàigòn tự nguyện dâng nhà dâng cửa cho Đảng cho Bác để đi lao động vinh quang tại các vùng đèo heo hút gió khỉ ho cò gáy Bù Đăng, Bù Đóp, Bù Gia Mập. Bữa ăn cuối cùng tại Lhasa chúng tôi được đưa vào nhà hàng uống sữa Yak, ăn cháo lòng Yak, có tiếp viên và nhạc công mặc xiêm y Tây Tạng, nhưng viên quản lý lại cũng là người Tàu. Khi sắp ra về cô Mã Dung choàng lên cổ chúng tôi mỗi người một khăn vải mỏng màu trắng, biểu lộ tình hữu nghị và sự hiếu khách của người Tạng.

Ở Tây Tạng bốn ngày, đi đâu cũng chỉ thấy người Hoa làm chủ. Trước đây Tây Tạng là một quốc gia độc lập cho đến năm 1959 thì bị Trung Cộng sát nhập. Trước năm 1950 dân số Tây Tạng gần một triệu nhưng năm 2000, theo thống kê, dân số lên đến hơn 2 triệu. Một triệu người thêm sau này chắc chắn có đến 80% là người Hoa vì dân Tây Tạng rất ít sinh đẻ. Giờ đây có lẽ dân số trên đất Tạng đã cao hơn nhiều, nhưng người Tây Tạng đích thực đã trở thành nô lệ của người Trung Hoa Hán Tộc. Lũ Tạng Gian trở thành cai nô còn người dân Tây Tạng thì làm thợ trong các xưởng máy hoặc làm nông nô tại các nông trường. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhân danh Tây Tạng vận động khắp thế giới xin cho Tây Tạng là một xứ tự trị Tibet Autonomy Region (TAR) cũng không được. Trung Cộng đã dựng lên một Ban Thiền Lạt Ma làm bù nhìn. Trước đây đến Tây Tạng phải bằng máy bay. Năm 2000, du khách từ Thành Đô tới Tây Tạng cũng phải đi bằng máy bay. Năm 2004 Trung Cộng xây dựng một thiết lộ nối liền Trung Quốc đến Tây Tạng. Có con đường này thì lên Tây Tạng sẽ dễ dàng và người Hán sẽ lên Tây Tạng thoải mái. Con đường này làm tôi liên tưởng đến con đường Trường Sơn được Hà Nội cho làm xuyên suốt từ biên giới Trung Cộng vô Nam.

Ôi! Dân Tạng chỉ có hơn một triệu nên phải chịu cảnh mất nước đã đành, còn dân Việt chúng ta có hơn tám chục triệu cũng đành chịu trở thành dân mất nước? Chẵng lẽ ngay trong cuộc đời trước mắt, chúng ta đứng yên để thấy những đảng viên cộng sản trở thành cai nô, người dân Việt Nam trở thành nông nô, tổ quốc Việt Nam là một ngôi sao nhỏ nằm chung với bốn ngôi sao nhỏ khác. Lá cờ Trung Cộng sẽ là lá cờ có một ngôi sao nhỏ lớn tượng trưng cho Đại Hán và năm ngôi sao nhỏ tượng trưng cho năm sắc dân bị mất nước là Mãn, Mông, Hồi, Tạng, Việt ?

Lê Minh Khôi

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Tin và Không Tin

Joyce Anne Nguyễn
Blogger từ Na Uy
Ở đây tôi nói về việc tin và không tin trong xã hội VN.

Khi viết bài này trong chuyến tàu đi từ Prague đến Warsaw, tôi không có hy vọng sẽ tạo nên một sự thay đổi về quan điểm của người đọc, không hy vọng lớp trẻ VN đang sống tại VN có thể có cách nhìn khác hơn về hệ thống xã hội VN, đơn thuần là tôi viết chỉ để viết, viết quan điểm và cách nhìn của tôi. Tôi đã cố gắng để không bị xem là phiến diện nhưng quan điểm cần rõ ràng hoặc bên này hoặc bên nọ, không có thói quen đứng dạng chân cùng lúc 2 quan điểm.

Tôi sinh ra ở Sài Gòn, và lớn lên ở Sài Gòn. Và tôi rời Sài Gòn ngày 22/4/2009, đến Na Uy ngày 23/4. Tương đối đủ để hiểu về cuộc sống của con người tại VN, để thấy những ngóc ngách khía cạnh khác nhau của xã hội VN mà nhiều người VN sinh tại nước ngoài chỉ về một vài lần không thể thấy hết được. Trong cách nghĩ của tôi, sống trong một thời gian dài và ghé thăm vài lần, mỗi lần vài tuần là 2 việc hoàn toàn khác nhau. Những người sống trong nước có thể không biết nhiều về chính trị nhưng thấy rõ những mặt xấu và hạn chế trong môi trường mình đang sống.

Khi tôi sinh ra và bắt đầu đến trường, tôi đã được dạy về Bác Hồ, được dạy đó là vị Thánh sống hoàn hảo không vợ không con cả đời hy sinh vì quốc gia dân tộc, không một xu trong tay rời khỏi nước tìm đường cứu nước.

Tôi đã được dạy xã hội VN tốt đẹp tự do và tôn trọng con người ra sao.

Tôi đã được dạy về những điều vỹ đại siêu việt của chủ nghĩa Marx- Lenin tôi phải học trong môn triết tại trường, được dạy về chiến tranh, về tinh thần đấu tranh bền bỉ bất khuất của con người VN đánh đuổi ngoại xâm.

Khi ấy tôi vẫn còn nhỏ và tôi tin những gì tôi đã học tại trường. Tôi không nghĩ ta có thể lừa gạt con nít và nhồi nhét những điều dối trá cho trẻ thơ. Tôi đã nghĩ dân tộc VN là dân tộc hào hùng không bao giờ nhún nhường trước bọn xâm lược. Tôi đã nghĩ những điều ấy thật tuyệt vời và đáng tự hào. Tôi đã nghĩ…

Nhưng rồi tôi được đến nước ngoài. Tôi sống tại Na Uy, tôi đi qua Pháp, qua Đức, qua Tiệp Khắc và sắp tới sẽ là Ba Lan. Tôi phải tự hỏi, nếu chế độ này hoàn mỹ đến thế, tại sao nó lại sụp đổ ở hàng loạt các nước Đông Âu và trên thế giới?

Bài viết là những suy nghĩ trên chuyến đi xuyên châu Âu sang Ba Lan.

Ở những nước Đông Âu đã từ bỏ chế độ cộng sản, tôi có thể thấy rõ cuộc sống của họ trở nên tốt hơn rất nhiều so với trước kia. Con người không dễ dàng bằng lòng chấp nhận số phận thụ động mà chủ động đứng lên đấu tranh vì nhân quyền và tự do dân chủ, khi họ được quyền đến sự thật thay vì những lời tuyên truyền dối trá và được phản kháng và cất lên tiếng nói của mình.

Xã hội VN hay TQ có thể tiếp tục tồn tại vì họ từ lâu đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội ban đầu - cái xã hội lý tưởng không giai cấp, và đi theo nền kinh tế tư bản. Rất nhiều người đã nói với tôi về công nghiệp hoá, hiện đại hoá định hướng xã hội chủ nghĩa và đất nước ta đang đi theo con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa, thế nhưng họ đã bênh vực mù quáng mà không nhìn lại một chút để nhận ra sự tương phản 180 độ giữa mô hình chủ nghĩa xã hội và những gì nhà nước đang thực hiện. Kêu gọi công nghiệp hoá, hiện đại hoá và khuyến khích mọi người làm giàu, ấy là tư bản. Đó là lý do TQ, VN có thể tồn tại.

Yêu nước?
Tôi đã được dạy về tinh thần yêu nước không khuất phục của con người VN. Nhưng khi cuộc biểu tình của sinh viên nổ ra chống đối TQ liên quan đến vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, họ bị đàn áp và bắt giữ. Mẹ tôi cũng đã bị bắt vì biểu tình chống TQ. Chỉ vì yêu nước.

Những công an bắt giữ mẹ tôi và những người khác nói rằng mẹ tôi bị bắt vì lý do tụ tập không xin phép (không dùng từ “biểu tình”), nhưng không nói được muốn tụ tập phải xin phép ở đâu. Và từ sau đó họ bắt đầu chú ý đến gia đình tôi. Họ đọc mail, họ nghe điện thoại, họ theo dõi.

Khi mẹ tôi bắt đầu viết blog, tình hình trở nên khác đi. Đôi khi công an đến nhà tôi và hỏi về giấy tờ và hộ khẩu, một cách bất thường. Và đôi khi công an gọi mẹ tôi thuyết phục, bảo biểu tình như thế là ảnh hưởng đến an ninh, đến quan hệ ngoại giao của VN và TQ. Một người công an khi ở quán cà phê cũng nói thẳng, thật ra những gì mẹ tôi viết là không có gì sai, nhưng không nên viết trên blog như thế cho người khác thấy, nếu bức xúc mẹ tôi có thể viết nhật ký.

Tình hình không đủ nghiêm trọng để ảnh hưởng đến việc học của tôi. Tôi vẫn được đến trường như bình thường và cũng không ai xuất hiện để dạy dỗ và gây khó dễ. Tôi cũng không nghĩ họ có nói gì với các giáo viên hoặc nhân viên trong trường.

Nhưng mẹ tôi không thể tiếp tục làm việc. Công việc đang làm dở bị ngưng nửa chừng, không một lý do rõ ràng, chỉ vài lời giải thích nhập nhằng mơ hồ khoả lấp. Có giai đoạn mẹ tôi hoàn toàn không có việc làm, và nợ càng lúc càng dồn. Mỗi khi mẹ tôi đến nơi làm mới, họ đều đến nói đôi lời với tổng giám đốc để dặn dò.

Yêu nước là gì?
Có lẽ người khác sẽ không tin và cho rằng đó là điều dối trá. Trong xã hội VN, người ta có câu “Một điều dối trá nói trăm lần, ngàn lần sẽ trở thành sự thật.” Những điều nhà nước bắt ta phải tin, dần dần ta tin không cần đắn đo suy nghĩ để kiểm chứng mức độ xác thực. Ta tin vì ta đang sống trong xã hội này, ta tin vì ta đang ở dưới chế độ này. Ta tin để tiếp tục sống. Còn nhiều điều khó tin rút cuộc lại là sự thật. Những điều tôi vừa kể, nếu được nghe từ ai đó xa lạ, có lẽ tôi sẽ không bao giờ tin. Nhưng vì đó là những chuyện đang thực sự xảy ra và tôi đã tận mắt có mặt, chứng kiến và trải qua.

Tôi cũng đã thấy họ bôi nhọ danh dự mẹ tôi cùng những người khác bất đồng chính kiến bằng những lời bôi xấu trước báo chí hoặc trên chính báo chí. Tôi đã được học trong chính nền giáo dục VN về xã hội phong kiến khi người phụ nữ không được nói lên suy nghĩ của mình, không được đặt câu hỏi thắc mắc và phản kháng. Nhưng ngày nay rút cuộc trong chính xã hội hiện tại, không chỉ phụ nữ mà tất cả mọi người nói chung không được phép tự do nói lên cách nghĩ của họ, không được phản kháng và biểu tình chống đối.

Bây giờ tôi đang sống trong một nước khác và thời gian vừa qua may mắn tôi đã có cơ hội đến thăm một số nước tại Châu Âu. Tôi đã nhìn, đã thấy, đã quan sát và so sánh.

Tôi thấy họ tôn trọng mạng sống, tôn trọng dân họ. Tại Na Uy, người thất nghiệp không thể tìm việc làm, dân tỵ nạn, người điên, chậm phát triển, tàn tật, người già… đều được nhà nước cấp tiền nuôi. Có những trường hợp người bệnh, nhà nước bỏ tiền đưa người mẹ từ nước khác sang săn sóc con. Họ cấp tiền cho người tâm thần mua rượu và thuốc lá, nghe có lẽ hơi kỳ lạ, nhưng theo cách họ nghĩ, đó là nhu cầu bình thường của người tâm thần. Tôi đã từng cười việc họ thổi phồng, viết báo và phỏng vấn con gái một người đàn ông bị tù 3 ngày trong Thế chiến thứ 2, nhưng rút cuộc nó chỉ bắt nguồn từ nguyên nhân: họ tôn trọng dân họ, từng cá nhân trong đất nước họ, và số lượng người chết quá ít.

Tại một nước Bắc Âu, một lần một thị trưởng phải đứng lên xin lỗi nhân dân trong thành phố vì một con đập mở ra và đóng lại đều đặn mỗi ngày, một lần sớm hoặc trễ vài phút chẹt chết một con thiên nga, ảnh hưởng đến sinh thái.

Tại Pháp, mỗi khi giá cả xuống thấp, nông dân đi biểu tình và nhà nước đền bù một số tiền nhất định cho họ.

Tại Đức, một lần các ôtô đều được thông báo về việc có trẻ con trên tuyến đường dành riêng cho xe ôtô chạy tốc độ cao, đây là một cậu bé 9 tuổi trễ xe buýt quyết định tự đi bộ đến trường, sau vài phút xe cảnh sát đến và đưa thẳng cậu bé đến trường học.

Tại VN. Cháy nhà. Sập nhà khi vừa thi công công trình. Lũ và dự báo thời tiết sai. Sập cầu. Cây đổ. Dây điện rớt. “Lô cốt” chắn đường. Tai nạn giao thông. Ung thư vì thức ăn kém vệ sinh và môi trường ô nhiễm. Vướng vào cột điện và ngắt điện quá trễ… Người ta có thể chết vì hàng trăm hàng nghìn cách khác nhau.

Nói sự thật
Ở đây tôi không muốn chê bai chỉ trích đất nước tôi và vọng ngoại tâng bốc nước ngoài. Đơn thuần tôi chỉ nói lên sự thật. Nói lên những gì tôi đã nhìn thấy, đã quan sát tận mắt.

Và tôi tự hỏi, một nhà nước có tốt không khi mạng người xem như cỏ rác, bao nhiêu người chết họ không quan tâm, đôi khi vì số lượng quá lớn họ phải đứng ra nói vài lời sáo rỗng cho qua và đền bù vài triệu cho xong? Một nhà nước có tốt không khi họ đàn áp từ công nhân đến nông dân, từ Công giáo sang Phật giáo? Một nhà nước có tốt không khi họ phải theo dõi, bôi xấu, vu khống, chặn đường kinh tế, đàn áp và bắt giữ những người bất đồng chính kiến ?

Tôi đã đi, đã gặp và trò chuyện với rất nhiều người Việt ở Đông Âu, và họ đều chỉ muốn về chơi chứ không muốn về sống. Và rất nhiều người VN tôi biết không muốn trở về.

Nói thẳng thắn, tôi cũng không muốn về. Tôi không về được và cũng không muốn về. Đó không phải là không yêu nước. Đó không phải là không muốn góp phần xây dựng đất nước. Mỗi người chúng ta đều muốn làm gì đó cho đất nước, nhưng rút cuộc công sức sẽ chỉ tan thành tro bụi và đổ sông đổ biển vì bạn có thể xây dựng được gì trong xã hội một thằng xây 9 thằng phá này ?

Đây không phải là xã hội chủ nghĩa như cái họ đang rao giảng nhồi nhét tuyên truyền cho mọi người, khi có những người làm việc cực khổ, nợ nần chất đống đến độ phải tìm những công ty môi giới tìm cách sang các nước Đông Âu làm việc cho nhà máy (tôi đã gặp họ). Trong khi có những người có thể bay một chuyến từ Hà Nội vào Sài Gòn chỉ để ngủ một đêm để đổi không khí, có những người đồng hồ 800 đô mỗi tuần thay một cái và đến sinh nhật tặng bạn bè mỗi đứa một cái.

Và tôi tự hỏi. Tại sao chúng ta lại phải cam chịu chấp nhận? Tại sao chúng ta không thể lên tiếng phản đối? Tại sao chúng ta không thể đứng lên đấu tranh cho cuộc sống tốt đẹp hơn? Tại sao chúng ta không làm gì đó cho đất nước, thay vì chịu đựng hoặc bỏ sang nước ngoài và không cần quan tâm đến VN nữa?

Tại Ba Lan công nhân đình công và thổi bùng cách mạng với sự dẫn dắt của Giáo Hoàng. Quân cờ domino đổ đầu tiên dẫn đến hàng loạt các quân cờ khác đổ một loạt tại các nước Đông Âu. Người dân biểu tình hoà bình vì nhân quyền và tự do dân chủ, và người lính hạ súng từ chối bắn vào nhân dân họ. Tại Đức, khao khát tự do người ta tìm cách vượt qua bức tường từ Đông sang Tây (như dân VN trước đây hàng loạt kéo nhau vượt biên gây chấn động Thế Giới) dẫn đến kết quả cuối cùng là giật đổ cả bức tường.

Họ đã đứng lên. Nổi dậy. Phản kháng. Cất lên tiếng nói và đòi hỏi cho tự do dân chủ.

Nhưng liệu nhân dân VN sẽ tranh đấu cho cuộc sống tốt đẹp hơn hay tiếp tục cam chịu những mục ruỗng thối nát của chế độ với quan niệm đánh đồng yêu quê hương Tổ quốc và yêu nhà nước và suy nghĩ an ủi xã hội đang dần dần phát triển?

Nhà nước này và những người tự nhận mình yêu nước hơn người khác chỉ vì bênh vực Đảng và chế độ luôn tìm ra cách giải thích và biện minh cho mọi sự kiện và vấn đề, nhưng tại sao thay vì tìm cớ, tìm cách giải thích khoả lấp cho qua chuyện, chúng ta không tìm giải pháp và làm gì đó để cải thiện những mặt không tốt ấy?

Tại sao thay vì chờ đợi cho một điều không bao giờ đến - sự can thiệp của một nước khác, chúng ta không tự quyết định cho số phận của chính mình?

Tại sao thay vì cam chịu sống cùng những mục ruỗng lũng đoạn của xã hội và những lời giải thích khập khiễng, chúng ta không đấu tranh cho cuộc sống tốt đẹp hơn?

Những điều tôi đã nói, các bạn không tin và hỏi tôi bằng chứng thuyết phục đâu, thế các bạn đã bao giờ thắc mắc và nghi vấn về những điều các bạn đã được dạy dỗ bao lâu nay chưa?

Các bạn có bao giờ nghi ngờ tính xác thực của những điều ấy hay trong quan niệm của bạn, nhà nước không thể tuyên truyền áp đặt dối trá cho dân chúng? Và rằng bạn sống trong đất nước này, các bạn cần phải đặt lòng tin tuyệt đối vào nhà nước này và bạn tin (hoặc thuyết phục bản thân phải tin) rằng ban lãnh đạo đều đang cố gắng hết sức mình để làm những điều tốt đẹp nhất cho xã hội Việt Nam?

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, đang sống cùng gia đình ở Na Uy.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

TẤM VẠC GIƯỜNG

Tiểu Tử

Hồi đó, tôi làm mướn cho ông Cả Bảy. Mấy ngày đầu, ngày nào cũng chèo xuồng qua bên kia sông để giữ ruộng cho ổng. Hồi ổng kêu tôi làm việc cho ổng, ổng nói : « Hổng có gì, nhưng có mặt mầy ở bển tụi nó không giám phá lúa ! » . Ổng nói ‘ phá’ để tránh nói ‘ ăn cắp’ nghe…nặng lỗ tai !

Mà thiệt ! Công việc hổng có gì gọi là nặng nhọc. Tôi treo võng giữa hai cây gáo lớn cạnh bờ sông, rồi nằm tòn ten trên đó ca tới ca lui mấy câu vọng cổ, lâu lâu trèo lên cây gáo ngồi nhìn ruộng lúa minh mông kéo dài tới rừng tràm nằm phía trong xa, xa cỡ đôi ba dậm hú. Đó là chiều sâu. Còn chiều ngang là nằm dài theo con sông Cái, có con rạch No làm ranh phía trên, chỗ tôi treo cái võng, và con rạch Bù Xu làm ranh phía dưới. Từ rạch No muốn nhìn thấy rõ rạch Bù Xu phải xè bàn tay đưa lên ngang mày che bớt ánh sáng ! Nói như vậy, để thấy ruộng ông Cả Bảy lớn biết ngần nào…

Lần đầu tiên đi với ông Cả Bảy qua ruộng để ‘ nhận việc ’ , thấy minh mông thiên địa như vậy, tôi hết hồn, nói :

- Trời đất ! Mút chỉ như vậy, mình con coi sao thấu !

Ông Cả Bảy cười khì khì :

- Tao chỉ cần mầy qua bển cho có mặt hằng ngày chớ đâu có biểu mầy đi

đánh lộn với tụi lưu manh đâu ! Cái lũ đó hể thấy có người canh ruộng là tụi nó rút đi chỗ khác hè !

Ngừng một chút để suy nghĩ rồi ổng nói :

- Tàm tạm vài bữa rồi tao cho đám thằng Hai Lưa ở trại hòm qua cất cho mầy cái chòi nhỏ có tháp canh cao phía trên, để có chỗ cho mầy đụt mưa đụt nắng.

Có lẽ thấy tôi còn…ngơ ngơ nên ổng nói tiếp :

- Trên tháp canh sẽ có cái ống tre lớn làm cái mõ. Hễ mầy thấy có bóng người vô ruộng thì mầy cứ gõ mõ liên hồi là nó chạy. Hiểu chưa ?

Vậy là ít lâu sau, tôi có cái chòi tranh vách lá, có chỗ để treo võng, có chỗ để nấu cơm, phía trước có cây cầu ván chờm ra sông để tắm gội…

…Qua mùa lúa đó, ông Cả Bảy kêu tôi, nói :

- Tao thấy mầy tuy côi cút một thân một mình mà làm việc siêng năng nên tao thương. Tao cho mầy một miếng đất bên ruộng để mầy cất nhà rộng rộng, còn lo cưới vợ nữa chớ !

Vậy rồi mấy hôm sau, ổng dẫn nhóm chú Hai Lưa trại hòm qua ruộng của ổng, đo đạc cặm nọc để cho tôi miếng đất nằm cạnh vàm rạch No, còn chỉ chỗ cho chú Hai Lưa cất cho tôi cái nhà nền đất nóc tôn vách ván nữa ! Tôi cảm động nghẹn lời, ấp úng nói mấy tiếng cảm ơn mà cũng không tròn chữ tròn câu…Ông Cả cười cười :

- Mầy lo đốn cây làm rào dậu, trồng trỉa cho thành khoảnh đi, rồi tao kiếm cho mầy một con vợ !

Nói xong, ổng cười ha hả, khoái chí !

…Ông Cả Bảy có hai người con trai đi học bên tây rồi ở luôn ở bển. Từ ngày bà Cả nằm xuống, ổng vẫn sống cu ky một mình trong cái nhà sàng tổ chảng nằm cạnh trại hòm và trại cưa của ổng. Ổng thôi làm cả trong ban hội tề từ lâu nhưng trong làng vẫn gọi ổng là Cả. Nghe nói ổng ‘ quen lớn ’ dữ lắm, thấy mấy ông Quận ông Tỉnh thường ghé nhà ổng chơi hay cùng đi bắn le-le … Hồi tôi tới tuổi đi quân dịch, ổng nói : « Mầy yên tâm lo canh ruộng, còn vụ nầy, để tao lo ». Vậy rồi mươi hôm sau, ổng trao cho tôi tờ hoãn dịch !

… Cất nhà xong, chú Hai Lưa vỗ vai tôi, nói :

- Tao có một cái giường đôi bằng gỗ không xài, để tao chở qua cho mầy. Có điều là nó không có tấm vạc giường, tại mấy thằng con tao nó lấy cưa ra làm sạp cho ghe của tụi nó. Mầy chịu khó đạp xe vô Xóm Mới nói thằng Ba Kiên đương cho cái vạc bằng tre, rẻ hơn cái vạc gỗ mà nằm lại êm hơn gấp bội.

Ngừng một chút rồi ổng vò đầu tôi, nói :

- Chừng cưới vợ, nhớ cho tao nhậu với nghen !

Tôi nói ‘ Cám ơn chú’ , lí nhí nghe chừng không rõ lắm !

… Cái gường đó ráp vô rồi thấy rộng rinh. Mình tôi ngủ thì cần gì đến tấm vạc ? Vậy là tôi thả lên hai tấm ván đủ cho tôi nằm, sung sướng vì nghe thẳng lưng hơn nằm võng !

Tôi ngủ không có tấm vạc giường như vậy cho đến hết mùa lúa năm đó thì tôi gặp ‘ Nàng’… Cũng do Trời xui Đất khiến !



* * *

Nàng tên là Huệ, mồ côi cha, con của bà Năm Căng ở xóm Lò Gạch. Nàng làm công cho lò gạch ông Tám Ti ếu. Nhờ đi chở gạch để ông Cả cho sửa lại cái đầu bờ kè trước nhà nên tôi gặp nàng. Gặp là tôi hạp nhãn liền ! Trời ! Con gái nhà quê gì mà nước da trắng bóc, còn thân hình thì cân đối thon thả kèm theo tướng đi lượng là cứ bắt người ta phải nhìn theo !

… Vậy rồi nàng và tôi quen nhau. Vậy rồi, ngày một ngày hai, tôi đạp xe đến lò gạch. Không có gì : chỉ cần gặp nàng để nói đôi ba câu không đầu không đuôi, rồi chèo xuồng về nhà bên kia sông, trèo lên vọng gác ngồi ngẩn ngơ suốt buổi !

… Vậy rồi, tôi nghĩ đến tấm vạc giường ! Vậy rồi, tôi đạp xe vô Xóm Mới đặt chú Ba Kiên đương cho tấm vạc giường bằng tre. Tuần lễ sau, tôi cuốn tròn tấm vạc chở về nhà trải lên cái giường gỗ, nhìn nó mà nghe lòng phơi phới. Bởi vì đó là lần đầu tiên tôi sắm một món đồ tuy không có giá trị gì nhiều nhưng lại mang đầy ý nghĩa …

… Để tránh tai mắt, tôi và nàng thường hẹn gặp nhau ở đường lên chùa vì đường đó vắng người và có mấy bụi tre lớn giao tàn che nắng. Hai đứa đứng nói chuyện ‘ trên trời dưới đất’ cả canh, nàng hay cầm lấy cành tre non đầy lá vươn ra cạnh chỗ nàng đứng, lắc qua lắc lại như để đánh nhịp khi nàng nói, mắt nàng nhìn bụi tre, nhìn con dốc lên chùa chớ ít khi nhìn tôi. Vậy mà sao tôi vẫn nghe lòng phơi phới như được nàng nhìn thẳng vào mắt !

… Bây giờ thì rõ ràng tôi đã thương nàng, càng ngày càng thương đậm ! Mà giữ riết trong lòng thì ấm ức quá đi ! Chắc phải nói ra cho nàng biết, rồi ra sao thì ra ! Vậy rồi một hôm đứng cạnh bụi tre đã thành quen thuộc, tôi làm gan nói :

- Huệ à ! Anh nói thiệt, Huệ đừng giận nghen ! Anh thương Hu ệ quá rồi Huệ à !

Nàng bỗng quay sang nhìn tôi, tay vẫn còn vin cành tre non, hỏi bằng một giọng nhẹ như tiềng gió trong lùm tre trước mặt :

- Vậy sao ?

Chỉ có hai tiếng nghe ngơ ngớ kỳ kỳ như vậy mà tôi lại thấy như là một sự chấp nhận ! Tôi bước lại gần nàng, nàng vẫn nhìn vào mắt tôi, cập môi mấp máy như muốn nói gì mà hai vành tai ửng đỏ. Đúng lúc đó, tôi hửi được mùi con gái của nàng làm tôi choáng váng ngầy ngật. Trời ơi ! Tôi muốn ôm đại nàng để siết chặt lại trong tôi, bởi vì chỉ có làm như vậy tôi mới nói được tôi thương nàng biết ngần nào … Nhưng tôi lại sợ làm ẩu, rủi nàng không hiểu rồi giận rồi vùng vằng bỏ đi tuốt thì chắc tôi … chết quá ! Tôi ráng kềm tôi lại, nuốt nước miếng mấy lần mới nói được :

- Huệ à …

Nàng ‘ dạ’ , tiếng ‘dạ’ nghe như chờ đợi. Nàng không còn nhìn tôi mà quay về với cành tre non. Lần nầy, nàng bứt từng chiếc lá tre rồi bỏ rơi xuống đất, giống như nàng đếm lá !

- Huệ à ! Anh muốn xin cưới Huệ …

Nói tới đó tôi bỗng nghe … hụt hơi ! Nàng im lặng bứt từng chiếc lá … Một lúc, tôi hỏi :

- Mà Huệ có ưng không ?

- Biết đâu nà !

Tôi ráng sức nói một hơi :

- Anh làm công cho ông Cả Bảy. Anh có nhà có đất ở bên kia sông. Anh được hoãn dịch không phải đi lính. Anh sẽ nhờ ông Cả đánh tiếng qua má của Huệ để xin cưới. Mà Huệ phải cho anh biết coi Huệ có ưng hay không, cái đã !

- Ờ … Thì vậy !

Rồi, có lẽ thấy câu trả lời không mấy rõ nên nàng nói thêm :

- Tính sao cũng được !

Tôi mừng quá, nắm đại bàn tay nàng vứa lắc vừa cám ơn rối rít ! Nàng bỗng quay qua nhìn tôi, mỉm cười. Trời ! Cái cười của nàng sao mà đẹp hết nói ! Tôi như bị hốt hồn, cầm chắt bàn tay của nàng mà tưởng chừng như đang cầm cây sào cắm xuống lòng rạch để giữ cho xuồng đừng theo con nước mà bỏ bờ …

Đêm đó, trải chiếc chiếu trên tấm vạc giường, tôi nằm lên mà nghe mát rượi. Tôi nghĩ : rồi đây, hai đứa sẽ nằm chung một vạc giường. Chỉ bao nhiêu đó thôi cũng đủ làm tôi sung sướng đi vào giấc ngủ. Cuộc đời sao dễ thương quá hổng biết ?

* * *



Chuyện của nàng và tôi chưa ai biết hết thì xảy ra vụ tháng tư 1975. Lúc đó, nghe tin dân miền trung chạy rần rần vô nam, ông Cả Bảy kêu tôi , nói :

- Chuyến nầy, mầy đi giùm tao xuống Cần Thơ. Tao có con em mấy chục năm nay theo chồng ở dưới. Địa chỉ nó đây.

Ổng đưa tôi miếng giấy có ghi tên họ, số nhà, tên đường :

- Tao nhờ mầy ôm một số tiền xuống đưa cho tụi nó, biểu tụi nó lo chạy về đây ở với tao sớm sớm cho có anh có em. Có gì cũng còn có nhau còn hơn là đứa một nơi người một ngả, loạn lạc nầy không biết đâu mà rờ. Tao có biểu tụi thằng Hai trại hòm qua ở nhà mầy, vừa giữ giùm nhà vừa coi ruộng luôn. Đừng lo !

… Vậy là tôi lặn lội xuống Cần Thơ tìm người em gái của ông Cả. Bà nầy có sạp vãi ở chợ Cần Thơ, ông chồng là thiếu tá hải quân. Khi tôi tìm ra được bả thì có tin thiên hạ ở Sài Gòn đang chạy di tản, làm dân chúng Cần Thơ cũng rối ren hối hả xuống ghe xuống xuồng tranh nhau đi. Ông thiếu tá hải quân hốt hết gia đình đem lên tàu chiến, kéo tôi theo luôn ! Đứng trên tàu, tôi nhìn đồng ruộng chạy lùi về phía sau mà chết điếng ở trong lòng, không biết làm sao báo tin cho ông Cả Bảy và nhứt là cho Huệ …

… Vậy rồi sau thời gian nằm trên đảo của quân đội đồng minh, tôi định cư ở Mỹ, tiểu bang Cali . Tôi làm công cho một tiệm ăn Việt Nam ở khu Sài Gòn Nhỏ, rửa chén quét dọn lau nhà … Lương lậu không bao nhiêu nhưng được bà chủ cho ở trong một phòng nhỏ nằm cạnh nhà bếp, ở để làm gác-dan cho bả luôn !

Thời gian sau, khi đã ổn định đời sống, tôi có gởi thơ về nhưng không thấy hồi âm. Tôi biết làng tôi nhỏ béo lại nằm tuốt trên vùng Ngọn - gọi là ‘ Ngọn’ bởi vì nằm trên ngọn sông Vàm Cỏ - giáp ranh với đất Cao Miên. H ồi thời trước, trong làng không có nhà bưu điện nên mỗi tuần một lần ông Sáu làm biện trong làng phải đạp xe xuống quận cách đó mười mấy cây số để lấy thơ ở nhà bưu điện đem về để trong nhà làng. Dân chúng cứ tự động đến coi trong đống thơ, cái nào mang tên mình thì lấy, có khi lấy giùm hàng xóm hay họ hàng bạn bè nữa ! Tôi nghĩ chắc bây giờ cũng vậy thôi, thơ tôi gởi không đến tay Huệ thì làm gì có hồi âm được ?

Dầu vậy, tôi vẫn tin tưởng rằng nàng không bao giờ quên tôi, cũng như tôi lúc nào cũng nghĩ tới nàng. Tôi hay nghe mấy người có đọc sách nói ‘Lời thề trăm năm’ . Nàng và tôi đâu có thề thốt gì đâu, nhưng câu nói ‘ Tính sao cũng được’ và cái mỉm cười tiếp theo sau đó của nàng ở đường lên chùa hồi tôi ngỏ ý xin cưới … tôi đã khắc ghi vào lòng. Như vậy, chẳng phải là một ‘ Lời thề trăm năm’ hay sao ?

Nhứt định tôi sẽ trở về Việt Nam để cưới Huệ. Để hai đứa cùng nằm chung một vạc giường, cái vạc giường đương bằng thanh tre già chuốt giẹp giẹp, nằm vừa êm vừa mát. Để thấy cái mà mấy người biết đọc sách gọi là ‘ Hạnh phúc lứa đôi ’ đối với tôi, nó chỉ võn vẹn là sự sung sướng được chia đôi với người mình thương một tấm vạc giường … Mà muốn được vậy, tôi phải có tiền. Vậy là tôi để dành tiền, cắc ca cắc củm !

* * *



Nhờ hỏi thăm mấy người có về Việt Nam nên tôi đã ước lượng được số tiền cần thiết để làm đám cưới và để hai vợ chồng tôi có một số vốn làm ăn. Vậy mà phải năm năm sau tôi mới có tàm tạm đủ ! Chừng đó, tôi mới dám ‘ lên kế hoạch’ : nhờ ông Cả Bảy làm chủ hôn bên đàng trai, rước dâu về nhà của ổng, đãi đằng hai họ ở đó, xong rồi tôi chèo xuồng đưa cô dâu về nhà bên kia sông để tôi khoe với nàng tấm vạc giường mà tôi sắm cho hai đứa, từ hơn sáu năm nó vẫn nằm chờ…

Ngồi trên máy bay về Việt Nam, trong đầu tôi sắp xếp. Trước tiên là về nhà tôi để nghỉ ngơi cho tỉnh mỉnh. Sáng hôm sau sẽ đi thăm ông Cả Bảy, còn xế chiều thì qua nhà nàng vì giờ đó nàng mới từ lò gạch về nhà, tôi sẽ bất thần bước vô nói lớn : « Huệ ơi ! Huệ ! Anh về rồi nè ! ». Tưởng tượng đến đó, tôi bỗng ứa nước mắt ! Đầu óc tôi tự nhiên sao mù mờ. Làm như bao nhiêu năm nay tôi chỉ chờ có như vậy ! Tôi thấy tội nghiệp tôi, tội nghiệp nàng : nếu không có cái ngày nghiệt ngã 30 tháng tư 1975 thì làm gì hai đứa phải cắn răng chịu đựng khắc khe cỡ nầy ?

…Làng tôi bây giờ lạ hoắc. Không phải có thêm đường ngang nẻo dọc mà thấy đầy cờ xí biểu ngữ, loa trên loa dưới ồn ào không giống cái gì hết !

Tôi xuống xóm chợ nhờ một chị chèo xuồng mướn đưa tôi sang sông.

Khi xuồng vừa cặp vô cây cầu ván thì có con chó chạy ra sủa râng, rồi hai ông bà già từ trong nhà bước ra dòm. Té ra là chú thím Hai Lưa hồi xưa thủ trại hòm của ông Cả Bảy ! Chú Hai nhìn ra tôi ngay. Ổng la lên :

- Trời đất ! Mầy còn sống hả ? Ở đâu mà về vậy ?

- Dạ ở Mỹ.

- Cha…xa ớn há !

Rồi chú lật đật vừa la chó vừa bước xuống cầu phụ tôi đem hành lý lên. Trước nhà thấy có phơi chiếc chiếu với hai ba cái gối. Trong nhà vẫn như xưa, cái giường gỗ vẫn nguyên chỗ cũ với tấm vạc giường tôi đem về từ trong Xóm Mới. Chỉ có thêm là hai cái võng nằm song song gần đó, còn thì bàn ghế tủ..v.v…không có gì thay đổi. Tôi xúc động đến nghẹn lời. Chú Hai nói :

- Mầy uống miếng trà rồi nằm võng nghỉ lưng. Trong làng tưởng mầy chết rồi chớ , đâu dè … Để tao kể mầy nghe …

Vậy rồi chú nằm trên võng cạnh tôi, vừa hút thuốc vừa kể :

- Hôm mầy đi Cần Thơ, cha con tao theo lời ông Cả biểu, thay phiên nhau qua đây giữ nhà giữ ruộng. Kế đó, tụi nó - tụi cách mạng ớ ! – tràn vô làng, bắt hết hội đồng xã, bắt luôn ông Cả Bảy trói bằng kẽm gai thành một dọc, chở đi mất. Rồi tụi nó chiếm hết, nhà cửa đất đai ruộng vườn, đuổi tụi tao ra để lấy trại hòm. Nhờ có cái nhà của mầy mà tụi nầy dọn qua ở tạm. Tao và hai thằng con tao cất thêm cho cái chòi giữ ruộng rộng ra để để đồ đạc của tụi tao và để hai thằng con tao có chỗ hành nghề thợ mộc của tụi nó. Hai thằng nầy coi vậy mà gan ! Tụi nó vượt biên rồi định cư ở Úc. Bây giờ, tụi nó có xưởng mộc ở bển, coi bộ làm ăn khá ! Thấy lâu lâu gởi tiền về nhờ thằng bạn tụi nó ở thành phố chạy Honda lên đưa ! … À ! Mầy biết hông ? Tụi cóc cắn cách mạng có kêu tao về trại hòm làm cho tụi nó, tao đấm thèm ! Mầy nghĩ coi : trại hòm mà cũng bày đặt trương biểu ngữ đề ‘ Hạ quyết tâm hoàn thành tốt kế hoạch của Nhà Nước ’. Mẹ ! … Hòm chôn người chết mà cũng vô kế hoạch nữa thì khùng hết nước nói ! Còn chuyện nầy chắc mầy chưa biết : con Huệ, con bà Năm Căng …

Hai tiếng ‘ Con Huệ ‘ làm tôi giật mình. Tôi nhỏm dậy, lắng tai nghe. Chú nói tiếp :

- Mấy tháng sau giải phóng, không biết nó nghe lời ai mà ôm gói xuống thành phố nói kiếm việc làm rồi lặn mất luôn cho đến năm ngoái đây, nó trở về mà đi bằng xe hơi nhà có tài xế, trên băng sau có người đàn ông có vẻ ông chủ. Mầy biết, trong làng chỉ có thằng Cói gia nhân của ông Cả Bảy là được ổng sắm cho chiếc Honda để đưa ổng đi đây đi đó, chớ đâu có ai có xe hơi. Vì vậy, khi con Huệ đi xe hơi thẳng vô xóm Lò Gạch là thiên hạ để ý. Bà Năm Căng kể lại nói bả nhìn nó không ra, tưởng là một bà nhà giàu nào đó đi lầm nhà ! Chừng nó xưng tên, mẹ con nó và bầy em nó ôm nhau khóc làm hàng xóm chạy qua mừng cũng rớt nước mắt. Nó đem cho má nó hai bao đồ rồi nhét trong túi áo má nó một cộc tiền. Sau đó, nó chỉ nói được có mấy tiếng ‘ Con lạy má ! Con lạy má !’ rồi vừa khóc vừa chạy vội ra xe lên ngồi cạnh ông người á-đông ở băng sau, tài xế rồ máy chạy ào đi gấp. Từ đó tới giờ không có tin tức gì hết !. Còn đồ nó cho má nó toàn là tơ lụa mắc tiền nằm kín trong từng bao ni-long có in nhiều chữ tàu. Thầy Ba trên chùa đọc rồi nói đó là sản phẩm cao cấp của Thượng Hải …

Tôi ngả người nằm xuống võng mà nghe lùng bùng hai lỗ tai, chết điếng ở trong lòng. Chú Hai Lưa hỏi :

- Mầy còn nhớ con Huệ hông ?

Tôi ‘ dạ ‘, tiếng dạ bị nước mắt trào lên chận ngang. Tôi nuốt xuống mà nghe miệng mồm đắng chác. Không kềm được nữa, tôi đưa hai tay lên bụm mặt. Chắc chú Hai Lưa thấy, hiểu, nên nghe chú tằng hắng một tiếng rồi làm thinh …



* * *



Trên máy bay trở về Mỹ, tôi nhìn qua cửa sổ thấy nhà cửa ruộng đồng cây cối mờ lần mờ lần rồi mất hút … mà tôi nghe buồn rười rượi. Ở tuốt dưới đó, trong một làng quê nằm xa mút trên vùng đất Ngọn, tôi đã bỏ lại một tấm vạc giường, tấm vạc giường tưởng để nằm chung với người con gái nhà quê mà tôi thương, đâu ngờ chuyện hai đứa chưa kịp thành duyên thành nợ thì nàng đã như chiếc xuồng bỏ bờ mà trôi theo nước, đành đoạn trôi theo nước …

Mối tình dành riêng cho nàng mà tôi giữ miết ở trong lòng từ bao nhiêu năm, giờ nghĩ lại sao thấy quá khù khờ ! Dầu vậy, tôi vẫn muốn gặp nàng, gặp một lần thôi, để chỉ hỏi có một câu : « Tại sao ? ... Tại sao ? … Tại sao ? … »

Nghĩ đến đó, tự nhiên tôi trào nước mắt …

Tiểu Tử

muoiot
Posts: 100
Joined: Sat Sep 19, 2009 6:52 pm

Post by muoiot »

Khủng bố gài mìn trong ngực của nữ và mông của nam .


Mạng lưới khủng bố Al Qaeda đang có một chiêu qua mắt lực lượng an ninh mới lạ, chưa từng được biết tới.
Đó là gài mìn trong miếng độn ngực của phụ nữ và ở mông của đàn ông.

Image
Chất nổ được giấu trong miếng độn ngực của phụ nữ

Cơ quan tình báo Anh MI5 cho biết, Al Qaeda gài mìn bằng cách trang bị cho các nữ đánh bom liều chết túi độn ngực chứa chất nổ, vốn không thể bị phát hiện tại các điểm kiểm soát an ninh ở sân bay.

"Những phụ nữ được Al Qeada đào tạo đã được cấy chất nổ vào ngực theo cách tương tự với phẫu thuật nâng ngực", chuyên gia khủng bố Joseph Farah nói.

Chất nổ chết người, tên là PETN, được nhét vào bên trong túi nhựa trong khi phẫu thuật, trước khi ngực được khâu lại, ông Farah nói thêm.

Theo MI5, các bác sĩ của Al Qeada đã từng được "rèn luyện" ở một số bệnh viện trường y hàng đầu của Anh trước khi quay về nước mình để thực hiện các cuộc phẫu thuật.

Cơ quan tình báo Anh còn phát hiện được, những kẻ cực đoan còn nhét chất nổ vào mông của một số kẻ đánh bom liều chết là đàn ông.

Các bác sĩ phẫu thuật hàng đầu của Anh đã xác nhận tính khả thi của việc cấy chất nổ vào ngực nữ giới. "Khi được phẫu thuật đúng cách, các thiết bị quét thông thường ở sân bay hầu như không thể phát hiện được cái bẫy này", một chuyên gia cho biết.

"Bạn phải đưa nghi phạm tới trước một máy quét tinh vi. Hơn nữa, do chất nổ được nhét bên trong một túi nhựa niêm phong và với một lượng nhỏ nên hầu như không thể phát hiện được chất nổ với máy quét cơ thể thông thường", chuyên gia y tế trên bổ sung.

Một túi độn ngực chứa 141,75g PETN có thể tạo nên một lỗ hổng tương đối trên vỏ máy bay, và khiến phương tiện này gặp nạn, các chuyên gia cho biết.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Ước mơ và thực tại của dân chúng Việt Nam


Phạm Quang Trình

Bốn nhu cầu căn bản của con người là: ăn, mặc, ở, và đi cũng gọi là di chuyển.

Ở mức độ sơ khai, con người mong được ăn no, mặc ấm, ở sạch, đi mau.

Khi văn minh tiến bộ, con người mong được ăn ngon, mặc đẹp, nhà ở có đủ tiện nghi và di chuyển mau lẹ hơn nhờ phương tiện xe cộ, tàu bè, chạy bằng máy móc.

Thời văn minh hiện đại- nhờ khoa học kỹ thuật tiến bộ, đời sốngcon người sung sướng hơn nữa. Vẫn ăn ngon, mặc đẹp, nhà đầy đủ tiện nghi, Di chuyển mau lẹ hơn nữa bằng đủ mọi phương tiện máy móc trên bộ, trên không, dưới biển. Đó là chưa kể đến những tiến bộ về truyền thông và không gian giúp loài người liên lạc với nhau trong nháy mắt, tạo cho người ta có cảm tưởng rằng trái đất đã nhỏ lại nhiều lần.

Dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc khác trên địa cầu đều có những nhu cầu tương tự. Thỏa mãn nhu cầu đó cũng chính là ước mơ của dân chúng VN. Nhưng việc thỏa mãn các nhu cầu đó ở mức độ sơ khởi, văn minh cao thấp tùy thuộc vào khả năng vận dụng sáng tạo của mỗi dân tộc, vào khả năng và thiện chí của giới lãnh đạo. Bất hạnh thay, dưới chế độ Cộng sản, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia đói nghèo và lạc hậu nhất thuộc thế giới thứ ba trong khi bọn cầm quyền Hà Nội vẫn rêu rao tuyên truyền bằng những sáo ngữ: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.


Nhìn lại chặng đường lịch sử, từ thế kỷ thứ 19, khi chủ nghĩa thực dân đế quốc thịnh hành, VN đã là nạn nhân của chế độ Pháp thuộc (1858-1954). Khi Thế Chiến thứ 2 (1939-1945) vừa kết thúc thì phong trào giải phóng các dân tộc nhược tiểu bị đô hộ đã phát khởi mạnh mẽ. Lợi dụng cơ hội đó, Nhân dân Việt Nam đã mạnh bạo đứng lên đấu tranh giành lại chủ quyền. Mặc dầu nêu cao chiêu bài Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, nhưng tập đoàn Cộng sản Hồ Chí Minh đã không đáp ứng đích thực nguyện vọng, cũng là ước mơ của nhân dân Việt Nam. Thay vào đó, ho. Hồ đã công khai du nhập chủ nghĩa Mác Lê vào đất nước, gây nên cảnh nồi da xáo thịt. Theo lệnh của quan thầy Nga-Hoa, CSVN đã quyết tâm giành chính quyền bằng mọi cách đồng thời ra tay tiêu diệt các đảng phái quốc gia, thanh toán các thành phần đối lập gây nên cuộc chiến Quốc-Cộng đằng đẵng 30 năm trời (1945-1975), hy sinh trên 3 triệu sinh mạng một cách tức tưởi. Hơn thế nữa, Hồ Chí Minh còn đích thân sang Nga và Trung Cộng lãnh nhận chỉ thị của Staline và Mao Trạch Động thực hiện cái gọi là cuộc Cải Cách Ruộng Đất long trời lở đất từ 1953-1956, giết hại trên 300 ngàn người bị quy chụp là địa chủ hay người quốc gia, kẻ thù của giai cấp. Vẫn chưa hết, với sự hỗ trợ của Nga-Hoa và CSQT, tập đoàn Cộng sản Hà Nội còn thực hiện âm mưu thôn tính miền Nam qua công cụ bù nhìn Mặt Trận Giải Phóng và đích thân xua quân tấn chiếm, biến cả nước thành một nhà tù vĩ đại trong lịch sử dân tộc.


Kết quả dưới chế độ độc tài đảng trị là nhân quyền bị tước bỏ, Tôn giáo bị đàn áp, tài sản nhân dân bị cướp đoạt, hàng triệu người bị sung vào trong các Trại Học Tập Cải Tạo. Không chịu nổi ách thống trị tàn ác đó, hàng triệu người đã âm thầm tìm đường vượt biên, bất kể những gian nguy đến tính mạng, trong đó hơn nửa triệu người đã biến thành mồi cho tôm cá. Nhưng không phải chỉ đến ngày 30-04-1975 mới có hàng triệu người bỏ nước ra đi, mà ngay từ năm 1954 sau Hiệp Định Genève, gần một triệu người từ miền Bắc đã di cư vào Nam để tị nạn Cộng sản. Bởi đó, quý vị sẽ không ngạc nhiên khi Cộng sản tấn chiếm miền Nam thì có hàng triệu người vượt biên ra nước ngoài để tìm tự do, tạo thành một Cộng Đồng Hải Ngoại với trên 3 triệu người rải rác khắp hoàn cầu.


Câu hỏi được đặt ra: Cộng sản là gì mà dân chúng sợ đến thế? Tại sao chỉ có dân chúng từ các nước bị CS thống trị mới vượt biên tìm tự do bên các nước tư bản mà không thấy những cuộc vượt biên hàng loạt nào từ Bắc Mỹ hay Tây Âu chay qua Liên Sô và Trung Cộng? .

Suốt 57 năm thống trị miền Bắc và sau 35 năm tấn chiếm miền Nam, ngụy quyền Cộng sản Hà Nội đã biến Việt Nam trở thành một trong những nước đói nghèo lạc hậu trong khi các quốc gia khác không Cộng sản như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Nam Hàn, Hồng Kong đã trở thành những Con Rồng Kinh Tế Á Châu. Vậy thì nguyên nhân nào đã kiềm hãm dân chúng, đất nước Việt Nam trong vòng đói khổ? Câu trả lời đơn giản và dễ dàng: chính chế độ Cộng sản! Thật vậy, sau biến cố Đông Âu (1989) và Liên Sô bị sụp đổ (1991), tập đoàn CSVN vẫn chưa mở mắt. Ngược lại chúng vấn ngoan cố bám vào chiêu bài Mác-xít để thống trị nhân dân và tự biến thành những tên tư bản Đỏ. Chính chế độ độc tài toàn trị của chúng đã bị thế giới cũng như các tổ chức nhân quyền như Văn Bút Quốc Tế, và Hội Ân Xá Quốc Tế lên án mạnh mẽ.


Ước mơ của nhân dân VN vẫn không thay đổi. Vẫn là độc lập, tự do, cơm áo, hòa bình, Vẫn là nhân quyền và công lý. Ước mơ của dân chúng VN cũng là ước mơ của các dân tộc trên thế giới, những điều rất bình thường, mà bất cứ dân tộc nào cũng có quyền được hưởng. Vả lại, dân chúng VN không đòi những gì quá đáng hơn các dân tộc khác. Dân chúng VN cũng không đòi tập đoàn Cộng Sản phải làm hơn những nhà cầm quyền các dân tộc khác đã và đang làm cho dân tộc họ. Nếu như tập đoàn CSVN biết tôn trọng những điều cơ bản ấy thời nhân dân VN hạnh phúc biết bao. Và chắc chắn hằng năm, VBQT trong mỗi lần Đại Hội đã không phải ra một Nghị quyết lên án mạnh mẽ CSVN vi phạm nhân quyền, đàn áp những người bất đồng chính kiến.


Thực trạng bi thảm đó cho thấy Hồ Chí Minh cùng tập đoàn đã sai lầm khi du nhập chủ nghĩa CS vào VN, đã sai lầm khi thực hiện Cải Cách Ruộng Đất, đã sai lầm khi gây chiến tranh xâm chiếm miền Nam, chà đạp thô bạo những Hiệp Định mà chúng đã long trọng ký kết trước quốc tế. Chiến tranh quả là điều nguy hiểm và không cần thiết, bởi vì dân chúng VN yêu hòa bình, mơ hạnh phúc. Nhưng một nền hòa bình trong đói khổ, áp bức tù đày, nhân quyền không được tôn trọng, văn nghệ sĩ, trí thức bị đàn áp… thời còn tồi tệ hơn một cuốc chiến tàn khốc. Bởi vì trước 1975, chỉ có miền Bắc bị chúng kiềm tỏa. Miền Nam vẫn là một quốc gia tự do tôn trọng nhân quyền, trong đó cuộc sống nhân dân luôn được bảo vệ trên mọi phương diện, Ngược lại, tập đoàn CSVN là thứ tay sai của Cộng sản Quốc tế. Chúng coi Đảng hơn Tổ Quốc; coi quan thày Nga Hoa hơn dân tộc; coi quyền lợi của phe nhóm hơn quyền lợi của người dân. Trong khi nhân dân đói khổ thì chúng biến thành những đại gia giàu sụ, những tên tư bản Đỏ ăn sung mặc sướng, nhà cao cửa rộng.

Thật ra thì Cộng sản cũng ước mơ, nhưng ước mơ của chúng là ước mơ của tối tăm ngục tù, ước mơ của sự thống trị lâu dài bằng đàn áp, bóc lột. Chúng là chuyên viên lừa lọc, nói một đàng, làm một nẻo đề một khi chúng nắm được quyền thống trị thì dân chúng rất khó vùng lên đòi lại tự do. Bởi đó, dưới sự thống trị tàn ác của chúng, đạo lý trở nên suy đồi, tội ác và tệ đoan xã hội tràn lan, tham nhũng bóc lôt lên đến tột đỉnh. Bao dự án viện trợ cho VN đã bị chúng đục khoét. Thực trạng thê thảm đó làm cho dân chúng và dư luận khắp nơi nhớ lại nhận định của CTT Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm”.

Quê hương yêu dấu Việt Nam đã được hình thành bằng những trang sử máu của tiền nhân, đáng lý CSVN phải biết trân trọng gìn giữ. Thay vào đó, chúng đã hiện nguyên hình làm tay sai cho quan thày Bắc Kinh, cắt đất dâng biển (Hoàng Sa va Trường Sa) cho quan thày để trả nợ khiến kẻ thù phương Bắc được thể tràn xuống phương Nam, mở rộng biên cương bờ cỏi ở biển Đông gây bất ổn va` xáo trộn cho cả vùng Đông Nam Á.

Thật bất hạnh cho một dân tộc từng đánh bại bao thứ giặc ngoại xâm từ phương Bắc như Hán, Tống, Minh, Nguyên, Thanh và từng bị giặc Tàu đô hộ một ngàn năm (111BC – 939AD) mà vẫn vùng lên giành lại quyền độc lập tự chủ, mà nay bị đặt dưới ách thống trị của tập đoàn Cộng sản ác ôn côn đồ, tay sai của quan thày phương Bắc.


Tôi xin kết thúc bài nói chuyện hôm nay bằng một nhận định đơn sơ:

Dân chúng Việt Nam vẫn ước mơ, ước mơ một cách chân thành là được cơm no, áo ấm, có nhà ở và đi lại tự do như bất cứ dân tộc nào trên thế giới Ước mơ đó đã có từ lâu nhưng vẫn chưa được toại nguyện. Phải chăng như nhà thơ Nguyễn Chí Thiện từng viết:

Nếu nhân loại mọi người đều biết

Cộng sản là gì, tự nó sẽ tan đi….

Nhân loại hôm nay đã biết. Dân chúng dưới các chế độ Cộng sản như Việt Nam , Trung Hoa, Cu Ba., Bắc Hàn cũng đã biết. Nhưng những cái biết đó vẫn chưa đủ để quật đổ chế đô độc tài ác ôn như dân chúng các nước Đông Âu và Liên Sô đã làm. Quả thật, họ đang cần tiếng nói bênh vực công lý và sự thật của chúng ta - những nhà văn vì hòa bình đích thực- để một khi họ đứng lên vì chính nghĩa đấu tranh, họ hết sợ đàn áp thì ước mơ đó sẽ thành hiện thực.

Post Reply