Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
saulong
Posts: 114
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:02 pm

Post by saulong »

Image

ĐÀI TƯỞNG NIỆM CHIẾN SĨ VIỆT – ÚC TẠI QUEENSLAND

NGUYỄN KHẮP NƠI & HUỲNH BÁ PHỤNG
Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt từ 35 năm rồi. Nhưng mỗi lần ngày 30 tháng Tư trở lại, là lòng người dân Việt lại dấy lên một nỗi ngậm ngùi buồn tủi.

Ngậm ngùi cho số phận đất nước đã tới kỳ đen tối.

Buồn tủi cho những vong hồn của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh đã ngã gục vì bảo vệ nền Tự Do của chúng ta, mà đáng tiếc thay, đã không thành công.

Uống nước nhớ nguồn,
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

Để tưởng nhớ tới các chiến sĩ đã Vị Quốc Vong Thân, người Việt Nam Tỵ Nạn chúng ta đã dựng lên ở khắp mọi nơi những tượng đài chiến sĩ.

Tượng đài này nhắc nhở cho chúng ta nhớ ơn những chiến sĩ đã hy sinh mạng sống của họ cho cuộc sống ngày hôm nay của chúng ta.

Tượng đài chiến sĩ nhắc nhở cho những thế hệ mai sau nhớ tới cội nguồn của mình.

Đến thăm tuợng đài, ngoài mục đích nhớ ơn người xưa, chúng ta còn tìm lại nơi hình hài yên lặng này, hình ảnh của chính chúng ta trong thời chiến, thời còn cầm súng bảo vệ quê hương.

Tượng đài chiến sĩ nhắc nhở cho chúng ta rằng:

Cuộc chiến bảo vệ Tự Do, chống lại bọn Việt Cộng vẫn còn tiếp diễn, cho đến khi nào không còn bóng dáng bọn Cộng nô trên đất Việt.

Với lý tưởng đó, chúng tôi xin được giới thiệu:
ĐÀI TƯỞNG NIỆM CHIẾN SĨ ÚC VIỆT TẠI TIỂU BANG QUEENSLAND
Image


1.MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC XÂY DỰNG TƯỢNG ĐÀI.
Từ tháng 4/1965, đáp lời kêu gọi của Thế giới Tự do và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, chính phủ Úc Đại Lợi đã gởi quân sang Miền Nam Việt Nam tham chiến, giúp Miền Nam Việt Nam chống lại sự xâm lăng của chính quyền Cộng Sản Bắc Việt. Sự giúp đỡ đó kéo dài cho đến ngày 2-12-1972 là ngày đơn vị sau cùng của Quân đội Úc rời khỏi Việt Nam.

Nhưng thương thay, khi Chiến Đoàn Úc Đại Lợi hồi hương thì có 519 chiến binh Úc không bao giờ trở lại với gia đình nữa. Trước sự hy sinh cao cả đó, là người Việt Nam yêu chuộng Hòa bình và Tự do Dân chủ, hẳn không ai trong chúng ta có thể quên được công lao và xương máu của những người bạn Đồng Minh xấu số ấy. Chúng ta phải vinh danh họ, khắc ghi tên tuổi họ trên bia đá để an ủi phần nào những gia đình đã hiến dâng mạng sống của con em, chồng, cha mình trong cuộc chiến, và cũng để chính phủ và nhân dân Úc thấy rằng, người Việt Nam chúng ta biết tri ân và báo ân. Lòng tri ân và sự báo ân của chúng ta đã đuợc thể hiện hôm nay bằng một Tượng Đài xây ngay trên miền đất rộng lượng đang cưu mang chúng ta. Tượng Đài Tưởng Niệm Chiến Binh Việt-Úc được dựng lên nhằm mục đích:

· Để ghi nhận công lao to lớn, sự hy sinh vô bờ bến của những chiến sĩ Việt-Úc đã bỏ mình trên chiến trường Việt Nam.

· Biểu lộ niềm thương tiếc vô biên khắc sâu trong tâm tư của chúng ta đối với những vị anh hùng vì Tự do Dân chủ của Dân tộc VN mà hy sinh.
2. THÀNH LẬP BAN XÂY DỰNG TƯỢNG ĐÀI & XIN ĐẤT Ủy ban Xây Dựng Tượng Đài Tưởng Niệm Chiến sĩ Việt – Úc tại Queensland được thành lập vào ngày 10/04/2001. Tên tiếng Anh là “Australian – Vietnamese Memorial Monument Building Fund Inc”.

Vào đầu tháng 10 năm 2000, Ban Chấp Hành Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Tiểu Bang Queensland đã triệu tập phiên họp đầu tiên bàn về việc xây dựng một tượng đài tưởng niệm chiến binh Việt-Úc tại Thành phố Brisbane. Ngày 10-4-2001, một ủy ban đã được thành lập với danh xưng “ Ủy Ban Xây Dựng Đài Tưởng Niệm Chiến Binh Việt-Úc”. Sau đó một ban điều hành cũng đã được bầu lên gồm hai đồng Chủ Tịch là quý ông:

· Huỳnh Bá Phụng, đương kiêm Chủ Tịch Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Tiểu Bang Queensland,

· Bill Marshall, Chủ Tịch Hội Cựu Chiến Binh Úc tham chiến tại Việt Nam.

Cựu Thiếu Tá Alan Cunningham làm cố vấn cùng với nhiều thành viên Việt-Úc khác. Ủy ban có nhiệm vụ thiết kế, tìm tài chánh và xây dựng tượng đài tại một địa điểm thích hợp trong thành phố Brisbane. Sau ngày thành lập, ủy ban đã có nhiều phiên họp để bàn kế hoạch thực hiện công tác. Ủy ban cũng sớm hiểu rằng sẽ có hai vấn đề rất khó khăn và phải tốn rất nhiều công sức và thì giờ để vượt qua, đó là:

· Tài chánh để đúc hai tượng chiến binh Việt-Úc,

· Xin đất.

Trước sau, ủy ban đã tổ chức năm lần gây quỹ, đồng thời kêu gọi sự đóng góp tiền bạc từ các chiến hữu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và quý đồng hương tỵ nạn khắp nơi.

Song song với việc đúc tượng, ủy ban bắt đầu tiến hành thủ tục xin đất. Đáp ứng nguyện vọng của ủy ban, đã có ba cơ quan đề nghị tặng đất:

· Trụ sở Hội RSL, chi nhánh Darra,

· Công viên Ducie Park tại Darra của Hội đồng Thành phố Inala,

· Công viên trên đường William đối diện với Casino Hotel dọc bờ sông ngay Trung tâm Thành phố Brisbane.

Tuy nhiên vì nhận thấy cả ba nơi kể trên đều không thích hợp, nên ủy ban đã từ chối, chấp nhận chờ thêm một thời gian nữa.
3. ĐỊA ĐIỂM XÂY ĐÀI TƯỞNG NIỆM. Cách đây hơn năm (khoảng năm 2001), khi mới bắt đầu công tác thiết kế ít lâu, Nghị viên Les Bryant thuộc đơn vị Richlands (Inala) có ngỏ ý, nếu tượng d0ài đặt tại Darra hay Inala, ôg sẵn sàng ủng hộ.

Nếu chúng ta chấp nhận đặt tượng đài ở một vị trí khiêm nhường như vừa kể thì chắc có lẽ tượng đài của Queensland đã được cắt băng khánh thành ít nhất cũng từ hơn một năm qua. Tuy nhiên một số thành viên trong Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài, Việt cũng như Úc, đều mong muốn tượng đài được đặt ở một nơi trong phạm vi thành phố Brisbane để xứng đáng với các chiến sĩ anh hùng đã hy sinh thân mạng bảo vệ Miền Nam Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Địa điểm đó cũng nơi lý tưởng để những tử sĩ có dịp nhìn lại những chiến hữu may mắn còn sống sót, mỗi năm đi diễn hành ngang qua, nhân dịp ngày ANZAC hay Long Tân (ANZAC Square). Thật là một mỹ ý!

Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài đã chọn 3 địa điểm:

1) ANZAC Square,

2) Roma Street Parkland,

3) South Bank.

Sở dĩ phải chọn ba nơi, là phải phòng khi chỗ nầy bị bác thì còn chỗ kia.

Ngày tháng trôi qua, mãi đến tháng 4/2005, việc cứu xét đơn của Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài mới kết thúc.

Kết quả là chúng ta đã được chấp thuận cho đặt tượng đài tại một khu đất xinh đẹp nhất, ngay thành phố, trong Roma Street Parkland, đối diện với Albert Park Hotel, trên đường Wickham Terrace, sát cạnh ngả tư có đèn xanh đỏ.

Thật ra trong nhiều năm qua, việc xin đất để đặt tượng đài không phải là một việc khó làm, vì ở đây đất đai thừa thãi. Ủy ban đã được Hội Đồng Thành Phố đề nghị nhiều nơi, nhưng các vùng này chỉ có tính cách địa phương, ngay người Úc cũng rất ít qua lại, nói chi tới những du khác ngoại quốc đến thăm viếng. Do đó việc xin được một miếng đất nằm ngay trên đỉnh công viên Roma St Parkland ngay tại trung tâm thành phố Brisbane đã làm tăng thêm ý nghĩa của việc xây dựng tượng đài.

Khuôn viên đặt tượng đài chiến sĩ Việt – Úc nằm trên phần đất cao nhất của công viên Roma St Parkland (Upper Parkland), chỉ cách Tòa Đô Chánh khoảng 500 thước. Công viên này ở ngay góc đườngWickham Terrace và Gregory Terrace, Brisbane City, bao quanh bởi các con đường lớn thuộc trung tâm thành phố như Roma St, Wickham Terrace, Parkland.
4. MÔ TẢ TƯỢNG ĐÀI. Tượng hai người chiến sĩ Việt & Úc đứng ở thế nghỉ, được đúc lớn hơn 25% so với người bình thường. Người lính Việt Nam Cộng Hòa đeo súng ở trên vai, khuôn mặt bình thản, nhẹ nhàng, người lính Úc đội nói đi rừng, cầm súng chĩa xuống đất, gương mặt thật là thoải mái. Cả hai đứng trên một phiến đá hoa cương lớn, làm nền.

Dưới chân hai chiến sĩ là phiến đá cẩm thạch có hàng chữ rõ nét

“AUSTRALIAN VIETNAMESE WAR MEMORIAL”

Phía trước phiến đá có gắn một bức hình vòng tròn có bầu trời màu thiên thanh với bản đồ nước Việt Nam nằm chính giữa. Bản đồ này có hai phần rất rõ rệt để phân biệt một giai đoạn lịch sử đầy máu và nước mắt:

Phần trên màu đỏ tượng trưng cho chế độ cộng sản Hà nội sắt máu bạo tàn, đã manh tâm gây ra cuộc chiến tranh khốc liệt huynh đệ tương tàn.

Phần dưới màu vàng tượng trưng cho một miền Nam yên bình, trù phú của tự do dân chủ nhưng vì hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh mà người bạn đồng minh Uùc phải tiếp tay đổ xương góp máu với chúng ta.

Phía bên trái là lá cờ Úc và phía bên phải là lá cờ vàng ba sọc đỏ phất phới tung bay. Ngoài ra hai bên có ghi niên hiệu 1962 – 1972 là những thời điểm quân đội Úc đến và rời khỏi Việt Nam.
Image Tượng đài này mỗi bên phiến đá cẩm thạch có tấm biển lớn ghi rõ những giòng tri ân thật xúc động:

Phía bên trái có phù hiệu cánh Ó với lá cờ vàng ba sọc đỏ chính giữa cùng hàng chữ thật to và đậm nét

“TỔ QUỐC GHI ƠN”

và phía dưới là câu

“VINH DANH CHIẾN SĨ VIỆT NAM CỘNG HÒA VÀ QUÂN LỰC ĐỒNG MINH”. Dưới hàng chữ này, còn một tấm biển khác ghi những giòng chữ như sau

“TƯỞNG NHỚ VÀ TRI ÂN NHỮNG CHIẾN SĨ ĐÃ DŨNG CẢM CHIẾN ĐẤU CHO TỰ DO VÀ HY SINH TRÊN CHIẾN TRƯỜNG VIỆT NAM”.

Phía bên kia đối diện là tấm biển ghi bằng Anh ngữ

“TO COMMEMORATE AND HONOUR THE AUSTRALIAN SERVICE PERSONNEL WHO SERVED IN VIETNAM”.

Phía dưới nữa có một biển nhỏ ghi hàng chữ

“DEDICATED TO THE MEMORY OF THOSE WHO FOUGHT AND MADE THE SUPREME SACRIFICE IN THE VIETNAM WAR”.

Phía sau tượng đài là tấm biển tri ân công tác xây dựng và khánh thành bằng hai giòng chữ Anh và Việt như sau

“This memorial was created by The Australian –Vietnamese Memorial Building Committee…. Unveiled by The Honourable Anna Bligh MP, Deputy Premier… 16/09/05” với giòng chữ Việt ngữ ghi

“Tượng Đài này được dựng lên bởi Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài Úc Việt …Được cắt băng khánh thành bởi Bà Anna Bligh MP, Phó Thủ hiến…. 16/09/05”.
Image 5. ĐIÊU KHẮC GIA CỦA TƯỢNG ĐÀI “TÌNH CHIẾN HỮU” Điêu khắc gia Dean Rusling, Frederick Whitehouse và Kiến Trúc Sư Lê Cương

Là những người đã góp phần tạc tượng và làm nền móng cho khu vực tượng đài. Kiến trúc sư Lê Cương đã âm thầm làm việc ngày đêm để hoàn thành bản vẽ.

6. TỔNG CHI PHÍ XÂY DỰNG TƯỢNG ĐÀI. Chi phí xây dựng tượng đài là $168,000 hoàn toàn do ủy ban điều hành quyên góp qua năm lần tổ chức gây quỹ.
7. KHÁNH THÀNH TƯỢNG ĐÀI. Ngày 16 tháng 9 năm 2005, bà Anne Bligh MP - Phó Thủ Hiến, kiêm Bộ trưởng Tài chánh, Bộ trưởng Bộ Phát Triển, Thương mại và Thiết kế, đại diện cho ông Thủ hiến Peter Beattie đến để cắt băng khánh thành.

Bà Phó Thủ hiến, cùng quý ông Huỳnh Bá Phụng và Alan Cunningham, đã cắt băng khánh thành tượng đài.

Quan khách tham dự buổi lễn có trên 700 người, mọi người ai nấy đều cầm trên tay lá cờ nhỏ Úc và Việt.

Tóan Quốc Quân Kỳ là các cựu chiến sĩ Nhảy dù từ Melbourne về tăng cường với bộ quân phục rằn ri Nhảy dù chỉnh tề cùng chiếc Mũ đỏ. Đặc biệt tô điểm thêm màu sắc cho buổi lễ là các thiếu nữ Việt Nam trẻ trung, tuyệt đẹp trong bộ áo dài truyền thống màu trắng và màu thiên thanh với lá cờ vàng ba sọc đỏ quấn ngang thân mình tựa như con cháu của Bà Trưng, Bà Triệu đang noi theo bước tiền nhân để làm đẹp Cộng đồng, làm đẹp Tổ Quốc. Đẹp hơn nữa là các bong bóng màu (hầu hết là màu vàng) cột chùm bay cao có gắn hai lá cờ Úc và Việt đang ngạo nghễ tung bay trong gió sớm tô điểm cho bầu trời xanh càng lộng thêm sắc thắm.

Các cựu chiến binh Úc, với áo veston chỉnh tề, trên áo phía ngực trái có ghim các huy hiệu và huy chương đủ loại như chiến công, chiến thương bội tinh. Họ hãnh diện tiến vào vị trí hành lễ, trên tay người nào cũng mang một tràng hoa đỏ tượng trưng để đặt dưới chân tượng đài.
Image
Phó Thủ Hiến Anne Bligh đang đặt vòng hoa tưởng niệm.
Quan khách Úc gồm có, quý ông:

Kevin Martin - Đại diện Lãnh tụ Đối lập Tiểu Bang Queensland,

Chuẩn Tướng Bob Carson - Đại diện Thị Trưởng Thành phố Brisbane,

Ô Kevin Baker - Đại diện Bộ Cựu Chiến Binh Tiểu Bang Queensland.

Sự gắn bó giữa những người cựu chiến binh Việt và Uùc đã làm tăng thêm tình cảm sâu đậm giữa người Việt tỵ nạn và những người bạn đồng minh Úc.
8. ĐẶC ĐIỂM CỦA TƯỢNG ĐÀI.

Tượng đài chiến sĩ Úc Việt đã có mặt ở hầu hết các tiểu bang trên toàn cõi nước Úc. So về kiến trúc, có thể tượng đài của Queensland không có nhiều chi tiết bằng các nơi khác, nhưng nếu nói về về vị trí thuận tiện, đẹp đẽ và lại nằm ngay trung tâm thành phố, có lẽ tượng đài của Brisbane là trội hơn cả.

Tượng đài nầy không phải của một cá nhân hay một nhóm người nào, mà là một di sản của tất cả mọi người Việt tỵ nạn Cộng sản, của tất cả những ai ghi nhớ công ơn của những chiến sĩ hào hùng đã hy sinh mạng sống để bảo vệ sự an nguy của bản thân và gia đình chúng ta nói riêng và Miền Nam Việt Nam nói chung.

Tượng Đài Tưởng Niệm còn là một di tích lịch sử trường tồn, lưu lại ngàn đời sau trên xứ sở yêu thương nầy, để mọi người Việt Nam, nhất là con cháu chúng ta trong tương lai, mãi mãi ghi nhớ công ơn của Quân đội và Nhân dân Úc Đại Lợi.

Ông Bà Giáo sư Lương Minh Đáng là người đã hỗ trợ và đóng góp rất nhiều cho tượng đài.
Image NGUYỄN KHẮP NƠI & HUỲNH BÁ PHỤNG

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Quyền được xét xử một cách công bằng

Trần Thanh Hiệp

Ở một xã hội trong đó nhân quyền và dân quyền được thực sự tôn trọng thì người dân nào cũng có bảo đảm được xét xử một cách công bằng. Tại Việt Nam hiện nay, dưới chế độ chính trị cộng sản với đường lối cai trị phi-nhân-quyền, nếu chẳng may người dân có vấn đề với pháp luật, phải ra trước tòa án thì là cả một tai họa. Như ngày xưa, dưới thời quân chủ, người ta thường nói, “vô phúc đáo tụng đình.”

Tòa án nhân dân tại Sài Gòn, nơi đã từng xét xử và lên án tù nhiều nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam.
(Hình: Getty Images)

Vậy quyền được xét xử công bằng là gì?

Ðó là một trong 26 quyền phổ quát của con người, bất cứ ở đâu trên hoàn vũ, để làm người có nhân phẩm mà luật quốc về nhân quyền đã minh thị và long trọng công nhận bằng cách ghi chép vào văn bản được gọi là Hiến Chương Quốc Tế về Nhân Quyền.

Người ta đọc thấy nơi điều 14 của Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị, trong Hiến Chương nói trên rằng, “Mọi người đều bình đẳng trước tòa án. Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án độc lập, vô tư và có thẩm quyền theo luật, để phán xử về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc hay về những quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong các vụ tranh tụng khác [à].”

Một văn bản khác trong Hiến Chương quốc tế này, bản Tuyên Ngôn Toàn Thế Giới về Nhân Quyền, nơi điều 10, cũng định rằng, “Mọi người, với tư cách bình đẳng về mọi phương diện, đều có quyền được một tòa án độc lập và vô tư phân xử công bằng và công khai để xác định quyền, nghĩa vụ hoặc bất cứ một lời buộc tội nào đối với người đó.”

Hiểu một cách nôm na và thông thường thì quyền được xét xử công bằng là quyền được xét xử theo công lý, không ai bị thiệt thòi một cách bất công, không có tội lại bảo là có tội rồi phải chịu hình phạt oan uổng. Vào các thời kỳ trong đó con người còn tin rằng đời sống của mình là do thần quyền quyết định nên công lý như đã có sẵn trong thiên nhiên. Loài người chỉ việc trông đợi vào thần quyền chỉ dẫn cho mình để tìm ra được một thế quân bình, nghĩa là thế cân bằng ổn định, trong đời sống xã hội. Trong cuộc sống hàng ngày, không ai lấn chiếm hay cướp đoạt của ai.

Nhưng khi loài người, nhờ những phát minh khoa học, từ hơn hai thế kỷ nay, đã tự đưa được mình lên địa vị chủ thể của xã hội, thì công lý không còn hoàn toàn phụ thuộc thần quyền nữa. Công lý đã trở thành một sự nghiệp nhân bản, nhân đạo. Trong chừng mực đó thì công lý là một sản phẩm văn hóa trong nó hai chiều kích thần quyền và nhân quyền được kết hợp và thị hiện thành văn minh.

Luật học là một sáng chế của loài người để giữ vai trò kỹ thuật bình định xã hội. Không có luật học - nguồn gốc của pháp luật - thì con người sẽ đối xử với nhau, nói theo ngôn ngữ của Hobbes, như “như chó sói giữa bầy chó sói” (Homo homini lupus). Ðể thi hành chức năng bình định này, luật quốc tế về nhân quyền đã trù liệu cho “con người”, bất luận trên cương vị nào trong xã hội, lâm sự, sẽ được xã hội bảo đảm được xét xử công bằng. Tất nhiên đó phải là một xã hội công nhận và tôn trọng nhân quyền như là một giá trị cơ bản của pháp luật và của chính sách cai trị của Nhà nước.

Dưới đây, để có cơ sở nhận diện thực chất văn minh của Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa hiện đang cầm quyền ở Việt Nam, là sự miêu tả tóm lược của một nhân quyền thường xuyên bị Nhà nước phi-nhân-quyền này đã và đang trắng trợn xâm phạm. Quyền được xét xử công bằng là quyền:

1. Trước tòa án, mọi người đều bình đẳng, đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án độc lập, vô tư và có thẩm quyền theo luật,.

2. Vì nhu cầu đạo lý, vì trật tự công cộng hay an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ, hoặc để bảo vệ đời sống riêng tư của các bên tranh tụng, hay, trong những trường hợp thật cần thiết, tòa án có thể quyết định xử kín và do đó, báo chí và công chúng có thể không được tham dự một phần hay toàn thể phiên xử.

3. Tuy nhiên các bản án hình sự và các bản án khác phải được tuyên đọc công khai trước tòa, ngoại trừ trường hợp để bảo vệ quyền lợi của thiếu nhi hay của gia đình trong những vụ tranh tụng về hôn nhân hay về việc giám hộ các con.

4. Bị cáo về các tội hình sự có quyền được suy đoán là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội theo luật.

5. Trong các vụ hình sự, tất cả các bị cáo đều được hưởng đồng đều những bảo đảm những quyền tối thiểu liệt kê sau đây:

Một: Quyền được kịp thời thông báo tội trạng với đầy đủ chi tiết.

Hai: Quyền có đủ thời gian và phương tiện để chuẩn bị việc biện hộ

Ba: Quyền được liên lạc với luật sư do mình lựa chọn.

Bốn: Quyền được xét xử mau chóng, không kéo dài quá đáng.

Năm: Quyền được có mặt trong phiên xử để tự biện hộ hay lựa chọn luật sư biện hộ cho mình. Nếu không có luật sư biện hộ thì phải được thông báo là mình có quyền nhờ luật sư biện hộ. Và nếu công lý đòi hỏi, quyền được có luật sư chỉ định cãi miễn phí nếu mình không có khả năng tài chánh trả công biện hộ cho luật sư

Sáu: Quyền được đối chất hay nhờ luật sư đối chất với các nhân chứng buộc tội mình đồng thời đòi tòa án triệu tập nhân chứng gỡ tội cho mình, giống như cách triệu tập các nhân chứng buộc tội.

Bảy: Quyền không có những lời khai tự buộc tội mình, hay để nhận tội.

Tám: Các bị cáo bị tuyên phán có phạm tội có quyền, theo luật định, kháng cáo lên tòa trên để được phúc thẩm việc kết tội này cũng như việc áp dụng hình phạt.

Chín: Trong trường hợp đã có phán quyết chung thẩm nhưng phán quyết này đã bị tiêu hủy hay đương sự được ân xá vì có sự kiện mới phát giác cho biết bị cáo đã bị phạt oan uổng, quyền đòi bồi thường thiệt hại theo luật. Nếu có bằng chứng rằng sở dĩ sự kiện mới này đã không được phát giác sớm hơn là do lỗi một phần hay toàn phần của bị cáo thì sẽ không có bồi thường.


Dưới ánh sáng của chín tiêu chuẩn trên và như đã được tất cả các vụ án đã được Nhà nước cộng sản Việt Nam xét xử trong vòng gần ba năm qua thì rõ ràng là quyền được xét xử công bằng của những bị cáo hữu quan đã bị nhà cầm quyền Hà Nội ngang nhiên xâm phạm nghiêm trọng. Tập đoàn cầm quyền này chẳng những đã tri tình không đếm xỉa gì đến luật quốc tế về nhân quyền, coi khinh nghĩa vụ pháp lý phải tôn trọng và áp dụng điều 14 của Công Ước Quốc Tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị bảo đảm cho người dân được hưởng quyền xét xử công bằng mà còn dày xéo lên cả luật quốc nội của chính mình - Hiến pháp, Bộ Luật Hình Sự cũng như Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự - để áp đặt bằng được một thứ công lý đàn áp.

Nhà cầm quyền Hà Nội đã tự mình trưng ra những bằng chứng rằng họ cai trị theo đường lối phi-nhân-quyền và lẽ đương nhiên đường lối cầm quyền lỗi thời này không thể không đưa đất nước đến tình trạng phi-công-lý.

Những người trong bộ máy cầm quyền cộng sản, từ trên xuống dưới, trước những tội ác chồng chất gây nên bởi tác phong phi-nhân-quyền có hệ thống và qui mô, chắc cũng có những giây phút đã cảm thấy trên đời này không thể vắng thiếu công lý. Có thể là không nhất thiết cần phải có cho tha nhân, cho dân chúng, “chết sống mặc bay, tiền thầy bỏ túi.” Nhưng chính vì thế mà với chính bản thân họ, nhất định giờ công lý tất yếu sẽ điểm. Hơn ai hết họ phải ý thức được rằng loài người không thể sống trong một xã hội không công lý.á

LS Trần Thanh Hiệp
Chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân Quyền, Paris

Ghi chú:

Ðiều 14:

1) Mọi người đều bình đẳng trước tòa án. Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án độc lập, vô tư và có thẩm quyền theo luật, để phán xử về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc hay về những quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong các vụ tranh tụng khác. Báo chí và công chúng có thể không được tham dự một phần hay toàn thể phiên xử, vì nhu cầu đạo lý, trật tự công cộng hay an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ, hay dễ bảo vệ đời sống riêng tư của các đương sự tranh tụng, hay, trong những trường hợp thật cần thiết, khi tòa án quyết định rằng xét xử công khai sẽ làm thiệt hại quyền lợi của công lý, tuy nhiên các bản án hình sự và các bản án khác phải được tuyên đọc công khai trước tòa, ngoại trừ trường hợp để bảo vệ quyền lợi của thiếu nhi hay của gia đình trong những vụ tranh tụng về hôn nhân hay về việc giám hộ các con.

2) Bị cáo về các tội hình sự có quyền được suy đoán là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội theo luật.

3) Trong các vụ hình sự, tất cả các bị cáo đều được hưởng đồng đều những bảo đảm tối thiểu sau đây:

a) Ðược tức thì thông báo tội trạng với đầy đủ chi tiết bằng ngôn ngữ mà họ thông hiểu.

b) Quyền có đủ thời gian và phương tiện để chuẩn bị sự biện hộ và được quyền liên lạc với luật sư do mình lựa chọn.

c) Ðược xét xử mau chóng, không diên trì quá đáng.

d) Ðược hiện diện trong phiên xử để tự biện hộ hay nhờ luật sư biện hộ do mình lựa chọn; được thông báo về quyền này trong trường hợp tự biện hộ; và được quyền có luật sư biện hộ miễn phí vì nhu cầu công lý nếu bị cáo không có phương tiện mướn luật sư.

e) Ðược đối chất với các nhân chứng buộc tội và được quyền đòi nhân chứng và chất vấn các nhân chứng gỡ tội cho mình, theo cùng một thủ tục.

f) Ðược quyền có thông dịch viên miễn phí, nếu bị cáo không nói hay không hiểu ngôn ngữ của tòa.

g) Ðược quyền không khai, để khỏi phải tự buộc tội mình, hay khỏi phải thú nhận tội trạng.

4) Trong các vụ án thiếu nhi, thủ tục xét xử phải căn cứ vào tuổi tác của các bị cáo và hướng về mục tiêu cải huấn can phạm.

5) Các bị cáo bị tuyên phạt có quyền kháng cáo lên tòa trên thủ tục luật định.

6) Trong trường hợp bị cáo bị tuyên hình phạt chung thẩm và sau này bản án bị tiêu hủy hay đương sự được ân xá vì có sự kiện mới phát giác cho biết bị cáo đã bị phạt oan uổng, người bị kết án có quyền đòi bồi thường thiệt hại theo luật, trừ phi có bằng chứng cho biết, sở dĩ sự kiện mới này không được phát giác trong thời gian xử án, một phần hay hoàn toàn tại vì bị cáo.

7) Không ai có thể bị tái thẩm hay bị tuyên phạt một lần nữa về một tội trạng đã được tòa án phán xử chung thẩm bằng cách tuyên phạt hay tha bổng, chiếu theo luật pháp và thủ tục hình sự hiện hành.

Ðiều 10:

Mọi người, với tư cách bình đẳng về mọi phương diện, đều có quyền được một tòa án độc lập và vô tư phân xử công bằng và công khai để xác định quyền, nghĩa vụ hoặc bất cứ một lời buộc tội nào đối với người đó.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

TRUNG CỘNG ĐÒI LẤY MÁU VIỆT NAM LÀM VẬT TẾ CỜ: MỘT BÀI BÁO TRÊN MẠNG TRUNG CỘNG ĐÒI LẤY MÁU VIỆT NAM LÀM VẬT TẾ CỜ:
“Phải giết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ trong trận chiến thu hồi Nam Sa”
(Bài đưa lên mạng Trung Cộng 5g45p ngày 9 tháng 1 năm 2010)

Vũ Cao Đàm dịch

Đó là kết luận ngắn gọn, rắn đanh của bài báo mang tiêu đề “Việt Nam, Vật tế cho trận chiến thu hồi Nam Sa” (越南—收复南沙之战的祭品) vừa được đưa lên nhiều trang mạng của Trung Cộng (tôi gọi là Trung Cộng để phân biệt với Trung Hoa Đài Loan, hoặc Trung Hoa Hồng Kông, hoặc với các bạn hữu Trung Hoa hải ngoại khác). Nguyên văn câu kết luận bằng Hán ngữ là “杀越寇为南沙之战祭旗” (Giết giặc Việt để làm lễ tế cờ trong trận chiến Nam Sa – Sát Việt khấu vi Nam Sa chi chiến tế kỳ).

Chúng ta là dân, không thể biết được các nhà lãnh đạo hai “đảng anh em” bàn với nhau những chuyện gì, nhưng bằng bài báo này, thì có thể nói chắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Hoa, các ông anh Đại Hán đã gọi dân Việt Nam là bọn “giặc Việt” (Việt khấu), và hạ quyết tâm giết thẳng tay bọn “giặc Việt” để làm vật tế cho cuộc chiến “thu hồi” Nam Sa, thu hồi miền biển đảo mà tổ tiên họ chưa hề đặt chân đến. Theo cách viết trong bài báo mà tôi đã dịch đăng trên BVN mấy ngày trước đây, thì người Trung Quốc phải quyết tâm giết bọn “giặc Việt” “lòng lang dạ sói” không cần bàn đến việc điều đó có là đạo đức hay là vô đạo đức.

Cái quốc gia mà báo chí Việt Nam vẫn gọi là “nước lạ” này có một kiểu lập luận rất “lạ”. Tác giả bài báo dùng một từ Hán rất cổ, không còn tìm thấy trong các từ điển hiện đại thông dụng của Trung Quốc: “Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta” (phiên thuộc nghĩa là một vùng đất chư hầu, tồn tại như những châu, những quận dưới sự cai quản của mẫu quốc Trung Hoa, đoạn này nguyên văn tiếng Hán là 越南原为我国藩属 – Việt Nam nguyên vi ngã quốc phiên thuộc). Theo cách nói mập mờ của họ, thì người đọc hiểu rằng, dường như dải đất Việt Nam này, “vốn xưa” là một bộ phận thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng rồi, vì Trung Quốc kém cỏi, đã bị các đế quốc thực dân xâu xé... Theo Thỏa ước Pháp – Thanh 1885, cái phần Việt Nam “của họ” đã bị “nhượng” cho thực dân Pháp, và đến khi Trung Quốc giúp Việt Nam đánh Pháp giành lại độc lập thì họ đã “quên” không lấy lại một phần trong đó, là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tôi nhớ lại một lần vào giữa thập niên 1960, khi đến thăm Bảo tàng Quân đội ở Bắc Kinh, thấy người ta trưng ra một bản đồ, trong đó chỉ rõ những vùng đất gọi là “của” Trung Quốc khi xưa, mà điều không thể tin ở mắt mình là cả Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên đều bị khoanh vào trong đó. Những kẻ “chữ nghĩa đầy mình” đã cố tình giải thích hai chữ “phiên thuộc” ra như thế đấy? Thật là một trò đánh tráo khái niệm quá ư hài hước.

Đọc xong bài báo này, tôi bỗng đâm phân vân về trình độ học sử của Người Trung Quốc. Tuy không phải nhà nghiên cứu lịch sử, nhưng nếu tôi cũng cho phép mình “lý luận” theo kiểu ông láng giềng phương Bắc, thì tôi sẽ lập luận thế này: Xưa kia, từ thế kỷ XXIX trước Công nguyên, từ thời Hồng Bàng, dân Bách Việt (trong đó có dân Việt Nam ngày nay) có địa giới từ Hồ Động Đình mãi tận phương Bắc xa xôi! Nhưng rồi bọn giặc Hán “lòng lang dạ sói” đã đến xâm chiếm giang sơn của các sắc dân Bách Việt, dồn dân Bách Việt xuống mãi phía Nam. Vậy thì, bây giờ dân Bách Việt cũng phải thu hồi cái giang sơn gấm vóc cũ của mình về cho đất mẹ Bách Việt chứ! Nêu lên một phản đề như thế thật ra chỉ cốt để nhắc nhở các ngài đang già mồm cổ vũ luận điệu bành trướng hãy nhớ lại câu nói của Khổng Từ trong Luận ngữ: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”, nghĩa là “Cái mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác”.

Cũng như bài tôi đã dịch và đưa lên mạng tuần trước, bài này cũng không ký tên tác giả. Đó chỉ là một cách ném đá giấu tay chứ không có gì khác. Nhưng tôi vẫn dám khẳng định tác giả là hạng người “miệng có gang có thép”. Vì sao? Cái cách họ phân tích tương quan giữa các thế lực quân sự trên cục diện toàn cầu và những vấn đề địa - chính trị đều cho thấy họ có những cách nhìn của các nhà chiến lược đang cân nhắc thực lực giữa đôi bên, xem xét kỹ lưỡng dư luận quốc tế có thể giáng lên đầu mình một khi hành sự, và như con báo rình mồi, họ đón chờ cơ hội để “ra đòn” đúng lúc, song mặt khác, họ lại dùng những ngôn từ rất hạ đẳng làm cho người đọc lầm tưởng họ là dân “chợ búa”.

Nhưng thôi, tranh luận mà làm gì. Đó vẫn là cách chơi chữ thâm căn cố đế của anh bạn “ giặc Hán lòng lang dạ sói” của chúng ta. Xin các bạn đọc toàn văn bản dịch ngay sau đây. Các bạn sẽ thấy, những kẻ “nhai xé thịt người ngọt xớt như đường” (Nguyễn Du) lại lên tiếng kêu la oan ức... toàn một giọng nói ngược,... làm như chính họ đã bị bọn “Việt Nam lòng lang dạ sói” vây bắt ngư dân, đã bị bọn “giặc Việt” chiếm đóng những vùng biển đảo, mà trên thực tế không hề tìm thấy một bằng chứng nào để chứng minh rằng người Hán đã từng đặt dấu chân lên đó trước người Việt. Đọc bài báo, chúng ta cũng thấy được họ tuyên bố công khai việc thuê đất dài hạn ở các tỉnh biên giới chính là nằm trong ý đồ lấn chiếm đất đai của chúng ta.
Lưu ý, người dịch giữ nguyên cách gọi các địa danh trong bài báo, là Tây Sa, Nam Sa và Nam Hải, nhưng xin hiểu Nam Sa là Trường Sa, Tây Sa là Hoàng Sa, Nam Hải là Biển Đông.

Người dịch

Nguyên bản tiếng Trung Quốc trên trang mạng “Trung Quốc Binh khí Đại toàn”: http://www.cnweapon.com/html/news/2010- ... 14304.html
Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi.Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.

Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp - Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc. Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung - Việt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn.

Do bọn Việt Nam bắt tay thực hiện khai thác đảo sớm nên điều kiện chiếm cứ thuận lợi hơn, hơn nữa lại có nguồn nước ngọt nên bọn chúng có thể thi công trên đảo, xây dựng sân bay, kiến tạo hạ tầng kỹ thuật thông tin di động, di dân ra đảo, tổ chức du lịch quốc tế, thiết lập phân chia ranh giới khu hành chính cấp huyện hòng vĩnh cửu hóa, thực tế hóa, quốc tế hóa, hợp pháp hóa hành vi bá chiếm. Tiếp đó các nước khác cũng lần lượt theo đuôi Việt Nam, như Philipin, Malaysia, Indonesia, Bruney… xâu xé vùng biển Nam Sa của Trung Quốc, xây dựng căn cứ quân sự hoặc khoan dầu mỏ. Tất cả bọn chúng đều không coi Trung Quốc ra gì.

Các nước xung quanh xâm chiếm quần đảo Nam Sa đúng vào thời kỳ đất nước Trung Quốc chúng ta tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện chiến lược đối ngoại hòa bình, tập trung xây dựng kinh tế trong nước, duy trì hòa bình phát triển với bên ngoài. Cùng là những nước đang phát triển đáng ra Việt Nam và các nước lân cận phải có thiện ý giải quyết hài hòa những tranh chấp. Đất nước chúng ta đề xướng ra mục tiêu “gác lại chiến tranh, cùng nhau phát triển”. Tuy nhiên, 30 năm qua, lòng tốt của chúng ta lại không hề được báo đáp, mà trái lại các nước còn không ngừng tăng cường lấn chiếm khu vực biển của nước ta, ngang nhiên chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta. Không khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng, lòng tốt của chúng ta không được báo đáp tử tế; danh dự, lãnh thổ và lãnh hải quốc gia nếu chỉ dựa vào giao thiệp hòa bình thì khó mà giữ gìn, bảo vệ được. Ủy ban thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định, 12/5/2009 là kỳ hạn cuối cùng cho các quốc gia có liên quan phải hoàn thành việc gửi những bản giải trình các luận cứ khoa học về chủ quyền thềm lục địa và khu kinh tế đặc quyền. Tình hình phát triển còn làm phức tạp hóa vấn đề, sự xoay chuyển của thời gian sẽ làm cho chúng ta càng thêm bất lợi, nếu cứ tiếp tục kéo dài sự khoan dung của chúng ta thì kẻ khác sẽ cho rằng chúng ta đã chấp nhận, bằng lòng với việc đó. Vì thế, biện pháp có hiệu quả là phải dùng lực lượng quân sự chiếm đoạt lại Nam Sa, và phải đưa việc này vào chương trình nghị sự.

Chúng ta phải thấy một thực tế rằng, mức độ xâm phạm của các nước có liên quan đối với lợi ích của nước ta là khác nhau, do điều kiện môi trường và địa vị quốc tế khác nhau nên sẽ có những phản ứng khác nhau đối với hoạt động quân sự của nước ta, vì vậy mà chúng ta cần phải có những cách đối xử khác nhau, giải quyết tốt những mâu thuẫn chủ yếu, thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn thứ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu tấn công chủ yếu của chúng ta phải là Việt Nam.

Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa:

1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.

2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.

3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.

4. Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.

5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.

6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – Mỹ ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.

7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.

8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân đảo Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.

9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như: cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.

10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công.

Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được
Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng. Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.

Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải. Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết. Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng. Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc. Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.

Trên lĩnh vực chính trị, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì phương châm hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta. Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Nếu như các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.

Trên lĩnh vực ngoại giao, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu
Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”. Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipin, Malaysia, Bruney..giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc. Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó.

Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt. Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối. Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ . Nếu Việt Nam nguyện làm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.
Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa.

Vũ Cao Đàm dịch

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

KHI BỨC MÀN NHUNG ĐÃ HẠ XUỐNG

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất


Đức TGM Ngô Quang Kiệt đã đi khỏi VN. Ngài TGM phó Nguyễn Văn Nhơn tất nhiên tiếp thu và chưởng quản tổng giáo phận Hànội. Một việc khác nữa tuy không liên quan đến vở kịch nhưng nằm trong “tầm bắn” của tay đạo diễn cao thủ thiện xạ là đức cha Cao Đình Thuyên, giám mục giáo phận Vinh, cũng phải đột ngột từ bỏ luôn chức vụ. Ngài bị tên rơi đạn lạc một cách rất ư là oan uổng. “Phe ta” thắng lợi vẻ vang. Việc khao quân tất nhiên phải linh đình rồi. GM Nguyễn Văn Nhơn vui hơn là trúng số cá cặp. Kẻ mừng như chó ngáp phải ruồi là ông linh mục đỏ Nguyễn Thái Hợp. Xong một vở tuồng. Tấm màn nhung đã hạ xuống. Những gì còn lại trong đầu khán giả là bâng khuâng, lo lắng, đau đớn thương cảm lẫn thất vọng não nề về những vai tuồng và đạo diễn mà họ vừa chứng kiến trên sân khấu.
TGM Ngô Quang Kiệt

Đức TGM Ngô Quang Kiệt đi ngoại quốc chũa bệnh. Văn phòng tòa TGM Hànội loan báo như thế. Ngài đi ban đêm, âm thầm, lặng lẽ, đột ngột, hấp tấp, vội vàng, và bất ngờ y như một người bị ma đuổi. Nhưng là một vị giám mục của Chúa, ma quỉ nào đuổi được ngài. Hoặc chẳng khác nào như một con bệnh đã đến hồi thập tử nhất sinh, chỉ còn cách phải nhờ đến những nhà thương tốt nhất, các bác sĩ giỏi nhất ở ngoại quốc may ra mới cứu được mạng. Thế nhưng, trông ngài còn khỏe mạnh, dù có bệnh thì tình trạng đâu đã đến nỗi! Cách thức ra đi như thế Trời có lẽ không hiểu được, nhưng người phàm ai cũng đều hiểu cả. Đức cha Nguyễn Văn Nhơn mới vừa lên nắm quyền mà văn phòng của ông đã lập tức học được cách ăn nói chính trị đầy xảo quyệt của bọn VGCS: Đức TGM Ngô Quang Kiệt đi chữa bệnh. Bệnh gì mà phải tức tốc đi ngay trong đêm tối? Tây nó nói vậy mà đúng: tel maitre tel valet (thầy nào tớ nấy).

Cho đến nay thì người ta đã hiểu, kịch bản đã viết sẵn, các diễn viên chỉ cần ra sân khấu đóng trọn vai trò mình thủ diễn. TGM Ngô Quang Kiệt từ Roma trở về để bàn giao chức vụ. GM Nguyễn Văn Nhơn từ Đà Lạt ra thay thế. Chẳng có gì là bất ngờ cả. Đức cha Nhơn có quyền từ chối chức vụ được trao phó, nhưng trước một đồng đội bị sa cơ thất thế, trước những khó khăn chồng chất ông cảm được và đã nói ra, ông vẫn nhắm mắt chịu đấm ăn xôi. Chiếc áo mão hồng y ở trước mặt, ngay trong tầm với của bàn tay. Làm quan hay làm tông đồ của Chúa, ai không mơ ước được thăng quan tiến chức. Là con người cả mà. Hai tông đồ Jacôbê và Gioan chả xin Chúa cho ngồi hai bên tả hữu của Ngài trên Thiên Đàng là gì! Có bất ngờ là đối với đám quần chúng khán giả không được đọc kịch bản trước. Mọi người thất vọng. Đám con chiên càng thất vọng hơn. Họ thất vọng là phải, đơn giản bởi vì họ trông chờ ở TGM Ngô Quang Kiệt một vị cứu tinh, một lãnh tụ tranh đấu của họ, nhưng thực ra không phải.

Đức TGM Ngô Quang Kiệt từ khi còn là một linh mục làm thư ký tại tòa giám mục Long Xuyên cho tới khi làm tổng giám mục cai quản TGP thủ đô Hànội, phải nói là ngài lên như diều gặp gió, từ tháng 6-1999 đến tháng 2-2005, chưa đầy 6 năm trời. Người ta suy đoán, phải là người được lòng chế độ nên ngài mới thăng quan tiến chức nhanh như thế. Ở ngài người ta gặp được một vị chủ chăn bình dân, năng động, và đạo hạnh hơn là một lãnh tụ đấu tranh tháo vát và có sáng kiến. Trong 11 năm trời làm giám mục, rồi tổng giám mục, công xây dựng của ngài là ngôi thánh đường nhà thờ chánh tòa của giáo phận Lạng Sơn, không nguy nga tráng lệ, nhưng khá bề thế và hoa văn. Đức của ngài để lại là những khi ngài đến với những người cùng khổ nhất trong xã hội. Ngài xắn quần lội nước để tới thăm ủy lạo đồng bào Hànội bị lụt. Ãn tình của ngài đối với đàn chiên ngài coi sóc là ngài mạnh bạo nói lên tiếng nói của các con chiên bị áp bức và bị tước đoạt quyền sống. Ngài đã nói lên cho cả thế giới biết tại Đồng Chiêm, Xã Đoài, tại Thái Hà, tòa Khâm Sứ, thủ đô Hànội v.v. các con cái của Giáo Hội liên tục bị đàn áp. Chưa ở đâu có tự do tôn giáo trên đất nước VN.

Ngài đấu tranh cho công bằng và công lý thì có, nhưng thật ra, ngài không phải là một người chống tập đoàn VGCS. Đôi khi ngài đem đến cho VGCS một vài đáp ứng rất có lợi cho chúng. Thí dụ như việc ngài tháp tùng phái đoàn HY Phạm Minh Mẫn, GM Võ đức Minh, và Lm chính ủy Huỳnh công Minh sang Tầu thăm giáo hội quốc doanh Tầu nhưng lại phớt lờ Giáo Hội hầm trú tại đây. Việc này chỉ có lợi cho các đảng CS Tầu và VN, nhưng ngài vẫn cứ làm. Ngài không phải là một lãnh tụ chính trị mà chỉ là một nhà tu hành nặng nhiệt huyết, nên khi vụ tòa Khâm Sứ nổ ra lớn quá và có thể vuột ra khỏi tầm kiểm soát của mình, ngài đã phải nhờ đến đức HY Bertone, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, can thiệp bằng cách gởi văn thư kêu gọi giáo dân tự chế.

Người ta không biết rõ nguyên nhân tại sao TGM Ngô Quang Kiệt lại trở thành người bị VGCS ghét bỏ và nhất quyết phải loại trừ. Hai nguyên nhân sau đây có thể đáng tin cậy. Một là trong một khoảng khắc bực dọc vì bị o ép quá mức, ngài đã sỉ nhục danh dự của cả tập đoàn VGCS làm chúng phải mất mặt, tuy lời ngài là hoàn toàn đúng. Ngài nói trước mặt bọn thành ủy Hànội: Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam , đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ! Hai là, TGM Ngô Quang Kiệt được dân chúng quá mến mộ, ảnh hưởng của ngài càng ngày càng rộng lớn, cả trong lẫn ngoài nước. Đối với VGCS, ngài thực sự là một đe dọa rất lớn cho chế độ, nên cách tốt nhất là chúng phải đẩy ngài ra khỏi nước để trừ hậu hoạn. Dĩ nhiên thời buổi này chúng không dám giết ngài như ngày trước chúng đã giết đức TGM Nguyễn Kim Điền. Một phần vì VGCS nhất quyết phải đẩy ngài đi khỏi, một phần vì ngài cảm thấy việc đương đầu với VGCS là quá sức của ngài, điều mà chính ngài có lẽ cũng không muốn, nên ngài đã đệ đơn lên Tòa Thánh xin từ nhiệm. Tòa Thánh hiểu đều đó nên đã thỏa mãn đơn xin của ngài. Điều không thể hiểu nổi là tại sao Tòa Thánh lại đưa GM Nguyễn Văn Nhơn lên thay thế. Người kế vị này vốn bị mang tiếng là một tay quốc doanh hạng nặng, hơn nữa lại thua kém đức cha Kiệt về nhiều mặt.


TGM Nguyễn Văn Nhơn

Nhà viết lịch sử thiên nhiên người Ý (natural history) Pliny the Elder (23-79 AD), tên đầy đủ là Gaius Plinius Secundus, có viết về loài chim đà điểu như sau: “…they imagine, when they have thrust their head and neck into a bush, that the whole of their body is concealed”. Tạm dịch: khi chúng (chim đà điểu) chúi đầu và cổ của chúng vào một bụi rậm, thì chúng tưởng rằng cả cái thân mình của chúng được che kín. Từ đó người Mỹ đẻ thêm ra câu: hiding their head in sand, like an ostrich (chui đầu vào đống cát như một con đà điểu). Ý nói đà điểu là một loài chim rất ngu, khi bị săn bắt chỉ biết chui đầu vào cát để trốn.

Thế nhưng ngày nay các nhà koa học đã minh oan cho loài đà điểu rồi. Bộ óc của đà điểu tuy nhỏ hơn con mắt của chúng , nhưng không có nghĩa chúng là loài chim ngu đần. Thực tế, chúng rất thông minh. Các nhà khoa học không còn tin vào cái huyền thoại cho rằng đà điểu chúi đầu vào đống cát lúc gặp nguy hiểm, nhưng là chúng ngồi xuống, vươn cổ dài trên cát để chuẩn bị tấn công bằng đôi chân. Cú đá song phi của con đà điểu có thể làm bể xương, gẫy chân người như chơi.

Trở vê với đời sống thực tại của con người, ngày nay không thiếu gì những người vẫn còn mơ hồ bắt chước đà điểu trốn chạy sự thật bằng cách chui đầu vào cái ảo tưởng “đối thoại” thành công với VGCS. Ngưòi trốn chạy sự thật nổi tiếng nhất hiên nay tại VN là ông TGM Nguyễn Văn Nhơn. Một thí dụ cụ thể nhất là trong khi Nguyễn Tấn Dũng cho ông được mấy mẫu đất để xây Trung Tâm Mục Vụ thì nó lại cướp trắng cả khu Học Viện Giáo Hoàng của Giáo Hội. Người thiệt thòi vẫn là Giáo Hội VN. Đây là sự thật. Thí dụ thứ hai, ông là người lãnh đạo cao cấp nhất trong GH hoan nghênh sự ra đời của cái gọi là Pháp Lệnh Về Tự Do Tôn Giáo ngày 15-11-2005, và tin tưởng vào Pháp Lệnh này. Sự tư do của Pháp Lệnh như thế nào thì chúng ta phải nghe HY Phạm Minh Mẫn phát biểu: Nó còn giới hạn hơn rất nhiều so với Sắc Luật 234 ngày 14-6-1955 do Hồ Chí Minh ký và ban hành. Thà rằng giữ nguyên Sắc Luật 234 thì còn hơn. Đây là sự thật. Còn rất nhiều sự thật khác nữa xẩy ra trưóc mắt ngày GM Nguyễn Văn Nhơn ra Hàội nhậm chức. Tại nhà thờ chính tòa Hànội, trong buổi lễ chào đón TGM phó tân nhậm, GM Nguyễn Văn Nhơn tự giới thiệu mình chỉ là người cộng tác với đức TGM Ngô Quang Kiệt, trong khi ông biết rõ nhiệm vụ của ông ra Hànội là để thay thế đức cha Kiệt. Quang cảnh diễn ra trong buổi lễ này, những tấm biểu ngữ, những bức hình, những khuôn mặt đăm chiêu và lo lắng v.v. che dấu một sự thật rất hiện thực là người giáo dân yêu mến TGM Ngô Quang Kiệt và không hoan nghênh GM Nguyễn Văn Nhơn. Và cũng cái đó nói nói lên sự phân hóa trầm trọng trong hàng ngũ chủ chăn và con chiên. GM Nguyễn Văn Nhơn rõ ràng là cái công cụ VGCS sử dụng để phân hóa GH, thế mà ở bài giảng trong thánh lễ, ông lại kêu gọi mọi giáo dân sự hiệp nhất. Như thế có khác gì bọn VGCS xua quân xâm chiếm VNCH, gây ra bao nhiêu tang tóc cho người miền Nam, rồi sau đó chúng lại kêu gọi nhân dân miền Nam xóa bỏ hận thù, quên đi quá khứ để đoàn kết dân tộc! Tin tức còn cho biết chính TGM Nguyễn Văn Nhơn vào Ninh Bình gặp đức cha Ngô Quang Kiệt tại nhà dòng Châu Sơn. Để làm gì thì không ai biết, nhưng Đức cha Kiệt đã phải tức tốc về Hànội, và ngay trong đêm đó ngài rời VN. Có phải đã có một lệnh trục xuất khẩn cấp GM Ngô Quang Kiệt, và TGM Nguyễn Văn Nhơn là người tống đạt lệnh đó? Còn gì buồn và chua xót cho người tín hữu VN hơn, nếu đó là một sự thật! Không ai tin rằng chui đầu vào cái ảo tưởng “đối thoại”, TGM Nguyễn Văn Nhơn sẽ làm được cho người ta quên đi những sự thật trên đây.
Lm Nguyễn Thái Hợp Việc đức cha Cao Đình Thuyên, giám mục giáo phận Vinh, bị bay chức và ông Lm đỏ lòm Nguyễn Thái Hợp lên thay nằm ngoài kịch bản, nhưng xẩy ra ngay vào lúc này mới thật là có ý nghĩa. Cả đến trang Web bén nhậy nhất hiện nay là NuVuongCongLy. com cũng không hay biết. Sự kiện này mới thật sự là bất ngờ. Chuyện còn bất ngờ hơn nữa là người ta thấy mầu sắc trên áo mặc của hai vị Tân, Cựu giám mục lại hoàn toàn đối chọi nhau: ông mặc mầu xanh, ông mặc mầu đỏ. Có thể nói là hầu hết những người công giáo VN bình thường không ai biết ông Lm Nguyễn Thái Hợp, trừ ra giới trí thức tại Saigon . Điểm cần nhấn mạnh là Nguyễn Thái Hợp là một linh mục bị ảnh hưởng khá nặng nề khuynh hướng thần học giải phóng từ khi ông sang dậy học tại Peru và lấy bằng tiến sĩ thần học (tất nhiên là giải phóng) tại Brazil . Năm 2003, Lm Nguyễn Thái Hợp trở về VN và ở Saigon . Tại đây, người ta nói ông điếu đóm HY Phạm Minh Mẫn khá chu đáo, và rất được lòng bọn VGCS. Sự được lòng này vượt qua giới hạn của sự trơ trẽn và lố bịch, gần đi đến bất lương, nên HY Mẫn đã phải stop bớt lại bằng lá thư của ngài sau đây gởi cho cha Hợp. Bạn đọc xem lá thư này rồi, người viết thấy khỏi cần phải viết gì thêm nữa về Lm Nguyễn Thái Hợp mà nay đã là giám mục rồi.


Kính gởi
LM Phaolô Nguyễn Thái Hợp
Câu Lạc Bộ Nguyễn Văn Bình

Cha Hợp thân mến,

Đọc bài . Xin Chỉ Cho của Luật sư Bích, tôi thấy thoáng qua có một kinh nghiệm cần phải học hỏi. Nhờ CLB. NVB nghiên cứu và đề xuất bài học chính xác và toàn vẹn.

1\. Năm 1954, trước Vatican II, GH.CG phía Bắc có thái độ cứng rắn, bất hợp tác với Nhà Nước Cộng sản, gia đình công giáo không gửi con em đến trường Nhà Nước.

2\. Năm 1975, sau Vatican II, GH.CG phía Nam có thái độ hợp tác, nhường quyền sử dụng trường, cô nhi viện, dưỡng lão viện và bệnh viện công giáo cho Nhà Nước đó, gia đình công giáo gửi con em đến trường Nhà Nước, mọi người đến bệnh viện Nhà Nước chữa bệnh...

3\. Sau 30 năm, tôi thấy báo chí thông tin kết quả của một cuộc điều tra xã hội: 30-40% học sinh Tiểu học nhiễm thói gian lận, lừa dối, 40-50% học sinh Trung học nhiễm thói đó, lên Đại học thì tỷ lệ là 50-60%. Trong một lần sinh hoạt với giáo chức công giáo, tôi hỏi tỷ lệ mà báo chí đưa ra có đúng không? Một giáo viên trả lời rằng thực tế thì còn hơn thế. Vậy trong trường đời ngày nay tỷ lệ ăn gian, nói dối, hàng giả, thuốc giả, học giả, là bao nhiêu?

4\. Trong tinh thần hợp tác, 16 dòng tu theo lời tôi kêu gọi gửi gần 100 thành viên tình nguyện đi phục vụ bệnh nhân SIDA tại Trung Tâm Trọng điểm mấy năm nay. Các vị lãnh đạo TP cho tôi biết lúc đầu chỉ có lối 20% trong số hơn 30.000 bạn trẻ cai nghiện trong lối 20 Trung Tâm là nhiễm HIV, sau những năm cai nghiện thì tỷ lệ nhiễm HIV là trên 60%, có vị nói là trên 80%.

5\. Báo chí cũng thông tin những ngành liên hệ với y tế thì toa rập nhau trấn lột bệnh nhân? Hình như các ngành, thay vì biến giai cấp vô sản thành người đầy tớ phục vụ nhân dân theo như lời Bác dạy, thì thực tế cho thấy là giai cấp vô sản biến nhân dân thành vô sản, và tự biến mình thành một giai cấp mới mà tôi nghe nhiều người gọi là tư sản đỏ. Ngày nay khi mà một viên chức Nhà Nước phải chia 1.000 tỷ đồng cho người vợ ly dị, thì không còn là tư sản nữa, mà phải gọi là tư bản hay đại gia đỏ. Lâu lâu rồi, tôi thấy báo chí tường thuật lời ông Tổng Bí Thư tuyên bố tham nhũng là quốc nạn. Có lẽ là quốc nạn cho người dân, chớ còn đối với nhiều đày tớ của nhân dân, đó là cơ hội tốt để trở thành đại gia đỏ.

6\. Hợp tác với cách quản lý giáo dục và y tế xem là bệnh hoạn như thế thì được gì, mất gì? Sự hợp tác đó có góp phần lành mạnh hoá nền giáo dục và y tế? Hay tạo điều kiện cho cơn bệnh thêm trầm trọng?

7\. CLB.NVB nghiên cứu xem coi thái độ bất hợp tác và thái độ hợp tác của Giáo Hội trong lịch sử 50 năm qua, mỗi thái độ có những lợi và hại nào, đối chiếu cái lợi và cái hại của hai thái độ, và đề xuất bài học thực hành cho mọi thành phần tôn giáo và xã hội biết cách nào góp phần vừa xây dựng đất nước vừa lành mạnh hoá đời sống dân tộc. Có được thế thì sự phát triển đất nước và con người mới vững bền.

Chân thành cám ơn cha Hợp và các thành viên Câu Lạc Bộ NVB.

Saigon, 22.7.2007
Gioan B. Phạm Minh Mẫn
Hồng Y Tổng Giám mục

Kết Luận

Việc Tòa Thánh bổ nhiệm các chức sắc mới tại Hànội và Vinh làm phần lớn tín hữu VN trong cũng như ngoài nước hết sức hoang mang và đau lòng. Giáo dân thật sự không hiểu nổi. Qua việc bổ nhiệm này, người dân VN có cảm tưởng rằng Toà Thánh đang dần dần từng bước trao Giáo Hội VN vào tay VGCS, chẳng khác gì trước đây người Mỹ trao VNCH cho VGCS qua chiêu bài Việt Nam hóa chiến tranh. Đặt ra câu hỏi là việc bổ nhiệm này, GH được cái gì. Câu trả lời dễ dàng trước mắt. Cái được thì chưa thấy, nhưng cái mất đi thì quả thật rất to lớn. Cho rằng chạy theo CS và o bế chúng, Giáo Hội sẽ thu phục được 3 triệu tên đảng viên CS, nhưng GH không thấy rằng mình sẽ mất đi sự gắn bó của hầu như tất cả 7 triệu con chiên hiện đã ở trong chuồng, và quan trọng hơn nữa là mất đi sự tin tưởng của cả một dân tộc. Kết quả thu lượm được liệu có cân xứng không?

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Cuộc “lội ngược dòng” của giáo dân Hà Nội -
Ai là kẻ lo sợ nhất ?


Hồ Học-Trần Trung Luận
.Sự kiện bung ra đã làm cho những con bài chủ nặng ký nhất đã bị bại lộ, đường lối đối ngoại và đối thoại “bẩn” kiểu “Cộng Sản” bị phơi bày, cuồng vọng đứng trên cả “Chúa Trời” của Đảng Cộng Sản đã bị giáo dân Hà Nội chặn đứng và giáng trả quyết liệt hơn cả mức cần thiết, tình thế chạm đến ngưỡng không có lợi cho sự “ổn đinh” của họ trong kỳ “lột xác” cuối cùng (đại hội Đảng).

Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt đã lại đã bất ngờ rời Việt Nam (đêm 12/5 ) bất ngờ như khi ông trở về từ Vatican (ngày 9/4) để dàn xếp, đón đưa Giám mục Nguyễn Văn Nhơn kế vị mình theo quyết định của Toà thánh sau đó nửa tháng.
Dư luận cũng bất ngờ bùng lên trước cách đối xử với ông của Toà Thánh Vatican, gới cầm quyền Việt Nam và cả HĐGMVN (những thành tố duy nhất có thể tạo tác quyết định cho vấn đề này) ngay khi còn là manh nha, đồn đại.

Những hành động, những biểu lộ quyết liệt, mạnh mẽ chưa từng thấy của giáo dân Hà Nội cũng bùng lên theo đó. Một bầu không khí đau buồn, lo âu, nghi kỵ và phân hoá bao trùm giáo phận Hà Nội, lan toả ra nhiều nơi trong và ngoài nước.

Một thỉnh nguyện thư đã được giáo dân khẩn trương thu thập trong thời gian ngắn nhất với 15.000 chữ ký (được cho là kỷ lục ) chuyển gấp sang Vatican. Một Thánh Lễ, “Lễ tạ ơn chào đón đức TGM phó” diễn ra trong căng thẳng, ngột ngạt và đầy tự phát… nhưng cũng chẳng thể nào khác được, với rừng băng rôn của giáo dân tôn vinh TGM Ngô Quang Kiệt chứ không phải là “chào đón Đức TGM phó” như chủ đề của Thánh Lễ.

Nhiều ý kíên trái ngươc, mâu thuẫn, chống đối nhau tràn ngập trên các trang mạng Công Giáo... để lý giải, để bach hoá sự thật... để bao biện, để che đậy, phá rối và cả để tranh giành, để làm nổi mình lên trong bối cảnh hỗn loạn này.

Tất cả được thấy như những nỗ lực, quyết tâm giành thắng lợi cuối cùng của những lực lượng cụ thể nào đấy trong việc “đi hay ở” của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt.

Và đến lúc TGM Ngô Quang Kiệt đã chính thức rời sứ vụ, bằng thông báo của Toà Thánh Vatican chấp nhận đơn từ chức của ông và ra nước ngoài chữa bệnh như thông báo của toà TGM Hà Nội, Giám mục Nguyễn Văn Nhơn cũng đã chính thức trở thành Tổng Giám Mục Hà Nội nhưng quán tính của sự kiện “đi hay ở” và dấu ấn “tinh thần Ngô Quang Kiệt” vẫn còn nguyên, vẫn sôi sục, vẫn đòi hỏi phải được lý giải một cách chính thức và minh bạch từ những tầng cao nhất của Giáo Hội.
Lễ chúa Jê-Su lên trời (một trong những thánh lễ quan trọng hàng đầu của người Công Giáo, theo thông lệ sẽ do Tân Tổng Giám Mục chủ tế) đã lại trở thành cuộc biểu lộ tình cảm của Giáo dân các xứ trong giáo phận… Đến lúc này thì rất khó đặt tên cho cả chuỗi sự kiện , nó giống như một cuộc “lội ngược dòng” đẫm nước mắt đi tìm “công lý sự thật”, đi tìm “chủ chăn đích thực” của giáo dân Hà Nội.
Ở đây “cuộc lội ngược dòng” của những giáo dân bé mọn ấy là hoàn toàn đúng đắn, là chân thực... nhưng nó đã “bùng lên” ngoài tầm kiểm soát, làm cho cả giáo hội chao đảo, HĐGMVN hầu như tê liệt, nó gây đau đớn, lo ngại cho ngay chính các hàm, phẩm cao nhất của Giáo Hội, cho cả giới cầm quyền đang chăm chú theo dõi trong nín lặng, và căng thẳng bởi với chính họ, sự việc cũng đang ngoài tầm kiểm soát,

Nguyên nhân của sự “bùng lên” quyết liệt và tự phát đến như vậy có thể thấy là ngoài tình cảm yêu thương, khát vọng một “chủ chăn đích thực” của giáo dân thì phần còn lại (ẩn phía sau) của vấn đề chính “là quá trình đưa đến sự lựa chọn người kế vị” như nhận định của Linh Mục Vũ Khởi Phụng chánh xứ giáo xứ Thái Hà, hay nói cụ thể hơn là sự xuất hiện không lô-gic, không cần thiết của chính vị GM Nguyễn Văn Nhơn. Quá trình này thể hiện rõ bàn tay của giới cầm quyền Hà Nội từ mở đầu với sự việc Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch UBNDTP Hà Nội triệu tập Ngoại giao đoàn tại Hà Nội đã Ngày (10/2008) công khai bày tỏ ý đồ trục xuất TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội... cho đến mẩu tin gọn lỏn của TTX VN (ngày 7/5/2010).
Có thể thấy phản ứng của giáo dân chính là phản ứng của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam với chính quyền cộng sản vô thần và dã tâm” bóp chết Công Giáo” của họ. HĐGMVN hay một “đáng tiếc” nào đấy của Toà ThánhVatican bỗng nhiên thành điểm đối đầu của phản ứng này (cần thấy rõ Giáo Hội không chỉ là Tổng Giám Mục, HĐGM, hay một vài đấng bậc cụ thể. Giáo Hội là 8 triệu Giáo dân).

Lo ngại của gới cầm quyền là một thực tế bởi mục đích cả lâu dài hay trước mắt của họ là trục xuất TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hà Nội một cách êm thấm, từ đó từng bước “quốc doanh hoá” Thiên Chúa Giáo như đã từng làm với nhiều tôn giáo khác chứ không phải là để chọn lựa để tìm tới một kết quả hỗn loạn, không thể áp đặt như hiện nay.

Sự kiện bung ra đã làm cho những con bài chủ nặng ký nhất đã bị bại lộ, đường lối đối ngoại và đối thoại “bẩn” kiểu “Cộng Sản” bị phơi bày, cuồng vọng đứng trên cả “Chúa Trời” của Đảng Cộng Sản đã bị giáo dân Hà Nội chặn đứng và giáng trả quyết liệt hơn cả mức cần thiết, tình thế chạm đến ngưỡng không có lợi cho sự “ổn đinh” của họ trong kỳ “lột xác” cuối cùng (đại hội Đảng).

Thêm nữa trong một tương lai ngắn ngủi, bất trắc đang chờ Đảng Cộng Sản, đã hình thành xu hướng “ tự diễn biến” “tự chuyển hoá” tạo khả năng để có thể tái tồn tại trong một một nền chính trị mới “phi cộng sản” nay mai thì tổn thương lớn này với người Công Giáo không dễ gì mà hàn gắn, hay đền bù, hoà giải được.

Nhìn lại chuỗi sự kiện người ta đã phải rất ngạc nhiên khi thấy rằng chỉ để có 2 công viên bé nhỏ vô tích sự mà cả một chính thể đã mâu thuẫn với 10% dân số của mình một cách trầm trọng đến mức không thể hoá giải được thì rõ ràng tầm vóc, não trạng chính trị của giới cầm quyền Hà Nội nói chung và BT Thành Uỷ Phạm Quang Nghị nói riêng là quá thấp kém.

Do vậy việc ra đi của TGM Ngô Quang Kiệt vốn được coi là “điểm thưởng” cho phe cánh chính trị Hà Nội của Phạm Quang Nghị trong đại hội Đảng nguy cơ trở thành “điểm triệt” bởi kết quả chẳng êm thấm chút nào, sự kiện còn kéo dài và diễn biến khó đoán định, đây chính là lý do tại sao không một tờ báo quốc doanh nào đưa tin hay bình luận ngoại trừ một mẩu tin chiếu lệ của TTXVN.

Sự hoảng loạn và lo ngại không chỉ riêng gì của giới cầm quyền Hà Nội, mà nó còn đang trong suy tư của các lãnh đạo Công Giáo trong và ngoài HĐGMVN, nhất là với những người đã bàn quang, đã làm ngơ, đã chấp nhận, hoặc tham gia vào “quá trình đưa đến sự lựa chọn người kế vị” không lo-gic, không minh bạch này.

Tình trạng hiện thời của HĐGMVN đang là rất hoang mang, lúng túng như trả lời phỏng vấn của Phó CT HĐGMVN Nguyễn Chí Linh... không biết làm gì hơn là tiếp tục chọn lựa cách ứng xử theo lối truyền thống của mình là “im lặng”. Từ khi sự kiện bung ra tới nay người ta chỉ thấy có “thư chúc mừng” của HĐGMVN cho chính vị Chủ Tịch của mình là có lên quan đến sự kiện.

Nhưng trong bối cảnh hiện nay “im lặng” không phải là “vàng” nữa khi mà “một trang sử buồn cho Giáo Hội Việt Nam và cách riêng, cho Tổng giáo phận Hà Nội” đã mở ra (cũng vẫn theo nhận định của giám mục Nguyễn Chí Linh ) với khởi đầu là một lễ tạ ơn chua chát, đau lòng, rồi lễ chúa Jê-Su lên trời vắng bóng tân Tổng Giám Mục làm chủ tế, vắng bóng giáo dân sốt sắng mộ đạo, cái còn đó vẫn là những băng rôn, biểu ngữ tôn vinh TGM Ngô Quang Kiệt. thánh lễ nhận TGP của TGM Nguyễn Văn Nhơn cũng không tổ chức …Những giáo dân Hà Nội cho biết họ sẽ “tiếp tục như vậy cho tới ba năm nữa “
Cái lo ngại nhất của các đấng, bậc trong Giáo Hội chính là sự phân hoá trong nội bộ Giáo Hội. Trong bài “tinh thần Ngô Quang Kiệt”-cuộc canh tân giáo hội bắt đầu chúng tôi cũng đã có nhận định về một viễn cảnh không xa “Thiên chúa Giáo miền bắc Việt Nam chỉ còn là một tín ngưỡng tại gia”

Nhưng ngay cận cảnh đây một tình huống mang những nét “cát cứ tôn giáo” đã xuất hiện, tức là “tinh thần Ngô Quang Kiệt “ cùng những giá trị “tông giáo chân chính” sẽ phát triển, tồn tại theo cách riêng ở từng giáo phận, giáo xứ, thậm chí các cộng đoàn, các giáo họ. Cơ cấu tầm cao như Tổng Giáo Phận, HĐGMVN chỉ còn là tượng trưng, hình thức, mang tính giao đãi...để có mũ, áo, ghế, gậy trong đại lễ 1000 năm Thăng long, trong đưa đón bang giao với Toà Thánh, trong nghênh đón Giáo Hoàng sang thăm Việt Nam (nếu có). Thế thì cái thông điệp “mầu nhiệm-sứ vụ-hiệp thông” của năm thánh 2010 hoàn toàn phá sản.

Toàn thể HĐGMVN, các đấng bậc cao trọng của giáo hội có nhìn thấy cái viễn cảnh và cận cảnh này không? có còn trách nhiệm không? có còn bản lĩnh, lòng can đảm của một Ki-Tô hữu ? Bởi để vượt qua “trang sử buồn” này đòi hỏi phải có một tầm nhìn, một trách nhiệm, và cả lòng can đảm nữa.

Cần nhận thấy rằng phản ứng bùng lên của giáo dân là đúng đắn, là chính đáng, là phản ứng của nhân dân bị đoạ đầy dưới gót sắt của chế độ Cộng Sản vô thần, nghĩa là giáo dân đang cùng nhịp bước với cả dân tộc, cái còn lại là HĐGMVN các đấng bậc, giáo sĩ, linh mục có đồng hành cùng giáo dân, cùng dân tộc hay không?

Với cuộc “lội ngược dòng” đẫm nước mắt của giáo dân Hà Nội đi tìm“công lý, sự thật" tìm “chủ chăn đích thực” ta đã thấy rõ ai là kẻ lo sợ nhất.

Hồ Học-Trần Trung Luận
Last Updated ( Tuesday, 18 May 2010 12:29 )

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Công An Nhân Dân: Vì Đảng Quên Dân, Vì thân Phục Vụ!

Lê Minh

Mấy hôm nay dân mạng trong và ngoài nước chuyền nhau bức hình tấm panô treo trước cửa của trụ sở Bộ Công An CSVN tại 44 Yết Kiêu, Hà Nội. Tấm panô này có hàng chữ rất ... kêu và rất phản động: "Công an Nhân dân: Chỉ biết còn Đảng còn mình".
Image
Tấm panô “Công an Nhân dân - Chỉ biết còn Đảng còn mình”

Tại Việt Nam, hầu hết các cơ quan, tổ chức đều có tên gọi đi kèm với “Nhân dân”, chẳng hạn Tòa án Nhân dân, Ủy ban Nhân dân, Quân đội Nhân dân. Đương nhiên lực lượng công an cảnh sát cũng không ngoại lệ, cho nên mới có tên gọi chính thức là Công an Nhân dân (CAND). Đối với trường hợp của tổ chức này thì có mối “gắn bó” với nhân dân “đặc biệt” hơn cả.

Cũng như tất cả lực lượng công an cảnh sát mật vụ tại các nước cộng sản, lực lượng công an CSVN mà tên chính thức là Công an Nhân dân, là cánh tay duy trì quyền lực hữu hiệu nhất của ĐCSVN. Đây cũng chính là lực lượng sắt máu, trung thành tuyệt đối với Đảng, không khác gì chó trung thành với chủ, sẵn sàng cắn xé bất cứ lúc nào, không cần biết đó là những mệnh lệnh đúng sai, hay phi nhân bản. Để đạt được sự phục tùng mệnh lệnh một cách tuyệt đối, không đắn đo, người CAND phải “tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” trong lời hứa danh dự trước tiên của mình. Cũng chính vì sự trung thành tuyệt đối này của lực lượng CAND mà người dân Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước phải khổ sở điêu đứng.

Lực lượng CAND được tổ chức chặt chẽ, từ trung ương đến địa phương, đến tận mọi ngóc ngách. Hình ảnh của CAND thuộc mọi thứ bậc, chủng loại đều là những hung thần áo vàng có hình hài giống nhau.

Từ đơn vị nhỏ nhất với viên công an khu vực là tên hung thần dòm ngó, kiểm soát chặt chẽ tình trạng cư trú, làm việc và sinh sống của mỗi người dân, từng hộ gia đình trong khu vực. Trên một nấc là công an phường mà văn phòng là cửa ngõ “đầu tiên” và cũng là nơi tập trung, thuê mướn các tay đầu gấu côn đồ để đàn áp đánh đập dân oan. Văn phòng công an quận là nơi chuyên bắt giữ, thẩm vấn những người yêu nước, hoặc giam giữ người một cách trái phép.

Công an ở cấp tỉnh-thành thì có quyền hơn, chẳng hạn như có thể bắt người giữa phố xá đông người mà không cần tội danh, mà cách “mời về đồn làm việc” rất là vũ lực, chẳng hạn như xúm lại khiêng nạn nhân vứt lên xe đưa về đồn trước những đôi mắt ngạc nhiên của người đi đường qua lại. Trong số những nhà bất đồng chính kiến bị “mời” kiểu này gần đây nhất có Luật sư Lê Trần Luật và LS.Tạ Phong Tần.

Công an cấp tỉnh thành thì có quyền nhiều hơn, có thể dễ dàng quy chụp kết tội “phản động” hoặc các tội danh như “xâm phạm an ninh quốc gia”. Công an Bộ thì phạm vi hoạt động xa hơn, có thể vươn tới tận các nước láng giềng như Thái Lan, Campuchia, bắt cóc nạn nhân đem về xử. Trường hợp của vợ chồng bà Phạm Thị Phượng bị bắt cóc mới đây tại Bangkok là một ví dụ điển hình, và còn được công an Bộ gán cho siêu tội danh “khủng bố” vì một mình có thể “sử dụng thuốc nổ để phá tượng đài Hồ Chí Minh và gây nổ ở nhiều địa điểm công cộng như nhà ga, bến tàu, bệnh viện, trường học…” với giá thật bèo!







Lực lượng công an 113 thì rất nhanh nhạy trong việc trấn áp, mạnh tay với dân oan. Ngoài việc canh gác người sống, cũng kiêm luôn việc canh gác người chết và cướp xác, mà điển hình là vụ trấn áp “thành công” giáo dân ở Cồn Dầu mới đây, và phong tỏa, canh gác nghĩa địa ngày đêm. Công an tôn giáo thì chuyên nghề đàn áp và gây chia rẽ giữa các tôn giáo, mà các vụ Bát Nhã, Thái Hà, Tam Tòa là những ví dụ điển hình.

Công an mạng thì rất tài trong việc khám phá, ngăn chận và tấn công triệt hạ các trang web “đen”. Hầu hết các trang mạng đưa “tin lề trái” đều không dưới một lần là nạn nhân của đám công an này.

Còn nhiều nữa, nào là công an cửa khẩu, công an văn hóa, công an biên phòng,... đủ các loại công an rất giỏi nghề trấn áp, hạch sách dân lành. Lực lượng công an giao thông cũng được xem là một đám cướp mãi lộ không hơn không kém, trong khi đám công an lo việc đăng ký đăng bộ xe các loại thì phủ phê với hàng núi tiền và còn cấu kết với đám trộm cướp để phi tang hàng ăn cắp, cho nên người dân đã nhại cái điệp khúc nửa mùa của Hồ Chí Minh thành:
Xăng có thể cạn, lốp có thể mòn.
Song số máy số sườn không thể thay đổi.

Trước đây, tù nhân trong các trại tù cải tạo thuộc nằm lòng những điều răn của CAND vì chúng được treo nhan nhãn trên tường tại “phòng sinh hoạt” của các trại cải tạo này. Một trong những điều răn của CAND “đáng nể” nhất là:
Ngày gác cho dân chơi, đêm gác cho dân nghỉ
Lấy hạnh phúc của nhân dân làm hạnh phúc của mình

đã được một số tù cải tạo ứng khẩu sửa lời rất “chuẩn” là:
Ngày gác cho dân chơi, đêm gác cho dân nghỉ
Lấy HẾT hạnh phúc của nhân dân làm hạnh phúc của mình

Quả đúng là các anh CAND rất tài giỏi trong việc “gom” hết hạnh phúc của nhân dân về làm hạnh phúc của mình. Cho nên người dân miền Nam mới gán cho các hung thần CAND là “bò vàng”

Nói đâu chi ở ngoài biển Đông xa xôi, công nhân Trung Quốc làm việc tại một số công trình trên đất Việt Nam mà các anh đâu có dám trừng trị, trong khi thanh niên Việt Nam xuống đường biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn hải đảo lãnh thổ Việt Nam thì các anh vâng lệnh Đảng thẳng tay đàn áp không thương tiếc. Các anh son sắt, “chỉ biết còn Đảng còn mình” như thế cũng phải thôi, bởi vì Đảng tiêu thì các anh cũng không còn chỗ dựa dẫm để “Lấy HẾT hạnh phúc của nhân dân” nữa. Tuy miệng luôn hô hào “vì nước quên thân, vì dân phục vụ” hoặc là “vì Đảng quên thân, vì dân phục vụ”, nhưng thật ra các anh đã “vì Đảng quên dân, vì thân phục vụ”. Có như vậy thì lực lượng CAND mới luôn xứng đáng làm đàn chó trung thành với chủ “trong mọi tình huống”, sủa vang điệp khúc trung thành “Chỉ biết còn Đảng còn mình” trước khi được chủ ban cho miếng xương

Nói đến công lao “trời bể” của ĐCSVN thì lúc nào Bác Hồ cũng có phần, lúc nào cũng phải “Bác và Đảng” đi đôi với nhau cả. Cho nên mới nói lực lượng CAND đã “vì Đảng quên dân, vì thân phục vụ”, thì cũng “vì Bác quên dân, vì thân phục vụ”.

Hôm nay nhân ngày sinh của Bác, lực lượng CAND chắc hẳn phải nhớ ơn Bác nhiều lắm vì nhờ 6 điều răn của bác mà anh nào cũng mập béo, giàu sang cả.

Ngày 19/05/2010
Lê Minh

muoiot
Posts: 100
Joined: Sat Sep 19, 2009 6:52 pm

Post by muoiot »

Con Chuột Không Hang

Hải Miên
Không bao giờ tôi muốn nhớ lại cái ngày đầu tiên tôi theo mẹ cầm cây chổi cán dài ra chợ. Trời tối sập, đổ mưa, người bán kẻ mua chỉ còn lác đác, mẹ tôi buông dao xuống rổ khoai gọt dở, bảo: "Ði, con". Ðó là lần duy nhất trong đời người mẹ lạnh lùng và nhiều đau khổ của tôi nhẹ nhàng tròng vào cổ tôi mảnh áo mưa và đội lên đầu tôi chiếc nón mê đã được viền lại bằng mảnh vải quần cũ.

Tôi chưa bao giờ được đến trường, chẳng ai cố công nhét vào đầu tôi những điều xa lạ, cao siêu trong các trang sách, nên bao chuyện xảy ra hàng ngày quanh cuộc sống của tôi, dù chỉ lướt thoáng qua, nghe lõm bõm và không hề để tâm ghi nhớ, vẫn cứ bám chặt lấy cái đầu bé xíu nhưng quá sức rộng rãi của tôi.

Cả một khu chợ rộng lớn và dơ bẩn được giao cho chỉ mình mẹ tôi quét dọn. Mẹ đẩy thùng xe rác đi trước, tôi vác cây chổi dài chạy sau, vừa buồn rầu vừa hăm hở với ngày làm việc đầu tiên của mình.

Những đống rau quả già héo và thối rữa nằm lổn nhổn la liệt nơi chợ trời sau một ngày mua bán của hàng chục nghìn người. Tôi đứng mấp mé đầu cán chổi, chân chổi dài hơn chân tôi. Tôi quét thật lực, chốc chốc dừng tay trước một củ khoai lang hay miếng bí còn chưa hỏng hết, nhặt lấy bỏ vào chiếc bị cói đeo bên hông. Tôi nhặt cả một ít lá hành, ngò và rau răm héo, những thứ mà trước đây mẹ tôi chẳng bao giờ đem về. Mẹ nấu ăn không cần đến gia vị và rau thơm, nhưng tôi sẽ rất lấy làm hả hê nếu được bưng lên một tô canh nóng, ghé sát mũi và hít lấy hít để mùi thơm nồng nàn của những vòng hành lá xắt nhỏ và nhúm rau răm tỏa hơi cay ấm. Tôi rất thích và nhạy với những mùi thơm. Trên những lối mòn thường đi tha thẩn lúc còn bé xíu, tôi luôn dừng lại và dí sát mũi vào những bông hoa bên đường. Tôi còn tỉa lấy một vài cánh đẹp cho vào miệng và ăn thật khẽ. Ngửi một mùi hương với tôi chưa đủ, tôi còn muốn ăn mùi hương đó và nuốt từ từ cho nó trôi vào bụng. Nên có lần tôi chạy về mẹ với cái mũi đỏ ửng, sưng phồng và chiếc lưỡi bỏng rộp. Sau năm lằn roi vào đít, mẹ nói rõ cho tôi biết, dù mọi bông hoa đều thơm và sặc sỡ nhưng nhiều loại trong số đó có chất độc. Với mẹ con tôi, hai cái mũi suốt ngày đêm hít thở mùi hôi hám và tanh tưởi của những đống rác chợ, thì hương hoa chả có ích gì cả. Tốt nhất là khép chặt hai cánh mũi lại, đến không ngửi thấy mùi gì nữa thì chẳng còn gì hay hơn.Tôi biết đó là ước ao không phải lớn nhất nhưng thường trực nhất của đời mẹ, ước ao hằng ngày cho đến giờ bà nằm xuống...

Tôi không ân hận nhiều vì có một vài điều tôi không nghe lời mẹ, ví dụ như ngửi những bông hoa hay mở rộng cánh mũi trước bát canh nóng nghi ngút có hành ngò.

Trở lại ngày làm việc đầu tiên. Vì chân chổi dài hơn chân tôi nên tôi vấp phải đám lua tua đó trong khi đang ủn những nhát chổi nặng những rác, ngã đập mông xuống một quả bí ngô thối rữa. Khi tôi chống tay đứng lên, sau mông tôi ướt nhe nhép, vàng hươi bí đỏ. Sau tất cả những việc đó, tôi không dám kêu lên một tiếng với mẹ mà buông chổi, chạy một mạch ra vệ cỏ bên đường, ngồi ệp xuống và lết đi một quãng dài, để lại sau lưng đám cỏ giập nát, cõng nặng oằn mình lớp bí đỏ vàng hươi bốc mùi nhức mũi, vẫn ướt loét nhoét và dính bết vào mông, tôi chạy một mạch nữa xuống con suối gần đó, đứng chống tay nơi hai đầu gối, nhúng mông xuống dòng nước chảy. Cúi mặt, cong lưng nhìn ra sau theo dòng nước, tôi bật cười hi hi với ý nghĩ, giống như mình đang pha màu vào dòng nước suối. Khi tôi lướt thướt chạy về chợ, cả hai vạt áo còn nhỏ giọt loi thoi, mẹ nắm hai tai và kéo bổng tôi lên, ném vào thùng xe rác. Năm ấy tôi chỉ nặng độ mười lăm ký lô, nhẹ hơn cả một trái bí ngô to các bà ở chợ vẫn xẻ bán mấy ngày mới hết.

Ngày thứ hai theo mẹ quét chợ, khi tôi ngửa cổ hắt từng xẻng rác vào thùng xe thì hai cổ tay mỏi nhừ, run run buông xuôi chiếc xẻng. Nguyên đống rác đổ xóa vào mặt và một con cá ươn rơi tõm vào hai hàm răng đang há hốc của tôi. Tôi cắm mặt xuống đất, móc họng nôn cạn ruột mà chưa ọe được con cá chết ra. Mẹ tôi đi lại, trở sống tay chặt mạnh một cái vào vai. Con cá văng tọt ra ngoài. Ngồi thỏ lỏ mắt nhìn, tôi nôn thêm một lúc nữa, đổ ra toàn mật vàng.

Ngày thứ ba..., ngày thứ tư... ngày thứ năm... Mỗi ngày đều có nhiều chuyện cho tôi nhớ và sợ hãi.

Tôi ở chợ, nhưng không khôn lanh như con thiên hạ mà hơi ngơ ngẩn, nhìn vào đâu mắt đều mở to và nhìn lâu không dứt. Nhờ vậy mà bớt buồn khổ vì hoàn cảnh của mình. Nhưng đến năm mười lăm tuổi tôi vẫn bị cạn hết nước mắt, không còn một giọt. Trở về sau nếu buồn khổ quá cũng chỉ khóc khô, mắt rát như bị cát bay.

Mười sáu tuổi tôi bị mẹ đánh và mắng mỗi ngày. Tôi muốn bỏ túp lều nơi góc chợ - chỗ trú ngụ của hai mẹ con từ ngày tôi còn là cái bào thai - đi đâu thật xa. Nhưng gom nhóp mãi mới được một nhín tiền, rồi bị một chuỗi hạt nhựa tròn nhẵn, sáng lóng lánh mê hoặc nên dốc hết số tiền đó ra mà mua lấy, đeo vào cổ. Từ đấy tôi cảm thấy ngấn cổ là nơi đẹp đẽ nhất trên cơ thể mình và quên luôn ý định để lại một mình bà mẹ chưa già nhưng suốt ngày than trách số phận và chửi rủa con gái vì lỗi lầm của mình và sự tệ bạc của một người đàn ông đi hoang vô định. Lúc nhỏ, trong một trận đòn, đang khóc tu tu đột nhiên tôi nín bặt, nhìn mẹ lom lom với mớ tóc rối, áo quần nhàu nhĩ và cây chổi lông gà rách tướp trên tay, tôi sửng sốt kêu lên: ‘"Mẹ, trông mẹ giống hệt như một con quạ đen!". Mẹ tôi vứt cây chổi, ngã xuống nằm bẹp tai suốt bảy ngày, tôi phải đẩy xe đi quét rác một mình đến tối khuya mới được nửa chợ. Sáng tinh sương trở dậy quét được nửa chợ nữa, chưa đến cửa lều nhà mình thì hai tay không còn đưa nổi cây chổi. Từ đó, tôi không bao giờ bảo mẹ giống với bất kỳ điều gì, dù mỗi ngày hình ảnh mẹ có thể gợi cho tôi hàng chục liên tưởng khác nhau.

Mười sáu tuổi, tôi bị mẹ đánh và mắng mỗi ngày. Mẹ muốn tôi lấy gã con trai bẩn thỉu, có bàn chân to nặng và luôn ngái ngủ làm bốc vác ở chợ, tối tối leo lên nằm ngáy ồ ồ ở sạp chuối bà Hường. Ngoài cái tên Thổ Nghệ của hắn ra, còn nữa mọi thứ ở hắn đều làm tôi nhăn mũi. Dù tôi chưa lưu tâm gì đến bọn con trai đầy nhong nhóc ngoài chợ bằng một bông hoa có mùi hương và màu sắc mọc bên đường, nhưng mẹ vẫn cứ ráo riết và cấp tập kiếm chồng cho tôi. Mẹ nói mãi về đàn bà, về sự yếu đuối, cám dỗ, cạm bẫy và sa ngã. Tôi cứ ngồi nghe như bị thôi miên, càng nghe càng mù mịt không tìm thấy lối ra giữa đống kiến thức xa lạ, chả liên quan gì đến một bà già khô đét và đứa con gái chưa hết run sợ về lần chảy máu đầu tiên trong đời.

- Mày không chịu lấy thằng Thổ Nghệ, mày không chịu lấy thằng Bá Hùng, mày cũng không ưa thằng Tí Ngọ. Mày muốn lêu lổng cho đến bao giờ? Mày muốn đời mày ra khốn nạn như mẹ mày phải không?

- Không, không phải. Những thằng con trai đó không xứng đáng với con.

Miệng mẹ tôi há hốc.

- Thế mày nghĩ ở khu chợ này, mày xứng đáng với ai?

- Con không tin hễ là con của bà quét chợ thì chỉ xứng lấy chuột làm chồng.

- Nhưng mày cũng là chuột. Một con chuột không hang! - Mẹ giận dữ la lên.

Tôi kéo chăn trùm kín mặt, dù biết ngay sau đó mẹ sẽ lôi tuột mảnh chăn đi, trở cán chổi lông gà quất mạnh vào người tôi và nhắc nhở: "Mày đừng quên mày là một con chuột không hang".

Một ngày có nắng, ông lão ăn mày lạ đi ngang và ngồi xuống ở một góc chợ, để ngửa chiếc mũ rách bẩn dưới tầm mắt mình. Chiều tối vãn người, tôi đẩy xe rác ra, đưa cho ông những mẩu khoai nhiều vết dao cắt gọt đi chỗ sùng hà hư thối, còn bốc hơi nóng. Ông ăn xong, nhìn tôi chăm chú rồi nói như tặng lại tôi một món quà: "Con đừng buồn. Dáng vẻ của con không bần hàn như hoàn cảnh của con". Ông hỏi tên tôi rồi giận dữ đi về phía mẹ đang quét rác ở khu chợ cá, nắm lấy cán chổi của bà, la lớn bất ngờ: "Mụ này, sao mụ lại dám đem cái tai ách của mụ để choàng vào cuộc đời của con bé ấy?". Mẹ tôi buông chổi nhảy xổ vào đánh ông lão ăn mày. Tôi muốn can nhưng trong đám bụi vẩn mịt mù, hai người đã bấu lấy nhau thành một khối chuyển động kỳ quái không ngừng, làm tôi chẳng còn biết đâu mà gỡ. Và khi ông lão người đầy vết cào xước đã bị mẹ tôi lẳng vào vũng nước tanh, nằm rên hờ hờ thì mẹ tôi búi lại tóc, xong ngồi sụm xuống khóc ồ ồ. Từ đó bà gọi tôi bằng một cái tên mới.

Bằng nghề ăn mày, ông lão đã đi khắp nơi, khắp hang cùng ngõ hẻm của nước Việt và cái chợ của mẹ con tôi là nơi cuối cùng ông đặt chân tới. "Từ đây lão sẽ về quê, đào cho mình một cái lỗ và nằm xuống đó, không bao giờ đi thêm một bước nào nữa. Lão ước được bàn tay một cô bé như con lấp đất xuống cho lão". Vì câu nói của ông lão mà lần đầu tiên trong đời, tôi thả rơi cây chổi, hướng đôi bàn tay về phía có ánh sáng, ngắm nhìn trân trối. Tôi nhìn mười ngón tay, từng ngón một, từng đốt tay một. Lật lại, tôi đưa đầu ngón trỏ rê nhẹ và chậm trong lòng bàn tay kia, thấy gập ghềnh và gồ lên những cục chai, với những con đường nhỏ rằng rịt, ẩn sâu, đỏ hồng.

- Ðôi bàn tay con có gì khác biệt?

Xòe hai bàn tay như hai chiếc lá hình răng cưa mở rộng hết cỡ trước mặt ông lão, ông nhắm mắt không nhìn, chỉ nói:

- Vì nó thuộc về con.

"Cần phải đến già mới hiểu được lời của một người già". Tôi có tật xấu nói lên thành tiếng những ý nghĩ của mình, nếu trước đó không tự ra lệnh: "Không được nói. Im đi. Im đi". Ông lão nghe thấy, cười ha ha, để lộ dăm ba chiếc răng còn lại, dài như răng ngựa va nhau lung lay như cùng nghiêng ngả trong một trận cười. Rồi ông lão moi, moi mãi trong cái bị của mình, lôi ra một bọc gói nhiều lớp giấy báo và giẻ rách, đưa cho tôi:

- Giữ lấy, con.

Ông ăn mày đã đặt vào tay tôi quyển vở, cây bút và cuốn sách vỡ lòng trước khi ông lặng lẽ rời khỏi chợ, không một con mắt nào được chứng kiến. Tôi biết ông về quê mình, tự đào một cái hố và nằm xuống đó, không bao giờ đi thêm một bước nào nữa, sau ròng rã tháng năm in dấu bàn chân dọc ngang hẻm hóc. Tôi ở lại băn khoăn: Vì sao ông mong ước được bàn tay phả đất lên người là bàn tay tôi, mà không tìm cách cho điều ấy thành hiện thực?

Như tôi đã một lần nói, tôi chưa bao giờ được đến trường, nhưng tôi đã có thể đọc hết những gì mình muốn đọc và viết chính xác những gì mình muốn nói, nhờ vào những thứ ông lão ăn mày đặt vào bàn tay mình. Nhờ biết chữ, mà tôi đã có nước mắt trở lại, vào tối ngồi thu lu dưới ánh đèn chợ, bập bõm đánh vần tờ giấy rối rít chữ ông lão cho tôi. Và nhờ vào cái bọc gói nhiều lớp giấy cùng giẻ rách ông lão đưa cho với lời trao gửi: "Giữ lấy, con. Dùng thật có ích". Tôi và mẹ đã thoát khỏi cuộc sống bần hàn, cái cuộc sống có quá nhiều thứ chúng tôi cần đến mà không thể có.

Bằng nỗi thúc đẩy của sự ăn năn, ông đã khập khiễng đi tìm mẹ con tôi trên khắp mọi nẻo đường. Và bằng lòng oán hận, mẹ đánh bật ông ra khỏi cuộc đời của mẹ và tôi. Nhưng ông không buồn vì ông đã viết: "Ta chết nhẹ nhàng vì đã biết, trong tâm hồn con không một nỗi oán hận, thù ghét mảy may. Và vì vậy, không như chúng ta, chắc chắn cuộc đời con là rất tốt".

Hơn cả những gì cụ thể ông lão để lại cho tôi, ông khiến tôi tin chắc rằng mình không phải là một con chuột, càng không phải là một con chuột không hang. Và may mắn thay, mẹ tôi cũng bắt đầu nghĩ đúng như tôi vậy.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Ngoại trưởng Clinton: Mỹ hoàn toàn ủng hộ Nam Triều Tiên
Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố Hoa Kỳ hoàn toàn ủng hộ các biện pháp mà Tổng thống Lee Myung-bak đã loan báo để đáp lại vụ tấn công của Bắc Triều Tiên nhắm vào một trong các chiến hạm của miền Nam. Lên tiếng tại thủ đô của Trung Quốc hôm nay, bà Clinton nói rằng nếu có các bằng chứng xác đáng thì Hoa Kỳ có thể đưa Bình Nhưỡng trở lại danh sách các nước bảo trợ khủng bố. Từ Bắc Kinh, Thông tín viên đài VOA, Margaret Besheer gửi về bài tường trình chi tiết sau đây.

Margaret Besheer | Beijing Thứ Hai, 24 tháng 5 2010
Image
Hình: AP
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nói về tình hình trên bán đảo Triều Tiên trong một cuộc họp báo ở Bắc Kinh, Trung Quốc, Thứ Hai 24 Tháng Năm, 2010
Ngoại trưởng Clinton tuyên bố Washington và Seoul tham khảo ý kiến chặt chẽ với nhau về tình huống này. Bà nhắc lại một công bố của Tòa Bạch Ốc và nói rằng các biện pháp mà Tổng thống Lee đưa ra là “thận trọng và hoàn toàn xứng hợp".

Hôm nay, Tổng thống Nam Triều Tiên Lee Muyng-bak loan báo nước ông sẽ cắt đứt phần lớn các quan hệ mậu dịch với Bắc Triều Tiên và cấm tàu bè của nước này vào hải phận của miền Nam. Ông Lee cũng cho biết Nam Triều Tiên sẽ đưa vụ việc này ra trước Hội đồng bảo an LHQ và Bình Nhưỡng có thể thể phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt mới.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ cho biết Hoa Kỳ kiên quyết hậu thuẫn hành động này.

Bà Clinton nói: “Trước tiên, chúng tôi tán thành lời kêu gọi của Tổng thống Lee Muyng-bak có biện pháp đối với hành động gây hấn này và trên hết là chấm dứt sự hiếu chiến và thái độ đe dọa của Bắc Triều Tiên. Thứ nhì là sự ủng hộ mà dành cho Nam Triều Tiên của chúng tôi là điều rõ rệt, và Tổng thống Obama đã chỉ thị cho các tư lệnh quân đội Mỹ phối hợp chặt chẽ với các đối tác phía Nam Triều Tiên của họ để bảo đảm là chúng ta ở trong tư thế sẵn sàng và ngăn chặn những hành động gây hấn trong tương lai.”

Bà Clinton nói Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên sẽ tìm cách gia tăng sự hợp tác của quân đội hai nước trên bán đảo Triều Tiên.

Ngoài ra, nhà lãnh đạo ngoại giao Mỹ cũng cho biết Tổng thống Obama đã chỉ thị cho các cơ quan chính phủ Hoa Kỳ duyệt lại các thẩm quyền và chính sách hiện hữu liên quan đến Bắc Triều Tiên để bảo đảm là họ có sẵn các biện pháp đầy đủ và xác định những lãnh vực cần điều chỉnh cho thích hợp.

Khi một phóng viên hỏi rằng biện pháp đó có bao gồm việc có thể đưa Bắc Triều Tiên trở lại danh sách các nước bảo trợ khủng bố hay không, bà Clinton cho biết Hoa Kỳ sẽ áp dụng luật pháp dựa vào các sự kiện xác thực.

Ngoại trưởng Clinton nói: “Nếu các chứng cớ xác thực thì Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ sẽ có hành động.”

Ngoại trưởng Clinton đã phát biểu trong khuôn khổ các cuộc đàm phán cấp cao về kinh tế và chính trị giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Trung Quốc đã bị chỉ trích vì đã đáp ứng chậm chạp đối với vụ tấn công Nam Triều Tiên và đã không công khai chấp nhận rằng Bắc Triều Tiên có lỗi.

Bà Clinton nói rằng bà tham khảo ý kiến ráo riết với chính phủ Trung Quốc về vụ việc này, nhưng bà không đề cập đến các chi tiết. Bà cho biết Bắc Kinh công nhận “sự nghiêm trọng của tình hình” và thông cảm với phản ứng của Nam Triều Tiên. Bà Clinton cũng nói thêm là tình hình rất bấp bênh và Hoa Kỳ đang cố gắng làm việc để tránh gia tăng một sự leo thang trong thái độ hiếu chiến khiêu khích.

Một cuộc điều tra của quốc tế tuần rồi đã xác định rằng một trái ngư lôi phóng đi từ một tàu ngầm của Bắc Triều Tiên đã đánh chìm chiến hạm Cheonan của Nam Triều Tiên trong tháng Ba, làm thiệt mạng 46 thủy thủ trên tàu.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Người Già Có Nên Về Sống Tại VN Không ?


Đây là câu hỏi mà linh mục Hồ Sĩ Mậu đặt ra cho cử tọa trong Thánh lễ ngày 26/6/2007. Và có nhiều người trả lời, nhưng tựu trung không ai muốn về sống luôn ở Việt Nam. Tại sao?
1. Tại sao lại muốn về Việt Nam ? :

Đã là người Việt Nam thì ai chẳng muốn về sống trên quê cha đất tổ, để được gần mộ phần của tổ tiên, ông bà, cha mẹ? Nhất là được nói tiếng Việt mà không phải dùng một ngôn ngữ khác, đó là tiếng Anh mà có nhiều người già không hiểu và không biết nói.

Sống ở Việt Nam mà nếu có tiền thì có thể thuê người hầu hạ, nấu ăn, dọn dẹp và săn sóc cho mình. Đời sống ở Việt Nam thì tương đối đơn giản, thoải mái. Chi phí sống ở Việt Nam cũng thấp hơn sống ở Mỹ. Các món ăn hợp với khẩu vị, lại tươi tốt, giá cả rẻ hơn ở Mỹ. Nói tóm lại, nếu được về sống ở Việt Nam để gần gũi thân nhân, gia đình và quê hương thì còn gì bằng? Thế mà vấn đề không đơn giản như vậy.

2. Một số người muốn về Việt Nam vì những lý do sau:

Có một số ít người về Việt Nam để xây biệt thự để về hưởng thụ. Ở Mỹ, ai cũng phải làm việc quần quật như trâu bò cả ngày, không ai biết mình là ai. Nay về Việt Nam được người ta trọng vọng, nể vì bởi cái “mác” Việt kiều thì thích chí. Họ về Việt Nam để tự ái được thỏa mãn, cái tôi được vỗ về.

Một số khác để kiếm bồ bịch và hưởng lạc thú xác thịt. Đó là những sự thật trơ trẽn mà ai ai cũng biết.

Cũng có những kẻ chuyên lường gạt tiền bạc của người khác rồi đem tiền về Việt Nam đầu tư đất đai, nhà cửa và sống hưởng thụ và truỵ lạc trên mồ hôi, nước mắt và đồng tiền khó nhọc của kẻ khác. Khi chết, họ sẽ đối diện với những tội ác của họ. Gia đình tôi và một số bạn bè tôi là một trong những nạn nhân của hạng người này.

3. Những trường hợp thực tế có thật:

-Một vị linh mục trên 90 tuổi đã suy xét rất kỹ về việc nên về Việt Nam sống và chết hay nên ở lại Mỹ. Kết cuộc, ngài chọn xin vào sống dưỡng lão trong Dòng Đồng Công ở Mỹ mà không về sống ở Việt Nam.

-Nhiều bà cụ già sống độc thân, muốn về Việt Nam ở trong các tu viện và trả tiền chi phí ăn ở cho các nữ tu, để sớm hôm được dự Thánh lễ. Lúc sống hy vọng có các nữ tu đùm bọc, lúc hấp hối hy vọng có người lo cho phần rỗi linh hồn, nhưng rốt cuộc, các bà không thể về sống ở Việt Nam được, vì một số nữ tu không nhận nuôi các bà, dù cho các bà có trả tiền đi nữa.

-Khi gia đình tôi về thăm Việt Nam, mẹ chúng tôi có ý định về dưỡng già ở Việt Nam nên chúng tôi đi tìm một dòng tu nữ để xin trả tiền cho mẹ tôi được về Việt Nam sống trong tu viện, nhưng bà bề trên nói rằng họ không thể cho bà ở trong tu viện của họ vì Dòng họ không có dòng Ba (dành cho giáo dân), và vì họ sợ sống chung đụng mất lòng.

-Còn một dòng tu khác thì cho giá cả là 100USD tiền thuê phòng, chưa kể tiền cơm nước và công thuê người giúp việc để săn sóc cho bà. Căn phòng quá nhỏ và thiếu tiện nghi tối thiểu. Đi thăm Việt Nam lần ấy về, mẹ tôi bỏ ngay ý định: ”Ta về ta tắm ao ta” ngay. Thực tế nói nhiều hơn là trí tưởng tượng!

-Một lần khác, chúng tôi lại đưa mẹ tôi ra Huế. Bà lại có ý định ở lại trong một dòng tu nữ ở Huế. Lần ấy, các nữ tu cho gia đình chúng tôi ở trong những phòng chật chội và nóng bức, thiếu những tiện nghi vệ sinh tối thiểu. Một phòng có đến 4, 5 chiếc giường lát gỗ. Nắng rọi vào phòng nóng như thiêu như đốt, mà phòng không có lấy một cái quạt máy. Mẹ tôi nhìn thấy thực tế mà tỉnh mộng. Gia đình chúng tôi vội vàng thuê khách sạn ở ngay, và không ai đề cập gì thêm đến chuyện về sống ở Việt Nam nữa.

-Có hai vợ chồng cụ già ở Úc với con cháu nhưng hai cụ nằng nặc đòi về Việt Nam sinh sống với người con nuôi. Mặc dù các con của hai cụ ngăn cản chuyện hai cụ về lại Việt Nam , nhưng không giữ hai cụ được. Cuối cùng, họ gửi tiền về Việt Nam cho người con nuôi chăm sóc cho hai cụ, nhưng người con nuôi ở Việt Nam đã đối xử rất tồi tệ với hai cụ. Thậm chí, họ lấy dây cột trói hai cụ lại, rồi chụp hình gửi sang cho các con ruột của hai cụ để đòi tiền thêm. Các con ruột của hai cụ nóng ruột, đi về lo cho cha mẹ trở lại Úc, nhưng giấy tờ di trú đã hết hạn nên hai cụ không thể trở lại Úc được. Cụ ông buồn và chết, còn cụ bà thì đau khổ vì đã chọn lầm và lựa sai. Đây là một bài học cho những người già không chịu an phận ở với con cháu.

-Có hai cụ cố là cha mẹ của một vị linh mục. Hai cụ cố chỉ muốn về lại Việt Nam . Khi ra phi trường, hai cụ “cay cú” xé hết giấy tờ di trú vì không còn muốn ở Mỹ nữa. Về Việt Nam được khoảng 6 tháng, hai cụ chịu không được, muốn trở lại Mỹ thì không còn giấy tờ di trú nữa. Thành ra tội nghiệp cho người con linh mục phải lặn lội về lại Việt Nam chạy chọt giấy tờ để đưa cha mẹ trở về Mỹ.

4. Các lý do mà Việt Kiều không muốn về sống luôn ở Việt Nam :

Có nhiều lý do mà người Việt Kiều không muốn về sống luôn ở Việt Nam . Sau đây chỉ là một số lý do tại sao người ta không về sống ở Việt Nam :

- Điều kiện an ninh chưa tốt, còn có những sự khó khăn và không hoàn toàn tự do. Nay người này đến kiếm chuyện, mai người kia đến khám xét.

- Khi hậu Việt Nam quá khắc nghiệt, nắng và nóng nực hơn 30 năm về trước nhiều. Đã nóng lại còn ẩm ướt, làm cho con người không được thoải mái.

- Ô nhiễm môi sinh: đường đi không tốt, ổ gà, bụi bặm, đầy khói xe, đông người chen chúc, ồn ào, kẹt xe… Ở Sàigòn, không có một con đường nào là yên tĩnh và nên thơ để hít thở chút không khí trong lành. Như vậy con người dễ bị theo đường hô hấp, bịnh phổi, bịnh lao.

- Cách nấu ăn và thức uống không hợp vệ sinh. Đã có trường hợp rượu đế có pha thuốc rầy làm cho nhiều người chết. Rồi nạn bánh phở có chất độc cho bánh dai, làm người ăn chết oan. Nguồn nước uống không trong lành. Người ở Mỹ về thường bị đau bụng tiêu chảy, và bị ngứa ngáy khắp cơ thể.

- Cách lái xe của các tài xế quá ẩu, không có sự an toàn. Họ đã nhiều lần lái xe lấn áp những người lái xe gắn máy cho đến khi người ta té ngã hay chết. Trong thân nhân tôi, có trường hợp một phụ nữ có thai bị chết oan cả hai mẹ con vì bị tái xế xe hàng ép té bể đầu. Bản thân chúng tôi thuê xe đi mà tài xế suýt đụng xe mấy lần. Tại sao mình lại dại dột giao mạng sống mình cho những kẻ mình không biết gì về họ?

- Bước chân ra là tốn đủ mọi thứ tiền: Tiền di chuyển, tiền xe taxi, tiền tiêu, tiền tặng, và nhiều chi phí khác. Trong khi ở Mỹ, ngoài hai bữa cơm, không tốn tiền xe cộ, và không tốn những món tiền không cần thiết khác.

- Nạn hối lộ và đút lót làm cho hệ thống hành chánh thối nát và chậm chạp.

- Điều kiện chữa trị y tế chắc chắn là thua xa Hoa Kỳ. Hoa Kỳ có hệ thống y tế tiến bộ nhất thế giới. Khi về già thì hay sinh ra nhiều bịnh. Tại sao lại chọn cái xấu mà chê cái tốt, khi càng già càng mang nhiều bịnh? Đó là chưa kể khi mình bị bịnh nặng, lại mang danh là Việt kiều, liệu các nhân viên y tế có hết lòng chăm lo cho Việt kiều hay là để cho mình chết cho mau?

- Lối sống, lối suy nghĩ và mọi sinh hoạt khác biệt giữa hai nền văn hoá, khiến cho người Việt kiều đôi lúc có cảm tưởng mình là kẻ xa lạ trên chính quê hương của mình.

- Điều quan trọng nhất là: những người già ở Mỹ có tiền trợ cấp xã hội, một tháng cũng gần 900USD. Nếu các ông bà này ra khỏi Mỹ trên 29 ngày là bị chính quyền cắt viện trợ ngay.

Vậy khi về ở luôn ở Việt Nam là xem như quý vị không còn tiền trợ cấp xã hội nữa. Liệu có ai hầu hạ và chăm sóc không công cho một người già không tiền hay không?

-Quý vị thử đến thăm thân nhân hay ngay cả các tu sĩ mà không tặng họ tiền, thì sẽ thấy ngay phản ứng của họ. Thử tưởng tượng mình đem thân xác bịnh tật về Việt Nam mà không có tiền, liệu còn tình nghĩa gì không?


5. Giải pháp tốt nhất:

Nếu quý vị không muốn sống với các con cháu vì họ đi làm, đi học suốt ngày, không có giờ để săn sóc cho quý vị, thì xin hãy vào trong các viện dưỡng lão có đông người Việt Nam ở California. Chúng tôi đã từng đi thăm nhiều viện dưỡng lão. Tại đó có Thánh lễ hàng tuần và có các Thừa Tác Viên Thánh Thể kiệu Mình Thánh Chúa đến cho quý vị hàng ngày.

-Nếu các cụ theo đạo Phật thì cũng có các vị thượng toạ đến tụng kinh và cầu siêu cho các cụ còn sống cũng như đã qua đời.

-Ngoài ra còn có những hội đoàn đến thăm viếng, an ủi, và giúp vui cho quý vị. Các cụ thường tụ tập đọc kinh và cầu nguyện chung. Các con cháu thường đến thăm viếng các cụ bất cứ lúc nào. Chúng tôi đã phỏng vấn một số cụ già, cả nam lẫn nữ. Họ rất vui khi ở trong các viện dưỡng lão này.

6. Kết luận:

Vì thế, nhiều người kết luận rằng: Họ chỉ về thăm quê hương và giúp đỡ người nghèo và tàn tật, chứ không về ở luôn tại Việt Nam . Những ông bà cụ có con cháu còn ở lại Việt Nam thì họ về thăm cho đỡ nhớ, rồi sau đó, họ cũng trở lại Hoa Kỳ vì nhiều lý do tế nhị khác mà không thể nói ra hết được.

Tốt hơn hết, mình nên sống ở Hoa Kỳ. Con cháu mình ở đâu thi gia đình mình ở đấy. Nhà mình ở đâu thì tổ ấm ở nơi đấy. Có thương dân nghèo, thương quê hương thì về thăm và giúp đỡ.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Dậy Mà Đi

Một Video Clip Chúng Ta cần Phải Xem Cho Thấy Được Sức Mạnh Của Sự Đoàn Kết.
Chúng Ta cần Đoàn Kết để xoá tan mọi bất công , bóc lột , cướp của , giết người của bọn tay sai bán nước Việt Cộng đang đày đoạ nhân dân ta .



Post Reply