Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tập Cận Bình-Trương Tấn Sang xác định 'hợp tác toàn diện' Trung-Việt là một
Võ Long Triều


Sau khi Chủ Tịch Tập Cận Bình thảo luận với Tổng Thống Barack Obama về những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc và Hoa Kỳ
tại Palm Springs ngày 7 tháng 6, 2013, về nước ông Tập mời Chủ Tịch Việt Nam Trương Tấn Sang qua Bắc Kinh ngày 19 tháng 6, 2013,
có lẽ để ông chứng tỏ cho Mỹ và thế giới thấy việc tranh chấp chủ quyền ở Biển Ðông thực tế do ông bố trí và xếp đặt.

Image
Chủ Tịch Tập Cận Bình (trái) và Chủ Tịch Trương Tấn Sang duyệt hàng quân danh dự tại Bắc Kinh, Trung Quốc.
(Hình: Mark Ralston/AFP/Getty Images)

Trong khi Mỹ xác định lập trường không đứng về phía nào trong vụ tranh chấp này, Tổng Thống Obama có nhắc khéo là Hoa Kỳ đã ký thỏa ước quân sự với Nhật Bản và Philippines, do đó Bắc Kinh sẽ phải dè chừng.

Trước khi hội đàm với chủ tịch Trung Quốc, báo chí Bắc Kinh xin ông Trương Tấn Sang cho biết ý kiến về việc xử trí và giải quyết những vấn đề trên Biển Ðông với Trung Quốc như thế nào?

Ông Sang trả lời: “Việt Nam hết sức coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với đảng và nhân dân Trung Quốc, coi đây là chính sách cơ bản, nhất quán, lâu dài và ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.” Chủ Tịch Trương Tấn Sang cũng không quên đọc câu “thần chú” mà tất cả lãnh đạo Việt Nam cũng như Trung Quốc giáo đầu mỗi khi gặp nhau: “Tình hữu nghị Việt Trung là tài sản chung vô cùng quí giá của nhân dân hai nước do các thế hệ lãnh đạo tiền bối đã dày công vun đắp. Chúng ta đều có trách nhiệm giữ gìn, kế thừa và phát huy.”

Về phía mình ông Tập Cận Bình nhiệt liệt chào mừng Chủ Tịch Trương Tấn Sang, đồng thời khẳng định Trung Quốc coi trọng quan hệ hợp tác hữu nghị với Việt Nam, ông cũng nhấn mạnh: “Truyền thống hợp tác hữu nghị do các bậc lãnh đạo tiền bối hai nước dày công vun đắp là tài sản chung quí báu của hai đảng và hai nước, hai bên cần kế thừa và phát huy.” Ông Tập còn giải thích thêm: “Phải lấy đại cuộc quan hệ hai nước làm trọng, xuất phát từ tầm cao chiến lược và toàn diện, dưới sự chỉ đạo của phương châm láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, và tinh thần của láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt. Chúng ta phải kiên trì hiệp thương hữu nghị, xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển, làm cho Biển Ðông trở thành hòa bình hữu nghị, phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc.”

Phải hiểu rằng hai chữ “toàn diện” có nghĩa là các vấn đề quân sự, ngoại giao, kinh tế, an ninh xã hội, vân vân... đều do bạn bè tốt, đồng chí tốt cùng giải quyết với nhau. Trong điều kiện nào? Từ xưa đến nay Việt Nam thấy rõ quan thầy Trung Quốc đã chứng minh sự hợp tác toàn diện giữa hai bạn bè tốt như thế nào rồi, đó là biển đảo của Việt Nam do Trung Quốc độc chiếm và ngang ngược quản trị. Cái tình hữu nghị và hợp tác toàn diện đó nằm gọn trong 16 chữ vàng mà Chủ Tịch Giang Trạch Dân nhân chuyến viếng thăm Việt Nam tháng 11 năm 1994, đã phát ra bài học cho Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu thuộc nằm lòng và đồng ý ký bản tuyên bố chung tháng 2 năm 1999.

Tháng 11 năm 2000, Giang Trạch Dân giải thích thật cặn kẽ và chi tiết cho Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh về ý nghĩa của 16 chữ vàng. Thêm vào đó nhân chuyến sang viếng Việt Nam năm 2002, Giang Trạch Dân còn chế biến thêm 4 cái tốt. Từ đó trở đi mỗi lần các nhà lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc gặp nhau thì hai bên đều lập lại câu “thần chú” 16+4, khẳng định Trung Quốc Việt Nam là một. Cho nên điều đó giải thích tại sao Trung Quốc bắn giết ngư phủ Việt Nam hay cắt dây cáp tàu khảo sát dầu khí mà Việt Nam giả vờ làm ngơ, chỉ xin Bắc Kinh đừng hành động lố lăng như vậy nữa. Bên Việt Nam vì há miệng mắc quai, bên Trung Quốc tin chắc đối tác phải khuất phục, vì được hứa sẽ bảo trợ quyền cai trị lâu dài, đã nhận tiền tài, đã được mỹ nhân hầu hạ chu đáo.

Trước khi ông Tập Cận Bình gặp Tổng Thống Obama, Trung Quốc đã cho đại diện của mình, Tướng Thích Kiến Quốc, phó tổng tham mưu trưởng Quân Ðội Nhân Dân, tuyên bố tại Shangri-La ngày 2 tháng 6, 2013: “Trung Quốc quyết tâm bảo vệ những lợi ích quốc gia ‘cốt lõi’ sẽ không bao giờ thay đổi.” Ngày 5 tháng 6, 2013 trong cuộc đối thoại chiến lược quốc phòng lần thứ 4, thứ trưởng Quốc Phòng Việt Nam, Nguyễn Chí Vịnh đề nghị “ký thỏa thuận không sử dụng vũ lực trên biển giữa hải quân hai nước,” Thích Kiến Quốc từ chối thẳng thừng, ông nói “sẽ nghiên cứu”! Ba chữ cộc lốc “sẽ nghiên cứu” bao hàm ý nghĩa đe dọa, tiềm ẩn trong quá khứ, hiện tại và tương lai cho nên Hà Nội không khi nào dám cưỡng kháng từ bao nhiêu năm qua. Tàu “lạ” đâm chìm ngư thuyền, đánh giết ngư phủ Việt Nam, hàng trăm tàu đánh cá Trung Cộng tự do đánh bắt trong hải phận đúng ra là của Việt Nam, Hà Nội giả dạng như không có binh chủng hải quân, hải giám. Dân chúng bất bình biểu tình chống Trung Quốc xâm lăng bị đàn áp, đánh đập dã man, bắt giam bỏ tù dài hạn! Theo lệnh của ai? Nếu không phải là do Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của giới lãnh đạo cao cấp thay mặt đảng, sang Trung Quốc tháng 6 năm 2001, lãnh lệnh “phải điều hướng dư luận trong nước”! Hồ Xuân Sơn “nhất trí đồng thuận” 3 điểm: Một là giải quyết song phương về việc tranh chấp ở Biển Ðông. Hai là thi hành định hướng dư luận trong xứ. Ba là công nhận công hàm của Phạm Văn Ðồng năm 1958. Bí mật này Bộ Ngoại Giao giữ kín cho đến khi trí thức quân nhân cộng sản cao cấp nhất quyết đòi gặp giới lãnh đạo Bộ Ngoại Giao chất vấn thì sự thật mới được tiết lộ.

Kết quả: Ngày 30 tháng 6, 2011, Tướng Mã Hiếu Thiên, phó tổng tham mưu Quân Ðội Trung Quốc, đến Việt Nam chỉ thị cho Hà Nội “xử lý đích đáng và hướng dẫn tình cảm nhân dân đúng đắn, không để biểu tình chống bạn bè tốt, không đa phương hóa và quốc tế hóa vấn đề Biển Ðông.” Ngày 28 tháng 8, 2011, Nguyễn Chí Vịnh - Thứ trưởng Quốc Phòng cam kết với Thượng Tướng Mã Hiếu Thiên: “Việt Nam kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người, không để sự việc tái diễn.” Ngày 14 tháng 9, 2011, Trung Tướng Ngô Xuân Lịch hướng dẫn phái đoàn sang Trung Quốc cam kết với Tập Cận Bình, khi ấy là phó chủ tịch, nguyên văn nội dung lời hứa của Nguyễn Chí Vịnh. Ông Tập khuyên Việt Nam nên theo đuổi những gì đã thỏa thuận.

Ðể bù đắp lại những “cái gọi là” thảo luận và đồng thuận nhưng thực tế chỉ là những ép buộc bao quanh các từ ngữ “đôi bên cùng có lợi,” Trung Quốc hứa cung cấp cho Việt Nam khoản tín dụng ưu đãi trị giá 320 triệu Nhân dân tệ cho hệ thống thông tin đường sắt. Cho vay ưu đãi cho dự án nhà máy đạm than Ninh Bình trị giá 45 triệu Mỹ kim.

Có thể mượn lời của Tiến Sĩ Ian Story, chuyên gia về an ninh Châu Á, để kết luận cuộc hội đàm giữa Tập Cận Bình và Trương Tấn Sang như sau, ông Story nói với BBC từ Singapore rằng: “Triển vọng có được một giải pháp chính trị hay pháp lý đối với sự tranh chấp ở Biển Ðông khó thành đạt, bởi vì mưu đồ phải chiếm Biển Ðông để thỏa mãn nhu cầu công kỹ nghệ đang lên, và ý đồ bành trướng vì nhu cầu của Trung Quốc không hề thay đổi.”

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image


Thư ngỏ về việc Đại học Thammasat
trao bằng Tiến sĩ danh dự lãnh đạo đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng
Ngày: 24 tháng 6 năm 2013
Gửi đến: Phân Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Thammasat


Thư ngỏ về việc Đại học Thammasat trao bằng Tiến sĩ danh dự lãnh đạo đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng

Kính thưa quý ngài,

Chúng tôi viết thư này để bày tỏ mối quan ngại của chúng tôi về việc phân khoa Khoa học Chính trị của đại học Thammasat sẽ cấp bằng tiến sĩ danh dự cho ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (VCP). Lễ trao giải sẽ diễn ra tại giảng đường chính của Đại học Thammasat vào sáng ngày 26 tháng 6 năm 2013.

Chúng tôi tin rằng cần phải xét lại quyết định này của phân khoa.

Một trong những sứ mệnh của Đại học Thammasat là “nhấn mạnh những lợi ích của đời sống dựa vào triết lý của một nền kinh tế đầy đủ, giá trị dân chủ và công bằng xã hội.”Chúng tôi đặt câu hỏi rằng liệu việc cấp bằng tiến sĩ danh dự cho ông Nguyễn Phú Trọng góp phần gì vào sứ mệnh này của trường.

Ông Nguyễn Phú Trọng, sinh năm 1944, tốt nghiệp cử nhân văn chương. Năm 1967 ông trở thành đảng viên Đảng Cộng sản cầm quyền và từ đó đã liên tục được thăng chức trong hệ thống quyền lực của đảng và chính phủ. Ông từng là Bí thư Thành ủy Hà Nội trước khi được bổ nhiệm làm Chủ tịch Quốc hội của Việt Nam vào năm 2006 và Tổng bí thư của đảng vào năm 2011.

Đảng của ông, từ khi thành lập vào năm 1930, đã luôn luôn theo đuổi chủ nghĩa cộng sản và sử dụng chiến thuật bạo lực để đạt được quyền lực. Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1975, đảng cộng sản lên nắm quyền bằng vũ lực và áp đặt độc quyền chính trị lên toàn bộ dân tộc Việt Nam. Trong những năm sau chiến tranh, đảng đã áp dụng các chính sách tàn bạo đối với những người của chế độ cũ ở miền Nam Việt Nam, ngăn chặn hòa giải dân tộc, đàn áp đối lập chính trị và biến Việt Nam thành một trong những quốc gia bị đàn áp nhất trên thế giới, theo nhiều báo cáo của các tổ chức quốc tế nhân quyền như Tổ chức Theo dõi Nhân Quyền, Phóng Viên Không Biên Giới, Tổ chức Ân xá Quốc tế…

Chỉ đến khi nền kinh tế và đời sống người dân bị xuống cấp nghiêm trọng thì ĐCSVN mới phải bắt đầu thực hiện chính sách Đổi Mới (một bản sao tiếng Việt của Perestroika từ Liên Sô) vào giữa năm 1980. Kể từ đó, nền kinh tế quốc gia đã đạt được sự tăng trưởng và đôi khi Việt Nam được xem như một con hổ mới trong khu vực.

Tuy nhiên, đảng cộng sản đã trì hoãn mọi cải cách chính trị và gia tăng đàn áp mỗi khi đảng cảm thấy có những khát vọng về dân chủ và tự do của người dân trong thời đại toàn cầu hóa. Trong vài năm gần đây, do suy thoái kinh tế tồi tệ nhất kể từ năm 1986 và sự căng thẳng leo thang với Trung Quốc liên quan đến tranh chấp chủ quyền trên biển, Việt Nam đã có những điểm xấu tồi tệ trong các bảng đánh giá về những hành vi vi phạm nhân quyền với hàng trăm vụ đàn áp các cuộc biểu tình ôn hòa, giam giữ tùy tiện và kết án tù nặng nề đối với những người bất đồng chính kiến ​​và các nhà hoạt động nhân quyền.

Như một tuyên truyền viên, ông Nguyễn Phú Trọng đã luôn luôn trung thành với đảng Cộng sản, một đảng luôn duy trì độc quyền chính trị cho lợi ích của mình. Bây giờ, trong vị trí lãnh đạo đảng, ông là một trong những kẻ bảo thủ nhất, bám vào hệ tư tưởng lỗi thời của chủ nghĩa cộng sản và phủ nhận những cơ hội cần thiết để đất nước phát triển và thịnh vượng.

Để đánh lạc hướng công chúng khỏi sự chú trọng vào suy thoái kinh tế, chất lượng cuộc sống xuống cấp, thiếu vắng nhân quyền và dân quyền, đảng cộng sản đã tung ra chiến dịch cải cách hiến pháp như là một nỗ lực “dân chủ hóa” quốc gia qua việc cho phép người dân góp ý. Mặc dù mục đích được tuyên bố là “thể chế hoá kịp thời đường lối, các chủ trương, chính sách lớn của Đảng”, và “Khẳng định sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam”, một số blogger Việt Nam đã lên tiếng về dân chủ và quyền tự do và những gì mà nội dung của hiến pháp nên có. Đáp ứng với thiện chí của các blogger và việc hành xử các quyền dân sự và chính trị của họ, ông Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố trong một cuộc họp vào ngày 25 Tháng Hai 2013: “Ai muốn đa nguyên và đa đảng? Ai muốn tách rời quyền lực? Ai muốn phi chính trị hóa quân đội?… Đây không gì khác ngoài sự suy thoái! Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể… thì nó là cái gì?! “

Phát biểu của ông đã được phát sóng trên truyền hình quốc gia và khuấy động một làn sóng phản đối công khai trong thế giới blog và cộng đồng Facebook. Sáng hôm sau, nhà báo Nguyễn Đắc Kiên viết một bài báo công khai chỉ trích ông Trọng. Ngay chiều hôm đó, ông Kiên đã bị sa thải.

Kể từ đó ĐCSVN đã không ngừng đàn áp thành phần đối kháng. Tháng 5 năm 2013, một nữ sinh viên 21 tuổi và người bạn 25 tuổi của cô đã bị kết án 6 và 8 năm tù về tội “tuyên truyền chống nhà nước” khi họ kêu gọi nhà nước bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Trung Quốc bành trướng. Tình hình trở nên tồi tệ hơn khi trong vòng chưa đầy một tháng, hai blogger nổi tiếng đã bị bắt giữ và bị buộc tội “lạm dụng tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của nhà nước”. Một blogger khác, cũng là một luật sư và nhà hoạt động pháp lý, sẽ phải ra tòa vào ngày 09 tháng Bảy 2013.

Chúng tôi tự hỏi, từ đâu Việt Nam trở thành một đất nước phải sống dưới một chế độ hà khắc như vậy.

Hôm nay, chúng tôi kinh hoàng khi tin Đại học Thammasat sẽ cấp bằng Tiến sĩ danh dự cho ông Nguyễn Phú Trọng, một người chắc chắn phải chịu trách nhiệm cho việc gia tăng đàn áp nhân quyền trong một quốc gia bị sự cai trị hà khắc của một đảng cầm quyền duy nhất mà ông ta là người đứng đầu lãnh đạo.

Làm sao một người như ông Nguyễn Phú Trọng lại có thể được tôn vinh bởi một trong những trường đại học lâu đời nhất ở Thái Lan, nơi đã giáo dục và cổ vũ sinh viên “nhấn mạnh những lợi ích của việc sống theo triết lý của nền kinh tế đầy đủ, giá trị dân chủ và công bằng xã hội.”?

Chúng tôi quan ngại rằng việc Đại học Thammasat trao bằng tiến sĩ danh dự cho ông Nguyễn Phú Trọng sẽ được xem như là một hỗ trợ cho một chính trị gia đã có lời nói và hành động đi ngược lại với quyền con người và các giá trị dân chủ, và trường đại học có thể bị hiểu nhầm là đã ủng hộ những kẻ cầm quyền độc tài và chuyên đàn áp.

Dựa vào những triết lý cũng như các giá trị mà Đại học Thammasat tạo dựng nên, chúng tôi kêu gọi hiệu trưởng và các trưởng khoa của trường thay đổi quyết định cấp bằng tiến sĩ danh dự cho ông Nguyễn Phú Trọng.

Đồng ký tên:

Danlambao - danlambaovn.blogspot.com
Voice - vietnamvoice.org
Dân Luận - danluan.org
Finnish Asiatic Society, Finland
Sarawak Dayak Iban Association, Malaysia
The Go Island Foundation, Indonesia
Think Center, Singapore
Housing Rights Task Force, Cambodia
Bernice Aquino See, Human Rights Defenders, the Philippines
Jittra Kotchadej, Try Arm, Coordinator, Thailand

Jolovan Wham, Work Fair, Singapore
Jerald Joseph, Pusat Komas, Malaysia
William Nicholas Gomes, Salem-News.com, United Kingdom

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Image

Ông Tổng bí thư của đảng CSVN
lấy tư cách gì để ký Tuyên Bố Chung giữa 2 quốc gia Việt Nam và Thái Lan?

Dân Làm Báo - Trong chuyến đi Thái Lan, ông Nguyễn Phú Trọng - Tổng bí thư của đảng CSVN đã ký một tuyên bố chung Việt Nam - Thái Lan trong đó bao gồm nhiều cam kết giữa 2 quốc gia trên các lãnh vực quan hệ chính trị, hợp tác quốc phòng, an ninh, kinh tế, xã hội, văn hóa, khu vực và quốc tế.

Trong Hiến pháp hiện thời của nước CHXHCNVN, không một điều nào quy định tổng bí thư một đảng có trách nhiệm và quyền hạn để thực hiện việc này.

Toàn chương VII, điều 101 Hiến pháp 1992 quy định Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Ông TBT đảng CS trong chuyến đi lãnh bằng Ts Thammasat (nhờ vào sự vận động trước đó của Bộ Ngoại giao) đã ngồi nhầm vào ghế của ông Trương Tấn Sang, lạm quyền Chủ tịch nước và vi phạm hiến pháp quốc gia khi ký bản Tuyên bố chung Việt-Thái.

Tổng Bí Thư - người đứng đầu của một đảng duy nhất luôn tự phong và giành lấy vai trò lãnh đạo muôn năm của đất nước đã ngồi xổm lên Hiến pháp, xem Hiến pháp như mớ giấy vụn thì liệu Hiến pháp này có còn giá trị gì để là văn bản chính trị cao nhất của đất nước mà nhà nước Việt Nam đã và đang tiêu tiền thuế của nhân dân kêu gọi cả nước góp ý, xây dựng?

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Văn kiện đầu hàng

Bùi Tín (Blog VOA)
Chưa bao giờ có sự đầu hàng nhanh chóng và nhục nhã đến như vậy.

Nhân danh chủ tịch nước, ông Trương Tấn Sang, đã dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang thăm chính thức Trung Quốc. Ngày 21 tháng 6 ông đã ký với chủ tịch nước kiêm tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc, Tập Cận Bình, bản tuyên bố chung rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến vận mệnh nước ta.

Bản tuyên bố chung bằng hai thứ tiếng Trung Quốc và Việt Nam này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác và phố biến đi khắp thế giới.
Mọi người Việt Nam yêu nước không thể không bàng hoàng và phẫn nộ khi đọc kỹ văn kiện nói trên, không thể không nhận định đây là một văn kiện tuyên bố đầu hàng bọn bành trướng và xâm lược phương Bắc.

Chắn chắn cả Bộ Chính Trị 16 người đã được thông báo và đồng tình với bản tuyên bố chung (TBC) thảm hại này.

Ðọc thật kỹ bản TBC, có thể dễ dàng nhận ra nó được phía Trung Quốc khởi thảo và phía Việt Nam hoàn toàn không được đóng góp hay thay đổi gì hết. Bản TBC hoàn toàn phản ánh tham vọng bành trướng và xâm lược của đế quốc Cộng sản Ðại Hán Trung Hoa đối với đất nước Việt Nam, phục vụ dã tâm biến nhà nước Việt Nam Cộng Sản thành một chư hầu của Trung Quốc, biến Việt Nam thành một thuộc địa kiểu mới của Trung Quốc, với sự tiếp tay của nhóm lãnh đạo Cộng Sản bất tài và tham nhũng đã thoái hóa đến cùng cực.

Kính mời đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài, kể cả các đảng viên Cộng Sản, hãy đọc cho kỹ bản TBC ký chưa ráo mực này.

Ngoài bản TBC dài lòng thòng gồm có 8 điểm, trong đó riêng điểm 3 chứa đựng đến 13 mục quan hệ hợp tác vừa mở rộng vừa ăn sâu, 2 bên còn ký đến 10 văn kiện khác, trong đó có Chương trình hoạt động chung của chính phủ 2 nước, Thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện giữa bộ quốc phòng 2 nước, Thỏa thuận giữa 2 bộ nông nghiệp về đường dây nóng trong nghề đánh cá trên biển, về giám sát chất lượng, kiểm dịch thực vật, Ðiều lệ hợp tác quản lý cửa khẩu trên đất liền, Ghi nhớ về xây dựng các trung tâm văn hóa Việt-Trung, Quan hệ giữa các tổ chức hữu nghị, Hợp tác trong thăm dò dầu khí ngoài khơi vịnh Bắc bộ, v.v...

Trong 13 mục quan hệ mở rộng và ăn sâu, sau khi khẳng định phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt, TBC kể ra một loạt thỏa thuận: Thường xuyên tiếp xúc ở cấp cao đảng, chính phủ, hoạt động của ủy ban chỉ đạo hợp tác chiến lược toàn diện song phương, quan hệ chặt chẽ giữa 2 đảng, 2 ban đối ngoại, 2 ban tuyên huấn, về nghiên cứu lý luận, về xây dựng đảng, quan hệ giữa 2 bộ ngoại giao, giữa các vụ, cục trong 2 bộ ngoại giao, quan hệ giữa 2 quân đội, 2 bộ Quốc phòng, trao đổi về công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội, trong đào tạo s? quan, trong tuần tra chung ở vùng biên phòng đất liền, hợp tác về thực thi pháp luật, an ninh, về trật tự an toàn xã hội, về an ninh biên giới và cảnh sát biển, thực hiện kế hoạch 2 hành lang 1 vành đai vùng biên giới, hợp tác về năng lượng, giao thông vận tải, đầu tư kinh doanh, hợp tác về văn hóa, khoa học, công nghiệp và thông tin...

Bản TBC còn nhấn mạnh đến mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa 7 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam với 3 tỉnh biên giới phía Nam Trung Quốc - Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Ðông - và đảo Hải Nam.

TBC cũng nói đến hợp tác của Ủy Ban Liên Hợp Biên Giới Việt-Trung để tàu thuyền đi lại tự do trong khu Bắc Luân, hợp tác khai thác du lịch thác Bản Giốc, và cũng không quên nói đến hợp tác đánh cá chung trong vịnh Bắc bộ.

Ðọc kỹ các văn bản, có cảm giác như Việt Nam đã hội nhập vào trong lòng Trung Quốc. Tuy 2 mà một. Hòa nhập triệt để về mọi mặt, đặc biệt là về quốc phòng, về đối ngoại, về an ninh, trị an xã hội, về đảng, nhà nước, về quân đội, về công tác đảng, bảo vệ đảng, bảo vệ quân đội. Cứ như ở thời kỳ quan hệ anh em đồng chí bền chặt nhất vậy.

Ðây phải chăng là một cạm bẫy do nhóm lãnh đạo mới của đảng CS Trung Quốc, với Tập Cận Bình cầm đầu, giăng ra để nhử Trương Tấn Sang chui vào tròng. Chiếc bẫy này chắc chắn đã được chuẩn bị rất công phu, và buộc Trương Tấn Sang phải cúi đầu chấp nhận cả gói, không sửa đổi du di gì được dù một ly.

Không hề có một chữ nào về Hoàng Sa, Trường Sa là đất Việt Nam bị cưỡng chiếm bằng vũ lực. Không một yêu cầu nào về việc bảo vệ tính mạng tài sản của ngư dân Vi?t Nam trong vùng biển quốc gia của mình. Không một lời bác bỏ nào đối với cái lưỡi bò phạm pháp trên bản đồ Trung Quốc. Chủ quyền quốc gia đã bị hoàn toàn từ bỏ. Lũ giặc bành trướng được coi là bạn bè thân thiết nhất, là đồng chí tin cậy nhất, còn hơn anh em ruột thịt.

Ðây có thể là phản ứng có tính toán của nhóm Tập Cận Bình đối với lời lên án của Việt Nam tại cuộc họp Shangri La ở Singapore cuối tháng 5 vừa qua. Tuy chỉ là lời nói bóng gió, không nêu đích danh, nhưng cũng đủ để bị chạm nọc, để mất mặt giữa trường quốc tế và để nổi tự ái giận dữ. Ðó là câu của Thủ Tướng Ba Dũng: “Ðâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền”. Ðã nhún nhường, nói xa xôi, nhưng vẫn cay đắng, vì bọn trùm bành trướng luôn kiêu ngạo, tự cao tự đại, tự coi là yêng hùng trong thiên hạ.

Trung Nam Hải gần đây tỏ ra rất lo ngại khi trí thức và tuổi trẻ Việt Nam cũng như một số đảng viên CS lão thành tỏ rõ ý muốn Việt Nam liên minh quân sự với Hoa Kỳ, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Liên Âu... trước mối đại họa bành trướng Trung Quốc.
Cũng có thể đây là một tính toán thâm độc của Trung Nam Hải, nhưng cũng có thể là một tính toán sai lầm trong cơn hoảng hốt. Họ không tính rằng sự lộ mặt quá lộ liễu là ông chủ của 16 ông vua tập thể ở Ba Ðình là dại dột và nguy hiểm cho họ ra sao. Nước cờ này sẽ đẩy đảng Cộng Sản Việt Nam đang núng thế thụt sâu thêm xuống hố suy thoái, bị lên án mạnh thêm là bán nước cầu lợi riêng, chia rẽ thêm nhóm lãnh đạo vốn đã hiềm khích nhau, kích thích mạnh thêm các cuộc xuống đường quyết liệt chống bành trướng và tay sai của đồng bào ta.

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Image

Thì ra là để các đồng chí "đảng... nó" sắp xếp lại chỗ ngồi!

Kết quả bỏ phiếu tín nhiệm là thông tin quan trọng để sắp xếp cán bộ

Hương Nguyên

(NDĐT) - Đó là phát biểu của ông Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội trong phiên khai mạc kỳ họp thứ 7 HĐND TP Hà Nội khóa XIV diễn ra sáng nay 1-7.

Xem xét quyết nghị 11 cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô

Phát biểu khai mạc kỳ họp, bà Ngô Thị Doãn Thanh, Chủ tịch HĐND TP Hà Nội nhấn mạnh: kinh tế thủ đô sáu tháng qua đã đạt mức tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trên địa bàn ước tăng 7,67%, lạm phát được kiểm soát ở mức 5,7% thấp hơn so với cùng kỳ, thị trường ổn định.

Công tác quy hoạch được triển khai tích cực. Các công trình hạ tầng giao thông được tập trung chỉ đạo quyết liệt, đẩy nhanh tiến độ. Giao thông đô thị đã thoáng hơn, giảm thiểu ùn tắc trong nội đô.

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng thấp hơn cùng kỳ và kế hoạch năm, thu ngân sách đạt thấp bằng 38,8% dự toán, sản xuất kinh doanh tiếp tục gặp khó khăn; tiến độ triển khai một số dự án trọng điểm còn chậm. Tình trạng quá tải trong các bệnh viện, ô nhiễm môi trường… chậm được khắc phục.

Tại kỳ họp này, lần đầu tiên HĐND các cấp TP Hà Nội thực hiện quyền giám sát thông qua việc lấy phiếu tín nhiệm đối với 18 người giữ chức vụ do HĐND bầu.

Chủ tịch HĐND TP Hà Nội cho rằng, việc lấy phiếu tín nhiệm không chỉ là thước đo đối với người được HĐND bầu mà còn là thước đo tinh thần xây dựng, sự nghiêm túc và trách nhiệm của các đại biểu HĐND TP.

Kết quả của sự tín nhiệm sẽ là sự ghi nhận, động viên, khích lệ kịp thời; đồng thời là sự nhắc nhở, lưu ý đối với từng người, để điều chỉnh, khắc phục những hạn chế trong công tác chỉ đạo, điều hành, thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Cũng tại kỳ họp HĐND lần này, các đại biểu sẽ xem xét và quyết nghị 11 vấn đề thuộc thẩm quyền nhằm triển khai thi hành Luật Thủ đô như việc tăng danh hiệu công dân danh dự thủ đô, chính sách xung quanh việc xây dựng công trình văn hóa, trọng dụng nhân tài, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, biện pháp cải tạo, xây dựng các khu chung cư cũ, phục hồi nhà cổ, biệt thự cũ….

Phấn đấu không để “hụt” thu ngân sách

Thay mặt lãnh đạo Quốc hội, bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó chủ tịch Quốc hội cũng đánh giá cao những kết quả mà Hà Nội đã đạt được trong thời gian qua đồng thời nhấn mạnh những nhiệm vụ mà thủ đô cần quan tâm trong thời gian tới. Đó là tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị, các quy hoạch phát triển kinh tế -xã hội…

“Theo báo cáo của UBND TP Hà Nội thì khả năng “hụt” thu ngân sách của Hà Nội là rất lớn do đó TP cần cố gắng để không “hụt” thu gây ảnh hưởng đến cân đối ngân sách của thủ đô và cả nước”.

Hà Nội cũng cần chủ động sáng tạo tiếp tục đổi mới tư duy phong cách lãnh đạo theo tinh thần sâu sát, thiết thực, tránh việc chạy theo thành tích, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nêu cao trách nhiệm của các ngành, các cấp đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu.

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân cũng đề nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm các chức danh do HĐND bầu cần được tiến hành một cách công khai, công bằng. Các đại biểu HĐND cần giành thời gian đánh giá công tâm, thực chất kết quả thực hiện nhiệm vụ và phẩm chất chính trị đạo đức lối sống của người được lấy phiếu tín nhiệm. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm sẽ giúp cho người được lấy phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để tiếp tục phấn đấu rèn luyện từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND TP Hà nội.

Theo Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị, việc tổ chức lấy phiếu tín nhiệm là thử thách mà mỗi cán bộ được lấy phiếu tín nhiệm phải trải qua đồng thời cũng là cơ hội để họ hiểu rõ hơn uy tín của mình. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm là sự khích lệ với người có hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ, nhắc nhở kịp thời những người yếu kém phải hoàn thiện mình hơn nữa trong nhiệm vụ được giao.

“Kết quả tín nhiệm là kênh thông tin hết sức quan trọng để thành ủy xem xét, đánh giá, quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ TP phù hợp với phẩm chất năng lực và khả năng cống hiến của mỗi người.”, Bí thư Phạm Quang Nghị nhấn mạnh.

Cũng theo Bí thư Thành ủy Hà Nội, bên cạnh các vấn đề đưa ra họp bàn tại kỳ họp này, việc thông qua các nghị quyết chuyên đề và các nghị quyết nhằm cụ thể hóa Luật thủ đô thuộc thẩm quyền của HĐND TP có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là những cơ chế chính sách đặc thù tạo cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện những nhệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, phát huy hơn nữa tiềm năng thế mạnh, xây dựng thủ đô ngày càng văn minh hiện đại.

Hương Nguyên

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Mỹ cân bằng chiến lược làm Trung Quốc tạm hòa hoãn Biển Ðông

Lý Ðại Nguyên
Trước khi đi phó hội với khối ASEAN, Trung Cộng đã triệu Trương Tấn Sang chủ tịch nhà nước Việt Cộng sang Tàu, để đánh bóng tập đoàn Nhà Nước Việt Nam, nhằm thực hiện cuộc Ðàm Phán Song Phương, buộc Việt Nam phải chấp nhận tách vấn đề quần đảo Hoàng Sa mà Trung Cộng đã chiếm ra khỏi mối quan hệ với các cuộc Ðàm Phán Ða Phương về Biển Ðông của khối ASEAN, và không được nhắc tới Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, để cho Trung Cộng dễ dàng áp dụng Luật Biển riêng của họ đối với Việt Nam, như đã áp dụng lấn chiếm ở vịnh Bắc Bộ trước đây.

Trong khi đó, ngày 27 tháng 6, 2013, Vương Nghị, ngoại trưởng Trung Cộng đã nhắc lại lập trường của họ là “không thay đổi” và cảnh cáo “tìm kiếm hậu thuẫn của nước thứ ba để giải quyết tranh chấp chủ quyền tại Biển Ðông là việc làm vô ích; giải quyết đối đầu chỉ dẫn tới thất bại.” Trên trang nhất của tờ Nhân Dân Nhật Báo của Trung Cộng ngày 29 tháng 6, 2013 lên án Philippines vi phạm 7 tội tại vùng Biển Ðông và cảnh báo: “Bắc Kinh sẽ trả đũa trong trường hợp Manila tiếp tục khiêu khích.” Ðồng thời chỉ trích Hiệp Hội các nước Ðông Nam Á có thái độ đồng lõa với Philippines. Trung Cộng cũng gay gắt lên án Philippines đã yêu cầu Mỹ can thiệp vào khu vực Á Châu. Nhằm quốc tế hóa hồ sơ Biển Ðông.

Hôm 29 tháng 6, 2013, tại Brunei Darussalam, các nước ASEAN khai mac hội nghị ngoại trưởng hàng năm lần thứ 46, cùng một loạt hoạt động ngoại giao. Hội Nghị Ngoại Trưởng lần này tập trung vào hai chủ đề chính, thúc đẩy tiến trình Xây Dựng Cộng Ðồng Kinh Tế ASEAN vào năm 2015 và Hồ Sơ Biển Ðông. Theo ông Lê Lương Minh, tổng thư ký ASEAN thì: “Các nước trong khối tập trung nỗ lực xây dựng một Cộng Ðồng Năng Lực, Bền Vững vào năm 2015, đẩy mạnh phối hợp và hợp tác giữa ASEAN với các Ðối Tác Ðối Thoại, nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, đối thoại chính trị và hợp tác hữu nghị.” Dịp này, ngoại trưởng Philippines, Alber Del Rosario, lên tiếng chỉ trích Trung Cộng gia tăng sự hiện diện của các tàu quân sự và phi quân sự được trang bị vũ khí tại khu vực Biển Ðông. Ðặc biệt là Phạm Bình Minh, ngoại trưởng Hà Nội, đã bất chấp tình hữu nghị Việt Hoa, tuy không dám gọi thẳng tên Trung Cộng ra, nhưng đã khẳng định trước Hội Nghị rằng: “Về vấn đề Biển Ðông là mối quan tâm chung.

Thời gian qua trên Biển Ðông đã xảy ra nhiều diễn biến phức tạp, nhất là các hành động áp đặt yêu sách càng ngày càng tăng và các việc tàu cá Việt Nam bị bắn cháy, hoặc bị đâm trong khu vực hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ðiều này trái ngược với luật pháp quốc tế, Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, cũng như tinh thần và nội dung của Tuyên Bố về Ứng Xử của các bên ở Biển Ðông - DOC.”

Ngay sau cuộc họp các bộ trưởng ngoại giao ASEAN, Trung Cộng đã bị Philippines và Việt Nam lên án việc quân sự hóa tranh giành và áp đặt yêu sách bất hợp pháp ở Biển Ðông. Một cuộc họp cấp bộ trưởng giữa ASEAN và Trung Cộng được tiến hành cùng ngày 30 tháng 6, 2013, Trung Cộng đồng ý tổ chức các cuộc đàm phán chính thức với các nước Ðông Nam Á về Bộ Quy Tắc Ứng Xử - COC, trong kế hoạch xoa dịu các căng thẳng ở Biển Ðông.

Ngoại Trưởng Trung Cộng Vương Nghị và người đồng nhiệm Thái Lan, Surapong Tovichakchaikul, loan báo tin này. Vương Nghị nói: “Trung Quốc sẵn sàng làm việc với ASEAN, và giở bỏ bất cứ trở ngại nào hay sự can thiệp nào trong hợp tác đôi bên về Bộ Quy Tắc Ứng Xử Biển Ðông CPC.” Trong thông cáo chung của cuộc họp bộ trưởng ngoại giao ASEAN và Trung Cộng cam kết: “Hướng tới việc đạt được bộ quy tắc ứng xử ở Biển Ðông trên cơ sở đồng thuận.” Trung Quốc và ASEAN có quyết tâm và khả năng biến Biển Ðông thành một khu vực hòa bình, hữu nghị và hợp tác.” Theo dự kiến, các bên sẽ thành lập một nhóm bao gồm các chuyên gia và những nhân vật có tiếng để hỗ trợ cho tiến trình này. Vào tháng 9, 2013, Trung Cộng sẽ chủ trì cuộc họp của giới chức cao cấp các bên để chính thức thảo luận về COC. Hôm 1 tháng 7, 2013, phát biểu với ngoại trưởng các nước ASEAN, trước thềm diễn đàn khu vực, ngoại Trưởng Mỹ John Kerry khẳng định: “Hoa Kỳ rất quan tâm đến các tranh chấp tại Biển Ðông được đề cập và ứng xử của các bên... Hoa Kỳ hy vọng sẽ thấy được những tiến bộ sớm đạt được với một bộ quy tắc ứng xử của các bên, nhằm giúp đảm bảo sự ổn định trong khu vực này.” Ông cũng nói đến quyền lợi của Mỹ trong khu vực, và vì vậy: “Hoa Kỳ cần phải duy trì hòa bình và ổn định, cũng như đảm bảo tự do hàng hải, thông thương trên Biển Ðông.”

Thực ra, Trung Cộng tuy hung hăng dùng sức mạnh vũ lực để đe dọa các nước trong vùng Biển Ðông, nhưng nếu chiến tranh nổ ra giữa Trung Cộng với Philippines, chắc chắn Mỹ phải can thiệp vì Hiệp Ước An Ninh Mỹ-Phi vẫn còn hiệu lực. Lúc đó thủy lộ huyết mạnh Malacca bị phong toả. Nền kinh tế bị ảnh hưởng trực tiếp đầu tiên là Trung Cộng, vì đó là con đường tiếp tế độc đạo trên biển của Trung Cộng. Cũng chính vì tham vọng muốn con đường huyết mạch này của thế giới làm của riêng mình, nên Trung Hoa đã tự vạch ra đường lưỡi bò chín đoạn, mưu định làm chủ trọn vẹn vùng Biển Ðông. Nhưng nay, Hoa Kỳ đã quay trở lại Châu Á-Thái Bình Dương-Ấn Ðộ Dương, được gọi là xoay trục chiến lược, mang nội dung “Tái Cân Bằng” thế lực. Nghĩa là Trung Cộng bành trướng thế lực quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa... đến đâu, thì Hoa Kỳ cũng sẽ cân bằng thế lực đến đó. Tương tự như kế hoạch Domino thời Chiến Tranh Lạnh, buộc chính nước Mỹ và Liên Xô phải chạy đua vũ trang cho tới khi một bên phải đứt hơi, và Liên Xô đứt hơi.

Kế hoạch tái cân bằng lần này, thuộc loại Chiến Tranh Mềm, tự Mỹ đã có sẵn một nguồn vũ khí tối tân, khổng lồ, vô địch, vượt trội, luôn luôn phát triển, không còn bị đặt vào thế phải chạy đua vũ trang, mà buộc Trung Cộng vào thế phải chạy theo vũ trang. Trung Cộng càng tăng cường tự thổi mình lên ngang tầm quân sự với Mỹ, càng hung hăng bành trướng xâm lấn các nước láng giềng, thì cả Trung Cộng các nước chung quanh cũng phải gia tăng mua vũ khí của Mỹ, của Nga, của Âu Châu. Thế nhưng kế hoạch Chiến Tranh Mềm này, không nhằm tiêu diệt đối phương, mà buộc đối phương phải biết điều, chấp nhận cuộc chơi sòng phẳng, hợp pháp, tôn trọng lẫn nhau, không gây hấn và bắt nạt các nước nhỏ trong vùng. Vì nếu, Trung Cộng có gồng mình lên để chạy theo vũ trang, thì cũng lệ thuộc vào việc mua khí tài và vũ khí từ bên ngoài. Có lẽ Bắc Kinh đã nhận ra sự thật phũ phàng đó, nên ngoài miệng thì vẫn để cho báo đảng nói năng lung tung, nhưng trong thực tế đã phải tạm thời thỏa hiệp với các nước Ðộng Nam Á để thảo luận về Bộ Quy Tắc Ứng Xử Biển Ðông, với âm mưu thực hiện cuộc Bành Trướng Mềm trong nội bộ từng nước thuộc khối ASEAN, nếu các nước này không biết tự cứu bằng giải pháp Dân Chủ Hóa, để cùng gia nhập Hiệp Ðịnh Mậu Dịch Tự Do Xuyên Thái Bình Dương - TPP. Trước khi Trung Cộng gia nhập TPP để thực hiện việc xây dựng một mô hình mới của quan hệ nước lớn giữa Mỹ và Trung Quốc.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Sợ báo chí

Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)
Trong một bài phỏng vấn đăng trên báo tamnhin.net ngày 23 tháng 6, 2013, ông Lê Doãn Hợp, cựu phó Ban Tuyên Huấn Trung Ương và cựu bộ trưởng Văn Hóa Thông Tin (sau đổi thành Bộ Thông Tin và Truyền Thông), hiện đang làm chủ tịch Hội Truyền Thông Số Việt Nam, có một nhận định rất thú vị: “Riêng ở Việt Nam có một cái hay là hệ thống công quyền của chúng ta rất sợ báo chí. Một thiết chế mà quan sợ dân, sợ báo chí là một thiết chế rất tốt cần phát huy ở mức tối đa.”

Ðọc nhận định ấy, thấy hơi là lạ, tôi vào Google, thử gõ mấy chữ “chính phủ sợ báo chí” (hoặc “nhà báo”) (government fears journalist/journalism), tôi thấy hiện lên, trong phần kết quả, toàn những chuyện ngược lại: nhà báo sợ chính phủ. Ngoài những nước đang loạn lạc, nơi các nhà báo có thể dễ dàng bị mất mạng khi đang tác nghiệp, những địa điểm đáng sợ nhất là các xứ độc tài (kể cả Nga), ở đó các nhà báo thường bị bắt bớ, bỏ tù, đánh đập hoặc có khi bị giết chết khi lên tiếng tố cáo tham nhũng và lạm quyền. Theo báo cáo của Ủy Ban Bảo Vệ Ký Giả (Committee to protect journalists), từ năm 1992 đến nay, trên thế giới có tổng cộng 982 nhà báo bị giết chết, trong đó nhiều nhất là các phóng viên báo in (30%), tiếp theo là phóng viên truyền thanh và truyền hình (24%). Số người chết vì bị lạc đạn ngay trên trận địa tương đối ít (19%), trong khi đó chết vì bị sát hại thì rất nhiều (68%).

Ai giết họ?

Thủ phạm thuộc các nhóm tội phạm chiếm 13%, thuộc viên chức chính phủ chiếm 23% và thuộc các nhóm chính trị lên đến 30%. Hai mươi quốc gia được xem là nguy hiểm nhất đối với các ký giả là:

1. Iraq: 151
2. Philippines: 73
3. Algeria: 60
4. Russia: 55
5. Pakistan: 52
6. Somalia: 50
7. Syria: 38
8. Colombia: 44
9. India: 29
10. Mexico: 28
11. Brazil: 27
12. Afghanistan: 24
13. Turkey: 21
14. Sri Lanka: 19
15. Bosnia: 19
16. Tajikistan: 17
17. Rwanda: 17
18. Sierra Leone: 16
19. Bangladesh: 14
20. Israel and the Occupied Palestinian Territory: 12
(Con số sau tên mỗi nước là số nạn nhân bị giết chết)


Việt Nam không loạn lạc nhưng lại độc tài. Theo bảng xếp hạng về tự do báo chí của tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters without Borders), trong số 179 quốc gia được tính, hầu như năm nào Việt Nam cũng bị xếp gần chót (ví dụ: năm 2009, hạng 166; năm 2010 nhảy lên được một bậc, 165; từ năm 2011 đến 2013, lại tụt xuống hạng 172). Nói chung, hiện nay, Việt Nam chỉ tự do hơn vài nước: Trung Quốc, Iran, Somilia, Syria, Turkmenistan, Bắc Triều Tiên và Eritrea).

Sống trong một đất nước không có tự do báo chí như thế, tất cả các nhà báo có chút tinh thần độc lập đều phập phồng lo sợ bị mất việc hoặc bị bắt bớ. Sợ, như lời thú nhận của Nguyễn Tuân và Nguyễn Minh Châu ngày trước, đến độ đâm ra hèn. Vậy mà ông Lê Doãn Hợp lại nói một điều ngược ngạo: chính phủ sợ báo chí.

Ông còn ngược ngạo hơn nữa khi nói thêm: Ðó là một “thiết chế rất tốt cần phát huy ở mức tối đa.” Dường như ông xem đó là một biểu hiện của dân chủ. Nhưng vấn đề là: ở tất cả các quốc gia dân chủ thực sự, chính phủ lại không sợ báo chí. Họ có thể e dè báo chí nhưng không sợ báo chí. Ở các nước dân chủ, tất cả các nguyên thủ quốc gia đều thường xuyên đối diện với báo chí, trả lời đủ mọi thứ chất vấn của báo chí, dưới hình thức họp báo hoặc xuất hiện trên các đài truyền hình và truyền thanh. Hầu như ngày nào cũng vậy. Có ngày nhiều lần. Từ sáng sớm đến tối mịt.

Sợ báo chí không phải là dấu hiệu của dân chủ.

Vậy tại sao chính phủ Việt Nam lại sợ báo chí?

Câu trả lời, thật ra, rất đơn giản.

Có mấy lý do chính:

Thứ nhất là sợ sự thật. Ðã đành làm chính trị, nhất là ở vị trí lãnh đạo, bao giờ người ta cũng có rất nhiều điều muốn giấu giếm. Ở các quốc gia tự do cũng vậy thôi. Tuy nhiên, giữa các quốc gia dân chủ và Việt Nam có rất nhiều khác biệt: Một, trong khi ở các nước dân chủ, chỉ có một số bí mật; ở Việt Nam, hầu như mọi thứ đều là... bí mật. Hai, ở các quốc gia dân chủ, chính phủ bị khống chế bởi các đạo luật về minh bạch buộc họ phải cung cấp thông tin cho báo chí; ở Việt Nam, một sự đòi hỏi như thế cũng có thể bị xem là phạm pháp. Ba, khi một sự thật nào đó được phanh phui, ở các quốc gia dân chủ, giới lãnh đạo hoặc nhận lỗi hoặc cố gắng biện hộ; ở Việt Nam, kẻ phanh phui bị nhốt vào tù. Bốn, ở các nước dân chủ, người ta chỉ giấu giếm chứ không dối trá; ở Việt Nam, người ta có cả hai. Bởi vậy, ở đâu giới làm chính trị cũng sợ sự thật, nhưng sợ nhất vẫn là ở các nước độc tài, trong đó có Việt Nam.

Thứ hai là sợ phản biện. Ở các quốc gia dân chủ, trước khi ban hành một chính sách lớn nào đó, giới lãnh đạo bao giờ cũng đối đầu với vô số sự phản biện: từ phe đối lập, từ các nhóm lợi ích, từ giới truyền thông, từ Quốc Hội và từ dân chúng nói chung. Họ phải giải thích, tự bảo vệ, hơn nữa, cố gắng thuyết phục số đông. Ở Việt Nam, ngược lại, giới lãnh đạo rất sợ đối đầu, dù là đối đầu một cách gián tiếp, qua báo chí. Với họ, phản biện đồng nghĩa với phản nghịch; và mọi hình thức phản nghịch, dù trong tư tưởng, cũng bị trấn áp.

Thứ ba là thiếu tự tin. Ở Mỹ, Tổng Thống Obama bị tố cáo đủ thứ: giấy khai sinh giả, học bạ giả, tôn giáo giả... nhưng ông không hề bắt nhà báo nào bỏ tù hay đóng cửa bất cứ cơ quan truyền thông nào cả. Có việc ông chỉ cười khẩy; có việc ông đưa ra bằng chứng để mọi người biết những điều người ta tố cáo ông là bịa đặt. Ở Việt Nam, ngược lại, giới lãnh đạo biết rõ là họ không đủ lý lẽ để thuyết phục người khác. Họ cũng biết, trên mặt trận tư tưởng, sức mạnh duy nhất của họ là ở chỗ cấm tranh luận. Chấp nhận tranh luận là thua. Nên họ sợ. Sợ vì thiếu tự tin.

Thứ tư là họ sợ tự do ngôn luận nói chung. Trên trang Phóng Viên Không Biên Giới, phần Việt Nam, bên cạnh bức ảnh của Nguyễn Phú Trọng, có mấy đoạn gọi là “Những ý nghĩ thầm của Nguyễn Phú Trọng” (Innermost thoughts of Nguyen Phu Trong), ở đó, người ta diễn tả các chủ trương và chính sách của Nguyễn Phú Trọng thành những suy nghĩ ở ngôi thứ nhất với giọng châm biếm rất thú vị - ít nhất cũng thú vị hơn câu nói của Lê Doãn Hợp ở trên. Tôi xin tạm dịch mấy đoạn ấy như sau:

“Tôi rất quen thuộc với truyền thông và báo chí bởi vì chính tôi cũng đã từng là nhà báo từ 1967 đến 1996 và sau đó, làm tổng biên tập Tạp chí Cộng sản, tạp chí lý luận của đảng. Chức năng của truyền thông không phải là tuyên truyền chống lại nhà nước. Các nhà báo chỉ được tường thuật các sự kiện và không nên góp ý truyền bá hệ thống đa đảng trên các bài xã luận hay trên mạng. Các cơ quan truyền thông ngoại quốc như RFA, VOA và BBC đã nhanh nhảu phát đi những lời bình luận như thế đến người dân Việt Nam dưới lớp vỏ các tin tức và thông tin 'độc lập' ngoài sự đồng ý của chúng tôi.”

“Ở Việt Nam, các nhà báo có thể tác nghiệp chừng nào họ không phê phán đảng. Tháng 2 vừa rồi, nhà báo Nguyễn Ðức Kiên đã vi phạm luật ấy trên tờ Gia Ðình và Xã Hội nên đã bị đuổi việc. Không chịu hạn chế bài tường thuật trong nội dung bài diễn văn của tôi và (còn) phát biểu ý kiến về những gì tôi đã nói, nhà báo đã vi phạm đạo đức làm báo và cố tình gây bất ổn chính trị.”

“Tất cả những kẻ kêu gọi cải tổ trong mấy tháng vừa qua đều phạm tội phá hoại chính trị, ý thức hệ và đạo đức. Khi tôi nhậm chức, chủ nhiệm tờ báo đảng Nhân Dân cũng đã từng lên án những kẻ kêu gọi chủ nghĩa đa nguyên.”
“Một số người tiếp tục chuyển các thông tin và chính kiến nguy hiểm dưới hình thức nặc danh mặc dù tôi đã ra nghị quyết bắt các nhà báo phải tiết lộ nguồn tin và cấm sử dụng bút hiệu. Ðiều đó không làm tôi khỏi phải phạt cả thảy 100 năm tù giam cho các blogger và bọn bất đồng chính kiến trên mạng trong suốt 12 tháng vừa qua. Với 30 tên quặt quẹo trong nhà tù, tôi tin thành tích của tôi cao hơn hẳn vị tiền nhiệm Nông Ðức Mạnh.”

Một kẻ như vậy mà sợ báo chí, kể cũng hơi lạ.

À, mà ở Việt Nam, cái gì mà không lạ nhỉ?

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

'Độc lập, Tự do, Hạnh phúc'
Nhà báo tự do Bùi Văn Phú
Gửi cho BBCVietnamese.com từ San Jose

'Người dân Mỹ thể hiện tinh thần Độc lập, Tự do qua những việc làm và hành động'
Năm 1976 tôi đón Lễ Độc Lập đầu tiên khi nước Mỹ tròn 200 tuổi. Năm đó đi coi bắn pháo bông ở sân vận động Candlestick, cuốn theo người mấy tấm áo dầy mà vẫn cảm thấy cái lạnh mùa hè San Francisco.
Dịp lễ lớn nhất của Mỹ rơi vào mùa hè, mùa của nhiều thú vui chơi, thư giãn nhất trong năm.

Hai tuần trước leo núi Yosemite, nóng như lửa. Tuần này nhiệt độ vẫn trên 100 vì thế kéo nhau xuống biển Santa Cruz.
Ở đây có những trò chơi nhào lộn cao tốc cho trẻ con. Người lớn cắm dù, dựng lều, đem lò ra nướng thịt, burger, hot dog. Bia chỉ được uống trên khu vực giải trí, không được mang ra bãi biển. Giới hạn thế, nhưng giấu bia trong thùng đá, khi uống rót vào ly giấy. Nhâm nhi, lai rai.
Đường ra biển sáng sớm đã đông xe, chạy rất chậm. Lúc ngừng tại một ngã tư, thấy trên bảng “Welcome to Santa Cruz” có ghi là thành phố kết nghĩa chị em với nhiều nơi trên thế giới: Nhật, Ý, Tây Ban Nha, Ukraine, Nicaragua, Venezuela.

Tấm bảng là biểu hiện tinh thần độc lập và tự do của dân Mỹ.
Kết nghĩa chị em với các nước bạn không nói làm gì, nhưng với Venezuela là điều chú ý vì bao năm nay lãnh đạo nước này hăng hái chống Mỹ, ra rả chửi Mỹ. Bất kể quan hệ ngoại giao hai nước căng thẳng, Santa Cruz vẫn đưa bàn tay thân hữu ra kết nghĩa với Puerto La Cruz.

Trong vụ nhân viên tình báo Edward Snowden tiết lộ bí mật nghe lén của chính phủ Mỹ, Venezuela sẵn sàng đón nhận cho tị nạn.
Và cư dân Santa Cruz cũng ủng hộ Snowden. Trên đường Beach sáng nay có vài chục người cầm biểu ngữ xuống đường hoan hô việc làm của Snowden.
Độc lập, Tự do ở Mỹ là thế. Tổng thống chẳng nhắc đến, người dân cũng không, chỉ thể hiện qua những việc làm và hành động.

'Việt Nam sợ hãi và lệ thuộc'

"Vì sao Trung Quốc lại chỉ có thể bắt nạt được Việt Nam. Vì lãnh đạo Việt Nam đã đánh mất tinh thần độc lập, làm suy yếu tính tự chủ của dân tộc đã có từ thuở 'Nam quốc sơn hà, Nam đế cư'."
Trong khi đó lãnh đạo Việt Nam lại luôn nhắc đến Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Nghe riết, trong các phát biểu của quan chức trên VTV4; đọc riết, trên các báo của nhà nước; và thấy riết trên các giấy tờ, khẩu hiệu và gần đây là trong các phản hồi của những dư luận viên ăn lương nhà nước.
Có nghe, có đọc nhưng tôi không tin.
Vì sao?
Nhìn vào hiệp ước biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhìn vào những phản ứng hay cảnh báo của một số người trong nước đối với quan hệ Việt-Trung và âm mưu của Bắc triều, mà hệ quả là họ bị sách nhiễu hay phải vào tù.

Nhìn vào đường khoanh lưỡi bò 9 đoạn của Trung Quốc, nhìn những lần tàu Trung Quốc tấn công tàu Việt Nam, nhìn vào những chuyến đi của lãnh đạo Việt Nam tới Trung Quốc, tất cả cho thấy sự sợ hãi và lệ thuộc của lãnh đạo Việt Nam vào Trung Quốc là điều có thực.

Lãnh đạo các nước khác trong khu vực như Nam Hàn, Nhật Bản, Malaysia, hay Thái Lan, Philippines, Myanmar không thường xuyên đi Trung Quốc. Trong khi đó Tổng Bí thư, Chủ tịch Nước, Thủ tướng của Việt Nam lại luân phiên qua hội họp, bàn bạc với Bắc Kinh.
Vì quan hệ Việt-Trung ở tầm mức cao hơn quan hệ Nhật-Trung hay Hàn-Trung? Tôi không nghĩ thế. Trung Quốc chỉ có thể bắt nạt được Việt Nam thôi, với Nhật Bản hay Nam Hàn nào dám.
Vì sao Trung Quốc lại chỉ có thể bắt nạt được Việt Nam. Vì lãnh đạo Việt Nam đã đánh mất tinh thần độc lập, làm suy yếu tính tự chủ của dân tộc đã có từ thuở “Nam quốc sơn hà, Nam đế cư”.



Các cuộc biểu tình chống Trung Quốc của người dân thường nhanh chóng bị giới chức giải tán
Quan chức nhà nước hay nói đến Độc lập. Nhưng cả nước không có được một tờ báo độc lập của tư nhân. Nhắc đến tự do mà các ban ngành phụ trách thông tin không cho các ý kiến trái với quan điểm của nhà nước được hiển thị, trong khi trả lương cho cả nghìn dư luận viên để viết bài, viết phản hồi với mục đích giải thích chính sách của nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm đánh tan những “tuyên truyền xuyên tạc” của “bọn phản động” trên các mạng thông tin quốc tế và những blog lề trái.
Tự do. Ở Việt Nam chỉ gắn liền với bắt bớ, giam tù vì người Việt ngày nay vẫn chưa có tự do phát biểu, không được biểu tình, không được tự do ra báo, không được hội họp hay lập hội, không được tự do ứng cử.
Nếu có tự do, ở Việt Nam đã có những tờ báo độc lập, nhiều tổ chức xã hội, nghề nghiệp, có nhiều cuộc xuống đường rầm rộ phản đối Trung Quốc lấn chiếm đất biển và mỗi kỳ bầu cử đã nhộn nhịp ứng viên của nhiều đảng chính trị vận động tranh cử.
Tự do ở Việt Nam, như nhận xét của cố thi sĩ Nguyễn Chí Thiện: “Tự do tôi quí thiết tha, mà sao tù ngục hết ra lại vào.”
Lời thơ từ nửa thế kỷ trước mà bây giờ cũng vẫn đúng.
Có thể nhắc đến Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Hồ Thị Bích Khương, Đỗ Thị Minh Hạnh, Trần Huỳnh Duy Thức, Việt Khang, Cù Huy Hà Vũ, Trương Duy Nhất, Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha… là những người yêu nước, yêu tự do mà đang bị tù đày.
Hạnh phúc. Điều này khó đong đếm vì hạnh phúc chỉ là khái niệm tương đối, tùy theo hoàn cảnh của mỗi cá thể.
Hơn ba thập niên trước người Việt ra đi bằng thuyền, bằng con đường đoàn tụ gia đình ODP, diện HO, diện con lai, diện vượt biển hồi hương, bằng đường xuất khẩu lao động.

Nay người Việt chọn con đường du học, đường kết hôn với người nước ngoài. Tìm được lối thoát là họ sẵn sàng rời bỏ nơi chôn nhau cắt rún.
Ừ, thì bảo vì hoàn cảnh gia đình nghèo quá, họ ra đi để tương lai có khả năng giúp đỡ người còn ở lại.

Nhưng người giầu cũng tìm đường ra đi. Càng giầu càng muốn cho con cái sớm được ra khỏi nước bằng con đường du học các nước Úc, Anh, Pháp, Mỹ ngay từ cấp hai.
Nếu ai ra đi và không còn muốn trở về. Điều đó có nghĩa là ở một nơi nào đó họ đã tìm được độc lập, tự do và hạnh phúc.

Tác giả dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Chui đầu vào thòng lọng Trung Quốc

Ngô Nhân Dụng


Tuần trước, ông Bùi Tín, cựu phó chủ bút báo Nhân Dân (Hà Nội) hiện đang tị nạn tại Pháp, viết một bài nhận xét về bản “Tuyên bố chung” giữa Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình, ký ngày 21 Tháng Sáu vừa qua tại Bắc Kinh: “Không hề có một chữ nào (xác định) về Hoàng Sa, Trường Sa là đất Việt Nam bị cưỡng chiếm bằng vũ lực. Không một lời yêu cầu nào đòi bảo vệ tính mạng tài sản của ngư dân Việt Nam trong vùng biển quốc gia của mình. Không một lời bác bỏ nào đối với cái ‘lưỡi bò’ phi pháp trên bản đồ Trung Quốc. Chủ quyền quốc gia đã bị hoàn toàn từ bỏ.”

Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ cũng công bố một bản Nhận Ðịnh về cùng vấn đề này, ngài viết: “Tuyên bố chung tại Bắc Kinh không hề có một dòng nào xác định việc Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa và một phần đảo Trường Sa của Việt Nam, hoặc hàng nghìn cây số trên đất dọc biên giới, đặc biệt tại Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, v.v. hay đòi hỏi Trung Quốc hoàn trả biển và đất đã xâm chiếm.”

Những lời lên án trên khiến dư luận chú ý hơn đến văn kiện mà hai ông Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình đã ký sau một chuyến công du ba ngày. Trong thực tế, xưa nay người Việt ở trong và ngoài nước không mấy khi chú ý đến các bản thông cáo chung của lãnh tụ hai đảng Cộng Sản, vì biết trước rằng đó thường chỉ gồm những lời tuyên truyền trống rỗng.

Nhưng khi vị tăng thống thứ năm của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất phải viết rằng Hội Ðồng Lưỡng Viện của giáo hội “vô cùng quan ngại về nội dung bản tuyên bố chung này” thì mọi người Việt Nam yêu nước phải cùng chia sẻ nỗi lo lắng đó. Mặc dù bản tuyên bố chung có nhắc đến quan hệ giữa hai đảng Cộng Sản, Trương Tấn Sang đã ký kết với tư cách là chủ tịch nhà nước Việt Nam, nhân danh cả đất nước và dân tộc Việt Nam.

Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ phải cảnh cáo: “Với kẻ cướp đã vào chiếm đóng một góc nhà rồi, ông chủ tịch nước vẫn ‘nhất trí’ với mưu kế của kẻ xâm lăng...” Giống như nhà báo Bùi Tín viết: “Lũ giặc bành trướng được coi là bạn bè thân thiết nhất, là đồng chí tin cậy nhất.” Ông lên án: “Chưa bao giờ có sự đầu hàng nhanh chóng và nhục nhã đến như vậy.”

Ðầu hàng nhanh chóng như thế nào? Chỉ trong ba ngày, ông Trương Tấn Sang đã ký tên vào một văn kiện dài bốn ngàn chữ, trong đó đề cập đến hàng chục bản văn khác về việc hợp tác giữa hai nhà nước; và hai bên cũng ký kết nhiều văn bản mới khác nữa. Chỉ trong ba ngày, họ đã xem lại để “nhất trí hợp tác” thi hành rất nhiều văn kiện. Trong đó có, thí dụ, “Nghị định thư hợp tác giữa hai Bộ Ngoại Giao; Ðối thoại chiến lược quốc phòng cấp thứ trưởng; Thỏa thuận hợp tác giáo dục giai đoạn 2011-2015; Kế hoạch hành động thực hiện Hiệp Ðịnh Văn Hóa Việt-Trung giai đoạn 2013-2015; Kế hoạch công tác năm 2013 của ủy ban liên hợp biên giới trên đất liền hai nước,” vân vân. Hai bên còn thảo luận và “nhất trí” về việc “hoàn thành việc xây dựng trung tâm văn hóa của nước này ở nước kia, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực sản nghiệp văn hóa, nguồn nhân lực. Hai bên nhất trí tổ chức Liên Hoan Thanh Niên Việt-Trung lần thứ 2 vào nửa cuối năm nay;” lại “tăng cường hơn nữa hợp tác” giữa các bảy tỉnh của Việt Nam và bốn tỉnh của Trung Quốc ở hai bên biên giới. Bao gồm mọi lãnh vực, chỉ trong ba ngày đã ký kết xong.

Hãy nhìn vào danh sách các văn kiện mới được Trương Tấn Sang và Tập Cận Bình cam kết với nhau, với các “thỏa thuận” cũ được duyệt xét, sửa đổi, bất cứ người nào có suy nghĩ cũng phải tự hỏi làm sao họ “thỏa thuận” với nhau nhanh chóng như vậy? Xin kể ra mấy bản văn mới ký: Một “Thỏa thuận hợp tác biên phòng giữa Bộ Quốc Phòng hai nước Việt Nam-Trung Quốc;” một “Chương trình hành động triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc;” một “Thỏa thuận giữa Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam và Bộ Nông Nghiệp Trung Quốc về việc thiết lập đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển.” Lại thêm, “Thỏa thuận giữa Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam và Tổng Cục Giám Sát Chất Lượng, Kiểm Nghiệm, Kiểm dịch Trung Quốc về hợp tác trong lĩnh vực kiểm nghiệm, kiểm dịch động thực vật xuất nhập khẩu;” “Ðiều lệ công tác của ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu biên giới đất liền Việt Nam-Trung Quốc;” “Bản ghi nhớ giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Trung Quốc về việc thành lập trung tâm văn hóa tại hai nước;” “Bản ghi nhớ về kế hoạch hợp tác giai đoạn 2013-2017 giữa liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và hội hữu nghị đối ngoại nhân dân Trung Quốc;” “Thỏa thuận sửa đổi lần thứ 4 giữa Tập Ðoàn Dầu Khí Việt Nam và Tổng công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc liên quan tới vịnh Bắc bộ;” đặc biệt còn có một bản “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc;” và nhiều thỏa hiệp hợp tác kinh tế khác. Tất cả đều được ký kết trong chuyến thăm trong ba ngày.

Trong trường bang giao quốc tế, ít có hai quốc gia nào lại ký kết với nhau, cùng một lúc, nhiều văn kiện “hợp tác” bao trùm đủ các lãnh vực sinh hoạt của quốc dân như vậy. Hai nước Canada và Mỹ đã sống bên cạnh nhau một cách hòa bình hơn hai thế kỷ, kinh tế, quốc phòng, ngoại giao lãnh vực nào cũng hợp tác với nhau. Nhưng họ cũng chưa bao giờ ký kết cùng một lúc nhiều thứ cam kết ràng buộc nhau, sau ba ngày thăm viếng như vậy!

Phải nhấn mạnh đến các điều liên quan đến quân đội, vì quân đội nước nào cũng là lực lượng bảo vệ quốc gia. Tập Cận Bình và Trương Tấn Sang ký kết, hứa hẹn với nhau sẽ “...làm sâu sắc thêm hợp tác giữa quân đội hai nước... đi sâu trao đổi kinh nghiệm công tác đảng và chính trị trong quân đội, tăng cường đào tạo cán bộ và giao lưu sĩ quan trẻ.” Chúng ta phải chú ý tới việc “đào tạo cán bộ” trong quân đội, đặc biệt về “công tác đảng” và “chính trị,” nghĩa là giáo dục, đào tạo não bộ của các sĩ quan trong quân đội. Theo tinh thần những cam kết này, chúng ta có thể thấy tái diễn cảnh “rèn cán chỉnh quân” mà Hồ Chí Minh đã đem vào Việt Nam trong thời kháng chiến chống Pháp: Việc huấn luyện chính trị và nhồi sọ lý thuyết Mác Lê Nin và tư tưởng Mao Trạch Ðông cho các sĩ quan trẻ Việt Nam có thể sẽ được đặt dưới sự chỉ đạo của các cố vấn Trung Cộng; hoặc đưa họ sang Trung Quốc thụ huấn các giáo điều tương tự! Chính trong các đợt “rèn cán chỉnh quân” bắt đầu từ những năm 1950, sau khi Hồ Chí Minh đưa tư tưởng Mao Trạch Ðông lên hàng lý thuyết chỉ đạo cho đảng Lao Ðộng, mà rất nhiều sĩ quan trẻ tài ba đã bị nghi kỵ, bị hạ tầng công tác, nhường chỗ cho thành phần bần cố nông được các cố vấn Trung Cộng chấp thuận.

Tuy việc nhồi sọ các cán bộ trong quân đội là điều đáng lo ngại nhất, nhưng bản Tuyên bố chung của Tập Cận Bình và Trương Tấn Sang còn mở rộng chương trình “đồng hóa” về tư tưởng, về lý luận bao trùm hầu hết các lãnh vực khác, không giới hạn trong quân đội. Họ ký kết như sau: “Hai bên... nhất trí làm sâu sắc thêm hợp tác giữa hai đảng, thúc đẩy cơ chế giao lưu hợp tác giữa hai ban đối ngoại và ban tuyên giáo, tuyên truyền của hai đảng vận hành thuận lợi, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực đào tạo cán bộ đảng và nhà nước. Hai bên nhất trí phối hợp chặt chẽ, cùng nhau tổ chức tốt hội thảo lý luận hai đảng lần thứ 9, tăng cường hơn nữa trao đổi kinh nghiệm về xây dựng đảng và quản lý đất nước... ở mỗi nước.”

Ðọc những lời cam kết bao gồm đủ các lãnh vực từ quân sự đến “đào tạo cán bộ đảng và nhà nước,” đến “Ðối ngoại, Tuyên giáo, Tuyên truyền” như trên, chúng ta cảm thấy có một “âm mưu đồng hóa” của đảng Cộng Sản Trung Quốc; mà họ đang được đảng Cộng Sản Việt Nam tích cực ủng hộ để thi hành. Chưa kể tới những cam kết giữa hai đảng cộng sản khi nhắc tới các tranh chấp đang xảy ra trên biển Ðông; sẽ bàn trong mục này vào dịp khác.

Nhà báo Bùi Tín cũng nhận thấy: “Ðọc kỹ các văn bản, có cảm giác như Việt Nam đã hội nhập vào trong lòng Trung Quốc. Tuy hai mà một. Hòa nhập triệt để về mọi mặt, đặc biệt là về quốc phòng, về đối ngoại, về an ninh, trị an xã hội, về đảng, nhà nước, về quân đội, về công tác đảng, bảo vệ đảng, bảo vệ quân đội.”

Có thể nói, Cộng Sản Việt Nam đang tiếp tục đưa cả nước chui đầu vào trong cái thòng lọng do Trung Cộng đưa ra. Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ giải thích sự hợp tác mật thiết giữa hai đảng cộng sản hiện nay đã “xuất phát từ ý thức nô lệ của ông Hồ Chí Minh khi ông làm bài thơ tuyên truyền ‘Cứu Trung Quốc thị cứu tự kỷ’ (Cứu Trung Quốc là tự cứu mình) đưa đăng trên báo Cộng Sản Tàu Cứu Vong Nhật Báo năm 1940 tại Quế Lâm.” Chúng ta thông cảm với Hòa Thượng Quảng Ðộ khi ngài viết: “Người con Phật không thể khoanh tay đứng ngó hay chỉ thắp hương cầu nguyện, mà phải đem từng biệt nghiệp chuyển hóa cộng nghiệp ác hành.”

Hơn tám mươi triệu người Việt Nam cũng không thể chỉ “khoanh tay đứng ngó hay chỉ thắp hương cầu nguyện!”

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

David Thiên Ngọc (Danlambao)


Từ ngàn xưa, bất cứ một đất nước nào rơi vào một trong hai hoàn cảnh trên thì chính thể đó cũng đều đứng trên bờ vực thẳm, xã hội đại loạn, dân tình chìm đắm trong u mê. Cảnh nước mất nhà tan khó mà tránh khỏi. Ngày xưa trong lịch sử ta và lịch sử Tàu thường có câu: “Đất nước không thể một ngày không Vua” sau những cuộc can qua, đổi thay triều đại hay những biến cố nơi triều chính, cung đình như Vua băng hà đột ngột hay thay Vua đổi Chúa nhưng triều đại không đổi thay. Hai nền chính trị Việt Nam-Trung Hoa luôn có mối dây liên hệ và nhiều điểm tương đồng bởi qua hàng ngàn năm ta bị Tàu đô hộ, xâm lược, cai trị và âm mưu đồng hóa. Do đó những sắc thái cung đình, triều chính có những điểm giống nhau không tránh khỏi theo từng bước thời gian cho dù muốn hay không muốn.

Xét hiện tình đất nước VN qua tiêu đề bài viết.

1- Vua không ngai:

Trên danh nghĩa chủ tịch nước (CTN) là “Vua”. Thế nhưng ta nhìn xem ngài CTN Trương tấn Sang có phải là Vua đích thực? Đâu là chiếc ngai vàng của ông? Ở đây, thời điểm này chữ “ngai vàng” có nghĩa là quyền lực chính trị chứ không còn nghĩa của thời phong kiến nữa!. Thế thì kể từ khi ông được mệnh danh với ngôi vị Vua ông đã thể hiện được gì ngoài sự cựa quậy, vẫy vùng, chạy đôn chạy đáo... liên minh băng đảng để tạo thêm quyền lực, nói đúng hơn là lấy lại quyền lực thực ra phải là của mình, của một vì Vua đúng nghĩa để thoát khỏi cái bóng mờ hư vị, là bù nhìn, là một thứ đồ trang sức rẻ tiền chỉ được dùng trong nghi lễ.

Trên lộ trình “đấu đá, quần thảo” (mạt ngôn trong chính trị ở trong một chính thể hỗn man) nhau trên vũ đài chính trị VN để thực hiện mục đích của mình thì ông Vua không chính danh nói trên chưa làm được việc nào nên trò để tạm gọi là ổn định chính trường. Tuy rằng mục đích của ông là của cá nhân chứ không là vì Quốc Gia Dân Tộc.

Nhưng qua những chiêu thức, trận đồ của ông và băng đảng bày ra cũng phần nào kềm chân được đối phương đang ngấp nghé, chân tiền chân hậu bước lên chiếc ngai vàng.

Trong hoàn cảnh, thân phận là một vì Vua không ra Vua thì mọi công việc Quốc kế Dân sinh, đối nội, đối ngoại sẽ ra sao? Về Quốc kế Dân sinh thì ngoài tầm ngắm của “Ngài” (con Tằm) bởi cái tâm không có mà cái tầm càng lại không, cho nên trong hoàn cảnh nhiều công dân đi ăn mày (xin lỗi các bạn) mà bọn giá áo túi cơm, mạt hạng cũng ngơ ngáo mà nghĩ rằng dân ta cần cù, không ngại gian khó, không quản nắng mưa mà đi làm ăn khắp mọi nơi trên thế giới. Thật ra chúng có biết đâu đa phần phái nữ là làm oshin, nô lệ tình dục, nam thì làm cu li, nô lệ lao động... mà thôi. Có rất nhiều trường hợp phải ngậm đắng nuốt cay mà gieo mình tìm cái chết để giải thoát sự bi thảm, bức hiếp, bóc lột đọa đày không còn chịu đựng được nữa.

Đối với nhân dân trong nước - Đối nội - thì ăn ngược nói xuôi, nói một đàng làm một nẻo. Dẫn chứng cụ thể như “Ngài Vua” trực tiếp vi hành xuống địa phương hô hào bà con chống tham nhũng để làm trong sạch xã hội. Noi gương các Anh hùng Liệt nữ bảo vệ non sông để “ không hổ thẹn với tiền nhân”. Thế thì tại sao ngay sau đó tuổi trẻ VN làm theo lời “Vua dạy” như SV Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha đã nêu cao tinh thần yêu nước theo slogan mà ông phổ biến, hô hào. Các SV đó viết “ Vì danh dự dân tộc chống giặc Tàu-Vì tương lai đất nước chống tham nhũng” thì liền bị tay sai của các ông, bọn mã tà kẻ tay súng người tay đao, kẻ tay còng người hùng hổ ập vào bắt cóc những SV yêu nước đó lôi đi giữa ban ngày ban mặt, trước xã hội đông người mà cứ xem như rừng rú hay bãi tha ma.

Nếu là Vua thì ông có biết câu “Quân bất hí ngôn” không?. Ngày xưa trong lịch sử nếu Vua có hứa với bất cứ một ai điều gì, tuy không lớn lắm nhưng thời gian trôi đi. Sau đó cho dù hàng chục năm trời các đại thần vẫn áp dụng thực hiện lời hứa đó của Vua mà xem là chiếu chỉ! Tuy rằng có hơi hám của tiểu thuyết lịch sử nhưng nó thể hiện một phần nào tinh thần “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” mà nhất là ở ngôi vị là Vua. Tệ hại hơn là khi các SV yêu nước bị tống vào ngục thất vì tội yêu nước thì các bạn bè của Phương Uyên, những con chim non chưa bước vào đời đã cùng nhau viết thỉnh thư gởi trực tiếp lên ngài khẩn cầu “Vua” rộng lòng can thiệp vì cái tội yêu nước theo lời ngài nên nông nỗi!!! Thì ngài ngoảnh mặt làm ngơ không hề có một tiếng cho dù là an ủi. Mà bức thư đó đành tức tưởi chết khi nó chưa ráo mực và rơi vào sọt rác rồi sau đó lại bị gán oan cho cả thư và những chữ ký kia là giả mạo rồi cuối cùng kết quả là một bản án vô pháp vô luân.

Nơi đây có một phần cũng vì Vua bất lực, ươn hèn, khiếp nhược trước các thế lực chính trị khác đối kháng lại với ông mà ông không dám dính vào vụ các SV yêu nước. Như vậy rõ ràng ông là Vua hư vị. Vua không ngai, một món đồ trang sức quá rẻ tiền với nhiệm vụ phản chiếu dưới ánh đèn nghi lễ.

Về đối ngoại. Biết rõ mình là tượng gỗ, đồng thời biết rõ hơn ai hết về cái tầm của mình đến đâu trong lúc cái tâm-không phải là cái tâm cho dân tộc mà tâm phục vụ cho tham vọng cá nhân-thì quá lớn, khó mà thực hiện được ước mơ. Do đó đối với ngoại bang nước lớn thì gập mình cúi đầu thần phục xin “Làm thân trâu ngựa, đền nghì trúc mai” (Kiều-N.Du) để rồi nhắm mắt tuy chưa mù mà ký chỉ thông qua những gì mà “Họ” đã âm mưu soạn sẵn. Sự ươn hèn trên với một mục đích hy vọng xa vời là mai sau có “Cõi đi về” khi canh tàn trăng lặn...

Đối với những nước khác ngang tầm hay nhỏ hơn thì xin “kết nghĩa vườn đào” tạo thêm vây cánh, làm đồng minh kết giao chiến lược... hầu hãnh tiến hơn trên bước đường ước mơ hoạn lộ của mình. Như vậy rõ ràng ông là Vua không ngai và chiếc ngai kia vẫn còn bỏ trống không thuộc về ông.

2- Ngai không Vua

Thời phong kiến, chiếc ngai vua là vật vô giá... từ vật chất đến tinh thần, nghĩa là quyền lực đem lại nhiều giá trị trên đời nếu người ngồi trên chiếc ngai đó muốn.

Vậy thì chiếc ngai của xã nghĩa Việt Nam thì sao? cũng không ngoài qui luật đó. Có một điều vô phúc cho nhân dân VN ta hiện nay rằng bao quanh chiếc ngai vàng hầu hết là những bàn tay, bước chân của loài ác quỉ. Đều cá mè một lứa như nhau, đang tranh giành, quần thảo nhau khốc liệt để bước lên ngôi vị Vua Xã Nghĩa với tham vọng quyền lực, vật chất vô biên một khi đứng đầu ngôi bá.

Ngoài ông Vua không ngai tôi vừa nêu ở trên ra thì còn lại là ngài tể tướng cùng các thủ lãnh của các bè nhóm trong xã hội “loạn cào cào”, hỗn quan hỗn quân này.

Bây giờ tôi xin nói đến Ba Ếch.

Đã là Ếch Nhái thì hẳn là xuất thân từ đầm ao bờ bãi, bưng biền... Tâm và tầm không hơn gì “Tư Sâu” là vị Vua không ngai đã nói ở trên. Nói về thâm độc thì nhà Ếch này thâm hơn “Sâu” nhiều. Bởi Ếch có chiêu hiểm của “Tây Độc Âu Dương Phong” truyền thụ. Hơn nữa khi thoát ra từ đầm bãi thì dòng họ cha con nhà Ếch đều được trải dài khắp non sông. Dòng nhà Ếch và vây cánh được Ếch chúa nuôi ăn, vỗ béo bằng nhung sâm mang hương vị đậm đà “Bản Việt” nên tinh thần cứng cỏi, cơ bắp vững tay chèo vượt qua thác ghềnh của các trận cuồng phong T.Ư 6-T.Ư 7... Sau những ngày đó Ếch thầm nghĩ rằng “một bước lên Vua”. Nhưng cái thế thời của Ếch và mảnh đất cong cong xã nghĩa này cũng còn nhiều long đong lận đận... Tuy rằng bão tố can qua không gây ra đổ máu nhưng tay chân, bãi biền nhà Ếch có phần nào bị sứt mẻ, mất mát. Thế trận chia ba có khác nào thời hậu Hán ở bên Tàu. Do đó Ếch phải hai đầu nghinh địch, không thẳng tiến đàng hoàng như mơ ước.

Giá như tình thế như vừa qua và hiện nay thuận buồm cho nhà Ếch với âm mưu lật đổ, phá tan nhà Con Sâu (CS) để bày nên một bàn cờ khác. Theo ngu ý của người viết thì thế cờ này có phần hay. Bởi tình hình nhà xã nghĩa hơn 2/3 thế kỷ qua dưới sự bạo tàn, hà khắc, xây hào sâu lũy cao của thành trì nhà CS thì nhân dân xã nghĩa máu đã đổ thành sông, xương chất thành núi... khó mà tìm trong bãi hoang tàn này một chữ “Nhân” để bá tánh nhìn được ánh trăng cho dù là ánh trăng tàn.

Để phá tan thành trì CS đó, hiện giờ chỉ có dòng họ Ếch mới có khả năng cộng với thế hiểm của “Tây Độc Âu Dương Phong”. Nghĩa là trong đó hàm ý có chiêu Độc “Gió Biển Tây Âu” (Tây-Âu-Dương-Phong) tạo ngoại lực bên ngoài, bên trong là nội lực nhà Ếch mới lập nên thế gọng kềm và phá tan gia sản nhà CS. Thế cờ tiếp theo sau là Ếch bước lên với khí tàn lực cạn, máu lửa đầy người, ghế ngồi khập khiễng, xiêu vẹo... chỉ cần một cơn gió nhẹ cũng đổ nhào, vả lại lúc này gió mùa đông bắc tận bên Sở bên Tề cũng âm thầm thổi nhẹ sang kích thích cho lửa sôi sục từ trong lòng nhân dân xã nghĩa hơn 1/2 thế kỷ qua tạo thành đám cháy bùng lên thui sống họ nhà Ếch cho đã căm vì Ếch đã quay lưng đổi chiều gió làm lỡ cuộc cờ mà ”Bắc Phiên” đã mượn tay ”Rợ Hồ” dàn ra mấy mươi năm về trước . Lúc bấy giờ Ếch được “Xào Lăn” hay lột da “Chiên Bơ” là tùy theo thế cuộc của nhân dân. Nhà Ếch cáo chung.

Bấy giờ một vì Vua đích thực mới xuất đầu lộ diện lãnh đạo toàn dân xây lại non sông và “Thiên Hạ Thái Bình”. Một thế cuộc “Hạnh ngộ Đông Tây”, “Quân bình Đông Hải” và Thái Bình Dương mới thật sự Thái Bình như nghĩa của nó. Sâm-Banh cùng Mao-Đài tửu được cùng lúc mở ra... Ở đàng đông ánh Dương đang ló dạng.

Trong tình thế trên - Nhân vật thứ ba cũng tay cầm vũ khí Mác-Lê lăm le xung trận. Nhưng suy cho cùng thì cánh này như một tên hề diễn trò tẻ nhạt và thiếu lửa. Đó là “Tổng Lú”

Khổ một nỗi là bản chất nhà Lú này không hổ danh là “Lú” thật-thật là Lú nặng. Với thế thời hiện đại người ta đã dùng tới vũ khí hạt nhân, máy bay không người lái. Thế mà Lú lại đem mấy thứ giáo Mác-Lê cùn rỉ sét mà nhân loại đã vứt bỏ bên lề đường tiến hóa mà diễu võ dương oai trong thế trận chiến tranh toàn diện thì thật là ý tưởng chạy đua trường lực của thằng mù. Như một học sinh dốt, cắm đầu làm bài văn mà không đọc được đề. Thảm thương cho Lú qua xứ Iran mà giảng kinh Coran, giữa đêm trường nhác ma Linh Mục. Thế cho nên mới có cảnh Bà Đầm xứ Ba-Tây tốc váy chẳng thèm chào. Các bậc thầy của Lú thì kẻ đã chết ở điện Kremlin, các Huynh đệ ở tận Đông Âu thì ngã nhào không trăn trối. Đại sư huynh ở Bắc Môn Quan thì ban ngày mặc áo mưa cầm giáo Mác nhưng ban đêm thì diện bộ Comple sặc sỡ ngả nghiêng trên sàn nhảy... thế mà Lú không chịu mở mắt ra để mà nhìn!

Trong trận chiến Ba-Tư tranh giành ngôi báu, Lú đứng thế liên minh với Tư Sâu chống trả Ba Ếch mà giữ sản nghiệp nhà CS đã hơn 80 năm gầy dựng như trong thế Đông Ngô, Ba Thục tạm thời liên kết phá Ngụy Tào. Như Khổng Minh hiệp kế Chu Du đốt Tào trong Xích Bích trận. Nhưng trong thẳm sâu thì cũng chẳng chung trời. Và trong trận thế Lú bị lầm hơi nặng.

Suốt cuộc can qua, binh lửa... Lú với áo mão cân đai hoàn toàn bằng giấy. Thể hiện qua cảnh nuốt lệ vào trong, nghẹn ngào nói không thành tiếng... trong diễn văn bế mạc hội nghị Trào Đờm T.Ư 6.

Nhìn chung thì tình hình chính trường xã nghĩa đã quá mức hỗn độn. Một xã hội hỗn man, quan quân hỗn tạp. Ông cũng như thằng, người-ma lẫn lộn không phân biệt được thì khó mà tồn tại nếu không có một đấng minh quân đủ tài, đủ đức đứng ra trị Quốc bình Thiên Hạ. Trong nội tình thì không ổn định được trật tự xã hội lẫn chính trường. Cụ thể như trong hai kỳ Hội nghị T.Ư 6 và T.Ư 7 thì quá rõ. Một BCH T.Ư không thực hiện theo kế hoạch của BCT khi đưa ra hình thức kỷ luật đ/cX. Rồi đa số UV T.Ư không thuận theo ý của BCT mà đứng đầu là TBT Lú trong việc bầu bổ sung 2 vị vây cánh của Lú vào BCT mà TBT Lú trực tiếp giới thiệu và ra sức vận động với nỗ lực một mất một còn... cuối cùng là TBT Lú cùng ê-kíp lỡ chuyến đò ngang. Một việc mà từ xưa nay chưa có tiền lệ, để cho 2 ban lớn của đảng phải việt vị trong cảnh dở khóc, dở cười. Kế hoạch “Hốt, hốt liền! không nói” của Bá Thanh đã phá sản và tan theo mây khói để thành Bá Đạo... kết quả là đè nặng lên vai người dân một gánh nặng bởi đội ngũ khổng lồ, cồng kềnh ăn hại, vô công rổi nghề của 2 ban này từ trung ương đến tận mọi địa phương. Nơi đây toát lên một bức tranh với gam màu u tối của một cuộc chiến xấu hổ, tranh giành quyền lợi cá nhân, xem thường lợi ích nhân dân đất nước mà bãi chiến trường là trên đầu của toàn dân.

Từ đó mọi chính sách, đường lối được đưa ra của các ông Vua không ra Vua mà Quan không ra Quan thì người Dân lấy cái gì, dựa vào đâu để có niềm tin mà ủng hộ hay thực hiện, nghe theo? Lời của các vị nói ra nghe và nhìn thấy toàn mùi xôi thịt được ngụy trang bởi những làn sương mỏng, mây mờ lừa mị, dối gian.

Đối với thế giới thì sao? Một đất nước mà cộng đồng thế giới không có lấy một niềm tin cho dù là có ra sức kêu gọi, thì sẽ thế nào một khi những việc mà mình cao giọng tự xưng là “Phương diện Quốc Gia” để ăn nói, ký kết thì ngược lại hoàn toàn trong thực hiện? cụ thể như trong các công ước Quốc Tế về Nhân Quyền. Tôn trọng tự do ngôn luận, báo chí, tôn giáo, hội họp, biểu tình bày tỏ chính kiến ôn hòa... v.v...

Về mặt kinh tế, đối với các tổ chức, cơ quan lớn như WB, IMF, WTO... thì làm gì có được niềm tin một khi ai cũng cho mình là Vua và đứng ra ký kết? Việc Quốc Gia đại sự, việc kinh bang tế thế, liên quan trực tiếp đến kinh tế thương mại, quân sự, ngoại giao... sống còn của đất nước mà người không có chính danh để đại diện thực thụ cho Quốc Gia mà chỉ là người đứng đầu của một tổ chức, một đảng phái, một nhóm người... mà mạo danh, mạo phận đứng ra ký kết? Tỉ như một doanh nghiệp khi Giám Đốc đi vắng mà một ai đó tự đứng ra xin chịu trách nhiệm và ký kết hợp đồng Kinh Tế với đối tác và xưng rằng: “Quí vị hay yên chí lớn mà tin tôi đi! vì tôi là CHA CỦA NÓ (GĐ) mà!” có được không vậy quí vị???

Nếu như một đất nước không có Vua thì thần dân có thể đứng lên lập một vị Vua mới mà vỗ an sơn hà xã tắc. Còn một đất nước với tình trạng có Vua mà không có ngai và có ngai lại không có Vua thì sẽ như thế nào? Có quần mà không có áo, có áo lại không có quần liệu có đi ăn nói được trước cộng đồng xã hội văn minh? “Hồ Xã Nghĩa”, “Loạn Cào Cào” thì không có gì là lạ.

Dứt khoát phải xuất hiện một “Minh Quân” dưới bầu trời nước Việt trong lúc này để lèo lái non sông.

Ngày 4/7/2013
David Thiên Ngọc

Post Reply