Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Khi Giấc Mơ Bị Cấm
Trần Khải
Có ai vào được giấc ngủ của bạn để cấm những giấc mơ? Có ai ngăn cấm bạn kể về những gì bạn nằm mơ trong các giấc ngủ? Vậy đó, nhà nước CSVN đang ngăn cấm những giấc mơ về tự do dân chủ, và bịt miệng những người nói lên các giấc mơ này.

Đặc điểm của chế độ này là, giấc ngủ không còn là chuyện riêng tư, và do vậy công an vẫn săm soi những người kể về các giấc mơ của họ.
Luật sư Lê Thị Công Nhân tuần trước vừa phổ biến một bài thơ nhan đề “I Have a Dream – Tôi có một giấc mơ,” trong đó những dòng đầu tiên là:

“I have a dream !
Tôi có một giấc mơ,
đến một ngày
trên thế gian
sẽ không còn
cộng sản.
*
Khi ấy, người nông dân quê tôi
sẽ không còn lam lũ ngoài đồng nắng
chang chang
ướt đầm áo giọt mồ hôi
bão tố gió mưa
đơn côi
trên đồng quạnh vắng
cho lúa được vàng bông
trĩu hạt !
Nhưng,
phải cống nạp nuôi chính quyền độc tài cộng sản
hơn (một) nửa mất rồi,
Còn đâu...” (hết trích)

Trong những người có giấc mơ như thế -- một giấc mơ tại nhiều quốc gia được xem là rất bình thường, nhưng tại Việt Nam lại bị cấm – có anh Trần Huỳnh Duy Thức hiện đang bị nhà nước CSVN kêu án tù. Giấc mơ của anh thời thơ trẻ là muốn làm một nhà khoa học và rồi ước mơ khi về già sẽ làm một nghệ sĩ đi chụp hình ảnh quê hương mình. Nhưng vì quê nhà hữu sự, và anh phải đặt ưu tiên cho giấc mơ đấu tranh cho tự do dân chủ trước.

Một thiếu nữ viết blog ký tên là Nhi, trong bài viết ngày 17-7-2010 nhan đề “Đôi dòng gửi lại (viết về anh Trần Huỳnh Duy Thức)” – đăng ở trang http://nhiblog.multiply.com/journal/item/63 -- đã kể về những giấc mơ đơn giản của anh Trần Huỳnh Duy Thức:

“...Nhi nhớ anh từng kể nhi nghe về một người con trai lớn lên với ước mơ trở thành một nhà khoa học nhưng không thể nào được trong một xã hội VN khi trách nhiệm lo lắng cho gia đình của anh rất lớn....để rồi anh trở thành một nhà kinh tế và bảo ấy là duyên và là sứ mệnh. Anh còn mong thực hiện xong điều anh muốn cho VN, về già anh sẽ vác máy ảnh đi đó đây khắp quê hương của mình để ghi lại những hình ảnh đẹp...” (hết trích)

Từ khi biết tin anh Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt giam vì các giấc mơ dân chủ, người viết ký tên Nhi, người đã hẹn đi chung đường xây đắp dân chủ tự do cho quê nhà, đã phải đi lang thang nhiều tỉnh, và ngay cả những giấc ngủ cũng thấy đầy bất an.
Trong bài dẫn trên, người viết ký tên Nhi nêu ý định rời bỏ việc viết blog, trích:

“Nhi – Trước khi post thư anh Thức, xin viết đôi dòng gửi lại Multi. Có lẽ cũng không có gì nhiều để nói, nhưng để bạn bè multi quan tâm chuyện anh Thức hiểu được ít nhiều. Coi như là chỉ để nói lên đôi điều sự thật trước khi nhi rời khỏi ngôi nhà Multi này của mình.Khoảng mùa hè năm 2008 nhi biết anh Thức qua mạng và đã hẹn đi chung con đường với anh. Cách đây hơn 1 năm, sau khi anh Thức bị bắt, nhi đã vào Sài Gòn, đúng như hẹn là gặp anh để nghe trực tiếp và chi tiết hơn về những chiến lược của anh…và để mong phụ được anh một điều gì đó. Dù hay tin anh bị bắt, nhi vẫn cứ về SG với hy vọng gặp một người bạn khác, nhưng liền sau đó là nghe tin anh Định bị bắt và rồi đến người bạn này. Những ngày này nằm ở SG nửa đêm rất sợ nghe tiếng chó sủa, ngủ chẳng ngon, thế là sau đó nhi lang thang về Bến Tre rồi ngược Phan Thiết, Mũi Né v.v… Việc cách đây hơn một năm rồi, hôm kia đọc bài viết về bạn Thiên Sầu thì cũng hiểu cái sự lang thang ấy nó như thế nào….

Đúng thật sau khi anh Thức bị bắt hy vọng về một con đường tươi mới cho Việt Nam của nhi nó như bị sụp đổ. Giờ ngồi đây viết những dòng này cũng muốn ứa nước mắt dù bao giờ cũng tự hào mình là một con người lạc quan...”(hết trích)

Thiên Sầu cũng là một người viết blog, từng xuống đường biểu tình chống Trung Quốc năm 2007, bị công an hạch sách và rồi truy bắt, nên phải lang thang nhiều tỉnh. Sau mấy năm biệt tích, bây giờ người ta mới có tin rằng anh đã về một ngôi làng hẻo lánh ven rừng để ngụ cư, khi người yêu bị công an truy bức tới phaỉ rời bỏ anh, khi văn bằng cử nhân học xong không được trường phát ra cho anh, và khi anh không thể tìm được bình an nào trong những thế giới cũ của Sài Gòn, nơi các dân mơ dân chủ của anh được ý thức và nuôi lớn.

Trang blog anhbasg hôm 14-6-2010, nơi điạ chỉ http://anhbasg.multiply.com/journal/item/2372 đã đăng bài nhan đề “Lái Gió viết về Thiên Sầu: Những người muôn năm cũ...” trong đó kể chuyện gặp lại chàng Thiên Sầu:
“Từ hồi mới có 360 , ở phía Nam có một chàng trai trẻ khôi ngô, tuấn tú, uyên bác đã lừng lẫy giang hồ. Chàng có tên là Thiên Sầu.

Thiên Sầu xưng trên blog mình là đảng trưởng đảng chủ dân, anh viết những bài sắc bén bằng giọng văn lúc dí dỏm, lúc trầm tư. Thiên Sầu từng xuống đường biểu tình chống Trung Cộng những ngày đầu tiên của năm 2007 cùng với CLB Nhà Báo Tự Do, với anh Điếu Cày và Nguyễn Tiến Trung… anh say mê hoạt động, đi lại, viết lách không ngừng nghỉ đấu tranh cho sự vẹn toàn lãnh thổ. Lúc nào anh cũng hừng hực lửa nhiệt huyết với quê hương.

Có lần anh nhờ Lái Gió mua hộ cuốn thơ Trần Dần. Lái Gió mua xong ra bưu điện gửi anh. Ba ngày sau Lái Gió lên đồn, công an chìa cái hóa đơn bưu điện, hỏi quan hệ với Thiên Sầu ra sao mà lại gửi sách.
Đến đây lại nhớ Lê Quốc Quyết, em của luật sư Lê Quốc Quân, từng nói khi bị công an triệu tập hỏi về quan hệ với Lái Gió - Quan hệ gì, quan hệ đồng tính à?

Hôm đó công an nói với Lái Gió không quan hệ với Thiên Sầu, vì hắn ở CLBNBTD, một tổ chức phản động.

Sau này mới biết lúc đó trong Nam, Thiên Sầu cũng bị gọi lên và nghe dặn, đừng quan hệ với Lái Gió, trùm giang hồ, ma phi a chuyên buôn thuốc lắc.

Thế rồi bẵng đi thời gian Thiên Sầu bị người ta săn đuổi, Thiên Sầu lang thang, lúc gặp anh ở vùng này, lúc thấy anh vùng khác. Nam , bắc, cao nguyên, miền Tây. Anh cứ thoắt ẩn, thoắt hiện. Không thấy anh viết lách gì nữa, giang hồ vắng bóng anh. Mỗi khi vào Nam hỏi về anh, bạn hữu ai cũng lắc đầu, tung tích anh mờ mịt.

Rồi một chiều lang thang, một chiều không phương hướng, đi đâu về đâu cũng được trừ nhà mình. Lái Gió theo chuyến xe ca mà cánh cửa bằng gỗ, leo qua những ngọn đồi đất đỏ, xóc tung người đến một thị trấn ven biên giới, bạt ngàn những cánh rừng cao su. Đang lơ ngơ thì nghe tiếng gọi, quay lại thấy trong một quán cóc ven đường, mái lá, cột tre. Người anh em thưở nào quần cộc, cởi trần tay bưng khay cà fê đứng đó, chàng trai trẻ Thiên Sầu với khuôn mặt tươi tắn năm nào giờ héo hắt với bụi đỏ, nắng lửa miệt vườn. Chỉ tay quanh chiếc quán lèo tèo mấy ông khách cởi trần đánh bài. Thiên Sầu nói
- Giờ cuộc sống em là đây.

Cái quán lá trông huếch hoác, hỏi cửa đâu. Thiên Sầu chỉ hai cái gióng tre hai bên. Hỏi ngủ ở đâu, chỉ cái miếng cót ngăn phía cuối quán. Sau bữa nhậu là một con vịt cỏ luộc. Đêm đã về khuya, bên chai bia và bao thuốc lá. Thiên Sầu trầm ngâm nhìn xa xăm về hướng thành phố. Nơi một thời anh đã vẫy vùng cùng với anh em, bè bạn, người yêu…

Giờ bạn hữu Thiên Sầu có kẻ trong tù, có kẻ trôi dạt, còn gia đình anh ở đâu, người yêu nữa…” (hết trích)

Có thời nào như thời này không? Thời nào mà những giấc mơ dân chủ bị truy bức như thế, để rồi những người thơ mộng nhất quê nhà phaỉ tìm những góc rừng, chân núi mà ẩn thân?

Có thời nào như thế này không? Thời nào mà giấc mơ trở thành nhà khoa học phảỉ gác laị, giấc mơ làm người chụp ảnh phải trôi xa, và những giấc mơ ban đêm cứ bị khủng bố vì bước chân công an và tiếng chó sủa?

Có thời nào như thế này không? Thời nào mà ước mơ lãnh thổ vẹn toàn lại bị xem là phản động, thời nào mà lời kêu gọi giữ biển, giữ đảo bị xem là chống chế độ, thời nào mà người biểu tình vì Hoàng Sa lại bị truy bắt khắp các nẻo đường quê nhà?
Hãy nhớ rằng có một thời như thế, một thời nhà Hồ như thế. Mà chúng ta đang nhìn thấy. Trước mắt.

TRẦN KHẢI

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Tường Trình: Lý Tống Ra Tòa Ngày 23 Tháng 7, 2010
Ngày 24-07-2010, giờ 03:00 Chúng tôi đặt chân đến tiền đình Toà Thượng Thẩm Quận Hạt Santa Clara trên đường Hedding St., lúc 8 giờ 10 phút sáng ngày 23 tháng 7, năm 2010.

Khi đến nơi, chúng tôi thấy trước tiên là toán phụ trách cầm cờ Hoa Kỳ và Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, gồm 4, 5 anh em (anh Huỳnh Phong ở trong toán cầm cờ này); cũng như buổi ra toà đầu tiên vào ngày 21/7. Nhìn quanh, tôi cũng thấy rất đông đồng hương người Việt đến đây để ủng hộ tinh thần anh Lý Tống. Trong khi chờ đợi giờ mở cửa, đồng bào đã tụ họp thành nhiều, nhiều nhóm để trò chuyện: có nhóm 5,6 người, nhóm 3, 4 người, đứng chung quanh tiền đình Toà Án, đông lắm.

Nhân viên kiểm soát an ninh bắt đầu làm việc, đồng bào xếp hàng "rồng, rắn" để qua cổng dò soát vũ khí. Giống như lần đến toà lần đầu 21/7, mọi người đều phải tháo bỏ dây nịt quần, bóp, ví, đồng hồ, cell phone, và tất cả vật dụng trong túi quần, túi áo vào cái khay nhựa của Ban An Ninh Toà Án; sau đó lần lượt bước qua máy dò soát vũ khí...

Qua khỏi cổng của Ban An Ninh, chúng tôi lần lượt xuống cầu thang "basement" để đến phòng xử 23, như lần họp xử đầu tiên, một số đồng bào xuống trước đã ngồi dọc theo băng ghế sát tường, và đa số đứng xếp hàng nối đuôi dồn chật cứng. Đợi khoảng 10 phút thì cảnh sát giữ trật tự phòng 23 loan báo phòng xử anh Lý Tống đổi sang phòng 32 ở tầng lầu 4. Đồng bào một số đợi vào thang máy, một số dùng cầu thang. Mấy bác lớn tuổi lên đến phòng 32, ôm ngực thở hổn hển.

Chúng tôi lại phải chia nhau ngồi dọc theo dẫy băng ghế và đứng xếp hàng "rồng rắn". Tôi cố ý đảo mắt để đếm đầu người tham dự, nhưng không tài nào đến nổi, vì tôi đứng cố định trong hàng và đầu người thì lố nhố, thật là khó đếm cho chính xác. Chỉ ước đoán là trên 200, nhưng có người kế bên không đồng ý vì cho rằng ít hơn...

Xin nói rõ là, trong lúc chúng tôi ngồi đợi trước phòng xử, nhưng các vị Luật sư đã vào trong phòng xử rồi. Theo tôi nghĩ, vì số người tham dự nghe Toà xử anh Lý Tống, lần nào cũng quá đông đảo, nên lần này Công Tố và Luật sư thương thảo trước khi công bố lệnh của Toà.

Đúng 9 giờ 10, cảnh sát giữ trật tự phòng mở cửa phòng xử để người tham dự vào. Phòng xử chỉ có đủ chỗ ngồi cho 60 người (theo lời L.s Michael Lưu) mà thôi.

Có một điều đáng than phiền, là một số người tham dự vô ý thức, không biết giữ lịch sự văn minh nơi công cộng, đó là, khi cửa phòng xử vừa được mở thì vội vã chen lấn, xô đẩy ồn ào mất trật tự như cảnh vào xem hát "free" ở Việt Nam! Tôi thấy có ông, có bà, cổ đeo thẻ "BÁO CHÍ" cũng chen lấn để được vào bên trong phòng xử. Nhiều người khác phải can ngăn hành động thiếu văn minh đó.

Sau khi phòng xử đã đủ số người, những người đã vào bên trong phòng xử mà không có chỗ ngồi, phải quay ra ngoài, không được đứng bên trong.

Lúc này tôi mới bắt đầu đếm đầu người tham dự: 60 người đã vào ngồi bên trong, tôi đếm số người ở bên ngoài hành lang phòng xử được 65 người. Tổng số khoảng 130 người. Nhưng ngồi chờ đợi ở hành lang phòng xử, không được nói chuyện ồn ào nên đồng bào lại lũ lượt kéo nhau ra ngoài tiền đình đứng. Khi bước ra ngoài tiền đình Toà Án thì đã có một số đông đồng bào ngồi sẵn ở các băng ghế đá và đứng, ngồi dọc ở hai bên sân. Đếm đợt này nữa, khoảng 50 người. Con số có thể nói chính xác mà không sợ bắt bẻ là khoảng 180 - 200 đồng bào tham dự Toà xử anh Lý Tống (lần 2).

Khoảng 9 giờ 30 phút Toà kết thúc vụ điều đình tiền thế chân (bail) của anh Lý Tống. Tổng kết lệnh của Toà như sau:

-Tiền đóng tại ngoại hầu tra của anh Lý Tống là 75 ngàn đô la, thay vì ấn định trước là 100 ngàn đô. Theo lời L.s Tâm, đã trình bày với ông Chánh Án (không nhớ tên, ai biết xin bổ túc dùm), rằng với những tội mà Biện Lý Cuộc áp đặt cho Lý Tống, tội nặng nhất tiền thế chân cũng chỉ 52 ngàn, nên L.s Tâm yêu cầu ông Chánh Án cứu xét lại. Ông Chánh án cũng xác nhận là tiền ấn định 100 ngàn là quá cao, nên ông ta bớt xuống là 75 ngàn. Cũng theo lời L.s Tâm, từ 100 ngàn đô toà đã ấn định lần đầu, bây giờ hạ xuống còn 75 ngàn là sự đòi hỏi của chúng ta đã có kết quả tốt.

-Ngoài ra, Lệnh Toà còn buộc anh Lý Tống không được phép đến gần Đàm Vĩnh Hưng 400 yards (bất cứ trong trường hợp nào). 400 yards tương đương 365 mét. (Xin ghi chú ở đây: tôi không nhớ 300 yards hay 400 yards, nếu 300 yards sẽ tương đương với 274 mét)
-Và anh Lý Tống không được phép tiếp xúc với đương sự ĐVH bằng bất cứ hình thức gì (như gọi điện thoại, email...). Lệnh này có hiệu lực trong vòng 1 năm.

Xin nói thêm về lời L.s Nguyễn Tâm tường trình với đồng bào về cách thức thương thảo với ông Chánh án... để giảm số tiền đòi thế chân của Biện Lý Cuộc, là ông chứng minh với Toà rằng, anh Lý Tống không phải là người bỏ chạy. Anh Lý Tống chỉ bỏ chạy duy nhất một lần, đó là cuộc đào thoát khỏi chế độ cộng sản VN, vượt qua đoạn đường bộ dài trên 1500 cây số nhưng lúc nào anh cũng canh cánh tìm đường quay về. Hơn thế nữa, chế độ cộng sản VN là một chế độ phi dân chủ, bằng chứng L.s Nguyễn Tâm trình bầy trước toà là tấm ảnh công an csvn đang bịt miệng L.m Nguyễn văn Lý. Tấm hình được phóng khổ poster lớn, rất rõ nét. Bên cạnh đó, một chồng đơn xin bảo lãnh anh Lý Tống gồm 650 đơn ký đã fax đến văn phòng L.s Nguyễn Tâm, cùng 400 đơn bảo lãnh còn nằm trên "online" và 1000 lá thư gửi qua email... Từ những chứng liệu đó được trình đến Toà mà số tiền thế chân được giảm xuống, còn 75 ngàn đô.

Một câu chuyện khác mà L.s Đỗ văn Quang Minh đã chia xẻ với đồng hương người Việt tham dự hôm nay là:

1) L.s Đỗ văn Quang Minh hôm 21/7 đã xin ông Chánh án (tôi không nhớ rõ tên, ai biết xin bổ túc) phòng xử 23 giấy phép được quyền chụp hình trong phòng xử. Ông Chánh án này đã cho phép vì L.s Đỗ văn Quang Minh có chương trình VietNam TV News cần có những tài liệu để thông tin. Nhưng hôm nay, phòng xử đổi sang phòng 32, ông Chánh án mới, ông này "khó chịu" nên một mực không giải quyết để L.s Đỗ văn Quang Minh được phép chụp hình, quay phim trong phòng xử.

2) L.s Đỗ văn Quang Minh đã gặp anh Lý Tống ở phòng sau của phòng xử án. Anh Lý Tống ngỏ ý nhờ L.s Đỗ văn Quang Minh đảm trách thủ tục tố tụng cho anh. L.s Đỗ văn Quang Minh có nói với L.s Nguyễn Tâm rằng, bất cứ khi nào L.s Nguyễn Tâm cần sự giúp đỡ hoặc cố vấn điều gì, L.s Đỗ văn Quang Minh đều sẵn sàng hổ trợ, vì L.s Minh đã từng là L.s của anh Lý Tống trong vụ tranh đấu đòi Little Saigon.

Như vậy, sau khi thủ tục thế chân hoàn tất, anh Lý Tống có thể được thả tự do trong ngày và có thể tháp tùng phái đoàn Uỷ Ban Chống Cộng Bắc Cali xuôi Nam để góp mặt tham dự cuộc biểu tình của đồng bào cùng các hội đoàn đoàn thể ở Nam Cali vào ngày 24 tháng 7 năm 2010. Hy vọng, tin này sẽ làm đồng bào ở Nam Cali nô nức, tham dự biểu tình đông đảo khí thế hơn.

Toà xếp đặt ngày xử anh Lý Tống sẽ là ngày 4 tháng 8, 2010 lúc 2 giờ trưa tại phòng xử 23.

Phú Yên tường trình

Bổ túc một số chi tiết xẩy ra bên trong phòng xử án:

-Khi thấy anh Lý Tống bước ra trình diện quan toà, đồng bào vừa thấy bóng dáng anh Lý Tống vội vã đứng lên và vỗ tay. Quan toà yêu cầu đồng bào ngồi xuống và giữ im lặng không được gây ồn ào.
-Khi ấy nữ L.s Bùi Kim Thành (người nổi tiếng tranh đấu cho dân oan 64 tỉnh thành VN khiếu kiện và bị công an csvn đàn áp, áp bắt nhốt trong nhà thương điên...) bị cảnh sát giữ trật tự buộc phải rời phòng xử, trước khi đứng lên rời phòng, L.s Thành đã hô to: Thank you Hero Lý Tông! (3 lần) rồi chị mới rời phòng xử.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Ai đả bắn chim tàu Trung cộng Nguồn tin mới vừa nhận được từ Quảng Ngãi tối Chủ Nhật 18 tháng Bảy- 12 tiếng đồng hồ trước giờ khai mạc hội nghị ARF- một chiếc ngư thuyền Việt Nam đánh bắt trong hải phận Hoàng Sa, hòn đảo đang bị Tầu chiếm đóng, và bị một chiếc tầu “ngư chính” của Tầu tiến lại với ý đồ bắt giữ.
Trong lúc nhiều ngư phủ lên boong thuyền, đưa tay lên ôm đầu tỏ dấu hiệu đầu hàng thì hai ngư phủ chui vào khoang lấy ra 2 khẩu SKZ 75 ly; họ đồng loạt bắn vào mạn tầu Trung Cộng.

Trúng hai viên đại bác, chiếc chiến hạm trá hình thành tầu ngư chính, nghiêng hẳn sang một bên, nhiều thủy thủ Trung Cộng văng xuống biển; hai anh ngư phủ Việt Nam bình tĩnh nạp thêm 2 quả đạn thứ nhì vào nòng súng còn bốc khói; họ lại nhả thêm 2 quả đạn này nữa vào xác chiếc tầu tội lỗi để tạo ra một va chạm quân sự nhỏ.

Ngày hôm sau, phút cử hành lễ khai mạc ARF vừa dứt, bà ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton bị một phóng viên Fox hỏi về việc chiếc tầu ngư chính Trung Cộng bị đánh chìm với 22 thủy thủ đoàn. Bà trả lời là bà không biết gì cả về diễn biến này, bà nói thật, trưởng phái đoàn Trung Cộng cũng nói thật là ông ta không biết; phái đoàn Việt Cộng cũng lắc đầu; họ không biết thật, nhưng không ai tin họ.

Hai khẩu SKZ được chùi xuống lòng biển, cả 4 quả đạn chưa sử dụng cũng được phi tang; và chiếc ngư thuyền bí mật lẩn vào bóng đêm trở về Quảng Ngãi trước khi mặt trời mọc.
Ngày hôm sau đại tá Việt Cộng Nguyễn Văn Tuyến, chỉ huy trưởng Vùng 2 Hải Quân, và đại tá Việt Cộng Mai Tiến Tuyên, chính ủy của Vùng này bị cất chức trong cùng một quyết định. Lý do: trong kho vũ khí của Vùng 2 Hải Quân thiếu 2 cây SKZ và 2 thùng đạn, mỗi thùng 4 quả.
Tuyên bảo Tuyến, “cất chức chỉ là cất quyền chỉ huy thôi, không bị giáng cấp, không bị sa thải là may lắm đó.”
“Mình có tội gì quá đáng đâu mà giáng cấp, mà sa thải?”
“Anh không biết là ngày hôm qua không một chiếc ghe Quảng Ngãi nào ra khơi à? Mọi người ở Quảng Ngãi đều biết mưu định gây ra va chạm quân sự nhỏ, chỉ có mình là không biết,” Tuyên bảo bạn. “Dân chúng tự động tạo ra va chạm; họ để mình đứng ngoài vì họ không tin lập trường của mình muốn bảo vệ biển, đảo.

Nguyễn Ðạt T.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

AN NINH, FBI VÀ THUẾ VỤ IRS HOA KỲ BẮT ĐẦU ĐIỀU TRA VỤ TRỐN XÂU LẬU THUẾ CỦA ĐÀM VĨNH HƯNG
VÀ CÁC TÊN TRÙM TỔ CHỨC SHOW CA NHẠC CHO VC TẠI MỸ.

California: Một nhân vật thân cận tại Hoa thịnh Đốn hôm nay tiết lộ rằng, các tin từ Việt Nam tung ra nói rằng Ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng đi về Việt Nam trong chuyến bay ngày 21-7-2010 là hoàn toàn không đúng và có ý tạo hỏa mù.

Theo tin nầy thì vì tình hình hiện nay Bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton đi Hà Nội và đưa ra các lời chỉ trích mạnh mẽ về vấn đề nhân quyền khi bà đọc diễn văn hôm Thứ Năm tại Hà Nội nhằm đánh dấu 15 năm hợp tác kinh tế Mỹ-Việt. Bà phê bình mạnh mẽ các vụ bắt bớ cầm tù các nhà tranh đấu dân quyền, kiểm soát Internet và đàn áp các tôn giáo (Xem tường thuật của Báo New York Times tại Link:

http://www.nytimes.com/2010/07/23/world ... diplo.html ).

Phó Thủ Tướng Việt Nam Phạm Gia Khiêm chống chế rằng các quyền con người là đặc trưng căn bản trong văn hóa và lịch sử của Việt Nam và rằng TT Barack Obama từng cho rằng các quốc gia được phép lựa chọn lộ trình và các quyền căn bản con người mà không phải do bên ngoài áp đặt.


Trong buổi tiệc trưa tại Hà Nội, bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton trở lại vấn đề nhân quyền tồi tệ tại Việt Nam và bà đòi hỏi CSVN phải mở rộng quyền tự do cá nhân.

Người tiết lộ tin nói rằng, việc bà Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đặt vấn đề về nhân quyền với CSVN là chính sách của chính phủ Hoa Kỳ do TT Barack Oabama chủ trương; và cũng là gởi một tín hiệu của cộng đồng người Mỹ gốc Việt tỵ nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ chống lại việc đàn áp tôn giáo và nhân quyền trong nước; đồng thời chống lại việc CSVN gởi cán bộ CSVN qua Hoa Kỳ tạo xáo trộn cho Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt.

Tin nầy nói rằng, vụ Ca Sĩ mang chức danh và trách nhiệm cán bộ đảng của Đàm Vĩnh Hưng đang gây cơn sốt chính trị tại Hoa Kỳ trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Thế nên để bảo đảm an toàn cho chuyến đi của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đến Hà Nội, ngành Thuế Vụ, An Ninh và FBI của Hoa Kỳ đã được lệnh can dự vào trường hợp của Ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng.



Tin nầy nói rằng, trong khi Việt nam tung tin rằng Đàm Vĩnh Hưng trước khi lên máy bay về Việt nam đã tuyên bố gần như thách thức Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt, thì thực sự Đàm Vĩnh Hưng hiện đang ở tại Nam California và đã chuyển khách sạn đến một nơi khác, có phần chắc là tại vùng Newport Beach.

Theo tiết lộ thì FBI đã yêu cầu Đàm Vĩnh Hưng phải khai báo nơi tạm trú để được bảo vệ nhưng ban đầu thì Đàm Vĩnh Hưng cho biết là đã đến một nơi mà chỉ có 2 người thân nhất trong gia đình được biết. Tuy nhiên người tiết lộ nói rằng hiện Đàm Vĩnh Hưng rất muốn rời Hoa Kỳ, nhưng chỉ thị từ Tổng lãnh Sự CSVN và Hà Nội bắt buộc Đàm Vĩnh Hưng phải ở lại để trình diễn tại nam California để xem xét sức đấu tranh của khối Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt làm được những gì.

Tuy nhiên, theo tiết lộ thì hiện nay ông Lý Tống đang trong giai đoạn xem xét của Tòa An về vấn đề Hình Sự, nhưng phía Việt Nam đang toan tính sẽ thuê một số tập đoàn Luật Sư lớn của Hoa Kỳ để đưa vụ Lý Tống ra tòa Dân Sự nữa để đòi bồi thường thiệt hại nhằm làm cho các tổ chức Cộng Đồng người Mỹ gốc Việt từ rày về sau sẽ phải dè chừng.

Theo các sắp xếp nầy nên người cho tin nói rằng vấn đề Ca Sĩ Đàm Vĩnh Hưng có thể đi vào một giai đoạn rắc rối hơn. Theo lời tuyên bố của Ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng là anh đã qua Hoa Kỳ trình diễn nhiều lần trong nhiều năm qua, nhưng trong hồ sơ về thuế vụ của Hoa Kỳ không có Record nào để giúp cho các quyết định của điều tra và Tòa Án. Thế nên tin nói rằng, hiện Cơ quan IRS, FBI đang bắt tay vào một cuộc điều tra sâu rộng và đòi hỏi Ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng sẽ phải khai báo các hợp đồng đã đến Hoa Kỳ trình diễn trong thời gian qua, các hóa đơn nhận tiền, chi phí và bản kê khai lợi tức, các biên lai Thuế Vụ đã trả cho những đợt trình diễn trước đây trong suốt nhiều năm qua. Liên quan đến vấn đề nầy, các Bầu Show ca nhạc đã đưa các ca sĩ Việt nam đến trình diễn, cũng sẽ lần lượt kê khai các lần tổ chức và số thu nhập, biên lai đã đóng thuế liên quan đến các đợt đó. Các cơ quan thanh tra liên ngành của Hoa Kỳ sẽ nhập cuộc vì thấy rằng các bầu Show thường khai báo rằng bị thua lỗ nên không đóng thuế một cách thật thà, trong khi thua lỗ thì làm sao mà đưa hết đợt nầy qua đợt khác những Ca Sĩ từ VN qua trình diễn tại Hoa Kỳ. Nhân vật cho tin nói rằng, nếu như các Bầu Show khai lỗ mà vẫn tiếp tục thì họ buộc phải khai báo tình trạng nhận tài trợ từ bên ngoài hay sẽ bị truy thu số thuế mà họ gian lận trong nhiều năm qua. Tòa án cũng sẽ đề cập đến các vấn đề nầy theo các hồ sơ điều tra Liên ngành của Hoa Kỳ.

Nên chăng các tổ chức cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ tập trung hỗ trợ chính quyền Hoa Kỳ trong việc cung cấp các thông tin cần thiết cho FBI, IRS và Tòa Án về hoạt động của các Bầu Show trốn thuế và đưa các ca sĩ VC qua gây xáo trộn cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Vụ Lý Tống chỉ là giọt nước tràn ly mà thôi.

(E.M.)

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Phái đoàn Quốc hội Canada thăm gặp 2 Linh mục
Tađêô Nguyễn Văn Lý và Phêrô Phan Văn Lợi tại Huế, ngày 12-07-2010


Image
Từ trái sang phải: bà Db Thái Thị Lạc, Lm Nguyễn Văn Lý, Lm Phan Văn Lợi
và ông Db Claude Guimond
(hình chụp tại phòng của Lm Nguyễn Văn Lý)
Theo thông báo của các chiến hữu dân chủ người Việt tại Canada từ cả tháng trước, một “phái đoàn” Quốc hội Canada gồm có hai người, Nữ Dân biểu Ève-Mary Thái Thị Lạc, Phát ngôn viên nhân quyền của đảng Bloc Québécois, và Thông dịch viên Phạm Huy Bách sẽ đến thăm hai nhà đấu tranh tôn giáo tại Huế là Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý và Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi. Thành ra hai vị đã chuẩn bị hai món quà kỷ niệm nho nhỏ. Không ngờ sáng ngày hẹn 12-07-2010, một phái đoàn đông hơn gồm Bà Dân biểu Thái Thị Lạc, Dân biểu Claude Guimond, chồng sắp cưới của bà, hai Phụ tá người Canada và Ông Thông dịch viên Phạm Huy Bách, tất cả 5 vị, đã từ Sài Gòn ra Huế và đến Nhà Hưu dưỡng thuộc Nhà Chung của Tổng Giáo phận Huế, ở 69 Phan Đình Phùng, lúc 8g30 để gặp hai Linh mục tại phòng Linh mục Lý đang tạm trú để điều trị bệnh tật (trong thời hạn một năm theo quyết định của Tòa án tỉnh Hà Nam).

Bà Dân biểu Thái Thị Lạc, 38 tuổi, là người gốc Việt, dân tộc Chăm. Trường hợp của Bà tương tự trường hợp của ông Philipp Roesler, 36 tuổi, một người gốc Việt khác được cử làm Bộ trưởng Y tế Cộng hòa Liên bang Đức cuối năm 2009. Nghĩa là cả hai đều mồ côi và được một gia đình ngoại quốc nhận làm con nuôi từ bé, đem về nước cho ăn học thành tài; họ lớn lên có địa vị cao trong chính giới, trở thành niềm tự hào cho dân Việt, đồng thời là người ủng hộ cuộc đấu tranh vì dân chủ nhân quyền của đồng bào tại quê nhà.

Quả thế, sau khi chụp vài tấm hình lưu niệm, gọi vui là để “bất tử hóa giây phút lịch sử này” và sau khi phân ngôi chủ khách, Bà Dân biểu cho biết chuyến đi Việt Nam lần này (kéo dài từ 10 đến 25-07-2010) có mục đích gặp gỡ một số vị tương nhiệm (Đại biểu Quốc hội Việt Nam) tại Hà Nội, theo như thỏa thuận với Nhà cầm quyền Cộng sản VN, ngoài ra cũng để gặp gỡ một số nhà đấu tranh dân chủ hay nhân vật có khuynh hướng dân chủ ở cả ba miền. Và hai người phái đoàn gặp đầu tiên là hai Linh mục ở Huế.

Trước hết, Bà Dân biểu và phái đoàn hỏi thăm về tình trạng sức khỏe và an ninh của hai Linh mục. Cha Lý cho biết là mình vẫn tiếp tục điều trị bệnh bại liệt tay phải, chân phải và đang điều trị một điểm tụ huyết trên bán cầu não trái và một túi nang ở bán cầu não phải sau gáy. Theo lời Bà Đại sứ Canada Deanna Horton tại Việt Nam đã hứa trong cuộc gặp gỡ trên điện thoại hôm 30-03-2010, cha Lý hy vọng trong tháng 7 này, nếu không có gì trở ngại, một toán y bác sĩ người Canada sẽ qua Việt Nam để thăm khám và điều trị cho cha. Về tình trạng an ninh bản thân thì Linh mục Lý vẫn ở trong dạng quản chế tại phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế (khu vực trong đó có Tòa Tổng Giám mục và Nhà Hưu dưỡng Tổng Giáo phận Huế). Linh mục Phan Văn Lợi cho biết về tình trạng an ninh của mình là vẫn bị quản chế tại gia bằng khẩu lệnh, nghĩa là hầu như luôn có công an đóng chốt canh giữ gần nhà và bám theo khi ra khỏi nhà; ngoài ra còn bị ngăn cấm đi phục vụ (dâng lễ, dạy học, giảng tĩnh tâm…) tại các dòng tu, những việc mà Linh mục vẫn làm từ trước năm 2001.

Tiếp đến Bà Dân biểu hỏi về hoạt động của Khối 8406 mà hai Linh mục là những người đồng sáng lập. Linh mục Lý cho biết là Khối vẫn tiếp tục sinh hoạt, phát triển trong và ngoài nước với số thành viên ngày càng gia tăng và số văn phòng hải ngoại ngày càng thành lập nhiều chỗ, ngay tại Canada cũng có. Ngoài ra Khối vẫn tiếp tục thực hiện “Tiến trình dân chủ hóa 4 giai đoạn và 8 bước của mình” (công bố ngày 22-08-2006), mà nay đang tiến hành, củng cố giai đoạn một (Thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí) và đang xúc tiến giai đoạn hai (Phục hoạt, thành lập, phát triển các Chính đảng dân chủ phi Cộng sản).

Nghe nói đến báo chí, bà Dân biểu hỏi về tình hình tờ Tự do Ngôn luận. Sau khi biếu mọi thành viên phái đoàn các số TDNL mới nhất (100, 101, 102), kèm thêm vài tập trong Tủ sách Khối 8406 và vài CD tài liệu lịch sử về Giáo hội Công giáo VN, về CSVN, về CS quốc tế do Khối 8406 sưu tập và phát hành khắp cả nước, hai Linh mục cho biết hiện nay tổng số phát hành (kiểm soát được) của tờ báo do chính các thành viên Khối và thân hữu dân chủ trong nước, gồm cả một số viên chức nhà nước thực hiện, giao động từ 40 đến 60 ngàn số mỗi kỳ, chưa kể số lượng được đồng bào in ra và sao chụp thêm từ bản điện tử lưu hành trên mạng.

Ông Dân biểu Claude Guimond hỏi tiếp: “Mới đây chúng tôi có đọc được Thư Hiệp thông của nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền với Giáo xứ Cồn Dầu, Đà Nẵng. Xin vui lòng trình bày toàn bộ sự việc”. Cha Phan Văn Lợi trả lời: Tại Việt Nam chúng tôi có một nhóm Linh mục sống theo tinh thần của Đức Cố Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền (cha Lý lúc ấy mời mọi người nhìn lên chân dung của Ngài trên vách tường) là vị mục tử đã bị Cộng sản đầu độc chết năm 1988 vì đã can đảm lên tiếng bênh vực cho sự thật và lẽ phải, cho tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền. Nhóm chúng tôi lấy tên Ngài và mới đây đã lên tiếng lần hai về vụ Cộng sản tước đoạt đất đai và hành hạ giáo dân (thậm chí đến chết) tại giáo xứ Cồn Dầu, Giáo phận Đà Nẵng. Quý vị biết rằng tại Việt Nam, người dân chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu đất đai. Quyền sở hữu này nằm trong tay nhà nước và đảng Cộng sản (mà họ gọi cho nhẹ là “quyền quản lý”). Đây là một trong những nguyên tắc cai trị của Cộng sản, nó đẻ ra cơ chế xin-cho và gây ra biết bao điêu đứng cho cuộc sống người dân và sinh hoạt của các tập thể. Vụ việc ở Cồn Dầu cũng như tại tòa Khâm sứ, giáo xứ Thái Hà và giáo xứ Đồng Chiêm ở Hà Nội, giáo xứ Tam Tòa ở Quảng Bình, giáo xứ Loan Lý ở Huế, dòng Thánh Phaolô tại ở Vĩnh Long và hàng vạn vụ việc liên quan đến đất đai khắp cả Việt Nam không phải là vấn đề dân sự và hình sự (tranh chấp đất đai giữa cá nhân hay tập thể với người của chính quyền) mà là vấn đề chính trị, nghĩa là đảng Cộng sản tự coi mình là sở hữu chủ mọi tài nguyên thiên nhiên, nhất là đất đai, tại Việt Nam và khi cần thì tước đoạt ruộng vườn, cơ sở của các cá nhân hoặc tập thể, nhất là tập thể tôn giáo, để chia cho nhau trong đám đảng viên cán bộ hoặc để bán hay cho ngoại nhân thuê mướn lâu dài. Tất cả chỉ nhằm bảo vệ quyền lực và duy trì ách thống trị của đảng trên dân Việt.

Bà Dân biểu hỏi tiếp: “Vậy nhân cơ hội này, Quý vị có đề nghị gì mà chúng tôi có thể trình bày trước Nhà cầm quyền Việt Nam không?”. Linh mục Lý cất tiếng: “Chúng tôi yêu cầu hai điều. Một là nếu chưa thể để cho người dân, nhất là các nhà đối kháng dân chủ công khai ra những tờ báo độc lập và các tài liệu dân chủ nhân quyền, thì ít nhất Nhà cầm quyền, cụ thể là Công an, không được bắt bớ, sách nhiễu, hăm dọa những người dân đọc các tờ báo và tài liệu dân chủ đang được phổ biến của Khối 8406 và của các cá nhân, tổ chức dân chủ khác. So với thời Các Mác trong chế độ tư bản Anh ở Luân Đôn cách đây gần hai thế kỷ, so với thời nhóm Nguyễn Ái Quốc, cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Nguyễn Thế Truyền trong chế độ Thực dân Pháp cách đây một thế kỷ, so với thời các báo cánh tả trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975, thì tự do ngôn luận trong xã hội Cộng sản Việt Nam còn thua rất xa, thậm chí chẳng có gì đáng kể. Nhà nước khống chế, kiểm soát mọi sinh hoạt báo chí, dù là báo viết, báo nói, báo hình hay báo điện tử…. Điều yêu cầu thứ hai là nếu nhà cầm quyền CSVN có đưa ra những chương trình phát triển kinh tế, quy hoạch đô thị, xây dựng khu chế xuất, thiếp lập khu sinh thái… thì hãy làm vì lợi ích của người dân, thỏa thuận với họ về chuyện lấy đất đai, bồi hoàn cho họ cách công bằng và tái định cư họ sao cho an cư lạc nghiệp. Yêu cầu nhà cầm quyền chấm dứt mọi kiểu di dời bằng cưỡng bách, bằng bạo lực, bằng dùi cui, bằng nhà tù…. Và quan trọng nhất, triệt để nhất, là phải trả lại quyền sở hữu đất đai cho người dân. Có như thế thì mới bớt bất công trong xã hội và tăng phát triển trong đất nước”

Dân biểu Claude Guimond tiếp lời: “Tôi trước đây cũng từng hoạt động trong vấn đề đất đai tại Canada. Tôi đã từng tham gia vào việc bảo vệ quyền tư hữu đất đai cho một số cư dân bản địa (ct: gốc da đỏ) bị nhiều tay tư bản, tài phiệt tranh giành chiếm đoạt. Nhưng ở nước tôi, chỉ có sự tranh chấp quyền lợi giữa hai nhóm người như thế, chứ không có chuyện Nhà cầm quyền dựa vào cái nguyên tắc lạ lùng như tại Việt Nam để cho cán bộ đảng viên tha hồ cướp đất của người dân đâu!”

Bà dân biểu hỏi: “Chúng tôi sắp ra Hà Nội. Hai cha muốn chúng tôi gặp những nhà dân chủ nào ngoài đó?”. Linh mục Lý đã giới thiệu Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, Nữ Luật sư Lê Thị Công Nhân và một số thành viên tiêu biểu khác của Khối 8406 cũng như các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà (nhưng rất tiếc sau đó phái đoàn đã không thể gặp được ai cả) - “Ngoài các nhà đối kháng đó ra, chúng tôi có nên gặp thêm ai nữa mà có tinh thần dân chủ không?” - “Chúng tôi thiết nghĩ phái đoàn có thể gặp Tiến sĩ Nguyễn Quang A. Ông này chưa phải là nhà đấu tranh dân chủ nhưng là một nhà trí thức có khuynh hướng muốn dân chủ hóa đất nước. Ông từng có nhiều lời nói, bài viết và hành động chứng tỏ sự mong muốn độc lập của giới trí thức Việt Nam, sự thao thức về các vấn đề gây bức xúc trong đất nước và xã hội do cơ chế độc tài đảng trị hiện giờ” - “Trong giới đại biểu Quốc hội Việt Nam, có vị nào là nhà dân chủ không?” - “Đại biểu Quốc hội Việt Nam thì đại đa số là đảng viên Cộng sản, số còn lại thì cũng do đảng chọn, nên hiện giờ chưa thể là nhà dân chủ được. Nhưng có vài Đại biểu nay đã dám nói thẳng với đảng và có khuynh hướng cổ vũ đa đảng đa nguyên, như ông Dương Trung Quốc chẳng hạn” - “Vâng, chúng tôi sẽ tìm cách gặp những người mà hai cha vừa giới thiệu đó. Dĩ nhiên chắc không phải là dễ dàng”.

Linh mục Lý đề xuất tiếp: “Vào lại Sài Gòn, Quý phái đoàn nên gặp cho được Hòa thượng Thích Quảng Độ, vị lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Ngài đang bị quản chế tại Thanh Minh thiền viện, Giáo hội của ngài chưa được nhà cầm quyền CS thừa nhận và đang gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt”. Linh mục Lợi thêm vào: “Đó là một Giáo hội bị đặt ra ngoài vòng pháp luật”. Lm Lý còn giải thích rõ hơn vì sao Phật giáo VN hiện có 2 Giáo hội. “Ngoài ra, cha Lý tiếp, Quý vị nên gặp kỹ sư Đỗ Nam Hải, thành viên Ban Điều hành Khối 8406 của chúng tôi. Và nếu cần, thì kỹ sư Hải sẽ giới thiệu thêm vài nhà đấu tranh dân chủ khác tại Sài Gòn….”

Cuộc gặp gỡ chấm dứt lúc 11g45 cùng ngày, trong những cái bắt tay nồng ấm thân mật. Hai linh mục nói với Bà Thái Thị Lạc và các bạn đồng hành: “Bà là niềm hãnh diện của dân tộc Việt Nam và toàn thể Quý vị là sự nâng đỡ hỗ trợ cho phong trào dân chủ Việt Nam chúng tôi. Xin hết lòng cảm ơn Quý vị”. Phái đoàn rất phấn khởi khi rời Nhà Chung Huế. Dù cuộc gặp kéo dài khá lâu, nhưng không thấy ai thoáng mệt nhọc. Hai Linh mục vui vẻ đứng đưa tiễn và cầu nguyện cho Phái đoàn các Dân biểu này có những ngày an bình tại Việt Nam, hoàn thành tốt công việc và… an toàn trở về miền đất Canada xa xôi lạnh giá. @@@

Nhóm Phóng viên FNA Khối 8406 tường trình từ Huế ngày 25-07-2010

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Hội chứng "ghét cán bộ"...
Nguyễn Thế Thịnh
Không biết đã có công trình nghiên cứu nào về “hội chứng ghét cán bộ” của dân ta hay chưa, nếu có, bọ phải tìm hiểu cho bằng được để biết vì sao người ta ghét cán bộ đến mức phàm cán bộ tất nhiên là xấu; ghét đến độ, ai khen cán bộ cũng bị liệt vào hạng người xấu luôn! Nhiều khi nghĩ, như thế là không công bằng nên bọ cũng cố tìm cách để tự mình suy nghĩ cho công bằng.

Vì GDP tỉnh nào cũng tăng, thành tích tỉnh nào cũng đầy mình...Phải có cái chi đó chơ?
Ví dụ, ngồi đâu đó nghe người ta tính, làm chủ tịch mỗi nhiệm kỳ thu 200 tỷ, phó chủ tịch thì chỉ khoảng trăm tỷ...(Đó là tỉnh lẻ, không biết tỉnh chẵn thì thế nào). Những lúc như thế bọ coi như chấp nhận họ làm thì họ ăn nhưng hỏi lại: Vậy một nhiệm kỳ qua họ làm được cái chi, thử chỉ ra một việc coi? (Không kể việc đi lên truyền hình, dự hội nghị, cắt băng khánh thành, trao bằng khen, phát biểu dông dài nhưng không đúng cũng không sai). Ít người chỉ được vì không có chi mà chỉ.

Hồi mới vô Đà Nẵng, nghe người ta nói ông Thanh “ăn nồi ba mần ra nồi bảy”, bọ nghĩ, nếu có thế thật đi thì ông ta cũng hơn ối kẻ ăn nồi mười mà không làm ra cho nỗi cái niêu đất.

Ông Thanh cũng có nhiều người ghét, vì ông Thanh cũng là...cán bộ.

Ông Tô tai tiếng về vụ ngủ cởi truồng bị ả điếm chụp ảnh lưu lại bọ thấy không tởm bằng mấy thằng làm cuộc truyền hình trực tiếp trịnh trọng chia tay cô ả Vàng Anh, người phơi hết chỗ người ta che kín cho cả nhân loại biết. Không ghét ông Tô bằng thằng trương lên báo tít đậm “sự trở lại của Hoàng Thùy Linh”. Không ghét ông Tô bằng thằng chủ trương mời ả Linh làm đại sứ, nhân vật chi đó trong geame...Không ghét ông Tô bằng cái mặt nhơng nhơng không biết dị của ả ta.

Ông Tô trả tiền cho bướm còn đàng hoàng hơn mấy thằng lợi dụng bướm ả Linh mà khinh doanh!

Nhưng người ta ghét ông Tô hơn vì ông Tô là...cán bộ chính quyền. Mấy thằng khác mang danh là đạo diễn, nhà báo, doanh nhân...nên người ta không ghét bằng.

Nói có vẻ ba lơ ba láp thế đó, nhưng nghĩ lại đau chơ. Một đất nước mà dân ghét cán bộ, thấy cảnh sát thì bất an...thì đất nước đó nên nghiêm túc xem lại mình.

Biết mà làm như chẳng có chuyện gì thì thậm nguy!

Nguồn: blog Nguyễn Thế Thịnh

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Sự Im Lặng Của Biển
Tôi sinh ra ở miền núi nhưng hai mươi năm qua, số phận lại đẩy về miền biển. Thành phố tôi đang sống là thành phố biển. Ngôi trường tôi học trước đây cũng nhìn ra biển và văn phòng tôi đang làm việc hiện nay được xây trên mặt vịnh Boston, bên kia là Đại Tây Dương bát ngát.
Thời gian dài trôi qua, cuộc sống tạm quen dần nhưng ngày mới về đây thật là khó chịu.

Nhất là những ngày mưa bão, biển đổi thành màu đen sậm, xa xa một chiếc ghe đánh cá đang về trễ, tăng thêm phần ảm đạm. Biển vừa làm cho tôi sợ hãi khi liên tưởng đến những ngày còn lênh đênh hơn hai mươi năm trước, nhưng đồng thời cũng vừa có một sức hút vô hình khiến nhiều khi tôi đã đứng hàng giờ đăm đăm nhìn ra biển.

Các triết gia thường nói trong mỗi phút giây chúng ta đang sống đều có bóng dáng của quá khứ và dấu hiệu của tương lai. Tôi nghĩ họ nói đúng. Đối với một người Việt Nam tỵ nạn, quá khứ và tương lai không chỉ là bóng dáng và dấu hiệu thôi, hơn thế nữa, là hai cuộc đời cùng sống, cùng tồn tại, cùng níu kéo nhau, xô đẩy nhau vô cùng mãnh liệt. Một giọt mưa rơi, một chiếc lá rụng ngoài hiên, một tiếng sóng vỗ vào bờ đá cũng làm chúng ta choàng thức dậy, lắng nghe như tiếng có chân ai đang bước. Từ tâm cảm đó, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có lần đã viết trong bài Từ Tiếng Hát Tiếp Nối của anh:”Bàn chân đi, lòng vẫn mong về”. Dù sao, các văn nghệ sĩ vẫn là người may mắn vì ít ra họ có cơ hội để làm vơi bớt đi nỗi u uất trong lòng qua thi ca nhạc họa, bao nhiêu đồng bào khác, không có năng khiếu văn chương, âm nhạc, phải âm thầm chịu đựng. Nếu cuộc sống ở hải ngoại không phải quần quật áo cơm, đầu tắt mặt tối, nhiều người Việt có thể đã chết vì khủng hoảng tinh thần.

Những ngày còn ở Việt Nam, khi nghe bài thơ của nhà thơ Du Tử Lê (tôi chỉ nhớ mỗi câu đầu): “Ra biển chiều nay thấy màu máu đỏ”, được đọc trên đài VOA hay BBC gì đó, mô tả cảnh vượt biên thật hãi hùng. Hẳn nhiên tôi không nghĩ vượt biên sẽ nhẹ nhàng như ngồi trên chiếc du thuyền nhưng tôi cũng không cảm nhận được mức độ của kinh hoàng cho đến khi chính mình ngồi trên thành ghe mong manh vừa chết máy và đang bồng bền trên biển tháng 6 năm 1981. Thời gian chầm chậm trôi qua. Một giờ rồi hai giờ. Tiếng cầu kinh đã dừng lại trên những vành môi khô. Lời niệm Phật đã ngưng trong những thân xác mệt mỏi. Đất trời đều im lặng. Không ai nói với nhau một lời nào. Trống vắng. Trống vắng ngay cả trong suy nghĩ của con người. Nhớ thương, hờn giận đều biết mất. Tất cả như đang dọn mình để bước vào một cuộc đời khác. Không ai tuyệt vọng bởi vì chẳng còn ai hy vọng. Và như thế cho đến khi tiếng máy ghe lại nổ, cuộc hải hành tiếp tục.

Biển mang tôi về lại bãi cát trắng và hàng dương liễu, nơi tôi đứng thẩn thờ nhìn chiếc trực thăng bay xa, bay xa, mang theo người thân yêu nhất của tôi. Biển mang tôi về lại phường Cổ Mân, Quận Ba, Đà Nẵng, nơi tôi sống những ngày đầu tiên không gia đình với người anh họ và chị dâu họ khắt khe, khó tính. Không ai biết và sẽ không bao giờ ai biết, trên những đồi cát trắng dọc bờ biển Sơn Chà, từng có một thằng bé mỗi chiều âm thầm đứng nhìn về phía biển để chờ đợi một tin vui. Tin vui đó đã không bao giờ đến với nó. Nếu mai mốt trở về tôi nhất định sẽ đi tìm thằng bé. Tôi nhớ rất rõ thân hình ốm tong teo của nó khi đứng chờ những chuyến xe Mỹ chở hàng để xin quá giang qua Đà Nẵng. Tôi nhớ rất rõ chiếc áo sờn vai thằng bé mặc trong mùa đông, chiếc chiếu rách, chiếc giường tre nơi nó ngủ. Và tôi cũng nhớ nó, một thằng bé can đảm, nửa đêm thức dậy ra đi, dù chưa biết sẽ đi đâu. Trên cồn cát trắng kia, sau ba mươi năm, vẫn còn in dấu chân của nó như đã hằn sâu trong ký ức con người.

Tôi từng được dạy rằng tôi là chủ nhân của chính mình chứ không ai khác và ý chí của tôi quyết định cho hành động của tôi chứ không từ đâu khác. Học và hiểu thường không quá khó khăn nhưng thực tế không phải bao giờ cũng dễ dàng như thế. Tôi đi qua cuộc đời này như một chiếc lá vàng khi chưa đủ tuổi để xanh. Tôi bay trong giông bão và bay qua nhiều biển cả mênh mông, bao nhiêu lần đã tưởng chừng rơi rụng và mục nát trong một góc chân tường nào đó.

Những chiều mưa bên Đại Tây Dương, tôi cũng bàng hoàng nhớ lại Thái Bình Dương, nhớ lại ngày trên biển, nhớ Manila, Palawan, nhớ đến những người không may mắn như tôi. Dọc bờ biển đó, nơi tôi lắng nghe tâm sự của những em bé, câu chuyện về những đồng bào bất hạnh, sự chịu đựng của những người sống sót, để rồi những tháng năm sau, tôi ghi lại trong Em Bé Việt Nam Và Viên Sỏi, Người Lính Già Vừa Chết, Thưa Mẹ Chúng Con Đi, và những bài thơ khác.

Trong những người Việt Nam bất hạnh đó có người anh tôi đã mang ơn, người đã giúp tôi cơ hội vượt biên. Những dòng chữ này như nén hương để tưởng nhớ về anh.

Tôi vẫn nhớ ngày anh đưa chiếc ghe về, tôi hỏi anh sẽ dùng nó làm gì. Anh đáp gọn “vượt biên”. Tôi cười không tin anh nói thật, khi nhìn chiếc ghe quá nhỏ, nhưng cũng chẳng nói gì thêm. Chuyện tàu bè không phải là việc của tôi, biết hay không cũng chẳng ích gì. Anh mướn người sửa lại. Cắt nửa trên của chiếc ghe và đóng thêm một lớp ván bên ngoài. Sửa mũi và lái cao hơn. Anh mua một chiếc máy nhỏ ở đường Bến Chương Dương đem về gắn vào. Tháng sau tôi trở lại sông, chiếc ghe cũ đã thành chiếc tàu có chiều dài mười mét và chiều ngang chỉ một mét rưỡi. Tuy nhỏ nhưng có dáng dấp một chiếc tàu đánh cá hơn là chiếc ghe đi sông trước đây. Anh bảo tôi vì bụng của tàu vốn là một chiếc ghe nên chỉ có thể nối cao đến thế là cùng. Tôi được mấy người thợ đóng ghe đưa đi một vòng quanh sông. Ngồi trên sàn ghe nhìn nước sông Nhà Bè màu vàng đục, một cảm giác bất an chợt dâng lên trong lòng khi nghĩ đến ngày nào đó sẽ ra biển với chiếc ghe vỏn vẹn mười mét này. Anh dặn tôi đừng sợ, sẽ đi biển được. Anh bảo tôi xuống tàu sống với anh tài công và đóng vai thủy thủ. Tôi lại cười vì tôi không rành bơi lội và cũng chưa hề làm nghề buôn bán trên sông, trên biển bao giờ. Anh nghiêm giọng “Nhưng nếu có chuyện gì xảy ra trên bờ thì chú mày cũng có thể đi thoát được.” Tôi biết anh sắp xếp như thế vì lo cho tôi nhưng một phần khác để tôi khỏi có cơ hội kéo đám bạn bè của tôi theo. Dù đồng ý hay không, tôi cũng không có chọn lựa nào khác. Tiền bạc và công sức đều là của anh. Anh xem tôi như một đứa em nhỏ. Mỗi chiều khi anh ở ngoài sông về, chúng tôi thường hẹn nhau trong một quán rượu. Anh em chúng tôi mướn chỗ để trò chuyện hơn là nhậu nhẹt vì cả hai đều không biết uống rượu. Hoàn cảnh của anh rất giống tôi. Anh cũng lớn lên từ Đà Nẵng chiến tranh và nghèo khó. Anh vào Sài Gòn học và học chung trường đại học với tôi, khác nhau ở chỗ, khi anh lên bậc cao học tôi còn là sinh viên năm thứ nhất.

Chuyến đi khá bất ngờ. Anh chỉ cho tôi đủ thời gian để về chào mẹ tôi. Anh không cho biết chính xác ngày giờ vì ngại tôi sẽ dắt theo bè bạn. Anh biết tính tôi. Tôi hứa hẹn với nhiều người. Một phần tôi chẳng tốn kém gì, phần khác vì tánh tôi hay chìu lòng bạn. Những đứa được tôi hứa dắt theo đều bị bỏ lại. Điều này đã gây ra nhiều giận hờn đáng tiếc giữa chúng tôi cho tới tận ngày nay. Ngày đi tôi đóng vai thủy thủ thật. Anh hẹn mọi người tại một con lạch nhỏ ngoài bìa làng Chu Hải. Tôi theo ghe đến Chu Hải và ngủ đêm lại trong con lạch để chờ khách vượt biên. Trời gần sáng nhưng không thấy ai đến cả. Chúng tôi thức dậy nhìn ra sông. Nước rút hết. Con lạch khô như một con đường làng hẹp. Chiếc ghe vượt biên của chúng tôi nằm chênh vênh bên bờ lạch. Chiếc bánh lái nhỏ như chiếc quạt để bàn đang phơi mình trên cạn. Nhìn bánh lái, tôi thầm tự hỏi, với món đồ chơi trẻ em này làm sao chẻ nổi sóng biển Đông. Mãi đến sáu giờ sáng, nước bắt đầu dâng lên và khách vượt biên không biết từ đâu cũng dần dần xuất hiện. Mọi người lo ngại nhìn chiếc ghe nhỏ nhoi trong lúc mặt trời sắp mọc. Công an và du kích có thể đến bất cứ lúc nào. Nhiều người lo sợ bỏ về. Anh tài công lẽ ra phải lái chiếc ghe cũng bỏ cuộc. Nhưng nhiều người khác, trong đó có tôi, quyết chí ra đi. Một người khách tự động nhận trách nhiệm lái chiếc tàu. Và như thế, chúng tôi đi. Chiếc ghe nhỏ trôi bồng bềnh trên biển Đông hai ngày hai đêm. Mệt mỏi nhiều hơn là đói khát. Cuối cùng sau bốn chục giờ và một lần máy chết, tưởng như sẽ chết, chúng tôi được một tàu hải quân Mỹ vớt.

Tôi nhận thư anh trong thời gian tạm trú ở đảo Palawan. Anh đang lo đóng một chiếc ghe khác, lớn hơn và chắc chắn hơn nhiều so với chiếc ghe bầu sửa lại mà tôi đã đi. Chúng tôi hẹn gặp nhau ở đảo, nếu không kịp, hứa sẽ tìm nhau dù ở nơi nào. Trong lá thư cuối cùng, anh báo tin đang chuẩn bị ra đi. Anh ra đi thật nhưng không bao giờ đến. Bà con anh ở Đà Nẵng và khách vượt biên gần cả trăm người cùng đi với anh cũng không bao giờ đến. Anh đã chết như hàng trăm ngàn đồng bào khác đã chết trên biển Đông. Tôi mang ơn anh nhiều lắm. Không có sự giúp đỡ của anh, hôm nay có thể tôi còn lang thang một nơi nào đó ở Việt Nam. Tôi đặt tên đứa con gái út của tôi cùng tên với con gái duy nhất của anh để kỷ niệm cho tình anh em tuy ngắn ngủi nhưng đầy biến cố của chúng tôi.

Bao nhiêu người Việt đã chết trên biển khơi như anh. Theo ước lượng của nhiều cơ quan thiện nguyện quốc tế, khoảng nửa triệu người đã chết trong gió bão, trong đói khát, trong bàn tay hải tặc từ sau 1975. Thật ra, con số đó cũng chỉ là con số tượng trưng, cần đó để điền vào khoảng trống của một bảng thống kê. Tôi tin không ai biết và sẽ không bao giờ biết được bao nhiêu người Việt Nam đã chết trên biển Đông từ sau mùa bão lửa 1975.

Thỉnh thoảng chúng ta vẫn đọc những lời kêu gọi, những giải sáng tác văn thơ, tự truyện, khuyến khích đồng hương còn sống sót, viết lại, kể lại cuộc đời tỵ nạn, kinh nghiệm vượt biên như những bài học lưu truyền cho hậu thế. Vâng, đó là những cố gắng tốt nhưng ai sẽ là người cầm bút viết ra đây. Tôi và một số bà con khác đã kể lại vì chuyến đi của chúng tôi tuy hồi hộp nhưng không gây nhiều thiệt thòi, mất mát. Trong lúc những câu chuyện cần được nghe, những bài học cần được kể lại, sẽ không bao giờ được kể. Làm sao tả được cảnh những người phụ nữ Việt Nam nằm trần truồng trên sàn ghe như những con cá vừa được kéo lên, đang chờ mổ bụng, ướp đá? Làm sao tả được tâm trạng của người chồng bị trói chặt, nhìn người vợ mang thai bị hải tặp hiếp dâm trước mắt? Làm sao tả được tiếng kêu của em bé lên sáu, lên năm khi nhìn xác mẹ mình bị ném xuống biển sâu? Làm sao tả được cảnh người thoi thóp phải ăn thịt người vừa chết để kéo dài sự sống trên chiếc ghe chết máy lênh đênh nhiều tháng trời trên biển Đông? Không, những câu chuyện vượt biên bi thảm là những viên đá nghìn cân đè nặng lên số phận của đồng bào bất hạnh và sẽ muôn đời ở lại trong lòng biển.

Bên trong chiếc cửa kính dày của văn phòng làm việc, vào những ngày giông bão, những ngọn sóng lớn đánh vào bờ đá, tung bọt cao đến tận chân tường, gió thổi mạnh đến nỗi xé nát những tấm bảng quảng cáo cắm dọc bến tàu. Những lần như thế, tôi ngồi tưởng tượng đến những điều kỳ lạ có thể đang xảy ra trong vùng nước phía bên kia. Tôi cảm giác như có một xác chết đang trôi, một bàn tay vừa nhô lên mặt nước, một tia máu vừa phọt ra từ miệng cá. Tôi cố lắng tai nghe nhưng không nghe gì cả. Lớp kiếng cách âm dày đã ngăn giữa căn phòng ấm áp nơi tôi làm việc và giông bão phía bên kia như ngăn cách giữa hiện tại no đủ và quá khứ đầy thiếu thốn của tôi.

Nhưng nếu không có lớp kính dày kia liệu tôi có nghe được gì không? Vẫn có thể là không. Cuộc sống xứ người đã cuốn tôi đi xa, xa đến mức nhiều khi không còn biết mình là ai nữa. Tôi vẫn đọc mỗi ngày bao nhiêu tin buồn về đất nước, tôi đã thấy mỗi ngày bao nhiêu cảnh bất công đè nặng lên số phận đồng bào. Nhưng, ngoài trừ những bài thơ, bài văn viết khi nhàn rỗi, tôi vẫn dửng dưng nhìn bàn tay của những em bé Việt Nam năm sáu tuổi đang vẫy mời những khách mua dâm ở Campuchia, và tôi vẫn lạnh lùng nhìn giọt nước mắt của những cô gái Việt Nam đang chảy trên đường phố Đài Loan. Phải chăng con đập áo cơm đã ngăn đôi dòng sông lý tưởng thời tuổi trẻ của tôi? Phải chăng hàng rào danh lợi đã che khuất đi khả năng để biết lắng nghe tiếng kêu gào thống thiết của quê hương và cả tiếng gọi của chính trái tim mình? Có thể cả hai. Biển, vì thế, vẫn lặng yên, câm nín như nỗi đau của đồng bào tôi và đất nước tôi.

Trần Trung Đạo

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Vì sao cán bộ... mặt dày?
Hà Sĩ Phu
Sáng nay đọc trang Boxitvn tôi được gợi cảm sâu sắc, bởi thấy hai bài Hội chứng "ghét cán bộ"... và Văn hóa “Mặt dày” liên quan với nhau mật thiết, bài nọ cắt nghĩa cho bài kia.

- Tại sao ghét cán bộ?

- Vì đến nay số đông cán bộ đã bị chứng... mặt dày! (không dám vơ đũa cả nắm, nhưng có là số đông mới hình thành nên một thứ “văn hóa mặt dày” chứ?). Tự nhiên một câu hỏi cứ bật ra: Tại sao “cán bộ” của ta lại gắn với “mặt dày” đến nỗi dân cứ thấy cán bộ là ghét? Sao lại có điều vô lý thế, sao lại có thể ăn nói với nhau khó nghe thế?

Xin hãy bình tâm, không vô lý chút nào. Vì đằng sau những cán bộ ấy là một chữ QUYỀN to tướng để dựa lưng. Tôi dám chắc khi chưa dính đến chữ Quyền thì những người này cũng có bộ mặt nếu không mảnh mai dễ thương, thì ít ra cũng biết xấu hổ như mọi người.

Có quyền thì sướng lắm, trong bầu không khí độc quyền thì “có quyền mua tiên cũng được” chứ mua dâm đã ăn nhằm gì? Vì thế muốn mua được cả “tiên” thì trước hết phải mua được chức quyền đã! (bây giờ nhiều chức phải mua tiền tỷ, nhiều tỷ nữa). Mua Quyền còn lãi hơn mua đất, một vốn bốn... mươi lời. Kinh doanh Quyền mới là bọn lái buôn thượng thặng. Vì đất không biết tự đẻ chứ Quyền thì “tự đẻ” mãnh liệt: xu hướng tự nhiên của quyền lực là lạm quyền, nó cứ bành trướng đến khi nào gặp một trở ngại không thể vượt qua. Montesquieu đã có phát hiện rất quý báu này.

Vì thế một xã hội văn minh khi tạo lập quyền lực bao giờ cũng phải có ngay một “cơ chế hãm quyền lực” đi kèm theo. Cách tự hãm của hệ quyền lực là tạo ra nhiều trung tâm quyền lực độc lập với nhau, đến mức đủ để kiềm chế nhau (chứ không vào hùa với nhau) và người trọng tài phán quyết cuối cùng là Nhân dân, trọng tài thật chứ không phải trọng tài danh nghĩa.

Sàng lọc mãi, xã hội đã thấy cần ba trung tâm quyền lực là đủ: phải tam quyền phân lập. Công thức tổng quát đó có thể cải biến ít nhiều tùy từng nước, nhưng điều cấm kỵ là 3 quyền đó không được nhập vào một nơi, không được sinh từ cùng một chỗ. Ta thay chữ “phân lập” bằng “phân công” là cách đánh tráo ngôn từ nguy hiểm. Phân công thì phải có một chủ thể phân công, như ba đứa con cùng một MẸ sinh ra lại được Mẹ phân công để thâu tóm toàn bộ quyền lực thì đấy chẳng phải một kiểu “gia đình trị” là gì?

Tính chất tự sinh của quyền lực, ngoài bản tính lạm quyền, còn nằm ở quan hệ tương sinh giữa Quyền và Tiền, còn nằm ở nạn ô dù, cái dù che cho cái cán, dù mẹ đẻ dù con, công ty mẹ đẻ công ty con..., còn nằm ở tính chất mafia: đã sa vào đường dây này thì không dễ tỉnh ngộ mà rút ra được nữa, cuối cùng tội phạm nào cũng đồng thời là nạn nhân.

Vì thế, một hệ quyền lực đã có gốc độc quyền thì quyền lực cứ tự sinh sôi, tự kích thích, tự gia tăng... Sự thoái hóa, là đặc điểm đính kèm của quyền lực, cũng theo đó mà gia tăng không thể kìm hãm.

Làm bậy thì sướng, sướng bậy mà không ai làm gì được thì tội gì mà không làm tới? Điều này giải thích tại sao cũng con người ấy, cũng bộ máy ấy, lúc đầu có thể tốt mà càng về sau càng xấu đi, uy tín hao mòn đến mức chỉ còn cách “ăn mày quá khứ”, suốt ngày phải nhấm nháp từng mẩu quá khứ, có khi đã mốc, để sinh tồn. Muốn nêu cao những gương tốt của quá khứ để học tập nhưng số gương tốt mới xuất hiện không kịp với số gương xấu thoái hóa cứ mọc ra như nấm sau mưa, không thể “chặt chém” cách nào cho xuể! (Cảm ơn PTT Nguyễn Sinh Hùng đã diễn đạt sự bất cập này rất tuyệt). Nếu đã biết và có trách nhiệm với cái nền xã hội như thế thì phải thương, rất thương các cháu gái nhỏ đang thành những nạn nhân khốn khổ do “lũ” người “lớn” tạo ra, và thả các cháu Hằng cháu Thúy ra ngay mới phải, thưa ông Phó Thủ tướng! Nhẹ tay với thủ phạm nhưng nặng tay với nạn nhân là nghĩa làm sao?

Kẻ cần danh để dựa vào lòng tin phải sống bằng uy tín, nhưng uy tín là loại thực phẩm rất mau hết hạn sử dụng, đòi hỏi phải được chính chủ nhân làm mới hàng năm, hàng tháng, hàng ngày.

Tóm lại Quyền lực làm phát sinh thoái hóa, quyền lực tuyệt đối thì thoái hóa tuyệt đối, vực thẳm này loài người đã trông thấy từ lâu mà việc tránh xa nó thực không phải dễ vì nó thơm ngon hơn mọi thứ trên đời.

Câu chuyện lại dẫn ta bàn về hai chữ TỰ DO. Khi nói trong chế độ Hitler hay chế độ Stalinist xã hội không có tự do thì chưa chính xác. Bởi chính Hitler , chính Stalin và bộ máy khổng lồ của họ được tự do hết cỡ, chỉ phần còn lại của xã hội là không có tự do. Tổng số Tự do như một hằng số, chia hết cho cực Thống trị thì cực Bị trị còn số không, nên phải có tỷ lệ thích hợp. chế độ Tam quyền phân lập giúp xác định và vận hành tỷ lệ thích hợp ấy, khi ấy ta bảo trạng thái của xã hội là có dân chủ.

Khi tỷ lệ Tự do được phân phối thích hợp, xã hội sẽ vận hành trơn tru, linh hoạt và bền vững. Trong sinh giới (trong đó có loài người) sự bền vững không bao giờ là sự ổn định chết cứng, trái lại là sự sống thường xuyên biến động, linh hoạt để đạt đến một giá trị cân bằng, mà chính giá trị cân bằng này cũng giao động linh hoạt nên gọi là “cân bằng động”. Chỉ có sự cân bằng chính trị (tức là có dân chủ) mới đem lại sự cân bằng tâm lý, cân bằng đạo đức và văn hóa. Kẻ quá thừa Tự do sẽ sinh hư, kẻ quá thiếu Tự do cũng rất dễ sinh hư theo một nghĩa nào đó, khi ấy xã hội chẳng những không yên mà còn dần dần sa đọa.

Con người thoát thai từ “con”(qua hàng triệu năm thời cổ sơ) nên sự Tự do của con người cũng có hai loại: Tự do của NGƯỜI là yếu tố thuộc về Nhân tính (gắn liền với dân chủ), và Tự do của CON là yếu tố thuộc về thú tính (gắn liền với vô chính phủ). Hai yếu tố của Tự do này chi phối lẫn nhau. Khi quyền Tự do nhân tính bị co lại thì Tự do thú tính sẽ phình ra.

Tất cả những chế độ Chính trị độc tài tuy đề cao quyền lực chính phủ, nhưng là chính phủ của riêng họ áp đặt lên nhân dân, nên bản chất lại là “phi chính phủ/anarchist”, di chứng của Tự do thú tính, cùng loại với những Tự do thú tính khác, như bạo lực, dâm loạn..., nên nó khó chống những tệ nạn này, trái lại nó rất xung khắc với Tự do nhân tính là nền Tự do hướng thượng đã được thuần hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa, trong đó “sự tự do của mỗi cá nhân là điều kiện cho tự do của toàn xã hội” như Mác mong muốn, nhưng muốn vậy thì quyền lực lại không được tập trung vào một nguồn duy nhất như ở các nước Xã hội chủ nghĩa hiện thực! Sai lầm cơ bản đáng tiếc của chủ nghĩa Mác-Lê là đã dùng phương tiện chống lại mục đích.

Những hiện tượng Nguyễn Trường Tô, Hoàng Thùy Linh, hiện tượng bạo lực học đường, bạo lực xã hội, nữ sinh lõa lồ đánh nhau đưa clip lên mạng... mà các tác giả trên đề cập chì là những ví dụ nhỏ trong hệ thống thiếu Tự do nhân tinh của một nền dân chủ, dẫn đến phát triển Tự do thú tính hoang dã. Một cách tự nhiên, con “thú” lớn vạch đường cho những con “thú” nhỏ, noi gương nhau cả thôi.

Họ phạm tội lỗi nhưng cũng là nạn nhân, bởi trong thực tiễn xã hội và trong hệ nghe - nhìn (của lề phải đấy!) hàng ngày đầy dẫy những yếu tố khuyếch trương và nuôi dưỡng cái gọi là sự “tự khẳng định mình” một cách hình thức, của thứ Tự do sống sượng, của kẻ thừa QUYỀN thừa TIỀN, của thứ văn hóa hiện đại phù phiếm lai căng, đang chiếm lĩnh quyền làm chủ đất nước. Thứ “Văn hóa mặt dày” sở dĩ vênh váo được vì có một hệ thống công khai nuôi dưỡng nó, (lúc chịu đòn cũng chỉ là đòn giơ cao đánh khẽ), trong khi “đối thủ” của nó là một nền Văn hóa biết xấu hổ, biết đau khổ về tình trạng thua kém, về tình trạng lệ thuộc, đáng tủi nhục của nhân dân mình, của đất nước mình... lại đang ở vào thế bị bị lép vế, bị áp chế, càng yêu nước càng bị người đại diện cho nước đánh đòn.

Trong “Văn hóa mặt dày” có vô số kiểu mặt dày khác nhau, chẳng dâm thì gian, chẳng gian thì nịnh, chẳng nịnh thì lẳng lặng tòng phạm bằng cách quay lưng trước những vấn nạn của xã hội, ngậm miệng ăn tiền và ra vẻ đạo đức ung dung... Có hội chứng “ghét cán bộ” là vì thế.

Trên đời chẳng ai dại gì tuyên bố ủng hộ cái Ác, nhưng cái Ác vốn là yếu tố thường trực, đã phục sẵn trong bản thể sâu xa thầm kín của con người, có mặc cảm bị văn minh kiềm chế nên nó nhạy lắm. Chỉ cần nghe ngóng thấy yếu tố Tự do nhân tính trong xã hội bị lép vế là cái Tự do thú tính lập tức vùng lên chiếm thế thượng phong, và coi chừng, chính nó lại nhân danh cái Thiện (khôn thế)! Vì thế, tôi cảm ơn hai tác giả Nguyễn Thế Thịnh và Nguyễn Trung đã đánh tín hiệu lật tẩy sự nhân danh đánh tráo ấy.

Những tiếng nói Văn hóa bao giờ cũng đáng trân trọng, nhưng Văn hóa và Chính trị là cặp bài trùng. Tạo hóa hóm hỉnh bày ra cuộc chơi Game rất trí tuệ giữa Văn hóa và Chính trị: trong trường kỳ thì Văn hóa quyết định Chính trị, trong đoản kỳ thì Chính trị lại quyết định Văn hóa, nên tránh Chính trị thì cũng khó lòng chấn hưng Văn hóa. Hai thứ ấy có lúc tôn nhau lên, có lúc lại dìm nhau xuống, có anh thắng keo đầu nhưng keo cuối lại thua... Bực mình quá, “Con người” bèn gọi Trời là “Con Tạo” , một thứ “Con” đa đoan như mình cũng phải.

Hà Sĩ Phu
(Trưa 27-7-2010)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Sao Anh Nở Đành Quên

Từ thuở hồng hoang, khi con người còn ăn lông ở lổ, loài chó đã trở thành một trong những người bạn thiết thân. Ban đầu loài cho hoang chỉ mon men đến gần nơi trú ngụ của những bầy đàn người, để ban ngày thì ăn mót những mẫu thịt thừa, xương cặn, tối đến thì được sưởi ấm từ những bếp than hồng mà con người dùng để giữ lửa, để ngăn thú dữ, và cũng để giữ ấm cho “ngôi nhà”,…. Dần dà các thế hệ chó mẹ đẻ chó con rồi hậu duệ của đàn chó hoang thuở nào trở nên quấn quýt với loài người khi được loài người cho ăn no ngủ ấm, để dáp lại ân nghĩa của con người, loài chó cũng tận sức tận lực giúp con người trong việc tìm kiếm nguồn thức ăn qua công việc săn bắt thú rừng cũng như cảnh báo cho con người biết mỗi khi có thú dữ.

Đối với người Việt, một dân tộc phát tích, tồn tại cho đến ngày nay từ nền văn minh lúa nước, ngoài “con trâu là đầu cơ nghiệp” ra thì loài chó cũng gắn bó với người Việt bao đời nay, ngoài công việc săn bắt thú rừng, chó còn trông nhà giữ cửa khi chủ nhà đi vắng, và thêm một “thiên chức” cao cả khác là làm công tác vệ sinh mỗi khi con cái chủ nhà bị tháo dạ.
Image
Người Việt, yêu mến loài chó không những bởi tính mẫn cán này của họ hàng nhà chó, bởi thịt chó là món khoái khẩu với nhiều người, “sống trên đời ăn miếng giồi chó, biết khi chết rồi còn có hay không”, và bởi theo người Việt thì loài cho vốn giàu tình cảm, trung thành và có trí nhớ tốt. Chẵng thế mà người Việt đã đúc kết một kinh nghiệm đã bao đời truyền tử lưu tôn rằng: “Lạc đàng nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu”. Tất nhiên ông cha chúng ta chỉ tích lũy được những kinh nghiệm đó bằng những gì họ được thấy, được nghe, chứ không phải từ một công trình nghiên cứu nào về đời sống và tập tính của loài chó để hiểu rằng tất cả những biểu hiện, những hành vi của loài chó mà người Việt chúng ta cho là “lòng trung thành” hay “trí nhớ tốt” thực ra chỉ là tập tính, là bản năng, chứ không phải là trí tuệ.

Xứ Huế của tôi có thể xem là xứ sở của đạo Phật bởi mỗi phi tần của Nguyễn Triều, sau khi một vị tiên đế qua đời, thì đều phải xuất cung về các làng xã liên cận với hoàng thành, xây dựng cho mình một ngôi chùa và tu tập cho đến ngày quy tiên chứ đã từng được tiến cung làm cung phi mỹ nữ rồi, thì không được phép tái giá, chính vì vậy mà ở Huế quê tôi dù đất hẹp người thưa, nhưng hiện có trên 3,000 ngôi chùa và niệm Phật đường lớn nhỏ, và cho dù người dân Huế có làm phép quy y hay không, nhưng hễ thờ cúng ông bà thì họ tự cho mình là đạo hữu, là Phật tử. Vì vậy mà ở Huế thật hiếm có người ăn thịt chó, hiếm có những quán “cầy tơ” như ở đất Bắc, hay ngoài xứ Nghệ, và ở xứ Huế quê tôi, những người từng ăn thịt chó thường bị cư dân địa phương xem như là một thành phần hạ tiện trong xã hội, và dẫu người đó là một quan quyền hay một chức sắc thì dân chúng cũng không dành cho bất cứ một sự trọng thị nào như phong tục của người dân xứ kinh kỳ. Nếu có một ai nào đó làm thịt chó thì sẽ gây xôn xao từ làng trên đến xóm dưới, già trẻ gái trai xúm lại xem người ta giết chó, như thể đi xem phường trò, và nhiều câu chuyện được thêu dệt chung quanh lòai chó và việc giết thịt chó.

Câu chuyện được truyền tụng nhiều lần hơn cả là chuyện một chàng trai xứ Nghệ đi bộ đội vào đóng quân ở Huế, rồi phải lòng một cô gái địa phương vậy là chàng trai đào ngũ để “xây dựng” với cô gái Huế, anh ta nuôi khá nhiều chó để mỗi khi có họ mạc ở quê "Bác" vào thăm, thì giết thịt và đãi khách quê hương bằng của hiếm hoi của chốn kinh kỳ. Một lần nọ, có khách từ xứ Nghệ vào thăm, anh ta cũng giết thịt chú chó nhà để đãi khách như bao lần. Với chiếc chày vồ trong tay, anh ta giáng một đòn chí tử vào đầu con chó khiến đôi mắt nó phòi ra, nhưng con chó vẫn còn kịp chui xuống gầm giường kêu la thảm thiết. Không thể chui vào gầm giường để kết liễu đời con chó, anh bộ đội nắm bàn tay lại như thể đang cầm nắm xôi, hết gọi tắc tắc lại chu mồm huýt sáo. Nghe tiếng chủ gọi, dù đôi mắt đã lọt hẳn ra ngoài, không còn nhìn thấy gì nữa, nhưng nhận ra tiếng gọi thân quen của chủ, chú chó đáng thương cũng định hướng được vị trí của chủ nhà, vừa rên ư ử, vừa cố chút sức tàn trườn đến, vẫy tít chiếc đuôi như cố báo hiệu với “ông chủ” là tôi đây, tôi đây. Và lần này, không để mất cơ hội nào nữa, với chiếc chày vồ vụt tới tấp lên đầu lên gáy, chú chó ự lên mấy tiếng thương đau rồi trút hơi thở cuối cùng, và không lâu sau đó, khách và chủ vui say qua những chén tạc, chén thù bên mâm rượu với món thịt cầy tơ...

Những người dân quê tôi mục thị cảnh này, kẻ thì nguyền rủa anh chủ nhà gian ác, người thì khen ngợi chú chó trung thành, dù vừa mới bị chủ giáng cho một chiếc chày vồ lên đầu đến thừa chết thiếu sống, vậy mà khi thấy chủ vờ cho một vắt xôi và cất tiếng gọi thì đã ngoáy tít chiếc đuôi và trườn đến với chủ… Riêng tôi lúc bấy giờ thực sự không hiểu nổi chú chó này vì quá mức trung thành với chủ hay vì có tính mau quên để phải vong thân như vậy?
Image
Sự việc trên đã xảy ra non 3 thập kỷ rồi, bỗng nhiên mọi chi tiết
lại hiện về mồn một trong ký ức của tôi khi gần đây từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 11 vừa qua một đại hội thật “hoành tráng” của 1000 người Việt ở nước ngoài vừa diễn ra tại Hà nội, bởi cho dù quý đại biểu Việt kiều là người Nam hay người Bắc cũng đều đã phải bỏ nước ra đi vì một lý do rất chung bởi họ đều là nạn nhân của chế độ cộng sản. Nếu xuất thân từ đất Bắc hẳn họ biết quá rõ về những chiếc chày vồ trí mạng mà đảng và nhà nước cộng sản đã giáng lên đầu thân nhân và đồng bào của họ qua chính sách tiêu thổ kháng chiến khiến hơn hai triệu đồng bào đã bị chết đói vào tháng ba, năm Ất Dậu 1945,. Rồi những vụ đấu tố trong cải cách ruông đất từ 1953 cho đến 1956 khiến hàng trăm ngàn nông dân miền Bắc phải thiệt mạng chỉ vì ông cha của họ đã lưu truyền cho gia đình họ hơn 5 sào ruộng. Chắc họ biết rõ là đã có hơn 1 triệu đồng bào miền Bắc đã vì kinh hoàng với những tội ác của cộng sản mà phải rời bỏ bờ tre gốc lúa, quê hương bản quán ở đất Bắc để di cư vào nam vào năm 1954, và hơn 3 triệu đồng bào khác cũng đã bị đe dọa, bị ngăn chặn khi trên đường di cư, rồi phải ở lại đất Bắc để chịu đựng những năm tháng đọa đày nơi địa ngục trần gian ấy bởi họ đã trót mang tư tưởng di cư vào nam để theo lủ "Tề-Ngụy Điệp" mà “âm mưu chống lại Bác và Đảng”.
Vâng, dẫu họ vẫn còn sống sót để có cơ hội trở thành “khúc ruột ngàn dặm”, nhưng chắc họ vẫn còn nhớ với chủ trương “giết lầm hơn bỏ sót” với khẩu hiệu “TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO, ĐÀO TẬN GỐC, TRỐC TẬN NGỌN” hàng ngàn, hàng ngàn sỹ phu Bắc Hà cùng với các tiểu thương, các công chức ở Đàng Ngoài đã bị hành hình hoặc bị hạ phóng.
Image
Còn nếu những đại biểu Việt kiều là những người sinh ra và lớn lên từ bên nay bờ Bến Hải thì chắc họ vẫn chưa thể quên biến cố tết Mậu thân với hơn 7,000 đồng bào vô tội ở Huế bị thảm sát bằng hình thức đập đầu hoặc chôn sống! Chắc họ vẫn còn nhớ mùa hè đỏ lửa 1972 với hơn 15.000 đồng bào Quảng Trị đã bị đã bị đại pháo của cộng quân nghiền nát như thịt bằm trên “Đại Lộ Kinh Hoàng” dài non 10km! Dù các đại biểu Việt kiều đến được bến bờ tự do bằng đường biển hay đường bộ thì chắc họ vẫn còn nhớ những ngày hãi hùng kinh khiếp đối mặt với bão tố phong ba hay hải tặc giữa đại dương, với nhiều thuyền nhân phải ăn thịt người chết để được sống, với những thuyền nhân đã bị cướp, bị hãm hiếp, những thuyền nhân phải tự thiêu, phải treo cổ tự sát ngay sau khi bị Cao Ủy Tỵ Nạn từ chối tư cách tỵ nạn và cả với hơn 70 % những thuyền vượt biên không đến được bến bờ, để một số trở thành tù nhân trong các trại lao cải vì tội “phản quốc”, để các nữ tù vượt biên bị cán bộ quản giáo hãm hiếp, và nhiều, rất nhiều triệu thuyền nhân đã phải vĩnh viễn nằm lại dưới lòng biển lạnh!
Thưa quý đại biểu Việt Kiều,

“Quân tâm khả cảm uyên biên ngộ
Ký tế thời hồi, vị tế ưu”

Vâng, phàm là một đấng Quân Vương dẫu đã đăng quang ngôi vua rồi, cũng phải luôn canh cánh trong lòng những nổi lo âu khi khi chưa giành đựơc ngôi báu. Phàm là quân tử dù đã qua được bên kia sông rồi vẫn phải luôn nhớ đến những nổi lo sợ, hãi hùng khi thuyền đang tròng trành giữa dòng sóng nước!
Vâng, thưa quý vị đại biểu Việt kiều,
“Chưa đi đảng gọi Việt gian
Đi rồi đảng lại chuyển sang Việt Kiều
Chưa đi, phản động trăm điều
Đi rồi, khúc ruột đáng yêu nghìn trùng
”….

Image
Từ sau đại hội người Việt nam định cư ở nước ngoài lần thư nhất đó, đã có nhiều bài báo viết về những “dự mưu” của đảng và nhà nước cộng sản Việt nam về việc tổ chức “Hội Nghị Việt kiều yêu nước” này như là một trong những chủ trương lớn của đảng và nhà nước nhằm phát huy tính năng và hiệu quả của Nghị Quyết 36/CP. Là một thần dân của nước CHXHCN Việt nam, hàng ngày vẫn phải đọc, phải nghe những chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước về các chiến lược nhằm “đối phó với âm mưu diễn biến hòa bình của đế quốc Mỹ là bè lũ người Việt phản động lưu vong ở nước ngoài”, qua bài này người viết chỉ mong được bày tỏ nổi băn khoăn của mình rằng tội ác của cộng sản VN vẫn còn nguyên đó, mà sao anh nỡ đành quên?

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Vatican đã bác bỏ nhiều đòi hỏi phi lý từ phía Việt Nam
như thế nào trong Phiên họp hỗn hợp vòng 2 tại Vatican


VietCatholic News (30 Jul 2010 09:34)

Phiên họp hỗn hợp giữa Vatican và Việt Nam đã kết thúc hơn 1 tháng nay. Cả hai bên đều ra thông cáo gần giống nhau, đều coi đây là bước phát triển trong quan hệ song phương và đã có một thoả thuận là Toà thánh được cử một đại diện không thường trực đến Việt Nam. Thế nhưng còn rất nhiều chi tiết của phiên họp đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Mới đây VietCatholic nhận được một số tin tức từ những nguồn tin đáng tin cậy cho biết về phiên họp này và một số những chi tiết "nhậy cảm" xin được ghi lại như sau:

Khác hẳn với phiên họp vòng 1 tại Hà Nội, Tòa Thánh đã chấp nhận một số những đề nghị từ phía Việt Nam liên quan tới Giáo hội Việt Nam thì trong phiên họp lần 2 Tòa Thánh chẳng những có thái độ không khoan nhượng với những lập luận phê bình Giáo hội từ phía Việt Nam, nhưng còn thẳng thắn bác bỏ hầu hết các đòi hỏi do đoàn Việt Nam đưa ra ở phiên họp vòng 2 tại Vatican.

Theo nhiều nguồn tin chúng tôi nhận được thì đoàn Việt Nam đã đề nghị Toà thánh cấm không cho Đức TGM Ngô Quang Kiệt về nước kể cả dịp đại hội các GMVN vào tháng 10-2010 và không bổ nhiệm vào bất cứ chức vụ nào ở Toà thánh. Vatican cho rằng, Đức TGM Ngô Quang Kiệt chưa bị tước quyền công dân Việt Nam nên Toà thánh không thể làm cái việc vi phạm nhân quyền và cả pháp luật Việt Nam nữa. Còn việc bổ nhiệm nhân sự ở Vatican, đó là công việc nội bộ mà Việt Nam không nên can thiệp vào giống như Vatican không thể đề nghị ông A làm Thủ tướng hay bà B không được làm Bộ trưởng ở Việt Nam.

Việt Nam cũng đề nghị Toà thánh cấm không cho dòng Chúa Cứu Thế hoạt động tại Việt Nam hay ít nhất không cho hoạt động tại Hà Nội giống như trước đây trong lịch sử Toà thánh đã rút dòng Tên khỏi Việt Nam, không cho hoạt động mục vụ ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XVII. Vatican trả lời các dòng tu hoạt động theo tôn chỉ của Dòng và luật pháp ở từng quốc gia. Nếu họ sai pháp luật, xin các ngài hãy xử theo luật pháp, chúng tôi chỉ có thể nhắc nhở họ khi họ làm sai với tôn chỉ đã được Toà thánh phê chuẩn.

Về đề nghị của Việt Nam là Toà Thánh ra thông báo cấm các cuộc tập trung cầu nguyện đòi đất đai, tài sản như thời gian vừa qua và can thiệp kịp thời như vụ cầu nguyện ở Toà Khâm sứ, phái đoàn Vatican trả lời rằng: đất đai, tài sản của Giáo hội sở hữu một cách hợp pháp, Toà thánh kiên quyết bảo vệ và vẫn dứt khoát nêu lại đòi hỏi của các Giám mục Việt Nam là đòi lại quyền sử dụng hợp pháp Toà Khâm sứ ở Hà Nội và Giáo hoàng học viện Đà Lạt.

Toà thánh nhận định rằng nếu như Toà thánh có đại diện ở Việt Nam thì việc nắm bắt thông tin sẽ kịp thời và chính xác hơn thì sẽ sẽ đễ dàng có chỉ dẫn cụ thể cho từng vụ việc.
Lập trường của Toà thánh là luôn ủng hộ việc đòi hỏi chính đáng: việc đòi lại tài sản hợp pháp của Giáo hội Việt Nam trong tình thần ôn hoà, bất bạo động.


Việt Nam cũng đề nghị Toà thánh dừng tiến trình phong thánh cho Hồng y Nguyễn Văn Thuận vì “không có lợi cho đại đoàn kết dân tộc”, Vatican đã bác bỏ thẳng thừng và cho đó là vi phạm các thoả thuận giữa Vatican và Việt Nam ở vòng 1 vì chỉ có phong giám mục ở Việt Nam mới cần có sự đồng thuận của Nhà nước Việt Nam mà thôi.

Không khí họp căng thẳng tới mức phái đoàn Việt Nam đã xin tạm ngừng họp để xin ý kiến ở Hà Nội. Không biết Hà Nội chỉ đạo thế nào nhưng kết thúc đã thống nhất đề nghị Vatican được cử một đại diện không thường trực đến Việt Nam.

Tuy nhiên vị đại diện này có được tự do vào Việt Nam gặp gỡ các giám mục, linh mục giáo dân hay không? Có phải xin phép và báo trước lịch trình cho phía Việt Nam và được ở lại Việt Nam bao lâu hay bao lâu mới được đến Việt Nam một lần vẫn chưa thống nhất được mà phải chờ đến vòng ba họp tại Hà Nội vào năm sau.

Còn một số thông tin nữa chúng tôi đang kiểm chứng, đối chiếu nhưng với những gì biết được và khi nào thuận tiện sẽ trình bầy sau. Một số giáo sĩ Việt Nam ở Roma và một vài Giáo chức Giáo hội có ảnh hưởng ở Việt Nam rất nhiệt liệt hoan hô tinh thần làm việc thẳng thắn của phái đoàn Vatican tại phiên họp vòng 2 vừa qua.

Đồng Nhân

Post Reply