Bình Luận Thời Sự
TC Bị Ghét Nhứt Hoàn Cầu
Tác giả : Vi Anh
Hiện thời Hoa kỳ và Trung Cộng là đệ nhứt và đệ nhị siêu cường kinh tế thế giới. Nhưng theo sưu khảo của tổ chức PEW, Trung Cộng là chế độ bị ghét nhứt hoàn cầu, Mỹ bị ít hơn.
Tổ chức PEW chuyên nghiên cứu dư luận trên toàn cầu gần đây có tổ chức một cuộc thăm dò xem các nước nhìn thế nào về hai siêu cường kinh tế này. Thăm dò TC làm trên 37,000 người xuyên qua 39 quốc gia từ tháng Ba đến tháng Năm năm nay.
Kết quả cho thấy đại đa số cho TC là một siêu cường, nhưng bị ghét nhứt thế giới. Ghét TC nhứt là dân Mỹ, kế là Đức, Hàn Quốc, Philippines và Nhật Bổn. Còn Nga, Pakistan, Chile, Venezuela, Brazil và nhiều nước ở Phi Châu thì đỡ hơn, ít ghét TC hơn những nước vừa kể. Lý do ít ghét của những nước này vì TC mua rất nhiều nguyên liệu như đồng của Chile, đậu tương của Brazil và dầu lửa từ Venezuela. Nhưng lý do kinh tế chưa hẳn là yếu tố cảm tình vì chỉ có 28% người Đức có thiện cảm với TC dù TC mua rất nhiều hàng hoá, máy móc của Đức, dù Đức có phân nửa dân số là người Đông Đức từng sống trong chế độ CS, nữ Thủ Tướng Đức Angela Merkel cũng là người Đông Đức, và Đức kinh tế vững mạnh nhứt ở Liên Âu tin rằng kinh tế TC vượt qua Mỹ.
Không phải riêng Đức mà 4 quốc gia lớn nhất châu Âu – Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Anh – cũng tin TC đã vượt qua Mỹ.
Còn ở Á châu, các nước Á châu Thái Bình Dương nhứt là Nhựt, Phi luật Tân, Nam Hàn thì quá ghét TC sau những hành động TC ngang ngược xâm lấn tranh chấp biển đảo của các nước Á châu Thái Bình Dương. Ghét TC nhứt là Nhựt, chỉ có 5% người dân Nhựt tỏ ra thông cảm với TC.
Không thấy VN nằm trong danh sách được thăm dò nhưng thời sự VN cho thấy người dân Việt ghét cay ghét đắng TC, coi TC như quân Tàu xâm lăng và thống trị VN qua 1,000 năm ba lần Bắc Thuộc trong lịch sử 4,000 năm của VN.
Phân tích thành phần của cuộc thăm dò, người ta thấy lớp trẻ thuộc lứa tuổi 18-29 có cái nhìn đỡ hơn đối với TC so với lứa tuổi trên 50. Theo lý giải của những người làm sưu khảo thì, một mặt trên phương diện thế giới quan, lớp người dưới 30 tuổi sanh ra, lớn lên và sống trong một thế giới tương đối hoà bình nên ít chú ý tới tình hình các nước. Và mặt khác lớp trẻ được hỏi đa số sống trong các nước tự do, chưa kinh nghiệm chánh trị nhiều, không có kinh nghiệm CS, bản chất ngây thơ, vô tư, tưởng đâu nước nào cũng như nước mình, tự do, dân chủ đương nhiên có như nước mình.
Vả lại từ khi TC gọi là đổi mới kinh tế - thực ra, đúng ra là trở lại kinh tế thời Trung Hoa lấy tư nhân làm gốc - hầu hết các nước trong Thế giới Tự do rất lạc quan về sự tăng trưởng của TC, nhiều năm tỷ lệ tăng trưởng trên 10%, nên báo chí Tây Phương hễ nói tới TC là nói tới tăng trưởng kinh tế,
Nhưng đi sâu vào TC, người ta thấy TC tăng trưởng kinh tế, chớ không phát triễn kinh tế. Đảng giàu mạnh nhưng dân chúng thì không. Đối nội chưa bao giờ đất nước và nhân dân TQ xã hội bị phân hoá, hố sâu ngăn cách nghèo giàu sâu rộng, môi sinh ô nhiễm trầm trọng, tham nhũng tràn lan như bây giờ.
Đối ngoại chưa bao giờ hàng hoá TC sản xuất chánh yếu là rẻ tiền để xuất cảng, thu ngoại tệ mạnh về cho Đảng – hàng hoá đó đang bị hầu như cả thế giới lo ngại là hàng gian, hàng giả, hàng độc; báo chí trên thế giới không ngày nào không có tin báo động coi chừng “Chết vì TC” như tựa cuốn sách xuất bản ở Mỹ thành sách gối đầu giường cho một số chánh khách và doanh nhân trên thế giới. Trong những lý do TC bị ghét cả hoàn cầu có lý do hàng độc, hàng giả của TC.
Nói TC đệ nhị siêu cường kinh tế thế giới trở thành chế độ bị hoàn cầu ghét nhứt, mà không nói tới Mỹ đệ nhứt siêu cường thế giới, là thiếu sót, là chủ quan nhứt là người viết là người Mỹ gốc Việt.
Cũng theo cuộc thăm dò của PEW, kết quả cho thấy có 10 nước thích và ghét Mỹ. Thăm dò này PEW thực hiện trong khi chánh quyền Mỹ đóng cửa từng phần vì cuộc khủng hoảng ngân sách, báo chí la làng lên là Mỹ phá sản, vỡ nợ, mất tự lực thanh toán nếu Hành Pháp và Lập Pháp, hai đảng Cộng Hoà và Dân Chủ ở Hạ và Thượng Viện không thoả hiệp thông qua một ngân sách tạm thời nào đó.
Những nước thích Mỹ nhứt, đứng đầu sổ là Philippines ở Á châu, với 85% dân chúng có thiện cảm với nhân dân và chánh quyền Mỹ. Quá dễ hiểu vì Philippines đang nhờ cậy Hoa Kỳ rất nhiều trước áp lực của Trung Quốc lấn đảo, chiếm biển của Phi Luật tân.
Kế là Do Thái ở Trung Đông, với 81% dân chúng thích, Kenya ở Phi Châu (nguồn cội của TT Obama) với 81%, El Salvador ở Nam Mỹ với 79%. Và Nam Hàn ở Á châu đứng thứ 7 với 78%; Ý 76% ở Âu châu; Uganda ở Phi châu 73%, và Brazil ở Nam Mỹ 73%.
Ở đời có kẻ thương thì cũng có người ghét, nhứt là đối với một nước như Mỹ đệ nhứt siêu cường kinh tế, chánh trị và quân sự từ sau Thế Chiến thứ 2 tới giờ. 10 quốc gia ghét nước Mỹ nhất, vẫn theo thăm dò của PEW, thứ nhất là Pakistan, chỉ có 11% dân chúng có thiện cảm với nước Mỹ. Không có gì khó hiểu, vì Pakistan là nơi Hoa Kỳ có những cuộc không kích bằng máy bay không người lái, giết hại những cốt cán của Al Qaeda và đột kích giết Bin Laden trùm khủng bố quốc tế sống trong một khu quân sự của Quân Đội Pakistan, làm thế giới coi Pakistan là nước chứa chấp đầu não quân khủng bố al-Qaeda.
Kế tiếp là nước Jordan 14%, lãnh thổ Palestine và Ai Cập đều 16%, Thổ Nhĩ Kỳ 21%, Hy Lạp 39%. Đối thủ bên kia bờ Thái Bình Dương là Trung Quốc đứng thứ 7 trong danh sách ghét nước Mỹ với 40%. Kế đến là Argentina 41%, Tunisia 42%, và Lebanon 47%.
Không thấy thăm dò CS Bắc Hàn ở Á châu, có lẽ đó là một chế độ độc tài đảng trị toàn diện, khép kín nhứt thế giới.
Sau cùng thăm dò xã hội học chỉ là khoa học nhân văn, chớ không phải khoa học thực nghiệm hay khoa hoc chính xác như toán 2+2 = 4. Thăm dò luôn có xác suất +, -- 3 %. Giá trị của nó chỉ tương đối thôi./. (Vi Anh)
Tác giả : Vi Anh
Hiện thời Hoa kỳ và Trung Cộng là đệ nhứt và đệ nhị siêu cường kinh tế thế giới. Nhưng theo sưu khảo của tổ chức PEW, Trung Cộng là chế độ bị ghét nhứt hoàn cầu, Mỹ bị ít hơn.
Tổ chức PEW chuyên nghiên cứu dư luận trên toàn cầu gần đây có tổ chức một cuộc thăm dò xem các nước nhìn thế nào về hai siêu cường kinh tế này. Thăm dò TC làm trên 37,000 người xuyên qua 39 quốc gia từ tháng Ba đến tháng Năm năm nay.
Kết quả cho thấy đại đa số cho TC là một siêu cường, nhưng bị ghét nhứt thế giới. Ghét TC nhứt là dân Mỹ, kế là Đức, Hàn Quốc, Philippines và Nhật Bổn. Còn Nga, Pakistan, Chile, Venezuela, Brazil và nhiều nước ở Phi Châu thì đỡ hơn, ít ghét TC hơn những nước vừa kể. Lý do ít ghét của những nước này vì TC mua rất nhiều nguyên liệu như đồng của Chile, đậu tương của Brazil và dầu lửa từ Venezuela. Nhưng lý do kinh tế chưa hẳn là yếu tố cảm tình vì chỉ có 28% người Đức có thiện cảm với TC dù TC mua rất nhiều hàng hoá, máy móc của Đức, dù Đức có phân nửa dân số là người Đông Đức từng sống trong chế độ CS, nữ Thủ Tướng Đức Angela Merkel cũng là người Đông Đức, và Đức kinh tế vững mạnh nhứt ở Liên Âu tin rằng kinh tế TC vượt qua Mỹ.
Không phải riêng Đức mà 4 quốc gia lớn nhất châu Âu – Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Anh – cũng tin TC đã vượt qua Mỹ.
Còn ở Á châu, các nước Á châu Thái Bình Dương nhứt là Nhựt, Phi luật Tân, Nam Hàn thì quá ghét TC sau những hành động TC ngang ngược xâm lấn tranh chấp biển đảo của các nước Á châu Thái Bình Dương. Ghét TC nhứt là Nhựt, chỉ có 5% người dân Nhựt tỏ ra thông cảm với TC.
Không thấy VN nằm trong danh sách được thăm dò nhưng thời sự VN cho thấy người dân Việt ghét cay ghét đắng TC, coi TC như quân Tàu xâm lăng và thống trị VN qua 1,000 năm ba lần Bắc Thuộc trong lịch sử 4,000 năm của VN.
Phân tích thành phần của cuộc thăm dò, người ta thấy lớp trẻ thuộc lứa tuổi 18-29 có cái nhìn đỡ hơn đối với TC so với lứa tuổi trên 50. Theo lý giải của những người làm sưu khảo thì, một mặt trên phương diện thế giới quan, lớp người dưới 30 tuổi sanh ra, lớn lên và sống trong một thế giới tương đối hoà bình nên ít chú ý tới tình hình các nước. Và mặt khác lớp trẻ được hỏi đa số sống trong các nước tự do, chưa kinh nghiệm chánh trị nhiều, không có kinh nghiệm CS, bản chất ngây thơ, vô tư, tưởng đâu nước nào cũng như nước mình, tự do, dân chủ đương nhiên có như nước mình.
Vả lại từ khi TC gọi là đổi mới kinh tế - thực ra, đúng ra là trở lại kinh tế thời Trung Hoa lấy tư nhân làm gốc - hầu hết các nước trong Thế giới Tự do rất lạc quan về sự tăng trưởng của TC, nhiều năm tỷ lệ tăng trưởng trên 10%, nên báo chí Tây Phương hễ nói tới TC là nói tới tăng trưởng kinh tế,
Nhưng đi sâu vào TC, người ta thấy TC tăng trưởng kinh tế, chớ không phát triễn kinh tế. Đảng giàu mạnh nhưng dân chúng thì không. Đối nội chưa bao giờ đất nước và nhân dân TQ xã hội bị phân hoá, hố sâu ngăn cách nghèo giàu sâu rộng, môi sinh ô nhiễm trầm trọng, tham nhũng tràn lan như bây giờ.
Đối ngoại chưa bao giờ hàng hoá TC sản xuất chánh yếu là rẻ tiền để xuất cảng, thu ngoại tệ mạnh về cho Đảng – hàng hoá đó đang bị hầu như cả thế giới lo ngại là hàng gian, hàng giả, hàng độc; báo chí trên thế giới không ngày nào không có tin báo động coi chừng “Chết vì TC” như tựa cuốn sách xuất bản ở Mỹ thành sách gối đầu giường cho một số chánh khách và doanh nhân trên thế giới. Trong những lý do TC bị ghét cả hoàn cầu có lý do hàng độc, hàng giả của TC.
Nói TC đệ nhị siêu cường kinh tế thế giới trở thành chế độ bị hoàn cầu ghét nhứt, mà không nói tới Mỹ đệ nhứt siêu cường thế giới, là thiếu sót, là chủ quan nhứt là người viết là người Mỹ gốc Việt.
Cũng theo cuộc thăm dò của PEW, kết quả cho thấy có 10 nước thích và ghét Mỹ. Thăm dò này PEW thực hiện trong khi chánh quyền Mỹ đóng cửa từng phần vì cuộc khủng hoảng ngân sách, báo chí la làng lên là Mỹ phá sản, vỡ nợ, mất tự lực thanh toán nếu Hành Pháp và Lập Pháp, hai đảng Cộng Hoà và Dân Chủ ở Hạ và Thượng Viện không thoả hiệp thông qua một ngân sách tạm thời nào đó.
Những nước thích Mỹ nhứt, đứng đầu sổ là Philippines ở Á châu, với 85% dân chúng có thiện cảm với nhân dân và chánh quyền Mỹ. Quá dễ hiểu vì Philippines đang nhờ cậy Hoa Kỳ rất nhiều trước áp lực của Trung Quốc lấn đảo, chiếm biển của Phi Luật tân.
Kế là Do Thái ở Trung Đông, với 81% dân chúng thích, Kenya ở Phi Châu (nguồn cội của TT Obama) với 81%, El Salvador ở Nam Mỹ với 79%. Và Nam Hàn ở Á châu đứng thứ 7 với 78%; Ý 76% ở Âu châu; Uganda ở Phi châu 73%, và Brazil ở Nam Mỹ 73%.
Ở đời có kẻ thương thì cũng có người ghét, nhứt là đối với một nước như Mỹ đệ nhứt siêu cường kinh tế, chánh trị và quân sự từ sau Thế Chiến thứ 2 tới giờ. 10 quốc gia ghét nước Mỹ nhất, vẫn theo thăm dò của PEW, thứ nhất là Pakistan, chỉ có 11% dân chúng có thiện cảm với nước Mỹ. Không có gì khó hiểu, vì Pakistan là nơi Hoa Kỳ có những cuộc không kích bằng máy bay không người lái, giết hại những cốt cán của Al Qaeda và đột kích giết Bin Laden trùm khủng bố quốc tế sống trong một khu quân sự của Quân Đội Pakistan, làm thế giới coi Pakistan là nước chứa chấp đầu não quân khủng bố al-Qaeda.
Kế tiếp là nước Jordan 14%, lãnh thổ Palestine và Ai Cập đều 16%, Thổ Nhĩ Kỳ 21%, Hy Lạp 39%. Đối thủ bên kia bờ Thái Bình Dương là Trung Quốc đứng thứ 7 trong danh sách ghét nước Mỹ với 40%. Kế đến là Argentina 41%, Tunisia 42%, và Lebanon 47%.
Không thấy thăm dò CS Bắc Hàn ở Á châu, có lẽ đó là một chế độ độc tài đảng trị toàn diện, khép kín nhứt thế giới.
Sau cùng thăm dò xã hội học chỉ là khoa học nhân văn, chớ không phải khoa học thực nghiệm hay khoa hoc chính xác như toán 2+2 = 4. Thăm dò luôn có xác suất +, -- 3 %. Giá trị của nó chỉ tương đối thôi./. (Vi Anh)
Ngả rẽ của Saudi Arabia
Hùng Tâm/Người Việt
Một đồng minh Á Rập của Hoa Kỳ đang tính chuyện khác
Sau một năm nộp đơn, hôm 17 vừa qua, Saudi Arabia được nhận làm hội viên Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc cho nhiệm kỳ hai năm. Ngay hôm sau, Bộ Ngoại Giao của vương quốc thông báo là họ từ chối vì không thể làm tròn nhiệm vụ trong một cơ chế có thái độ nước đôi. Saudi còn kết án Hội Ðồng Bảo An tội chểnh mảng công vụ vì không hoàn tất nghị quyết về hồ sơ Palestine, không ngăn việc phổ biến võ khí tàn sát, nhất là võ khí hạch tâm, và không cản chế độ Syria sát hại thường dân.
Bản tin đưa ra được bình luận rằng thái độ này là để ngầm ám chỉ Hoa Kỳ. Hai ngày sau thì có người nói thẳng, chứ không úp mở quanh co.
Ðó là Hoàng thân Bandar Bin Sultan al-Saud, người cầm đầu hệ thống tình báo Saudi. Ông trình bày với giới chức ngoại giao Âu Châu tại thủ đô Riyadh, là sẽ thu hẹp tầm hợp tác với Hoa Kỳ trong việc trang bị và huấn luyện quân nổi dậy tại Syria để phản đối chính sách Mỹ trong khu vực. Hoàng thân Bandar còn nói rõ hơn, rằng việc từ chối vào Hội Ðồng Bảo An không là một thông điệp cho Liên Hiệp Quốc mà thật sự là cho Hoa Kỳ.
Một số nhà bình luận cho rằng quan điểm ấy của Hoàng thân Bandar (nhắm vào Hoa Kỳ hơn là Liên Hiệp Quốc) cho thấy là có sự dị biệt ý kiến trong nội bộ Hoàng gia Saudi, ít ra là dị biệt giữa Hoàng thân Bandar và Ngoại trưởng Saud al Faisal của Saudi.
Sự thật có lẽ nghiêm trọng và rắc rối hơn vậy nên Hồ Sơ Người Việt phải trình bày lại bối cảnh.
Hoàng Gia Saudi
Ðầu tiên, một chi tiết không thừa khi đọc tin hay đọc tên: theo ngôn ngữ Á Rập, “bin” có nghĩa là “con của” (như “ben” trong tiếng Do Thái). Khi đọc tên là Saud bin Abdulaziz chẳng hạn, ta biết người đó tên là Saud và là con của Abdulaziz.
Chuyện thứ hai, theo quy tắc thông thường, một người lên ngôi thì được gọi là Vua, King, còn các con, hay cháu (gọi bằng chú, bác hay cháu nội, ngoại) của họ thì được gọi là Prince, nếu dịch là Thái tử hay Hoàng tử, Hoàng tôn thì nhiều khi không ổn. Vì vậy, xin dịch là Hoàng thân, trừ phi người đó được chọn làm người kế vị, Crown Prince, thì mới dịch là Thái tử. Không có quy ước này là chúng ta sẽ tẩu hỏa nhập ma khi làm tin!
Trở lại chuyện Hoàng gia Saudi.
Từ một thị tộc đã hùng cứ khu vực này từ 250 năm, Abdulaziz bin Abdel-Rehman al Saud thống nhất quyền lực từ đầu thế kỷ 20 để lập ra vương quốc Saudi Arabia hiện đại. Ông lên làm vua từ năm 1932 cho đến khi tạ thế vào năm 1953. Thường được gọi là Ibn Saud, ông vua này có (khoảng) 22 bà vợ, 45 con trai và khá nhiều con gái. Trong số con trai, 36 người đã trưởng thành và có con cái đang giữ nhiều vị trí quan trọng, đó là “thế hệ thứ ba,” của những hoàng thân.
Sau khi Ibn Saud tạ thế năm 1953, con trai là Saud bin Abdulaziz lên nối ngôi. Làm vua được 10 năm thì vua Saud bị một người em khác mẹ là Faisal bin Abdulaziz đòi ông thoái vị vì kém khả năng. Faisal lên làm vua từ 1964 đến 1975 và là người đã đề nghị viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa 300 triệu đô la để cầm cự vào phút chót mà chuyện không thành. Ông bị một người cháu gọi bằng bác ám sát vào Tháng Ba năm 75 vì chủ trương hiện đại hóa. Một người con khác của Ibn Saud, không cùng mẹ với Saud và Faisal, lên ngôi từ 1975 đến 1982, đó là Khalid bin Abdulaziz.
Sau khi vua Khalid từ trần, một người con trai khác, từ bà Hassan Al Sudairi, lên kế vị. Ðó là Fahd bin Abdulaziz. Vì bà Sudairi được Ibn Saud yêu quý nhất nên bảy con trai đều có thế lực, được gọi là “thất vương của Sudairi.” Vua Fahd là con trai lớn của cánh Sudairi và giữ ngôi cho đến 2005 thì mất. Một con trai khác của Ibn Saud là Abdullah bin Abdulaziz lên ngôi từ đó tới nay. Vua Abdullah sinh năm 1924, nay đã gần 90 và lâm trọng bệnh.
Tức là từ người sáng lập đến 2013, năm vua theo nhau cai trị Saudi Arabia đều là con của Ibn Saud, chưa kể bốn người khác vẫn hiện diện trong chính quyền. Năm ông vua kế vị cũng có con trai đang giữ nhiều vị trí quan trọng. Thí dụ như Saud bin Faisal là con trai của vua Faisal và là ngoại trưởng từ 1975 tới nay, một kỷ lục thâm niên của thế giới.
Và những vấn đề sinh tử
Vì sức khỏe yếu kém, ông vua đang trị vì là Abdullah đã hai lần chỉ định người sẽ kế vị (Thái tử) mà họ đều theo nhau tạ thế, đó là Tổng trưởng Quốc Phòng và Hàng Không Sultan bin Abdulaziz mất năm 2011, rồi Tổng trưởng Nội vụ kiêm Ðệ nhị Phó Thủ tướng Naif bin Abdullaziz vừa mất năm ngoái. Hoàng thân Bandar bin Sultan được nhắc tới ở trên là con trai của Thái tử Sultan bin Abdulaziz mới tạ thế năm 2001. Bandar là một diều hâu thân Mỹ, Ðại sứ Saudi tại Hoa Kỳ từ 1983 đến 2005, rồi về làm tổng thư ký Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia.
Quy tắc kế vị của Hoàng gia Saudi không chú trọng đến dòng trưởng dòng thứ hay tuổi tác của các hoàng tử mà, từ vụ Faisal truất ngôi Saud, còn phải có khả năng lãnh đạo. Ngoài ra, từ năm 2006, vua Fadh còn lập ra Hội đồng Gia tộc gồm các con trai (hay cháu của một người con đã tạ thế hay bất lực) của Ibn Saud, với nhiệm vụ chỉ định Thái tử, theo quy tắc là không chọn con trai của người đang tại vị làm Thái tử. Dù vậy, việc chọn người kế vị vẫn bị vấp váp và sau hai Thái tử vừa mất, Hội đồng Gia tộc vẫn chưa chọn người nào khác. Vua Abdullah cũng chưa chỉ định ai làm Ðệ nhị Phó Thủ tướng, một chức vụ chuẩn bị cho ngôi Thái tử, ví thế việc tìm người nối ngôi vẫn là vấn đề.
Nếu các hoàng tử đời thứ nhất, con cháu của vị vua sáng lập là những người nói chung ít học, họ vẫn nặng tinh thần gia tộc và gắn bó với sự tồn tại của Vương triều Saudi. Tuy vậy, các hoàng thân thuộc cánh Sudairi vẫn có thế mạnh và đang lấn lướt mấy người con của Faisal. Kế đó, thế hệ thứ ba thì được học hành đến nơi đến chốn và đã giữ nhiều chức vụ quan trọng, như tổng trấn các địa phương, hay trong nội các. Họ có tinh thần hiện đại hơn mà cũng nhiều tham vọng hơn.
Bài toán kế vị trong thời gian tới là 19 hoàng thân cháu nội của Ibn Saud (thế hệ thứ ba) phải tranh đoạt quyền bính với nhau và đấu tranh với 16 chú bác (con trai của Ibn Saud) trong Hội đồng Gia tộc. Chuyện không dễ giải quyết.
Huống hồ là Hoàng gia Saudi còn gặp một thách đố về chính danh và tư tưởng trong xã hội.
Thuộc hệ phái Wahhabi rất bảo thủ, Hoàng gia Saudi tự coi là đại diện chân chính cho Hồi giáo cổ truyền tức là chính thống nhất. Nhưng thực tế thì họ đang bị nhiều giáo sĩ cực đoan hơn kết án là suy đồi biến chất. Việc trùm khủng bố Osama bin Laden là người Saudi, xuất thân từ khuynh hướng cực đoan, càng làm nổi bật nỗi khó khăn của Hoàng gia Saudi.
Ðã vậy, ở ngoài đời, một thế hệ trẻ đã lớn lên với những phương tiện thông tin và truyền thông mới, thì lại coi Hoàng gia Saudi là những người lỗi thời của quá khứ. Khi Mùa Xuân Á Rập bùng nổ năm kia, Hoàng gia Saudi bị lúng túng và phải khá tốn kém cho các dự án xã hội để phần nào giải tỏa bất mãn của người dân và hậu quả khích động từ xứ Bahrain bên cạnh.
Ngoài những khó khăn của việc truyền ngôi kế vị, bị xu hướng Hồi giáo cực đoan đả kích và bị thế hệ trẻ đòi tự do, Hoàng gia Saudi còn gặp một vấn đề từ lòng đất. Là dầu hỏa.
Vừa lập ra Vương quốc, lãnh đạo Saudi đã có một món quà của Thượng đế là dầu thô với trữ lượng rất lớn và phẩm chất rất cao, ngọt và nhẹ hơn dầu thô của nhiều xứ khác. Nhờ vậy mà Saudi Arabia trở thành một cường quốc trong khu vực trên một lãnh thổ bát ngát.
Nhưng sức mạnh dầu khí ấy đang giảm và khó tồn tại, trong khi kinh tế thì vẫn quá lệ thuộc vào nguồn năng lượng này. Việc Hoa Kỳ đang nổi lên thành một đại gia dầu khí còn là vấn đề hai mặt cho Hoàng gia Saudi: 1) Mỹ vẫn cần, mà ít dần, tới dầu khí Trung Ðông và Saudi, nên 2) chẳng còn coi việc bảo vệ an ninh tại vùng Vịnh Á Rập hay Eo biển Hormuz là nhu cầu sinh tử...
Sau mấy thập niên lệ thuộc vào Hoa Kỳ, ngày nay Saudi Arabia đang thấy sự đời đổi khác. Sau cùng, thách đố nghiêm trọng nhất của Saudi Arabia lại đến từ bên ngoài, sau Mùa Xuân Á Rập.
Bạn và thù tại Trung Ðông
Thời Chiến Tranh Lạnh, hai cường quốc khu vực là Iran và Saudi Arabia cùng sống chung hòa bình và là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ tại bán đảo Á Rập.
Khi chính quyền Jimmy Carter bỏ rơi vương triều Pahlavi từ năm 1978 để các giáo chủ theo hệ phái Shia hoàn thành cuộc “cách mạng” tại Iran thì sự thể đổi khác kể từ 1979. Mâu thuẫn ngàn đời giữa hai hệ phái Shia tại Iran và Sunni Wahhabi tại Saudi Arabia đã đảo lộn trật tự trong vùng. Hai cường quốc giành quyền đại diện cho hai hệ phái Hồi giáo đối nghịch trở thành hai đối thủ, và cả hai cùng có dầu hỏa làm võ khí. Trong tám năm chiến tranh giữa Iran với Iraq, từ 1989 đến 1988, Hoàng gia Saudi yên tâm tọa sơn quan hổ đấu.
Vụ khủng bố 9-11 của Al Qaeda vào năm 2001 là biến cố đánh dấu bước ngoặt. Hoa Kỳ mở chiến dịch Afghanistan và kín đáo hợp tác với Iran để truy lùng khủng bố tại đây. Chuyện ấy chưa đáng ngại bằng chiến dịch Iraq vào năm 2003. Hoa Kỳ lật đổ chế độ Saddam Hussein và đảng Baath theo hệ phái Sunni để các lực lượng Shia (đa số tại Iraq) mở đường cho Iran khuynh đảo Iraq và nay đang chiếm thế thượng phong. Khi chính quyền Barack Obama quyết định rút khỏi Iraq thì đấy là cơ hội bành trướng ảnh hưởng của các giáo chủ Iran.
Saudi Arabia không yên tâm về chiều hướng đó. Huống hồ cả Iran và Iraq đều là những nước sản xuất dầu có thể cạnh tranh với dầu Saudi, và Iran còn xúc tiến dự án chế tạo võ khí hạch tâm.
Trong những năm trước, Hoàng gia Saudi khéo đối phó với phong trào khủng bố Hồi giáo khi viện trợ cho họ mở giáo viện madrassas hay tổ chức quảng bá tư tưởng Hồi giáo cực đoan ở nơi khác, từ Morocco tới Malaysia hay Indonesia, miễn là đừng làm loạn tại Saudi Arabia. Nhưng khi Hoa Kỳ mở chiến dịch truy lùng khủng bố thì Hoàng gia Saudi bị Mỹ làm áp lực phải chấm dứt việc đó nên đã gặp vấn đề. Khi Hoa Kỳ đánh bung lực lượng Al Qaeda thì các nhóm khủng bố đã tản qua xứ khác, từ Yemen tới Ðông Phi, và cùng coi Hoàng gia Saudi là kẻ thù!
Mùa Xuân Á Rập năm 2011 lại gây vấn đề khác: Hoa Kỳ đảo ngược lập trường với Ai Cập, tấn công Libya mà lại không can thiệp vào Syria. Saudi Arabia rơi vào cảnh tứ bề thọ địch và e sợ đại loạn từ bán đảo Á Rập đến Sừng Phi Châu, trong nước Mỹ nhất quyết phủi tay ra đi.
Chính quyền Obama không chỉ phủi tay tại Iraq - mặc cho Iran bành trướng ảnh hưởng vào xứ này - hay tại một nước thân chủ của Iran là Syria - để Liên bang Nga tìm giải pháp ngoại giao - mà nay lại còn đàm phán với Iran! Ðấy là giọt nước tràn ly.
Khi từ chối gia nhập Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, Saudi Arabia còn cho biết là sẽ tăng cường hợp tác với Jordan và Pháp để yểm trợ cho phong trào nổi dậy tại Syria, vì Hoa Kỳ từ chối can thiệp. Chuyện ấy đã lạ. Nhưng không chỉ có Hoàng gia Saudi, Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ Turkey cũng tỏ ý đồng tình. Và khi Hoa Kỳ đòi chấm dứt viện trợ cho Ai Cập vì hành vi đàn áp của các Tướng lãnh Egypt, cả Saudi Arabia lẫn Turkey đều lo ngại.
Chúng ta nên đặt lại mối lo muôn mặt của Hoàng gia Saudi vào bối cảnh rộng lớn đó.
Hoa Kỳ đang mất dần sự đoàn kết truyền thống với các đồng minh chiến lược tại Trung Ðông như Saudi Arabia, Egypt và Turkey. Từng nước một, các cường quốc này không thể cản trở đối sách của nước Mỹ, nhưng khi họ cùng tỏ ý hoài nghi tính chất nhất quán và chung thủy của Mỹ thì đấy là vấn đề cho chính quyền Barack Obama.
Kết luận ở đây là gì?
Khi lên nhậm chức, chính quyền Obama muốn giải tỏa mâu thuẫn với các nước Hồi giáo. Năm năm sau, Hoa Kỳ gây mâu thuẫn với các đồng minh truyền thống.
Việc đàm phán với Iran chưa có kết quả, nhưng hậu quả trước mắt là lời phát biểu của một hoàng thân Saudi: Chúng tôi đã học kinh nghiệm với Hoa Kỳ. Phải là kẻ thù của Mỹ thì mới được kính trọng!
Hùng Tâm/Người Việt
Một đồng minh Á Rập của Hoa Kỳ đang tính chuyện khác
Sau một năm nộp đơn, hôm 17 vừa qua, Saudi Arabia được nhận làm hội viên Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc cho nhiệm kỳ hai năm. Ngay hôm sau, Bộ Ngoại Giao của vương quốc thông báo là họ từ chối vì không thể làm tròn nhiệm vụ trong một cơ chế có thái độ nước đôi. Saudi còn kết án Hội Ðồng Bảo An tội chểnh mảng công vụ vì không hoàn tất nghị quyết về hồ sơ Palestine, không ngăn việc phổ biến võ khí tàn sát, nhất là võ khí hạch tâm, và không cản chế độ Syria sát hại thường dân.
Bản tin đưa ra được bình luận rằng thái độ này là để ngầm ám chỉ Hoa Kỳ. Hai ngày sau thì có người nói thẳng, chứ không úp mở quanh co.
Ðó là Hoàng thân Bandar Bin Sultan al-Saud, người cầm đầu hệ thống tình báo Saudi. Ông trình bày với giới chức ngoại giao Âu Châu tại thủ đô Riyadh, là sẽ thu hẹp tầm hợp tác với Hoa Kỳ trong việc trang bị và huấn luyện quân nổi dậy tại Syria để phản đối chính sách Mỹ trong khu vực. Hoàng thân Bandar còn nói rõ hơn, rằng việc từ chối vào Hội Ðồng Bảo An không là một thông điệp cho Liên Hiệp Quốc mà thật sự là cho Hoa Kỳ.
Một số nhà bình luận cho rằng quan điểm ấy của Hoàng thân Bandar (nhắm vào Hoa Kỳ hơn là Liên Hiệp Quốc) cho thấy là có sự dị biệt ý kiến trong nội bộ Hoàng gia Saudi, ít ra là dị biệt giữa Hoàng thân Bandar và Ngoại trưởng Saud al Faisal của Saudi.
Sự thật có lẽ nghiêm trọng và rắc rối hơn vậy nên Hồ Sơ Người Việt phải trình bày lại bối cảnh.
Hoàng Gia Saudi
Ðầu tiên, một chi tiết không thừa khi đọc tin hay đọc tên: theo ngôn ngữ Á Rập, “bin” có nghĩa là “con của” (như “ben” trong tiếng Do Thái). Khi đọc tên là Saud bin Abdulaziz chẳng hạn, ta biết người đó tên là Saud và là con của Abdulaziz.
Chuyện thứ hai, theo quy tắc thông thường, một người lên ngôi thì được gọi là Vua, King, còn các con, hay cháu (gọi bằng chú, bác hay cháu nội, ngoại) của họ thì được gọi là Prince, nếu dịch là Thái tử hay Hoàng tử, Hoàng tôn thì nhiều khi không ổn. Vì vậy, xin dịch là Hoàng thân, trừ phi người đó được chọn làm người kế vị, Crown Prince, thì mới dịch là Thái tử. Không có quy ước này là chúng ta sẽ tẩu hỏa nhập ma khi làm tin!
Trở lại chuyện Hoàng gia Saudi.
Từ một thị tộc đã hùng cứ khu vực này từ 250 năm, Abdulaziz bin Abdel-Rehman al Saud thống nhất quyền lực từ đầu thế kỷ 20 để lập ra vương quốc Saudi Arabia hiện đại. Ông lên làm vua từ năm 1932 cho đến khi tạ thế vào năm 1953. Thường được gọi là Ibn Saud, ông vua này có (khoảng) 22 bà vợ, 45 con trai và khá nhiều con gái. Trong số con trai, 36 người đã trưởng thành và có con cái đang giữ nhiều vị trí quan trọng, đó là “thế hệ thứ ba,” của những hoàng thân.
Sau khi Ibn Saud tạ thế năm 1953, con trai là Saud bin Abdulaziz lên nối ngôi. Làm vua được 10 năm thì vua Saud bị một người em khác mẹ là Faisal bin Abdulaziz đòi ông thoái vị vì kém khả năng. Faisal lên làm vua từ 1964 đến 1975 và là người đã đề nghị viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa 300 triệu đô la để cầm cự vào phút chót mà chuyện không thành. Ông bị một người cháu gọi bằng bác ám sát vào Tháng Ba năm 75 vì chủ trương hiện đại hóa. Một người con khác của Ibn Saud, không cùng mẹ với Saud và Faisal, lên ngôi từ 1975 đến 1982, đó là Khalid bin Abdulaziz.
Sau khi vua Khalid từ trần, một người con trai khác, từ bà Hassan Al Sudairi, lên kế vị. Ðó là Fahd bin Abdulaziz. Vì bà Sudairi được Ibn Saud yêu quý nhất nên bảy con trai đều có thế lực, được gọi là “thất vương của Sudairi.” Vua Fahd là con trai lớn của cánh Sudairi và giữ ngôi cho đến 2005 thì mất. Một con trai khác của Ibn Saud là Abdullah bin Abdulaziz lên ngôi từ đó tới nay. Vua Abdullah sinh năm 1924, nay đã gần 90 và lâm trọng bệnh.
Tức là từ người sáng lập đến 2013, năm vua theo nhau cai trị Saudi Arabia đều là con của Ibn Saud, chưa kể bốn người khác vẫn hiện diện trong chính quyền. Năm ông vua kế vị cũng có con trai đang giữ nhiều vị trí quan trọng. Thí dụ như Saud bin Faisal là con trai của vua Faisal và là ngoại trưởng từ 1975 tới nay, một kỷ lục thâm niên của thế giới.
Và những vấn đề sinh tử
Vì sức khỏe yếu kém, ông vua đang trị vì là Abdullah đã hai lần chỉ định người sẽ kế vị (Thái tử) mà họ đều theo nhau tạ thế, đó là Tổng trưởng Quốc Phòng và Hàng Không Sultan bin Abdulaziz mất năm 2011, rồi Tổng trưởng Nội vụ kiêm Ðệ nhị Phó Thủ tướng Naif bin Abdullaziz vừa mất năm ngoái. Hoàng thân Bandar bin Sultan được nhắc tới ở trên là con trai của Thái tử Sultan bin Abdulaziz mới tạ thế năm 2001. Bandar là một diều hâu thân Mỹ, Ðại sứ Saudi tại Hoa Kỳ từ 1983 đến 2005, rồi về làm tổng thư ký Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia.
Quy tắc kế vị của Hoàng gia Saudi không chú trọng đến dòng trưởng dòng thứ hay tuổi tác của các hoàng tử mà, từ vụ Faisal truất ngôi Saud, còn phải có khả năng lãnh đạo. Ngoài ra, từ năm 2006, vua Fadh còn lập ra Hội đồng Gia tộc gồm các con trai (hay cháu của một người con đã tạ thế hay bất lực) của Ibn Saud, với nhiệm vụ chỉ định Thái tử, theo quy tắc là không chọn con trai của người đang tại vị làm Thái tử. Dù vậy, việc chọn người kế vị vẫn bị vấp váp và sau hai Thái tử vừa mất, Hội đồng Gia tộc vẫn chưa chọn người nào khác. Vua Abdullah cũng chưa chỉ định ai làm Ðệ nhị Phó Thủ tướng, một chức vụ chuẩn bị cho ngôi Thái tử, ví thế việc tìm người nối ngôi vẫn là vấn đề.
Nếu các hoàng tử đời thứ nhất, con cháu của vị vua sáng lập là những người nói chung ít học, họ vẫn nặng tinh thần gia tộc và gắn bó với sự tồn tại của Vương triều Saudi. Tuy vậy, các hoàng thân thuộc cánh Sudairi vẫn có thế mạnh và đang lấn lướt mấy người con của Faisal. Kế đó, thế hệ thứ ba thì được học hành đến nơi đến chốn và đã giữ nhiều chức vụ quan trọng, như tổng trấn các địa phương, hay trong nội các. Họ có tinh thần hiện đại hơn mà cũng nhiều tham vọng hơn.
Bài toán kế vị trong thời gian tới là 19 hoàng thân cháu nội của Ibn Saud (thế hệ thứ ba) phải tranh đoạt quyền bính với nhau và đấu tranh với 16 chú bác (con trai của Ibn Saud) trong Hội đồng Gia tộc. Chuyện không dễ giải quyết.
Huống hồ là Hoàng gia Saudi còn gặp một thách đố về chính danh và tư tưởng trong xã hội.
Thuộc hệ phái Wahhabi rất bảo thủ, Hoàng gia Saudi tự coi là đại diện chân chính cho Hồi giáo cổ truyền tức là chính thống nhất. Nhưng thực tế thì họ đang bị nhiều giáo sĩ cực đoan hơn kết án là suy đồi biến chất. Việc trùm khủng bố Osama bin Laden là người Saudi, xuất thân từ khuynh hướng cực đoan, càng làm nổi bật nỗi khó khăn của Hoàng gia Saudi.
Ðã vậy, ở ngoài đời, một thế hệ trẻ đã lớn lên với những phương tiện thông tin và truyền thông mới, thì lại coi Hoàng gia Saudi là những người lỗi thời của quá khứ. Khi Mùa Xuân Á Rập bùng nổ năm kia, Hoàng gia Saudi bị lúng túng và phải khá tốn kém cho các dự án xã hội để phần nào giải tỏa bất mãn của người dân và hậu quả khích động từ xứ Bahrain bên cạnh.
Ngoài những khó khăn của việc truyền ngôi kế vị, bị xu hướng Hồi giáo cực đoan đả kích và bị thế hệ trẻ đòi tự do, Hoàng gia Saudi còn gặp một vấn đề từ lòng đất. Là dầu hỏa.
Vừa lập ra Vương quốc, lãnh đạo Saudi đã có một món quà của Thượng đế là dầu thô với trữ lượng rất lớn và phẩm chất rất cao, ngọt và nhẹ hơn dầu thô của nhiều xứ khác. Nhờ vậy mà Saudi Arabia trở thành một cường quốc trong khu vực trên một lãnh thổ bát ngát.
Nhưng sức mạnh dầu khí ấy đang giảm và khó tồn tại, trong khi kinh tế thì vẫn quá lệ thuộc vào nguồn năng lượng này. Việc Hoa Kỳ đang nổi lên thành một đại gia dầu khí còn là vấn đề hai mặt cho Hoàng gia Saudi: 1) Mỹ vẫn cần, mà ít dần, tới dầu khí Trung Ðông và Saudi, nên 2) chẳng còn coi việc bảo vệ an ninh tại vùng Vịnh Á Rập hay Eo biển Hormuz là nhu cầu sinh tử...
Sau mấy thập niên lệ thuộc vào Hoa Kỳ, ngày nay Saudi Arabia đang thấy sự đời đổi khác. Sau cùng, thách đố nghiêm trọng nhất của Saudi Arabia lại đến từ bên ngoài, sau Mùa Xuân Á Rập.
Bạn và thù tại Trung Ðông
Thời Chiến Tranh Lạnh, hai cường quốc khu vực là Iran và Saudi Arabia cùng sống chung hòa bình và là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ tại bán đảo Á Rập.
Khi chính quyền Jimmy Carter bỏ rơi vương triều Pahlavi từ năm 1978 để các giáo chủ theo hệ phái Shia hoàn thành cuộc “cách mạng” tại Iran thì sự thể đổi khác kể từ 1979. Mâu thuẫn ngàn đời giữa hai hệ phái Shia tại Iran và Sunni Wahhabi tại Saudi Arabia đã đảo lộn trật tự trong vùng. Hai cường quốc giành quyền đại diện cho hai hệ phái Hồi giáo đối nghịch trở thành hai đối thủ, và cả hai cùng có dầu hỏa làm võ khí. Trong tám năm chiến tranh giữa Iran với Iraq, từ 1989 đến 1988, Hoàng gia Saudi yên tâm tọa sơn quan hổ đấu.
Vụ khủng bố 9-11 của Al Qaeda vào năm 2001 là biến cố đánh dấu bước ngoặt. Hoa Kỳ mở chiến dịch Afghanistan và kín đáo hợp tác với Iran để truy lùng khủng bố tại đây. Chuyện ấy chưa đáng ngại bằng chiến dịch Iraq vào năm 2003. Hoa Kỳ lật đổ chế độ Saddam Hussein và đảng Baath theo hệ phái Sunni để các lực lượng Shia (đa số tại Iraq) mở đường cho Iran khuynh đảo Iraq và nay đang chiếm thế thượng phong. Khi chính quyền Barack Obama quyết định rút khỏi Iraq thì đấy là cơ hội bành trướng ảnh hưởng của các giáo chủ Iran.
Saudi Arabia không yên tâm về chiều hướng đó. Huống hồ cả Iran và Iraq đều là những nước sản xuất dầu có thể cạnh tranh với dầu Saudi, và Iran còn xúc tiến dự án chế tạo võ khí hạch tâm.
Trong những năm trước, Hoàng gia Saudi khéo đối phó với phong trào khủng bố Hồi giáo khi viện trợ cho họ mở giáo viện madrassas hay tổ chức quảng bá tư tưởng Hồi giáo cực đoan ở nơi khác, từ Morocco tới Malaysia hay Indonesia, miễn là đừng làm loạn tại Saudi Arabia. Nhưng khi Hoa Kỳ mở chiến dịch truy lùng khủng bố thì Hoàng gia Saudi bị Mỹ làm áp lực phải chấm dứt việc đó nên đã gặp vấn đề. Khi Hoa Kỳ đánh bung lực lượng Al Qaeda thì các nhóm khủng bố đã tản qua xứ khác, từ Yemen tới Ðông Phi, và cùng coi Hoàng gia Saudi là kẻ thù!
Mùa Xuân Á Rập năm 2011 lại gây vấn đề khác: Hoa Kỳ đảo ngược lập trường với Ai Cập, tấn công Libya mà lại không can thiệp vào Syria. Saudi Arabia rơi vào cảnh tứ bề thọ địch và e sợ đại loạn từ bán đảo Á Rập đến Sừng Phi Châu, trong nước Mỹ nhất quyết phủi tay ra đi.
Chính quyền Obama không chỉ phủi tay tại Iraq - mặc cho Iran bành trướng ảnh hưởng vào xứ này - hay tại một nước thân chủ của Iran là Syria - để Liên bang Nga tìm giải pháp ngoại giao - mà nay lại còn đàm phán với Iran! Ðấy là giọt nước tràn ly.
Khi từ chối gia nhập Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, Saudi Arabia còn cho biết là sẽ tăng cường hợp tác với Jordan và Pháp để yểm trợ cho phong trào nổi dậy tại Syria, vì Hoa Kỳ từ chối can thiệp. Chuyện ấy đã lạ. Nhưng không chỉ có Hoàng gia Saudi, Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ Turkey cũng tỏ ý đồng tình. Và khi Hoa Kỳ đòi chấm dứt viện trợ cho Ai Cập vì hành vi đàn áp của các Tướng lãnh Egypt, cả Saudi Arabia lẫn Turkey đều lo ngại.
Chúng ta nên đặt lại mối lo muôn mặt của Hoàng gia Saudi vào bối cảnh rộng lớn đó.
Hoa Kỳ đang mất dần sự đoàn kết truyền thống với các đồng minh chiến lược tại Trung Ðông như Saudi Arabia, Egypt và Turkey. Từng nước một, các cường quốc này không thể cản trở đối sách của nước Mỹ, nhưng khi họ cùng tỏ ý hoài nghi tính chất nhất quán và chung thủy của Mỹ thì đấy là vấn đề cho chính quyền Barack Obama.
Kết luận ở đây là gì?
Khi lên nhậm chức, chính quyền Obama muốn giải tỏa mâu thuẫn với các nước Hồi giáo. Năm năm sau, Hoa Kỳ gây mâu thuẫn với các đồng minh truyền thống.
Việc đàm phán với Iran chưa có kết quả, nhưng hậu quả trước mắt là lời phát biểu của một hoàng thân Saudi: Chúng tôi đã học kinh nghiệm với Hoa Kỳ. Phải là kẻ thù của Mỹ thì mới được kính trọng!
Những tín hiệu từ thành phố Tân An
Ngô Nhân Dụng
Tân An có chuyện gì vậy? Thành phố này chỉ cách Sài Gòn 50 cây số, nhưng trong năm nay đã được nhắc tới hai lần trên bản tin của tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters Sans Frontieres) gửi cho khắp thế giới; sau các vụ xử Nguyễn Phương Uyên, Ðinh Nguyên Kha, và nay là Ðinh Nhật Uy, anh của Nguyên Kha. Trong hai lần tòa xử, Tân An cũng trở thành trung tâm tụ họp của các blogger, cùng những nhà tranh đấu cho tự do dân chủ. Họ hiên ngang diễn hành trong thành phố, với các biểu ngữ đòi cho dân Việt được tự do, và đám công an trong thành phố phải rút lui, tránh không gây xung đột.
Trong ngày Thứ Ba, 29 Tháng Mười, 2013, khắp thế giới được coi hình ảnh các blogger trẻ cùng nhau đi “diễn hành” chung quanh một gian phòng lớn, tay nắm tay, tay vịn lên vai nhau, có bàn tay đưa lên như đang hô khẩu hiệu. Họ vừa đi vừa hát, “Dậy mà đi, dậy mà đi, dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!” Trông cảnh đó, không ai còn nghi ngờ gì nữa: Tuổi trẻ Việt Nam đang sẵn sàng cùng đồng bào đứng dậy. Tuổi Trẻ Yêu Nước đang sẵn sàng Lên Ðường! Các bạn blogger trẻ có thể hãnh diện, các bạn đang nối gót những chiến sĩ tự do dân chủ một thế kỷ trước đây! Hà Sĩ Phu mới viết một bài về Phan Tây Hồ, đã so sánh: “Ðọc lại những lời Phan Châu Trinh trước đây một thế kỷ mà tưởng như lời một blogger hay một trí thức phản biện của ngày hôm nay!” Ông nêu lên những ý kiến mà nếu Phan Tây Hồ còn sống cũng đang lên tiếng đòi hỏi: “...phản đối chủ trương độc đảng và (ruộng đất thuộc) sở hữu toàn dân; phản đối việc cho đạo Khổng nô dịch dân Việt; yêu cầu phải thực thi tam quyền phân lập và đa đảng đa nguyên, vân vân.” (Hà Sĩ Phu nhắc tới âm mưu đồng hóa dân Việt Nam theo kiểu mới, khi các ông Lý Khắc Cường và Nguyễn Tấn Dũng ký kết với nhau sẽ thành lập một “Viện Khổng Tử” ở Hà Nội; mục này sẽ bàn về Viện Khổng Tử trong một bài sau).
Thành phố Tân An chỉ có hơn 150,000 dân, những cuộc biểu tình đòi nhà, đòi đất, kéo lên tận Sài Gòn, diễn ra từ hàng chục năm trước đã vang động cả nước. Bản thân tôi đã có nhiều duyên nợ với Tân An. Năm 1954, gia đình năm mẹ con tôi được đưa về “định cư” ở làng Hòa Khánh, trong quận Ðức Hòa, khi tỉnh Long An còn chưa thành lập. Gia đình tôi sau đó mới tìm đường lên Sài Gòn, đi Ðà Lạt, chia hai ngả để gây dựng lại cuộc sống mới. Hồi 15, 16 tuổi, tôi vẫn từ Sài Gòn đi cắm trại ở Tân An, ở Thủ Thừa. Quãng đường 50 cây số đạp xe không biết mệt, trên vai lại đeo “ba lô” nặng trĩu; sau xe còn chở theo một đội sinh, em cũng đeo ba lô nặng trĩu! Vừa đạp xe vừa hát với nhau những bài ca yêu nước, như hầu hết các Hướng Ðạo sinh thời đó. Nếu khi lớn lên mà lập nghiệp ở tỉnh Long An, chắc tôi cũng có mặt trong mấy cuộc biểu tình phản đối những phiên tòa sôi nổi vừa qua. Và chắc cũng hát, “Dậy mà đi! Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!”
Tân An đang trở thành một điểm nóng trong sinh hoạt chính trị cả nước. Dân các thành phố khác phải hướng về Tân An, với lòng kính phục. Bởi vì thị xã nhỏ này đã sinh ra những bạn trẻ xứng đáng làm con của Tổ Quốc Việt Nam: Nguyễn Phương Uyên, Ðinh Nguyên Kha, và Ðinh Nhật Uy. Cha mẹ của các em đã nêu gương để các em biết sống không khuất phục cường quyền. Trong phiên xử Phương Uyên, ông bà Nguyễn Duy Linh và Nguyễn Thị Nhung đều có mặt, mẹ của em tuyên bố có thể chết tại sân tòa án. Nguyễn Thị Kim Liên là mẹ của Kha và Uy cùng thân phụ hai em luôn có mặt ủng hộ các con, dù bị áp lực và đe dọa từ mọi phía. Bà Nguyễn Thị Kim Liên đã gửi thư mời ông Mark Zuckenberg tới Tân An dự khán phiên xử con trai bà. Zuckenberg là người thành lập công ty Facebook; mà Ðinh Nhật Uy người đầu tiên bị truy tố về tội dùng mạng xã hội Facebook do ông sáng lập; với lời vu cáo “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ...” Trong một xã hội không hề có tự do dân chủ, làm sao có thể “lợi dụng các quyền tự do dân chủ?”
Thái độ và hành động của cha mẹ các em Phương Uyên, Nguyên Kha, Nhật Uy chứng tỏ những công dân bình thường ở nước Việt Nam không còn khiếp sợ chế độ công an đàn áp nữa. Dân Việt đã nhìn thấy tấm gương Ðoàn Văn Vươn, nay lại được thấy các bạn trẻ Phương Uyên, Nguyên Kha, và Nhật Uy hiên ngang ra đứng trước tòa án cộng sản. Trong lúc những nhà tranh đấu dân chủ đi biểu tình ở thành phố Tân An, trương biểu ngữ và hô khẩu hiệu đòi trả tự do cho ba bạn trẻ, mạng Dân Làm Báo kể: “Một bác chạy xích lô, đầu đã bạc trắng khi thấy đoàn biểu tình liền tắp xe vào lề đường, giơ nắm đấm lên hét: ‘Ðúng rồi! Ðúng rồi! Phải đấu tranh! Ðấu tranh,’ rồi đạp xe chạy đi tiếp.” Trong ngày xử Ðinh Nhật Uy, một người ủng hộ em là ông Lưu Trọng Kiệt bị công an phường 7 lôi xuống xe, rồi công an sắc phục cùng với bọn tay sai “dân phòng,” khoảng mười tên, nhảy vào đấm đá túi bụi. Facebook Hoàng Dũng cho biết ông Lưu Trọng Kiệt sau đó vẫn nói: “Tôi có thể chịu đau hơn nữa, miễn là em Uy tự do!”
Trước tòa, Ðinh Nhật Uy vẫn giữ được tư cách đĩnh đạc. Về cáo trạng “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” xâm phạm nhà nước và người khác, Uy kể rằng trước tòa “Tôi khẳng định tôi sử dụng đúng quyền công dân của mình. Tôi chưa từng có ý định, hành động hay động thái nào để xâm phạm bất kỳ ai, và lợi dụng bất kỳ cái gì để xâm phạm bất kỳ ai.”
“Tôi khẳng định trước tòa rằng tôi là một người công dân bình thường như hằng triệu người công dân khác. Tôi làm tròn trách nhiệm của người công dân đối với xã hội. Tôi nghĩ những việc mình làm rất đơn giản, tôi đấu tranh vì chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, vì (chống) sự xâm lược của Trung Quốc. Tôi đấu tranh vì quyền lợi của người dân; quyền lợi của người dân bị xâm phạm; và tôi đấu tranh chống tiêu cực.”
Những người lớn tuổi chắc không ai chịu thua, không ai muốn thấy mình thiếu can đảm hơn thế hệ các con em. Luật sư Nguyễn Thanh Lương kể trong phiên tòa trước, em Phương Uyên cũng thản nhiên nói: “Tôi không cần giảm án. Tôi chỉ cần tòa xử đúng người, đúng tội. Tôi nghĩ rằng chống Ðảng Cộng sản không phải chống phá đất nước, dân tộc Việt Nam.” Ông Nguyễn Thanh Lương đã bị nhiều áp lực phải bỏ cuộc, không đứng ra biện hộ cho Ðinh Nhật Uy trong phiên tòa hôm qua, mặc dù ông chỉ đại diện cho Uy trong vấn đề dân sự: Ðòi lại những “tài sản” bị công an cướp mất khi khám nhà. Nhưng kết quả chắc cũng làm vị luật sư hài lòng: số tài sản gồm sáu cái áo thung có ghi dòng chữ: Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam; hai áo thung phía trước có ghi dòng chữ: “No to U-Line!” mà phía sau dịch sang tiếng Việt: “Xóa Ðường Lưỡi Bò! Bảo vệ biển đảo Việt Nam!” Những chiếc áo thung của Ðinh Nhật Uy đã bị tịch thâu, và được “Viện Kiểm sát” ghi trong cáo trạng là những “vật chứng phạm tội;” chứng tỏ các bạn trẻ chỉ “phạm tội yêu nước!” Phan Châu Trinh ngày xưa cũng bị bắt, bị tù, bị xử tử hình, vì cùng một tội: Yêu nước Việt Nam!
Lòng yêu nước đã được nuôi dưỡng trong ngàn năm Bắc thuộc, đến nay vẫn còn nguyên. Ði song hành với với khát vọng xây dựng tự do dân chủ. Ngày xưa đảng Cộng sản đã bày ra phương trình: “Yêu nước là yêu Chủ nghĩa Xã hội.” Bao nhiêu thanh niên đã chết vì nghĩ rằng mình yêu nước; hậu quả là họ chỉ góp phần dựng lên một chế độ độc tài thối nát, tàn hại đất nước. Ngày nay, người dân biết, yêu nước thì phải xây dựng nền móng một xã hội dân chủ. Chỉ trong một thể chế dân chủ mới có thể bầu lên một chính quyền biết bảo vệ tổ quốc; và mới xóa bỏ được những tệ nạn do đảng cộng sản độc tài gây ra trong hơn nửa thế kỷ qua. Trong số các biểu ngữ trưng lên bên cạnh phiên tòa xử Phương Uyên, Nguyên Kha lần trước, có cảnh một em bé ôm tấm bìa giấy viết hai câu “Vì danh dự dân tộc, chống giặc Tàu! Vì tương lai đất nước, chống tham nhũng!” Có thể coi đây là những khát vọng sâu thẳm của người dân Việt, từ Nam ra Bắc. Vì vậy, gần một trăm người không được vào tòa coi xử đã tập trung thành đoàn biểu tình quanh các đường phố Tân An hô vang khẩu hiệu. Trong đó có các những đảng viên cộng sản như Huỳnh Kim Báu, Kha Lương Ngãi; có nhà thơ Hoàng Hưng, blogger Huỳnh Ngọc Chênh, đi cùng với bà Dương Thị Tân và anh Nguyễn Trí Dũng (vợ và con trai anh Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải). Mọi người cùng nhau hô lớn: “Ðả đảo Trung Quốc xâm lược!” và “Ðả đảo tay sai bán nước!”
Bọn “tay sai bán nước” này là những tên nào? Tất cả mọi người dân nước Việt đều biết đó là những tên nào. Cảnh tượng diễn ra ở thành phố Tân An báo hiệu đảng Cộng sản Việt Nam đang trên đường tan rã.
Ngô Nhân Dụng
Tân An có chuyện gì vậy? Thành phố này chỉ cách Sài Gòn 50 cây số, nhưng trong năm nay đã được nhắc tới hai lần trên bản tin của tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters Sans Frontieres) gửi cho khắp thế giới; sau các vụ xử Nguyễn Phương Uyên, Ðinh Nguyên Kha, và nay là Ðinh Nhật Uy, anh của Nguyên Kha. Trong hai lần tòa xử, Tân An cũng trở thành trung tâm tụ họp của các blogger, cùng những nhà tranh đấu cho tự do dân chủ. Họ hiên ngang diễn hành trong thành phố, với các biểu ngữ đòi cho dân Việt được tự do, và đám công an trong thành phố phải rút lui, tránh không gây xung đột.
Trong ngày Thứ Ba, 29 Tháng Mười, 2013, khắp thế giới được coi hình ảnh các blogger trẻ cùng nhau đi “diễn hành” chung quanh một gian phòng lớn, tay nắm tay, tay vịn lên vai nhau, có bàn tay đưa lên như đang hô khẩu hiệu. Họ vừa đi vừa hát, “Dậy mà đi, dậy mà đi, dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!” Trông cảnh đó, không ai còn nghi ngờ gì nữa: Tuổi trẻ Việt Nam đang sẵn sàng cùng đồng bào đứng dậy. Tuổi Trẻ Yêu Nước đang sẵn sàng Lên Ðường! Các bạn blogger trẻ có thể hãnh diện, các bạn đang nối gót những chiến sĩ tự do dân chủ một thế kỷ trước đây! Hà Sĩ Phu mới viết một bài về Phan Tây Hồ, đã so sánh: “Ðọc lại những lời Phan Châu Trinh trước đây một thế kỷ mà tưởng như lời một blogger hay một trí thức phản biện của ngày hôm nay!” Ông nêu lên những ý kiến mà nếu Phan Tây Hồ còn sống cũng đang lên tiếng đòi hỏi: “...phản đối chủ trương độc đảng và (ruộng đất thuộc) sở hữu toàn dân; phản đối việc cho đạo Khổng nô dịch dân Việt; yêu cầu phải thực thi tam quyền phân lập và đa đảng đa nguyên, vân vân.” (Hà Sĩ Phu nhắc tới âm mưu đồng hóa dân Việt Nam theo kiểu mới, khi các ông Lý Khắc Cường và Nguyễn Tấn Dũng ký kết với nhau sẽ thành lập một “Viện Khổng Tử” ở Hà Nội; mục này sẽ bàn về Viện Khổng Tử trong một bài sau).
Thành phố Tân An chỉ có hơn 150,000 dân, những cuộc biểu tình đòi nhà, đòi đất, kéo lên tận Sài Gòn, diễn ra từ hàng chục năm trước đã vang động cả nước. Bản thân tôi đã có nhiều duyên nợ với Tân An. Năm 1954, gia đình năm mẹ con tôi được đưa về “định cư” ở làng Hòa Khánh, trong quận Ðức Hòa, khi tỉnh Long An còn chưa thành lập. Gia đình tôi sau đó mới tìm đường lên Sài Gòn, đi Ðà Lạt, chia hai ngả để gây dựng lại cuộc sống mới. Hồi 15, 16 tuổi, tôi vẫn từ Sài Gòn đi cắm trại ở Tân An, ở Thủ Thừa. Quãng đường 50 cây số đạp xe không biết mệt, trên vai lại đeo “ba lô” nặng trĩu; sau xe còn chở theo một đội sinh, em cũng đeo ba lô nặng trĩu! Vừa đạp xe vừa hát với nhau những bài ca yêu nước, như hầu hết các Hướng Ðạo sinh thời đó. Nếu khi lớn lên mà lập nghiệp ở tỉnh Long An, chắc tôi cũng có mặt trong mấy cuộc biểu tình phản đối những phiên tòa sôi nổi vừa qua. Và chắc cũng hát, “Dậy mà đi! Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!”
Tân An đang trở thành một điểm nóng trong sinh hoạt chính trị cả nước. Dân các thành phố khác phải hướng về Tân An, với lòng kính phục. Bởi vì thị xã nhỏ này đã sinh ra những bạn trẻ xứng đáng làm con của Tổ Quốc Việt Nam: Nguyễn Phương Uyên, Ðinh Nguyên Kha, và Ðinh Nhật Uy. Cha mẹ của các em đã nêu gương để các em biết sống không khuất phục cường quyền. Trong phiên xử Phương Uyên, ông bà Nguyễn Duy Linh và Nguyễn Thị Nhung đều có mặt, mẹ của em tuyên bố có thể chết tại sân tòa án. Nguyễn Thị Kim Liên là mẹ của Kha và Uy cùng thân phụ hai em luôn có mặt ủng hộ các con, dù bị áp lực và đe dọa từ mọi phía. Bà Nguyễn Thị Kim Liên đã gửi thư mời ông Mark Zuckenberg tới Tân An dự khán phiên xử con trai bà. Zuckenberg là người thành lập công ty Facebook; mà Ðinh Nhật Uy người đầu tiên bị truy tố về tội dùng mạng xã hội Facebook do ông sáng lập; với lời vu cáo “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ...” Trong một xã hội không hề có tự do dân chủ, làm sao có thể “lợi dụng các quyền tự do dân chủ?”
Thái độ và hành động của cha mẹ các em Phương Uyên, Nguyên Kha, Nhật Uy chứng tỏ những công dân bình thường ở nước Việt Nam không còn khiếp sợ chế độ công an đàn áp nữa. Dân Việt đã nhìn thấy tấm gương Ðoàn Văn Vươn, nay lại được thấy các bạn trẻ Phương Uyên, Nguyên Kha, và Nhật Uy hiên ngang ra đứng trước tòa án cộng sản. Trong lúc những nhà tranh đấu dân chủ đi biểu tình ở thành phố Tân An, trương biểu ngữ và hô khẩu hiệu đòi trả tự do cho ba bạn trẻ, mạng Dân Làm Báo kể: “Một bác chạy xích lô, đầu đã bạc trắng khi thấy đoàn biểu tình liền tắp xe vào lề đường, giơ nắm đấm lên hét: ‘Ðúng rồi! Ðúng rồi! Phải đấu tranh! Ðấu tranh,’ rồi đạp xe chạy đi tiếp.” Trong ngày xử Ðinh Nhật Uy, một người ủng hộ em là ông Lưu Trọng Kiệt bị công an phường 7 lôi xuống xe, rồi công an sắc phục cùng với bọn tay sai “dân phòng,” khoảng mười tên, nhảy vào đấm đá túi bụi. Facebook Hoàng Dũng cho biết ông Lưu Trọng Kiệt sau đó vẫn nói: “Tôi có thể chịu đau hơn nữa, miễn là em Uy tự do!”
Trước tòa, Ðinh Nhật Uy vẫn giữ được tư cách đĩnh đạc. Về cáo trạng “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” xâm phạm nhà nước và người khác, Uy kể rằng trước tòa “Tôi khẳng định tôi sử dụng đúng quyền công dân của mình. Tôi chưa từng có ý định, hành động hay động thái nào để xâm phạm bất kỳ ai, và lợi dụng bất kỳ cái gì để xâm phạm bất kỳ ai.”
“Tôi khẳng định trước tòa rằng tôi là một người công dân bình thường như hằng triệu người công dân khác. Tôi làm tròn trách nhiệm của người công dân đối với xã hội. Tôi nghĩ những việc mình làm rất đơn giản, tôi đấu tranh vì chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, vì (chống) sự xâm lược của Trung Quốc. Tôi đấu tranh vì quyền lợi của người dân; quyền lợi của người dân bị xâm phạm; và tôi đấu tranh chống tiêu cực.”
Những người lớn tuổi chắc không ai chịu thua, không ai muốn thấy mình thiếu can đảm hơn thế hệ các con em. Luật sư Nguyễn Thanh Lương kể trong phiên tòa trước, em Phương Uyên cũng thản nhiên nói: “Tôi không cần giảm án. Tôi chỉ cần tòa xử đúng người, đúng tội. Tôi nghĩ rằng chống Ðảng Cộng sản không phải chống phá đất nước, dân tộc Việt Nam.” Ông Nguyễn Thanh Lương đã bị nhiều áp lực phải bỏ cuộc, không đứng ra biện hộ cho Ðinh Nhật Uy trong phiên tòa hôm qua, mặc dù ông chỉ đại diện cho Uy trong vấn đề dân sự: Ðòi lại những “tài sản” bị công an cướp mất khi khám nhà. Nhưng kết quả chắc cũng làm vị luật sư hài lòng: số tài sản gồm sáu cái áo thung có ghi dòng chữ: Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam; hai áo thung phía trước có ghi dòng chữ: “No to U-Line!” mà phía sau dịch sang tiếng Việt: “Xóa Ðường Lưỡi Bò! Bảo vệ biển đảo Việt Nam!” Những chiếc áo thung của Ðinh Nhật Uy đã bị tịch thâu, và được “Viện Kiểm sát” ghi trong cáo trạng là những “vật chứng phạm tội;” chứng tỏ các bạn trẻ chỉ “phạm tội yêu nước!” Phan Châu Trinh ngày xưa cũng bị bắt, bị tù, bị xử tử hình, vì cùng một tội: Yêu nước Việt Nam!
Lòng yêu nước đã được nuôi dưỡng trong ngàn năm Bắc thuộc, đến nay vẫn còn nguyên. Ði song hành với với khát vọng xây dựng tự do dân chủ. Ngày xưa đảng Cộng sản đã bày ra phương trình: “Yêu nước là yêu Chủ nghĩa Xã hội.” Bao nhiêu thanh niên đã chết vì nghĩ rằng mình yêu nước; hậu quả là họ chỉ góp phần dựng lên một chế độ độc tài thối nát, tàn hại đất nước. Ngày nay, người dân biết, yêu nước thì phải xây dựng nền móng một xã hội dân chủ. Chỉ trong một thể chế dân chủ mới có thể bầu lên một chính quyền biết bảo vệ tổ quốc; và mới xóa bỏ được những tệ nạn do đảng cộng sản độc tài gây ra trong hơn nửa thế kỷ qua. Trong số các biểu ngữ trưng lên bên cạnh phiên tòa xử Phương Uyên, Nguyên Kha lần trước, có cảnh một em bé ôm tấm bìa giấy viết hai câu “Vì danh dự dân tộc, chống giặc Tàu! Vì tương lai đất nước, chống tham nhũng!” Có thể coi đây là những khát vọng sâu thẳm của người dân Việt, từ Nam ra Bắc. Vì vậy, gần một trăm người không được vào tòa coi xử đã tập trung thành đoàn biểu tình quanh các đường phố Tân An hô vang khẩu hiệu. Trong đó có các những đảng viên cộng sản như Huỳnh Kim Báu, Kha Lương Ngãi; có nhà thơ Hoàng Hưng, blogger Huỳnh Ngọc Chênh, đi cùng với bà Dương Thị Tân và anh Nguyễn Trí Dũng (vợ và con trai anh Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải). Mọi người cùng nhau hô lớn: “Ðả đảo Trung Quốc xâm lược!” và “Ðả đảo tay sai bán nước!”
Bọn “tay sai bán nước” này là những tên nào? Tất cả mọi người dân nước Việt đều biết đó là những tên nào. Cảnh tượng diễn ra ở thành phố Tân An báo hiệu đảng Cộng sản Việt Nam đang trên đường tan rã.
Tuyên chiến với dân tộc
Bùi Tín (Blog VOA)
Quốc Hội Việt Nam đang họp một phiên họp được coi là dài nhất - 33 ngày - và quan trọng bậc nhất, vì sẽ thông qua bản Hiến Pháp mới và Luật Ðất Ðai (sửa đổi), hàng chục năm mới có một lần.
Xem ra Bộ Chính Trị Trung Ương đảng CS và Ban Thường Vụ Quốc Hội quyết tâm thúc ép gần 500 đại biểu Quốc Hội thông qua với tỷ lệ cao các văn kiện cơ bản trên đây, sau khi Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng (Khóa XI) vừa họp lần thứ 8 đã thông qua một cách khá là trôi chảy, dễ dàng. Họ vẫn quen một lỗi nghĩ đơn giản, coi ý đảng là ý trời. Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng công khai nói rõ Hiến Pháp mới được dự thảo là văn kiện bám chặt theo cương lĩnh của đảng CS đã được Ðại hội đảng XI vạch rõ thêm. Có nghĩa là đảng đứng trên nhân dân, quyền lực đất nước này trước hết nằm trong tay đảng CS. Ðiều đó cũng có nghĩa là tổng bí thư ra lệnh cho tuyệt đại đa số đảng viên CS trong gần 500 đại biểu Quốc Hội - chiếm hơn 90% đại biểu - phải bỏ phiếu thông qua các văn kiện sẽ được đưa ra, theo đúng kỷ luật của đảng, không được thắc mắc, trì hoãn, đặt lại vấn đề gì nữa hết.
Nếp nghĩ của Bộ Chính Trị rất dễ hiểu. Vì xưa nay Quốc Hội đã có bao giờ dám bác bỏ những văn kiện cơ bản do đảng đưa ra. Cái điều khoản trong Hiến Pháp coi Quốc Hội là cơ quan quyền lực cao nhất chỉ là một vòng trang sức hào nhoáng tròng vào cổ các đại biểu. Chuyện Quốc Hội từng trì hoãn chủ trương làm xe lửa cao tốc đã được dự định chỉ là một chi tiết nhỏ, một trục trặc tạm thời.
Trong Bộ Chính Trị, trong Ban Chấp Hành Trung Ương, có ai lo ngại rằng việc thông qua Hiến Pháp mới và Luật Ðất Ðai (sửa đổi) kỳ này sẽ gặp trở ngại, khó khăn, hay vấp váp không? Không, họ đầy tự tin. Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng còn nói rõ là 2 văn kiện này đã được Ban Thường Trực Quốc Hội hoàn thiện sau khi đã tiếp nhận hơn 20 triệu ý kiến đóng góp của công dân cả nước, do đó không thể thảo luận kéo dài thêm nữa.
Tôi vừa đọc lại toàn “Bản dự thảo Hiến Pháp cuối cùng đã được hoàn thiện” được phổ biến trong Quốc Hội, tôi không khỏi giật mình, kinh hãi về thái độ tự tin thái quá của Bộ Chính Trị, về thái độ khinh thường dân chúng, khinh miệt trí thức của nhóm lãnh đạo cao nhất của đảng CS, về thái độ mù quáng đến liều lĩnh của họ. Tôi băn khoăn tự hỏi, họ mê hay tỉnh? Họ khôn hay dại?
Mù quáng, liều lĩnh, Bộ Chính Trị và Ban Thường Trực Quốc Hội vẫn cho ghi nhiều lần “chủ nghĩa Mác-Lênin” vào Hiến Pháp mới, vẫn giữ “điều 4” về vai trò lãnh đạo toàn trị của đảng Cộng sản, vẫn “quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội”, vẫn “lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo cho nền kinh tế”, và vẫn coi “đất đai và mọi tài nguyên là thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý”. Ðây chính là 5 điều phi lý, mơ hồ, sai lầm tệ hại nhất, rõ ràng nhất, 5 xiềng xích giam hãm xã hội ta trong thân phận nô lệ, 5 cản trở đất nước ta phát triển và hôi nhập với thế giới văn minh.
Ðó chính là thông điệp cô đọng của 14,785 công dân, đa số là trí thức có trí tuệ và tâm huyết, tinh hoa của dân tộc, công khai, minh bạch bác bỏ cả 5 điều phi lý trên đây với lập luận chặt chẽ, đầy tính thuyết phục, liên quan trực tiếp đến bản dự thảo Hiến Pháp mới và Luật Ðất Ðai (sửa đổi) trong bản kiến nghị công khai được giao tận tay ban biên tập dự thảo.
Ban Tuyên Huấn Trung Ương đã huy động hàng mấy chục tuyên truyền viên nói theo công thức giáo điều, nói lấy được, nhưng không có một ai bác bỏ được lập luận của tập thể trí thức trên đây, chỉ phơi bầy sự nghèo nàn về lý lẽ, sự xa rời thực tế và căn bệnh tối tăm về kiến thức khi họ bị lòng tham và quyền lực khống chế.
Dứt khoát việc thông qua dự thảo Hiến Pháp mới và Luật Ðất Ðai (sửa đổi) sẽ không thuận buồm xuôi gió, trái lại nó sẽ vấp phải sự phủ định mạnh mẽ của toàn xã hội do một tập thể trí thức tự tin, gan góc dẫn đầu một cách không thể khoan nhượng nữa. Bởi vì Bộ Chính Trị và Ban Thường Trực Quốc Hội đã hoàn toàn đuối lý về cả 5 vấn đề then chốt trên đây, đã quá chủ quan, tin theo nền nếp cũ, đã dám khiêu khích lương tri dân tộc, dám thách đố sự thật và lẽ phải, dám ngang nhiên nhắm mắt trước yêu cầu cấp bách của toàn dân là phải đổi mới hệ thống chính trị theo hướng từ bỏ độc đoán, chuyên quyền, xây dựng hệ thống dân chủ pháp trị đang thiếu vắng một cách tệ hại và nguy hiểm.
Trên thực tế, Bộ Chính Trị và Ban Thường Trực Quốc Hội đã tuyên chiến với cả khối trí thức dân tộc đã thức tỉnh tự lãnh trách nhiệm lịch sử trước toàn dân, thúc đẫy đà chuyển biến đi lên của đất nước, nhằm hòa nhập với thế giới dân chủ văn minh. Ðiều họ không muốn nhận ra là khối trí thức-dân chủ rất trẻ về tư duy chính trị hiện không còn là đàn cừu để họ chăn dắt, dạy dỗ, dẫn đường nữa. Thế lực này luôn được bổ sung lực lượng trẻ khỏe về kiến thức, dồi dào về sáng kiến, gan góc khi dấn thân, siết chặt hàng ngũ chiến hữu trong đấu tranh, có một dự án chính trị rất rõ ràng là: giữ trọn vẹn nền độc lập, chống bành trướng, thực hiện đầy đủ các quyền tự do của công dân, xây dựng xã hội dân sự năng động, trên nền tảng pháp luật công minh cho mọi người, từ bỏ dứt khoát, không thương tiếc chủ nghĩa Mác-Lênin cổ lỗ, chế độ CS không tưởng, chủ nghĩa xã hội mờ ảo, việc nuông chiều sở hữu quốc doanh hư hỏng.
Sự liên kết, liên minh giữa trí thức với nông dân và quần chúng các tôn giáo luôn đề cao thiện tâm chống cái ác bất kỳ từ đâu, sẽ làm cho cuộc đấu tranh thêm quyết liệt và sâu rộng.
Thêm nữa việc các học giả, trí thức, giáo sư, tiến sĩ, sinh viên ưu tú có mặt trong số 14,785 ngôi sao trí tuệ và tâm huyết dân tộc có thừa kiến thức khoa học, lập luận lô-gích biện chứng để đánh đổ và chôn vùi 5 cột trụ lý sự cùn thô vụng của giới cầm quyền hiện tại. Chênh lệch giữa 2 bên khác biệt hẳn nhau như ánh sáng và bóng tối, như ngày và đêm, như khoa học và tà giáo, như sự ngay thật với dối trá, như lòng yêu nước với dã tâm bán nước, như lòng xót xa thương dân với cú đạp giầy vào mặt dân vậy.
Nếu tổ chức tranh cãi công khai trước truyền hình trong nước, một em sinh viên trẻ như Huỳnh Thục Vy, Ðỗ Thị Minh Hạnh hay Nguyễn Phương Uyên ở phía bên này có thể dễ dàng dồn Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng và cả Trưởng Ban Tuyên Huấn Trung Ương Ðinh Thế Huynh ở phía cường quyền vào tình thế ấp úng, lúng túng, ngậm hột thị cho mà xem.
Thế lực cai trị đất nước ta đã phơi bày hết dã tâm của họ. Họ đã khinh miệt bác bỏ hết mọi ý kiến tâm huyết đầy trách nhiệm của của nhân dân, coi cả 14,785 công dân yêu nước chỉ bằng con số không, họ vẫn định ép gần trăm triệu dân ta phải nuốt 5 món ăn thiu thối chết người đã bị đông đảo loài người loại bỏ dứt khoát.
Tuy nhiên, thời kỳ tan rã của phong trào Cộng sản thực tiễn, giai đoạn mạt vận của học thuyết Mác-Lênin từng cổ xúy bạo lực, chiến tranh, máu đổ đầu rơi, và tình trạng suy thoái toàn diện của đảng CS Việt Nam không có cách gì cứu vãn nổi.
Bùi Tín (Blog VOA)
Quốc Hội Việt Nam đang họp một phiên họp được coi là dài nhất - 33 ngày - và quan trọng bậc nhất, vì sẽ thông qua bản Hiến Pháp mới và Luật Ðất Ðai (sửa đổi), hàng chục năm mới có một lần.
Xem ra Bộ Chính Trị Trung Ương đảng CS và Ban Thường Vụ Quốc Hội quyết tâm thúc ép gần 500 đại biểu Quốc Hội thông qua với tỷ lệ cao các văn kiện cơ bản trên đây, sau khi Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng (Khóa XI) vừa họp lần thứ 8 đã thông qua một cách khá là trôi chảy, dễ dàng. Họ vẫn quen một lỗi nghĩ đơn giản, coi ý đảng là ý trời. Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng công khai nói rõ Hiến Pháp mới được dự thảo là văn kiện bám chặt theo cương lĩnh của đảng CS đã được Ðại hội đảng XI vạch rõ thêm. Có nghĩa là đảng đứng trên nhân dân, quyền lực đất nước này trước hết nằm trong tay đảng CS. Ðiều đó cũng có nghĩa là tổng bí thư ra lệnh cho tuyệt đại đa số đảng viên CS trong gần 500 đại biểu Quốc Hội - chiếm hơn 90% đại biểu - phải bỏ phiếu thông qua các văn kiện sẽ được đưa ra, theo đúng kỷ luật của đảng, không được thắc mắc, trì hoãn, đặt lại vấn đề gì nữa hết.
Nếp nghĩ của Bộ Chính Trị rất dễ hiểu. Vì xưa nay Quốc Hội đã có bao giờ dám bác bỏ những văn kiện cơ bản do đảng đưa ra. Cái điều khoản trong Hiến Pháp coi Quốc Hội là cơ quan quyền lực cao nhất chỉ là một vòng trang sức hào nhoáng tròng vào cổ các đại biểu. Chuyện Quốc Hội từng trì hoãn chủ trương làm xe lửa cao tốc đã được dự định chỉ là một chi tiết nhỏ, một trục trặc tạm thời.
Trong Bộ Chính Trị, trong Ban Chấp Hành Trung Ương, có ai lo ngại rằng việc thông qua Hiến Pháp mới và Luật Ðất Ðai (sửa đổi) kỳ này sẽ gặp trở ngại, khó khăn, hay vấp váp không? Không, họ đầy tự tin. Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng còn nói rõ là 2 văn kiện này đã được Ban Thường Trực Quốc Hội hoàn thiện sau khi đã tiếp nhận hơn 20 triệu ý kiến đóng góp của công dân cả nước, do đó không thể thảo luận kéo dài thêm nữa.
Tôi vừa đọc lại toàn “Bản dự thảo Hiến Pháp cuối cùng đã được hoàn thiện” được phổ biến trong Quốc Hội, tôi không khỏi giật mình, kinh hãi về thái độ tự tin thái quá của Bộ Chính Trị, về thái độ khinh thường dân chúng, khinh miệt trí thức của nhóm lãnh đạo cao nhất của đảng CS, về thái độ mù quáng đến liều lĩnh của họ. Tôi băn khoăn tự hỏi, họ mê hay tỉnh? Họ khôn hay dại?
Mù quáng, liều lĩnh, Bộ Chính Trị và Ban Thường Trực Quốc Hội vẫn cho ghi nhiều lần “chủ nghĩa Mác-Lênin” vào Hiến Pháp mới, vẫn giữ “điều 4” về vai trò lãnh đạo toàn trị của đảng Cộng sản, vẫn “quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội”, vẫn “lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo cho nền kinh tế”, và vẫn coi “đất đai và mọi tài nguyên là thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý”. Ðây chính là 5 điều phi lý, mơ hồ, sai lầm tệ hại nhất, rõ ràng nhất, 5 xiềng xích giam hãm xã hội ta trong thân phận nô lệ, 5 cản trở đất nước ta phát triển và hôi nhập với thế giới văn minh.
Ðó chính là thông điệp cô đọng của 14,785 công dân, đa số là trí thức có trí tuệ và tâm huyết, tinh hoa của dân tộc, công khai, minh bạch bác bỏ cả 5 điều phi lý trên đây với lập luận chặt chẽ, đầy tính thuyết phục, liên quan trực tiếp đến bản dự thảo Hiến Pháp mới và Luật Ðất Ðai (sửa đổi) trong bản kiến nghị công khai được giao tận tay ban biên tập dự thảo.
Ban Tuyên Huấn Trung Ương đã huy động hàng mấy chục tuyên truyền viên nói theo công thức giáo điều, nói lấy được, nhưng không có một ai bác bỏ được lập luận của tập thể trí thức trên đây, chỉ phơi bầy sự nghèo nàn về lý lẽ, sự xa rời thực tế và căn bệnh tối tăm về kiến thức khi họ bị lòng tham và quyền lực khống chế.
Dứt khoát việc thông qua dự thảo Hiến Pháp mới và Luật Ðất Ðai (sửa đổi) sẽ không thuận buồm xuôi gió, trái lại nó sẽ vấp phải sự phủ định mạnh mẽ của toàn xã hội do một tập thể trí thức tự tin, gan góc dẫn đầu một cách không thể khoan nhượng nữa. Bởi vì Bộ Chính Trị và Ban Thường Trực Quốc Hội đã hoàn toàn đuối lý về cả 5 vấn đề then chốt trên đây, đã quá chủ quan, tin theo nền nếp cũ, đã dám khiêu khích lương tri dân tộc, dám thách đố sự thật và lẽ phải, dám ngang nhiên nhắm mắt trước yêu cầu cấp bách của toàn dân là phải đổi mới hệ thống chính trị theo hướng từ bỏ độc đoán, chuyên quyền, xây dựng hệ thống dân chủ pháp trị đang thiếu vắng một cách tệ hại và nguy hiểm.
Trên thực tế, Bộ Chính Trị và Ban Thường Trực Quốc Hội đã tuyên chiến với cả khối trí thức dân tộc đã thức tỉnh tự lãnh trách nhiệm lịch sử trước toàn dân, thúc đẫy đà chuyển biến đi lên của đất nước, nhằm hòa nhập với thế giới dân chủ văn minh. Ðiều họ không muốn nhận ra là khối trí thức-dân chủ rất trẻ về tư duy chính trị hiện không còn là đàn cừu để họ chăn dắt, dạy dỗ, dẫn đường nữa. Thế lực này luôn được bổ sung lực lượng trẻ khỏe về kiến thức, dồi dào về sáng kiến, gan góc khi dấn thân, siết chặt hàng ngũ chiến hữu trong đấu tranh, có một dự án chính trị rất rõ ràng là: giữ trọn vẹn nền độc lập, chống bành trướng, thực hiện đầy đủ các quyền tự do của công dân, xây dựng xã hội dân sự năng động, trên nền tảng pháp luật công minh cho mọi người, từ bỏ dứt khoát, không thương tiếc chủ nghĩa Mác-Lênin cổ lỗ, chế độ CS không tưởng, chủ nghĩa xã hội mờ ảo, việc nuông chiều sở hữu quốc doanh hư hỏng.
Sự liên kết, liên minh giữa trí thức với nông dân và quần chúng các tôn giáo luôn đề cao thiện tâm chống cái ác bất kỳ từ đâu, sẽ làm cho cuộc đấu tranh thêm quyết liệt và sâu rộng.
Thêm nữa việc các học giả, trí thức, giáo sư, tiến sĩ, sinh viên ưu tú có mặt trong số 14,785 ngôi sao trí tuệ và tâm huyết dân tộc có thừa kiến thức khoa học, lập luận lô-gích biện chứng để đánh đổ và chôn vùi 5 cột trụ lý sự cùn thô vụng của giới cầm quyền hiện tại. Chênh lệch giữa 2 bên khác biệt hẳn nhau như ánh sáng và bóng tối, như ngày và đêm, như khoa học và tà giáo, như sự ngay thật với dối trá, như lòng yêu nước với dã tâm bán nước, như lòng xót xa thương dân với cú đạp giầy vào mặt dân vậy.
Nếu tổ chức tranh cãi công khai trước truyền hình trong nước, một em sinh viên trẻ như Huỳnh Thục Vy, Ðỗ Thị Minh Hạnh hay Nguyễn Phương Uyên ở phía bên này có thể dễ dàng dồn Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng và cả Trưởng Ban Tuyên Huấn Trung Ương Ðinh Thế Huynh ở phía cường quyền vào tình thế ấp úng, lúng túng, ngậm hột thị cho mà xem.
Thế lực cai trị đất nước ta đã phơi bày hết dã tâm của họ. Họ đã khinh miệt bác bỏ hết mọi ý kiến tâm huyết đầy trách nhiệm của của nhân dân, coi cả 14,785 công dân yêu nước chỉ bằng con số không, họ vẫn định ép gần trăm triệu dân ta phải nuốt 5 món ăn thiu thối chết người đã bị đông đảo loài người loại bỏ dứt khoát.
Tuy nhiên, thời kỳ tan rã của phong trào Cộng sản thực tiễn, giai đoạn mạt vận của học thuyết Mác-Lênin từng cổ xúy bạo lực, chiến tranh, máu đổ đầu rơi, và tình trạng suy thoái toàn diện của đảng CS Việt Nam không có cách gì cứu vãn nổi.
Hà Nội quyết duy trì Ðiều 4 Hiến Pháp và Luật Ðất Ðai
Võ Long Triều
Quốc Hội khóa 13 khai mạc phiên họp kỳ thứ 6 ngày 21 tháng 10, 2013 kéo dài đến 30 tháng 10. Theo chương trình dự tính sẽ thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo Hiến Pháp vào ngày 28 tháng 10, công tác quan trong nhứt của khóa họp này.
Dư luận đã tiên đoán “Quốc Hội chỉ làm theo ý đảng,” ông Phan Trung Lý đại diện cho Ủy Ban Dự Thảo Sửa Ðổi Hiến Pháp xác định trước Quốc Hội rằng: Ủy ban chỉ “bám sát cương lĩnh của đảng và các nghị quyết, kết luận của Trung Ương Ðảng và Bộ Chính Trị thôi.” Nghĩa là vẫn duy trì Ðiều 4 Hiến Pháp và dành cho nhà nước quyền thu hồi đất đai một cách rộng rãi.
Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng chỉ nên sửa những gì đã tạo được thống nhứt cao, còn cái gì có ý kiến khác nhau thì chưa nên sửa, ông nói: “Tôi thấy tất cả nội dung này đã đáp ứng được tư tưởng đó nên tôi tán thành.” Tuy nhiên, ông đề nghị phải viết lại: Ðảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân... thay vì chỉ viết đảng Cộng Sản lãnh đạo thôi là không ổn, vì như vậy là bỏ chủ thể nhân dân.
Ðiều khôi hài là lần này có thêm cho Ðiều 4 một câu thòng như sau: “Ðảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.” Thế mà nhân dân bị cướp đất, mất nhà, không lãnh được tiền bồi thường xứng đáng, kêu oan mà không có sự hiện diện nào của đảng ngoài những kẻ cướp thuộc quyền đàn áp dân oan. Ðảng phục vụ nhân dân bằng cách nào mà ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng than phiền: Bây giờ ra khỏi nhà cái gì cũng phải tiền, không tiền không trôi. Tham nhũng lớn cũng có, nhỏ cũng có.
Và bà Phó Chủ Tịch nước Nguyễn Thị Doan nói: “Tôi càng đi càng buồn, đảng viên cầm quyền ăn của dân không từ một thứ gì.”
Còn đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân, tại sao Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng lãnh đạo chính phủ tồi tệ, bao che cho thuộc cấp làm thất thoát của nhà nước hàng tỷ Mỹ kim, đến nỗi Bộ Chính Trị đề nghị Trung Ương kỷ luật ông Dũng mà đảng vẫn làm ngơ sợ thù oán. Vậy thử hỏi người dân lấy quyền hạn gì, thế lực nào để phê bình, hay đòi truất phế ông Dũng? Người dân đó sẽ bị đi tù chiếu Ðiều Luật 258. Nếu không đi tù thì cũng bị công an hay côn đồ đánh gãy xương bể đầu. Nhân dân đã nhàm chán những thủ đoạn tuyên truyền giả dối của đảng, phản đối tập thể khắp nơi, đến mức độ nhà nước quá sợ dân biểu tình lật đổ, nên công an quân đội đang tập dợt chống biểu tình lật đổ.
Mặt khác Ðiều 51 Khoản 1 bản dự thảo qui định: Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Ông Nguyễn Hạnh Phúc, phát ngôn viên của Quốc Hội bồi thêm: “Ðương nhiên kinh tế nhà nước phải chủ đạo, nếu không chỉ đạo thì ai lo an sinh xã hội, đương nhiên kinh tế nhà nước phải lo rồi, vậy phải là chủ đạo.”
Ðã là kinh tế thị trường thì phải tự do cạnh tranh, không có thành phần nào chỉ đạo cả. An sinh xã hội nhờ sự tự do cạnh tranh đó mà hưởng lợi về giá cả, về cung cầu hàng hóa. Không biết ông Phúc này bị ảnh hưởng giáo điều của Mác-Lê, hay vì thiếu hiểu biết về kinh tế thị trường, hoặc ông có thâm ý dành sự thao túng, lộng hành cho kinh tế quốc doanh để dễ bề bòn rút của công. Thủ tướng và các viên chức nhà nước nhờ kinh tế quốc doanh đó mà trở thành tư bản đỏ.
Thành phần kinh tế quốc doanh đã không chứng tỏ có khả năng hoạt động hữu hiệu làm cho đất nước phồn vinh. Ðó là quan niệm lỗi thời của nền kinh tế “kế hoạch chỉ huy” thời Liên Xô và các nước cộng sản cũ.
Nhiều đại biểu có ý kiến nên đổi tên nước, nhưng Ủy Ban Sửa Ðổi Hiến Pháp thấy cần giữ lại quốc hiệu “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.” Nguyễn Phú Trọng cho rằng đảng đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Theo ông, xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới không thể được xếp ngang nhau. Ðổi mới chỉ là giai đoạn, còn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì lâu dài lắm. Ðến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.
Giáo Sư Trần Phương, cố vấn cho nhiều đời thủ tướng, phát biểu trong phiên họp góp ý về bản dự thảo nghị quyết Ðại Hội Ðảng XI nói rằng: “Chủ nghĩa xã hội là cái gì? Lê-Nin sai rồi. Tôi đố các ông giải thích được nó là cái gì? Tôi nói các ông bịp người ta mà cứ tiếp tục bịp hoài.”
Bản dự thảo sửa đổi Hiến Pháp 1992, được Trưởng Ban Phan Trung Lý báo cáo đã tiếp thu 26 triệu lượt ý kiến và 28,000 cuộc hội nghị và hội thảo. Nhưng các đại biểu Quốc Hội mong muốn cải cách thể chế kinh tế chính trị thất vọng nên mỉa mai hỏi: Tại sao phải lãng phí thời gian và tiền bạc của nhân dân làm gì? Khi mình phải làm theo ý đảng, phải bám sát cương lĩnh của đảng và các nghị quyết, kết luận của Trung Ương Ðảng và Bộ Chính Trị?
Thời báo Kinh Tế Việt Nam, bản điện tử ngày 23 tháng 10 ghi nhận ý kiến sự thất vọng, bất mãn của Ðại Biểu TS Trần Du Lịch, đơn vị ở Sài Gòn ba nhiệm kỳ, chuyên gia kinh tế, ông quả quyết rằng “tôi sẽ không nói gì về Hiến Pháp nữa.” Bởi lẽ ông có chân trong ban biên tập và nhận thiết kế một số nội dung do ông soạn thảo, có nhuận bút, nhưng không được đưa một chữ nào vào bản dự thảo.
Sự láo khoét dối gạt quần chúng còn thể hiện qua báo cáo của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng trước Quốc Hội. Ông Dũng báo cáo rằng: Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tình hình kinh tế xã hội năm 2013 tốt, trong 15 chỉ tiêu được Quốc Hội thông qua, chính phủ thực hiện đạt và vượt kế hoạch 11 chỉ tiêu, hai chỉ tiêu không đạt kế hoạch là tổng số vốn đầu tư phát triển xã hội so với GDP, đạt 29% (so với kế hoạch là 30%). Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước/GDP đạt 5.4% (so với kế hoạch là 4.8%). Hai chỉ tiêu xấp xỉ đạt được là tăng trưởng GDP 5.4% (so với kế hoạch là 5.5%) và tạo việc làm được 1.54 triệu việc làm (so với kế hoạch là 1.6 triệu).
Những con số thống kê ông Dũng đưa ra, ai kiểm soát được một cách độc lập? Nhưng thực tế hãy xem những lời bình luận của các chuyên gia kinh tế trong Quốc Hội. Ðại biểu tỉnh Thái Bình Cao Sĩ Kim cho rằng ba chỉ tiêu: Ðầu tư, tăng trưởng và việc làm không đạt sẽ tác hại tới tình hình kinh tế năm 2013 mà còn kéo sang 2014. Các doanh nghiệp đang trong tình trạng suy kiệt, sản xuất co hẹp, nợ xấu cao chưa nhìn thấy hướng ra, từ đầu năm đến nay đã có 40,000 doanh nghiệp bị thua lỗ, phá sản, ngưng hoạt động. Mức cầu thấp do thất nghiệp tăng mà thất nghiệp càng tăng mức cầu càng thấp. Nên thực tế chưa nhìn thấy kinh tế Việt Nam sẽ thoát khỏi vòng xoáy bằng cách nào. Chuyên gia kinh tế Phạm Nam Kim, cựu giám đốc ngân hàng bang Vaud, Thụy Sĩ, cho rằng, lạm phát thấp không phải do thành công từ sự điều hành của chính phủ, mà do kinh tế suy thoái, mức cầu thấp thì mức cung giảm. Theo các chuyên gia trong và ngoài nước nhận định thì toàn bộ nền kinh tế Việt Nam đang ở trong trạng thái suy kiệt, đầu tư và mức tiêu thụ cá nhân bị thu hẹp. Các điểm nghẽn như nợ xấu, hàng tồn kho chưa được khai thông, khu vực bất động sản đóng cứng và suy giảm, môi trường kinh doanh buộc hàng vạn doanh nghiệp phải rời bỏ thị trường.
Vậy thì sự lạc quan hay lừa bịp dư luận của Nguyễn Tấn Dũng dựa vào đâu? Do sự ỷ thế có độc quyền phê phán, độc quyền dối gạt mà chính Trung Ương Ðảng cũng không kỷ luật được ông. Hay là vừa qua, đồng chí “Tốt” Lý Khắc Cường đã bảo đảm sẽ nâng đỡ, làm cho nền kinh tế Việt Nam phát triển đi lên, do 3 sự hợp tác, cơ sở hạ tầng, tiền tệ và khai thác Biển Ðông, cho nên ông Nguyễn Tấn Dũng mới mạnh dạn bảo đảm kinh tế Việt Nam sẽ phát triển tốt.
Võ Long Triều
Quốc Hội khóa 13 khai mạc phiên họp kỳ thứ 6 ngày 21 tháng 10, 2013 kéo dài đến 30 tháng 10. Theo chương trình dự tính sẽ thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo Hiến Pháp vào ngày 28 tháng 10, công tác quan trong nhứt của khóa họp này.
Dư luận đã tiên đoán “Quốc Hội chỉ làm theo ý đảng,” ông Phan Trung Lý đại diện cho Ủy Ban Dự Thảo Sửa Ðổi Hiến Pháp xác định trước Quốc Hội rằng: Ủy ban chỉ “bám sát cương lĩnh của đảng và các nghị quyết, kết luận của Trung Ương Ðảng và Bộ Chính Trị thôi.” Nghĩa là vẫn duy trì Ðiều 4 Hiến Pháp và dành cho nhà nước quyền thu hồi đất đai một cách rộng rãi.
Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng chỉ nên sửa những gì đã tạo được thống nhứt cao, còn cái gì có ý kiến khác nhau thì chưa nên sửa, ông nói: “Tôi thấy tất cả nội dung này đã đáp ứng được tư tưởng đó nên tôi tán thành.” Tuy nhiên, ông đề nghị phải viết lại: Ðảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân... thay vì chỉ viết đảng Cộng Sản lãnh đạo thôi là không ổn, vì như vậy là bỏ chủ thể nhân dân.
Ðiều khôi hài là lần này có thêm cho Ðiều 4 một câu thòng như sau: “Ðảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.” Thế mà nhân dân bị cướp đất, mất nhà, không lãnh được tiền bồi thường xứng đáng, kêu oan mà không có sự hiện diện nào của đảng ngoài những kẻ cướp thuộc quyền đàn áp dân oan. Ðảng phục vụ nhân dân bằng cách nào mà ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng than phiền: Bây giờ ra khỏi nhà cái gì cũng phải tiền, không tiền không trôi. Tham nhũng lớn cũng có, nhỏ cũng có.
Và bà Phó Chủ Tịch nước Nguyễn Thị Doan nói: “Tôi càng đi càng buồn, đảng viên cầm quyền ăn của dân không từ một thứ gì.”
Còn đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân, tại sao Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng lãnh đạo chính phủ tồi tệ, bao che cho thuộc cấp làm thất thoát của nhà nước hàng tỷ Mỹ kim, đến nỗi Bộ Chính Trị đề nghị Trung Ương kỷ luật ông Dũng mà đảng vẫn làm ngơ sợ thù oán. Vậy thử hỏi người dân lấy quyền hạn gì, thế lực nào để phê bình, hay đòi truất phế ông Dũng? Người dân đó sẽ bị đi tù chiếu Ðiều Luật 258. Nếu không đi tù thì cũng bị công an hay côn đồ đánh gãy xương bể đầu. Nhân dân đã nhàm chán những thủ đoạn tuyên truyền giả dối của đảng, phản đối tập thể khắp nơi, đến mức độ nhà nước quá sợ dân biểu tình lật đổ, nên công an quân đội đang tập dợt chống biểu tình lật đổ.
Mặt khác Ðiều 51 Khoản 1 bản dự thảo qui định: Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Ông Nguyễn Hạnh Phúc, phát ngôn viên của Quốc Hội bồi thêm: “Ðương nhiên kinh tế nhà nước phải chủ đạo, nếu không chỉ đạo thì ai lo an sinh xã hội, đương nhiên kinh tế nhà nước phải lo rồi, vậy phải là chủ đạo.”
Ðã là kinh tế thị trường thì phải tự do cạnh tranh, không có thành phần nào chỉ đạo cả. An sinh xã hội nhờ sự tự do cạnh tranh đó mà hưởng lợi về giá cả, về cung cầu hàng hóa. Không biết ông Phúc này bị ảnh hưởng giáo điều của Mác-Lê, hay vì thiếu hiểu biết về kinh tế thị trường, hoặc ông có thâm ý dành sự thao túng, lộng hành cho kinh tế quốc doanh để dễ bề bòn rút của công. Thủ tướng và các viên chức nhà nước nhờ kinh tế quốc doanh đó mà trở thành tư bản đỏ.
Thành phần kinh tế quốc doanh đã không chứng tỏ có khả năng hoạt động hữu hiệu làm cho đất nước phồn vinh. Ðó là quan niệm lỗi thời của nền kinh tế “kế hoạch chỉ huy” thời Liên Xô và các nước cộng sản cũ.
Nhiều đại biểu có ý kiến nên đổi tên nước, nhưng Ủy Ban Sửa Ðổi Hiến Pháp thấy cần giữ lại quốc hiệu “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.” Nguyễn Phú Trọng cho rằng đảng đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Theo ông, xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới không thể được xếp ngang nhau. Ðổi mới chỉ là giai đoạn, còn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì lâu dài lắm. Ðến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.
Giáo Sư Trần Phương, cố vấn cho nhiều đời thủ tướng, phát biểu trong phiên họp góp ý về bản dự thảo nghị quyết Ðại Hội Ðảng XI nói rằng: “Chủ nghĩa xã hội là cái gì? Lê-Nin sai rồi. Tôi đố các ông giải thích được nó là cái gì? Tôi nói các ông bịp người ta mà cứ tiếp tục bịp hoài.”
Bản dự thảo sửa đổi Hiến Pháp 1992, được Trưởng Ban Phan Trung Lý báo cáo đã tiếp thu 26 triệu lượt ý kiến và 28,000 cuộc hội nghị và hội thảo. Nhưng các đại biểu Quốc Hội mong muốn cải cách thể chế kinh tế chính trị thất vọng nên mỉa mai hỏi: Tại sao phải lãng phí thời gian và tiền bạc của nhân dân làm gì? Khi mình phải làm theo ý đảng, phải bám sát cương lĩnh của đảng và các nghị quyết, kết luận của Trung Ương Ðảng và Bộ Chính Trị?
Thời báo Kinh Tế Việt Nam, bản điện tử ngày 23 tháng 10 ghi nhận ý kiến sự thất vọng, bất mãn của Ðại Biểu TS Trần Du Lịch, đơn vị ở Sài Gòn ba nhiệm kỳ, chuyên gia kinh tế, ông quả quyết rằng “tôi sẽ không nói gì về Hiến Pháp nữa.” Bởi lẽ ông có chân trong ban biên tập và nhận thiết kế một số nội dung do ông soạn thảo, có nhuận bút, nhưng không được đưa một chữ nào vào bản dự thảo.
Sự láo khoét dối gạt quần chúng còn thể hiện qua báo cáo của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng trước Quốc Hội. Ông Dũng báo cáo rằng: Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, tình hình kinh tế xã hội năm 2013 tốt, trong 15 chỉ tiêu được Quốc Hội thông qua, chính phủ thực hiện đạt và vượt kế hoạch 11 chỉ tiêu, hai chỉ tiêu không đạt kế hoạch là tổng số vốn đầu tư phát triển xã hội so với GDP, đạt 29% (so với kế hoạch là 30%). Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước/GDP đạt 5.4% (so với kế hoạch là 4.8%). Hai chỉ tiêu xấp xỉ đạt được là tăng trưởng GDP 5.4% (so với kế hoạch là 5.5%) và tạo việc làm được 1.54 triệu việc làm (so với kế hoạch là 1.6 triệu).
Những con số thống kê ông Dũng đưa ra, ai kiểm soát được một cách độc lập? Nhưng thực tế hãy xem những lời bình luận của các chuyên gia kinh tế trong Quốc Hội. Ðại biểu tỉnh Thái Bình Cao Sĩ Kim cho rằng ba chỉ tiêu: Ðầu tư, tăng trưởng và việc làm không đạt sẽ tác hại tới tình hình kinh tế năm 2013 mà còn kéo sang 2014. Các doanh nghiệp đang trong tình trạng suy kiệt, sản xuất co hẹp, nợ xấu cao chưa nhìn thấy hướng ra, từ đầu năm đến nay đã có 40,000 doanh nghiệp bị thua lỗ, phá sản, ngưng hoạt động. Mức cầu thấp do thất nghiệp tăng mà thất nghiệp càng tăng mức cầu càng thấp. Nên thực tế chưa nhìn thấy kinh tế Việt Nam sẽ thoát khỏi vòng xoáy bằng cách nào. Chuyên gia kinh tế Phạm Nam Kim, cựu giám đốc ngân hàng bang Vaud, Thụy Sĩ, cho rằng, lạm phát thấp không phải do thành công từ sự điều hành của chính phủ, mà do kinh tế suy thoái, mức cầu thấp thì mức cung giảm. Theo các chuyên gia trong và ngoài nước nhận định thì toàn bộ nền kinh tế Việt Nam đang ở trong trạng thái suy kiệt, đầu tư và mức tiêu thụ cá nhân bị thu hẹp. Các điểm nghẽn như nợ xấu, hàng tồn kho chưa được khai thông, khu vực bất động sản đóng cứng và suy giảm, môi trường kinh doanh buộc hàng vạn doanh nghiệp phải rời bỏ thị trường.
Vậy thì sự lạc quan hay lừa bịp dư luận của Nguyễn Tấn Dũng dựa vào đâu? Do sự ỷ thế có độc quyền phê phán, độc quyền dối gạt mà chính Trung Ương Ðảng cũng không kỷ luật được ông. Hay là vừa qua, đồng chí “Tốt” Lý Khắc Cường đã bảo đảm sẽ nâng đỡ, làm cho nền kinh tế Việt Nam phát triển đi lên, do 3 sự hợp tác, cơ sở hạ tầng, tiền tệ và khai thác Biển Ðông, cho nên ông Nguyễn Tấn Dũng mới mạnh dạn bảo đảm kinh tế Việt Nam sẽ phát triển tốt.
Tại sao không muốn Viện Khổng Tử?
Ngô Nhân Dụng
Dư luận giới trí thức Việt Nam đang bày tỏ nỗi lo lắng về việc chính quyền Trung Quốc sẽ thành lập một Viện Khổng Tử; một thành công của Thủ tướng Trung Cộng Lý Khắc Cường trong cuộc công du hai tuần trước ở Việt Nam. Khi chuyến đi kết thúc, hai ông Lý Khắc Cường và Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố đã thỏa thuận về việc này.
Ngay lập tức, những nhà trí thức có ảnh hưởng trên các mạng như Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, học giả Dương Danh Dy, một nhà ngoại giao về hưu đã từng làm việc ở Trung Quốc, Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, và nhiều người khác, đã lên tiếng bác bỏ việc lập ra một Học viện Khổng Tử trong lúc chính quyền cộng sản ở nước ta tỏ ra không có một ý thức nào về cuộc tấn công “quyền lực mềm” của Cộng sản Trung Quốc.
Có thể nói ông Lý Khắc Cường đã đạt được một thắng lợi đáng kể trong chuyến đi vừa qua. Vì từ năm 2009, đảng Cộng sản Việt Nam đã có công văn cho phép thành lập một “Học viện Khổng Tử” tại Việt Nam; nhưng chưa làm gì cả. Năm 2011, ông Tập Cận Bình, lúc còn làm phó chủ tịch Trung Quốc, tới Hà Nội cũng đã thúc giục cần“xây dựng nhanh chóng Học viện Khổng Tử tại Việt Nam.” Kể từ năm 2009 tới nay đã là hơn bốn năm, guồng máy chính quyền Việt Nam chưa thấy có một chuyển động nào để thực hiện cái công văn cũ, rồi cũng không ai động đậy gì để đáp lời thúc giục của Tập Cận Bình. Có thể đoán, ngay trong số các đảng viên cộng sản đang ngồi trong guồng máy nhà nước, họ cũng biết lo, và tìm cách trì hoãn, không làm gì cả.
Năm nay, Lý Khắc Cường làm cái gì không biết mà đã buộc Nguyễn Tấn Dũng phải ra đứng trước công chúng chấp nhận việc cho Viện Khổng Tử ra đời. Việc thành lập những Viện Khổng Tử có đáng cho dân Việt Nam lo sợ hay không? Nếu có, thì sợ về cái gì? Ðó là điều chúng ta cần bàn trước khi chọn một cách phản ứng.
Có nhà trí thức đã nhìn thấy trong việc thành lập Viện Khổng Tử một mối đe dọa: Chính quyền Cộng sản Trung Hoa tính “cho đạo Khổng nô dịch dân Việt.” Phản ứng này hoàn toàn do cảm tính, vì lòng yêu nước và vì mối lo sợ khi thấy chính quyền Cộng sản Việt Nam vẫn quen giữ thái độ nhu nhược, hèn yếu, Trung Cộng bảo sao cũng nghe. Chúng ta biết rằng đạo Khổng đã được truyền bá ở nước ta từ hàng ngàn năm trước, mà dân ta vẫn không bao giờ chấp nhận bị nô dịch. Có những chính quyền chịu làm nô dịch, nhưng số phận của họ rất ngắn ngủi, vì đi ngược lòng dân. Các chính quyền sử dụng đạo Khổng đầu tiên là đời Lý, đời Trần, đều biết bảo vệ nền độc lập dân tộc, cả về chính trị lẫn văn hóa! Muốn nô dịch dân Việt, không phải dễ làm!
Kế hoạch đồng hóa dân Việt tàn khốc nhất được thi hành mới cách đây 600 năm. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi mới cho công bố lại những điều ông khám phá trong sách Việt kiệu thư, cho biết và năm 1406, vua Thành Tổ nhà Minh ra lệnh cho quân đội xâm lược nước ta, sau khi đã đánh vào An Nam rồi, trừ các sách kinh, Ðạo giáo, Phật giáo, “hết thảy sách vở văn tự cho đến sách ghi chép lễ tục, sách dạy trẻ con,... một mảnh một chữ đều phải tiêu hủy hết. Khắp trong nước ấy phàm những nơi di tích có bia do Trung Quốc dựng thì giữ lại, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy hết, một chữ chớ để còn. Một sắc dụ gửi Chu Năng còn căn dặn “các văn tịch (sổ hộ khẩu sổ ghi chép về của cải) và bản đồ cho tới cấp quận ấp, thì không được hủy. Cuộc đô hộ của nhà Minh chỉ kéo dài được 20 năm nhưng đã hủy diệt bao nhiêu tài sản văn hóa của dân tộc Việt. Nhưng nếu nước ta chưa bị Trung Cộng chiếm đóng như thời Minh Thành Tổ, thì dù những Viện Khổng Tử lập ra cũng không hủy diệt được văn hóa dân tộc Việt!
Có thể nói người Việt Nam không hề sợ, cho nên đã thành lập những Viện Khổng Tử từ lâu lắm rồi, gọi là Văn Miếu. Vào trong Văn Miếu ở Hà Nội ai cũng thấy đó là nơi thờ các ông Khổng Tử, Mạnh Tử, và các bậc tiên hiền, người Việt cũng như người Trung Hoa. Nhưng cái “Viện Khổng Tử” này, do Lý Nhân Tông lập ra từ năm 1070, đã “làm xong nhiệm vụ lịch sử” của nó từ trăm năm nay rồi. Vì ngay tại các quốc gia Ðông Á còn giữ truyền thống Khổng Mạnh, như Nhật Bản, Ðài Loan, Nam Hàn, Singapore, họ cũng biết lưa chọn. Người ta vẫn bảo vệ các nền nếp đạo đức do hai ông thày này để lại, các quy tắc trong đời sống cá nhân, gia đình, bè bạn; những quy tắc luân lý đó còn nhiều điều ích lợi: Sống ngay thẳng, thành thật, kính trọng cha mẹ, hòa thuận với anh chị em, giữ tín nghĩa với bè bạn, vân vân. Còn tất cả các quan niệm khác do môn đồ các ông Khổng Tử, Mạnh Tử đặt ra, về trị quốc, về bình thiên hạ, thì bây giờ không còn ai cần học nữa. Kho kiến thức của loài người đã đầy các điều mới mẻ, tiến bộ, đáng học là làm theo hơn hai ông thầy cũ này.
Biết như vậy, cho nên cũng không nên mang mối lo sợ thứ hai: Sợ Trung Cộng sử dụng các Viện Khổng Tử để thi thố cái gọi là “quyền lực mềm” của họ. Quyền lực mềm có thể gia tăng ảnh hưởng của các quốc gia trên các nước khác, không khác gì các quyền lực “cứng” như súng đạn, và tiền bạc. Vậy quyền lực mềm là những thứ gì mà gây được ảnh hưởng trên các nước khác? Ðó là những định chế xã hội, các sản phẩm văn hóa, các trường đại học, các viện nghiên cứu khoa học, cho tới hệ thống pháp luật, thủ tục hành chánh, nghệ thuật quản lý, vân vân. Hiện nay thế giới đang “chạy” bằng các sản phẩm tri thức như vậy, tiến nhanh hay chậm, thấy liền.
Những nước tiến bộ đều nhờ có những định chế hay; đời sống tươi đẹp vì các sản phẩm văn hóa phong phú; xã hội bình anh vì cách tổ chức và luật pháp về chính trị, kinh tế có hiệu quả, vân vân. Những thứ đó tự nó hấp dẫn mọi người, không cần ai mua chuộc hay ép buộc phải theo cả. Những nước tiến bộ có “sức mạnh mềm,” vì các nước khác nhìn cảnh tiến bộ của họ mà thèm! Và muốn bắt chước. Do đó, họ có thể gây ảnh hưởng trên các nước khác.
Khi xét như vậy thì các Viện Khổng Tử có giúp chính quyền Trung Cộng sử dụng một thứ sức mạnh mềm nào hay chăng? Có thể nói ngay là không có gì hết! Những nước Á Ðông khác còn biết sử dụng Khổng Giáo để bảo về đạo đức cá nhân trong cuộc sống; còn ngay trong Trung Quốc thì không! Có dân tộc nào muốn thiết lập một xã hội bất công và tham nhũng như ở nước Trung Hoa bây giờ hay không? Có trường đại học hay viện nghiên cứu nào của Trung Quốc đáng để sinh viên các nước khác tranh đua vào học hay không? Có thể nói, Sức mạnh mềm của Trung Quốc bây giờ gần như là số không!
Vậy tại sao họ vẫn chi tiền ra để thành lập các Viện Khổng Tử?
Họ muốn dùng đó làm cơ sở tuyên truyền, một sở trường của các chế độ cộng sản. Ðiều đầu tiên họ muốn tuyên truyền là chứng tỏ chính quyền Trung Cộng có một bộ mặt hiền từ, mô phạm, dưới hình ảnh Khổng Tử. Ai tin thì cứ việc tin, nhất là ở những nước ở xa. Nhưng còn những nước ở gần thì sao? Nếu có ai biết sự thật đầy đủ, thấy cả những bộ mặt hung hãn, gian xảo của họ và dám nói lên, thì họ sẽ tìm cách bịt miệng người ta lại.
Chuyện thứ hai họ sẽ nhắm là đào tạo những người hoàn toàn có thiện cảm với họ, qua các cuộc trao đổi, mua chuộc, rồi tìm cách gài những người này vào guồng máy chính quyền bản xứ để lúc nào cũng đồng ý, nhất trí với chính quyền Trung Cộng. Nếu guồng máy cai trị bản xứ mà đã có sẵn những tay sai như vậy rồi thì càng tốt. Vì chính bọn tay sai này sẽ làm công việc bịt miệng dân, không cho ai nói ngược lại những lời tuyên truyền của Trung Cộng!
Viện Khổng Tử chính nó không nguy hiểm; nhưng sẽ tác hại cho nước Việt Nam nếu chúng được sử dụng cho mục đích tuyên truyền cho chế độ cộng sản Trung Quốc.
Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện biểu lộ nỗi quan ngại của ông: “Phải thừa nhận rằng giới lãnh đạo của Việt Nam có một sự hiểu biết rất hạn chế về văn hóa của Trung Quốc. Mà việc tuyên truyền, gây sức ép cũng như ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc lên Việt Nam là quá mạnh. Ðiển hình là vừa rồi có những công trình tu bổ hoặc xây mới mang đậm dấu ấn Trung Quốc. Thêm vào đó, có hàng loạt các ngôi chùa từ Nam chí Bắc trùng tu, trang trí theo kiểu Trung Quốc.” Ðó là trước khi có chuyện lập Viện Khổng Tử! Chính quý vị tăng, ni trong nước đã bày tỏ mối lo ngại là Trung Cộng đang đưa tiên giúp trùng tu các chùa chiền, để gây ảnh hưởng trên cả cách bài trí cho tới các nghi lễ trong các chùa. Nhạc sĩ Trần Văn Khê từng nghiên cứu các cách tụng kinh của người Việt, mỗi miền (Nam, Trung, Bắc) có giai điệu tụng, xướng, niệm, tán, vân vân, khác nhau. Vì nghe thì thấy ngay âm điệu tụng kinh chịu ảnh hưởng của dân ca mỗi miền. Bây giờ Trung Quốc đang xâm nhập vào các chùa Việt Nam. Bao giờ mà Phật tử Việt cũng tụng kinh theo âm điệu Quảng Ðông, Phúc Kiến, thì chắc lúc đó Bắc Kinh cũng không cần lập nhiều Viện Khổng Tử nữa!
Trong khi đó, nhà ngoại giao hồi hưu Dương Danh Dy, với kinh nghiệm ở Trung Quốc nhiều năm, còn nhắc nhở thêm: “Người Trung Quốc thì ý đồ bành trướng xâm chiếm lãnh thổ của họ rất dài. Họ sẵn sàng chờ đợi 10 năm, 20 năm, 30 năm thậm chí là hàng trăm năm. Chưa lấy được biển Ðông thì họ chưa thôi trừ phi đất nước Trung Quốc suy yếu đi.”
Với những điều đáng lo như thế, chúng ta có thể hiểu được tại sao giới trí thức Việt Nam lại phản ứng mạnh mẽ, chống lại thỏa hiệp giữa Lý Khắc Cường và Nguyễn Tấn Dũng về việc thành lập học viện Khổng Tử.
Ngô Nhân Dụng
Dư luận giới trí thức Việt Nam đang bày tỏ nỗi lo lắng về việc chính quyền Trung Quốc sẽ thành lập một Viện Khổng Tử; một thành công của Thủ tướng Trung Cộng Lý Khắc Cường trong cuộc công du hai tuần trước ở Việt Nam. Khi chuyến đi kết thúc, hai ông Lý Khắc Cường và Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố đã thỏa thuận về việc này.
Ngay lập tức, những nhà trí thức có ảnh hưởng trên các mạng như Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, học giả Dương Danh Dy, một nhà ngoại giao về hưu đã từng làm việc ở Trung Quốc, Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, và nhiều người khác, đã lên tiếng bác bỏ việc lập ra một Học viện Khổng Tử trong lúc chính quyền cộng sản ở nước ta tỏ ra không có một ý thức nào về cuộc tấn công “quyền lực mềm” của Cộng sản Trung Quốc.
Có thể nói ông Lý Khắc Cường đã đạt được một thắng lợi đáng kể trong chuyến đi vừa qua. Vì từ năm 2009, đảng Cộng sản Việt Nam đã có công văn cho phép thành lập một “Học viện Khổng Tử” tại Việt Nam; nhưng chưa làm gì cả. Năm 2011, ông Tập Cận Bình, lúc còn làm phó chủ tịch Trung Quốc, tới Hà Nội cũng đã thúc giục cần“xây dựng nhanh chóng Học viện Khổng Tử tại Việt Nam.” Kể từ năm 2009 tới nay đã là hơn bốn năm, guồng máy chính quyền Việt Nam chưa thấy có một chuyển động nào để thực hiện cái công văn cũ, rồi cũng không ai động đậy gì để đáp lời thúc giục của Tập Cận Bình. Có thể đoán, ngay trong số các đảng viên cộng sản đang ngồi trong guồng máy nhà nước, họ cũng biết lo, và tìm cách trì hoãn, không làm gì cả.
Năm nay, Lý Khắc Cường làm cái gì không biết mà đã buộc Nguyễn Tấn Dũng phải ra đứng trước công chúng chấp nhận việc cho Viện Khổng Tử ra đời. Việc thành lập những Viện Khổng Tử có đáng cho dân Việt Nam lo sợ hay không? Nếu có, thì sợ về cái gì? Ðó là điều chúng ta cần bàn trước khi chọn một cách phản ứng.
Có nhà trí thức đã nhìn thấy trong việc thành lập Viện Khổng Tử một mối đe dọa: Chính quyền Cộng sản Trung Hoa tính “cho đạo Khổng nô dịch dân Việt.” Phản ứng này hoàn toàn do cảm tính, vì lòng yêu nước và vì mối lo sợ khi thấy chính quyền Cộng sản Việt Nam vẫn quen giữ thái độ nhu nhược, hèn yếu, Trung Cộng bảo sao cũng nghe. Chúng ta biết rằng đạo Khổng đã được truyền bá ở nước ta từ hàng ngàn năm trước, mà dân ta vẫn không bao giờ chấp nhận bị nô dịch. Có những chính quyền chịu làm nô dịch, nhưng số phận của họ rất ngắn ngủi, vì đi ngược lòng dân. Các chính quyền sử dụng đạo Khổng đầu tiên là đời Lý, đời Trần, đều biết bảo vệ nền độc lập dân tộc, cả về chính trị lẫn văn hóa! Muốn nô dịch dân Việt, không phải dễ làm!
Kế hoạch đồng hóa dân Việt tàn khốc nhất được thi hành mới cách đây 600 năm. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi mới cho công bố lại những điều ông khám phá trong sách Việt kiệu thư, cho biết và năm 1406, vua Thành Tổ nhà Minh ra lệnh cho quân đội xâm lược nước ta, sau khi đã đánh vào An Nam rồi, trừ các sách kinh, Ðạo giáo, Phật giáo, “hết thảy sách vở văn tự cho đến sách ghi chép lễ tục, sách dạy trẻ con,... một mảnh một chữ đều phải tiêu hủy hết. Khắp trong nước ấy phàm những nơi di tích có bia do Trung Quốc dựng thì giữ lại, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy hết, một chữ chớ để còn. Một sắc dụ gửi Chu Năng còn căn dặn “các văn tịch (sổ hộ khẩu sổ ghi chép về của cải) và bản đồ cho tới cấp quận ấp, thì không được hủy. Cuộc đô hộ của nhà Minh chỉ kéo dài được 20 năm nhưng đã hủy diệt bao nhiêu tài sản văn hóa của dân tộc Việt. Nhưng nếu nước ta chưa bị Trung Cộng chiếm đóng như thời Minh Thành Tổ, thì dù những Viện Khổng Tử lập ra cũng không hủy diệt được văn hóa dân tộc Việt!
Có thể nói người Việt Nam không hề sợ, cho nên đã thành lập những Viện Khổng Tử từ lâu lắm rồi, gọi là Văn Miếu. Vào trong Văn Miếu ở Hà Nội ai cũng thấy đó là nơi thờ các ông Khổng Tử, Mạnh Tử, và các bậc tiên hiền, người Việt cũng như người Trung Hoa. Nhưng cái “Viện Khổng Tử” này, do Lý Nhân Tông lập ra từ năm 1070, đã “làm xong nhiệm vụ lịch sử” của nó từ trăm năm nay rồi. Vì ngay tại các quốc gia Ðông Á còn giữ truyền thống Khổng Mạnh, như Nhật Bản, Ðài Loan, Nam Hàn, Singapore, họ cũng biết lưa chọn. Người ta vẫn bảo vệ các nền nếp đạo đức do hai ông thày này để lại, các quy tắc trong đời sống cá nhân, gia đình, bè bạn; những quy tắc luân lý đó còn nhiều điều ích lợi: Sống ngay thẳng, thành thật, kính trọng cha mẹ, hòa thuận với anh chị em, giữ tín nghĩa với bè bạn, vân vân. Còn tất cả các quan niệm khác do môn đồ các ông Khổng Tử, Mạnh Tử đặt ra, về trị quốc, về bình thiên hạ, thì bây giờ không còn ai cần học nữa. Kho kiến thức của loài người đã đầy các điều mới mẻ, tiến bộ, đáng học là làm theo hơn hai ông thầy cũ này.
Biết như vậy, cho nên cũng không nên mang mối lo sợ thứ hai: Sợ Trung Cộng sử dụng các Viện Khổng Tử để thi thố cái gọi là “quyền lực mềm” của họ. Quyền lực mềm có thể gia tăng ảnh hưởng của các quốc gia trên các nước khác, không khác gì các quyền lực “cứng” như súng đạn, và tiền bạc. Vậy quyền lực mềm là những thứ gì mà gây được ảnh hưởng trên các nước khác? Ðó là những định chế xã hội, các sản phẩm văn hóa, các trường đại học, các viện nghiên cứu khoa học, cho tới hệ thống pháp luật, thủ tục hành chánh, nghệ thuật quản lý, vân vân. Hiện nay thế giới đang “chạy” bằng các sản phẩm tri thức như vậy, tiến nhanh hay chậm, thấy liền.
Những nước tiến bộ đều nhờ có những định chế hay; đời sống tươi đẹp vì các sản phẩm văn hóa phong phú; xã hội bình anh vì cách tổ chức và luật pháp về chính trị, kinh tế có hiệu quả, vân vân. Những thứ đó tự nó hấp dẫn mọi người, không cần ai mua chuộc hay ép buộc phải theo cả. Những nước tiến bộ có “sức mạnh mềm,” vì các nước khác nhìn cảnh tiến bộ của họ mà thèm! Và muốn bắt chước. Do đó, họ có thể gây ảnh hưởng trên các nước khác.
Khi xét như vậy thì các Viện Khổng Tử có giúp chính quyền Trung Cộng sử dụng một thứ sức mạnh mềm nào hay chăng? Có thể nói ngay là không có gì hết! Những nước Á Ðông khác còn biết sử dụng Khổng Giáo để bảo về đạo đức cá nhân trong cuộc sống; còn ngay trong Trung Quốc thì không! Có dân tộc nào muốn thiết lập một xã hội bất công và tham nhũng như ở nước Trung Hoa bây giờ hay không? Có trường đại học hay viện nghiên cứu nào của Trung Quốc đáng để sinh viên các nước khác tranh đua vào học hay không? Có thể nói, Sức mạnh mềm của Trung Quốc bây giờ gần như là số không!
Vậy tại sao họ vẫn chi tiền ra để thành lập các Viện Khổng Tử?
Họ muốn dùng đó làm cơ sở tuyên truyền, một sở trường của các chế độ cộng sản. Ðiều đầu tiên họ muốn tuyên truyền là chứng tỏ chính quyền Trung Cộng có một bộ mặt hiền từ, mô phạm, dưới hình ảnh Khổng Tử. Ai tin thì cứ việc tin, nhất là ở những nước ở xa. Nhưng còn những nước ở gần thì sao? Nếu có ai biết sự thật đầy đủ, thấy cả những bộ mặt hung hãn, gian xảo của họ và dám nói lên, thì họ sẽ tìm cách bịt miệng người ta lại.
Chuyện thứ hai họ sẽ nhắm là đào tạo những người hoàn toàn có thiện cảm với họ, qua các cuộc trao đổi, mua chuộc, rồi tìm cách gài những người này vào guồng máy chính quyền bản xứ để lúc nào cũng đồng ý, nhất trí với chính quyền Trung Cộng. Nếu guồng máy cai trị bản xứ mà đã có sẵn những tay sai như vậy rồi thì càng tốt. Vì chính bọn tay sai này sẽ làm công việc bịt miệng dân, không cho ai nói ngược lại những lời tuyên truyền của Trung Cộng!
Viện Khổng Tử chính nó không nguy hiểm; nhưng sẽ tác hại cho nước Việt Nam nếu chúng được sử dụng cho mục đích tuyên truyền cho chế độ cộng sản Trung Quốc.
Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện biểu lộ nỗi quan ngại của ông: “Phải thừa nhận rằng giới lãnh đạo của Việt Nam có một sự hiểu biết rất hạn chế về văn hóa của Trung Quốc. Mà việc tuyên truyền, gây sức ép cũng như ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc lên Việt Nam là quá mạnh. Ðiển hình là vừa rồi có những công trình tu bổ hoặc xây mới mang đậm dấu ấn Trung Quốc. Thêm vào đó, có hàng loạt các ngôi chùa từ Nam chí Bắc trùng tu, trang trí theo kiểu Trung Quốc.” Ðó là trước khi có chuyện lập Viện Khổng Tử! Chính quý vị tăng, ni trong nước đã bày tỏ mối lo ngại là Trung Cộng đang đưa tiên giúp trùng tu các chùa chiền, để gây ảnh hưởng trên cả cách bài trí cho tới các nghi lễ trong các chùa. Nhạc sĩ Trần Văn Khê từng nghiên cứu các cách tụng kinh của người Việt, mỗi miền (Nam, Trung, Bắc) có giai điệu tụng, xướng, niệm, tán, vân vân, khác nhau. Vì nghe thì thấy ngay âm điệu tụng kinh chịu ảnh hưởng của dân ca mỗi miền. Bây giờ Trung Quốc đang xâm nhập vào các chùa Việt Nam. Bao giờ mà Phật tử Việt cũng tụng kinh theo âm điệu Quảng Ðông, Phúc Kiến, thì chắc lúc đó Bắc Kinh cũng không cần lập nhiều Viện Khổng Tử nữa!
Trong khi đó, nhà ngoại giao hồi hưu Dương Danh Dy, với kinh nghiệm ở Trung Quốc nhiều năm, còn nhắc nhở thêm: “Người Trung Quốc thì ý đồ bành trướng xâm chiếm lãnh thổ của họ rất dài. Họ sẵn sàng chờ đợi 10 năm, 20 năm, 30 năm thậm chí là hàng trăm năm. Chưa lấy được biển Ðông thì họ chưa thôi trừ phi đất nước Trung Quốc suy yếu đi.”
Với những điều đáng lo như thế, chúng ta có thể hiểu được tại sao giới trí thức Việt Nam lại phản ứng mạnh mẽ, chống lại thỏa hiệp giữa Lý Khắc Cường và Nguyễn Tấn Dũng về việc thành lập học viện Khổng Tử.
Chứng bệnh kinh niên của Hoa Kỳ
Nguyễn Xuân Nghĩa
Lâu lâu người Mỹ lại mắc cơn hoài nghi về nước Mỹ
Có những ngày mà người lãnh đạo Hoa Kỳ thấy rằng mọi việc đều nát như tương!
Ðứa con thai nghén từ bốn năm nay - kế hoạch mang tên mình, là ObamaCare - chưa kịp thôi nôi thì đã quặt quẹo. Bà mụ Kathleen Sebelius phải tả xung hữu đột chống đỡ mà không xong vì các dân biểu nghị sĩ Dân Chủ tranh cử năm tới trong vùng xôi đậu đều bắt được ý dân, là sự thất vọng. Họ đề nghị đưa cháu... vào nhà thương khám lại. Vì coi vậy mà chẳng phải vậy.
Phe Cộng Hòa thất thế từ tháng trước bèn thừa dịp phản công! Họ mở bát quái trận đồ và chấm vào thất khiếu, mỗi giờ lại điểm một huyệt làm báo chí phe ta chẳng ngăn nổi:
1) Vì sao siêu cường số một về khoa học kỹ thuật lại không lập nổi hệ điện tử phục vụ người dân khi thực hiện kế hoạch ObamaCare được trù tính từ nhiều năm trước? 2) Trách nhiệm thuộc về Bộ Gia Cư và Công Dân Vụ của bà Sebelius hay về các doanh nghiệp thi hành? 3) Ai chọn các doanh nghiệp đó, theo tiêu chuẩn và thủ tục nào, để gây tốn kém hàng tỷ cho công quỹ mà chẳng xong? 4) Những hứa hẹn tốt đẹp ban đầu của kế hoạch này chỉ là chuyện hão huyền vì chính quyền không biết hay có gian ý?
Từ đó, họ hâm nóng nhiều điều bị lãng quên: 5) Vì sao giấu diếm sự thật nhiệm về vụ Benghazi xảy ra ngày 9-11 năm kia khiến bốn người Mỹ bị hạ sát, kể cả Ðại sứ Hoa Kỳ tại Libya? 6) Ai là người có tách nhiệm? 7) Vì sao cơ quan thuế vụ liên bang IRS lại điều tra, hạch sách và còn tiết lộ chi tiết riêng tư của những người thuộc phe bảo thủ?
Duy nhất có một điều mà phe Cộng Hòa bỏ qua, thì lại bị phe Dân Chủ nêu thành chuyện là việc cơ quan tình báo điện tử NSA nghe lén các nước đồng minh của Mỹ! Chuyện ấy khiến lãnh đạo Hoa Kỳ phải nhìn ra ngoài.
Cũng lại nát như tương!
Lãnh đạo các nước đồng minh như Ðức, Pháp, Tây Ban Nha, hay đối tác Nam Mỹ như Brazil, đều gọi Ðại sứ Mỹ lên để phàn nàn về chuyện họ bị nghe lén. Việc các nước đều kín đáo theo dõi lẫn nhau là chuyện xưa như nghề nọ, nhưng vì sao một nhân viên ngoại ngạch là Edward Snowden lại ngồi yên lành bên Nga để mỗi tuần nhả thêm một chuyện làm nước Mỹ mang tiếng thất thố với các đồng minh?
Mà nào chỉ có chuyện vểnh tai nghe lén trên trời?
Hoa Kỳ đang lúng túng vì hai hồ sơ Syria và Iran, gây bất mãn cho các đồng minh chiến lược là Israel, Egypt, Saudi Arabia và Turkey khiến họ tính riêng việc khác mà khỏi tham khảo ý kiến.
Lãnh đạo Mỹ nhất quyết triệt thoái khỏi Iraq từ năm kia và Afghanistan vào năm tới. Bây giờ, tình hình Iraq bỗng dưng suy đồi với ảnh hưởng quá mạnh của Iran và sự tái xuất hiện của khủng bố Al-Qaeda. Sau câu hỏi năm xưa “vì sao vào Iraq”, một câu hỏi mới đang được đặt ra: “ai làm mất Iraq”? Hậu quả sẽ ra sao nếu bệnh ung thư của khủng bố sẽ phát tác từ một xứ láng giềng của Iraq là Syria....
Ðã vậy, và đây là một trào lưu lâu đời mà sẽ bị đánh giá là “di sản Obama”: nước Mỹ đang tiết giảm đầu tư quốc phòng.
Sau nữa thế kỷ tăng cường sức mạnh quân sự kể từ khi bị đánh tại Trân Châu Cảng vào cuối năm 1941, rồi trải qua Thế chiến II cùng Chiến tranh lạnh, thì từ năm 1991, Hoa Kỳ hưởng “cổ tức hòa bình” và thu hẹp khả năng quốc phòng. Chỉ được 10 năm thì vụ khủng bố 9-11 khiến nước Mỹ mở ra cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu. Và đi vay để bước vào chiến tranh.
Mười năm sau thì cả nước đều mệt mỏi và chính người dân, chứ chẳng phải là ai khác, mới tự hỏi là vì sao cần một quân lực vĩ đại có khả năng tham chiến toàn cầu để cứu người khác? Câu hỏi đó góp phần cho Barack Obama thắng cử.
Quả nhiên là ông thu dọn chiến trường, triệt thoái và giải kết - với hậu thuẫn của cánh tả phản chiến lẫn cánh hữu tự cô lập. Ông thành “người vái tứ phương” để ưu tiên tập trung vào chuyện cải tạo nước Mỹ. Và trận chiến về ngân sách kéo dài từ năm 2011 dẫn đến một kết quả cụ thể là ngân sách quốc phòng sẽ giảm một ngàn ba trăm tỷ trong 10 năm tới.
Nhưng cũng quần chúng biết điều ấy lại nêu vấn đề là vì sao không can thiệp vào Syria để cứu lấy thường dân vô tội, theo lập luận của cánh tả lý tưởng lẫn phe tân bảo thủ bên cánh hữu....? Thề còn Iran, Liên bang Nga và Trung Quốc, những mối nguy tiềm thế khác.
Nhìn từ bên ngoài, người ta thấy có gì đó không ổn.
Quả nhiên, tờ Forbes đánh giá Tổng thống Vladimir Putin là kẻ quyền thế nhất địa cầu năm nay, chứ không còn là Tổng thống Mỹ như mọi năm. Còn viện Gallup vừa cho biết mức tin tưởng vào Obama đã sụt tới 40%, vô tiền khoáng hậu! Cùng ngày mùng bốn, tờ Wall Street Journal cho biết kết quả khảo sát mới nhất: “Trong năm bảy năm tới, nước nào sẽ là cường quốc kinh tế số một?”
Hiện nay, chỉ có 28% dân Mỹ cho rằng Trung Quốc là đệ nhất cường quốc kinh tế thế giới. Nhưng nói về viễn ảnh 2018 đến 2020, tỷ lệ nghiêng về Trung Quốc lại là 36%. Và trong các thành phần, dân càng giàu hay càng trẻ lại càng lạc quan về Trung Quốc và bi quan về nước Mỹ!
Thật ra, nhìn từ bên ngoài và trong trường kỳ thì đây là chuyện nhàm!
Từ thời lập quốc rồi, cứ mươi năm lại có người thở dài về sự suy bại của nước Mỹ.... Trước hết là bậc thức giả Âu Châu. Khi nước Mỹ chưa thành hình thì nhiều người đã nói đến tình trạng còm cõi của các sinh vật sống trên đất Mỹ! Trong các con vật có cả con người, vì địa dư hình thể, thổ ngơi hay thổ nhưỡng gì đó...
Chuyện ấy quá xưa, xin vèo đến thế kỷ 20 và các bậc thức giả Hoa Kỳ. Ít ai trong chúng ta lại biết hay nhớ đến vụ khủng hoảng tâm thần của dân Mỹ khi Liên Xô bắn vệ tinh Sputnik lên trời vào năm 1957. Một chấn động gây bàng hoàng như vụ Trân Châu Cảng năm 1941.
Ba tuần sau thì Sputnik bặt tin nhưng dân Mỹ đã nói đến nguy cơ bị Liên Xô qua mặt! Tờ Life cảnh báo về khủng hoảng giáo dục khiến dân Mỹ sẽ thua dân Nga về khoa học kỹ thuật. Lời hăm của Nikita Krushev là “sẽ chôn nước Mỹ” càng gây hốt hoảng, được John Kennedy khai thác với số liệu đáng ngờ về khả năng nguyên tử của Nga. Khi ấy một bậc thức giả trẻ tuổi là Henry Kissinger xác nhận rằng Hoa Kỳ đang lụn bại!
Phản ứng quật khởi đầy dại dột thời đó có góp phần dẫn đến... chiến tranh Việt Nam. Mà dân ta không biết!
Ðến thời Lyndon Johnson thì quả tình là nước Mỹ lụn bại khi vừa muốn cải tạo xã hội vừa bảo vệ tiền đồn của thế giới tự do. Trong khi các lãnh tụ bị ám sát. Qua thời Richard Nixon thì nước Mỹ tin chắc là sẽ bị Âu Châu qua mặt và trôi vào trạng thái bất an - malaise - của thời Jimmy Carter. Qua thời Ronald Reagan thì Hoa Kỳ lụn bại trước sự lớn mạnh của Nhật. Ngày nay thì có con ngáo ộp Trung Quốc và sự tàn tạ của “Giấc mơ Hoa Kỳ”....
Có mỗi chuyện y tế toàn dân như Âu Châu đã có từ thế kỷ trước mà còn làm không xong!
Nhưng mà nhìn từ bên ngoài, chúng ta đừng tưởng thật! Sau Obama, nước Mỹ sẽ lại nổi điên bày ra chuyện khác. Rồi bị các đại cường thất thế đả kích là bày gian kế mắc bệnh để lừa thiên hạ!
___________________________________
Chỉ có tại nước Mỹ
Một Câu lạc bộ Săn bắn Texas có sáng kiến gây quỹ để cứu loài tê giác đen đang bị tuyệt chủng tại Châu Phi. Hội này muốn thu được nửa triệu đô bằng cách bán đấu giá giấy phép cho đi bắn tê giác đen ở Namibia. Theo Giám đốc Ben Carter của hội Dallas Safari Club, đấy là cách người ta chứng minh sự thiết tha quan tâm đến việc bảo tồn súc vật. Ông ta nói mà không cười.
Nguyễn Xuân Nghĩa
Lâu lâu người Mỹ lại mắc cơn hoài nghi về nước Mỹ
Có những ngày mà người lãnh đạo Hoa Kỳ thấy rằng mọi việc đều nát như tương!
Ðứa con thai nghén từ bốn năm nay - kế hoạch mang tên mình, là ObamaCare - chưa kịp thôi nôi thì đã quặt quẹo. Bà mụ Kathleen Sebelius phải tả xung hữu đột chống đỡ mà không xong vì các dân biểu nghị sĩ Dân Chủ tranh cử năm tới trong vùng xôi đậu đều bắt được ý dân, là sự thất vọng. Họ đề nghị đưa cháu... vào nhà thương khám lại. Vì coi vậy mà chẳng phải vậy.
Phe Cộng Hòa thất thế từ tháng trước bèn thừa dịp phản công! Họ mở bát quái trận đồ và chấm vào thất khiếu, mỗi giờ lại điểm một huyệt làm báo chí phe ta chẳng ngăn nổi:
1) Vì sao siêu cường số một về khoa học kỹ thuật lại không lập nổi hệ điện tử phục vụ người dân khi thực hiện kế hoạch ObamaCare được trù tính từ nhiều năm trước? 2) Trách nhiệm thuộc về Bộ Gia Cư và Công Dân Vụ của bà Sebelius hay về các doanh nghiệp thi hành? 3) Ai chọn các doanh nghiệp đó, theo tiêu chuẩn và thủ tục nào, để gây tốn kém hàng tỷ cho công quỹ mà chẳng xong? 4) Những hứa hẹn tốt đẹp ban đầu của kế hoạch này chỉ là chuyện hão huyền vì chính quyền không biết hay có gian ý?
Từ đó, họ hâm nóng nhiều điều bị lãng quên: 5) Vì sao giấu diếm sự thật nhiệm về vụ Benghazi xảy ra ngày 9-11 năm kia khiến bốn người Mỹ bị hạ sát, kể cả Ðại sứ Hoa Kỳ tại Libya? 6) Ai là người có tách nhiệm? 7) Vì sao cơ quan thuế vụ liên bang IRS lại điều tra, hạch sách và còn tiết lộ chi tiết riêng tư của những người thuộc phe bảo thủ?
Duy nhất có một điều mà phe Cộng Hòa bỏ qua, thì lại bị phe Dân Chủ nêu thành chuyện là việc cơ quan tình báo điện tử NSA nghe lén các nước đồng minh của Mỹ! Chuyện ấy khiến lãnh đạo Hoa Kỳ phải nhìn ra ngoài.
Cũng lại nát như tương!
Lãnh đạo các nước đồng minh như Ðức, Pháp, Tây Ban Nha, hay đối tác Nam Mỹ như Brazil, đều gọi Ðại sứ Mỹ lên để phàn nàn về chuyện họ bị nghe lén. Việc các nước đều kín đáo theo dõi lẫn nhau là chuyện xưa như nghề nọ, nhưng vì sao một nhân viên ngoại ngạch là Edward Snowden lại ngồi yên lành bên Nga để mỗi tuần nhả thêm một chuyện làm nước Mỹ mang tiếng thất thố với các đồng minh?
Mà nào chỉ có chuyện vểnh tai nghe lén trên trời?
Hoa Kỳ đang lúng túng vì hai hồ sơ Syria và Iran, gây bất mãn cho các đồng minh chiến lược là Israel, Egypt, Saudi Arabia và Turkey khiến họ tính riêng việc khác mà khỏi tham khảo ý kiến.
Lãnh đạo Mỹ nhất quyết triệt thoái khỏi Iraq từ năm kia và Afghanistan vào năm tới. Bây giờ, tình hình Iraq bỗng dưng suy đồi với ảnh hưởng quá mạnh của Iran và sự tái xuất hiện của khủng bố Al-Qaeda. Sau câu hỏi năm xưa “vì sao vào Iraq”, một câu hỏi mới đang được đặt ra: “ai làm mất Iraq”? Hậu quả sẽ ra sao nếu bệnh ung thư của khủng bố sẽ phát tác từ một xứ láng giềng của Iraq là Syria....
Ðã vậy, và đây là một trào lưu lâu đời mà sẽ bị đánh giá là “di sản Obama”: nước Mỹ đang tiết giảm đầu tư quốc phòng.
Sau nữa thế kỷ tăng cường sức mạnh quân sự kể từ khi bị đánh tại Trân Châu Cảng vào cuối năm 1941, rồi trải qua Thế chiến II cùng Chiến tranh lạnh, thì từ năm 1991, Hoa Kỳ hưởng “cổ tức hòa bình” và thu hẹp khả năng quốc phòng. Chỉ được 10 năm thì vụ khủng bố 9-11 khiến nước Mỹ mở ra cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu. Và đi vay để bước vào chiến tranh.
Mười năm sau thì cả nước đều mệt mỏi và chính người dân, chứ chẳng phải là ai khác, mới tự hỏi là vì sao cần một quân lực vĩ đại có khả năng tham chiến toàn cầu để cứu người khác? Câu hỏi đó góp phần cho Barack Obama thắng cử.
Quả nhiên là ông thu dọn chiến trường, triệt thoái và giải kết - với hậu thuẫn của cánh tả phản chiến lẫn cánh hữu tự cô lập. Ông thành “người vái tứ phương” để ưu tiên tập trung vào chuyện cải tạo nước Mỹ. Và trận chiến về ngân sách kéo dài từ năm 2011 dẫn đến một kết quả cụ thể là ngân sách quốc phòng sẽ giảm một ngàn ba trăm tỷ trong 10 năm tới.
Nhưng cũng quần chúng biết điều ấy lại nêu vấn đề là vì sao không can thiệp vào Syria để cứu lấy thường dân vô tội, theo lập luận của cánh tả lý tưởng lẫn phe tân bảo thủ bên cánh hữu....? Thề còn Iran, Liên bang Nga và Trung Quốc, những mối nguy tiềm thế khác.
Nhìn từ bên ngoài, người ta thấy có gì đó không ổn.
Quả nhiên, tờ Forbes đánh giá Tổng thống Vladimir Putin là kẻ quyền thế nhất địa cầu năm nay, chứ không còn là Tổng thống Mỹ như mọi năm. Còn viện Gallup vừa cho biết mức tin tưởng vào Obama đã sụt tới 40%, vô tiền khoáng hậu! Cùng ngày mùng bốn, tờ Wall Street Journal cho biết kết quả khảo sát mới nhất: “Trong năm bảy năm tới, nước nào sẽ là cường quốc kinh tế số một?”
Hiện nay, chỉ có 28% dân Mỹ cho rằng Trung Quốc là đệ nhất cường quốc kinh tế thế giới. Nhưng nói về viễn ảnh 2018 đến 2020, tỷ lệ nghiêng về Trung Quốc lại là 36%. Và trong các thành phần, dân càng giàu hay càng trẻ lại càng lạc quan về Trung Quốc và bi quan về nước Mỹ!
Thật ra, nhìn từ bên ngoài và trong trường kỳ thì đây là chuyện nhàm!
Từ thời lập quốc rồi, cứ mươi năm lại có người thở dài về sự suy bại của nước Mỹ.... Trước hết là bậc thức giả Âu Châu. Khi nước Mỹ chưa thành hình thì nhiều người đã nói đến tình trạng còm cõi của các sinh vật sống trên đất Mỹ! Trong các con vật có cả con người, vì địa dư hình thể, thổ ngơi hay thổ nhưỡng gì đó...
Chuyện ấy quá xưa, xin vèo đến thế kỷ 20 và các bậc thức giả Hoa Kỳ. Ít ai trong chúng ta lại biết hay nhớ đến vụ khủng hoảng tâm thần của dân Mỹ khi Liên Xô bắn vệ tinh Sputnik lên trời vào năm 1957. Một chấn động gây bàng hoàng như vụ Trân Châu Cảng năm 1941.
Ba tuần sau thì Sputnik bặt tin nhưng dân Mỹ đã nói đến nguy cơ bị Liên Xô qua mặt! Tờ Life cảnh báo về khủng hoảng giáo dục khiến dân Mỹ sẽ thua dân Nga về khoa học kỹ thuật. Lời hăm của Nikita Krushev là “sẽ chôn nước Mỹ” càng gây hốt hoảng, được John Kennedy khai thác với số liệu đáng ngờ về khả năng nguyên tử của Nga. Khi ấy một bậc thức giả trẻ tuổi là Henry Kissinger xác nhận rằng Hoa Kỳ đang lụn bại!
Phản ứng quật khởi đầy dại dột thời đó có góp phần dẫn đến... chiến tranh Việt Nam. Mà dân ta không biết!
Ðến thời Lyndon Johnson thì quả tình là nước Mỹ lụn bại khi vừa muốn cải tạo xã hội vừa bảo vệ tiền đồn của thế giới tự do. Trong khi các lãnh tụ bị ám sát. Qua thời Richard Nixon thì nước Mỹ tin chắc là sẽ bị Âu Châu qua mặt và trôi vào trạng thái bất an - malaise - của thời Jimmy Carter. Qua thời Ronald Reagan thì Hoa Kỳ lụn bại trước sự lớn mạnh của Nhật. Ngày nay thì có con ngáo ộp Trung Quốc và sự tàn tạ của “Giấc mơ Hoa Kỳ”....
Có mỗi chuyện y tế toàn dân như Âu Châu đã có từ thế kỷ trước mà còn làm không xong!
Nhưng mà nhìn từ bên ngoài, chúng ta đừng tưởng thật! Sau Obama, nước Mỹ sẽ lại nổi điên bày ra chuyện khác. Rồi bị các đại cường thất thế đả kích là bày gian kế mắc bệnh để lừa thiên hạ!
___________________________________
Chỉ có tại nước Mỹ
Một Câu lạc bộ Săn bắn Texas có sáng kiến gây quỹ để cứu loài tê giác đen đang bị tuyệt chủng tại Châu Phi. Hội này muốn thu được nửa triệu đô bằng cách bán đấu giá giấy phép cho đi bắn tê giác đen ở Namibia. Theo Giám đốc Ben Carter của hội Dallas Safari Club, đấy là cách người ta chứng minh sự thiết tha quan tâm đến việc bảo tồn súc vật. Ông ta nói mà không cười.
TC Không Bất Khả Xâm Phạm
Tác giả : Vi Anh
TC khai trừ khỏi Đảng và cất chức Tướng Bành Dũng (Peng Yong), tư lệnh Quân khu Tân Cương chỉ 6 ngày sau xảy ra vụ tấn công ở Thiên An Môn vào 28/10/2013, làm 5 người chết và 40 người bị thương tại nơi được xem là biểu tượng quyền lực của Đảng Nhà Nước TC.
Thế là người dân Duy ngô nhĩ của nước Cộng Hoà Turkestan, theo đạo Hồi, nói tiếng Thổ nhĩ kỳ bị TC thôn tính, sáp nhập và Hán hoá quốc gia dân tộc thành một tỉnh, tỉnh Tân Cương của Trung Quốc, đã đánh đổ huyền thoại TC là bất khả xâm phạm. Người dân Duy ngô nhĩ đã tấn công cảm tử trực tiếp vào công trường Thiên An Môn. Hy sinh cả nhà, người lái chiếc xe sử dụng như bom xăng là Ousmane Hassan cùng với mẹ và vợ đều hy sinh. Tấn công làm sập lan can, ngay cây cầu Kim Thuỷ bắt qua cửa Tử Cấm Thành. Ngay dưới tấm hình rất lớn của người khai nguyên ra TC là Mao Trạch Đông.
Thiên An Môn là một ‘quảng trường’ theo từ CS, tức công trường lớn theo chữ Quốc Ngữ VN, là một yếu khu vô cùng nhậy cảm về nội chính. Đảng Nhà Nước TC liên tục tăng cường công an, mật vụ canh gác, theo dõi kiểm soát vô cùng chặt chẽ, nghiêm nhặt vì đây là nơi diễn ra vụ đàn áp đẫm máu do Quân đội CS dùng xe tăng, súng máy tàn sát phong trào sinh viên đòi dân chủ năm 1989. Đó là một công trường nhiều khách du lịch nhưng TC không đặt một ghế đá nào cho du khách ngồi, tránh tụ tập khó kiềm soát. Ngay trên không gian ão, trên Internet, TC cũng khoá chặc chữ Thiên An Môn, người TQ không thể tìm tài liệu gi về địa danh lịch sử nơi sinh viên TQ lần đầu tiên đứng lên đòi dân chủ bị thảm sát này.
Thế nhưng TC cũng không làm Thiên An Môn trở thành bất khả xâm phạm đối với sắc tộc thiểu số bị TC cướp mất quê hương xứ sở và sáp nhập vào TC, biến người dân Duy ngô nhỉ mất quê hương ngay trên quê cha đất tổ của mình. Người dân Duy ngô nhỉ đấu tranh, chiến đấu “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh’, cảm tử hy sinh lấy cái chết của mình để đánh động lương tâm đồng bào Duy ngô nhĩ đang bi mất nước, bị Hán hoá và đánh động lương tâm nhân dân và chánh quyền trên thế giới tội ác diệt chủng, diệt văn hoá Duy ngô nhĩ, một cách có hệ thống và có tính toán của TC.
Như đã biết trong cuộc chiến cho sự tồn vong, sự độc của một quốc gia dân tộc, mỗi dân tộc có chiến lược, chiến thuật của mình. Nhưng phương tiện đấu tranh, vũ khí chiến đấu căn bản là phải vì nước hy sinh, vì dân chiến đấu.
Nước này không thể chê chiến thuật, chiến lược nước kia được. Giai đoạn này không chê giai đoạn kia được vì tình hình mới thì chiến thuật mới, nhiệm vụ mới. Cây dao ăn trầu của bà giá trầu VN, cây phảng phác cỏ của người nông dân, biểu tình, lãng công của công nhân, blog chánh trị, -- tất cả là phương tiện chiến đấu tranh đấu của người dân yếu chống nhà cầm quyền mạnh.
Người Phật Giáo ở Tây Tạng cũng dùng vũ khí tự thiêu để chiến đấu cho nền độc lập của đất nước và tự do tôn giáo, chống lại TC thôn tính, sáp nhập, cào bằng văn hoá, ngôn ngữ của người thiểu số.
Nếu người Mỹ, người Trung Quốc rơi vào trường hợp quốc gia bị ngoại bang thôn tính, sáp nhập, cào bằng văn hoá, áp bức bóc lột, không một tấc sắt trong tay, thì người Mỹ, người Trung Hoa cũng không còn sự chọn lựa nào khác, cũng sẽ phải chống quân xâm lược. Phải chiến đấu cảm tử, bằng mọi cách với bất cứ giá nào, quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh.
Còn nhớ những nông dân của quân đội đầu tiên của Mỹ trong chiến tranh Độc Lập chống lại chế độ thuộc địa của Anh, dắt con ngựa cày ruộng rẫy theo, mùa đông thiếu vớ, thiếu giày, máu chân chảy thấm đỏ tuyết trắng trên đường hành quân. Thế mà những người yêu nước này đã chiến thắng đội quân tinh nhuệ của Đế Quốc Anh, biến xứ sở này thành một quốc gia hùng mạnh.
Lúc đó người Mỹ đâu có giả đạo đức như một số chánh tri gia bây giờ, sống trong phòng lạnh, ăn cao lương mỹ vị, là những người ngoài cuộc lại lên tiếng “đề nghị, giáo dục” thiên hạ phải đấu tranh ôn hoà, không nên bạo dộng, bạo lực.
Chắc chắn nếu người Trung Quốc và người Mỹ cũng sẽ tấn công cảm tử, chiến đấu sanh tử, mạng đổi mạng với nhà cầm quyền ngoại bang thống trị đang chiếm đóng thủ đô Washington DC, Bắc Kinh. Để đánh động lương tâm công chính của Loài Người, để đánh động lương tâm đồng bào trước cảnh nước mất nhà tan. Để chứng tỏ cho đồng bào biết phong trào kháng chiến, lực lượng kháng chiến hãy còn. hiện hữu. Để báo cho kẻ thù biết họ không bất khả xâm phạm, yếu khu, yếu điểm nào của họ cũng có thể bị tấn công, ngày đêm phải lo sợ.
Như trước cuộc tự thiêu của cả trăm tăng ni Phật tử Tây Tạng. Như vụ người dân Duy ngô nhĩ đã dùng xe mô tô tấn công công an TC gần đây ở Tân Cương. Báo chí Pháp có người tìm cách làm phóng sự tìm hiểu sự tình ở Tân Cương, ở Thanh Hải được cho biết cán bộ, đảng viên, công an mật vụ TC nào bị ‘điều’ về những vùng có những cuộc chiến đấu cảm tử đó của người Tây Tạng, Duy ngô nhĩ là họ sợ, họ chạy chọt để khỏi vào cõi chết.
Ngay trong vụ Thiên an môn mới đây, nhà cầm quyền trung ương cũng vậy, họ rất lo sợ. Họ cố gắng dấu diếm, bao che vụ xe thực dụng SUV tấn công vào Thiên An Môn. Họ nhanh chóng phong tỏa khu vực và dựng một vách rào bao quanh chiếc xe hơi. Bắt, buộc nhà báo xoá bỏ những hình ảnh đó.
Chính người đứng đầu ngành an ninh nội chính của TC, Bộ trưởng Công an, Uỷ viên Bộ Chánh trị Đảng CS/TQ Mạnh Kiến Trụ (Meng Jianzhu), ngày 01/11/2013 lên tiếng chụp mũ phong trào ly khai Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương đứng sau vụ tấn công.
Tờ Thời báo Hoàn Cầu của TC báo động và hăm doạ bình luận: «Những kẻ khủng bố Tân Cương mở rộng phạm vi hoạt động của chúng. Chúng ta phải quyết tâm mạnh hơn chúng» hay «Những kẻ khủng bố bạo lực là kẻ thù chung của toàn Trung Quốc. Người dân vùng Tân Cương, đặc biệt là người Duy Ngô Nhĩ sẽ là những nạn nhân đầu tiên».
Hình ảnh trên các trang web xã hội của Trung Quốc bị nhanh chóng tháo gỡ. Chỉ còn những trang web của làng dân báo nằm ngoài sự khống chế của giới hữu trách Trung Quốc vẫn tiếp tục được đăng.
Và mấy ngày sau cất chức Tư Lịnh Quân Khu Tân Cương, là giang sơn gấm vóc của người Duy ngô nhĩ bị TC cưỡng chiếm, sáp nhập thành tỉnh Tân Cương. Và TC cấp tốc cử Chính ủy Lưu Lôi, một sĩ quan quân đội kỳ cựu ở quân khu Tân Cương thay thế./. (Vi Anh)
Tác giả : Vi Anh
TC khai trừ khỏi Đảng và cất chức Tướng Bành Dũng (Peng Yong), tư lệnh Quân khu Tân Cương chỉ 6 ngày sau xảy ra vụ tấn công ở Thiên An Môn vào 28/10/2013, làm 5 người chết và 40 người bị thương tại nơi được xem là biểu tượng quyền lực của Đảng Nhà Nước TC.
Thế là người dân Duy ngô nhĩ của nước Cộng Hoà Turkestan, theo đạo Hồi, nói tiếng Thổ nhĩ kỳ bị TC thôn tính, sáp nhập và Hán hoá quốc gia dân tộc thành một tỉnh, tỉnh Tân Cương của Trung Quốc, đã đánh đổ huyền thoại TC là bất khả xâm phạm. Người dân Duy ngô nhĩ đã tấn công cảm tử trực tiếp vào công trường Thiên An Môn. Hy sinh cả nhà, người lái chiếc xe sử dụng như bom xăng là Ousmane Hassan cùng với mẹ và vợ đều hy sinh. Tấn công làm sập lan can, ngay cây cầu Kim Thuỷ bắt qua cửa Tử Cấm Thành. Ngay dưới tấm hình rất lớn của người khai nguyên ra TC là Mao Trạch Đông.
Thiên An Môn là một ‘quảng trường’ theo từ CS, tức công trường lớn theo chữ Quốc Ngữ VN, là một yếu khu vô cùng nhậy cảm về nội chính. Đảng Nhà Nước TC liên tục tăng cường công an, mật vụ canh gác, theo dõi kiểm soát vô cùng chặt chẽ, nghiêm nhặt vì đây là nơi diễn ra vụ đàn áp đẫm máu do Quân đội CS dùng xe tăng, súng máy tàn sát phong trào sinh viên đòi dân chủ năm 1989. Đó là một công trường nhiều khách du lịch nhưng TC không đặt một ghế đá nào cho du khách ngồi, tránh tụ tập khó kiềm soát. Ngay trên không gian ão, trên Internet, TC cũng khoá chặc chữ Thiên An Môn, người TQ không thể tìm tài liệu gi về địa danh lịch sử nơi sinh viên TQ lần đầu tiên đứng lên đòi dân chủ bị thảm sát này.
Thế nhưng TC cũng không làm Thiên An Môn trở thành bất khả xâm phạm đối với sắc tộc thiểu số bị TC cướp mất quê hương xứ sở và sáp nhập vào TC, biến người dân Duy ngô nhỉ mất quê hương ngay trên quê cha đất tổ của mình. Người dân Duy ngô nhỉ đấu tranh, chiến đấu “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh’, cảm tử hy sinh lấy cái chết của mình để đánh động lương tâm đồng bào Duy ngô nhĩ đang bi mất nước, bị Hán hoá và đánh động lương tâm nhân dân và chánh quyền trên thế giới tội ác diệt chủng, diệt văn hoá Duy ngô nhĩ, một cách có hệ thống và có tính toán của TC.
Như đã biết trong cuộc chiến cho sự tồn vong, sự độc của một quốc gia dân tộc, mỗi dân tộc có chiến lược, chiến thuật của mình. Nhưng phương tiện đấu tranh, vũ khí chiến đấu căn bản là phải vì nước hy sinh, vì dân chiến đấu.
Nước này không thể chê chiến thuật, chiến lược nước kia được. Giai đoạn này không chê giai đoạn kia được vì tình hình mới thì chiến thuật mới, nhiệm vụ mới. Cây dao ăn trầu của bà giá trầu VN, cây phảng phác cỏ của người nông dân, biểu tình, lãng công của công nhân, blog chánh trị, -- tất cả là phương tiện chiến đấu tranh đấu của người dân yếu chống nhà cầm quyền mạnh.
Người Phật Giáo ở Tây Tạng cũng dùng vũ khí tự thiêu để chiến đấu cho nền độc lập của đất nước và tự do tôn giáo, chống lại TC thôn tính, sáp nhập, cào bằng văn hoá, ngôn ngữ của người thiểu số.
Nếu người Mỹ, người Trung Quốc rơi vào trường hợp quốc gia bị ngoại bang thôn tính, sáp nhập, cào bằng văn hoá, áp bức bóc lột, không một tấc sắt trong tay, thì người Mỹ, người Trung Hoa cũng không còn sự chọn lựa nào khác, cũng sẽ phải chống quân xâm lược. Phải chiến đấu cảm tử, bằng mọi cách với bất cứ giá nào, quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh.
Còn nhớ những nông dân của quân đội đầu tiên của Mỹ trong chiến tranh Độc Lập chống lại chế độ thuộc địa của Anh, dắt con ngựa cày ruộng rẫy theo, mùa đông thiếu vớ, thiếu giày, máu chân chảy thấm đỏ tuyết trắng trên đường hành quân. Thế mà những người yêu nước này đã chiến thắng đội quân tinh nhuệ của Đế Quốc Anh, biến xứ sở này thành một quốc gia hùng mạnh.
Lúc đó người Mỹ đâu có giả đạo đức như một số chánh tri gia bây giờ, sống trong phòng lạnh, ăn cao lương mỹ vị, là những người ngoài cuộc lại lên tiếng “đề nghị, giáo dục” thiên hạ phải đấu tranh ôn hoà, không nên bạo dộng, bạo lực.
Chắc chắn nếu người Trung Quốc và người Mỹ cũng sẽ tấn công cảm tử, chiến đấu sanh tử, mạng đổi mạng với nhà cầm quyền ngoại bang thống trị đang chiếm đóng thủ đô Washington DC, Bắc Kinh. Để đánh động lương tâm công chính của Loài Người, để đánh động lương tâm đồng bào trước cảnh nước mất nhà tan. Để chứng tỏ cho đồng bào biết phong trào kháng chiến, lực lượng kháng chiến hãy còn. hiện hữu. Để báo cho kẻ thù biết họ không bất khả xâm phạm, yếu khu, yếu điểm nào của họ cũng có thể bị tấn công, ngày đêm phải lo sợ.
Như trước cuộc tự thiêu của cả trăm tăng ni Phật tử Tây Tạng. Như vụ người dân Duy ngô nhĩ đã dùng xe mô tô tấn công công an TC gần đây ở Tân Cương. Báo chí Pháp có người tìm cách làm phóng sự tìm hiểu sự tình ở Tân Cương, ở Thanh Hải được cho biết cán bộ, đảng viên, công an mật vụ TC nào bị ‘điều’ về những vùng có những cuộc chiến đấu cảm tử đó của người Tây Tạng, Duy ngô nhĩ là họ sợ, họ chạy chọt để khỏi vào cõi chết.
Ngay trong vụ Thiên an môn mới đây, nhà cầm quyền trung ương cũng vậy, họ rất lo sợ. Họ cố gắng dấu diếm, bao che vụ xe thực dụng SUV tấn công vào Thiên An Môn. Họ nhanh chóng phong tỏa khu vực và dựng một vách rào bao quanh chiếc xe hơi. Bắt, buộc nhà báo xoá bỏ những hình ảnh đó.
Chính người đứng đầu ngành an ninh nội chính của TC, Bộ trưởng Công an, Uỷ viên Bộ Chánh trị Đảng CS/TQ Mạnh Kiến Trụ (Meng Jianzhu), ngày 01/11/2013 lên tiếng chụp mũ phong trào ly khai Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương đứng sau vụ tấn công.
Tờ Thời báo Hoàn Cầu của TC báo động và hăm doạ bình luận: «Những kẻ khủng bố Tân Cương mở rộng phạm vi hoạt động của chúng. Chúng ta phải quyết tâm mạnh hơn chúng» hay «Những kẻ khủng bố bạo lực là kẻ thù chung của toàn Trung Quốc. Người dân vùng Tân Cương, đặc biệt là người Duy Ngô Nhĩ sẽ là những nạn nhân đầu tiên».
Hình ảnh trên các trang web xã hội của Trung Quốc bị nhanh chóng tháo gỡ. Chỉ còn những trang web của làng dân báo nằm ngoài sự khống chế của giới hữu trách Trung Quốc vẫn tiếp tục được đăng.
Và mấy ngày sau cất chức Tư Lịnh Quân Khu Tân Cương, là giang sơn gấm vóc của người Duy ngô nhĩ bị TC cưỡng chiếm, sáp nhập thành tỉnh Tân Cương. Và TC cấp tốc cử Chính ủy Lưu Lôi, một sĩ quan quân đội kỳ cựu ở quân khu Tân Cương thay thế./. (Vi Anh)
người việt nam hèn hạ
freedomnotforfree
LTS: Một bài viết đáng chú ý, phản ánh thực tế xã hội Việt Nam ngày hôm nay
trong đó có công "không nhỏ" của "đại bộ phận" đảng cộng sản Việt Nam
đã sản sinh và nô lệ hóa con người Việt dưới ách cai trị theo lối phong kiến Tàu như thế nào?.
Chúng tôi xin trích đăng lại và giới thiệu đến quý đọc giả VietnamExodus.

Ảnh đại diện của tác giả trên trang blog cá nhân.
(blog hanwonders) Bài viết này sẽ không có một chữ việt nam nào được viết hoa.
Bởi chúng ta có xứng đáng được trân trọng như vậy không? Không hề.
Cách đây đã lâu, tôi đọc “người trung quốc xấu xí” của ông Bá Dương (Đài Loan), chưa bàn tới hay/ dở/ đúng/ sai của nội dung cuốn sách gây tranh cãi ầm ĩ đó, tôi chỉ nhớ lại cảm giác giật mình của tôi khi đó. Khi tôi đọc lướt qua vài trang sách. Tôi như vỡ ra một niềm cảm khái mà từ lâu nó cứ âm ỉ trong lòng. Tôi biết thế giới đã từng có những cuốn “Người Mỹ xấu xí”, “Người Nhật Bản xấu xí”, rồi mới đến cuốn của ông Bá Dương. Tôi vừa đọc, vừa tự hỏi, tại sao người việt nam chúng ta không có một cuốn như thế này? Tại sao chúng ta cứ tự ru ngủ mình trong cái điệp khúc dân tộc việt nam là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” & nhìn đâu cũng thấy anh hùng, liệt sĩ… Nếu thực sự chúng ta có những tố chất đó, nếu thực sự chúng ta là những người như thế, sao kết quả chúng ta hiện nay lại là một đất nước như thế này?
Một đất nước mà hơn phân nửa các cô cậu tú tài đi thi cử nhân khoe rằng mình có quay cóp một cách hoàn toàn không có chút tự trọng (đó là được hỏi, còn báo chí không cần hỏi vẫn có những hình ảnh phao thi trắng cả trường thi! Vậy thì thi cái gì? Thi xem ai quay cóp giỏi hơn chăng?). Trong đó còn có cả những đứa trẻ bảo rằng năm nay không thi thì năm sau thi, chứ làm bài mà phỉ báng “thần tượng Su-Ju” của nó là nó không thi! Mặc cho bao nhiêu tâm sức, kỳ vọng của gia đình, nhà trường, xã hội – những nền tảng đã cho nó có được cuộc sống và kiến thức để mà tiếp cận được với Su-Ju danh giá của nó. Thế mà nó vẫn được rất nhiều đứa trẻ khác tung hô! Chính là những đứa trẻ sẵn lòng khóc lóc, quỳ gối, hôn ghế… trước thần tượng. Một dân tộc gì đã sản sinh và nuôi dạy ra một thế hệ kế thừa như thế?
Con nít nó học cha anh mà ra, chúng ta đã nuôi dạy trẻ con thành ra như thế sao? Đừng ai đổ thừa cho ai. Vì trường học đổ cho cha mẹ, cha mẹ đổ cho xã hội, xã hội đổ cho cha mẹ & nhà trường. Tóm lại, đừng đổ nữa. Hãy biết hốt về mình đi! Tất cả chúng ta là người lớn, chúng ta đều có lỗi.
Bởi người lớn có hơn gì? Một xã hội mà người ta đang sẵn lòng thuốc chết nhau đi từng ngày bởi tiền bạc bất kể lương tri. Làm quan thì chỉ lo vơ vét, tham nhũng, quỳ gối trước ngoại bang để duy trì sự thống trị trước nhân dân. Gần 40 năm thống nhất, việt nam có hơn gì thời chiến ngoài đống xe máy chạy đầy đường & trong túi ai cũng có một cái điện thoại di động? Dù nhà ở không có, đất đai không có, bảo hiểm không có, tương lai cho con cái không có,… nhưng bia rượu chảy tràn lan mỗi ngày trong quán nhậu. Người ta được ru giấc suốt 40 năm bằng niềm ước mơ cháy bỏng “cơm no, áo ấm”. Hạnh phúc chỉ thế thôi! Muốn hạnh phúc hơn thì hãy làm giàu, làm giàu, làm giàu! “Doanh nhân là chiến sĩ thời bình”. Cứt! Tôi ỉa vào cái khẩu hiệu sặc mùi con buôn, đầy phân chợ trời đó! Tiếng súng không còn nổ ngoài đường. Một cuộc chiến khác đậm chất mafia, côn đồ, đảo Sicily chắc còn phải chào thua nhà cầm quyền việt nam trước khả năng dùng “luật im lặng” của họ với dân mình. Cuộc chiến đó là rình mò, là theo dõi, là cấm cản, là kiểm duyệt, là vu cáo, là bắt bớ, là dùi cui, là tù đày, là chết không lý do, là bị bịt miệng tại tòa, là con cháu theo lời lãnh đạo cầm gậy gộc ra ngoài đồng ức hiếp ông bà cha mẹ chòm xóm của mình vì họ đang giữ đất. Trong khi họ giữ đất cho ai? Những đứa thanh niên đó nó đang nghĩ gì khi quay lưng lại với dân tộc mình? Đơn giản thôi. Nó tin rằng nếu trung thành với cái thể chế mà nó đang phục vụ, thể chế đó sẽ cho nó công việc ổn định, đặc quyền, đặc lợi hơn người. Vậy là nó nhắm mắt làm theo, coi nhân dân là cỏ rác, cũng vì lợi ích cá nhân & gia đình nó – nếu nó có nghĩ tới. Chứ ngoài ra, liệu còn cái lý tưởng cao đẹp nào có thể tin vào lúc này? Đừng nói với tôi là “lý tưởng Hồ Chí Minh” hay “lý tưởng cộng sản” nhé! Hỏi những đứa mặc áo xanh cán bộ Đoàn thử xem, nó nói có trôi chảy không? Tôi đã thử rồi, rốt cuộc là ngồi im nghe tôi nói huyên thuyên toàn những điều mà trường học gọi là “phản động”.
Cuộc chiến này được khoác lên chiếc áo bảo vệ hòa bình, tự do, hạnh phúc. Còn bên trong là để bảo vệ quyền lợi, quyền lực cho một nhóm người gắn kết với nhau bằng những chiếc răng cùng gặm vào xương máu người nghèo, người thất học, người bán buôn lương thiện hàng ngày. Những người mỗi ngày chỉ biết tạ ơn trời phật đã cho chúng con một ngày yên ổn làm ăn, không bị cán bộ thuế đến nhũng nhiễu, không bị CSGT thổi phạt kiếm ăn, không bị đội dân phòng rượt đuổi, không bị ông chủ đẩy vào toa-lét để sờ soạng, không bị cắt tiền tăng ca, không bị cho ăn cơm thiu ngộ độc, không bị bệnh đột ngột phải vào bệnh viện nằm gầm giường chờ chết,..
Thế là cái dân tộc đầy sợ sệt, bất an đó cuống cuồng kiếm tiền, cuống cuồng vơ chỗ này, cấu chỗ kia để lo cho cái thân mình. Họ còn biết làm gì nữa?
Và khi họ chăm chắm vào tiền và sự yên ổn cho mình, họ để mặc cho một bọn ác khác lên ngôi, bọn này là sản phẩm của công thức: Bên trên, chúng nhìn thấy cách hành xử của một chính quyền côn đồ, có tiền là ra luật + Bên cạnh, chúng nhìn thấy những con người thờ ơ với người khác, chỉ còn biết nghĩ tới mình + Bên dưới, chúng nhận ra một đám người khổ sở, sợ sệt, yếu ớt = Chúng chợt nhận ra chúng có khả năng luồn cúi bên trên, tránh né bên cạnh & ức hiếp bên dưới.
Sao mà tôi sợ bọn người đó như thế?!
Bọn đó tập trung vào các cơ quan công quyền, làm quản lý, làm công an, làm công chức,… làm “đầy tớ” của nhân dân!
Bọn công bộc đó đã cùng nhau đẩy những cụ già bỏ quê bỏ xứ, lên Sài gòn ngồi vạ vật dầm mưa dãi nắng suốt ngày đêm, ngày này qua tháng nọ để kêu oan.
Bọn công bộc đó đã đẩy 2 mẹ con người phụ nữ nọ phải dùng đến cách phản kháng cuối cùng mà họ có là khỏa thân ở giữa đường để đòi lại công bằng. Vì trong tay họ còn có gì để chống lại chúng ngoài phẩm cách của người đàn bà vốn được coi là thiêng liêng? Họ dùng đến cách đó, và cuối cùng bị chúng lôi kéo dọc đường và nỗi oan của họ có ai thèm đoái tới?
Bọn công bộc đó đã đẩy đến đỉnh điểm hôm nay, một người mẹ uất ức tự thiêu trước cổng 1 cơ quan công quyền vì không còn sức để chịu đựng chúng…
Tôi sợ bọn chúng vì bọn chúng đông quá, đông như kiến cỏ. Chúng nhan nhản khắp nơi, ngày ngày bóp chết mọi ước mơ, triệt tiêu mọi khao khát, thêm sự dốt nát của chúng vào nữa là hoàn hảo để tạo ra một nền kinh tế xã hội thụt lùi đến chóng mặt, quay cuồng trong dối trá và danh lợi. Đáng sợ hơn, cuộc sống ấm êm no đủ của chúng nhờ vào tính cơ hội – thu vén lại là sự thèm khát của những tầng lớp khác. Khiến cho những con thiêu thân non trẻ khác lao vào như một cơ hội ngàn vàng.
Bọn này tiếp tay cho bọn con buôn cũng lưu manh không kém. Thế là chúng ta ăn thức ăn có độc mỗi ngày, con cháu chúng ta uống sữa độc mỗi ngày, chúng ta đi trên những con đường hiểm họa mỗi ngày, chúng ta tiêu dùng những gì chúng mang tới, chúng ban phát, với giá mà chúng ấn định, với mức thuế mà chúng muốn,… không còn một lựa chọn nào khác. Không biết làm gì khác, không có phản ứng gì khác! Vì chúng ta lương thiện.
Kẻ không lương thiện có những phản ứng tàn độc hơn, hoặc biến hẳn sang một trạng thái sống khác, như một sự kết tinh cao cấp hơn của một xã hội đương nhiên sẽ sản sinh ra nó.
Tôi nghĩ đến bọn này khi tôi đọc tin về tên bác sĩ lợi dụng lúc mẹ của bệnh nhi đi lấy giấy xét nghiệm, hắn hãm hiếp đứa bé mới 3 tuổi.
Tôi đọc tin ông bà chủ đánh trẻ làm công đến thương tật.
Tôi đọc tin một gã thanh niên có học chặt chém bạn gái mình thành từng khúc chỉ vì một chiếc xe máy và chút ít tài sản.
Tôi đọc tin bọn chủ & lơ xe vứt xác hành khách bị lèn chết giữa đường mà cả xe không ai phản ứng.
Tôi đọc tin nữ sinh phải ngủ với thầy giáo để được điểm tốt.
Tôi đọc tin người đi đường bị cướp, may mắn giật lại được túi tiền, nhưng túi rách, tiền bay ra, xung quanh thiên hạ xúm lại nhặt, nhưng không phải nhặt giúp, mà nhặt hết đi không chừa lại đồng nào. Thay vì bị 1 đứa cướp, anh ta bị cả con đường đè ra mà cướp!
… còn rất nhiều tin.
Một dân tộc gì mà độc ác và hèn hạ thế?
Dĩ nhiên không chỉ có mình tôi biết đau đớn vì những điều đó.
Chúng ta có cả một thứ to tát mà tôi tạm gọi là “nền văn chương than khóc”.
Trong những tác phẩm thi ca xuất bản từ khoảng 20 năm trở lại đây, tôi không dám nói mình đọc nhiều hay nghe nhiều, nhưng tôi cố gắng đọc, nghe, cố gắng tìm tòi, cố gắng tìm kiếm một tác phẩm nó xứng đáng làm cho tôi thấy dân tộc việt nam của tôi thực sự là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” một cách đúng nghĩa. Vì hãy quên những hình tượng cách mạng cao đẹp trong văn chương hay cả âm nhạc của miền Bắc thời chiến tranh đi! Đó không phải là văn chương, nó là thuốc pháo, tìm cách dẫn dắt, thôi thúc người ta chém giết & chết. Không hơn không kém.
Các bạn có tìm kiếm giống tôi không? Và các bạn có tìm thấy không? Hay đầy rẫy xung quanh chúng ta chỉ có 3 loại:
Loại mờ nhạt, rẻ tiền, xúc cảm vu vơ, vụn vặt, vô thưởng vô phạt.
. Loại có trăn trở, có suy tư, nhưng toàn đau đáu những nồi niềm xưa cũ, tương lai chả biết phải vứt đi đâu và vứt cho ai?
. Loại mạnh mẽ hơn, trực diện hơn, nhưng tầm vóc tác phẩm chỉ ở mức gẩy lên 1 tiếng đàn, rồi thôi![/list]
Tinh thần chúng ta đang được nuôi dưỡng bằng những thứ chỉ đến mức đó thôi.
Còn những thứ hổ lốn lai căng phát trên TV, bán ngoài sạp báo mỗi ngày, tôi không dám kể tới, vì đó là nỗi kinh hoàng mà nếu phân tích thêm, chỉ muốn vứt cái đầu mình đi, không cần suy nghĩ nữa làm gì cho mệt óc.
Vậy cái gì đã gây nên nông nỗi?
Tôi không muốn tạo ra sự hiểu lầm là cái gì cũng do lỗi cộng sản.
Nhiều người rất cực đoan, nói ra cái gì sai, họ cũng đổ vấy hết cho cộng sản.
Nhưng cộng sản tệ đến thế mà cai trị được chúng ta đến ngày giờ này, thì chúng ta cũng tệ không kém!
Nghe nói cụ Tản Đà có câu:
Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn!
Cho nên quân ấy mới làm quan.
Những gì độc ác, bẩn thỉu của cộng sản, những người khác đã nói đầy cả ra rồi, tôi nghĩ mình cũng không cần nhắc lại.
Tôi chỉ nghĩ đến một điều, cái gì đã làm cộng sản tồn tại lâu như thế?
Ngoài sự cấu kết quyền lực – quyền lợi để cùng bảo vệ lẫn nhau, cộng sản đã làm gì để chúng ta thành ra một dân tộc việt nam hèn hạ tự trên xuống dưới, từ già tới trẻ như ngày hôm nay? Ngoài sự mafia, côn đồ, trấn áp bằng sợ hãi, giáo dục một cách ngu dân ra, chúng còn làm gì nữa?
Ai từng học luật đều biết, khi quy phạm pháp luật không điều chỉnh được, thì hành vi con người sẽ phải điều chỉnh bởi quy phạm đạo đức. Pháp luật không theo con người lên giường, vào toa-lét, xuống bếp. Nhưng đạo đức theo ta khắp nơi, tận trong ngõ ngách tâm hồn. Pháp luật cũng không ép tạo ra đạo đức. Chính sự vô thần vô thánh, không thừa nhận đức tin mà cộng sản triệt để nhồi nhét từ khi họ nắm được dân tộc này đã hun đúc ra những con người sẵn sàng bán thịt thối cho người ta ăn, đút sữa độc vào miệng con nít, chém mẹ ruột, giết con đẻ,… Vì những người này họ không sợ, hoặc họ tin rằng họ sẽ tránh được sự trừng trị của pháp luật. Khi pháp luật không trị được mà người ta không sợ luân hồi, không sợ quả báo, không sợ bị đày xuống địa ngục,… thì họ còn sợ gì nữa? Việc gì mà họ không dám làm?
Còn những kẻ yếu không có niềm tin là có Phật, có Chúa, có Thánh Allah luôn soi sáng mình, giúp đỡ mình, ngự trị trong mình, thì họ còn biết dựa vào đâu để tìm lại niềm lạc quan mà sống? Mà tranh đấu để tự tìm lấy giá trị sống thiêng liêng mà đấng tạo hóa đã ban cho mỗi chúng ta?
Tôi có cảm giác như mình đang sống giữa một bầy đàn hỗn loạn nhưng hoang vu, hỗn loạn về vật chất – nhưng hoang vu về tinh thần. Bạn có thấy như thế không?
Giữa sự hỗn loạn và hoang vu ấy, cái ác sẽ luôn luôn ngự trị, kẻ có sức mạnh sẽ luôn trấn áp chúng ta. Chúng ta - những kẻ được đến trường nhưng thật ra thất học, những kẻ nghĩ mình lương thiện nhưng thật ra không có lương tri, những kẻ đủ ăn mặc nhưng thật sự chưa hề nếm mùi vị hạnh phúc, những kẻ đọc sách – nghe nhạc mỗi ngày nhưng không biết đó chẳng phải là nghệ thuật đích thực – một nền nghệ thuật có thể soi sáng tâm hồn ta chứ không phải ru ta ngủ trong quên lãng. Những kẻ hoang mang không biết tin ai, không hiểu nên làm gì cho đúng.
Lúc đó, lúc hỗn loạn và hoang vu đó, anh cộng sản xuất hiện và nói: Đời chúng mày chỉ cần độc lập – tự do – hạnh phúc.
Chúng ta tưởng thế là hay ho lắm! Dù nền độc lập này có mang lại tự do không? Có hạnh phúc không? Hay chúng ta đang cúi đầu nô dịch cho ai đây? Chúng ta thực chất đang sống thế nào đây? Và đang để lại cho con cháu chúng ta di sản gì?
Chúng ta đeo bám theo họ, quên cả chính bản thân mình, một con người, cần phải sống sao cho đúng nghĩa, đúng phẩm cách, hành động đúng theo những gì mà một con người có lương tri cần phải hành động.
Bạn có đang tự hào vì mình là người việt nam không? Hỡi những con người ấu trĩ mang trong mình một đinh ninh sắt đá là tôi rất tự hào vì tôi là người việt nam “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” đã từng đấu tranh thắng Mỹ, các bạn không thấy điều đó nó hết thời rồi à? Ta thắng Mỹ để có một xã hội phồn vinh, một dân tộc được tôn trọng. Chứ còn thắng Tàu, thắng Pháp, thắng Mỹ, thắng khắp nơi… Mà ngày nay những kẻ ta từng thắng đó, nó coi chúng ta còn không hơn con chó thì cái chiến thắng đó nhắc tới làm chi cho thêm nhục?
Mặt phải, chúng ta ra rả trên báo mỗi ngày là “Mỹ đã đến biển Đông”, “bà Hillary dọa TQ không nên gây hấn”,.. để mong lòng dân yên ổn. Mặt trái, chúng ta tổ chức ngày hội gặp gỡ những lớp cán bộ đã từng được Tàu đào tạo để cám ơn họ đã “dạy dỗ” cả đám chóp bu việt nam. “Đĩ” chưa từng thấy! Chưa có cái chính quyền nào mà “đĩ” như chính quyền việt nam hiện tại. Dựa hơi mà cũng không biết dựa hẳn bên nào cho trót. Lá mặt lá trái như thế bảo sao quốc tế nó không khinh?
Còn dân việt nam thì sao? Dám cầm súng đánh TQ hay đánh bất cứ thằng nào xâm lược việt nam nữa không? Mà cầm súng để làm gì? Kết quả của gần 40 năm độc lập, ai cũng thấy cả rồi, không cần nói nữa.
Và cả bọn hèn hạ chúng ta đang ôm lấy nhau, hồi hộp chờ đợi hồi chuông báo tử.
* * *
Bổ sung:
Sau khi bài này được upload, tôi nhận được khá nhiều comments và cả message. Không biết phải đánh giá như thế nào về những comments hỏi ngược lại tôi với một thái độ khinh khỉnh, qua nhiều câu chữ khác nhau, nhưng đại khái cùng 1 ý: "Vậy bạn có hèn không?". He he...
Tôi chỉ muốn nhấn mạnh lại 1 điều, suốt cả bài viết, tôi không gọi những người hèn là "các bạn", tôi gọi là "chúng ta". Như vậy có dễ hiểu hơn chưa nhỉ?
Tôi không thích tự nhận hay gán ghép. Tôi chỉ nói lên những suy nghĩ của mình, còn đánh giá tôi hay đánh giá chính mình, các bạn cứ tự làm lấy. Thiết nghĩ, đâu cần phải tranh luận chuyện ai hèn, ai không hèn ở đây! Biết hay không biết mới là quan trọng. Mà cái sự khổ sở để đi từ cái "không biết/ chưa biết" đến cái "biết" nó sẽ là một quá trình gian nan mà mỗi người phải tự thân trải nghiệm. Không ai giúp ai được đâu. Và tôi hiểu, cái "biết" của tôi nó cũng chỉ giới hạn trong tầm nhân sinh quan nhỏ bé của cá nhân tôi mà thôi. Còn bạn, hãy tiếp tục giữ lấy niềm lạc quan của bạn. Con cừu vẫn có được niềm hạnh phúc mỗi ngày được gặm cỏ non, uống nước suối, ngắm bầu trời xanh, chờ đến ngày xẻ thịt mà! Đúng không? Hạnh phúc vẫn khắp quanh ta! Những con cừu không biết "tự sướng", không biết "thủ dâm tinh thần" thì quả thực là ngu còn hơn... cừu! He he...
* * *
Bổ sung tiếp:
"... Ông bảo xã hội nào cũng có những điều bẩn thỉu. Tôi công nhận điều ấy. Nhưng xã hội bẩn thỉu nhất ông có biết là xã hội nào không? Là xã hội mà thằng ăn cắp không cho rằng nó phạm pháp, nó đang làm điều xấu, người lương thiện thì run sợ, thằng bất lương lại coi việc nó làm là bình thường và kẻ vô liêm sỉ như ông thì vênh vang tự đắc: ta là số đông. Chính là xã hội này đây..." (trích comment của khongnoibiet).
TỰ DO PHẢI TRANH ĐẤU BẰNG XƯƠNG MÁU VÀ CẢ TINH MẠNG
freedomnotforfree
LTS: Một bài viết đáng chú ý, phản ánh thực tế xã hội Việt Nam ngày hôm nay
trong đó có công "không nhỏ" của "đại bộ phận" đảng cộng sản Việt Nam
đã sản sinh và nô lệ hóa con người Việt dưới ách cai trị theo lối phong kiến Tàu như thế nào?.
Chúng tôi xin trích đăng lại và giới thiệu đến quý đọc giả VietnamExodus.
Ảnh đại diện của tác giả trên trang blog cá nhân.
(blog hanwonders) Bài viết này sẽ không có một chữ việt nam nào được viết hoa.
Bởi chúng ta có xứng đáng được trân trọng như vậy không? Không hề.
Cách đây đã lâu, tôi đọc “người trung quốc xấu xí” của ông Bá Dương (Đài Loan), chưa bàn tới hay/ dở/ đúng/ sai của nội dung cuốn sách gây tranh cãi ầm ĩ đó, tôi chỉ nhớ lại cảm giác giật mình của tôi khi đó. Khi tôi đọc lướt qua vài trang sách. Tôi như vỡ ra một niềm cảm khái mà từ lâu nó cứ âm ỉ trong lòng. Tôi biết thế giới đã từng có những cuốn “Người Mỹ xấu xí”, “Người Nhật Bản xấu xí”, rồi mới đến cuốn của ông Bá Dương. Tôi vừa đọc, vừa tự hỏi, tại sao người việt nam chúng ta không có một cuốn như thế này? Tại sao chúng ta cứ tự ru ngủ mình trong cái điệp khúc dân tộc việt nam là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” & nhìn đâu cũng thấy anh hùng, liệt sĩ… Nếu thực sự chúng ta có những tố chất đó, nếu thực sự chúng ta là những người như thế, sao kết quả chúng ta hiện nay lại là một đất nước như thế này?
Một đất nước mà hơn phân nửa các cô cậu tú tài đi thi cử nhân khoe rằng mình có quay cóp một cách hoàn toàn không có chút tự trọng (đó là được hỏi, còn báo chí không cần hỏi vẫn có những hình ảnh phao thi trắng cả trường thi! Vậy thì thi cái gì? Thi xem ai quay cóp giỏi hơn chăng?). Trong đó còn có cả những đứa trẻ bảo rằng năm nay không thi thì năm sau thi, chứ làm bài mà phỉ báng “thần tượng Su-Ju” của nó là nó không thi! Mặc cho bao nhiêu tâm sức, kỳ vọng của gia đình, nhà trường, xã hội – những nền tảng đã cho nó có được cuộc sống và kiến thức để mà tiếp cận được với Su-Ju danh giá của nó. Thế mà nó vẫn được rất nhiều đứa trẻ khác tung hô! Chính là những đứa trẻ sẵn lòng khóc lóc, quỳ gối, hôn ghế… trước thần tượng. Một dân tộc gì đã sản sinh và nuôi dạy ra một thế hệ kế thừa như thế?
Con nít nó học cha anh mà ra, chúng ta đã nuôi dạy trẻ con thành ra như thế sao? Đừng ai đổ thừa cho ai. Vì trường học đổ cho cha mẹ, cha mẹ đổ cho xã hội, xã hội đổ cho cha mẹ & nhà trường. Tóm lại, đừng đổ nữa. Hãy biết hốt về mình đi! Tất cả chúng ta là người lớn, chúng ta đều có lỗi.
Bởi người lớn có hơn gì? Một xã hội mà người ta đang sẵn lòng thuốc chết nhau đi từng ngày bởi tiền bạc bất kể lương tri. Làm quan thì chỉ lo vơ vét, tham nhũng, quỳ gối trước ngoại bang để duy trì sự thống trị trước nhân dân. Gần 40 năm thống nhất, việt nam có hơn gì thời chiến ngoài đống xe máy chạy đầy đường & trong túi ai cũng có một cái điện thoại di động? Dù nhà ở không có, đất đai không có, bảo hiểm không có, tương lai cho con cái không có,… nhưng bia rượu chảy tràn lan mỗi ngày trong quán nhậu. Người ta được ru giấc suốt 40 năm bằng niềm ước mơ cháy bỏng “cơm no, áo ấm”. Hạnh phúc chỉ thế thôi! Muốn hạnh phúc hơn thì hãy làm giàu, làm giàu, làm giàu! “Doanh nhân là chiến sĩ thời bình”. Cứt! Tôi ỉa vào cái khẩu hiệu sặc mùi con buôn, đầy phân chợ trời đó! Tiếng súng không còn nổ ngoài đường. Một cuộc chiến khác đậm chất mafia, côn đồ, đảo Sicily chắc còn phải chào thua nhà cầm quyền việt nam trước khả năng dùng “luật im lặng” của họ với dân mình. Cuộc chiến đó là rình mò, là theo dõi, là cấm cản, là kiểm duyệt, là vu cáo, là bắt bớ, là dùi cui, là tù đày, là chết không lý do, là bị bịt miệng tại tòa, là con cháu theo lời lãnh đạo cầm gậy gộc ra ngoài đồng ức hiếp ông bà cha mẹ chòm xóm của mình vì họ đang giữ đất. Trong khi họ giữ đất cho ai? Những đứa thanh niên đó nó đang nghĩ gì khi quay lưng lại với dân tộc mình? Đơn giản thôi. Nó tin rằng nếu trung thành với cái thể chế mà nó đang phục vụ, thể chế đó sẽ cho nó công việc ổn định, đặc quyền, đặc lợi hơn người. Vậy là nó nhắm mắt làm theo, coi nhân dân là cỏ rác, cũng vì lợi ích cá nhân & gia đình nó – nếu nó có nghĩ tới. Chứ ngoài ra, liệu còn cái lý tưởng cao đẹp nào có thể tin vào lúc này? Đừng nói với tôi là “lý tưởng Hồ Chí Minh” hay “lý tưởng cộng sản” nhé! Hỏi những đứa mặc áo xanh cán bộ Đoàn thử xem, nó nói có trôi chảy không? Tôi đã thử rồi, rốt cuộc là ngồi im nghe tôi nói huyên thuyên toàn những điều mà trường học gọi là “phản động”.
Cuộc chiến này được khoác lên chiếc áo bảo vệ hòa bình, tự do, hạnh phúc. Còn bên trong là để bảo vệ quyền lợi, quyền lực cho một nhóm người gắn kết với nhau bằng những chiếc răng cùng gặm vào xương máu người nghèo, người thất học, người bán buôn lương thiện hàng ngày. Những người mỗi ngày chỉ biết tạ ơn trời phật đã cho chúng con một ngày yên ổn làm ăn, không bị cán bộ thuế đến nhũng nhiễu, không bị CSGT thổi phạt kiếm ăn, không bị đội dân phòng rượt đuổi, không bị ông chủ đẩy vào toa-lét để sờ soạng, không bị cắt tiền tăng ca, không bị cho ăn cơm thiu ngộ độc, không bị bệnh đột ngột phải vào bệnh viện nằm gầm giường chờ chết,..
Thế là cái dân tộc đầy sợ sệt, bất an đó cuống cuồng kiếm tiền, cuống cuồng vơ chỗ này, cấu chỗ kia để lo cho cái thân mình. Họ còn biết làm gì nữa?
Và khi họ chăm chắm vào tiền và sự yên ổn cho mình, họ để mặc cho một bọn ác khác lên ngôi, bọn này là sản phẩm của công thức: Bên trên, chúng nhìn thấy cách hành xử của một chính quyền côn đồ, có tiền là ra luật + Bên cạnh, chúng nhìn thấy những con người thờ ơ với người khác, chỉ còn biết nghĩ tới mình + Bên dưới, chúng nhận ra một đám người khổ sở, sợ sệt, yếu ớt = Chúng chợt nhận ra chúng có khả năng luồn cúi bên trên, tránh né bên cạnh & ức hiếp bên dưới.
Sao mà tôi sợ bọn người đó như thế?!
Bọn đó tập trung vào các cơ quan công quyền, làm quản lý, làm công an, làm công chức,… làm “đầy tớ” của nhân dân!
Bọn công bộc đó đã cùng nhau đẩy những cụ già bỏ quê bỏ xứ, lên Sài gòn ngồi vạ vật dầm mưa dãi nắng suốt ngày đêm, ngày này qua tháng nọ để kêu oan.
Bọn công bộc đó đã đẩy 2 mẹ con người phụ nữ nọ phải dùng đến cách phản kháng cuối cùng mà họ có là khỏa thân ở giữa đường để đòi lại công bằng. Vì trong tay họ còn có gì để chống lại chúng ngoài phẩm cách của người đàn bà vốn được coi là thiêng liêng? Họ dùng đến cách đó, và cuối cùng bị chúng lôi kéo dọc đường và nỗi oan của họ có ai thèm đoái tới?
Bọn công bộc đó đã đẩy đến đỉnh điểm hôm nay, một người mẹ uất ức tự thiêu trước cổng 1 cơ quan công quyền vì không còn sức để chịu đựng chúng…
Tôi sợ bọn chúng vì bọn chúng đông quá, đông như kiến cỏ. Chúng nhan nhản khắp nơi, ngày ngày bóp chết mọi ước mơ, triệt tiêu mọi khao khát, thêm sự dốt nát của chúng vào nữa là hoàn hảo để tạo ra một nền kinh tế xã hội thụt lùi đến chóng mặt, quay cuồng trong dối trá và danh lợi. Đáng sợ hơn, cuộc sống ấm êm no đủ của chúng nhờ vào tính cơ hội – thu vén lại là sự thèm khát của những tầng lớp khác. Khiến cho những con thiêu thân non trẻ khác lao vào như một cơ hội ngàn vàng.
Bọn này tiếp tay cho bọn con buôn cũng lưu manh không kém. Thế là chúng ta ăn thức ăn có độc mỗi ngày, con cháu chúng ta uống sữa độc mỗi ngày, chúng ta đi trên những con đường hiểm họa mỗi ngày, chúng ta tiêu dùng những gì chúng mang tới, chúng ban phát, với giá mà chúng ấn định, với mức thuế mà chúng muốn,… không còn một lựa chọn nào khác. Không biết làm gì khác, không có phản ứng gì khác! Vì chúng ta lương thiện.
Kẻ không lương thiện có những phản ứng tàn độc hơn, hoặc biến hẳn sang một trạng thái sống khác, như một sự kết tinh cao cấp hơn của một xã hội đương nhiên sẽ sản sinh ra nó.
Tôi nghĩ đến bọn này khi tôi đọc tin về tên bác sĩ lợi dụng lúc mẹ của bệnh nhi đi lấy giấy xét nghiệm, hắn hãm hiếp đứa bé mới 3 tuổi.
Tôi đọc tin ông bà chủ đánh trẻ làm công đến thương tật.
Tôi đọc tin một gã thanh niên có học chặt chém bạn gái mình thành từng khúc chỉ vì một chiếc xe máy và chút ít tài sản.
Tôi đọc tin bọn chủ & lơ xe vứt xác hành khách bị lèn chết giữa đường mà cả xe không ai phản ứng.
Tôi đọc tin nữ sinh phải ngủ với thầy giáo để được điểm tốt.
Tôi đọc tin người đi đường bị cướp, may mắn giật lại được túi tiền, nhưng túi rách, tiền bay ra, xung quanh thiên hạ xúm lại nhặt, nhưng không phải nhặt giúp, mà nhặt hết đi không chừa lại đồng nào. Thay vì bị 1 đứa cướp, anh ta bị cả con đường đè ra mà cướp!
… còn rất nhiều tin.
Một dân tộc gì mà độc ác và hèn hạ thế?
Dĩ nhiên không chỉ có mình tôi biết đau đớn vì những điều đó.
Chúng ta có cả một thứ to tát mà tôi tạm gọi là “nền văn chương than khóc”.
Trong những tác phẩm thi ca xuất bản từ khoảng 20 năm trở lại đây, tôi không dám nói mình đọc nhiều hay nghe nhiều, nhưng tôi cố gắng đọc, nghe, cố gắng tìm tòi, cố gắng tìm kiếm một tác phẩm nó xứng đáng làm cho tôi thấy dân tộc việt nam của tôi thực sự là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” một cách đúng nghĩa. Vì hãy quên những hình tượng cách mạng cao đẹp trong văn chương hay cả âm nhạc của miền Bắc thời chiến tranh đi! Đó không phải là văn chương, nó là thuốc pháo, tìm cách dẫn dắt, thôi thúc người ta chém giết & chết. Không hơn không kém.
Các bạn có tìm kiếm giống tôi không? Và các bạn có tìm thấy không? Hay đầy rẫy xung quanh chúng ta chỉ có 3 loại:
Loại mờ nhạt, rẻ tiền, xúc cảm vu vơ, vụn vặt, vô thưởng vô phạt.
. Loại có trăn trở, có suy tư, nhưng toàn đau đáu những nồi niềm xưa cũ, tương lai chả biết phải vứt đi đâu và vứt cho ai?
. Loại mạnh mẽ hơn, trực diện hơn, nhưng tầm vóc tác phẩm chỉ ở mức gẩy lên 1 tiếng đàn, rồi thôi![/list]
Tinh thần chúng ta đang được nuôi dưỡng bằng những thứ chỉ đến mức đó thôi.
Còn những thứ hổ lốn lai căng phát trên TV, bán ngoài sạp báo mỗi ngày, tôi không dám kể tới, vì đó là nỗi kinh hoàng mà nếu phân tích thêm, chỉ muốn vứt cái đầu mình đi, không cần suy nghĩ nữa làm gì cho mệt óc.
Vậy cái gì đã gây nên nông nỗi?
Tôi không muốn tạo ra sự hiểu lầm là cái gì cũng do lỗi cộng sản.
Nhiều người rất cực đoan, nói ra cái gì sai, họ cũng đổ vấy hết cho cộng sản.
Nhưng cộng sản tệ đến thế mà cai trị được chúng ta đến ngày giờ này, thì chúng ta cũng tệ không kém!
Nghe nói cụ Tản Đà có câu:
Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn!
Cho nên quân ấy mới làm quan.
Những gì độc ác, bẩn thỉu của cộng sản, những người khác đã nói đầy cả ra rồi, tôi nghĩ mình cũng không cần nhắc lại.
Tôi chỉ nghĩ đến một điều, cái gì đã làm cộng sản tồn tại lâu như thế?
Ngoài sự cấu kết quyền lực – quyền lợi để cùng bảo vệ lẫn nhau, cộng sản đã làm gì để chúng ta thành ra một dân tộc việt nam hèn hạ tự trên xuống dưới, từ già tới trẻ như ngày hôm nay? Ngoài sự mafia, côn đồ, trấn áp bằng sợ hãi, giáo dục một cách ngu dân ra, chúng còn làm gì nữa?
Ai từng học luật đều biết, khi quy phạm pháp luật không điều chỉnh được, thì hành vi con người sẽ phải điều chỉnh bởi quy phạm đạo đức. Pháp luật không theo con người lên giường, vào toa-lét, xuống bếp. Nhưng đạo đức theo ta khắp nơi, tận trong ngõ ngách tâm hồn. Pháp luật cũng không ép tạo ra đạo đức. Chính sự vô thần vô thánh, không thừa nhận đức tin mà cộng sản triệt để nhồi nhét từ khi họ nắm được dân tộc này đã hun đúc ra những con người sẵn sàng bán thịt thối cho người ta ăn, đút sữa độc vào miệng con nít, chém mẹ ruột, giết con đẻ,… Vì những người này họ không sợ, hoặc họ tin rằng họ sẽ tránh được sự trừng trị của pháp luật. Khi pháp luật không trị được mà người ta không sợ luân hồi, không sợ quả báo, không sợ bị đày xuống địa ngục,… thì họ còn sợ gì nữa? Việc gì mà họ không dám làm?
Còn những kẻ yếu không có niềm tin là có Phật, có Chúa, có Thánh Allah luôn soi sáng mình, giúp đỡ mình, ngự trị trong mình, thì họ còn biết dựa vào đâu để tìm lại niềm lạc quan mà sống? Mà tranh đấu để tự tìm lấy giá trị sống thiêng liêng mà đấng tạo hóa đã ban cho mỗi chúng ta?
Tôi có cảm giác như mình đang sống giữa một bầy đàn hỗn loạn nhưng hoang vu, hỗn loạn về vật chất – nhưng hoang vu về tinh thần. Bạn có thấy như thế không?
Giữa sự hỗn loạn và hoang vu ấy, cái ác sẽ luôn luôn ngự trị, kẻ có sức mạnh sẽ luôn trấn áp chúng ta. Chúng ta - những kẻ được đến trường nhưng thật ra thất học, những kẻ nghĩ mình lương thiện nhưng thật ra không có lương tri, những kẻ đủ ăn mặc nhưng thật sự chưa hề nếm mùi vị hạnh phúc, những kẻ đọc sách – nghe nhạc mỗi ngày nhưng không biết đó chẳng phải là nghệ thuật đích thực – một nền nghệ thuật có thể soi sáng tâm hồn ta chứ không phải ru ta ngủ trong quên lãng. Những kẻ hoang mang không biết tin ai, không hiểu nên làm gì cho đúng.
Lúc đó, lúc hỗn loạn và hoang vu đó, anh cộng sản xuất hiện và nói: Đời chúng mày chỉ cần độc lập – tự do – hạnh phúc.
Chúng ta tưởng thế là hay ho lắm! Dù nền độc lập này có mang lại tự do không? Có hạnh phúc không? Hay chúng ta đang cúi đầu nô dịch cho ai đây? Chúng ta thực chất đang sống thế nào đây? Và đang để lại cho con cháu chúng ta di sản gì?
Chúng ta đeo bám theo họ, quên cả chính bản thân mình, một con người, cần phải sống sao cho đúng nghĩa, đúng phẩm cách, hành động đúng theo những gì mà một con người có lương tri cần phải hành động.
Bạn có đang tự hào vì mình là người việt nam không? Hỡi những con người ấu trĩ mang trong mình một đinh ninh sắt đá là tôi rất tự hào vì tôi là người việt nam “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” đã từng đấu tranh thắng Mỹ, các bạn không thấy điều đó nó hết thời rồi à? Ta thắng Mỹ để có một xã hội phồn vinh, một dân tộc được tôn trọng. Chứ còn thắng Tàu, thắng Pháp, thắng Mỹ, thắng khắp nơi… Mà ngày nay những kẻ ta từng thắng đó, nó coi chúng ta còn không hơn con chó thì cái chiến thắng đó nhắc tới làm chi cho thêm nhục?
Mặt phải, chúng ta ra rả trên báo mỗi ngày là “Mỹ đã đến biển Đông”, “bà Hillary dọa TQ không nên gây hấn”,.. để mong lòng dân yên ổn. Mặt trái, chúng ta tổ chức ngày hội gặp gỡ những lớp cán bộ đã từng được Tàu đào tạo để cám ơn họ đã “dạy dỗ” cả đám chóp bu việt nam. “Đĩ” chưa từng thấy! Chưa có cái chính quyền nào mà “đĩ” như chính quyền việt nam hiện tại. Dựa hơi mà cũng không biết dựa hẳn bên nào cho trót. Lá mặt lá trái như thế bảo sao quốc tế nó không khinh?
Còn dân việt nam thì sao? Dám cầm súng đánh TQ hay đánh bất cứ thằng nào xâm lược việt nam nữa không? Mà cầm súng để làm gì? Kết quả của gần 40 năm độc lập, ai cũng thấy cả rồi, không cần nói nữa.
Và cả bọn hèn hạ chúng ta đang ôm lấy nhau, hồi hộp chờ đợi hồi chuông báo tử.
* * *
Bổ sung:
Sau khi bài này được upload, tôi nhận được khá nhiều comments và cả message. Không biết phải đánh giá như thế nào về những comments hỏi ngược lại tôi với một thái độ khinh khỉnh, qua nhiều câu chữ khác nhau, nhưng đại khái cùng 1 ý: "Vậy bạn có hèn không?". He he...
Tôi chỉ muốn nhấn mạnh lại 1 điều, suốt cả bài viết, tôi không gọi những người hèn là "các bạn", tôi gọi là "chúng ta". Như vậy có dễ hiểu hơn chưa nhỉ?
Tôi không thích tự nhận hay gán ghép. Tôi chỉ nói lên những suy nghĩ của mình, còn đánh giá tôi hay đánh giá chính mình, các bạn cứ tự làm lấy. Thiết nghĩ, đâu cần phải tranh luận chuyện ai hèn, ai không hèn ở đây! Biết hay không biết mới là quan trọng. Mà cái sự khổ sở để đi từ cái "không biết/ chưa biết" đến cái "biết" nó sẽ là một quá trình gian nan mà mỗi người phải tự thân trải nghiệm. Không ai giúp ai được đâu. Và tôi hiểu, cái "biết" của tôi nó cũng chỉ giới hạn trong tầm nhân sinh quan nhỏ bé của cá nhân tôi mà thôi. Còn bạn, hãy tiếp tục giữ lấy niềm lạc quan của bạn. Con cừu vẫn có được niềm hạnh phúc mỗi ngày được gặm cỏ non, uống nước suối, ngắm bầu trời xanh, chờ đến ngày xẻ thịt mà! Đúng không? Hạnh phúc vẫn khắp quanh ta! Những con cừu không biết "tự sướng", không biết "thủ dâm tinh thần" thì quả thực là ngu còn hơn... cừu! He he...
* * *
Bổ sung tiếp:
"... Ông bảo xã hội nào cũng có những điều bẩn thỉu. Tôi công nhận điều ấy. Nhưng xã hội bẩn thỉu nhất ông có biết là xã hội nào không? Là xã hội mà thằng ăn cắp không cho rằng nó phạm pháp, nó đang làm điều xấu, người lương thiện thì run sợ, thằng bất lương lại coi việc nó làm là bình thường và kẻ vô liêm sỉ như ông thì vênh vang tự đắc: ta là số đông. Chính là xã hội này đây..." (trích comment của khongnoibiet).
TỰ DO PHẢI TRANH ĐẤU BẰNG XƯƠNG MÁU VÀ CẢ TINH MẠNG
Bất bình khi Việt Nam là thành viên 'Hội Đồng Nhân Quyền'
GENEVA - Các tổ chức bảo vệ nhân quyền tỏ ra bất bình trước việc Việt Nam, Trung Quốc, Nga và Saudi Arabia
trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (UNHRC). Hôm 12 tháng 11,
Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu chọn 14 thành viên mới cho UNHRC.
UNHRC có 47 ghế với nhiệm vụ chính là theo dõi và phản đối những hành động vi phạm nhân quyền trên toàn cầu bằng các nghị quyết.
Công an ngăn chặn phóng viên tham dự phiên tòa xử ông Đoàn Văn Vươn. Việt Nam trong những năm qua liên tục
bị các tổ chức quốc tế chỉ trích vì tình trạng vi phạm nhân quyền. (Hình: Getty Images)
Việc lựa chọn thành viên cho UNHRC được tiến hành theo khu vực. Các quốc gia trong khu vực sẽ lựa chọn ứng cử viên. Đôi khi một khu vực có nhiều ứng cử viên cùng cạnh tranh để được bầu. Tuy nhiên lần này, bốn ứng cử viên cho khu vực châu Á là Việt Nam, Trung Quốc, Saudi Arabia và Maldives không có đối thủ cạnh tranh trong việc chọn bốn thành viên của khu vực này vào UNHRC.
Hãng AP tường thuật, Việt Nam, Trung Quốc, Nga và Saudi Arabia trở thành thành viên của UNHRC khiến nhiều tổ chức quốc tế bảo vệ nhân quyền thất vọng và bất bình.
Bà Peggy Hicks, một viên chức của Tổ chức Quan sát nhân quyền (Human Rights Watch – HRW), khuyến cáo, có năm ứng viên muốn gia nhập UNHRC lần này (Việt Nam, Trung Quốc, Nga, Saudi Arabia, Algeria) đã từng từ chối để các giám sát viên nhân quyền quốc tế đến thăm và điều tra các cáo buộc về những vụ vi phạm nhân quyền diễn ra trong những quốc gia đó. Cần phải buộc các quốc gia ứng cử vào UNHRC giải thích về điều đó.
Cũng theo bà Hicks, Việt Nam và Trung Quốc cần phải trả lời những chất vấn liên quan tới hàng loạt vụ vi phạm nhân quyền, bắt giữ những cá nhân hoạt động bênh vực nhân quyền ở Việt Nam và Trung Quốc. Cần phải buộc Việt Nam và Trung Quốc cam kết thực hiện những tiến bộ rõ rệt khi vận động để được bầu vào UNHRC.
Bà Hicks cho rằng, không làm như thế thì mục tiêu cao cả vốn là lý do thành lập UNHRC - đòi hỏi các thành viên phải tuân thủ những tiêu chuẩn cao nhất về nhân quyền - chỉ là tuyên bố suông.
Giống như Việt Nam, Trung Quốc, Saudi Arabian không phải cạnh tranh vì số ứng cử viên trong nhóm châu Á bằng với số ghế trống. Nga cũng không phải cạnh tranh trong nhóm của họ và Algeria thuộc nhóm châu Phi không cần nỗ lực nhiều bởi chỉ có năm ứng cử viên tranh đua cho bốn ghế trống.
Tuần trước, nhiều tổ chức quốc tế và dân biểu các quốc gia châu Âu, Hoa Kỳ, Canada, Anh, Úc, đã đồng loạt ký tên vào một kháng thư, phản đối Việt Nam tham gia UNHRC.
Kháng thư thúc giục các đại diện cho Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu ngăn chặn Việt Nam cũng như vài quốc gia khác (Trung Quốc, Cuba, Algeria, Jordan, Nga, Saudi Arabian), trở thành thành viên của UNHRC, do thành tích nhân quyền của các quốc gia này không xứng đáng với thanh danh của UNHRC nói riêng và của Liên Hiệp Quốc nói chung. Sau kháng thư, Jordan rút khỏi cuộc vận động tham gia UNHRC.
Ngoài việc tham gia ký tên vào kháng thư, HRW còn soạn riêng một thư gửi Thủ tướng Việt Nam, kêu gọi Việt Nam tuân thủ các chuẩn mực về “bảo vệ và thăng tiến nhân quyền”, khuyến khích Việt Nam giải quyết phóng thích tù chính trị trước ngày Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu bầu chọn thành viên UNHRC.
Vài ngày sau, hôm 7 tháng 11, Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) phát hành một thông báo, cảnh báo công động quốc tế rằng, Việt Nam đang gia tăng đàn áp nhân quyền. Ông Rupert Abbott, một chuyên gia của Ân xá Quốc tế, nhận định: “Việt Nam đã bị biến thành một trong những nhà tù lớn nhất Đông Nam Á. Nơi giam cầm những người kêu gọi bảo vệ nhân quyền. Tình trạng gia tăng đàn áp đó cần phải chấm dứt”.
Áp lực từ cộng đồng quốc tế lên chính quyền Việt Nam đã tăng đáng kể sau khi Việt Nam ứng cử UNHRC. Ngày 7 tháng 11, Việt Nam ký cam kết thực hiện “Công ước Chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác” (UNCAT). Hành động này được xem là một sự nhượng bộ những đòi hỏi của cộng đồng quốc tế về cải thiện nhân quyền.
UNCAT nằm trong nhóm những công ước được soạn thảo nhằm bảo vệ nhân quyền của cộng đồng quốc tế. Tuy được Liên Hiệp Quốc thông qua từ năm 1984, có hiệu lực từ năm 1987 nhưng Việt Nam vẫn thuộc một nhóm rất nhỏ không tham gia vì không tham gia đồng nghĩa với không phải thực hiện, không bị giám sát, chế tài, dẫu cho mục tiêu của UNCAT chỉ là phòng chống tra tấn, đối xử tàn bạo làm mất phẩm giá con người.
Việt Nam không tham gia UNCAT vì UNCAT cấm tuyệt đối việc tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo, xúc phạm phẩm giá con người. UNCAT đòi các quốc gia cam kết thực thi phải có những biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa, chống tra tấn. Phải xem tra tấn là tội hình sự. Kẻ tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo, xúc phạm phẩm giá con người sẽ bị dẫn độ để xét xử tại một quốc gia khác nếu quốc gia kẻ đó cư trú không làm việc này. Đồng thời nghiêm cấm các quốc gia trả ai đó về nguyên quán nếu có lý do để tin rằng, ở đó, họ sẽ bị tra tấn, ngược đãi.
Bên cạnh UNCAT còn có một Nghị định thư tùy chọn về "Công ước chống Tra tấn và Trừng phạt hoặc Đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác”, được gọi là OPCAT. OPCAT được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua hồi năm 2002, có hiệu lực từ tháng 6 năm 2006, quy định về việc thành lập “một hệ thống các chuyến viếng thăm thường xuyên do các cơ quan độc lập quốc tế và quốc gia thực hiện tại những nơi có người đang bị tước quyền tự do, để ngăn chặn việc tra tấn, trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác”. OPCAT được giám sát bởi một “Tiểu ban Phòng chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác”.
Trong những tuyên bố mới nhất về việc tham gia UNCAT, không thấy Việt Nam đề cập đến OPCAT. (G.Đ)
GENEVA - Các tổ chức bảo vệ nhân quyền tỏ ra bất bình trước việc Việt Nam, Trung Quốc, Nga và Saudi Arabia
trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (UNHRC). Hôm 12 tháng 11,
Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu chọn 14 thành viên mới cho UNHRC.
UNHRC có 47 ghế với nhiệm vụ chính là theo dõi và phản đối những hành động vi phạm nhân quyền trên toàn cầu bằng các nghị quyết.
Công an ngăn chặn phóng viên tham dự phiên tòa xử ông Đoàn Văn Vươn. Việt Nam trong những năm qua liên tục
bị các tổ chức quốc tế chỉ trích vì tình trạng vi phạm nhân quyền. (Hình: Getty Images)
Việc lựa chọn thành viên cho UNHRC được tiến hành theo khu vực. Các quốc gia trong khu vực sẽ lựa chọn ứng cử viên. Đôi khi một khu vực có nhiều ứng cử viên cùng cạnh tranh để được bầu. Tuy nhiên lần này, bốn ứng cử viên cho khu vực châu Á là Việt Nam, Trung Quốc, Saudi Arabia và Maldives không có đối thủ cạnh tranh trong việc chọn bốn thành viên của khu vực này vào UNHRC.
Hãng AP tường thuật, Việt Nam, Trung Quốc, Nga và Saudi Arabia trở thành thành viên của UNHRC khiến nhiều tổ chức quốc tế bảo vệ nhân quyền thất vọng và bất bình.
Bà Peggy Hicks, một viên chức của Tổ chức Quan sát nhân quyền (Human Rights Watch – HRW), khuyến cáo, có năm ứng viên muốn gia nhập UNHRC lần này (Việt Nam, Trung Quốc, Nga, Saudi Arabia, Algeria) đã từng từ chối để các giám sát viên nhân quyền quốc tế đến thăm và điều tra các cáo buộc về những vụ vi phạm nhân quyền diễn ra trong những quốc gia đó. Cần phải buộc các quốc gia ứng cử vào UNHRC giải thích về điều đó.
Cũng theo bà Hicks, Việt Nam và Trung Quốc cần phải trả lời những chất vấn liên quan tới hàng loạt vụ vi phạm nhân quyền, bắt giữ những cá nhân hoạt động bênh vực nhân quyền ở Việt Nam và Trung Quốc. Cần phải buộc Việt Nam và Trung Quốc cam kết thực hiện những tiến bộ rõ rệt khi vận động để được bầu vào UNHRC.
Bà Hicks cho rằng, không làm như thế thì mục tiêu cao cả vốn là lý do thành lập UNHRC - đòi hỏi các thành viên phải tuân thủ những tiêu chuẩn cao nhất về nhân quyền - chỉ là tuyên bố suông.
Giống như Việt Nam, Trung Quốc, Saudi Arabian không phải cạnh tranh vì số ứng cử viên trong nhóm châu Á bằng với số ghế trống. Nga cũng không phải cạnh tranh trong nhóm của họ và Algeria thuộc nhóm châu Phi không cần nỗ lực nhiều bởi chỉ có năm ứng cử viên tranh đua cho bốn ghế trống.
Tuần trước, nhiều tổ chức quốc tế và dân biểu các quốc gia châu Âu, Hoa Kỳ, Canada, Anh, Úc, đã đồng loạt ký tên vào một kháng thư, phản đối Việt Nam tham gia UNHRC.
Kháng thư thúc giục các đại diện cho Hoa Kỳ và Liên hiệp châu Âu ngăn chặn Việt Nam cũng như vài quốc gia khác (Trung Quốc, Cuba, Algeria, Jordan, Nga, Saudi Arabian), trở thành thành viên của UNHRC, do thành tích nhân quyền của các quốc gia này không xứng đáng với thanh danh của UNHRC nói riêng và của Liên Hiệp Quốc nói chung. Sau kháng thư, Jordan rút khỏi cuộc vận động tham gia UNHRC.
Ngoài việc tham gia ký tên vào kháng thư, HRW còn soạn riêng một thư gửi Thủ tướng Việt Nam, kêu gọi Việt Nam tuân thủ các chuẩn mực về “bảo vệ và thăng tiến nhân quyền”, khuyến khích Việt Nam giải quyết phóng thích tù chính trị trước ngày Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu bầu chọn thành viên UNHRC.
Vài ngày sau, hôm 7 tháng 11, Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) phát hành một thông báo, cảnh báo công động quốc tế rằng, Việt Nam đang gia tăng đàn áp nhân quyền. Ông Rupert Abbott, một chuyên gia của Ân xá Quốc tế, nhận định: “Việt Nam đã bị biến thành một trong những nhà tù lớn nhất Đông Nam Á. Nơi giam cầm những người kêu gọi bảo vệ nhân quyền. Tình trạng gia tăng đàn áp đó cần phải chấm dứt”.
Áp lực từ cộng đồng quốc tế lên chính quyền Việt Nam đã tăng đáng kể sau khi Việt Nam ứng cử UNHRC. Ngày 7 tháng 11, Việt Nam ký cam kết thực hiện “Công ước Chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác” (UNCAT). Hành động này được xem là một sự nhượng bộ những đòi hỏi của cộng đồng quốc tế về cải thiện nhân quyền.
UNCAT nằm trong nhóm những công ước được soạn thảo nhằm bảo vệ nhân quyền của cộng đồng quốc tế. Tuy được Liên Hiệp Quốc thông qua từ năm 1984, có hiệu lực từ năm 1987 nhưng Việt Nam vẫn thuộc một nhóm rất nhỏ không tham gia vì không tham gia đồng nghĩa với không phải thực hiện, không bị giám sát, chế tài, dẫu cho mục tiêu của UNCAT chỉ là phòng chống tra tấn, đối xử tàn bạo làm mất phẩm giá con người.
Việt Nam không tham gia UNCAT vì UNCAT cấm tuyệt đối việc tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo, xúc phạm phẩm giá con người. UNCAT đòi các quốc gia cam kết thực thi phải có những biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa, chống tra tấn. Phải xem tra tấn là tội hình sự. Kẻ tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo, xúc phạm phẩm giá con người sẽ bị dẫn độ để xét xử tại một quốc gia khác nếu quốc gia kẻ đó cư trú không làm việc này. Đồng thời nghiêm cấm các quốc gia trả ai đó về nguyên quán nếu có lý do để tin rằng, ở đó, họ sẽ bị tra tấn, ngược đãi.
Bên cạnh UNCAT còn có một Nghị định thư tùy chọn về "Công ước chống Tra tấn và Trừng phạt hoặc Đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác”, được gọi là OPCAT. OPCAT được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua hồi năm 2002, có hiệu lực từ tháng 6 năm 2006, quy định về việc thành lập “một hệ thống các chuyến viếng thăm thường xuyên do các cơ quan độc lập quốc tế và quốc gia thực hiện tại những nơi có người đang bị tước quyền tự do, để ngăn chặn việc tra tấn, trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác”. OPCAT được giám sát bởi một “Tiểu ban Phòng chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác”.
Trong những tuyên bố mới nhất về việc tham gia UNCAT, không thấy Việt Nam đề cập đến OPCAT. (G.Đ)

