Bình Luận Thời Sự
Tuyên Truyền CS Vẫn Lợi Hại
Tác giả : Vi Anh
Trong thời đại truyền thông tin học, tuyên truyền dối gạt xấu che, tốt khoe của CS có người tưởng đâu không còn tác dụng nữa. Không hẳn như thế. Hai nghiên cứu điển hình sau đây cho thấy ngược lại. Như CS nói láo một điều riết rồi thiên hạ cũng tin và dấu kín một chuyện lớn sẽ thành một vấn đề nhỏ.
Chuyện thứ nhứt là sách lược tuyên truyền thần tượng hoá Mao Trạch Đông của TC có tác dụng. Báo Pháp La Croix có một bài viết 3 trang nhơn khi TC chuẩn bị kỷ niệm sinh nhựt 120 tuổi của Mao vào ngày 26/12. Đây là một nhân vật ác với dân, độc với đồng chí, giết hàng mấy chục triệu đồng bào người theo sách sử trung thực. Nhưng Đảng CS Trung Quốc thần thánh hoá và tôn thờ như một đấng cứu nguy quốc gia dân tộc, riết rồi người dân cũng tin theo.
Cái kiểu tuyên truyền này là gương mẩu đối với CS nói chung. CS Nga áp dụng cho Lenine, cho Staline; CS Triều Tiên áp dụng cho Kim nhựt Thành, Kim Jung Il, CSVN cho Hồ chí Minh. Tất cả đều xây lăng mộ, ướp xác trưng bày, treo hình ở công trường, bắt dân treo hình trong nhà. Sách báo từ lich sử, giáo duc, văn học, v.v... đều ca ngợi, thần thánh hoá lãnh tụ này tận mây xanh. Và Đảng Nhà Nước CS cũng sống trên tư tưởng và xác chết của những thẩn tượng này..
Theo tường thuật của phóng viên báo La Croix về thăm lại quê hương của Mao Trạch Đông tại làng Thiếu Sơn, huyện Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam, người Trung Quốc đủ mọi lứa tuổi, từ mọi nơi sếp hàng rồng rắn chờ tứ hai đến ba giờ vào thăm trang trại, nơi mà Mao Trạch Đông đã sinh ra và lớn lên. Họ là những người Trung Hoa tiêu biểu coi Mao Trạch Đông là "hiện thân của nền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa". Đảng CS biến ngôi nhà của Ông thành một danh lam thắng cảnh, một cổ tích liệt hạng mà người Trung Hoa tôn kính, đến đổi có lịnh cấm không được chụp hình dù đây là một địa điểm du lịch.
Nhà nước làm đường sá khang trang rất tiện lợi cho việc đi lại. Đồ lưu niệm về Mao trạch Đông trở thành một kỹ nghệ hốt bạc.
Phỏng vấn một số người, nhà báo nhận thấy it ai biết Mao Trạch Đông là người đã ra lịnh tập thể hoá nông nghiệp gây ra nạn đói năm 1960 đã làm 30 triệu người chết. Ít ai biết cuộc cách mạng văn hoá 10 năm (1966 đến 1976) mà Ông chủ xướng giết hàng chục triệu người và bỏ tù đến chết con số còn cao hơn thế.
Nhưng đa số nói Mao trach Đông là hiện thân của nền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Tính chung thì 70% dân số TQ chỉ biết Mao Trach Đong qua sách vở của Đảng Nhà Nước, tức là cái tốt, cái tich cực của Mao do Đảng đã tô lục chuốt hồng để tuyên truyền trong dân chúng.
Lý giải nhà báo lấy câu trả lời của một cô sinh viên nói với nhà báo: "Chúng tôi biết là chính phủ đang vẽ truyện nhưng chúng tôi không có phương tiện để tìm ra sự thật."
Còn một lý giải thứ hai thưòng xảy ra trong chế độ CS. Đó là người dân không dám nói thật vì sợ công an mật vụ tai vách mạch rừng và sợ trả lời cho báo chí ngoại quốc, rất nhiều người bị rắc rối, phiền phức khi trả lời cho truyền thông ngoại quốc
Chuyện thứ hai là dấu kín cuộc đấu tranh của người Tây Tạng, Duy ngô nhĩ nên thế giới gần như và mỉa mai thay báo chí quốc tế tỏ ra vô cảm với các vụ tự thiêu và cảm tử của hai dân tộc thiều số đất nước bị TC thôn tính và Hán hoá này.
Ủy ban Điều hành Quốc hội Hoa Kỳ về Trung Quốc mới đây mở một cuộc nghiên cứu điển hình, ra một báo cáo cho biết thực sự khu vực tự trị của người Tây Tạng gần đây đang bất ổn. Nhưng truyền thông quốc tế ít để mắt tới vì TC dấu kín như bưng. Điễn hình là ở quận Driru, có nhiều cuộc biểu tình, nhưng lực lượng an ninh của TC làm đủ mọi cách đề bịt kín, không cho tiếng đồn đi xa và lan qua các nơi khác. Ông Steve Marshall, cố vấn cấp cao của ủy ban và là giám đốc của chương trình dữ liệu về tù nhân, nói rằng nhà cầm quyền Trung Quốc xem Driru và hai quận lân cận (Sog và Drachen) là "những điểm nóng." Ông nói:"Trong quan điểm của họ, nếu tôi nói một cách bóng gió, là một đốm lửa ở xa. Thế nhưng họ không muốn đốm lửa ở xa đó lan rộng ra, chẳng hạn như tới Lhasa, là khu vực rất lớn và quan trọng".
Driru là khu vực có ít nhất 4 người Tây Tạng đã tự thiêu trong vòng 2 năm qua. Tuy nhiên, Trung Quốc chưa bao giờ thừa nhận có vụ tự thiêu nào ở quận này.
Kể từ năm 2009, hơn 120 người Tây Tạng đã tự thiêu để yêu cầu cho phép Đức Ðạt Lai Lạt Ma trở về và để đòi tự do cho dân Tây Tạng nhưng chưa đánh động được nhân dân và chánh quyền chính trực trên thế giới vì TC bưng bít tin tức hay làm thiên lệch, chệch hướng sự việc.
Còn người Duy ngô nhĩ ở Tân Cương gốc Đạo Hồi của nước Cộng Hoà Turkestan bị TC thôn tính sáp nhập làm thành tỉnh Tân Cương của TQ, đã đấu tranh bạo động, có máu, nước mắt, mồ hôi rất lâu rồi, nhưng chưa đánh động được lương tâm Nhân Loại cũng vị bị TC áp dụng sách lược bưng bít tin tức. Có lẽ vì vậy mà người Duy ngô nhĩ gần đây đổi chiến thuật, tấn công TC ngay tại Bắc Kinh, tại Thiên An Môn, biểu tượng quyền lực của TC và tại văn phòng Tỉnh Uỷ Đảng CS của TC.
Ba và sau cùng, tuy tiến bộ khoa học kỹ thuật tin học giúp thông tin nghị luận đi nhanh như ánh sáng, giúp con người có thể chia xẻ kiến thức, kinh nghiệm với nhau. Nhưng trong chế độ CS, truyền thông truyền thống do Đảng Nhà Nước CS nắm chặt, dùng làm vũ khí tuyên truyền cho họ. Còn truyền thông ngoài luồn như blog, paltalk, trang mạng xã hộ, v.v... do những phát minh khoa học sáng chế ra, thì CS làm đủ thứ chuyện để kiềm soát như ban hành lịnh cấm, lập tường lửa, khóa kín, thêm công an mạng kề cả đặt điều kiện cho các công ty siêu quốc gia cung ứng dịch vụ Internet muốn làm ăn trong chế độ CS phải mật báo những ai đi vào vùng CS cấm kỵ, v.v...
Thành ra người ta thấy số người dân bị CS bắt bớ giam cầm về tội CS gọi là tuyên truyền chống phá nhà nước ngày càng đông và số công an mạng và tuyên truyền viên miệng mà CS tuyển dụng vào để kiểm soát trang mạng, phản tuyên truyển trên mạng ngày càng nhiều.
Cho nên không nên lạc quan cho rằng truyền thông ngoài luồn của công dân mạng, làng dân báo của người dân sẽ có thể vô hiệu hoá truyên truyền của CS. Để những người yêu sự thật, yêu tự do, phải cố gắng hơn nữa trong công cuộc đấu tranh với thế lực phản động, phản tiến hoá là CS mà tuyên truyền đối với họ là một vũ khí dân vận, địch vận, quốc tế vận./.(Vi Anh)
Tác giả : Vi Anh
Trong thời đại truyền thông tin học, tuyên truyền dối gạt xấu che, tốt khoe của CS có người tưởng đâu không còn tác dụng nữa. Không hẳn như thế. Hai nghiên cứu điển hình sau đây cho thấy ngược lại. Như CS nói láo một điều riết rồi thiên hạ cũng tin và dấu kín một chuyện lớn sẽ thành một vấn đề nhỏ.
Chuyện thứ nhứt là sách lược tuyên truyền thần tượng hoá Mao Trạch Đông của TC có tác dụng. Báo Pháp La Croix có một bài viết 3 trang nhơn khi TC chuẩn bị kỷ niệm sinh nhựt 120 tuổi của Mao vào ngày 26/12. Đây là một nhân vật ác với dân, độc với đồng chí, giết hàng mấy chục triệu đồng bào người theo sách sử trung thực. Nhưng Đảng CS Trung Quốc thần thánh hoá và tôn thờ như một đấng cứu nguy quốc gia dân tộc, riết rồi người dân cũng tin theo.
Cái kiểu tuyên truyền này là gương mẩu đối với CS nói chung. CS Nga áp dụng cho Lenine, cho Staline; CS Triều Tiên áp dụng cho Kim nhựt Thành, Kim Jung Il, CSVN cho Hồ chí Minh. Tất cả đều xây lăng mộ, ướp xác trưng bày, treo hình ở công trường, bắt dân treo hình trong nhà. Sách báo từ lich sử, giáo duc, văn học, v.v... đều ca ngợi, thần thánh hoá lãnh tụ này tận mây xanh. Và Đảng Nhà Nước CS cũng sống trên tư tưởng và xác chết của những thẩn tượng này..
Theo tường thuật của phóng viên báo La Croix về thăm lại quê hương của Mao Trạch Đông tại làng Thiếu Sơn, huyện Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam, người Trung Quốc đủ mọi lứa tuổi, từ mọi nơi sếp hàng rồng rắn chờ tứ hai đến ba giờ vào thăm trang trại, nơi mà Mao Trạch Đông đã sinh ra và lớn lên. Họ là những người Trung Hoa tiêu biểu coi Mao Trạch Đông là "hiện thân của nền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa". Đảng CS biến ngôi nhà của Ông thành một danh lam thắng cảnh, một cổ tích liệt hạng mà người Trung Hoa tôn kính, đến đổi có lịnh cấm không được chụp hình dù đây là một địa điểm du lịch.
Nhà nước làm đường sá khang trang rất tiện lợi cho việc đi lại. Đồ lưu niệm về Mao trạch Đông trở thành một kỹ nghệ hốt bạc.
Phỏng vấn một số người, nhà báo nhận thấy it ai biết Mao Trạch Đông là người đã ra lịnh tập thể hoá nông nghiệp gây ra nạn đói năm 1960 đã làm 30 triệu người chết. Ít ai biết cuộc cách mạng văn hoá 10 năm (1966 đến 1976) mà Ông chủ xướng giết hàng chục triệu người và bỏ tù đến chết con số còn cao hơn thế.
Nhưng đa số nói Mao trach Đông là hiện thân của nền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Tính chung thì 70% dân số TQ chỉ biết Mao Trach Đong qua sách vở của Đảng Nhà Nước, tức là cái tốt, cái tich cực của Mao do Đảng đã tô lục chuốt hồng để tuyên truyền trong dân chúng.
Lý giải nhà báo lấy câu trả lời của một cô sinh viên nói với nhà báo: "Chúng tôi biết là chính phủ đang vẽ truyện nhưng chúng tôi không có phương tiện để tìm ra sự thật."
Còn một lý giải thứ hai thưòng xảy ra trong chế độ CS. Đó là người dân không dám nói thật vì sợ công an mật vụ tai vách mạch rừng và sợ trả lời cho báo chí ngoại quốc, rất nhiều người bị rắc rối, phiền phức khi trả lời cho truyền thông ngoại quốc
Chuyện thứ hai là dấu kín cuộc đấu tranh của người Tây Tạng, Duy ngô nhĩ nên thế giới gần như và mỉa mai thay báo chí quốc tế tỏ ra vô cảm với các vụ tự thiêu và cảm tử của hai dân tộc thiều số đất nước bị TC thôn tính và Hán hoá này.
Ủy ban Điều hành Quốc hội Hoa Kỳ về Trung Quốc mới đây mở một cuộc nghiên cứu điển hình, ra một báo cáo cho biết thực sự khu vực tự trị của người Tây Tạng gần đây đang bất ổn. Nhưng truyền thông quốc tế ít để mắt tới vì TC dấu kín như bưng. Điễn hình là ở quận Driru, có nhiều cuộc biểu tình, nhưng lực lượng an ninh của TC làm đủ mọi cách đề bịt kín, không cho tiếng đồn đi xa và lan qua các nơi khác. Ông Steve Marshall, cố vấn cấp cao của ủy ban và là giám đốc của chương trình dữ liệu về tù nhân, nói rằng nhà cầm quyền Trung Quốc xem Driru và hai quận lân cận (Sog và Drachen) là "những điểm nóng." Ông nói:"Trong quan điểm của họ, nếu tôi nói một cách bóng gió, là một đốm lửa ở xa. Thế nhưng họ không muốn đốm lửa ở xa đó lan rộng ra, chẳng hạn như tới Lhasa, là khu vực rất lớn và quan trọng".
Driru là khu vực có ít nhất 4 người Tây Tạng đã tự thiêu trong vòng 2 năm qua. Tuy nhiên, Trung Quốc chưa bao giờ thừa nhận có vụ tự thiêu nào ở quận này.
Kể từ năm 2009, hơn 120 người Tây Tạng đã tự thiêu để yêu cầu cho phép Đức Ðạt Lai Lạt Ma trở về và để đòi tự do cho dân Tây Tạng nhưng chưa đánh động được nhân dân và chánh quyền chính trực trên thế giới vì TC bưng bít tin tức hay làm thiên lệch, chệch hướng sự việc.
Còn người Duy ngô nhĩ ở Tân Cương gốc Đạo Hồi của nước Cộng Hoà Turkestan bị TC thôn tính sáp nhập làm thành tỉnh Tân Cương của TQ, đã đấu tranh bạo động, có máu, nước mắt, mồ hôi rất lâu rồi, nhưng chưa đánh động được lương tâm Nhân Loại cũng vị bị TC áp dụng sách lược bưng bít tin tức. Có lẽ vì vậy mà người Duy ngô nhĩ gần đây đổi chiến thuật, tấn công TC ngay tại Bắc Kinh, tại Thiên An Môn, biểu tượng quyền lực của TC và tại văn phòng Tỉnh Uỷ Đảng CS của TC.
Ba và sau cùng, tuy tiến bộ khoa học kỹ thuật tin học giúp thông tin nghị luận đi nhanh như ánh sáng, giúp con người có thể chia xẻ kiến thức, kinh nghiệm với nhau. Nhưng trong chế độ CS, truyền thông truyền thống do Đảng Nhà Nước CS nắm chặt, dùng làm vũ khí tuyên truyền cho họ. Còn truyền thông ngoài luồn như blog, paltalk, trang mạng xã hộ, v.v... do những phát minh khoa học sáng chế ra, thì CS làm đủ thứ chuyện để kiềm soát như ban hành lịnh cấm, lập tường lửa, khóa kín, thêm công an mạng kề cả đặt điều kiện cho các công ty siêu quốc gia cung ứng dịch vụ Internet muốn làm ăn trong chế độ CS phải mật báo những ai đi vào vùng CS cấm kỵ, v.v...
Thành ra người ta thấy số người dân bị CS bắt bớ giam cầm về tội CS gọi là tuyên truyền chống phá nhà nước ngày càng đông và số công an mạng và tuyên truyền viên miệng mà CS tuyển dụng vào để kiểm soát trang mạng, phản tuyên truyển trên mạng ngày càng nhiều.
Cho nên không nên lạc quan cho rằng truyền thông ngoài luồn của công dân mạng, làng dân báo của người dân sẽ có thể vô hiệu hoá truyên truyền của CS. Để những người yêu sự thật, yêu tự do, phải cố gắng hơn nữa trong công cuộc đấu tranh với thế lực phản động, phản tiến hoá là CS mà tuyên truyền đối với họ là một vũ khí dân vận, địch vận, quốc tế vận./.(Vi Anh)
Nelson Mandela: Một ngọn hải đăng
Trần Bình Nam
Ghi chú: (6 tháng 12 năm 2013): Bài này viết ngày 28 tháng 6, 2013, mấy tuần lễ sau khi ông Nelson Mandela vào bệnh viện.
Sau 3 tháng điều trị, tháng 9 ông được đưa về dưỡng bệnh tại tư gia ở Johannesburg. Ông qua đời ngày Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013
vào lúc 8:50PM giờ Nam Phi. Hãy xin một phút cầu nguyện cho cố Tổng Thống Nelson Mandela.

Một phụ nữ Iran đặt bó hoa tưởng niệm ông Nelson Mandela vào cổng Tòa Ðại Sứ Nam Phi ở thủ đô Tehran. (Hình: Majid Saeedi/Getty Images)
Nelson Mandela, nhà tranh đấu thành công bãi bỏ chế độ phân biệt chủng tộc apartheid ở Nam Phi đang hấp hối tại một bệnh viện ở thủ đô Pretoria. Mấy NelsonMandela tháng gần đây ông ra vào khẩn cấp bệnh viện nhiều lần. Ngày 8 tháng 6 ông lại vào bệnh viện vì phổi bị nhiễm trùng và bệnh tình đang trở nên trầm trọng. Sáng Thứ Hai, 24 tháng 6, Tổng Thống Jacob Zuma vào thăm ông Mandela và sau đó nói với dân chúng Nam Phi rằng người anh hùng của đất nước tuổi đời đã cao, và điều tốt nhất là hãy cầu nguyện cho ông.
Nhiều vị lãnh đạo trên thế giới đang chuẩn bị lịch trình đến Pretoria chào vị anh hùng Nam Phi lần cuối, nếu mệnh Trời đòi hỏi ông phải ra đi. Tổng Thống Barak Obama đang công du Phi Châu, theo chương trình sẽ dừng chân tại Petroria, nơi ông Mandela đang được chữa trị. Tuy nhiên, Tổng Thống Obama có đích thân thăm ông Mandela ở bệnh viện không còn tùy tình trạng sức khỏe của ông Mandela và ý muốn của thân nhân. Trên đường từ Senegal đến Nam Phi, Tổng Thống Obama nói: “Không riêng tôi, mà ai cũng đều đồng ý rằng ông Nelson Mandela là một vị anh hùng thế giới.”
Ông Mandela năm nay 94 tuổi. Ông mang trong lồng ngực một quả tim nhân bản, quả cảm, yêu đời, yêu người, sống trọn tình nghĩa với đồng bào và đất nước, ông Mandela ra đi là một mất mát lớn không những cho nhân dân Nam Phi, mà là một mất mát lớn cho nhân loại như người đi biển bỗng mất một ngọn hải đăng.
Nam Phi, một nước rộng gần 4 lần diện tích Việt Nam nằm ở cực Nam Phi Châu do người Hòa Lan đến chiếm làm thuộc địa giữa thế kỷ 17. Ðầu thế kỷ 20 người Anh đánh thắng người Hòa Lan và thành lập nước Nam Phi. Người gốc Hòa Lan tại Nam Phi được gọi là người Afrikaner. Năm 1948 người Anh thiết lập một chế độ kỳ thị chủng tộc phân chia đen trắng thành hai giai cấp quy định bằng luật gọi là chế độ “Apartheid.” Người đen không được sống chung đụng với người da trắng, và sống trong những khu riêng biệt gọi là các Townships.
Năm 1976, người đen tại các Townships đồng loạt nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Ðảng Quốc Gia Phi Châu (African National Congress - ANC) trong đó Luật Sư Nelson Mandela là một thành phần lãnh đạo chủ chốt.
Ông Nelson Mandela sinh ngày18 tháng 7 năm 1918 trong một gia đình vọng tộc thuộc bộ lạc Thembu. Ông học luật tại hai đại học Fort Hare và Witwatersrand. Trở thành luật sư ông sống và hành nghề tại Johannesburgs. Khoảng thập niên 1940 ông gia nhập đảng ANC, một đảng chính trị thoát thai từ Ðảng Quốc Gia của Người Bản xứ (The South African Native National Congress) được thành lập từ năm 1912 khi người Hòa Lan còn áp dụng một chế độ thuộc địa cởi mở.
Sau khi người Anh thiết lập chế độ Apartheid, năm 1952 ông Mandela cầm đầu cuộc đấu tranh chống chế độ kỳ thị bằng phương pháp bất bạo động. Sau đó ông đổi phương pháp hợp tác với đảng Cộng sản Nam Phi thành lập tổ chức Umkhonto we Sizwe, bạo động đánh bom các cơ sở của chính phủ. Năm 1962 ông bị bắt, bị truy tố về tội phá hoại và âm mưu lật đổ chính phủ và bị kết án chung thân. Do vận động quốc tế, năm 1990 ông được trả tự do sau 28 năm tù đày.
Ra khỏi nhà tù, năm 1991 ông được bầu làm chủ tịch ANC, và với tư cách này ông kiên nhẫn thương thuyết với Tổng Thống F. W. de Klerk bãi bỏ chế độ Apartheid và tổ chức bầu cử đa chủng lần đầu tiên năm 1994. Ðảng ANC thắng và ông Nelson Mandela trở thành vị tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi.
Ông làm tổng thống Nam Phi trong một nhiệm kỳ 5 năm (1994-1999). Trong nước ông thi hành một chính sách hòa giải chủng tộc giữa “người đen, trắng, Africaner, người Á Châu...”, qua đó giải thể dần các định chế kỳ thị do chế độ apartheid để lại, giải quyết nạn nghèo đói (cho người da đen) và san bằng sự chênh lệch đời sống kinh tế trong xã hội. Thái độ đáng yêu của ông là khéo léo dùng thể thao tạo một bộ mặt đoàn kết đen trắng tại Nam Phi. Người Africaners gốc Hòa Lan thích Rugby, ông đã biến Rugby thành một phong trào toàn quốc giúp đoàn lực sĩ Nam Phi toàn người da trắng giật giải vô địch Rugby thế giới năm 1995.
Trên mặt quốc tế ông dùng uy tín giúp dàn xếp vụ án vụ nổ bom Pan Am Flight 103 giữa Anh và Lybia.
Mãn nhiệm tổng thống năm 1999 ông không ra tái ứng cử (dù sự đắc cử ông nắm trong tay) và dành thì giờ vào các công việc từ thiện. Ông thành lập Viện Nelson Mandela lo việc chống bệnh HIV/AIDS và nạn nghèo khó.
Ông Mandela chứng tỏ là một người có một tấm lòng khoan dung lớn và một cái nhìn rộng. Khi cầm quyền ông không biến 28 năm tù đày thành thù hận mà biến nó thành một tinh thần hòa giải, giúp mang lại sự ổn định quốc gia tránh một cuộc nội chiến chủng tộc và đóng góp không ít cho nền hòa bình thế giới. Mặc dù Nam Phi hôm nay vẫn còn là một xã hội nhiều giai cấp và bất công(1), người ta tin rằng nếu không có ông Mandela, Nam Phi đã trở thành một xã hội băng hoại hơn.
Mặc dù đời sống chính trị và cá nhân của ông cũng có nhiều điểm để nhìn lại như liên kết với đảng Cộng sản thời kỳ đấu tranh bạo động. Và khi cầm quyền không kềm chế nổi bà Winnie, vợ ông - tuy từng trung thành và chia sẻ gian lao với ông trong cuộc đấu tranh - lạm dụng chức vụ và uy tín của ông làm nhiều điều trái phép buộc ông ly dị bà năm 1996.
Tuy nhiên không ai ngạc nhiên khi thấy ông Mandela được 250 giải thưởng quốc tế đủ loại trong đó có Huy Chương Tự Do của tổng thống Mỹ, Huy chương Lenin của Liên Bang Xô Viết và cao quý nhất là giải hòa bình Nobel năm 1993. Và “Phong Trào Không Liên Kết” (Non-Aligned Movement) bầu ông làm tổng thư ký phong trào nhiệm kỳ 1998-1999. Riêng với người Nam Phi ông Nelson Mandela xứng đáng là một vị “Cha Già Dân Tộc.”
Xin hãy cùng cầu nguyện cho ông!
Trần Bình Nam
Ghi chú: (6 tháng 12 năm 2013): Bài này viết ngày 28 tháng 6, 2013, mấy tuần lễ sau khi ông Nelson Mandela vào bệnh viện.
Sau 3 tháng điều trị, tháng 9 ông được đưa về dưỡng bệnh tại tư gia ở Johannesburg. Ông qua đời ngày Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013
vào lúc 8:50PM giờ Nam Phi. Hãy xin một phút cầu nguyện cho cố Tổng Thống Nelson Mandela.

Một phụ nữ Iran đặt bó hoa tưởng niệm ông Nelson Mandela vào cổng Tòa Ðại Sứ Nam Phi ở thủ đô Tehran. (Hình: Majid Saeedi/Getty Images)
Nelson Mandela, nhà tranh đấu thành công bãi bỏ chế độ phân biệt chủng tộc apartheid ở Nam Phi đang hấp hối tại một bệnh viện ở thủ đô Pretoria. Mấy NelsonMandela tháng gần đây ông ra vào khẩn cấp bệnh viện nhiều lần. Ngày 8 tháng 6 ông lại vào bệnh viện vì phổi bị nhiễm trùng và bệnh tình đang trở nên trầm trọng. Sáng Thứ Hai, 24 tháng 6, Tổng Thống Jacob Zuma vào thăm ông Mandela và sau đó nói với dân chúng Nam Phi rằng người anh hùng của đất nước tuổi đời đã cao, và điều tốt nhất là hãy cầu nguyện cho ông.
Nhiều vị lãnh đạo trên thế giới đang chuẩn bị lịch trình đến Pretoria chào vị anh hùng Nam Phi lần cuối, nếu mệnh Trời đòi hỏi ông phải ra đi. Tổng Thống Barak Obama đang công du Phi Châu, theo chương trình sẽ dừng chân tại Petroria, nơi ông Mandela đang được chữa trị. Tuy nhiên, Tổng Thống Obama có đích thân thăm ông Mandela ở bệnh viện không còn tùy tình trạng sức khỏe của ông Mandela và ý muốn của thân nhân. Trên đường từ Senegal đến Nam Phi, Tổng Thống Obama nói: “Không riêng tôi, mà ai cũng đều đồng ý rằng ông Nelson Mandela là một vị anh hùng thế giới.”
Ông Mandela năm nay 94 tuổi. Ông mang trong lồng ngực một quả tim nhân bản, quả cảm, yêu đời, yêu người, sống trọn tình nghĩa với đồng bào và đất nước, ông Mandela ra đi là một mất mát lớn không những cho nhân dân Nam Phi, mà là một mất mát lớn cho nhân loại như người đi biển bỗng mất một ngọn hải đăng.
Nam Phi, một nước rộng gần 4 lần diện tích Việt Nam nằm ở cực Nam Phi Châu do người Hòa Lan đến chiếm làm thuộc địa giữa thế kỷ 17. Ðầu thế kỷ 20 người Anh đánh thắng người Hòa Lan và thành lập nước Nam Phi. Người gốc Hòa Lan tại Nam Phi được gọi là người Afrikaner. Năm 1948 người Anh thiết lập một chế độ kỳ thị chủng tộc phân chia đen trắng thành hai giai cấp quy định bằng luật gọi là chế độ “Apartheid.” Người đen không được sống chung đụng với người da trắng, và sống trong những khu riêng biệt gọi là các Townships.
Năm 1976, người đen tại các Townships đồng loạt nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Ðảng Quốc Gia Phi Châu (African National Congress - ANC) trong đó Luật Sư Nelson Mandela là một thành phần lãnh đạo chủ chốt.
Ông Nelson Mandela sinh ngày18 tháng 7 năm 1918 trong một gia đình vọng tộc thuộc bộ lạc Thembu. Ông học luật tại hai đại học Fort Hare và Witwatersrand. Trở thành luật sư ông sống và hành nghề tại Johannesburgs. Khoảng thập niên 1940 ông gia nhập đảng ANC, một đảng chính trị thoát thai từ Ðảng Quốc Gia của Người Bản xứ (The South African Native National Congress) được thành lập từ năm 1912 khi người Hòa Lan còn áp dụng một chế độ thuộc địa cởi mở.
Sau khi người Anh thiết lập chế độ Apartheid, năm 1952 ông Mandela cầm đầu cuộc đấu tranh chống chế độ kỳ thị bằng phương pháp bất bạo động. Sau đó ông đổi phương pháp hợp tác với đảng Cộng sản Nam Phi thành lập tổ chức Umkhonto we Sizwe, bạo động đánh bom các cơ sở của chính phủ. Năm 1962 ông bị bắt, bị truy tố về tội phá hoại và âm mưu lật đổ chính phủ và bị kết án chung thân. Do vận động quốc tế, năm 1990 ông được trả tự do sau 28 năm tù đày.
Ra khỏi nhà tù, năm 1991 ông được bầu làm chủ tịch ANC, và với tư cách này ông kiên nhẫn thương thuyết với Tổng Thống F. W. de Klerk bãi bỏ chế độ Apartheid và tổ chức bầu cử đa chủng lần đầu tiên năm 1994. Ðảng ANC thắng và ông Nelson Mandela trở thành vị tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi.
Ông làm tổng thống Nam Phi trong một nhiệm kỳ 5 năm (1994-1999). Trong nước ông thi hành một chính sách hòa giải chủng tộc giữa “người đen, trắng, Africaner, người Á Châu...”, qua đó giải thể dần các định chế kỳ thị do chế độ apartheid để lại, giải quyết nạn nghèo đói (cho người da đen) và san bằng sự chênh lệch đời sống kinh tế trong xã hội. Thái độ đáng yêu của ông là khéo léo dùng thể thao tạo một bộ mặt đoàn kết đen trắng tại Nam Phi. Người Africaners gốc Hòa Lan thích Rugby, ông đã biến Rugby thành một phong trào toàn quốc giúp đoàn lực sĩ Nam Phi toàn người da trắng giật giải vô địch Rugby thế giới năm 1995.
Trên mặt quốc tế ông dùng uy tín giúp dàn xếp vụ án vụ nổ bom Pan Am Flight 103 giữa Anh và Lybia.
Mãn nhiệm tổng thống năm 1999 ông không ra tái ứng cử (dù sự đắc cử ông nắm trong tay) và dành thì giờ vào các công việc từ thiện. Ông thành lập Viện Nelson Mandela lo việc chống bệnh HIV/AIDS và nạn nghèo khó.
Ông Mandela chứng tỏ là một người có một tấm lòng khoan dung lớn và một cái nhìn rộng. Khi cầm quyền ông không biến 28 năm tù đày thành thù hận mà biến nó thành một tinh thần hòa giải, giúp mang lại sự ổn định quốc gia tránh một cuộc nội chiến chủng tộc và đóng góp không ít cho nền hòa bình thế giới. Mặc dù Nam Phi hôm nay vẫn còn là một xã hội nhiều giai cấp và bất công(1), người ta tin rằng nếu không có ông Mandela, Nam Phi đã trở thành một xã hội băng hoại hơn.
Mặc dù đời sống chính trị và cá nhân của ông cũng có nhiều điểm để nhìn lại như liên kết với đảng Cộng sản thời kỳ đấu tranh bạo động. Và khi cầm quyền không kềm chế nổi bà Winnie, vợ ông - tuy từng trung thành và chia sẻ gian lao với ông trong cuộc đấu tranh - lạm dụng chức vụ và uy tín của ông làm nhiều điều trái phép buộc ông ly dị bà năm 1996.
Tuy nhiên không ai ngạc nhiên khi thấy ông Mandela được 250 giải thưởng quốc tế đủ loại trong đó có Huy Chương Tự Do của tổng thống Mỹ, Huy chương Lenin của Liên Bang Xô Viết và cao quý nhất là giải hòa bình Nobel năm 1993. Và “Phong Trào Không Liên Kết” (Non-Aligned Movement) bầu ông làm tổng thư ký phong trào nhiệm kỳ 1998-1999. Riêng với người Nam Phi ông Nelson Mandela xứng đáng là một vị “Cha Già Dân Tộc.”
Xin hãy cùng cầu nguyện cho ông!
Phong Trào Bỏ Đảng
Tác giả : Trần Khải
Có thể xảy ra hiện tượng dây chuyển bỏ Đảng hay không? Nếu hàng chục ngàn đảng viên CSVN, hàng trăm ngàn đảng viên CSVN cùng tuyên bố rời bỏ Đảng CSVN... tất nhiên là Đảng này sẽ sụp đổ.
Nhưng hiện tượng này có thể tới bây giờ chưa? Và nếu chưa, thì bao giờ?
Một ngày sau khi Luật gia Lê Hiếu Đằng tuyên bố rời bỏ Đảng CSVN, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng cũng tuyên bố tương tự.
Có một điều chúng ta biết rằng, đã có nhiều người rời bỏ đảng CSVN một cách lặng lẽ, từ lâu rồi.
Nhưng việc hai nhà tư tưởng này, những người đã từng viết các bài viết phân tích về nhu cầu dân chủ hóa đất nươc, là một vết rạn nứt lớn trên bức trường thành của CSVN. Vấn đề là, bao giờ thành trì CSVN sẽ sụp đổ?
Tiến sĩ Phạm Chí Dũng trả lời trên đaì RFA về việc ông rời bỏ Đảng CSVN, nói rằng ôngs uy nghĩ việc này lâu rồi, và Việt Nam có thể đi theo Myanmar (Miến Điện) để chính phủ tự đề ra lộ trình dân chủ hóa một cách hòa bình:
“Gia Minh (RFA): Như ông nói cái việc này cũng đã được ấp ủ suy nghĩ từ lâu nay và cần phải có một cơ chế mới thay thế cho cái cũ. Theo ông thì cơ chế như thế nào có thể đáp ứng được cho tình hình hiện nay mà mọi người cần nên theo ạ?
Ông Phạm Chí Dũng (từ Sài Gòn): Dứt khoát là phải có đối trọng về mặt chính trị. Có điều là đối trọng như thế nào, đó là cơ chế hoàn toàn sương mù trong thời điểm hiện nay tại Việt Nam. Cho đến lúc này thì nhà nước Việt Nam mới đặt ra vấn đề nhà nước pháp quyền nhưng vẫn chưa thừa nhận chuyện tam quyền phân lập. Không tam quyền phân lập thì làm sao có được nhà nước pháp quyền. Thực ra chỉ là trò chơi chữ để người ta kéo dài thời gian. Kéo dài thời gian thì được lợi cho ai? Chẳng được lợi cho ai cả, lẫn nhà nước và người dân. Tất cả đều khủng hoảng từ xã hội đến kinh tế trong những năm sắp tới. Tất cả đều bị kéo theo. Vì vậy vấn đề là cần phải hành động ngay, cần phải giải quyết ngay. Rất may mắn là Việt Nam đã có một tiền lệ đó là kịch bản Myanmar.
Vấn đề đặt ra là Myanmar có thuận tiện, thuận lợi và những ứng lợi nào đối với Việt Nam trong thời gian tới. Chính lãnh đạo nhà nước Việt Nam cần rút ra điều đó vì kết quả của Myanmar đã thấy rõ rằng chính quyền tổng thống Thein Sein gần như không mất gì cả. Họ giữ nguyên được quyền lực, quyền lợi và những chiến công mà không gặp phải sự phản đối của cộng đồng Myamar ở nước ngoài.
Họ chỉ cần thêm một chút dân chủ và nhân quyền cho người dân mà thôi. Những người lãnh đạo Việt Nam nên nhìn đó để có được phương án và giải pháp tối ưu cho Việt Nam trong thời gian sắp tới. Còn lại như thế nào thì tùy thuộc vào bản lĩnh và trí khôn của họ. Tuy nhiên tôi e rằng trong hoàn cảnh này thì khó có thể có được sự sáng tạo đột biến nào trong giới lãnh đạo chính trị của Việt Nam...”(hết trích)
Tuy nhiên, bao giờ có ánh sáng dân chủ?
TS Phạm Chí Dũng nói trên RFA: “Nếu những cơn sóng nhỏ kết tụ lại với nhau thì có thể dẫn đến một cơn sóng lớn và nó sẽ tốt hơn cho xã hội dân chủ của Việt Nam trong tương lai. Theo tôi thì ít nhất là hai năm nữa mới có thể nhìn ra được ánh sáng.”
Hai năm? Cần tới 2 năm?
Lúc đó, sẽ có thêm nhiều tù nhân lương tâm chết trong trại giam. Ai sẽ chịu trách nhiệm về những cái chết này, trong khi lẽ ra họ từ bây giờ đã xứng đáng được đưa ra thế giới để vinh danh như những Lech Walesa, như những Nelson Mandela...
Và một ngày sau khi Tiến sĩ Phạm Chí Dũng tuyên bố bỏ Đảng, Bác sĩ Nha khoa Nguyễn Đắc Diên cũng thông báo trên trang Bauxiet VN qua bản văn tưạ đề “Thông Báo Công Khai Từ Bỏ Đảng,” trong đó, Bác sĩ Nha khia Nguyễn Đắc Diên viết:
“Xuất thân trong một gia đình có truyền thống chống các kiểu thực dân và áp bức, sau 1954 tuy sống ở đô thị miền Nam nhưng gia đình tôi là cơ sở CM nội thành, đã được tặng thưởng Huân Chương Kháng Chiến Hạng Nhất theo QĐ số 801/HĐNN, có Giấy Chứng Nhận Người Có Công Với Cách Mạng. Thế nên đã một thời, tôi cũng từng tràn đầy nhiệt huyết với khát vọng đồng hành cùng Đảng xây dựng một đất nước công bằng dân chủ và văn minh.
Song tất cả những gì mà Đảng Cộng sản đã thể hiện từ ngày Bắc Nam thống nhất khiến tôi đi từ thất vọng đến thất vọng khác.
Tôi không tin Đảng sẽ dẫn dắt dân tộc cập được bến bờ vinh quang bằng các cương lĩnh kiểu như cương lĩnh 1991, hiến pháp 2013. Bởi đó là những cương lĩnh u ám, những hiến pháp tiểu xảo.
Với thỏa ước Thành Đô 9/1990, Đảng đã đánh mất cơ hội ngàn vàng trong sự nghiệp bảo toàn chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ khi sống cạnh một nước lớn có tiền sử hàng ngàn năm áp chế dân tộc Việt...”(hết trích)
Tuy nhiên, bản tin BBC đã ghi lời phỏng vấn một chuyên gia, cho thấy một khía cạnh mới, rằng Đảng CSVN là phi pháp.
BBC viết:
“Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên thành viên Ban Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ nói:
"Cho đến nay vẫn chưa có luật về thành lập và đăng ký các đảng, còn Đảng viên Đảng CSVN muốn rời khỏi đảng thì đó là quyền mà trong điều lệ Đảng CSVN cũng đã cho phép, cho nên cái điều ấy là điều bình thường. Còn việc họ có lập được đảng hay không thì đấy lại là một vấn đề khác...
Tuy nhiên, theo Tiến sỹ Doanh, chính Đảng Cộng sản đã được thành lập mà chưa hề đăng ký ở đâu cả.
Ông nhấn mạnh: "Việt nam chưa có luật về đảng và bản thân Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không hề có đăng ký, và cũng chưa hề có một cái luật về Đảng Cộng sản Việt Nam."...”(hết trích)
Cũng có một thực tế: Chế độ CSVN dựa vào bạo lực công an và quân đội, bao giờ làn sóng bỏ đảng lan rộng được trong 2 lực lượng này, lúc đó mới có thể chuyển hướng VN nhanh chóng được.
Hãy nhớ, cáng để trễ bước đi dân chủ, sẽ có thêm nhiều tù nhân lương tâm ngã bệnh, và có thể sẽ mất mạng trong tù. Đó là điều tiếc nhất, vì họ vẫn luôn luôn là những đứa con ưu tú của dân tộc.
Tác giả : Trần Khải
Có thể xảy ra hiện tượng dây chuyển bỏ Đảng hay không? Nếu hàng chục ngàn đảng viên CSVN, hàng trăm ngàn đảng viên CSVN cùng tuyên bố rời bỏ Đảng CSVN... tất nhiên là Đảng này sẽ sụp đổ.
Nhưng hiện tượng này có thể tới bây giờ chưa? Và nếu chưa, thì bao giờ?
Một ngày sau khi Luật gia Lê Hiếu Đằng tuyên bố rời bỏ Đảng CSVN, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng cũng tuyên bố tương tự.
Có một điều chúng ta biết rằng, đã có nhiều người rời bỏ đảng CSVN một cách lặng lẽ, từ lâu rồi.
Nhưng việc hai nhà tư tưởng này, những người đã từng viết các bài viết phân tích về nhu cầu dân chủ hóa đất nươc, là một vết rạn nứt lớn trên bức trường thành của CSVN. Vấn đề là, bao giờ thành trì CSVN sẽ sụp đổ?
Tiến sĩ Phạm Chí Dũng trả lời trên đaì RFA về việc ông rời bỏ Đảng CSVN, nói rằng ôngs uy nghĩ việc này lâu rồi, và Việt Nam có thể đi theo Myanmar (Miến Điện) để chính phủ tự đề ra lộ trình dân chủ hóa một cách hòa bình:
“Gia Minh (RFA): Như ông nói cái việc này cũng đã được ấp ủ suy nghĩ từ lâu nay và cần phải có một cơ chế mới thay thế cho cái cũ. Theo ông thì cơ chế như thế nào có thể đáp ứng được cho tình hình hiện nay mà mọi người cần nên theo ạ?
Ông Phạm Chí Dũng (từ Sài Gòn): Dứt khoát là phải có đối trọng về mặt chính trị. Có điều là đối trọng như thế nào, đó là cơ chế hoàn toàn sương mù trong thời điểm hiện nay tại Việt Nam. Cho đến lúc này thì nhà nước Việt Nam mới đặt ra vấn đề nhà nước pháp quyền nhưng vẫn chưa thừa nhận chuyện tam quyền phân lập. Không tam quyền phân lập thì làm sao có được nhà nước pháp quyền. Thực ra chỉ là trò chơi chữ để người ta kéo dài thời gian. Kéo dài thời gian thì được lợi cho ai? Chẳng được lợi cho ai cả, lẫn nhà nước và người dân. Tất cả đều khủng hoảng từ xã hội đến kinh tế trong những năm sắp tới. Tất cả đều bị kéo theo. Vì vậy vấn đề là cần phải hành động ngay, cần phải giải quyết ngay. Rất may mắn là Việt Nam đã có một tiền lệ đó là kịch bản Myanmar.
Vấn đề đặt ra là Myanmar có thuận tiện, thuận lợi và những ứng lợi nào đối với Việt Nam trong thời gian tới. Chính lãnh đạo nhà nước Việt Nam cần rút ra điều đó vì kết quả của Myanmar đã thấy rõ rằng chính quyền tổng thống Thein Sein gần như không mất gì cả. Họ giữ nguyên được quyền lực, quyền lợi và những chiến công mà không gặp phải sự phản đối của cộng đồng Myamar ở nước ngoài.
Họ chỉ cần thêm một chút dân chủ và nhân quyền cho người dân mà thôi. Những người lãnh đạo Việt Nam nên nhìn đó để có được phương án và giải pháp tối ưu cho Việt Nam trong thời gian sắp tới. Còn lại như thế nào thì tùy thuộc vào bản lĩnh và trí khôn của họ. Tuy nhiên tôi e rằng trong hoàn cảnh này thì khó có thể có được sự sáng tạo đột biến nào trong giới lãnh đạo chính trị của Việt Nam...”(hết trích)
Tuy nhiên, bao giờ có ánh sáng dân chủ?
TS Phạm Chí Dũng nói trên RFA: “Nếu những cơn sóng nhỏ kết tụ lại với nhau thì có thể dẫn đến một cơn sóng lớn và nó sẽ tốt hơn cho xã hội dân chủ của Việt Nam trong tương lai. Theo tôi thì ít nhất là hai năm nữa mới có thể nhìn ra được ánh sáng.”
Hai năm? Cần tới 2 năm?
Lúc đó, sẽ có thêm nhiều tù nhân lương tâm chết trong trại giam. Ai sẽ chịu trách nhiệm về những cái chết này, trong khi lẽ ra họ từ bây giờ đã xứng đáng được đưa ra thế giới để vinh danh như những Lech Walesa, như những Nelson Mandela...
Và một ngày sau khi Tiến sĩ Phạm Chí Dũng tuyên bố bỏ Đảng, Bác sĩ Nha khoa Nguyễn Đắc Diên cũng thông báo trên trang Bauxiet VN qua bản văn tưạ đề “Thông Báo Công Khai Từ Bỏ Đảng,” trong đó, Bác sĩ Nha khia Nguyễn Đắc Diên viết:
“Xuất thân trong một gia đình có truyền thống chống các kiểu thực dân và áp bức, sau 1954 tuy sống ở đô thị miền Nam nhưng gia đình tôi là cơ sở CM nội thành, đã được tặng thưởng Huân Chương Kháng Chiến Hạng Nhất theo QĐ số 801/HĐNN, có Giấy Chứng Nhận Người Có Công Với Cách Mạng. Thế nên đã một thời, tôi cũng từng tràn đầy nhiệt huyết với khát vọng đồng hành cùng Đảng xây dựng một đất nước công bằng dân chủ và văn minh.
Song tất cả những gì mà Đảng Cộng sản đã thể hiện từ ngày Bắc Nam thống nhất khiến tôi đi từ thất vọng đến thất vọng khác.
Tôi không tin Đảng sẽ dẫn dắt dân tộc cập được bến bờ vinh quang bằng các cương lĩnh kiểu như cương lĩnh 1991, hiến pháp 2013. Bởi đó là những cương lĩnh u ám, những hiến pháp tiểu xảo.
Với thỏa ước Thành Đô 9/1990, Đảng đã đánh mất cơ hội ngàn vàng trong sự nghiệp bảo toàn chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ khi sống cạnh một nước lớn có tiền sử hàng ngàn năm áp chế dân tộc Việt...”(hết trích)
Tuy nhiên, bản tin BBC đã ghi lời phỏng vấn một chuyên gia, cho thấy một khía cạnh mới, rằng Đảng CSVN là phi pháp.
BBC viết:
“Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên thành viên Ban Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ nói:
"Cho đến nay vẫn chưa có luật về thành lập và đăng ký các đảng, còn Đảng viên Đảng CSVN muốn rời khỏi đảng thì đó là quyền mà trong điều lệ Đảng CSVN cũng đã cho phép, cho nên cái điều ấy là điều bình thường. Còn việc họ có lập được đảng hay không thì đấy lại là một vấn đề khác...
Tuy nhiên, theo Tiến sỹ Doanh, chính Đảng Cộng sản đã được thành lập mà chưa hề đăng ký ở đâu cả.
Ông nhấn mạnh: "Việt nam chưa có luật về đảng và bản thân Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không hề có đăng ký, và cũng chưa hề có một cái luật về Đảng Cộng sản Việt Nam."...”(hết trích)
Cũng có một thực tế: Chế độ CSVN dựa vào bạo lực công an và quân đội, bao giờ làn sóng bỏ đảng lan rộng được trong 2 lực lượng này, lúc đó mới có thể chuyển hướng VN nhanh chóng được.
Hãy nhớ, cáng để trễ bước đi dân chủ, sẽ có thêm nhiều tù nhân lương tâm ngã bệnh, và có thể sẽ mất mạng trong tù. Đó là điều tiếc nhất, vì họ vẫn luôn luôn là những đứa con ưu tú của dân tộc.
Nói với người đảng viên Cộng Sản
Ðặng Văn Âu Ở tuổi thanh niên, tôi không hiểu một chút gì về lý thuyết chủ nghĩa Mác-Lê, nhưng tôi ghê tởm sự man rợ của cộng sản, vì chứng kiến tận mắt hai việc mà tôi từng tường thuật trong nhiều bài viết trước đây. Xin lược qua: Thứ nhất, thấy hai cán bộ cộng sản chặt đầu một ông phu xe kéo trong làng vì tội kéo xe cho Tây; thứ hai, thấy hai cán bộ cộng sản dùng tảng đá lớn đập vỡ óc một thiếu niên vì tội mang trên túi áo trắng hai cây bút bi màu xanh đỏ, bị tình nghi là mật thám Pháp vì có ám hiệu cờ Thực dân xanh, trắng đỏ. Nghe bà con di cư kể chuyện gia đình mình bị đấu tố khốc liệt vì tội địa chủ và đọc sách Nhân Văn Giai Phẩm do cụ Hoàng Văn Chí biên soạn, tôi quyết định mình phải chống Cộng bằng cách tham gia vào một tổ chức quốc gia để được huấn luyện phương thức đấu tranh về mặt lý thuyết và về mặt hành động.
Tôi gia nhập đảng Ðại Việt mà lãnh tụ là Trương Tử Anh đã bị cộng sản thủ tiêu. Trong buổi lễ tuyên thệ, sau khi hoàn tất thủ tục nghi thức, anh cán bộ an ninh đưa cao khẩu súng Colt-45 lên trước mặt tôi và nói: “Kể từ giờ phát đồng chí là đoàn viên của tổ chức. Ðồng chí có nghĩa vụ tuân hành kỷ luật và tuyệt đối giữ bí mật đoàn thể”. Tôi nhìn thẳng vào mắt anh cán bộ an ninh và đáp: “Tôi xin cương quyết trung thành với tổ chức để phụng sự tổ quốc. Nhưng nếu ngày nào tổ chức đi ngược lại quyền lợi của tổ quốc, dân tộc, tôi sẽ là người đầu tiên bước ra khỏi đảng và quyết liệt chống lại đảng”.
Anh chi bộ trưởng nhận lời tuyên thệ của tôi nghe thấy tôi tuyên bố mạnh mẽ như vậy, liền trấn an tôi bằng giọng nói ôn tồn: “Ðồng chí Bằng Phong an tâm. Ðảng ta không bao giờ đi ngược lại quyền lợi tổ quốc”.
Tôi đã ngưng sinh hoạt đảng Ðại Việt hơn mười lăm năm nay, mặc dầu đảng chưa có hành động nào đi ngược lại quyền lợi tổ quốc, nhưng vì sự phân hóa trong đảng quá trầm trọng làm tiêu tan nội lực.
Cùng các bạn đảng viên Cộng sản,
Tôi vắn tắt thuật lại quá trình của tôi để nói với các bạn một điều: Tôi coi đảng chỉ là phương tiện để phụng sự tổ quốc và dân tộc. Nghĩa là đảng, đối với tôi, không phải là cứu cánh. Tôi tham gia vào đảng không nhằm mục đích hưởng đặc quyền, đặc lợi. Tôi cần có một tổ chức để có sức mạnh chống lại độc tài, nhất là độc tài cộng sản.
Hoa Kỳ có hai đảng: Dân Chủ có xu hướng tự do (liberal) và Cộng Hòa có xu hướng bảo thủ (conservative). Một đảng viên Dân Chủ khi thấy đảng mình tự do qua trớn có thể rời bỏ và nhảy sang đảng Cộng Hòa, hoặc ngược lại. Một đảng viên Dân Chủ có thể bỏ phiếu cho một ứng cử viên Cộng Hòa, hoặc ngược lại. Không ai bị kết tội phản đảng.
Cái câu khẩu hiệu của công an cộng sản “Còn Ðảng Còn Mình” cho các bạn thấy đó là những phần tử bám vào đảng để trục lợi, để vơ vét, để đàn áp người yêu nước, dù đảng đang manh tâm dâng tổ quốc cho kẻ thù truyền kiếp phương Bắc cũng mặc. Trước kia đảng cộng sản dựa vào nhân dân để đánh Pháp, đánh Mỹ hao tổn hàng triệu người, nhưng không mang lại độc lập như đã hứa hẹn. Nay thì đảng nhất nhất cúi đầu làm theo lệnh Trung Cộng. Trước mắt, Việt Nam đang dần dần bị rơi vào sự khống chế của Tàu.
Cho đến khi đất nước lệ thuộc Tàu hoàn toàn, chắc chắn cái đảng của các bạn cũng không còn. Và nếu không chịu nổi sự thống trị bất nhân bất nghĩa của Tàu, các bạn cũng khó lòng vượt biển đi tìm tự do vì ngoài biển Ðông đã bị Tàu phong tỏa. Và thế giới tự do cũng không đón tiếp các bạn.
Sau 40 năm hết lòng phục vụ đảng, ông Lê Hiếu Ðằng đã nhìn thấy bộ mặt thật của đảng cộng sản. Tiếp theo đó, Tiến Sĩ Phạm Chí Dũng, mộ
t nhà trí thức lương thiện muốn dốc lòng phụ vụ đảng cũng không thể chịu đựng nổi sự chuyên quyền và tham ô của đảng, đã phải đành từ bỏ đảng.
Ngày xưa, Tố Hữu ví người cộng sản như là một cái gì tinh túy bằng bài thơ như sau:
“Ðã là hoa, phải là hoa hướng dương.
Ðã là chim, phải là chim bồ câu trắng.
Ðã là đá, phải là đá hoa cương,
Ðã là Người, phải là Người Cộng Sản.”
Bộ mặt thật của đảng Cộng sản ra sao thì các bạn đã rõ rồi. Qua những câu đồng giao, nhân dân đã ví người cộng sản là hạng người thế nào thì các bạn cũng đã nghe. Bây giờ các bạn muốn quần chúng đánh giá là Người thì phải đổi câu thơ cuối cùng của Tố Hữu như sau: “Ðã là Người, đừng làm người cộng sản”.
Con người là sinh vật được trời sinh ra và ban cho khả năng có lý trí để biết phân biệt điều gì tốt, điều gì xấu. Ở lỳ trong đảng, các bạn có thể hưởng đặc quyền, đặc lợi. Nhưng chắc sẽ không bền, bởi vì một tập đoàn lãnh đạo hèn với giặc, ác với dân thì sẽ mất mát toàn bộ chỉ là vấn đề thời gian. Ðây là lời nói đầy kinh nghiệm của một kẻ đã mất nước Việt Nam Cộng Hòa; chứ không phải là người xúi dại để hại bạn.
Tôi thực tình khuyên bạn, hãy sớm quyết định lìa bỏ chủ nghĩa xã hội, ra khỏi đảng ngay lập tức. Ðừng chờ tới lúc nằm trên giường bệnh như ông Lê Hiếu Ðằng thì đã quá muộn. Thương tâm lắm!
Ðặng Văn Âu
Ðặng Văn Âu Ở tuổi thanh niên, tôi không hiểu một chút gì về lý thuyết chủ nghĩa Mác-Lê, nhưng tôi ghê tởm sự man rợ của cộng sản, vì chứng kiến tận mắt hai việc mà tôi từng tường thuật trong nhiều bài viết trước đây. Xin lược qua: Thứ nhất, thấy hai cán bộ cộng sản chặt đầu một ông phu xe kéo trong làng vì tội kéo xe cho Tây; thứ hai, thấy hai cán bộ cộng sản dùng tảng đá lớn đập vỡ óc một thiếu niên vì tội mang trên túi áo trắng hai cây bút bi màu xanh đỏ, bị tình nghi là mật thám Pháp vì có ám hiệu cờ Thực dân xanh, trắng đỏ. Nghe bà con di cư kể chuyện gia đình mình bị đấu tố khốc liệt vì tội địa chủ và đọc sách Nhân Văn Giai Phẩm do cụ Hoàng Văn Chí biên soạn, tôi quyết định mình phải chống Cộng bằng cách tham gia vào một tổ chức quốc gia để được huấn luyện phương thức đấu tranh về mặt lý thuyết và về mặt hành động.
Tôi gia nhập đảng Ðại Việt mà lãnh tụ là Trương Tử Anh đã bị cộng sản thủ tiêu. Trong buổi lễ tuyên thệ, sau khi hoàn tất thủ tục nghi thức, anh cán bộ an ninh đưa cao khẩu súng Colt-45 lên trước mặt tôi và nói: “Kể từ giờ phát đồng chí là đoàn viên của tổ chức. Ðồng chí có nghĩa vụ tuân hành kỷ luật và tuyệt đối giữ bí mật đoàn thể”. Tôi nhìn thẳng vào mắt anh cán bộ an ninh và đáp: “Tôi xin cương quyết trung thành với tổ chức để phụng sự tổ quốc. Nhưng nếu ngày nào tổ chức đi ngược lại quyền lợi của tổ quốc, dân tộc, tôi sẽ là người đầu tiên bước ra khỏi đảng và quyết liệt chống lại đảng”.
Anh chi bộ trưởng nhận lời tuyên thệ của tôi nghe thấy tôi tuyên bố mạnh mẽ như vậy, liền trấn an tôi bằng giọng nói ôn tồn: “Ðồng chí Bằng Phong an tâm. Ðảng ta không bao giờ đi ngược lại quyền lợi tổ quốc”.
Tôi đã ngưng sinh hoạt đảng Ðại Việt hơn mười lăm năm nay, mặc dầu đảng chưa có hành động nào đi ngược lại quyền lợi tổ quốc, nhưng vì sự phân hóa trong đảng quá trầm trọng làm tiêu tan nội lực.
Cùng các bạn đảng viên Cộng sản,
Tôi vắn tắt thuật lại quá trình của tôi để nói với các bạn một điều: Tôi coi đảng chỉ là phương tiện để phụng sự tổ quốc và dân tộc. Nghĩa là đảng, đối với tôi, không phải là cứu cánh. Tôi tham gia vào đảng không nhằm mục đích hưởng đặc quyền, đặc lợi. Tôi cần có một tổ chức để có sức mạnh chống lại độc tài, nhất là độc tài cộng sản.
Hoa Kỳ có hai đảng: Dân Chủ có xu hướng tự do (liberal) và Cộng Hòa có xu hướng bảo thủ (conservative). Một đảng viên Dân Chủ khi thấy đảng mình tự do qua trớn có thể rời bỏ và nhảy sang đảng Cộng Hòa, hoặc ngược lại. Một đảng viên Dân Chủ có thể bỏ phiếu cho một ứng cử viên Cộng Hòa, hoặc ngược lại. Không ai bị kết tội phản đảng.
Cái câu khẩu hiệu của công an cộng sản “Còn Ðảng Còn Mình” cho các bạn thấy đó là những phần tử bám vào đảng để trục lợi, để vơ vét, để đàn áp người yêu nước, dù đảng đang manh tâm dâng tổ quốc cho kẻ thù truyền kiếp phương Bắc cũng mặc. Trước kia đảng cộng sản dựa vào nhân dân để đánh Pháp, đánh Mỹ hao tổn hàng triệu người, nhưng không mang lại độc lập như đã hứa hẹn. Nay thì đảng nhất nhất cúi đầu làm theo lệnh Trung Cộng. Trước mắt, Việt Nam đang dần dần bị rơi vào sự khống chế của Tàu.
Cho đến khi đất nước lệ thuộc Tàu hoàn toàn, chắc chắn cái đảng của các bạn cũng không còn. Và nếu không chịu nổi sự thống trị bất nhân bất nghĩa của Tàu, các bạn cũng khó lòng vượt biển đi tìm tự do vì ngoài biển Ðông đã bị Tàu phong tỏa. Và thế giới tự do cũng không đón tiếp các bạn.
Sau 40 năm hết lòng phục vụ đảng, ông Lê Hiếu Ðằng đã nhìn thấy bộ mặt thật của đảng cộng sản. Tiếp theo đó, Tiến Sĩ Phạm Chí Dũng, mộ
t nhà trí thức lương thiện muốn dốc lòng phụ vụ đảng cũng không thể chịu đựng nổi sự chuyên quyền và tham ô của đảng, đã phải đành từ bỏ đảng.
Ngày xưa, Tố Hữu ví người cộng sản như là một cái gì tinh túy bằng bài thơ như sau:
“Ðã là hoa, phải là hoa hướng dương.
Ðã là chim, phải là chim bồ câu trắng.
Ðã là đá, phải là đá hoa cương,
Ðã là Người, phải là Người Cộng Sản.”
Bộ mặt thật của đảng Cộng sản ra sao thì các bạn đã rõ rồi. Qua những câu đồng giao, nhân dân đã ví người cộng sản là hạng người thế nào thì các bạn cũng đã nghe. Bây giờ các bạn muốn quần chúng đánh giá là Người thì phải đổi câu thơ cuối cùng của Tố Hữu như sau: “Ðã là Người, đừng làm người cộng sản”.
Con người là sinh vật được trời sinh ra và ban cho khả năng có lý trí để biết phân biệt điều gì tốt, điều gì xấu. Ở lỳ trong đảng, các bạn có thể hưởng đặc quyền, đặc lợi. Nhưng chắc sẽ không bền, bởi vì một tập đoàn lãnh đạo hèn với giặc, ác với dân thì sẽ mất mát toàn bộ chỉ là vấn đề thời gian. Ðây là lời nói đầy kinh nghiệm của một kẻ đã mất nước Việt Nam Cộng Hòa; chứ không phải là người xúi dại để hại bạn.
Tôi thực tình khuyên bạn, hãy sớm quyết định lìa bỏ chủ nghĩa xã hội, ra khỏi đảng ngay lập tức. Ðừng chờ tới lúc nằm trên giường bệnh như ông Lê Hiếu Ðằng thì đã quá muộn. Thương tâm lắm!
Ðặng Văn Âu
Nam Phi tổ chức lễ tưởng niệm Mandela
Nhiều nhà lãnh đạo thế giới và hàng chục nghìn người dân Nam Phi hôm nay bất chấp thời tiết gió rét và mưa đã có mặt
tại sân vận động ở Johannesburg để tham dự lễ tưởng niệm cựu tổng thống Nelson Mandela vừa qua đời hôm 5/12.

Nam Phi tổ chức lễ tưởng niệm lớn dành cho cố tổng thống Nelson Mandela tại sân vận động ở Johannesburg. Ảnh: AP
Lễ tưởng niệm bắt đầu vào buổi trưa (tối nay theo giờ Hà Nội) tại sân vận động FNB ở Soweto, một thị trấn ở Johannesburg từng ủng hộ phong trào chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheid mà ông Mandela theo đuổi cả cuộc đời.
Sân vận động 95.000 chỗ ngồi được lấp đầy hai phần ba và buổi lễ mở màn với tiếng hát quốc ca. Những lời ca ngợi và tiếng cổ vũ vang khắp sân. Trời đổ mưa và gió rét nhưng mưa được xem là phước lành đối với những người Nam Phi da đen nên trời mưa càng khiến họ reo hò và ca hát những lời ca ngợi nhiệt tình nhất. Cả sân vận động nhiều lần hô vang: "Nelson Mandela muôn năm".
Tổng thống Nam Phi Jacob Zuma có bài phát biểu tại buổi lễ. Nhiều lãnh đạo thế giới và đại diện các hoàng gia cùng nhiều người nổi tiếng tới tham dự. Trên khán đài vang lên tiếng kèn vuvuzelas đặc trưng của Nam Phi và những bài hát từ thời đấu tranh chống chủ nghĩa Apartheid từ thập kỷ trước.
Phát biểu trong tiếng hò reo của những người theo dõi tại sân vận động, Tổng thống Mỹ Barack Obama nói: "Cuộc đấu tranh của ông là cuộc đấu tranh của chúng ta. Chiến thắng của ông là chiến thắng của chúng ta".
Obama mô tả Mandela là "người khổng lồ của lịch sử", đã đưa đất nước của ông đến với công lý và truyền cảm hứng cho thế giới. Khi Obama bước lên đài diễn thuyết, ông bắt tay với Chủ tịch Cuba Raul Castro, hai nước từng là địch thù thời Chiến tranh Lạnh.
Đây là cái bắt tay lịch sử thứ hai giữa nhà lãnh đạo hai nước kể từ năm 1960. Cái bắt tay lịch sử đầu tiên giữa Chủ tịch Cuba Fidel Castro và cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton diễn ra tại Hội nghị Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc tháng 9/2000.
Thabo Mbeki, cựu tổng thống Nam Phi kế nhiệm Mandela, cũng được đám đông hò reo khi phát biểu. Tổng thống Pháp Francois Hollande và người tiền nhiệm, cũng là đối thủ của ông một thời, Nicolas Sarkozy, cùng đến một lúc. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon cúi chào đám đông và dành nhiều lời ca ngợi Mandela, người mà người dân Nam Phi coi là vị cha của đất nước.

Hàng chục nghìn người Nam Phi đội mưa tham dự lễ tưởng niệm Mandela. Bài ca ngợi của Tổng thống Mỹ Obama (màn hình lớn)
nhận được tiếng hò reo của những người trong sân vận động. Ảnh: AFP.
"Tôi sẽ không có cuộc đời ngày hôm nay nếu không có ông", Matlhogonolo Mothoagae, một nghiên cứu sinh có mặt tại sân vận động từ trước khi mở cửa rất lâu, nói. "Ông ấy đã bị giam để chúng tôi có được tự do".
Rohan Laird, 54 tuổi, giám đốc một công ty bảo hiểm, nói rằng là một người da trắng, ông lớn lên với một "vị trí đặc quyền", và Mandela giúp những người da trắng vượt qua được những mặc cảm tội lỗi.
"Sự hòa giải của ông cho phép người da trắng được giải thoát bản thân. Thực sự mà nói, tôi không nghĩ thế giới sẽ có được một người lãnh đạo nào khác như Nelson Mandela", Laird nói.
Vợ của ông Mandela, bà Graca Machel, và vợ cũ Winnie Madikizela-Mandela cũng có mặt tại sân vận động và ôm chào nhau trước khi diễn ra buổi lễ. Sự kiện còn có sự tham gia của nhiều người nổi tiếng như nữ diễn viên Charlize Theron, siêu mẫu, "viên ngọc đen" Naomi Campbell và ca sĩ Bono.
Hôm nay cũng là kỷ niệm 20 năm ngày Mandela và F.W. de Klerk, vị tổng thống cuối cùng của Nam Phi dưới chế độ Apartheid, nhận giải Nobel hòa bình. De Klerk ban đầu là đối thủ chính trị nhưng sau trở thành bạn với Mandela cũng tới tham dự buổi lễ.
Cố tổng thống Nam Phi qua đời vào 20h50 (giờ địa phương) ngày 5/12 ở tuổi 95, sau một thời gian dài chiến đấu với bệnh phổi. Ông là biểu tượng của phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheid, được nhiều nhà lãnh đạo, người nổi tiếng thế giới thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau tôn kính và ngưỡng mộ.
Vũ Hà
Nhiều nhà lãnh đạo thế giới và hàng chục nghìn người dân Nam Phi hôm nay bất chấp thời tiết gió rét và mưa đã có mặt
tại sân vận động ở Johannesburg để tham dự lễ tưởng niệm cựu tổng thống Nelson Mandela vừa qua đời hôm 5/12.

Nam Phi tổ chức lễ tưởng niệm lớn dành cho cố tổng thống Nelson Mandela tại sân vận động ở Johannesburg. Ảnh: AP
Lễ tưởng niệm bắt đầu vào buổi trưa (tối nay theo giờ Hà Nội) tại sân vận động FNB ở Soweto, một thị trấn ở Johannesburg từng ủng hộ phong trào chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheid mà ông Mandela theo đuổi cả cuộc đời.
Sân vận động 95.000 chỗ ngồi được lấp đầy hai phần ba và buổi lễ mở màn với tiếng hát quốc ca. Những lời ca ngợi và tiếng cổ vũ vang khắp sân. Trời đổ mưa và gió rét nhưng mưa được xem là phước lành đối với những người Nam Phi da đen nên trời mưa càng khiến họ reo hò và ca hát những lời ca ngợi nhiệt tình nhất. Cả sân vận động nhiều lần hô vang: "Nelson Mandela muôn năm".
Tổng thống Nam Phi Jacob Zuma có bài phát biểu tại buổi lễ. Nhiều lãnh đạo thế giới và đại diện các hoàng gia cùng nhiều người nổi tiếng tới tham dự. Trên khán đài vang lên tiếng kèn vuvuzelas đặc trưng của Nam Phi và những bài hát từ thời đấu tranh chống chủ nghĩa Apartheid từ thập kỷ trước.
Phát biểu trong tiếng hò reo của những người theo dõi tại sân vận động, Tổng thống Mỹ Barack Obama nói: "Cuộc đấu tranh của ông là cuộc đấu tranh của chúng ta. Chiến thắng của ông là chiến thắng của chúng ta".
Obama mô tả Mandela là "người khổng lồ của lịch sử", đã đưa đất nước của ông đến với công lý và truyền cảm hứng cho thế giới. Khi Obama bước lên đài diễn thuyết, ông bắt tay với Chủ tịch Cuba Raul Castro, hai nước từng là địch thù thời Chiến tranh Lạnh.
Đây là cái bắt tay lịch sử thứ hai giữa nhà lãnh đạo hai nước kể từ năm 1960. Cái bắt tay lịch sử đầu tiên giữa Chủ tịch Cuba Fidel Castro và cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton diễn ra tại Hội nghị Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc tháng 9/2000.
Thabo Mbeki, cựu tổng thống Nam Phi kế nhiệm Mandela, cũng được đám đông hò reo khi phát biểu. Tổng thống Pháp Francois Hollande và người tiền nhiệm, cũng là đối thủ của ông một thời, Nicolas Sarkozy, cùng đến một lúc. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon cúi chào đám đông và dành nhiều lời ca ngợi Mandela, người mà người dân Nam Phi coi là vị cha của đất nước.

Hàng chục nghìn người Nam Phi đội mưa tham dự lễ tưởng niệm Mandela. Bài ca ngợi của Tổng thống Mỹ Obama (màn hình lớn)
nhận được tiếng hò reo của những người trong sân vận động. Ảnh: AFP.
"Tôi sẽ không có cuộc đời ngày hôm nay nếu không có ông", Matlhogonolo Mothoagae, một nghiên cứu sinh có mặt tại sân vận động từ trước khi mở cửa rất lâu, nói. "Ông ấy đã bị giam để chúng tôi có được tự do".
Rohan Laird, 54 tuổi, giám đốc một công ty bảo hiểm, nói rằng là một người da trắng, ông lớn lên với một "vị trí đặc quyền", và Mandela giúp những người da trắng vượt qua được những mặc cảm tội lỗi.
"Sự hòa giải của ông cho phép người da trắng được giải thoát bản thân. Thực sự mà nói, tôi không nghĩ thế giới sẽ có được một người lãnh đạo nào khác như Nelson Mandela", Laird nói.
Vợ của ông Mandela, bà Graca Machel, và vợ cũ Winnie Madikizela-Mandela cũng có mặt tại sân vận động và ôm chào nhau trước khi diễn ra buổi lễ. Sự kiện còn có sự tham gia của nhiều người nổi tiếng như nữ diễn viên Charlize Theron, siêu mẫu, "viên ngọc đen" Naomi Campbell và ca sĩ Bono.
Hôm nay cũng là kỷ niệm 20 năm ngày Mandela và F.W. de Klerk, vị tổng thống cuối cùng của Nam Phi dưới chế độ Apartheid, nhận giải Nobel hòa bình. De Klerk ban đầu là đối thủ chính trị nhưng sau trở thành bạn với Mandela cũng tới tham dự buổi lễ.
Cố tổng thống Nam Phi qua đời vào 20h50 (giờ địa phương) ngày 5/12 ở tuổi 95, sau một thời gian dài chiến đấu với bệnh phổi. Ông là biểu tượng của phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheid, được nhiều nhà lãnh đạo, người nổi tiếng thế giới thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau tôn kính và ngưỡng mộ.
Vũ Hà
VN Đội Sổ Tham Nhũng
Vi Anh
Dù người dân Việt trong nước quá biết không tham nhũng đâu phải Cộng sản, dù người dân Việt hải ngoại không sống nổi với CS phải gạt nước mắt bỏ nước ra đi tỵ nạn CS gần hai triệu người hơn 38 năm vì CS độc tài đảng trị toàn diện là vua tham nhũng, dù bây giờ người dùng chữ kỹ càng thường thêm một tĩnh từ Cộng sản trước hay sau quốc hiệu Việt Nam; dù vậy, bây giờ mỗi lần nói đến VNCS các tổ chức quốc tế như Minh Bạch Quốc tế thường xếp hạng VNCS nằm trong danh sách tham nhũng nhứt nhì Đông Nam Á, tổ chức Phóng Viên Không Giới liệt VNCS vào hàng đại sát thủ Internet, người dân Việt cũng thấy tội cho danh xưng, quốc hiệu Việt Nam đã bị CS làm xấu, làm nhục, nhận chìm tận bùn đen.
Thí dụ tin mới đây, Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế công bố kết quả khảo sát toàn cầu về nạn tham nhũng trong năm 2013, Việt Nam vẫn nằm trong nhóm các nước bị nạn tham nhũng hoành hành thê thảm. VNCS tham nhũng đứng hạng 116/ 177 chế dộ đã khảo sát, tức gần đội sổ tham nhũng nhứt thế giới. Hồi năm ngoái tham nhũng của CSVN ở VN nặng hơn, tệ hơn năm nay 7 bậc.
Ai cũng biết chính CSVN, chính Đảng Nhà Nước do những đảng viên CS độc quyền, độc tài thống trị toàn diện VN là những người tham nhũng, những con hạm tham nhũng, chớ không ai vào đó cả. Có quyền mới tham nhũng, hối mại quyền thế, ăn cắp của công, cướp đoạt của dân được.
Tham nhũng trong thời CS chuyển sang kinh tế thị trường theo định hương xã hội chủ nghĩa ngày càng tăng, trở thành quốc nạn, trở thành chất nổ làm chế độ CS, Đảng Nhà Nước CS có thể nổ bùng hay nổ chụp trước nỗi bất mãn của người dân như thùng thuốc súng.
Biết thế nhưng Đảng Nhà Nước CS không thể, không hề thực sự bài trừ tham nhũng được. Vì tham nhũng là hiện thân của Đảng CS độc tài, đảng trị, toàn diện, độc tài triệt để hơn vua chúa, quốc xã, quân phiệt. Qui luật vận hành hằng cữu của chánh trị là, quyền hành mà không giám sát, ngăn chận thì sẽ hũ hoá, hư hỏng, biến thái tham ô, nhũng lạm.
Mỗi lần đại hội là mỗi lần CS nói đến cửa tử tham nhũng này của Đảng. Nhưng không một lãnh tụ nào, một "ban bệ" nào đưa ra một giải pháp bài trừ tham nhũng cụ thể, khả thi nào. Trong đại hội, những cán bộ ngồi trên bàn chủ toạ [CS gọi là "chủ trì"], đọc " báo cáo chánh trị" dài như sông Trường Giang, đại cán đứng phát biểu muốn hụt hơi, 'đại biểu' ngồi nghe muốn ngủ gục. Nhưng từ cán bộ, đảng viên choo đến ' quần chúng nhân dân bị "nghe nhìn" trên "đài báo" của Đảng Nhà Nước" - tất cả đều biết, đều thừa biết Đảng CS không bao giờ trị được tham nhũng. Vì chính Đảng CS là cha sanh mẹ đẻ của tham nhũng.
CS chỉ phê bình, tự phê về tham nhũng để cho dân chúng bớt bất mãn. CS chỉ dùng chiêu bài trị tham nhũng để triệt hạ phe đảng của nhau mà thôi. Chớ bài trừ tham nhũng, chống tham nhũng, là chống CS, chống Đảng thì còn ai đâu làm việc, còn ai dâu để đảng xài. Vì cán bộ đảng viên CS từ bắc chí nam, từ đông sang tây, từ lớn chí nhỏ, từ nam tới nữ, từ gốc tới ngọn đều tham nhũng. Họ độc tài, độc quyền nên họ tham nhũng một cách tự do mà CS gọi là 'vô tư, thoải mái', vô tội vạ vì CS là độc tài đảng trị toàn diện, không báo chí, không cơ quan nào giám sát, ngăn chận, trừng trị thực sự cả.
Chỉ một chuyện nhỏ là qui định đảng viên CS phải kê khai tài sản - một điều kiện tối thiểu để chống tham những mà CS, TC cũng như VC không làm được.
Trong chế độ CS, chỉ có một cách duy nhứt để diệt trừ tham nhũng là giải trừ CS đi, giao quyền làm chủ đất nước lại cho người dân, thể hiện chế độ pháp quyền qua chánh quyền dân cử, phân công phân nhiệm thành tam lập - lập pháp, hành pháp và tư pháp - ngăn chận và giám sát nhau, với trợ lực của tự do báo chí, tự do ngôn luận.
Vì CS độc tài đảng trị toàn diện, toàn quyền, CS là cha sanh mẹ đẻ của tham nhũng; nên tham nhũng mới đương trường, trịch thượng như trong chế độ CS ở Trung Quốc, ở Việt Nam, ở Bắc Hàn, và ở Cuba. CS lớn ăn theo lớn, nhỏ ăn theo nhỏ.
Không một cán bộ đảng viên CS nào không lợi dụng chức vụ trong đảng quyền, quân quyền và chánh quyền để hối mại quyền thế, lấy của công làm của tư, quan liêu, cửa quyền, bóc lột hối lộ của dân, để tự mình và cho vợ con, bè bạn, tay em "vô tư", vô tội vạ làm giàu bất chánh.
Không tham ăn tiền của đất nước và nhân dân như con hạm thì làm gì họ giàu bạc triệu bạc tỷ Mỹ kim, con cháu phung phí xài tiền như quăng tiền qua cửa sổ như thế này đây.
Báo New York Times của Mỹ cho biết tài sản của Thủ Tướng Ôn gia Bảo là 2 tỷ 7 Đô la. Mẹ của Ông nay 90 tuổi mà có cổ phần 180 triệu Đô trong một công ty do Ông nâng đỡ. Vợ Ông là nữ hoàng mua bán hột xoàn, một món hàng TC triệt để kiểm soát việc mua bán.
Hãng tin Bloomberg của Mỹ, hồi đầu năm nay thẩm định ông Tập Cận Bình, người nắm các chức vụ Tổng bí thư Đảng và Chủ tịch nước, vào khoảng 376 triệu đô la. Báo Apple Daily tại Hồng Kông cho biết Ông Bình có cả một mạng lưới làm ăn rộng khắp nước Tàu và nhiều nước giàu trên thế giới.
Global Financial Integrity của Mỹ tiết lộ, từ năm 2000 đến 2011, TC đã tuồn ra ngoại quốc một số đô la nghe chóng mặt: 3.790 tỉ đô la. Riêng năm rồi là 600 tỉ đô la.
Tham nhũng đã lan tràn, thành quốc nạn, thành lối sống mà CS gọi là 'văn hoá' của cán bộ, đảng viên CS. Cán bộ đảng viên CS thành một "giai cấp mới giàu" nên trưởng giả học làm sang. Họ trở thành tư bản đỏ ở thành thị nhưng không sản xuất, chỉ làm giàu bằng tham nhũng, hối mại quyền thế - trong chế độ kinh tế tư bản hoang dã mà họ gọi là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ho thành cường hào ác bá đỏ ở nông thôn biến nông dân thành "gia nô", nông nô trá hình, để tham nhũng đất đai núm ruột, mồ hôi nước mắt của nông dân, biến họ thành dân oan.
Biến xã hội Trung Quốc, VN thành hố sâu ngăn cách nghèo giàu sâu rộng một trời một vực. Bất ổn xã hội, chống đối của người dân trở thành giặc chòm, một qui trình, một phong trào, xảy ra hàng ngày, không đảo ngược được nữa. Chế độ CS chỉ còn chờ ngày bị bùng nổ thôi./.(Vi Anh)
Vi Anh
Dù người dân Việt trong nước quá biết không tham nhũng đâu phải Cộng sản, dù người dân Việt hải ngoại không sống nổi với CS phải gạt nước mắt bỏ nước ra đi tỵ nạn CS gần hai triệu người hơn 38 năm vì CS độc tài đảng trị toàn diện là vua tham nhũng, dù bây giờ người dùng chữ kỹ càng thường thêm một tĩnh từ Cộng sản trước hay sau quốc hiệu Việt Nam; dù vậy, bây giờ mỗi lần nói đến VNCS các tổ chức quốc tế như Minh Bạch Quốc tế thường xếp hạng VNCS nằm trong danh sách tham nhũng nhứt nhì Đông Nam Á, tổ chức Phóng Viên Không Giới liệt VNCS vào hàng đại sát thủ Internet, người dân Việt cũng thấy tội cho danh xưng, quốc hiệu Việt Nam đã bị CS làm xấu, làm nhục, nhận chìm tận bùn đen.
Thí dụ tin mới đây, Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế công bố kết quả khảo sát toàn cầu về nạn tham nhũng trong năm 2013, Việt Nam vẫn nằm trong nhóm các nước bị nạn tham nhũng hoành hành thê thảm. VNCS tham nhũng đứng hạng 116/ 177 chế dộ đã khảo sát, tức gần đội sổ tham nhũng nhứt thế giới. Hồi năm ngoái tham nhũng của CSVN ở VN nặng hơn, tệ hơn năm nay 7 bậc.
Ai cũng biết chính CSVN, chính Đảng Nhà Nước do những đảng viên CS độc quyền, độc tài thống trị toàn diện VN là những người tham nhũng, những con hạm tham nhũng, chớ không ai vào đó cả. Có quyền mới tham nhũng, hối mại quyền thế, ăn cắp của công, cướp đoạt của dân được.
Tham nhũng trong thời CS chuyển sang kinh tế thị trường theo định hương xã hội chủ nghĩa ngày càng tăng, trở thành quốc nạn, trở thành chất nổ làm chế độ CS, Đảng Nhà Nước CS có thể nổ bùng hay nổ chụp trước nỗi bất mãn của người dân như thùng thuốc súng.
Biết thế nhưng Đảng Nhà Nước CS không thể, không hề thực sự bài trừ tham nhũng được. Vì tham nhũng là hiện thân của Đảng CS độc tài, đảng trị, toàn diện, độc tài triệt để hơn vua chúa, quốc xã, quân phiệt. Qui luật vận hành hằng cữu của chánh trị là, quyền hành mà không giám sát, ngăn chận thì sẽ hũ hoá, hư hỏng, biến thái tham ô, nhũng lạm.
Mỗi lần đại hội là mỗi lần CS nói đến cửa tử tham nhũng này của Đảng. Nhưng không một lãnh tụ nào, một "ban bệ" nào đưa ra một giải pháp bài trừ tham nhũng cụ thể, khả thi nào. Trong đại hội, những cán bộ ngồi trên bàn chủ toạ [CS gọi là "chủ trì"], đọc " báo cáo chánh trị" dài như sông Trường Giang, đại cán đứng phát biểu muốn hụt hơi, 'đại biểu' ngồi nghe muốn ngủ gục. Nhưng từ cán bộ, đảng viên choo đến ' quần chúng nhân dân bị "nghe nhìn" trên "đài báo" của Đảng Nhà Nước" - tất cả đều biết, đều thừa biết Đảng CS không bao giờ trị được tham nhũng. Vì chính Đảng CS là cha sanh mẹ đẻ của tham nhũng.
CS chỉ phê bình, tự phê về tham nhũng để cho dân chúng bớt bất mãn. CS chỉ dùng chiêu bài trị tham nhũng để triệt hạ phe đảng của nhau mà thôi. Chớ bài trừ tham nhũng, chống tham nhũng, là chống CS, chống Đảng thì còn ai đâu làm việc, còn ai dâu để đảng xài. Vì cán bộ đảng viên CS từ bắc chí nam, từ đông sang tây, từ lớn chí nhỏ, từ nam tới nữ, từ gốc tới ngọn đều tham nhũng. Họ độc tài, độc quyền nên họ tham nhũng một cách tự do mà CS gọi là 'vô tư, thoải mái', vô tội vạ vì CS là độc tài đảng trị toàn diện, không báo chí, không cơ quan nào giám sát, ngăn chận, trừng trị thực sự cả.
Chỉ một chuyện nhỏ là qui định đảng viên CS phải kê khai tài sản - một điều kiện tối thiểu để chống tham những mà CS, TC cũng như VC không làm được.
Trong chế độ CS, chỉ có một cách duy nhứt để diệt trừ tham nhũng là giải trừ CS đi, giao quyền làm chủ đất nước lại cho người dân, thể hiện chế độ pháp quyền qua chánh quyền dân cử, phân công phân nhiệm thành tam lập - lập pháp, hành pháp và tư pháp - ngăn chận và giám sát nhau, với trợ lực của tự do báo chí, tự do ngôn luận.
Vì CS độc tài đảng trị toàn diện, toàn quyền, CS là cha sanh mẹ đẻ của tham nhũng; nên tham nhũng mới đương trường, trịch thượng như trong chế độ CS ở Trung Quốc, ở Việt Nam, ở Bắc Hàn, và ở Cuba. CS lớn ăn theo lớn, nhỏ ăn theo nhỏ.
Không một cán bộ đảng viên CS nào không lợi dụng chức vụ trong đảng quyền, quân quyền và chánh quyền để hối mại quyền thế, lấy của công làm của tư, quan liêu, cửa quyền, bóc lột hối lộ của dân, để tự mình và cho vợ con, bè bạn, tay em "vô tư", vô tội vạ làm giàu bất chánh.
Không tham ăn tiền của đất nước và nhân dân như con hạm thì làm gì họ giàu bạc triệu bạc tỷ Mỹ kim, con cháu phung phí xài tiền như quăng tiền qua cửa sổ như thế này đây.
Báo New York Times của Mỹ cho biết tài sản của Thủ Tướng Ôn gia Bảo là 2 tỷ 7 Đô la. Mẹ của Ông nay 90 tuổi mà có cổ phần 180 triệu Đô trong một công ty do Ông nâng đỡ. Vợ Ông là nữ hoàng mua bán hột xoàn, một món hàng TC triệt để kiểm soát việc mua bán.
Hãng tin Bloomberg của Mỹ, hồi đầu năm nay thẩm định ông Tập Cận Bình, người nắm các chức vụ Tổng bí thư Đảng và Chủ tịch nước, vào khoảng 376 triệu đô la. Báo Apple Daily tại Hồng Kông cho biết Ông Bình có cả một mạng lưới làm ăn rộng khắp nước Tàu và nhiều nước giàu trên thế giới.
Global Financial Integrity của Mỹ tiết lộ, từ năm 2000 đến 2011, TC đã tuồn ra ngoại quốc một số đô la nghe chóng mặt: 3.790 tỉ đô la. Riêng năm rồi là 600 tỉ đô la.
Tham nhũng đã lan tràn, thành quốc nạn, thành lối sống mà CS gọi là 'văn hoá' của cán bộ, đảng viên CS. Cán bộ đảng viên CS thành một "giai cấp mới giàu" nên trưởng giả học làm sang. Họ trở thành tư bản đỏ ở thành thị nhưng không sản xuất, chỉ làm giàu bằng tham nhũng, hối mại quyền thế - trong chế độ kinh tế tư bản hoang dã mà họ gọi là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ho thành cường hào ác bá đỏ ở nông thôn biến nông dân thành "gia nô", nông nô trá hình, để tham nhũng đất đai núm ruột, mồ hôi nước mắt của nông dân, biến họ thành dân oan.
Biến xã hội Trung Quốc, VN thành hố sâu ngăn cách nghèo giàu sâu rộng một trời một vực. Bất ổn xã hội, chống đối của người dân trở thành giặc chòm, một qui trình, một phong trào, xảy ra hàng ngày, không đảo ngược được nữa. Chế độ CS chỉ còn chờ ngày bị bùng nổ thôi./.(Vi Anh)
Thế đứng nhân quyền vững chãi
Bùi Tín
(Nguồn: VOA) Ngày 10 tháng 12, 2013 năm nay là kỷ niệm lần thứ 65 ngày lịch sử ra mắt bản “Tuyên Ngôn Nhân quyền Quốc tế” 10 tháng 12, 1948.
Năm nay cuộc kỷ niệm ở nước ta diễn ra khác hẳn trước, mang nhiều nét mới.
Ngay từ giữa năm các bạn thanh niên, sinh viên nam nữ đã in, sao chép bản Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế (TNNQQT) gồm 30 điều để giới thiệu rộng rãi trong xã hội. Nhiều bạn đã gửi cho nhau những bản TNNQQT in đẹp coi như món quà quý để chuyền tay nhau đọc và nghiên cứu. Nhiều bạn thanh niên còn in các bản TNNQQT bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Ðức, Tây Ban Nha, Ðức, Nhật, Trung Hoa... để phổ biến trong nước và gửi ra nước ngoài.
Ở Hà Nội, Sài Gòn... nhiều bạn trẻ còn in thêm bản “Công ước Quốc tế về những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” cũng như bản “Công ước Quốc tế về những quyền dân sự và chính trị” được ban hành năm 1966.
Trong cả năm 2013 đã có nhiều cuộc xuống đường, dã ngoại, nhóm họp của công dân nam nữ để công khai trao đổi, thảo luận về ý nghĩa và vận dụng các văn kiện quốc tế quan trọng này.
Ðặc biệt năm nay chính quyền Việt Nam tự nguyện xin được vào Hội đồng Nhân quyền của LHQ sau khi đưa ra lời hứa danh dự và 14 điều cam kết về nhân quyền. Do đó, việc thực hiện nghiêm chỉnh, đầy đủ nội dung TNNQ ở nước ta có thêm nhiều thuận lợi mới. Ai cũng biết chính quyền độc đảng là tối kỵ với nhân quyền, họ đối lập với nhân quyền như nước với lửa, họ chỉ chịu lùi trên văn kiện để hòng được nhận tiếp những nguồn chi viện tài chính FDI và ODA nhằm kiếm lợi cho phe nhóm. Họ rất lo khi cuộc kiểm điểm về “hạnh kiểm nhân quyền” theo định kỳ (Universal Periodic Review) lần 2 sắp diễn ra trong tháng 1, 2014. Ðây là một cuộc kiểm điểm rất nghiêm túc. Chắc chắn nhà cầm quyền Hà Nội sẽ bị chất vấn: Từ khi hứa và cam kết, họ có tiến bộ thật hay không? Có còn bắt người tùy tiện không? Có còn xử án kín không? Có còn tuyên án bỏ túi theo lệnh đảng hay không? Có còn đánh đập chửi bới công dân, tra tấn làm chết công dân trong trụ sở công an hay trong trại giam không?
Một nét mới về ngày TNNQ năm nay là tổ chức “Mạng Lưới Blogger Việt Nam” đã chính thức hoạt động, cùng với “Diễn đàn Xã hội Dân sự,” thực hiện quyền tự do ngôn luận theo TNNQQT mà chính quyền Việt Nam đã cam kết thi hành.
Cũng một nét mới không kém phần quan trọng nữa là trên các mạng Dân làm báo, Dân luận, Chân trời mới tuần qua (28 tháng 11 đến 4 tháng 12) đã đăng tuyên bố của nhiều công dân coi bản Hiến Pháp 2013 vừa được Quốc Hội thông qua là cưỡng ép, vì không hề coi trọng các ý kiến đóng góp của công dân, chỉ tuân theo cương lĩnh của đảng, là Hiến Pháp của đảng CS, do đảng CS, vì đảng CS, không mảy may là của dân, do dân, vì dân, nên bị nhân dân coi là vô giá trị; nhân dân sẽ thực hiện “bất tuân dân sự “ và đòi làm bản Hiến Pháp khác. “Hội phụ nữ nhân quyền VN” cũng đã chính thức ra mắt vào dịp này.
Theo các mạng Dân Làm Báo và Dân Luận ngày 2 tháng 12, các luật sư đang làm việc cũng như luật sư đang ở trong tù như ông Cù Huy Hà Vũ đều cho rằng bản Hiến Pháp 2013 vi phạm nghiêm trọng bản TNNQQT khi khẳng định điều 4, vị trí toàn trị độc quyền của đảng CS, hạn chế tự do báo chí bằng những luật lệ trái Hiến Pháp, và khi khẳng định kinh tế nhà nước là chủ đạo, tước bỏ quyền tự do bình đẳng cạnh tranh trong kinh doanh.
Gần đến ngày kỷ niệm TNNQQT, theo tường thuật của mạng Dân Làm Báo ngày 3 tháng 12, bí thư thứ nhất của sứ quán Pháp Jean Philippe Gavois đã có dịp tận mắt thấy cảnh nhiều tốp công an hung hãn hành hung Luật Sư Nguyễn Văn Ðài và bạn bè ông, phá phách cửa hàng cà phê ở đường Ðại Cồ Việt (Hà Nội), chửi bới đánh đập công dân. Theo Luật Sư Ðài, ông J.P.Gavois xúc động ghi âm, chụp ảnh các cảnh này và thốt lên: “Tôi không cần tìm hiểu gì thêm nữa, thế là quá đủ, những bằng chứng rõ rệt nhất.”
Thử hỏi ông Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh ông và đồng sự sẽ chống chế ra sao khi những tin tức và hình ảnh như thế được trưng ra trong cuộc Kiểm điểm định kỳ về tôn trọng nhân quyền sắp đến tại LHQ, khi đại diện VN được lên mâm, buộc phải trả lời từng điểm một những chất vấn của người tham dự.
Những điều mới, rất mới nhân dịp kỷ niệm TNNQQT năm nay là như thế.
Ðiều mới nhất là các công dân yêu quý nhân quyền đang ngày càng đông đảo, do nhận thức được rằng thế đứng nhân quyền của nhân dân ta đang ngày càng vững chãi và rất có hiệu quả.
Thêm nữa sự phối hợp quốc tế ngày cũng chặt chẽ và thuận lợi.
Và chính quyền bị đứng ở thế bị cáo, hạnh kiểm xấu, hứa tu tỉnh thành người tốt, có tiến bộ.
Với thế vững chãi trong đấu tranh như thế, nhất định năm 2014 tới sẽ là năm gặt hái bội thu về nhân quyền. Một xã hội dân sự tiếp tục tiến bước, đông đảo hơn, tự tin hơn, có hiệu quả hơn. Xã hội dân sự đầy sức trẻ của thời đại thừa sức đẩy lùi một chế độ sang thế kỷ XXI rồi mà vẫn còn mơ màng suy tôn chủ nghĩa Mác-Lênin tai quái làm nền tảng cho chế độ, ghi đậm trong Hiến Pháp 2013, sau khi nó đã bị đào thải bởi toàn thế giới, coi đó là cội nguồn tội ác chống nhân loại trong thế kỷ XX, còn tệ hại hơn cả chủ nghĩa phát xít.
Bùi Tín
(Nguồn: VOA) Ngày 10 tháng 12, 2013 năm nay là kỷ niệm lần thứ 65 ngày lịch sử ra mắt bản “Tuyên Ngôn Nhân quyền Quốc tế” 10 tháng 12, 1948.
Năm nay cuộc kỷ niệm ở nước ta diễn ra khác hẳn trước, mang nhiều nét mới.
Ngay từ giữa năm các bạn thanh niên, sinh viên nam nữ đã in, sao chép bản Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế (TNNQQT) gồm 30 điều để giới thiệu rộng rãi trong xã hội. Nhiều bạn đã gửi cho nhau những bản TNNQQT in đẹp coi như món quà quý để chuyền tay nhau đọc và nghiên cứu. Nhiều bạn thanh niên còn in các bản TNNQQT bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Ðức, Tây Ban Nha, Ðức, Nhật, Trung Hoa... để phổ biến trong nước và gửi ra nước ngoài.
Ở Hà Nội, Sài Gòn... nhiều bạn trẻ còn in thêm bản “Công ước Quốc tế về những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” cũng như bản “Công ước Quốc tế về những quyền dân sự và chính trị” được ban hành năm 1966.
Trong cả năm 2013 đã có nhiều cuộc xuống đường, dã ngoại, nhóm họp của công dân nam nữ để công khai trao đổi, thảo luận về ý nghĩa và vận dụng các văn kiện quốc tế quan trọng này.
Ðặc biệt năm nay chính quyền Việt Nam tự nguyện xin được vào Hội đồng Nhân quyền của LHQ sau khi đưa ra lời hứa danh dự và 14 điều cam kết về nhân quyền. Do đó, việc thực hiện nghiêm chỉnh, đầy đủ nội dung TNNQ ở nước ta có thêm nhiều thuận lợi mới. Ai cũng biết chính quyền độc đảng là tối kỵ với nhân quyền, họ đối lập với nhân quyền như nước với lửa, họ chỉ chịu lùi trên văn kiện để hòng được nhận tiếp những nguồn chi viện tài chính FDI và ODA nhằm kiếm lợi cho phe nhóm. Họ rất lo khi cuộc kiểm điểm về “hạnh kiểm nhân quyền” theo định kỳ (Universal Periodic Review) lần 2 sắp diễn ra trong tháng 1, 2014. Ðây là một cuộc kiểm điểm rất nghiêm túc. Chắc chắn nhà cầm quyền Hà Nội sẽ bị chất vấn: Từ khi hứa và cam kết, họ có tiến bộ thật hay không? Có còn bắt người tùy tiện không? Có còn xử án kín không? Có còn tuyên án bỏ túi theo lệnh đảng hay không? Có còn đánh đập chửi bới công dân, tra tấn làm chết công dân trong trụ sở công an hay trong trại giam không?
Một nét mới về ngày TNNQ năm nay là tổ chức “Mạng Lưới Blogger Việt Nam” đã chính thức hoạt động, cùng với “Diễn đàn Xã hội Dân sự,” thực hiện quyền tự do ngôn luận theo TNNQQT mà chính quyền Việt Nam đã cam kết thi hành.
Cũng một nét mới không kém phần quan trọng nữa là trên các mạng Dân làm báo, Dân luận, Chân trời mới tuần qua (28 tháng 11 đến 4 tháng 12) đã đăng tuyên bố của nhiều công dân coi bản Hiến Pháp 2013 vừa được Quốc Hội thông qua là cưỡng ép, vì không hề coi trọng các ý kiến đóng góp của công dân, chỉ tuân theo cương lĩnh của đảng, là Hiến Pháp của đảng CS, do đảng CS, vì đảng CS, không mảy may là của dân, do dân, vì dân, nên bị nhân dân coi là vô giá trị; nhân dân sẽ thực hiện “bất tuân dân sự “ và đòi làm bản Hiến Pháp khác. “Hội phụ nữ nhân quyền VN” cũng đã chính thức ra mắt vào dịp này.
Theo các mạng Dân Làm Báo và Dân Luận ngày 2 tháng 12, các luật sư đang làm việc cũng như luật sư đang ở trong tù như ông Cù Huy Hà Vũ đều cho rằng bản Hiến Pháp 2013 vi phạm nghiêm trọng bản TNNQQT khi khẳng định điều 4, vị trí toàn trị độc quyền của đảng CS, hạn chế tự do báo chí bằng những luật lệ trái Hiến Pháp, và khi khẳng định kinh tế nhà nước là chủ đạo, tước bỏ quyền tự do bình đẳng cạnh tranh trong kinh doanh.
Gần đến ngày kỷ niệm TNNQQT, theo tường thuật của mạng Dân Làm Báo ngày 3 tháng 12, bí thư thứ nhất của sứ quán Pháp Jean Philippe Gavois đã có dịp tận mắt thấy cảnh nhiều tốp công an hung hãn hành hung Luật Sư Nguyễn Văn Ðài và bạn bè ông, phá phách cửa hàng cà phê ở đường Ðại Cồ Việt (Hà Nội), chửi bới đánh đập công dân. Theo Luật Sư Ðài, ông J.P.Gavois xúc động ghi âm, chụp ảnh các cảnh này và thốt lên: “Tôi không cần tìm hiểu gì thêm nữa, thế là quá đủ, những bằng chứng rõ rệt nhất.”
Thử hỏi ông Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh ông và đồng sự sẽ chống chế ra sao khi những tin tức và hình ảnh như thế được trưng ra trong cuộc Kiểm điểm định kỳ về tôn trọng nhân quyền sắp đến tại LHQ, khi đại diện VN được lên mâm, buộc phải trả lời từng điểm một những chất vấn của người tham dự.
Những điều mới, rất mới nhân dịp kỷ niệm TNNQQT năm nay là như thế.
Ðiều mới nhất là các công dân yêu quý nhân quyền đang ngày càng đông đảo, do nhận thức được rằng thế đứng nhân quyền của nhân dân ta đang ngày càng vững chãi và rất có hiệu quả.
Thêm nữa sự phối hợp quốc tế ngày cũng chặt chẽ và thuận lợi.
Và chính quyền bị đứng ở thế bị cáo, hạnh kiểm xấu, hứa tu tỉnh thành người tốt, có tiến bộ.
Với thế vững chãi trong đấu tranh như thế, nhất định năm 2014 tới sẽ là năm gặt hái bội thu về nhân quyền. Một xã hội dân sự tiếp tục tiến bước, đông đảo hơn, tự tin hơn, có hiệu quả hơn. Xã hội dân sự đầy sức trẻ của thời đại thừa sức đẩy lùi một chế độ sang thế kỷ XXI rồi mà vẫn còn mơ màng suy tôn chủ nghĩa Mác-Lênin tai quái làm nền tảng cho chế độ, ghi đậm trong Hiến Pháp 2013, sau khi nó đã bị đào thải bởi toàn thế giới, coi đó là cội nguồn tội ác chống nhân loại trong thế kỷ XX, còn tệ hại hơn cả chủ nghĩa phát xít.
Con người nhân bản nhất hành tinh
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Ông Nelson Mandela sẽ còn sống rất lâu, rất bền bỉ, sống động trong lòng cả loài người trên trái đất này.
Một người dân Nam Phi đọc báo nói về tang lễ ông Nelson Mandela. (Hình: SIMON MAINA/AFP/Getty Images)
Lớn lên trong vùng quê nghèo, mồ côi cha khi lên 9, cậu bé Nelson Mandela sống cuộc đời cơ cực. Giàu ý chí, thông minh, cậu sớm tự nhủ cố gắng tìm hiểu cuộc sống dân mình, hiến mình cho cộng đồng, cho các bộ tộc nước mình đang sống lầm than dưới ách nặng của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc apartheid.
Ðã có nhiều bài viết của các nhà văn hóa, chính khách, nhà báo ca ngợi công lao, thành tích, đạo đức cao quý hiếm có của Mandela. Ca ngợi bao nhiêu cũng không đủ, cũng không thể nói được dù chỉ trong muôn một tầm cao trí tuệ và tâm hồn phóng khoáng của con người được cả hành tinh quý trọng này.
Vì ở Mandela tập trung đầy đủ tất cả những gì là quý nhất, đẹp nhất ở con người.
Tình thương đồng bào của ông thật mông mênh không giới hạn. Ðọc những cuốn sách ông viết kể lại đời mình, ông thương dân nghèo của bộ tộc ông và các bộ tộc láng giềng, thương dân Nam Phi, cả lục địa Châu Phi, rồi cả loài người. Ông thương cả dân nghèo da trắng, da vàng trên hành tinh. Trong tù ông nghiền ngẫm để đi đến từ bỏ dứt khoát con đường vũ trang, bạo lực, tiết kiệm đến mức cao nhất xương máu của con người. Qua tuổi 80, năm 1999, ông dứt khoát từ bỏ quyền lực, dồn sức còn lại cho 2 sự nghiệp giáo dục và y tế, đôn đốc việc xây trường học và trạm y tế rộng khắp, hiểu rõ đó là 2 nguồn hạnh phúc của con người. Tiền lương cao của ông khi làm tổng thống cũng như khi nghỉ hưu, ông chỉ nhận phần đủ tiêu (chưa đến 1/4) còn tất cả sung vào quỹ xây trường và xây trạm y tế cơ sở. Về hưu ông về sống ở làng quê, giản dị, thanh bạch, không dinh cơ, biệt thự gì đặc biệt, luôn lạc quan dù từng bị bệnh lao trong tù và sau này bị bệnh tiền liệt tuyến.
Lòng nhân ái bao la ở con người ấy lại kết hợp với một trí tuệ mẫn tiệp đến kỳ lạ. Ở trong tù mỗi tháng ông gửi ra 2 lá thư súc tích, thâm thúy, đầy sức sống và sức thuyết phục nhằm gợi ý, chỉ đạo phong trào. Người tù ấy vẫn là lãnh tụ duy nhất, cao nhất của Ðại Hội Dân Tộc Châu Phi (African National Congress), được toàn đảng tin cậy, được chính quyền da trắng phân biệt chủng tộc tôn trọng và cuối cùng phải công nhận là người đối thoại chính thức.
Ngày ra tù 11 tháng 2 năm 1990, Mandela nói: “Ra khỏi nhà tù mà còn mang theo thù hận thì coi như vẫn nằm trong tù”.
Ðây là nét cao thượng nhất, nét thăng hoa trong nhân cách, trong bản chất người của Mandela. Ông không căm giận, oán thù gì người da trắng, những kẻ đã kết tội tù chung thân ông, đày ông ra ngoài đảo nhỏ Robben suốt 18 năm, không cho ông gặp mặt người con cả cho đến khi anh bị tử nạn. Ông còn kết thân với không ít bạn trí thức da trắng, lại còn chọn phó tổng thống da trắng Frederik Willem de Klerk làm phó tổng thống sau khi được tặng giải Nobel Hòa Bình 1993 cùng ông này. Sau khi chính quyền da trắng chịu thực hiện tổng tuyển cử tự do và tôn trọng kết quả do đa số là công dân da đen, tôn trọng bản hiến pháp mới, trả lại ruộng đất cho nông dân là dân da đen, Mandela vẫn bảo đảm tự do ngôn luận, tự do kinh doanh và mọi quyền công dân cho người da trắng, không phân biệt, trả thù.
Cho nên những lời răn dạy quý nhất Mandela để lại cho người đời là về đạo làm người. Những người có chức có quyền rất nên học để là người. Mandela nói: “Một cái đầu tốt với một trái tim tốt là sự phối hợp kỳ diệu” (“A good head and a good heart are always a formidable combinaison”). Ông còn nói lên kinh nghiệm của mình: “Nếu ta muốn sống yên bình với kẻ thù thì hãy làm việc với họ. Như vậy kẻ thù trở thành người đối tác” (“If you want to make peace with your enemy, you have to work with your enemy; then he becomes your partner”).
Những người lãnh đạo ở Việt Nam có rất nhiều điều để học hỏi ở Mandela. Với lòng nhân ái và lượng bao dung như thế, đã có thể tránh chiến tranh, nhất định không có sự cao ngạo trả thù khốc liệt bên thua cuộc sau 30 tháng 4 năm 1975, sẽ có đối thoại với những chiến sĩ dân chủ, không có chuyện bỏ tù người chống bành trướng. Và với lối sống thanh đạm, trong sạch, người lãnh đạo sẽ không chạy theo tiền bạc nhà đất bất chính, bị nhân dân khinh bỉ, căm giận, nguyền rủa là bầy sâu mọt, là lũ trọc phú, là phe nhóm tham quan ô lại, tiếng xấu để đời.
Nhân ngày Nhân Quyền Quốc Tế 10 tháng 12, thương tiếc quý mến Nelson Mandela, nhân dân Việt Nam ta càng thêm nghị lực để phổ biến tấm gương sáng chói về lãnh đạo, tư duy cầm quyền vì dân, về lối sống thanh bạch, cao sang về nhân cách của ông, phấn đấu tạo cho ra được những nhân tài cứu nước cứu dân theo kiểu mẫu như thế.
Thật là hãnh diện và hạnh phúc thay cho đất nước nào hun đúc được nên một nhân tài lãnh đạo mang nhiều tính người chân chính đến như vậy.
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Ông Nelson Mandela sẽ còn sống rất lâu, rất bền bỉ, sống động trong lòng cả loài người trên trái đất này.
Một người dân Nam Phi đọc báo nói về tang lễ ông Nelson Mandela. (Hình: SIMON MAINA/AFP/Getty Images)
Lớn lên trong vùng quê nghèo, mồ côi cha khi lên 9, cậu bé Nelson Mandela sống cuộc đời cơ cực. Giàu ý chí, thông minh, cậu sớm tự nhủ cố gắng tìm hiểu cuộc sống dân mình, hiến mình cho cộng đồng, cho các bộ tộc nước mình đang sống lầm than dưới ách nặng của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc apartheid.
Ðã có nhiều bài viết của các nhà văn hóa, chính khách, nhà báo ca ngợi công lao, thành tích, đạo đức cao quý hiếm có của Mandela. Ca ngợi bao nhiêu cũng không đủ, cũng không thể nói được dù chỉ trong muôn một tầm cao trí tuệ và tâm hồn phóng khoáng của con người được cả hành tinh quý trọng này.
Vì ở Mandela tập trung đầy đủ tất cả những gì là quý nhất, đẹp nhất ở con người.
Tình thương đồng bào của ông thật mông mênh không giới hạn. Ðọc những cuốn sách ông viết kể lại đời mình, ông thương dân nghèo của bộ tộc ông và các bộ tộc láng giềng, thương dân Nam Phi, cả lục địa Châu Phi, rồi cả loài người. Ông thương cả dân nghèo da trắng, da vàng trên hành tinh. Trong tù ông nghiền ngẫm để đi đến từ bỏ dứt khoát con đường vũ trang, bạo lực, tiết kiệm đến mức cao nhất xương máu của con người. Qua tuổi 80, năm 1999, ông dứt khoát từ bỏ quyền lực, dồn sức còn lại cho 2 sự nghiệp giáo dục và y tế, đôn đốc việc xây trường học và trạm y tế rộng khắp, hiểu rõ đó là 2 nguồn hạnh phúc của con người. Tiền lương cao của ông khi làm tổng thống cũng như khi nghỉ hưu, ông chỉ nhận phần đủ tiêu (chưa đến 1/4) còn tất cả sung vào quỹ xây trường và xây trạm y tế cơ sở. Về hưu ông về sống ở làng quê, giản dị, thanh bạch, không dinh cơ, biệt thự gì đặc biệt, luôn lạc quan dù từng bị bệnh lao trong tù và sau này bị bệnh tiền liệt tuyến.
Lòng nhân ái bao la ở con người ấy lại kết hợp với một trí tuệ mẫn tiệp đến kỳ lạ. Ở trong tù mỗi tháng ông gửi ra 2 lá thư súc tích, thâm thúy, đầy sức sống và sức thuyết phục nhằm gợi ý, chỉ đạo phong trào. Người tù ấy vẫn là lãnh tụ duy nhất, cao nhất của Ðại Hội Dân Tộc Châu Phi (African National Congress), được toàn đảng tin cậy, được chính quyền da trắng phân biệt chủng tộc tôn trọng và cuối cùng phải công nhận là người đối thoại chính thức.
Ngày ra tù 11 tháng 2 năm 1990, Mandela nói: “Ra khỏi nhà tù mà còn mang theo thù hận thì coi như vẫn nằm trong tù”.
Ðây là nét cao thượng nhất, nét thăng hoa trong nhân cách, trong bản chất người của Mandela. Ông không căm giận, oán thù gì người da trắng, những kẻ đã kết tội tù chung thân ông, đày ông ra ngoài đảo nhỏ Robben suốt 18 năm, không cho ông gặp mặt người con cả cho đến khi anh bị tử nạn. Ông còn kết thân với không ít bạn trí thức da trắng, lại còn chọn phó tổng thống da trắng Frederik Willem de Klerk làm phó tổng thống sau khi được tặng giải Nobel Hòa Bình 1993 cùng ông này. Sau khi chính quyền da trắng chịu thực hiện tổng tuyển cử tự do và tôn trọng kết quả do đa số là công dân da đen, tôn trọng bản hiến pháp mới, trả lại ruộng đất cho nông dân là dân da đen, Mandela vẫn bảo đảm tự do ngôn luận, tự do kinh doanh và mọi quyền công dân cho người da trắng, không phân biệt, trả thù.
Cho nên những lời răn dạy quý nhất Mandela để lại cho người đời là về đạo làm người. Những người có chức có quyền rất nên học để là người. Mandela nói: “Một cái đầu tốt với một trái tim tốt là sự phối hợp kỳ diệu” (“A good head and a good heart are always a formidable combinaison”). Ông còn nói lên kinh nghiệm của mình: “Nếu ta muốn sống yên bình với kẻ thù thì hãy làm việc với họ. Như vậy kẻ thù trở thành người đối tác” (“If you want to make peace with your enemy, you have to work with your enemy; then he becomes your partner”).
Những người lãnh đạo ở Việt Nam có rất nhiều điều để học hỏi ở Mandela. Với lòng nhân ái và lượng bao dung như thế, đã có thể tránh chiến tranh, nhất định không có sự cao ngạo trả thù khốc liệt bên thua cuộc sau 30 tháng 4 năm 1975, sẽ có đối thoại với những chiến sĩ dân chủ, không có chuyện bỏ tù người chống bành trướng. Và với lối sống thanh đạm, trong sạch, người lãnh đạo sẽ không chạy theo tiền bạc nhà đất bất chính, bị nhân dân khinh bỉ, căm giận, nguyền rủa là bầy sâu mọt, là lũ trọc phú, là phe nhóm tham quan ô lại, tiếng xấu để đời.
Nhân ngày Nhân Quyền Quốc Tế 10 tháng 12, thương tiếc quý mến Nelson Mandela, nhân dân Việt Nam ta càng thêm nghị lực để phổ biến tấm gương sáng chói về lãnh đạo, tư duy cầm quyền vì dân, về lối sống thanh bạch, cao sang về nhân cách của ông, phấn đấu tạo cho ra được những nhân tài cứu nước cứu dân theo kiểu mẫu như thế.
Thật là hãnh diện và hạnh phúc thay cho đất nước nào hun đúc được nên một nhân tài lãnh đạo mang nhiều tính người chân chính đến như vậy.
Sự lạnh nhạt dễ hiểu
Bùi Tín
(Blog VOA) Cả thế giới vô cùng tiếc thương quý mến nhà hoạt động chính trị da đen Nelson Mandela vừa qua đời.
Hơn 100 nguyên thủ và người đứng đầu chính phủ, kể cả bốn tổng thống và cựu tổng thống Hoa Kỳ, và hơn 70 ngàn quần chúng đã tập trung đưa tiễn ông.
Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama cho rằng ông Nelson Mandela là một người “khổng lồ trong lịch sử” (A giant in history), còn ngụ ý rằng có Nelson Mandela là tổng thống da đen ở một nước đa số là người da đen mới đi đến có một tổng thống gốc da đen ở một nước đa số là người da trắng. Một bước tiến dài trong nền văn minh nhân loại khi con người bình đẳng, tự do.
Ðến Cộng sản Trung Quốc cũng cử phó Chủ tịch nước Lý Nguyên Triều và Cuba có Chủ Tịch Raul Castro sang dự.
Còn Việt Nam ư? Một sự lặng im bẽ bàng đến tội nghiệp của bộ máy nhà nước nặng nề và bộ máy truyền thông lề phải vốn ầm ĩ lắm mồm. Báo Nhân Dân cầm trịch đưa một tin ngắn, nhạt thếch, không một bài bình luận.
Không một đại diện chính phủ nào được cử sang Nam Phi dự quốc tang này.
Một sự câm lặng và vắng mặt nổi bật.
Rất dễ hiểu. Những gì Mandela chủ trương, kiên trì thực hiện đến cùng trong cuộc đời Ông gần như hoàn toàn trái ngược hẳn với những gì những thế hệ kế tiếp lãnh đạo ở Việt Nam chủ trương và kiên trì đến cùng.
Một bên là hòa bình, hòa giải, hòa hợp trong một đất nước bị chia rẽ, xâu xé, nghèo khổ, tan hoang vì tai họa phân biệt chủng tộc tưởng như họa truyền kiếp. Trong cuốn hồi ký No Easy Walk to Freedom (Ði đến Tự do không dễ dàng), ông kể lại những đắn đo, cân nhắc, băn khoăn dày vò tâm trí ông, những trở ngại trùng điệp về nhận thức tư tưởng của cả phía ta và phía đối phương tưởng như không sao vượt qua nổi, để rồi ông từng bước chinh phục được cả 2 phía, đi vào con đường tuyệt vời của chung sống hòa bình, của hòa giải, hòa hợp dân tộc, kẻ thù thành bạn đối tác, 2 bên cùng thắng.
Xúc động bao nhiêu khi ông tỏ ra quý trọng vô cùng mạng sống của mỗi con người, từ em bé, phụ nữ, người đau yêu, nhất là sinh mạng người lính phần lớn là trẻ măng trong chiến tranh. Ông kể rằng ông sinh ra năm 1918 khi Thế Chiến I chấm dứt với hàng triệu người chết thê thảm trên chiến trường, để rồi thời trai trẻ được sống giữa những năm Thế Chiến II (1939-1945) còn man rợ gấp nhiều lần, tiếp theo lại còn những cuộc chiến ở châu Á và châu Phi, đồng loại đồng bào ăn thịt nhau như loài dã thú. Ông dứt khoát dồn tư duy chống lại những điều vô nhân ấy, bắt đầu từ thuyết phục chính mình, vì chính ông đã bị kết án tù chung thân về tội cầm đầu hệ thống khủng bố ở Nam Phi. Ông nhất quyết chuyển sang con đường của Gandhi.
Một điều tuyệt vời nữa ở Nelson Mandela là nhận thức của ông về giá trị của luật pháp. Hòa bình, hòa giải, tự do, bình đẳng đều phải được thể chế hóa thành luật, luật điều hành mọi mối quan hệ trong xã hội văn minh. Từ trong tù của người tù chung thân, ông dốc sức học ngành Luật có thi cử, chứng chỉ hẳn hoi của Ðại Học London (Anh quốc) rất nổi tiếng. Ra tù nhà luật học uyên bác Mandela trực tiếp góp công đầu vào bản Hiến Pháp 1996 của Nam Phi, một nền móng vững cho nền pháp trị của một đất nước vừa có độc lập vừa có tự do và dân chủ. Ông cho rằng tự do kinh doanh theo luật là chìa khóa của phát triển, phồn vinh.
Một nét quý hiếm trong con người của Mandela là cốt cách cao thượng ẩn mình trong đức độ cực kỳ khiêm tốn. Sức thu hút của ông là ở đó. Là tổng thống ông sống hết sức giản dị, thường đi vi hành, không xe mở đường, xe hộ tống ồn ào, chú ý các thôn xóm quạnh hiu, không ưa yến tiệc xa hoa. Mọi người còn nhớ môn thể thao bóng bầu dục rugby trước kia được coi là môn thể thao quý phái chỉ dành cho người da trắng, nên người da đen rất ít chơi, người đi xem đấu thường 95% là da trắng. Do kỳ thị trở lại, dân da đen rất ghét màu áo thể thao màu xanh lá cây của đội Nam Phi, cả khi đội dành được Cúp quán quân thế giới về rugby năm 1995.
Tổng Thống Mandela liền mời cả đội toàn cầu thủ da trắng đến nhà riêng uống trà thân mật. Tại đây thủ quân Francois Pienaar tặng ông chiếc áo cầu thủ mầu xanh lá cây số 6; ông vui vẻ tiếp nhận với thái độ khiêm tốn chan hòa, mặc luôn vào người. Từ đó đông đảo dân da trắng công nhận và vui vẻ gọi ông là “My President, Our President” (Tổng thống của chúng tôi), khác hẳn trước đó. Sự hòa giải hòa hợp thống nhất dân tộc làm giảm đi rất nhanh di sản apartheid nặng nề từng ngự trị suốt 4 thế kỷ tại đây.
Trông người lại ngẫm đến ta. Ông Hồ Chí Minh nói “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhưng lại đóng cửa trường Luật, ngăn cấm sự hình thành xã hội dân sự, tự coi đảng là pháp luật. Ông nói “xã hội ta dân chủ công bằng,” nhưng ông lại quay hẳn mặt đi khi bà Nguyễn Thị Năm ân nhân của đảng ông bị đưa ra pháp trường, khi ông Nguyễn Mạnh Tường bị tước hết chức và bị triệt đường sinh kế, khi ông Nguyễn Hữu Ðang bị truy tố, tù đày, cả khi người tâm phúc Vũ Ðình Huỳnh bị lâm nạn do vu cáo; ông vẫn dửng dưng, ung dung trên ngôi chủ tịch nước suốt 24 năm trời. Một sự vô cảm vô trách nhiệm làm gương xấu cho mọi cán bộ có chức quyền, gây vô vàn tai họa cho dân lành.
Khi đất nước bị chia cắt, hậu quả của thế giới chia làm 2 phe Cộng Sản và Dân Chủ, theo ý kiến của Chu Ân Lai và Molotov, đại diện cho Trung Quốc và Liên Xô tại Hội Nghị Geneve 1954, quy định rõ Bắc Nam có 2 chính quyền riêng, phải tôn trọng nhau, không vi phạm lãnh thổ của nhau, sẽ hiệp thương để đi đến tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình. Các bên cam kết không dùng bạo lực vũ trang. Lúc ấy Liên Xô cũng khuyến cáo 2 miền Nam Bắc VN nên thi đua xây dựng trong hòa bình, lấy nhân dân cả nước làm trọng tài phán xét và lựa chọn. Ông Hồ và Bộ Chính Trị hồi ấy sùng bái Mao Trạch Ðông, nhân khi chính quyền miền Nam không thực hiện tổng tuyển cử trong cả nước, liền lợi dụng sự việc ấy để công khai thực hiện lời dạy của người cầm lái vĩ đại là “chính quyền đẻ ra từ nòng súng” và “bạo lực là bà đỡ của cách mạng.” Nấp sau cái lý sự “ở đâu có áp bức ở đó có đấu tranh” miền Bắc bắt đầu đưa bí mật rồi nửa công khai quân đội và vũ khí vào miền Nam với quy mô ngày càng lớn, dựng lên Mặt Trận Giải Phóng, quân Giải Phóng, đảng Nhân Dân Cách Mạng, rồi Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời với Bộ Quốc Phòng, Bộ Ngoại Giao, với cả lá cờ nửa đỏ nửa xanh, tất cả là bình phong, mưu mẹo, là đóng kịch, mang bản chất lừa dối để che mắt thế gian việc đảng CS và chính quyền miền Bắc vi phạm có hệ thống và nghiêm trọng Hiệp Ðịnh Geneve.
Vậy thì so sánh giữa tư duy lãnh đạo thâm sâu cao quý của Mandela quý trọng sinh mạng con người, từ bỏ bạo lực chiến tranh, đặt trọn niềm tin ở con đường hòa giải hòa hợp, 2 bên cùng thắng và cùng nhân dân thực hiện đến cùng niềm tin ấy, với tư duy lãnh đạo của Việt Nam vay mượn từ Lênin, từ Mao, cổ xúy bạo lực, lao vào “cuộc chiến tranh giải phóng, chống Mỹ xâm lược” thực chất là cuộc nội chiến quân ta giết quân mình nhiều nhất, hăng say nhất, ta có thể rút ra điều gì bổ ích nhất? Rõ ràng ở ta đã thiếu một tư duy lãnh đạo thâm sâu mang bản chất nhân bản, yêu thương sinh mạng con người, một tư duy xây dựng nền pháp quyền dân chủ, niềm tin ở tình đoàn kết dân tộc để hòa giải trọn vẹn. Ðã đến lúc cần nói thẳng ra rằng tư duy ông Hồ Chí Minh cũng có nhiều sai lầm bất cập, không theo kịp thời đại, rõ rành rành không thể chối cãi khi so với tầm nghĩ, tầm nhìn của Nelson Mandela, cùng sống trong thế kỷ XX đầy biến động.
Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, Ban Tuyên Giáo đảng CS nên mở cuộc nghiên cứu trung thực về Nelson Mandela trong các cấp ủy đảng, kết hợp kiểm điểm sâu sắc theo đúng tinh thần của cuộc họp Trung ương thứ 6 và thứ 8, tự phê bình cho nghiêm túc, từ đó xây dựng một hệ thống dân chủ pháp trị đích thực, thực hiện hòa giải dân tộc trọn vẹn, chấn chỉnh đảng CS đang suy thoái thê thảm. Ðó là con đường cứu dân, cứu nước, cũng là cứu đảng đang lao xuống dốc và lâm nguy vậy.
Bùi Tín
(Blog VOA) Cả thế giới vô cùng tiếc thương quý mến nhà hoạt động chính trị da đen Nelson Mandela vừa qua đời.
Hơn 100 nguyên thủ và người đứng đầu chính phủ, kể cả bốn tổng thống và cựu tổng thống Hoa Kỳ, và hơn 70 ngàn quần chúng đã tập trung đưa tiễn ông.
Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama cho rằng ông Nelson Mandela là một người “khổng lồ trong lịch sử” (A giant in history), còn ngụ ý rằng có Nelson Mandela là tổng thống da đen ở một nước đa số là người da đen mới đi đến có một tổng thống gốc da đen ở một nước đa số là người da trắng. Một bước tiến dài trong nền văn minh nhân loại khi con người bình đẳng, tự do.
Ðến Cộng sản Trung Quốc cũng cử phó Chủ tịch nước Lý Nguyên Triều và Cuba có Chủ Tịch Raul Castro sang dự.
Còn Việt Nam ư? Một sự lặng im bẽ bàng đến tội nghiệp của bộ máy nhà nước nặng nề và bộ máy truyền thông lề phải vốn ầm ĩ lắm mồm. Báo Nhân Dân cầm trịch đưa một tin ngắn, nhạt thếch, không một bài bình luận.
Không một đại diện chính phủ nào được cử sang Nam Phi dự quốc tang này.
Một sự câm lặng và vắng mặt nổi bật.
Rất dễ hiểu. Những gì Mandela chủ trương, kiên trì thực hiện đến cùng trong cuộc đời Ông gần như hoàn toàn trái ngược hẳn với những gì những thế hệ kế tiếp lãnh đạo ở Việt Nam chủ trương và kiên trì đến cùng.
Một bên là hòa bình, hòa giải, hòa hợp trong một đất nước bị chia rẽ, xâu xé, nghèo khổ, tan hoang vì tai họa phân biệt chủng tộc tưởng như họa truyền kiếp. Trong cuốn hồi ký No Easy Walk to Freedom (Ði đến Tự do không dễ dàng), ông kể lại những đắn đo, cân nhắc, băn khoăn dày vò tâm trí ông, những trở ngại trùng điệp về nhận thức tư tưởng của cả phía ta và phía đối phương tưởng như không sao vượt qua nổi, để rồi ông từng bước chinh phục được cả 2 phía, đi vào con đường tuyệt vời của chung sống hòa bình, của hòa giải, hòa hợp dân tộc, kẻ thù thành bạn đối tác, 2 bên cùng thắng.
Xúc động bao nhiêu khi ông tỏ ra quý trọng vô cùng mạng sống của mỗi con người, từ em bé, phụ nữ, người đau yêu, nhất là sinh mạng người lính phần lớn là trẻ măng trong chiến tranh. Ông kể rằng ông sinh ra năm 1918 khi Thế Chiến I chấm dứt với hàng triệu người chết thê thảm trên chiến trường, để rồi thời trai trẻ được sống giữa những năm Thế Chiến II (1939-1945) còn man rợ gấp nhiều lần, tiếp theo lại còn những cuộc chiến ở châu Á và châu Phi, đồng loại đồng bào ăn thịt nhau như loài dã thú. Ông dứt khoát dồn tư duy chống lại những điều vô nhân ấy, bắt đầu từ thuyết phục chính mình, vì chính ông đã bị kết án tù chung thân về tội cầm đầu hệ thống khủng bố ở Nam Phi. Ông nhất quyết chuyển sang con đường của Gandhi.
Một điều tuyệt vời nữa ở Nelson Mandela là nhận thức của ông về giá trị của luật pháp. Hòa bình, hòa giải, tự do, bình đẳng đều phải được thể chế hóa thành luật, luật điều hành mọi mối quan hệ trong xã hội văn minh. Từ trong tù của người tù chung thân, ông dốc sức học ngành Luật có thi cử, chứng chỉ hẳn hoi của Ðại Học London (Anh quốc) rất nổi tiếng. Ra tù nhà luật học uyên bác Mandela trực tiếp góp công đầu vào bản Hiến Pháp 1996 của Nam Phi, một nền móng vững cho nền pháp trị của một đất nước vừa có độc lập vừa có tự do và dân chủ. Ông cho rằng tự do kinh doanh theo luật là chìa khóa của phát triển, phồn vinh.
Một nét quý hiếm trong con người của Mandela là cốt cách cao thượng ẩn mình trong đức độ cực kỳ khiêm tốn. Sức thu hút của ông là ở đó. Là tổng thống ông sống hết sức giản dị, thường đi vi hành, không xe mở đường, xe hộ tống ồn ào, chú ý các thôn xóm quạnh hiu, không ưa yến tiệc xa hoa. Mọi người còn nhớ môn thể thao bóng bầu dục rugby trước kia được coi là môn thể thao quý phái chỉ dành cho người da trắng, nên người da đen rất ít chơi, người đi xem đấu thường 95% là da trắng. Do kỳ thị trở lại, dân da đen rất ghét màu áo thể thao màu xanh lá cây của đội Nam Phi, cả khi đội dành được Cúp quán quân thế giới về rugby năm 1995.
Tổng Thống Mandela liền mời cả đội toàn cầu thủ da trắng đến nhà riêng uống trà thân mật. Tại đây thủ quân Francois Pienaar tặng ông chiếc áo cầu thủ mầu xanh lá cây số 6; ông vui vẻ tiếp nhận với thái độ khiêm tốn chan hòa, mặc luôn vào người. Từ đó đông đảo dân da trắng công nhận và vui vẻ gọi ông là “My President, Our President” (Tổng thống của chúng tôi), khác hẳn trước đó. Sự hòa giải hòa hợp thống nhất dân tộc làm giảm đi rất nhanh di sản apartheid nặng nề từng ngự trị suốt 4 thế kỷ tại đây.
Trông người lại ngẫm đến ta. Ông Hồ Chí Minh nói “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, nhưng lại đóng cửa trường Luật, ngăn cấm sự hình thành xã hội dân sự, tự coi đảng là pháp luật. Ông nói “xã hội ta dân chủ công bằng,” nhưng ông lại quay hẳn mặt đi khi bà Nguyễn Thị Năm ân nhân của đảng ông bị đưa ra pháp trường, khi ông Nguyễn Mạnh Tường bị tước hết chức và bị triệt đường sinh kế, khi ông Nguyễn Hữu Ðang bị truy tố, tù đày, cả khi người tâm phúc Vũ Ðình Huỳnh bị lâm nạn do vu cáo; ông vẫn dửng dưng, ung dung trên ngôi chủ tịch nước suốt 24 năm trời. Một sự vô cảm vô trách nhiệm làm gương xấu cho mọi cán bộ có chức quyền, gây vô vàn tai họa cho dân lành.
Khi đất nước bị chia cắt, hậu quả của thế giới chia làm 2 phe Cộng Sản và Dân Chủ, theo ý kiến của Chu Ân Lai và Molotov, đại diện cho Trung Quốc và Liên Xô tại Hội Nghị Geneve 1954, quy định rõ Bắc Nam có 2 chính quyền riêng, phải tôn trọng nhau, không vi phạm lãnh thổ của nhau, sẽ hiệp thương để đi đến tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình. Các bên cam kết không dùng bạo lực vũ trang. Lúc ấy Liên Xô cũng khuyến cáo 2 miền Nam Bắc VN nên thi đua xây dựng trong hòa bình, lấy nhân dân cả nước làm trọng tài phán xét và lựa chọn. Ông Hồ và Bộ Chính Trị hồi ấy sùng bái Mao Trạch Ðông, nhân khi chính quyền miền Nam không thực hiện tổng tuyển cử trong cả nước, liền lợi dụng sự việc ấy để công khai thực hiện lời dạy của người cầm lái vĩ đại là “chính quyền đẻ ra từ nòng súng” và “bạo lực là bà đỡ của cách mạng.” Nấp sau cái lý sự “ở đâu có áp bức ở đó có đấu tranh” miền Bắc bắt đầu đưa bí mật rồi nửa công khai quân đội và vũ khí vào miền Nam với quy mô ngày càng lớn, dựng lên Mặt Trận Giải Phóng, quân Giải Phóng, đảng Nhân Dân Cách Mạng, rồi Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời với Bộ Quốc Phòng, Bộ Ngoại Giao, với cả lá cờ nửa đỏ nửa xanh, tất cả là bình phong, mưu mẹo, là đóng kịch, mang bản chất lừa dối để che mắt thế gian việc đảng CS và chính quyền miền Bắc vi phạm có hệ thống và nghiêm trọng Hiệp Ðịnh Geneve.
Vậy thì so sánh giữa tư duy lãnh đạo thâm sâu cao quý của Mandela quý trọng sinh mạng con người, từ bỏ bạo lực chiến tranh, đặt trọn niềm tin ở con đường hòa giải hòa hợp, 2 bên cùng thắng và cùng nhân dân thực hiện đến cùng niềm tin ấy, với tư duy lãnh đạo của Việt Nam vay mượn từ Lênin, từ Mao, cổ xúy bạo lực, lao vào “cuộc chiến tranh giải phóng, chống Mỹ xâm lược” thực chất là cuộc nội chiến quân ta giết quân mình nhiều nhất, hăng say nhất, ta có thể rút ra điều gì bổ ích nhất? Rõ ràng ở ta đã thiếu một tư duy lãnh đạo thâm sâu mang bản chất nhân bản, yêu thương sinh mạng con người, một tư duy xây dựng nền pháp quyền dân chủ, niềm tin ở tình đoàn kết dân tộc để hòa giải trọn vẹn. Ðã đến lúc cần nói thẳng ra rằng tư duy ông Hồ Chí Minh cũng có nhiều sai lầm bất cập, không theo kịp thời đại, rõ rành rành không thể chối cãi khi so với tầm nghĩ, tầm nhìn của Nelson Mandela, cùng sống trong thế kỷ XX đầy biến động.
Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, Ban Tuyên Giáo đảng CS nên mở cuộc nghiên cứu trung thực về Nelson Mandela trong các cấp ủy đảng, kết hợp kiểm điểm sâu sắc theo đúng tinh thần của cuộc họp Trung ương thứ 6 và thứ 8, tự phê bình cho nghiêm túc, từ đó xây dựng một hệ thống dân chủ pháp trị đích thực, thực hiện hòa giải dân tộc trọn vẹn, chấn chỉnh đảng CS đang suy thoái thê thảm. Ðó là con đường cứu dân, cứu nước, cũng là cứu đảng đang lao xuống dốc và lâm nguy vậy.
Cộng Đồng Thế Giới Ở Đâu?
Tác giả : Vi Anh Đài VOA tiếng nói chánh thức của chánh quyền Mỹ ngày 20 tháng 12 năm 2013 có đi một tin khá dài 629 chữ: "Tây Tạng: 1 vị sư tự thiêu, 1 chết trong phòng giam"…tự thiêu để phản đối luật Trung Quốc và kêu gọi cho phép đức Đạt Lai Lạt Ma trở về… Ông để là một mảnh giấy …viết rằng "Những kẻ áp bức đã cướp những kho báu trên mảnh đất của chúng tôi, những kẻ áp bức đã đánh cắp sự bình yên và hạnh phúc của chúng tôi".. "Các giới chức ra lệnh cho gia đình ông Tsultrim Gyatso phải thiêu xác ông ngay lập tức, không cho có thời gian để tiến hành các nghi thức cầu nguyện và tang lễ thích hợp"…
Và người thứ hai, "những người Tây Tạng lưu vong nói với VOA rằng người đàn ông 45 tuổi tên Ngawang Jamyang, là một vị sư Tây Tạng và cũng là một học giả, đã bị đánh chết trong phòng giam của cảnh sát…"Họ nói với tôi [Ban Tây Tạng của đài VOA] rằng ông ta chết vì bị tra tấn dã man". "Gia đình ông bị đe dọa là nếu ai kể về cái chết của cho bên ngoài thì cũng sẽ bị xử tử". "Kể từ năm 2009, hơn 120 người Tây Tạng đã tự thiêu để đòi tự do cho Tây Tạng và sự trở về của đức Ðạt Lai Lạt Ma."
Đọc tin này, lương tâm Loài Người chánh trực không thể không cắn rứt, dằn vật. Tự hỏi tại sao cộng đồng thế giới đã vô trách nhiệm với đồng loại để người dân Tây Tạng, những Phật tử hiền lành bị độc tài CS Trung Cộng cướp quê hương và cào bằng văn hoá. Tại sao cộng đồng thế giới, chánh quyền của Thế Giới Tự do, tổ chức Liên Hiệp Quốc lại có thái độ lơ là như vô cảm, tác phong bất động trước những hành động bạo ngược, vô nhân đạo của Trung Cộng như vậy.
Giáo lý Phật Giáo nói chung là không cho sát sanh. Thế mà trong năm 2009 đến nay đã có 120 người Tây Tạng tự thiêu, hy sinh sự sống của mình để giải trừ quốc nạn và pháp nạn. Điều đó cho thấy động lực thúc đẩy quí vị tu sĩ - tăng và ni - Phật Giáo Tây Tạng này hy sinh phải cao cả và quan trọng lắm. Cao cả và quan trọng hơn điều răng cấm sát sinh, nên những tăng ni này mới hy sinh thân mình cầu mong quốc nạn và pháp nạn sớm được giải trừ. Và tin tưởng lương tâm Nhân Lọai đồng loại và và lương tri công chính của cộng đồng Thế Giới đóai hòai đến thân phận của quốc gia dân tộc Tây Tạng đang bị TC thôn tính, sáp nhập, thống trị nghiệt ngã, Phật Giáo Tây Tạng đang bị bách hại trầm trọng nhứt trong lịch sử Tây Tạng. Trước khi quí vị tu sị Phật Giáo Tây Tạng này tự châm lửa tự thiêu, theo nguồn tin của nhiều người tường thuật lại cho các hảng tin quốc tế như AFP, hầu hết những tu sĩ này nói lên tiếng nói sau cùng là, mong mỏi đất nước Tây Tạng được độc lập và Đức Đạt Lai Lạt ma người dân Tây Tạng coi như Phật Sống được trở về cố quốc.
Trong khi đó Đảng Nhà Nước TC áp dụng thái độ và hành động khủng bố đối với người dân Tây Tạng. Đối với những vị tu sĩ tự thiêu không một tấc sắt trong tay, phải lấy mạng sống của mình mong giải trừ quốc nạn và pháp nạn; đối với những Phật tử Tây Tạng bị CS cướp quê cha đất tổ, bị cướp và tàn phá chùa chiềng và tín ngưỡng; đối với những người đáng thương đó, Đảng Nhà Nước TC lại tố cáo là - quân "khủng bố", "hành động khủng bố", gọi sự tự thiêu của quí vị tu sĩ là "quyên sinh", tư tử. Và TC cường điệu, võ đóan lên án Đức Đạt Lai Lạt Ma đã khuyến khích các vụ quyên sinh của các tu sĩ Phật giáo.
Tây Tạng là một quốc gia dân tộc đã có lãnh thổ, chánh quyền, dân tộc, văn hóa và lịch sử lâu đời trên thế giới. Có trước khi hai chữ CS xuất hiện ở u châu. Năm 1950 TC dùng quân đội chiếm Tây Tạng. Năm 1959 Tây Tạng nổi dậy chống lại sự cai trị của TC nhưng thất bại, Đức Đạt Lai Lạt Ma cùng chánh quyền Tây Tạng phải lưu vong chạy sang Ấn Độ. Vị Thủ Tướng hiện thời của chánh phủ lưu vong Tây Tạng là Ông Lobsang Sangay. Ông là một nhà khảo cứu của trường đại học kỳ cựu và nổi danh của Mỹ là Harvard. Người trí thức trẻ này đã nghe theo tiếng gọi của Đức Đạt lai Lạt ma và đồng bào bị TC tước đọat quốc gia dân tộc của mình về thủ phủ của chánh quyền lưu vong làm việc. Ông ở trong một căn nhà không máy lạnh, gió cát thường xuyên, đồng lao công khổ với đồng bào với niềm tin giải trừ quốc nạn và pháp nạn.
Còn cán bộ, đảng viên TC, Đảng Nhà Nước TC một cách có hệ thống và liên tục gây những tội ác chống Nhân Lọai, diệt chũng đối với người dân Tây Tạng. Xâm chiếm đất nước Tây Tạng, áp bức bóc lột dân tộc Tây Tạng, cào bằng văn hóa Tây Tạng, bách hại và diệt Phật Giáo mà người Tây Tạng coi như quốc giáo. Tây Tạng là một thành phần cấu tạo của cộng đồng thế giới, thành tố của Nhân Lọai đang lâm nguy vì sư xâm thực và hán hoá của một nước lớn là TC.
Phật Giáo là quốc giáo lâu đời của người Tây Tạng. Thống kê ghi nhận Tây Tạng trước năm 1959 có 2.711 ngôi chùa và 114.103 tăng sĩ và ni cô. Sáu năm sau bị TC hán hoá chỉ còn lại 553 ngôi chùa và 6.913 tăng sĩ và ni cô tồn tại. Sau Cách Mạng Văn Hóa của TC, chỉ có hơn 80 ngôi chùa và khoảng 7.000 tăng nhân còn lại.
Tăng ni Phật tử còn lại bi cưỡng ép họ phải tham gia học tập chính trị, tố cao tác phong và tư tưởng của nhau, bắt ép sư tăng và ni cô phải ngủ chung với nhau và lăng mạ đức Đạt-Lai lạt ma.
Còn người dân Tây Tạng thì TC bắt phải treo cờ TC, treo ảnh Mao Trạch Đông, và bị cả một hệ thống kiểm soát từ tổ dân phố và công an khu vực.
Tác giả cuốn sách "Ngọn lửa dưới tuyết sơn", Paden Gyatso, nói "cái mà tôi chịu đựng khổ sở nhất trong suốt 33 năm tù không phải là bị đói, bị xiềng xích, bị đánh đập tàn nhẫn, hay bị điện giựt, mà là sự tra tấn để phản bội và điềm chỉ người ta… Dù rằng bị đánh đập là rất đau đớn, nhưng vết thương có thể lành lại, nhưng một khi con người đánh mất phần tinh thần, họ sẽ mất nó vĩnh viễn."
Và câu hỏi của lương tâm Loài Người là cộng đồng thế giới ở đâu, trách nhiệm của cộng đồng thế giới ở đâu, tình liên đới đồng loại ở đâu mà để TC ngang nhiên làm tội ác diệt chũng, tội ác chống nhân loại như vậy./.(Vi Anh)
Tác giả : Vi Anh Đài VOA tiếng nói chánh thức của chánh quyền Mỹ ngày 20 tháng 12 năm 2013 có đi một tin khá dài 629 chữ: "Tây Tạng: 1 vị sư tự thiêu, 1 chết trong phòng giam"…tự thiêu để phản đối luật Trung Quốc và kêu gọi cho phép đức Đạt Lai Lạt Ma trở về… Ông để là một mảnh giấy …viết rằng "Những kẻ áp bức đã cướp những kho báu trên mảnh đất của chúng tôi, những kẻ áp bức đã đánh cắp sự bình yên và hạnh phúc của chúng tôi".. "Các giới chức ra lệnh cho gia đình ông Tsultrim Gyatso phải thiêu xác ông ngay lập tức, không cho có thời gian để tiến hành các nghi thức cầu nguyện và tang lễ thích hợp"…
Và người thứ hai, "những người Tây Tạng lưu vong nói với VOA rằng người đàn ông 45 tuổi tên Ngawang Jamyang, là một vị sư Tây Tạng và cũng là một học giả, đã bị đánh chết trong phòng giam của cảnh sát…"Họ nói với tôi [Ban Tây Tạng của đài VOA] rằng ông ta chết vì bị tra tấn dã man". "Gia đình ông bị đe dọa là nếu ai kể về cái chết của cho bên ngoài thì cũng sẽ bị xử tử". "Kể từ năm 2009, hơn 120 người Tây Tạng đã tự thiêu để đòi tự do cho Tây Tạng và sự trở về của đức Ðạt Lai Lạt Ma."
Đọc tin này, lương tâm Loài Người chánh trực không thể không cắn rứt, dằn vật. Tự hỏi tại sao cộng đồng thế giới đã vô trách nhiệm với đồng loại để người dân Tây Tạng, những Phật tử hiền lành bị độc tài CS Trung Cộng cướp quê hương và cào bằng văn hoá. Tại sao cộng đồng thế giới, chánh quyền của Thế Giới Tự do, tổ chức Liên Hiệp Quốc lại có thái độ lơ là như vô cảm, tác phong bất động trước những hành động bạo ngược, vô nhân đạo của Trung Cộng như vậy.
Giáo lý Phật Giáo nói chung là không cho sát sanh. Thế mà trong năm 2009 đến nay đã có 120 người Tây Tạng tự thiêu, hy sinh sự sống của mình để giải trừ quốc nạn và pháp nạn. Điều đó cho thấy động lực thúc đẩy quí vị tu sĩ - tăng và ni - Phật Giáo Tây Tạng này hy sinh phải cao cả và quan trọng lắm. Cao cả và quan trọng hơn điều răng cấm sát sinh, nên những tăng ni này mới hy sinh thân mình cầu mong quốc nạn và pháp nạn sớm được giải trừ. Và tin tưởng lương tâm Nhân Lọai đồng loại và và lương tri công chính của cộng đồng Thế Giới đóai hòai đến thân phận của quốc gia dân tộc Tây Tạng đang bị TC thôn tính, sáp nhập, thống trị nghiệt ngã, Phật Giáo Tây Tạng đang bị bách hại trầm trọng nhứt trong lịch sử Tây Tạng. Trước khi quí vị tu sị Phật Giáo Tây Tạng này tự châm lửa tự thiêu, theo nguồn tin của nhiều người tường thuật lại cho các hảng tin quốc tế như AFP, hầu hết những tu sĩ này nói lên tiếng nói sau cùng là, mong mỏi đất nước Tây Tạng được độc lập và Đức Đạt Lai Lạt ma người dân Tây Tạng coi như Phật Sống được trở về cố quốc.
Trong khi đó Đảng Nhà Nước TC áp dụng thái độ và hành động khủng bố đối với người dân Tây Tạng. Đối với những vị tu sĩ tự thiêu không một tấc sắt trong tay, phải lấy mạng sống của mình mong giải trừ quốc nạn và pháp nạn; đối với những Phật tử Tây Tạng bị CS cướp quê cha đất tổ, bị cướp và tàn phá chùa chiềng và tín ngưỡng; đối với những người đáng thương đó, Đảng Nhà Nước TC lại tố cáo là - quân "khủng bố", "hành động khủng bố", gọi sự tự thiêu của quí vị tu sĩ là "quyên sinh", tư tử. Và TC cường điệu, võ đóan lên án Đức Đạt Lai Lạt Ma đã khuyến khích các vụ quyên sinh của các tu sĩ Phật giáo.
Tây Tạng là một quốc gia dân tộc đã có lãnh thổ, chánh quyền, dân tộc, văn hóa và lịch sử lâu đời trên thế giới. Có trước khi hai chữ CS xuất hiện ở u châu. Năm 1950 TC dùng quân đội chiếm Tây Tạng. Năm 1959 Tây Tạng nổi dậy chống lại sự cai trị của TC nhưng thất bại, Đức Đạt Lai Lạt Ma cùng chánh quyền Tây Tạng phải lưu vong chạy sang Ấn Độ. Vị Thủ Tướng hiện thời của chánh phủ lưu vong Tây Tạng là Ông Lobsang Sangay. Ông là một nhà khảo cứu của trường đại học kỳ cựu và nổi danh của Mỹ là Harvard. Người trí thức trẻ này đã nghe theo tiếng gọi của Đức Đạt lai Lạt ma và đồng bào bị TC tước đọat quốc gia dân tộc của mình về thủ phủ của chánh quyền lưu vong làm việc. Ông ở trong một căn nhà không máy lạnh, gió cát thường xuyên, đồng lao công khổ với đồng bào với niềm tin giải trừ quốc nạn và pháp nạn.
Còn cán bộ, đảng viên TC, Đảng Nhà Nước TC một cách có hệ thống và liên tục gây những tội ác chống Nhân Lọai, diệt chũng đối với người dân Tây Tạng. Xâm chiếm đất nước Tây Tạng, áp bức bóc lột dân tộc Tây Tạng, cào bằng văn hóa Tây Tạng, bách hại và diệt Phật Giáo mà người Tây Tạng coi như quốc giáo. Tây Tạng là một thành phần cấu tạo của cộng đồng thế giới, thành tố của Nhân Lọai đang lâm nguy vì sư xâm thực và hán hoá của một nước lớn là TC.
Phật Giáo là quốc giáo lâu đời của người Tây Tạng. Thống kê ghi nhận Tây Tạng trước năm 1959 có 2.711 ngôi chùa và 114.103 tăng sĩ và ni cô. Sáu năm sau bị TC hán hoá chỉ còn lại 553 ngôi chùa và 6.913 tăng sĩ và ni cô tồn tại. Sau Cách Mạng Văn Hóa của TC, chỉ có hơn 80 ngôi chùa và khoảng 7.000 tăng nhân còn lại.
Tăng ni Phật tử còn lại bi cưỡng ép họ phải tham gia học tập chính trị, tố cao tác phong và tư tưởng của nhau, bắt ép sư tăng và ni cô phải ngủ chung với nhau và lăng mạ đức Đạt-Lai lạt ma.
Còn người dân Tây Tạng thì TC bắt phải treo cờ TC, treo ảnh Mao Trạch Đông, và bị cả một hệ thống kiểm soát từ tổ dân phố và công an khu vực.
Tác giả cuốn sách "Ngọn lửa dưới tuyết sơn", Paden Gyatso, nói "cái mà tôi chịu đựng khổ sở nhất trong suốt 33 năm tù không phải là bị đói, bị xiềng xích, bị đánh đập tàn nhẫn, hay bị điện giựt, mà là sự tra tấn để phản bội và điềm chỉ người ta… Dù rằng bị đánh đập là rất đau đớn, nhưng vết thương có thể lành lại, nhưng một khi con người đánh mất phần tinh thần, họ sẽ mất nó vĩnh viễn."
Và câu hỏi của lương tâm Loài Người là cộng đồng thế giới ở đâu, trách nhiệm của cộng đồng thế giới ở đâu, tình liên đới đồng loại ở đâu mà để TC ngang nhiên làm tội ác diệt chũng, tội ác chống nhân loại như vậy./.(Vi Anh)

