Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Cách xưng hô trong tiếng Việt
Nguyễn Hưng Quốc.


Kinh nghiệm rút ra từ nhiều năm dạy tiếng Việt ở hải ngoại cho tôi thấy, đối với những người mới học, trong tiếng Việt, có hai điều khó nhất: thanh điệu và cách xưng hô.
Ðối với những ngoại quốc học tiếng Việt, hai cái khó ấy cơ hồ ngang nhau, dù cái khó thứ nhất, về thanh điệu, cần phải được ưu tiên khắc phục trước, để từ đó, học viên mới có thể phát triển được khả năng nghe và nói của họ. Ðối với học viên Việt Nam sinh trưởng ở nước ngoài, cái khó về thanh điệu thường không đến mức quá trầm trọng: dù chưa bao giờ chính thức học tiếng Việt, họ cũng đã từng nghe cha mẹ và bà con chuyện trò bằng tiếng Việt, đã quen với cái điệu lên bổng xuống trầm của tiếng Việt, vì vậy, thường, không cần có tài thẩm âm lắm, họ cũng có thể phân biệt được sự khác nhau giữa những chữ, chẳng hạn, MA, MÁ, MÀ, MẢ, MÃ, và MẠ.

Tuy nhiên, cả người ngoại quốc lẫn người Việt sinh trưởng ở nước ngoài đều cảm thấy lúng túng về cách xưng hô trong tiếng Việt.

Mà không phải chỉ có những người mới học. Ngay cả những người sử dụng tiếng Việt cực kỳ thành thạo cũng có lúc, thậm chí, nhiều lúc cảm thấy bối rối trong việc xưng hô.

Ai cũng biết cách xưng hô của người Việt chủ yếu dựa vào quan hệ đẳng cấp và tuổi tác. Ðẳng cấp thì có nhiều loại: không nhất thiết phải là chức vụ trong hệ thống công quyền, ngay cả thứ bậc trong gia đình hay một số nghề nghiệp trong xã hội cũng là những đẳng cấp cần tuyệt đối tôn trọng trong cách xưng hô.

Ngày xưa, đẳng cấp là nguyên tắc chủ đạo. May là thời ấy, ý niệm tôn ti còn nặng nên người nào an phận người nấy, vấn đề xưng hô chắc không mấy khi cần phải đặt thành vấn đề; cứ hễ gặp người có chức tước cao hơn mình thì cứ cúi đầu và khom lưng xuống, “bẩm quan”, “bẩm cụ”. Muốn cho chắc ăn hơn nữa thì thêm tính từ “lớn” sau các chữ “quan” hay chữ “cụ” ấy.

Những người làm quan được gọi là “quan”, đã đành. Những người không phải là quan nhưng trông có vẻ hơi sang sang một chút cũng được gọi là “quan”. Bác sĩ là “quan”: “quan đốc”. Nhà báo cũng là “quan”: “quan tham nhựt trình”.

Không “quan” thì là “thầy”: nghề gì dính đến giấy mực đều là “thầy”: thầy thông, thầy ký, thầy cò, v.v…

Từ 1945 đến nay, tất cả những kiểu xưng hô phong kiến như thế đều bị bỏ. Ngay những cách gọi “ông” hay “bà” cũng bị cho là khách sáo và cổ hủ: Bỏ. Cách xưng hô trở thành thân mật hơn: hễ ai bằng hoặc lớn tuổi hơn bố mẹ mình thì mình gọi là “bác”; trẻ hơn chút thì gọi là “chú” hay “cô”; bằng hoặc lớn tuổi hơn mình thì mình gọi là “anh” hay “chị”; trẻ hơn thì gọi là “em”. Ðại khái thế.

Nguyên tắc thì đơn giản nhưng việc thực hiện không phải không phức tạp. Ðiều những người ngoại quốc học tiếng Việt thường phàn nàn nhất là: rất khó đoán tuổi người Việt Nam. Ai cũng có vẻ trẻ măng cả. Hơn nữa, trong các cuộc chuyện trò mặt đối mặt thì còn đỡ. Nói chuyện qua điện thoại mới khó. Làm thế nào để có thể xác định được ngay người ở đầu dây bên kia khoảng bao nhiêu tuổi để xưng hô cho thích hợp? Chịu. Thú thực, tôi đã bao nhiêu lần nghe các sinh viên nêu lên cái câu hỏi ấy. Vẫn không biết trả lời thế nào cho thực ổn.

Nguyên tắc dựa vào tuổi tác, tưởng dễ, cũng có vô số ngoại lệ. Ví dụ, với người trẻ hơn mình thì mình có thể gọi là “em”. Nhưng thế nào mới được gọi là trẻ hơn mình? Một tuổi? Năm tuổi? Mười tuổi? Ở lứa tuổi 20, việc xưng là “anh/chị” và gọi người khác là “em” trong những lần gặp đầu tiên có khi còn thể tất. Nhưng từ khoảng lứa tuổi 30, 40 trở lên, khi người ta đã có gia đình và đã có chút địa vị trong xã hội, việc xưng hô như thế rất dễ bị xem là suồng sã, thậm chí, lỗ mãng.

Tôi có một người quen sau nhiều năm ở hải ngoại, cùng vợ về Việt Nam, gặp một số bạn bè mới. Ông ấy kể là, suốt cả hơn một tháng ở Việt Nam, ông vẫn không tránh được cảm giác kinh ngạc và bất bình khi nhiều người đàn ông ông mới quen, có khi, chỉ mới gặp lần đầu, đều gọi vợ ông là “em” và xưng “anh” một cách ngon ơ. Ông cảm thấy có cái gì như bị xúc phạm. Ngày trước, ở miền Nam, là một công chức thuộc loại khá cao, ông sống trong một môi trường khá nhiều lễ nghi. Lâu lắm, ông chưa nghe ai, trừ ông và những người thân trong gia đình, gọi vợ ông là “em” cả. Ông cứ đinh ninh chữ “em” ấy là một cái gì ít nhiều có tính độc quyền. Vậy mà…

Ngược lại, trong nhiều giới, đặc biệt là giới văn nghệ, không ít người chỉ muốn người khác gọi là “anh” hay “chị” thôi. Tôi nhớ, lần đầu tiên gặp Mai Thảo, tôi gọi ông là “bác”; ông xua tay: “anh đi.” Ừ, thì… “anh”. Tôi vừa gọi “anh” vừa thấy hơi ngường ngượng. Ông sinh năm 1926, lớn hơn tôi đến 30 tuổi. Riết, cũng quen dần. Sau đó, gặp Phạm Duy, lớn hơn tôi 35 tuổi, tôi cũng lại cứ anh anh em em. Sau đó, gặp Võ Phiến, lớn hơn Mai Thảo một tuổi và trẻ hơn Phạm Duy bốn tuổi, quen miệng, tôi cũng gọi bằng “anh”; ông có vẻ hơi… sửng sốt. Thoáng nhìn, tôi biết ngay, bèn đổi lại “bác”. Thì mọi chuyện lại yên ổn. Thành ra, ở đây, ngay trong giới văn nghệ, cũng chẳng có luật lệ gì cho việc xưng hô cả. Tuỳ người.

Chuyện xưng hô trong tiếng Việt, khó là thế.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Kinh tế xúông nhưng Hollywood lại thu lợi kỷ lục

Image
Phim khoa học giả tưởng “Transformers: Revenge of the Fallen” thu được 402 triệu đôla tại nội địa Hoa Kỳ,
đóng góp vào mức thu kỷ lục của Hollywood trong năm 2009. (Hình: Marco Secchi/ Getty Images)
LOS ANGELES ( Reuters) - Mặc dù kinh tế bị suy thoái, tuy nhiên Hollywood có thể đạt kỷ lục về mức tiền thu về do bán vé xem phim, do các khán giả đến xem đông đảo tại các rạp hát ở Hoa Kỳ và Canada, vượt quá mức 10 tỷ đôla trong năm nay (2009), hơn cả số thu kỷ lục trước đây, vào năm 2007, là 9.68 tỷ đôla.

Các hãng phim Hoa Kỳ đã khởi sự năm 2009, với Tháng Giêng đã đạt mức một tỷ đôla, cũng là lần đầu tiên đạt được một mức thu như vậy, nhờ các cuốn phim ăn khách như “Avatar”, “Sherlock Holmes” và “It's Complicated”.

Theo trang mạng của công ty chuyên theo dõi số thu của các hãng phim của Hollywood, là Hollywood.com, thì tính đến ngày 8 Tháng Mười Hai 2009, các rạp hát tại thị trường nội địa - bao gồm Hoa Kỳ và Canada - đã thu về được tổng số tiền bán vé là 9.67 tỷ đôla, và chỉ sang ngày Thứ Tư, 9 Tháng Mười Hai, 2009, thì mức thu đã vượt qua được mức thu kỷ lục của năm 2007, vì mặc dù tình hình kinh tế suy thoái, số người thất nghiệp đông đảo, vượt cả mức kỷ lục trước đây, nhưng số người đi xem phim lại càng trở nên đông đảo hơn, vì đó là thú giải trí tương đối rẻ nhất.

Mức thu của các hãng phim của Hollywood, tại thị trường nội địa trong năm qua (2008) là 9.63 tỷ đôla.

Paul Dergarabedian, giám đốc của trang mạng Hollywood.com, nhận xét:

“Tình hình kinh tế toàn cầu chịu cảnh suy thoái nặng nề và ngay các hãng phim của Hollywood cũng gặp phải nhiều vất vả, nhưng dân chúng trong năm 2009 vẫn đổ xô đi xem phim một cách đông đảo.”

Tính cho cả năm 2009, Hollywood.com dự trù các rạp hát nội địa trên toàn Hoa Kỳ và Canada sẽ thu về một số tiền bán vé kỷ lục lên đến 10.6 tỷ đôla.

Năm 2009 này, các hãng phim của Hollywood đã thu bộn, nhờ các xuất phẩm điện ảnh, như “Transformers: Revenge of the Fallen”, thu được 402 triệu đôla chỉ riêng việc chiếu tại thị trường nội địa (trong khi chưa tính trên thế giới, thu về được khoảng 1 tỷ đôla khác).

Ngoài ra còn có các cuốn phim ăn khách khác như: “Harry Potter and the Half-Blood Prince” (thu về 301 triệu đôla tại thị trường nội địa), phim về ma ca rồng “The Twilight Saga: New Moon”...

Thị trường chiếu phim Hoa Kỳ và Canada, thường được coi là thị trường nội địa, tuy nhiên thường chiếm đến 35% tổng số thu của thị trường thế giới, nên được coi là thị trường chiếu phim lớn nhất trên thế giới. (L.T.)

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Nguon goc cua ban nhac Silent Night
"Silent night" đã được dịch thành hàng trăm thứ tiếng và được cất lên hàng triệu triệu lần vào những dịp cuối năm.

Bài hát này vang vọng từ những ngôi nhà thờ nhỏ bé ở Andes cho đến những thánh đường hoành tráng ở Antwerp hay La Mã. Ít ai biết được “Silent Night” lôi cuốn bao người có một nguồn gốc kỳ lạ...

Câu chuyện bắt đầu từ 11-12-1792, tại Salzburg, Áo. Cậu bé Joseph Mohr sinh ra trong gia đình một thợ đan nghèo, cha bỏ đi. Đến ở với bà ngoại nghèo khổ túng thiếu, mỗi khi đói rét, Joseph thường lang thang đâu đó để quên đi. Chính những lần cuốc bộ đó đã làm thay đổi cuộc đời cậu và cả cách thức chào đón Noel trên thế giới.

Một lần, Joseph ghé vào một nhà thờ trong làng và gặp ông Johann Hiernle, người chỉ huy dàn hợp xướng. Joseph bắt đầu tham gia sinh hoạt cộng đồng. Nhận thấy tài năng thơ ca, âm nhạc của Joseph, khi cậu đủ tuổi, Hiernle cho cậu vào học tại một trường ngữ văn nổi tiếng tại Kremsmnster. Rồi Joseph tốt nghiệp trường dòng, được phong linh mục khi vừa 23 tuổi. Về một nhà thờ ở miền núi xinh đẹp, Joseph sáng tác rất nhiều bài thơ. Xúc cảm từ một mùa Noel tuyết trắng phủ không khí yên ắng của đất trời trong một buổi sáng nọ,

Joseph ngồi xuống chiếc bàn gỗ và viết một mạch bài thơ ngắn mang tên “Stille Nacht! Heilige Nacht!” (tiếng Anh có nghĩa là “Silent Night! Holy Night!”; tạm dịch “Đêm thinh không! Đêm linh thiêng!).

Rồi Joseph chuyển đến nhà thờ Thánh Nicholas. Đêm trước Noel 1818, cây đàn dương cầm bị hỏng. Không thể để ngày Noel thiếu lễ nhạc, cha Joseph nảy ra ý định cho ca đoàn hát cùng với tiếng đệm guitar. Thời gian cấp bách, ông nhớ lại bài thơ ngắn “Stille Nacht! Heilige Nacht!” và đề nghị Franz Gruber (người chơi đàn cho nhà thờ) lo phần nhạc, Joseph đệm guitar và hát giọng nam cao, Franz hát giọng trầm và cứ sau mỗi đoạn thì ca đoàn của nhà thờ sẽ hòa chung phần điệp khúc. Vào gần nửa đêm, giáo dân trong vùng tưởng như thường lệ người chơi đàn đại phong cầm tấu lên những bài ca mừng Noel hùng tráng... Nhưng không, chỉ nghe thánh thót luyến láy tiếng đàn guitar nhẹ nhàng nâng giai điệu Silent Night phảng phất âm hưởng dân ca vùng nông thôn nước Áo chầm chậm lan tỏa ra trong tĩnh lặng thinh không của một thời khắc thiêng liêng…. Một Noel thật đáng nhớ.

Sau đó Joseph Mohr được thuyên chuyển đến nơi khác và trong suốt 7 năm sau đó Silent Night đã chẳng bao giờ được cất lên.

Tình cờ một người thợ tên Karl Mauracher đến sửa đàn cho nhà thờ Thánh Nicholas. Sửa xong, Mauracher mời ông Gruber thử đàn. Khi Gruber lướt phím xướng cho đoạn nhạc mở đầu của Silent Night, Mauracher cảm ngay vẻ đẹp bài hát nên xin đem cả nhạc và lời của “Silent Night” về làng Kapfing. Hai gia đình ban nhạc nổi tiếng Rainers và Strassers được mời thưởng thức và liền bị cuốn hút, quyết định đưa bài hát mới vào các lễ hội âm nhạc mừng Noel. Sau đó nhà Strasser đã đưa Silent Night vòng quanh Bắc Âu. Đến năm 1834, họ biểu diễn cho Đức vua Frederick William đệ IV của nước Phổ, quá ấn tượng, vua truyền lệnh ca đoàn của cung đình phải xướng bài hát này vào mỗi dịp Noel.

Gia đình Rainers thì lại sang Mỹ vào năm 1839 và đã biểu diễn Silent Night bằng tiếng Đức ngay tại Đài tưởng niệm Alexander Hamilton ở bên ngoài khuôn viên nhà thờ Trinity của New York. Năm 1863, Silent Night được Jane Campbell và John Young dịch sang tiếng Anh…

Silent Night vẫn được cho là của các thiên tài âm nhạc như Haydn, Mozart, Beethoven. Mãi đến 1995, cuộc tranh luận mới chấm dứt khi người ta tìm lại được bản viết tay của Joseph Mohr. Ngay trên góc trên bên phải của bài nhạc, Joseph viết “Soạn nhạc: Fr. Xav. Gruber”.
(BT góp nhặt)

Mời các anh chị và các bạn thưởng thức Silent Night. Rất hay!

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Nguyễn Văn Ðông và, điểm đứng chông chênh giữa hai đầu tả, hữu

Image
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông (Hình: NVÐ)

Image
Nguyễn Văn Ðông, Trần Văn Trạch, Lê Thương. (Hình: NVÐ)

Du Tử Lê
(Tiếp theo kỳ trước. Bài thứ 2)

Mặc dù họ Nguyễn tình nguyện hiến cuộc đời mình cho quân đội khi ông còn rất trẻ; nhưng bên cạnh tư cách một người lính, ông còn là một nhạc sĩ. Trong vai trò này, ông lại là nhạc sĩ miền Nam, được thế giới biết đến tên tuổi rất sớm.

Ðiển hình là sự kiện ngay từ năm 1961, nghệ sĩ Trần Văn Trạch đã được đài Europe No.1 và Ðài Truyền Hình Pháp thu âm, rồi thu hình ca khúc “Chiều Mưa Biên Giới” của ông, gây tiếng vang lớn ở Âu Châu. “Biến động” này đã tạo sức dội ngược về Việt Nam, khiến chỉ trong vòng 3 tháng, nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam của nhạc sĩ Lê Mộng Bảo, đã bán hết 60,000 bản nhạc lẻ, phá kỷ lục số ấn bản lớn nhất từ xưa, ở thời điểm đó. Âm vang của ca khúc “Chiều Mưa Biên Giới” lại được khuếch tán thêm nữa, khi cũng trong năm 1961, nghệ sĩ Trần Văn Trạch, lần đầu tiên, trình bày ca khúc ấy tại “Ðại nhạc hội Trăm Hoa Miền Nam” với dàn nhạc của Ðài Truyền Hình Pháp, thu “play back.” (2)

Tôi cho họ Nguyễn là một trường hợp đặc biệt của giới văn nghệ sĩ miền Nam Việt Nam, 20 năm. Khi, một mặt, ông vẫn chu toàn nhiệm vụ “người lính gác giặc” của mình. Mặt khác, ông vẫn can đảm cất lên tiếng nói của lương tri. Tiếng nói của một kẻ sĩ trước thời cuộc. Những ghi nhận từ đáy tầng khát khao của dân tộc, đất nước...

Vì thế, ngay khi lệnh cấm của Bộ Thông Tin được báo chí thời đó đăng tải nơi trang nhất thì dư luận quần chúng khắp nơi đã đồng loạt phản ứng. Họ bênh vực họ Nguyễn, như bênh vực người phát ngôn trung thực nhất, về những mơ ước, khát khao thầm kín của họ. Phản ứng bất ngờ của đám đông cũng khiến nhiều cơ quan ngôn luận nhập cuộc. Lên tiếng bênh vực. Ủng hộ tinh thần tác giả “Chiều Mưa Biên Giới.”

Sự kiện vừa kể, cách gì, cũng không cứu được tác giả thoát khỏi 15 ngày trọng cấm! Lệnh phạt theo quân kỷ. Ban hành bởi Bộ Quốc Phòng. Lý do:

“Ðương sự đã không tuân hành huấn lệnh quy định rằng, bất cứ một quân nhân nào, khi sáng tác thơ, văn, âm nhạc... trước khi phổ biến cho công chúng, phải được nhân viên hữu trách của Bộ Quốc Phòng duyệt trước và, cấp giấy cho phép!...”

Lệnh phạt ấy còn kèm theo một điều khoản trói tay, triệt tiêu nỗ lực phát triển tài hoa, nghệ thuật của họ Nguyễn. Ðó là điều khoản:

“...Ðương sự không được phép xuất hiện trong mọi sinh hoạt ca nhạc nơi công cộng!”

Mặc dù khi ấy, với cấp bậc đại úy, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông đảm nhiệm nhiều chức vụ khá quan trọng như: Bí thư Tổng giám đốc Cảnh sát, Công an và, Chánh văn phòng Bộ Tư lệnh Biệt Khu Thủ Ðô.

Hồi tưởng thời điểm này, tác giả “Phiên Gác Ðêm Xuân” có lần đã tâm sự với một số người thân của ông rằng: Trở thành nhạc sĩ hay nghệ sĩ nói chung, là một trở ngại lớn cho ông, trên bước đường binh nghiệp. Bởi vì những cấp Bộ có trách nhiệm thăng chức đều không tin tưởng giới nghệ sĩ. Họ quan niệm nghệ sĩ là giới ăn chơi, hút xách, lãng mạn, tính khí thất thường... không thích hợp với vai trò điều quân khiển tướng. Mặc dù ngay tự khởi đầu binh nghiệp, họ Nguyễn đã chứng tỏ ông có đầy đủ uy tín, thành tích và, thâm niên để được đề bạt vào những chức vụ quan trọng hơn...

Trường hợp của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông khiến không ít người liên tưởng tới trường hợp của cố Ðại Tá Anh Việt/Trần văn Trọng - Tác giả những ca khúc nổi tiếng như “Bến Cũ,” “Thơ Ngây”... Tuy ông không bị nhiều khó khăn, gập ghềnh như trường hợp họ Nguyễn; nhưng với thâm niên quân vụ như họ Trần, cuối cùng, chức vụ cao nhất mà nhạc sĩ Anh Việt được giao phó, cũng chỉ là cục trưởng Cục Quân Cụ mà thôi.

Về mặt trái của tấm huy chương hay sự nổi tiếng, theo ghi nhận của tác giả ca khúc “Về Mái Nhà Xưa” là, phản ứng đố kỵ, gièm pha của những người cùng ngành nghề! Khi họ thấy, một sớm, một chiều, chỉ với một ca khúc thôi, Nguyễn Văn Ðông đã được quần chúng nhiều giới khác nhau, ái mộ, như ái mộ một thần tượng mà họ chờ đợi đã từ rất lâu.

Bên cạnh đó, họ Nguyễn cũng kể lại một câu chuyện điển hình cho cái mà, ông gọi là “tai họa” cho bất cứ một nghệ sĩ nào, nếu may mắn có được một vị trí tương đối, trong guồng máy chính quyền hay, quân đội. Ðó là sự kiện một số không nhỏ những người thân quen, nhân danh “tình nghĩa nghệ sĩ” xin ông can thiệp để họ được làm lính kiểng, lính ma; hoặc, vận động, chạy chọt cho họ được thuyên chuyển từ các đơn vị tác chiến, tiền đồn về văn phòng hay, hậu cứ! Và, khi bị từ chối thì, cũng chính đám người đó, lại là những người tìm mưu, lập kế ám hại ông nhiều nhất.

Tác giả “Hải Ngoại Thương Ca” nhớ lại:

“Có lần Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gọi tôi vào dinh Ðộc Lập, trình diện ông. Ông bảo, ‘Anh bị rất nhiều người tố cáo rằng anh lợi dụng danh tiếng nhạc sĩ đi hại đời con gái người ta! Anh đã phá hoại gia cang nhiều gia đình người khác!Anh cũng bị tố là ăn chơi sa đọa, đơn tố cáo chất chồng ở đây.. ’ ’’. Anh phải stop ngay vì uy tín của quân đội...! ’ ’’”

Dù thường xuyên bị đe dọa bởi những cơn bão lớn, nhiều lúc tưởng chừng con đường binh nghiệp có thể bị cắt ngang, thậm chí rơi vào vòng lao lý, nhưng giữa hai con người quân nhân và nghệ sĩ, thời gian đã cho thấy họ Nguyễn vẫn chọn nghiêng nặng về phía con người nghệ sĩ. Phải chăng, từ sâu thẳm tâm hồn mình, ông từng tự nhắc nhở mình rằng: “Lòng trần còn tơ vương khanh tướng - thì đường trần mưa bay gió cuốn - còn nhiều anh ơi”?

Tôi nghĩ, ý niệm “khanh tướng” này của tác giả, nhiều phần đi ra từ câu thơ cổ “nhất tướng công thành vạn cốt khô.”

Vì thế, sau hai ca khúc bị cấm phổ biến là “Chiều Mưa Biên Giới” và “Mấy Dặm Sơn Khê,” nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông vẫn tiếp tục sáng tác những ca khúc mang tính “phản chiến” như các bài “Lá Thư Người Lính Chiến” Bài này bị Bộ Thông Tin cấm lưu hành vì các câu, “Mẹ ơi! Cầu xin cho xóm làng quê hương xóa mờ chiến trường - Ðồng bào ta cùng thương nhau xóa hận thù đi - xóa đi đường ranh giới...” Mặc dù, hai câu chót, trong phần ca từ của bài này, ghi rõ rằng, “Mẹ ơi và con trai của mẹ ngày mai sẽ về... sẽ về - Mẹ ơi! Mẹ hiền ơi! Chớ buồn vì con, nước non chưa tròn...”

Cách khác, dù mong mỏi hòa bình đến cho dân tộc, nhưng không vì thế mà tác giả từ chối nhiệm vụ của một người lính.

Ca khúc nhan đề “Anh Trước Tôi Sau,” Nguyễn Văn Ðông viết để tưởng niệm người bạn thuở cùng học với ông ở trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tầu: Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân, Tư lệnh sư đoàn bị bắn rớt máy bay, tử nạn khi ông mới 37 tuổi, cũng bị xếp vào loại nhạc “phản chiến.” Nội dung ca khúc này chỉ muốn nói, là những quân nhân đã tự nguyện hiến mình cho tổ quốc thì, cái chết là điều đương nhiên sẽ phải đến với người lính. Khác nhau chăng chỉ là thời gian. Sớm, muộn!

Riêng ca khúc “Anh” tức “Anh Nhớ Gì Không Anh” của họ Nguyễn thì bị cấm vì các câu như: “Nước mắt dân Hời, thành quách một thời tan tành hệ bởi đâu? Sao ta nỡ xa ta, xẻ chia sơn hà cho Bắc Nam mình xa cách nhau!”

Như đã nói, cái tinh thần kẻ sĩ, cái ý thức đất nước, dân tộc, khiến Nguyễn Văn Ðông chấp nhận thua thiệt trong binh nghiệp, nhưng bảo vệ được khí tiết của một kẻ sĩ thao thức, trằn trọc trước tang thương đất nước. Nhưng đó là sự lên tiếng của một người lính tự nguyện. Một người lính vẫn làm tròn bổn phận của một công dân thời đất nước binh đao, ly loạn... Sự kiện này vẫn khác, hoàn toàn khác với những nhạc sĩ cũng giương cao ngọn cờ phản chiến; nhưng lại là những người từ chối trách nhiệm của một công dân trước thời cuộc.

Hơn một lần, nhạc sĩ Hoàng Thi Thao từng nói với tôi, “Về phương diện nhạc chống chiến tranh thì, Nguyễn Văn Ðông là người thứ nhất, người đầu tiên xông xáo vào con đường nhậy cảm và, gai góc này.”

Tuy nhiên, tôi vẫn thấy cần phải ghi nhận một cách công bình rằng, tiếng nói của Nguyễn Văn Ðông, cách gì, cũng vẫn là tiếng nói phản ảnh tâm tư của một nghệ sĩ đau đáu trước những đau thương, tang chế của đất nước - Song song với con người chọn con đường binh nghiệp khi còn rất trẻ. Ðó là sự khác biệt to lớn, giữa một người đứng trong lửa đạn và, những người đứng ngoài, với những kêu đòi vô trách nhiệm.

Trong đời nhạc Nguyễn Văn Ðông, tình yêu tổ quốc luôn nồng nàn, như thể đó là tình yêu thứ nhất của đời ông:

“Và xin em hiểu rằng, người đi giúp nước nào màng danh chi - Cầu cho đất nước vượt ngàn gian nguy - Lòng anh vẫn nhớ tình người hôm nay - Ðời dâng cho núi sông - Lòng này thách với tang bồng - Ðừng làm má thắm phai hồng, buồn lắm em ơi!...” (Trích “Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp”)

Hoặc:

“Người về đây giữa non sông này - Hội trùng dương hát câu sum vầy - Về cho thấy con thuyền nước Nam - Ði vào mùa xuân mới sang - Xa rồi ngày ấy ly tan - Tôi đi giữa trời bồi hồi - Cờ bay phất phới tôi quên chuyện ngày xưa - Mong sao nước Việt đời đời - Anh dũng oai hùng chen chân thế giới...” (Trích “Hải Ngoại Thương Ca”)

Tôi cho đó là tấm lòng, là trái tim của một nghệ sĩ chọn ở với tổ quốc của mình, bằng một tình yêu một chiều; mà, không một tình yêu nào có thể so sánh hoặc thay thế được.

Du Tử Lê

(Mời đọc Người Việt, Thứ Năm 10 Tháng Mười Hai, 2009: “Binh nghiệp và, nhạc nghiệp” Nguyễn Văn Ðông)

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Nhớ Lời ‘Chú’ Nói...


Trần Văn Giang




“You’re talking cheap. You’re not a man!”
(“Bad” – Michael Jackson)

Nhờ giời, đất nước Việt Nam mình thật may mắn đặc biệt có hai chủ tịch nhà nước với đạo đức và trí tuệ thuộc hạng ưu việt, qua từng giai đoạn của lịch sử, đã giáo hóa dẫn dắt nhân dân Việt một cách mênh mông tình dân và đậm đà ý đảng: Đó là “bác” Hồ và “chú” Triết.

Vì vấn đề “phạm húy,” nên phải tạm thời gọi chủ tịch Triết là “Chú” cho nó long trọng. Chứ cái danh xưng “Bác” đã được đảng và nhà nước lộng kiếng, “đăng ký” hẳn hoi riêng cho “Bác Hồ” rồi; thành ra chủ tịch Triết vì vai vế còn thấp (hơi lùn) và hậu sinh kể cũng còn lâu mới đủ sức lấn sân, và khó mà tiếm cái danh “Bác” của bác vĩ đại. Phải chờ chú Triết “làm việc” khá hơn rồi sẽ hạ hồi phân giải sau về danh xưng của chú. Tất cả còn tùy ở chú Triết về lâu về dài…

Ngôn từ ngoại giao của vẹm trên vấn đề gọi tên người xem ra còn độc hơn vịt xiêm lai. Hồi trước, đối với những nhân vật lãnh đạo, nhân vật đã nổi tiếng thế giới đã được mọi nơi kính nể; nhưng nếu chẳng may vì một vài lý do nào đó mà CS không thích họ (mà CS thì có kính nể ai đâu?) thì CS đều gọi là “thằng” hết ráo trọi. Chẳng hạn thằng “Dơn sơn “(TT Johnson), thằng “Ních xơn” (TT Nixon), thằng “Bảo đại,” thằng “Diệm,” thằng “Thiệu,” thằng “Kỳ,” thằng “Mác na ma ra” (cựu Bộ trưởng quốc phòng Hoa kỳ Mac Namara) ... Ngược lại, CS gọi nhau là Bác (Hồ) là Chú (bác Hồ gọi mọi người, mọi lứa tuổi nhân dân, mọi cấp bậc đảng nhà nước là các “chú” cả!); là Anh (Nguyễn Văn Trỗi); là Chị (“Dên phôn đa” – Jane Fonda) hết ráo.... Bây giờ, qua mầu thời gian, vẹm lạ đổi tông và gọi Clinton , Bush, Obama… và ngay cả thuyền nhân vượt biển tị nạn CS (năm 1980) bs Bùi Duy Tâm là “Ngài!” Thật oái oăm!!!

Những lời “bác” dậy thì đã được nhân dân ta học tập đi học tập lại rất “tốt” và nhuyễn nhừ rồi. Bây giờ đã đến lúc phải bắt đầu ghi chép và phân giải lời “chú” Triết là vừa. Để mai đây, lỡ chú có phải gió hay ăn uống nhằm món độc nào đó (đ/c Dương Bạch Mai ngày trước cũng trong hoàn cảnh tương tự) lăn quay ra xùi bọt mép thì ít ra đảng ta còn có sẵn “tư liệu” mà tiếp tục đem ra dậy dỗ nhân dân giai đoạn hai - hậu bác Hồ - chứ!
Sau đây là phần ghi chép những nhời vàng ngọc đáng đồng tiền bát gạo của chú Triết qua từng gian đoạn.

Ngày 23 tháng 6 năm 2007, chú Triết thăm đi Mỹ và nói chuyện với các “đại biểu” doanh nhân Việt gốc vẹm. Mỹ gốc Việt, và Mỹ gốc Mỹ… ở Dana Point, California là:

“Mời các nhà đầu tư đến Việt nam; vì Việt nam có nhiều gái đẹp lắm!”

Thiệt tình! Hình như hồi còn trai trẻ chú Triết “bị” sống dưới thời “phồn vinh giả tạo” của chế độ các “thằng” Thiệu-Kỳ, có dư ăn dư mặc và dư chút đỉnh tiền đi thư giản ở ngã ba chú ía, ngã năm chuồng chó; rồi hào sảng ghi tâm lời rao hàng ngọt như mía lùi của mấy “em gái” đứng ở các đầu ngã ba ngã năm. Lời rao cũ có “ép-phê” thứ thiệt đã làm chú Triết không từ chối được... Cho nên bây giờ chú Triết nhớ lại lời rao hàng đã có kết quả chứng nghiệm đầy “kinh nghiệm bản thân” này, đem ra sửa chữa chút đỉnh, “recycle” dùng lại kêu gọi đầu tư vào Việt Nam chắc phải có hiệu quả chăm phần trăm...


Có một “sự cố” là chỉ số thông minh (“IQ”) của chú Triết chưa vượt qua con số của nhiệt độ trong nhà (“room temperature”) nên chú không thể thấy là câu chào hàng này có vẻ hơi phản thùng, chơi khăm, chửi bố thím Triết ở nhà (?) Chả là, “con gái Việt Nam đẹp lắm” nhưng mà thím Triết toàn diện tính cả vốn lẫn lời chỉ có mỗi cái tên do cha mẹ đặt ra là đẹp (Trần Thị Kim Chi) còn lại nhan sắc, vóc dáng của thím nhìn rất thảm hại không kém gì Thị Nở. Thím nhìn thoang thoáng qua giống y chang như một thím bán hột vịt lộn gánh?! Nhưng nhìn kỹ lại thì thấy giống thiệt. (Tôi xin lỗi các thím bán hộn vịt lộn ở chỗ này. Tôi muốn nói là chỉ có người là xấu chứ không có nghề nào xấu cả. Dáng dấp của thím Triết là cái dáng đi bán hột vịt lộn gánh mà làm đệ nhất phu nhân nước Việt Nam thì hình như trước khi cách mạng thành công chỉ có trong chuyện thần thoại mà thôi!)

Ngày 27 tháng 8 năm 2007, chú Triết trong “bài nói” về “an ninh quốc phòng” khi chú thăm Tổng cục chính trị, Bộ quốc phòng đã “cảnh báo” là:

“Dù ai nói ngả nói nghiêng. Dù ai muốn bỏ điều 4 hiến pháp gì đó (*) thì không có chuyện đó. Bỏ cái đó [“điều 4”] đồng nghĩa với việc chúng ta tuyên bố tự sát.”

Bỗng nhiên CS và chú Triết sợ chết thế nhỉ? CS từng coi mạng sống của mình và nhân dân ta như tiền bác Hồ. Như CS đã tuyên truyền là người của cách mạnh anh hùng tự đốt mình thành đuốc rồi miệng thổi sáo tay ôm bom đi tà tà (?) vào kho đạn của địch cho nổ tung; hoặc lấy thân xác gầy gò của mình làm vật cản súng nặng tầm xa khi súng đang được kéo lên núi cao bị trượt xuống dốc; hoặc đã ôm chất nổ ngậm ống đu đủ lặn lội dưới nước để nổ tung phá cầu cống; hoặc lăn ra chết như rạ hàng hàng lớp lớp trong các trận đánh biển người; hoặc quyết tử tự khóa chân vào ổ súng lớn để đánh đến chết... cơ mà??? Ậy! Sao chậm hiểu quá! Bi giờ là thời buổi “đổi mới,” “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” khác rồi. Đâu còn cái thuở mặc quần xà loỏng cởi trần công đồn nữa. Chú nào mặt cũng béo đẫy đầy thịt, làm chủ 2-3 căn nhà, có vợ lớn vợ bé cả tiểu đội, có tiền của rủng rỉnh bỏ ở nhà băng ngoại quốc... Nếu bỏ (“điều 4 hiến pháp”) tức là bỏ quyền lực độc tài đảng trị để nhân dân có cơ hội vùng lên dành lấy quyền làm chủ thì đảng viên CS cỡ chú Triết chết là cái chắc; làm gì có đủ thời giờ để tự sát cho tốn thuốc chuột, phí đạn... Mà lỡ chết đi thì của cải tài sản đã cất công vơ vét kỹ lưỡng của nhân dân làm sao còn giữ được? Chú Triết tuy là hơi lùn nhưng chú cũng có cố gắng ráng nhìn xa xa: thấy bài học lịch sử của đảng CS Liên sô và Đông âu đã đi trước và to lớn hơn Việt Nam nhiều mà còn tan rã; còn rét hơn nữa là có anh Sô-sét-cu (**) chủ tịch nhà nước của CS Romania suốt 24 năm mà còn bị dân cho đi bán muối; thì chú Triết lo lắng “cẩn trọng” nhắn nhủ các đảng viên CSVN là đúng quá. Làm gì phải phản bác.

Ngày ngày 29 tháng 9 năm 2009, chú Triết viếng thăm nước Cu Ba và phát biểu một câu xanh rờn được khán giả (?) vỗ tay vang dội (!).

“Có người (?) ví von, Việt Nam Cu Ba, như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Cu Ba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam thức thì Cu Ba nghỉ...”

Sổ sách “tư liệu” của đảng ta đâu có cái mảng nào ghi chép là chú Triết học trường kịch nghệ ngành hài đâu mà Chú Triết ăn nói thiệt mắc cười. Chú cứ ấm a ớ chẳng cho ai biết “có người ?” là người nào? Hay là chính chú đã tự ý vẽ ra cái vụ ví von dzui quá xá này? “Có người (?)” nói chú nhái lại lời bác Hồ đã nói về nước Cu ba từ ngày trước; nay chú sửa chữa lại chút đỉnh cho hợp thời trang, hợp tình hợp cảnh cho dzui hơn!


“Một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây?” Phía Đông là ở phía Đông của cái gì? Phía Tây là phía Tây của cái gì mới được? Xin nhắc tuồng chú Triết một tí là phía Đông của Việt Nam là Trường sa và Hoàng sa. Đây mới chính là cái “phía Đông” mà chú nên nhắc đến. May ra anh Phi-đen “góp ý” cho chú cách “xử lý” cái lưỡi bò phá lấu!...

“Việt Nam và Cu Ba, như trời đất sinh ra!” Trời đất! Chỉ có hai nước CS ưu việt này được trời đất sinh ra thôi hả? Còn các quốc gia khác thì dưới đất chui hay ai sinh ra vậy hả ông nội? Chú nói khơi khơi kiểu đó người ta biết chú nói cái gì? Chú ví von cái củ cải gì vậy hỡi trời? Không biết chú có hiểu chú đang nói kí rì?

“Việt Nam thức thì Cu Ba nghỉ???” Hay là chú nhớ lại chuyện cũ lúc trước hai thằng cùng nghèo (vì bị Mỹ cấm vận) nên hùa nhau tổ chức đi ăn trộm đồ đạc của hàng xóm: Một thằng phải thức canh cho thằng kia khiêng đồ; rồi bây giờ chú nhớ ra, cũng lại sửa chút đỉnh là “một thằng thức canh cho thằng kia ngủ?” Mà nè. Cu ba ngủ thì Cu má đang làm gì mà chú không nói, không nhắc nhở gì cà? Chú làm phước cho bàng dân thiên hạ biết thêm cho nó hoàn tất tập phim bộ...

“Canh giữ hòa bình thế giới?” Việt Nam mất Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Bãi biển Tục Lãm; rồi lại mất luôn các đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào tay của Tàu. Chú Triết có làm gì được không mà đòi làm chuyện đa đoan gìn giữ hòa bình cho thế giới??? Canh giữ hòa bình kiểu này thì mai mốt đây chú phải diễn hài bằng tiếng tầu mất! Ở Cu ba, chú Triết còn làm một chiêu ruồi bu khác là “cắt miệng” một số dân Việt đang đói bằng cách đem “tặng” nhân dân của anh râu xồm Phi-đen 3000 tấn gạo! Cu Ba lo ăn còn không xong, nói gì đến gìn giữ hòa bình cho thế giới? Anh Phi-đen chỉ ăn đậu (“bean”) chứ có thích ăn gạo đâu mà chú Triết cất công làm cái chuyện “cho sư mượn lược, cầm c... cho chó tè” nảy. Nhìn lại biến chuyển của thế giới từ khi CS “cướp” chính quyền năm 1945 đến nay, thế giới có lúc nào hòa bình đâu? Từ chiến tranh quốc cộng Trung hoa, Triều tiên, chiến tranh Đông dương, Việt Nam; đến chiến tranh ở Trung Đông, Phi châu, Iraq, A phú hản... chú Triết chỉ có tài nói phét...

Ngày 24 tháng 11 năm 2009 mới là một ngày đặc biệt nổi bật nhất của chú Triết. Chú Triết có một “bài nói” trước “đại hội vịt cừu yêu nước” họp ở Mỹ đình Hà nội rất đáng đồng tiền bát gạo với rất nhiều câu bất hủ cùng một lúc biểu dương cả ba bốn vấn đề lớn của người CS: trí tuệ, tư cách, và văn hóa CSVN... “Bài nói” này cũng được “vịt cừu” hoan hô vang dội!!!
Đây là câu thứ nhất:

"... Chúng ta từ một nước trong chiến tranh, chưa có những cái kinh nghiệm trong quản lý, và ở nước người ta đó thì muốn tiêu cực, muốn tham nhũng cũng khó, vì hệ thống luật pháp nó chặt chẽ. Còn ở Việt nam của mình, thì có khi không muốn tham cũng động lòng tham. Cái người thủ quĩ cứ giữ tiền khư khư. Ở quĩ lúc nào cũng có số dư, cho nên lúc bí quá thì em mượn một chút. Mượn không thấy ai đòi hết, thì em mượn thêm. Chứ không phải người Việt nam tham nhũng nhứt thế giới. Không phải vậy! Cho nên tui đề nghị quí vị ở nước ngoài khi nghe những thông tin này, rồi nhìn về Việt nam cũng đừng có hốt hoảng; cứ nghĩ rằng trong nước mình tiêu cực quá... Mấy hồi sao mấy ổng óanh giặc sao giỏi thế?! Mà bây giờ ổng tiêu cực thế... Đây là qui luật muôn đời.”

"... Chúng ta từ một nước trong chiến tranh, chưa có những cái kinh nghiệm trong quản lý.” Mẹ kiếp! Chú Triết có cần được nhắc tuồng là chiến tranh đã chấm dứt 34 -35 năm rồi chứ không phải mới năm ngoái! Đảng và lãnh đạo nhà nước có cần thêm 35 năm nữa để học cách quản lý hay không? Nên biết Việt Nam đang tụt hậu 97 năm so với Singapore rồi đấy. Người Tây phương họ nói “Time is money!” 35 năm tính ra tiền thì biết bao nhiêu mà kể???

"Lúc bí quá thì em mượn một chút. Mượn không thấy ai đòi hết, thì em mượn thêm." Chú Triết luôn luôn tìm ra cách thật tốt để trổ cái tài ví von văn minh miệt vườn của mình. Rất tiếc chú đang là chủ tịch nhà nước chứ không phải đứa trẻ học mẫu giáo. Ví von kiểu ngô nghê: “ở Việt nam của mình, thì có khi không muốn tham cũng động lòng tham” ra cái điều “ở Việt Nam có muốn trong sạch cũng không được!” Nhưng nhức đầu và đau bụng là chỗ ngay sau đó chú lại giải nghĩa là: “Chứ không phải người Việt nam tham nhũng nhứt thế giới. Không phải vậy!!?" Sau đó chú có một cái “punch line” để vỗ về các em “vịt cừu” rằng: “Cho nên tui đề nghị quí vị ở nước ngoài khi nghe những thông tin này, rồi nhìn về Việt nam cũng đừng có hốt hoảng; cứ nghĩ rằng trong nước mình tiêu cực quá?" Lại muốn chửi thề khi nghe câu này! Chú Triết là con người “trí tuệ” nên ăn nói phải khác người thường. Tuy nhiên, cái đám thính gỉa đại đa số là “khoa bảng, trí thức cục phân”ngồi nghe cách giải lý kỳ cục như vậy mà vổ tay đồm độp thì không hiểu họ thuộc Giống gì? Người hay ngợm? Học trường nào? Bằng cấp lấy ở đâu? Câu thứ hai:
“Con người ta, trong mỗi người, ai cũng có hỉ, nộ, ái, ố hết chơn. Chúng ta là con một nhà, là con Lạc, cháu Hồng, cùng một bọc trứng sinh ra. Trên thế giới này ít nơi nào có cái đó lắm..."
Đang dùng một lô từ ngữ thật súc tích như : “có người,” “con người ta,” “cái người,” “người ta,” “mấy ổng...” để dậy dỗ đám khoa bảng áo gấm về làng về chuyện “tham nhũng;” đột nhiên chú Triết lại quẹo mà không ra dấu (“signal”) trước, nhắc tới tình nghĩa đồng bào "cùng một bọc trứng sinh ra." Chú Triết muốn họ động lòng “cùng là bà con” mà mau mau gởi thêm tiền về Việt Nam để cho “vì nghĩa đồng bào" nên cán bộ đảng viên chúng ông "không tham không được?" Càng giải mã các câu nói ngây ngô của chú càng muốn ứa máu... mồm.

Câu thứ ba nêu ra rất rõ cái trí tuệ của CS khi vấn kế cho TT Hoa kỳ Obama và cũng phơi bày ra cái tư cách người CS trên vấn đề ngoại giao. Chú Triết phang bừa là:

“Nhưng mà tôi nói rằng ông Obama ơi, vấn đề này là khó lắm đó… Tôi nói mà tôi nhìn Obama, tôi thấy ổng thế này cũng chăm chú lắm á, cũng lắng nghe. Như thế là mình vừa động viên ông Obama, nhưng mà mình vừa phân hoá cái nội bộ của ổng.
Như vậy, tôi muốn nói với các đồng chí, với quý vị rằng: Cái vai trò, cái vị thế của mình bây giờ cũng… ngang hàng với người ta, cũng nói năng cũng đúng mức, đàng hoàng.”

“... là mình vừa động viên ông Obama, nhưng mà mình vừa phân hoá cái cái nội bộ của ổng” Ậy! Thật tai hại! Ông Obama nhìn xuống chú Triết hơi kỹ (chăm chú) chủ ý xem chú Triết có khùng không mà chú Triết lại hiểu lầm (!) Obama có cả một “think tank” làm cố vấn gồm những tay có ăn có học đàng hòang và đầu óc thuộc cỡ thầy của chú Triết, hà cớ gì mà Obama phải nghe chú Triết thất học vấn kế này kế nọ? Còn cái nghịch lý “vừa động viên... vừa phân hóa” thì có gì là lạ. Đó là cái bản chất lật lọng cơ bản của con người CS. Tương tự như CS vừa lấy tiền của Việt kiều gởi về vừa chửi Việt kiều là phản động chạy theo liếm giầy đế quốc... Mà nè nè! Nhân tiện đây, tôi cũng xin hỏi chú Triết là lúc trước chú đi thăm Hồ Cẩm Đào ở Bắc kinh, không biết chú “động viên” và “phân hóa” Hồ Cẩm Đào ra làm sao mà ngay sau đó thì Hồ Cẩm Đào cho hải quân Trung cộng cưỡng chiếm Trường sa và Hoàng sa; đồng thời gởi một lô “tầu lạ” đánh chìm tầu đánh cá và bắt giam ngư phủ Việt Nam ở ngay trong hải phận Việt Nam. Nhiều ngư phủ ta phải quỳ lậy “tầu lạ” như tế sao để xin tha mạng???

“ Cái vai trò, cái vị thế của mình bây giờ cũng… ngang hàng với người ta.” “Cái vai trò, cái vị thế” của chú Triết chỉ đứng ngang ”háng” (dấu sắc) “người ta (?)” có đẹp đẽ gì mà gì mà bốc phét!


“Cũng nói năng cũng đúng mức, đàng hoàng.” Ái chà chà! Cách nói chuyện tiếu lâm vỡ lòng như vậy mà chú Triết gọi là “đúng mức, đàng hoàng?” Khó mà tin là loại chuyện vỡ lòng diễu dở này lại có thể cho cái đám “trí thức cục phân” ngồi “Nơi giữa Đại Hội Vịt cừu” “Một nỗi bình an???” Theo tôi, đây có khác gì cái “bình an” mà cộng sản Bắc Việt, MTGPMN và cả chính khách xu thời của Mỹ đã cho quân, cán chính miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cái “bình an” mà TT Nguyễn Văn Thiệu đã có lần gọi là “bình an của nhà mồ” (“Peace of grave!”)

Quả tình tổ quốc Việt Nam đã đến lúc mạt vận cho nên mới có loại người (hay ngợm) với cái trí tuệ như chú Triết làm chủ tịch nhà nước. Đọc lại từng câu nói của chú Triết chỉ thấy toàn là dấu hỏi??? Chú Triết là một sự mỉa mai đau đớn mà trời đất đã phạt nuớc Việt và dân tộc Việt.
Hết ý kiến.

Trần Văn Giang
(Orange County – 12/10/2009

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

HẢI NGOẠI VỚI VIỆC LÀM TỪ THIỆN

Hữu-Tâm
Độ bảy tám năm trở lại đây, câu chuyện từ thiện từ hải ngoại về VN nhằm cứu giúp bà con ta ở quê nhà đang gặp cảnh khốn khó, đói nghèo tàn tật v.v... một ngày một rộ lên. Đặc biệt là kể từ khi có "Quỷ Hỗ Trợ Cộng Đồng" rồi tiếp theo "Nghị Quyết 36" của VC tung ra hải ngoại, thì các tổ chức từ thiện bịp bợm bỗng nhiên mọc lên như nấm.

Ở đâu cũng nghe tới từ thiện. Từ các tổ chức nhân danh tôn giáo, thánh đường, nhà thờ, chùa chiền, rồi đến các tổ chức tư nhân; ở đây tổ chức dạ tiệc gây quỹ cứu mù, cứu đói, giúp trẻ mồ côi khuyết tật, cứu Làng Nổi bán máu. Ở đàng kia tổ chức đại nhạc hội cứu thương phế binh, giúp nạn nhân bão lụt, giúp nạn nhân phong cùi, cứu người già neo đơn v.v... Có nhóm lại còn tổ chức cứu đồng bào Tết Mậu Thân. Cứ cái đà này có lẽ nay mai lại có nhóm đòi gây quỹ giúp các ma tăng bỏ chùa đi... cưới vợ nữa !?

Dư luận trong cộng đồng người Việt hải ngoại ở khắp nơi, nhứt là các cơ quan truyền thông báo chí NVQG đã đặt thành vấn đề thật quan trọng cần phải được nêu lên để làm sáng tỏ một sự thật rõ ràng cái bí mật ở đàng sau bức màn "từ thiện". Bao nhiêu là bài bình luận của những tờ báo tên tuổi với những cây viết có giá trị đã đưa đến một kết luận thật dứt khoát :

*Hầu hết các tổ chức từ thiện do người Việt hải ngoại chủ trương đều là thi hành NQ-36 VC lừa bịp mị dân, lợi dụng lòng từ tâm của mọi người để moi tiền bỏ túi hay ăn chia với VC. (Đỗ Vẫn Trọn gây quỹ cứu Mù; Vũ Thành An gây quỹ Từ Thiện Teresa; Cô Tim, Ngôi nhà May mắn; Mục sư Nguyễn Xuân Bảo cứu đói; Trúc Giang, nhóm Sưỡi Ấm; Quốc Nam cứu Làng Nổi bán máu; Võ Thành Đông, cứu trợ thương phế binh v.v...).

*Điều đơn giản rất dễ hiểu là vì chánh sách bất di bất dịch của VC là tuyệt đối cấm không cho bất cứ tổ chức từ thiện nào, kể cả của người nước ngoài, không được tự do vào VN để làm công tác từ thiện. Điều này có nghĩa là, tất cả mọi công tác từ thiện, dù bằng tiền mặt hay bằng phẩm vật... đều phải qua tay "nhà nước" làm trung gian. CS Hànội còn từ chối cả tàu Hồng Thập Tự của Hải Quân Mỹ tới Sàigòn và Đà Nẳng giúp giải phẩu bệnh tật miễn phí cho đồng bào ta. Không bao giờ VC cho phép các tổ chức người Việt hải ngoại trực tiếp cứu giúp người dân.

Hãy nhớ lại trận bão lụt đồng bằng sông cửu long năm 2004. Lúc đó quý Thầy trong Giáo hội PGVNTN đã lạc quyên được mấy mươi tấn phẩm vật đem đến phân phát cho các nạn nhân, thì bị VC điều công an ập tới tịch thu toàn bộ phẩm vật, giải tán hết đồng bào và bắt hết các Thầy, nói rằng : Tụ tập đông người bất hợp pháp, vi phạm luật nhà nước. Các phẩm vật tịch thu chúng lấy đem chia nhau xài coi như "chiến lợi phẩm" !

Rồi đến trận bão lụt miền Trung năm 2005. Một phái đoàn nhân đạo của các quốc gia Liên Âu đến phân phát phẩm vật, tiền bạc cho các nạn nhân. Vì là phái đoàn ngoại quốc nên VC không dám ngang nhiên trắng trợn tịch thu, bắt bớ. Chúng đợi khi phái đoàn đã quay về Sài Gòn rồi, thì lập tức ngay trong đêm đó, công an VC đã đến từng nhà đồng bào tịch thu vơ vét sạch sành sanh hết... rồi cũng chia nhau xài tỉnh bơ ! Bởi vậy chúng không ham "tịch thu" sao được ?

Một số lớn các nhóm nhân danh từ thiện bịp bợm ở hải ngoại này thừa biết cái chánh sách ác ôn của VC là như vậy, nên họ không dại gì mà đem tiền về để cho VC chơi cha cướp sạch của họ nên đành phải bỏ vô túi riêng của mình cho chắc ăn. Còn đối với các "tổ chức từ thiện" tay sai thì chúng đã có quy định "ăn chia" kiểu phần thịt béo bở là của tao, xương xẩu là của mày. Lòng nhân đạo và từ thiện thì trong chúng ta ai cũng có nhưng chúng ta cần phải cân nhắc cho thật kỹ, lòng nhân đạo của ta phải đặt có đúng chỗ không ? Hay rồi chẳng những tiền mất mà còn bị coi là ngây thơ khờ khạo !?

Kiểm điểm lại chỉ ngay ở Hoa Kỳ này thôi cũng có đến mấy chục tổ chức từ thiện tạm phân chia ra hai loại. Một loại gọi là thường trực, trường kỳ; Còn loại kia thì được gọi là "cơ hội chủ nghĩa".

*Loại thường trực trường kỳ là loại từ thiện có tổ chức, có danh xưng hẳn hoi, làm việc liên tục 24/24/ngày, 7 ngày/tuần, 30 ngày/tháng, 365 ngày/năm. Loại này "nổi cộm" nhứt hiện nay thì có tổ chức Thánh Đường Sài Gòn ở Cali của ông mục sư Nguyễn Xuân Bảo; Thứ nhì là Quỹ Từ Thiện Teresa của phó tế Vũ Thành An ở Oregon (VTA nguyên là một tù nhân chánh trị HO, làm an-ten nổi tiếng trong tù trù dập anh em); Thứ ba nhóm Sưỡi Ấm của nhạc sĩ Trúc Giang; Thứ tư là nhóm Cứu Mù của Đỗ Văn Trọn.

*Loại cơ hội chủ nghĩa còn có biệt danh là "từ thiện du kích" hay "nhảy dù", lâu lâu hễ rình thấy có cơ hội nào đó liền nhảy ra làm một vố rồi ôm tiền lặn mất. Loại này đông như kiến làm sao đếm cho xuể !? Ví dụ như ở Seattle có mụ Nguyễn Thị Nguyệt "cứu mù"; Quốc Nam "cứu Làng Nổi bán máu"; Võ Thành Đông "cứu Thương phế Binh VNCH... Các nhóm này đôi khi yểm trợ cho các nhóm ở nơi khác tới (Đỗ Vẫn Trọn, cứu mù; Tim Rebeau, ngôi nhà may mắn; Nhà văn Văn Quang ở thành Hồ, cứu trợ TPB.... Đàng sau các nhóm này luôn luôn được sự hỗ trợ mạnh mẽ của thương gia Trần Đức... bao chót).

Chúng ta có thể khẳng định rằng : Hầu hết các tổ chức từ thiện cho dù là nhân danh cái gì đi nữa cũng đều là lừa bịp hết. Xin hãy nhìn cho kỹ :
•
• *Thứ nhứt, do chánh sách ác ôn của VC có bao giờ để cho vật gì bên ngoài lọt khỏi bàn tay chúng đâu, dù là một vật nhỏ li ti như sợi chỉ cây kim ?
• *Có bao giờ chúng ta thấy có tổ chức từ thiện nào đã CÔNG KHAI MINH BẠCH về vấn đề TÀI CHÁNH, về các khoản thu, chi của họ không ? Ví dụ như nhóm mục sư Nguyễn Xuân Bảo, Đỗ Vẫn Trọn, Vũ Thành An... Bọn VC đã "hợp tác" với các nhóm này, cho phép dàn dựng vài màn "đóng phim" cứu trợ... rồi đem về chiếu trên TV để lừa bịp bà con ta. Những màn kịch rẻ tiền này cũng đã làm cho nhiều người ngây thơ bị lừa một cách dễ dàng.
Đây là bằng chứng :

.- Như nhóm mục sư Nguyễn Xuân Bảo, trên màn ảnh truyền hình hàng tuần của hai đài truyền hình VN là SBTN và VHN, ông Bảo thường thông báo số chuyến xe của ông đã chở phẩm vật đi cứu trợ đồng bào mắc bịnh phong cùi. Khi chúng tôi viết bài này thì trên màn hình ông Bảo thông báo là đến chuyến thứ 67 rồi.. Có một điều lạ là số chuyến xe thì mỗi tuần đều tăng lên, nhưng trên màn hình thì tuần nào cũng như tuần nấy, cũng đều là hình ảnh cũ từ mấy năm qua được chiếu đi chiếu lại : vẫn hình một đoàn xe năm chiếc đó mà thôi !

Thế mà lúc nào ông Bảo cũng oang oang kêu gọi gởi tiền về cho Thánh Đường Sài Gòn ở Cali cho ông để cứu giúp nạn nhân phong cùi trong những chuyến sắp tới (sic). Không bao giờ nghe ông nói tới chuyện công khai tài chánh cả.

- Như nhóm Đỗ Vẫn Trọn dùng đài truyền hình Viên Thao cũa ông ta, cũng cho chiếu đi chiếu lại từ năm này qua năm khác, cảnh một pha mổ mắt ở Sàigòn, với sự có mặt của ông ta mặc đồ y sĩ trắng trùm mũi miệng, đứng chứng kiến tại chỗ.

- Như Vũ Thành An, chụp hình cái mắt kiếng có một cái bóng mờ trong đó, rồi ông ta đăng lên báo, đọc trên đài phát thanh ở Portland/OR bịp bợm rằng "Đức Mẹ" đã hiện trong mắt kính của ông ta ! Rồi bịp bợm mời bà con tới dự tiệc gây quỹ cho bà con chứng kiếng tận mắt. Nhưng chẳng bao giờ y cho ai xem cả !?

Trở lại vụ mục sư Nguyễn Xuân Bảo. Ông ta không bao giờ công khai công bố tài chánh và danh sách các đối tượng được cứu giúp. Chúng ta cứ tưởng tượng chỉ vỏn vẹn có vài ba năm mà ông ta đã thực hiện được 67 chuyến đi đi, về về Việt Nam dễ dàng như đi chợ. Mỗi chuyến như vậy đều có đoàn xe cả chục chiếc chở đầy phẩm vật cứu trợ... Phét lác có hàng trăm đồng bào sắp hàng, rần rộ tấp nập tới nhận lãnh phẩm vật. Phải thành thật khen ông Bảo là người tu hành, lại khéo hợp tác với VC dàn cảnh đóng phim bịp bợm còn hay hơn cả tài tử gạo cội.
Nhưng cho dù ông ta có đóng phim hay đến đâu đi chăng nữa thì cũng lòi cái đuôi bịp của ông ra. Mỗi lần lên truyền hình, ông đều quảng cáo, đây là chuyến đi thứ 60, 61, 62... nhưng vẫn là hình ảnh cũ được chiếu đi chiếu lại mà thôi !

Rõ ràng những hình này ông Bảo và bọn VC dùng để "bịp" cả thế giới và người Việt hải ngoại thấy rằng: Xã hội VN bây giờ là một thiên đường đầy lòng nhân ái, cảnh tương thân tương trợ giữa người hải ngoại và người trong nước thật gắn bó với nhau, và lũ cán bộ ác ôn VC bây giờ đã trở thành ma sơ, dì phước hết rồi.

Thôi xin can ông mục sư Bảo, phét lác vừa phải thôi, còn để đức lại cho con cháu nó nhờ. Không biết ông được thụ huấn, tẩy não bao nhiêu năm trong cái lò rèn CS ? Ông đã được thay tim đổi óc mấy lần bởi lũ phù thủy VC ? Có một điều ông cần khắc cốt ghi tâm : Người Việt Quốc Gia ở hải ngoại cùng đồng bào ở trong nước theo chiều dài của lịch sử hơn nửa thế kỷ đấu tranh một mất một còn với CS đã có quá nhiều kinh nghiệm với lũ vô thần CS, không dễ gì ngây thơ tin theo cái trò lừa bịp dối trá qua cái khúc phim "cứu trợ" nạn nhân phong cùi bịp bợm của ông. Xin ông hãy nhớ cho kỹ. Trên đây chúng tôi chỉ nêu lên vài cái tổ chức từ thiện để làm điển hình hầu trong chúng ta cùng có chung một nhận định thật rõ ràng dứt khoát.

*Tất cả các tổ chức từ thiện của người Việt ở hải ngoại này lạc quyên đem tiền về nước cứu trợ đều là LỪA BỊP, nếu không bỏ túi riêng thì cũng ăn chia, hoặc làm kinh tài cho VC. Ngoài ra, còn có các tổ chức từ trong nước ra như tổ chức của cán cái Tim Ruồi Bu, hay một số quý Cha, quý Thầy "quốc doanh" v.v... Nói chung là chúng ta phải có thái độ thật dứt khoát KHÔNG CHO MỘT CẮC cho bất cứ tổ chức từ thiện ở trong hay ngoài nước như đã nói trên. Lòng từ tâm của chúng ta phải đặt cho đúng chỗ đừng để vô tình lại trở thành việc làm NỐI GIÁO CHO GIẶC.

Hữu-Tâm

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Máy bay chở khách 787 Dreamliner của hãng Boeing
vừa bay thử thành công lần đầu tiên tại Hoa Kỳ.
Chuyến bay kéo dài ba tiếng đồng hồ khởi hành và kết thúc tại Everett, gần thành phố Seattle. Đáng ra thời gian bay dài hơn, nhưng máy bay phải hạ cánh vì mưa lớn.

Dự án 787 đã bị trì hoãn tới hai năm rưỡi vì nhiều vấn đề, trong có vấn đề về thiết kế.

Boeing đặt nhiều kỳ vọng vào loại máy bay này, mà hãng quảng cáo là một trong các loại phi cơ tốn ít năng lượng nhất thế giới.

Hai phi công tham gia bay thử đã kiểm tra hệ thống an toàn, kể cả các thiết bị hạ cánh.

Ông Randy Neville, một trong hai người, nói: "Chiếc máy bay vận hành đúng như trông đợi, thật sung sướng khi được bay nó."

Hàng trăm nhân viên Boeing, khách mời và người hiếu kỳ đã tới chứng kiến buổi bay thử.

Phóng viên BBC Rajesh Mirchandani, có mặt tại Everett để tham quan, nói chiếc máy bay đã vượt qua "dấu mốc quan trọng".

Anh cho biết tiếng reo hò vang dội khi chiếc phi cơ hai màu xanh trắng cất cánh trên sân bay ẩm ướt.

Máy bay Dreamliner nay sẽ được thử nghiệm nhiều lần trong chín tháng tới, sáu chiếc thay nhau bay liên tục trong ngày.

Dự án quan trọng


Đã có 840 đơn đặt hàng cho máy bay Dreamliner từ các nước trên thế giới, tuy một số hợp đồng bị hủy vì chậm trễ trong dự án.

Máy bay này được ưa chuộng vì nhẹ. Thân máy bay làm bằng carbon và titanium, giúp tiết kiệm nhiên liệu và chi phí bảo hành.

Thiết kế của máy bay cũng khá gọn gàng và nó có thể bay xa mà không cần tiếp nhiên liệu.

Ông Howard Wheeldon, phân tích gia về giao thông của hãng BGC Partners, nói với BBC rằng đây là dự án mang tính cách mạng, sẽ thay đổi ngành hàng không dân dụng.

Ông nói: "Máy bay này sẽ thay đổi mọi nguyên tắc hàng không dân dụng, vì các thiết bị trong khoang."

"80% là chất liệu composite, với 35 tấn nhựa sợi carbon, nên máy bay nhẹ hơn và tốn ít nhiên liệu hơn."

Hãng cạnh tranh với Boeing là Airbus cũng đang nghiên cứu chế tạo máy bay trọng lượng nhẹ. Loại A350 cũng được làm từ chất liệu composite carbon.

Airbus đã ra mắt A380, máy bay khổng lồ có thể chở số lượng lớn hành khách, tuy nhiên chỉ hạn chế bay đến các sân bay có đủ điều kiện đón phi cơ hai tầng.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/busines ... iner.shtml

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Hành trình của kim cương

Từ các mỏ ở châu Phi, những viên kim cương qua tay vô số những người thợ trước khi yên vị trên ngón tay của các cô dâu.

Image
Dân làng Sam Quandja đào kim cương tại khu mỏ ở vùng phía đông bắc hẻo lánh của nước cộng hòa Trung Phi.
Có tới 65% trên tổng số 130 triệu viên kim cương thô được khai thác từ các mỏ châu Phi.

Image
Một công nhân mỏ làm việc dưới lòng đất tại mỏ kim cương Petra, ngoại ô thủ đô hành chính Pretoria, của Nam Phi.
Ngành công nghiệp kim cương bắt đầu hoạt động từ năm 1867 và hàng triệu người châu Phi làm việc tại các khu mỏ khắp châu lục này.

Image
Những viên kim cương thô sau đó được đưa tới chỗ những chuyên gia của Israel để xem xét và mài giũa.

Image
Công nhân tại nhà máy trang sức Trung Quốc làm những chiếc nhẫn kim cương.

Image
Một cảnh trong nhà máy kim cương ở Thâm Quyến, Trung Quốc.

Image
Người mẫu giới thiệu viên kim cương 62,3 carat, không tì vết, hình quả lê tại nhà đấu giá Christie ở Geneva, Thụy Sĩ.

Image
Người bán hàng thử một chiếc vòng kim cương ở cửa hàng tại Israel.

Image
Một cặp tình nhân đi xem đồ trang sức tại cửa hàng của công ty De Beers trong ngày trước Giáng sinh năm ngoái.
De Beers là một trong những công ty phân phối kim cương lớn nhất thế giới.

Image
Một người đàn ông đeo nhẫn đính hôn cho người tình ở một cửa hàng trang sức tại Tokyo.

Hải Ninh (Ảnh: Reuters)

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

TỰ ĐIỂN PHỤ NỮ

Mới đây, tổ chức đàn ông thế giới đã xuất bản một cuốn sách dày ba mươi tập, nhằm giúp cho các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về phụ nữ, một phạm trù phức tạp nhất của hành tinh . Chúng tôi xin lần lượt trích đăng một số chương trong đó, để các chàng trai tội nghiệp khỏi bỡ ngỡ và có một số kiến thức cần thiết để sống sót .

Chương I: Sự khác nhau giữa phụ nữ và nai .

1. Nai ngơ ngác suốt đời. Phụ nữ chỉ ngơ ngác khi cần ngơ ngác .
2. Nai không bao giờ giả nai. Còn phụ nữ thường làm thế .
3. Nai có sừng toàn đầu. Phụ nữ có sừng trong ánh mắt.
4. Nai ăn cỏ . Còn phụ nữ thỉnh thoảng ăn nai .
5. Gặp tai nạn, nai biến thành khô nai. Còn gặp tai nạn, phụ nữ biến thành … mít ướt .
6. Nai chạy theo đàn. Phụ nữ cũng chạy theo đàn, nhưng không phải đàn nai.
7. Nai nhảy tung tăng. Phụ nữ đi tung tăng .

Chương II: Sự giống nhau của phụ nữ và cọp .


1. Cọp gầm. Phụ nữ cũng gầm.
2. Cọp uyển chuyển. Phụ nữ mềm mại .
3. Trẻ con đứa nào cũng sợ cọp và đứa nào cũng sợ mẹ mìn, mặc dù cả đời có khi không nhìn thấy .
4. Cọp được gọi là ông ba mươi, Phụ nữ được gọi là sư tử.
5. Cọp nổi tiếng về sự oai vệ . Phụ nữ nổi tiếng về sự quý phái.
6. Cọp vẫn quan tâm tới móng. Phụ nữ cũng vậy .
7. Cọp nổi tiếng về da. Phụ nữ nổi tiếng về áo quần.
8. Cọp đôi lúc chỉ vồ chứ không ăn. Phụ nữ đôi khi chỉ yêu mà không lấy .

Chương III: Sự khác nhau giữa phụ nữ và khẩu súng .

1. Súng chỉ nổ khi có người bóp cò. Phụ nữ có thể tự khai hỏa .
2. Súng có thể bắn từng viên. Phụ nữ có thể trở thành súng máy, bắn hàng loạt .
3. Khi nguy hiểm người ta mang súng bên mình. Khi hạnh phúc người ta cần phụ nữ bên mình.
4. Súng có thể cướp cò. Phụ nữ có thể nói mà không báo trước .
5. Đầu súng có lưỡi lê. Đầu phụ nữ có cái kim kẹp tóc.
6. Đàn ông có thể ra đi với một khẩu súng, và cũng có thể ra đi với một cô gái .
7. Số đàn ông bị thương vì súng luôn ít hơn số đàn ông bị thương vì phụ nữ .
8. Súng có thể hết đạn. Phụ nữ chả bao giờ .
9. Ta xách súng. Còn phụ nữ xách ta.

Chương IV: Sự giống nhau và khác nhau của phụ nữ và một con sông .

1. Sông đôi khi không biết đâu là bờ. Phụ nữ cũng thế .
2. Biết bơi đôi lúc cũng chết. Hiểu phụ nữ đôi lúc còn chết nhanh hơn.
3. Sông êm đềm. Phụ nữ phẳng lặng.
4. Sông cuốn trôi mọi thứ khi ta xuống nước. Phụ nữ cuốn trôi mọi thứ khi ta vẫn ngồi trong nhà.
5. Sông có thác. Phụ nữ có cơn .
6. Sông mát mẻ. Phụ nữ tinh khiết.
7. Sông lấp lánh dưới ánh trăng. Phụ nữ lấp lánh dưới ánh đèn .

Post Reply