Cà Phê...Vịt
Moderator: khieulong
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
CSVN doàn ngũ hóa lực lượng của họ tại hải ngoại
http://www.calitoda y.com/news/ view_article. html?article_ id=8da6317f2900b afb120b2dd9c352d 9cd
Jan 11, 2010 Cali Today News – Độc gỉa Khoa Nguyễn có gửi đến Cali Today bản tin từ Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) của chính quyền Hà Nội với lời nhắn trong thư như sau: “This will present a real challenge and requires a much well-thought strategy for the overseas Vietnamese to fight against.”.
Bản tin của TTXVN có tựa đề là “Thành lập hội lưu học sinh Việt Nam tại Washington DC” và có nội dung như sau:
“Hội Thanh niên-lưu học sinh bao gồm công dân Việt Nam đang nghiên cứu, học tập và công tác tại khu vực thủ đô Washington, Mỹ, được thành lập hôm qua.
"Đây là sự kiện quan trọng trong công tác cộng đồng, cũng như trong công tác vận động bà con, sinh viên Việt Nam đang sinh sống và học tập tại Mỹ", TTXVN trích lời Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Lê Công Phụng nói.
Đại sứ hy vọng rằng hội sẽ là một mô hình để tiếp tục triển khai chủ trương thành lập các hội thanh niên và sinh viên Việt Nam trên các vùng của nước Mỹ, tiến tới có một tổng hội chung cho tất cả thanh niên tham gia.
Nguyễn Tú Chi, hiện đang công tác tại Ngân hàng Thế giới - người được bầu là Chủ tịch lâm thời của Hội cho biết: “Việc thành lập Hội thanh niên, sinh viên Việt Nam ở Washington DC sẽ gây dựng phong trào sinh viên ở đây có tổ chức hơn. Sắp tới, Hội sẽ tổ chức một buổi liên hoan ẩm thực, giao lưu với Đại sứ quán và thanh niên học sinh tại Washington DC".
Ngay tại buổi lễ ra mắt của hội, đã có hơn 70 thanh niên Việt Nam tại khu vực Washington đăng ký trở thành thành viên của hội., VOV cho biết.
Ban chấp hành lâm thời của hội cho biết trước khi hội được chính thức thành lập, thanh niên tại khu vực Washington, bên cạnh việc tổ chức các hoạt động thể thao, giao lưu văn hóa văn nghệ, đã tham gia tích cực vào một số hoạt động gây quỹ từ thiện… (TTXVN)”
Qua bản tin này, chúng ta thấy rằng CSVN đã bắt đầu đoàn thể hóa lực lượng của họ tại Hoa Kỳ và sẽ mở rộng mô hình như trên trên toàn quốc, không còn hoạt động chui như trước đây nữa.
Nhiều người đặt vấn đề là liệu những tổ chức hoạt động như thế có hợp pháp tại Hoa Kỳ không? Đây là vấn đề mà các luật sư của cộng đồng tỵ nạn cần lên tiếng.
Như độc giả Khoa Nguyễn nhận xét thật chí lý: “Đây là một thách thức thật sự” đối với cộng đồng người Việt quốc gia và cộng đồng tỵ nạn CS cần phải có chiến lược phù hợp để đối phó.
CSVN không cho phép người Việt hải ngoại tổ chức các hoạt động đoàn thể tại Việt Nam, trong lúc đó, họ lại lợi dụng tự do tại Hoa Kỳ để tổ chức đoàn thể của họ. Cộng đồng khắp nơi thiết tưởng nên lưu ý điều này đối với các vị dân cử, vì sức mạnh của cộng đồng là lá phiếu, và đó là sức mạnh duy nhất mà CSVN không bao giờ có được trên đất Mỹ.
Nguyễn Dương
http://www.calitoda y.com/news/ view_article. html?article_ id=8da6317f2900b afb120b2dd9c352d 9cd
Jan 11, 2010 Cali Today News – Độc gỉa Khoa Nguyễn có gửi đến Cali Today bản tin từ Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) của chính quyền Hà Nội với lời nhắn trong thư như sau: “This will present a real challenge and requires a much well-thought strategy for the overseas Vietnamese to fight against.”.
Bản tin của TTXVN có tựa đề là “Thành lập hội lưu học sinh Việt Nam tại Washington DC” và có nội dung như sau:
“Hội Thanh niên-lưu học sinh bao gồm công dân Việt Nam đang nghiên cứu, học tập và công tác tại khu vực thủ đô Washington, Mỹ, được thành lập hôm qua.
"Đây là sự kiện quan trọng trong công tác cộng đồng, cũng như trong công tác vận động bà con, sinh viên Việt Nam đang sinh sống và học tập tại Mỹ", TTXVN trích lời Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Lê Công Phụng nói.
Đại sứ hy vọng rằng hội sẽ là một mô hình để tiếp tục triển khai chủ trương thành lập các hội thanh niên và sinh viên Việt Nam trên các vùng của nước Mỹ, tiến tới có một tổng hội chung cho tất cả thanh niên tham gia.
Nguyễn Tú Chi, hiện đang công tác tại Ngân hàng Thế giới - người được bầu là Chủ tịch lâm thời của Hội cho biết: “Việc thành lập Hội thanh niên, sinh viên Việt Nam ở Washington DC sẽ gây dựng phong trào sinh viên ở đây có tổ chức hơn. Sắp tới, Hội sẽ tổ chức một buổi liên hoan ẩm thực, giao lưu với Đại sứ quán và thanh niên học sinh tại Washington DC".
Ngay tại buổi lễ ra mắt của hội, đã có hơn 70 thanh niên Việt Nam tại khu vực Washington đăng ký trở thành thành viên của hội., VOV cho biết.
Ban chấp hành lâm thời của hội cho biết trước khi hội được chính thức thành lập, thanh niên tại khu vực Washington, bên cạnh việc tổ chức các hoạt động thể thao, giao lưu văn hóa văn nghệ, đã tham gia tích cực vào một số hoạt động gây quỹ từ thiện… (TTXVN)”
Qua bản tin này, chúng ta thấy rằng CSVN đã bắt đầu đoàn thể hóa lực lượng của họ tại Hoa Kỳ và sẽ mở rộng mô hình như trên trên toàn quốc, không còn hoạt động chui như trước đây nữa.
Nhiều người đặt vấn đề là liệu những tổ chức hoạt động như thế có hợp pháp tại Hoa Kỳ không? Đây là vấn đề mà các luật sư của cộng đồng tỵ nạn cần lên tiếng.
Như độc giả Khoa Nguyễn nhận xét thật chí lý: “Đây là một thách thức thật sự” đối với cộng đồng người Việt quốc gia và cộng đồng tỵ nạn CS cần phải có chiến lược phù hợp để đối phó.
CSVN không cho phép người Việt hải ngoại tổ chức các hoạt động đoàn thể tại Việt Nam, trong lúc đó, họ lại lợi dụng tự do tại Hoa Kỳ để tổ chức đoàn thể của họ. Cộng đồng khắp nơi thiết tưởng nên lưu ý điều này đối với các vị dân cử, vì sức mạnh của cộng đồng là lá phiếu, và đó là sức mạnh duy nhất mà CSVN không bao giờ có được trên đất Mỹ.
Nguyễn Dương
Giấy Chứng Nhận
Trên tàu hỏa, một nữ soát vé xinh đẹp đang nhìn chằm chằm người đàn ông trung niên có dáng vẻ như Giấy Chứng Nhận người làm thuê, nói như quát: “Soát vé”. Người trung niên tìm khắp người, cuối cùng cũng tìm được vé, nắm chắc trong tay, như không muốn đưa.
Người soát vé nhìn theo tay người trung niên, cười tinh quái, nói: “Đây là vé trẻ em”.
Người trung niên đỏ mặt, ấp úng nói: “Chẳng phải giá vé trẻ em cũng như giá vé người tàn tật sao?”….
Vé trẻ em và vé người tàn tật bằng tiền nhau, dĩ nhiên người soát vé hiểu đươc điều đó. Cô ta nhìn người trung niên vẻ dò xét, hỏi: “Ồng là người tàn tật à?”.
“Vâng, tôi là người tàn tật”.
“Vậy đưa giấy chứng nhận cho tôi xem”.
Người trung niên vội nói ngay: “Tôi … không có giấy chứng nhận. Khi mua vé, người bán vé đòi cho xem giấy chứng nhận, không còn cách nào khác, tôi đành phải mua vé trẻ em”.
Người soát vé cười khẩy nói: “Không có giấy chứng nhận tàn tật, làm sao chứng minh được ông là người tàn tật?”.
Người trung niên không nói năng gì, chỉ nhẹ nhàng vén quần lên – ông ta chỉ còn nửa bàn chân.
Người soát vé nghiêng đầu nhín, nói: “Cái tôi cần xem là giấy chứng nhận, là tờ giấy có đóng dấu nổi của cơ quan thương tật”.
Người trung niên đau khổ giải thích: “Tôi không có hộ khẩu ở đây, nên người ta không làm giấy chứng nhận cho tôi. Hơn nữa, khi tôi làm thuê cho một chủ tư nhân, sau khi xảy ra tai nạn, ông chủ đã bỏ chạy, tôi không có tiền đi giám định…”
Biết tin, trưởng toa đến hỏi tình hình.
Người trung niên lại một lần nữa trình bầy, mình là người tàn tật, mua một chiếc vé có giá tiền như người tàn tật…
Trưởng toa lại hỏi: “Giấy chứng nhận tàn tật của ông đâu?”
Người trung niên nói mình không có giấy chứng nhận, rồi cho trưởng toa xem nửa bàn chân còn lại.
Trưởng toa cũng chẳng thèm nhìn, vẻ khó chịu nói: “Tôi chỉ cần giấy chứng nhận, không cần nhìn người! Có giấy chứng nhận mới được ưu tiên mua vé tàn tật. Ông nhanh chóng mua vé bổ sung đi”.
Người trung niên nét mặt ỉu xìu, chẳng biết nói năng gì.
Ông ta tìm bới các túi và hành lý mang theo, chỉ có vài đồng bạc, không đủ tiền mua vé bổ sung. Ông khóc lóc nói với trưởng toa: “Sau khi tôi bị máy cắt mất nửa bàn chân, không còn làm ăn gì được nữa. Không có tiền, ngay cả quê cũng không dám về, tiền mua chiếc vé này cũng do bà con gom góp lại. Mong ông nới tay làm phúc, bỏ qua cho tôi!”.
Trưởng toa kiên quyết: “Không được”.
Người nữ soát vé cũng nhân cơ hội này nói với trưởng toa: “Đưa ông ta đến toa than ở đầu tầu làm lao động nghĩa vụ”.
Trưởng toa nghĩ một lát rồi nói: “Thế cũng được”.
Một người lạ mặt ngồi đối diện với người trung niên, bỗng dưng đứng đậy, trừng mắt nhiìn trưởng toa, nói: “Ông có phải là đàn ông không?”
“Đương nhiên tôi là đàn ông rồi!”
“Ông lấy gì để chứng minh mình là đàn ông? Ông hãy cho mọi người xem giấy chứng nhận mình là đàn ông”
Mọi người xung quanh cười ầm lên.
Trưởng toa ngẩn người ra, nói: “Tôi là thằng đàn ông đứng lù lù ở đây, làm sao mà giả được?”
Người lạ mặt lắc đầu, nói: “Tôi cũng như ông, chỉ cần giấy chứng nhận chứ không cần nhìn người, có giấy chứng nhận đàn ông mới là đàn ông, không có giấy chứng nhận không phải là đàn ông”.
Trưởng toa bí quá, không t́ìm được câu trả lời.
Người nữ soát vé đứng lên gỡ thế bí cho trưởng toa, nói với người lạ mặt: “Tôi không phải đàn ông, ông có điều gí nói với tôi không nào?”
Người lạ mặt chỉ vào mũi cô ta và nói: “Về cơ bản, cô không phải là người”
Người nữ soát vé lồng lộn lên, giọng the thé: “Ông có độc mồm không đấy, tôi không phải là người thì là cái gí?”
Người lạ mặt bình tĩnh, cười và nói: “Cô là người à? Vậy thì tốt rồi, hãy cho tôi xem giấy chứng nhận cô là người…”
Mọi người xung quanh lại được một trận cười khoái chí.
Chỉ có một người không cười, đó là người trung niên mất nửa bàn chân. Ông nhìn chằm chằm mọi người và không biết từ khi nào, nước mắt lã chã tuôn rơi, không biết là ấm ức hay cảm kích…
Thế thì người Cộng sản cần phải trình giấy chứng minh nào mình là người Cộng sản chuyên chính?
Trình thẻ đảng viên Cộng sản?
- Dạ thưa không?
Trình giấy liệt sĩ?
- Dạ thưa không?
….
Dạ thưa, trình tờ biên nhận do Tàu Cộng cấp đã “Bán Nước Buôn Dân”.
Người soát vé nhìn theo tay người trung niên, cười tinh quái, nói: “Đây là vé trẻ em”.
Người trung niên đỏ mặt, ấp úng nói: “Chẳng phải giá vé trẻ em cũng như giá vé người tàn tật sao?”….
Vé trẻ em và vé người tàn tật bằng tiền nhau, dĩ nhiên người soát vé hiểu đươc điều đó. Cô ta nhìn người trung niên vẻ dò xét, hỏi: “Ồng là người tàn tật à?”.
“Vâng, tôi là người tàn tật”.
“Vậy đưa giấy chứng nhận cho tôi xem”.
Người trung niên vội nói ngay: “Tôi … không có giấy chứng nhận. Khi mua vé, người bán vé đòi cho xem giấy chứng nhận, không còn cách nào khác, tôi đành phải mua vé trẻ em”.
Người soát vé cười khẩy nói: “Không có giấy chứng nhận tàn tật, làm sao chứng minh được ông là người tàn tật?”.
Người trung niên không nói năng gì, chỉ nhẹ nhàng vén quần lên – ông ta chỉ còn nửa bàn chân.
Người soát vé nghiêng đầu nhín, nói: “Cái tôi cần xem là giấy chứng nhận, là tờ giấy có đóng dấu nổi của cơ quan thương tật”.
Người trung niên đau khổ giải thích: “Tôi không có hộ khẩu ở đây, nên người ta không làm giấy chứng nhận cho tôi. Hơn nữa, khi tôi làm thuê cho một chủ tư nhân, sau khi xảy ra tai nạn, ông chủ đã bỏ chạy, tôi không có tiền đi giám định…”
Biết tin, trưởng toa đến hỏi tình hình.
Người trung niên lại một lần nữa trình bầy, mình là người tàn tật, mua một chiếc vé có giá tiền như người tàn tật…
Trưởng toa lại hỏi: “Giấy chứng nhận tàn tật của ông đâu?”
Người trung niên nói mình không có giấy chứng nhận, rồi cho trưởng toa xem nửa bàn chân còn lại.
Trưởng toa cũng chẳng thèm nhìn, vẻ khó chịu nói: “Tôi chỉ cần giấy chứng nhận, không cần nhìn người! Có giấy chứng nhận mới được ưu tiên mua vé tàn tật. Ông nhanh chóng mua vé bổ sung đi”.
Người trung niên nét mặt ỉu xìu, chẳng biết nói năng gì.
Ông ta tìm bới các túi và hành lý mang theo, chỉ có vài đồng bạc, không đủ tiền mua vé bổ sung. Ông khóc lóc nói với trưởng toa: “Sau khi tôi bị máy cắt mất nửa bàn chân, không còn làm ăn gì được nữa. Không có tiền, ngay cả quê cũng không dám về, tiền mua chiếc vé này cũng do bà con gom góp lại. Mong ông nới tay làm phúc, bỏ qua cho tôi!”.
Trưởng toa kiên quyết: “Không được”.
Người nữ soát vé cũng nhân cơ hội này nói với trưởng toa: “Đưa ông ta đến toa than ở đầu tầu làm lao động nghĩa vụ”.
Trưởng toa nghĩ một lát rồi nói: “Thế cũng được”.
Một người lạ mặt ngồi đối diện với người trung niên, bỗng dưng đứng đậy, trừng mắt nhiìn trưởng toa, nói: “Ông có phải là đàn ông không?”
“Đương nhiên tôi là đàn ông rồi!”
“Ông lấy gì để chứng minh mình là đàn ông? Ông hãy cho mọi người xem giấy chứng nhận mình là đàn ông”
Mọi người xung quanh cười ầm lên.
Trưởng toa ngẩn người ra, nói: “Tôi là thằng đàn ông đứng lù lù ở đây, làm sao mà giả được?”
Người lạ mặt lắc đầu, nói: “Tôi cũng như ông, chỉ cần giấy chứng nhận chứ không cần nhìn người, có giấy chứng nhận đàn ông mới là đàn ông, không có giấy chứng nhận không phải là đàn ông”.
Trưởng toa bí quá, không t́ìm được câu trả lời.
Người nữ soát vé đứng lên gỡ thế bí cho trưởng toa, nói với người lạ mặt: “Tôi không phải đàn ông, ông có điều gí nói với tôi không nào?”
Người lạ mặt chỉ vào mũi cô ta và nói: “Về cơ bản, cô không phải là người”
Người nữ soát vé lồng lộn lên, giọng the thé: “Ông có độc mồm không đấy, tôi không phải là người thì là cái gí?”
Người lạ mặt bình tĩnh, cười và nói: “Cô là người à? Vậy thì tốt rồi, hãy cho tôi xem giấy chứng nhận cô là người…”
Mọi người xung quanh lại được một trận cười khoái chí.
Chỉ có một người không cười, đó là người trung niên mất nửa bàn chân. Ông nhìn chằm chằm mọi người và không biết từ khi nào, nước mắt lã chã tuôn rơi, không biết là ấm ức hay cảm kích…
Thế thì người Cộng sản cần phải trình giấy chứng minh nào mình là người Cộng sản chuyên chính?
Trình thẻ đảng viên Cộng sản?
- Dạ thưa không?
Trình giấy liệt sĩ?
- Dạ thưa không?
….
Dạ thưa, trình tờ biên nhận do Tàu Cộng cấp đã “Bán Nước Buôn Dân”.
Hạt Tình Hồi Sinh
Tràm Cà Mau Chắc rằng nhiều độc giả sẽ không thể tin được câu chuyện tình do tác giả Tràm Cà Mau viết là có thật trong cõi đời này. Dễ gì! Một Việt Kiều có tuổi, về Việt Nam cưới một cô gái cũng có tuổi, lại không nhan sắc, ốm o, khô đét và mù lòa mà ngày xưa, khi ở tuổi mười lăm, ông đã định cưới làm vợ vì gặp cú sét ái tình, nhưng bị gia đình ngăn cản. Còn bây giờ, ông tự hỏi: “Lạ thật, năm mười lăm tuổi, muốn lấy vợ bị ngăn cản đã đành. Bây giờ sáu mươi sáu tuổi, muốn lấy vợ, cũng bị ngăn cản dữ dội. Thế thì chờ đến khi xuống lỗ mới hết trắc trở sao?”
Người giới thiệu cũng không tin Bạn ạ.
Nhưng mời độc giả hãy đọc để thưởng thức văn chương bình dân trong ngôn ngữ dí dỏm của Tràm Cà Mau, và để hiểu thêm một số thổ ngữ của Quảng Trị, miền đất của địa đầu giới tuyến VNCH ngày xưa.
============ ========= ====
Cái tin mụ Ty sắp lấy chồng Việt Kiều, truyền miệng loan đi nhanh như gió, làm chấn động cả mấy làng trong huyện Triệu Phong. Không ai tin là chuyện thật, người ta công khai xôn xao bàn tán. Nhưng cái tin nầy đã làm nức lòng và lên tinh thần đám đàn bà goá, và các cô gái muộn chồng trong cả tỉnh. Mụ Ty đã già khú đế, trên sáu mươi tuổi rồi, xấu xí ốm o, khô đét vì đói ăn nhiều năm, chỉ còn da bọc xương, răng cái còn cái mất, lại mù loà, dơ dáy, nghèo rớt mùng tơi, có thời đi ăn xin. Thế mà có Việt Kiều ở Mỹ về xin cưới. Câu chuyện gần như hoang đường, người tỉnh táo khó lòng tin được. Người ta bàn tán:
“Chắc có âm mưu thâm độc chi đây, chứ cưới mụ Ty về mà làm gì? Đem bán cho nhà thổ, chúng cũng rượt đánh đến bể đầu. Mụ đó mù loà yếu đuối, cũng không đủ sức làm nô lệ hầu hạ cho ai được. Đừng nói chuyện tình dục, già đến thế, chắc cũng đã mốc meo, héo quắt đi rồi. Mụ chỉ còn xương với da, chỉ có đem mà nấu cao, giả “cao hổ cốt” may ra còn có lý.”
Đám đàn ông bàn thêm:
“Con gái trẻ đẹp hơ-hớ thiếu chi mà đi cưới mụ già. Cưới về đem đặt lên bàn thờ mà lạy chắc? Hay là thằng cha Việt Kiều đó đau bệnh điên, làm chuyện trái đời, chơi bạo lấy tiếng? Nghe không hợp lý chút nào.”
Ông thầy pháp thường hay gọi hồn người chết về nói chuyện thế gian cũng bóp đầu, bóp trán, hứa sẽ kêu hồn bố mẹ mụ Tý về hỏi cho ra lẽ. Ông nói thầm với bà con:
“Không chừng thằng cha Việt Kiều là phù thủy, cưới mụ Ty về để giết chết mà luyện “thiên linh cái”, vì mụ Ty dù sao cũng còn “đồng trinh”, chưa biết đến hơi trai.”
Mấy mụ đàn bà yếu bóng vía rùn vai, lè lưỡi sợ hãi, và họ tin ông thầy pháp nói có lý.
Chính quyền địa phương cũng họp chi bộ đảng cọng sản nhiều lần, để thảo luận và tìm hiểu lý do tại sao gã Việt Kiều kia cưới mụ Ty. Có âm mưu gián điệp của đế quốc Mỹ gài vào, dò xét tình hình “ta” không? Bí thư xã báo cáo lên quận. Bí thư quận nói:
“Không phải âm mưu gián điệp, vì cả Tổng Thống Mỹ Cờ-Lin-Tơn còn đi phất phơ ăn phở giữa chợ ở Việt Nam mình nữa kia mà. Nhưng cũng phải đề cao cảnh giác, để không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra cho xã, huyện nhà.”
Nghị quyết chung của chính quyền xã là gây khó khăn tối đa cho tên Việt Kiều kia chán nản, mà bỏ ý định bí mật lạ lùng kia đi. Họ tin rằng, nắm quyền trong tay, thì thừa sức ngăn cản được cuộc tình duyên tréo ngoe nầy.
Phần mụ Ty, nghe bàn vào, tán ra, người nầy nói một câu, kẻ khác bàn vài câu, cũng đâm ra hoang mang, và sợ. Nghi ngờ đến cái tấm lòng của ông Thu, người Việt Kiều muốn cưới mụ làm vợ. Những lời bàn tán kia, đều có lý, không phải dựng đứng lên.
Hơn năm mươi năm trước, khi ông Thu mới mười lăm tuổi, gặp bà Ty, thì bị “cú sét ái tình” đánh cho ngã gục. Cả gan về nhà xin cưới vợ, bị bố ông đánh cho một trận đòn quắn đít, nên tình yêu cũng tắt ngúm từ đó. Rồi mấy mươi năm thời cuộc nổi trôi, chiến tranh, tù đày, đi Mỹ, chạy theo cơm áo, ông Thu không có thì giờ, không còn kiên nhẫn, hứng thú, để theo đuổi bất cứ một bóng hồng nào.
Cho đến khi ông đã hưu trí, về thăm quê ngoại, biết bà Ty cũng phòng không chiếc bóng, mù lòa, đói khát. Hai người gặp lại nhau. Ông nhớ lời ước hẹn năm xưa: “kiếp sau đền bù sum họp”, nên muốn cưới bà Ty đem về Mỹ. Nhiều người bà con nội ngoại đều can gián ông. Họ bảo rằng, nếu lấy vợ, thì nên kiếm một người có trình độ, trẻ, đẹp, khỏe mạnh, để còn chăm sóc, nương tựa khi đau yếu trong trong tuổi già. Lấy mụ Ty về, không nhờ vả được gì, còn phải lo ngược lại cho mụ. Thêm khổ thân già. Vả lại, trình độ kiến thức quá cách biệt, rất khó sống chung, khó hoà hợp, khó thông cảm. Chỉ gây bực mình và làm khổ nhau. Họ khuyên ông cho mụ Ty một số tiền lớn để sinh sống, rồi thôi, không tội chi mà đèo bòng cái gánh nợ thổ tả đó.
Gia đình, bạn bè gián tiếp sắp đặt, làm như tình cờ, đưa đến cho ông gặp nhiều cô, nhiều bà. Có trẻ đẹp, có xồn xồn, cả chưa chồng và cả goá phụ. Các bà, các cô nầy, nhìn ông hau háu, tha thiết, với ánh mắt hy vọng, khẩn cầu. Ông thấy nhẫn tâm và tội nghiệp họ. Có người còn nhỏ, chỉ đáng hàng con, cháu ông thôi. Ông nói rằng, tất cả bọn họ đều đáng thương, chỉ vì cơm áo, mà phải tha thiết với một kẻ già nua như ông. Nhưng mụ Ty là kẻ đáng thương nhất, đáng được đền bù nhất. Quan trọng hơn hết là mối tình hơn nửa thế kỷ trước, có phôi pha phần nào thật, nhưng vẫn còn âm ỉ trong tim. Cậu Út của ông Thu nói:
“Yêu là cái khỉ gì? Bọn con nít ngu, mới bày đặt yêu đương. Mình già rồi, khôn quá, hết ngu rồi. Lấy vợ, lấy chồng là phải suy xét hơn thiệt, trắng đen, cân lường. Còn trẻ, bồng bột, ngu nên ủi đại, không nghĩ đến hậu quả về sau. Bởi vậy, cháu phải suy nghĩ thật kỹ trước khi lấy mụ Ty.”
Ông Thu nói với cậu út:
“Lạ thật, năm mười lăm tuổi, muốn lấy vợ bị ngăn cản đã đành. Bây giờ sáu mươi sáu tuổi, muốn lấy vợ, cũng bị ngăn cản dữ dội. Thế thì chờ đến khi xuống lỗ mới hết trắc trở sao?”
Xóm giềng và họ hàng của nhao nhao xúi dục mụ Ty thách cưới thật cho cao. Đòi cho được hai trăm phần quà. Mỗi phần có một hộp trà, một hộp bánh, sáu quả cau, một liễn trẩu. Đòi thêm hai cái kiềng vàng, cặp xuyến vàng, một đôi bông tai.
Phải đãi ăn năm chục người. Mụ Ty nghe mà lo lắng bảo:
“Mình thách cưới cao quá, lỡ người ta không lo nổi, rồi bỏ đi thì uổng. Mà mình thì đã tra (già) lắm rồi. Cả đời tui chưa đeo kiềng, đeo xuyến, chừ có đeo vô, cũng cấn chết, mà trẽn (xấu hổ) nữa.”
Một bà nạt lớn:
“Tra thì tra, chứ chẳng lẽ cho không, cóc đòi chi cả? Đừng tự làm mình mất giá. Hắn không cưới thì thôi.”
Nghe nói vậy, mụ Ty giật mình tái mặt, ngồi thừ người ra. Một bà khác tiếp lời:
“Nì, mụ đừng lo, Việt Kiều giàu lắm. Người nào cũng lái xe hơi, ở nhà lầu. Mình không đòi là dại. Mà cũng phải đủ lễ “tam sênh” mới được. Ba lễ, dạm mặt, đám hỏi, đám cưới đàng hoàng, chớ không phải đem xe về bắt cóc chạy đi. Làng nước không chịu cho mụ chịu thiệt thòi mô. Mụ mà không đòi, thì chúng tôi cũng đứng ra, đại diện nhà gái mà đòi”
Mụ Ty hốt hoảng nói nho nhỏ:
“Thôi thôi, mấy mự, mấy thím ơi. Mần rình rang chi thêm xấu mặt. Mấy chục năm ni, có đám cưới mô trong làng mà đủ ba lễ? Tui nghèo khổ, chớ có phải cành vàng lá ngọc chi mô.”
“Đám cưới trong làng mình, không đủ ba lễ là vì bên rễ nghèo. Phải “giản đơn” lại, chớ không thì trai, gái, không vợ, không chồng cả làng sao? Mình nhắm sức người ta có, mới đòi. Mụ lo chi?”
Thấy bà con áp lực quá, mụ Ty ôm mặt khóc. Người ta bồi thêm:
“Mụ mà dại, thì có cả làng khôn. Đòi là đòi cho mụ, chớ có đòi cho chúng tui mô. Sính lễ mà đòi được, thì mụ cũng cất đi, sau nầy làm của, phòng khi nầy khi kia, chớ chúng tui có lợi chi?”
Mụ Ty đem những lời thách cưới của bà con nói lại cho ông Thu nghe. Nhưng mụ không quên thêm một câu rằng, nếu ông không có, và không chịu thì thôi, mụ không đòi hỏi chi cả.
Ông Thu cười và nói, đó là “chuyện nhỏ”. Vòng, xuyến, hoa tai, nếu mụ muốn, thì ông sẽ mua cho mụ. Nhưng hai trăm phần cưới cau trầu, trà bánh, thì không, phí phạm vô ích. Mụ Ty nghe mà mừng, sung sướng và nói:
“Thôi, thôi, đừng vòng xuyến chi cả. Xưa nay không đeo, bi chừ đeo vô, ngứa ngáy không chịu được mô. Đeo vô, trẽn lắm. ”
Khi gặp lại mụ Ty trong hoàn cảnh mù loà, đói rách lạnh lẽo, ông Thu muốn đem mụ về Sài Gòn ở tạm. Thuê nhà, thuê người chăm nom mụ trong thời gian chờ đợi. Khi đầy đủ thủ tục, và được sở di trú Mỹ chấp thuận, ông sẽ đưa mụ về California. Nhưng vì bà con, làng nước xúi dục, mụ Ty nhất định không chịu ra khỏi làng, khi chưa có đám cưới, chưa có hôn thú, và chưa có giấy máy bay đi Mỹ. Mụ khóc và nói:
“Bà con dặn tui đừng có đi mô cả. Đi ra khỏi làng, vô tận Sài Gòn xa xôi, lỡ anh đổi ý, bỏ tui bơ vơ nơi xa lạ, mần răng mà tui có tiền, có phương tiện về lại làng. Mà về lại cũng không được mô. Thiên hạ cười cho thúi đầu. Tra chừng ni tuổi rồi mà còn bỏ làng đi theo trai, bị phụ tình, mang xác về. Xấu hổ lắm.”
Ông Thu ôm đầu thở dài. Biết mụ Ty đã bị xóm giềng bàn ra, tán vào, khuyên bảo nầy nọ. Không hẳn những lời khuyên đó hoàn toàn vô lý. Ông nhỏ nhẹ nói với mụ Ty:
“Việc gì phải sống thêm trong cái chòi tranh dột nát nầy nữa. Thiếu thốn phương tiện, ẩm thấp, mưa luồn nắng chiếu. Khổ đã nhiều rồi, không tội gì khổ thêm.”
Mụ Ty nói rất tự nhiên:
“Mấy chục năm sống nơi đây, cũng đã quen rồi, tui không thấy khổ nữa. Đói thì có, rách thì có. Nếu đủ cơm ăn hàng ngày là quá quý rồi. Tui không dám mơ ước chi hơn.”
“Nếu Ty nhất định không ra khỏi làng, thì kiếm nhà nào rộng rãi, khang trang, tui thuê cho mà ở”
“Nhà ai nấy ở. Không ai dư chỗ cho thuê mô. Ở nhà ni, có chết mô mà sợ. Nếu ở nhà ni mà chết, thì chết từ lâu rồi. Cứ cho tui ở nhà ni, đừng bắt tui đi nơi khác. Tội nghiệp.”
Ông Thu chịu thua, không muốn ép mụ Ty dọn đi nơi khác, phiền lòng mụ. Ông nhờ người bà con bên ngoại thuê thợ tu bổ lại căn chòi, lợp lại mái, che phên, làm cửa lưới ngăn muỗi, câu điện, bắt cho một chiếc quạt máy. Mụ Ty nói:
“Sửa phên, lợp nhà thì được. Câu điện chi cho phí. Tui mù loà, ngày như đêm, cần chi đèn đóm. Bắt quạt máy mần chi, lỡ nó rớt xuống, bể đầu. Khi mô nóng, ra ngồi bên hè, lấy mo cau mà quạt cũng đủ mát rồi.”
Ông Thu thuê một đứa cháu họ của mụ Ty, đến ở chung để chăm sóc, đi chợ, nấu nướng cho mụ. Mỗi ngày mụ được ăn cơm không độn khoai sắn, có cá kho, thịt luộc. Mụ Ty sung sướng hớn hở. Mụ nói với đứa cháu;
“Ăn sang phung phí như ri, ngày mô cũng thịt, cá, thì có núi của cũng sập. Thôi, đừng hoang phí nữa. Cứ cơm trắng với mắm nêm, mắm ruốc, rau luộc là đủ, sung sướng lắm rồi.”
Đưá cháu cười nói:
“Dượng Thu đã đưa tiền cho chú Hai, dặn phát tiền chợ cho cháu. O đừng lo. O mà ăn ngon, thì cháu cũng được ăn ngon theo. Cả đời, chưa khi mô cháu được ăn no, sung sướng, như bây chừ cả. Cháu hỏi thiệt, O đừng giấu cháu nghe. O bỏ thứ “bùa” chi, mà dượng Thu Việt kiều mê O dữ rứa? Dạy cho cháu với. Cháu thương thằng Bường, mà hắn cứ lờ tít đi, như không biết chi hết.”
“Mụ nội mi. Bùa chú chi mô. Người ta ở bên Mỹ, tau ở đây, mù loà, có bùa cũng không bỏ được. Miềng ăn ở ngay thật, hiền lành, trời thương nên đem dượng Thu mi về đây cho tau.”
Mụ Vàng người trong xóm, trước đây thường hay cho mụ Ty khoai sắn, ghé nhà ngồi nói chuyện, trước khi ra về nói:
“Mai mốt o qua Mỹ, làm ra tiền, đừng quên tui. Nhớ gởi về cho nhiều nhiều, để tui xây gạch, lợp ngói căn nhà nghe.”
Chú Trọng dặn dò tha thiết:
“Tui biết chị tốt lắm, qua Mỹ thế nào cũng gởi tiền về cho tui mua cặp trâu, đi cày thuê. Cả đời tui, mơ ước có được con trâu, chị không giúp, thì không khi mô có. Đừng vì giàu sang sung sướng mà quên bà con nghèo.”
Mụ Ty hoang mang lắm, nhưng cứ nói thật những ý nghĩ trong lòng mụ:
“Sợ không có, chứ có thì phải nghĩ đến bà con, phải chia xẻ cơm áo cho nhau chớ. Như bà con đã chia khoai sắn cho tui sống mấy chục năm ni. Cậu đừng có lo. Tui mà có của thì chia hết. Nghe bà con nói chuyện, tui nghĩ là Tây, Mỹ nó ngu lắm, để tiền, để của ngoài đường, cho mình qua đó mà hốt, như hốt cứt trâu ngoài ruộng”
Mụ Viện, nhà ở xóm trên, có đứa con gái ba mươi lăm tuổi bị ly dị. Cô nầy về ở với cha mẹ. Mụ Viện đến năn nỉ mụ Tý, đề nghị thẳng thừng:
“Chị tra (già) rồi, đi Tây, đi Mỹ làm chi , bên đó lạnh lắm, chịu không nổi mô. Mà đã tra dư ri (già như thế nầy), còn đi lấy dôn (chồng), thiên hạ, làng nước, con nít, chúng nó cười cho thúi trốt (thối đầu). Trẽn lắm (xấu hổ). Thôi thì chị nhường ông Việt Kiều đó cho con Thại nhà tui, hắn còn trẻ, chịu được lạnh, có thể giúp ông Việt Kiều nhiều chuyện, đẻ cho ông vài ba đứa con. Phần chị, thì ở đây đã quen, đi mô cho mệt.”
Mụ Ty nghe mà rưng rung nước mắt, vì xưa nay đã quen bị thiên hạ chèn ép mà không dám kêu ca. Mụ nói nho nhỏ, sợ mất lòng mụ Viện:
“Chuyện đó, thì tùy ông Việt Kiều, nếu tui chịu nhường, liệu ông nớ có chịu hay không?”
Mụ Viện giục :
“Răng mà không chịu. Con Thại còn trẻ, còn đẹp, khỏe mạnh, chứ có ốm o bệnh hoạn như, như ai đó mô. Thì chị cứ nói cho đến khi ông nớ chịu. Không nói thì mần răng người ta biết. “
“Tui không dám nói mô.”
“Tại răng mà không dám nói ? Có chết chóc chi mô?”
Mụ Tý khóc rấm rứt:
“Chết tui cũng không dám nói. Chị có gan thì nói thẳng với ông Thu đi. Nói được thì tui chịu nhường”
Nói đến đó, mụ Ty tủi thân quá, khóc oà lên. Tưởng như đã mất ông Thu rồi. Đứa cháu săn sóc mụ Ty, nghe mà giận quá, xen vô, nói lớn tiếng:
“Cái mụ Viện ni vô doang (vô duyên) chưa tề. Người ta ưng dau (yêu nhau) cả mấy chục năm ni, đêm ngày thương dớ (nhớ). Chị Thại con của mụ, mập thù lù, bị chồng chê, bị li dị, chớ có quý báu chi. Có tình nghĩa chi mà nhảy vô đòi dành ăn. Ở bên đó, đầm Tây, đầm Mỹ đẹp như tiên, như thánh, trắng như trứng gà bóc, ông còn chưa chịu nữa, huống chi con của mụ, thấm vô mô.”
Mụ Viện giận dữ nghiến răng gào lên:
“Nì, cái con quỷ cái, tau bả (vả) cho văng răng ra bi chừ. Việc chi mà mi xía vô chuyện người ta? Mi biết chi mà nói. Câm cái mồm lại.”
Đứa cháu trả treo:
“Nói ngang xương dư rứa (như vậy), quỷ sứ nghe cũng không lọt tai. Tức đến nghẹn họng.”
Có nhiều người nữa, đến bắt mụ Ty hứa hẹn đủ điều. Ông chủ tịch xã cũng nói với mụ Ty, yêu cầu ông Thu giúp đỡ, ủng hộ một món tiền, đủ để xây lại lại trụ sở uỷ ban hành chánh xã cho khang trang hơn. Mụ Ty đạo đạt những lời yêu cầu của bà con đến ông Thu. Ông cười hiền:
“Tội nghiệp bà con quá. Chắc qua Mỹ, tui với mụ phải tổ chức một băng cướp, đi ăn cướp ngân hàng, đem tiền về giúp bà con mình.”
Mụ Ty không hiểu lời nói đùa của ông Thu, hốt hoảng nói:
“Đi ăn cướp? Tui không làm được mô. Tui mù loà, mần răng mà chạy trốn cho kịp. E cũng ở tù rục xương. Rứa thì lâu ni, ở bên Mỹ, eng làm việc chi?”
“Đi cày”- Ý ông Thu muốn nói đi làm cực nhọc như đi cày vậy, nhưng mụ Ty không hiểu, hỏi:
“Ruộng có diều (nhiều) không? Được mấy sào? Qua bên đó, tui cũng giúp xay lúa, giã gạo được”
“Bây chừ thì về hưu rồi, nghỉ đi cày.”
“ Rứa thì lấy chi mà ăn ?”
“Tiền để đèng” (để dành) – Ông Thu nói tiếng Quảng Trị cho mụ Ty dễ hiểu.
Mụ Thu xuống giọng, nói nhỏ như sợ người khác nghe được:
“Để đèng diều (nhiều) không? Được năm lạng không?
“Được”
“Rứa thì giàu quá! Chôn cho kỹ. Coi chừng bị trộm hết, không có ăn, khổ lắm đó.”
Gian nan lắm, ông Thu mới hoàn tất được thủ tục, đưa mụ Ty về Mỹ. Phía chính quyền Việt Nam làm khó khăn, ông phải vất vả chạy mua giấy khai sinh, phải nhờ người đút lót tiền mua các loại giấy tờ chứng minh cần thiết. Bộ ngoại giao và di trú Mỹ nghi ngờ ông âm mưu đưa người nhập lậu qua khe hở của pháp luật. Ông cố gắng giải thích về sự thành thật của ông, mà không ai tin. Giá như ông cưới một cô gái trẻ, đẹp, thì được dễ dàng thông qua. Ông kể câu chuyện tình hơn nửa thế kỷ của ông cho viên chức ở toà đại sứ Mỹ nghe, họ càng không tin hơn, cho rằng ông bịa chuyện. Cuối cùng, ông phải thuê luật sư can thiệp, và nhờ thêm dân biểu, nghị sĩ vùng ông ở viết thư cho bộ ngoại giao và sở di trú. Thời gian thủ tục giấy tờ dài hơn gấp đôi bình thường.
Trên máy bay về Mỹ, ngồi bên cạnh mụ Ty, ông Thu thấy tình thương dạt dào rộn lên trong tim. Nhìn mụ Ty ngồi dựa ngửa đang lơ mơ ngủ, ông thấy mụ đẹp hơn cả “con Ty” mười bốn tuổi ngày xưa có cái răng khểnh. Ông hứng khởi, hát nho nhỏ bản nhạc Suối Mơ của Văn Cao: “… từng hẹn mùa xưa xây nhà bên suối, nghe suối róc rách trôi, hoa lừng hương ngát, đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi…”
Mụ Ty, quay mặt lại nói:
“Eng hát hay quá”
Ông Thu cười:
“Không hay bằng Ty nói vè O Nương mô.”
Ông Thu vuốt nhẹ bàn tay khô xương, sần sùi của mụ Ty, mà lòng vui rộn rã.
(TRÀM CÀ MAU)
Tràm Cà Mau Chắc rằng nhiều độc giả sẽ không thể tin được câu chuyện tình do tác giả Tràm Cà Mau viết là có thật trong cõi đời này. Dễ gì! Một Việt Kiều có tuổi, về Việt Nam cưới một cô gái cũng có tuổi, lại không nhan sắc, ốm o, khô đét và mù lòa mà ngày xưa, khi ở tuổi mười lăm, ông đã định cưới làm vợ vì gặp cú sét ái tình, nhưng bị gia đình ngăn cản. Còn bây giờ, ông tự hỏi: “Lạ thật, năm mười lăm tuổi, muốn lấy vợ bị ngăn cản đã đành. Bây giờ sáu mươi sáu tuổi, muốn lấy vợ, cũng bị ngăn cản dữ dội. Thế thì chờ đến khi xuống lỗ mới hết trắc trở sao?”
Người giới thiệu cũng không tin Bạn ạ.
Nhưng mời độc giả hãy đọc để thưởng thức văn chương bình dân trong ngôn ngữ dí dỏm của Tràm Cà Mau, và để hiểu thêm một số thổ ngữ của Quảng Trị, miền đất của địa đầu giới tuyến VNCH ngày xưa.
============ ========= ====
Cái tin mụ Ty sắp lấy chồng Việt Kiều, truyền miệng loan đi nhanh như gió, làm chấn động cả mấy làng trong huyện Triệu Phong. Không ai tin là chuyện thật, người ta công khai xôn xao bàn tán. Nhưng cái tin nầy đã làm nức lòng và lên tinh thần đám đàn bà goá, và các cô gái muộn chồng trong cả tỉnh. Mụ Ty đã già khú đế, trên sáu mươi tuổi rồi, xấu xí ốm o, khô đét vì đói ăn nhiều năm, chỉ còn da bọc xương, răng cái còn cái mất, lại mù loà, dơ dáy, nghèo rớt mùng tơi, có thời đi ăn xin. Thế mà có Việt Kiều ở Mỹ về xin cưới. Câu chuyện gần như hoang đường, người tỉnh táo khó lòng tin được. Người ta bàn tán:
“Chắc có âm mưu thâm độc chi đây, chứ cưới mụ Ty về mà làm gì? Đem bán cho nhà thổ, chúng cũng rượt đánh đến bể đầu. Mụ đó mù loà yếu đuối, cũng không đủ sức làm nô lệ hầu hạ cho ai được. Đừng nói chuyện tình dục, già đến thế, chắc cũng đã mốc meo, héo quắt đi rồi. Mụ chỉ còn xương với da, chỉ có đem mà nấu cao, giả “cao hổ cốt” may ra còn có lý.”
Đám đàn ông bàn thêm:
“Con gái trẻ đẹp hơ-hớ thiếu chi mà đi cưới mụ già. Cưới về đem đặt lên bàn thờ mà lạy chắc? Hay là thằng cha Việt Kiều đó đau bệnh điên, làm chuyện trái đời, chơi bạo lấy tiếng? Nghe không hợp lý chút nào.”
Ông thầy pháp thường hay gọi hồn người chết về nói chuyện thế gian cũng bóp đầu, bóp trán, hứa sẽ kêu hồn bố mẹ mụ Tý về hỏi cho ra lẽ. Ông nói thầm với bà con:
“Không chừng thằng cha Việt Kiều là phù thủy, cưới mụ Ty về để giết chết mà luyện “thiên linh cái”, vì mụ Ty dù sao cũng còn “đồng trinh”, chưa biết đến hơi trai.”
Mấy mụ đàn bà yếu bóng vía rùn vai, lè lưỡi sợ hãi, và họ tin ông thầy pháp nói có lý.
Chính quyền địa phương cũng họp chi bộ đảng cọng sản nhiều lần, để thảo luận và tìm hiểu lý do tại sao gã Việt Kiều kia cưới mụ Ty. Có âm mưu gián điệp của đế quốc Mỹ gài vào, dò xét tình hình “ta” không? Bí thư xã báo cáo lên quận. Bí thư quận nói:
“Không phải âm mưu gián điệp, vì cả Tổng Thống Mỹ Cờ-Lin-Tơn còn đi phất phơ ăn phở giữa chợ ở Việt Nam mình nữa kia mà. Nhưng cũng phải đề cao cảnh giác, để không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra cho xã, huyện nhà.”
Nghị quyết chung của chính quyền xã là gây khó khăn tối đa cho tên Việt Kiều kia chán nản, mà bỏ ý định bí mật lạ lùng kia đi. Họ tin rằng, nắm quyền trong tay, thì thừa sức ngăn cản được cuộc tình duyên tréo ngoe nầy.
Phần mụ Ty, nghe bàn vào, tán ra, người nầy nói một câu, kẻ khác bàn vài câu, cũng đâm ra hoang mang, và sợ. Nghi ngờ đến cái tấm lòng của ông Thu, người Việt Kiều muốn cưới mụ làm vợ. Những lời bàn tán kia, đều có lý, không phải dựng đứng lên.
Hơn năm mươi năm trước, khi ông Thu mới mười lăm tuổi, gặp bà Ty, thì bị “cú sét ái tình” đánh cho ngã gục. Cả gan về nhà xin cưới vợ, bị bố ông đánh cho một trận đòn quắn đít, nên tình yêu cũng tắt ngúm từ đó. Rồi mấy mươi năm thời cuộc nổi trôi, chiến tranh, tù đày, đi Mỹ, chạy theo cơm áo, ông Thu không có thì giờ, không còn kiên nhẫn, hứng thú, để theo đuổi bất cứ một bóng hồng nào.
Cho đến khi ông đã hưu trí, về thăm quê ngoại, biết bà Ty cũng phòng không chiếc bóng, mù lòa, đói khát. Hai người gặp lại nhau. Ông nhớ lời ước hẹn năm xưa: “kiếp sau đền bù sum họp”, nên muốn cưới bà Ty đem về Mỹ. Nhiều người bà con nội ngoại đều can gián ông. Họ bảo rằng, nếu lấy vợ, thì nên kiếm một người có trình độ, trẻ, đẹp, khỏe mạnh, để còn chăm sóc, nương tựa khi đau yếu trong trong tuổi già. Lấy mụ Ty về, không nhờ vả được gì, còn phải lo ngược lại cho mụ. Thêm khổ thân già. Vả lại, trình độ kiến thức quá cách biệt, rất khó sống chung, khó hoà hợp, khó thông cảm. Chỉ gây bực mình và làm khổ nhau. Họ khuyên ông cho mụ Ty một số tiền lớn để sinh sống, rồi thôi, không tội chi mà đèo bòng cái gánh nợ thổ tả đó.
Gia đình, bạn bè gián tiếp sắp đặt, làm như tình cờ, đưa đến cho ông gặp nhiều cô, nhiều bà. Có trẻ đẹp, có xồn xồn, cả chưa chồng và cả goá phụ. Các bà, các cô nầy, nhìn ông hau háu, tha thiết, với ánh mắt hy vọng, khẩn cầu. Ông thấy nhẫn tâm và tội nghiệp họ. Có người còn nhỏ, chỉ đáng hàng con, cháu ông thôi. Ông nói rằng, tất cả bọn họ đều đáng thương, chỉ vì cơm áo, mà phải tha thiết với một kẻ già nua như ông. Nhưng mụ Ty là kẻ đáng thương nhất, đáng được đền bù nhất. Quan trọng hơn hết là mối tình hơn nửa thế kỷ trước, có phôi pha phần nào thật, nhưng vẫn còn âm ỉ trong tim. Cậu Út của ông Thu nói:
“Yêu là cái khỉ gì? Bọn con nít ngu, mới bày đặt yêu đương. Mình già rồi, khôn quá, hết ngu rồi. Lấy vợ, lấy chồng là phải suy xét hơn thiệt, trắng đen, cân lường. Còn trẻ, bồng bột, ngu nên ủi đại, không nghĩ đến hậu quả về sau. Bởi vậy, cháu phải suy nghĩ thật kỹ trước khi lấy mụ Ty.”
Ông Thu nói với cậu út:
“Lạ thật, năm mười lăm tuổi, muốn lấy vợ bị ngăn cản đã đành. Bây giờ sáu mươi sáu tuổi, muốn lấy vợ, cũng bị ngăn cản dữ dội. Thế thì chờ đến khi xuống lỗ mới hết trắc trở sao?”
Xóm giềng và họ hàng của nhao nhao xúi dục mụ Ty thách cưới thật cho cao. Đòi cho được hai trăm phần quà. Mỗi phần có một hộp trà, một hộp bánh, sáu quả cau, một liễn trẩu. Đòi thêm hai cái kiềng vàng, cặp xuyến vàng, một đôi bông tai.
Phải đãi ăn năm chục người. Mụ Ty nghe mà lo lắng bảo:
“Mình thách cưới cao quá, lỡ người ta không lo nổi, rồi bỏ đi thì uổng. Mà mình thì đã tra (già) lắm rồi. Cả đời tui chưa đeo kiềng, đeo xuyến, chừ có đeo vô, cũng cấn chết, mà trẽn (xấu hổ) nữa.”
Một bà nạt lớn:
“Tra thì tra, chứ chẳng lẽ cho không, cóc đòi chi cả? Đừng tự làm mình mất giá. Hắn không cưới thì thôi.”
Nghe nói vậy, mụ Ty giật mình tái mặt, ngồi thừ người ra. Một bà khác tiếp lời:
“Nì, mụ đừng lo, Việt Kiều giàu lắm. Người nào cũng lái xe hơi, ở nhà lầu. Mình không đòi là dại. Mà cũng phải đủ lễ “tam sênh” mới được. Ba lễ, dạm mặt, đám hỏi, đám cưới đàng hoàng, chớ không phải đem xe về bắt cóc chạy đi. Làng nước không chịu cho mụ chịu thiệt thòi mô. Mụ mà không đòi, thì chúng tôi cũng đứng ra, đại diện nhà gái mà đòi”
Mụ Ty hốt hoảng nói nho nhỏ:
“Thôi thôi, mấy mự, mấy thím ơi. Mần rình rang chi thêm xấu mặt. Mấy chục năm ni, có đám cưới mô trong làng mà đủ ba lễ? Tui nghèo khổ, chớ có phải cành vàng lá ngọc chi mô.”
“Đám cưới trong làng mình, không đủ ba lễ là vì bên rễ nghèo. Phải “giản đơn” lại, chớ không thì trai, gái, không vợ, không chồng cả làng sao? Mình nhắm sức người ta có, mới đòi. Mụ lo chi?”
Thấy bà con áp lực quá, mụ Ty ôm mặt khóc. Người ta bồi thêm:
“Mụ mà dại, thì có cả làng khôn. Đòi là đòi cho mụ, chớ có đòi cho chúng tui mô. Sính lễ mà đòi được, thì mụ cũng cất đi, sau nầy làm của, phòng khi nầy khi kia, chớ chúng tui có lợi chi?”
Mụ Ty đem những lời thách cưới của bà con nói lại cho ông Thu nghe. Nhưng mụ không quên thêm một câu rằng, nếu ông không có, và không chịu thì thôi, mụ không đòi hỏi chi cả.
Ông Thu cười và nói, đó là “chuyện nhỏ”. Vòng, xuyến, hoa tai, nếu mụ muốn, thì ông sẽ mua cho mụ. Nhưng hai trăm phần cưới cau trầu, trà bánh, thì không, phí phạm vô ích. Mụ Ty nghe mà mừng, sung sướng và nói:
“Thôi, thôi, đừng vòng xuyến chi cả. Xưa nay không đeo, bi chừ đeo vô, ngứa ngáy không chịu được mô. Đeo vô, trẽn lắm. ”
Khi gặp lại mụ Ty trong hoàn cảnh mù loà, đói rách lạnh lẽo, ông Thu muốn đem mụ về Sài Gòn ở tạm. Thuê nhà, thuê người chăm nom mụ trong thời gian chờ đợi. Khi đầy đủ thủ tục, và được sở di trú Mỹ chấp thuận, ông sẽ đưa mụ về California. Nhưng vì bà con, làng nước xúi dục, mụ Ty nhất định không chịu ra khỏi làng, khi chưa có đám cưới, chưa có hôn thú, và chưa có giấy máy bay đi Mỹ. Mụ khóc và nói:
“Bà con dặn tui đừng có đi mô cả. Đi ra khỏi làng, vô tận Sài Gòn xa xôi, lỡ anh đổi ý, bỏ tui bơ vơ nơi xa lạ, mần răng mà tui có tiền, có phương tiện về lại làng. Mà về lại cũng không được mô. Thiên hạ cười cho thúi đầu. Tra chừng ni tuổi rồi mà còn bỏ làng đi theo trai, bị phụ tình, mang xác về. Xấu hổ lắm.”
Ông Thu ôm đầu thở dài. Biết mụ Ty đã bị xóm giềng bàn ra, tán vào, khuyên bảo nầy nọ. Không hẳn những lời khuyên đó hoàn toàn vô lý. Ông nhỏ nhẹ nói với mụ Ty:
“Việc gì phải sống thêm trong cái chòi tranh dột nát nầy nữa. Thiếu thốn phương tiện, ẩm thấp, mưa luồn nắng chiếu. Khổ đã nhiều rồi, không tội gì khổ thêm.”
Mụ Ty nói rất tự nhiên:
“Mấy chục năm sống nơi đây, cũng đã quen rồi, tui không thấy khổ nữa. Đói thì có, rách thì có. Nếu đủ cơm ăn hàng ngày là quá quý rồi. Tui không dám mơ ước chi hơn.”
“Nếu Ty nhất định không ra khỏi làng, thì kiếm nhà nào rộng rãi, khang trang, tui thuê cho mà ở”
“Nhà ai nấy ở. Không ai dư chỗ cho thuê mô. Ở nhà ni, có chết mô mà sợ. Nếu ở nhà ni mà chết, thì chết từ lâu rồi. Cứ cho tui ở nhà ni, đừng bắt tui đi nơi khác. Tội nghiệp.”
Ông Thu chịu thua, không muốn ép mụ Ty dọn đi nơi khác, phiền lòng mụ. Ông nhờ người bà con bên ngoại thuê thợ tu bổ lại căn chòi, lợp lại mái, che phên, làm cửa lưới ngăn muỗi, câu điện, bắt cho một chiếc quạt máy. Mụ Ty nói:
“Sửa phên, lợp nhà thì được. Câu điện chi cho phí. Tui mù loà, ngày như đêm, cần chi đèn đóm. Bắt quạt máy mần chi, lỡ nó rớt xuống, bể đầu. Khi mô nóng, ra ngồi bên hè, lấy mo cau mà quạt cũng đủ mát rồi.”
Ông Thu thuê một đứa cháu họ của mụ Ty, đến ở chung để chăm sóc, đi chợ, nấu nướng cho mụ. Mỗi ngày mụ được ăn cơm không độn khoai sắn, có cá kho, thịt luộc. Mụ Ty sung sướng hớn hở. Mụ nói với đứa cháu;
“Ăn sang phung phí như ri, ngày mô cũng thịt, cá, thì có núi của cũng sập. Thôi, đừng hoang phí nữa. Cứ cơm trắng với mắm nêm, mắm ruốc, rau luộc là đủ, sung sướng lắm rồi.”
Đưá cháu cười nói:
“Dượng Thu đã đưa tiền cho chú Hai, dặn phát tiền chợ cho cháu. O đừng lo. O mà ăn ngon, thì cháu cũng được ăn ngon theo. Cả đời, chưa khi mô cháu được ăn no, sung sướng, như bây chừ cả. Cháu hỏi thiệt, O đừng giấu cháu nghe. O bỏ thứ “bùa” chi, mà dượng Thu Việt kiều mê O dữ rứa? Dạy cho cháu với. Cháu thương thằng Bường, mà hắn cứ lờ tít đi, như không biết chi hết.”
“Mụ nội mi. Bùa chú chi mô. Người ta ở bên Mỹ, tau ở đây, mù loà, có bùa cũng không bỏ được. Miềng ăn ở ngay thật, hiền lành, trời thương nên đem dượng Thu mi về đây cho tau.”
Mụ Vàng người trong xóm, trước đây thường hay cho mụ Ty khoai sắn, ghé nhà ngồi nói chuyện, trước khi ra về nói:
“Mai mốt o qua Mỹ, làm ra tiền, đừng quên tui. Nhớ gởi về cho nhiều nhiều, để tui xây gạch, lợp ngói căn nhà nghe.”
Chú Trọng dặn dò tha thiết:
“Tui biết chị tốt lắm, qua Mỹ thế nào cũng gởi tiền về cho tui mua cặp trâu, đi cày thuê. Cả đời tui, mơ ước có được con trâu, chị không giúp, thì không khi mô có. Đừng vì giàu sang sung sướng mà quên bà con nghèo.”
Mụ Ty hoang mang lắm, nhưng cứ nói thật những ý nghĩ trong lòng mụ:
“Sợ không có, chứ có thì phải nghĩ đến bà con, phải chia xẻ cơm áo cho nhau chớ. Như bà con đã chia khoai sắn cho tui sống mấy chục năm ni. Cậu đừng có lo. Tui mà có của thì chia hết. Nghe bà con nói chuyện, tui nghĩ là Tây, Mỹ nó ngu lắm, để tiền, để của ngoài đường, cho mình qua đó mà hốt, như hốt cứt trâu ngoài ruộng”
Mụ Viện, nhà ở xóm trên, có đứa con gái ba mươi lăm tuổi bị ly dị. Cô nầy về ở với cha mẹ. Mụ Viện đến năn nỉ mụ Tý, đề nghị thẳng thừng:
“Chị tra (già) rồi, đi Tây, đi Mỹ làm chi , bên đó lạnh lắm, chịu không nổi mô. Mà đã tra dư ri (già như thế nầy), còn đi lấy dôn (chồng), thiên hạ, làng nước, con nít, chúng nó cười cho thúi trốt (thối đầu). Trẽn lắm (xấu hổ). Thôi thì chị nhường ông Việt Kiều đó cho con Thại nhà tui, hắn còn trẻ, chịu được lạnh, có thể giúp ông Việt Kiều nhiều chuyện, đẻ cho ông vài ba đứa con. Phần chị, thì ở đây đã quen, đi mô cho mệt.”
Mụ Ty nghe mà rưng rung nước mắt, vì xưa nay đã quen bị thiên hạ chèn ép mà không dám kêu ca. Mụ nói nho nhỏ, sợ mất lòng mụ Viện:
“Chuyện đó, thì tùy ông Việt Kiều, nếu tui chịu nhường, liệu ông nớ có chịu hay không?”
Mụ Viện giục :
“Răng mà không chịu. Con Thại còn trẻ, còn đẹp, khỏe mạnh, chứ có ốm o bệnh hoạn như, như ai đó mô. Thì chị cứ nói cho đến khi ông nớ chịu. Không nói thì mần răng người ta biết. “
“Tui không dám nói mô.”
“Tại răng mà không dám nói ? Có chết chóc chi mô?”
Mụ Tý khóc rấm rứt:
“Chết tui cũng không dám nói. Chị có gan thì nói thẳng với ông Thu đi. Nói được thì tui chịu nhường”
Nói đến đó, mụ Ty tủi thân quá, khóc oà lên. Tưởng như đã mất ông Thu rồi. Đứa cháu săn sóc mụ Ty, nghe mà giận quá, xen vô, nói lớn tiếng:
“Cái mụ Viện ni vô doang (vô duyên) chưa tề. Người ta ưng dau (yêu nhau) cả mấy chục năm ni, đêm ngày thương dớ (nhớ). Chị Thại con của mụ, mập thù lù, bị chồng chê, bị li dị, chớ có quý báu chi. Có tình nghĩa chi mà nhảy vô đòi dành ăn. Ở bên đó, đầm Tây, đầm Mỹ đẹp như tiên, như thánh, trắng như trứng gà bóc, ông còn chưa chịu nữa, huống chi con của mụ, thấm vô mô.”
Mụ Viện giận dữ nghiến răng gào lên:
“Nì, cái con quỷ cái, tau bả (vả) cho văng răng ra bi chừ. Việc chi mà mi xía vô chuyện người ta? Mi biết chi mà nói. Câm cái mồm lại.”
Đứa cháu trả treo:
“Nói ngang xương dư rứa (như vậy), quỷ sứ nghe cũng không lọt tai. Tức đến nghẹn họng.”
Có nhiều người nữa, đến bắt mụ Ty hứa hẹn đủ điều. Ông chủ tịch xã cũng nói với mụ Ty, yêu cầu ông Thu giúp đỡ, ủng hộ một món tiền, đủ để xây lại lại trụ sở uỷ ban hành chánh xã cho khang trang hơn. Mụ Ty đạo đạt những lời yêu cầu của bà con đến ông Thu. Ông cười hiền:
“Tội nghiệp bà con quá. Chắc qua Mỹ, tui với mụ phải tổ chức một băng cướp, đi ăn cướp ngân hàng, đem tiền về giúp bà con mình.”
Mụ Ty không hiểu lời nói đùa của ông Thu, hốt hoảng nói:
“Đi ăn cướp? Tui không làm được mô. Tui mù loà, mần răng mà chạy trốn cho kịp. E cũng ở tù rục xương. Rứa thì lâu ni, ở bên Mỹ, eng làm việc chi?”
“Đi cày”- Ý ông Thu muốn nói đi làm cực nhọc như đi cày vậy, nhưng mụ Ty không hiểu, hỏi:
“Ruộng có diều (nhiều) không? Được mấy sào? Qua bên đó, tui cũng giúp xay lúa, giã gạo được”
“Bây chừ thì về hưu rồi, nghỉ đi cày.”
“ Rứa thì lấy chi mà ăn ?”
“Tiền để đèng” (để dành) – Ông Thu nói tiếng Quảng Trị cho mụ Ty dễ hiểu.
Mụ Thu xuống giọng, nói nhỏ như sợ người khác nghe được:
“Để đèng diều (nhiều) không? Được năm lạng không?
“Được”
“Rứa thì giàu quá! Chôn cho kỹ. Coi chừng bị trộm hết, không có ăn, khổ lắm đó.”
Gian nan lắm, ông Thu mới hoàn tất được thủ tục, đưa mụ Ty về Mỹ. Phía chính quyền Việt Nam làm khó khăn, ông phải vất vả chạy mua giấy khai sinh, phải nhờ người đút lót tiền mua các loại giấy tờ chứng minh cần thiết. Bộ ngoại giao và di trú Mỹ nghi ngờ ông âm mưu đưa người nhập lậu qua khe hở của pháp luật. Ông cố gắng giải thích về sự thành thật của ông, mà không ai tin. Giá như ông cưới một cô gái trẻ, đẹp, thì được dễ dàng thông qua. Ông kể câu chuyện tình hơn nửa thế kỷ của ông cho viên chức ở toà đại sứ Mỹ nghe, họ càng không tin hơn, cho rằng ông bịa chuyện. Cuối cùng, ông phải thuê luật sư can thiệp, và nhờ thêm dân biểu, nghị sĩ vùng ông ở viết thư cho bộ ngoại giao và sở di trú. Thời gian thủ tục giấy tờ dài hơn gấp đôi bình thường.
Trên máy bay về Mỹ, ngồi bên cạnh mụ Ty, ông Thu thấy tình thương dạt dào rộn lên trong tim. Nhìn mụ Ty ngồi dựa ngửa đang lơ mơ ngủ, ông thấy mụ đẹp hơn cả “con Ty” mười bốn tuổi ngày xưa có cái răng khểnh. Ông hứng khởi, hát nho nhỏ bản nhạc Suối Mơ của Văn Cao: “… từng hẹn mùa xưa xây nhà bên suối, nghe suối róc rách trôi, hoa lừng hương ngát, đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi…”
Mụ Ty, quay mặt lại nói:
“Eng hát hay quá”
Ông Thu cười:
“Không hay bằng Ty nói vè O Nương mô.”
Ông Thu vuốt nhẹ bàn tay khô xương, sần sùi của mụ Ty, mà lòng vui rộn rã.
(TRÀM CÀ MAU)
Trí nhớ giảm sút, phải làm sao ?
Đôi lúc, bạn có cảm giác mất trí nhớ tạm thời nên chẳng biết mình đang và cần làm gì? Càng lớn tuổi, con người càng hay quên.
Đó là lý do bạn nên quan tâm, chăm sóc cho "bộ nhớ" của mình từ bây giờ.
Trí nhớ và hoạt động trí tuệ nói chung là chức năng thần kinh cao cấp của con người. Ở mỗi người, trí nhớ lại có những phương thức hoạt động phù hợp với hoàn cảnh nghề nghiệp, gia đình, vị thế xã hội của họ.
Trí nhớ ngắn hay dài hạn đều phụ thuộc vào não bộ
Người ta phân biệt hai loại trí nhớ ngắn hạn và dài hạn. Trí nhớ ngắn hạn là khả năng lưu giữ những thông tin mới tiếp nhận trong vài giây, trước khi nó được củng cố để giữ lại lâu dài. Trí nhớ dài hạn là quá trình lưu giữ các thông tin tiếp nhận được và con người có thể nhớ tới chúng sau một thời gian.
Dù ngắn hay dài hạn, việc hình thành và duy trì trí nhớ đều trông cậy vào một khu vực nằm sâu trong não bộ, gọi là vùng hippocampus. Bên cạnh nó là vùng hạnh nhân (amygdala), tạo cảm xúc, in dấu những ký ức của mỗi người. Lớp ngoài của võ não lưu giữ trí nhớ dài hạn ở những khu vực khác nhau nhờ những loại hình thông tin đa dạng như ngôn ngữ, cử chỉ, cảm giác...
Để những vùng nói trên hoạt động hiệu quả, các động mạch nuôi não phải thông suốt để não có đủ ô-xy, năng lượng, các chất dẫn truyền thần kinh không thiếu hụt và các "khớp thần kinh" (synase) được bảo tồn.
Tuy nhiên, trong thực tế, những điều kiện đó dễ bị xâm hại do tác động của nhiều yếu tố, khiến chúng ta sa sút trí tuệ, mất trí nhớ, bị bệnh Alzheimer, Parkinson...
Những phương pháp cải thiện trí nhớ hiệu quả
Kẻ thù nguy hiểm nhất của trí nhớ là stress. Trong gia đình cũng như ngoài xã hội, mọi người đều chịu nhiều áp lực. Không ít người bị stress trầm trọng khiến cơ thể phóng thích nhiều cortisol (hormone stress), làm tổn thương vùng hippocampus.
Mặt khác, stress còn làm giảm, thậm chí mất tập trung. Ngoài ra, cortisol còn thúc đẩy việc sản xuất insulin, ngăn không cho vùng hippocampus sử dụng đủ đường huyết để não có năng lượng cho việc ghi nhớ. Hơn thế stress còn gây khó khăn cho việc "truy cập" ký ức đã được lưu giữ.
Dưới đây là các cách giúp cải thiện trí nhớ.
1. Hóa giải stress bằng phương pháp thiền hay yoga. Đây là cách gỡ bỏ các áp lực, làm trùng giãn tâm thần, tăng khả năng tập trung... Ngoài ra, bạn có thể luyện tập thể lực ngoài trờ như bơi lội, đi bộ, đạp xe, tập aerobic... Hoạt động thể lực chính là biện pháp đốt cháy stress, vì chúng cho tim tăng cung lượng máu tới não và các phủ tạng, khiến tinh thần phấn chấn, sảng khoái.
2. Tập thể dục cho não bằng cách đọc sách, báo, lướt các trang web lành mạnh và bổ ích. Đồng thời, bạn nên chơi các trò chơi trí tuệ như ô chữ, cờ tướng (hoặc cờ vua), học ngoại ngữ hay chơi một loại nhạc cụ nào đó... Cách này làm tăng lượng ô-xy tới não, thúc đẩy quá trình dịch chuyển từ bộ nhớ ngắn hạn sang dài hạn.
3. Một chế độ dinh dưỡng đầy đủ và cân đối, nhiều rau, trái cây, giúp tăng cường các chất dinh dưỡng như lecithin (có trong dầu đậu nành, trứng, lạc, mầm lúa mạch, gan), vitamin C (trong cam, chanh, rau, quả) và các vitamin nhóm B (trong gan, thận, thịt nạc, sữa, yoghurt). Tất cả các chất này hỗ trợ cho việc sản xuất chất dẫn truyền thần kinh acetylchline.
Các a-xít béo omega-3 như DHA được coi là "thức ăn của não". Chúng có nhiều trong các loài cá biển vùng nước lạnh như cá hồi, các trích... giúp bù đắp một lượng đáng kể chất xám của não. Chất béo trong não làm thành các màng tế bào và giữ vai trò quan trọng trong hoạt động sống còn của tế bào não. Các nơ-ron thần kinh cũng rất giàu a-xít béo omega-3 còn giúp cân bằng xảm xúc lành mạnh và tâm trạng tích cực ở người cao tuổi. DHA cũng là thành phần chính của các "khớp thần kinh".
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy, các chất chống ô-xy hóa từ rau, trái cây, các quả mọng (mâm xôi), khoai lang, cà chua, bông cải xanh, củ cải đường, cam, nho, quả cherry, kiwi, gấc... làm giảm đáng kể nguy cơ suy giảm trí nhớ di chứng trung hòa hoặc vô hiệu hóa các gốc tự do. Ngoài ra, các chất chống ô-xy hóa còn cải thiện dòng chảy ô-xy qua cơ thể và não.
Với những người cao tuổi, chế độ ăn hạn chế năng lượng xem ra rất hữu ích. Họ sẽ tránh được các nguy cơ thừa cân, béo phì, dẫn tới những bệnh mạn tính như cao huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch... Chúng không những đe dọa khả năng ghi nhớ mà cả sinh mạng người cao tuổi.
Não có chừng 50% nước cho nên bạn phải uống đủ nước (1.500-2.000ml mỗi ngày) để thủy hợp (hydrate hóa) não dễ dàng. Thiếu nước hoặc mất nước nhẹ có thể làm gia tăng hormone stress, khiến não bị tổn thương, giảm thiểu trí nhứ. Bạn có thể uống nước sôi để nguội hoặc nước trà. Trong trà có nhiều chất tăng thư giãn tâm thần, tăng sự lanh lợi, hoạt bát... Thế nhưng, bạn cần tránh uống trà đặc vào buổi tối vì có thể dẫn đến mất ngủ.
Mỗi ngày, bạn nên uống một đến hay ly rượu vang đỏ. Chúng có tác dụng làm giãn nở mạch máu. Các chất chống ô-xy hóa trong rượu còn bảo vệ tế bào não, qua đó cải thiện trí nhớ của bạn. Tuy nhiên, không nên lạm dụng rượu vì uống nhiều làm tăng cholesterol, nguy cơ xơ vữa động mạch và cản trở dòng máu tới não. Các nghiên cứu của Đại học Harvard, Mỹ, đã chứng minh, người lạm dụng rượu thường kém tập trung. Khi tham gia những thử nghiệm về nhận thức, họ kém hơn hẳn những người uống rượu vang có chừng mực.
4. Phải tạo được giấc ngủ tốt để giúp não củng cố trí nhớ ngắn hạn cũng như dài hạn. Nghiên cứ của Đại học Lubeck, Đức, đã cho thấy sự sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề có liên quan mật thiết đến giấc ngủ đầy đủ của mỗi người. Chứng mất ngủ hay chứng ngừng thở khi ngủ làm cho người ta mệt mỏi nên không thể tập trung.
5. Kiểm soát tốt những căn bệnh mãn tính như cao huyết áp, đái tháo đường... cũng là một giải pháp hữu hiệu để tăng cường trí nhớ.
6. Lối sống tích cực, lạc quan, cởi mở có tác động rất lớn trong việc giảm thiểu nguy cơ trầm cảm, nhất là đối với phụ nữ tiền mãn kinh, mãn kinh và những người cao tuổi. Đồng thời, cách này còn cải thiện đáng kể trí nhớ và các hoạt động trí tuệ nói chung.
BACSI.com (Theo a Family)
Đôi lúc, bạn có cảm giác mất trí nhớ tạm thời nên chẳng biết mình đang và cần làm gì? Càng lớn tuổi, con người càng hay quên.
Đó là lý do bạn nên quan tâm, chăm sóc cho "bộ nhớ" của mình từ bây giờ.
Trí nhớ và hoạt động trí tuệ nói chung là chức năng thần kinh cao cấp của con người. Ở mỗi người, trí nhớ lại có những phương thức hoạt động phù hợp với hoàn cảnh nghề nghiệp, gia đình, vị thế xã hội của họ.
Trí nhớ ngắn hay dài hạn đều phụ thuộc vào não bộ
Người ta phân biệt hai loại trí nhớ ngắn hạn và dài hạn. Trí nhớ ngắn hạn là khả năng lưu giữ những thông tin mới tiếp nhận trong vài giây, trước khi nó được củng cố để giữ lại lâu dài. Trí nhớ dài hạn là quá trình lưu giữ các thông tin tiếp nhận được và con người có thể nhớ tới chúng sau một thời gian.
Dù ngắn hay dài hạn, việc hình thành và duy trì trí nhớ đều trông cậy vào một khu vực nằm sâu trong não bộ, gọi là vùng hippocampus. Bên cạnh nó là vùng hạnh nhân (amygdala), tạo cảm xúc, in dấu những ký ức của mỗi người. Lớp ngoài của võ não lưu giữ trí nhớ dài hạn ở những khu vực khác nhau nhờ những loại hình thông tin đa dạng như ngôn ngữ, cử chỉ, cảm giác...
Để những vùng nói trên hoạt động hiệu quả, các động mạch nuôi não phải thông suốt để não có đủ ô-xy, năng lượng, các chất dẫn truyền thần kinh không thiếu hụt và các "khớp thần kinh" (synase) được bảo tồn.
Tuy nhiên, trong thực tế, những điều kiện đó dễ bị xâm hại do tác động của nhiều yếu tố, khiến chúng ta sa sút trí tuệ, mất trí nhớ, bị bệnh Alzheimer, Parkinson...
Những phương pháp cải thiện trí nhớ hiệu quả
Kẻ thù nguy hiểm nhất của trí nhớ là stress. Trong gia đình cũng như ngoài xã hội, mọi người đều chịu nhiều áp lực. Không ít người bị stress trầm trọng khiến cơ thể phóng thích nhiều cortisol (hormone stress), làm tổn thương vùng hippocampus.
Mặt khác, stress còn làm giảm, thậm chí mất tập trung. Ngoài ra, cortisol còn thúc đẩy việc sản xuất insulin, ngăn không cho vùng hippocampus sử dụng đủ đường huyết để não có năng lượng cho việc ghi nhớ. Hơn thế stress còn gây khó khăn cho việc "truy cập" ký ức đã được lưu giữ.
Dưới đây là các cách giúp cải thiện trí nhớ.
1. Hóa giải stress bằng phương pháp thiền hay yoga. Đây là cách gỡ bỏ các áp lực, làm trùng giãn tâm thần, tăng khả năng tập trung... Ngoài ra, bạn có thể luyện tập thể lực ngoài trờ như bơi lội, đi bộ, đạp xe, tập aerobic... Hoạt động thể lực chính là biện pháp đốt cháy stress, vì chúng cho tim tăng cung lượng máu tới não và các phủ tạng, khiến tinh thần phấn chấn, sảng khoái.
2. Tập thể dục cho não bằng cách đọc sách, báo, lướt các trang web lành mạnh và bổ ích. Đồng thời, bạn nên chơi các trò chơi trí tuệ như ô chữ, cờ tướng (hoặc cờ vua), học ngoại ngữ hay chơi một loại nhạc cụ nào đó... Cách này làm tăng lượng ô-xy tới não, thúc đẩy quá trình dịch chuyển từ bộ nhớ ngắn hạn sang dài hạn.
3. Một chế độ dinh dưỡng đầy đủ và cân đối, nhiều rau, trái cây, giúp tăng cường các chất dinh dưỡng như lecithin (có trong dầu đậu nành, trứng, lạc, mầm lúa mạch, gan), vitamin C (trong cam, chanh, rau, quả) và các vitamin nhóm B (trong gan, thận, thịt nạc, sữa, yoghurt). Tất cả các chất này hỗ trợ cho việc sản xuất chất dẫn truyền thần kinh acetylchline.
Các a-xít béo omega-3 như DHA được coi là "thức ăn của não". Chúng có nhiều trong các loài cá biển vùng nước lạnh như cá hồi, các trích... giúp bù đắp một lượng đáng kể chất xám của não. Chất béo trong não làm thành các màng tế bào và giữ vai trò quan trọng trong hoạt động sống còn của tế bào não. Các nơ-ron thần kinh cũng rất giàu a-xít béo omega-3 còn giúp cân bằng xảm xúc lành mạnh và tâm trạng tích cực ở người cao tuổi. DHA cũng là thành phần chính của các "khớp thần kinh".
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy, các chất chống ô-xy hóa từ rau, trái cây, các quả mọng (mâm xôi), khoai lang, cà chua, bông cải xanh, củ cải đường, cam, nho, quả cherry, kiwi, gấc... làm giảm đáng kể nguy cơ suy giảm trí nhớ di chứng trung hòa hoặc vô hiệu hóa các gốc tự do. Ngoài ra, các chất chống ô-xy hóa còn cải thiện dòng chảy ô-xy qua cơ thể và não.
Với những người cao tuổi, chế độ ăn hạn chế năng lượng xem ra rất hữu ích. Họ sẽ tránh được các nguy cơ thừa cân, béo phì, dẫn tới những bệnh mạn tính như cao huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch... Chúng không những đe dọa khả năng ghi nhớ mà cả sinh mạng người cao tuổi.
Não có chừng 50% nước cho nên bạn phải uống đủ nước (1.500-2.000ml mỗi ngày) để thủy hợp (hydrate hóa) não dễ dàng. Thiếu nước hoặc mất nước nhẹ có thể làm gia tăng hormone stress, khiến não bị tổn thương, giảm thiểu trí nhứ. Bạn có thể uống nước sôi để nguội hoặc nước trà. Trong trà có nhiều chất tăng thư giãn tâm thần, tăng sự lanh lợi, hoạt bát... Thế nhưng, bạn cần tránh uống trà đặc vào buổi tối vì có thể dẫn đến mất ngủ.
Mỗi ngày, bạn nên uống một đến hay ly rượu vang đỏ. Chúng có tác dụng làm giãn nở mạch máu. Các chất chống ô-xy hóa trong rượu còn bảo vệ tế bào não, qua đó cải thiện trí nhớ của bạn. Tuy nhiên, không nên lạm dụng rượu vì uống nhiều làm tăng cholesterol, nguy cơ xơ vữa động mạch và cản trở dòng máu tới não. Các nghiên cứu của Đại học Harvard, Mỹ, đã chứng minh, người lạm dụng rượu thường kém tập trung. Khi tham gia những thử nghiệm về nhận thức, họ kém hơn hẳn những người uống rượu vang có chừng mực.
4. Phải tạo được giấc ngủ tốt để giúp não củng cố trí nhớ ngắn hạn cũng như dài hạn. Nghiên cứ của Đại học Lubeck, Đức, đã cho thấy sự sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề có liên quan mật thiết đến giấc ngủ đầy đủ của mỗi người. Chứng mất ngủ hay chứng ngừng thở khi ngủ làm cho người ta mệt mỏi nên không thể tập trung.
5. Kiểm soát tốt những căn bệnh mãn tính như cao huyết áp, đái tháo đường... cũng là một giải pháp hữu hiệu để tăng cường trí nhớ.
6. Lối sống tích cực, lạc quan, cởi mở có tác động rất lớn trong việc giảm thiểu nguy cơ trầm cảm, nhất là đối với phụ nữ tiền mãn kinh, mãn kinh và những người cao tuổi. Đồng thời, cách này còn cải thiện đáng kể trí nhớ và các hoạt động trí tuệ nói chung.
BACSI.com (Theo a Family)
Chuyện Nhà Tui . . .
Nguyên Nhung Tui già rồi, nói quanh nói quẩn chẳng qua nói thiệt, cứ mỗi năm khi bước sang muà đông là cảm được ngay sự xuống dốc cuả cơ thể, rồi từ chuyện đó nó cũng lôi theo sự suy xụp cuả tinh thần, có muốn trẻ để làm thơ tình cũng không nổi vì cái ba sườn nó vẹo sang một bên, ngồi lạch cạch gõ máy lưng nó đau muốn chết. Rồi hết đông lại tới muà Xuân, thêm một tuổi thấy biết rầu thúi ruột , ba cái món ăn chơi ngày Tết bày đầy trên bàn, thấy đám trẻ nhai nhóc nhách mà đành liếc mắt nhìn sơ rồi quay đi nuốt nước miếng.
Mới ngày nào đời còn nhiều mộng đẹp, tóc còn xanh, da còn thẳng, giờ soi gương ba cái nếp nhăn lẻ tẻ không mời mà tới, in dấu tùm lum ở đuôi mắt, soi gương đã thấy "tóc trắng đậm đà êm ái ru tình già". Bây giờ nhìn nhau con mắt đã có đuôi nhưng dường như không mặn mà cho lắm, chỉ rình rình cà khịa hay nhăn nhăn như khỉ già trong sở thú.
Mà không nhăn nhó sao được khi bà xã tui lẩm cà lẩm cẩm, suốt ngày lo xa vì sợ chết hay sao đó mà nghiên cứu hết thuốc này đến thuốc khác, ai mách gì cũng nghe rồi đòi đi mua về uống, gọi là " ngừa bịnh hơn chữa bịnh" đó mà. Bả ở nhà vặn "ra-dzô" nghe tối ngày, bởi vậy sinh cái bịnh "tự kỷ ám thị", nghe mấy ông thầy thuốc Tây y , Đông y nói về bịnh này bịnh kia, bả tưởng tượng liền ra bịnh đó, rầu rầu cái mặt trông thấy mà phát chán.
Tức cười, bả thấy người ta kể chuyện hổng hút thuốc mà cũng bị ung thư phổi, chỉ ho hen chút chút mà khi phát giác là sắp đi về với Ông Bà. Bởi vậy hễ thấy tui húng hắng ho là bả nhìn tui như sợ sắp vướng bịnh nan y, bà hối tui đi nội soi, ngoại soi, rồi tối ngày kể chuyện ông A. nọ sắp đi đời nhà ma, cô Tám kia mới thấy đó mà đã ra người thiên cổ. Tui thì cho là bả bị bịnh tâm thần, ám ảnh nỗi lo vì bịnh hoạn mà không biết tận hưởng cái đẹp ngắn ngủi, bay vèo đi của kiếp người. Nhưng khổ là bả cứ bắt tui phải nghe những cái mà tui chẳng muốn nghe, thực ra con người có số, Trời Kêu Ai Nấy Dạ, có chạy trốn cũng không được mà.
Để tui kể cho bà con nghe về cái người "đại lý bịnh" này xem có đáng ghét không nè. Làm ơn bước vô nhà tui rồi mở tủ thuốc ra mà xem, đầy nhóc thuốc Tây thuốc Tàu , thuốc mua vô tội vạ ở những cái quầy ngoài siêu thị, khi đi bác sĩ thế nào cũng năn nỉ ỉ ôi cho bằng được để mua nhiều thứ thuốc chất đó để phòng hờ nữa. Đau nhức, cao máu, hạ cholesterol, thuốc tim, thuốc bổ xương, thuốc đau bụng tiêu chảy, đau bao tử nhiều đến nỗi cũng gần gần như cái tiệm thuốc tây. Chưa hết đâu à nha, chỗ này là thuốc lọc gan của bác sĩ Thượng Hải, chỗ kia là thuốc bổ thận của bác sĩ Phạm hoàng Trung, chai NINO Nhàu mua đại ở một tiệm bán thực phẩm, sữa ong chuá làm trắng da dài tóc, ái chà, tùm lum mấy cọng Aloe Vera trong tủ lạnh để uống với mật ong ngừa bịnh ung thư tưởng tượng của bả nữa.
Chưa hết à nghe. Bả còn hay hơn bác sĩ nữa. Hổng cần đi đốc tờ khám bịnh làm chi cho tốn tiền. Bả ngồi bấm huyệt mình ên, xem tim đập bao nhiêu nhịp một phút, rồi tự động đi lấy thuốc điều hòa nhịp tim ( mua đại ở mấy tiệm thuốc Tàu) uống liền vì sợ tim đập nhanh nó bể ra thì hết thuốc chữa. Nghe bác sĩ khuyên mỗi ngày uống phòng ngừa 1 viên Aspirin 81 m/g thì bả uống gấp 3 lần, uống càng nhiều càng tốt đến nỗi gần loét cái bao tử, thiếu điều ọi ra máu. Bẹ sườn bên phải hơi khó chịu, bả hình dung ra bịnh gan, rồi tối ngày nghi cái bụng nó sưng. Tui nói bụng bà mà còn sưng được thì tui cũng còn xuân chán. Bả gõ bụng để thăm dò, rồi nói nó sưng chỗ này, chỗ nọ đòi tui dẫn đi bác sĩ mới nghe. Tới bác sĩ thì ổng cũng vỗ bụng đoán mò trước, rồi nói phải chụp hình rọi kiếng, ultra-sound gì đó mới dám cho thuốc uống. Bả nói bác sĩ chỉ cần cho uống trụ sinh là hết. Ui, lại cái bịnh mê trụ sinh nữa chứ, mỗi năm sơ sơ nốc cũng hằng trăm viên ampiciline. Khi bác sĩ hỏi làm sao bà biết bụng bà sưng, bả nói tui khám trước ông rồi, hổng ai biết Ta bằng Ta, hễ vỗ bụng nghe bình bịch là bình thường, còn hễ sưng thì nó kêu bồm bộp. Cha mẹ ơi! Nghe cũng có lý quá chứ. . .
Sống gần một người luôn luôn bị ám ảnh bịnh tật như vậy tui cũng chán đời lắm, chưa kể bả sợ rồi ăn uống nấu nướng cho tui lạt nhách, triệt để theo lối kiêng khem của người có bịnh cao máu, tiểu đường v.v.... Đi ăn tiệc cưới hay đi nhậu với bạn bè mà có bả theo tui thiệt bực mình hết biết, đang cầm miếng thịt gà trên tay bả cũng dằng ngay lấy để lột da, làm như tui là dứa con nít. Ăn miếng bánh ngọt bà nhắc hoài, “coi chừng tiểu đường nghe”. Có bữa hai vợ chồng cãi nhau trước mặt khách làm tui xấu hổ quá, ăn chưa xong bữa bả đã bày ra trước mặt tui thuốc này thuốc kia, bả nói uống hông thôi bữa nay ông xực nhiều lắm rồi nghe, thiệt chịu hết thấu.
Còn nói về mấy cái máy để tập thể dục thì ôi thôi, nó tràn lan từ trong nhà ra tới garage, ngoài patio cũng có. Có cái rỉ sét vì lâu ngày không đụng tới, cái thì dấu dưới gầm giường, cái thì để trong phòng ngủ, thay vì để đi bộ thì được dùng để vắt quần áo, không tin tôi mời bà con tới nhà tui chơi cho biết sự tình. Vậy mà chưa hết đâu, bả xem TV thấy họ trưng kiểu nào là lại làm bộ kêu con đưá nào có hiếu thương má thì “order” tặng má để kéo dài tuổi thọ, bởi tui biết tính bả mà, nhìn mấy cô người mẫu trình diễn thân hình thon gọn sau khi dượt mấy cái máy ai cũng thuôn thả đẹp hết biết, nhưng bả đâu có biết là khi quảng cáo họ thường có hai chữ “Before and After” để bịp người nhẹ dạ. Trước thì trưng hình một bà mập ú như cái lu, sau hai tuần thì một cô gọn nhỏ eo thon, xinh như mộng, thế nên chỉ vài ngày sau nhà tui nhất định thêm một cái máy nữa, nhưng bả có tập được cái nào lâu, ba bữa là ngồi thở dốc ra nhìn máy …
Thiệt tình là khổ, không biết năm hết tết đến, nhà nhà ấp lẫm đồ ăn mà bả có cho tui ăn uống gì không? Có ông nào gặp vợ "quá lo xa" hay "quá sợ chết" như bà xã tui không? Tui kể bà con nghe chuyện này:
“Có 2 ông bà kia số Trời định cùng quy tiên một lượt, đều được Chúa cho lên Thiên Đàng vì họ là những người tốt. Lên tới nơi, họ được dẫn vào một nhà ăn la liệt đủ món ngon vật lạ, thiên thần nói quý ông bà cứ xơi thoải mái, vì ở đây không còn sợ bịnh này bịnh kia nữa. Ổng bèn hỏi thiên thần là nếu tui ăn nhiều thì có bị cao mỡ trong máu không , thiên thần nói đừng sợ gì hết, vì đằng nào cũng chết rồi mà. Ông kia bèn quay qua nói với vợ:
" Giá biết Thiên Đàng được ăn uống thoải mái như vầy, thì thà tui chết sớm để khỏi uống thuốc nhịn ăn 10 năm nay có phải đỡ khổ không?"
Câu chuyện tui kể cũng là một liều thuốc bổ cho bà con cười hở mười cái răng , cười xong rồi giựt mình vì cái tật lạm dụng thuốc men và cả tin của bà con ta, ai nói gì cũng tin như Thánh sống, để rồi nếu may mà khỏi bịnh,lại chẳng biết hết vì thuốc gì, mà hễ chết thì tại vì . . . nó tới số.
Đến lúc này ai chả tới lúc cảm nhận được "cái già xồng xộc nó thì tới nơi", những thứ bịnh không mời lù lù kéo tới, nếu ngay từ lúc còn trẻ, chúng ta đã chuẩn bị tinh thần để đón chờ thì chắc không đến nỗi lo quá xá như bả. Thay vì để cơ thể và tinh thần từ từ tiếp nhận một biến chuyển thay đổi tâm sinh lý cuả tuổi già, người ta thường hối hả đi tìm cách để giải quyết mau lẹ, kết quả không đi tới đâu lại tốn tiền vô ích.
Thiệt tình thì tui cũng thấy bà nhà tui cặn kẽ, chu đáo quá, còn tui thì hơi chủ quan khinh địch, vì cho là bịnh là cho ải cho ai, chứ nó đâu dám lai vãng tới mình mà lo. Nhưng bà con thấy không, bất cứ thứ thuốc men nào khi xử dụng, cũng có thể là con dao hai lưỡi mà chúng ta cần lưu ý, chữa được bệnh này lại nhảy qua bệnh kia. Mấy tháng trước tui dẫn bà nhà tui đi thử máu, bác sĩ cho mấy thứ thuốc chữa cao mỡ trong máu, phản ứng phụ của thuốc thường làm cho các bắp thịt đau nhức, rồi ảnh hưởng qua gan, khi uống thuốc đau nhức dài ngày, lại có nguy cơ bị bịnh khác dễ hơn những người không xử dụng, vì vậy nó cứ chạy vòng vòng bịnh này sang bịnh kia.
Tui đã nói với nhà tui rồi mà, sự lạc quan trước những niềm vui của mỗi ngày cũng đã là phương thuốc giúp mình chống chỏi được những "depress "của tinh thần, và từ điểm này có khi cũng lướt qua được bịnh tật. Tại sao giờ này thay vì băn khoăn lo sợ vu vơ, sao hổng chịu để tâm hồn thanh thản, thủng thỉnh đi bộ lòng vòng, vợ chồng già khập khiễng bên nhau còn hơn là ngồi nhà nhăn nhó. Áp dụng ngay từ giờ phút này chế độ thể dục thể thao, ăn uống điều độ, không đến nỗi kiêng khem quá để cơ thể thiếu thốn, mà cũng chẳng nên thỏa mãn "cái miệng mà khổ cái thân". Cái miệng là tên sát nhân âm thầm đồng lõa với cái bụng, kể cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nói lắm lỡ lời cũng gây tai họa, ăn lắm đầy bụng chất chứa nhiều thứ dư thừa mặc cơ thể nó bảo "thôi" mà không nghe cũng gây ra bệnh, rồi lại cuống lên đi tìm Thầy tìm thuốc.
E hèm, từ hồi học được tính lạc quan, không thèm nghĩ gì lâu hơn 10 phút tui thấy cái đầu nó khoẻ nhiều lắm nha. Buồn vui gì mặc kệ nó, buồn nhiều ảnh hưởng cho bao tử mà vui nhiều cũng hổng tốt cho tim, tui nói thiệt đó nha, tiết chế được cái nào hay cái đó, khoẻ để sống lâu là điều khi già ai cũng mơ ước. Đàn bà tâm lý hay sợ sệt lo xa hơn các ông, vì thế sự "bạ gì uống nấy" chẳng qua cũng phát xuất từ tâm lý bịnh nằm đó không ai lo, thà rằng cứ ngừa trước hay hơn. Nhưng ngừa như thế nào mới là chuyện đáng nói.
Trong các môn thể dục thì đi bộ là tiện và dễ chịu nhất, buổi sáng hay chiều rảnh rỗi, có thể cùng nhau đi bộ vài miles, rồi thì vừa đi vừa trò chuyện, cũng tác dụng lắm đó. Thế nhưng nếu muốn giữ cho thân hình nhẹ nhõm thì vẫn phải làm thêm những động tác khác, cho gân cốt dẻo dai, xoa bóp những huyệt đạo trên tay chân, mặt mũi cũng là một cách làm cho điều hòa máu huyết kinh mạch. Nhưng dù cho ngủ, ăn, ngồi, đứng, đi thì cái gì cũng phải có chừng mực của nó, không quá sức để cơ thể có thể chịu đựng được, bởi vì có nhiều người tập "excercise" quá mức, gây tổn thương cho tim, vì thế thay vì khỏe lại đi đứt.
Tui cũng biết mình không nên quan niệm "phú thác" cho Trời, rồi lơ là việc chăm sóc sức khỏe , bởi vì khi có chuyện gì xảy ra thì chẳng những khổ cho bản thân, mà cả nhà vợ chồng con cháu gì cũng bị ảnh hưởng lây, cực cái thân mình thì đành rồi nhưng làm cực cho người khác nữa thì hổng nên. Nếu nằm đó chắc cũng không vui vẻ gì, bắt người khác săn sóc cực thân người ta, chắc có lúc cũng bị ruả thầm trong bụng mà hổng biết. Đồng ý rằng ai rồi cũng đến lúc cầm tấm Vé đi chuyến tàu suốt, nhưng nếu trên chuyến tàu đời, mình được vui vẻ, khỏe mạnh mà ngồi ngắm cảnh, xem hoa, rồi nằm xuống mà đi luôn về cái thế giới vô cùng ấy, thì chẳng thích hơn là cứ ốm dai ốm dẳng, chết không chết mà thành cái nợ cho người thân.
Nguyên Nhung
Nguyên Nhung Tui già rồi, nói quanh nói quẩn chẳng qua nói thiệt, cứ mỗi năm khi bước sang muà đông là cảm được ngay sự xuống dốc cuả cơ thể, rồi từ chuyện đó nó cũng lôi theo sự suy xụp cuả tinh thần, có muốn trẻ để làm thơ tình cũng không nổi vì cái ba sườn nó vẹo sang một bên, ngồi lạch cạch gõ máy lưng nó đau muốn chết. Rồi hết đông lại tới muà Xuân, thêm một tuổi thấy biết rầu thúi ruột , ba cái món ăn chơi ngày Tết bày đầy trên bàn, thấy đám trẻ nhai nhóc nhách mà đành liếc mắt nhìn sơ rồi quay đi nuốt nước miếng.
Mới ngày nào đời còn nhiều mộng đẹp, tóc còn xanh, da còn thẳng, giờ soi gương ba cái nếp nhăn lẻ tẻ không mời mà tới, in dấu tùm lum ở đuôi mắt, soi gương đã thấy "tóc trắng đậm đà êm ái ru tình già". Bây giờ nhìn nhau con mắt đã có đuôi nhưng dường như không mặn mà cho lắm, chỉ rình rình cà khịa hay nhăn nhăn như khỉ già trong sở thú.
Mà không nhăn nhó sao được khi bà xã tui lẩm cà lẩm cẩm, suốt ngày lo xa vì sợ chết hay sao đó mà nghiên cứu hết thuốc này đến thuốc khác, ai mách gì cũng nghe rồi đòi đi mua về uống, gọi là " ngừa bịnh hơn chữa bịnh" đó mà. Bả ở nhà vặn "ra-dzô" nghe tối ngày, bởi vậy sinh cái bịnh "tự kỷ ám thị", nghe mấy ông thầy thuốc Tây y , Đông y nói về bịnh này bịnh kia, bả tưởng tượng liền ra bịnh đó, rầu rầu cái mặt trông thấy mà phát chán.
Tức cười, bả thấy người ta kể chuyện hổng hút thuốc mà cũng bị ung thư phổi, chỉ ho hen chút chút mà khi phát giác là sắp đi về với Ông Bà. Bởi vậy hễ thấy tui húng hắng ho là bả nhìn tui như sợ sắp vướng bịnh nan y, bà hối tui đi nội soi, ngoại soi, rồi tối ngày kể chuyện ông A. nọ sắp đi đời nhà ma, cô Tám kia mới thấy đó mà đã ra người thiên cổ. Tui thì cho là bả bị bịnh tâm thần, ám ảnh nỗi lo vì bịnh hoạn mà không biết tận hưởng cái đẹp ngắn ngủi, bay vèo đi của kiếp người. Nhưng khổ là bả cứ bắt tui phải nghe những cái mà tui chẳng muốn nghe, thực ra con người có số, Trời Kêu Ai Nấy Dạ, có chạy trốn cũng không được mà.
Để tui kể cho bà con nghe về cái người "đại lý bịnh" này xem có đáng ghét không nè. Làm ơn bước vô nhà tui rồi mở tủ thuốc ra mà xem, đầy nhóc thuốc Tây thuốc Tàu , thuốc mua vô tội vạ ở những cái quầy ngoài siêu thị, khi đi bác sĩ thế nào cũng năn nỉ ỉ ôi cho bằng được để mua nhiều thứ thuốc chất đó để phòng hờ nữa. Đau nhức, cao máu, hạ cholesterol, thuốc tim, thuốc bổ xương, thuốc đau bụng tiêu chảy, đau bao tử nhiều đến nỗi cũng gần gần như cái tiệm thuốc tây. Chưa hết đâu à nha, chỗ này là thuốc lọc gan của bác sĩ Thượng Hải, chỗ kia là thuốc bổ thận của bác sĩ Phạm hoàng Trung, chai NINO Nhàu mua đại ở một tiệm bán thực phẩm, sữa ong chuá làm trắng da dài tóc, ái chà, tùm lum mấy cọng Aloe Vera trong tủ lạnh để uống với mật ong ngừa bịnh ung thư tưởng tượng của bả nữa.
Chưa hết à nghe. Bả còn hay hơn bác sĩ nữa. Hổng cần đi đốc tờ khám bịnh làm chi cho tốn tiền. Bả ngồi bấm huyệt mình ên, xem tim đập bao nhiêu nhịp một phút, rồi tự động đi lấy thuốc điều hòa nhịp tim ( mua đại ở mấy tiệm thuốc Tàu) uống liền vì sợ tim đập nhanh nó bể ra thì hết thuốc chữa. Nghe bác sĩ khuyên mỗi ngày uống phòng ngừa 1 viên Aspirin 81 m/g thì bả uống gấp 3 lần, uống càng nhiều càng tốt đến nỗi gần loét cái bao tử, thiếu điều ọi ra máu. Bẹ sườn bên phải hơi khó chịu, bả hình dung ra bịnh gan, rồi tối ngày nghi cái bụng nó sưng. Tui nói bụng bà mà còn sưng được thì tui cũng còn xuân chán. Bả gõ bụng để thăm dò, rồi nói nó sưng chỗ này, chỗ nọ đòi tui dẫn đi bác sĩ mới nghe. Tới bác sĩ thì ổng cũng vỗ bụng đoán mò trước, rồi nói phải chụp hình rọi kiếng, ultra-sound gì đó mới dám cho thuốc uống. Bả nói bác sĩ chỉ cần cho uống trụ sinh là hết. Ui, lại cái bịnh mê trụ sinh nữa chứ, mỗi năm sơ sơ nốc cũng hằng trăm viên ampiciline. Khi bác sĩ hỏi làm sao bà biết bụng bà sưng, bả nói tui khám trước ông rồi, hổng ai biết Ta bằng Ta, hễ vỗ bụng nghe bình bịch là bình thường, còn hễ sưng thì nó kêu bồm bộp. Cha mẹ ơi! Nghe cũng có lý quá chứ. . .
Sống gần một người luôn luôn bị ám ảnh bịnh tật như vậy tui cũng chán đời lắm, chưa kể bả sợ rồi ăn uống nấu nướng cho tui lạt nhách, triệt để theo lối kiêng khem của người có bịnh cao máu, tiểu đường v.v.... Đi ăn tiệc cưới hay đi nhậu với bạn bè mà có bả theo tui thiệt bực mình hết biết, đang cầm miếng thịt gà trên tay bả cũng dằng ngay lấy để lột da, làm như tui là dứa con nít. Ăn miếng bánh ngọt bà nhắc hoài, “coi chừng tiểu đường nghe”. Có bữa hai vợ chồng cãi nhau trước mặt khách làm tui xấu hổ quá, ăn chưa xong bữa bả đã bày ra trước mặt tui thuốc này thuốc kia, bả nói uống hông thôi bữa nay ông xực nhiều lắm rồi nghe, thiệt chịu hết thấu.
Còn nói về mấy cái máy để tập thể dục thì ôi thôi, nó tràn lan từ trong nhà ra tới garage, ngoài patio cũng có. Có cái rỉ sét vì lâu ngày không đụng tới, cái thì dấu dưới gầm giường, cái thì để trong phòng ngủ, thay vì để đi bộ thì được dùng để vắt quần áo, không tin tôi mời bà con tới nhà tui chơi cho biết sự tình. Vậy mà chưa hết đâu, bả xem TV thấy họ trưng kiểu nào là lại làm bộ kêu con đưá nào có hiếu thương má thì “order” tặng má để kéo dài tuổi thọ, bởi tui biết tính bả mà, nhìn mấy cô người mẫu trình diễn thân hình thon gọn sau khi dượt mấy cái máy ai cũng thuôn thả đẹp hết biết, nhưng bả đâu có biết là khi quảng cáo họ thường có hai chữ “Before and After” để bịp người nhẹ dạ. Trước thì trưng hình một bà mập ú như cái lu, sau hai tuần thì một cô gọn nhỏ eo thon, xinh như mộng, thế nên chỉ vài ngày sau nhà tui nhất định thêm một cái máy nữa, nhưng bả có tập được cái nào lâu, ba bữa là ngồi thở dốc ra nhìn máy …
Thiệt tình là khổ, không biết năm hết tết đến, nhà nhà ấp lẫm đồ ăn mà bả có cho tui ăn uống gì không? Có ông nào gặp vợ "quá lo xa" hay "quá sợ chết" như bà xã tui không? Tui kể bà con nghe chuyện này:
“Có 2 ông bà kia số Trời định cùng quy tiên một lượt, đều được Chúa cho lên Thiên Đàng vì họ là những người tốt. Lên tới nơi, họ được dẫn vào một nhà ăn la liệt đủ món ngon vật lạ, thiên thần nói quý ông bà cứ xơi thoải mái, vì ở đây không còn sợ bịnh này bịnh kia nữa. Ổng bèn hỏi thiên thần là nếu tui ăn nhiều thì có bị cao mỡ trong máu không , thiên thần nói đừng sợ gì hết, vì đằng nào cũng chết rồi mà. Ông kia bèn quay qua nói với vợ:
" Giá biết Thiên Đàng được ăn uống thoải mái như vầy, thì thà tui chết sớm để khỏi uống thuốc nhịn ăn 10 năm nay có phải đỡ khổ không?"
Câu chuyện tui kể cũng là một liều thuốc bổ cho bà con cười hở mười cái răng , cười xong rồi giựt mình vì cái tật lạm dụng thuốc men và cả tin của bà con ta, ai nói gì cũng tin như Thánh sống, để rồi nếu may mà khỏi bịnh,lại chẳng biết hết vì thuốc gì, mà hễ chết thì tại vì . . . nó tới số.
Đến lúc này ai chả tới lúc cảm nhận được "cái già xồng xộc nó thì tới nơi", những thứ bịnh không mời lù lù kéo tới, nếu ngay từ lúc còn trẻ, chúng ta đã chuẩn bị tinh thần để đón chờ thì chắc không đến nỗi lo quá xá như bả. Thay vì để cơ thể và tinh thần từ từ tiếp nhận một biến chuyển thay đổi tâm sinh lý cuả tuổi già, người ta thường hối hả đi tìm cách để giải quyết mau lẹ, kết quả không đi tới đâu lại tốn tiền vô ích.
Thiệt tình thì tui cũng thấy bà nhà tui cặn kẽ, chu đáo quá, còn tui thì hơi chủ quan khinh địch, vì cho là bịnh là cho ải cho ai, chứ nó đâu dám lai vãng tới mình mà lo. Nhưng bà con thấy không, bất cứ thứ thuốc men nào khi xử dụng, cũng có thể là con dao hai lưỡi mà chúng ta cần lưu ý, chữa được bệnh này lại nhảy qua bệnh kia. Mấy tháng trước tui dẫn bà nhà tui đi thử máu, bác sĩ cho mấy thứ thuốc chữa cao mỡ trong máu, phản ứng phụ của thuốc thường làm cho các bắp thịt đau nhức, rồi ảnh hưởng qua gan, khi uống thuốc đau nhức dài ngày, lại có nguy cơ bị bịnh khác dễ hơn những người không xử dụng, vì vậy nó cứ chạy vòng vòng bịnh này sang bịnh kia.
Tui đã nói với nhà tui rồi mà, sự lạc quan trước những niềm vui của mỗi ngày cũng đã là phương thuốc giúp mình chống chỏi được những "depress "của tinh thần, và từ điểm này có khi cũng lướt qua được bịnh tật. Tại sao giờ này thay vì băn khoăn lo sợ vu vơ, sao hổng chịu để tâm hồn thanh thản, thủng thỉnh đi bộ lòng vòng, vợ chồng già khập khiễng bên nhau còn hơn là ngồi nhà nhăn nhó. Áp dụng ngay từ giờ phút này chế độ thể dục thể thao, ăn uống điều độ, không đến nỗi kiêng khem quá để cơ thể thiếu thốn, mà cũng chẳng nên thỏa mãn "cái miệng mà khổ cái thân". Cái miệng là tên sát nhân âm thầm đồng lõa với cái bụng, kể cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nói lắm lỡ lời cũng gây tai họa, ăn lắm đầy bụng chất chứa nhiều thứ dư thừa mặc cơ thể nó bảo "thôi" mà không nghe cũng gây ra bệnh, rồi lại cuống lên đi tìm Thầy tìm thuốc.
E hèm, từ hồi học được tính lạc quan, không thèm nghĩ gì lâu hơn 10 phút tui thấy cái đầu nó khoẻ nhiều lắm nha. Buồn vui gì mặc kệ nó, buồn nhiều ảnh hưởng cho bao tử mà vui nhiều cũng hổng tốt cho tim, tui nói thiệt đó nha, tiết chế được cái nào hay cái đó, khoẻ để sống lâu là điều khi già ai cũng mơ ước. Đàn bà tâm lý hay sợ sệt lo xa hơn các ông, vì thế sự "bạ gì uống nấy" chẳng qua cũng phát xuất từ tâm lý bịnh nằm đó không ai lo, thà rằng cứ ngừa trước hay hơn. Nhưng ngừa như thế nào mới là chuyện đáng nói.
Trong các môn thể dục thì đi bộ là tiện và dễ chịu nhất, buổi sáng hay chiều rảnh rỗi, có thể cùng nhau đi bộ vài miles, rồi thì vừa đi vừa trò chuyện, cũng tác dụng lắm đó. Thế nhưng nếu muốn giữ cho thân hình nhẹ nhõm thì vẫn phải làm thêm những động tác khác, cho gân cốt dẻo dai, xoa bóp những huyệt đạo trên tay chân, mặt mũi cũng là một cách làm cho điều hòa máu huyết kinh mạch. Nhưng dù cho ngủ, ăn, ngồi, đứng, đi thì cái gì cũng phải có chừng mực của nó, không quá sức để cơ thể có thể chịu đựng được, bởi vì có nhiều người tập "excercise" quá mức, gây tổn thương cho tim, vì thế thay vì khỏe lại đi đứt.
Tui cũng biết mình không nên quan niệm "phú thác" cho Trời, rồi lơ là việc chăm sóc sức khỏe , bởi vì khi có chuyện gì xảy ra thì chẳng những khổ cho bản thân, mà cả nhà vợ chồng con cháu gì cũng bị ảnh hưởng lây, cực cái thân mình thì đành rồi nhưng làm cực cho người khác nữa thì hổng nên. Nếu nằm đó chắc cũng không vui vẻ gì, bắt người khác săn sóc cực thân người ta, chắc có lúc cũng bị ruả thầm trong bụng mà hổng biết. Đồng ý rằng ai rồi cũng đến lúc cầm tấm Vé đi chuyến tàu suốt, nhưng nếu trên chuyến tàu đời, mình được vui vẻ, khỏe mạnh mà ngồi ngắm cảnh, xem hoa, rồi nằm xuống mà đi luôn về cái thế giới vô cùng ấy, thì chẳng thích hơn là cứ ốm dai ốm dẳng, chết không chết mà thành cái nợ cho người thân.
Nguyên Nhung

Thăm Lại New York New York là thành phố đông dân nhất nước Mỹ với dân số gần 8 triệu 400 ngàn người, nếu tính chung với vùng ngoại ô bao quanh gọi là Ðô Thị New York (Metropolitan New York) dân số lên đến gần 19 triệu người được xem là một trong những đô thị lớn nhất thế giới. Thành phố New York nằm ở bờ biển phía Ðông trong vùng Ðông Bắc Hoa Kỳ có hải cảng thiên nhiên và được chia làm 5 quận gồm các quận The Bronx, Brooklyn, Manhattan, Queens và Staten Island.
New York dẫn đầu thế giới về thương mại, tài chánh, văn hóa, thời trang và giải trí có trung tâm thị trường chứng khoán New York Stock Exchange ở khu Wall Street và là nơi đặt trụ sở chính của tổ chức Liên Hiệp Quốc.
Buổi sáng hôm sau từ thành phố New Haven thuộc tiểu bang Connecticut chúng tôi lái xe đi thăm New York, lộ trình theo xa lộ 95 đi về hướng Tây dài 73 miles (117 km) qua các thành phố nằm ven bờ biển. Ðây là lần thứ 3 đến thăm New York City, hai lần trước cách đây 30 năm lúc ban đầu mới định cư sinh sống ở New Haven và lúc đó tôi không có xe hơi nên đi bằng xe điện mất khoảng 1 giờ 30 phút tới Manhattan là khu trung tâm thành phố.
Xa lộ 95 lấy tên Thống Ðốc John Davis Lodge của Connecticut làm tên xa lộ từ năm 1985 (trước kia là Connecticut Turnpike có thu lộ phí nhưng nay thì đã bãi bỏ) rất đông xe cộ và qua các phố thị nhà cửa liên tục.
Giữa đoạn đường là Bridgeport thành phố lớn nhất của tiểu bang Connecticut là nơi có nhà hàng bánh mì Subway đầu tiên và nơi đây nổi tiếng với thị trưởng là ông Phineas Taylor Barnum (1810-1891) vừa là một nhà ảo thuật, chủ gánh xiệc vừa là một thương gia rất thành công lại còn là một người viết sách, chủ nhà xuất bản, ông lại là một bầu show vào năm 1850 làm một tua trình diễn cho nữ ca sĩ Jenny Lind và dám trả cho cô này 1,000$ một đêm cho suốt 150 đêm trình diễn. Hiện ở trung tâm thành phố gần bến tàu còn lưu lại nhà bảo tàng Barnum thu hút rất đông du khách đến viếng.
Khu nghèo Harlem
Trước khi vào quận Manhattan trung tâm của thành phố New York, xe chúng tôi chạy ngang qua khu Harlem nằm ở phía Bắc Manhattan với những dãy chung cư có lầu liên tục là nơi tập trung sinh sống của cộng đồng người Mỹ gốc Phi Châu. Nguyên thủy nơi đây là một làng của người Hòa Lan từ năm 1658 và họ lấy tên thành phố Haarlem ở Hòa Lan để đặt tên nơi định cư mới của họ bên xứ Mỹ. Harlem được sáp nhập vào New York City từ 1873.
Khoảng năm 1904 phong trào di cư của người da đen từ các tiểu bang miền Nam như Texas, Louisiana, Alabama v.v... về các tiểu bang miền Bắc trong đó có New York, Michigan để tìm việc làm trong các thành phố phát triển về kỹ nghệ hơn là ở miền Nam làm nông nghiệp. Phong trào di dân của người da đen kéo dài cho đến 1930 được gọi là The Great Migration ước lượng có khoảng 1.4 triệu người.
Tại New York người di dân da đen vào khu Harlem nơi giá nhà rẻ hơn và họ làm việc ở Manhattan cũng như các quận lân cận của thành phố New York. Trong thập niên 1920 sau khi kết thúc Ðệ Nhất Thế Chiến khu Harlem rất phồn thịnh và số người da đen tăng lên rất nhanh. Cuộc sống sung túc, văn hóa, nghệ thuật, âm nhạc của người da đen thăng hoa phát triển thành phong trào có tên là Harlem Renaissance tô điểm thêm màu sắc đa dạng cho nền văn hóa Hoa Kỳ. Thời kỳ này các hộp đêm nhạc Jazz như Renaissance Ballroom, Savoy Ball trong khu Harlem rất huy hoàng và giá thuê nhà ở đây cao không thua Manhattan.
Người da đen lại rất sùng đạo, họ đến nhà thờ để sinh hoạt vừa tôn giáo vừa xã hội, ca hát vui chơi, người ta ước tính khu Harlem có đến 400 nhà thờ. Hoa Kỳ lại lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế Great Depression vào cuối năm 1929 (kéo dài cho tới Ðệ Nhị Thế Chiến) khiến kỹ nghệ, thương mại New York trì trệ và ảnh hưởng nặng nề trong khu Harlem. Người da đen mất việc làm, không tiền mua thực phẩm, trả tiền nhà khiến khu Harlem suy sụp, nhà cửa phố xá tiêu điều và tội ác gia tăng ảnh hưởng cho đến ngày nay. Năm 1979 tôi từng ngồi xe điện ngang qua Harlem nhìn thấy các chung cư hoang tàn, đổ nát, lau sậy mọc đầy trong nhà tưởng như chiến tranh bom đạn tàn phá nhưng nhớ lại nước Mỹ không bao giờ bị ngoại xâm.
Ðường dây điện trên cao khu phố nào cũng treo lủng lẳng hàng chục... chiếc giày! Khu tồi tàn nhất ở Harlem là khu “Bradhurst” ở giữa Adam Clayton Powell Jr. Boulevard và Edgecombe, từ 139th St. đến 155th khiến báo New York Times từng mô tả: “Kể từ 1970 dân cư bỏ đi tìm đất hứa để lại nơi đây sự nghèo đói, không học vấn, không việc làm. Gần hai phần ba số gia đình có lợi tức hàng năm dưới 10,000$.
Trong cộng đồng có mức tội phạm cao nhất thành phố, những khu đất trống đầy rác rến và những chung cư xiêu vẹo, nhiều dãy nhà bỏ hoang hoặc niêm phong mang đến cảm giác thiếu an ninh và cảnh hoang tàn xâm nhập khắp mọi nơi.”
Nhiều chương trình chỉnh trang đô thị, huấn nghệ người dân tốn hàng trăm triệu Mỹ kim được đưa ra trong đó có xây nhà máy lọc nước thải, xây công viên Riverbank State Park (1993), biến khu đường rày xe điện không còn hoạt động từ đường 125th thành công viên cây xanh, xây lối đi cho bộ hành, gắn đèn đường, đèn hiệu lưu thông v.v... Từ 1980 chánh quyền thành phố New York sở hữu hơn 60% bất động sản ở Harlem rồi sửa chữa và bán đấu giá dưới giá thị trường cho những gia đình thật sự cư ngụ và sẵn sàng chăm sóc căn nhà mình ở.
Những chương trình này mang lại nhiều kết quả, hôm nay sau 30 năm tôi đi ngang qua Harlem trông thấy các khu phố tươm tất đàng hoàng hơn nhiều có nhiều quán cà phê Starbucks, siêu thị Harlem USA là siêu thị đầu tiên sau 30 năm, có rạp chiếu phim sau thời gian dài vắng bóng (xây năm 2000).
Năm 2001 mở cửa nhà bảo tàng nghệ thuật da đen Studio Museum in Harlem và cùng năm này cựu Tổng Thống Bill Clinton đặt văn phòng của mình cũng ở Harlem.
Rời khu Harlem đi về hướng Nam chúng tôi đi vào Manhattan nằm trên bán đảo là quận giàu có nhất của thành phố New York cũng là trung tâm của khu đô thị New York nơi tập trung toàn là nhà chọc trời và là trung tâm kinh tế, thương mại không những của nước Mỹ mà là của toàn cầu. Trước khi đặt chân vào trung tâm của thành phố thiết tưởng chúng ta cũng cần biết sơ qua về lịch sử nguồn gốc của đô thị New York.
Lịch sử thành phố New York
Vùng Manhattan vào năm 1524 khi người Âu Châu đầu tiên khám phá ra là nhà thám hiểm người Ý tên Giovanni da Verrazzano thì vùng này là một làng độ 5,000 dân của bộ lạc da đỏ Lenape. Ông Giovanni tuy người Ý nhưng làm việc cho triều đình Pháp thời vua Francis I và ông đặt tên vùng New York hiện nay là “New Angoulême”.
Ông Giovanni thực sự chưa vượt quá cửa sông vào Manhattan nơi ngày nay gọi là The Narrows mà phải đợi đến 1609 một người Anh tên Henry Hudson làm cho hãng buôn Hòa Lan thực hiện chuyến đi từ Manhattan lên đến vùng Albany ngày nay để vẽ bản đồ.
Theo gót ông Hudson, năm 1614 người Hòa Lan tới thành lập những trạm mua bán da thú ở phần đất nhìn ra biển cuối đảo Manhattan và gọi nơi này là “Nieuw Amsterdam” (New Amsterdam). Theo bản đồ vẽ năm 1660 New Amsterdam cũng có đường phố, cửa hàng, vườn rau và phía Ðông giáp với đất liền có xây thành lũy ngăn giặc.
Viên quan thuộc địa người Hòa Lan tên Peter Minuit mua đảo Manhattan từ bộ lạc Lenape vào năm 1626 bằng một xâu hột thủy tinh trị giá 24$ thời đó (sau này Hội Sử Học Hòa Lan tính lại là 1,000 USD). Có sách ghi là mua từ trưởng bộ lạc là người đàn ông đội nón nên mới có tên là Manhattan. Năm 1647 ông Peter Stuyvesant được bổ nhiệm làm giám quản thuộc địa New Amsterdam và năm 1653 thành lập thành phố.
Năm 1664 trong cuộc chiến giành thuộc địa với Hòa Lan, người Anh đánh chiếm New Amsterdam và đổi tên thành New York lấy tước hiệu của vua Anh James II thời đó là “Duke of York and Albany” để đặt tên cho New York và thị trấn thượng nguồn sông Hudson là Albany (nay là thủ phủ tiểu bang New York).
Quan giám quản Hòa Lan Peter Stuyvesant và hội đồng thành phố trước khi bàn giao chủ quyền New Amsterdam cho người Anh đã thương lượng để người Anh tôn trọng quyền tự do kể cả tự do tín ngưỡng cho dân chúng trong thành phố. Từ đó New York lớn dần trở thành thương cảng quan trọng của người Anh, năm 1754 Ðại Học Columbia được thành lập theo lệnh vua Anh George Ðệ Nhị ở Manhattan Hạ (Lower Manhattan) như một trường của triều đình.
Dưới thời kỳ người Anh cai trị họ đã đặt luật thuế đánh trên sản phẩm đường mía xuất cảng sang Âu Châu cũng như bắt buộc các thuộc địa Bắc Mỹ phải mua tem phiếu để nuôi quân lính Anh cai trị các thuộc địa này. Một hội đồng do 13 thuộc địa thành lập tại New York năm 1765 có tên là “Stamp Act Congress” nhằm chống lại luật thuế này và đây là lần đầu tiên các thuộc địa đoàn kết trong cùng một mục tiêu chính trị và hội đồng là nền tảng của Continental Congress (được xem như Quốc Hội Liên Bang) những năm sau đó.
Cuộc chiến tranh giành độc lập diễn ra từ 1775 và Manhattan là tâm điểm của chiến dịch New York (New York Campaign) gồm những trận chiến khốc liệt trong cuộc chiến Hoa Kỳ chống lại đế quốc Anh. Trong trận đánh đồn Washington ở Manhattan ngày 16 Tháng Mười Một, 1776 quân Cách Mạng thua trước quân Anh và phải rút lui bỏ ngõ thành phố New York, từ đó New York trở thành hậu cứ quân sự và chính trị của quân Anh trong suốt thời gian chiến tranh còn lại.
Một trận hỏa hoạn lớn xảy ra ở New York năm 1776 trong thời gian quân Anh cai trị thiêu rụi 1/4 nhà cửa thành phố, trước đó cùng năm ngày 4 Tháng Bảy, 1776, Bảng Tuyên Ngôn Ðộc Lập được Continental Congress ban hành. Trận chiến giành độc lập kết thúc sau khi tướng Anh là Cornwallis đầu hàng ở Yorktown, Virginia năm 1781 và ngày 25 Tháng Mười Một, 1783, Tướng George Washington trở lại Manhattan và quân Anh cuối cùng rút khỏi thành phố. Quốc Hội Liên Bang (Congress of the Confederation) chọn New York làm thủ đô đầu tiên của Hoa Kỳ từ 4 Tháng Ba, 1789, đến 12 Tháng Tám, 1790. Hiến Pháp Hoa Kỳ được phê chuẩn và thông qua, năm 1789 Tổng Thống đầu tiên George Washington tuyên thệ tại New York đồng thời Quốc Hội cũng như Tòa Án Tối Cao được thành lập.
Trong suốt thế kỷ 19 New York thay đổi và phát triển rất nhanh do làn sóng di dân của người Irish từ quần đảo nước Anh vì nạn đói do thất mùa khoai tây ở đó. Năm 1860 cứ trong 4 người New York là có một người sinh trưởng ở Ireland, lúc này dân số thành phố ước lượng 200,000 người.
Thành phố lên kế hoạch chỉnh trang, đường phố được xây dựng khắp hết mọi nơi trên đảo Manhattan, bến cảng cho tàu thuyền được thành lập cũng như trước đó vào năm 1819 kinh đào Erie được khai thông nối các hải cảng bên bờ Ðại Tây Dương với các thương trường nông sản trong nội địa Bắc Mỹ. Công viên rộng lớn Central Park ngay giữa lòng Manhattan được thành lập năm 1857, trở thành công viên trồng cây cối đầu tiên trong thành phố Hoa Kỳ.
Sang thế kỷ 20 hệ thống xe điện ngầm New York City Subway được sử dụng năm 1904 nối liền các quận ngoại ô mới thành lập tạo thành một mạng lưới giao thông công cộng tiện lợi cho người dân.
Nửa đầu thế kỷ 20 thành phố New York trở thành trung tâm thế giới về kỹ nghệ, thương mại và truyền thông, tuy nhiên sự phát triển này phải trả cái giá nào đó, cùng năm 1904 chiếc tàu hơi nước General Slocum phát hỏa trên sông East River làm thiệt mạng 1,021 hành khách. Năm 1911 đám cháy ở xưởng may Triangle Shirtwaist Factory làm chết 146 nhân công từ đó mới có những luật lệ an toàn cho các hãng xưởng.
Trước 1890 dân số New York không phải là người da trắng chỉ có 36,620 người, trong thập niên 1920 làn sóng nhập cư của người da đen từ miền Nam đổ về thành phố rất đông để tìm việc làm trong các nhà máy, hãng xưởng tạo thành phong trào Phục Hưng Harlem về văn hóa, âm nhạc của người da đen.
Thời gian này các nhà chọc trời đua nhau xây cất, thành phố mở rộng và dân số vượt quá 10 triệu người khiến New York trở thành đô thị lớn và đông dân nhất thế giới qua mặt cả London từng chiếm vị trí này trước đó.
Những năm Ðại Suy Thoái (Great Depression) khiến thành phố đi xuống và người ta chứng kiến cuộc bầu cử chọn ông Fiorello Henry La Guardia làm thị trưởng kéo dài đến 3 nhiệm kỳ (1934-1945), ông có công phục hồi kinh tế thành phố và sau đó trở thành khuôn mặt sáng chói trên chính trường dưới thời Tổng Thống Franklin D. Roosevelt chuẩn bị đưa nước Mỹ tham gia Thế Giới Ðại Chiến Lần Thứ Hai.
Sau Thế Chiến Thứ Hai các cựu quân nhân giải ngũ trở thành lực lượng sản xuất đưa nền kinh tế thăng hoa, lúc này mở mang việc xây cất nhà cửa ở khu phía Ðông quận Queens
. New York từ cuộc chiến mà Hoa Kỳ thắng trận, trở thành thành phố dẫn đầu thế giới về kinh tế với thị trường chứng khoán Wall Street, dẫn đầu tư thế chính trị với trụ sở Liên Hiệp Quốc và phát triển văn hóa nghệ thuật thay thế cả Paris. Sau nhiều giai đoạn kinh tế khủng hoảng rồi cũng mau chóng phục hồi, New York vẫn giữ vững ngôi vị là Thủ Ðô Thế Giới, đối với người Mỹ gọi New York là “Big Apple.”
Cái giá sáng chói nào cũng phải trả, New York là một trong những mục tiêu của khủng bố tấn công vào ngày 11 Tháng Chín, 2001, khiến gần 3,000 người thiệt mạng cùng với sự sụp đổ của tòa tháp đôi World Trade Center, tòa cao ốc tượng trưng cho sức mạnh kinh tế Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ rồi cũng lại đứng lên, ngay nơi đây đang xây cất tòa cao ốc “1 World Trade Center” (trước kia dự định là “Freedom Tower”) cùng với 3 cao ốc văn phòng và một Ðài Tưởng Niệm những người dân vô tội đã thiệt mạng.
Trịnh Hảo Tâm
Cộng Sản Việt Nam hay loài cầm thú ?
Đồng Chiêm, (thôn Đồng Chiêm, xã An Phú, huyện Mỹ Đức, Hà Nội) là một nơi “khỉ ho, cò gáy” một bên là sông, một bên là núi, ruộng thì ít, đá thì nhiều, mùa khô thì hạn, mùa mưa thì lụt, hầu như năm nào cũng bị lụt vì nơi đó là cái túi chứa nước các nơi dồn về, nên ruộng chỉ cấy được một vụ, năng suất chẳng đáng được bao nhiêu, đường đi thì toàn đá với đất, mưa thì lầy, nắng thì bụi, người dân nơi đây vô cùng khổ cực, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, làm nhà, tường xây bằng đá núi, không có tiền để tô trát nên vẫn lộ ra những viên đá núi lởm chởm, cửa được che bằng mấy tấm phên tre, phên nứa cho gió đỡ lùa vào nhà.
Người dân ở đây 100% làm ruộng, hết vụ mùa thì lên núi bốc đá thuê, người thì vào rừng kiếm củi, cả ngày vất vả mới kiếm được mấy cân gạo, kêu mãi mà không ai thương, cán bộ địa phương, cán bộ nhà nước thì chỉ biết vơ vét không một ai quan tâm đến đời sống của người dân - “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”. Thế mà trận lụt tháng 11 năm 2008 Ông Phạm Quang Nghị không giúp được gì cho người dân nơi đây lại còn nói: “nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia chứ không đem hết sức ra tự làm”. Đúng là một câu nói vô trách nhiệm của một quan chức. Nếu đúng như ông Nghị nói thì người dân Đồng Chiêm chẳng ai còn sống sót đến ngày nay, hàng năm lũ đã cuốn trôi họ đi hết rồi, ai còn lại chắc cũng chết đói vì “nhân dân ỷ vào nhà nước”.
Người dân chẳng còn biết trông chờ vào ai trên thế gian này, chỉ còn biết ngửa mặt trên trời mà cầu nguyện, suốt cuộc đời lầm than vất vả, họ chỉ còn biết chạy đến với Chúa, hy vọng vào Chúa.
Đồng Chiêm là một thôn toàn tòng theo đạo Công giáo, họ trông cậy vào Chúa nên mọi người trong giáo xứ đã hô hào dựng một cây Thánh Giá trên núi phần mộ của tổ tiên họ an nghỉ, mỗi khi vất vả cực nhọc họ nhìn lên Thánh Giá Chúa mà cầu nguyện, để vơi đi phần nào nỗi thống khổ. Thế mà đến đêm 5/1/2010 chính quyền Hà Nội tính toán đúng lúc cha chính và cha phó xứ đi tĩnh tâm xa, đã huy động lực lượng chó nghiệp vụ, công an, cảnh sát, dân phòng, dân vệ 500-600 tên có đủ các loại “hung khí” đến để bao vây làng Đồng Chiêm, nội bất xuất, ngoại bất nhập, đến rạng sáng 6/1/2010 họ đã cho nổ mìn phá Thánh Giá, bà con giáo dân chạy đến thì bị chó cắn, công an cắn, cảnh sát đánh đập không thương tiếc đến gãy tay, mặt mũi bê bết máu. Họ khiêng lên xe nói là cho đi viện. Đánh người rồi giành lấy đưa đi viện ? Hay đưa đi phi tang ?
Nhiều người đặt câu hỏi: vùng biển của nước ta bị Trung Quốc chiếm đóng, tàu của Trung Quốc ngày đêm xâm phạm chủ quyền, ngày càng tiến sâu vào lãnh hải Việt Nam, bắt tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam vô cớ, hỏi rằng: Công an, cảnh sát, dân phòng, dân vệ đâu? Sao không tới đó canh giữ, gìn giữ non sông bảo vệ tổ quốc, mà để ngư dân Việt Nam phải khổ sở vì kẻ xâm lăng.
Đồng Chiêm là thôn nhỏ bé, nghèo nàn lạc hậu, thanh niên đi làm ăn nơi xa, trong làng chỉ còn lại bà già và con trẻ. Thế mà chính quyền Hà Nội đã huy động 500-600 công an, cảnh sát, dân phòng, dân vệ, cán bộ, thôn xã với đủ các loại hung khí, bao vây làng Đồng Chiêm và sẵn sàng chiến đấu với bà già con nít ? Đánh bà già con nít trong nước dễ hơn đánh lính Tầu ?

CSVN đánh đập giáo dân Đồng Chiêm
CSVN vốn dĩ mang gene "khôn nhà dại chợ",
đánh đập người dân trong xứ, trong khi quỳ lụy quân giặc phương Bắc Trung Cộng xâm chiếm lãnh thổ, tiền đồ Việt Nam.
Người dân ở đây 100% làm ruộng, hết vụ mùa thì lên núi bốc đá thuê, người thì vào rừng kiếm củi, cả ngày vất vả mới kiếm được mấy cân gạo, kêu mãi mà không ai thương, cán bộ địa phương, cán bộ nhà nước thì chỉ biết vơ vét không một ai quan tâm đến đời sống của người dân - “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”. Thế mà trận lụt tháng 11 năm 2008 Ông Phạm Quang Nghị không giúp được gì cho người dân nơi đây lại còn nói: “nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia chứ không đem hết sức ra tự làm”. Đúng là một câu nói vô trách nhiệm của một quan chức. Nếu đúng như ông Nghị nói thì người dân Đồng Chiêm chẳng ai còn sống sót đến ngày nay, hàng năm lũ đã cuốn trôi họ đi hết rồi, ai còn lại chắc cũng chết đói vì “nhân dân ỷ vào nhà nước”.
Người dân chẳng còn biết trông chờ vào ai trên thế gian này, chỉ còn biết ngửa mặt trên trời mà cầu nguyện, suốt cuộc đời lầm than vất vả, họ chỉ còn biết chạy đến với Chúa, hy vọng vào Chúa.
Đồng Chiêm là một thôn toàn tòng theo đạo Công giáo, họ trông cậy vào Chúa nên mọi người trong giáo xứ đã hô hào dựng một cây Thánh Giá trên núi phần mộ của tổ tiên họ an nghỉ, mỗi khi vất vả cực nhọc họ nhìn lên Thánh Giá Chúa mà cầu nguyện, để vơi đi phần nào nỗi thống khổ. Thế mà đến đêm 5/1/2010 chính quyền Hà Nội tính toán đúng lúc cha chính và cha phó xứ đi tĩnh tâm xa, đã huy động lực lượng chó nghiệp vụ, công an, cảnh sát, dân phòng, dân vệ 500-600 tên có đủ các loại “hung khí” đến để bao vây làng Đồng Chiêm, nội bất xuất, ngoại bất nhập, đến rạng sáng 6/1/2010 họ đã cho nổ mìn phá Thánh Giá, bà con giáo dân chạy đến thì bị chó cắn, công an cắn, cảnh sát đánh đập không thương tiếc đến gãy tay, mặt mũi bê bết máu. Họ khiêng lên xe nói là cho đi viện. Đánh người rồi giành lấy đưa đi viện ? Hay đưa đi phi tang ?
Nhiều người đặt câu hỏi: vùng biển của nước ta bị Trung Quốc chiếm đóng, tàu của Trung Quốc ngày đêm xâm phạm chủ quyền, ngày càng tiến sâu vào lãnh hải Việt Nam, bắt tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam vô cớ, hỏi rằng: Công an, cảnh sát, dân phòng, dân vệ đâu? Sao không tới đó canh giữ, gìn giữ non sông bảo vệ tổ quốc, mà để ngư dân Việt Nam phải khổ sở vì kẻ xâm lăng.
Đồng Chiêm là thôn nhỏ bé, nghèo nàn lạc hậu, thanh niên đi làm ăn nơi xa, trong làng chỉ còn lại bà già và con trẻ. Thế mà chính quyền Hà Nội đã huy động 500-600 công an, cảnh sát, dân phòng, dân vệ, cán bộ, thôn xã với đủ các loại hung khí, bao vây làng Đồng Chiêm và sẵn sàng chiến đấu với bà già con nít ? Đánh bà già con nít trong nước dễ hơn đánh lính Tầu ?

CSVN đánh đập giáo dân Đồng Chiêm
CSVN vốn dĩ mang gene "khôn nhà dại chợ",
đánh đập người dân trong xứ, trong khi quỳ lụy quân giặc phương Bắc Trung Cộng xâm chiếm lãnh thổ, tiền đồ Việt Nam.
Kẽ mưu sát DGH John Paul II dược DGH thăm và tha thứ

Người ám sát ĐGH Gioan Phaolô II muốn nhờ Dan Brown giúp viết tự truyện
VietCatholic News (14 Jan 2010 11:27) ROME (Zenit.org). - Sau khi đã bị giam giữ gần 29 năm, người bắn Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II năm 1981 sẽ được phóng thích khỏi một nhà tù ở Thổ nhĩ kỳ vào ngày thứ Hai sắp tới (18 tháng giêng 2010). Năm nay ông 52 tuổi.
Tin Mehmet Ali Agca sẽ được phóng thích do luật sư của ông là Haci Ali Ozhan xác nhận.
Agca nói rằng một khi được tự do, ông muốn làm hai điều: viếng thăm ngôi mộ của ĐGH Gioan Phaolô II, và viết hai cuốn sách, một cuốn là về cuộc đời ông. Để viết cuốn tự truyện, theo tin cho biết Agca đã liên lạc với Dan Brown, tác giả cuốn sách tiểu thuyết khoa học giả tưởng bán chạy nhất “The Da Vinci Code (Mật mã Da Vinci).”
Trong một lá thư viết tay gửi cho báo The Sunday Times, Agca tuyên bố: “Tôi sẽ tuyên dương thứ đạo Kitô hoàn hảo mà Vatican [sic] chưa bao giờ hiểu biết được.”
Trong một điệp văn soạn bằng Anh ngữ và được các luật sư của ông phổ biến, Agca công nhận rằng cuộc ông mưu sát Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã phát sinh ra nhiều câu hỏi về việc có thể các cơ quan tình báo của khối Cộng sản đã liên hệ đến vụ việc. Ông nói: “Trong những tuần lễ tới đây tôi sẽ trả lời tất cả mọi vấn nạn đó.”
Tính khả tín của Agca khi trả lời những câu hỏi như thế có thể phải đem ra bàn cãi. Trong một bản thông cáo đầy tính xúc động, ông kết án chủ nghĩa bạo động và kêu gọi thành lập một thứ “đế quốc Mỹ mới” để đem lại hòa bình và dân chủ cho thế giới. Năm ngoái, Agca nói ông muốn trở lại Quảng trường Thánh Phêrô, nơi hiện trường vụ âm mưu ám toán của ông, để được chịu phép rửa tội tại đó.
Agca bị giam giữ 29 năm tù không phải chỉ là hậu quả vụ âm mưu ám sát Đức giáo hoàng, mà còn vì tội đã giết Abdi Ipekci, giám đốc tờ báo Thổ Milliyet năm 1979.
Hai bàn tay
Vụ ám sát Gioan Phaolô II xảy ra ngày 13 tháng 5 năm 1981 khi Đức giáo hoàng đang chào đón khách hành hương trên chiếc xe popemobile, trước lúc bắt đầu buổi triều yết công cộng tại Quảng trường Thánh Phêrô. Có hai viên đạn bắn ra: viên đầu trúng bụng Đức giáo hoàng, viên thứ hai đi trệch ra cạnh ngón tay.
Đúng vào hôm đó, Gioan Phaolô II đã chuẩn bị một bài giáo lý nhằm kỷ niệm 90 năm ngày ĐGH Lêô XIII công bố thông điệp “Rerum Novarum.”
Đức giáo hoàng ngã xuống, rơi vào hai cánh tay của người thư ký, nay đã trở thành Hồng y và tổng giám mục giáo phận Krakow, đó là Stanislaw Dziwisz.
Khi Đức thánh cha hồi tỉnh, ngài xác nhận đã cầu nguyện cho người anh em đã bắn mình và chân thành tha thứ cho y.
Trong thời gian hồi phục, Gioan Phaolô II đã lao mình vào việc viết tông thư "Laborem Exercens" về quyền lợi của thợ thuyền, được công bố ngày 14 tháng 9 cùng năm. Các buổi triều yết công cộng được bãi bỏ cho mãi đến ngày 7 tháng 10 năm 1981.
Một năm sau cuộc ám sát, Gioan Phaolô II đã đến Fatima để tạ ơn Đức Mẹ cho ngài hồi phục sức khoẻ. Hai năm sau đó ngài đến thăm Agca trong tù.
Mấy năm sau nữa, ngài có tiếp mẹ của kẻ sát nhân là Muzeyen Agca trong một buổi triều yết riêng.
Gioan Phaolô II vẫn thường lặp lại rằng có hay bàn tay, một bắn viên đạn vào người mình, còn bàn tay kia – của Đức Mẹ Fatima – đã làm trệch hướng đi viên đạn đó.
Phụng Nghi

Người ám sát ĐGH Gioan Phaolô II muốn nhờ Dan Brown giúp viết tự truyện
VietCatholic News (14 Jan 2010 11:27) ROME (Zenit.org). - Sau khi đã bị giam giữ gần 29 năm, người bắn Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II năm 1981 sẽ được phóng thích khỏi một nhà tù ở Thổ nhĩ kỳ vào ngày thứ Hai sắp tới (18 tháng giêng 2010). Năm nay ông 52 tuổi.
Tin Mehmet Ali Agca sẽ được phóng thích do luật sư của ông là Haci Ali Ozhan xác nhận.
Agca nói rằng một khi được tự do, ông muốn làm hai điều: viếng thăm ngôi mộ của ĐGH Gioan Phaolô II, và viết hai cuốn sách, một cuốn là về cuộc đời ông. Để viết cuốn tự truyện, theo tin cho biết Agca đã liên lạc với Dan Brown, tác giả cuốn sách tiểu thuyết khoa học giả tưởng bán chạy nhất “The Da Vinci Code (Mật mã Da Vinci).”
Trong một lá thư viết tay gửi cho báo The Sunday Times, Agca tuyên bố: “Tôi sẽ tuyên dương thứ đạo Kitô hoàn hảo mà Vatican [sic] chưa bao giờ hiểu biết được.”
Trong một điệp văn soạn bằng Anh ngữ và được các luật sư của ông phổ biến, Agca công nhận rằng cuộc ông mưu sát Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã phát sinh ra nhiều câu hỏi về việc có thể các cơ quan tình báo của khối Cộng sản đã liên hệ đến vụ việc. Ông nói: “Trong những tuần lễ tới đây tôi sẽ trả lời tất cả mọi vấn nạn đó.”
Tính khả tín của Agca khi trả lời những câu hỏi như thế có thể phải đem ra bàn cãi. Trong một bản thông cáo đầy tính xúc động, ông kết án chủ nghĩa bạo động và kêu gọi thành lập một thứ “đế quốc Mỹ mới” để đem lại hòa bình và dân chủ cho thế giới. Năm ngoái, Agca nói ông muốn trở lại Quảng trường Thánh Phêrô, nơi hiện trường vụ âm mưu ám toán của ông, để được chịu phép rửa tội tại đó.
Agca bị giam giữ 29 năm tù không phải chỉ là hậu quả vụ âm mưu ám sát Đức giáo hoàng, mà còn vì tội đã giết Abdi Ipekci, giám đốc tờ báo Thổ Milliyet năm 1979.
Hai bàn tay
Vụ ám sát Gioan Phaolô II xảy ra ngày 13 tháng 5 năm 1981 khi Đức giáo hoàng đang chào đón khách hành hương trên chiếc xe popemobile, trước lúc bắt đầu buổi triều yết công cộng tại Quảng trường Thánh Phêrô. Có hai viên đạn bắn ra: viên đầu trúng bụng Đức giáo hoàng, viên thứ hai đi trệch ra cạnh ngón tay.
Đúng vào hôm đó, Gioan Phaolô II đã chuẩn bị một bài giáo lý nhằm kỷ niệm 90 năm ngày ĐGH Lêô XIII công bố thông điệp “Rerum Novarum.”
Đức giáo hoàng ngã xuống, rơi vào hai cánh tay của người thư ký, nay đã trở thành Hồng y và tổng giám mục giáo phận Krakow, đó là Stanislaw Dziwisz.
Khi Đức thánh cha hồi tỉnh, ngài xác nhận đã cầu nguyện cho người anh em đã bắn mình và chân thành tha thứ cho y.
Trong thời gian hồi phục, Gioan Phaolô II đã lao mình vào việc viết tông thư "Laborem Exercens" về quyền lợi của thợ thuyền, được công bố ngày 14 tháng 9 cùng năm. Các buổi triều yết công cộng được bãi bỏ cho mãi đến ngày 7 tháng 10 năm 1981.
Một năm sau cuộc ám sát, Gioan Phaolô II đã đến Fatima để tạ ơn Đức Mẹ cho ngài hồi phục sức khoẻ. Hai năm sau đó ngài đến thăm Agca trong tù.
Mấy năm sau nữa, ngài có tiếp mẹ của kẻ sát nhân là Muzeyen Agca trong một buổi triều yết riêng.
Gioan Phaolô II vẫn thường lặp lại rằng có hay bàn tay, một bắn viên đạn vào người mình, còn bàn tay kia – của Đức Mẹ Fatima – đã làm trệch hướng đi viên đạn đó.
Phụng Nghi
THỜI GIAN
Người Mông Cổ có kể lại một câu chuyện ngụ ngôn như sau:
Một hôm, con Phượng hoàng hỏi con Quạ:
Này anh Quạ, tại sao anh sống trên cõi đời này đến 300 năm, còn chúng tôi chỉ có 33 năm thôi. Con Quạ hỏi ngược lại:
- Thế sao cô bạn chỉ uống máu tươi, còn chúng tôi phải sống bằng xác chết?
Con Phượng hoàng nghĩ ngợi hay là chúng ta hãy thử ăn xác chết như loài quạ cho biết. Thế là cả hai cùng bay lượn để tìm mồi. Thấy một con ngựa chết thối, cả hai liền lao mình xuống. Con quạ như trúng số, nó ăn lấy ăn để một cách ngon lành. Con Phượng hoàng cũng làm theo, nó mổ một cái rồi dừng lại, nó lại thử một lần nữa nhưng lắc đầu bảo quạ:
- Này anh quạ, tôi không thể tiếp tục được, thà một lần được uống máu tươi còn hơn phải 300 năm ăn đồ hôi thối.
Qúy vị và các bạn thân mến,
Nếu câu chuyện ngụ ngôn nào cũng hàm chứa một bài học thì bài học của câu chuyện trên đây hẳn phải là một khoảnh khắc được sống một cách sung mãn có giá trị hơn là một cuộc sống kéo lê trong bùn nhơ hôi thối.
Có những cuộc sống lê thê trong bùn nhơ hôi thối trụy lạc của tham nhũng, của ích kỷ, của hận thù và cũng có những cuộc sống ngắn ngủi nhưng sung mãn.
Một người Do Thái sống tại Alexandria bên Ai cập khoảng 30 năm trước Công nguyên đã ghi lại trong cuốn sách có tựa đề "Khôn ngoan" như sau:
Người công chính có sống ngắn ngủi cũng sẽ tìm được an nghỉ. Tuổi thọ đáng kính đâu phải là tại nhiều năm hay đo bằng số tuổi, nhưng tuổi đời chính là sự khôn ngoan và cuộc sống thọ chính là một cuộc sống không vết nhơ.
Vì đẹp lòng Thiên Chúa người công chính được Người yêu mến, và họ sống giữa những kẻ tội lỗi nên được cất đi, người ấy được cất đi kẻo sự dữ làm phôi pha trí khôn hay gian tà quyến rũ tâm hồn bởi vì xấu tốt làm mờ sự lành và đam mê quay cuồng làm tiêu tan tinh thần chất phát, chẳng mấy chốc mà người công chính đã trọn lành dù chỉ trong một thời gian ngắn..
Một thi sĩ Ba-tư sống vào thế kỷ thứ 13 trong tập thơ có tựa đề: "Bài Ca Những Con Chim" cũng đã tưởng tượng ra một con chim Chào Mào bay vút lên trời cao, một số chim khác cũng bay theo và cuối cùng bị sức nóng của mặt trời thiêu đốt, thế nhưng có tiếng vọng lại của bầy chim: "Thà bị đốt cháy vì đi tìm kiếm Chúa hơn là miệt mài trong bùn nhơ hôi thối."
Những ngày đầu năm và cuối năm không thể không mời gọi chúng ta suy nghĩ về thời gian. Ai mà không mong ước được sống lâu. Ngày đầu năm được gặp nhau, lời cầu chúc đầu tiên trên cửa miệng mọi người là gì nếu không phải là được an khang trường thọ.
Người ta thường ca tụng muôn năm những người có địa vị trong xã hội, nhưng sự thật đang diễn ra trước mắt chúng ta từng giây từng phút là: mọi sự đều đã qua đi. Có sống trăm tuổi bạc đầu sau rồi cuối cùng cũng phải qua đi. Thiên Chúa không để cho con người sống mãi trong cuộc sống tại thế này là bởi vì còn có một cuộc sống đáng quí hơn, đáng sống hơn. Đó là cuộc sống vĩnh cửu, có những giá trị cao cả gấp bội phần sự sống, sức khỏe và mọi thứ của cải trong trần gian này, do đó giá trị của cuộc sống hiện tại không phải là tuổi đời chồng chất, không phải là danh vọng hão huyền rồi cũng tiêu tan theo mây gió mà chính là sự sống vĩnh cửu. Sống chính là đi tìm sự sống vĩnh cửu ấy, sống chính là dệt nên cuộc sống vĩnh cửu ấy qua từng khoảnh khắc của cuộc sống hiện tại. Sống như thế thực sự là sống sung mãn, sống muôn năm.
Lạy Chúa, trong những ngày tháng đầu năm xin cho chúng con biết trân quý từng phút từng giây của cuộc sống hiện tại và giúp chúng con biết sử dụng thời gian để tìm kiếm những gì vĩnh cửu. Xin cho chúng con luôn ý thức rằng mỗi một phút giây của cuộc sống chúng con là một ân huệ của Chúa để chúng con biết đón nhận và sống sung mãn từng phút giây ấy. Amen.
Tác giả Veritas (Sưu Tầm)
Người Mông Cổ có kể lại một câu chuyện ngụ ngôn như sau:
Một hôm, con Phượng hoàng hỏi con Quạ:
Này anh Quạ, tại sao anh sống trên cõi đời này đến 300 năm, còn chúng tôi chỉ có 33 năm thôi. Con Quạ hỏi ngược lại:
- Thế sao cô bạn chỉ uống máu tươi, còn chúng tôi phải sống bằng xác chết?
Con Phượng hoàng nghĩ ngợi hay là chúng ta hãy thử ăn xác chết như loài quạ cho biết. Thế là cả hai cùng bay lượn để tìm mồi. Thấy một con ngựa chết thối, cả hai liền lao mình xuống. Con quạ như trúng số, nó ăn lấy ăn để một cách ngon lành. Con Phượng hoàng cũng làm theo, nó mổ một cái rồi dừng lại, nó lại thử một lần nữa nhưng lắc đầu bảo quạ:
- Này anh quạ, tôi không thể tiếp tục được, thà một lần được uống máu tươi còn hơn phải 300 năm ăn đồ hôi thối.
Qúy vị và các bạn thân mến,
Nếu câu chuyện ngụ ngôn nào cũng hàm chứa một bài học thì bài học của câu chuyện trên đây hẳn phải là một khoảnh khắc được sống một cách sung mãn có giá trị hơn là một cuộc sống kéo lê trong bùn nhơ hôi thối.
Có những cuộc sống lê thê trong bùn nhơ hôi thối trụy lạc của tham nhũng, của ích kỷ, của hận thù và cũng có những cuộc sống ngắn ngủi nhưng sung mãn.
Một người Do Thái sống tại Alexandria bên Ai cập khoảng 30 năm trước Công nguyên đã ghi lại trong cuốn sách có tựa đề "Khôn ngoan" như sau:
Người công chính có sống ngắn ngủi cũng sẽ tìm được an nghỉ. Tuổi thọ đáng kính đâu phải là tại nhiều năm hay đo bằng số tuổi, nhưng tuổi đời chính là sự khôn ngoan và cuộc sống thọ chính là một cuộc sống không vết nhơ.
Vì đẹp lòng Thiên Chúa người công chính được Người yêu mến, và họ sống giữa những kẻ tội lỗi nên được cất đi, người ấy được cất đi kẻo sự dữ làm phôi pha trí khôn hay gian tà quyến rũ tâm hồn bởi vì xấu tốt làm mờ sự lành và đam mê quay cuồng làm tiêu tan tinh thần chất phát, chẳng mấy chốc mà người công chính đã trọn lành dù chỉ trong một thời gian ngắn..
Một thi sĩ Ba-tư sống vào thế kỷ thứ 13 trong tập thơ có tựa đề: "Bài Ca Những Con Chim" cũng đã tưởng tượng ra một con chim Chào Mào bay vút lên trời cao, một số chim khác cũng bay theo và cuối cùng bị sức nóng của mặt trời thiêu đốt, thế nhưng có tiếng vọng lại của bầy chim: "Thà bị đốt cháy vì đi tìm kiếm Chúa hơn là miệt mài trong bùn nhơ hôi thối."
Những ngày đầu năm và cuối năm không thể không mời gọi chúng ta suy nghĩ về thời gian. Ai mà không mong ước được sống lâu. Ngày đầu năm được gặp nhau, lời cầu chúc đầu tiên trên cửa miệng mọi người là gì nếu không phải là được an khang trường thọ.
Người ta thường ca tụng muôn năm những người có địa vị trong xã hội, nhưng sự thật đang diễn ra trước mắt chúng ta từng giây từng phút là: mọi sự đều đã qua đi. Có sống trăm tuổi bạc đầu sau rồi cuối cùng cũng phải qua đi. Thiên Chúa không để cho con người sống mãi trong cuộc sống tại thế này là bởi vì còn có một cuộc sống đáng quí hơn, đáng sống hơn. Đó là cuộc sống vĩnh cửu, có những giá trị cao cả gấp bội phần sự sống, sức khỏe và mọi thứ của cải trong trần gian này, do đó giá trị của cuộc sống hiện tại không phải là tuổi đời chồng chất, không phải là danh vọng hão huyền rồi cũng tiêu tan theo mây gió mà chính là sự sống vĩnh cửu. Sống chính là đi tìm sự sống vĩnh cửu ấy, sống chính là dệt nên cuộc sống vĩnh cửu ấy qua từng khoảnh khắc của cuộc sống hiện tại. Sống như thế thực sự là sống sung mãn, sống muôn năm.
Lạy Chúa, trong những ngày tháng đầu năm xin cho chúng con biết trân quý từng phút từng giây của cuộc sống hiện tại và giúp chúng con biết sử dụng thời gian để tìm kiếm những gì vĩnh cửu. Xin cho chúng con luôn ý thức rằng mỗi một phút giây của cuộc sống chúng con là một ân huệ của Chúa để chúng con biết đón nhận và sống sung mãn từng phút giây ấy. Amen.
Tác giả Veritas (Sưu Tầm)


