Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Cười chút chơi
Nhận xét
Môt bà vợ soi mình trước gương trước khi đi ngủ và nói với chồng:
- Mình ơi, trông em thật kinh khủng, béo và xấu nữa... Cho em một lời nhận xét tốt hơn đi mình.
Anh chồng bỏ quyển vở ra trả lời:
- Ừ, thị lực của em thật tuyệt hảo!
o O o
Suy luận của vợ
Hai vợ chồng đang tranh luận về việc nấu nướng. Bà vợ cho rằng nấu khoai tây thì mỗi nồi chỉ nên cho một muỗng muối, trong khi ông chồng cho rằng hai muỗng thì ngon hơn.
- Tôi nghĩ trong chuyện này bà không hẳn đúng đâu!
- Cái gì? Tôi không đúng? Ông nói thế là ý gì hả? Ông định nói tôi hoàn toàn sai chứ gì? Tôi sai nghĩa là tôi nói dối phải không? Tôi nói dối có nghĩa là tôi ăn nói không như một con người. Ông định nói là tôi vừa sủa bậy như con cún phải không? Ôi! Mẹ ơi, chồng con kêu con là chó. Mẹ ơi!...
o O o
Sự thật
Tại đám tang, vị cha xứ đọc bài diễn văn dài về người đã khuất: "Đó là một con người trung thực, một người chồng thương yêu và là người cha nhân hậu..."
Nghe đến đây, bà quả phụ ghé vào tay người con đứng bên cạnh, thì thầm:
- Con nhìn thử vào quan tài xem có đúng là cha của con đang nằm trong đó không?
3G sưu tầm
Nhận xét
Môt bà vợ soi mình trước gương trước khi đi ngủ và nói với chồng:
- Mình ơi, trông em thật kinh khủng, béo và xấu nữa... Cho em một lời nhận xét tốt hơn đi mình.
Anh chồng bỏ quyển vở ra trả lời:
- Ừ, thị lực của em thật tuyệt hảo!
o O o
Suy luận của vợ
Hai vợ chồng đang tranh luận về việc nấu nướng. Bà vợ cho rằng nấu khoai tây thì mỗi nồi chỉ nên cho một muỗng muối, trong khi ông chồng cho rằng hai muỗng thì ngon hơn.
- Tôi nghĩ trong chuyện này bà không hẳn đúng đâu!
- Cái gì? Tôi không đúng? Ông nói thế là ý gì hả? Ông định nói tôi hoàn toàn sai chứ gì? Tôi sai nghĩa là tôi nói dối phải không? Tôi nói dối có nghĩa là tôi ăn nói không như một con người. Ông định nói là tôi vừa sủa bậy như con cún phải không? Ôi! Mẹ ơi, chồng con kêu con là chó. Mẹ ơi!...
o O o
Sự thật
Tại đám tang, vị cha xứ đọc bài diễn văn dài về người đã khuất: "Đó là một con người trung thực, một người chồng thương yêu và là người cha nhân hậu..."
Nghe đến đây, bà quả phụ ghé vào tay người con đứng bên cạnh, thì thầm:
- Con nhìn thử vào quan tài xem có đúng là cha của con đang nằm trong đó không?
3G sưu tầm
bí quyết giữ gìn hạnh phúc gia đình
Mỗi tuần hai lần chúng tôi tới một nhà hàng xinh xắn, thưởng thức rượu ngon, đồ ăn hảo hạng với đám bạn bè. Tôi đi vào thứ sáu, còn vợ tôi, thứ ba.
Chúng tôi ngủ riêng giường. Giường vợ tôi ở Hà Nội còn của tôi ở thành phố Hồ Chí Minh.
Đi đâu tôi cũng mang vợ theo. Chỉ có điều cô ấy phải tự tìm đường về.
Tôi hỏi vợ định đi đâu nhân kỷ niệm ngày cưới. Vợ tôi muốn ghé thăm chỗ nào cô ấy lâu lâu chưa tới. "Nhà bếp nhé!", tôi đề nghị.
Tôi thường nắm tay vợ khi đi dạo. Hễ bỏ tay ra là cô ấy ghé vào cửa hàng mua sắm ngay.
Vợ tôi có máy sinh tố chạy điện, bếp điện và lò nướng điện. Cô ấy than phiền: "Nhiều đồ quá, chẳng có chỗ nào mà ngồi cả". Tôi bèn mua cho cô ấy một chiếc ghế điện.
Vợ tôi đang ăn kiêng. Thực đơn chỉ gồm có dừa và chuối. Cô ấy chưa giảm cân tẹo nào cả nhưng đã biết trèo cây.
Vợ tôi đuổi theo xe chở rác, gọi to: "Tôi đổ rác bây giờ có muộn quá không?". Người đẩy xe đáp: "Không! Nhảy vào đi!".
Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng...
Vợ tôi đi tắm bùn và trông thật tuyệt vời trong 2 ngày. Thế nhưng, sau đó, bùn rơi đi mất!
3G lụm được trên Internet
Mỗi tuần hai lần chúng tôi tới một nhà hàng xinh xắn, thưởng thức rượu ngon, đồ ăn hảo hạng với đám bạn bè. Tôi đi vào thứ sáu, còn vợ tôi, thứ ba.
Chúng tôi ngủ riêng giường. Giường vợ tôi ở Hà Nội còn của tôi ở thành phố Hồ Chí Minh.
Đi đâu tôi cũng mang vợ theo. Chỉ có điều cô ấy phải tự tìm đường về.
Tôi hỏi vợ định đi đâu nhân kỷ niệm ngày cưới. Vợ tôi muốn ghé thăm chỗ nào cô ấy lâu lâu chưa tới. "Nhà bếp nhé!", tôi đề nghị.
Tôi thường nắm tay vợ khi đi dạo. Hễ bỏ tay ra là cô ấy ghé vào cửa hàng mua sắm ngay.
Vợ tôi có máy sinh tố chạy điện, bếp điện và lò nướng điện. Cô ấy than phiền: "Nhiều đồ quá, chẳng có chỗ nào mà ngồi cả". Tôi bèn mua cho cô ấy một chiếc ghế điện.
Vợ tôi đang ăn kiêng. Thực đơn chỉ gồm có dừa và chuối. Cô ấy chưa giảm cân tẹo nào cả nhưng đã biết trèo cây.
Vợ tôi đuổi theo xe chở rác, gọi to: "Tôi đổ rác bây giờ có muộn quá không?". Người đẩy xe đáp: "Không! Nhảy vào đi!".
Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng...
Vợ tôi đi tắm bùn và trông thật tuyệt vời trong 2 ngày. Thế nhưng, sau đó, bùn rơi đi mất!
3G lụm được trên Internet
Quê Hương Có Phải Là Chùm Khế Ngọt?
Lý Lạc Long
[left]http://www.viet.no/images/stories/mat/khe.jpg[/left]Cuối hạ chớm thu, những cơn gió hè nóng nực cũng đã bắt đầu dịu lại, gió thu heo may và những cơn mưa sụt sùi của mùa Ngâu đã về. Tháng Bảy âm lịch là tháng của mưa, những giọt mưa có thể là những giọt lệ tình ái của Ngưu Lang Chức Nữ, là những giọt lệ hiếu tử nhớ cha thương mẹ đã khuất núi, là những giọt lệ khóc than của các oan hồn vất vưởng phiêu diêu không nơi nương tựa. Chắc chưa có ai thấy được "quạ ô bắt cầu" cũng như hình dáng của chàng Ngưu nàng Chức ra sao, nhưng mối tình "ngăn sông cách núi" và chung thuỷ thiên thu của họ đã đi vào lòng người với sự cảm thông và mến mộ. Tấm gương hiếu thảo và tấm lòng bồ tát của ngài Mục Kiền Liên đã xuống tận địa ngục A Tỳ để cứu mẹ và các oan hồn uổng tử đã trở thành một gương sáng cho hậu thế noi theo. Hiện nay, lễ Vu Lan đã trở thành một tập tục và "nghi thức tưởng niệm" được hầu hết các Phật tử của các nước vùng Đông nam Á tổ chức một cách trọng thể tại các chùa chiền hoặc tại gia. Tương truyền ngày rằm tháng bảy còn là ngày "xá tội vong nhân", ngày cúng kiến (bố thí) cho các oan hồn uổng tử, không có người thừa tự chăm sóc hương khói, vất vưởng không có nơi nương tựa... Gọi nôm na là lễ "cúng cô hồn".
Ở Việt Nam, ngoài các kinh điển lưu truyền của Phật giáo liên quan đến ý nghĩa, nghi thức... của lễ "Vu Lan Bồn", văn hào Nguyễn Du có để lại cho hậu thế bài "Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh" liên quan đến vấn đề này. Tác phẩm này gồm 184 câu thơ song thất lục bát, và được chia ra làm 3 phần chính. Trong phần 1 tác giả diễn tả cảnh sắc thê lương của tháng bảy trên dương gian: " Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt / Toát hơi may lạnh buốt xương khô / Não người thay bấy chiều thu /Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng... " để ta có thể tưởng tượng một cõi âm u tối mịt mù, thế giới của hồn ma bóng quế: "Cõi dương còn thế nữa là cõi âm". Trong phần 2, tác giả cung chiêu tất cả các loại cô hồn từ hàng vương đế, quan quyền, văn nhân tài tử cho đến thứ dân, từ già cho đến bé. Trong phần 3, tác giả những lời nhắn nhủ với các "cô hồn" hướng về nẻo thiện, nương nhờ Phật lực để siêu thoát. Có người nói rằng Nguyễn Du mượn chuyện cõi âm để nói chuyện cõi dương. Và có người còn đi xa hơn nữa là cụ Tố Như dùng bài "Chiêu Hồn" để phác họa cái xã hội hiện tại lúc đó, để gởi gắm tâm sự, để chống đối, tố cáo, phê phán... giai cấp "cường hào ác bá" theo kiểu gán ép của nền văn học "xã hội chủ nghĩa" như trong một số bài nghiên cứu tôi có dịp đọc qua thì thiệt là không có sức thuyết phục chút nào cả. Có lẽ đây là hệ quả của căn bịnh trầm kha "uốn nắn và bóp méo sự thật" mà chúng ta thường thấy ở các nhà nghiên cứu (tư tuởng, văn học...) trong các nước cộng sản, điển hình là VN với mục đích duy nhất là tuyên truyền để phục vụ cho chế độ. Nói khác, sử dụng kỹ thuật tuyên truyền kiểu "Tăng Sâm giết người" là chuyện bình thường. Tóm lại, "sự thật" là những gì cấp "lãnh đạo" muốn thấy và nghe. Nếu không đủ "chỉ tiêu" địa chủ và phú hào thì cứ việc nâng cấp trung nông lên cho đủ là xong. Cái mạng sinh mệnh con người đúng là không bằng con ong cái kiến trong tâm trí của những kẻ phi nhân bản. Nhân dịp lễ Vu Lan, bên cạnh việc tưởng niệm công ơn sinh thành, cầu nguyện cho thân bằng quyến thuộc, tôi xin chân thành thắp một nén tâm hương cầu nguyện cho những người đã chết oan ức, các oan hồn uổng tử trong cuộc "cải cách ruộng đất" ở miền Bắc trong thập niên 1950, những người đã hy sinh trong cuộc chiến tranh phi lý, những người đã chết oan ức trong chốn lao tù, những người đã bỏ mạng trên đường tìm tự do nơi rừng thiêng nước độc, ngoài biển khơi... mà hồn ma bóng quế vẫn còn vất vưởng, uất ức nên vẫn quẩn quanh và lạc loài không nơi nương tựa được siêu sinh tịnh độ.
Theo Phật giáo mùa Vu Lan là mùa báo hiếu của người con đất Việt và hiếu từ không phải chỉ riêng đối với cha mẹ, mà là với tất cả chúng sanh. Tuy nhiên, ở một góc nhìn hẹp hơn, lễ Vu Lan có lẽ tương tự như ngày Hiền Mẫu (Mother's day) ở các nước Âu Mỹ. Một phần, có lẽ do nguồn gốc xuất phát của lễ Vu lan là sự tích bồ tát Mục Kiền Liên vào ngục A Tỳ để cứu mẹ là Thanh Đề. Kế đến, mặc dù con là kết tinh của mẹ cha, và "công cha như núi Thái sơn" là một sự thật ai cũng biết. Nhưng sinh vật, đặc biệt là con người, thì đã vất vả với mẹ từ lúc còn là bào thai trong bụng nên tình cảm của đứa con dường như gắn bó với mẹ hơn cha. Điều này cũng hợp lý vì ngoài đất đá sự sống của vạn vật đều bắt đầu từ MẸ.
Mẹ lại là biểu tượng của quê hương. Nói đến mẹ, cho những người phải sống xa lìa nơi sinh trưởng chúng ta không khỏi liên tưởng và thương nhớ về một nơi chôn nhau cắt rún ở một nơi nào đó trên trái đất. Một nơi chúng ta thường gọi là quê hương và mỗi người chỉ có một quê hương như nhà thơ Đỗ Trung Quân có viết một bài thơ tôi đã rất thích về quê hương. Nhưng gần đây tôi lại bị "dị ứng" với bài thơ vì chính quyền cộng sản đã sử dụng nó để tuyên truyền, khơi dậy nỗi nhớ quê hương, ve vuốt "khúc ruột thừa ngàn dặm" và méo mó bài thơ để rù quến một cách rất bất chính. Việc này đã làm tôi nghi ngờ luôn cả tâm ý "thực" của tác giả muốn chuyên chở đến độc giả qua bài thơ.
"Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông
Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè
......
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người" (Bài Học Đầu Cho Con, Đỗ Trung Quân)
Tôi không biết nhiều lắm về tiểu sử của nhà thơ Đỗ Trung Quân chỉ biết anh ĐTQ sinh năm 1955, hiện còn sống và viết ở Sài Gòn (qua một bài viết của Nhã Bình đăng ở trang web Tiền Vệ). Tôi hơi tiếc là không biết anh ĐTQ nhiều hơn chút như anh sinh ở đâu (quê hương, bối cảnh không gian)? Viết bài thơ này lúc nào (bối cảnh thời gian)? Để tưởng tượng, để hình dung được cái "cảm xúc" về quê hương của tác giả đúng hơn và thưởng thức bài thơ một cách trọn vẹn hơn. Nhưng căn cứ theo năm sanh của anh (1955) thì tôi có cảm tưởng quê hương của anh phải là một nơi nào đó ở trong miền Nam vì quê hương tuổi thơ của tôi cũng rất giống như anh diễn tả trong bài thơ. Rất nhiều lần tôi đọc bài thơ này của anh và mỗi lần đọc tôi đều thả hồn về với tuổi thơ, nhớ đến những ước mơ thời niên thiếu, nhớ và suy nghĩ về quê hương đất nước. Lời thơ bình dị, nhẹ nhàng nhưng thâm thuý, khơi dậy được xúc cảm. Nhất là đoạn kết của bài thơ. Nhưng tôi không dám đoán chắc đây là lời cho con anh, thế hệ Việt mai sau? Lời cho anh, người ở lại với MẸ? Hay đây là lời nhắn nhủ cho người rời xa quê hương, "bỏ Mẹ tìm Cha" vì những đứa con bất nhân, bất hiếu, buôn bán Mẹ, tàn sát anh em? Những việc đã, đang xảy ra tôi nghĩ anh Đỗ Trung Quân với tâm hồn mẫn cảm, với con mắt tinh tế của một nhà thơ, của một người cầm bút làm sao mà không nhìn thấy và cảm nhận được? Nhưng thôi đây là chuyện riêng tư của anh. Tôi không bàn xa hơn về chuyện này. Chỉ "tiếc" cho cái bài thơ đã bị dùng như một phương tiện tuyên truyền rẻ tiền làm giảm đi không ít giá trị nghệ thuật chân chính của nó với những độc giả hải ngoại như tôi.
Anh ĐTQ nói đúng "quê hương mỗi người chỉ một", như định mệnh an bài anh và tôi đều sinh ra ở một nơi nào đó trên cái dãy đất hình chữ S thân yêu. Anh và tôi, mỗi người có một người mẹ, có một quê hương trên cùng dãy đất chữ S để nhớ. Dân tộc Việt có chung một bà mẹ Âu Cơ, và đất nước Việt cũng chẳng phải của riêng ai, non sông có thể đổi thay, chính quyền đến chính quyền sẽ đi, chỉ có dân tộc Việt trường tồn. Và không một người nào là không nhớ Mẹ của mình, nhưng tôi bắt buộc phải chọn xa Mẹ (quê hương), tìm Cha (tự do) để "lớn nổi thành người", để nên người, để làm "con người" đúng nghĩa như "con người". Mẹ tôi là bà tiên hiền hòa đang bị bất lực trên giường bịnh vì những đứa con bất nhân đã tìm trăm phương nhìn kế vắt kiệt sức sống của Mẹ và những người anh em hiền hòa khác. Cha chúng ta là giống Rồng. Chúng tôi, những người ra đi, thừa hưởng sự di truyền đó, cần có tự do để sống chứ không thể chịu trận nằm chết cạn ở ao bùn. Như một quy luật tất yếu của cuộc sống, một người cần phải tự giúp bản thân trước rồi mới có thể giúp người khác được và một người chết thì không có làm được việc gì hay có thể giúp đỡ được gì cho ai hết.
Tôi không rành về cổ sử, nhưng câu ca dao dưới đây làm tôi cảm thấy man mác về nguồn gốc của dân tộc Việt tự ngàn xưa :
"Gió Động Đình mẹ ru con ngủ
Trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh
Tiết trời thu lạnh lành lanh
Cỏ cây khóc hạ, hoa cành thương đông
Bống bồng bông, bống bồng bông
Võng đào mẹ bế, con Rồng cháu Tiên" (Ca Dao)
Gió Động Đình, Trăng Tiền Đường giờ chỉ còn lại lời ca dao não nuột của Mẹ! Cũng như Ải Nam Quan, một số hải đảo của biển Đông đã biến mất trên bản đồ VN và cả biển Đông cũng đang bị thu hẹp dần lại. Một ngày nào đó có lẽ anh, tôi và con cháu sẽ nghe Mẹ VN ru con bằng những câu ca dao tiếc nhớ "Ải Nam Quan và..." mà giá buốt tâm can.
Trong thực tế quê hương VN của anh và tôi không phải là "chùm khế ngọt" để cho các em bé gái VN đang bị bọn vô nhân tính bán làm nô lệ tình dục trong các nhà thổ ở xứ Miên, hoặc các nàng kiều Việt bán thân trên khắp thế giới để kiếm tiền nuôi thân, giúp cha mẹ nghèo khó, hoặc các lao nô bán sức lao động vì miếng cơm manh áo, bị bóc lột chèn ép từ mọi phía, và dân ngu khu đen thấp cổ bé miệng trong nước …"trèo hái" được. Họ là "những kẻ lạ" ngay trên chính quê hương của mình. Anh, tôi và hầu hết mọi người VN biết rõ điều này và chỉ có cái khác nhau là chọn "làm" một cái gì đó để giúp những kẻ không may mắn hay nhắm mắt quay lưng "làm ngơ". Hoặc tệ hơn nữa tiếp tay với lũ người bất nhân vì những quyền lợi ích kỷ của bản thân.
Có một điều tôi rất chắn chắn là Mẹ VN sẽ ở mãi trong tim của những người con đất Việt dù ở gần hay ở xa. Không ai có thể quên nơi chôn nhau cắt rún của mình được. Mẹ và cha, mỗi người chỉ có một để thương, để nhớ. Nhưng trong một gia đình thì cần có mẹ và cha, con cái thuận hòa, nhường nhịn, thành thật thương mến nhau thì sinh hoạt gia đình mới có cơ hội thành công và các phần tử trong gia đình mới có thể sống trong hạnh phúc được. Cho quê hương thì cũng giống như vậy. Nếu trở về mà như người xa lạ trên chính quê hương của mình, trở về để tự đặt mình trong cái bối cảnh mà chúng tôi đã liều chết để ra đi trước đây thì trở về để làm gì? Và dường như câu ca dao "Ta về ta tắm ao ta / Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn" đã được nhiều người Việt hải ngoại chứng minh là không có đúng lắm cho cái ao nhà Việt Nam. Phải loại bỏ được những kẻ đang quậy đục làm bẩn nước, ngăn dòng nước chảy, phải tìm cách làm cho nước trong, phải làm cho nước ao nhà tốt hơn hoặc tương đương nước ao người thì ao nhà mới "xài" được. Hành động là cách chứng minh tốt nhất chứ những lời sáo rỗng, lừa mị theo kiểu tuyên truyền cộng sản của nửa thế kỷ trước đây chẳng còn có tác dụng như xưa nữa. Cố Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đã nói một câu để đời và đúng 100%: "Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm".
Vâng, "Quê hương là chùm khế ngọt" nhưng không phải "Để con trèo hái mỗi ngày" mà là "Để đảng trèo hái mỗi ngày". Quê hương và Mẹ vẫn luôn ở trong tâm trí tôi, tôi yêu mến quê hương tôi, nhưng không có nghĩa là tôi phải yêu chủ nghĩa xã hội, phải yêu đảng cộng sản, phải yêu những chính sách hay những con người phi nhân bản... Vâng, không có gì hạnh phúc hơn là được sống, có cơ hội làm việc để phát triển bản thân và góp sức xây dựng quê hương. Nhưng TỰ DO và QUYỀN LÀM NGƯỜI là "thiêng liêng" và "quí báu" với tôi (trong quá khứ, tôi đã sẵn sàng đổi cả mạng sống để có được những quyền này). Không có những quyền này, tôi biết là tôi sẽ mất khả năng để bay cao như chim Lạc, để vượt Vũ môn hóa Rồng, để tranh tài thi sức cùng bạn bè năm châu. Và làm "con gà bịnh" hay con "giun" thì có ích lợi chi cho bản thân nói riêng và cho xã hội nói chung?
Quê hương vẫn luôn đầy ắp trong trái tim tôi, từ thuở vừa biết suy nghĩ cho đến nay, chưa lúc nào phai nhạt. Nhưng tại sao tôi đã không "lớn nổi thành người" ngay trên chính quê hương mình? Tôi chợt nhận ra là dường như là có một cái gì đó thiếu sót và không hợp lý lắm trong bài thơ "Bài học đầu cho con". Nhắm mắt hồi tưởng, trở lại vùng ký ức tuổi thơ, tôi đã nhớ ra rồi anh Đỗ Trung Quân ạ ! Bài học đầu của cha tôi dạy tôi là phải nói thật, sống thật với bản thân và mọi người. Vâng tôi đã tìm ra nguyên nhân chính tại sao tôi đã không thể "thăng hoa" và "lớn nổi thành người" và những con người yêu chuộng sự thật, dám nói sự thật không ai có thể "thăng hoa" hoặc "lớn nổi thành NGƯỜI" trong một quốc gia mà đảng cộng sản nắm chính quyền và cai trị. Cám ơn bài thơ "Bài Học Đầu Cho Con" của anh vì ngoài giá trị của một bài thơ hay, nó đã giúp tôi xác định chắc chắn thêm hướng đi của mình. YÊU CỘNG SẢN VÀ QUÝ TỰ DO là hai thái cực đối nghịch, như nước và lửa không thể dung hòa và những người yêu chuộng và dám nói SỰ THẬT không có đất sống trong chế độ cộng sản là một sự thật tôi vừa "thấy" thêm qua bài thơ của anh. ĐỂ CHO BÀI THƠ VÀ TÁC GIẢ CÓ ĐẤT SỐNG THÌ SỰ THẬT PHẢI HY SINH. Cho tôi, bài học đầu tôi sẽ dạy cho con tôi là Sự Thật, như cha tôi đã dạy tôi, sự thật sẽ bao gồm luôn sự thật của quê hương VN. Và biết sự thật con tôi sẽ biết yêu quê hương của nó một cách chân chính hơn chứ không phải yêu một cách mù quáng, nhắm mắt yêu bừa hoặc tệ hơn nữa yêu bằng miệng.
Và đọc thêm bài thơ của "Thực Tại Hư Vô" của Phan Huyền Thư
"Quê hương không là mẹ
Quê hương chỉ là hương... " (PHT)
Tôi đã hiểu tại sao giới trẻ Việt Nam vẫn tiếp tục tìm đường rời khỏi quê hương để sinh sống và làm việc (dù con đường này có rất nhiều hiểm nguy và cạm bẫy đang chờ đợi họ, một bước lỡ lầm di hận thiên thu). Quê hương với họ không phải là chùm khế ngọt, là mẹ hiền. Quê hương đơn thuần chỉ là mảnh đất nơi họ đã được sinh ra. Giới trẻ VN đã thẳng tay bác bỏ những "hình ảnh quê hương" của thế hệ đi trước gầy dựng và để lại. Với họ, đó chỉ hình ảnh ảo huyền, huyễn hoặc... Theo tôi, hiện tượng này là một điều đáng buồn cho quê hương VN và có lẽ nhà thơ ĐTQ cũng nghĩ như vậy (căn cứ theo bài thơ "Bài học đầu cho con" của anh). Tội lỗi này với MẸ VN do ai gây ra? Ai sẽ là người chịu trách nhiệm? Và ai sẽ là người gánh chịu hậu quả?
Xứ người đẹp đẽ nhưng chẳng phải quê hương.
Việt Nam, quê hương lại biến thành xứ lạ.
Quê hương VN vẫn còn đó, nhưng quê hương tuổi thơ của tôi trong quá khứ, đã chết, quê hương hiện tại gom lại chỉ là những hình ảnh xót xa và đau lòng, chỉ còn lại hy vọng ở quê hương VN tương lai …
Lý Lạc Long (Mùa Vu Lan, 2006)
Lý Lạc Long
[left]http://www.viet.no/images/stories/mat/khe.jpg[/left]Cuối hạ chớm thu, những cơn gió hè nóng nực cũng đã bắt đầu dịu lại, gió thu heo may và những cơn mưa sụt sùi của mùa Ngâu đã về. Tháng Bảy âm lịch là tháng của mưa, những giọt mưa có thể là những giọt lệ tình ái của Ngưu Lang Chức Nữ, là những giọt lệ hiếu tử nhớ cha thương mẹ đã khuất núi, là những giọt lệ khóc than của các oan hồn vất vưởng phiêu diêu không nơi nương tựa. Chắc chưa có ai thấy được "quạ ô bắt cầu" cũng như hình dáng của chàng Ngưu nàng Chức ra sao, nhưng mối tình "ngăn sông cách núi" và chung thuỷ thiên thu của họ đã đi vào lòng người với sự cảm thông và mến mộ. Tấm gương hiếu thảo và tấm lòng bồ tát của ngài Mục Kiền Liên đã xuống tận địa ngục A Tỳ để cứu mẹ và các oan hồn uổng tử đã trở thành một gương sáng cho hậu thế noi theo. Hiện nay, lễ Vu Lan đã trở thành một tập tục và "nghi thức tưởng niệm" được hầu hết các Phật tử của các nước vùng Đông nam Á tổ chức một cách trọng thể tại các chùa chiền hoặc tại gia. Tương truyền ngày rằm tháng bảy còn là ngày "xá tội vong nhân", ngày cúng kiến (bố thí) cho các oan hồn uổng tử, không có người thừa tự chăm sóc hương khói, vất vưởng không có nơi nương tựa... Gọi nôm na là lễ "cúng cô hồn".
Ở Việt Nam, ngoài các kinh điển lưu truyền của Phật giáo liên quan đến ý nghĩa, nghi thức... của lễ "Vu Lan Bồn", văn hào Nguyễn Du có để lại cho hậu thế bài "Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh" liên quan đến vấn đề này. Tác phẩm này gồm 184 câu thơ song thất lục bát, và được chia ra làm 3 phần chính. Trong phần 1 tác giả diễn tả cảnh sắc thê lương của tháng bảy trên dương gian: " Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt / Toát hơi may lạnh buốt xương khô / Não người thay bấy chiều thu /Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng... " để ta có thể tưởng tượng một cõi âm u tối mịt mù, thế giới của hồn ma bóng quế: "Cõi dương còn thế nữa là cõi âm". Trong phần 2, tác giả cung chiêu tất cả các loại cô hồn từ hàng vương đế, quan quyền, văn nhân tài tử cho đến thứ dân, từ già cho đến bé. Trong phần 3, tác giả những lời nhắn nhủ với các "cô hồn" hướng về nẻo thiện, nương nhờ Phật lực để siêu thoát. Có người nói rằng Nguyễn Du mượn chuyện cõi âm để nói chuyện cõi dương. Và có người còn đi xa hơn nữa là cụ Tố Như dùng bài "Chiêu Hồn" để phác họa cái xã hội hiện tại lúc đó, để gởi gắm tâm sự, để chống đối, tố cáo, phê phán... giai cấp "cường hào ác bá" theo kiểu gán ép của nền văn học "xã hội chủ nghĩa" như trong một số bài nghiên cứu tôi có dịp đọc qua thì thiệt là không có sức thuyết phục chút nào cả. Có lẽ đây là hệ quả của căn bịnh trầm kha "uốn nắn và bóp méo sự thật" mà chúng ta thường thấy ở các nhà nghiên cứu (tư tuởng, văn học...) trong các nước cộng sản, điển hình là VN với mục đích duy nhất là tuyên truyền để phục vụ cho chế độ. Nói khác, sử dụng kỹ thuật tuyên truyền kiểu "Tăng Sâm giết người" là chuyện bình thường. Tóm lại, "sự thật" là những gì cấp "lãnh đạo" muốn thấy và nghe. Nếu không đủ "chỉ tiêu" địa chủ và phú hào thì cứ việc nâng cấp trung nông lên cho đủ là xong. Cái mạng sinh mệnh con người đúng là không bằng con ong cái kiến trong tâm trí của những kẻ phi nhân bản. Nhân dịp lễ Vu Lan, bên cạnh việc tưởng niệm công ơn sinh thành, cầu nguyện cho thân bằng quyến thuộc, tôi xin chân thành thắp một nén tâm hương cầu nguyện cho những người đã chết oan ức, các oan hồn uổng tử trong cuộc "cải cách ruộng đất" ở miền Bắc trong thập niên 1950, những người đã hy sinh trong cuộc chiến tranh phi lý, những người đã chết oan ức trong chốn lao tù, những người đã bỏ mạng trên đường tìm tự do nơi rừng thiêng nước độc, ngoài biển khơi... mà hồn ma bóng quế vẫn còn vất vưởng, uất ức nên vẫn quẩn quanh và lạc loài không nơi nương tựa được siêu sinh tịnh độ.
Theo Phật giáo mùa Vu Lan là mùa báo hiếu của người con đất Việt và hiếu từ không phải chỉ riêng đối với cha mẹ, mà là với tất cả chúng sanh. Tuy nhiên, ở một góc nhìn hẹp hơn, lễ Vu Lan có lẽ tương tự như ngày Hiền Mẫu (Mother's day) ở các nước Âu Mỹ. Một phần, có lẽ do nguồn gốc xuất phát của lễ Vu lan là sự tích bồ tát Mục Kiền Liên vào ngục A Tỳ để cứu mẹ là Thanh Đề. Kế đến, mặc dù con là kết tinh của mẹ cha, và "công cha như núi Thái sơn" là một sự thật ai cũng biết. Nhưng sinh vật, đặc biệt là con người, thì đã vất vả với mẹ từ lúc còn là bào thai trong bụng nên tình cảm của đứa con dường như gắn bó với mẹ hơn cha. Điều này cũng hợp lý vì ngoài đất đá sự sống của vạn vật đều bắt đầu từ MẸ.
Mẹ lại là biểu tượng của quê hương. Nói đến mẹ, cho những người phải sống xa lìa nơi sinh trưởng chúng ta không khỏi liên tưởng và thương nhớ về một nơi chôn nhau cắt rún ở một nơi nào đó trên trái đất. Một nơi chúng ta thường gọi là quê hương và mỗi người chỉ có một quê hương như nhà thơ Đỗ Trung Quân có viết một bài thơ tôi đã rất thích về quê hương. Nhưng gần đây tôi lại bị "dị ứng" với bài thơ vì chính quyền cộng sản đã sử dụng nó để tuyên truyền, khơi dậy nỗi nhớ quê hương, ve vuốt "khúc ruột thừa ngàn dặm" và méo mó bài thơ để rù quến một cách rất bất chính. Việc này đã làm tôi nghi ngờ luôn cả tâm ý "thực" của tác giả muốn chuyên chở đến độc giả qua bài thơ.
"Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông
Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè
......
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người" (Bài Học Đầu Cho Con, Đỗ Trung Quân)
Tôi không biết nhiều lắm về tiểu sử của nhà thơ Đỗ Trung Quân chỉ biết anh ĐTQ sinh năm 1955, hiện còn sống và viết ở Sài Gòn (qua một bài viết của Nhã Bình đăng ở trang web Tiền Vệ). Tôi hơi tiếc là không biết anh ĐTQ nhiều hơn chút như anh sinh ở đâu (quê hương, bối cảnh không gian)? Viết bài thơ này lúc nào (bối cảnh thời gian)? Để tưởng tượng, để hình dung được cái "cảm xúc" về quê hương của tác giả đúng hơn và thưởng thức bài thơ một cách trọn vẹn hơn. Nhưng căn cứ theo năm sanh của anh (1955) thì tôi có cảm tưởng quê hương của anh phải là một nơi nào đó ở trong miền Nam vì quê hương tuổi thơ của tôi cũng rất giống như anh diễn tả trong bài thơ. Rất nhiều lần tôi đọc bài thơ này của anh và mỗi lần đọc tôi đều thả hồn về với tuổi thơ, nhớ đến những ước mơ thời niên thiếu, nhớ và suy nghĩ về quê hương đất nước. Lời thơ bình dị, nhẹ nhàng nhưng thâm thuý, khơi dậy được xúc cảm. Nhất là đoạn kết của bài thơ. Nhưng tôi không dám đoán chắc đây là lời cho con anh, thế hệ Việt mai sau? Lời cho anh, người ở lại với MẸ? Hay đây là lời nhắn nhủ cho người rời xa quê hương, "bỏ Mẹ tìm Cha" vì những đứa con bất nhân, bất hiếu, buôn bán Mẹ, tàn sát anh em? Những việc đã, đang xảy ra tôi nghĩ anh Đỗ Trung Quân với tâm hồn mẫn cảm, với con mắt tinh tế của một nhà thơ, của một người cầm bút làm sao mà không nhìn thấy và cảm nhận được? Nhưng thôi đây là chuyện riêng tư của anh. Tôi không bàn xa hơn về chuyện này. Chỉ "tiếc" cho cái bài thơ đã bị dùng như một phương tiện tuyên truyền rẻ tiền làm giảm đi không ít giá trị nghệ thuật chân chính của nó với những độc giả hải ngoại như tôi.
Anh ĐTQ nói đúng "quê hương mỗi người chỉ một", như định mệnh an bài anh và tôi đều sinh ra ở một nơi nào đó trên cái dãy đất hình chữ S thân yêu. Anh và tôi, mỗi người có một người mẹ, có một quê hương trên cùng dãy đất chữ S để nhớ. Dân tộc Việt có chung một bà mẹ Âu Cơ, và đất nước Việt cũng chẳng phải của riêng ai, non sông có thể đổi thay, chính quyền đến chính quyền sẽ đi, chỉ có dân tộc Việt trường tồn. Và không một người nào là không nhớ Mẹ của mình, nhưng tôi bắt buộc phải chọn xa Mẹ (quê hương), tìm Cha (tự do) để "lớn nổi thành người", để nên người, để làm "con người" đúng nghĩa như "con người". Mẹ tôi là bà tiên hiền hòa đang bị bất lực trên giường bịnh vì những đứa con bất nhân đã tìm trăm phương nhìn kế vắt kiệt sức sống của Mẹ và những người anh em hiền hòa khác. Cha chúng ta là giống Rồng. Chúng tôi, những người ra đi, thừa hưởng sự di truyền đó, cần có tự do để sống chứ không thể chịu trận nằm chết cạn ở ao bùn. Như một quy luật tất yếu của cuộc sống, một người cần phải tự giúp bản thân trước rồi mới có thể giúp người khác được và một người chết thì không có làm được việc gì hay có thể giúp đỡ được gì cho ai hết.
Tôi không rành về cổ sử, nhưng câu ca dao dưới đây làm tôi cảm thấy man mác về nguồn gốc của dân tộc Việt tự ngàn xưa :
"Gió Động Đình mẹ ru con ngủ
Trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh
Tiết trời thu lạnh lành lanh
Cỏ cây khóc hạ, hoa cành thương đông
Bống bồng bông, bống bồng bông
Võng đào mẹ bế, con Rồng cháu Tiên" (Ca Dao)
Gió Động Đình, Trăng Tiền Đường giờ chỉ còn lại lời ca dao não nuột của Mẹ! Cũng như Ải Nam Quan, một số hải đảo của biển Đông đã biến mất trên bản đồ VN và cả biển Đông cũng đang bị thu hẹp dần lại. Một ngày nào đó có lẽ anh, tôi và con cháu sẽ nghe Mẹ VN ru con bằng những câu ca dao tiếc nhớ "Ải Nam Quan và..." mà giá buốt tâm can.
Trong thực tế quê hương VN của anh và tôi không phải là "chùm khế ngọt" để cho các em bé gái VN đang bị bọn vô nhân tính bán làm nô lệ tình dục trong các nhà thổ ở xứ Miên, hoặc các nàng kiều Việt bán thân trên khắp thế giới để kiếm tiền nuôi thân, giúp cha mẹ nghèo khó, hoặc các lao nô bán sức lao động vì miếng cơm manh áo, bị bóc lột chèn ép từ mọi phía, và dân ngu khu đen thấp cổ bé miệng trong nước …"trèo hái" được. Họ là "những kẻ lạ" ngay trên chính quê hương của mình. Anh, tôi và hầu hết mọi người VN biết rõ điều này và chỉ có cái khác nhau là chọn "làm" một cái gì đó để giúp những kẻ không may mắn hay nhắm mắt quay lưng "làm ngơ". Hoặc tệ hơn nữa tiếp tay với lũ người bất nhân vì những quyền lợi ích kỷ của bản thân.
Có một điều tôi rất chắn chắn là Mẹ VN sẽ ở mãi trong tim của những người con đất Việt dù ở gần hay ở xa. Không ai có thể quên nơi chôn nhau cắt rún của mình được. Mẹ và cha, mỗi người chỉ có một để thương, để nhớ. Nhưng trong một gia đình thì cần có mẹ và cha, con cái thuận hòa, nhường nhịn, thành thật thương mến nhau thì sinh hoạt gia đình mới có cơ hội thành công và các phần tử trong gia đình mới có thể sống trong hạnh phúc được. Cho quê hương thì cũng giống như vậy. Nếu trở về mà như người xa lạ trên chính quê hương của mình, trở về để tự đặt mình trong cái bối cảnh mà chúng tôi đã liều chết để ra đi trước đây thì trở về để làm gì? Và dường như câu ca dao "Ta về ta tắm ao ta / Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn" đã được nhiều người Việt hải ngoại chứng minh là không có đúng lắm cho cái ao nhà Việt Nam. Phải loại bỏ được những kẻ đang quậy đục làm bẩn nước, ngăn dòng nước chảy, phải tìm cách làm cho nước trong, phải làm cho nước ao nhà tốt hơn hoặc tương đương nước ao người thì ao nhà mới "xài" được. Hành động là cách chứng minh tốt nhất chứ những lời sáo rỗng, lừa mị theo kiểu tuyên truyền cộng sản của nửa thế kỷ trước đây chẳng còn có tác dụng như xưa nữa. Cố Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đã nói một câu để đời và đúng 100%: "Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm".
Vâng, "Quê hương là chùm khế ngọt" nhưng không phải "Để con trèo hái mỗi ngày" mà là "Để đảng trèo hái mỗi ngày". Quê hương và Mẹ vẫn luôn ở trong tâm trí tôi, tôi yêu mến quê hương tôi, nhưng không có nghĩa là tôi phải yêu chủ nghĩa xã hội, phải yêu đảng cộng sản, phải yêu những chính sách hay những con người phi nhân bản... Vâng, không có gì hạnh phúc hơn là được sống, có cơ hội làm việc để phát triển bản thân và góp sức xây dựng quê hương. Nhưng TỰ DO và QUYỀN LÀM NGƯỜI là "thiêng liêng" và "quí báu" với tôi (trong quá khứ, tôi đã sẵn sàng đổi cả mạng sống để có được những quyền này). Không có những quyền này, tôi biết là tôi sẽ mất khả năng để bay cao như chim Lạc, để vượt Vũ môn hóa Rồng, để tranh tài thi sức cùng bạn bè năm châu. Và làm "con gà bịnh" hay con "giun" thì có ích lợi chi cho bản thân nói riêng và cho xã hội nói chung?
Quê hương vẫn luôn đầy ắp trong trái tim tôi, từ thuở vừa biết suy nghĩ cho đến nay, chưa lúc nào phai nhạt. Nhưng tại sao tôi đã không "lớn nổi thành người" ngay trên chính quê hương mình? Tôi chợt nhận ra là dường như là có một cái gì đó thiếu sót và không hợp lý lắm trong bài thơ "Bài học đầu cho con". Nhắm mắt hồi tưởng, trở lại vùng ký ức tuổi thơ, tôi đã nhớ ra rồi anh Đỗ Trung Quân ạ ! Bài học đầu của cha tôi dạy tôi là phải nói thật, sống thật với bản thân và mọi người. Vâng tôi đã tìm ra nguyên nhân chính tại sao tôi đã không thể "thăng hoa" và "lớn nổi thành người" và những con người yêu chuộng sự thật, dám nói sự thật không ai có thể "thăng hoa" hoặc "lớn nổi thành NGƯỜI" trong một quốc gia mà đảng cộng sản nắm chính quyền và cai trị. Cám ơn bài thơ "Bài Học Đầu Cho Con" của anh vì ngoài giá trị của một bài thơ hay, nó đã giúp tôi xác định chắc chắn thêm hướng đi của mình. YÊU CỘNG SẢN VÀ QUÝ TỰ DO là hai thái cực đối nghịch, như nước và lửa không thể dung hòa và những người yêu chuộng và dám nói SỰ THẬT không có đất sống trong chế độ cộng sản là một sự thật tôi vừa "thấy" thêm qua bài thơ của anh. ĐỂ CHO BÀI THƠ VÀ TÁC GIẢ CÓ ĐẤT SỐNG THÌ SỰ THẬT PHẢI HY SINH. Cho tôi, bài học đầu tôi sẽ dạy cho con tôi là Sự Thật, như cha tôi đã dạy tôi, sự thật sẽ bao gồm luôn sự thật của quê hương VN. Và biết sự thật con tôi sẽ biết yêu quê hương của nó một cách chân chính hơn chứ không phải yêu một cách mù quáng, nhắm mắt yêu bừa hoặc tệ hơn nữa yêu bằng miệng.
Và đọc thêm bài thơ của "Thực Tại Hư Vô" của Phan Huyền Thư
"Quê hương không là mẹ
Quê hương chỉ là hương... " (PHT)
Tôi đã hiểu tại sao giới trẻ Việt Nam vẫn tiếp tục tìm đường rời khỏi quê hương để sinh sống và làm việc (dù con đường này có rất nhiều hiểm nguy và cạm bẫy đang chờ đợi họ, một bước lỡ lầm di hận thiên thu). Quê hương với họ không phải là chùm khế ngọt, là mẹ hiền. Quê hương đơn thuần chỉ là mảnh đất nơi họ đã được sinh ra. Giới trẻ VN đã thẳng tay bác bỏ những "hình ảnh quê hương" của thế hệ đi trước gầy dựng và để lại. Với họ, đó chỉ hình ảnh ảo huyền, huyễn hoặc... Theo tôi, hiện tượng này là một điều đáng buồn cho quê hương VN và có lẽ nhà thơ ĐTQ cũng nghĩ như vậy (căn cứ theo bài thơ "Bài học đầu cho con" của anh). Tội lỗi này với MẸ VN do ai gây ra? Ai sẽ là người chịu trách nhiệm? Và ai sẽ là người gánh chịu hậu quả?
Xứ người đẹp đẽ nhưng chẳng phải quê hương.
Việt Nam, quê hương lại biến thành xứ lạ.
Quê hương VN vẫn còn đó, nhưng quê hương tuổi thơ của tôi trong quá khứ, đã chết, quê hương hiện tại gom lại chỉ là những hình ảnh xót xa và đau lòng, chỉ còn lại hy vọng ở quê hương VN tương lai …
Lý Lạc Long (Mùa Vu Lan, 2006)
Đừng dùng xăng premium khi không cần thiết
Phạm Đình/Báo NV
Mua được cái xe mới, ai trong chúng ta chẳng trân trọng? Nhưng điều đó không có nghĩa là phải cho nó uống loại “sinh tố” đắt tiền nhất, tức là không nhất thiết phải đổ xăng Premium cho nó. Bởi vì không phải cứ dùng xăng đắt tiền là máy chạy tốt hơn như chúng ta lầm tưởng. Nên dành vài phút xem lại sổ kim chỉ nam (manual) của xe để được hướng dẫn về loại xăng thích hợp, và đừng ngạc nhiên khi thấy rằng nhà sản xuất chỉ khuyến cáo dùng xăng bình thường (regular). Hơn nữa, cũng cần biết, ngay cả nhiều loại xe được khuyến cáo dùng xăng premium vẫn chạy ngon lành với xăng regular. Nếu xem kỹ sổ kim chỉ nam, bạn có thể thấy nhà sản xuất ghi rõ điều đó: Máy chạy tốt với cả hai loại xăng.
Các cuộc thử nghiệm của Consumer Reports (CR) cho thấy, không có gì khác biệt về hiệu suất giữa 2 loại xăng Premium và Regular, mặc dầu giá cả thì rất cách biệt: Xăng Premium bao giờ cũng đắt hơn Regular tới ít nhất 20 xu một gallon. Tuy nhiên, nếu chạy xe với loại xăng hạng thấp mà bạn nghe những tiếng kêu lạ trong đầu máy, thì khi đó, bạn nên dùng Premium.
Ý Nghĩa Các Bậc Xăng, 85, 87, 89, và 91?
(Lưu ý là tại miền núi lại có thêm bậc xăng hạn chót là 85 nữa, nghĩa là càng lên cao áp xuất không khí nhẹ thì nhà nước cho phép dùng xăng 85, nhưng vẫn phải trả tiền như xăng 87 ở các tiểu bang đồng bằng khác. )
Chúng ta – những người bạn “bất đắc dĩ” của trạm xăng không ai là không quen với những con số đó. Gần như nhắm cả 2 con mắt, chúng ta cũng biết phải ấn vào con số nào –85, 87 (regular), 89 (midgrade) hay 91 (premium) ? – trước ghi cắm vòi xăng, cho “sinh tố” tuôn vào bình. Nhưng có lẽ ít ai trong chúng ta tìm hiểu về ý nghĩa các con số đó, ngoài sự hiểu biết tổng quát là “xăng 89 phải tốt hơn 85, 87, và 91 chắc chắn tốt hơn 89!” Tại sao à? Là bởi vì “giá đắt hơn thì chất lượng cao hơn. Tiền nào của ấy mà!” Nghĩ như vậy không hẳn sai, nhưng cũng không hoàn toàn đúng.
Kỹ nghệ tinh lọc xăng dầu dùng các con số đó để biểu thị bậc Octane trong qui trình chế biến. Thông thường Octane được sử dụng ở ba mức độ khác nhau: 87, 89 và 91. Sự khác biệt đó không đương nhiên đồng nghĩa với “tốt, tốt hơn, và tốt nhất”. Chúng chỉ là số đo khả năng kềm chế va chạm và tiếng gõ trong đầu máy một khi xăng được đốt cháy để tạo chuyển động. Dĩ nhiên, tiếng gõ và sự va chạm sẽ gây ra tổn hại đối với các chi tiết máy.
Mặc dầu xăng được chế biến với độ Octane cao có khả năng kềm chế tiếng gõ hiệu quả hơn, nhưng đa số các đầu máy hiện nay được thiết kế để sử dụng xăng 87 (Regular). Những đầu máy tuyệt đối đòi hỏi xăng Premium thường là những loại đầu máy mạnh đi với các loại xe thể thao hoặc Luxury. Các đầu máy này hoạt động với một độ nén rất cao, nên các chi tiết máy dễ bị va chạm gây ra tiếng gõ, vì thề chúng cần loại xăng Premium, với bậc Octane 91 hoặc cao hơn nữa.
Còn nếu xe chỉ cần Regular mà bạn vẫn xài Premium, thì một là “dăm ba xu lẻ tẻ” không nhằm nhò gì đối với bạn, hoặc có thể bạn nghĩ rằng dùng như vậy sẽ tốt hơn cho máy. Không, chẳng tốt gì hơn cho máy cả. Nói thêm một chút cho bạn yên tâm: Là vì, những đầu máy được thiết kế để chạy với xăng Regular bao giờ cũng có một hệ thống cảm ứng tiếng động (knock-sensor), tức thời khám phá ra độ cháy vượt ngoài vòng kiểm sóat của xăng, nguyên nhân dẫn tới hiện tượng va chạm và tiếng gõ giữa các chi tiết máy. Khi đó, hệ thống điện toán điều khiển sẽ tự động kềm chế, cho xe chạy chậm lại một chút để loại trừ tiếng gõ. Nếu không phải là người ham chơi nổi, thích dọt lẹ, vượt xa các xe đối thủ trên xa lộ, bạn có thể dùng xăng Regular ngay cả với những loại xe đề nghị chạy Premium.
Các loại xe được CR đánh giá cao về hiệu suất nhiên liệu:
Trong ấn bản mới nhất về hiệu suất nhiên liệu, CR cho rằng các loại xe sau đây được coi là chạy đỡ hao xăng nhất:
- Hạng xe hơi cá nhân: Toyota Prius Hybrid được đánh giá cao nhất với 1 gallon xăng đưa chúng ta đi được 44 dặm đường.
- Hạng xe Family Sedan (xe hơi nhỏ dùng cho cả gia đình): Honda Accord Hybrid đứng đầu bảng với 1 gallon xăng chạy được 25 dặm
- Hạng xe SUV nhỏ: Subaru Forester được đánh giá cao nhất với 21 mpg (miles per gallon).
- Hạng xe SUV trung bình: Lexus RX400h giành vị trí số 1 với hiệu suất 23 mpg.
- Hạng xe Minivan: Honda Odyssey được coi là tiết kiệm xăng nhất với 19 mpg.
3G sieu-tam
Phạm Đình/Báo NV
Mua được cái xe mới, ai trong chúng ta chẳng trân trọng? Nhưng điều đó không có nghĩa là phải cho nó uống loại “sinh tố” đắt tiền nhất, tức là không nhất thiết phải đổ xăng Premium cho nó. Bởi vì không phải cứ dùng xăng đắt tiền là máy chạy tốt hơn như chúng ta lầm tưởng. Nên dành vài phút xem lại sổ kim chỉ nam (manual) của xe để được hướng dẫn về loại xăng thích hợp, và đừng ngạc nhiên khi thấy rằng nhà sản xuất chỉ khuyến cáo dùng xăng bình thường (regular). Hơn nữa, cũng cần biết, ngay cả nhiều loại xe được khuyến cáo dùng xăng premium vẫn chạy ngon lành với xăng regular. Nếu xem kỹ sổ kim chỉ nam, bạn có thể thấy nhà sản xuất ghi rõ điều đó: Máy chạy tốt với cả hai loại xăng.
Các cuộc thử nghiệm của Consumer Reports (CR) cho thấy, không có gì khác biệt về hiệu suất giữa 2 loại xăng Premium và Regular, mặc dầu giá cả thì rất cách biệt: Xăng Premium bao giờ cũng đắt hơn Regular tới ít nhất 20 xu một gallon. Tuy nhiên, nếu chạy xe với loại xăng hạng thấp mà bạn nghe những tiếng kêu lạ trong đầu máy, thì khi đó, bạn nên dùng Premium.
Ý Nghĩa Các Bậc Xăng, 85, 87, 89, và 91?
(Lưu ý là tại miền núi lại có thêm bậc xăng hạn chót là 85 nữa, nghĩa là càng lên cao áp xuất không khí nhẹ thì nhà nước cho phép dùng xăng 85, nhưng vẫn phải trả tiền như xăng 87 ở các tiểu bang đồng bằng khác. )
Chúng ta – những người bạn “bất đắc dĩ” của trạm xăng không ai là không quen với những con số đó. Gần như nhắm cả 2 con mắt, chúng ta cũng biết phải ấn vào con số nào –85, 87 (regular), 89 (midgrade) hay 91 (premium) ? – trước ghi cắm vòi xăng, cho “sinh tố” tuôn vào bình. Nhưng có lẽ ít ai trong chúng ta tìm hiểu về ý nghĩa các con số đó, ngoài sự hiểu biết tổng quát là “xăng 89 phải tốt hơn 85, 87, và 91 chắc chắn tốt hơn 89!” Tại sao à? Là bởi vì “giá đắt hơn thì chất lượng cao hơn. Tiền nào của ấy mà!” Nghĩ như vậy không hẳn sai, nhưng cũng không hoàn toàn đúng.
Kỹ nghệ tinh lọc xăng dầu dùng các con số đó để biểu thị bậc Octane trong qui trình chế biến. Thông thường Octane được sử dụng ở ba mức độ khác nhau: 87, 89 và 91. Sự khác biệt đó không đương nhiên đồng nghĩa với “tốt, tốt hơn, và tốt nhất”. Chúng chỉ là số đo khả năng kềm chế va chạm và tiếng gõ trong đầu máy một khi xăng được đốt cháy để tạo chuyển động. Dĩ nhiên, tiếng gõ và sự va chạm sẽ gây ra tổn hại đối với các chi tiết máy.
Mặc dầu xăng được chế biến với độ Octane cao có khả năng kềm chế tiếng gõ hiệu quả hơn, nhưng đa số các đầu máy hiện nay được thiết kế để sử dụng xăng 87 (Regular). Những đầu máy tuyệt đối đòi hỏi xăng Premium thường là những loại đầu máy mạnh đi với các loại xe thể thao hoặc Luxury. Các đầu máy này hoạt động với một độ nén rất cao, nên các chi tiết máy dễ bị va chạm gây ra tiếng gõ, vì thề chúng cần loại xăng Premium, với bậc Octane 91 hoặc cao hơn nữa.
Còn nếu xe chỉ cần Regular mà bạn vẫn xài Premium, thì một là “dăm ba xu lẻ tẻ” không nhằm nhò gì đối với bạn, hoặc có thể bạn nghĩ rằng dùng như vậy sẽ tốt hơn cho máy. Không, chẳng tốt gì hơn cho máy cả. Nói thêm một chút cho bạn yên tâm: Là vì, những đầu máy được thiết kế để chạy với xăng Regular bao giờ cũng có một hệ thống cảm ứng tiếng động (knock-sensor), tức thời khám phá ra độ cháy vượt ngoài vòng kiểm sóat của xăng, nguyên nhân dẫn tới hiện tượng va chạm và tiếng gõ giữa các chi tiết máy. Khi đó, hệ thống điện toán điều khiển sẽ tự động kềm chế, cho xe chạy chậm lại một chút để loại trừ tiếng gõ. Nếu không phải là người ham chơi nổi, thích dọt lẹ, vượt xa các xe đối thủ trên xa lộ, bạn có thể dùng xăng Regular ngay cả với những loại xe đề nghị chạy Premium.
Các loại xe được CR đánh giá cao về hiệu suất nhiên liệu:
Trong ấn bản mới nhất về hiệu suất nhiên liệu, CR cho rằng các loại xe sau đây được coi là chạy đỡ hao xăng nhất:
- Hạng xe hơi cá nhân: Toyota Prius Hybrid được đánh giá cao nhất với 1 gallon xăng đưa chúng ta đi được 44 dặm đường.
- Hạng xe Family Sedan (xe hơi nhỏ dùng cho cả gia đình): Honda Accord Hybrid đứng đầu bảng với 1 gallon xăng chạy được 25 dặm
- Hạng xe SUV nhỏ: Subaru Forester được đánh giá cao nhất với 21 mpg (miles per gallon).
- Hạng xe SUV trung bình: Lexus RX400h giành vị trí số 1 với hiệu suất 23 mpg.
- Hạng xe Minivan: Honda Odyssey được coi là tiết kiệm xăng nhất với 19 mpg.
3G sieu-tam
Lẩm cẩm Sài Gòn thiên hạ sự - Số 171
Số 171 - ngày 20-8- 2005
* Văn Quang
Cả nước bị lừa
Câu chuyện đầy “kịch tính” và đầy vẻ bi hài trong tuần vừa qua ở Việt Nam, không thể không kể đến chuyện của một “vị anh hùng” sau hơn 3 tháng “chết trôi” giữa biển cả, chiến đấu kiên cường dũng cảm với bão tố lại lù lù trở về như một phép lạ. Ở đâu cũng nghe xuýt xoa “phúc đức mười đời anh ta mới sống sót được”. Ngồi ở bất kỳ quán cóc nào, từ hẻm chợ Bàn Cờ đến cafe loại xịn của các bác Việt kiều vẫn ngồi, hoặc quán cafe có các vị nghệ sĩ “phe ta, phe nó” thường gặp gỡ, hoặc nơi “giao lưu bằng đô la” của các quý tử con quan và các cô cẳng dài cũng nghe thiên hạ lấy chuyện đó ra “làm quà” cho những thứ chuyện lẩm cẩm khác. Chuyện thật đến nỗi báo chí và các đài phát thanh truyền hình ở VN cũng nhảy vào cuộc, quay phim chụp hình tới tấp, phỏng vấn lu bù kèn. Khán giả cứ tròn xoe mắt lên mà chiêm ngưỡng, thán phục. Chẳng ai nghi ngờ chút xíu nào về cái sự “chân thật” của anh “ngư dân nhà quê hiền lành chất phác” này.
Nhưng câu chuyện của “vị anh hùng vượt bão” (nói theo kiểu chữ nghĩa bây giờ ở VN chúng tôi) lại là một “quả lừa” to tướng. Vị ngư dân “chân thật và anh hùng” kia lại là một anh chàng dóc tổ hơn cả những anh anh chàng “mãi võ Sơn Đông” thời xa xưa. Quả lừa của anh ta thật giản dị, nhàn nhã cứ như chơi trò bịt mắt bắt dê với trẻ con.
Cú lừa ngon lành hơn người mẫu Quỳnh Ngọc
Vậy nên, xét theo một khía cạnh khác thì cú lừa này tinh vi, khôn khéo, đỡ tốn công, tốn của hơn là những cú lừa của các công ty ma, những “giai nhân” phải mang cả cái “cơ nghiệp trời cho” ra làm mồi nhử. Cứ so sánh ngay trong tuần này, cú lừa của người mẫu Nguyễn Thị Quỳnh Ngọc đã tốn kém công sức gấp ngàn lần anh ngư dân trở về từ cơn bão Chanchu cách đây tới 3 tháng.
Nếu anh ngư dân Nguyễn Văn Hương chỉ cần tường thuật lại một “chuyến phiêu lưu” dũng cảm trong tưởng tượng, là thành công thì người mẫu Nguyễn Thị Quỳnh Ngọc đã tốn không biết bao nhiêu công sức mới khuất phục được cái “đại gia”. Tất nhiên người mẫu đã phải đưa cả cái thân hình cao 1m70 gợi cảm ra, nói sùi cả bọt mép (còn hơn là ông Hùng Sùi diễn tả về một trận đá banh), tốn bao nhiêu quần áo son phấn, bao nhiêu nụ cười khóe mắt mới “vật ngã” được đối thủ.
Vài nét về cú lừa của người mẫu
[left]http://www.viet.no/images/stories/div/171_ng-quynh.jpg[/left]Với một vẻ đẹp trời phú, Nguyễn Thị Quỳnh Ngọc đã từng nổi danh trong giới người mẫu năm 1994. Điều khá đặc biệt là không chỉ hấp dẫn bởi vẻ bề ngoài, mà người có cặp chân dài này còn có khả năng ứng xử linh hoạt, giao tiếp hay và đã tốt nghiệp đại học tại Học viện Quan hệ quốc tế, có bằng thạc sĩ.
Từ năm 16 tuổi, Nguyễn Thị Quỳnh Ngọc đã bước chân vào nghề người mẫu và gặt hái được không ít thành công. Chính Ngọc đã từng có những chuyến lưu diễn sang các nước Hàn Quốc, Nhật Bản với khoản thu nhập hàng chục ngàn USD cho mỗi chuyến đi khoảng 2 tháng. Nhưng sau khi kết hôn, cuộc sống của gia đình cô gặp khá nhiều trắc trở. Nhiều món nợ với số tiền hàng trăm triệu đồng đã xuất hiện và cứ thế lao dần vào những phi vụ lừa đảo.
Tháng 3-2006 vừa qua, mặc dù đang nợ nần chồng chất, vốn liếng không có một xu nhưng Ngọc vẫn quyết định mở một công ty Trách nhiệm hữu hạn với cái tên khá kêu: Công ty Lâm Sơn, kinh doanh đủ các lĩnh vực, nổi bật nhất là sản xuất phim quảng cáo. Việc thành lập công ty này thực chất để tạo ra "cái bùa" làm tin khi giao dịch với các đối tác. Sau hơn 4 tháng ngồi vào ghế giám đốc, với hàng loạt phi vụ lừa đảo, kết cục là sa lưới pháp luật. Vụ án đang còn được điều tra và cơ hội vào tù là rất lớn.
Cú lừa như truyện phiêu lưu ký
Những chuyện người đẹp bị lừa và đi lừa trong xã hội hiện nay quá nhiều nên đã thành chuyện hàng ngày ở... thủ đô Hà Nội, chẳng còn gì xa lạ. Câu chuyện anh “nhà quê”, chẳng cần có bằng thạc sĩ, cũng lừa một hơi, qua mặt năm bảy cái cơ quan nhà nước, vài chục anh phóng viên đài to, đài nhỏ mà bình an vô sự mới là thú vị. Xin hãy đọc bài tường thuật đầu tiên, được gọi là “hot” nhất trong tuần:
[left]http://www.viet.no/images/stories/div/171_anh.jpg[/left]“Như đã đưa tin, anh Nguyễn Văn Hương (thôn 3 xã Quế Ninh, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam) nằm trong danh sách 266 người thuộc diện chết và mất tích trong cơn bão Chanchu, nay bỗng đột ngột trở về nhà. Không là Odisse trong anh hùng ca của Home, cũng không là "ông già và biển cả của Hemingway, nhưng câu chuyện của người ngư dân trẻ được xem như đã chết" này vẫn mang sự bi tráng của lòng quả cảm trong cuộc chiến đấu 13 ngày, đêm cô độc giữa biển cả mênh mông, vật lộn giành giật sự sống trong cái chết cầm chắc...”
Đọc đến đây thôi cũng đã thấy hấp dẫn lắm rồi. Câu chuyện được anh ngư dân Nguyễn Văn Hương thuật lại càng “ly kỳ rùng rợn” hơn:
“...Ngày 1-.5, tàu bọn tui đã rách tả tơi vì chạy trốn bão, cùng mấy chục tàu câu mực khơi khác thả "dòm" (neo, giằng tàu) tránh bão một chỗ. Rạng sáng 20.5, sóng như những ngôi nhà lầu đổ ập xoay vần đoàn tàu. Các tàu lần lượt bứt neo, bay dòm. Điều đó có nghĩa số mạng ngư dân phó mặc cho trời đất. Trong cơn hoảng loạn, mấy trăm con người gào gọi nhau bám vào bất kỳ thứ gì có thể làm phao để nổi trên mặt nước. Rầm một phát, tôi chỉ kịp thấy trước mặt gỗ ván bay tả tơi, rồi mắt tối sầm; tất cả chìm nghỉm trong sóng dữ. Tui chìm sâu, đến khi trồng (trồi) lên mặt biển mở mắt chẳng thấy còn chi nữa. May mắn quờ tay chạm được đống can nhựa đến mấy chục cái vốn dùng đựng nước ngọt được cột vào nhau làm phao "dòm" tàu, bèn bíu chặt lấy. Thế rồi để mặc sóng quăng quật.
Trời sáng, động tác đầu tiên là tôi vớ sợi dây quấn sẵn trong người khi chống bão, tui cột chặt mình vào đống can nhựa, rồi khư khư ôm chỗ múi cột, sợ khi mình ngất đi, nó rời ra... Chỉ có cái đầu thò lên khỏi mặt nước. Nhìn quanh không còn ai, chỉ có vật vờ vài thanh gỗ dật dờ trên mặt nước, tôi rơi nước mắt vì biết bạn tàu không còn ai. Đói, khát sóng gió dập vùi, nước biển như ngấm đến xương. Anh thấy đây, tay chân mặt mũi tui đến chừ còn phù nề như con cá muối, hễ ngồi nằm một chỗ 15 phút là tê cứng, chuột rút, nên mấy ngày ni về nhà rồi mà vẫn phải đi đi lại lại suốt, đi như ma cả đêm...
Suốt 13 ngày lênh đênh với đống can nhựa, tôi cố vớt rong rêu, cá nhỏ làm cái ăn. May mắn trong can nhựa cũng còn chút nước ngọt sót lại, đủ để liếm qua, lừa cơn khát cồn cào. Dù tỉnh ít mê nhiều, nhiều lúc muốn thả tay, nhưng rồi nghĩ về những ngày thanh bình sống ở quê nhà, tôi cứ cố nhủ: Phải sống - cố sống mà về nhà. Trôi dạt như vậy cũng không kịp nhớ bao nhiêu ngày. Có hôm mở mắt ra gặp tàu chở hàng nước ngoài, tui ngoắc, họ chẳng thấy, chẳng dừng. Lúc đó tui còn hơi tỉnh, tui thề: Nếu ơn trên phù hộ, cho tôi sống trở về, thì tui "xuống tóc".
...Ngày thứ 13 trôi trên biển, lúc đó tui chỉ còn thoi thóp thể xác, nhưng thần kinh vẫn còn tỉnh. Khi nghe những người trên tàu la to: "Có người còn sống trôi kia kìa", tui còn biết; họ kéo tui lên tàu, hỏi: Còn sống không, tui còn nói được phều phào: Còn sống. Thế rồi chỉ có uống nước đường, suốt 15 ngày nước đường họ nấu đổ cho tui, chứ ăn cháo vào lại mửa ra ngay. Tui khỏe lại, liền tham gia phụ giúp việc trên tàu để trả ơn bạn tàu đã cứu vớt tui. Họ kể lại, đã vớt được tui ở tọa độ 13 độ vĩ bắc, 121 độ kinh đông trên biển Đông. Còn anh hỏi tàu cứu tui hả, đó là tàu câu sỏi (cá mú, cá hồng) của ông Hai, ở Bình Định, 12 bạn (ngư dân) trên tàu tui thân nhất anh Thu quê Hoài Nhơn đồng hương vợ tui.
Họ vào thả neo gần đảo Phú Quý, bán cá cho các tàu thu mua, tiếp nhiên liệu rồi lại ra khơi. Tui lên đảo, mới biết chuyện bão bùng trên đất liền biết mấy lo âu, bèn điện thoại ngay về nhà, gặp chị Tám, vợ anh Xuân (Nguyễn Văn Xuân - anh ruột anh Hương), tui nói: Em còn sống, chị ơi. Thế là hai chị em khóc òa. Tui đón tàu chợ từ đảo về cảng Cam Ranh, đón xe về ngay, vào nhà anh Xuân ngay đầu làng, cả xóm xúm lại khóc cùng tui. Vợ tui bồng con ra đón tui ...”
Cả làng cùng mắc lừa
Nghe kinh hoàng và xúc động thật. Cũng xin nói ngay, nếu tôi là anh phóng viên có cái may mắn “khám phá ra vị anh hùng” này cũng có thể bị mắc bẫy như chơi. Thế cho nên nghe tin anh Nguyễn Văn Hương trở về nguyên vẹn, Quỹ Tấm lòng vàng đã cử đại diện đến thăm hỏi và thừa ủy quyền của Chủ tịch Quỹ thông báo đến anh chị, sẽ tiếp tục xây dựng ngôi nhà trị giá 20 triệu đồng như đã cam kết. Ngày 11-8, Liên đoàn Lao động tỉnh Quảng Nam và LĐLĐ huyện Quế Sơn đã xúc tiến làm các thủ tục để anh có thể xây dựng nhà mới.
Ngay sau đó thì các đài truyền hình, phát thanh từ địa phương tới trung ương tới tấp đến làm phóng sự. Và “vị anh hùng ” đó cứ phây phây kể lại câu chuyện dũng cảm “vượt bão” của mình với một vẻ tỉnh queo, không một chút bối rối. Tất nhiên đôi lúc anh ngư dân cũng phải “diễn” cái vẻ kinh hoàng, ghê gớm của mình cho phù hợp với cảm xúc của một người vừa thoát chết trở về còn đầy vẻ hồi hộp. Quả thật anh ta “diễn” rất tài tình khiến người ngồi xem ti vi cũng phải lạnh mình. Diễn viên VN chắc cũng chưa có ai diễn được “thật” và “sống” như anh. Có lẽ phải ví anh ta diễn tự nhiên như những diễn viên Hàn Quốc đang ăn khách trên thị trường “băng, đĩa, đài” tại Việt Nam hiện nay. Cứ đụng mở “đài” ra là gặp phim Hàn Quốc và Trung Quốc. Còn phim VN thì cũng có, nhưng hầu hết đều bị khán giả “tắt đài” vì hầu hết các diễn viên tay ngang, không học hành gì, đóng cứ “sượng trân”. Phim Việt thua ngay trên sân nhà cũng chẳng có gì là khó hiểu. Đề tài đã mòn cũ, sáo rỗng, diễn viên lại toàn tay ngang, diễn xuất cứng đơ như cái máy, đối thoại cứ như đọc bài học thuộc lòng, thì hay làm sao được! Anh ngư dân này được liệt vào loại diễn viên “có hạng”. Có diễn hay thì anh ta mới lừa được cả làng, cả nước chứ. Nếu được làm “cố vấn Tàu” cho các nhà sản xuất phim, tôi khuyên các hãng phim nên ký hợp đồng với anh ta ngay đi, còn chờ gì nữa?
Chuyện đổ bể như thế nào?
Nếu không có chuyện tố cáo công khai thì cú lừa này chưa biết bao giờ mới được khám phá hoặc có khám phá ra thì mọi sự đã lỡ nên cứ nín khe cho được việc. Chẳng thiếu gì những cái sự nín khe tương tự như vậy trong cái thời buổi này.
Người phát hiện ra sự thật trước tiên là bà Lê Thị Huệ, chủ tàu ĐNa 90053. Bà Huệ khẳng định rằng trên tàu của gia đình bà không có thuyền viên nào tên Nguyễn Văn Hương và tàu ĐNa 90053 của bà rời cảng Đà Nẵng vào ngày 22-4 và trên tàu có 28 thuyền viên chứ không phải rời cảng ngày 11-5 và trên tàu có 24 thuyền viên như anh Hương kể lại trên các báo. Trong danh sách các thuyền viên đi chuyến tàu định mệnh đó không hề có tên Nguyễn Văn Hương cũng như không có người nào có khuôn mặt giống anh Hương mà bà Huệ nhìn thấy trên truyền hình và các báo. Từ thông tin này, các cơ quan mới đi tìm manh mối.
Lời thú tội đáng thương
Sáng 17-8, Trưởng Công an xã Quế Ninh, đã trở lại nhà anh Nguyễn Văn Hương (sinh năm 1972, Quế Ninh, Quế Sơn, Quảng Nam) - nhân vật chính trong câu chuyện thoát chết trở về từ tâm bão Chanchu sau 13 ngày trôi dạt giữa biển khơi và gần 3 tháng biệt tích để tìm hiểu thực hư của câu chuyện “thần kỳ” mà chính anh đã kể với xóm giềng và các cơ quan thông tin.
Nếu lần trước anh “diễn” vở tuồng 3 tháng làm anh hùng chiến đấu với biển cả hùng hồn, bi tráng bao nhiêu thì lần này anh lại vào vai một anh ngờ nghệch, lúng túng và sau cùng, anh tỏ ra vô cùng hối hận, thốt lên… từ đáy lòng: “Tôi thành thật xin lỗi bạn đọc của các báo, khán giả truyền hình cả nước. Tôi có lỗi, tôi đã sai lầm khi không nghĩ đến hậu quả nặng nề gây mất lòng tin của mọi người như thế này!”...
Chẳng biết sự hối hận chân thành lần này của “tác giả kịch bản kinh hoàng” kia chân thành được bao nhiêu phần trăm. Nhưng dù sao thì sự dối trá cũng đã được phơi bày, khiến cả nước chưng hửng. Anh đành kể lại toàn bộ sự thật về những ngày xảy ra cơn bão Chanchu, anh đã làm những gì, ở đâu.
Theo lời anh kể: Ngày 11-5, Hương đón xe từ Quế Ninh xuống ngã ba Hương An (Quốc lộ 1A, Quảng Nam) và đón xe khách vào Bình Định. Ngày 13-5, Hương cùng với 23 thuyền viên lên tàu BĐ của ông Hai ở Bình Định ra khơi câu mực. Ra khơi được 5 ngày, do ảnh hưởng cơn bão số 1 nên tàu cập vào một hòn đảo (Hương không biết là đảo gì) để trú bão. Chiếc Tàu này hoàn toàn bình an.
Khi hết bão, tàu tiếp tục ra biển Đông để câu mực trong thời gian 2 tháng 4 ngày. Ngày 29-7, tàu ông Hai cập vào đảo Phú Quý để bán mực cho tàu hàng. Khi đến đảo, Hương gọi điện thoại về nhà chị dâu là Phạm Thị Huệ (xã Quế Ninh) và nghe chị Huệ kể lại việc gia đình báo tin mình đã mất tích rồi lập bàn thờ cho mình nên Hương quyết định trở về nhà để gia đình an tâm.
Ngày 5-8, Hương vào đất liền và đón xe về Quế Ninh. Trở về nhà, nghe gia đình nói nhận được trên 50 triệu đồng từ tiền cứu trợ của các tổ chức, cá nhân ủng hộ cho việc mình mất tích trong bão. Hương giải thích: “Tôi sợ nếu nói thật mình không hề là nạn nhân cơn bão thì sẽ bị thu hồi tiền, không có tiền trả nợ và chữa bệnh cho vợ con nên đã dựng ra câu chuyện gặp nạn trong bão. Tôi gửi lời xin lỗi đến mọi người và mong nhận được sự thông cảm, tha thứ cho sự bồng bột của tôi”.
Mới chỉ là một nửa sự thật
Lời thú tội nghe cũng xuôi tai, đáng thương, được mọi người thông cảm. Nhưng đó mới chỉ là một nửa sự thật. Còn một nửa ở phía sau, anh “ngư dân quê mùa” kia vẫn giấu biệt. Đó là “cái tội của những anh đàn ông ăn vụng”. Lâu nay, tôi cứ tưởng chỉ những quý ông ở thành thị “láu cá” mới hay ăn vụng và có tài “che chắn” tài tình đến nỗi có ông, khi nhắm mắt, xuôi hai tay mới có một bà lạ hoắc từ đâu dắt con đến xin chịu tang bố.
Vậy mà anh “nhà quê” này còn tài tình hơn. Suốt những ngày anh “thú thật” là đi câu mực trên biển, thật ra anh đã có nhiều phút “thư giãn” bên nhà bà vợ bé ở tuốt tận thôn Hảo Sơn, xã Hòa Xuân Nam, Đông Hòa, Phú Yên.
Ngay khi thấy đài truyền hình trung ương Hà Nội (VTV) phát sóng trong chương trình thời sự về một ngư dân tên Nguyễn Văn Hương ở Quảng Nam sống sót trở về sau bão Chanchu, người dân ở thôn Hảo Sơn - Phú Yên, đã vô cùng sửng sốt.
Hầu như cả thôn này ai cũng biết, anh Phương xuất hiện ở xóm này vào mùa đông năm ngoái, sau đó ở với chị N.T.K., một người đàn bà góa chồng năm nay 36 tuổi, họ sống với nhau như vợ chồng. Ở thôn này anh Hương khôn khéo đổi tên là Phương. Tay chơi Cầu Ba Cẳng này cũng chẳng phải tay vừa.
Chị K. là người buôn bán hàng rong cho các xe khách qua lại Quốc lộ 1 ở khu vực thôn Hảo Sơn. Chị xem ảnh và xác nhận: “Đúng là ảnh rồi! Bộ đồ này ảnh từng mặc ở đây rồi”. Thằng con trai 12 tuổi của chị cũng chỉ chỏ: “Cậu Phương chớ ai!”.
Tâm sự người vợ bé
Chị K. gốc người ở Hoài Hải (xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định), lấy chồng về Hảo Sơn đã mười mấy năm nay. Cách đây 10 năm, chồng chị bạo bệnh qua đời, chị ở vậy, buôn bán nuôi hai đứa con. Chị kể: “Khoảng tháng 9, tháng 10 (âm lịch) năm ngoái, ba má tôi có điện về quê. Ở đó tôi gặp anh Phương. Ảnh là người đi bạn cho thuyền câu mực của ba tôi tính đến thời điểm đó đã 6 năm rồi. Ba má tôi coi ảnh như con, ảnh kêu ba má tôi bằng ba bằng má. Chính bởi vậy mà ông bà già muốn tôi đi bước nữa với ảnh vì thấy ảnh cũng chịu khó làm ăn, tính tình hiền hậu...”.
Người đàn ông tên Phương nọ tâm sự với chị là hoàn cảnh anh ta rất đáng thương: “Ảnh bảo có ông cậu ở nước ngoài, đã bảo lãnh mẹ ảnh đi, ảnh còn một người anh và một cái nhà ở TP Đà Nẵng. Hai vợ chồng ảnh có một đứa con gái, nhưng vợ anh bỏ đi theo tình nhân nên anh buồn tình bỏ đi biển. Đứa con gái gởi luôn cho cô giáo nuôi dạy. Tôi thấy hoàn cảnh của ảnh cũng đáng thương nên xuôi lòng...”.
Đúng là một tâm sự “rất bài bản”, anh ngư dân “hiền lành” này đã sáng tác ra một bài “thương tình ca” không kém gì những nhạc sĩ trứ danh, làm xiêu lòng những phụ nữ hay xúc động vặt, nhất là những góa phụ càng dễ cảm thông. Anh ta không “phịa” ra rằng vợ qua đời vì bạo bệnh mà phịa ra một lý do rất “tình cảm sâu sắc” là vợ bỏ chồng con theo trai! Anh chàng Hương hay Phương này đâu phải tay vừa.
Do đó, chị K. không thể ngờ rằng người đàn ông ấy đã có gia đình và người vợ anh Hương ở Quảng Nam cũng chưa bao giờ ngờ rằng đức ông chồng “hiền lành như cái mái chèo” của mình lại đèo bòng một người phụ nữ khác. Chẳng biết các vị độc giả “liền ông” khác nghĩ sao, chứ tôi thì phục sát đất cái sự giữ bí mật tuyệt đối này của vị “nhà quê” chính hiệu con nai vàng này. Hồi còn trẻ, chắc có vị cũng thuộc loại “thích ăn vụng”, nhưng ăn vụng “bể mánh” là chuyện thường thấy. Còn một số bạn tôi, có ông… lâu lâu mới ăn vụng một lần, nhưng rồi “thông tin cũng bị rò rỉ” ra ngoài, ít có ông nào giấu được lâu. Như thế đủ chứng tỏ rằng mấy ông công tử thành thị còn thua anh ngư dân thuần chất này xa.
Nỗi ngẩn ngơ của người góa phụ
Chị K. còn kể tiếp: Cho đến tối 11-7 âm lịch (tức 4-8-2006), anh Phương về lại nhà tôi, sau khi chiếc tàu câu mực của người anh cập cảng Cam Ranh. Trước đó vài ngày, ba tôi có điện vô nói rằng “hình như thằng Phương nó còn vợ con ở Quảng Nam chớ hổng phải vợ bỏ đi gì hết”. Đêm đó, tôi hỏi nhưng anh Phương chối. Ngay sáng 12-7 là ảnh đi, nói là về ghé nhà ba má ở Bình Định rồi sau đó về quê thăm con, rằm tháng 7 sẽ vô lại. Nhưng rồi đến rằm, ảnh điện thoại nói với tôi là nhắn giùm anh Trị kêu bạn khác chứ ảnh không vô đi bạn được”.
Chị K. cũng cho biết thêm là có lần chị gặng hỏi về sự khác nhau giữa tên thật và tên khai sinh, thì anh ta bảo: “Ở quê người ta gọi anh là Phương riết thành quen, chứ tên chính thức là Hương”. Trước khi đi, Phương còn để lại nhà chị K. một cái vali, trong đó có... một bộ đồ. Và chị cùng đứa con lục lại chiếc va ly của “người chồng” với một vẻ ngẩn ngơ.
Khi đài truyền hình đưa phóng sự về thuyền viên độc nhất vô nhị trở về an toàn sau khi phải lênh đênh hàng chục ngày trên biển vì bão Chanchu, chị K. vẫn không hay biết gì. Ở nhà quê, không mấy người coi tin tức qua ti-vi. Mấy bà già, ông già chỉ coi cải lương và phim Tàu, phim Hàn Quốc. Mãi đến khi nghe hàng xóm hỏi thăm, rồi ba và anh trai chị gọi điện thoại báo, chị mới hay anh Hương “dũng cảm” kia chính là người đã ở chung với chị từ năm ngoái đến nay!
Chẳng biết bây giờ chị K. sẽ phải “xử lý tình huống” này như thế nào. Kết cục chỉ có mẹ con chị là chịu thiệt thòi. Tình đã mất, tiền cũng không.
Nguồn tin cuối cùng cho biết số tiền 50 triệu đồng gia đình anh Hương và chị Nương (vợ anh) đã được nhận sẽ không bị trả lại vì hoàn cảnh gia đình anh lúc này cũng rất nghèo khó. Theo dự tính của vợ chồng anh thì sẽ nghỉ đi biển. Chị Nương cho biết: “Thôi thì sau đận ni chết đi sống lại, cứ ở nhà, làm nghề... hớt tóc như xưa cũng được”.
Như thế có nghĩa là anh Hương sẽ không còn dịp “ra khơi ăn vụng” nữa. Chị K. sẽ lại vò võ đợi chờ. Và chị Nương có thể tha thứ cho cái tội của anh chồng “hiền lành” kia không? Mọi sự còn đang ở phía trước.
Xin để bạn đọc phán xét câu chuyện lẩm cẩm này.
Hình ảnh:
01 - Người mẫu Nguyễn Thị Quỳnh Ngọc, lừa đảo vất vả nay lại lặng lẽ rời khỏi nơi cư trú trốn biệt tăm.
02 - Anh ngư dân Nguyễn Văn Hương đang tự thú về cái tội nói dóc của mình.
Số 171 - ngày 20-8- 2005
* Văn Quang
Cả nước bị lừa
Câu chuyện đầy “kịch tính” và đầy vẻ bi hài trong tuần vừa qua ở Việt Nam, không thể không kể đến chuyện của một “vị anh hùng” sau hơn 3 tháng “chết trôi” giữa biển cả, chiến đấu kiên cường dũng cảm với bão tố lại lù lù trở về như một phép lạ. Ở đâu cũng nghe xuýt xoa “phúc đức mười đời anh ta mới sống sót được”. Ngồi ở bất kỳ quán cóc nào, từ hẻm chợ Bàn Cờ đến cafe loại xịn của các bác Việt kiều vẫn ngồi, hoặc quán cafe có các vị nghệ sĩ “phe ta, phe nó” thường gặp gỡ, hoặc nơi “giao lưu bằng đô la” của các quý tử con quan và các cô cẳng dài cũng nghe thiên hạ lấy chuyện đó ra “làm quà” cho những thứ chuyện lẩm cẩm khác. Chuyện thật đến nỗi báo chí và các đài phát thanh truyền hình ở VN cũng nhảy vào cuộc, quay phim chụp hình tới tấp, phỏng vấn lu bù kèn. Khán giả cứ tròn xoe mắt lên mà chiêm ngưỡng, thán phục. Chẳng ai nghi ngờ chút xíu nào về cái sự “chân thật” của anh “ngư dân nhà quê hiền lành chất phác” này.
Nhưng câu chuyện của “vị anh hùng vượt bão” (nói theo kiểu chữ nghĩa bây giờ ở VN chúng tôi) lại là một “quả lừa” to tướng. Vị ngư dân “chân thật và anh hùng” kia lại là một anh chàng dóc tổ hơn cả những anh anh chàng “mãi võ Sơn Đông” thời xa xưa. Quả lừa của anh ta thật giản dị, nhàn nhã cứ như chơi trò bịt mắt bắt dê với trẻ con.
Cú lừa ngon lành hơn người mẫu Quỳnh Ngọc
Vậy nên, xét theo một khía cạnh khác thì cú lừa này tinh vi, khôn khéo, đỡ tốn công, tốn của hơn là những cú lừa của các công ty ma, những “giai nhân” phải mang cả cái “cơ nghiệp trời cho” ra làm mồi nhử. Cứ so sánh ngay trong tuần này, cú lừa của người mẫu Nguyễn Thị Quỳnh Ngọc đã tốn kém công sức gấp ngàn lần anh ngư dân trở về từ cơn bão Chanchu cách đây tới 3 tháng.
Nếu anh ngư dân Nguyễn Văn Hương chỉ cần tường thuật lại một “chuyến phiêu lưu” dũng cảm trong tưởng tượng, là thành công thì người mẫu Nguyễn Thị Quỳnh Ngọc đã tốn không biết bao nhiêu công sức mới khuất phục được cái “đại gia”. Tất nhiên người mẫu đã phải đưa cả cái thân hình cao 1m70 gợi cảm ra, nói sùi cả bọt mép (còn hơn là ông Hùng Sùi diễn tả về một trận đá banh), tốn bao nhiêu quần áo son phấn, bao nhiêu nụ cười khóe mắt mới “vật ngã” được đối thủ.
Vài nét về cú lừa của người mẫu
[left]http://www.viet.no/images/stories/div/171_ng-quynh.jpg[/left]Với một vẻ đẹp trời phú, Nguyễn Thị Quỳnh Ngọc đã từng nổi danh trong giới người mẫu năm 1994. Điều khá đặc biệt là không chỉ hấp dẫn bởi vẻ bề ngoài, mà người có cặp chân dài này còn có khả năng ứng xử linh hoạt, giao tiếp hay và đã tốt nghiệp đại học tại Học viện Quan hệ quốc tế, có bằng thạc sĩ.
Từ năm 16 tuổi, Nguyễn Thị Quỳnh Ngọc đã bước chân vào nghề người mẫu và gặt hái được không ít thành công. Chính Ngọc đã từng có những chuyến lưu diễn sang các nước Hàn Quốc, Nhật Bản với khoản thu nhập hàng chục ngàn USD cho mỗi chuyến đi khoảng 2 tháng. Nhưng sau khi kết hôn, cuộc sống của gia đình cô gặp khá nhiều trắc trở. Nhiều món nợ với số tiền hàng trăm triệu đồng đã xuất hiện và cứ thế lao dần vào những phi vụ lừa đảo.
Tháng 3-2006 vừa qua, mặc dù đang nợ nần chồng chất, vốn liếng không có một xu nhưng Ngọc vẫn quyết định mở một công ty Trách nhiệm hữu hạn với cái tên khá kêu: Công ty Lâm Sơn, kinh doanh đủ các lĩnh vực, nổi bật nhất là sản xuất phim quảng cáo. Việc thành lập công ty này thực chất để tạo ra "cái bùa" làm tin khi giao dịch với các đối tác. Sau hơn 4 tháng ngồi vào ghế giám đốc, với hàng loạt phi vụ lừa đảo, kết cục là sa lưới pháp luật. Vụ án đang còn được điều tra và cơ hội vào tù là rất lớn.
Cú lừa như truyện phiêu lưu ký
Những chuyện người đẹp bị lừa và đi lừa trong xã hội hiện nay quá nhiều nên đã thành chuyện hàng ngày ở... thủ đô Hà Nội, chẳng còn gì xa lạ. Câu chuyện anh “nhà quê”, chẳng cần có bằng thạc sĩ, cũng lừa một hơi, qua mặt năm bảy cái cơ quan nhà nước, vài chục anh phóng viên đài to, đài nhỏ mà bình an vô sự mới là thú vị. Xin hãy đọc bài tường thuật đầu tiên, được gọi là “hot” nhất trong tuần:
[left]http://www.viet.no/images/stories/div/171_anh.jpg[/left]“Như đã đưa tin, anh Nguyễn Văn Hương (thôn 3 xã Quế Ninh, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam) nằm trong danh sách 266 người thuộc diện chết và mất tích trong cơn bão Chanchu, nay bỗng đột ngột trở về nhà. Không là Odisse trong anh hùng ca của Home, cũng không là "ông già và biển cả của Hemingway, nhưng câu chuyện của người ngư dân trẻ được xem như đã chết" này vẫn mang sự bi tráng của lòng quả cảm trong cuộc chiến đấu 13 ngày, đêm cô độc giữa biển cả mênh mông, vật lộn giành giật sự sống trong cái chết cầm chắc...”
Đọc đến đây thôi cũng đã thấy hấp dẫn lắm rồi. Câu chuyện được anh ngư dân Nguyễn Văn Hương thuật lại càng “ly kỳ rùng rợn” hơn:
“...Ngày 1-.5, tàu bọn tui đã rách tả tơi vì chạy trốn bão, cùng mấy chục tàu câu mực khơi khác thả "dòm" (neo, giằng tàu) tránh bão một chỗ. Rạng sáng 20.5, sóng như những ngôi nhà lầu đổ ập xoay vần đoàn tàu. Các tàu lần lượt bứt neo, bay dòm. Điều đó có nghĩa số mạng ngư dân phó mặc cho trời đất. Trong cơn hoảng loạn, mấy trăm con người gào gọi nhau bám vào bất kỳ thứ gì có thể làm phao để nổi trên mặt nước. Rầm một phát, tôi chỉ kịp thấy trước mặt gỗ ván bay tả tơi, rồi mắt tối sầm; tất cả chìm nghỉm trong sóng dữ. Tui chìm sâu, đến khi trồng (trồi) lên mặt biển mở mắt chẳng thấy còn chi nữa. May mắn quờ tay chạm được đống can nhựa đến mấy chục cái vốn dùng đựng nước ngọt được cột vào nhau làm phao "dòm" tàu, bèn bíu chặt lấy. Thế rồi để mặc sóng quăng quật.
Trời sáng, động tác đầu tiên là tôi vớ sợi dây quấn sẵn trong người khi chống bão, tui cột chặt mình vào đống can nhựa, rồi khư khư ôm chỗ múi cột, sợ khi mình ngất đi, nó rời ra... Chỉ có cái đầu thò lên khỏi mặt nước. Nhìn quanh không còn ai, chỉ có vật vờ vài thanh gỗ dật dờ trên mặt nước, tôi rơi nước mắt vì biết bạn tàu không còn ai. Đói, khát sóng gió dập vùi, nước biển như ngấm đến xương. Anh thấy đây, tay chân mặt mũi tui đến chừ còn phù nề như con cá muối, hễ ngồi nằm một chỗ 15 phút là tê cứng, chuột rút, nên mấy ngày ni về nhà rồi mà vẫn phải đi đi lại lại suốt, đi như ma cả đêm...
Suốt 13 ngày lênh đênh với đống can nhựa, tôi cố vớt rong rêu, cá nhỏ làm cái ăn. May mắn trong can nhựa cũng còn chút nước ngọt sót lại, đủ để liếm qua, lừa cơn khát cồn cào. Dù tỉnh ít mê nhiều, nhiều lúc muốn thả tay, nhưng rồi nghĩ về những ngày thanh bình sống ở quê nhà, tôi cứ cố nhủ: Phải sống - cố sống mà về nhà. Trôi dạt như vậy cũng không kịp nhớ bao nhiêu ngày. Có hôm mở mắt ra gặp tàu chở hàng nước ngoài, tui ngoắc, họ chẳng thấy, chẳng dừng. Lúc đó tui còn hơi tỉnh, tui thề: Nếu ơn trên phù hộ, cho tôi sống trở về, thì tui "xuống tóc".
...Ngày thứ 13 trôi trên biển, lúc đó tui chỉ còn thoi thóp thể xác, nhưng thần kinh vẫn còn tỉnh. Khi nghe những người trên tàu la to: "Có người còn sống trôi kia kìa", tui còn biết; họ kéo tui lên tàu, hỏi: Còn sống không, tui còn nói được phều phào: Còn sống. Thế rồi chỉ có uống nước đường, suốt 15 ngày nước đường họ nấu đổ cho tui, chứ ăn cháo vào lại mửa ra ngay. Tui khỏe lại, liền tham gia phụ giúp việc trên tàu để trả ơn bạn tàu đã cứu vớt tui. Họ kể lại, đã vớt được tui ở tọa độ 13 độ vĩ bắc, 121 độ kinh đông trên biển Đông. Còn anh hỏi tàu cứu tui hả, đó là tàu câu sỏi (cá mú, cá hồng) của ông Hai, ở Bình Định, 12 bạn (ngư dân) trên tàu tui thân nhất anh Thu quê Hoài Nhơn đồng hương vợ tui.
Họ vào thả neo gần đảo Phú Quý, bán cá cho các tàu thu mua, tiếp nhiên liệu rồi lại ra khơi. Tui lên đảo, mới biết chuyện bão bùng trên đất liền biết mấy lo âu, bèn điện thoại ngay về nhà, gặp chị Tám, vợ anh Xuân (Nguyễn Văn Xuân - anh ruột anh Hương), tui nói: Em còn sống, chị ơi. Thế là hai chị em khóc òa. Tui đón tàu chợ từ đảo về cảng Cam Ranh, đón xe về ngay, vào nhà anh Xuân ngay đầu làng, cả xóm xúm lại khóc cùng tui. Vợ tui bồng con ra đón tui ...”
Cả làng cùng mắc lừa
Nghe kinh hoàng và xúc động thật. Cũng xin nói ngay, nếu tôi là anh phóng viên có cái may mắn “khám phá ra vị anh hùng” này cũng có thể bị mắc bẫy như chơi. Thế cho nên nghe tin anh Nguyễn Văn Hương trở về nguyên vẹn, Quỹ Tấm lòng vàng đã cử đại diện đến thăm hỏi và thừa ủy quyền của Chủ tịch Quỹ thông báo đến anh chị, sẽ tiếp tục xây dựng ngôi nhà trị giá 20 triệu đồng như đã cam kết. Ngày 11-8, Liên đoàn Lao động tỉnh Quảng Nam và LĐLĐ huyện Quế Sơn đã xúc tiến làm các thủ tục để anh có thể xây dựng nhà mới.
Ngay sau đó thì các đài truyền hình, phát thanh từ địa phương tới trung ương tới tấp đến làm phóng sự. Và “vị anh hùng ” đó cứ phây phây kể lại câu chuyện dũng cảm “vượt bão” của mình với một vẻ tỉnh queo, không một chút bối rối. Tất nhiên đôi lúc anh ngư dân cũng phải “diễn” cái vẻ kinh hoàng, ghê gớm của mình cho phù hợp với cảm xúc của một người vừa thoát chết trở về còn đầy vẻ hồi hộp. Quả thật anh ta “diễn” rất tài tình khiến người ngồi xem ti vi cũng phải lạnh mình. Diễn viên VN chắc cũng chưa có ai diễn được “thật” và “sống” như anh. Có lẽ phải ví anh ta diễn tự nhiên như những diễn viên Hàn Quốc đang ăn khách trên thị trường “băng, đĩa, đài” tại Việt Nam hiện nay. Cứ đụng mở “đài” ra là gặp phim Hàn Quốc và Trung Quốc. Còn phim VN thì cũng có, nhưng hầu hết đều bị khán giả “tắt đài” vì hầu hết các diễn viên tay ngang, không học hành gì, đóng cứ “sượng trân”. Phim Việt thua ngay trên sân nhà cũng chẳng có gì là khó hiểu. Đề tài đã mòn cũ, sáo rỗng, diễn viên lại toàn tay ngang, diễn xuất cứng đơ như cái máy, đối thoại cứ như đọc bài học thuộc lòng, thì hay làm sao được! Anh ngư dân này được liệt vào loại diễn viên “có hạng”. Có diễn hay thì anh ta mới lừa được cả làng, cả nước chứ. Nếu được làm “cố vấn Tàu” cho các nhà sản xuất phim, tôi khuyên các hãng phim nên ký hợp đồng với anh ta ngay đi, còn chờ gì nữa?
Chuyện đổ bể như thế nào?
Nếu không có chuyện tố cáo công khai thì cú lừa này chưa biết bao giờ mới được khám phá hoặc có khám phá ra thì mọi sự đã lỡ nên cứ nín khe cho được việc. Chẳng thiếu gì những cái sự nín khe tương tự như vậy trong cái thời buổi này.
Người phát hiện ra sự thật trước tiên là bà Lê Thị Huệ, chủ tàu ĐNa 90053. Bà Huệ khẳng định rằng trên tàu của gia đình bà không có thuyền viên nào tên Nguyễn Văn Hương và tàu ĐNa 90053 của bà rời cảng Đà Nẵng vào ngày 22-4 và trên tàu có 28 thuyền viên chứ không phải rời cảng ngày 11-5 và trên tàu có 24 thuyền viên như anh Hương kể lại trên các báo. Trong danh sách các thuyền viên đi chuyến tàu định mệnh đó không hề có tên Nguyễn Văn Hương cũng như không có người nào có khuôn mặt giống anh Hương mà bà Huệ nhìn thấy trên truyền hình và các báo. Từ thông tin này, các cơ quan mới đi tìm manh mối.
Lời thú tội đáng thương
Sáng 17-8, Trưởng Công an xã Quế Ninh, đã trở lại nhà anh Nguyễn Văn Hương (sinh năm 1972, Quế Ninh, Quế Sơn, Quảng Nam) - nhân vật chính trong câu chuyện thoát chết trở về từ tâm bão Chanchu sau 13 ngày trôi dạt giữa biển khơi và gần 3 tháng biệt tích để tìm hiểu thực hư của câu chuyện “thần kỳ” mà chính anh đã kể với xóm giềng và các cơ quan thông tin.
Nếu lần trước anh “diễn” vở tuồng 3 tháng làm anh hùng chiến đấu với biển cả hùng hồn, bi tráng bao nhiêu thì lần này anh lại vào vai một anh ngờ nghệch, lúng túng và sau cùng, anh tỏ ra vô cùng hối hận, thốt lên… từ đáy lòng: “Tôi thành thật xin lỗi bạn đọc của các báo, khán giả truyền hình cả nước. Tôi có lỗi, tôi đã sai lầm khi không nghĩ đến hậu quả nặng nề gây mất lòng tin của mọi người như thế này!”...
Chẳng biết sự hối hận chân thành lần này của “tác giả kịch bản kinh hoàng” kia chân thành được bao nhiêu phần trăm. Nhưng dù sao thì sự dối trá cũng đã được phơi bày, khiến cả nước chưng hửng. Anh đành kể lại toàn bộ sự thật về những ngày xảy ra cơn bão Chanchu, anh đã làm những gì, ở đâu.
Theo lời anh kể: Ngày 11-5, Hương đón xe từ Quế Ninh xuống ngã ba Hương An (Quốc lộ 1A, Quảng Nam) và đón xe khách vào Bình Định. Ngày 13-5, Hương cùng với 23 thuyền viên lên tàu BĐ của ông Hai ở Bình Định ra khơi câu mực. Ra khơi được 5 ngày, do ảnh hưởng cơn bão số 1 nên tàu cập vào một hòn đảo (Hương không biết là đảo gì) để trú bão. Chiếc Tàu này hoàn toàn bình an.
Khi hết bão, tàu tiếp tục ra biển Đông để câu mực trong thời gian 2 tháng 4 ngày. Ngày 29-7, tàu ông Hai cập vào đảo Phú Quý để bán mực cho tàu hàng. Khi đến đảo, Hương gọi điện thoại về nhà chị dâu là Phạm Thị Huệ (xã Quế Ninh) và nghe chị Huệ kể lại việc gia đình báo tin mình đã mất tích rồi lập bàn thờ cho mình nên Hương quyết định trở về nhà để gia đình an tâm.
Ngày 5-8, Hương vào đất liền và đón xe về Quế Ninh. Trở về nhà, nghe gia đình nói nhận được trên 50 triệu đồng từ tiền cứu trợ của các tổ chức, cá nhân ủng hộ cho việc mình mất tích trong bão. Hương giải thích: “Tôi sợ nếu nói thật mình không hề là nạn nhân cơn bão thì sẽ bị thu hồi tiền, không có tiền trả nợ và chữa bệnh cho vợ con nên đã dựng ra câu chuyện gặp nạn trong bão. Tôi gửi lời xin lỗi đến mọi người và mong nhận được sự thông cảm, tha thứ cho sự bồng bột của tôi”.
Mới chỉ là một nửa sự thật
Lời thú tội nghe cũng xuôi tai, đáng thương, được mọi người thông cảm. Nhưng đó mới chỉ là một nửa sự thật. Còn một nửa ở phía sau, anh “ngư dân quê mùa” kia vẫn giấu biệt. Đó là “cái tội của những anh đàn ông ăn vụng”. Lâu nay, tôi cứ tưởng chỉ những quý ông ở thành thị “láu cá” mới hay ăn vụng và có tài “che chắn” tài tình đến nỗi có ông, khi nhắm mắt, xuôi hai tay mới có một bà lạ hoắc từ đâu dắt con đến xin chịu tang bố.
Vậy mà anh “nhà quê” này còn tài tình hơn. Suốt những ngày anh “thú thật” là đi câu mực trên biển, thật ra anh đã có nhiều phút “thư giãn” bên nhà bà vợ bé ở tuốt tận thôn Hảo Sơn, xã Hòa Xuân Nam, Đông Hòa, Phú Yên.
Ngay khi thấy đài truyền hình trung ương Hà Nội (VTV) phát sóng trong chương trình thời sự về một ngư dân tên Nguyễn Văn Hương ở Quảng Nam sống sót trở về sau bão Chanchu, người dân ở thôn Hảo Sơn - Phú Yên, đã vô cùng sửng sốt.
Hầu như cả thôn này ai cũng biết, anh Phương xuất hiện ở xóm này vào mùa đông năm ngoái, sau đó ở với chị N.T.K., một người đàn bà góa chồng năm nay 36 tuổi, họ sống với nhau như vợ chồng. Ở thôn này anh Hương khôn khéo đổi tên là Phương. Tay chơi Cầu Ba Cẳng này cũng chẳng phải tay vừa.
Chị K. là người buôn bán hàng rong cho các xe khách qua lại Quốc lộ 1 ở khu vực thôn Hảo Sơn. Chị xem ảnh và xác nhận: “Đúng là ảnh rồi! Bộ đồ này ảnh từng mặc ở đây rồi”. Thằng con trai 12 tuổi của chị cũng chỉ chỏ: “Cậu Phương chớ ai!”.
Tâm sự người vợ bé
Chị K. gốc người ở Hoài Hải (xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định), lấy chồng về Hảo Sơn đã mười mấy năm nay. Cách đây 10 năm, chồng chị bạo bệnh qua đời, chị ở vậy, buôn bán nuôi hai đứa con. Chị kể: “Khoảng tháng 9, tháng 10 (âm lịch) năm ngoái, ba má tôi có điện về quê. Ở đó tôi gặp anh Phương. Ảnh là người đi bạn cho thuyền câu mực của ba tôi tính đến thời điểm đó đã 6 năm rồi. Ba má tôi coi ảnh như con, ảnh kêu ba má tôi bằng ba bằng má. Chính bởi vậy mà ông bà già muốn tôi đi bước nữa với ảnh vì thấy ảnh cũng chịu khó làm ăn, tính tình hiền hậu...”.
Người đàn ông tên Phương nọ tâm sự với chị là hoàn cảnh anh ta rất đáng thương: “Ảnh bảo có ông cậu ở nước ngoài, đã bảo lãnh mẹ ảnh đi, ảnh còn một người anh và một cái nhà ở TP Đà Nẵng. Hai vợ chồng ảnh có một đứa con gái, nhưng vợ anh bỏ đi theo tình nhân nên anh buồn tình bỏ đi biển. Đứa con gái gởi luôn cho cô giáo nuôi dạy. Tôi thấy hoàn cảnh của ảnh cũng đáng thương nên xuôi lòng...”.
Đúng là một tâm sự “rất bài bản”, anh ngư dân “hiền lành” này đã sáng tác ra một bài “thương tình ca” không kém gì những nhạc sĩ trứ danh, làm xiêu lòng những phụ nữ hay xúc động vặt, nhất là những góa phụ càng dễ cảm thông. Anh ta không “phịa” ra rằng vợ qua đời vì bạo bệnh mà phịa ra một lý do rất “tình cảm sâu sắc” là vợ bỏ chồng con theo trai! Anh chàng Hương hay Phương này đâu phải tay vừa.
Do đó, chị K. không thể ngờ rằng người đàn ông ấy đã có gia đình và người vợ anh Hương ở Quảng Nam cũng chưa bao giờ ngờ rằng đức ông chồng “hiền lành như cái mái chèo” của mình lại đèo bòng một người phụ nữ khác. Chẳng biết các vị độc giả “liền ông” khác nghĩ sao, chứ tôi thì phục sát đất cái sự giữ bí mật tuyệt đối này của vị “nhà quê” chính hiệu con nai vàng này. Hồi còn trẻ, chắc có vị cũng thuộc loại “thích ăn vụng”, nhưng ăn vụng “bể mánh” là chuyện thường thấy. Còn một số bạn tôi, có ông… lâu lâu mới ăn vụng một lần, nhưng rồi “thông tin cũng bị rò rỉ” ra ngoài, ít có ông nào giấu được lâu. Như thế đủ chứng tỏ rằng mấy ông công tử thành thị còn thua anh ngư dân thuần chất này xa.
Nỗi ngẩn ngơ của người góa phụ
Chị K. còn kể tiếp: Cho đến tối 11-7 âm lịch (tức 4-8-2006), anh Phương về lại nhà tôi, sau khi chiếc tàu câu mực của người anh cập cảng Cam Ranh. Trước đó vài ngày, ba tôi có điện vô nói rằng “hình như thằng Phương nó còn vợ con ở Quảng Nam chớ hổng phải vợ bỏ đi gì hết”. Đêm đó, tôi hỏi nhưng anh Phương chối. Ngay sáng 12-7 là ảnh đi, nói là về ghé nhà ba má ở Bình Định rồi sau đó về quê thăm con, rằm tháng 7 sẽ vô lại. Nhưng rồi đến rằm, ảnh điện thoại nói với tôi là nhắn giùm anh Trị kêu bạn khác chứ ảnh không vô đi bạn được”.
Chị K. cũng cho biết thêm là có lần chị gặng hỏi về sự khác nhau giữa tên thật và tên khai sinh, thì anh ta bảo: “Ở quê người ta gọi anh là Phương riết thành quen, chứ tên chính thức là Hương”. Trước khi đi, Phương còn để lại nhà chị K. một cái vali, trong đó có... một bộ đồ. Và chị cùng đứa con lục lại chiếc va ly của “người chồng” với một vẻ ngẩn ngơ.
Khi đài truyền hình đưa phóng sự về thuyền viên độc nhất vô nhị trở về an toàn sau khi phải lênh đênh hàng chục ngày trên biển vì bão Chanchu, chị K. vẫn không hay biết gì. Ở nhà quê, không mấy người coi tin tức qua ti-vi. Mấy bà già, ông già chỉ coi cải lương và phim Tàu, phim Hàn Quốc. Mãi đến khi nghe hàng xóm hỏi thăm, rồi ba và anh trai chị gọi điện thoại báo, chị mới hay anh Hương “dũng cảm” kia chính là người đã ở chung với chị từ năm ngoái đến nay!
Chẳng biết bây giờ chị K. sẽ phải “xử lý tình huống” này như thế nào. Kết cục chỉ có mẹ con chị là chịu thiệt thòi. Tình đã mất, tiền cũng không.
Nguồn tin cuối cùng cho biết số tiền 50 triệu đồng gia đình anh Hương và chị Nương (vợ anh) đã được nhận sẽ không bị trả lại vì hoàn cảnh gia đình anh lúc này cũng rất nghèo khó. Theo dự tính của vợ chồng anh thì sẽ nghỉ đi biển. Chị Nương cho biết: “Thôi thì sau đận ni chết đi sống lại, cứ ở nhà, làm nghề... hớt tóc như xưa cũng được”.
Như thế có nghĩa là anh Hương sẽ không còn dịp “ra khơi ăn vụng” nữa. Chị K. sẽ lại vò võ đợi chờ. Và chị Nương có thể tha thứ cho cái tội của anh chồng “hiền lành” kia không? Mọi sự còn đang ở phía trước.
Xin để bạn đọc phán xét câu chuyện lẩm cẩm này.
Hình ảnh:
01 - Người mẫu Nguyễn Thị Quỳnh Ngọc, lừa đảo vất vả nay lại lặng lẽ rời khỏi nơi cư trú trốn biệt tăm.
02 - Anh ngư dân Nguyễn Văn Hương đang tự thú về cái tội nói dóc của mình.
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Thơ Bút Tre của Văng Bút Thư Sinh
Ca dao 3 Việt .
-Mỗi năm ba tỷ đô la
Khúc ruột ngàn dặm phe ta gửi về
Giúp nhà , giúp nước , giúp quê
Hơn ba Tỷ rưỡi ê hề đô la
Đảng ôm khúc ruột phe ta
Khúc ruột ngàn dặm đô la đảng nhờ .
Việt gian , Việt cộng ,Việt Kờ (K)
Trong ba Việt đó đảng thờ Việt nào ?
Không thờ Việt gian tào lao
Đảng thờ thật kỹ hầu bao Việt kờ
Việt kờ là Việt rất khờ
Là Việt coi cộng bây giờ đổi mơi !
Gửi tiền về nước khơi khơi
Đến khi cạn túi, đảng mời vào Tu !
Ngày xưa vỗ ngực không ngu
Ngày xưa tè Cộng mới vù vượt biên
Bây giờ giàu rồi hoá điên
Bắt tay Việt cộng tự nhiên như là
Anh em ruột thịt một nhà
Đến khi đảng biến thành ma cà rồng
Tay sờ còn cái đít không
Hoá ra đảng vẫn bộ lòng Mác Lê
Ca dao 3 Việt .
-Mỗi năm ba tỷ đô la
Khúc ruột ngàn dặm phe ta gửi về
Giúp nhà , giúp nước , giúp quê
Hơn ba Tỷ rưỡi ê hề đô la
Đảng ôm khúc ruột phe ta
Khúc ruột ngàn dặm đô la đảng nhờ .
Việt gian , Việt cộng ,Việt Kờ (K)
Trong ba Việt đó đảng thờ Việt nào ?
Không thờ Việt gian tào lao
Đảng thờ thật kỹ hầu bao Việt kờ
Việt kờ là Việt rất khờ
Là Việt coi cộng bây giờ đổi mơi !
Gửi tiền về nước khơi khơi
Đến khi cạn túi, đảng mời vào Tu !
Ngày xưa vỗ ngực không ngu
Ngày xưa tè Cộng mới vù vượt biên
Bây giờ giàu rồi hoá điên
Bắt tay Việt cộng tự nhiên như là
Anh em ruột thịt một nhà
Đến khi đảng biến thành ma cà rồng
Tay sờ còn cái đít không
Hoá ra đảng vẫn bộ lòng Mác Lê
Đọc "Một Ngày tại Hà Nội"
Wednesday, July 05 2006
Nguyễn Mạnh Trinh
Với tôi, Hà nội chỉ là một thế giới xa lạ nhưng đầy tưởng tượng. Năm 1954, khi di cư vào Nam, lúc ấy tôi còn quá nhỏ để có một ký ức. Phần đông, kỷ niệm trong đời sống của ấu thơ tôi đều là Saigon, thành phố mà tôi lớn lên và trưởng thành. Mỗi con phố, mỗi ngõ hẻm, đều in dấu những tháng ngày trải qua, luôn sinh động trong bộ nhớ. Thành phố ấy, có thể như một phần đời sống ...
Nhưng, Hà Nội, lại là một thành phố trong tưởng tượng với tôi. Và, vì không thực nên có những nét đẹp huyền ảo của vẽ vời suy tư, của những nhân vật được phác họa bằng tất cả những nét lung linh nhất.
Trong văn chương, tôi đọc những cuốn sách, để thấy lại cả một khung trời tưởng nhớ, một thánh địa để nghĩ đến và tìm về. Những Thạch Lam, Vũ Bằng, Hồ Hữu Tường,... thời tiền chiến đến Mai Thảo, Nguyễn Đình Toàn, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn,... của 20 năm văn học miền Nam, đã làm rực rỡ hơn trong tôi những nồng nàn của một thế giới thơ mộng đã mất hút xa nhưng thật gần gũi trong tâm tưởng. Nhưng khi đọc "Một Ngày tại Hà Nội, 18-2-1973" của Phạm Huấn, tôi như đi lạc vào một thế giới khác mà nỗi bồi hồi cảm xúc đã lan ra từ những dòng chữ, những biểu tỏ. Không phải như trường hợp "Hồi hương ngẩu thư" sao lại giống như trong suy nghĩ. "Chắc chắn trong buổi trùng phùng cũng có nỗi xúc động ứa lệ" tác giả đã nói như thế trong buổi phỏng vấn. Hạ Tri Chương ngày xưa" Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi. Hương âm vô cải mấn mao thôi. Nhi đồng tương kiến bất tương thức.
Tiếu vấn "khách tòng hà xứ lai". (Xa nhà ấu thơ, về đã già. Quê mùa giọng cũ, tóc sương phạ Bạn cũ thân quen nay mặt lạ. Cười hỏi:" Khách về tự chốn xả")... Phạm Huấn thì khác. Về chốn xưa, nhưng trong một cung cách khác. Của một người đi nói chuyện với những người tuy cùng máu mủ đồng bào nhưng là đối thủ dàn ra hai trận tuyến. Về, với cái đón tiếp lạnh lùng đầy nghi kỵ. Về, với cái tâm trạng vỡ òa của một người vừa làm vỡ một cái gì trân quí nhất. Cái tâm trạng của người vừa đánh mất một phần đời sống mình. Trong tình cờ của lịch sử, những người mặc quân phục VNCH trở về nơi chốn mà mình đã rời bỏ thời gian trước. Có một phút nao lòng với những tâm tưởng cũ nhưng cũng có nỗi rưng rưng của cuộc trùng phùng không ngờ tới được trong thời điểm ấy. Sau Hiệp đinh Paris, quân Mỹ đã rút về nước nhưng chiến tranh vẫn còn, vẫn còn cảnh những người đồng bào ghìm súng hầm hè nhau trong những cuộc chiến sinh tử. Miền Nam, miền Bắc, hai phía vẫn chưa ngừng cuộc chiến ủy nhiệm thời chiến tranh lạnh. Tác giả, trong "Một Ngày tại Hà Nội", đã có nỗi niềm chua chát đắng cay của những người đã đặt niềm tin vào một điều gì rồi bị phản bội một cách trắng trợn. Thành phố đã đổi, những xưa cũ đã mất đi và những cảnh tượng mới làm quăn lòng người trở về.
Ông viết: "... ngồi trên chuyến xe di chuyển từ Gia lâm về Hà Nội, nhìn thấy Hồ Gươm, tháp Rùa, tôi có trong lòng một nỗi xao xuyến muốn làm ứa lệ. Tôi biết rằng, nhìn thấy Hà Nội đây, là nhìn thấy hàng triệu đôi mắt của người xa Hà Nội năm nào. Tôi đang di chuyển an lành trên những đường phố Hà Nội đây,là đòi hỏi bằng xương máu của bao nhiêu bạn hữu, bao nhiêu huynh đệ, bao nhiêu người quen biết và không quen biết, đã chết và còn sống, của 17 triệu dân miền Nam yêu nước đang trông ngóng một ngày hòa bình, thống nhất nhưng không phải là hòa bình với bất cứ giá nào, thống nhất với bất cứ giá nàọTôi hiểu được tại sao con người có tình riêng nhưng không thể tách rời ra khỏi tập thể. Con đường này, xưa chúng tôi hàng ngày đi qua, cắp sách đến trường. Căn nhà này, xưa, tôi đã ở. Bạn bè tôi xưa, những ai còn, ai mất?
Người yêu tôi xưa, bây giờ bao tuổi, bao già? Tôi có thể gọi tên từng đứa bạn, gọi ị tên từng người con gái đẹp của Hà Nội khi xưa, tôi có thể chỉ đúng căn nhà họ ở, bây giờ họ còn ở đây chăng? Ngồi trên máy bay nhìn xuống, Hà Nội giống như một khuôn mặt kiều diễm. Tháp Rùa chẳng khác cái nốt ruồi của thành phố! Tôi biết rằng, nếu biết được tôi nghĩ như thế, có ai sẽ mỉm cười. cái câu con trai nhảy chân sáo trên lối đi này khi xưa là tên vẫn còn ẩn núp trong tôi thật sao? Tôi mừng biết bao, khi nhận ra, với ba mươi năm liền nghe súng nổ, nhìn thấy khói, ngửi mùi tử khí, tai tôi chưa điếc, mắt tôi chưa mờ, ũi tôi vẫn còn phân biệt được những mùi hương phảng phất của sương mù tháng giêng Hà Nội.
Nỗi nhớ thương Hà Nội đã choáng ngập tâm trí đến độ trong khoảnh khắc tôi không còn nhận ra Hà Nội Đã Không Còn Là Hà Nội Nữa..."
Nếu tôi trở về lại Saigon, chắc chắn tôi sẽ có cảm xúc y hệt như vậy.
Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ? Câu hỏi ấy, trong âm hưởng tạo thành nao nao cảm giác trong da trong thịt. Một thi sĩ nào đó, đã gọi thành phố mất tên trong buổi trở về như một níu kéo để tìm về những kỷ niệm cũ, những hình bóng xưa. Thi sĩ ấy , chắc cũng đồng điệu với tác gỉa "Một ngày tại Hà Nội" dù viết về Saigon. Tự nhiên, như là lời tâm sự của riêng tôi, trong lời thơ diễn tả...Thơ chia sẻ như một tri âm với người tri kỷ...
"Khi trở lại tôi kêu tên Saigon Như ba mươi
năm qua thường buổi sáng Uống ly cà phê không đường đen đậm Quán cóc hẩm hiu lưỡi đắng nụ cười Khi trở lại phố xưa tuổi đôi mươi Ngọn dốc cầu cao nghe chừng khác lạ Bánh xe nào hằn dấu vết rã rời Những hẻm cụt giấc khuya về vội vã. Khi trở lại tôi gọi hoài tuổi trẻ Như mắt em nồng nàn ánh mặt trời Buổi sáng áo bay trong buồn lặng lẽ ai gọi ai cho héo úa tình phai con kinh nước đen mùi bùn vương vấn cỗ xe già nua về lại bến ven đường mưa như trút buổi chiều nào địa chấn em xa tôi lòng buốt xót vết
thương khi trở lại tôi làm người dừng bước hai ven đường ngọn cỏ mọc dửng dưng chân lạ lắm đã hết rồi tiếng guốc cửa nhà em đóng lại rất lạnh lùng Saigon vẫn nhớ hay là trong quên lãng Khách lạ tôi tạm trú dưới hàng cây Thấy con sẻ ríu rít hoài dĩ vãng Ba mươi năm thoáng ngủ giấc hao gầy..."
Hà nội- Saigon. những nơi chốn tràn đầy kỷ niệm. Mỗi một người tha hương, đọc những trang sách, ngâm những câu thơ , như bước chân hành hương trở về thánh địa tâm hồn. Những lúc trời trở gió, trong cái gào thét lồng lộn của đất trời, tự nhiên nghe trong lòng mênh mang những rung cảm làm nặng nề vuông ngực. Ở xứ người, chỉ một tên gọi, dù Hà nội hay Saigon, cũng chứa đựng đầy và mênh mang niềm nhớ.
Bài mở đầu cuộc phỏng vấn người về từ một nơi chốn mà hành trình không ngờ trước được trong cái tình cờ của thời thế có âm vọng của những bàn tay vẫy gọi. Rất văn chương nhưng cũng thật chân thành, ngôn ngữ như mở ra một cánh cửa để tưởng tượng ùa vào, để nỗi niềm người ly xứ như tượng hình bằng những chi tiết thực:
"... Hà Nội, bài hát của Hoàng Dương là Hà Nội 20 năm trước. Hà Nội của một triệu người rời bỏ vào năm 1954. Hà Nội với tà áo màu tung gió, với những tiếng guốc reo vuị Hà Nội mà những người đứt ruột bỏ đi, đã nuôi nấng một mong ước, giữ chặt một niềm tin. Hoàng Dương đã nói trong bài hát của ông" hãy tin ngày ấy anh về". Hà Nội 36 phố phường, Hà Nội mà nhạc sĩ Trần Văn Nhơn của chúng ta đã gọi là "Trái Tim của VN" Hà Nội mà với mùa th u cuối cùng ta bỏ đi xanh xao như mất máu đó hà Nội bây giờ ra sao? Trong hai mươi năm chiến tranh tàn phá, trong hai mươi năm người Hà Nội bỏ đi, hai mươi năm Hà Nội sống dưới chế độ CS, cái trái tim của VN đó đã đập như thế nào? Những Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Bông, Hàng Gai, Hồ gươm, Hồ Trúc Bạch, Hồ Bẩy Mẫu,... những gì thay đổi? Người Hà nội bây giờ sinh sống ra sao?..."
Trong những câu hỏi, Phạm Huấn đã trả lời thành thực bằng tấm lòng của mình. Tâm cảm của một thanh niên Hà Nội bao giờ cũng tiềm ẩn nét lãng mạn, của một thời hoa mộng được dệt bằng những nỗi nhớ thương mong manh nhưng lại bền chặt nhất. Mấy ai quên được một thời đã qua, mấy ai bỏ đi được những bóng hình khắc sâu trong tâm tưởng. Về mái nhà xưa, nhưng chẳng được vào, để cảnh cũ như những dấu tích của tang thương của biển dâu thay đổi.
Trả lời câu hỏi: Thế anh đi bằng con đường đó, cây cột Đồng Hồ ở đường Bờ Sông có còn không? Phạm Huấn đáp:
"cây cột Đồng Hồ vẫn còn. Tôi có thể nói ngay với các anh là trung tâm thành phố Hà Nội, ngoài Tòa Tổng lãnh sự Pháp ở đường Trần Hưng Đạo (Gambetta cũ) bị sập, còn tất cảnhững đường phố chính mà trước kia biết rất đẹp như đường Lý Thường Kiệt, Gia long, Tràng Tiền, Tràng Thi,chung quanh Hồ Hoàn Kiếm.v..v.. thì còn nguyên vẹn. Nhưng rất tiếc tôi không hiểu tại sao thủ đô Hà Nội sau 19 năm dưới chế độ CS, bây giờ tiêu điều và xơ xác quá. Không có một kiến trúc nào đặc biệt tại Hà Nộiso với trước năm 1954. Tôi tưởng hà Nội tiêu điều nhưng không ngờ đến quá sức tưởng tượng như tôi nghĩ. Khu trung tâm thành phố như Gia Long, Tràng Thi,Tràng Tiền,... nhà cửa trông rất là cũ kỹ, không được sửa sang quét vôi gì hết. Tôi có cảm tưởng như đã 10, 15 năm nay không được quét vôi lạịĐi trên những con đường đó, nhìn thấy dân chúng phơi quần áo, tôi xin lỗi được tả chân, phơi cả những cái quần đen, những áo màu cháo lòng trên cửa sổthì còn gì là phố xá, nhà cửa của Hà Nội?
Hỏi: Anh có đi ngang qua căn nhà mà anh ở khi xưa không? Đáp: Tôi có được đi ngang qua căn nhà trước khi di cư vào nam tôi trọ học. Tôi xúc động lắm, muốn khóc được. Còn y hệt nhưng tiêu điều xơ xác trông thật buồn thảm. Ở góc đường Lý thường Kiệt và Gia Long gần trường trung học Nguyễn Trãi... "
Trước khi đọc "Một Ngày ở Hà Nội" tôi đã đọc Đêm Giã Từ Hà Nội của Mai Thảo, Ung Thư của Thanh Tâm Tuyền, Áo Mơ Phai của Nguyễn Đình Toàn, Nhớ về Hà Nội của Nguyễn Mạnh Côn,.. Thế mà, sao kỳ lạ, vẫn chung một cảm giác. Hai chữ Hà Nội như có một tính linh thiêng kỳ bí nào lôi cuốn. Giở những trang sách, như thấy lại những khung cảnh cũ...
Mấy ngày hôm nay, ở Cali, trời trở lạnh. Buổi sáng đi làm, đã phải mặc áo ấm và ngoài trời sương mù dầy dặc. Thời tiết làm tâm hồn bâng khuâng hơn. Tầm nhìn mờ đục trước mặt như có một nỗi niềm nào dàn trải. Thì lúc ấy, nghe trên đài phát thanh, tin nhà báo Phạm Huấn vừa từ trần. Thực ra, Phạm Huấn làm rất nhiều công việc: viết văn, làm báo, làm lính, làm phóng viên chiến trường và cả làm diễn viên điện ảnh nữa. Tôi được nghe ông chú tôi là bạn khá thân của anh Phạm Huấn từ nhiều chục năm nay kể về những chi tiết của cuộc đời anh và riêng trong suy nghĩ tôi anh là một mẫu người đặc biệt. Thế mà, cuộc đời có nhiều cái bất ngờ không hiểu nổi. Ông chú tôi nói một người mạnh khỏe đẹp trai như Phạm Huấn mà cuối đời bị căn bệnh quái ác khiến ký ức trở thành quên lãng muôn năm.
Tôi nhớ có lần mình đã viết về cuốn sách "Những uất hận trong trận chiến mất nước 1975" đã dẫn nhập bằng thơ Nguyễn Bắc Sơn và có trích đoạn những câu đối đáp giữa một ông tướng tư lệnh Vùng và người lính binh nhì trong chiến trận ở phi trường Phụng Dực. Nhà văn Phạm Huấn có lần điện thoại nói chuyện với tôi tỏ ý thích những chi tiết ấỵTôi có nói rằng em chưa gặp anh nhưng biết về anh rất nhiều. Ông hỏi tại sao và tôi có nói tên người chú mà cũng là người bạn của ông. Ông cười và tâm sự rằng trong đời ông mê nhất vẫn là vai trò phóng viên chiến trường. Và, ông đã làm được công việc mà ông ưa thích ấy. Vì hoàn cảnh, nhiều khi ông đã phải làm chứng nhân cho những biến cố lịch sử ngặt nghèo và từ đó thấu hiểu nhiều hơn thân phận của nước nhược tiểu. Không ai là không yêu nước nhưng có những bó buộc làm quyết định cá nhân nhiều khi là những điều mà thật tình trong thâm tâm những người trong cuộc không muốn...
Bây giờ, tât cả những điều ấy anh đã quên từ trước. Trong hoàn cảnh bỏ nước lưu vong, ai mà chẳng có nỗi niềm. Chắc hành trang ra đi của anh sẽ nhẹ tênh. Chuyến song loan đưa anh về thiên cổ đã một lần chuyển bánh. Vĩnh biệt người phóng viên chiến trường Phạm Huấn. Có phải anh sẽ trở về. Về Hà Nội như anh đã trở về vào ngày 18 tháng 2 năm 1973, cách nay hơn ba chục năm. Hay là trở về Pleiku, về Ban Mê Thuột,... những chiến địa xưa, nơi "hồn tử sĩ gió ù ù thổi. mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.."....
3G lụm được trên Net
Wednesday, July 05 2006
Nguyễn Mạnh Trinh
Với tôi, Hà nội chỉ là một thế giới xa lạ nhưng đầy tưởng tượng. Năm 1954, khi di cư vào Nam, lúc ấy tôi còn quá nhỏ để có một ký ức. Phần đông, kỷ niệm trong đời sống của ấu thơ tôi đều là Saigon, thành phố mà tôi lớn lên và trưởng thành. Mỗi con phố, mỗi ngõ hẻm, đều in dấu những tháng ngày trải qua, luôn sinh động trong bộ nhớ. Thành phố ấy, có thể như một phần đời sống ...
Nhưng, Hà Nội, lại là một thành phố trong tưởng tượng với tôi. Và, vì không thực nên có những nét đẹp huyền ảo của vẽ vời suy tư, của những nhân vật được phác họa bằng tất cả những nét lung linh nhất.
Trong văn chương, tôi đọc những cuốn sách, để thấy lại cả một khung trời tưởng nhớ, một thánh địa để nghĩ đến và tìm về. Những Thạch Lam, Vũ Bằng, Hồ Hữu Tường,... thời tiền chiến đến Mai Thảo, Nguyễn Đình Toàn, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn,... của 20 năm văn học miền Nam, đã làm rực rỡ hơn trong tôi những nồng nàn của một thế giới thơ mộng đã mất hút xa nhưng thật gần gũi trong tâm tưởng. Nhưng khi đọc "Một Ngày tại Hà Nội, 18-2-1973" của Phạm Huấn, tôi như đi lạc vào một thế giới khác mà nỗi bồi hồi cảm xúc đã lan ra từ những dòng chữ, những biểu tỏ. Không phải như trường hợp "Hồi hương ngẩu thư" sao lại giống như trong suy nghĩ. "Chắc chắn trong buổi trùng phùng cũng có nỗi xúc động ứa lệ" tác giả đã nói như thế trong buổi phỏng vấn. Hạ Tri Chương ngày xưa" Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi. Hương âm vô cải mấn mao thôi. Nhi đồng tương kiến bất tương thức.
Tiếu vấn "khách tòng hà xứ lai". (Xa nhà ấu thơ, về đã già. Quê mùa giọng cũ, tóc sương phạ Bạn cũ thân quen nay mặt lạ. Cười hỏi:" Khách về tự chốn xả")... Phạm Huấn thì khác. Về chốn xưa, nhưng trong một cung cách khác. Của một người đi nói chuyện với những người tuy cùng máu mủ đồng bào nhưng là đối thủ dàn ra hai trận tuyến. Về, với cái đón tiếp lạnh lùng đầy nghi kỵ. Về, với cái tâm trạng vỡ òa của một người vừa làm vỡ một cái gì trân quí nhất. Cái tâm trạng của người vừa đánh mất một phần đời sống mình. Trong tình cờ của lịch sử, những người mặc quân phục VNCH trở về nơi chốn mà mình đã rời bỏ thời gian trước. Có một phút nao lòng với những tâm tưởng cũ nhưng cũng có nỗi rưng rưng của cuộc trùng phùng không ngờ tới được trong thời điểm ấy. Sau Hiệp đinh Paris, quân Mỹ đã rút về nước nhưng chiến tranh vẫn còn, vẫn còn cảnh những người đồng bào ghìm súng hầm hè nhau trong những cuộc chiến sinh tử. Miền Nam, miền Bắc, hai phía vẫn chưa ngừng cuộc chiến ủy nhiệm thời chiến tranh lạnh. Tác giả, trong "Một Ngày tại Hà Nội", đã có nỗi niềm chua chát đắng cay của những người đã đặt niềm tin vào một điều gì rồi bị phản bội một cách trắng trợn. Thành phố đã đổi, những xưa cũ đã mất đi và những cảnh tượng mới làm quăn lòng người trở về.
Ông viết: "... ngồi trên chuyến xe di chuyển từ Gia lâm về Hà Nội, nhìn thấy Hồ Gươm, tháp Rùa, tôi có trong lòng một nỗi xao xuyến muốn làm ứa lệ. Tôi biết rằng, nhìn thấy Hà Nội đây, là nhìn thấy hàng triệu đôi mắt của người xa Hà Nội năm nào. Tôi đang di chuyển an lành trên những đường phố Hà Nội đây,là đòi hỏi bằng xương máu của bao nhiêu bạn hữu, bao nhiêu huynh đệ, bao nhiêu người quen biết và không quen biết, đã chết và còn sống, của 17 triệu dân miền Nam yêu nước đang trông ngóng một ngày hòa bình, thống nhất nhưng không phải là hòa bình với bất cứ giá nào, thống nhất với bất cứ giá nàọTôi hiểu được tại sao con người có tình riêng nhưng không thể tách rời ra khỏi tập thể. Con đường này, xưa chúng tôi hàng ngày đi qua, cắp sách đến trường. Căn nhà này, xưa, tôi đã ở. Bạn bè tôi xưa, những ai còn, ai mất?
Người yêu tôi xưa, bây giờ bao tuổi, bao già? Tôi có thể gọi tên từng đứa bạn, gọi ị tên từng người con gái đẹp của Hà Nội khi xưa, tôi có thể chỉ đúng căn nhà họ ở, bây giờ họ còn ở đây chăng? Ngồi trên máy bay nhìn xuống, Hà Nội giống như một khuôn mặt kiều diễm. Tháp Rùa chẳng khác cái nốt ruồi của thành phố! Tôi biết rằng, nếu biết được tôi nghĩ như thế, có ai sẽ mỉm cười. cái câu con trai nhảy chân sáo trên lối đi này khi xưa là tên vẫn còn ẩn núp trong tôi thật sao? Tôi mừng biết bao, khi nhận ra, với ba mươi năm liền nghe súng nổ, nhìn thấy khói, ngửi mùi tử khí, tai tôi chưa điếc, mắt tôi chưa mờ, ũi tôi vẫn còn phân biệt được những mùi hương phảng phất của sương mù tháng giêng Hà Nội.
Nỗi nhớ thương Hà Nội đã choáng ngập tâm trí đến độ trong khoảnh khắc tôi không còn nhận ra Hà Nội Đã Không Còn Là Hà Nội Nữa..."
Nếu tôi trở về lại Saigon, chắc chắn tôi sẽ có cảm xúc y hệt như vậy.
Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ? Câu hỏi ấy, trong âm hưởng tạo thành nao nao cảm giác trong da trong thịt. Một thi sĩ nào đó, đã gọi thành phố mất tên trong buổi trở về như một níu kéo để tìm về những kỷ niệm cũ, những hình bóng xưa. Thi sĩ ấy , chắc cũng đồng điệu với tác gỉa "Một ngày tại Hà Nội" dù viết về Saigon. Tự nhiên, như là lời tâm sự của riêng tôi, trong lời thơ diễn tả...Thơ chia sẻ như một tri âm với người tri kỷ...
"Khi trở lại tôi kêu tên Saigon Như ba mươi
năm qua thường buổi sáng Uống ly cà phê không đường đen đậm Quán cóc hẩm hiu lưỡi đắng nụ cười Khi trở lại phố xưa tuổi đôi mươi Ngọn dốc cầu cao nghe chừng khác lạ Bánh xe nào hằn dấu vết rã rời Những hẻm cụt giấc khuya về vội vã. Khi trở lại tôi gọi hoài tuổi trẻ Như mắt em nồng nàn ánh mặt trời Buổi sáng áo bay trong buồn lặng lẽ ai gọi ai cho héo úa tình phai con kinh nước đen mùi bùn vương vấn cỗ xe già nua về lại bến ven đường mưa như trút buổi chiều nào địa chấn em xa tôi lòng buốt xót vết
thương khi trở lại tôi làm người dừng bước hai ven đường ngọn cỏ mọc dửng dưng chân lạ lắm đã hết rồi tiếng guốc cửa nhà em đóng lại rất lạnh lùng Saigon vẫn nhớ hay là trong quên lãng Khách lạ tôi tạm trú dưới hàng cây Thấy con sẻ ríu rít hoài dĩ vãng Ba mươi năm thoáng ngủ giấc hao gầy..."
Hà nội- Saigon. những nơi chốn tràn đầy kỷ niệm. Mỗi một người tha hương, đọc những trang sách, ngâm những câu thơ , như bước chân hành hương trở về thánh địa tâm hồn. Những lúc trời trở gió, trong cái gào thét lồng lộn của đất trời, tự nhiên nghe trong lòng mênh mang những rung cảm làm nặng nề vuông ngực. Ở xứ người, chỉ một tên gọi, dù Hà nội hay Saigon, cũng chứa đựng đầy và mênh mang niềm nhớ.
Bài mở đầu cuộc phỏng vấn người về từ một nơi chốn mà hành trình không ngờ trước được trong cái tình cờ của thời thế có âm vọng của những bàn tay vẫy gọi. Rất văn chương nhưng cũng thật chân thành, ngôn ngữ như mở ra một cánh cửa để tưởng tượng ùa vào, để nỗi niềm người ly xứ như tượng hình bằng những chi tiết thực:
"... Hà Nội, bài hát của Hoàng Dương là Hà Nội 20 năm trước. Hà Nội của một triệu người rời bỏ vào năm 1954. Hà Nội với tà áo màu tung gió, với những tiếng guốc reo vuị Hà Nội mà những người đứt ruột bỏ đi, đã nuôi nấng một mong ước, giữ chặt một niềm tin. Hoàng Dương đã nói trong bài hát của ông" hãy tin ngày ấy anh về". Hà Nội 36 phố phường, Hà Nội mà nhạc sĩ Trần Văn Nhơn của chúng ta đã gọi là "Trái Tim của VN" Hà Nội mà với mùa th u cuối cùng ta bỏ đi xanh xao như mất máu đó hà Nội bây giờ ra sao? Trong hai mươi năm chiến tranh tàn phá, trong hai mươi năm người Hà Nội bỏ đi, hai mươi năm Hà Nội sống dưới chế độ CS, cái trái tim của VN đó đã đập như thế nào? Những Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Bông, Hàng Gai, Hồ gươm, Hồ Trúc Bạch, Hồ Bẩy Mẫu,... những gì thay đổi? Người Hà nội bây giờ sinh sống ra sao?..."
Trong những câu hỏi, Phạm Huấn đã trả lời thành thực bằng tấm lòng của mình. Tâm cảm của một thanh niên Hà Nội bao giờ cũng tiềm ẩn nét lãng mạn, của một thời hoa mộng được dệt bằng những nỗi nhớ thương mong manh nhưng lại bền chặt nhất. Mấy ai quên được một thời đã qua, mấy ai bỏ đi được những bóng hình khắc sâu trong tâm tưởng. Về mái nhà xưa, nhưng chẳng được vào, để cảnh cũ như những dấu tích của tang thương của biển dâu thay đổi.
Trả lời câu hỏi: Thế anh đi bằng con đường đó, cây cột Đồng Hồ ở đường Bờ Sông có còn không? Phạm Huấn đáp:
"cây cột Đồng Hồ vẫn còn. Tôi có thể nói ngay với các anh là trung tâm thành phố Hà Nội, ngoài Tòa Tổng lãnh sự Pháp ở đường Trần Hưng Đạo (Gambetta cũ) bị sập, còn tất cảnhững đường phố chính mà trước kia biết rất đẹp như đường Lý Thường Kiệt, Gia long, Tràng Tiền, Tràng Thi,chung quanh Hồ Hoàn Kiếm.v..v.. thì còn nguyên vẹn. Nhưng rất tiếc tôi không hiểu tại sao thủ đô Hà Nội sau 19 năm dưới chế độ CS, bây giờ tiêu điều và xơ xác quá. Không có một kiến trúc nào đặc biệt tại Hà Nộiso với trước năm 1954. Tôi tưởng hà Nội tiêu điều nhưng không ngờ đến quá sức tưởng tượng như tôi nghĩ. Khu trung tâm thành phố như Gia Long, Tràng Thi,Tràng Tiền,... nhà cửa trông rất là cũ kỹ, không được sửa sang quét vôi gì hết. Tôi có cảm tưởng như đã 10, 15 năm nay không được quét vôi lạịĐi trên những con đường đó, nhìn thấy dân chúng phơi quần áo, tôi xin lỗi được tả chân, phơi cả những cái quần đen, những áo màu cháo lòng trên cửa sổthì còn gì là phố xá, nhà cửa của Hà Nội?
Hỏi: Anh có đi ngang qua căn nhà mà anh ở khi xưa không? Đáp: Tôi có được đi ngang qua căn nhà trước khi di cư vào nam tôi trọ học. Tôi xúc động lắm, muốn khóc được. Còn y hệt nhưng tiêu điều xơ xác trông thật buồn thảm. Ở góc đường Lý thường Kiệt và Gia Long gần trường trung học Nguyễn Trãi... "
Trước khi đọc "Một Ngày ở Hà Nội" tôi đã đọc Đêm Giã Từ Hà Nội của Mai Thảo, Ung Thư của Thanh Tâm Tuyền, Áo Mơ Phai của Nguyễn Đình Toàn, Nhớ về Hà Nội của Nguyễn Mạnh Côn,.. Thế mà, sao kỳ lạ, vẫn chung một cảm giác. Hai chữ Hà Nội như có một tính linh thiêng kỳ bí nào lôi cuốn. Giở những trang sách, như thấy lại những khung cảnh cũ...
Mấy ngày hôm nay, ở Cali, trời trở lạnh. Buổi sáng đi làm, đã phải mặc áo ấm và ngoài trời sương mù dầy dặc. Thời tiết làm tâm hồn bâng khuâng hơn. Tầm nhìn mờ đục trước mặt như có một nỗi niềm nào dàn trải. Thì lúc ấy, nghe trên đài phát thanh, tin nhà báo Phạm Huấn vừa từ trần. Thực ra, Phạm Huấn làm rất nhiều công việc: viết văn, làm báo, làm lính, làm phóng viên chiến trường và cả làm diễn viên điện ảnh nữa. Tôi được nghe ông chú tôi là bạn khá thân của anh Phạm Huấn từ nhiều chục năm nay kể về những chi tiết của cuộc đời anh và riêng trong suy nghĩ tôi anh là một mẫu người đặc biệt. Thế mà, cuộc đời có nhiều cái bất ngờ không hiểu nổi. Ông chú tôi nói một người mạnh khỏe đẹp trai như Phạm Huấn mà cuối đời bị căn bệnh quái ác khiến ký ức trở thành quên lãng muôn năm.
Tôi nhớ có lần mình đã viết về cuốn sách "Những uất hận trong trận chiến mất nước 1975" đã dẫn nhập bằng thơ Nguyễn Bắc Sơn và có trích đoạn những câu đối đáp giữa một ông tướng tư lệnh Vùng và người lính binh nhì trong chiến trận ở phi trường Phụng Dực. Nhà văn Phạm Huấn có lần điện thoại nói chuyện với tôi tỏ ý thích những chi tiết ấỵTôi có nói rằng em chưa gặp anh nhưng biết về anh rất nhiều. Ông hỏi tại sao và tôi có nói tên người chú mà cũng là người bạn của ông. Ông cười và tâm sự rằng trong đời ông mê nhất vẫn là vai trò phóng viên chiến trường. Và, ông đã làm được công việc mà ông ưa thích ấy. Vì hoàn cảnh, nhiều khi ông đã phải làm chứng nhân cho những biến cố lịch sử ngặt nghèo và từ đó thấu hiểu nhiều hơn thân phận của nước nhược tiểu. Không ai là không yêu nước nhưng có những bó buộc làm quyết định cá nhân nhiều khi là những điều mà thật tình trong thâm tâm những người trong cuộc không muốn...
Bây giờ, tât cả những điều ấy anh đã quên từ trước. Trong hoàn cảnh bỏ nước lưu vong, ai mà chẳng có nỗi niềm. Chắc hành trang ra đi của anh sẽ nhẹ tênh. Chuyến song loan đưa anh về thiên cổ đã một lần chuyển bánh. Vĩnh biệt người phóng viên chiến trường Phạm Huấn. Có phải anh sẽ trở về. Về Hà Nội như anh đã trở về vào ngày 18 tháng 2 năm 1973, cách nay hơn ba chục năm. Hay là trở về Pleiku, về Ban Mê Thuột,... những chiến địa xưa, nơi "hồn tử sĩ gió ù ù thổi. mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.."....
3G lụm được trên Net
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
anh Lính già ơi ,đọc lại bài này ....làm tôi nhớ nhà báo quân đội Phạm Huấn quá , nhớ lại những ngày gặp anh ở Phòng báo chí Quân đội ,nhớ lại những ngày ghé nhà anh ăn cơm chiều ...với người em vợ ....
và không biết ngày nào tôi được trở về Hà nội - nơi sinh trưởng của tôi cách đây đã 60 năm . và tôi xa Hà nội 52 năm .
và không biết ngày nào tôi được trở về Hà nội - nơi sinh trưởng của tôi cách đây đã 60 năm . và tôi xa Hà nội 52 năm .
Chuyện dành cho những người thích đùa
:::Trần Hoài Văn:::
Thằng bạn Ba lan sau hơn một tháng đóng vai " Tây ba lô" du lịch ở Việt nam về, gặp tôi nói giọng đầy cảm kích:
- Dân Việt nam bọn mày ăn chơi thật!
- Dĩ nhiên rồi! Tôi hào hứng hét lớn.
- Lại khoẻ nữa, nghĩa là cái khoản sex ấy mà!
- Đích thực là thế! Giọng tôi bắt đầu lạc đi vì quá phấn khởi .
- Nhưng mà bẩn. Đường xá chật chội, xe cộ đi lại tùm lum, không luật lệ, bụi mù mịt. Hàng quán thì toàn ruồi. Sex ở mọi nơi, mọi chỗ, mất vệ sinh lắm.
Nó nói những câu cuối một cách vội vã, rồi lấm lét nhìn. Còn tôi, đang phiêu diêu trên tận đỉnh ngọn tre vì được đi tàu bay giấy, thì bất ngờ bị quật cho một cú ngã giập bi. Híp một bên mắt vào cho cái sự nhìn tăng thêm phần tàn nhẫn, tay xoa đít , tôi căng óc ra tìm cách chống chế : "Thì ai bảo mày, nghĩa là tại mày...". Nhìn vẻ mặt thiểu não của tôi, thằng bạn thương hại : " Không tin thì cuối năm nay về , mày cứ thử tìm hiểu, để ý kĩ mà xem tao nói có đúng không?". Nén giận, nuốt cục nghẹn đang đầy ứ ở cổ họng. Tôi quyết định cuối năm về phải đi "tìm hiểu thực tế" để xem thực hư ra sao?
Buồn quá, vì hoá ra nó đúng! Thôi, không dám làm mất thì giờ của bạn . Xin miễn kể chuyện giao thông ở ta ra sao; đường xá chật chội, bẩn thỉu thế nào; xe cộ phóng bạt mạng, luồn lách hệt như cách sống của những người điều khiển nó. Cũng bỏ qua chuyện ăn uống; chỉ xin bạn đừng quá ngạc nhiên khi thường xuyên thấy trong bát phở có vài sợi tóc nằm hờ hững hay giữa vại bia có mấy chú ruồi cắm đầu bơi mải miết, hoặc là chuyện cả Hà nội xôn xao lên vì bánh phở có phoóc môn ướp xác người ... Chỉ xin sơ qua vài nét về cái "khoản kia", sơ qua thôi nhé, kẻo lại mang tiếng là " nhục dục, tầm thường, tục tĩu..." Hà hà! Hỡi những con người đáng kính, các ngài cứ việc trưng ra những quyển sách dày cộp, bìa cứng, gáy mạ nhũ vàng mà bản thân các ngài rất ít khi đọc, nếu có đọc thì chưa chắc đã hiểu gì; các ngài cứ việc rao giảng những điều không có thật trên đời này. Chỉ xin các ngài cho chúng tôi, (những kẻ người trần mắt thịt - thích được sống thật với mình) một khoảng trời riêng.
* * *
Dân ta quả thực là ...máu sex. Điều này được thể hiện một cách gần như công khai, nhan nhản trên các bảng hiệu quảng cáo. Tất cả những gì có đuôi " ôm", " thư giãn" đều đồng nghĩa với sex( có chăng chỉ trừ xe ôm). Này nhé : đầu tiên là cafe ôm, sau đó đến bia ôm, karaoke ôm, bi da ôm, tắm ôm, lại còn ... câu cá ôm nữa chứ! Nhưng cho dù tên gọi có khác nhau, tựu trung lại, thực chất của vấn đề cũng chỉ là một trong “ tứ khoái” ! Để khỏi mất thời gian, mời bạn cùng tôi thưởng thức một loại hình mang tính tiêu biểu:
Karaoke ôm
Quê hương của karaoke bắt nguồn từ thành phố Kobe( Nhật bản). Karaoke là từ ghép tiếng Nhật : " kara" bắt nguồn từ "karappo"- có nghĩa là trống rỗng; còn " oke" là từ viết tắt của "okesutura" - nghĩa là ban nhạc. Thường thì một bài hát được thu thanh bao giờ cũng có phần âm và phần nhạc đệm. Các băng đĩa nhạc chỉ có phần nhạc đệm thì được gọi là karaoke.
Ở Hà nội, mới chỉ khoảng dăm năm đổ lại, người ta tập tọng du nhập loại hình giải trí này về. Lúc đầu karaoke được kinh doanh theo kiểu mạnh ai nấy hát, màn hình bung ra vỉa hè, người hát lùi xuống lòng đường. Thực ra, đến quán karaoke là một thứ giải trí lành mạnh. Trong mỗi chúng ta đều có một nghệ sĩ đang ngủ, chỉ chờ dịp được đánh thức. Vả lại, ca hát là một nhu cầu cần thiết cho con người. Có thể là ta hát không hay, thậm chí không biết hát, nhưng khi cầm micro ngân nga theo tiếng nhạc, thả hồn vào lời ca và ta bỗng thấy trong một thoáng được làm nghệ sĩ. Hay lắm chứ! Không tin, bạn cứ để ý mà xem, từ chú nhóc con mặt mới nổi trứng cá đến những ông, bà dù đã có rất nhiều mảnh tình rách vắt vai, vẫn hết sức say sưa rên rỉ " đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn...".
Nhưng đấy là chuyện ngày xưa, còn ngày nay, đến karaoke hát chỉ là phụ. Không còn đâu đám người ngồi xổm ngoài vỉa hè vừa hát vừa cạy gỉ mũi, thay vào đó là những phòng hát thuộc loại model nhất: Tường ốp gỗ được trang trí bằng đèn huỳnh quang và tranh sex, sàn trải thảm, ghế bành mềm, và tất nhiên là một dàn karaoke loại "xịn".
Những ngày ở Hà nội, tôi hay đi " hát" cùng với thằng bạn học thời phổ thông và hai người bạn vong niên đã ở tuổi ngoài 70. Đó là hai gã rất ham chơi, cực thanh niên tính và có một tình yêu kinh khủng với cuộc đời này. Tôi không biết phải xưng hô thế nào cho phải đạo, vì ngoài đời thì cứ ông ông con con, nhưng mỗi lần đi "hát ", trước khi vào cửa, hai gã lừ mắt : " Không có ông con gì đâu nhé, cứ bài cũ mà diễn, nghe chưa?" Hai chúng tôi " Dạ" ran. Bài cũ là thế này : chúng tôi phải gọi một vị là " sư trưởng ", vị kia là " chính uỷ" và xưng "em". Có trời mà biết tại sao hai ông già chơi trống bỏi này lại khoái kiểu xưng hô sặc mùi nhà binh như như vậy? Có lẽ cho ra vẻ phong trần? “Sư trưởng” tên thật là Hoàng, 75 tuổi, thời trẻ là một tay giang hồ mã thượng loại ác chiến, võ nghệ thấy bảo cũng vào loại khá, nay làm ngề châm cứu, tay nghề đáng bậc thầy thiên hạ. Đặt cả nắm kim trong lòng bàn tay trái, ngón cái và ngón trỏ của bàn tay phải nhặt từng chiếc, vê vê rồi nhanh như cắt, “sư trưởng” gật mạnh cổ tay, chiếc kim bay vù cắm phập vào đúng huyệt đạo. Con bệnh không kịp có cảm giác đau đớn, cho đến khi chiếc kim cuối cùng đã yên vị, ngay ngắn như người lính trong hàng quân. “Chính ủy” trẻ hơn, mới có 73, nguyên làm nghề chữa xe đạp ở ngay ngoài đầu ngõ nhà tôi. Không rõ ngài làm cái nghề này từ bao giờ. Chỉ biết rằng hồi tôi còn bé tí, đã thấy ngài suốt ngày cởi trần, mặc quần đùi ngồi chồm hỗm vá xe ở vỉa hè, hai hột dái luôn thò ra ngoài ( mà ngài dùng thuật ngữ chuyên môn để giải thích một cách hết sức văn hoa rằng : ấy là hiện tượng “kẹp săm” !). Rất lạ, là ngài làm không hết việc, toàn khách quen ; có mấy bà, mấy cô cứ vài hôm lại dắt xe đến cho ngài " vá". Riêng tôi, hồi đó rất sợ và ghét ngài, vì mỗi khi trông thấy tôi, bao giờ ngài cũng gọi lại, rồi chậm rãi, thong thả thò hai ngón tay vào lưỡi, vét một ít nước bọt bôi vào má tôi, sau đó bắt trật quần xuống, cũng lại hai ngón tay dính đầy nước bọt đó búng một cái đau điếng vào đầu chim - " Cho nó khoẻ!" , ngài cười hề hề, rồi quăng cho tôi năm xu để ăn ô mai. Không xa xôi gì, mới hôm trước, thằng con trai tôi từ đâu chạy về, mặt mũi méo xệch : " Bố ơi, cái ông gì ngoài đầu phố cứ bôi nước bọt vào mặt con, lại còn sờ chim nữa. Bố đánh ông ấy đi!". Ôm thằng con trai vào lòng, tôi cay đắng dỗ dành : " Hy vọng là đến khi mày lấy vợ và có con trai thì lão ta ngoẻo mẹ nó rồi! Chứ nếu không thì cả ba đời nhà mình bị lão bôi nước bọt và bóp dái đấy con ạ!". Độ mươi năm nay, “chính ủy” không còn vá xe nữa. Mấy đứa con của ngài và Hoàng “sư trưởng” sang Đức xuất khẩu lao động rồi ở lại luôn bên đó, thấy bảo làm ăn được lắm. “Chính ủy” và “sư trưởng” chỉ việc ở nhà ăn chơi bằng tiền của con gửi về.
Lại nói, bọn chúng tôi hay rủ nhau đi " hát". Lang thang hết hang cùng ngõ hẻm, cứ chỗ nào hay là chúng tôi mò đến. Có một chỗ mà " sư trưởng " và "chính uỷ" cực thích, tiệm " Ấn tượng". Danh bất hư truyền, quả thật là ấn tượng. Đó là buổi đầu xuất quân của bốn thày trò chúng tôi .
Ở đây, không khí bên ngoài lại vắng lặng khác hẳn những nơi khác. Các thượng đế lập tức được dẫn qua chiếc cầu thang trong bóng tối đen kịt và vào một căn phòng khoảng 16 m2. Sau vài phút yên vị, cửa mở, bảy, tám cô gái (độ tuổi 20) trong bộ quần áo khêu gợi được dẫn ra "chào hàng"... để khách thoải mái lựa chọn. Một cô lên giọng tuyên bố sắp bắt đầu màn trình diễn bằng thứ văn phong hành chính mà ta thường gặp ở trong các bản thông báo về giải toả nhà đất của UBNN thành phố: "Từ bây giờ các anh đền bù (tiền boa) thế nào thì chúng em giải toả (thoát y) thế ấy nhé!".
Mỗi tiết mục có giá biểu bất di bất dịch: 50.000 đồng cho mỗi "diễn viên". Tiết mục 1: Các cô ra mắt "ban giám khảo" chỉ với chiếc áo dây mỏng tanh và tự giới thiệu là "không quần, áo lót bên trong". Tiết mục 2: Bằng một động tác nhẹ nhàng, thành thục, các cô tháo nút dây duy nhất của chiếc áo phía sau cổ để nó bay xuống đất... Tiết mục 3: Bắt đầu các vũ điệu lắc mông, lắc ngực, uốn éo thân thể... trong tình trạng "giải toả trắng". Bối rối mất một lúc, chúng tôi cũng chọn được bốn em. Tôi cầm quyển danh mục, mân mê chỉ vào mấy bài hát thời chống Mỹ. Một em nhìn tôi như thể nhìn người Sao Hỏa, bảo: "Anh hát toàn bài lạ". Tôi hơi lóng ngóng rồi cũng quả quyết cầm lấy micro. Té ra lâu lắm rồi tôi mới được nghe từ chính miệng mình những giai điệu một thời nhiều người hát, nhiều người thích. "Tình ca", "Lá đỏ", "Bài ca Hà Nội"..
Tôi hát say sưa, chỉ hơi bực mình vì hình ảnh minh hoạ cứ lộn xộn, râu ông nọ cắm cằm bà kia. Thay vì màn tỏ tình thật lãng mạn, vài thằng cha nhảy múa loạn xị ngậu trong "Vòng tay cầu hôn". Ai đời hát về Hà Nội chỉ thấy Paris với tháp Eiffel lừng lững, hát "Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây" lại chỉ thấy mấy em người mẫu ưỡn ẹo ngoáy mông trên bờ biển. Trong khi đó, các em "ca ve "thoăn thoắt mở bia, bóc bim bim, bật nước hoa quả rồi gí vào tận mồm khách. “Sư trưởng” và “chính uỷ” cũng góp vui gọi là lấy lệ bằng hai bài tiền chiến " Suối mơ" cùng " Tiếng sáo thiên thai". Xong nhiệm vụ, mặc kệ cho chúng tôi gân cổ hò hét, hai ngài khoan khoái lim dim ngả người vào lòng các em, mười đầu ngón tay điệu nghệ , lả lướt gảy những giai điệu kinh người trên chiếc đàn nhiều trăm dây và nốc bia ừng ực. Một lúc, nghe chừng men đã ngấm, “chính uỷ” quay sang “sư trưởng” hỏi nhỏ : " Gái nhá?". Sư trưởng " Rõ!" một cách rất rất dõng dạc đúng tác phong quân đội. Trong chớp mắt, hai cụ vận khinh công cắp các em vào nách nhảy hai bực cầu thang một lên tầng trên, nơi có phòng chờ sẵn.
Có một nhà báo đã bỏ công tổng kết , Hà Nội ít nhất cũng phải có trên 1.000 điểm karaoke mà trong đó một nửa là "ôm". Tính rụt rè, mỗi điểm 3 cô, Hà Nội đã có cả thảy trên dưới 3.000 cô - một con số đáng kinh ngạc nhưng lại còn lâu mới bằng thực tế. Các cô thường không ăn lương từ phía nhà chủ mà từ khách hàng. Mỗi lần ngồi trên lòng một anh nào đó là có 50.000 tiền "boa" trở lên, nếu chịu "thoáng" hơn tiền sẽ tăng lên. Một đêm lừa được 2 anh cũng có trăm hơn trăm kém, một tháng đôi ba triệu là chuyện vặt. Trộm nghĩ 3.000 "gái ôm" ở Hà Nội mỗi tháng moi ít nhất 9 tỉ đồng trong khoản "ngu phí" của cánh mày râu. Đấy mới chỉ là chi phí cho cái … tay! Cái sự chi này đem so với tất cả cuộc chơi lại chẳng bõ bèn gì. Thì đây: Bốn người vào quán, ngoài khoản "các em", những món tối thiểu phải tiêu là 20 lon bia, 8 bimbim, 8 bò khô, 8 mực ép, 8 nước khoáng, 8 khăn lạnh... Bạn không thể uống? Xin mời, các em sẽ tận tụy rót vào mồm. Những thứ còn lại đều bị bật nắp hoặc bóc vỏ, nghĩa là đã dùng đến. Mỗi thứ ở đây khiêm tốn cũng đắt gấp rưỡi thị trường. Như vậy, giá tối thiểu cho riêng các món uống và nhâm nhi đã không dưới 500.000đ. Chưa hết, khoản " chân phí" bao giờ cũng lớn nhất. Trò đời là thế, " thằng nhỏ " ăn một phát bằng "thằng lớn" ăn cả tháng luôn. Ăn chơi tốn kém, ai lại tính toán! H. ( tên em “ ca ve” ) nói với tôi : “ Đến đây chủ yếu là những ông tiêu tiền chùa. Cặp bồ với dạng này khoái nhất, vì họ chi rộng tay, mặc dù “chơi” thì không ăn nhằm gì, toàn những ông bụng phệ. Nhưng thôi, miễn là nặng túi. Ghét nhất là mấy thằng công tử con quan, chỉ được cái hùng hục như chó, nhưng keo kiệt, hống hách thì không ai bằng. Thỉnh thoảng gặp được vị khách “ khoái khẩu”, thì tụi em sẵn sàng free ngay!”
( *) Trong đoạn trên có đôi chỗ sử dụng tư liệu của một số báo trong nước
Có một Câu lạc bộ như thế!
Một chiều thứ bảy, đang “sở lượn” gần chợ Hàng Da, thằng bạn tạt vào một hiệu đồ sắt. Gã chủ hiệu nháy mắt một cách tinh quái, không nói không rằng, chìa cho nó một bọc nhỏ. Bạn tôi giở ra kiểm tra, vẻ hài lòng hiện ra mặt. Dọc đường về, nó hỏi tôi : “ Mày có biết cái gì đấy không?” “ Chịu!”, tôi thực thà đáp. Quả thật, tôi không hiểu được, những quả tạ sắt to cỡ ngón tay út đó dùng để làm gì? Chẳng lẽ đấy lại là đồ trang sức, mà tai nào chịu cho thấu, nặng chết bà. “ Tối nay đi với tao, mày khắc biết!” Nó tỉnh bơ.
Vốn đã quen với những trò ma giáo của nó và hai thanh niên già, nên tôi cũng không bận tâm gì nhiều.
Buổi tối, nó phóng xe qua, rủ tôi đến phòng tập. Nghe hai chữ phòng tập, tôi hào hứng hẳn, vì từ hôm về đến giờ chỉ ăn nhậu, chân tay nghe chừng ngứa ngáy, thấy nhớ cái bao cát. Thằng này thế mà khá, tưởng nó bỏ nghề võ rồi, hoá ra vẫn đeo đẳng a?
Phòng tập đây rồi, nhưng sao lạ thế này? Tôi đảo mắt nhìn quanh, không thấy bao cát, không thấy mộc nhân, chẳng côn, cũng không gậy. Căn phòng chừng 30m2, được chia thành mấy chục ô, quây ni lon đến ngang bụng, trong mỗi ô có để một chiếc ghế đẩu. Chưa hết, võ sinh gì mà ăn mặc kì quái thế kia, thằng nào cũng trần như nhộng, trên mình chỉ mặc độc chiếc quần xịp. Lạ thực, có tiết kiệm vải như môn phái Nhất nam thì cũng phải đóng khố chứ, mà thằng này ngày trước dạy karate cơ mà? Tôi không còn biết đầu cua tai nheo ra làm sao nữa.
Thấy thầy đến, chúng kính cẩn cúi chào rồi từng thằng một đi vào ô. Trời ơi! Tôi thất kinh khi thấy cả bọn điềm nhiên tụt nốt chiếc quần xịp và ngồi ngay ngắn , đĩnh đạc trên ghế đẩu. Mặc kệ tôi đứng lặng đi vì ngạc nhiên, thằng bạn đến từng ô, phát cho mỗi đứa hai quả tạ nhỏ xíu mà tôi đã nhìn thấy hồi chiều.Tôi thực sự hoang mang và suýt ngất khi thấy chúng đeo những quả tạ xinh xinh đó vào ... ngón “thứ mười một”. Buổi tập bắt đầu bằng bài khởi động xoa nóng phần bụng dưới, đùi non, rồi thay vì " thất thập nhị huyền công" thì chúng “nâng lên hạ xuống” 72 lần.
Rít lấy rít để vài hơi thuốc, tôi hơi bình tĩnh trở lại và bắt đầu quan sát một cách chi tiết. Lớp có 15 học trò, phần lớn chỉ ngoài 20, có ba ông trạc ngũ tuần, đầu hói bóng như sư. Nhưng từ trẻ đến già, ai cũng rất nghiêm túc tập luyện, nét mặt thành kính. Mười lăm cái lưng trần bóng nhẫy mồ hôi gật gù theo nhịp lên xuống của … tạ. Thỉnh thoảng, lại nghe tiếng tạ rơi xuống nền bê tông đánh cạch, chắc anh bạn nào mệt quá. Sau phần tập ... gân, các lực sĩ tháo tạ, chuyển sang khí công với hai bài của Phật gia. Bài bản lắm, tiếng thở nhẹ, sâu, đan điền cương lên, xẹp xuống, chứng tỏ chúng đã đạt đến một trình độ nhất định.
Thằng bạn rỉ tai tôi : " Thực ra thì làm gì có chuyện cử tạ để cho khoẻ cái “của nợ” ấy. Cái quan trọng nhất là tập cho thạo mấy bài khí công của Phật gia và Vịnh xuân là đủ sung lắm rồi, đàn bà chỉ có khóc thét. Nhưng tao phải bịa ra để cho xôm trò, còn có cái mà dạy. Ở nhà mình bây giờ đang có mốt tập thể hình. Dân tình thi nhau cử tạ cho tay chân to như Lí Đức với Phạm Văn Mách, nên tao nói cử tạ cho to… thì cũng khối thằng tin!".
Giờ giải lao, tôi tranh thủ phỏng vấn mấy ... " cu sĩ".( Vâng, thưa các bạn, tiếng Việt ta những năm gần đây xuất hiện khá nhiều từ mới. Ngoài những từ mà chúng ta nghe đã quá quen tai như : ca sĩ, nhạc sĩ, nghệ sĩ, hoạ sĩ, thi sĩ..., thì do sự hình thành của một số nghề mới như khóc thuê, ăn mày chuyên nghiệp ( hành khất) nên ta có thêm mấy từ mới nghe rất vui tai : khóc sĩ ( chỉ người khóc thuê), khất sĩ( chỉ người ăn mày). Vậy xin bạn đọc và những nhà làm từ điển cho phép tôi mạo muội nghĩ ra một từ mới để chỉ những anh tập món cử tạ cu này là " cu sĩ".)
Trả lời câu hỏi của tôi - rất hồ hởi, hai cu sĩ trẻ không giấu nổi sự phấn khởi : " Hết sức hiệu nghiệm, anh ạ! Dài và nở ra trông thấy!" Biết tôi ở tây về, một chú khuyên: " Anh nên học lấy cái nghề này, sang đó mở lớp dạy thì hái ra tiền, đỡ phải đi chợ vất vả!". Mấy cu sĩ già thì có vẻ từ tốn hơn :" Có thể do tuổi tác, bọn mình không thấy thay đổi gì nhiều về kích cỡ. Nhưng lúc lâm trận thì miễn chê, trường sức lắm. Từ hồi bọn mình đi tập , các bà xã thay đổi hẳn. Ngoan ngoãn, nhẹ nhõm cứ như là cháu ngoan bác Hồ ấy, gọi dạ bảo vâng, cơm dẻo canh ngọt, nhà cửa gọn gàng. Thỉnh thoảng lại còn ý ởn hát nữa chứ!"
Giờ giải lao kết thúc, các cu sĩ laị ngồi ngay ngắn trên ghế, những quả tạ xinh xinh được đeo vào. Bạn tôi quát:" Quản ca đâu, cho hát đi chứ!". Từ góc lớp, một cu sĩ mặt đầy trứng cá lom khom đứng dậy, cất giọng hò :
"Này anh em ơi! Biết không?"
Tức thì cả lớp đồng thanh : "Ơi! Biết gì?"
Anh kia tiếp tục, lần này hát theo một điệu chèo :
"Không giàu thời phải đẹp trai... ì, ì
Không thông kinh sử.. ử, ử... ối a, ối a"
Cả lớp hát đế theo rất bài bản : "ối a, ôi à, ồi á…"
Rồi nhất loạt gào lên hết sức hùng dũng : "Phải dài con cu!"
Thú thực, tôi đã dự nhiều tiệc rượu, khi tất cả đều say bét nhè đến mức đái cả vào chai và hát những bài hát hết sức kinh dị, đại loại như : " Mười lăm thằng trên hòm người chết, thùng rượu vang say bét say be, ì a, ì a..." Hoặc : " Ồ ề cái con gà vàng, ồ ề cái con gà quay. Ta đi lang thang khắp đó đây...", nhưng chưa bao giờ lại thấy bị xúc động mạnh như lần này, khi được mục kích cảnh mười lăm thằng đàn ông trần truồng, mồ hôi mồ kê ròng ròng, cơ bụng phập phồng theo nhịp tạ, mồm say sưa hát rất yêu đời cái điều mãi mãi là chân lí đối với cánh đàn ông:
" Không giàu thời phải đẹp trai
Không thông kinh sử, phải dài con cu!!!"
3G lụm được tren Internet
:::Trần Hoài Văn:::
Thằng bạn Ba lan sau hơn một tháng đóng vai " Tây ba lô" du lịch ở Việt nam về, gặp tôi nói giọng đầy cảm kích:
- Dân Việt nam bọn mày ăn chơi thật!
- Dĩ nhiên rồi! Tôi hào hứng hét lớn.
- Lại khoẻ nữa, nghĩa là cái khoản sex ấy mà!
- Đích thực là thế! Giọng tôi bắt đầu lạc đi vì quá phấn khởi .
- Nhưng mà bẩn. Đường xá chật chội, xe cộ đi lại tùm lum, không luật lệ, bụi mù mịt. Hàng quán thì toàn ruồi. Sex ở mọi nơi, mọi chỗ, mất vệ sinh lắm.
Nó nói những câu cuối một cách vội vã, rồi lấm lét nhìn. Còn tôi, đang phiêu diêu trên tận đỉnh ngọn tre vì được đi tàu bay giấy, thì bất ngờ bị quật cho một cú ngã giập bi. Híp một bên mắt vào cho cái sự nhìn tăng thêm phần tàn nhẫn, tay xoa đít , tôi căng óc ra tìm cách chống chế : "Thì ai bảo mày, nghĩa là tại mày...". Nhìn vẻ mặt thiểu não của tôi, thằng bạn thương hại : " Không tin thì cuối năm nay về , mày cứ thử tìm hiểu, để ý kĩ mà xem tao nói có đúng không?". Nén giận, nuốt cục nghẹn đang đầy ứ ở cổ họng. Tôi quyết định cuối năm về phải đi "tìm hiểu thực tế" để xem thực hư ra sao?
Buồn quá, vì hoá ra nó đúng! Thôi, không dám làm mất thì giờ của bạn . Xin miễn kể chuyện giao thông ở ta ra sao; đường xá chật chội, bẩn thỉu thế nào; xe cộ phóng bạt mạng, luồn lách hệt như cách sống của những người điều khiển nó. Cũng bỏ qua chuyện ăn uống; chỉ xin bạn đừng quá ngạc nhiên khi thường xuyên thấy trong bát phở có vài sợi tóc nằm hờ hững hay giữa vại bia có mấy chú ruồi cắm đầu bơi mải miết, hoặc là chuyện cả Hà nội xôn xao lên vì bánh phở có phoóc môn ướp xác người ... Chỉ xin sơ qua vài nét về cái "khoản kia", sơ qua thôi nhé, kẻo lại mang tiếng là " nhục dục, tầm thường, tục tĩu..." Hà hà! Hỡi những con người đáng kính, các ngài cứ việc trưng ra những quyển sách dày cộp, bìa cứng, gáy mạ nhũ vàng mà bản thân các ngài rất ít khi đọc, nếu có đọc thì chưa chắc đã hiểu gì; các ngài cứ việc rao giảng những điều không có thật trên đời này. Chỉ xin các ngài cho chúng tôi, (những kẻ người trần mắt thịt - thích được sống thật với mình) một khoảng trời riêng.
* * *
Dân ta quả thực là ...máu sex. Điều này được thể hiện một cách gần như công khai, nhan nhản trên các bảng hiệu quảng cáo. Tất cả những gì có đuôi " ôm", " thư giãn" đều đồng nghĩa với sex( có chăng chỉ trừ xe ôm). Này nhé : đầu tiên là cafe ôm, sau đó đến bia ôm, karaoke ôm, bi da ôm, tắm ôm, lại còn ... câu cá ôm nữa chứ! Nhưng cho dù tên gọi có khác nhau, tựu trung lại, thực chất của vấn đề cũng chỉ là một trong “ tứ khoái” ! Để khỏi mất thời gian, mời bạn cùng tôi thưởng thức một loại hình mang tính tiêu biểu:
Karaoke ôm
Quê hương của karaoke bắt nguồn từ thành phố Kobe( Nhật bản). Karaoke là từ ghép tiếng Nhật : " kara" bắt nguồn từ "karappo"- có nghĩa là trống rỗng; còn " oke" là từ viết tắt của "okesutura" - nghĩa là ban nhạc. Thường thì một bài hát được thu thanh bao giờ cũng có phần âm và phần nhạc đệm. Các băng đĩa nhạc chỉ có phần nhạc đệm thì được gọi là karaoke.
Ở Hà nội, mới chỉ khoảng dăm năm đổ lại, người ta tập tọng du nhập loại hình giải trí này về. Lúc đầu karaoke được kinh doanh theo kiểu mạnh ai nấy hát, màn hình bung ra vỉa hè, người hát lùi xuống lòng đường. Thực ra, đến quán karaoke là một thứ giải trí lành mạnh. Trong mỗi chúng ta đều có một nghệ sĩ đang ngủ, chỉ chờ dịp được đánh thức. Vả lại, ca hát là một nhu cầu cần thiết cho con người. Có thể là ta hát không hay, thậm chí không biết hát, nhưng khi cầm micro ngân nga theo tiếng nhạc, thả hồn vào lời ca và ta bỗng thấy trong một thoáng được làm nghệ sĩ. Hay lắm chứ! Không tin, bạn cứ để ý mà xem, từ chú nhóc con mặt mới nổi trứng cá đến những ông, bà dù đã có rất nhiều mảnh tình rách vắt vai, vẫn hết sức say sưa rên rỉ " đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn...".
Nhưng đấy là chuyện ngày xưa, còn ngày nay, đến karaoke hát chỉ là phụ. Không còn đâu đám người ngồi xổm ngoài vỉa hè vừa hát vừa cạy gỉ mũi, thay vào đó là những phòng hát thuộc loại model nhất: Tường ốp gỗ được trang trí bằng đèn huỳnh quang và tranh sex, sàn trải thảm, ghế bành mềm, và tất nhiên là một dàn karaoke loại "xịn".
Những ngày ở Hà nội, tôi hay đi " hát" cùng với thằng bạn học thời phổ thông và hai người bạn vong niên đã ở tuổi ngoài 70. Đó là hai gã rất ham chơi, cực thanh niên tính và có một tình yêu kinh khủng với cuộc đời này. Tôi không biết phải xưng hô thế nào cho phải đạo, vì ngoài đời thì cứ ông ông con con, nhưng mỗi lần đi "hát ", trước khi vào cửa, hai gã lừ mắt : " Không có ông con gì đâu nhé, cứ bài cũ mà diễn, nghe chưa?" Hai chúng tôi " Dạ" ran. Bài cũ là thế này : chúng tôi phải gọi một vị là " sư trưởng ", vị kia là " chính uỷ" và xưng "em". Có trời mà biết tại sao hai ông già chơi trống bỏi này lại khoái kiểu xưng hô sặc mùi nhà binh như như vậy? Có lẽ cho ra vẻ phong trần? “Sư trưởng” tên thật là Hoàng, 75 tuổi, thời trẻ là một tay giang hồ mã thượng loại ác chiến, võ nghệ thấy bảo cũng vào loại khá, nay làm ngề châm cứu, tay nghề đáng bậc thầy thiên hạ. Đặt cả nắm kim trong lòng bàn tay trái, ngón cái và ngón trỏ của bàn tay phải nhặt từng chiếc, vê vê rồi nhanh như cắt, “sư trưởng” gật mạnh cổ tay, chiếc kim bay vù cắm phập vào đúng huyệt đạo. Con bệnh không kịp có cảm giác đau đớn, cho đến khi chiếc kim cuối cùng đã yên vị, ngay ngắn như người lính trong hàng quân. “Chính ủy” trẻ hơn, mới có 73, nguyên làm nghề chữa xe đạp ở ngay ngoài đầu ngõ nhà tôi. Không rõ ngài làm cái nghề này từ bao giờ. Chỉ biết rằng hồi tôi còn bé tí, đã thấy ngài suốt ngày cởi trần, mặc quần đùi ngồi chồm hỗm vá xe ở vỉa hè, hai hột dái luôn thò ra ngoài ( mà ngài dùng thuật ngữ chuyên môn để giải thích một cách hết sức văn hoa rằng : ấy là hiện tượng “kẹp săm” !). Rất lạ, là ngài làm không hết việc, toàn khách quen ; có mấy bà, mấy cô cứ vài hôm lại dắt xe đến cho ngài " vá". Riêng tôi, hồi đó rất sợ và ghét ngài, vì mỗi khi trông thấy tôi, bao giờ ngài cũng gọi lại, rồi chậm rãi, thong thả thò hai ngón tay vào lưỡi, vét một ít nước bọt bôi vào má tôi, sau đó bắt trật quần xuống, cũng lại hai ngón tay dính đầy nước bọt đó búng một cái đau điếng vào đầu chim - " Cho nó khoẻ!" , ngài cười hề hề, rồi quăng cho tôi năm xu để ăn ô mai. Không xa xôi gì, mới hôm trước, thằng con trai tôi từ đâu chạy về, mặt mũi méo xệch : " Bố ơi, cái ông gì ngoài đầu phố cứ bôi nước bọt vào mặt con, lại còn sờ chim nữa. Bố đánh ông ấy đi!". Ôm thằng con trai vào lòng, tôi cay đắng dỗ dành : " Hy vọng là đến khi mày lấy vợ và có con trai thì lão ta ngoẻo mẹ nó rồi! Chứ nếu không thì cả ba đời nhà mình bị lão bôi nước bọt và bóp dái đấy con ạ!". Độ mươi năm nay, “chính ủy” không còn vá xe nữa. Mấy đứa con của ngài và Hoàng “sư trưởng” sang Đức xuất khẩu lao động rồi ở lại luôn bên đó, thấy bảo làm ăn được lắm. “Chính ủy” và “sư trưởng” chỉ việc ở nhà ăn chơi bằng tiền của con gửi về.
Lại nói, bọn chúng tôi hay rủ nhau đi " hát". Lang thang hết hang cùng ngõ hẻm, cứ chỗ nào hay là chúng tôi mò đến. Có một chỗ mà " sư trưởng " và "chính uỷ" cực thích, tiệm " Ấn tượng". Danh bất hư truyền, quả thật là ấn tượng. Đó là buổi đầu xuất quân của bốn thày trò chúng tôi .
Ở đây, không khí bên ngoài lại vắng lặng khác hẳn những nơi khác. Các thượng đế lập tức được dẫn qua chiếc cầu thang trong bóng tối đen kịt và vào một căn phòng khoảng 16 m2. Sau vài phút yên vị, cửa mở, bảy, tám cô gái (độ tuổi 20) trong bộ quần áo khêu gợi được dẫn ra "chào hàng"... để khách thoải mái lựa chọn. Một cô lên giọng tuyên bố sắp bắt đầu màn trình diễn bằng thứ văn phong hành chính mà ta thường gặp ở trong các bản thông báo về giải toả nhà đất của UBNN thành phố: "Từ bây giờ các anh đền bù (tiền boa) thế nào thì chúng em giải toả (thoát y) thế ấy nhé!".
Mỗi tiết mục có giá biểu bất di bất dịch: 50.000 đồng cho mỗi "diễn viên". Tiết mục 1: Các cô ra mắt "ban giám khảo" chỉ với chiếc áo dây mỏng tanh và tự giới thiệu là "không quần, áo lót bên trong". Tiết mục 2: Bằng một động tác nhẹ nhàng, thành thục, các cô tháo nút dây duy nhất của chiếc áo phía sau cổ để nó bay xuống đất... Tiết mục 3: Bắt đầu các vũ điệu lắc mông, lắc ngực, uốn éo thân thể... trong tình trạng "giải toả trắng". Bối rối mất một lúc, chúng tôi cũng chọn được bốn em. Tôi cầm quyển danh mục, mân mê chỉ vào mấy bài hát thời chống Mỹ. Một em nhìn tôi như thể nhìn người Sao Hỏa, bảo: "Anh hát toàn bài lạ". Tôi hơi lóng ngóng rồi cũng quả quyết cầm lấy micro. Té ra lâu lắm rồi tôi mới được nghe từ chính miệng mình những giai điệu một thời nhiều người hát, nhiều người thích. "Tình ca", "Lá đỏ", "Bài ca Hà Nội"..
Tôi hát say sưa, chỉ hơi bực mình vì hình ảnh minh hoạ cứ lộn xộn, râu ông nọ cắm cằm bà kia. Thay vì màn tỏ tình thật lãng mạn, vài thằng cha nhảy múa loạn xị ngậu trong "Vòng tay cầu hôn". Ai đời hát về Hà Nội chỉ thấy Paris với tháp Eiffel lừng lững, hát "Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây" lại chỉ thấy mấy em người mẫu ưỡn ẹo ngoáy mông trên bờ biển. Trong khi đó, các em "ca ve "thoăn thoắt mở bia, bóc bim bim, bật nước hoa quả rồi gí vào tận mồm khách. “Sư trưởng” và “chính uỷ” cũng góp vui gọi là lấy lệ bằng hai bài tiền chiến " Suối mơ" cùng " Tiếng sáo thiên thai". Xong nhiệm vụ, mặc kệ cho chúng tôi gân cổ hò hét, hai ngài khoan khoái lim dim ngả người vào lòng các em, mười đầu ngón tay điệu nghệ , lả lướt gảy những giai điệu kinh người trên chiếc đàn nhiều trăm dây và nốc bia ừng ực. Một lúc, nghe chừng men đã ngấm, “chính uỷ” quay sang “sư trưởng” hỏi nhỏ : " Gái nhá?". Sư trưởng " Rõ!" một cách rất rất dõng dạc đúng tác phong quân đội. Trong chớp mắt, hai cụ vận khinh công cắp các em vào nách nhảy hai bực cầu thang một lên tầng trên, nơi có phòng chờ sẵn.
Có một nhà báo đã bỏ công tổng kết , Hà Nội ít nhất cũng phải có trên 1.000 điểm karaoke mà trong đó một nửa là "ôm". Tính rụt rè, mỗi điểm 3 cô, Hà Nội đã có cả thảy trên dưới 3.000 cô - một con số đáng kinh ngạc nhưng lại còn lâu mới bằng thực tế. Các cô thường không ăn lương từ phía nhà chủ mà từ khách hàng. Mỗi lần ngồi trên lòng một anh nào đó là có 50.000 tiền "boa" trở lên, nếu chịu "thoáng" hơn tiền sẽ tăng lên. Một đêm lừa được 2 anh cũng có trăm hơn trăm kém, một tháng đôi ba triệu là chuyện vặt. Trộm nghĩ 3.000 "gái ôm" ở Hà Nội mỗi tháng moi ít nhất 9 tỉ đồng trong khoản "ngu phí" của cánh mày râu. Đấy mới chỉ là chi phí cho cái … tay! Cái sự chi này đem so với tất cả cuộc chơi lại chẳng bõ bèn gì. Thì đây: Bốn người vào quán, ngoài khoản "các em", những món tối thiểu phải tiêu là 20 lon bia, 8 bimbim, 8 bò khô, 8 mực ép, 8 nước khoáng, 8 khăn lạnh... Bạn không thể uống? Xin mời, các em sẽ tận tụy rót vào mồm. Những thứ còn lại đều bị bật nắp hoặc bóc vỏ, nghĩa là đã dùng đến. Mỗi thứ ở đây khiêm tốn cũng đắt gấp rưỡi thị trường. Như vậy, giá tối thiểu cho riêng các món uống và nhâm nhi đã không dưới 500.000đ. Chưa hết, khoản " chân phí" bao giờ cũng lớn nhất. Trò đời là thế, " thằng nhỏ " ăn một phát bằng "thằng lớn" ăn cả tháng luôn. Ăn chơi tốn kém, ai lại tính toán! H. ( tên em “ ca ve” ) nói với tôi : “ Đến đây chủ yếu là những ông tiêu tiền chùa. Cặp bồ với dạng này khoái nhất, vì họ chi rộng tay, mặc dù “chơi” thì không ăn nhằm gì, toàn những ông bụng phệ. Nhưng thôi, miễn là nặng túi. Ghét nhất là mấy thằng công tử con quan, chỉ được cái hùng hục như chó, nhưng keo kiệt, hống hách thì không ai bằng. Thỉnh thoảng gặp được vị khách “ khoái khẩu”, thì tụi em sẵn sàng free ngay!”
( *) Trong đoạn trên có đôi chỗ sử dụng tư liệu của một số báo trong nước
Có một Câu lạc bộ như thế!
Một chiều thứ bảy, đang “sở lượn” gần chợ Hàng Da, thằng bạn tạt vào một hiệu đồ sắt. Gã chủ hiệu nháy mắt một cách tinh quái, không nói không rằng, chìa cho nó một bọc nhỏ. Bạn tôi giở ra kiểm tra, vẻ hài lòng hiện ra mặt. Dọc đường về, nó hỏi tôi : “ Mày có biết cái gì đấy không?” “ Chịu!”, tôi thực thà đáp. Quả thật, tôi không hiểu được, những quả tạ sắt to cỡ ngón tay út đó dùng để làm gì? Chẳng lẽ đấy lại là đồ trang sức, mà tai nào chịu cho thấu, nặng chết bà. “ Tối nay đi với tao, mày khắc biết!” Nó tỉnh bơ.
Vốn đã quen với những trò ma giáo của nó và hai thanh niên già, nên tôi cũng không bận tâm gì nhiều.
Buổi tối, nó phóng xe qua, rủ tôi đến phòng tập. Nghe hai chữ phòng tập, tôi hào hứng hẳn, vì từ hôm về đến giờ chỉ ăn nhậu, chân tay nghe chừng ngứa ngáy, thấy nhớ cái bao cát. Thằng này thế mà khá, tưởng nó bỏ nghề võ rồi, hoá ra vẫn đeo đẳng a?
Phòng tập đây rồi, nhưng sao lạ thế này? Tôi đảo mắt nhìn quanh, không thấy bao cát, không thấy mộc nhân, chẳng côn, cũng không gậy. Căn phòng chừng 30m2, được chia thành mấy chục ô, quây ni lon đến ngang bụng, trong mỗi ô có để một chiếc ghế đẩu. Chưa hết, võ sinh gì mà ăn mặc kì quái thế kia, thằng nào cũng trần như nhộng, trên mình chỉ mặc độc chiếc quần xịp. Lạ thực, có tiết kiệm vải như môn phái Nhất nam thì cũng phải đóng khố chứ, mà thằng này ngày trước dạy karate cơ mà? Tôi không còn biết đầu cua tai nheo ra làm sao nữa.
Thấy thầy đến, chúng kính cẩn cúi chào rồi từng thằng một đi vào ô. Trời ơi! Tôi thất kinh khi thấy cả bọn điềm nhiên tụt nốt chiếc quần xịp và ngồi ngay ngắn , đĩnh đạc trên ghế đẩu. Mặc kệ tôi đứng lặng đi vì ngạc nhiên, thằng bạn đến từng ô, phát cho mỗi đứa hai quả tạ nhỏ xíu mà tôi đã nhìn thấy hồi chiều.Tôi thực sự hoang mang và suýt ngất khi thấy chúng đeo những quả tạ xinh xinh đó vào ... ngón “thứ mười một”. Buổi tập bắt đầu bằng bài khởi động xoa nóng phần bụng dưới, đùi non, rồi thay vì " thất thập nhị huyền công" thì chúng “nâng lên hạ xuống” 72 lần.
Rít lấy rít để vài hơi thuốc, tôi hơi bình tĩnh trở lại và bắt đầu quan sát một cách chi tiết. Lớp có 15 học trò, phần lớn chỉ ngoài 20, có ba ông trạc ngũ tuần, đầu hói bóng như sư. Nhưng từ trẻ đến già, ai cũng rất nghiêm túc tập luyện, nét mặt thành kính. Mười lăm cái lưng trần bóng nhẫy mồ hôi gật gù theo nhịp lên xuống của … tạ. Thỉnh thoảng, lại nghe tiếng tạ rơi xuống nền bê tông đánh cạch, chắc anh bạn nào mệt quá. Sau phần tập ... gân, các lực sĩ tháo tạ, chuyển sang khí công với hai bài của Phật gia. Bài bản lắm, tiếng thở nhẹ, sâu, đan điền cương lên, xẹp xuống, chứng tỏ chúng đã đạt đến một trình độ nhất định.
Thằng bạn rỉ tai tôi : " Thực ra thì làm gì có chuyện cử tạ để cho khoẻ cái “của nợ” ấy. Cái quan trọng nhất là tập cho thạo mấy bài khí công của Phật gia và Vịnh xuân là đủ sung lắm rồi, đàn bà chỉ có khóc thét. Nhưng tao phải bịa ra để cho xôm trò, còn có cái mà dạy. Ở nhà mình bây giờ đang có mốt tập thể hình. Dân tình thi nhau cử tạ cho tay chân to như Lí Đức với Phạm Văn Mách, nên tao nói cử tạ cho to… thì cũng khối thằng tin!".
Giờ giải lao, tôi tranh thủ phỏng vấn mấy ... " cu sĩ".( Vâng, thưa các bạn, tiếng Việt ta những năm gần đây xuất hiện khá nhiều từ mới. Ngoài những từ mà chúng ta nghe đã quá quen tai như : ca sĩ, nhạc sĩ, nghệ sĩ, hoạ sĩ, thi sĩ..., thì do sự hình thành của một số nghề mới như khóc thuê, ăn mày chuyên nghiệp ( hành khất) nên ta có thêm mấy từ mới nghe rất vui tai : khóc sĩ ( chỉ người khóc thuê), khất sĩ( chỉ người ăn mày). Vậy xin bạn đọc và những nhà làm từ điển cho phép tôi mạo muội nghĩ ra một từ mới để chỉ những anh tập món cử tạ cu này là " cu sĩ".)
Trả lời câu hỏi của tôi - rất hồ hởi, hai cu sĩ trẻ không giấu nổi sự phấn khởi : " Hết sức hiệu nghiệm, anh ạ! Dài và nở ra trông thấy!" Biết tôi ở tây về, một chú khuyên: " Anh nên học lấy cái nghề này, sang đó mở lớp dạy thì hái ra tiền, đỡ phải đi chợ vất vả!". Mấy cu sĩ già thì có vẻ từ tốn hơn :" Có thể do tuổi tác, bọn mình không thấy thay đổi gì nhiều về kích cỡ. Nhưng lúc lâm trận thì miễn chê, trường sức lắm. Từ hồi bọn mình đi tập , các bà xã thay đổi hẳn. Ngoan ngoãn, nhẹ nhõm cứ như là cháu ngoan bác Hồ ấy, gọi dạ bảo vâng, cơm dẻo canh ngọt, nhà cửa gọn gàng. Thỉnh thoảng lại còn ý ởn hát nữa chứ!"
Giờ giải lao kết thúc, các cu sĩ laị ngồi ngay ngắn trên ghế, những quả tạ xinh xinh được đeo vào. Bạn tôi quát:" Quản ca đâu, cho hát đi chứ!". Từ góc lớp, một cu sĩ mặt đầy trứng cá lom khom đứng dậy, cất giọng hò :
"Này anh em ơi! Biết không?"
Tức thì cả lớp đồng thanh : "Ơi! Biết gì?"
Anh kia tiếp tục, lần này hát theo một điệu chèo :
"Không giàu thời phải đẹp trai... ì, ì
Không thông kinh sử.. ử, ử... ối a, ối a"
Cả lớp hát đế theo rất bài bản : "ối a, ôi à, ồi á…"
Rồi nhất loạt gào lên hết sức hùng dũng : "Phải dài con cu!"
Thú thực, tôi đã dự nhiều tiệc rượu, khi tất cả đều say bét nhè đến mức đái cả vào chai và hát những bài hát hết sức kinh dị, đại loại như : " Mười lăm thằng trên hòm người chết, thùng rượu vang say bét say be, ì a, ì a..." Hoặc : " Ồ ề cái con gà vàng, ồ ề cái con gà quay. Ta đi lang thang khắp đó đây...", nhưng chưa bao giờ lại thấy bị xúc động mạnh như lần này, khi được mục kích cảnh mười lăm thằng đàn ông trần truồng, mồ hôi mồ kê ròng ròng, cơ bụng phập phồng theo nhịp tạ, mồm say sưa hát rất yêu đời cái điều mãi mãi là chân lí đối với cánh đàn ông:
" Không giàu thời phải đẹp trai
Không thông kinh sử, phải dài con cu!!!"
3G lụm được tren Internet

