Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Khi tiếng khóc chính là lời tố cáo

Trần Trung Đạo

Image
Tang lễ của Mẹ Theresa năm 1997 tại Ấn Độ

Dù dưới một quan điểm tôn giáo nào, sự có mặt của con người trên thế giới này chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian rất ngắn. Với tác giả bài viết này và có lẽ với nhiều độc giả, tiếng sóng vỗ vào thành ghe trong một đêm giông bão như vẫn còn vang vọng đâu đây nhưng đã hơn 30 năm rồi. Một triết gia đã viết, mỗi bước chân ta đi trong ngày là một bước gần hơn đến với ngôi mộ của mình.

Con người sinh ra đều trơ trụi giống nhau nhưng cuộc đời và cách chết đã làm họ khác nhau. Có những người chết đi để lại nhiều lợi lạc cho hậu thế, một cách sống đạo đức cho con cháu noi gương nhưng cũng có những kẻ chết đi, dù được che đậy dưới lớp hào quang giả tạo rực rỡ dường nào hay bức tường thành thông tin bưng bít dày đến bao nhiêu, tội ác của họ cũng có một ngày được phanh phui để lộ nguyên hình những ác nhân thời đại. Con khủng long chết 65 triệu năm trước vẫn được tìm ra, nói chi là con người. Lịch sử là lương tri và từ sơ khai đến hiện đại lịch sử luôn phán xét công bằng, cho đến nay chưa ai tránh thoát.

Một buổi sáng tháng Chín 1997, trên đường phố Calcutta, hàng triệu dân Ấn đứng dọc hai bên đường để tiễn đưa một nữ tu đã dâng hiến gần trọn đời mình cho lớp người cùng khổ. Con đường đó, từ 1929, nữ tu gốc Albany thuộc dòng Loreto Sisters đặt chân đến lần đầu khi mới 19 tuổi. Vỉa hè Calcutta là nơi nữ tu thường đến để ngồi an ủi những người đang chết. Không có ngay cả một viên thuốc, nữ tu chỉ biết cầm lấy bàn tay đầy máu mủ của bịnh nhân và xua đuổi đi bầy kiến đang bám lên vết thương đau nhức. Nhiều bịnh nhân đã đáp lại bằng cách mỉm cười thay cho lời cám ơn trước khi hắt ra hơi thở cuối cùng. Và những khu nhà ổ chuột Calcutta này là nơi chiều chiều nữ tu một tay cầm một chiếc khăn và tay kia cầm một cục xà phòng đến tắm cho trẻ em nghèo trong xóm. Nhiều năm sau, chính đám trẻ này là những người đầu tiên gọi nữ tu là mẹ. Mẹ Teresa như nhân loại biết hôm nay.

Ngày 5 tháng 9 năm 1997 mẹ không đến nữa vì hôm đó là ngày mẹ ra đi. Quan tài Mẹ Teresa được phủ quốc kỳ Ấn Độ thay vì Albania, nơi mẹ chưa một lần trở lại. Ngày đi, mẹ vẫn mặc chiếc áo vải trắng viền xanh Sari trị giá 1 rupee mẹ tự sắm cho mình sau khi chính thức rời khỏi dòng tu Loreto Sisters. Đoạn đường từ quảng trường Netaji, nơi tổ chức thánh lễ, đến Căn Nhà Của Mẹ, nơi mẹ sẽ yên nghỉ, chìm trong không khí tôn nghiêm trang trọng. Những em bé Ấn Độ tay cầm những bông hoa nhỏ vẫy chào. Tất cả đều cúi đầu khi quan tài do một chiếc xe kéo súng quân đội kéo ngang qua. Chính phủ Ấn dành cho mẹ một vinh dự đặc biệt vì chính chiếc xe kéo pháo cũ kỹ này đã kéo quan tài của Thánh Mahatma Ghandi ra nghĩa trang 1948. Nhân loại tiếc thương mẹ, nhân dân Ấn Độ biết ơn mẹ và chính những người cùng khổ ở Calcutta đang sắp hàng hai bên đường cám ơn mẹ, nhưng ngoài tiếng máy xe kéo pháo nhịp đều, không có một sự ồn ào nào khác. Trên xe, những nữ tu và người lính ngồi im lặng. Không ai khóc lớn, không ai than van, không ai lăn lộn, không ai kể lể. Niềm thương tiếc chân thành thánh thiện đã cô đọng thành ngọc bích và lắng sâu xuống tận đáy lòng. Sự ra đi của Mẹ Teresa và nhiều bậc vĩ nhân khác đơn giản như họ một lần đã ghé thăm hành tinh chúng ta.

Bên kia những cuộc chia tay đầy ắp tình nhân loại như thế là những cái chết của các lãnh tụ Cộng Sản đã diễn ra như những vở kịch được biên tập tất cả đặc tính bi, hài, tò mò, chân thành, giả dối đến tận cùng.

Trước tang lễ có một không hai của Kim Nhật Thành, tang lễ Stalin được xem như một tang lễ đáng ghi nhớ nhất trong lịch sử tang lễ các lãnh tụ Cộng Sản. Ngày 9 tháng 3 1953, hàng triệu người tập hợp tại Hồng trường để chào vĩnh biệt “đại nguyên soái” Joseph Stalin của họ. Theo chi tiết ghi lại trong trang web của báo Pravada, cũng như theo mô tả của Brenda Haugen trong tác phẩm Joselp Stalin: Dictator of the Soviet Union, khoảng 500 người chết chỉ vì chen lấn nhau để đến gần khán đài. Tại Việt Nam vì xa xôi cách trở không tham dự được nhưng cũng “làng trên xóm dưới xôn xao” khi nghe tin “Ông mất” và ít ra cũng có Tố Hữu đã khóc đến mức “xé ruột, xé lòng” trong bài thơ Đời đời nhớ ông bất hủ. Cảnh khóc than thê thảm tương tự đã diễn ra tại Thiên An Môn 1976, Hà Nội 1969 với những cô công nhân mặt sưng húp vì mấy ngày đêm khóc không còn nước mắt. Nếu những tên đô tể Nicolae Ceausescu không bị xử bắn, Pol Pot không chết trong rừng, Erich Honecker không chết trong lưu đày, tang lễ của họ hẳn cũng ngập đầy nước mắt.

Và mới đây, các cơ quan truyền hình trên thế giới đồng loạt đưa tin về cái chết đột ngột của lãnh tụ Bắc Hàn Kim Chính Nhật và lồng trong các bản tin là cảnh hàng trăm ngàn người dân Bắc Hàn, từ cụ già đến em bé, từ thiếu nữ đến thanh niên đều khóc thê thảm, khó lăn lộn, khóc đến ngất xỉu. Theo tin chính thức của Bắc Hàn, đã có năm triệu người, tức hơn hai mươi phần trăm dân số, bằng nhiều cách bày tỏ lòng thương tiếc dành cho lãnh tụ kính yêu Kim Chính Nhật. Các cơ quan truyền thông quốc tế dành nhiều thời gian để tìm hiểu về hiện tượng khóc rất lạ đời này. Son Jeong Hun, trước đây vượt thoát từ Bắc Hàn cho biết “Nếu bạn không khóc một cách công khai, bạn bị xem là có thái độ sỉ nhục lãnh tụ và có thể bị kết án chống lại nhà nước”. Tuy nhiên, trong lúc rất nhiều người phải khóc, khóc không ra nước mắt, cũng có rất nhiều người đã khóc một cách chân thành chỉ vì các vi trùng tôn thờ cá nhân ăn sâu vào nhận thức và họ đã bị hoàn toàn tẩy não.

Tại Bắc Hàn, mỗi gia đình đều có một bức ảnh của Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật. Ban kiểm tra hình lãnh tụ theo định kỳ đến khám xét từng nhà. Gia chủ sẽ bị phạt nếu hình của cha con họ Kim không được lau chùi đúng tiêu chuẩn. Bịnh tôn thờ lãnh tụ tại Bắc Hàn trầm trọng đến nỗi người dân có thể chết chỉ để bảo vệ bức ảnh của “cha già dân tộc”. Theo hồ sơ tội ác của Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật do giáo sư Grace M. Kang chuẩn bị để truy tố trước tòa án quốc tế, ngày 4 tháng Sáu 1997 một chiếc ghe đánh cá bị sóng đánh chìm, thủy thủ trên ghe đã buộc chân dung của Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật vào phao cấp cứu để hai bức ảnh khỏi chìm trong lúc các thủy thủy đã chết đuối. Khi hai bức ảnh được hải quân Bắc Hàn tìm được, những thủy thủ bị chết đuối được tặng danh hiệu Anh Hùng Cộng Hòa. Ngoài ra, tạp chí Times cũng đã tường thuật một trường hợp hỏa hoạn ở Bắc Hàn, chủ nhà đã lo cứu bức ảnh trước khi cứu con mình. Tháng 4/2003, theo tạp chí Economist, một chiếc xe lửa ở Bắc Hàn không may chạy trật đường rầy và đụng vào một toà nhà lớn, cả xe lửa lẫn toà nhà đều bốc cháy, hàng trăm khách trong xe, người trong toà nhà vừa chết vừa bị thương. Thế nhưng khi những người dân Bắc Hàn tới cứu, họ đã cố tìm cách dập tắt ngọn lửa đang đốt cháy tấm chân dung lớn của Kim Chính Nhật treo trên toà nhà trước khi cứu chữa những người bị thương đang sắp chết cháy trong nhà.

Người dân Bắc Hàn không có cùng một ý niệm về không gian và thời gian như phần còn lại của nhân loại. Ngày tháng và nơi chốn đã bị đổi thay sau khi Kim Nhật Thành xóa bỏ niên lịch AD và thay vào đó bằng lịch Juche, lấy năm sinh của ông ta làm chuẩn. Ví dụ, năm 2000 là năm cuối cùng của thiên niên kỷ đối với phần lớn thế giới nhưng tại Bắc Hàn chỉ mới là năm Juche 99. Trong một bài bình luận của Rodong Sinmun, cơ quan thông tin chính thức của Đảng Công nhân Triều Tiên phát hành ngày 31 tháng 8 năm 1997, viết về Kim Chính Nhật: “Nhân dân Triều Tiên tuyệt đối tôn kính, tin tưởng và theo chân Tướng Quân như Thượng Đế. Tư tưởng quý giá này căn cứ vào sự kiện rằng họ đã cảm nhận một cách sâu sắc sự vĩ đại của Tướng Quân từ đáy lòng họ. Tướng Quân là thầy giáo vĩ đại dạy nhân dân Triều Tiên ý nghĩa thật sự của cuộc sống, là người cha đã ban cho họ đức tính liêm khiết chính trị quý giá và là một ân nhân có trái tim nồng ấm dịu dàng, đã mang đến cho nhân dân Triều Tiên niềm hạnh phúc trọn vẹn… Tướng Quân là cây trụ tinh thần và là vầng thái dương vĩnh cửu của nhân dân Triều Tiên“.
Image
Dân chúng Bắc Hàn khóc trước cái chết của Kim Chính Nhật

Một số nhà phân tích tâm lý cho rằng, vấn đề không phải người dân Bắc Hàn khóc thật hay khóc giả nhưng chỉ việc khóc một cách tự nhiên và công khai trước ống kính truyền hình đã cho thấy khả năng của chế độ kiểm soát hành vi của người dân chặt chẽ đến chừng nào. Bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng Sản Bắc Hàn đã biến toàn xã hội thành một đại gia đình trong đó Kim Nhật Thành là ông nội, Kim Chính Nhật là cha già, và Kim Jong Un đang là đích tôn gia trưởng. Các bức hình trẻ em vui mừng ngồi trên đùi Kim Nhật Thành hay những cặp vợ chồng mới cưới thay vì đến nhà thờ hay chùa, đã đến trước tượng Kim Nhật Thành làm lễ ra mắt tổ tiên cho thấy mối quan hệ giữa quần chúng và lãnh tụ đã vượt qua mối quan hệ chính trị bình thường để trở thành mối giây thiêng liêng bền bỉ rất thích hợp với văn hóa Á Đông.

Trong lúc, theo Katharina Zellweger, giám đốc cơ quan thiện nguyện Thụy Sĩ có văn phòng tại Nhưỡng Quang, mỗi người dân Bắc Hàn chỉ được cấp tiêu chuẩn thực phẩm 150 gram mỗi ngày và rất đông người quá đói phải ra đồng đào rễ, cắt cỏ và hái lá để ăn, gia đình Kim Chính Nhật sống như một đế vương. Theo hồi ký “Tôi từng là đầu bếp của Kim Chính Nhật” (I Was Kim Jong Il’s Cook) của đầu bếp Nhật Bản từng phục vụ Kim Chính Nhật và ký dưới tên Kenji Fujimoto, món ăn khoái khẩu của họ Kim là sushi với tôm tươi. Các thức ăn phục vụ Kim được chọn lựa theo đặc sản của mỗi nước như thịt heo Đan Mạch, đồ biển Nhật, bia Tiệp Khắc, chuối Thái Lan, đu đủ Mã Lai… Kim Chính Nhật là kẻ nghiện rượu vang. Hầm rượu của y có khoảng 10,000 chai. Theo hồ sơ của BBC trong thượng đỉnh năm 2000 tiếp cựu Tổng thống Nam Hàn Kim Đại Trọng, Kim Chính Nhật đã uống 10 ly rượu vang. Phòng phim của Kim Chính Nhật chứa khoảng 20,000 phim, trong đó Rambo và Jame Bond là những bộ phim y thích nhất. Gia đình họ Kim không thiếu một món giải trí nào từ sân bóng rổ đúng NBA tiêu chuẩn, xe gắn máy trượt tuyết, giàn karaoke… Cũng theo lời kể của đầu bếp Kenji Fujimoto, Kim Chính Nhật nuôi chó đầy đủ hơn nuôi dân. Trong nạn đói, những nhân viên coi chó cho y đã phải ăn trộm thức ăn của chó để ăn. Bị bắt được, toán trưởng bị đày hai năm trong trại tập trung và các đội viên mỗi người bị đày một năm.

Nhân dân Bắc Hàn không biết đời sống xa hoa và tánh tình bịnh hoạn của Kim Chính Nhật. Với đa số người dân Bắc Hàn, Kim Chính Nhật từ khi còn sống cho đến lúc qua đời là thần thoại diệu kỳ. Cơ quan truyền hình chính thức của Bắc Hàn KCNA cho biết trước giờ họ Kim chết, đỉnh núi thánh Bạch Đầu Sơn (Paektu) được bao phủ bằng một ánh sáng màu đỏ rực đầy huyền bí. Cũng theo KCNA, không chỉ nhân dân Triều Tiên hay loài người mà cả trời đất cũng tiếc thương trước cái chết của lãnh tụ kính yêu. Nói theo kiểu Tố Hữu của Việt Nam là “Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”. Mobutu Sese Seko trước đây được là người có những danh xưng rất độc đáo như “Nhà cứu rỗi dân tộc”, “Cha già dân tộc” v.v… nhưng so với cha con họ Kim, Mobutu chỉ đáng là học trò. Tại Bắc Hàn, Kim Chính Nhật ngoài các danh dự được gọi hàng ngày như “Lãnh tụ kính yêu”, “Đồng chí vĩ đại”, “Tư lịnh tối cao” v.v… còn được gọi trong tiểu sử chính thức là “Con trời”, “Ngôi sao sáng của đỉnh Bạch Đầu Sơn”.

Với các bằng chứng tẩy não tinh vi như vậy, việc dân Bắc Hàn khóc thật cũng chẳng phải là chuyện lạ.

Nhân dịp bàn chuyện khóc lóc của người dân Bắc Hàn, thử phân tích một số lý do tại sao chế độ Cộng Sản có thể tồn tại lâu dài hơn nhiều chế độ độc tài khác trong lịch sử nhân loại thời hiện đại. Một số lý do trực tiếp liên hệ đến Bắc Hàn trong khi một số lý do khác là lý do tổng quát chung cho cả phong trào Cộng Sản.

Lý do thứ nhất là bộ máy kiểm soát chính trị và xã hội. Đảng Cộng Sản kiểm soát chặt chẽ toàn bộ cơ cấu xã hội một cách tinh vi, từ các đơn vị nhỏ đến các ban ngành lớn. Cơ quan tuyên truyền trung ương đảng kiểm soát từng chi tiết các sinh hoạt tri thức, thông tin, truyền thanh, truyền hình, báo chí. Hệ thống kiểm duyệt trong chế độ Cộng Sản không chỉ ở trung ương mà theo nhiều tầng lớp. Ngay cả khi tác giả viết bài cũng đã thực thi tự kiểm duyệt vì họ biết những gì nên viết và những gì không được viết trước khi nạp bản thảo cho cơ quan kiểm duyệt nhà nước. Bức tường bưng bít thông tin dày nhiều lớp như thế đã che đậy tội ác ngập trời của các lãnh tụ Cộng Sản. Giáo sư Brian Reynolds Myers giảng dạy môn nghiên cứu quốc tế tại đại học Dongseo University in Busan, South Korea cho biết ngoài một rất ít lén lút mua được vài bộ phim Nam Hàn, máy truyền hình Trung Quốc, tuyệt đại đa số sản phẩm văn hóa nghệ thuật là sản phẩm của tuyên truyền. Các tác phẩm phim ảnh được duyệt nhiều lần để bảo đảm khi đến người dân không có một tình tiết nào đi ngược với đường lối của Đảng.

Lý do thứ hai vì họ chỉ giết chính nhân dân nước họ. Không giống chế độ độc tài Đức Quốc Xã tàn sát dân Do Thái, lãnh đạo Cộng sản các nước thường giết chính đồng bào cùng máu mủ, cùng tổ tiên, cùng đất nước với họ. Ngay từ sau 1975, dư luận thế giới đã biết đến tội ác của chế độ Pol Pot. Tạp chí Time còn đăng cả bức hình một tội nhân đang bị đánh vào đầu bằng cuốc. Tuy nhiên, ngoài Việt Nam tấn công chế độ bằng một lý do riêng vào tháng Giêng 1978, không một quốc gia nào kể Liên Hiệp Quốc có hành động cụ thể để ngăn chặn tội ác của Pol Pot. Khi một chế độ có toàn quyền sinh sát với nhân dân, họ cũng có điều kiện để tồn tại lâu dài. Giống như Pol Pot, cha con Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật đã can tội diệt chủng và chống lại nhân loại. Theo ước lượng của báo chí ít nhất một triệu người đã chết trong các trại tù Bắc Hàn từ ngày đình chiến đến nay. Bộ Ngoại Giao Mỹ cho biết khoảng 150 ngàn đến 200 ngàn người vẫn còn đang bị ở tù. Ngoài ra, khoảng 2.5 triệu người dân Bắc Hàn đã chết trong các nạn đói từ 1990.

Lý do thứ ba, cũng khác với các lãnh tụ Đức Quốc Xã thường bị truy tố ngay sau chiến tranh, tội ác của các lãnh tụ Cộng sản còn được che dấu một cách tinh vi, có hệ thống dưới các nhãn hiệu vô cùng tốt đẹp như “độc lập, tự do, hạnh phúc”. Vai trò của Kim Nhật Thành trong chiến tranh chống Phát Xít Nhật, Hồ Chí Minh trong chiến tranh chống Pháp, Fidel Castro trong chiến tranh chống độc tài Batista, Stalin trong chiến tranh chống Đức, Mao Trạch Đông trong chiến tranh chống Nhật được đề cao đến độ nếu không có họ có thể toàn dân tộc đã bị xóa tên khỏi lịch sử loài người. Hình ảnh Mao Trạch Đông chính thức tuyên bố thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, hình ảnh Hồ Chí Minh đọc “tuyên ngôn độc lập” đã được đánh bóng sáng đến mức mọi tội tác tày trời khác đã trở thành trộm vặt. Chỉ trong vòng vài năm sau ngày tuyên bố “Nhân dân Trung Hoa đã đứng lên” 30 triệu “nhân dân” đã bị giết trong hàng loạt các chiến dịch chống hữu khuynh, trăm hoa đua nở, bước tiến nhảy vọt, công xã nhân dân, cách mạng văn hóa. Tội ác của Mao chống lại nhân dân Trung Hoa nói riêng và loài người nói chung vượt qua con số do Hitler, Stalin và Leopold II cộng lại. Tương tự tại Hà Nội chỉ vài năm sau ngày “tôi nói đồng bào nghe rõ không”, nhiều vạn “đồng bào” đã không còn cơ hội nghe rõ nữa vì họ đã chết một cách oan ức trong các cuộc đấu tố vô cùng tàn ác.

Lý do thứ tư, ngoại trừ trường hợp Khrushchev, ít khi nào một lãnh đạo Cộng sản đứng lên thẳng thắn vạch trần tội lỗi của lớp lãnh đạo trước, bởi vì làm như thế là tạo chỗ hở cho kẻ thù chung tấn công vào chế độ. Trường hợp Đặng Tiểu Bình đối với Mao Trạch Đông là một ví dụ điển hình. Đặng Tiểu Bình là một trong những người chịu đựng sự hành hạ và mất mát lớn lao về nhân mạng trong thời Cách mạng văn hóa. Bản thân Đặng Tiểu Bình bị chính Mao thanh trừng nhiều lần và con trai của Đặng Tiểu Bình đã chết một cách thê thảm khi bị ném từ cửa sổ xuống đường. Chuyện đời tư của Mao, từ bản chất độc tài, nghi kỵ cho đến cá tính trăng hoa dâm dật, Đặng Tiểu Bình biết hơn ai hết, nhưng khi lên nắm quyền hành, họ Đặng vẫn tiếp tục sơn son thiếp vàng lên một hình tượng mà cá nhân y vô cùng căm hận. Trên đồng nhân dân tệ từ đơn vị một đồng cho đến một trăm đồng vẫn in khuôn mặt mỉm cười của kẻ từng điều khiển bộ máy giết người khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại. Bởi vì, là một trong số rất ít lãnh đạo Cộng sản lão thành còn sót lại từ thời Vạn lý trường chinh và cũng quá thuộc sử Tàu, Đặng Tiểu Bình biết, giống như các triều đại phong kiến Trung Hoa, đặc tính kế thừa của một quyền lực trung tâm là một yếu tố sinh tử không thể phủ định của chế độ Cộng Sản. Điểm trung tâm vỡ toàn bộ hệ thống cai trị sẽ vỡ theo.

Lý do thứ năm, các lãnh đạo Cộng Sản thường tận dụng vị trí của kẻ thù đã chết. Những lãnh tụ Cộng Sản thường tận diệt kẻ thù còn sống nhưng ca tụng kẻ thù đã chết. Stalin ca tụng Lenin, Fidel Castro ca tụng Ernesto “Che” Guevara, Đặng Tiểu Bình ca tụng Mao Trạch Đông. Lấy trường hợp Che làm ví dụ. Nếu Ernesto “Che” Guevara không làm cách mạng phiêu lưu Nam Mỹ mà tiếp tục ở lại Cu Ba, thất khó tưởng tượng ông ta có thể sống sót dưới bàn tay của Fidel Castro. Một rừng không có hai cọp, một nước không có hai vua, đừng nói chi là quan hệ giữa Che và Fidel Castro rạn nứt trước khi Che tạm biệt vợ con lần cuối và lên đường đi Bolivia cuối năm 1966. Che chủ trương kỹ nghệ hóa đất nước, Fidel Castro chủ trương củng cố quyền lực trung ương. Sự khác biệt của Che và Fidel Castro khá giống trường hợp của Lưu Thiếu Kỳ và Mao Trạch Đông. Nhưng hôm nay, nếu ai đến Havana, sẽ gặp hình ảnh Che trên khắp ngả đường. Xác chết không nghe được lời ca tụng, không nếm được mỹ vị cao lương, không sống trong các biệt thự có kẻ hầu người hạ, chỉ có đám độc tài đang thống trị đất nước mới thật sự là những kẻ hưởng thụ quyền lực.

Lý do thứ sáu, che đậy tội ác của nhau. Thật vậy, nếu không chính từ cửa miệng Khrushchev nói ra trong diễn văn dài 4 giờ đồng hồ giữa khuya ngày 2 tháng 5/1956 trước đại hội lần thứ 20 đảng Cộng sản Liên Xô, có thể sau khi chế độ Xô Viết sụp đổ, nhân loại mới biết Stalin là “một người luôn ngờ vực một cách bịnh hoạn… Sự hoài nghi bịnh hoạn đó làm cho Stalin không tin tưởng ngay cả những lãnh đạo cao cấp đã từng làm việc với y nhiều năm. Nhìn đâu Stalin cũng thấy những “kẻ thù”, “những người hai lòng dạ”, “gián điệp””. Theo Khrushchev, Stalin đã dùng “tất cả các phương tiện lừa dối, xây dựng vinh quang cho chính bản thân y”. Khrushchev kể, năm 1948, tác phẩm “Tiểu Sử Ngắn” của Stalin được trình lên cho y coi lại trước khi in “Stalin không có một sự tự trọng tối thiểu nào khi tự sửa đổi bản thảo để gọi chính mình là lãnh tụ vĩ đại, nhà chiến lược siêu phàm của mọi thời đại và sửa bất cứ đoạn nào ca ngợi y không đủ”. Ở Việt Nam cũng có chuyện lãnh tụ tối cao tự ca ngợi đời mình như thế.

Thật vậy, nếu không phải do chính cửa miệng Nuon Chea, Anh Hai (Brother Number Two) của Khờ Me Đỏ, sau Anh Cả Pol Pot thốt ra, thế giới không biết lý do hàng triệu người dân Cambode bị giết chỉ vì “họ là kẻ thù của nhân dân”. Tên đao thủ phủ Nuon Chea khi trả lời không hiện ra trên khuôn mặt một dấu hiệu xót thương, hối tiếc, dường như ông ta vừa giết một con gà, con vịt chứ không phải 1,7 triệu người trong một đất nước chỉ có 7 triệu dân. Chỉ trong thời gian 4 năm từ 1975 đến 1979, 21%, dân Cambode đã bị giết bằng các hình thức vô cùng thảm khốc, kể cả cắt cổ, chặt đầu, gây thương thích và để chảy máu cho đến chết. Những chi tiết trong hồ sơ tòa án do Liên Hiệp Quốc bảo trợ về nhà tù Tuol Sleng hay được gọi theo mã số S-21sẽ mãi mãi ám ảnh trong lịch sử Cambode. Phần lớn tù nhân tại S-21 bị giết sau thời gian tra tấn bằng các thủ đoạn tàn độc như xẻ thịt, đổ rượu vào vết thương. Trong số 17 ngàn tù nhân tại Tuol Sleng chỉ có 7 người sống sót. Trong phiên tòa hôm 8 tháng 12/2011, thậm chí Nuon Chea còn phản đối dư luận dám nói xấu đảng Cộng sản: “Khờ Me Đỏ không phải là những người xấu đâu nhé”.

Nếu không phải do chính ngòi bút của Hoàng Tùng, nguyên bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và là một trong số rất ít người gần gũi với Hồ Chí Minh nhiều năm viết ra có lẽ còn rất lâu người dân Việt Nam mới biết Hồ Chí Minh không những biết trước mà còn là người bỏ lá phiếu quyết định xử tử bà Nguyễn Thị Năm: “Sau cố vấn Trung Quốc là La Quý Ba đề nghị mãi, Bác nói: “Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải”. ”Nếu trong buổi họp đó, với tư cách Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương đảng và người có quyền lực tối thượng bao trùm lên cả đám đệ tử “đa số” kia trong bộ chính trị, Hồ Chí Minh quyết định khác đi, chẳng những số phận của người phụ nữ yêu nước, cống hiến con cái của mình, tài sản của mình cho cuộc kháng chiến chống Thực Dân Pháp đầy gian khổ của dân tộc không phải chết một cách oan ức mà còn cứu mạng nhiều ngàn người dân vô tội khác trong những lần đấu tố sau đó. Tòa án lịch sử dân tộc Việt Nam hôm nay và ngàn đời sau phán xét ông Hồ không phải dựa vào việc ông ta “cho là phải” hay “cho là không phải” khi giết bà Nguyễn Thị Năm nhưng ở chỗ ông ta đã quyết định bỏ phiếu “theo đa số”. Lá phiếu của ông Hồ chính là viên đạn bắn vào đầu bà Nguyễn Thị Năm.

Chủ nghĩa Cộng Sản đã tàn rụi ở châu Âu nhưng trong năm nước còn sót lại sự khổ đau, chịu đựng vẫn còn đến hôm nay và không biết đến bao giờ mới hết. Chiến tranh lạnh đã tàn. Các nước tư bản tự do vì lý do kinh tế đã không còn giương cao ngọn cờ dân chủ như trước nữa. Họ mặc nhiên chấp nhận chế độ Cộng Sản như là một thực tế của mỗi quốc gia hơn là một phong trào quốc tế. Nhân dân Bắc Hàn, Cu Ba, Việt Nam, Lào, Trung Hoa là những dân tộc chịu đựng trong cô đơn. Người dân Bắc Hàn khóc vì sợ hãi, giả dối, bắt buộc hay bị tẩy não, đều đáng thương, đáng được cảm thông hơn là đáng trách hay đáng cười khinh rẻ. Những giọt nước mắt đó trước lương tâm nhân loại chính là những lời tố cáo hùng hồn về một chế đô phi nhân đang tồn tại ở Á Châu.

© 2011 Trần Trung Đạo & Đàn Chim Việt

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Tổng thống Hàn Quốc :
Một tấm gương sáng để các nhà lãnh đạo nên đọc để Suy nghĩ với lương tâm


Tuổi thơ cùng khổ của Tổng thống Hàn Quốc

Tổng thống kể lại quãng đời tuổi thơ gian khó cũng như nguồn cảm hứng để ông có thể làm việc hết mình khi ở đỉnh cao quyền lực.


Từ ngày 1.11, cuốn hồi ký bằng tiếng Anh The Uncharted Path (tạm dịch: Lối đi không dấu chân người) của Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak được xuất bản tại Mỹ, theo Korea Times. Sách phần lớn được dịch từ cuốn hồi ký bằng tiếng Hàn " Không có thần thoại "được xuất bản vào năm 1995, nhưng có thêm những câu chuyện từ khi ông Lee rời Tập đoàn Hyundai để làm thị trưởng Seoul rồi làm tổng thống cho đến nay.
Image
Ông Lee Myung-bak khi còn học trung học cơ sở - Ảnh: Korea Times
Uống nước để lấp bao tử

Trong cuốn hồi ký, ông Lee kể rằng vào tháng 8.1945, khi quân Nhật bị đánh bại, gia đình ông Lee rời khỏi Osaka, Nhật Bản để trở về thành phố Pohang, đông nam bán đảo Triều Tiên. Trên đường về, phà chở gia đình ông cùng nhiều người khác bị lật, rất may mọi người được cứu sống nhưng tất cả tài sản mà họ dành dụm được đều bị cuốn trôi. Khi đó cậu bé Lee Myung-bak mới 4 tuổi. Đến khi chiến tranh Triều Tiên xảy ra vào năm 1950, cha ông mất việc, gia đình phải chuyển đến một ngôi đền cũ dưới chân núi để trú ngụ cùng nhiều gia đình khác. Ông Lee nhớ lại: “Xung quanh chúng tôi là tiếng khóc của trẻ con, tiếng cãi vã của người lớn và tiếng rên rỉ của người bệnh đang nằm. Cái khổ nhất phải chịu đựng là cơn đói triền miên. Đói tới quặn ruột”.

Trong những ngày đó, bữa ăn của gia đình ông chủ yếu là bã rượu vì đó là thứ mà gia đình có khả năng mua. Khi đến trường, ông không có cơm trưa để ăn. “Trong lúc những đứa trẻ khác ăn trưa, tôi hay đi đến vòi nước để lấy nước lấp đầy bao tử. Tôi nhớ rằng mình đã uống nước đến khi bụng trương lên, và rồi nhận ra dù uống bao nhiêu đi nữa, nước không bao giờ làm bạn no. Vào những ngày đóng học phí, tôi hay bị kêu về nhà để lấy tiền đóng. Mỗi khi việc này xảy ra, tôi chỉ đi lên ngọn đồi phía sau trường và đứng ở đó một lát, vì về nhà cũng chẳng có tiền. Sau một lúc thì tôi trở lại trường và xin giáo viên cho gia hạn”.

Ông không có tiền đi học là do ba ông từ khi còn làm ở Nhật đã gửi tiền cho bác để nuôi con bác ấy ăn học. “Tôi không trách ông ấy, nhưng khi nhìn lại quả thật đó là thời gian khó nhọc đối với trẻ con. Tuy nhiên, chúng tôi không bao giờ đổ lỗi cho hoàn cảnh. Thay vào đó, cái nghèo đã làm cho chúng tôi mạnh mẽ hơn”. Trước khi vào lớp 5, Lee Myung-bak đã làm mọi thứ để kiếm tiền, như làm que diêm và bánh bán cho binh sĩ. Ông thường chịu đói nhưng vẫn tiếp tục đi học, dù mỗi ngày phải đi bộ tới 4 giờ.

Bị liệt vào danh sách đen

Khi còn là sinh viên, chàng thanh niên Lee Myung-bak từng phải ở tù về tội “kích động chống nhà nước”. Sau khi ra tù, ông được tốt nghiệp mà không cần phải hoàn tất những môn học bỏ lỡ. Ông giải thích: “Lý do là họ muốn tống tôi ra khỏi trường càng nhanh càng tốt vì không muốn tôi gây thêm rắc rối”. Cũng do có tiền án, ông đã nộp đơn vào nhiều công ty nhưng không qua được vòng phỏng vấn vì
Sau đó, ông viết thư gửi Tổng thống lúc đó là Park Chung-hee. “Trong thư, tôi giải thích tại sao tôi trở thành chủ tịch hội đồng sinh viên và hướng dẫn các cuộc biểu tình. Tôi chỉ ra rằng mình tìm việc rất khó khăn. Tôi kết thúc thư bằng cách chỉ trích gay gắt hành vi của nhà nước trong việc xem quá khứ để cản tôi thực hiện ước mơ”, ông viết.

Vài ngày sau, ông được ông Lee Nak-sun, thư ký của Tổng thống Park hẹn gặp. Thư ký Lee nói rằng ông đáng bị trừng phạt để làm gương cho những sinh viên muốn biểu tình chống chính phủ. Tuy nhiên, kết thúc cuộc gặp, ông Lee hỏi ông có muốn đi du học theo học bổng nhà nước hoặc làm việc tại công ty nhà nước hay không. “Tôi đáp lại là không. Tôi không thể chấp nhận củ cà rốt mà chính phủ ban phát cho tôi... Trước khi chúng tôi chia tay, tôi nói với ông ấy: Nếu nhà nước cản trở một công dân tự kiếm sống thì tôi phải nói rằng nhà nước đã nợ công dân đó rất nhiều. Tôi mong ông nhớ điều đó”. Đến tháng 7.1965, ông được nhận vào làm nhân viên của Công ty xây dựng Hyundai sau khi qua vòng phỏng vấn và trở thành Chủ tịch Hyundai vào năm 1988.

“Tiếp tục phục vụ”

Đến năm 1992, ông Lee rời công ty để bước chân vào con đường chính trị, gia nhập đảng Tự do Dân chủ. Ông đắc cử chức Thị trưởng Seoul năm 2002 và sau đó giành thắng lợi áp đảo trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 19.12.2007. Ngay sau khi nhận được chi phiếu tiền lương đầu tiên cho chức vị tổng thống của mình vào ngày 10.3.2008, ông lập tức tuyên bố dành toàn bộ lương hằng tháng (khoảng 14 triệu won - tương đương hơn 210 triệu đồng) để tặng cho người nghèo trong suốt nhiệm kỳ 5 năm.

Đến tháng 7.2009, ông công bố thành lập một quỹ từ thiện trong đó ông ủng hộ 33,1 tỉ won (gần 500 tỉ đồng). “Tôi không bao giờ quên được những người đã chìa tay ra giúp đỡ cậu thanh niên nghèo vượt qua khó khăn trong khi họ cũng nghèo. Và tôi biết đối với tôi, cách tốt nhất để đền đáp lại lòng tốt đó là cho lại xã hội những gì tôi kiếm được”, Korea Times dẫn lời ông Lee. Trong cuốn hồi ký mới, ông cho biết sẽ dùng quỹ từ thiện này để hỗ trợ những thế hệ trẻ đang chịu cảnh nghèo như ông đã gặp cách đây 5 thập niên.

Ông Lee, 69 tuổi, tiết lộ rằng bà mẹ quá cố của ông có ảnh hưởng lớn tới cuộc đời ông. Bà luôn muốn các con mình làm việc chăm chỉ, phục vụ và thương yêu người khác. Có lẽ vì thế mà ông chia sẻ: “Trong những ngày còn lại của nhiệm kỳ, tôi sẽ luôn nhớ vinh dự lớn là phục vụ. Sau khi về hưu, tôi sẽ tiếp tục phục vụ... Tôi sẽ tham gia việc giáo dục trẻ con về tầm quan trọng của sự phát triển xanh, bền vững và việc bảo vệ môi trường”.

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »


User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Triều Tiên công nhận Kim Jong-un là lãnh đạo tối cao

Đại tướng Kim Jong-un hôm nay chính thức được công nhận là người kế tục Chủ tịch Kim Jong-il tại tất cả các vị trí lãnh đạo cao nhất của Triều Tiên.

Image
Đại tướng Kim Jong-un trong lễ tang Chủ tịch Kim ngày hôm qua. Ảnh: AFP
"Đồng chí Kim Jong-un tôn kính là lãnh đạo tối cao của đảng và quân đội Triều Tiên. Đồng chí đã kế thừa tinh thần, khả năng lãnh đạo, nhân cách, đạo đức và sự dũng cảm của Chủ tịch Kim Jong-il", AFP dẫn lời Chủ tịch Quốc hội Triều Tiên Kim Yong-nam nói.

Phát biểu trước một biển người đứng chật cứng quảng trường Kim Nhật Thành, ông Kim Yong-nam ca ngợi những cống hiến của Chủ tịch Kim Jong-il cho sự ổn định và hòa bình trên toàn cầu trong thế kỷ 21.

"Trái tim vĩ đại của đồng chí Kim Jong-il đã ngừng đập. Một sự ra đi quá đỗi bất ngờ đối với chúng ta. Đây là sự mất mát lớn nhất và khó có thể hình dung nhất đối với đảng và cuộc cách mạng của chúng ta", ông Kim Yong-nam nói trước đám đông với giọng đầy xúc động. "Triều Tiên sẽ biến đau thương thành sức mạnh và sự quả cảm gấp 1.000 lần dưới sự lãnh đạo của đồng chí Kim Jong-un. Chúng ta sẽ kiên định đi theo con đường đã được lãnh tụ vĩ đại Kim Jong-il khai sáng".
Image
Tướng Kim Jong-gak cam kết sự trung thành của quân đội với đại tướng Kim. Ảnh: AFP
Ông Kim Jong-gak, một quan chức cấp cao của quân đội Triều Tiên, cam kết sự trung thành của quân đội đối với vị lãnh đạo mới và trẻ tuổi, người được phong là tướng 4 sao nhưng chưa từng phục vụ trong lực lượng vũ trang. Nhắc lại việc Chủ tịch Kim Jong-il đã ra lệnh cho quân đội nghe theo những chỉ đạo của đại tướng Kim Jong-un, ông Kim Jong-gak cho hay tất cả quân nhân Triều Tiên sẽ tạo nên một bức tường bảo vệ vị đại tướng trẻ tuổi.

Hãng truyền thông KCNA của Triều Tiên cũng gọi đại tướng Kim là "lãnh đạo tối cao của đảng, nhà nước và quân đội".

Trong bộ áo khoác màu đen, đại tướng Kim Jong-un đứng trên lễ đài ở quảng trường Kim Nhật Thành cùng với các quan chức, tướng lĩnh cấp cao của Triều Tiên. Đứng sát đại tướng Kim là Tư lệnh Quân đội Triều Tiên Ri Yong-ho, tướng Kim Jong-gak, Chủ tịch Quốc hội Kim Yong-nam, các quan chức cấp cao của đảng Lao động cầm quyền Kim Ki-man và Choe Thae-bok, cùng Bộ trưởng Quốc phòng Kim Yong-chun. Hiện chưa rõ ông Chang Song-thaek, người chú quyền lực của đại tướng Kim, có xuất hiện trên lễ đài hôm nay hay không.

Các hoạt động mặc niệm và bắn pháo trên quảng trường Kim Nhật Thành ngày hôm nay kết thúc 13 ngày quốc tang Chủ tịch Kim Jong-il, người qua đời ngày 17/12 sau một cơn đau tim.

Nhật Nam

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Toàn cảnh 'điểm nóng' Iran


Độ nóng xung quanh Iran ngày càng tăng trong suốt cả năm qua, bởi các vụ tố cáo gián điệp, bắn tên lửa hay tập trận. Và giờ đây,
Tehran và Washington đang khẩu chiến đe dọa lẫn nhau trên vùng biển là huyết mạch vận chuyển dầu mỏ thế giới.


Image
Iran liên tục tiến hành các cuộc bắn thử tên lửa hồi giữa năm nay, trong đó đáng chú ý nhất là loạt bắn thử
trong cuộc tập trận "Nhà tiên tri vĩ đại-6" do Vệ binh Cách mạng Iran thực hiện.
Trong ảnh là tên lửa Zelzal được phóng lên từ một địa điểm không xác định hôm 28/6. Ảnh: AFP

Image
Đầu tháng 9, máy điện hạt nhân đầu tiên của Iran mang tên Bushehr đã bắt đầu hoạt động sau 40 năm kể từ ngày được khởi công.
Nhà máy điện Bushehr có tổng đầu tư xây dựng là 1 tỷ USD, công suất tối đa 1.000 megawatt,
nằm cách thủ đô Tehran hơn 1.000 km về phía nam. Ảnh: AP

Image
Mối quan hệ giữa Iran và các nước phương Tây dần trở nên căng thẳng hơn sau khi Mỹ tuyên bố
phá được âm mưu ám sát đại sứ Saudi Arabia tại Washington bằng thuốc nổ.
Hai nghi phạm được xác định là Manssor Arbabsiar (ảnh), công dân Mỹ có hai hộ chiếu Mỹ-Iran,
và Gholam Shakuri, được cho là thành viên của lực lượng an ninh Iran. Arbabsiar, bị bắt ở sân bay New York hồi cuối tháng 9,
đã thú nhận định thực hiện âm mưu trên. Shakuri vẫn ở Iran. Ảnh: AP

Image
Ngay sau khi đại giáo chủ Iran Ayatollah Ali Khamenei tuyên bố rằng bất kỳ biện pháp nào nhằm chống lại Iran sẽ gây ra những hành động
trả đũa kiên quyết, các quan chức cấp cao của Israel đồng loạt lên tiếng. Thủ tướng Benjamin Netanyahu, Tổng thống Shimon Peres
và Bộ trưởng Quốc phòng Ehud Barak đều không loại trừ khả năng tấn công Iran với những phát biểu đanh thép. Ảnh: AFP, AP, Thesenews, Indiatalkies

Image
Giữa lúc căng thẳng Iran - Israel lên cao, các thanh sát viên của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) đưa ra
bản báo cáo khẳng định "Iran đang nghiên cứu vũ khí hạt nhân".
Điều này dẫn tới việc Mỹ và nhiều nước phương Tây liên tiếp áp đặt các lệnh trừng phạt mới nhằm vào quốc gia Hồi giáo.
Iran một mực bác bỏ bản báo cáo trên, đồng thời tiếp tục khẳng định chương trình hạt nhân của nước này là vì mục đích hòa bình.

Trong ảnh là các thanh sát viên của IAEA tới Iran trong một chuyến công tác vào năm 2009. Ảnh minh họa: EPA/ANP


Image
Cùng với Syria, Iran trở thành một "điểm nóng" tại khu vực Trung Đông. Dư luận càng quan tâm tới Iran nhiều hơn khi
Mỹ điều các tàu sân bay USS George H.W. Bush và USS John C. Stennis cùng một số chiến hạm khác tới eo biển Hormuz,
cửa ngõ dẫn vào vịnh Ba Tư. Trong ảnh là hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush của Mỹ. Ảnh: Defencetalk

Image
Ngày 12/11, 17 binh sĩ Iran thiệt mạng trong một vụ nổ "đinh tai nhức óc" tại căn cứ quân sự ở gần thủ đô Tehran.
Một quan chức cao cấp của quân đội Iran phụ trách chương trình phát triển tên lửa cũng nằm trong số người thiệt mạng.
Giới chức Iran nói đây là tai nạn song báo chí Israel ngụ ý chính phủ của họ đứng sau vụ tấn công. Ảnh: AP

Image
Những người biểu tình Iran hôm 29/11 kéo tới đại sứ quán Anh tại thủ đô Tehran và tràn được vào
cơ quan ngoại giao này bất chấp sự ngăn chặn của cảnh sát.
Họ đập phá các văn phòng, đập vỡ nhiều cửa sổ và đốt cháy một số ôtô ở đây.
Mục đích của những người biểu tình là nhằm phản đối những lệnh trừng phạt mà Anh nhắm vào ngành tài chính của Iran.
Anh rất tức giận sau vụ việc này và đã trục xuất tất cả các nhân viên ngoại giao Iran ở London về nước. Ảnh: AFP

Image
Giữa lúc có những nghi ngờ về việc Mỹ và Israel đang tiến hành một cuộc chiến tranh tình báo nhằm vào Iran,
quốc gia Hồi giáo hôm 5/12 tuyên bố khống chế thành công một máy bay do thám tàng hình không người lái của Mỹ bay vào không phận nước này.
Bất chấp việc Mỹ yêu cầu trả lại chiếc phi cơ, Iran tuyên bố từ chối và còn khẳng định sẽ khám phá bí mật công nghệ để sản xuất hàng loạt.
Trong ảnh là hai quan chức Iran đứng cạnh chiếc RQ-170 Sentinel mà Iran thu giữ được. Ảnh: Iranfocus

Image
Ngay sau khi thu giữ chiếc máy bay RQ-170 Sentinel, Iran lại tuyên bố bắt được một người nghi là đặc vụ CIA
bị cho là nhận nhiệm vụ xâm nhập vào Bộ Tình báo Iran.
Người bị bắt là một công dân Mỹ gốc Iran có tên Amir Mirzai Hekmati và ở độ tuổi ngoài 20.
Anh ta sinh ra ở bang Arizona, Mỹ, và nhập ngũ năm 2001 rồi trải qua 10 năm được huấn luyện về tình báo. Ảnh: Iran TV

Image
Hôm 24/12, Iran bắt đầu cuộc tập trận hải quân quy mô lớn mang tên Velayat 90,
với phạm vi trải dài tới 2.000 km từ vịnh Ba Tư qua eo biển Hormuz tới vịnh Oman.
Nhân cuộc tập trận này, Iran còn đe dọa sẽ đóng cửa eo biển Hormuz, cửa ngõ thông thương của tuyến hàng hải
chuyên chở dầu mỏ lớn nhất thế giới, nếu các lệnh trừng phạt nhằm vào nước này được bổ sung. Ảnh: AFP

Image
Đáp lại lời đe dọa của Iran, Mỹ điều tàu sân bay USS John C. Stennis tới vùng biển gần nơi Iran tổ chức tập trận.
Hàng không mẫu hạm này đã bị một máy bay trinh sát của Iran phát hiện, rồi ghi hình và chụp ảnh.
Hôm qua, thông tin Mỹ sắp công bố thương vụ bán cho Saudi Arabia 84 máy bay chiến đấu F-15 và nâng cấp 70 phi cơ khác cũng được loan báo.
Hợp đồng này có trị giá lên tới gần 30 tỷ USD. Saudia Arabia là nước láng giềng của Iran
nhưng lại là đồng minh quan trọng của Mỹ tại Trung Đông. Ảnh: AFP/FARS News

Hà Giang

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image


TIN VUI ĐẦU NĂM

Cờ Vàng Quốc Gia Vẫn Mãi Tung Bay


Xin kính chuyển và loan báo TIN VUI đầu năm cho cộng đồng Người Việt hải ngoại.
Chính nghĩa luôn luôn thắng hung tàn. Kính xin tiếp tay phổ biến rộng rãi.
Ước mong mầu cờ Chính Nghĩa sẽ sớm tung bay trên khắp Quê Hương thân yêu
để đem lại đời sống thanh bình thật sự cho toàn dân đã bị đau khổ triền miên từ ngày lão Hồ tặc xuất hiện trên quê hương cho đến nay.
Xin click vào link dưới đây...


User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

2011: Năm của quần chúng
Nguyễn Hưng Quốc
(Nguồn: VOA)

Nếu đặc điểm đầu tiên của năm 2011 là tính chất cách mạng thì đặc điểm kế tiếp cần được nhấn mạnh: Tính chất quần chúng.

Image
Dân chúng Ai Cập tiếp tục biểu tình tại Quảng Trường Tahrir ở thủ đô Cairo đòi nhà cầm quyền quân sự trao quyền cho chính phủ dân sự.
(Hình: Filippo Monteforte/AFP/Getty Images)

Có thể gọi năm 2011 là năm của quần chúng.

Không phải đến năm 2011 vai trò của quần chúng mới nổi bật và mới được ghi nhận. Không. Ngay từ đầu thế kỷ 20, với cuộc cách mạng gọi là vô sản do các đảng cộng sản lãnh đạo, người ta đã hết lời đề cao quần chúng. Ðề cao trên lý thuyết và cả trên thực tiễn. Trên thực tiễn, ở đâu cũng có hình ảnh công nhân và nông dân. Trên lý lịch, ở mục thành phần xuất thân, nếu có được những chữ như “công nhân” hay “nông dân”, nếu là “bần nông” hay “cố nông” nữa, thì coi như có được một điểm son hoàn hảo có thể dễ dàng được thăng tiến trong xã hội. Nghe nói ở Việt Bắc từ cuối thập niên 1940 và ở miền Bắc từ giữa thập niên 1950, nhiều trí thức rất hân hoan lấy vợ hay chồng là bần nông hay cố nông, bất chấp nhan sắc, học thức hay tính cách, để được chia sẻ chút lý lịch tốt. Trên lý thuyết, người ta lại càng đề cao quần chúng. Người ta xem quần chúng là chủ thể của lịch sử, là động lực của mọi sự tiến bộ, kể cả những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật. Người ta khuyên trí thức phải học hỏi quần chúng. Cái gọi là “đi thực tế” thực chất là một nỗ lực học tập quần chúng. Học cách sống. Cách làm việc. Cách suy nghĩ. Cách cảm xúc. Quá trình học tập ấy cũng là một quá trình tự cải tạo mình, tự lột xác mình. Ðể thành quần chúng.

Tuy nhiên, dù rất mực đề cao quần chúng, tất cả các phong trào cộng sản, ít nhất ở giai đoạn đầu, giai đoạn vận động cách mạng để giành và sau đó, thành lập chính quyền, đều nằm hết trong tay thành phần trí thức tiểu tư sản. Cứ nhìn vào giới lãnh đạo ở Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam thì thấy. Riêng ở Việt Nam, giới lãnh đạo từ Hồ Chí Minh đến Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng, Võ Nguyên Giáp... đều là thành phần trí thức. Hiện nay, dù trên danh nghĩa, đảng Cộng sản vẫn giương cao chiêu bài công nhân và nông dân, nhưng giới lãnh đạo vẫn là tầng lớp quan liêu, vừa giàu có vừa muốn làm đại trí thức với đủ thứ bằng cấp, dù là bằng giả, bằng dỏm (mua ở các cơ sở chuyên sản xuất bằng giả) và bằng hoàn toàn không có chất lượng (từ các lớp chuyên tu hay tại chức).

Cho nên, cái gọi là tính quần chúng trong các cuộc cách mạng vô sản chỉ là một chiêu bài, một chiến lược chính trị hơn là sự thực.

Trong các cuộc cách mạng năm 2011 thì quần chúng đóng một vai trò quan trọng thực sự. Không ai xúi giục họ cả. Không ai lãnh đạo họ cả. Không ai vạch chiến lược, chiến thuật cho họ cả. Từ đầu đến cuối, chỉ có họ, những đám đông hoàn toàn vô danh.

Các cuộc cách mạng ở Trung Ðông và Bắc Phi có lẽ là những cuộc cách mạng duy nhất thành công mà không hề gắn liền với bất cứ một đảng phái hay một lãnh tụ nào. Xin lưu ý: Chúng ta không bàn đến thời “hậu-cách mạng”, khi các tên độc tài đã từ chức hoặc bỏ chạy. Chúng ta chỉ bàn đến giai đoạn cách mạng thực sự, tức từ lúc cuộc tranh đấu bắt đầu cho đến lúc bạo quyền sụp đổ: Ở giai đoạn này, ở cả Tunisia lẫn Ai Cập, đều không hề có bóng dáng một đảng phái nào. Một số đảng phái chính trị muốn rục rịch nhảy ra chia phần đều bị quần chúng gạt đi. Hơn nữa, một phần vì không muốn chính quyền tìm cớ để trấn áp, phần khác, cũng biết không nên trêu ngươi quần chúng, nên các đảng phái ấy chỉ hoạt động cầm chừng và khá kín đáo. Tuy nhiên, có điều chắc chắn là họ không có ảnh hưởng gì đến các phong trào nổi dậy của quần chúng.

Không có đảng phái. Và cũng không có lãnh tụ. Ngay cả lãnh tụ nổi lên từ phong trào cũng không có. Mọi người xuống đường một cách tự phát và hoạt động của họ được điều hướng chủ yếu qua các mạng xã hội, từ facebook đến twitter hay tin nhắn trên điện thoại di động. Ðặc điểm lớn nhất của các cuộc mạng xã hội ấy là tính chất phi tâm. Mỗi người một ý, cuối cùng, người ta đồng thuận với nhau ở một điểm nào đó; và chính ở cái điểm đồng thuận ấy, người ta bắt tay vào hành động. Rất nhịp nhàng, dù không có ai là thủ lãnh.

Không có lãnh tụ. Và cũng không có lý thuyết gia. Trong khi thông thường, cuộc cách mạng nào cũng đi liền với một lý thuyết cách mạng; và đằng sau các lý thuyết ấy dĩ nhiên là có những con người được khen là uyên bác, có khả năng tổng hợp cao và nhạy bén phi thường. Cuộc cách mạng Pháp ở thế kỷ 18 gắn liền với bao nhiêu nhà tư tưởng cho đến bây giờ vẫn còn lừng lẫy. Cuộc cách mạng vô sản trong nửa đầu thế kỷ 20 cũng đẻ ra một số lý thuyết gia, từ Lênin đến Mao Trạch Ðông. Ngay trong cuộc cách mạng dân chủ làm tan rã chế độ cộng sản ở Ðông Âu cũng gắn liền với một tên tuổi có tầm lý thuyết lớn: Vaclav Havel, người đã tổng hợp được những lý tưởng của cách mạng và trở thành nguồn cảm hứng cho dân chúng các nước vừa thoát khỏi chế độ cộng sản.

Còn cuộc cách mạng ở các nước Ả Rập năm 2011? Không có ai cả. Từ phong trào, không nổi lên một lý thuyết gia nào. Tất cả các nhà tư tưởng lớn cũng như các nhà văn, nhà thơ lớn, những người có khả năng làm phát ngôn viên của phong trào đều im lặng. Cho đến nay, hầu hết những người lên tiếng về các cuộc cách mạng ấy đều là giới thanh niên, sinh viên và các blogger.

Tại sao?

Có nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân đầu tiên là các diễn tiến của cuộc cách mạng xảy ra quá bất ngờ và quá nhanh chóng, vượt ra ngoài dự đoán của mọi trí thức, kể cả trí thức lớn. Bởi vậy, chứng kiến cảnh hàng mấy trăm ngàn người đổ xô xuống đường và cảnh bạo quyền chịu thua, họ sửng sốt, ngỡ ngàng và hoang mang cực độ. Trong lúc họ loay hoay nghĩ ngợi thì lịch sử cứ nhảy vọt từng bước dài, hết cái mới này đến cái mới khác. Một nguyên nhân khác là các cuộc cách mạng lần này nằm ngoài những khung diễn dịch cũ. Trước, với bất cứ biến cố chính trị nào, người ta cũng có thói quen nhìn ra bên ngoài: Không xuất phát từ Mỹ thì cũng từ Liên Xô, không gắn liền với chủ nghĩa tư bản thì cũng thoát thai từ chủ nghĩa xã hội. Bây giờ cái khung diễn dịch cũ ấy đã lỗi thời. Nhưng chưa ai tìm ra một khung lý thuyết nào mới để giải thích một kiểu cách mạng hoàn toàn mới như những gì đã diễn ra từ đầu năm 2011 cho đến nay.

Không gắn liền với đảng phái, không có lãnh tụ, không có lý thuyết và lý thuyết gia: Ðó là những đặc điểm nổi bật nhất của các cuộc cách mạng xảy ra trong năm 2011. Một số người gọi đó là cuộc cách mạng đầu tiên của kỷ nguyên hậu-ý thức hệ (post-ideological era) và cũng là cuộc cách mạng đầu tiên của thời đại Internet. Trung tâm của cuộc “cách mạng đầu tiên” này chính là quần chúng.

Không phải ngẫu nhiên mà báo Time ở Mỹ đã chọn nhân vật tiêu biểu nhất cho năm 2011 là người biểu tình (protester).

Báo Time dùng số ít cho cả hai: Person of the Year: The Protester. Nhưng thật ra, người mà họ vinh danh lại là những người biểu tình và phản đối nói chung. Chứ không phải một cá nhân nào cả. Nói cách khác, đó chính là quần chúng, những người dám nói thẳng, dám bày tỏ niềm tin và thái độ của mình, và không cúi đầu trước bạo lực. Chính những con người vô danh và dũng cảm ấy đã khiến cảnh sát và quân đội phải chùn tay, và cuối cùng, những tên độc tài đã chấp nhận thua cuộc.

Bởi vậy, không có gì quá đáng nếu chúng ta gọi 2011 là năm của quần chúng.

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Giáng Sinh về - Nhớ những người còn nằm trong ngục tối
Trần Khải Thanh Thủy

Thấm thoắt tôi đã ở Mỹ được 6 tháng, thời gian lùa tháng ngày như ngựa trên đồng cỏ, ngược hẳn với quãng thời gian trong nhà tù xã hội chủ nghĩa trước đó. Khi ấy, cuộc đời tôi vốn chỉ có máu và nước mắt, bị bạo hành cả về thể xác lẫn tinh thần, không những bị cô lập với cánh bạn tù thường phạm mà cả với nhà dân chủ tọa kháng Phạm Thanh Nghiên, hay dân oan mặc quần áo lót đi biểu tình Trần Ngọc Anh (vốn bị nhốt chung trong một phân trại nữ) cũng bị “cấm vận tình cảm”, như mặt trăng với mặt trời, sao hôm với sao mai, như ngày với đêm. Cứ khoảng một tuần hay nửa tháng lại nghe tin hội đầu gấu Hải Phòng, Ninh Bình, Hà Nội chuẩn bị “táp lô” (đánh hội đồng) vì tội viết bài cho “phản động” hòng lôi kéo Mỹ trở lại xâm lược Việt Nam. Mệt mỏi, căng thẳng đến kiệt quệ cả thân xác, chưa kể 5 ngày 3 lượt bị cai ngục khám buồng, lục tung nội vụ để tịch thu giấy tờ sách vở, bút chì bút mực, tác phẩm....Nguy hiểm nhất là bị cắt thuốc dài ngày nên lượng đường trong máu tăng vọt, bao nhiêu biến chứng âm thầm phát sinh...Tuy vẫn được gia đình thăm nuôi đều đặn (một tháng một lần theo quy định khiến các bạn tù phải phát ghen) nhưng những cơn chấn thương liên tục dội về ám ảnh, gây chấn động sâu sa ở cả thể chất lẫn tâm thần. Cảm giác đau ốm lan tỏa rõ rệt từ các ngón tay đến các đầu mút giây thần kinh... Nếu không được ông bạn vàng “đế quốc Mỹ” giải cứu kịp thời chắc đã hóa thân thành cây cỏ, làm một hạt sương, vạt nắng nơi ngọn đồi thoai thoải ở núi Mành – nghĩa trang của trại – rồi.

Còn hiện tại, như một cánh chim bay trên bầu trời mênh mông lộng gió, một người tự do đi trên đại lộ thênh thang, một chú ngựa tung bờm trên thảo nguyên bao la rộng lớn, tôi bỗng nhớ về những con người vô cùng can đảm gan góc đang bị đầy đọa chôn chân nơi nhà tù cộng sản, những Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Vi Đức Hồi, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Công Chính, Cù Huy Hà Vũ, Đỗ thị Minh Hạnh, Tạ Phong Tần, Bùi thị Minh Hằng v.v... Nhiều lắm, chỉ riêng số thanh niên tôn giáo bị bắt trong hai tháng 7 và 8 năm 2011, ngay sau khi tôi ra tù đã là 15 người... Những người này chính là nền móng trụ cột cho xã hội tương lai không cộng sản sau này. Những gương mặt rắn rỏi can trường, cương trực của phái mày râu và vẻ đẹp gan dạ, nữ tính, hồn nhiên, thuần khiết của phái đẹp... Tiếc rằng trang viết hạn hẹp, sức tư duy của người mới thoát ra khỏi trại tù sau 21 tháng bị cộng sản trần cho tơi tả giữa độ tuổi 52, không thể nào hồi phục nhanh như lần ra tù trước, hay khi đang ở độ “đang xoan” bên chồng, con và đại gia đình được, nên trong bài viết nhỏ này chỉ có thể điểm qua vài gương mặt tiêu biểu.

1. Trong suốt thời gian bị cầm tù cũng như những ngày được tự do trên đất Mỹ, trong tôi luôn văng vẳng những câu thơ hào hùng gan ruột của Nguyễn Tiến Trung.

Ta sẽ về chốn cũ
Nơi lang sói rập rình
Giữa muôn ngàn thử thách
Lòng ta vẫn kiên trinh.
Quê hương còn đau nặng
Đâu lẽ ta đứng nhìn?
Gian nan đời nước nhỏ
Đâu lẽ ta lặng im?
Chân dẫm muôn ngàn nẻo
Qua cả vạn dặm đường
Tự do nơi đất khách
Dân chủ – mộng đêm trường.
Đi tìm người đồng chí
Phối hợp cả trong ngoài
Vận động nơi quốc tế
Hướng về một ngày mai.
Đường đi còn gian khổ
Nhưng chân cứng đá mềm
Trong hoàng hôn đã thấy
Một mặt trời mọc lên…


Con đường của Trung sẽ dễ dàng biết bao nhiêu nếu như Trung không “phạm phải sai lầm chết người” như những nhận định ngu đần và xảo trá của bộn bồi bút đảng: “Thật là tuổi trẻ ngông cuông và rồ dại”...Một công việc đàng hoàng nơi đất Pháp với mức lương tháng 4000 Euro, một người tình hoặc cô vợ trẻ xinh xắn bên cạnh, một ngôi nhà gọn gàng ấm cúng với những tiện nghi sang trọng, một hạnh phúc có sẵn và mức sống trên thời đại, cũng là giấc mơ của người Việt Nam trên đất Pháp. Đường Trung đi trải đầy thảm nhung và hương sắc, vậy mà trong tâm hồn và trái tim Trung lại xôn xao nao nức tình yêu đất nước. Giữa kinh thành ánh sáng, Trung vẫn rung động với mỗi giọt nắng quê hương, mỗi kỷ niệm từ thời ấu thơ đã trải qua bên mẹ cha và bạn hữu. Chỉ vì “Quê hương còn đau nặng”, không đang tâm đứng nhìn, thương cho “đời nước nhỏ” nên không thể lặng im khi cộng sản dâng công hàm bán biển đảo cho giặc, Trung chấp nhận trở về, và bị bọn lang sói chộp rình, giở trò ngay khi vừa đặt chân lên mảnh đất Việt Nam, bị buộc vào quân ngũ và khi không chịu hô khẩu hiệu “trung với đảng, hiếu với cha, nhiệm vụ nào cũng vì tiền, nhũng tham nào cũng bỏ qua, kẻ thù nào cũng...khiếp vía” mà Trung đã bị đảng giam cầm trong ngục tối, với bầu không khí âm u, tù hãm quái đản vây bủa quanh năm, suốt tháng để đợi ngày mặt trời mọc lên.

Đường Trung đi trải đầy thảm nhung và hương sắc, vậy mà trong tâm hồn và trái tim Trung lại xôn xao nao nức tình yêu đất nước.

Đảng cộng sản Việt Nam bao năm qua đã bị tinh thần quốc tế vô sản do ông Hồ du nhập vào làm vấy bẩn, nên làm sao có thể chấp nhận một tâm hồn hào hiệp, cao thượng như Trung? Vì thế, như một vành trắng trên khoang cổ quạ, Trung đã bị chúng dùng chính học thuyết cổ hủ lỗi thời ác độc này để “thọc huyết” tâm hồn cao thượng của Trung, như một chân lý bất biến vĩnh hằng: “Nhà nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho mày đi học ở các nước tiến bộ, không phải để mày đem những quan điểm tiến bộ, hòa nhập toàn cầu về “dạy lại chúng tao” Việt Nam chỉ có một đảng cộng sản thôi, điều 4 hiến pháp đã quy định rõ rồi, dẫu có là 4 tấm ván trong chiếc quan tài định mệnh chôn chặt tương lai của 87 triệu người dân bên trong đi chăng nữa cũng phải chịu. Mày đòi đa nguyên đa đảng, đòi thành lập “tập hợp thanh niên dân chủ”, đòi làm đảng viên đảng tự do dân chủ đối lập à? Đừng mơ hão nghe con, xứ mù thằng chột làm vua, mày lại cậy sáng mắt thì nhiệm vụ của những kẻ độc tài, độc đảng, phát xít, sát nhân chúng tao là phải chọc mù mắt mày, để không còn ai dám theo gương sáng của mày, bỏ ra ngoài quan tài chủ nghĩa xã hội của độc đảng chúng tao nữa, để chúng tao còn tiếp tục lừa bịp, cướp bóc, nuốt chửng tài nguyên thiên nhiên cũng như tương lai dân tộc này mãi mãi.”

2. Nếu khoa tướng học chia mặt người ra làm ba loại: Ngụy diện, hiền triết và công khanh thì Cù Huy Hà Vũ thuộc diện công tước, khanh hầu. Ngay khi vừa lọt lòng mẹ, anh đã sở hữu một gương mặt đẹp, da trắng, môi đỏ như môi con gái, khác hẳn với dáng vẻ mập mạp thô kệch của người cha. Điều này do di truyền chéo, nói như kinh dịch là “Bố tìm thấy con gái, mẹ tìm thấy con trai”, anh giống đúc bên ngoại, đẹp từ lúc mới sinh cho đến lúc về già. Xét một cách tổng quát, anh có đủ cả thần, khí, sắc. Dáng đi chững chạc, đàng hoàng, tiếng nói ôn hòa ấm áp, phong thái chính trực, phong lưu. Lẽ ra là người “giàu ở làng, sang ở nước”, chỉ vì chót đầu thai nhầm thế kỷ, nhầm chế độ, nhầm thời đại mà một người tử tế, có cá tính như anh quá lận đận về đường công danh, sự nghiệp. Tuy là con ông cháu cha, được sang Pháp học, nhờ có trí thông minh và sự đam mê hứng thú mà anh vừa giỏi về luật, lại vẽ tài, làm thơ viết văn đều được, khi trở về nước sống trong tán rợp của cha, con đường anh đi được đảng trải thảm đỏ, giơ tay dắt vào tận bộ ngoại giao, một bộ béo bở nhất nhì thời bấy giờ, đi nước ngoài như đi chợ, và dễ dàng buôn lậu dưới tấm hộ chiếu ngoại giao, lại được các đồng chí lãnh đạo bộ quan tâm cất nhắc giới thiệu kết nạp đảng từ khi còn rất trẻ, trở thành nền tảng, nòng cốt để đào tạo cán bộ tiền nhiệm cốt cán sau này... Gì chứ chức trưởng phòng, viện trưởng, thứ trưởng hoặc bộ trưởng, thậm chí phó thủ tướng cũng không phải là ngoại lệ nếu anh biết đồng nhất mình với đảng, cúi lưng phục tùng những mệnh lệnh dốt nát chuyên quyền độc đoán của đảng. Chỉ vì không chịu làm một trí thức trùm chăn, cha, đảng đặt đâu con ngồi đấy, lại muốn đem sự hiểu biết, thông thái đã học của mình ra thi thố với đời, nên ngay từ buổi tranh luận đầu tiên về vai trò của đảng cộng sản Việt Nam anh đã gây phản cảm với bí thư chi bộ khi khăng khăng khẳng định: “Đảng cộng sản Việt Nam chỉ có thể là một trong những chính đảng ở Việt Nam chứ không thể là duy nhất”. Mầm mống nổi loạn, đa nguyên, đa đảng đã có trong anh từ ngày đó và tất nhiên lá đơn của anh bị... đánh rớt.

Sau một thời gian ngấm ngầm thử thách, không biết vì quý năng lực làm việc, sự hào hoa phong nhã của anh, một người có sức hút với cả giới đàn ông trong cơ quan (bất kỳ ai, dù bảo vệ hay đồng nghiệp, hễ gặp anh là có thiện cảm, muốn giao tiếp, kết bạn) hay vì cái ghế quyền lực của bố anh qúa lớn mà anh được bí thư chi bộ đảng lưu tâm cất nhắc lần thứ hai, yêu cầu viết lại đơn, thay đổi khẩu khí, thái độ v.v để kết nạp, hòng có chỗ dựa vững chắc cho việc lên lương, lên chức sau này. Nhưng không, anh bảo, giọng tự hào, chắc nịch: “Ai chứ Cù Huy Hà Vũ này chỉ viết đơn một lần, cũng như lấy vợ một lần, không bao giờ có chuyện tái hôn hoặc cưỡng hôn, càng không thể sửa sai khi biết mình đúng”. Hỏi về bản chất xã hội chủ nghĩa, thay vì phải trả lời như vẹt câu cửa miệng đã được mớm sẵn: “Chủ nghĩa xã hội ưu việt và nhân đạo gấp triệu lần tư bản”, thì anh cười khùng khục trong cổ họng, tuyên bố một câu xanh rờn, không chút vòng vo kiêng nể: “Theo tôi nó chỉ là một sự bố thí thôi.”

Chính vì sự ngông nghênh, ngang ngạnh, không chịu “ăn theo nói leo” này mà anh bị cô lập, bị để mắt, bị đẩy ra khỏi tán rợp của người cha “khai quốc công thần”, phải bỏ bộ ngoại giao ra ngoài lập văn phòng luật sư riêng cùng vợ.

Gieo cá tính, gặt số phận, mang danh là kẻ sĩ, trí thức, anh luôn phục thiện, sẵn sàng cúi đầu trước sự hiểu biết và lòng nhân ái của mọi người, như truyền thống gia đình để lại, nhưng luôn khinh ghét những kẻ xảo quyệt, tầm thường. Đó là lý do để anh viết đơn, lao đầu vào những vụ kỳ án rắc rối ở Việt Nam, kiện từ ủy ban nhân dân thành phố Huế đến lãnh đạo bộ văn hóa thông tin, lãnh đạo đảng và nhà nước. Và một kết cục không thể khác được là trở thành Từ Hải chết trong vây, cánh, phe nhóm của đảng cộng sản, đứng đầu là tên sát nhân Nguyễn Tấn Dũng...

3. Khuôn mặt kiêu hùng, sắt đá, hơi lạnh lùng của Trần Huỳnh Duy Thức ám ảnh tôi ngay từ cái nhìn đầu tiên. Anh sinh vào năm Bính Ngọ (1966), với đôi mắt thâm trầm dưới cặp lông mày rậm rạp, trong con ngươi nơi đồng tử của anh luôn có một ngọn lửa tư duy nung nấu. Đôi môi rộng, sống mũi thẳng, hai tai lớn, bộ ria mép Ả rập... Một bộ mặt rất phù hợp với câu nói của khổng Tử 300 năm trước mà tôi vẫn luôn lấy làm kinh điển cho mình khi nhìn nhận về những người thuộc phái mạnh: “Người quân tử sang ở cốt, không sang ở mã”.

... Con giun xéo mãi cũng phải quằn, cuộc sống của 87 triệu dân Việt Nam sẽ được điều phối bằng luật nhân quả do trời định đoạt... và mặt trời sẽ mọc lên nơi cuối cùng tăm tối trên mảnh đất không còn độc tài, đảng trị này...

Về thể xác, anh không thuộc về mã người đẹp trai, song có cốt cách lớn, tự cho mình là một trong những động lực chính để phát triển xã hội trong thời đại tin học và hội nhập toàn cầu, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, nên đã không dừng lại ở cương vị giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân (vốn đi đầu trong lĩnh vực tin học ở Việt Nam) mà tự nguyện xông pha trên con đường lớn, dẫu lắm chông gai vì không thuộc sở trường, lĩnh vực tin học của mình, song lại phù hợp với tính cách đại trượng phu, luôn cứu nhân độ thế trong anh: “Lòng trai không nao, nề chi gian lao, cùng nhau tung chí anh hào”... Hết nghiên cứu về kinh tế, chính trị lại tình hình xã hội, văn hóa với mục đích “cảnh báo các lãnh đạo đứng đầu Nhà nước, Đảng và Chính phủ về nguy cơ đất nước sẽ bị thôn tính, biến thành thuộc địa kiểu mới trong thời đại toàn cầu hóa”. Vì thế anh đã bỏ thời gian, sức lực, tâm huyết để gửi thư trực tiếp đến các vị lãnh đạo thông qua bưu điện hoặc nhờ một số người có quan hệ trực tiếp gửi đến tận tay họ, như thư ngày 7/1/2004 gửi Chủ Tịch nước Nguyễn Minh Triết, thư ngày 14/4/2007 gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng… Không những thế, anh còn chọn cách viết blog để đăng tải những bài viết của mình để chỉ ra những sai lầm nghiêm trọng của Chính phủ và Quốc hội trong việc vạch kế hoạch phát triển và mục tiêu tăng trưởng, cũng như mặt trái của thị trường chứng khoán nước nhà (không những bị biến thành nơi rửa tiền, để bọn tham nhũng đầu cơ trục lợi, mà còn để lại hậu quả lâu dài do người dân vay vốn ngân hàng vô tội vạ để đổ vào chứng khoán). Ngay việc cổ phần hóa cũng bị biến thành cơ hội có một không hai để bán rẻ tài sản toàn dân cho nước ngoài, không kể những kẻ cơ hội ngày một phát triển, len lỏi ở tất cả mọi nơi từ cơ quan đảng đến nhà nước, chính phủ đến quốc hội, trung ương đến địa phương, cơ quan hành chính đến các doanh nghiệp, khiến nền kinh tế bị khủng hoảng, suy kiệt nặng nề và cái kết cục cuối cùng không tránh được là sự sụp đổ toàn diện vì nguồn lực trong nước không những không được tạo mới mà còn bị khai thác tràn lan đầy phí phạm.

...Kết quả của những chuỗi dài nhiều đêm thức trắng trong hơn 5 năm làm việc với một nhiệt huyết cháy bỏng, một nghị lực phi thường, một sự vùng lên không ngừng của trí tuê Việt Nam thể hiện qua năm mươi bài viết, bản kiến nghị của anh tới đảng và nhà nước, yêu cầu đảng cộng sản Việt Nam hãy chấn đạo quốc gia để tạo an hòa cho việc phát triển lành mạnh và bền vững của đất nước, giải thoát cho 87 triệu dân, đặc biệt là thân phận hẩm hiu của 70% nông dân, đồng thời tránh hiểm họa mất nước do Đại Hán Trung Quốc gây ra... Bao nhiêu tâm huyết, trí tuệ đổ ra, không những không được lãnh đạo quan tâm để mắt tới mà còn là lý do để đẩy anh vào tù, đơn giản vì bản chất của lãnh đạo là khinh học, quen cai trị những kẻ dốt nát, thất học nên khi thấy anh vượt mặt họ về lĩnh vực tri thức liền cuống cuồng hoảng sợ, quy cho anh tội hoạt động chống đảng và nhà nước, với mức án kinh dị (16 năm tù và 5 năm quản chế).
Anh Nguyễn Tiến Trung, Ls. Cù Huy Hà Vũ và anh Trần Huỳnh Duy Thức
Xét về phương diện khách quan, cả 3 người đều là con nhà nòi, học hành bài bản đến đầu đến đũa, người học ở Pháp, người ở Mỹ, tất cả đều chung một quan điểm: Không chịu nổi sự trì trệ, bảo thủ, chậm tiến của xã hội Việt Nam trong việc điều hành của lãnh đạo, muốn chấn hưng nền kinh tế của đất nước theo những mô hình họ lựa chọn và muốn được cùng lãnh đạo đất nước chung sức xây dựng từ vốn liếng đến kinh nghiệm... Chỉ vì những đầu óc bã đậu, đỉnh cao ..trí tệ cùng khả năng “ngu kỳ diệu” của các tầng lớp lãnh đạo đảng mà họ đã bị bắt khi chưa kịp làm rõ chân lý.

Giờ đây trong ngục tù cộng sản, người thụ án 7 năm, người 16 năm, họ vẫn là những con người can đảm, giàu năng lực suy đoán, biết ứng phó, nhạy cảm với khuynh hướng tự do dân chủ ở ngoài đời. Song họ cũng đã kịp rút ra bài học xương máu cho mình, tỏ ra khôn ngoan kín cạnh hơn khi đã qúa tin tưởng vào đám cán bộ lãnh đạo xảo quyệt, ngu dốt trong môi trường chính trị gian giảo, đầy thủ đoạn, cạm bẫy ở Việt Nam.

Dù thế nào, sự thật luôn có con đường khách quan, tự nhiên của nó. Lịch sử sẽ làm tròn sứ mệnh khi giao gánh nặng của dân tộc cho họ, và với bản chất chí khí can trường, họ đang gánh vận mệnh dân tộc trên vai mình, không phải là 7 năm, 10 năm, 16 năm như luật rừng của đảng tuyên án mà chỉ còn là năm, hoặc tháng thôi. Ngày mà cộng sản phải đền tội cho những tội ác tày trời đang cận kề. Họ không thể cứ tồn tại bằng cách lừa miếng với dân tộc mãi được. Sức ép của dư luận quốc tế đang dần lớn mạnh, sự chịu đựng của người dân cũng chỉ có giới hạn. Con giun xéo mãi cũng phải quằn, cuộc sống của 87 triệu dân Việt Nam sẽ được điều phối bằng luật nhân quả do trời định đoạt... và mặt trời sẽ mọc lên nơi cuối cùng tăm tối trên mảnh đất không còn độc tài, đảng trị này để đón họ về trong vòng tay yêu thương của cha mẹ, cộng đồng, vợ con và bạn hữu cả trong và ngoài nước.

Ngày ấy, ngày ấy sẽ không xa và những con người vì nước vì dân sẽ là người chiến thắng.

Sacramento 19/12/2011
TKTT

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Tổng Thống Xin Lỗi
Bài đọc suy gẫm: Tổng Thống Xin Lỗi hay Chuyện Nước Mỹ, Chuyện Việt Nam của Anne Khánh Vân, người đoạt giải thưởng Viết Về Nước Mỹ về viết văn hay nhất trong năm -do Việt Báo Nam California tổ chức. Nhân dịp năm mới 2012. Mười Sáu mời các bạn cùng chia xẻ với tác giả bài đọc lý thú này, cùng thân chúc các bạn đọc, thân hữu một năm gặt hái, bội thu từ những niềm tin của mình. Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.
Chuyện Nước Mỹ – Chuyện Việt Nam
Anne Khánh Vân
Tác giả đã nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2007. Sinh năm 1974 tại Saigon, tốt nghiệp kinh tế tại Pháp, Anne Khánh Vân hiện sống và làm việc cho một công ty quốc tế tại Virginia. Bài mới nhất của cô là những ghi nhận có nhiều chất thời sự.


“Cold beer, warm words” – “Bia lạnh để đưa lời ấm áp” là nhan đề của nhiều bài báo Mỹ hôm 30 tháng 7, 2009, tường thuật buổi gặp gỡ giữa Tổng thống Obama, giáo sư da màu nổi tiếng của đại học Harvard: Henry Louis Gates, và vị trung sĩ cảnh sát da trắng nhiều thâm niên và thành tích: James Crowley. Sở dĩ phải đưa lời ấm áp là vì chính Tổng thống Obama lỡ lời.

Image
Tổng Thống da màu Barack Obama (phải) , Phó Tổng Thống da trắng Joe Biden (trái, aó trắng)
vui vẻ cụng ly với ông cò da trắng James Crowley (giữa, cà vạt đỏ) và ông giáo sư da màu Henry Louis Gates (trái,ngoài cùng).
Ông giáo sư da màu vừa bay từ bên Tầu về nhà. Ổ khoá cửa trước bị phá hư. Ông và người tài xế phải cạy cửa sổ trèo vô nhà. Một bà qua đường thấy khả nghi, mở cell phone gọi. Cảnh sát đến, ông giáo sư danh tiếng không chịu ra trình giấy, bị còng dẫn về bóp, nửa buổi rồi thả.

Chuyện chỉ có vậy nhưng truyền hình báo chí ầm ĩ. Sau đó, trong một buổi gặp gỡ giới truyền thông, thình lình bị hỏi về chuyện này, Tổng Thống Obama lên án phía cảnh sát là “hành động ngu xuẩn” (acted stupidly) dù chính ông đã xác nhận chưa thật sự hiểu rõ chi tiết sự tình.

Nội vụ được làm rõ: Khi đến nhà giáo sư Gates, ông cò James Crowley không đi một mình mà còn hai ông cò đồng nghiệp: một ông gốc Phi châu và một ông gốc Mễ. Biện pháp hành xử nghiệp vụ được thực hiện đúng luật. Và phía cảnh sát lên truyền hình, với đủ màu da đứng bên nhau, đòi Tổng Thống xin lỗi.

Chiều tối xong việc, ông cò James và bạn bè kéo nhau vô một quán bia. Đang nhâm nhi thì điện thoại sở gọi: Hãy sẵn sàng. Mười phút nữa Tổng Thống sẽ điện thoại. Tin được loan ra, cả quán bia cùng “wao” rồi yên lặng chờ đợi. Đúng là Tổng Thống đích thân gọi, đích thân nhận lỗi lỡ lời và thăm hỏi. Biết James đang trong quán bia, ông hẹn một chầu bia làm lành ở Bạch Ốc. Và màn “Beer Summit -Thượng Đỉnh Bia” thành hình.

Một chiều Thứ Năm đẹp trời, sau giờ làm việc, vị Tổng tư lệnh của quân lực Hoa Kỳ đóng vai “batender-in chief / tổng tư lệnh quầy rượu,” khui bia cho các vị khách. “Chỉ có bia thôi. Không thượng đỉnh gì hết.” Tổng Thống da màu Barack Obama nói, và cùng Phó Tổng Thống da trắng Joe Biden vui vẻ cụng ly với ông cò da trắng James Crowley và ông giáo sư da màu Henry Louis Gates.

Sau 40 phút “Cold beer, warm words”, vị “chủ xị” nói trước khi tiễn khách: “I have always believed that what brings us together is stronger than what pulls us apart.” Tôi luôn tin là những cái mang chúng ta đến gần nhau mạnh hơn cái đẩy chúng ta tới chỗ chia rẽ.” Ông còn nhấn mạnh thêm rằng vụ bia lạnh đưa lời ấm áp này là bài học đáng giá (“teachable lesson”) nhắc nhớ mọi người, đặc biệt những người khác màu da –trong đó có chính ông– hãy nên biết lắng nghe nhau, cư xử tử tế với nhau và chớ vội vã trong hành động, lời nói.

Khi chia tay, ông cò Crowley và ông giáo Gates hẹn sẽ còn gặp lại để trò chuyện. Sau đó ông giáo sư Gates gửi tặng hoa hồng cho người phụ nữ đã gọi cảnh sát khi thấy ông cố tông cửa vào nhà. Bà ta chỉ vì muốn bảo vệ an toàn cho ngôi nhà của ông mà sau đó bị nhiều người trách móc “chỉ tại cú phone của bà mà to chuyện.”

Là một người dân mọn hay một vị Tổng thống, ai cũng là con người, ai cũng có những khuyết điểm, ai cũng có thể phạm sai lầm. Điểm đáng chú ý ở đây không phải là ai đúng, ai sai, ai hay, ai dở… mà là sự thẳng thắn nhận sai và trực tiếp dàn xếp xin lỗi, dù người lỡ lời có là một Tổng thống.

Việc mời giáo sư Gates và cảnh sát Crowley vào Bạch Cung uống bia lạnh, nói lời ấm áp tượng trưng cho văn hóa Hoa Kỳ: Thẳng thắn và phục thiện. Nhờ vậy, không chỉ riêng sự hiềm khích giữa hai cá nhân khác màu da được mau chóng hàn gắn, mà lòng dân cả nước được xoa dịu, củng cố.

Có phải chỉ ở Mỹ mới có những chuyện như thế này? Có phải chỉ dân chúng Mỹ mới dám đòi Tổng thống phải xin lỗi nếu Tổng thống làm sai? Và có phải chỉ ở Mỹ mới có ông Tổng thống đủ “dũng khí” nhìn nhận với dân chúng rằng điều mình nói là sai và mạnh dạn xin lỗi?

Còn Việt Nam hiện nay thì sao? Chán vạn cái sai của lãnh đạo đã được dân chúng và cả báo chí truyền thông của chính chế độ đề cập tới. Hậu quả ra sao? Chỉ là các biện pháp trù dập, đóng cửa, cất chức, đuổi việc, đi tù.

Tôi chỉ ngu ngơ nghĩ, nếu người lãnh đạo Việt Nam có được cái dám nghe và dám sửa những cái sai của họ, đất nước chúng ta sẽ dần dà biến mất sự giả dối, lường gạt lẫn nhau. Từ căn bản này, sự tin tưởng và kết hợp giữa người dân và các cấp chính phủ mới mong tạo được sức mạnh thực sự. Ai có muốn ăn hiếp hay xâm lăng, cũng không dễ!

***

Không đầy một tuần sau vụ “cold beer, warm words,” ngày 4 tháng 8, thời sự nước Mỹ lại có thêm một chuyện đáng chú ý khác:

Truyền hình Mỹ thi nhau chiếu cảnh máy bay của cựu Tổng thống Bill Clinton vừa từ Bắc Hàn trở về California. Ông đã thành công trong việc “ngoại giao” để cứu hai cô phóng viên Laura Ling và Euna Lee – bị bắt giam từ ngày 17 tháng 3 với tội trạng “xâm phạm lãnh thổ Bắc Hàn.” Họ bị tuyên án 12 năm tù khổ sai.

Image
Cựu Phó Tổng Thống Al Gore (đứng giữa Laura Ling – áo nâu và Euna Le – áo xám) đang phát biểu trong buổi họp báo cấp tốc
ngay khi phi cơ vửa đáp xuống phi trường Burbank, California.
Góc trái là cựu Tổng Thống Bill Clinton, người thành công trong vai trò sứ giả ngoại giao.

Image

Laura Ling và Euna Lee làm việc cho hãng truyền thông Current TV – được sáng lập và điều hành bởi cựu phó Tổng thống Al Gore. Hai cô đến biên giới Trung Quốc và Bắc Hàn để tìm hiểu tệ nạn phụ nữ và trẻ em Bắc Hàn bỏ trốn sang Trung Quốc tìm miếng ăn, lỡ bước sao đó bị Bắc Hàn bắt nhốt, tuyên án 12 năm khổ sai. Sau gần 5 tháng bị nhốt giam cách ly, hai phóng viên đã được trả lại tự do, trở về Mỹ. Nếu cựu Tổng thống Clinton không sang kịp thì bất cứ giờ nào trong 2 ngày sau đó, hai cô phóng viên sẽ bị đưa đi thi hành bản án 12 năm tù khổ sai. Họ đã bị khủng bố tinh thần và hoang mang, thấp thỏm chờ đợi… Cuối cùng họ cũng được đưa đi… nhưng không phải đến nhà tù khổ sai mà là một nơi khiến họ ngạc nhiên ứa nước mắt khi nhìn thấy cựu Tổng thống Clinton đứng chờ sẵn trong phòng. Ác mộng của họ được kết thúc.

Vụ hai nhà báo được cứu từ Bắc Hàn về làm tôi nhớ câu chuyện ly kỳ hấp dẫn của cô Jessica Lynch. Năm 2003, tại chiến trường Iraq, một đơn vị xe tăng Mỹ bị tấn công khi lạc đường. Jessica Lynch là nữ chiến binh duy nhất còn sống sót trong chiếc xe tăng tiếp tế lương thực. Toán tiếp tế của cô đã lạc đường và bị tấn công.

Cả một lực lượng đặc biệt với chiến lược và chuẩn bị vô cùng công phu đã bí mật đến cứu thoát cô Jessica Lynch sau 9 ngày bị bắt. Tôi còn nhớ khi xem đoạn phim chiếu chi tiết cảnh toán biệt kích đến cứu Jessica Lynch, tôi đã xúc động và khâm phục người Mỹ ra sao. Họ quý trọng từng tính mạng.

Image
(Hình Jessica Lynch)


Cựu Tổng thống Clinton đi Bắc Hàn chỉ với tư cách cá nhân, máy bay chở ông đi cũng chỉ là một máy tư nhân, được tài trợ bởi nhà sản xuất phim Hollywood giàu có: Steve Bing.

Điều đáng chú ý khác, là hai phóng viên được cứu cũng không phải là người Mỹ da trắng; Laura Ling gốc Trung Hoa, Euna Lee thì gốc Đại Hàn. Họ cũng như những người Mỹ gốc Việt chúng ta nói riêng, và nhiều dân tộc thiểu số lưu vong khác nói chung.

Thế mới rõ, một khi đã sống ở Mỹ, trở thành công dân Mỹ thì dù trắng, đỏ, đen hay vàng… mọi người dân đều được quý trọng.

Đâu cần cứ phải là người Mỹ gốc da trắng như cô Jessica Lynch bị bắt làm tù binh bên Iraq thì mới được quan tâm giải cứu.

Lời của cựu phó Tổng thống Gore khi phái đoàn của cựu Tổng thống Clinton về đến Mỹ cùng hai phóng viên, rất đáng để ý, “It speaks well of our country that when two American citizens are in harm’s way, that so many people will just put things aside and just go to work to make sure that this has had a happy ending.” Đã có rất nhiều người sẵn sàng bỏ việc của họ sang một bên, góp công sức và thời gian vào việc cứu thoát hai phóng viên gặp nạn, để bảo đảm một hồi cuối có hậu.

Thấy sự quan tâm của nước Mỹ, người Mỹ dành cho những công dân của họ, không khỏi liên tưởng đến số phận bất hạnh của người dân trong nước. Những người dân lương thiện không làm gì phạm pháp, chỉ vì yêu dân yêu nước mà nói sự thật thì đều bị đàn áp. Hết người này đến lượt khác bị đối đãi tệ hại.

Nhiều sự việc cho thấy là trước khi phải thương lượng gì đó với Tây phương, nhà nước Việt Nam thường mở một cuộc đàn áp lớn, bắt giam cả lô người. Để rồi khi vào thương lượng, bị yêu cầu phải thả tù chính trị và cải thiện nhân quyền trong nước… họ sẽ “tỏ thiện chí” bằng cách thả mấy người bị bắt. Kết quả là nhờ vậy mà sẽ được “tưởng thưởng”. Màn này thường được diễn đi diễn lại và đạt kết quả, giúp Việt Nam được Mỹ mở rào cản cho gia nhập WTO, đạt được nhiều thoả thuận thương mại với Mỹ.

Điều này thật chẳng khác nào hành hung đày đọa dã man chính con đẻ của mình để mè nheo hàng xóm.

Thời tôi còn bé xíu, gần nhà tôi có ông láng giềng nghiện rượu có tật hay đánh đập con cái dã man. Nghe lũ trẻ của ông ta kêu khóc, cha mẹ ở các nhà xung quanh sốt ruột quá phải chạy sang can. Có người còn nài nỉ ông đừng đánh con ông nữa, họ sẽ mua rượu ông uống. Từ đó, cứ hễ thèm rượu thì ông hàng xóm lại mang con ra đánh đập. Chuyện bi hài này hiện đang được phóng lớn lên kích thước lãnh đạo cả nước Việt Nam. Đọa đày hành hạ người dân của chính đất nước mình để để có chuyện thương lượng trả giá với quốc tế.

Nước Mỹ không phải là mẹ ruột mà chỉ là “mẹ nuôi” của hàng trăm triệu đứa con lạc loài từ hàng trăm nòi giống khác nhau, trong đó có dân gốc Việt. Vậy mà bà mẹ nuôi ấy đã cưu mang và thương yêu các con dù không phải là ruột rà của bà.

Mỗi khi xảy ra điều gì bất công với dân Việt trong nước thì người Việt hải ngoại thường hô hào và kêu gọi “mẹ nuôi Mỹ” giúp đỡ. Nhưng dù mẹ nuôi Mỹ có tốt bụng, và những đứa con Việt Nam sống xa quê hương có “xót ruột” cho đồng bào trong nước mà hô hào, biểu tình đòi hỏi thì cũng vẫn không đủ.

Chính người dân Việt trong nước phải tự ý thức mà đấu tranh cho nhu cầu và quyền lợi chính đáng của họ.

***

Hôm Micheal Jackson chết, chỉ vài ngày rất nhanh sau đó, chưa thấy báo chí Mỹ đăng tải hình ảnh dân Mỹ khóc… thì đã có một bài viết “Mưa và nước mắt trong buổi tưởng niệm Micheal tại Việt Nam,” với khá nhiều hình ảnh các em Việt Nam khóc lóc, bưng hình, đốt nến, kéo đi thành đoàn dài… Y như một đám tang lớn được chính thức tổ chức cho Micheal Jackson tại công viên Thống Nhất Hà Nội.

Là ông hoàng nhạc Rock, Micheal Jackson đáng được nhớ đến cho những đóng góp xuất sắc của ông. Nhưng hình ảnh các em bé Việt bị bắt đi tập họp ôm nhau khóc Micheal Jackson chỉ là trò dựng cảnh, đóng kịch, để chụp hình lòe thiên hạ, chứ chẳng thật chút nào.

Phải chăng báo chí người lớn tại Việt Nam cần màn khóc giả này để lấp liếm đủ thứ chuyện thật sự đáng khóc:

- Trung Quốc xây đập chận nước ở thượng nguồn sông Cửu Long. Vựa lúa miền Nam ở đồng bằng Cửu Long phía hạ nguồn đang bị đe dọa tiêu vong. Lúa má, mùa màng, lưới cá dân miền Nam rồi sẽ ra sao?

- Trung Quốc sang Việt Nam khai thác quặng Bô-Xít ở Tây Nguyên sẽ gây thiệt hại nặng nề đến môi sinh. Hàng trăm công trình xây dựng căn bản tại Việt Nam, kể cả con đường huyết mạch nhất của đất nước, đang được giao cho nhà thầu Trung Quốc. Báo Việt Nam chính thức loan tin có 35,000 công nhân Trung Quốc đã chính thức vào Việt Nam. Thực tế không kiểm soát nổi có thể cả trăm ngàn. Họ đang thiết lập ngay trong nội địa Việt Nam nhiều căn cứ, lãnh địa.

- Lãnh thổ Việt Nam, cả đất đai lẫn biển cả đang bị mang dâng cho Trung Quốc. Gần đây nhất, ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ, thuyền cá dân Việt bị “tầu lạ” húc chìm, không thấy nhà nước nào lên tiếng. Trong khi ấy dân biểu tình đòi bảo vệ đất nước thì bị dẹp bỏ, bắt bớ.

“First class society is built only by first class citizens.” Một xã hội, một đất nước hảo hạng phải được xây dựng và bảo vệ bằng những công dân hảo hạng. Điều đó hầu như là chân lý trong lịch sử nhân loại.

Nhưng một đất nước sẽ không thể nào sống còn, cường thịnh nếu mọi cố gắng từ nhân dân đều bị chính cái chính phủ của họ dập tắt. Nếu không có sự tự nỗ lực từ phía chính phủ thì dù người dân mọn, dân-hoàn-chỉnh, hay dân-hảo-hạng có cố gắng bao nhiêu cũng bằng thừa.

Winston Churchill, một vị lãnh đạo tài ba của thế giới đã căn dặn hậu thế rằng, “The healthy citizens are the greatest asset of any country can have.”

Phải quý dân và vì dân mới bảo vệ được biên cương, dân tộc, và tài nguyên. Không bất cứ một cá nhân nào, dù là tài thánh, có thể cứu được đất nước chúng ta nếu lãnh đạo đất nước chỉ dùng dân như một thứ “con tin”, như miếng mồi, để mua lấy quyền lực cho họ.
Image

Image

Hình từ các báo trong nước đăng về biến cố Michael Jackson tại Việt Nam.

Khi tôi viết bài này, có tin Thượng nghị sĩ Jim Webb, chủ tịch Uỷ Ban Đông Á-Thái Bình Dương của Thượng Viện Hoa Kỳ đang viếng thăm các nước trong vùng Đông Nam Á: Miến Điện, Thái Lan, Lào, Việt và Cambuchia để chuẩn bị một số dự án cho tương lai. TNS Jim Webb đã hội kiến tổng thống độc tài Miến Điện Than Shwe. Hai vấn đề được nêu ra là xin trả tự do cho cựu chiến binh Yettaw và Aung San Suu Kyi.

TNS Jim Webb đã được chấp thuận giải cứu Yettaw, và được đồng ý một cuộc gặp gở thăm hỏi vị nữ anh hùng đấu tranh cho dân chủ Miến Điện Aung San Suu Kyi. Cựu chiến binh Yettaw sẽ được mang ra khỏi Miến Điện sáng chu nhật 16-08.

Thượng nghị sĩ Jim Webb vốn rất thân thiện và có nhiều kỷ niệm với Việt Nam đặc biệt vùng đất cũng như người dân xứ Quảng (cũng là xứ sở của số ngư dân đang bị Trung Quốc bắt giam). Nhưng sự cố gắng của TNS Jim Webb nói riêng và Hoa Kỳ nói chung cũng sẽ chỉ kết quả nếu có sự nỗ lực thật sự từ phía người dân và chính quyền Việt Nam.

Liệu đến bao giờ nước Việt mới có được một chính quyền biết kết hợp với sức mạnh dân tộc để tự cứu chính mình?

Anne Khánh Vân
Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Những thế hệ ngồi chờ

Trần Quốc Việt (danlambao)- Chúng ta là chiếc bóng của lịch sử. Khi chúng ta ngồi chờ,lịch sử ngồi chờ theo, khi chúng ta hành động, lịch sử bắt đầu trở mình, và khi chúng ta sợ hãi triền miên lịch sử sẽ đứng yên. Lịch sử là chúng ta. Vâng, lịch sử là chúng ta nhưng chúng ta khôn ngoan chờ người khác đi trước. Thế là tất cả chúng ta ngồi ngó nhau và chờ lẫn nhau. May thay lịch sử cũng rất kiên nhẫn chờ theo. Bóng đèn cuối cùng tắt trên ga Chờ nhưng chuyến tàu Lịch sử sao vẫn chưa chuyển bánh?

Việt Nam chúng ta ngày nay là một đất nước của những thế hệ ngồi chờ.

Chúng ta đã bắt đầu chờ những lời hứa hão. Đó là độc lập, tự do, và hạnh phúc.

Chúng ta vẫn chờ độc lập khi những phần đất của tổ quốc đang trong tay Trung Quốc,khi lãnh đạo Việt Nam đang gập người hướng về Thiên triều để chờ được rót ban ân huệ "độc lập" nửa vời.

Chúng ta vẫn chờ tự do nhưng tự do không bao giờ đến cho đa phần tâm hồn nô lệ trong chúng ta. Những ai chờ không được đã lìa xứ ra đi ngay từ đầu; những ai nán lại thì về sau qua muôn vàn cách họ cũng lên đường tìm tự do. Những ai ở lại thấy nữ thần Tự do trong lòng mình run rẩy trước bóng công an.

Hạnh phúc là sự mưu cầu chỉ có thể đạt được nếu chúng ta có được độc lập và tự do đích thực vì chúng là mảnh đất màu mỡ để ươm mầm hạnh phúc cho tất cả mọi người. Bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ khẳng định con người có các quyền thiêng liêng như quyền sống, quyền tự do, nhưng hạnh phúc thì phải mưu cầu.Hạnh phúc là sự mưu cầu dựa trên tài năng, tính cách, và nhất là sự lao động nhưng hạnh phúc không bao giờ có cho đại đa số khi độc lập và tự do không tồn tại. Hạnh phúc không phụ thuộc vào giàu nghèo. Hạnh phúc phụ thuộc chính vào tự do như lời của một vị thẩm phán ở Toà án Tối cao Hoa Kỳ cách đây hơn tám mươi năm:

"Những người đã giành độc lập cho chúng ta tin rằng cứu cánh cuối cùng của nhà nước là tạo tự do cho con người phát triển hết mọi khả năng... Họ coi trọng tự do vừa như là cứu cánh vừa như là phương tiện. Họ tin tự do là bí quyết của hạnh phúc và can đảm là bí quyết của tự do."

Cho nên chúng ta hiểu tại sao dân chúng ở các nước toàn trị đa phần không có hạnh phúc như có đến 94% dân Trung Quốc không có hạnh phúc dù cuộc sống của hàng triệu người trở nên khá hơn. Còn hạnh phúc của người dân Việt ở đâu khi đạo đức bị trốc rễ, khi cuộc sống là sự mưu sinh đầy nhọc nhằn, khi sợ hãi và lòng bất an theo ta khi ta thức dậy và theo ta vào giấc ngủ, khi ta thấy ngộp trước hiện tại và ngộp hơn khi nghĩ đếntương lai.

Vì chúng ta không có can đảm nên chúng ta chấp nhận số phận nhưng chúng ta trong lòng vẫn thiết tha chờ ngày mai trời sáng hơn. Những thế hệ Việt Nam chờ mãi.Chúng ta chờ giáo dục tốt hơn khi con chúng ta phải đu dây, phải bơi qua sông để kiếm chữ. Chúng ta chờ đường xá tốt hơn khi lô cốt vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt và khi đường xuống cấp còn nhanh hơn mưa. Chúng ta chờ bớt tham nhũng hơn dù khi chúng ta phải bắt đầu chung chi theo tháng và theo năm và khi chúng ta hiểu đó là thứ khổ tất yếu mà ta phải chấp nhận thêm vào những thứ khổ triền miên như sinh, tử, bệnh,lão. Quan trọng nhất chúng ta chờ tự do.

Chúng ta chờ từ tóc xanh đến tóc bạc, chờ từ nhà ra nghĩa địa. Chúng ta không được lạc quan như "lãnh tụ" khi ông viết ra câu "thơ" "Ngồi trên hồ xí đợi ngày mai".Nhưng chúng ta được phép thực thi quyền ngồi chờ của chúng ta một cách kiên nhẫn.

Vì quá quen chờ nên không ai ngạc nhiên khi chúng ta bắt đầu có thói quen ngồi chờ yêu nước trong công viên hay trong quán nước. Thử hỏi trên thế giới này có ai chờ được như ta? Có nước nào mà lòng yêu nước phải ngồi chờ không? Câu trả lời là có nếu người dân nước ấy tự xem mình là nô lệ, vì thân phận nô lệ chỉ quan tâm đến con roi mà không quan tâm đến kẻ cầm roi.

Ước gì chúng ta đừng có con để tránh kéo dài cuộc đời nô lệ khốn khổ của chúng. Hãy nhìn vào mặt các con mỗi ngày để thấy rằng hiện tại của chúng ta in hằn trên nét mặttương lai của chúng. Rồi chúng cũng chờ như ta vì thế hệ cha anh không có can đảm không chờ.

Chúng ta là chiếc bóng của lịch sử. Khi chúng ta ngồi chờ lịch sử ngồi chờ theo, khi chúng ta hành động lịch sử bắt đầu trở mình, và khi chúng ta sợ hãi triền miên lịch sử sẽ đứng yên. Nhà văn Nga Alexander Solzhenitsyn viết: "Nếu chúng ta chờ đợi lịch sử ban cho chúng ta tự do và những món quà quý giá khác, chúng ta có nguy cơ chờ đợi trong vô vọng. Lịch sử là chúng ta."

Vâng, lịch sử là chúng ta nhưng chúng ta khôn ngoan chờ người khác đi trước. Thế là tất cả chúng ta ngồi ngó nhau và chờ lẫn nhau. May thay lịch sử cũng rất kiên nhẫn chờ theo. Bóng đèn cuối cùng tắt trên ga Chờ nhưng chuyến tàu Lịch sử sao vẫn chưa chuyển bánh?

Lẫn trong khói hương và bao khóc than tiễn đưa ta lần cuối cùng về thế giới bên kia là ánh mắt của con cháu ta trách ta không làm gì cả để hôm nay chúng cũng phảibắt đầu chờ đợi như ta. Linh hồn nào phiêu diêu nổi trong niềm đau uất nghẹn sau lưng ấy.

Trần Quốc Việt
(danlambao)danlambaovn.blogspot.com

Post Reply