Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!
Không ai biết gì về nội dung cuộc nói chuyện kín giữa Giáo hoàng và Chủ tịch Cuba
Không có chi tiết nào được loan báo về nội dung cuộc gặp này nhưng các hình ảnh truyền hình cho thấy Raul Castro chào đón Giáo hoàng tại Dinh cách mạng và sau đó tiễn Ngài ra.
Phóng viên BBC Sarah Rainsford ở Havana cho biết thay đổi và mở cửa đang nổi lên là các chủ đề chính của chuyến thăm của Giáo hoàng đến quốc gia độc đảng này – nơi các giáo dân Công giáo hiện đang chiếm 10% dân số.
Các nhà quan sát nhận xét quan hệ giữa Giáo hội Công giáo và Nhà nước đã ấm lên trong những năm gần đây ở Cuba.
Chủ tịch Raul Castro đã chấp nhận vai trò trung gian của Giáo hội trong các vấn đề như tù nhân chính trị và thừa nhận vai trò của Giáo hội là tổ chức có ảnh hưởng lớn nhất bên ngoài Nhà nước cộng sản.
Phóng viên BBC cho biết nếu Giáo hoàng Benedict XVI thật sự gặp Fidel Castro thì đó sẽ là thêm một cơ hội tốt để thảo luận về tiến trình cải cách ở Cuba. Giáo hoàng đã nói Giáo hội sẵn sàng giúp đỡ thực hiện các cải cách này.
Từ Havana, phóng viên BBC Ian Pannell cho biết người dân ở đảo quốc này rất hào hứng với chuyến thăm của Giáo hoàng và hy vọng rằng chuyến thăm này sẽ dẫn đến nhiều thay đổi hơn nữa ở đất nước này.
“Đối với đa số người dân Cuba thì chuyện thế gian chứ không phải việc của Chúa Trời mới là mối bận tâm hàng ngày của họ – làm sao để kiếm đủ tiền để sống qua ngày” ông nói.
Một tình tiết mới trong vụ án Bạc Hy Lai tại Trung Quốc
Bạc Hy Lai và Neil Heywood
Đề tài trên trang nhất các báo Pháp hôm nay khá đa dạng : tranh cử tổng thống Pháp (báo Liberation, Le Figaro) ; chuyến công du của Đức Giáo Hoàng Benedicto 16 tại Cuba (La Croix), áp lực trong việc làm (l’Humanité) hay đề tài sức khỏe (Le Monde). Liên quan đến thời sự quốc tế, nhân vật số một tỉnh Trùng Khánh, ông Bạc Hy Lai, lại một lần nữa gây sự chú ý cho hai tờ báo Pháp Le Monde và Le Figaro với một tình tiết mới vừa xuất hiện.
Cả hai tờ báo cùng cho biết, vừa qua Luân Đôn yêu cầu chính quyền Bắc Kinh phải điều tra về cái chết của một nhà tư vấn người Anh, ông Neil Heywood, một nhân vật thân cận của ông Bạc Hy Lai.
Với bài viết đề tựa « Cái chết kỳ lạ của một công dân người Anh tại Trùng Khánh », Le Figaro nhận định rằng « tại Trung Quốc cũng như tại phương Tây, sự thất sủng của một người nào đó có kéo theo hàng loạt tiết lộ và cáo buộc ».
Trong khi đó, báo Le Monde lại cho rằng « đây là tình tiết sau cùng của tập truyện nhiều kỳ Bạc Hy Lai ». Một tình tiết hiện đang lôi cuốn các cư dân mạng Trung Quốc về sự thất sủng của ông Bạc Hy Lai.
Theo thuật lại của hai tờ báo, vừa qua, chính phủ Luân Đôn đã yêu cầu Bắc Kinh phải cho điều tra về cái chết của một công dân Anh, tên Neil Heywood. Ông này đã được phát hiện chết trong phòng khách sạn của ông ta tại Trùng Khánh. Các quan chức địa phương giải thích rằng Neil Heywood chết do dùng quá nhiều rượu.
Theo cả hai tờ báo, điều đáng nói là lời giải thích đã gây ngạc nhiên cho gia đình nạn nhân, vì họ khẳng định rằng ông Heywood không biết uống rượu. Sau đó, thi thể nạn nhân đã được nhanh chóng đem đi thiêu mà không hề được giảo nghiệm.
Le Monde và Le Figaro cho biết Neil Heywood là người am tường tiếng Hoa và kết hôn với một phụ nữ Trung Quốc tại vùng Đại Liên, cứ địa cũ của Bạc Hy Lai. Ông ta từng là nhà tư vấn về thị trường Trung Quốc cho các doanh nghiệp lớn của nước ngoài. Chính ông này đã đóng vai trò môi giới giúp cho Bạc Qua Qua, con trai của Bạc Hy Lai ghi danh được vào hai trường đại học nổi tiếng của Anh quốc.
Theo hai tờ báo, các nguồn tin đang lưu hành trên Internet hiện nay cho rằng có lẽ ông Neil Heywood đã bị đầu độc. Và ông này đang có tranh chấp về tài chính với bà Cốc Khai Lai, vợ của Bạc Hy Lai. Như vậy, đây có lẽ chính là thông tin mà ông Vương Lập Quân, cánh tay phải của Bạc Hy Lai đã cung cấp cho lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên.
Le Figaro cho rằng, từ nhiều ngày qua tại Trung Quốc có tin đồn cho rằng ông Vương Lập Quân chạy trốn vì ông ta cảm thấy bị đe dọa. Trước đó, Vương Lập Quân đã báo cho Bạc Hy Lai biết những người thân cận của ông ta đang bị điều tra về cái chết bí ẩn của Neil Heywood do nghi ngờ là bị đầu độc và khuyên ông ta không nên can dự vào trường hợp nhạy cảm này.
Báo Le Monde còn liên hệ vụ án Bạc Hy Lai với một nhân vật đầy quyền lực khác trong Ban thường vụ Bộ chính trị là ông Chu Vĩnh Khang, người phụ trách về vấn đề an ninh. Có lẽ ông Chu đã hoài công vô ích nhằm ngăn chặn sự sụp đổ của Bạc Hy Lai.
Nhận xét về vụ tai tiếng chính trị lần này tại Bắc Kinh, một giáo sư khoa học chính trị thuộc một trường đại học tại Bắc Kinh cho rằng « Trung tâm quyền lực bây giờ là Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo ».
Ngay trước khi kết thúc phiên họp thường niên của Quốc hội, ông Hồ Cẩm Đào đã đưa ra lời kêu gọi tuân thủ kỷ luật trước quân đội, báo hiệu cho thấy việc nắm lại quyền lực của nhóm cai trị trước sự kháng cự của ông Bạc Hy Lai và các đồng minh của ông ta. ( RFI )
Quốc hội Mỹ muốn trang bị vũ khí cho phe nổi dậy ở Syria
Các nhà làm luật Mỹ kêu gọi chính phủ đóng vai trò tích cực hơn để lật đổ chế độ độc tài ở Syria, kể cả chuyện vũ trang cho phe đang chống Tổng thống Bashar al-Assad.
Thượng nghị sĩ John McCain trong 1 cuộc họp báo để thảo luận về một nghị quyết của Quốc hội lên án chính phủ Syria ở Điện Capitol, Washington, 28/3/2012
Thượng nghị sĩ Cộng hòa John McCain nói Hoa Kỳ không thể đứng nhìn khi hàng ngàn người Syria bị sát hại:
“Phải có thêm bao nhiêu người Syria bị sát hại nữa thì Hoa Kỳ mới chịu nhận vai trò lãnh đạo để chấm dứt cuộc tàn sát đang xảy ra tại Syria?”
Ông McCain và 5 Thượng nghị sĩ khác bảo trợ một nghị quyết của Quốc hội lên án cuộc đổ máu tại Syria và kêu gọi Hoa Kỳ lập một khu vực an toàn cho thường dân và vũ trang phe nổi dậy chống Tổng thống Assad.
Cùng tham gia với Thượng nghị sĩ McCain còn có Thượng nghị sĩ không thuộc đảng nào Joe Lieberman. Ông này nhấn mạnh sự sụp đổ của chế độ Assad là không thể tránh được.
Một nghị sĩ khác, ông Lindsey Graham lưu ý rằng kế hoạch của quốc tế chỉ nói ngưng bắn và đối thoại chứ không nói đến chuyện Tổng thống Assad phải ra đi:
“Nếu không buộc ông Assad ra đi, chúng ta sẽ xúc phạm đến những người Syria đã bị hãm hiếp, giết hại, đánh đập và tra tấn. Và cũng xúc phạm đến thế giới nói chung. Không có gì phải đàm phán, ngoại trừ ông ta phải ra đi.”
Nghị quyết mà 5 thượng nghị sĩ bảo trợ không nói đến chuyện đưa binh sĩ Mỹ đến Syria, và cũng không cho phép sử dụng lực lượng quân sự.
Nhưng Thượng nghị sĩ Jon Kyl cho biết nhóm của họ hy vọng sẽ là một hình thức ủng hộ Tổng thống Obama trong trường hợp ông đưa ra một hành động nào đó đối với Syria.
Thượng nghị sĩ McCain lưu ý rằng Hoa Kỳ đã từng thu xếp để cung cấp vũ khí cho kháng chiến Afghanistan, phe nổi dậy ở Libya thì nhất định sẽ có cách để cung cấp vũ khí cho phe chống đối ở Syria.
Nếu được Quốc hội thông qua, nghị quyết không buộc chính quyền của Tổng thống Obama phải có hành động cụ thể nào. Thay vào đó, nghị quyết là cách bày tỏ ý muốn của ngành lập pháp, xác nhận họ sẽ ủng hộ bất kỳ hành động nào trong tương lai.
Về phía hành pháp, nhiều giới chức cũng nghĩ Tổng thống Assad phải ra đi nhưng ra đi khi nào thì khó có thể nói là ngay trong lúc này, và họ cũng nói những diễn biến sau khi ông Assad ra đi cũng khó lường trước.
Tác giả : Vi Anh
Trong một quốc gia dân tộc, bao lâu mà chánh quyền không giải quyết những mâu thuẩn bằng pháp lý và đạo lý, thì người dân chỉ còn có cách phải tự giải quyết, giải quyết bằng bạo lực chống nhà cầm quyền. Lúc đó đứng trên phương diện khế uớc thành lập xã hội, chính nhà cầm quyền là người có tội, do hành vi bất động hay manh động đã đùa đẩy người dân đến đường cùng phải phản ứng tự vệ, như con kiến mà dày xéo nó nó phải cắn thôi. Điều này có thể thấy không những ở các chế độ độc tài nước lớn như Trung Quốc, vừa như Việt Nam và nhỏ như Miên.
Ở VN điển hình là trường hợp gia đình kỹ sư Đoàn văn Vươn dùng súng và mìn tự chế chống lại công an đến cưỡng chế, cưỡng chiếm đất ven biền và đầm nuôi tôm mà gia đình anh đã đổ mồi hôi, tốn không biết bao công sức, suốt hàng chục năm trời mới thành nhưng cán bộ đảng viên địa phương lại ỷ quyền cưỡng chế và cưỡng chiếm.
Và một người dân Quảng Nam là Ông Nguyễn Văn Tường rút dao đâm hai cán bộ về đất đai của CS đến làm thủ tục cưỡng chế, cuỡng chiếm đất của Ông Tường rồi sau đó Ông Tường về nhà uống thuốc độc tự sát. Theo lời tường thuật của thân mẫu Ông Tường, Ông Tường có nói “Đất con họ lấy hết nhưng đền chỉ được mấy đồng. Con kiện không được thì con sẽ chết thôi mẹ ơi.”
Chưa hết mới đây, tin đài RFA,ngày 26-3-2012, Dân oan tập trung khiếu kiện về đất đai tại số 35 Ngô Quyền, Văn phòng Tiếp dân của Quốc hội ở Hà Nội, và Sài Gòn, tại khu vực 210 Võ thị Sáu, văn phòng của trung ương Đảng tại Sài Gòn. Như thường lệ lực lượng an ninh, công an và dân phòng cũng xua đuổi họ, bắt thẩy lên xe bus chở về địa phương.
Còn ở Trung Quốc thì vô số vụ nhà cầm quyền cưỡng chế, cưỡng chiếm đất đai của dân. Dân chúng chống đối bằng đủ mọi cách, đốt xe công an, bao vây đồn cảnh sát, bắt cán bộ ủy ban làm con tin như Vụ Ô Khảm.
Và ở Miên công nhân biểu tình lãng công gần đây đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc, xô xát với chủ nhân và cán bộ thông đồng với chủ ăn hiếp công nhân. Người dân Miên đã sử dụng đến các biện pháp phản kháng bạo lực. Như người dân Miên ở Phnom Penh, ngày 24/01/2012 biểu tình chống cưỡng bức giải tỏa, đã ném đá, gây hỏa hoạn hay bắt cóc con tin. Còn công nhân Miên ở nhiều doanh nghiệp dệt may của hai tỉnh Svay Rieng và Kampong Cham đã tấn công nhà máy, đập cửa sổ, để buộc ban lãnh đạo phải ngồi vào bàn đàm phán.
Những trường hợp người dân và công nhân phải dùng bạo lực chống nhà cầm quyền nêu trên xảy ra rất thường ở Trung Quốc, Việt Nam và Miên từ khi Đảng Nhà Nước CS hay độc tài chuyển sang kinh tế thị trường nhưng vận hành như thời kỳ kinh tế tư bản hoang dã với cán bộ đảng viên CS hành động như tư bản đỏ ở thành thị và cường hào ác bá đỏ ở nông thôn.
Đảng Nhà Nước CS nếu làm ngơ không giải quyết thì cũng đánh bùn sang ao, cố ý để lâu cứt trâu hóa bùn những khiếu nại, thưa kiện,đòi hỏi, đấu tranh của dân chúng liên quan đến quyền lợi vật chất và tinh thần của người dân. Có nơi Đảng Nhà Nước còn bá đạo, cấp trên chuyển đơn thưa về nhà cầm quyền địa phương xét giải quyết. Đó là cách giết dân, báo cho người bị thưa biết ai thưa, thưa cái gì để trả thù. Và việc cán bộ đảng viên CS dùng du đảng để trấn áp dân oan là chuyện rất thường.
Ai cũng biết VN vốn là nước dĩ nông vi bản, bây giờ trên 65% dân số vẫn còn là nông dân. Đối với dân chúng VN, đất đai ngòai phương tiện sản xuất còn là tình tự quê hương, mồ mả tổ tiên, là núm ruột của người dân. Lương bổng, điều kiện làm việc ngòai ý nghĩa phương tiện sinh sống cho cá nhân và gia đình còn là giá trị, phẩm chất của người lao động.
Số những vụ khiếu kiện đất đai như trên, số những vụ nhà cầm quyền cưỡng chế, cưỡng chiếm đất đai của dân xảy ra hàng ngày, khắp nước, kéo dài hai ba chục năm trời mà không có ai giải quyết.
Có khi trên giải quyết mà bảo dưới không nghe.CS có nguyên tắc cấp ủy địa phương lãnh đạo. Cấp ủy ở dưới tìm đủ cách để không thi hành chỉ đạo ở trên vì quyền lợi địa phương và quyền lợi cá nhân,trên ăn thì dươi cũng phải ăn chớ.
Người dân tuyệt vọng cùng cực, bị đùa vào chân tường, phải phản ứng tự vệ. Biện pháp tự vệ duy nhứt mà người dân có thể làm sau khi biện pháp hành chánh, pháp lý, đạo lý bị nhà cầm quyền bất động bế tỏa, và bị nhà cấm quyền trấn áp bằng bạo lực cưỡng chế, người dân chỉ còn có cách tự vệ duy nhứt là dùng bạo lực.
Bạo lực sẽ kêu gọi bạo lực. Nhà cầm quyền trấn áp bằng bạo lực, thì người dân sẽ bạo lực hơn về nhịp độ và cường độ. Người dân chỗ này thấy chỗ khác bạo động thì sẽ bắt chước bạo động theo.
Con số những vụ biểu tình bạo động về đất đai của dân bị nhà cầm quyền cưỡng chế, cưỡng chiếm và các cuộc công nhân biểu tình, lãng công chống Đảng Nhà Nước cấu kết ép giá lương và bắt làm việc với điều kiện như lao nô, càng ngày càng tăng.
Theo Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội của TC, trong 20 năm gần đây, ỡ TQ có khoảng 6,7 triệu mẫu ruộng đất bị trưng thu. Do sự chênh lệch giữa giá thị trường và giá đền bù, người dân bị lỗ 1000 tỷ nhân dân tệ (160 tỷ đôla). Có khỏang 50 triệu nông dân đã mất trắng đất cày và trong 20 năm tới, đạo binh «người cày không ruộng» tăng thêm 67 triệu nữa. 67% những vụ nổi dậy, điều mà CS dị ứng và nhậy cảm, sợ không nói ra đúng tên, như sĩ tử ngày xưa sợ phạm húy nên TC gọi là “sự cố tập thể”.Theo giáo sư Tôn Lập Bình, đại học Thanh Hoa, trong năm 2010, mỗi ngày xảy ra ít nhất 500 «sự cố tập thể ».. Dân chúng làm sao chịu nổi khi 43% nông dân Trung Quốc bị nhà cầm quyền CS trưng thu đất đai, trả rẻ mạt, đem bán cao gấp 40 lần.
Còn ở VN, tỷ lệ ấy cũng không thấp hơn đâu. Ở VNCS có cả một phong trào dân oan bị Đảng Nhà Nước cướp giựt đất như kiểu Anh Đòan văn Vươn bị. Người dân Việt ở thành thị, lẫn nông thôn đều bị, bị từ Bắc, chí Nam, lên Cao Nguyên. Số đơn khiếu kiện cũng như những cuộc đấu tranh đòi đất bị cán bộ đảng viên cướp, chiếm phần lớn nhứt những cuộc đấu tranh, đòi hỏi của người dân, điều mà CS Hà nội gọi là “tụ tập đông người”.
Một “đại biểu nhân dân” của cái Quốc Hội “đảng cử dân bầu” nói 80% các vụ thưa kiện ở VN liên quan đến vấn đề trưng thu, cưỡng hành trung thu đất đai của dân. Những người dân nạn nhân của chính sách trưng thu của CS với đền bù rẻ mạt như giựt của dân và cán bộ đảng viên lấy bán hay hù với công ty giá 50 cao hơn.
Đó là chưa nói dân oan tôn giáo. Đạo nào cũng bị CS lấy đất, lấy nhà, đem sử dụng thủ lợi riêng, chớ không phải công ích. Công giáo bị nặng nhứt, đấu tranh bằng cầu nguyện nhưng rất mạnh, có lúc lên hàng trăm ngàn người như ở Vinh.
Phương ngôn VN có câu “tức nước phải vỡ bờ”. Phong trào dân oan bị cán bộ, đảng viên CS cướp đất, cuớp công, bóc lột, áp bức sẽ tạo thành một cuộc nổ chụp làm tan hoang chế độ CS. Sớm hay muộn thôi./.
'Tranh chấp biển Đông không thể giải quyết riêng lẻ'
Các học giả quốc tế cho rằng, tranh chấp chủ quyền biển, trong đó có biển Đông, đang ngày càng tạo thêm khó khăn cho việc thực thi an toàn hàng hải, bảo vệ môi trường. Tuy nhiên vấn đề này không thể giải quyết riêng lẻ từng quốc gia.
Chiều 30/3, Hội thảo quốc tế “An ninh hàng hải tại Đông Nam Á: An toàn hàng hải và môi trường biển” do Học viện Ngoại giao Việt Nam và CSIS tổ chức đã kết thúc tại TP HCM sau 8 phiên thảo luận. Hội nghị có 13 tham luận và hơn 80 lượt ý kiến đóng góp của 35 đại biểu đến từ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Vấn đề được "mổ xẻ" nhiều nhất là khuôn khổ pháp lý cho an ninh và an toàn môi trường biển. Nhiều ý kiến cho rằng, sự tồn tại của các tranh chấp chủ quyền biển đang tạo thêm khó khăn trong việc thực thi an toàn hàng hải và quản lý, bảo vệ môi trường. Theo các chuyên gia, giải pháp tốt nhất cho vấn đề này là tăng cường hợp tác giữa các quốc gia trong và ngoài khu vực nhằm góp phần tạo ra môi trường hoà bình, ổn định và phát triển ở khu vực Đông Nam Á. Hàng loạt khuôn khổ pháp lý cũng được đề xuất dùng làm cơ sở giải quyết các tranh chấp trên biển.
Đại diện Diễn đàn Thái Bình Dương thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ, Carl Baker (ngồi thứ tư từ trái qua),
phát biểu ở hội thảo An ninh hàng hải tại Đông Nam Á: an toàn hàng hải và môi trường biển. Ảnh: Vũ Lê
Các học giả phân tích, Công ước luật biển của Liên Hiệp Quốc năm 1982, các công ước của Tổ chức hàng hải quốc tế IMO là những khuôn khổ pháp lý quan trọng cho an ninh và an toàn môi trường biển. Bởi lẽ, trong đó có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia trong vùng biển và ven biển.
Bên cạnh luật về biển của quốc tế, các nước Đông Nam Á cũng đã thiết lập một số khuôn khổ hợp tác trong lĩnh vực an toàn hàng hải và bảo vệ môi trường biển. Đó là các cơ chế hợp tác của ASEAN/ARF, bản Ghi nhớ Tokyo về kiểm soát của các quốc gia cảng biển, Hiệp định ReCAAP về chống cướp biển và cướp có vũ trang trên biển đối với tàu thuyền trong khu vực Châu Á...
Các chuyên gia quốc tế cũng nhấn mạnh, một trong những yếu tố quan trọng để tạo ra môi trường biển và hàng hải an toàn là ý chí chính trị của các quốc gia trong việc phối hợp chính sách và hành động.
Theo đó, thách thức về an toàn hàng hải và các mối đe dọa đối với môi trường biển hiện nay đều cần sự chung tay, góp sức của nhiều tổ chức và quốc gia chứ không thể giải quyết đơn phương, riêng lẻ.
Một học giả nêu quan điểm tại hội nghị An ninh hàng hải tại Đông Nam Á lần 2 tổ chức tại TP HCM. Ảnh: Vũ Lê
Điển hình là sáng kiến hợp tác bảo vệ môi trường biển trong khu vực Tam giác san hô – Biển Đông nhằm bảo vệ môi trường biển và bảo tồn các loài cá. Hay dự án “Xây dựng chiến lược quản lý sản phẩm đánh bắt ngẫu nhiên trong nghề lưới kéo đáy” được thực hiện bởi 5 quốc gia thành viên là Indonesia, Philippines, Papua New Ghine, Thái Lan và Việt Nam.
Nhiều đại biểu đề xuất nên thúc đẩy hợp tác lựa chọn nên theo thứ tự từ dễ đến khó, ưu tiên các biện pháp khẩn cấp, các lĩnh vực phi truyền thống. Ngoài ra, những biện pháp hợp tác lâu dài về các lĩnh vực như bảo tồn các nguồn tài nguyên sinh vật biển, bảo vệ môi trường biển, xây dựng năng lực cho các lực lượng thực thi pháp luật trên biển… cũng cần được đẩy mạnh.
Để đảm bảo tính khả thi của các mô hình hợp tác trong lĩnh vực an ninh hàng hải và bảo vệ môi trường biển, các đại biểu khuyến nghị đẩy mạnh sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền của các chính phủ với doanh nghiệp. Trọng tâm sẽ là các công ty hoạt động trong lĩnh vực hàng hải, thuỷ sản, dầu khí. Ngoài ra, nhiều đại biểu cũng đề xuất sự tham gia của các tổ chức quốc tế và khu vực. Theo đó, Liên Hiệp quốc, IMO, ASEAN, SEAFDEC cũng có thể trợ giúp kỹ thuật và nâng cao năng lực quản lý các vấn đề liên quan đến an toàn hảng hải và môi trường.
'Tranh chấp biển Đông không thể giải quyết riêng lẻ'
Các học giả quốc tế cho rằng, tranh chấp chủ quyền biển, trong đó có biển Đông, đang ngày càng tạo thêm khó khăn cho việc thực thi an toàn hàng hải, bảo vệ môi trường. Tuy nhiên vấn đề này không thể giải quyết riêng lẻ từng quốc gia.
Chiều 30/3, Hội thảo quốc tế “An ninh hàng hải tại Đông Nam Á: An toàn hàng hải và môi trường biển” do Học viện Ngoại giao Việt Nam và CSIS tổ chức đã kết thúc tại TP HCM sau 8 phiên thảo luận. Hội nghị có 13 tham luận và hơn 80 lượt ý kiến đóng góp của 35 đại biểu đến từ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Vấn đề được "mổ xẻ" nhiều nhất là khuôn khổ pháp lý cho an ninh và an toàn môi trường biển. Nhiều ý kiến cho rằng, sự tồn tại của các tranh chấp chủ quyền biển đang tạo thêm khó khăn trong việc thực thi an toàn hàng hải và quản lý, bảo vệ môi trường. Theo các chuyên gia, giải pháp tốt nhất cho vấn đề này là tăng cường hợp tác giữa các quốc gia trong và ngoài khu vực nhằm góp phần tạo ra môi trường hoà bình, ổn định và phát triển ở khu vực Đông Nam Á. Hàng loạt khuôn khổ pháp lý cũng được đề xuất dùng làm cơ sở giải quyết các tranh chấp trên biển.
Đại diện Diễn đàn Thái Bình Dương thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ, Carl Baker (ngồi thứ tư từ trái qua),
phát biểu ở hội thảo An ninh hàng hải tại Đông Nam Á: an toàn hàng hải và môi trường biển. Ảnh: Vũ Lê
Các học giả phân tích, Công ước luật biển của Liên Hiệp Quốc năm 1982, các công ước của Tổ chức hàng hải quốc tế IMO là những khuôn khổ pháp lý quan trọng cho an ninh và an toàn môi trường biển. Bởi lẽ, trong đó có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia trong vùng biển và ven biển.
Bên cạnh luật về biển của quốc tế, các nước Đông Nam Á cũng đã thiết lập một số khuôn khổ hợp tác trong lĩnh vực an toàn hàng hải và bảo vệ môi trường biển. Đó là các cơ chế hợp tác của ASEAN/ARF, bản Ghi nhớ Tokyo về kiểm soát của các quốc gia cảng biển, Hiệp định ReCAAP về chống cướp biển và cướp có vũ trang trên biển đối với tàu thuyền trong khu vực Châu Á...
Các chuyên gia quốc tế cũng nhấn mạnh, một trong những yếu tố quan trọng để tạo ra môi trường biển và hàng hải an toàn là ý chí chính trị của các quốc gia trong việc phối hợp chính sách và hành động.
Theo đó, thách thức về an toàn hàng hải và các mối đe dọa đối với môi trường biển hiện nay đều cần sự chung tay, góp sức của nhiều tổ chức và quốc gia chứ không thể giải quyết đơn phương, riêng lẻ.
Một học giả nêu quan điểm tại hội nghị An ninh hàng hải tại Đông Nam Á lần 2 tổ chức tại TP HCM. Ảnh: Vũ Lê
Điển hình là sáng kiến hợp tác bảo vệ môi trường biển trong khu vực Tam giác san hô – Biển Đông nhằm bảo vệ môi trường biển và bảo tồn các loài cá. Hay dự án “Xây dựng chiến lược quản lý sản phẩm đánh bắt ngẫu nhiên trong nghề lưới kéo đáy” được thực hiện bởi 5 quốc gia thành viên là Indonesia, Philippines, Papua New Ghine, Thái Lan và Việt Nam.
Nhiều đại biểu đề xuất nên thúc đẩy hợp tác lựa chọn nên theo thứ tự từ dễ đến khó, ưu tiên các biện pháp khẩn cấp, các lĩnh vực phi truyền thống. Ngoài ra, những biện pháp hợp tác lâu dài về các lĩnh vực như bảo tồn các nguồn tài nguyên sinh vật biển, bảo vệ môi trường biển, xây dựng năng lực cho các lực lượng thực thi pháp luật trên biển… cũng cần được đẩy mạnh.
Để đảm bảo tính khả thi của các mô hình hợp tác trong lĩnh vực an ninh hàng hải và bảo vệ môi trường biển, các đại biểu khuyến nghị đẩy mạnh sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền của các chính phủ với doanh nghiệp. Trọng tâm sẽ là các công ty hoạt động trong lĩnh vực hàng hải, thuỷ sản, dầu khí. Ngoài ra, nhiều đại biểu cũng đề xuất sự tham gia của các tổ chức quốc tế và khu vực. Theo đó, Liên Hiệp quốc, IMO, ASEAN, SEAFDEC cũng có thể trợ giúp kỹ thuật và nâng cao năng lực quản lý các vấn đề liên quan đến an toàn hảng hải và môi trường.
Ngô Nhân Dụng
Theo dõi các bloggers ở Việt Nam thì chúng thấy rất nhiều người trẻ đang mang những ước vọng như nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang: “Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người. Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam.” Những ước nguyện viết trước đây gần nửa thế kỷ, cũng không khác những lời thiết tha của Việt Khang bây giờ.
Nguyễn Ðức Quang khác hẳn các nhạc sĩ cùng thời, những năm tang thương nhất trong cuộc chiến tranh Nam Bắc. Phản ứng của Nguyễn Ðức Quang không phải là đau khổ, thở than, tuyệt vọng. Các bài hát của anh toát ra tính chất khỏe mạnh, lạc quan, xây dựng, hướng về tương lai; trong khi anh vẫn ý thức thân phận khốn khổ, nhục nhằn của quê hương mình. Trong thời gian đó nhiều nhà đặt ca khúc khác nổi tiếng từ những phòng trà, những quán cà phê trong thành phố, kéo bao nhiêu người vào cơn mộng mị của họ. Nguyễn Ðức Quang hát cho các thanh niên, sinh viên, học sinh đi làm trại công tác, vì tâm nguyện giúp ích xã hội.
Sống trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt này, ai sống ở miền Nam Việt Nam cũng ý thức thân phận làm dân một nước nhỏ bị đẩy vào một cuộc tranh chấp quốc tế giữa các cường quốc. Năm 1970 Nguyễn Ðức Quang nhìn thấy: “Dân chúng ta đã mềm nhũn... Người ơi này tấm thân gầy, một sông núi hai vai lửa cháy!” (Xương Sống Ta Ðã Oằn Xuống). Trong cuộc chiến tranh, những người lính miền Bắc bị tuyên truyền không hề ý thức mình đang gây ra một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, như Trịnh Công Sơn than thở “Hai mươi năm nội chiến từng ngày;” còn những người miền Nam phải cầm súng chống cự cũng biết rằng đây là một cuộc chiến tranh bất đắc dĩ. Như khi nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, một người lính, nói với người lính bên kia: “Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước - Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi.” Nguyễn Ðức Quang nhìn xa hơn, thấy một sự thật là dân mình bị “bọn lái buôn” lường gạt: “Anh ơi anh, chung quanh ta còn có bao nhiêu đứa nhân danh mang đời ta đem bán cho muôn người nơi xa vời; từ Sài Gòn kia ra Hà Nội ấy!” (Bọn Lái Buôn ở Khắp Nơi). Nguyễn Ðức Quang nhìn thấy “Người dân mình bị dầm nát như loài giun thôi.” Vì cùng là nạn nhân phải trả món nợ cho cả hai khối tư bản và cộng sản, bằng xương máu dân mình, “Việt Nam chịu ân oán cho cuộc tranh đua... Bao nước vây chung quanh đòi nợ - Một dân tộc trả bằng máu hai chục năm qua.” (Im Lặng Là Ðồng Lõa). Người nhạc sĩ đã lên tiếng nói lên một sự thật.
Khác với những nhạc sĩ chỉ than thở và tìm quên trong các tình tự cá nhân hay tự che giấu đời sống thật sau những tư tưởng mộng mị hay siêu hình, Nguyễn Ðức Quang là một nhạc sĩ “nhập thế.” Anh kêu gọi, “Một người đi một bước, ngàn người cùng đi muôn bước. Ði làm đuốc soi quê hương ta đập tan bóng tối.” (Ðuốc Hồng Tuổi Trẻ). Anh viết những ca khúc cho các thanh niên đi xây dựng nhà cửa cho đồng bào tị nạn, “Rồi ngày mai này nhà sẽ cao - Anh em ơi tô nhanh lên nào!” (Làm Nhà). Anh đặt những ca khúc cho các học sinh, sinh viên đi làm công tác giúp ích: “Những nhát cuốc hôm qua hay bây giờ, làm Việt Nam thành một kho ấm no!” Và “Những nhát cuốc chôn sâu lời thở dài - Những nhát cuốc đưa ta về ngày mai... Những nhát cuốc reo vui mùa Tự Do.” (Những Nhát Cuốc)
Tâm hồn Nguyễn Ðức Quang lúc nào cũng vui vẻ yêu đời, anh muốn khơi dậy niềm tin tưởng, hy vọng cho các thanh niên chung quanh mình. Trong các cuộc lửa trại, các lúc họp đoàn, một thế hệ sinh viên học sinh khắp miền Nam đã hát với anh những câu ca đầy tin tưởng: “Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền - Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến - Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt - Hy vọng đã vươn dậy...” Rồi anh nhắc lại nhiều lần, nghe như lời cầu nguyện: “Hy vọng đã vươn dậy trong lòng anh, trong lòng tôi, trong lòng ai... Hy vọng đã vươn dậy trong ngày qua, sang ngày nay, cho ngày mai!”
Nguyễn Ðức Quang là người nhạc sĩ đi gieo rắc ý thức lạc quan và xây dựng cho một thế hệ các thanh niên miền Nam, những người không theo cộng sản. Trong lúc một chế độ dân chủ đang bắt đầu thành hình, nhiều người bắt đầu chán nản vì các cuộc tranh luận trong xã hội, một hiện tượng không thể nào tránh được trong các xã hội muốn sống tự do dân chủ. Một biến chứng của cuộc sống tương đối tự do là tinh thần phê phán đưa tới cãi cọ gay go và cay đắng quá đáng. Nguyễn Ðức Quang hát lên: “Không phải là lúc cứ ngồi đặt vấn đề nữa rồi - Phải dùng bàn tay mà làm nên tươi mới. Hàng chục năm qua ta ngồi ngó nhau, nghi ngờ nhau, khích bác nhau cho cay, cho sâu, cho thật đau.”
Nguyễn Ðức Quang cố gắng thuyết phục đồng bào, nhất là giới trẻ: “Không phải là lúc ta ngồi mà cãi suông. Không tin nơi nhau thế ta định nhờ ai bắt đầu? Thế giới ngày nay không còn ma quái; Thần tượng tàn rồi, còn anh với tôi; Chúng ta đi tới bằng cái tầm thường thôi!” Ðể “bắt đầu,” Nguyễn Ðức Quang hô hào: “Làm việc đi không lo khen chê! Làm việc đi hãy say và mê!” Và báo động: “Mình chậm chân đi sau người ta, còn ngồi đây nghĩ lo viển vông, thắc mắc, ngại ngùng, đến lúc nào mới là xong?” Bài ca Không Phải Là Lúc Cứ Ngồi Ðặt Vấn Ðề tuy viết từ năm 1966 nhưng nếu được cất tiếng hát lên bây giờ vẫn còn thích hợp.
Một năm sau khi Nguyễn Ðức Quang qua đời, hát lại các bài ca của anh viết từ những năm chinh chiến cũ, chúng ta vẫn thấy những lời ca tha thiết của anh còn rất cần thiết cho các bạn trẻ hiện nay. Trong lúc nền văn hóa kim tiền đang tràn ngập, trong lúc bao thanh niên mất kim chỉ nam đạo đức, còn bị sa vào vòng ma túy, trộm cướp; nước Việt Nam cần một cuộc phục hưng tinh thần, trước hết là cho giới trẻ, ngay trong trường học.
Nước Việt Nam đang cần nhiều nhạc sĩ nối tiếp Dòng Nhạc Nguyễn Ðức Quang, đem gieo rắc niềm tin tưởng, hy vọng, ý chí xây dựng quê hương. Một nét đẹp trong các sáng tác của Nguyễn Ðức Quang là lời và nhạc khỏe mạnh, vui tươi, hùng tráng nhưng không thuộc loại bài ca dành cho quân đội. Ðây là những bài hát của người dân yêu nước bình thường. Những biểu lộ của tình yêu nước nồng nhiệt cũng không rơi xuống tinh thần bài ngoại mù quáng, không hề kêu gọi đi giết người. Tính chất nhân bản này vắng mặt ở phần lớn các bài hát thường gọi là “cách mạng.” Chỉ khi người ta tự tin ở chính dân tộc mình, tin ở lý tưởng yêu thương đất nước của mình, thì mới lộ rõ thái độ nhân bản đó.
Trong khi cả nước lo lắng về nạn ngoại xâm, những ca khúc sôi sục lòng yêu nước như: “Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại - Xương da thịt này cha ông miệt mài” phải được tiếp tục sáng tác để các thanh thiếu niên Việt Nam bây giờ họp nhau cùng ca hát. Ðể một lần nữa, chúng ta xác định “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ!” Với “Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng!” Những khúc hát Nguyễn Ðức Quang đã viết tặng cho tuổi trẻ có thể gây cảm hứng cho các nhạc sĩ thời nay, để các bài hát yêu nước, yêu đời, yêu người lại được ca vang khắp các nẻo “Ðường Việt Nam.”
(Các ca khúc của Nguyễn Ðức Quang dẫn trong bài đều trích từ mạng của Phong trào Du Ca Việt Nam, ducavn.com)
TƯỜNG TRÌNH LỄ NGHÊNH ĐÓN THI HÀI
NGƯỜI ANH HÙNG CHẾT CHO QUÊ HƯƠNG TÂY TẠNG TỰ DO
Kính thưa qúy Liệt Vị Tôn Trưởng Đồng Hương quan tâm,
Như đã thông báo, hôm nay thứ sáu ngày 30/03/2012 tai Dala Latma Temple. Mcleod Ganj Dharamshala, có buỗi lễ nghinh đón thi thể Người thanh niên Tây Tạng tự thiêu phản đối chính sách cai trị dã man của cộng sản Tàu đối với người dân Tây Tạng khi có sự hiện diện của Hồ Cẩm Đào tại New dehli ngày 26 tháng 03 vừa qua.
Từ mờ sáng đã có từng đoàn người lũ lượt kéo về Latma Temple hàng ngàn người giăng tay trên đoạn đường xe quan tài sẽ đi qua.
Buổi lễ kéo dài hơn 3 tiếng đồng hồ với trùng điệp người tham dự sau những nghi thức tưởng niệm cầu nguyện, những lời kêu gọi “Side-by Side” cùng nhân dân Tây Tạng, được vang dội tiếng đáp lời. Cái chết lẩm liệt của thanh niên yêu nước đã làm rúng động trái tim nhân loại. Cái chết làm muôn vạn người cúi đầu.
Đoàn đại biểu Chính Phủ Tây Tạng lưu vong và những khách mời danh dự lần lượt đến chiêm bái trước linh cữu. Có những cụ gìa tóc bạc phơ qùy lạy, trong ràn rụa nước mắt, đúng như lời người xưa thường nói “Anh Hùng không có tuổi”.
Chúng tôi Lê Chân phóng viên Phong Trào Liên Minh Việt Nam Tây Tạng cũng đã lạy người 3 lạy trước quan tài.
Với nổi xót xa những giọt nước mắt chảy ngược giòng, tôi đang khóc cho Người hay khóc cho chính tôi, dân tộc Việt Nam trang sử oai hùng đâu thiếu những anh hào nữ kiệt.
Hơn nữa thế kỷ qua bất hạnh cho Tổ Quốc tôi phải rơi vào tay tập đoàn vong nô bán nước đã hủy diệt và băng hoại tinh thần bất khu ất của tiền nhân.
Nhưng tôi tin mãnh liệt trong giòng máu kiên cường của dân tộc luôn tìềm ẩn trong những trái còn tràn trề nhiệt huyết. Dân tộc Việt Nam đã có biết bao Anh Hùng đi vào lịch sử.
Hỡi tuổi trẽ Việt nam hãy cùng nhau làm nên lịch sử hôm nay.
Trong buổi lễ chúng tôi cũng nhận thấy có những quốc Kỳ của những quốc gia hỗ trợ Tự Do Tây Tạng hiện diện hôm nay gồm có. Hoa Kỳ, Australia, Nam Hàn và Việt Nam Tự Do cờ vàng 3 sọc đỏ. Tôi lạy Em người Anh Hùng tuổi trẻ
Giờ anh linh siêu phách tận niết bàn
Một cái chết vô cùng vĩ đại
Để muôn đời lưu lại tuổi tên
Tuổi trẻ ơi! Người con dân nước Việt
Tổ quốc đang cần tấm gương dũng liệt
Dân tộc đang quằn đau rên xiết
Dậy, dậy đi Nước Việt đã mất rồi.
Mcleod Ganj ngày 30/03/2012 Lê Chân
Phóng Viên Phong Trào Liên Minh Việt Nam Tây Tạng
Ngô Nhân Dụng
Tại cố đô Pagan xứ Miến Ðiện (Myanmar), giữa hàng chục ngàn bảo tháp, ngôi tháp Manuha có một sự tích đặc biệt. Vua Anawrahta trị vì vương quốc Pagan hùng mạnh nhất trong thời đó đã quy y đạo Phật theo truyền thống Bắc Tông.
Ông yêu cầu Manuha, một vị vua người Môn ở phía Nam phải thần phục và cống tiến tam tạng kinh điển Nam Tông; nhưng không toại nguyện. Anawrahta tấn công, bắt Manuha cầm tù, vẫn đối đãi như hàng vương giả. Mấy năm sau Manuha đã xin phép Anawrahta cho mình xây một bảo tháp mới làm nơi thiền định và được chấp thuận. Ngày nay du khách vào thăm di tích Bảo Tháp Manuha tại Pagan được chiêm ngưỡng một tượng Phật nằm rất đẹp. Nhưng ai cũng phải ngạc nhiên là gian phòng bên trong ngôi tháp quá nhỏ, pho tượng Phật như bị bó chặt giữa mấy bức tường kín bưng.
Năm 1059 Vua Anawrahta được mời tới khánh thành ngôi bảo tháp, ông bước vào, chắc cũng phát sinh cảm giác đó. Và ông hiểu ngụ ý của Manuha: Phật cũng như người ta, không thể sống trong tù ngục, không được tự do.
Tổng Thống Thein Sein chắc còn nhớ và muốn bắt chước bài học của vua Anawrahta, cho nên ông cũng bắt đầu thả các tù nhân của ông, 60 triệu dân Myanmar, cho họ được sống tự do hơn. Cuối tuần qua, dân Miến Ðiện đã bỏ phiếu bầu bổ túc 45 ghế đại biểu Quốc Hội. Họ thật sự được tự do chọn lá phiếu, cho nên đảng đối lập Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ (National League for Democracy, NLD) thắng hầu hết các đơn vị; trong đó có bà Aung Sang Suu Kyi. Ðảng NLD thắng cả 4 ghế đại biểu ở thủ đô mới lập Naypyitaw, là nơi hầu hết dân cư là công chức lãnh lương chính phủ, và gia đình họ. Nếu chính quyền Thein Sein giả dối vì còn nuôi tham vọng kéo dài chế độ độc tài quân phiệt thì khó có kết quả như vậy.
Dân Myanmar như đã sống lại. Người ta reo hò mừng rỡ. Tại trụ sở đảng NLD, vào buổi tối Chủ Nhật nóng bức, các thanh niên nhẩy múa ngoài đường, đầu tóc họ cũng nhuộm mầu mè như giới trẻ khắp nơi. Các nhà sư đứng ngắm mỉm cười, tay phe phẩy cái quạt. Nhiều gia đình mang theo cả con nhỏ đến ăn mừng: Dân Chủ đã thắng Ðộc Tài!
Ðây là lần thứ ba dân dân Myanmar đi bầu trong nửa thế kỷ. Năm 1962 các tướng lãnh đã cướp chính quyền, dẫn cả nước đi theo một thứ Chủ Nghĩa Xã Hội bế tắc, như các nước xã hội chủ nghĩa khác. Năm 1990 họ cho dân bỏ phiếu lần đầu, và đảng NLD đã thắng lớn, chiếm 59% số phiếu bầu và 392 trong số 485 ghế đại biểu; mặc dù bà Suu Kyi đã bị bắt giam từ năm trước. Bà từng sống ở ngoại quốc nhiều năm, chỉ về nước năm 1988 để trông nom mẹ già đang bệnh nặng. Ðứng trước cảnh nghèo đói và áp bức do chế độ độc tài gây ra cho dân, bà quyết định ở lại cùng đồng bào đứng lên đòi tự do dân chủ. Bà bị giam cầm hơn 15 năm; chính quyền mặc cả sẽ trả tự do nhưng bà phải đi ngoại quốc, bà từ chối. Cứ như thế, chính quyền quân phiệt tiếp tục cai trị Myanmar với một guồng máy tham nhũng và những chính sách ngu dốt, bất lực thêm 20 năm nữa, trong khi đảng NLD bị cấm hoạt động, các người lãnh đạo bị bắt giam. Dưới chế độ độc tài dân Myanmar không có tự do báo chí, không được tự do hội họp; bị cả thế giới văn minh tẩy chay, nhóm người cầm quyền chỉ trông cậy Trung Quốc ủng hộ. Năm 2010, Tướng Thein Sein cởi bỏ áo lính, trở thành vị tổng thống “dân sự” đầu tiên. Chính quyền tổ chức bầu cử lần thứ nhì, nhưng đảng NLD tẩy chay không dự vì bà Suu Kyi vẫn bị cấm tranh cử.
Thein Sein đã bày tỏ thiện chí dân chủ hóa bằng nhiều bước, để thuyết phục phe đối lập và thế giới là tiến trình dân chủ hóa là một sự thực, chứ không phải chỉ có bề ngoài để được các nước Tây phương bãi bỏ phong tỏa kinh tế. Ông đã trả tự do cho bà Suu Kyi và các lãnh tụ đối lập. Cho báo chí được tự do, ngưng kiểm soát cả Internet. Làm luật cho dân được phép biểu tình; công nhân được phép đình công, và được tự do thành lập công đoàn. Mỗi bước của chính quyền Thein Sein được bà Suu Kyi và các nước Tây phương đáp lại bằng hành động hợp tác tương ứng.
Từ năm ngoái, Myanmar bắt đầu sống trong một không khí chính trị mới, trong tinh thần tin cậy và hợp tác. Bà Suu Kyi xứng đáng là người lãnh đạo khi thẳng thắn và thành tâm cộng tác với những kẻ đã giam cầm mình. Bà nói với các đồng chí đã bị tù đầy: “Chúng ta không thể quên quá khứ. Nhưng không nên chỉ nhớ về quá khứ để nuôi hận thù.” Bà công nhận trong chính quyền quân phiệt cũng “có những người muốn làm điều có ích lợi cho quốc gia.” Không phải ai trong bọn họ cũng muốn dân chủ hóa, “Nhưng trong phong trào dân chủ có phải ai cũng muốn cộng tác với họ đâu? Ðó là điều bình thường trong chính trị.”
Thái độ ngay thẳng, chân thành và đức độ của bà Suu Kyi là nền tảng giúp cho dân tộc Myanmar bắt đầu xây dựng dân chủ. Ðiều gì đã khiến bà sẵn lòng cộng tác với một chế độ đã bỏ tù mình và đàn áp dân như vậy? Vì bà không sợ hãi. Năm 1990, Suu Kyi đã viết một bài chính luận: Tự do không sợ hãi.
Suu Kyi nhìn lại các đồng bào của mình, bà nói: Người dân Miến Ðiện nào cũng biết có bốn con đường lầm lạc, a-gati. Thứ nhất là Chanda-gati, sai lầm do lòng Tham. Dosa-gati do Sân hận. Moga-gati do Ngu si. Nhưng tai hại nhất là sai lầm vì Sợ: Bhaya-gati. (Bốn đường tà này cũng tương tự “Bốn mũi tên độc” trong truyền thống Bắc Tông: Tham, Sân, Si và Mạn). Suu Kyi ca ngợi Thánh Gandhi: Cống hiến lớn lao nhất của Gandhi cho dân tộc ông là khơi dậy tấm lòng không sợ hãi. Gandhi đã tìm học lại truyền thống Ấn Ðộ, và nhận ra, “Thiên khiếu lớn nhất của một cá nhân hay một dân tộc là abhaya, tấm lòng không sợ hãi.”
Áp dụng vào hoàn cảnh dân tộc Miến Ðiện đang chịu cách áp bức, bất công, bà nói: “Chúng ta có thể đều có những hạt giống không sợ hãi, nhưng đáng quý hơn nữa là có được tấm lòng can đảm nhờ rèn tập, không để cho lòng sợ hãi chi phối các hành vi của mình... Trong một chế độ từ chối không công nhận các quyền căn bản của con người, sợ hãi dễ trở thành một thói quen bình thường. Tai hại nhất là người ta che đậy lòng sợ hãi của mình, biến thành một thái độ thường tình, có khi lại coi là khôn ngoan. Người ta sẽ chê bai những người dũng cảm là khờ dại, là liều lĩnh, khi họ biểu lộ những hành động can đảm, dù nhỏ nhặt, để bảo vệ phẩm giá con người và lòng tự trọng.”
Suu Kyi ca ngợi các sinh viên biểu tình trong những năm 1988, 89, vì họ muốn xã hội phải có luật pháp công bằng. “Pháp luật công bình không phải chỉ ngăn không cho người dân bị đối xử oan ức. Chúng còn giúp nuôi dưỡng một xã hội trong đó mọi người có thể được hưởng những điều kiện căn bản tối thiểu để bảo vệ phẩm giá con người...” Cuộc cách mạng quan trọng nhất, Suu Kyi nói, là một cuộc cách mạng tinh thần; do “Một cuộc cách mạng nếu chỉ nhắm thay đổi các chính sách và định chế chính trị để cải thiện đời sống vật chất thì khó thành công đích thực.”
Cuộc cách mạng mà Suu Kyi theo đuổi đang bắt đầu. Ðảng cầm quyền của các vị tướng và tướng về hưu vẫn chiếm đa số trong Quốc Hội gồm 664 ghế; trong đó Hiến Pháp dành một phần tư số đại biểu cho các ông tướng chọn. Ðảng NLD sẽ đóng vai đối lập với một số ghế rất nhỏ. Nhưng đây vẫn là một thắng lợi. Không riêng gì cho bà Suu Kyi mà cho toàn thể 60 triệu dân. Bước đầu tiên trên tiến trình dân chủ hóa đã thành công. Ba năm nữa, Quốc Hội sẽ được bầu lại, và lúc đó hy vọng sẽ dân chủ hóa thực sự.
Một điểm đáng khen ngợi phe các tướng lãnh là họ đã ý thức được là không thể nào kéo dài chế độ độc tài mãi mãi. Khi ngay ở thế giới Á Rập cách mạng cũng bùng lên thì phong trào dân chủ sẽ còn lan rộng mãi. Họ nhận ra quyền lợi của chính họ và gia đình họ chỉ được bảo đảm lâu dài nếu mọi người Miến Ðiện được sống trong một xã hội với luật pháp công bằng. Mà muốn được như vậy, chỉ có một cách là mở con đường xây dựng một thể chế dân chủ tự do.
Giới quân phiệt cũng chỉ thay đổi thái độ dưới áp lực của dân chúng biểu tình chống Trung Quốc. Trung Quốc đã lôi kéo được chính quyền quân phiệt rơi vào quỹ đạo của họ. Các công ty Trung Quốc tha hồ khai thác mỏ, rừng, đá quý của Myanmar. Họ mở các hải cảng và quân cảng trong vùng vịnh trông qua Ấn Ðộ. Họ khai thác dầu, khí của Myanmar, lại đặt ống dẫn dầu kéo qua xứ này để chuyên chở dầu nhập cảng từ Trung Ðông và Phi Châu về thẳng Vân Nam, khỏi qua eo biển Malacca. Dân Myanmar bất mãn đã đặt bom phá đập thủy điện Myitsone vào tháng 10 năm 2010. Năm sau, chính quyền quân phiệt phải đình chỉ dự án trị giá 3.6 tỷ đô la này, để chứng tỏ họ biết chiều theo ý dân. Ðó cũng là một tín hiệu đưa ra để được bà Suu Kyi tin tưởng rằng họ cũng là những người yêu nước. Chế độ quân nhân ở Myanmar tuy cũng đàn áp dân nhưng họ không phá hủy nền văn hóa cổ truyền. Các lãnh tụ quân phiệt vẫn đi lễ chùa, cùng dường chư tăng, chứ họ không tôn thờ một chủ nghĩa duy vật ngoại lai nào. Vì vậy, người ta còn sẵn lòng tin nhau.
Nhưng điều đáng lo ngại là hiện nay cả diễn trình dân chủ hóa tùy thuộc vào hai cá nhân. Bà Suu Kyi đã 66 tuổi, mới bị xỉu ba lần trong thời gian đi vận động tranh cử. Ông Thein Sein cũng 67 tuổi, đang bị bệnh tim. Vì hai người này tin ở thiện chí và tình yêu nước của người kia, cho nên mọi việc tiến hành tốt đẹp. Nếu một trong hai người qua đời trong năm, ba năm sắp tới thì không biết con đường dân chủ hóa sẽ ra sao? Trong hàng ngũ tướng lãnh vẫn có những người bảo thủ, ngoan cố. Như Suu Kyi nói năm 1990: “Không phải quyền hành làm người ta thối nát, mà là lòng sợ hãi. Những người đang nắm quyền sợ mất quyền. Những người đang run sợ trước cường quyền cũng bị nỗi sợ làm đồi trụy.” Cho nên, bà công nhận: “Con đường trước mặt còn đầy khó khăn. Con đường dân chủ hóa sẽ rất dài.”
Xây dựng một đất nước là con đường rất dài. Vào thế kỷ thứ 11, Vua Anawrahta đã hòa giải với Vua Manuha. Sau đó sắc dân dựng lên vương quốc Pagan, gốc Tầy Thái từ Vân Nam tới, đã chung sống hòa hợp với dân Môn, một sắc tộc Nam Á vốn chung gốc rễ với người Khmer, người Mã Lai (và một phần cả người Việt Nam thời cổ). Họ đã xây dựng một nền văn minh mới, tổng hợp các thành tựu của nhiều giống dân, tất cả cùng theo Phật Giáo Nam Tông, tạo thành dân tộc Miến Ðiện sau này. Tương lai dân tộc Miến Ðiện trong thế kỷ 21 sẽ là con đường dân chủ hóa. Ðường còn xa, nhưng chắc họ không sợ, vì đã có một nền tảng tinh thần vững chắc.
Tác giả : Vi Anh
Làm thầy thuốc sai hại một người, làm thầy giáo sai hại một lớp; làm chánh trị sai hại cả một quốc gia dân tộc. Với độ lùi thời gian khá đủ, với tình hình khá rõ, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, một phần lớn biển và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của đất nước ông bà Việt Nam để lại trong thời CS Hà nội đã mất vào tay Trung Cộng. Và đau đớn thay cho bao số mạng hẩm hiu của đồng bào ngư dân VN đã bám biển, đảo phải làm mồi cho bọn TC.
Chưa hết đâu, giang sơn gấm vóc Việt Nam, di sản mấy ngàn năm của đất nước ông bà Việt Nam để lại, quốc gia dân tộc Việt Nam với 4000 năm văn hiến sắp chết khô nước nữa. Các nước thượng nguồn Sông Cửu Long, Trung Cộng, Miến Điện, Lào và Thái Lan đã, đang, và sẽ xây đập thủy điện, chận bớt dòng chảy và nguồn nước vào Đồng Bằng Sông Cửu Long ở hạ nguồn, Nam Việt bị nhiễm mặn, lừng phèn, mất phù sa, tiêu nguồn cá nước ngọt và vựa lúa của cả nước VN. Điều đó cho thấy CS Hà nội là những người làm chánh trị sai, trật đã hại cả quốc gia dân tộc Việt Nam.
Bây giờ CS Hà nội không còn dấu diếm gì được nữa. Chính Thủ Tướng Phạm văn Đồng năm 1958 nhân danh Đảng Nhà Nước CS ở Miền Bắc đã ký và gởi công hàm cho Thủ Tướng Chu ân Lai của TC, thừa nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong lãnh hải, thuộc đặc quyền kinh tế của TC. Đó là một hành động chánh trị có tội động trời đối với quốc gia dân tộc Việt Nam.
Còn Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn mạnh Cầm của VNCS vào năm 1995 làm một tội động đất khi đặt bút ký tên gia nhập và thừa nhận hiến chương mới của Ủy Hội Sông Mekong ( Mekong River Commmission) và đặt văn phòng chi nhánh ở Hà nội.
Tổ chức và hiến chương mới này bãi bỏ tổ chức cũ là Ủy ban Sông Mekong (Mekong River Committee), VNCH là thành viên chánh thức, văn phòng Ủy Ban chi nhánh đặt ở Saigon. Ủy hội mới, hiến chương mới của Ủy Hội Sông Mekong do Ô Nguyễn mạnh Cầm ký làm mất thẩm quyền phủ quyết của quốc gia dân tộc Việt Nam là một quốc gia có vùng trù phú nhứt, vựa lúa của cả nước là Đồng Bằng Sông Cửu Long nằm ở hạ lưu, hạ nguồn sông Mekong.
Quyền phủ quyết đó bảo lưu nguồn thực phẩm hàng ngày, nguồn kinh tế then chốt của Miền Nam Việt Nam và vựa lúa cho cả quốc gia dân tộc Việt Nam. Việt Nam không có quyền phủ quyết ấy thì Việt Nam không thể ngăn cản các nước xây đập ở thượng nguồn, ngăn chận dòng nước tưới và phù sa bón cho Đồng Bằng Sông Cửu Long. Đó là chưa nói việc ngăn chận nguồn thủy sản nước ngọt là món ăn căn bản của người dân Miền Nam.
Việt Nam Cộng Hòa lúc bấy giờ thấu triệt sâu sắc điều kiện sanh tử đó nên quyết liệt đòi hỏi, bảo lưu, hành xử liên tục quyền phủ quyết qui định trong hiến chương của Ủy ban Sông Mekong. VNCH làm chánh trị vì quyền lợi của quốc gia dân tộc VN, làm với tất cả cố gắng và quyết tâm cao nhứt có thể làm được và không từ bỏ cơ hội nào để bảo lưu quyền phủ quyết đó trên phương diện chánh trị quốc tế. Vi rằng nếu không phủ quyết được thì các nước ở thượng nguồn sẽ xây đập thủy điện hưởng lợi, mà cái lợi đó là điều hại lớn cho Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Còn chế độ CS Hà nội coi việc được gia nhập vào Ủy Hội Sông Mekong là danh tiếng cho Đảng Nhà Nước CS trên trường quốc tế. CS coi Đảng Nhà Nước cao hơn quyền lợi quốc gia dân tộc VN nên Ngoại Trưởng Nguyễn mạnh Cầm đặt bút ký tỉnh bơ, dễ ợt, gián tiếp thủ tiêu quyền phủ quyết sanh tử này của quốc gia dân tộc Việt Nam.
Bây giờ CS Hà nội muốn gỡ nhưng vô kế khả thi. Với hiệp ước Ủy hội mới đó Việt Nam là nước hạ nguồn chịu thiệt hại vô vàn. Các nước thượng nguồn TC, Miến Điện, Thái Lan, Lao, Miên có lợi khi xây đập thủy điện đâu bao giờ giúp Việt Nam.
Còn việc Việt Nam chết mất đất, mất biển, mất hải đảo vào tay Trung Cộng do công hàm bán nước của Ô. Phạm văn Đồng, CS Hà nội cũng không có cách gỡ. Trước chấn động do Quốc Vụ Viện TC sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thành quận huyện Tam sa trực thuộc tỉnh Hải Nam của TC, những người cầm đầu Đảng Nhà Nước CS Hà nội câm như hến. Phát ngôn viên ngoại giao của Đảng Nhà Nước CS Hà nội chỉ ú ớ, cho lấy có, chiếu lệ.
Thanh niên sinh viên biểu tình, TC mới nguýt một cái, hé môi một tiếng thì CS Hà nội tuân theo răm rắp. Một mặt “định hướng” dư luận, triệt cấm người dân Việt lên tiếng chống quân Tàu xâm lược. Công an CS Hà nội công khai, chánh thức, mau mau, mạnh bạo cấm và trấn áp biểu tình bảo vệ chủ quyền VN trên biển đảo dù TC đã đơn phương đưa ra bản đồ hình lưỡi bò của họ liếm hết 80% Biển của VN và hai đảo Hòang sa và Trường sa của VN. Chưa đủ. Công an còn đến gia đình, học đường phải ngăn chận và bắt cóc người biểu tình nữa.
CS Hà nội cứ bảo “để Nhà Nước no [lo]”. Nhưng cho đến bây giờ chưa thấy làm gì cho ra hồn cả trong việc nhờ công lý và luật pháp quốc tế. CS Hà nội làm không được vì mở miệng mắc quai. Bộ Trưởng Ung văn Khiêm thới còn Ô. Hồ làm chủ tịch nước và đảng CS, đã xác nhận hai đảo thuộc Hòang sa và Trường sa là thuộc Trung Quốc từ thời nhà Tống bên Tàu. Công hàm của Thủ Tướng Phạm văn Đồng, và có thể còn nhiều mật ước mà CS Hà nội đã ký hay hứa với TC nhưng còn dấu kín như bưng là những thứ hiệp ước giữa TC và VC, có giá trị luật pháp đối với Đảng Nhà Nước CS hai nước.
Các nước lân cận như Đài Loan, Phi luật Tân, Mã lai, Nam Dương, Brunei có tranh chấp chủ quyền trong vùng này cũng không có quyền lợi gì mấy để mạnh mẽ tiếp tay Việt Nam vì họ biết hai đảo ấy thực sự là của Việt Nam. Chế độ CS Hà nội làm chánh trị trật thì ráng mà chịu, hà cớ gì họ xen vào, mất lòng và mất lợi với TC.
Còn CS Hà nội muốn dựa vào thế nhân dân Việt Nam, hy vọng này càng mong manh hơn. Sau nửa thế kỷ thống trị ở Miền Bắc, một phần ba thế kỷ thống trị ở Miền Nam, CS Hà nội đã quá xa rời quần chúng, biến đa số dân chúng trong ngòai nước thành “lực lượng thù địch” nên khó nều không muốn nói là không thể huy động được nội lực dân tộc. Còn quần chúng đã quá chán nản, bất mãn Đảng Nhà Nước CS Hà nội độc tài đảng trị quá rồi, nên CS Hà nội không dám huy động nội lực sợ gậy ông đập lưng ông. Nên bao lâu mà CS Hà nội còn thì quốc gia dân tộc Việt Nam còn chết mất đất, chết khô nước.
Chỉ có thế cứu vãn được tai họa mất Hoàng Sa, Trường Sa; chỉ có thể cứu vãn tai họa Sông Cửu Long cạn dòng, Đồng Bằng Sông Cửu Long khô cằn, nhiễm mặn, mùa màng lúa, cá thất bát, với một chánh quyền mới thay thế cho nhà cầm quyền CSVN. Chánh quyền mới có thể phủ nhận mọi hứa hẹn, công hàm, hiệp ước mà CS Hà nội đã hứa và ký kết với TC và các nước thượng nguồn.
Đó là những văn kiện hà tì về hình thức, bất bình đẳng về nội dung. Một vấn đề trọng đại thuộc chủ quyền lãnh thổ quốc gia mà CS Hà nội không đưa ra Quốc Hội phê chuẩn, không đưa ra trưng cầu dân ý chiếu tình lý pháp luật phổ thông đòi hỏi phải làm. Một vấn đề trọng đại liên quan đến lãnh hải, dính líu đến luật biển quốc tế mà CS không đăng bộ công khai với quốc tế là Liên Hiệp Quốc thì không có giá trị thi hành với quốc tế. Việc Ông Phạm văn Đồng, Ông Ung văn Khiêm đã làm ở mức độ pháp lý hình thức nào đó, cùng lắm chỉ là những hành vi chánh phủ. Chánh quyền mới có đầy đủ tư cách, thẩm quyền phủ nhận coi như không hề có. Và từ đó mới có thể đặt vấn đề đòi lại bằng nhiều cách thức./.