Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Quốc Hận Ba Mươi Tháng Tư
Tác giả : Vi Anh
Sự kiện đáng mừng. Năm 2012 là năm thứ 37 kỷ niệm ngày người Việt bắt đầu gạt nước mắt từ biệt đất nước ra đi sau khi thủ đô Việt Nam Cộng Hòa là Saigon sụp đổ, Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử, tạo thành một cuộc di tản tỵ nạn CS vô tiền khóang hậu và lớn nhứt trong lịch sử Việt Nam. 37 năm trôi qua theo lẽ vô thường của vạn vật, thế hệ thứ nhứt người Việt tỵ nạn CS ở hải ngọai không ít người đã theo ông bà, vong linh hòa theo hồn thiêng sông núi VN. Nhưng những người còn sống, và lớp hậu duệ không ở VN được với CS nên đem VN theo mình ra hải ngại. Điều đáng mừng, con hơn cha nhà có phước, sau hơn trước đất nước có phần, lớp trung và trẻ thuộc thế hệ thứ hai và ba ngày càng dấn thân nhập cuộc trong công tác tổ chức kỷ niệm ngày Quốc Hận. Dù ăn học ở ngọai quốc nhưng nhờ gia đình và cộng đồng Việt ở hải ngọai, hầu hết lớp trẻ khẳng định lập trường trước sau như một Quốc Hận, là Quốc Hận, không một danh từ nào, một ý niệm nào có thể thay thế được.

Trên tinh thần trách nhiệm liên đới xã hội giữa hai thế hệ trẻ già; với cảm nghĩ thuộc về nhau (sense of belonging) của cộng đồng người Mỹ gốc Việt nói chung đối với đất nước và đồng bào trong nước, đó là một đặc điểm nổi bật. Đó là sự dấn thân tích cực - từ tư tưởng đến hành động, từ cá nhân đến tập thể -- của thế hệ trẻ đối với sinh hoạt cộng đồng. Điều đó chứng minh lời khuyên răn “để quá khứ ra phía sau, hướng về tương lai phía trước” và chê trách người lớn tuổi chống Cộng -- là giả đạo đức, phản tâm lý, trái sử quan, do những người làm kinh tế, chánh trị cố tung ra để che dấu quyền lợi riêng tư và ý đồ đi với CS bằng đầu gối, theo kiểu xin cho.

Thực vậy, 30-4 này, rõ rệt và hơn lúc nào hết, thế hệ trẻ Mỹ gốc Việt xem Quốc Hận 30-4 là cơ hội ôn cố tri tân, xem đó là một điều phải nhớ, và xem nhớ là một bổn phận (devoir de memoire) của người đi sau đối với người đi trước, đối với đất nước và dân tộc gốc của mình. Nhớ để không phạm sai lầm nếu may mắn nắm giềng mối cộng đồng hay đất nước. Nhớ để không bất động, mà hành động không cho sai lầm tái diễn, không để cho cộng đồng, xã hội, quốc gia dân tộc mình bị chủ nghĩa CS sai lầm, tuyên truyền dối gạt, và kẻ ác giành quyền làm chủ.

Cũng như ở Âu Châu, nhơn cơ hội kỷ niệm Âu châu được giải thoát ra khỏi gông cùm Hitler và Đức Quốc Xã, lớp trẻ nhớ 6 triệu người Do Thái đã bị Đức Quốc Xã diệt bằng lò thiêu và bằng nhiều hình thức khủng bố đen, trắng, xám trong Đệ Nhị Thế Chiến. Thảm kịch trần gian ấy được các nước Âu Châu kể cả Đức Quốc chánh thức ghi vào và đem vào chương trình giáo dục trung tiểu học - gọi là Holocaust hay Shoah.

Ở Mỹ người Mỹ cũng thế đem vào chương trình học sử của trung tiểu học để thường xuyên nhắc nhở cuộc Nội Chiến vì lý do nô lệ Da Đen thời Hoa kỳ còn non trẻ, Con Đường Nước Mắt cưỡng bức dời cư người Da Đỏ thời Viễn Tây, khu tập trung cấm cố người Nhựt thời Thế Chiến 2. Để tuổi trẻ đừng quên – lớp trẻ có bổn phận nhớ vì đó là môn thi ở trường lớp và là bài học kinh nghiệm mà tiền nhân đã trả bằng xuơng máu, nước mắt, mồ hôi.

Làm như thế người Âu Châu lẫn người Mỹ -- tin chắc -- không phải do thù ghét Hitler hay muốn trách cứ những tổng thống Mỹ đã thực hiện những chính sách sai lầm. Cũng không phải do muốn lớp trẻ “nặng quá khứ.” Mà mục đích tối hậu là muốn thảm cảnh trần gian diệt chủng đừng tái diễn trong hiện tại và tương lai nữa. Do vậy cần phải giúp cho đàn hậu tiến những thông tin, những dữ kiện đầy đủ để biết rõ một lãnh tụ độc tài bịnh hoạn như Hitler, một ý thức hệ phi nhân như Đức Quốc xã làm cho hàng triệu lương dân chết oan uổng. Để từ đó đàn hậu tiến thấy có nhiệm vụ ngăn chận thảm cảnh trần gian, sai lầm chế độ.

Học ở trường lớp không chưa đủ, nhà trường còn tổ chức cho sinh viên học sinh du khảo, mắt thấy tai nghe, cảm nhận tại chỗ. Nhơn kỷ niệm lần thứ 60 ngày Âu Châu được giải thoát khỏi độc tài Đức Quốc Xã, nhiều trường học tổ chức nhiều đoàn du khảo cho sinh viên học sinh thăm Trại Tập Trung Auschwitz ở Ba Lan, để tận mắt thấy những lò thiêu, thấy những hành động dã man mà con người Đức Quốc Xã đối với người Do Thái, còn tệ bạc và tàn nhẫn hơn loài sói đối với người. Nhiều học sinh, sinh viên nam nữ, đứng chết trân hoặc hét lên kêu Thượng Đế khi thấy hình ảnh hàng ngàn người mẹ Do Thái mình không quần áo, tay bồng con, đứng chờ đi vào chỗ chết mà không biết vì nghe “quản giáo“ là mật vụ SS ra lịnh xếp hàng để đi tắm.

Thì tại sao thế hệ trẻ Việt ở Hải ngoại, nhất là ở Mỹ không có quyền nhớ, phụ huynh mình, gần 300,000 quân dân cán chánh VN Cộng Hòa, do Ủy Ban Quân Quản của CS Hà Nội gọi trình diện “học tập cải tạo” trong vòng một tháng để bị đày đi tù biệt xứ và cấm cố hàng chục năm.

Tại sao không nhớ trên 600,000 người Việt dùng thuyển nan vượt đại dương để tỵ nạn CS, chết trên biển vì sóng to gió lớn và cướp Thái Lan.

Tại sao không nên nhớ một lãnh tụ như Ô. Hồ Chí Minh và một đảng như Đảng CSVN đã gây vô vàn đau thương, tang tóc, máu đổ thịt rơi, mồ hôi nước mắt cho hàng triệu đồng bào Việt suốt nửa thế kỷ. Theo cuốn “Hắc Thư về Cộng sản” của nhà sử học Stephane Courtois, tội ác giết người của Cộng sản Đệ Tam tính ra hàng trăm triệu. Và Ô. Hồ chí Minh trong thành tích diệt chủng Việt, tính ra còn cao hơn Paul Pot, Mao Trạch Đông và Staline nữa. 1 triệu người Việt Miền Bắc phải di cư tỵ nạn CS vào Nam năm 1954. Gần 4 triệu tỵ nạn CS ra khỏi nước, trong đó 1 triệu dùng thuyền nan vượt đại dương đến bến bờ và hơn nửa triệu làm mồi cho cá. Cả thế giới bàng hoàng, rúng động! Suốt cả chục năm!

Thảm kịch này chưa xảy ra lần nào trong lịch sử 4000 năm của nước nhà VN, suốt ba lần Bắc Thuộc, một lần Pháp Thuộc, một lần Trịnh Nguyễn phân tranh đất nước chia đôi. Và cũng chưa thấy lần nào trong lịch sử thế giới với qui mô lớn như vậy. CS Nga, Tàu, Đông Âu, Cuba, không có nước nào làm người dân đồng bào mình phải vượt biên tỵ nạn CS đông như vậy.

Mà không tỵ nạn CS sao được. Ô Hồ Chí Minh và Đảng CS của Ông đã giết hại hàng trăm ngàn trong đấu tố Cải Cách Ruộng Đất, hàng năm sáu ngàn người dân Việt vô tội bị CS thảm sát trong Tết Mậu Thân.

Và hơn 5 triệu người quân dân cán chính hai bên đã chết trên con đường Ô Hồ và Đảng CS của Ông cộng sản hóa nước VN bằng võ lực. Miền Nam chỉ chiến đấu tự vệ, chớ không hề đổ quân ra Miền Bắc giành dân, chiếm đất. Theo Ô. Trần Độ một tướng lãnh CS phản tỉnh đã tố giác, CS Hà Nội đã giết hại người Việt, số chết nhiều hơn tổng số người bị hai nhà độc tài Tần Thủy Hoàng ở Trung Hoa cỗ đại và Hitler ở Đức cận đại giết, cộng lại.

Thế mà gần đây CS Hà Nội và một số nhà chánh trị thiên tả và tài phiệt siêu quốc gia ở Mỹ, trong đó có chánh yếu là TT Clinton, TNS Kerry, và một phần nhỏ là TNS McCain lớn tiếng kêu gọi bỏ quá khứ ra phía sau và nhìn tương lai phía trước. Những người đó vì quyền lợi riêng tư, phe đảng đã tung hỏa mù, lập lờ đánh lận con đen. Họ muốn thế hệ trẻ Mỹ Việt xem thảm cảnh diệt chủng của CS ở VN suốt nửa thế kỷ như không có. Họ muốn chụp mũ “quá khích” cho những người nhớ bài học lịch sử đau thương nhứt của người Việt với nhãn hiệu “nặng quá khứ.” Họ làm vì quyền lợi bầu cử cho họ, cho phe đảng tài phiệt làm ăn với CS Hà nội.

Âu Châu là căn cứ địa lâu đời của văn minh Tây Phương. Người Âu Châu vì thế có nhiều kinh nghiệm đau thương với độc tài dưới mọi hình thức và với ý thức hệ phi nhận hơn người Mỹ với quốc gia bề dày lịch sử mỏng hơn. Giáo quyền độc tôn trên thế quyền thời Trung Cổ Đen Tối, Đức Quốc Xã, Cộng sản chủ nghĩa thời cách mạng kỹ nghệ đều xuất phát từ Âu Châu. Nên người Âu Châu chú trọng bài học lịch sử hơn. Lớp già muốn truyền đạt kinh nghiệm đau thương cho lớp trẻ. Còn lớp trẻ cảm thấy có “bổn phận phải nhớ” (devoir de memoire) để ngăn chận lịch sử đen tối đừng tái diễn.

Người Việt Nam kinh nghiệm lịch sử đau khổ còn hơn người Âu Châu nữa. Nên ôn cố tri tân là bổn phận của đàn hậu tiến như những người đồng trang lứa ở Âu Châu. Kinh nghiệm đau thương nhứt và gần đây nhứt là kinh nghiệm CS. Do vậy nhiều người lớn tuổi cảm thấy rất ấm lòng khi thấy lớp trẻ kề vai gánh vác việc chung, tổ chức tưởng niệm 30- 4 ngày Quốc Hận./.

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Image

Ba Mươi Lăm Năm Sau Ngày Quốc Hận 30-4-1975
Cựu Ngoại Trưởng Kissinger Xác Nhận “ Hoa Kỳ Tự Trói Tay Để Thua CSVN
Chứ Không Do VNCH


MƯỜNG GIANG
Sau hơn ba mươi bảy năm VNCH bị sụp đổ tính từ ngày 30-4-1975, nhưng tới nay vẫn còn nhiều tác giả ngoại quốc khi viết về cuộc chiến trên,vẫn cứ dựa vào các tài liệu tuyên truyền của cọng sản, nên thường lý luận một chiều, đôi lúc thật hàm hồ bừa bãi. Chính những cuốn sách này, đã khiến cho ai khi đọc tới cũng đều có cái cảm tưởng là “ Những người lãnh đạo nước Mỹ lúc đó toàn ngu xuẩn hay điên rồ “, nên mới bị sa lầy và tháo chạy khỏi miền Nam, vào ngày 30-4-1975 một cách nhục nhã . Riêng đối với người Mỹ qua thói quen tự cao tự đại, sau khi tháo chạy khỏi chiến trường Đông Dương để bị mang tiếng bội tín với thế giới tự do, vì không giữ được lời hứa “ bảo đãm quyền sống tự do của đồng bào Nam VN, Lào, Cambốt “. vẫn cứ phải loay hoay giữa “ tự ái và lương tâm “ khi muốn giải đáp trước công luận, lý do tại sao “ Một cường quốc bách chiến bách thắng như Mỹ lúc đó và ngay cả ngày nay “, lại có thể bị thua trước một đối phương nhỏ bé, lạc hậu như cọng sản Bắc Việt ? cho dù đối phương có được Nga, Tàu viện trợ và chống lưng.

Ngày nay nhờ những khai quật từ các văn khố khắp thế giới, nhất là sự sụp đổ của gần hết khối xã hội chủ nghĩa trong đó có Liên Xô và các nước Ðông Âu nhưng quan trọng nhất vẫn là những bản tự khai của các chóp bu tại Bắc Bộ Phủ, cho ta nhận rõ phần nào giải đáp trên, khi đã biết rõ thực chất của cuộc chiến Việt Nam (1955-1975). Tất cả từ đầu cho tới cuối, hoàn toàn

“ không ăn nhập gì tới lòng ái quốc, yêu nước thương dân “, mà báo chí Tây Phương thường gán ghép để có cớ ca tụng Hồ Chí Minh và đảng VC trong suốt cuộc chiến, vì họ bị tuyên truyền một chiều. Nay sự thật đã bị phanh phui, gây chiến tại Ðông Dương lần thứ 2 (1946-1975), thật sự “ là không cần thiết lúc đó “.

Vì đối với Liên Xô thời đó, gây chiến “ lại là kế hoạch nô lệ hoá toàn cầu của cọng sản đệ tam quốc tế “. Ðiều này ngày nay cũng đã được nhiều cán bộ cao cấp của VC như Trần Bạch Ðằng, Võ Văn Kiệt.. xác nhận. Còn hậu cứ lớn không phải tại Hà Nội, mà ở tận Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh, được Hồ Chí Minh cùng đồng đảng mang về bành trướng khắp nước. Sứ mạng của Hồ đã hoàn thành một phần, ít ra là đã nhuộm đỏ được ba nước Việt-Lào-Cao Mên trên bán đảo Ðông Dương. Nhưng chiến thắng không phải do quân sự mang tới, mà nhờ vào “ sự hèn nhát thụ động, của tập thề quần chúng trong vùng “, vì sợ sự khủng bố tàn độc của chủ nghĩa cộng sản nên cúi đầu tùng phục, để được yên ổn sống, dù là kiếp sống nô lệ hèn thừa bên lề đường như hiện tại trong thiên đường xã nghĩa VN.

Do đó, hầu hết đã phó mặc vận mệnh của đất nước, của chính bản thân và gia đình mình cho ai muốn làm lãnh tụ cũng được, coi đó như là chuyện không có liên can gì tới họ. Tóm lại “ Chiến tranh VN vừa qua “ là một cuộc chiến vô cùng phức tạp, giống như Pháp năm 1954, người Mỹ đã thua cọng sản trong mặt trận ý chí tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn và tàn nhẫn bất công ngay trên đất nước mình, chứ không phải ở chiến trường Ðông Dương. Cũng từ đó, người Mỹ thường nhắc nhớ tới thành ngữ ‘ No more Việt Nam ‘ như một thứ mặc cảm tội lỗi, luôn đè nặng đất nước Hoa Kỳ, cho tới lúc Tổng thống Reagan vào ngày 21-5-1982, khai sinh một nước Mỹ mới, khi tuyên bố chiến lược tấn công, để ngăn chận sự bành trướng của khối cọng sản quốc tế.

Từ đó người Mỹ mới thôi cúi mặt và bắt đầu phục hồi danh dự cho những chiến binh Hoa Kỳ, đã tham chiến tại VN từ 1955-1975 và gọi đây là một trong những cuộc chiến chính nghĩa vĩ đại nhât, mà nhân dân Hoa Kỳ đã thực hiện được kể từ ngày lập quốc tới nay. Ðối với VNCH dù người lính miền Nam đã hy sinh tột đĩnh nhưng cũng chỉ giữ được nữa mãnh đất quê hương từ Bến Hải vào tới Cà Mâu, vỏn vẹn chỉ có hai mươi năm trường kỳ máu lệ. Tất cả “ không phải vì QLVNCH không chịu chiến đấu trước kẻ thù, hoặc Miền Nam không có tướng tài và cấp lãnh đạo xứng đáng sau khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị sát hại hay Chính Phủ VNCH không có chính nghĩa như Thượng Nghị Sĩ Mỹ là Mc.Cain từng tuyên bố trên báo chí..” mà là NƯỚC MẮT NHƯỢC TIỂU VN. Nói đúng hơn, chúng ta đã bị Thực Dân Mới nhân danh Liên Hiệp Quốc, bán đứng trong canh bài phân chia ranh giới chính trị, quân sự giữa hai khối tư bản và cọng sản, đã sắp xếp sẳn sau khi Ðệ Nhị Thế Chiến kết thúc. Nhiều nước Ðông Âu kể cả Ðức cũng chịu chung số phận nhược tiểu như VN và Cao Ly, khi nằm trong thế cờ quốc tế đã định đoạt sẳn. Nhưng may thay Họ đã tự mình tháo gở được gông cùm nô lệ cọng sản vào đầu năm 1990, khi Liên Bang Sô Viết và phần lớn khối cọng sản đệ tam quốc tế tan rã.

Tháng 7-1954, Pháp thua trận Ðiện Biên Phủ đưa tới thỏa hiệp Genève chia hai đất nước VN, giống như tình trạng của Ðức và Cao Ly năm 1945. Theo nhận xét của GS người Mỹ Hans Morgenthau, thì đây là trò che đậy sự bất đồng, cũng là sự phân chia sẳn ranh giới chính trị, quân sự giữa khối cọng sản và Tây Phương, sau khi kết thúc đệ nhị thế chiến. Tại Châu Âu, từ năm 1947 Liên Xô xé bỏ cam kết , mặc sức tung hoành, dùng quân sự lần hồi cưởng chiếm các nước quanh vùng, dựng khối Ðông Âu, cô lập trong bức màn sắt . Tây Bá Linh và hai nước đồng minh của Mỹ lúc đó là Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ cũng bị nguy khốn, sắp rơi vào tay cọng sản. Ðể đối phó với tình trạng trên, Tổng Thống Mỹ Truman buộc lòng phải ban hành chiến lược ‘ Ngăn Chặn ‘, đồng thời khai sinh chường trình ‘ Marshall’ , viện trợ giúp cho các nước Tây Âu phục hồi kinh tế, quân sự đã bị thế chiến tàn phá. Song song Mỹ và các nước trên thành lập Tổ chức Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương, nhằm liên kết quân sự, để bảo vệ lẫn nhau và chống lại sự xâm lăng của Liên Xô và khối cọng sản quốc tế.

Nói chung những nước nào được Mỹ khoanh vùng, thì được gọi là Ðồng Minh và tận tình bảo vệ như Cao Ly và Ðài Loan ở Viễn Ðông. Nhưng dù chiến tranh có xảy ra dưới một hình thức nào chăng nửa, kể cả cuộc chiến thế giới tại bán đảo Triều Tiên năm 1950, thì chủ trương của nước Mỹ qua tuyên bố của Tổng Thống Truman, chỉ để ‘ tái lập hòa bình và biên giới sẳn có đã được qui định từ trước’. Ðây cũng là chiến lược của Mỹ khi tham chiến tại VN từ 1960-1975, qua nhiều đời tổng thống của lưởng đảng, chỉ nhằm mục đích “ ngăn chận làn sóng đỏ đừng lấn qua ranh giới đã phân chia sẳn “, chứ không phải tới để giúp cho VN “ giải phóng khỏi ách nô lệ cọng sản “. Vì vậy cuối cùng để hoàn thành chiến lược, cần phải thương thuyết hòa bình, chứ không phải đánh nhau để kết thúc chiến tranh tại đó, khi người Mỹ đã đạt được chiến lược toàn cầu, có lợi cho quyền lợi của nước Mỹ.

Ðiều bất hạnh nhất của dân tộc VN mà bất cứ ai cũng nhận thấy, là đã có chung biên giới với nước Tàu. Ðã vậy còn bị lọt vào quỷ đạo của người Mỹ, khi Hoa Lục và Bắc Việt bị nhuộm đỏ . Nên vừa nhậm chức Tổng Thống Mỹ, Eisenhower đã tuyên bố không để mất Ðông Dương vì đây là một trong những quân bài Domino toàn vùng Ðông Nam Á, mà VN là tiền đồn quan trọng nhất. Còn John Kennedy, từ lúc còn là thượng nghị sĩ vào năm 1956 cũng đã coi VN rất quan trọng trong chiến lược quốc phòng của Hoa Kỳ, qua các yếu tố địa dư chính trị. Vì vậy khi đắc cử Tổng Thống, Ông đã chọn Miền Nam VN làm một thí điểm tại Châu Á, để thực thi nền dân chủ tự do chống lại chủ nghĩa độc tai khủng bố cọng sản.

Ðây cũng là một cuộc trắc nghiệm đầu tiên sau hai cuộc thế chiến vừa qua, để đo lường về ý thức trách nhiệm cùng bổn phận của siêu cường Mỹ đứng đầu khối tự do.. chống lại chủ nghĩa cọng sản. Nhờ vậy ngày nay người ta mới có được những kết luận rất mẫu mực, về cái gọi là “ chính nghĩa mập mờ của người Mỹ tại chiến trường VN “, nói là để giúp dân tộc này chống lại cuộc xâm lăng của Bắc Việt. Tất cả chỉ là “ một chiến lược què quặt bất nhất “, do một mặt “ thì sợ dư luận của quần chúng Mỹ phản đối bị mất phiếu..”, mặt khác” cứ ham muốn đạt nhanh chiến thắng tại chiến trường “ nhưng lại không cho phép phe mình tấn công tiêu diệt địch quân, với lý do “ sợ đụng độ với Trung Cộng “. Ngoài ra các vị Tổng Thống có liên quan tới chiến tranh VN như J.Kennedy, Johnson, Nixon và Ford đều chỉ xữ dụng những phương tiện nhỏ đẻ đòi đạt chiến thắng lớn, nên cuối cùng phải bị sa lầy về mặt đạo đức, làm cho nước Mỹ bị thế giới cười chê về thủ đọan con buôn chính trị, từ sau tháng 5-1975 tới nay vẫn chưa lấy lại được uy tín cũ đã đánh mất tại VN.

Nhưng dù tại chiến trường VN trước năm 1975, Hoa Kỳ không hề bị sa lầy vẫn phải đóng kịch tháo chạy vì mục đích nối kết với Trung Cộng, phá vở thế liên hoàn Nga-Hoa đã hoàn thành từ 1972..

1-Hoa Kỳ Không Bao Giờ Sa Lầy Tại Nam VN :

Sau khi rời khỏi chính trường năm 1977, Ngoại trưởng kiêm cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, nhân vật mang tiếng đã manh tâm bán đứng VNCH cho khối cọng sản đệ tam quốc tế, đã lần lượt xuất bản nhiều tập hồi ký chính trị như : Những năm tháng ở Bạch Cung (1979), Niên đại sóng gió (1982) và Bí Lục Kissiger.. đã hé mở nhiều bí ẩn lịch sử cận đại về các thời kỳ chiến tranh lạnh giữa Mỹ-Liên Xô-Trung Cộng,Chiến tranh VN và cuộc thăm viếng Trung Cộng của Tổng thống Mỹ Richard Nixon vào tháng 2-1972, trước khi Hà Nội mở cuộc tấn công mùa hè vào các tỉnh Quảng Trị-Bình Long và Kon Tum, Bình Ðịnh của VNCH.

Cũng nhờ những tiết lộ này, mà ngày nay ta mới biết được bộ mặt thật của cặp Nixon-Kissinger, chỉ vì lợi lộc của riêng mình đã bán đứng đồng minh bạn bè cho kẻ thù. Vì muốn kéo Trung Cộng vào phe cánh, Hoa Kỳ qua Nixon-Kissinger đã chủ động đề nghị viện trợ tối đa cho Tàu tất cả những quân dụng vũ khí chiến lược, kể cả cung cấp vệ tinh để Tàu thu lượm tin tức tình báo từ Liên Xô. Theo Bill Burr, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề ngoại giao của Mỹ, thuộc Ðại Học Washington, cũng là chủ biên hồi ký Bí lục Kissinger, cho biết cuộc đi đêm bí mật của Kissinger tai Bắc Kinh , khởi đầu từ năm 1971 qua đề nghị Hoa Kỳ sẽ thiết lập một chương trình vệ tinh tình báo để tặng Trung Cộng.

Sau đó tại trụ sở LHQ ở New York vào tháng 12-1971, Kissinger đã cho Hoàng Hoa nhiều tin tức liên quan tới quân sự của Liên Xô để chuyển về Tàu. Tuy vậy để che mắt Liên Xô và thế giới, Hoa Kỳ cũng như Trung Cộng luôn đóng kịch kình chống nhau tại bàn hội nghị. Như trường hợp VN, trước khi Tổng thống Nixon chính thức thăm Trung Cộng và sau này, Kissinger đã bí mật tới Bắc Kinh rất nhiều lân để gặp cả Mao-Chu và Trung Cộng cũng đã đáp ứng cho Mỹ thiết lập một trạm tình báo-quân sự, dọc theo biên giới Nga-Hoa để thu lượm tin tức, theo dõi tình hình chuyển động của Liên Xô. Tháng 7-1973, một điệp viên CIA tên James Lilley được cữ giữ chức trưởng trạm tình báo này, cũng là người trực tiếp phụ trách đường dây liên lạc Trung-Mỹ. Tháng 4-1975 theo yêu cầu của Ðặng Tiểu Bình, Tổng thống G.Ford đã viện trợ cho Trung Cộng rất nhiều quân trang dụng chiến lược, trong đó có nhiều thiết bị điện tử dùng để chế tạo vũ khí bom đạn hiện đại. Kissinger còn tiết lộ nội dung cuộc họp thượng đỉnh giữa Nga-Mỹ cho Trung Cộng. Tất cả cho thấy mức độ khả tín của người Mỹ trong lúc cùng hợp tác đồng mình, để từ đó chúng ta mới nhận diện rõ ràng “ về ý nghĩa của sự sa lầy tại VN “, mà các sử gia trong và ngoài nước thường hay gán ghép cho Hoa Kỳ.

Ðọc lịch sử nước Mỹ, ta thấy dù dân chủ hay cộng hòa, tổng thống hèn kém như Carter hoặc cứng rắn cở Reagan, thì ưu tiên số 1 của chính phủ cũng vẫn là làm sao cho dân chúng Hoa Kỳ được hưởng thụ nhiều hơn trước, để đảng nọ đảng kia mới còn cơ hội tái đắc cử cầm quyền tiếp. Hiểu thêm điều này nửa, mới cảm thấy bớt uất nghẹn khi biết Tổng thống Johnson đã đưa vào VN tới 550.000 quân + 80.000 của các nước Ðồng Minh và 150 tỷ đô la chiến phí. Rồi đang lúc VNCH sắp đạt được chiến thắng cuối cùng, qua các trận đại chiến vào Tết Mậu Thân 1968, các cuộc hành quân Toàn Thắng vượt biên giới sang Kampuchia 1970 và nhất là trận Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972.. thì Tổng Thống Mỹ là Nixon, kế thừa chiến lược của TT.Johnson lại ký Hiệp ước ngưng bắn Paris 1973 “ tháo chạy khỏi VN “, bỏ mặc cho Miền Nam bị toàn khối cọng sản đệ tam quốc tế” cưởng đoạt vào trưa ngày 30-4-1975 “.

Ngày nay nhờ Quốc Hội Mỹ đã thông qua đạo luật ‘ Quyền tự do tư liệu và thông tin’, nên Thư Viện Quốc Gia Mỹ đã giải cấm những văn kiện tuyệt mật, có liên quan tới cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1945-1975), qua nhiều đời Tổng Thống Mỹ liên hệ, từ Truman cho tới Carter.. Nhờ vậy người ngoài mới biết được những bi hài kịch đã diễn ra suốt thời gian Mỹ tham chiến tại VN, ngay trong hậu trường của những chóp bu tại Tòa Bạch Ốc, mà những nhân vật quyết định vận mạng của VN , phần lớn là Dân Sự hay Chuyên Viên Hành Chánh, trong đó hầu hết chưa một ngày ở trong quân ngủ hay trốn quân dịch như trường hợp của Tổng Thống Bill Clinton sau này.

Ðó là việc quân lực Mỹ chưa bao giờ được phép xữ dụng hết khả năng chiến đấu, nhất là hai quân chủng Không và Hải quân Hoa Kỳ, chủ nhân ông của bất cứ chiến trường nào, rất được thế giới nể sợ. Còn một bí mật khác cũng không kém phần bi thảm, đó là khi Mỹ đưa quân đội mình tới chiến đấu ở VN, thì cũng đồng lúc tư bản Mỹ tha hồ xuất cảng quân trạng dụng sang Nga, các nước Ðông Âu lẫn Tàu. Sau đó các nước này thay nhản đổi hiệu, rồi lại chuyển tiếp tới Hà Nội, để Bắc Việt chuyển vận vào Miền Nam cho Bộ đội Cọng Sản có phương tiện dồi dào , bắn giết chẳng những QLVNCH mà cả quân Mỹ và các nước đồng minh đang chiến đấu tại chiến trường.

Nói chung dù có thái độ cứng rắn như Tổng thống Truman, trước chủ nghĩa banh trướng sắt máu của Trùm Ðỏ Staline vào năm 1947 hay to miệng nhảy múa chống cộng cùng mình như Tổng thống Nixon, thì cuối cùng cũng vẫn là cùng thỏa thuận với nhau để chia chiến lợi phẩm trên xác chết của con mồi. Ðó là chân lý của nền chính trị con buôn kiểu tư bản Mỹ, vừa la làng xúi gịuc cũng như viện trợ để đồng minh chống cộng. Rồi cũng Mỹ lại rất tích cực buôn bán đủ thứ kể cả quân dụng vũ khí tối mật quốc phòng với các nước cộng sản trên.. như hiện tại cuộc giao dịch giữa Mỹ và hai nước Trung Cộng-Ðài Loan, ai cũng thấy. Ðây cũng là một chứng minh thực tế, để cho bất cứ ai còn đang mang ảo tưởng vọng ngoại, trong công cuộc quang phục đất nước khỏi gông cùm cọng sản, xin chớ có hoài cộng đợi chờ . Vì con đường giải thể chế độ VC hiện nay chỉ có toàn dân VN phải chịu lăn xã hy sinh đổ máu như người Miến, người Tạng..thì mới hy vọng tháo gỡ được cùm gông, vì chính họ trong quá khứ đã tự mình mang vào cổ ách nô lệ cọng sản.

2-Hoa Kỳ Tự Trói Tay Để Thua CS Bắc Việt, Chứ Không Phải Tại VNCH :

Riêng về câu hỏi tại sao siêu cường Mỹ với một bộ máy chiến tranh ghê gớm , lại để cho 55.000 quân sĩ thiệt mạng và mấy trăm ngàn người khác bị thương ? cuối cùng tháo chạy, sau khi chỉ lấy được về nước, một số tù binh bị Bắc Việt cầm tù. Ðô đốc Grant Sharp, cựu tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đã giải thích ‘ cuộc chiến thất bại không phải vì chống không lại địch quân, mà vì chính sách của Hoa Thịnh Ðốn đã đẻ ra quá nhiều chiến lược, nào leo dần tới đáp ứng, rồi đang mềm dẽo đột nhiên dội bom, sau đó tự ý ngưng và thương thuyết tại bàn hội nghị để đạt chiến thắng. Cuối cùng tự mình trói tay đầu hàng, rồi tháo chạy khỏi chiến trường, dù chẳng hề bị sa lầy hay bị lâm vào tuyệt lộ ‘.

Ðây cũng là kết quả như lời cảnh giác của Tướng Maxwell Taylor, nguyên cố vấn quân sự của Tổng Thống J.Kennedy từ năm 1961 ‘ Nếu Hoa Kỳ tới VN với mục đích tối hậu, là giúp cho nước này chống lại sự xâm lăng của cọng sản, thì cuộc chiến sẽ không có giới hạn, nên chúng ta không thể không đánh thẳng ra Hà Nội, để tiêu diệt sào huyệt của chúng ‘.Nhưng tiếc thay đất Bắc nơi phái sinh ra cuộc chiến VN, lại là vùng đất bão đãm an toàn nhất, mà các tổng thống Mỹ dành cho VC.. Ðã vậy TT Johnson còn cấm quân Mỹ không được tấn công hay truy sát quân Bắc Việt, tại lãnh thổ Lào và Kampuchia giáp ranh với VN. Trong khi đó ai cũng biết trên phần đất này, Hà Nội đang mở đường mòn HCM, lập các khu hậu cần, mật khu, tích trử lương thực quân dụng và tập trung quân để tấn công vào lãnh thổ VNCH.. Chính cựự Tổng thống Eisenhower cũng lên tiếng thắc mắc là tại sao TT. Johnson lại không dám tấn công thẳng vào đầu nảo của quân Bắc Việt tai Hà Nội, trong lúc đó hầu hết tướng lãnh Mỹ thì phẩn nộ, vì nhận được lệnh đánh nhau với VC phải đạt chiến thắng nhưng hai tay họ thì bị trói chặt bởi các luật lệ .

Có thể dùng thời điểm Tổng Thống Mỹ Eisenhower gởi thư thông báo cho Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm vào tháng 10-1954 với lời hứa giúp VNCH trở thành một quốc gia mạnh, trường tồn, có khả năng chống lại mưu toan xâm lăng của Bắc Việt.. như là một cột mốc quan trong về sự nhập cuộc của Hoa Kỳ tại VN. Năm 1961 lúc Tổng Thống J.Kennedy nhậm chức, quan điểm của nước Mỹ vẫn không thay đổi về việc Bắc Việt đang xâm lăng VNCH, qua hình thức lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.. Tuy nhiên trong thành phần chính phủ Mỹ lúc đó đã có nhiều khuynh hướng, như thay thế Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hay tăng cường viện trợ, quân sự kể cả gởi quân tới giúp VNCH chiến đấu chống lại sự xâm lăng của Hà Nội. Sự tự tin hiểu biết về tình hình VN của các tổng thống Mỹ, sau này được các nhà báo Norman Podhoretz, Theodore H.White.. mai mĩa là không nhủn nhặn mà cũng chẳng khôn ngoan chút nào, khi thật sự Hoa Thịnh Ðốn lúc đó không hiểu biết cho mấy về cái chiến trường VN nhỏ bé xa xôi tận miền Viễn Ðông, thế mà dám đề ra phương thức, chiến lược tràng giang, để giải quyết tình hình chính trị,, xã hội, quân sự, kinh tế của đất nước ấy.

Ðiều này mãi tới năm 1981 mới thấy một sĩ quan cao cấp Mỹ nêu lên trong tác phẩm của mình ‘ chiến tranh tại VN là chiến tranh du kích, đáng lẽ ngay khi nhập cuộc, quân đội Mỹ phải hiểu rõ thực chất của cuộc chiến, để có chiến thuật chống khuynh đảo, diệt du kích, mà quân đội của các nước khác đều được huấn luyện học hỏi, trước khi nhập trận ‘.Tóm lại như Nixon đã nhận biết từ năm 1954, cọng sản dùng chiêu bài ‘ chiến tranh giải phóng ‘, để mà xâm nhập và khuynh đảo chính trị tại Nam VN, chứ không bao giờ công khai vượt tuyến như tại Triều Tiên năm 1950. Thêm một điểm đặc biệt khác, là lúc đầu những người trí thức và khoa bảng Mỹ gần như thờ ơ không ngó tới việc Hoa Kỳ tham chiến tại VN. Nhưng từ giai đoạn 1967 về sau, nhất là sự kiện cọng sản bị thảm bại trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, thì giới trên nhập cuộc qua phong trào phản chiến trên đất Mỹ, chống đối và đánh phá chính phủ dữ dội, còn hơn VC thứ thiệt ở VN.cũng chưa thấy hoạt động công khai dữ dằn như phong trào phản chiến tại Mỹ. Ðây là một nghịch lý nổi bật và mai mĩa nhất của Mỹ, trong cuộc chiến VN. Ðó là sự kiện công dân Mỹ (như đào hát Jane Fonda chẳng hạn), đã công khai đứng hẳn về phía Hà Nội, cổ vỏ cho giặc chống lại quân đội và chính phủ mình, qua các cuộc biểu tình phản chiến, cầm cờ máu đốt cờ Mỹ, lên đài phát thanh truyền hình chửi bới hay tới tận Hà Nội để hoan hô Hồ Chí Minh..

Khi than rằng ‘ Chúng ta đã đánh bại chính ta ‘, đó là nhận xét của Tổng Thống Johnson về nước Mỹ và ngay cả bản thân mình, trong suốt thời gian cầm quyền với một sức mạnh quân sự vô địch, nhưng đầu óc lại chỉ nghĩ tới chiến thắng VC bằng chính trị, một chiến lược giá rẽ, mà không một nhà lãnh đạo nào của thế giới nghĩ tới sự kỳ quặt này, nhất là khi phải đối mặt với những kẻ sát nhân khủng bố thâm độc như cọng sản quốc tế. Năm 1967 Nixon nhậm chức tổng thống, khiến ai cũng nghỉ tới nước Mỹ sẽ leo thang chiến tranh, vì ông ta là một nhân vật diều hâu có môn bài . Ông ta cũng giống như TT Kennedy và Johnson, có chung mục tiêu là cả ba đều cương quyết không muốn VNCH phải sụp đổ vì Bắc Việt xâm lăng.

Nhưng cả ba đã lầm lẫn chiến lược lúc nhập cuộc. Với TT Kennedy và Johnson, cả hai cùng chủ trương tham chiến trong giới hạn, để không gây xáo trộn tại chính quốc, nên nói ngăn chận nhưng vẫn không cản nổi sự xâm nhập của bộ đội từ bắc vào nam và sự khuynh đảo chính trị tại VNCH. Khi Nixon lên cầm quyền, cũng là lúc nước Mỹ qua vai trò của Kissiger, đang đi đêm để nhun nhén sự nới kết Mỹ-Hoa, phá thế liên hoàn Nga-Trung, trong thế cờ thời chiến tranh lạnh giữa ba nước Hoa Kỳ-Liên Xô và Trung Cộng. Bởi vậy Nixon không bao giờ dám leo thang chiến tranh tại VN, vừa phản lại lời hứa ‘ rút quân ‘ khi ứng cử, vừa làm mất sự thân thiện với Trung Cộng lẫn Nga đang cổ võ và ủng hộ VC cưởng chiếm miền Nam. Ðó là lý do Nixon trao lại cuộc chiến đang tiếp diễn ác liệt tại chiến trường Nam VN, cho VNCH tự lo liệu, qua danh từ hào nhoáng ‘ Việt Nam Hóa Chiến Tranh ‘.

Sau này qua các hồi ký chính trị của những nhân vật thân cận cao cấp của Chính Phủ VNCH như Nguyễn Tiến Hưng, Hoàng Ðức Nhã.. ta mới biết được gánh nặng của các nhà lãnh đạo VNCH suốt 20 năm tồn tại, từ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm tới TT Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương.. tất cả đều bị Hoa Kỳ dùng viện trợ và sinh mệnh, để áp lực VN phải thi hành theo đường hướng của Mỹ, nhất là sự ký kết hiệp ước ngưng bắn ngày 27-1-1973. Ngoài ra những bức thơ viết tay của Tổng Thống Nixon và Ford, gửi mật cho TT .Nguyễn Văn Thiệu, với sự trang trọng cam kết, đã nói lên cái gọi là ‘ thực chất của sự mưu tìm hòa bình trong danh dự ‘ và trên hết đã phần nào lột trần hai nhân vật ‘ Nixon-Kissinger’, trong vai trò chủ động tháo chạy khỏi Miền Nam, để khỏi bị sa lầy.

Không được đáp ứng theo nhu cầu đòi hỏi, TT J.Kennedy đạo diễn tấn tuồng binh biến ngày 1-11-1963 hạ sát TT hợp pháp của VNCH là Ngô Ðình Diệm, để gây xáo trộn chính trị suốt ba năm, rồi kết luận miền Nam thiếu lãnh đạo. TT Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Kissinger, dùng đủ mọi thủ đoạn, kể cả hành động đê tiện là đe doạ ám sát TT Nguyễn Văn Thiệu, để hoàn thành cho được bản hiệp ước ngưng bắn Paris 1973, mới có cớ hợp thức cho phép bộ đội miền Bắc có mặt tại miền Nam. Nói là ‘ Việt Nam Hóa Chiến Tranh ‘ nhưng lại cắt viện trợ, ngưng cung cấp quân trang dụng như lời hứa, khiến cho QLVNCH lâm vào tình trạng kiệt quệ, phải bỏ nhiều phần lãnh thổ vì không có phương tiện để phòng thủ.

Rồi trong lúc Bắc Việt xua hết lực lượng, tấn công cưởng chiếm VNCH, thì người Mỹ tháo chạy trong danh dự, suốt đêm trên nóc nhà bằng trực thăng, qua sự đùm bọc bảo vệ an ninh của QLVNCH lúc đó .

Cuối cùng từ ấy đến nay, vẫn không ngớt đổ tội cho QLVNCH là không chịu chiến đấu, nên quân đội Mỹ phải sa lầy và Miền Nam mới bị sụp đổ.

Nhưng giấy làm sao goí được lửa và chắc là bị lương tâm cắn rụt dầy vò chịu không nổi, nên cựu ngoại trưởng Henry Kissinger, trong cuộc hội thảo tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ngày 29-9-2010 đã tự thú “ Sự thảm bại tại VN vào ngày 30-4-1975 là do Hoa Kỳ gây nên, chứ không phải VNCH “ .

Lời phát biểu trên của Kissinger, tuy quá muộn màng vì thời gian dài hơn 1/3 thế kỷ nhưng có còn hơn không, vì ít ra ông cũng còn đủ can đãm đứng ra gián tiếp thay mặt cho nước Mỹ để trả lại sự công bằng và danh dự cho QLVNCH.

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng Tư Đen Quốc Hận 2012

MƯỜNG GIANG

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

'Có một bầy sâu trong đảng’

Võ Long Triều

Phó Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tuyên bố: “Ðảng Cộng Sản Trung Quốc là nơi tập trung mọi thối nát.” Ông Tập còn nhận xét thêm, đảng cầm quyền suốt hơn 63 năm qua tại quốc gia nầy nhưng “thiếu lý tưởng, sa đọa, vô nguyên tắc và vô trách nhiệm.”

Lời tuyên bố tại trường đảng, trong bối cảnh tranh giành quyền lực trước ngày đại hội đảng, của người được dự đoán sẽ thay Hồ Cẩm Ðào lãnh đạo Trung Quốc được phát ra ngày 16 tháng 3 năm 2012.

Tại Việt Nam ngày 28 tháng 2, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tuyên bố trong bài diễn văn đọc trong đại hội đảng viên với lời lẽ như sau: “Ðảng viên suy thoái về đạo đức, tham nhũng, làm giàu nhanh, quan liêu, xa dân, thậm chí còn có người trở cờ, sám hối, nói ngược ý đảng.”

Cũng trong chiều hướng đó, khi chủ tịch nước, Trương Tấn Sang vận động tranh cử Ðại Biểu Quốc Hội tại Mỹ Tho đã tuyên bố: “Người ta thường nói, một con sâu làm rầu nồi canh, trong đảng chúng ta có một bầy sâu, làm sao đất nước chịu nổi.”

Hai quốc gia quan trọng nhất của thế giới cộng sản còn lại đến ngày nay, hiện có ba vị lãnh đạo cao cấp cùng xác nhận bằng ngôn ngữ khác nhau rằng: Ðảng Cộng Sản là nơi tập trung mọi thối nát, là nơi ẩn náu bọn sâu dân mọt nước. Một sự thật phũ phàng, không ai có thể chối cãi!

Hai ông tổ cộng sản Marx-Lenine huy động giai cấp vô sản làm “cách mạng” để thực hiện công bằng xã hội, để chống tư sản bóc lột, để đưa giai cấp công nông tiến lên thiên đàng cộng sản, trong đó “con người làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu.” Tiếc thay thực tế chứng minh trái ngược! Cho nên Tập Cận Bình mới nói: Ðảng cộng sản đã biến thành nơi chia chác đỉnh chung. Vào đảng là để có cơ hội vinh thân phì gia, chớ không phải vì lý tưởng hay mục đích cao đẹp phụng sự đất nước và nhân dân. Mục đích vào đảng để hưởng đặc quyền đặc lợi cá nhân. Hình như ông Tập Cận Bình bày tỏ giùm, tư tưởng của dân chúng Việt Nam, họ nghĩ như ông đối với đảng Cộng Sản Hà Nội từ lâu rồi, nhưng không dám phát biểu thành lời vì sợ công an, sợ các quan tòa chỉ biết đếm năm, mười, mười lăm, hai mươi bởi vì họ không có học đếm số lẻ.

Tại Trung Quốc, tham nhũng lan tràn, nạn cướp đất, cướp tài sản của dân xẩy ra khắp nơi. Cái hố nghèo giàu ngày càng bị đào sâu. Ðảng viên đứng trên núi vật chất, tiền tài, nhìn xuống dân nghèo đói rách. Việc cướp đất khiến nhân dân làng Ô Khảm nổi dậy. Báo chí Pháp tiên đoán sẽ còn có nhiều cuộc biểu tình của dân oan xẩy ra khắp Trung Quốc.

Tại Việt Nam, các nhà lãnh đạo xác nhận từ lâu: Ðã, đang, và sẽ áp dụng theo mô hình của Trung Quốc, Luật Ðất Ðai của Hà Nội sao chép theo cung cách thực hành của “mẫu quốc,” đồng chí “quan thầy Trung Cộng” đã một lần dạy Hà Nội phải “cải cách ruộng đất” khi Hồ Chí Minh mới cầm quyền. Ngày nay theo gương người đồng chí “tốt” cướp đất của dân với lý do đầu tư phát triển kinh tế, nhưng thực chất với mục đích lợi dụng công sức của người dân khai phá, bồi dưỡng, làm tăng giá trị đất đai mà không phải bồi thường vì nhà nước đã giành lấy quyền “quản lý” bất cứ lúc nào. Nếu có bồi thường chăng thì cũng không đáng phần nhỏ mọn công lao hay giá trị gia tăng theo hoàn cảnh kinh tế.

Nạn cướp đất ở Việt Nam tạo thành sự phản kháng bằng súng đạn tại huyện Tiên Lãng, làm xôn xao dư luận quần chúng, tạo sự lo lắng và sợ hãi của giới cầm quyền. Cho nên Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng mới vội vã triệu tập đại hội để chỉnh đốn nội bộ.

Thử hỏi Trung Quốc và Việt Nam có thể chỉnh đốn được không?

Câu trả lời là không! Bởi vì không thể có một quyền lực trong sạch nào có toàn quyền hành động, bất chấp bè phái được tổ chức thành đường dây “ăn chia” của các đảng viên cao cấp, có thế lực quyền hành, bao che nhau để “làm giàu nhanh” như Nguyễn Phú Trọng đã nói. Họ “biến đảng thành nơi chia chác đỉnh chung” như Tập Cận Bình xác nhận. Ông Tập đã nhấn mạnh 63 năm qua đảng cộng sản Trung quốc cai trị vô trách nhiệm. Ông còn muốn “thanh lọc hàng ngũ một cách kiên quyết, khai trừ những phần tử thoái hóa nghiêm trọng” nhưng ông sẽ làm được không? Hay là ông làm dấy lên một cuộc đấu đá, thanh trừng nội bộ, đưa đến sự sụp đổ chế độ. Còn như cứ để yên thì sự thối nát càng tăng, nhân dân càng bất mãn, ngày tàn của độc đảng không thể tránh.

Ông Jean Philippe Beja thuộc Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp dự báo sẽ còn nhiều diễn biến bất ngờ xẩy ra trong thời gian tới tại Trung Quốc.

Nói về đảng Cộng Sản Việt Nam cai trị 37 năm qua tại miền Nam không khác gì quan thầy Trung Quốc. Chúng chỉ biết ăn cắp của công, rút ruột tiền viện trợ, đòi tiền hối lộ, cướp đất của dân. Về mặt văn hóa, đại học bán văn bằng, đặc biệt cho đảng viên có chức quyền. Về mặt luân lý đạo đức, hiệu trưởng và giáo sư ép dâm học trò, giám đốc cá độ cả trăm triệu đô la, đánh cờ ăn thua năm mười triệu, trong khi công nhân không đủ tiền sống, đình công cả trăm lần trong năm. Nông dân bị cướp đất về thành lượm rác, bán giấy số kiếm cơm qua ngày.

Ngoài vấn đề bè phái bao che cho tham nhũng cường quyền, còn vấn đề thứ hai không thể chỉnh đốn là tâm lý con người, đã giàu thì muốn giàu thêm bởi vì cơ hội làm ra tiền quá nhiều và quá dễ. Lòng tham con người không có đáy, càng động lòng tham hơn nữa khi thấy nhiều đảng viên, bị khám phá điều tra về hành động sai trái mà chỉ bị mất chức thôi, ngồi chơi xơi nước chờ được cử chức vụ khác, hoặc có bị tù rạc đi nữa thì cũng chẳng bao lâu. Án nặng sẽ được thuyên giảm nhiều mỗi năm do sự gởi gấm của cấp trên cùng đường dây tham nhũng, hay là do tình nghĩa bạn bè, hoặc do xã giao đút lót từ trước phòng khi bất trắc có người hỗ trợ.

Dư luận phỏng đoán chế độ Trung Quốc sẽ bị sụp đổ vì tham nhũng và quan liêu. Người ta còn nhớ khi thấy đại sứ Mỹ tại Trung Quốc, dẫn con vào quán mua thức ăn, báo chí loan tin hình ảnh nầy không bao giờ thấy xẩy ra đối với các quan chức trong xứ, dù là cấp nhỏ.

Luật Sư Lê Công Ðịnh xác tín, đất đai là tử huyệt của cộng sản Hà Nội. Lời tiên đoán của Luật Sư Ðịnh không sai. Nhất là sau vụ phản kháng bằng súng đạn của gia đình ông Ðoàn Văn Vươn ở huyện Tiên Lãng. Trừ khi nhà nước công nhận quyền sở hữu của dân và từ bỏ đặc quyền đặc lợi “quản lý” đất. Ngay cả Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu đại sứ cũng lo ngại và khuyến cáo Hà Nội không nên áp bức quần chúng quá mức bởi lẽ tức nước sẽ vỡ bờ.

Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam đang lo ngại và luôn luôn chuẩn bị đối phó với ngọn gió thổi lửa tự thiêu của Bouazizi người Tunisia, có thể gây hỏa hoạn tại hai quốc gia nầy, cho nên họ ráo riết phòng cháy bằng cách bắt giam bừa bãi, tất cả những ai có lời nói hay thái độ bị nghi ngờ chống đối.

Riêng Cộng Sản Hà Nội còn lo ngại nhiều hơn vì tiếng hát của Việt Khang vang vọng và được đại đa số quần chúng tán đồng hát theo. Tiếng hát đó có tác dụng như tiếng gầm của sư tử sắp vồ mồi.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Cờ đỏ sao vàng không phải là biểu tượng của Tổ quốc Việt Nam

Lê Diễn Đức

Vào thời điểm hiện nay bàn chuyện cờ quạt có lẽ quá sớm và chẳng đi đến đâu, nhất là tháng Tư lại về với những ký ức máu lửa và tủi hận, “có triệu người vui nhưng cũng có cả triệu người buồn”, như ông Võ Văn Kiệt lúc còn sống đã nói trong một cuộc phỏng vấn của Xuân Hồng, phóng viên BBC Việt ngữ.

Thế nhưng nhìn thấy cờ đỏ sao vàng cắm trên chiếc lều ở tạm, bên cạnh đống đổ nát của ngôi nhà gia đình anh Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng đã bị chính quyền cho xe cơ giới ủi sập trước đó, và vẫn thấy nhiều – nếu không nói rất nhiều – người Việt trong nước nhìn nhận là cờ đỏ sao vàng là cờ của Tổ quốc Việt Nam, khiến tôi bứt rứt.

Gần đây tôi đọc bài “Những lá cờ” trên Blog Quê Choa của nhà văn trong nước Nguyễn Quang Lập. Bài viết mở đầu bằng câu “Treo cờ tổ quốc là cử chỉ thể hiện lòng yêu nước”, làm tôi khó chịu thật sự.

Tôi đã viết một comment (ý kiến) dưới bài nói trên nhưng không được chủ blog cho hiển thị. Do vậy, tôi đưa comment này lên trang Facebook của mình và gửi liên kết (tag) tới một số trang của những người cầm bút trong nước, cũng trên Facebook. Nội dung comment như sau:

“Theo tôi, cờ đỏ sao vàng không phải là cờ của Tổ quốc Việt Nam (VN), của dân tộc Việt Nam, mặc dù tôi đã từng học tập, lớn lên dưới lá cờ này và nhiều lúc đã tự hào vì cha ông tôi đã chiến đấu dưới nó. Nhưng chính xác mà nói thì đó là cờ hiệu của nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) cầm quyền.

Nước Việt Nam có mấy ngàn năm lịch sử, trải qua bao nhiêu triều đại và chế độ với những lá cờ khác nhau. Cờ đỏ sao vàng có từ năm 1945, chỉ là biểu tượng của một nhà nước với ý thức hệ cộng sản, không đại diện cho cả chiều dài lịch sử của dân tộc.

Rất nhiều quốc gia qua bao nhiêu biến động và thay đổi trong lịch sử vẫn chỉ giữ một lá cờ. Ví dụ, cờ hai màu trằng, đỏ của Ba Lan có từ mấy trăm năm nay, từ thời phong kiến, đến cộng hoà, sau Đệ nhị Thế, cả trong thời cộng sản và hậu cộng sản từ năm 1989. Sau khi Liên Xô sụp đổ, nước Nga cũng đã bỏ lá cờ ý thức hệ cộng sản màu đỏ với búa liềm và ngôi sao, để thay thế bằng lá cờ có từ thời Sa Hoàng với ba màu trắng, xanh dương, đỏ.

Sự nhầm lẫn giữa Tổ quốc, Đất nước, Dân tộc với hệ thống chính trị cầm quyền rất phổ biến trong suy nghĩ của người Việt trong nước.

Tôi cho rằng comment của tôi là sự thật và được viết với thái độ chừng mực, như là một sự chia sẻ chuyển tới bạn đọc trong nước. Không hiểu vì sao anh Nguyễn Quang lập không cho hiển thị…”.

Không ngờ, comment trên đã gây ra một cuộc trao đổi sôi động trên trang Facebook của tôi.

Tôi nhấn mạnh thêm rằng, với chủ đề này tôi chỉ muốn bàn về khái niệm Tổ quốc mà người ta đã gắn cho lá cờ đỏ sao vàng.

Mặc dù không thích, có lúc như bị dị ứng, nhưng tôi hoàn toàn thông cảm, thậm chí chấp nhận một cách tỉnh táo, khi những người dân oan, những người tham gia biểu tình chống Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam, hay dân chúng trong các lễ hội sử dụng, mang theo cờ đỏ sao vàng, hình ảnh ông Hồ Chí Minh. Bởi vì nhiều khi có thể là họ cảm thấy thế là đúng, cũng có thể do ngộ nhận, nhưng cũng có thể tình huống bắt buộc, hành động như là một cách che chắn, bảo vệ an toàn.

Khá nhiều ý kiến của người trong nước không đồng tình với cách nhìn của tôi. Họ cho rằng, “đành rằng thể chế chính trị còn nhiều tồn tại nhưng phủ nhận toàn bộ như vậy có nên chăng, thời điểm đó nó phản ánh cho sự lựa chọn của dân tộc”.

Hoặc: “Dân họ không nghĩ sâu xa như thế, với họ lá cờ đó là lá cờ Tổ quốc”.

Hay: “Hiện tại ở VN thì nó vẫn là cờ Tổ quốc, vì chả có lá cờ nào thay được nó”…

Có bạn phân tích:

“Cờ hiệu một quốc gia (“Cờ Tổ quốc” chẳng qua là cách nói quen miệng theo phiên từ “quốc kỳ” mà thôi!) nó phải gắn với thời đại và thể chế! Thời vua quan xưa và thể chế quân vương thì do Vua chúa được quyền chọn. Ở các nền cộng hòa nghị viện thì do quốc hội chọn. Những nước thuộc hệ thống cộng sản cũ, cờ hiệu thay đổi vì thể chế thay đổi. Ở các nước đó quyết định thay đổi là do quốc hội (cũng chưa phải thăm dò ý kiến của người dân). Lịch sử về cờ hiệu Việt Nam cũng không nằm ngoài cái lệ đó. Mỗi triều đại phong kiến trước đây có chung một cờ hiệu đâu?

Cờ ba sọc đỏ trên nền vàng của thể chế Việt Nam Cộng hoà (VNCH) trước đây cũng không phải là cờ hiệu của nhà Trần hay nhà Lý thời xưa! Lá cờ đỏ sao vàng bây giờ do quốc hội của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH – năm 1946) chọn ra. Quốc hội Việt Nam sau 1975 tiếp nối VNDCCH cũng đã nhất trí chọn lá cờ đó (1976). Thế thì có gì không đúng? Bao giờ VN thay đổi thể chế thì hãy đặt ra vấn đề thay đổi cờ hiệu quốc gia! Khi cộng đồng các quốc gia, dân tộc trên thế giới cộng nhận lá cờ đó là cờ hiệu của Việt Nam như Liên Hiệp Quốc thì cứ hãy coi đó là “cờ Tổ quốc” (của người) Việt Nam”.

Một bạn khác tâm tình: “Đáng buồn hơn là nhiều người còn không “dám” có ý nghĩ hoặc bàn luận về vấn đề có vẻ “phạm thượng” như vậy. Nó cao cả quá, xa vời quá, v.v… Cũng là một hệ quả của hàng chục năm trời tuyên truyền, lập lờ đánh lận đảng phái, chế độ với Dân tộc, Tổ quốc”.

Vân vân…

Tuy nhiên trong số người tham gia tranh luận, số người ủng hộ quan điểm của tôi chiếm ưu thế hơn hẳn.

Trong quá trình tranh luận tôi viết thêm một số ý kiến dưới đây.

Châu Âu là nơi sinh ra Karl Marx, cha đẻ của học thuyết cộng sản (CS). Lenin áp dụng học thuyết này “sáng tạo” ở Nga. Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Hồ Chí Minh đã mang hình mẫu chủ nghĩa cộng sản từ Liên Xô về nước mình áp dụng “sáng tạo” tiếp và tồn tại cho tới nay ở ba quốc gia này.

Chúng ta đang trao đổi về một lá cờ tương xứng, khả dĩ (trong tương lai) đại diện cho cả dân tộc, cho mọi ngườ Việt, chứ không ai phủ nhận xương máu của những người đã đổ dưới cờ đỏ sao vàng chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc.

Với cờ vàng ba sọc đỏ của chính quyền Sài Gòn cũng vậy. 74 chiến sĩ VNCH đã anh dũng hy sinh bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 luôn luôn được lịch sử vinh danh. Ngay cả Thứ trưởng Ngoại giao CSVN Nguyễn Thanh Sơn cũng nói gần đây trong một buổi tiếp người Việt từ Mỹ về nước rằng, những chiến sĩ VNCH đã hy sinh vì Hoàng Sa là những người con ưu tú của Việt Nam.

Khi có quốc hội dân chủ, tất nhiên lúc ấy dân chúng sẽ có ý tưởng, sẽ thông qua những cuộc thảo luận công khai trong xã hội, có thể phải sủ dụng đến cả giải pháp trưng cầu dân ý, vân vân… để lựa chọn một cách dân chủ.

Bây giờ thì chẳng một cá nhân nào có thể tự chọn hay đề xuất cụ thể cả, vì thiếu thực tế, vô ích và bất khả thi. Nhất là vào lúc mà lòng người Việt ở hai miền Nam, Bắc vẫn còn chia rẽ, thù hận giữa nhà cầm quyền cộng sản với cộng đồng người Việt phải bỏ nước ra đi tìm tự do, gánh chịu bao nhiêu thương đau, tổn thất chưa được thanh toán, cảm thông và xoá bỏ. Bàn cụ thể sẽ chỉ xung khắc thêm mà thôi.

Ở trên có bạn nói “không có lá cờ nào thay thế lá cờ đỏ sao vàng hiện nay”. Nhưng tôi cho rằng, điều này không đồng nghĩa nó là lá cờ Tổ quốc. Có thể với hàng triệu người Việt là như thế, nhưng cũng với hàng triệu nguời Việt khác thì không. Không thay thế được vì hệ thống cầm quyền độc tài toàn trị hiện tại không muốn làm việc đó. Như tôi đã đưa ra ví dụ về nước Nga. Gần đây là Libya, sau khi chế độ độc tài Gaddafi sụp đổ, người Libya đã bỏ lá cờ xanh của chế độ Gaddafi, quay lại lá cờ có từ năm 1951 của Vương quốc Libya.

Quốc hội của nhà cầm quyền CSVN thực chất là công cụ của ĐCSVN chỉ để hành chính hoá các quyết định của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Quốc hội này không do dân bầu ra thông qua bầu cử tự do mà do lãnh đạo ĐSSVN áp đặt, cho nên nó không phải là đại diện của toàn thể nhân dân VN.

Cờ của một nhà nước/quốc gia được xem là biểu tượng của Tổ quốc khi nó được toàn dân thừa nhận, hoặc là đại diện được uỷ nhiệm hợp pháp của nhân dân – tức là quốc hội được dân bầu ra qua bầu cử tự do – phê chuẩn.

Cờ và quốc huy phải được đưa vào Hiến pháp. Nếu thay đổi thể chế mà ban hành Hiến pháp mới thì hiến pháp trước khi được quốc hội, tổng thống hay chủ tịch nước phê chuẩn, cần phải được trưng cầu dân ý.

Còn khi hiến pháp có hiệu lực, một đảng cầm quyền nào đó muốn thay đổi các điều khoản của hiến pháp thì ít nhất theo thông lệ phải có chuẩn thuận của 3/4 số đại biểu quốc hội, một tỷ lệ rất khó cho bất kỳ đảng cầm quyền nào ở các nước dân chủ.

Tại Việt Nam bây giờ, ĐCSVN muốn thay đổi hiến pháp lúc nào là tuỳ theo… sở thích và thấy có lợi cho sự duy trì độc quyền cai trị!

Hệ thống cộng sản ở châu Âu đã bị xoá sổ. Ngày 24/1/2006, Nghị viện Châu Âu thông qua Nghị quyết 1481 phán quyết chủ nghĩa cộng sản là tội ác của nhân loại. Nếu Việt Nam có thể chế dân chủ, nhân dân Việt Nam và quốc hội Việt Nam dân chủ sẽ chọn một lá cờ nào đó tương xứng với chiều dài lịch sử của dân tộc, nhưng chắc chắn không phải là lá cờ biểu tượng cho một chủ nghĩa của tội ác.

Hiện nay, ngay cả với người Việt trong nước, không phải ai trong thâm tâm cũng nhìn nhận cờ đỏ sao vàng như là biểu tượng của đất nước, Tổ quốc.

Tổ quốc là khái niệm mang nghĩa kép, nói về một không gian liên quan đến một cá nhân hoặc cả một cộng đồng (dân tộc), đặc biệt được chỉ định trước hết là nơi sinh ra của cá nhân đó, nơi họ sống một phần quan trọng của cuộc đời, hoặc nơi xuất xứ của tổ tiên, hay gia đình.

Cá nhân kết nối với Tổ quốc bằng tình cảm gắn bó mật thiết thiêng liêng nên “Tổ quốc” được viết hoa chính là nhằm nhấn mạnh sự tôn trọng cội nguồn của mình hay gia đình, tổ tiên.

Lá cờ Tổ quốc phải bao hàm được ý nghĩa linh hồn và tình cảm gắn bó thiêng liêng đó với nơi chôn rau cắt rốn của tất cả con dân nước Việt sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam và trên khắp mọi nơi khác trên thế giới.

Ngày 5 tháng 4 năm 2012

Lê Diễn Đức –
RFA Blog

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Image

Hãy Chụp Giùm Tôi

Đừng khoe tôi, hỡi người bạn tài hoa,
Những tấm ảnh mang ra từ địa ngục,
Nơi bạn mới về rong chơi hạnh phúc,
Dù bao người vẫn tủi nhục xót xa.

Đừng khoe tôi hình ảnh một quê nhà,
Mà bạn nghĩ đang trên đà “đổi mới”,
Những thành thị xưa hiền như bông bưởi,
Nay bỗng dưng rã rượi nét giang hồ.

Đừng khoe tôi những cảnh tượng xô bồ,
Những trụy lạc giờ vô phương cứu chữa.
Đất nước đã từ lâu không khói lửa,
Sao rạc rài hơn cả thuở chiến chinh.

Đừng khoe tôi những yến tiệc linh đình,
Những phố xá ngập phồn vinh giả tạo,
Nơi thiểu số tung tiền như xác pháo,
Khi dân nghèo không muỗng cháo cầm hơi.

Đừng khoe tôi cảnh tụ họp ăn chơi,
Của những kẻ đã một thời chui nhủi,
Bỏ tất cả, trong đêm dài thui thủi,
Ngược xuôi tìm đường xăm xúi vượt biên.

Đừng khoe tôi những con phố “bưng biền”,
Những quảng cáo, những mặt tiền nham nhở,
Những khách sạn ánh đèn màu rực rỡ,
Trơ trẽn bày, dụ dỗ khách phương xa.

Đừng khoe tôi chốn thờ phượng nguy nga,
Những dinh thự xa hoa nằm choán ngõ,
Những màu sắc lam, vàng, đen, tím, đỏ,
Đang uốn mình theo gió đón hương bay.

Đừng khoe tôi ảnh Hà Nội hôm nay,
Thành phố đã chết từ ngày tháng đó,
Khi bị ép khoác lên màu cờ đỏ,
Khi triệu người phải trốn bỏ vô Nam.

Đừng khoe tôi những cảnh tượng giàu sang,
Đã được bạn tóm càn vô ống kính,
Những hình ảnh mà kẻ thù toan tính,
Muốn tung ra để cố phỉnh gạt người.

o O o

Bạn thân ơi, sao không chụp giùm tôi,
Nỗi thống khổ của triệu người dân Việt,
Nửa thế kỷ trong ngục tù rên xiết,
Oán hờn kia dẫu chết chẳng hề tan.

Chụp giùm tôi đàn thiếu nữ Việt nam,
Thân trần trụi xếp hàng chờ được lựa,
Hay bầy trẻ mặt chưa phai mùi sữa,
Bị bán làm nô lệ ở phương xa.

Chụp giùm tôi đôi mắt mẹ, mắt cha,
Mà suối lệ chỉ còn là máu đỏ,
Khóc con cháu ra đi từ năm đó,
Biển dập vùi, đà tách ngõ u minh.

Chụp giùm tôi số phận những thương binh,
Đã vì nước quên mình trên chiến trận,
Mà giờ đây ôm hận,
Tấm thân tàn lận đận giữa phong ba.

Chụp giùm tôi hình ảnh những cụ già,
Bọn đầu nậu gom ra đường hành khất,
Để đêm đến, nộp hết tiền góp nhặt,
Đổi chén cơm dầm nước mắt nuôi thân.

Chụp giùm tôi xác chết những ngư dân,
Bị Tàu giết bao lần trên biển rộng,
Hay những chiếc quan tài chưa kịp đóng,
Chở cha, anh lao động Mã Lai về.

Chụp giùm tôi thảm cảnh những dân quê,
Chịu đánh đập chán chê dù vô tội,
Hay cảnh những anh hùng không uốn gối,
Gánh đọa đày trong ngục tối bao la.

Chụp giùm tôi mốc biên giới Việt Hoa,
Lấn vào đất của ông cha để lại,
Hay lãnh thổ cao nguyên còn hoang dại,
Lũ sài lang hèn nhát lạy dâng Tàu.

Chụp giùm tôi những nghĩa địa buồn đau,
Chúng tàn phá, chẳng còn đâu bia mộ.
Kẻ sống sót đã đành cam chịu khổ,
Người chết sao cũng khốn khó trăm đường.

o O o

Hãy chụp giùm tôi hết những tang thương,
Hình ảnh thật một quê hương bất hạnh,
Nơi mà bạn, xưa đêm trường gió lạnh,
Đã căm hờn quyết mạnh dạn ra khơi.

Chiếc thuyền con, ca nước lã cầm hơi,
Mạng sống nhỏ đem phơi đầu sóng dữ.
Rồi tha phương lữ thứ,
Tháng năm dài, quá khứ cũng dần phai.

Lòng người chóng nguôi ngoai,
Tháng Tư đến, có mấy ai còn nhớ!

Trần Văn Lương

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Nga ‘tái xuất giang hồ’ tiến vào biển Ðông?

Ðào Văn Bình
(Nguồn: gianhlaiquehuongvietnam.wordpress.com)

Ngày 5 tháng 4, 2012 vừa qua, trang điện tử Việt Ngữ BBC loan tin “Tập đoàn khí đốt Nga Gazprom tuyên bố tham gia dự án
khai thác khí đốt ở biển Ðông mà công ty Anh BP (British Petroleum) đã phải rút lui dưới áp lực của Trung Quốc.

Image
Chiến hạm Admiral Panteleyev của Nga thăm cảng Tiên Sa, Ðà Nẵng, hồi năm 2009. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Thông cáo của Gazprom ra hôm Thứ Năm 05 tháng 4, 2012 cho hay hãng này đã đạt thỏa thuận với Tập Ðoàn Dầu Khí Nhà Nước Petro Vietnam để cùng khai thác khí đốt tại hai lô 5.2 và 5.3 ngoài khơi Việt Nam. Hai lô này là nơi có các mỏ khí đốt Hải Thạch và Mộc Tinh, nằm trong bồn trũng Nam Côn Sơn giữa quần đảo Trường Sa và bờ biển Việt Nam. Trung Quốc đã nhiều lần phản đối việc Việt Nam thăm dò khai thác ở khu vực này, mà Bắc Kinh cho là ‘nằm bên trong hải giới truyền thống’ của Trung Quốc.”

Ðây là diễn biến quan trọng bởi vì trước khi quyết định hợp tác chung với Việt Nam để khai thác dầu khí, Nga hiểu rằng đây là một chỗ “khó nhá” nếu can dự vào sẽ phật lòng Hoa Lục và có thể tiến tới xung đột. Chắc chắn Nga phải “gồng mình” vì các cường quốc như Anh (BP), Mỹ (Exxon) cũng đã phải chùn bước trước áp lực, còn Ấn Ðộ thì cũng còn đang “tính toán” xem có nên bước thêm bước nữa trong dự án thăm dò dầu khí ở hai lô 127 và 128 ngoài khơi hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận nữa không. Dự án khai thác của Ấn Ðộ được sự ủng hộ của Nhật Bản và nhiều lần Việt Nam khẳng định là hai Lô 127 &128 nằm trong chủ quyền của Việt Nam theo đúng công pháp quốc tế mà chính Hoa Lục cũng đã công nhận.

Tại sao Nga dám liều lĩnh đi nước cờ như vậy? Câu trả lời nằm trong hai điểm: Lợi thế của Nga và kế hoạch triển khai sức mạnh hải quân của Nga trong thập niên tới.

A. Lợi thế của Nga

1. Nga là nước cung cấp vũ khí tối tân cho Hoa Lục để Hoa Lục có khả năng phòng vệ, đe dọa các nước Ðông Nam Á và đối đầu với Mỹ. Nếu vì quyết định này mà Hoa Lục làm găng với Nga thì Hoa Lục sẽ không còn nguồn cung cấp nào khác. Nếu Hoa Lục đối đầu với Nga thì Hoa Lục sẽ biến Nga thành kẻ thù trong khi Hoa Lục đang phải đối phó với Hoa Kỳ. Chắc chắn Hoa Lục không muốn ở vào tình thế “lưỡng đầu thọ địch”. Theo phỏng đoán, Hoa Lục sẽ chỉ phản đối suông rồi âm thầm, hậm hực nhìn Nga hợp tác với Việt Nam khai thác khí đốt tại đây.

2. Nền kinh tế và tài chính của Hoa Kỳ bị cột chặt vào nền kinh tế của Hoa Lục trong khi Nga không không bị lệ thuộc và cũng không phải là “con nợ” của Hoa Lục. Do đó, dù tức giận, Hoa Lục cũng không thể dùng “chiến tranh kinh tế” để trả đũa. Do tính toán được như thế, Nga dám đi những bước “mạnh dạn” trong khi Hoa Kỳ thì còn phải thận trọng để tránh gây khủng hoảng cho Á Châu, đặc biệt cho Ðông Nam Á và cho chính mình.

3. Hoa Kỳ dù tiến hành kế hoạch trở lại Á Châu để đối đầu với Hoa Lục nhưng vẫn cần Hoa Lục trong một số vấn đề quốc tế nóng bỏng, chẳng hạn như Bắc Hàn, trong khi Nga rảnh tay và không vướng mắc vào những vấn đề quốc tế lớn như Iran, Iraq, Afghanistan, Bắc Triều Tiên, Do Thái và Syria. Trong tình thế hiện nay, ngoại trừ Hoa Lục muốn tự biến mình thành “người hùng cô đơn” để đối đầu với toàn thế giới thì Hoa Lục sẽ phải cần đồng minh lúc đó không ai khác hơn là Nga.


B. Kế hoạch phát triển hải quân và mở rộng biên cương trên biển của Nga


Sau khi Liên Bang Xô-Viết sụp đổ, Nga lâm vào tình trạng suy yếu và bất ổn, Mỹ nghiễm nhiên trở thành “Ðộc Cô Cầu Bại” tức siêu cường Số 1 và đôi lúc phớt lờ tiếng nói của Nga trên vũ đài quốc tế. Nhưng dưới tài lãnh đạo độc đoán và gan lì của ông Putin, Nga lần lần hồi phục và tìm cách lấy lại uy thế đã mất của Thời Chiến Tranh Lạnh. Chúng ta nhớ lại có lần ông Kruschev- tổng bí thư đảng Cộng Sản Nga, trong một phiên họp của Ðại Hội Ðồng LHQ, đã rút giày đập lên bàn mà thế giới nín khe.

Ngày nay, tình hình thế giới biến chuyển vô cùng phức tạp, dù nợ ngập đầu và kinh tế suy thoái, Mỹ vẫn còn giữ được địa vị siêu cường nhưng sân khấu chính trị thế giới lại nổi bật lên hình ảnh của một nước Trung Hoa đang trỗi dậy và có thể trở thành nguy cơ cho toàn thế giới. Trước sự giằng co Hoa-Mỹ và chắc chắn đưa tới đối đầu, đây là thời gian chín muồi cho “Con Gấu Bắc Cực” thức dậy sau giấc ngủ dài Mùa Ðông xác định quyền lực của mình. Ðứng về phương diện chiến lược mà nói, nếu muốn xác định quyền lực trên thế giới thì không còn cách nào hơn là xây dựng sức mạnh hải quân. Ai làm bá chủ trên biển là bá chủ thế giới.

Theo các trang tin điện tử, vào ngày 14 tháng 2, 2012 - Nga công bố kế hoạch chi tiêu $200 tỉ để phát triển lực lượng hải quân.

Trước năm 2014, Nga sẽ cho chế tạo tàu ngầm phi hạt nhân mới. Ðến năm 2020, có thể hoàn thiện một hàng không mẫu hạm với khả năng chiến đấu hầu như trên tất cả mọi địa hình. Tin tức này được Tư lệnh Hải quân Nga - Ðô đốc Vladimir Vysotsky đưa ra.

Hải Quân Nga sẽ trang bị tên lửa chiến lược Bulava, tàu sân bay, tàu ngầm hạt nhân Yuri Dolgoruky. Ngoài ra, Nga còn có kế hoạch tái thiết các căn cứ hải quân. Theo một bản tin khác thì tàu ngầm lớp Borey đầu tiên của Nga có thể gia nhập hạm đội Thái Bình Dương vào tháng 6 năm 2012. Tám tàu khác sẽ sớm được sản xuất. Tàu ngầm năng lượng hạt nhân mới Yury Dolgoruky đang được chạy thử, ba tàu khác đang trong các giai đoạn hoàn tất. Cũng theo tư lệnh hải quân Vladimir Vysotsky, 36 tháng nữa, hải quân Nga sẽ đưa tàu tấn công lớp Mistral đầu tiên vào hoạt động. Mỗi tàu lớp Mistral có khả năng chở 16 máy bay trực thăng, 70 xe bọc thép và 450 binh sĩ. Các tàu ngầm hạt nhân chiến lược của Nga sẽ nối lại hoạt động tuần tra thường xuyên trên các vùng biển quốc tế khắp thế giới kể từ tháng 6 năm 2012. Ðể triển khai kế hoạch mở rộng biên cương trên biển, Nga đã tiến hành những bước như sau:

1. Ðể duy trì ảnh hưởng ở Ðông Nam Á cũng là “cái rốn” của Á Châu, dù không nói ra, nhưng Nga cần một đồng minh tin cậy - mà giở lại lịch sử thì không ai khác hơn là Việt Nam. Trong Thời Kỳ Chiến Tranh Lạnh - Nga đã viện trợ cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa một khối lượng vũ khí khổng lồ. Dù sau khi Liên Bang Xô-Viết sụp đổ, rời quân cảng Cam Ranh năm 2002, Nga vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với Việt Nam. Ngày 20 tháng 11, 2006 Tổng Thống Putin đã chính thức thăm Việt Nam và cũng để tham dự Hội Nghị Thượng Ðỉnh APEC. Ngày 26 tháng 10, 2010 Tổng Thống Medvedev cũng đã thăm Việt Nam, tham dự Hội Nghị Thượng Ðỉnh Ðông Á (EAS) và ghé thăm chùa Trấn Quốc.

2. Liên tục trong nhiều năm qua, Nga đã bán cho Việt Nam những vũ khí tối tân như máy bay tiêm kích tàng hình Su-27SK và Su-30MK2 (tương đương với F-16 của Hoa Kỳ), hộ tống hạm Gepard, phi đạn siêu âm Brahmos diệt hàng không mẫu hạm với tầm bắn 500 Km và tàu ngầm lớp Kilo. Nga còn hợp tác để sản xuất ngay tại Việt Nam phi đạn Uran (SS-N-25 Switchblade), theo một dự án tương tự như việc hợp tác sản xuất loại tên lửa siêu âm BrahMos giữa Nga và Ấn Ðộ. Những vũ khí tối tân này khiến Việt Nam trở thành quốc gia có sức mạnh quân sự mạnh nhất Ðông Nam Á và dĩ nhiên làm Hoa Lục vô cùng khó chịu.

3. Ngày 25 tháng 3, 2010 hãng thông tấn Nga loan tin Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga Anatoly đã thông báo với các nhà báo rằng Hải Quân Nga sẽ giúp Hải Quân Việt Nam trong việc xây dựng căn cứ đồn trú tàu ngầm nhưng không nói rõ căn cứ đó ở đâu, Cam Ranh hay Ðà Nẵng?

4. Ngày 7 tháng 5 năm 2011, một hạm đội bao gồm Tàu Ðô đốc Vinogradov săn tàu ngầm, tàu chở dầu hạng trung Pechenga và tàu cứu cấp SB-522 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Nga do Trung Tá Hải Quân Kovalev Ivan Alexandrovich chỉ huy đã thăm Việt Nam và ghé cảng Tiên Sa, Ðà Nẵng.

5. Vào ngày 3 tháng 4 năm 2012, Ðoàn Ðại Biểu Ủy Ban Khoa Học và Công Nghệ Cao Quốc Gia của Nga, do ông Chereshnhev Valeriy Alexandrovich làm trưởng đoàn đã sang thăm và cam kết hợp tác và giúp đỡ Việt Nam trong lĩnh vực lập pháp, khoa học kỹ thuật.

6. Hôm 6 tháng 4 năm 2012, ba chiến hạm Nga do Hải Quân Ðại Tá Ahmerov Ildar làm trưởng đoàn cùng 500 thủy thủ trong đó có lực lương đặc nhiệm đã vào cảng Sài Gòn, bắt đầu chuyến thăm 6 ngày. Hạm đội bao gồm khu trục hạm Admiral Tributs, tàu tiếp vận Pechenga và tàu lai dắt cứu hộ MB-37. Ðây là chuyến ghé thăm lần thứ hai. Lần trước vào năm 2001.

7. Không phải chỉ ngấm ngầm biến Việt Nam thành “đồng minh” chiến lược, theo báo điện tử Ðất Việt, Nga còn xác định ASEAN là một “mắt xích” quan trọng trong việc đưa Nga hội nhập vào nền kinh tế ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Nga và ASEAN đã có chính sách khuyến khích các công ty của Nga và các nước thành viên ASEAN cùng tham gia đầu tư vào dự án lớn, trong đó sẽ chú trọng mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực như sản xuất các thiết bị công nghệ cao, chế tạo cơ khí và chế tạo thiết bị xe hơi, xây dựng đường giao thông, kỹ thuật nông nghiệp và các thiết bị điện tử - điều mà trước 1975 không hề có. Theo thống kê của Nga, tính tới năm 2007, Indonesia đã mua của Nga $1 tỉ vũ khí. Còn Malaysia thì cũng đã bỏ ra 900 triệu để mua máy 18 máy bay tiêm kích Su-30MKM của Nga thay vì mua F-16 của Mỹ.

Tạm kết luận

Nhìn vào những diễn biến trên chúng ta có thể nói rằng Nga đang mạnh dạn triển khai kế hoạch tiến vào Ðông Nam Á để tranh giành ảnh hưởng với Hoa Lục và Hoa Kỳ. Trong khi Mỹ công khai công bố “Kỷ Nguyên Á Châu”, ngoài những cuộc tập trận trên biển với Úc Châu, Nhật Bản Singapore, Philippines và Thái Lan, triển khai 200 thủy quân lục chiến ở Darwin, Úc Châu và gửi 300 lính biệt kích tới Philippines, “chiến lược nhân quyền” đã ngăn trở Mỹ tiến xa hơn nữa trong quan hệ “đối tác chiến lược” với Việt Nam. Hoa Kỳ cũng chưa có những kế hoạch viện trợ hay đầu tư đáng kể vào Ðông Nam Á trong khi Hoa Lục đã viện trợ cho Kampuchia 8 tỉ đô-la. Ngoài ra, do nền kinh tế bị cột chặt vào cỗ xe Hoa Lục và không muốn đụng chạm, Hoa Kỳ còn đang lưỡng lự, chưa rút lui nhưng cũng không có dấu hiệu tiến tới trong dự án Exxon Mobil khai thác dầu tại Lô 119 ngoài khơi thềm lục địa Việt Nam thuộc các tỉnh Ðà Nẵng, Quảng Ngãi và Quảng Nam. Trong khi đó thì Nga lại “can đảm” đứng chung với Việt Nam khai thác lô mà BP của Anh đã phải bỏ đi trước áp lực.

Chắc chắn Philippines đang theo dõi sít sao vụ này. Nếu Nga thành công, có nghĩa là việc khai thác diễn ra êm xuôi, Philippines có thể sẽ theo chân Việt Nam ký hợp đồng với Nga để thăm dò và khai thác tại những vùng mà Philippines cho là thuộc chủ quyền của mình và bị Hoa Lục chèn ép. Nếu thế, uy tín của Nga sẽ lên cao. Trước con mắt của các quốc gia Ðông Nam Á, Nga có thể là “người hợp tác đáng tin cậy” và ảnh hưởng của Nga tại vùng này sẽ tăng nhanh. Trong bài “Mỹ Trở Lại Á Châu Như Thế Nào?” phổ biến ngày 27 tháng 2, 2012 tôi đã viết “Chiến lược trở lại Á Châu của Hoa Kỳ không rõ ràng là vì cùng lúc Hoa Kỳ vừa muốn hợp tác với Hoa Lục lại vừa muốn răn đe, ngăn chặn Hoa Lục. Giống như một người vừa muốn hợp tác làm ăn với bạn, một mặt lại muốn đốn ngã ông bạn mình”. Ngoài ra, do Hoa Kỳ xa rời vùng này quá lâu (35 năm) cho nên khi quay trở lại tình hình và bầu không khí chính trị hoàn toàn đổi khác, cho nên chưa định hình nổi phương thức “trở lại”. Ngoài Úc Châu, Hoa Kỳ chưa có một đồng minh chiến lược ở vùng này trong khi Philippines thì quá yếu và vẫn muốn giữ quan hệ ngoại thương $30 tỉ mỗi năm với Hoa Lục. Sự xuất hiện của Nga khiến tình hình Ðông Nam Á có thể chuyển hướng. Ngày hôm nay, tại biển Ðông, sự khai thác tài nguyên trên một vùng biển nào đó, nếu diễn ra êm xuôi, cũng là hình thức xác định chủ quyền. Nếu Nga mạnh dạn tiến tới và Hoa Lục chỉ phản đối lấy lệ thì chủ quyền của Việt Nam trên những vùng biển này được củng cố và xác định vĩnh viễn - điều mà Hoa Kỳ không làm được.

Chắc chắn Hoa Kỳ đang chú tâm theo dõi động thái này. Nếu Nga thành công thì Hoa Kỳ phải làm gì? Nếu không kịp giải tỏa những vướng mắc, Hoa Kỳ có thể lâm vào cảnh “trâu chậm uống nước đục” và chiến lược “Trở Lại Á Châu” của Hoa Kỳ sẽ vô cùng phức tạp. Nó phức tạp vì Hoa Kỳ rồi đây - một mặt phải cân bằng quyền lực với Nga - một mặt phải chuẩn bị đối đầu với Hoa Lục mà không gây một cuộc khủng hoảng mới ở Ðông Nam Á. Ðây là bài toán vô cùng khó khăn.

Với chuyển động này, cùng nhịp với kế hoạch tăng cường sức mạnh và hiện diện hải quân, Nga chính thức công bố cho thiên hạ biết Nga đã “tái xuất giang hồ”, tiến vào biển Ðông để lấy lại uy thế thời Chiến Tranh Lạnh. Quy luật muôn đời của thế giới là “Không có nước mạnh nào chịu ngồi yên để nhìn nước mạnh khác muốn làm gì thì làm.” Chúng ta chờ xem.

nguyennam619
Posts: 238
Joined: Mon May 09, 2011 6:49 am

Post by nguyennam619 »

Khi lãnh đạo đất nước biết đau, biết nhục

Song Chi

Gần đây các nước láng giềng của Bắc Hàn lại lên cơn sốt vì nước này đang ráo riết chuẩn bị cho kế hoạch phóng tên lửa tầm xa trong tháng 4.

Dù Bình Nhưỡng tuyên bố, vụ phóng tên lửa chỉ nhằm đưa vệ tinh lên quỹ đạo chứ không phải vì mục đích quân sự, hành động của Bắc Hàn vẫn bị xem là vi phạm nghị quyết của Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, đe dọa hòa bình và an ninh trên bán đảo Triều Tiên và khu vực Ðông Bắc Á. Chưa kể đã vi phạm thỏa thuận với Hoa Kỳ vào tháng 2 năm 2012, khi Triều Tiên đồng ý ngưng một phần các hoạt động hạt nhân và hoãn một vụ thử tên lửa để đổi lấy 240,000 tấn thực phẩm viện trợ.

Vì vậy, chính phủ Hoa Kỳ đã quyết định ngừng viện trợ lương thực. Thông qua phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Bắc Hàn, Bình Nhưỡng liền lên tiếng chỉ trích Hoa Kỳ “đã hành động quá đáng”.

Từ lâu, các nước chẳng còn lạ gì những cách hành xử rất bất chấp luật lệ thế giới, một mình một kiểu, rất là “Chí Phèo”, của nhà nước cộng sản Bắc Triều Tiên. Cứ khi nào kinh tế quá kiệt quệ và người dân đói khổ gần như hết chịu đựng nổi, nước này lại đem cái món vũ khí hạt nhân ra hăm dọa để đổi lấy viện trợ lương thực từ nước anh em ruột thịt Nam Hàn, Hoa Kỳ và kể cả Trung Quốc.

Khi hành xử như thế, nhà nước Cộng Sản Bắc Hàn bất cần thế giới nghĩ gì về họ. Họ cũng chẳng thèm xấu hổ khi một mặt thì cứ ra rả chửi Mỹ và Nam Hàn mà họ coi là những kẻ thù không đội trời chung, nhưng mặt khác, lại vẫn phải nhận viện trợ lương thực từ những quốc gia này.

Khốn khổ thay cho người dân Bắc Triều Tiên khi có những người lãnh đạo vừa không có lòng tự trọng, vừa không biết thương xót cho dân cho nước, vừa ngoan cố bám chặt quyền lợi. Nhất định không thay đổi, cải cách về chính trị, kinh tế để đất nước khá hơn, đời sống nhân dân đỡ khốn cùng hơn.

Làm lãnh đạo là phải nhìn ra thế giới, biết so sánh nước mình với nước khác, ta là ai, ta đang đứng ở vị trí nào, đang ở giữa dòng chảy tiến bộ hay đang lội ngược dòng, thậm chí bị gạt ra ngoài lề. Làm lãnh đạo là phải biết đau biết nhục cho cái nghèo, sự tụt hậu của nước mình, dân mình trước hết rồi mới đòi hỏi người dân phải đau phải nhục. Ðồng thời phải có lòng tự trọng, có tinh thần dân tộc.

Chính lòng tự trọng đã làm nên sự thành công thần kỳ của người Nhật. Không chỉ về kinh tế, công nghệ, kỹ thuật, về chất lượng giáo dục, chất lượng sản phẩm, uy tín của các thương hiệu... Mà cái chính là nhân cách của người Nhật, những giá trị được tuân thủ, gìn giữ trong xã hội như lòng tự trọng, tính kỷ luật, sự miệt mài học tập, lao động không mệt mỏi, tinh thần vì cộng đồng, vì xã hội...

Thế giới vị nể và quý trọng người Nhật, điều đó đã thể hiện rất rõ khi nước Nhật gặp thảm họa kép sóng thần-hạt nhân vào tháng 3 năm 2011, các nước đã nhiệt tình hỗ trợ người Nhật ra sao.

Ðối với Hoa Kỳ, có nhiều người thuộc các quốc gia khác nhau không thích, thậm chí ghét, từ chính phủ cho đến người dân Mỹ. Nhưng nước Mỹ cũng là nơi mà nhiều người muốn đến sống và trở thành công dân nhất.

Và khi có chuyện gì xảy ra, nhiều nước lại sẵn sàng đứng bên cạnh, là đồng minh của Hoa Kỳ. Quốc gia này vẫn có những chuẩn mực giá trị đáng để học tập từ mô hình thể chế chính trị, luật pháp cho đến giáo dục, còn văn hóa-quyền lực mềm của Mỹ thì tràn ngập khắp nơi.

Với các quốc gia như Anh, Pháp, Ðức, Nga... các nước cũng dành sự vị nể về những giá trị/thành tựu văn hóa lâu đời.

Các quốc gia Bắc Âu như Ðan Mạch, Na Uy, Phần Lan, Thụy Ðiển... dù là những nước nhỏ về dân số nhưng luôn luôn được đánh giá cao từ sự thịnh vượng, ổn định về kinh tế-chính trị-xã hội, chỉ số tự do dân chủ, chỉ số hạnh phúc của người dân cho đến sự công bằng, cởi mở, nhân bản trong xã hội...

Thuộc loại những “con rồng nhỏ” trong khu vực Ðông Á như Nam Hàn, Singapore, Indonesia, kể cả Thái Lan cũng được xếp hạng tốt trong một số lĩnh vực.

Trong khi đó, Trung Quốc, quốc gia đông dân nhất thế giới, là cường quốc thứ hai về kinh tế, có một nền văn hóa lâu đời, có sức mạnh đáng ngại về quân sự và cũng là một ví dụ về sự tăng trưởng kinh tế thần kỳ. Song dường như lại chưa chiếm được thiện cảm, sự nể trọng của nhiều nước.

Nhắc đến Trung Quốc, người ta lại hay nói đến nạn hàng giả hàng nhái kém chất lượng, hàng hóa độc hại, nạn ăn cắp bản quyền, sản phẩm trí tuệ của các nước; một chế độ độc tài, hồ sơ nhân quyền tệ hại cho đến thái độ trục lợi, lũng đoạn về kinh tế, chính trị trong mối quan hệ với các nước khác... Từ mô hình thể chế chính trị, những giá trị đạo đức xã hội, con người... Trung Quốc đều chưa thuyết phục được thế giới.

Thế mới biết, muốn được xem là một nước lớn, có được nhiều bạn bè, đồng minh, thì đâu chỉ lớn về dân số, lãnh thổ, tiền hay sức mạnh quân sự là đủ? Mà còn phải có lòng tự trọng, tự hào dân tộc một cách đúng đắn, quyết tâm giành được lòng tin, sự thiện cảm của các nước bằng con đường “chính đạo”.

Ðối với những quốc gia độc tài còn nghèo khổ lạc hậu, những người lãnh đạo thường không cảm thấy hoặc không muốn thấy sự cách biệt giữa nước mình với nước khác. Mối bận tâm lớn nhất của họ là làm thế nào để có thể tiếp tục ngồi lên đầu lên cổ nhân dân... vĩnh viễn.

Việt Nam dưới sự độc quyền lãnh đạo của đảng và nhà nước cộng sản từ bao lâu nay, cũng không là ngoại lệ. Chỉ tính từ ngày 30 tháng 4, 1975 khi đảng cộng sản nắm quyền lãnh đạo trên toàn nước đến nay cũng đã 37 năm. Có bao giờ những người lãnh đạo giật mình nhìn sang những nước láng giềng, nhìn ra thế giới để so sánh với Việt Nam?

Hay từ lâu rồi, niềm kiêu ngạo suốt một thời gian dài của những kẻ “chiến thắng hai đế quốc to Pháp, Mỹ” cũng không còn nữa. Bây giờ nhà cầm quyền Việt Nam trở nên rất thiếu lòng tự trọng khi cứ tiếp tục ca bài ca nước nghèo để đi vay, nhận viện trợ của các nước.

Phát biểu tại phiên khai mạc hội nghị thường niên ADB ngày 5 tháng 5 năm 2011, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng Việt Nam vẫn là một nước nghèo và “mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ có hiệu quả hơn nữa của cộng đồng quốc tế, của các nhà tài trợ, trong đó có ADB và các nước thành viên” (Thủ tướng: ‘Việt Nam vẫn là nước nghèo’, VNExpress).

Trong mối quan hệ bất xứng với Trung Quốc, ngoài sự hèn nhát, khiếp nhược trước sức mạnh quân sự của Trung Quốc, chính sự yếu kém, lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc của Việt Nam đã khiến Hà Nội không dám mạnh miệng với Bắc Kinh trong sự tranh chấp về lãnh thổ, lãnh hải và nhiều lĩnh vực khác.

Khi xảy ra vụ tham nhũng liên quan tới công ty tư vấn Thái Bình Dương (PCI) của Nhật và trước thái độ không kiên quyết xử lý của phía Việt Nam, vào tháng 12 năm 2008, chính phủ Nhật đã tuyên bố tạm ngừng cấp các khoản viện trợ ODA cho Việt Nam - vốn là nước nhận ODA nhiều nhất.

Quyết định của chính phủ Nhật vào thời điểm đó rõ ràng đã làm cho nhà nước Việt Nam vô cùng bối rối.

Khi Nhật Bản bị thảm họa sóng thần và sự cố điện hạt nhân vào tháng 3 năm 2011, báo chí Việt Nam liền đưa tin Nhật Bản cam kết sẽ không cắt giảm nguồn vốn viện trợ ODA cho Việt Nam trong thời gian tới, mặc dù đang có những khó khăn nhất định.

Chỉ như vậy là đủ thấy kinh tế Việt Nam bị lệ thuộc như thế nào vào các nguồn vốn cho vay từ bên ngoài. Và với bức tranh kinh tế ảm đạm như mấy năm vừa qua, sự lệ thuộc đó càng nặng nề hơn.

Lại nhìn sang Miến Ðiện. Sự thay đổi của nước này là từ sự thức tỉnh của Tổng Thống Thein Sein. Khi ông nhìn ra sự hạn chế của chế độ cũ đã biến đất nước Miến Ðiện từng giàu có hùng mạnh trong quá khứ trở thành quốc gia nghèo nhất Ðông Nam Á, bị cấm vận, có nguy cơ lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc.

Muốn thoát ra, muốn đưa đất nước phát triển thì phải cải cách về chính trị.

Vị tổng thống của Miến Ðiện đã biết đau, biết nhục cho dân cho nước. Khác với những người lãnh đạo Bắc Hàn.

Còn những người lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam, có dấu hiệu gì cho thấy họ biết đau biết nhục cho dân cho nước? Hay họ vẫn đang điềm nhiên ngự trị ở Ba Ðình mà nghĩ rằng chế độ này còn tồn tại dài lâu?

Song Chi

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Tháng Tư Bùi Ngùi

Tác giả : Trần Khải
Chúng ta đang trong tháng tư của năm 2012. Những ngày trong tháng 4 của năm 1975 là những ngày không thể quên. Khi đất nước chuyển mình đau đớn, khi hàng triệu người chạy từ các tỉnh miền Trung để vào Sài Gòn, vào một thành trì cuối cùng của tự do.
Chạy vào Sài Gòn lúc đó là để thoát gọng kìm tiến quân của quân lực Bắc Việt. Chạy vào Sài Gòn là để chiến đấu cho tự do.
Và rồi Sài Gòn sụp đổ.

Dưới mắt thi ca, sau này trong một bài thơ nhan đề “Tạ lỗi Trường Sơn,” nhà thơ Đỗ Trung Qu::1i2::n năm 1982 đã viết, trích:

Các anh bảo con trai Sài Gòn không lưu manh cũng lính ngụy
Con gái Sài Gòn không tiểu thư khuê các, cũng đĩ điếm giang hồ
Các anh bảo Sài Gòn là trang sách “hư vô”
Văn hóa lai căng không cội nguồn dân tộc
Ngòi bút các anh thay súng
Bắn điên cuồng vào tủ lạnh, ti vi
Vào những đồ tiêu dùng mang nhãn Hoa Kỳ
Các anh hằn học với mọi tiện nghi tư bản
Các anh bảo tuổi trẻ Sài Gòn là “thú hoang” nổi loạn
Là thiêu thân ủy mị, yếu hèn
Các anh hùa nhau lập tòa án bằng văn chương
Mang tuổi trẻ Sài Gòn ra trước vành móng ngựa !!!
(Tạ lỗi Trường Sơn – Đỗ Trung Quân, 1982 -- trích từ trang của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo)

Cũng trên trang web vừa nêu, nhà bình luận Đặng Tiến năm 2005 đã viết bài “Nguyễn Bắc Sơn,” một nhà thơ xuất thân từ quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Nhà thơ có cha là phía Bắc Quân.
Nhà bình luận Đặng Tiến viết, trích:

“... Nơi Nguyễn Bắc Sơn có thể còn lý do riêng: thân phụ anh đi kháng chiến chống Pháp, tập kết ra Bắc. Có thể ông lại vào Nam chiến đấu, và khách quan, có khả năng là đối tượng trước mũi súng Nguyễn Bắc Sơn, và anh khó bề dễ dàng, an nhiên “nhắm thẳng đầu thù mà bắn” như một khẩu hiệu có từ 1964.

Trong thực tế, ông cụ đã vào Nam chiến đấu “phía bên kia”, cùng trong một địa bàn với con, ở cương vị phó chủ nhiệm cục chính trị quân khu 6. Trung ương Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa có lẽ cũng biết được nên đã đưa Nguyễn Bắc Sơn ra đơn vị chiến đấu. Sau ngày kết thúc chiến tranh, người cha đã trở về đoàn tụ với gia đình, trên cấp bực đại tá quân đội nhân dân. Ông có bao che cho con cái và bạn bè của con, trong cùng cảnh ngộ, như Lê Mai Lĩnh bị tù cải tạo đến cuối 1983, gần đây còn chân thành kể lại.

Ông cụ qua đời trong một tai nạn xe hơi đã gây nhiều nghi vấn. Nguyễn Bắc Sơn có làm bài thơ nhớ bố:

Bố tôi qua đời đúng năm năm
Tôi viết thơ này
Để tâm sự cùng người khuất núi
Bố tôi ước mơ làm cho loài người sung sướng
Và thế là ông từ tuổi thanh xuân
Cùng bạn bè đi làm cách mạng
Ông càng làm cách mạng chừng nào
Thì loài người càng thêm sặc máu...” (hết trích)

Nhà bình luận Đặng tiến ca ngợi Nguyễn Bắc Sơn:

“Tác phẩm Nguyễn Bắc Sơn, bên dưới những chứng từ lịch sử, là những bài thơ hay, trong lối văn “thốn tâm thiên cổ ”.

Tấc lòng lưu vọng ngàn năm.”
Có phải cuộc chiến phải có những kết thúc như thế:
“Ông càng làm cách mạng chừng nào
Thì loài người càng thêm sặc máu...”
Những câu hỏi này chắc chắn là sẽ lưu vọng ngàn năm vậy...

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Kêu Cứu Nhân Quyền

Tác giả : Trần Khải
Những lời kêu cứu vẫn chuyển hải ngoại ra liên tục, cho thấy nhân quyền là một điều gì cực kỳ hiếm hoi tại quê nhà.

Hôm Thứ Hai, một điện thư gửi từ nhà dân chủ Nguyễn Bắc Truyển để báo động về trường hợp công an tỉnh Đồng Tháp đàn áp Phật Giáo Hòa Hảo.

Điện thư trích:

“...Ông Nguyễn Văn Hùng, cư ngụ tại xã Long Hưng B, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp cho biết:

Năm 2010, ông Hùng từ Sài Gòn chuyển về sinh sống tại xã Long Hưng B và theo đạo Phật giáo Hòa Hảo (PGHH). Ông Hùng đã nhiều lần yêu cầu công an huyện Lấp Vò cho nhập hộ khẩu về đĩa phương nhưng công an không đồng ý vì cho rằng ông là Tín đồ PGHH, họ ra điều kiện nếu ông không theo đạo PGHH và dừng việc đi cúng lễ, tham dự đám giỗ ở nhà các đồng đạo thì công an sẽ cho nhập hộ khẩu. Đội trưởng đội an ninh công an huyện Lấp Vò là Thiếu tá Nguyên đã nhiều lần hăm dọa là sẽ cho du côn đốt nhà, phá quán (quán giải khát) của ông Hùng. Phó công an xã Long Hưng B tên là Vũ cũng nhiều lần cho người đánh ông Hùng khi ông Hùng đi dự đám giỗ ở nhà đồng đạo.

Vào lúc 22 giờ 30 ngày 7/4/2012, nhà ông Hùng bị cắt hàng rào lưới B40, kẻ thủ ác đã khóa bên ngoài cửa nhà và đốt lửa. Đám cháy không lớn tuy nhiên đây là hành vi khủng bố người dân do công an xã Long Hưng B và huyện Lấp Vò cùng với "quần chúng tự phát" thực hiện. Sau khi xảy ra sự việc, ông Hùng có báo cho công an xã Long Hưng B. Công an đến chụp hình và ra về không lập tiến hành lập biên bản vụ việc và cũng không đưa ra hướng xử lý nào.

Ông Hùng cho biết thêm, gia đình ông và anh em (phía bên vợ) của ông, thường xuyên bị công an huyện Lấp Vò, công an xã Long Hưng B gây khó khăn khi họ tham dự các buổi lễ theo nghi thức PGHH, có lúc họ bị đánh hay bị xô ngã xuống sông bởi nhửng người an ninh mặc thường phục. Xin xem thêm hình ảnh và audio lời nói của ông Hùng theo link dưới dây: http://hientinhvn.blogspot.com/...” (hết trích)

Một thư báo động khác là tờ Đơn tố cáo và kêu cứu khẩn cấp của chị Trần Thị Nga đăng trên trang Dân Làm Báo.

Đơn naỳ đề ngày 5-4-2012, gửi các lãnh đạo cao nhất trong chính phủ Hà Nội và cả các hội nhân quyềnt oàn cầu.

Theo đơn này, chị Trần Thị Nga sinh năm 1977, đang cùng con nhỏ là Trần Văn Phú (sinh năm 2010) cư ngụ ở Phủ Lý, Hà Nam.

Chị Trần Thị Nga đã liên tục bị “bắt cóc, đe doạ hãm hại mẹ con tôi của một nhóm người trong đó có nhân viên của ngành công an và sự bao che tiếp tay cho tội phạm của công an trong mấy năm nay như sau:

Bản thân tôi là một nạn nhân của chính sách xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Năm 2008 về VN tôi đã dùng những kinh nghiệm và kiến thức của mình có được đi giúp đỡ những nạn nhân khác. Ngày 07/01/2010 Công An khu vực Hoàng Tuấn Anh và phó CA phường tên Quyết mặc sắc phục CA đến bảo tôi lên phường làm lại số tạm trú. Tới nơi tôi đã bị họ đưa giấy triệu tập bắt lên phòng bảo vệ chính trị CA tỉnh Hà Nam, ở đấy tôi đã bị 7-8 người cả mặc sắc phục của ngành lẫn mặc thường phục quát mắng đe doạ bắt tôi phải từ bỏ công việc giúp người lao động gặp nạn, nếu không nghe lời họ sẽ hãm hại tôi và các con tôi. Lúc này tôi đang mang thai bé Phú 7 tháng. Tôi thấy việc làm giúp người gặp nạn là việc làm chính đáng không vi phạm pháp luật cũng không vi phạm đạo lý làm người vì thế tôi không thể nghe theo lời yêu cầu vô lý của họ. Kể từ đó mỗi tuần tôi đều bị CA khu vực Hoàng Tuấn Anh đến lập biên bản kiểm tra nhân khẩu.

Gần 9h sáng ngày 27/11/2011 khi đang ngồi chơi ở ghế đá bên bờ hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội tôi đã bị một nhóm hơn 10 người cả nam và nữ bắt cóc đưa về sào huyệt của chúng. Khi tới nơi tôi đã vô cùng ngạc nhiên vì đấy là đồn CA phường Lý Thái Tổ, Q Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ở đấy chỉ có duy nhất một người thanh niên trẻ tuổi mặc sắc phục CA mang tên VŨ QUỐC KHANH (hoặc Khánh vì nhìn không dõ dấu số: 1333 –d34- t32. hình như “13333” vì người này luôn luôn cố tình dùng tay che biển tên và số), còn lại rất nhiều người mặc thường phục canh gác tôi. 10h38 phút họ bẻ tay cưỡng chế tôi lên xe ôtô biển số 90B -1079 do 4 người đàn ông, 01 người đàn bà áp giải. Trong số những kẻ áp giải tôi nhận ra tên Công là nhân viên phòng bảo vệ chính trị CA tỉnh Hà Nam. Khi ôtô về tới địa phận TP Phủ Lý họ đã đẩy tôi xuống đường. Khi cố gắng về được tới nhà thì ổ khoá nhà tôi đã bị kẻ gian nhỏ keo 502 vào, không mở được trong khi đó bé Phú đang ở trong nhà....” (hết trích)

Những hành vi khủng bố tương tự vẫn diễn ra với hỗ trợ từ công an. Thậm chí, chị còn bị đe dọa thủ tiêu nếu ra khỏi nhà.

Không chỉ hù dọa miệng, mà họ còn gửi thư tận nhà, trích:

“Ngày 18/01/2012 gia đình tôi nhận được thư nặc danh đe doạ giết, sáng ngày 04 tết âm lịch những người hàng xóm và tôi đã nhặt được rất nhiều tờ truyền đơn đe doạ giết gia đìnhh tôi. Tôi đã làm đơn trình báo đến CA xã. Sáng 05 tết tôi đèo con bằng xe máy đi chúc tết họ hàng đã bị nhóm kẻ gian bám theo đe doạ nên tôi đưa con quay về. Về gần tới cổng nhà một trong số những kẻ trên đã ép xe doạ giết mẹ con tôi. Tôi lại gọi điện làm đơn trình báo đến CA xã đêm 05 và ngày 06 tết gia đình tôi đã bị gần 100 CA cả sắc phục lẫn thường phục bao vây trong đó có cả những kẻ gian đã đe doạ tôi....” (hết trích)

Xin chuyển lời tới các nhà hoạt động trong Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam (Vietnam Human Rights Network, trang: http://www.vnhrnet.org) rằng những lời báo động và tố cáo này nên được dịch khẩn cấp sang nhiều thứ tiếng và gửi ra toàn cầu, tới các chính phủ, quốc hội, truyền thông... để góp lời báo động. Biết rằng rằng quý vị trong Mạng Lưới đã có nhiều hoạt động tuyệt vời, và cũng tin cậy rằng quý vị có uy tín quốc tế về bênh vực người bị đàn áp, hôm nay ngừời viết xin chuyển tới hai trường hợp khẩn cấp nêu trên.

Ít nhất, chúng ta cũng lên tiếng kịp trước những lời kêu cứu.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Ðốt tiền

Ngô Nhân Dụng
Ðiều bất ngờ sau khi hỏa tiễn Bắc Hàn nổ tung sau khi bay được 100 cây số, là chính quyền Bình Nhưỡng công nhận cuộc đốt pháo bông kỷ niệm 100 năm sinh nhật Kim Nhật Thành đã thất bại.

Bản tin đọc trên ti vi cho 23 triệu dân chúng nghe nói không úp mở là vệ tinh nhân tạo không bay được lên quỹ đạo. Năm 2009 khi Kim Chính Nhất còn sống, một vụ phóng vệ tinh khác được các đài quan sát quốc tế xác nhận là bất thành; nhưng chính quyền cộng sản vẫn loan báo họ thành công mỹ mãn. Tại sao cậu Kim Chính Ân lại thành thật hơn ông bố?

Có thể giải thích là ba năm trước Kim Chính Nhất đang bệnh nặng và chưa chính thức đưa đứa con nào lên kế vị, cho nên không dám loan tin xấu, sợ dân coi là điềm gở. Năm nay, Kim Chính Ân đã chính thức lên ngôi, và mới được suy tôn đủ các chức vụ cao nhất nước không khác gì ông bố, cho nên không cần kiêng cữ nữa. Sau khi đã được “bầu” làm chủ tịch nước, bí thư thứ nhất của đảng, Tháng Mười Hai vừa rồi được suy tôn làm tổng tư lệnh đứng đầu đạo quân 1 triệu 200 ngàn người, trong tuần này Kim Chính Ân đã được đưa lên chức “chủ tịch thứ nhất Quân Ủy Trung Ương,” một chức vụ không thể thiếu.

Nhưng thực sự địa vị của Kim Chính Ân có chắc chắn hay không? Một gia đình nắm tất cả guồng máy đảng, quân đội, công an trong tay có bảo đảm chàng thanh niên dưới 30 tuổi ngồi vững trên ngai vàng như ông nội và bố hay không?

Chúng ta biết là đời ông bố Kim Chính Nhất đã được chuẩn bị hàng chục năm, từ lúc được chỉ định làm đông cung thái tử cho đến khi lên ngôi. Trong thời gian đó, Kim Nhật Thành đủ thời giờ rèn luyện, che chở, bảo đảm bá quan văn võ phải phục tùng đứa con sắp kế vị. Còn Kim Chính Ân vừa quá trẻ lại vừa mới được chỉ định hai năm thì bố chết, trước khi chết Kim Chính đã phải ủy thác việc khuông phò ấu chúa cho cô em gái Kim Kyong Hui và ông em rể Chang Sung Taek. Nhưng trong đám tướng lãnh, toàn những cụ già chung quanh tuổi 70, không chắc ai cũng phục tùng cậu lãnh tụ mặt búng ra sữa này.

Ðảo chính là một chuyện khó xẩy ra trong một chế độ cộng sản, vì tất cả những người chỉ huy các đơn vị quân đội đều bị các chính trị viên kiểm soát chặt chẽ. Nhưng nếu chính một nhóm người đang phụ trách cơ chế kiểm soát đó nảy sinh ý “tạo phản” thì vẫn có thể đảo chính. Tại Nam Hàn, Tổng Thống Phác Chính Hy đã bị ngay người được ông đưa lên cầm đầu trung ương tình báo (KCIA) sát hại và đảo chính. Tại Trung Cộng, Lâm Bưu cũng âm mưu đảo chính không thành, sau khi đã được Mao Trạch Ðông công khai phong làm người kế vị, chính thức ghi vào cương lĩnh đảng. Trong một chế độ độc tài, các lãnh tụ không tin được nhau, vì không có một cơ chế nào giám sát và giới hạn quyền hành. Dù được đưa lên làm kế vị nhưng Lâm Bưu biết số phận của mình vẫn được quyết định bởi một người, Mao Trạch Ðông. Bất cứ lúc nào Mao đổi ý kiến cũng được, và chỉ trong giây phút là người kế vị cũng mất mạng. Lâm Bưu đã từng thấy một đồng chí lâu năm của Mao, cũng được coi là người kế vị, là Lưu Thiếu Kỳ, bị hành hạ đến chết, vợ con cũng khốn khó. Ðảo chính trong một nước cộng sản có thể tiến hành dễ dàng, chính vì chính sách suy tôn lãnh tụ. Nếu Lâm Bưu thành công, bắt cóc được Mao Trạch Ðông, thì chỉ cần nhân danh Mao Chủ tịch là có thể trị được cả thiên hạ.

Cho nên, Kim Chính Ân phải lo có người đang nhòm ngó địa vị của mình, trong đó có thể có chính ông chồng bà cô, hoặc một tướng lãnh trong hàng ngũ lãnh đạo. Cuộc đảo chính ở một nước cộng sản dễ thi hành vì tất cả mọi quyết định quan trọng nhất đều nằm trong tay một nhóm người họp kín với nhau, toàn dân không ai biết gì chuyện nội bộ của họ. Như Beria đã âm mưu cướp chính quyền sau khi Stalin chết, và Beria bị nhóm đối lập treo cổ, tất cả các biến cố đó diễn ra đằng sau sân khấu cả. Chính vì các lãnh tụ độc tài không cho phép ai dưới quyền được phép nổi lên trước công chúng, cho nên cũng không ai có địa vị và tư cách để đứng ra chống đảo chính.

Cho nên, việc chính quyền Bắc Hàn công khai thú nhận việc phóng vệ tinh thất bại có thể là một phản ứng bất đắc dĩ vì lo lắng có thể một, hai người đang âm mưu chống chế độ gia đình trị của họ Kim. Một lý do là cái hỏa tiễn mới phóng lên, bay chưa được mươi phút đã phát nổ giữa trời, là một hình ảnh rất khó xóa bỏ, khó che đậy. Nhiều cơ quan dân sự và quân sự nắm trong tay các đoạn phim xấu hổ đó, có thể vài cá nhân cũng chụp được đầy đủ. Cho nên, đối với gia đình Kim, thà rằng công khai thú nhận thất bại còn hơn để các tay chống đối tiết lộ, rỉ tai đồn đại, vào đúng lúc họ thấy có lợi nhất. Công khai nói đến vụ thất bại là tước của các phe trong nội bộ một vũ khí có thể dùng để xóa bỏ “thần tượng” Kim nhỏ. Trong khi đó, ông vua mới vẫn đứng ra khán đài chủ tọa một cuộc biểu tình mừng sinh nhật và khánh thành hai pho tượng mới của ông nội và bố.

Công khai hóa thất bại phóng vệ tinh cũng có thể tạo cơ hội cho Kim Chính Ân thanh toán nội bộ, đổ tội làm hỏng việc cho những người nào có khả năng chống đối nhất. Một thủ đoạn của các nhà độc tài là lâu lâu cách chức một nửa số đàn em, hay nhiều hơn. bằng cách đó, vừa diệt được các bè phái đang có thể thành hình, vừa đe dọa những người còn ở lại, khiến họ lo sợ hơn, không dám có ý “phản phúc.” Trong mấy tháng tới, tình trạng đó sẽ diễn ra ở Bình Nhưỡng.

Mặt khác, để gỡ thể diện, Kim Chính Ân có thể thúc giục bộ máy quan sự cho nổ thêm một trái bom hạch tâm trong những ngày sắp tới. Bom nổ ngầm dưới đất, không ai biết thành công hay thất bại, rất dễ nói dối. Tổng cộng chi phí cho việc phóng vệ tinh và thử bom lên tới hàng tỷ đô la Mỹ. Chế độ độc tài không bao giờ ngần ngại đốt tiền để củng cố ngai vàng của các lãnh tụ! Trong khi đó, một phần tư dân chúng sống nhờ thực phẩm viện trợ.

Ðốt tiền, không cần phải làm rùm beng như cộng sản Bắc Hàn, khi họ sử dụng tài nguyên của quốc dân để ‘đốt pháo.” Nhìn vào các chế độ cộng sản khác, chúng ta có thể thấy họ cũng “đốt tiền thường xuyên;” đốt tiền mà không thấy lửa, không thấy khói, bằng các dự án, công trình lớn nhỏ.

Bắc Kinh đã đốt hàng trăm tỷ đô la với dự án đường xe lửa cao tốc, đến nay đã trở thành một vết ô nhục sau khi cách chức một loạt người chỉ huy về tội tham nhũng. Việt Nam đã lập tập đoàn Vinashin, chỉ trong mấy năm đã vỡ nợ, không trả được 4 tỷ đô la tiền vay nợ. Số tiền vay các ngân hàng quốc tế này được bảo đảm bằng tất cả ngân sách quốc gia. Tức là 80 triệu dân Việt Nam sẽ phải đưa cổ ra trả nợ, đời này chưa trả được thì đời con cháu ông Ðoàn Văn Vươn sẽ tiếp tục trả. Làm sao người ta có thể đốt được bốn tỷ Mỹ kim trong một thời gian kỷ lục như vậy? Coi như ông Nguyễn Tấn Dũng đã phóng bốn cái hỏa tiễn, vượt xa ông Kim Chính Ân bên Bắc Hàn! Dân Bắc Hàn còn có người được trông thấy khói phun và lượm những mảnh vụn từ trên trời rớt xuống. Ở Việt Nam, cả bốn cái hỏa tiễn và vệ tinh nhân tạo hoàn toàn chìm trong màn bí mật, chỉ các đồng chí biết đồng tiền đã chạy đi những đâu mà thôi! Vinashin chỉ là một vụ “tầu nổi.” Còn bao nhiêu vụ “tầu ngầm” khác, không biết họ đã đốt biết bao nhiêu tiền của dân?

Nhạc sĩ Tô Hải mới viết một bài về “Một Nghìn Lẻ Một Cách Nói Dối,” ông đặt mấy câu hỏi về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, “chơi trò chữ nghĩa” để che giấu sự thật. Tô Hải viết:

Nhiều “sai phạm” trong quản lý đất đai ở Sóc Trăng... nhưng chỉ có bốn cơ quan và 5 cá nhân không được phép nêu tên được... đề nghị kiểm điểm!

Tập đoàn Sông Ðà “sai phạm” hơn 10,000 tỉ đồng! Sai phạm? Sai phạm là cái quái gì??? Là biển thủ? Ăn Cắp? Thất thoát? Lãng phí?... tất cả đang còn bỏ ngỏ...!

“Thanh tra tập đoàn dầu khí - Xử lý tài chính trên 18,200 tỉ đồng.” Xử lý tài chính là cái trò gì? Thu hồi? Bắt đền? Hay phân phối lại? Mười tám ngàn hai trăm tỷ (18,200,000,0000) đồng của dân mà viết cứ ỡm ờ như xử lý qua quít vài cân thịt siêu nạc bắt quả tang ở Ðồng Nai!

Một món tiền ông Tô Hải kê ra trên đây cộng lại lên thành nhiều tỷ Mỹ kim. Những chữ như “Sai phạm, xử lý tài chính” đều là ngôn ngữ xã hội chủ nghĩa cả. Chúng ta có dịch sang tiếng Việt Nam là Ðốt Tiền! Các quan phóng bao nhiêu cái hỏa tiễn trên đầu người dân, chẳng thấy hình nào lên ti vi cho dân coi hết!

Post Reply