Quán Sinh Tố

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Image

PHIẾM NĂM RỒNG
Thái Quốc Mưu

Long hay Rồng, đứng đầu trong Tứ Linh: Long, Lân, Quy, Phụng. Những con vật huyền thoại, chỉ có tên theo huyền thuyết, không có thật trong các loài sinh vật.

Thời trước, trong chế độ phong kiến, Rồng được lấy làm biểu tượng của các vì vua chịu ảnh hưởng nặng về văn hóa Trung Hoa.

Bất cứ thứ gì trên thân thể hoặc liên quan đến nhà vua đều khởi đầu bằng chữ Long. Cơ thể vua được gọi bằng Long thể, mắt vua Long nhãn (và cũng là cơm trái nhãn phơi khô, dùng làm thuốc bổ trong ngành Đông Y) râu vua Long tu,… Nơi vua ngồi làm việc Long ngai, giường vua ngủ Long sàng, xe vua đi Long xa, Long giá, áo vua Long cổn, Long bào, kiệu vua Long đình, gậy vua Long trượng,… vua đến nơi nào đó được gọi là Long ngự.

Chữ Long gắn liền với nhà vua như vậy, nhưng vợ chánh của vua gọi là gì?

Thời cổ Trung Quốc đến đời Tần Thủy Hoàng, vua gọi vợ chánh của ông ta bằng Hậu; giới quần thần gọi là Vương Hậu.

Đến đời Hán về sau mới gọi vợ vua là Hoàng Hậu, và Hoàng Hậu là chức vị được vua phong. Bà Lữ Hậu là người phụ nữ Trung Quốc đầu tiên được thụ phong chức danh Hoàng Hậu.

Chức danh Hoàng Hậu là “Đệ nhất, vộ nhi”, chỉ khi nào Hoàng Hậu tại chức bị phế hoặc chết mới được phong cho người kế nhiệm. Kỳ dư, những bà vợ thứ của vua chỉ được gọi bằng Phi.

Nhưng, cái nguyên tắc “Duy nhất Hoàng Hậu” của Trung Quốc bị những vì vua trên đất nước ta đánh gục, các vì vua: Đinh Tiên Hoàng có 5 hoàng hậu; Lê Đại Hành có 5 hoàng hậu; Lý Thái Tổ có 9 hoàng hậu, Lý Thái Tông có 8 hoàng hậu.

Khi Nhà Nguyễn Gia Long lập quốc, thì chức danh cao nhất, quyền uy nhất trong giới nữ ở cung đình, ngoài xã hội là Phi. Đến đời Bảo Đại mới có Hoàng Hậu. (Nam Phương Hoàng Hậu)

Như vậy, các bà vợ Vua đều không có “long”, cho dù “Long thê” hay “Long nữ”.

Nếu có ai hỏi: Vua gọi vợ ông ta bằng gì? Đa số sẽ trả lời: Hậu, Ái hậu, Ái khanh, Ái nương,… Nhưng chính xác nhất là: Vua gọi vợ ông ta bằng MIỆNG (mồm).

“Bửu bối” nhà vua thì gọi là “Ngọc Cốt” hoặc “Long cốt”. Còn “cái đầu trọc bẩm sinh” của nam giới, trong giới bình dân gọi là Quy đầu. “Cái ấy” của vua cũng gọi “Quy đầu”, nếu ai gọi là “Long đầu” (đầu rồng = đầu vua”) thì chỉ có nước bị chết chém. Đúng là rắc rối lôi thôi!

Có người cắc cớ hỏi: “Khi vua “làm chuyện nọ chuyện kia” được gọi là Long gì?” Câu hỏi được một tay “chọc trời khuấy nước” đáp: Hoàng Thượng làm vệ sinh cho Hoàng Hậu.

Còn khi vua bài tiết, người ta nói đùa là “Long ị”, thực tế như thế nào người viết chẳng biết. Vị nào biết xin vui lòng chỉ giáo!

Khi nói về nhà vua, không thể nói Long Vương mà phải nói Long nhan, trong khi Long nhan chỉ là cái mặt vua. Còn Long Vương, chỉ để gọi vị vua cai trị dưới nước. Cũng vậy, nơi vua và hoàng thân quốc thích trú ngụ không thể gọi Long Cung, mà phải gọi Hoàng Cung. Còn Long Cung là nơi ở của Long Vương.

Tất cả những tiếng có chữ Long dùng để gọi cơ thể nhà vua chỉ với mục đích trừu tượng, do sự tôn sùng thái quá. Giả như đó là một thực tế, chúng ta thử hình dung một con người có đầu rồng, râu rồng, mắt mũi giống mắt rồng,… thì khủng khiếp đến dường nào!

Có những từ kép hoặc cụm từ có chữ Long “hổn láo, ngang tàng” đứng trước, nhưng chẳng “ăn nhậu” gì đến nhà vua, như: long nhong, long đong, long tong, long lanh, long loc, long trời chuyển hoặc lở đất,…

Trong Tam Quốc Chí có đoạn, khi Tào Tháo bị bệnh nặng thèm ăn gan rồng. Tạ Từ xin diện kiến, lấy bút vẽ một con rồng trên lụa, giống y như thật, xong dùng dao mỗ bụng máu chảy dầm dề, đoạn Tạ Từ móc gan rồng ra dâng Tháo. Tào Tháo kinh hoàng, cho là ma thuật truyền lệnh bắt, Tạ Từ leo lên lưng rồng bay mất.

Vua Huỳnh Đế và hoàng hậu được vị tiên tên Quảng Thành Tử truyền cho phép tiên, khi thành đạo, có rồng vàng sa xuống, hai vợ chồng cỡi về trời. Thời Chiến Quốc, Tiêu Sử và Lộng Ngọc (con gái út của Tần Mục Công) tu tiên, khi thành đạo, Tiêu Sử cỡi rồng, vợ cỡi phụng bay lên trời (truyện Đông Châu Liệt Quốc, có nói rõ chuyện nầy)

Truyền thuyết Trung Quốc có câu chuyện: “Xưa có một vì vua muốn vẽ hai con rồng để treo hai bên ngai vàng, bèn rao truyền khắp dân gian, ai vẽ tranh rồng đẹp nhất sẽ được trọng thưởng, những họa sĩ tài ba trong nước ùn ùn kéo về kinh đô nhiều như mây, nhưng không ai vẽ vừa lòng đức vua. Bỗng có một họa sĩ trẻ đến, tâu: - “Bệ hạ muốn vẽ bức tranh ấy, thì xin cho hạ thần một loại lụa quý, dệt bằng 10 thứ tơ của loài tằm được ăn loại lá dâu ở trên độ cao 7000 thước (một thước Tàu bằng bốn tấc thước Tây) ở Tần Sơn. Khi có tơ, phải tuyển những tay thợ dệt xuất sắc để khi dệt không để lỗi một sợi tơ nào trên mặt lụa...” Nhà vua đồng ý, hẹn năm sau. Đến hẹn, chàng họa sĩ đem lụa về hang núi, hẹn 3 năm sau mới hoàn thành, và lấy cái đầu bảo đảm cho sáng tác của mình!

Ba năm sau, chàng họa sĩ trẻ trung ngày trước bỗng trở nên tóc trắng như bông, đến dâng vua hai bức tranh. Nhà vua hớn hở mở ra xem, chỉ thấy mỗi bên tấm lụa chỉ có hai đường xổ dài từ trên xuống dưới! Vua và triều thần cùng ngơ ngác. Tức giận, không cần tra vấn lời nào, vua truyền lệnh chém đầu người họa sĩ.

Từ đó nhà vua buồn không nguôi, tìm vui trong thú đi săn. Đến một hang núi, hỏi ra thì đó là hang động của người họa sĩ nọ. Vua tò mò vào xem. Vừa vào cửa động, nhà vua thấy hai bức tranh vẽ rồng treo trên hai bên vách đá, nét vẽ cực kỳ sống động. Rồng vẽ trên bức tranh như đang nhe nanh vờn vuốt!

Gió lay, hai tấm lụa chao động, nhà vua tưởng chừng hai con rồng đang lượn khúc, chào đón đấng chí tôn! Vua buột miệng: - “Thật là hảo tài hoa! phải chi nhà ngươi dâng hai bức tranh nầy cho trẫm, thì công sức đáng phong hầu!” Nói xong, bùi ngùi thương tiếc... Vào bên trong nữa,vua lại thấy hai bức tranh rồng y như hai bức tranh trước, nhưng đường nét ít hơn, vẫn không kém phần linh động. Vua nói: - “Thần bút diệu kỳ! tài ba nầy nghĩ đáng được phong vương!” Ngậm ngùi một lúc rồi đi vào tiếp, lại thấy hai bức tranh vẽ rồng y như hai lần trước, nhưng lại càng ít đường nét hơn, song, tranh toát ra sự thoát tục phi thường. Hai con rồng như ẩn, như hiện, như thăng, như giáng.

Nhà vua rụng rời tay chân, nghẹn lòng thốt lên: - Ôi! tài hoa nghìn năm khó thấy, chia đôi thiên hạ cũng chưa vừa! Ta đã hại lầm người rồi!” Lại bước vào thêm nữa thì.... vua thấy hai tấm lụa, nhưng trên đó không vẽ hai con rồng như 3 lần trước, mà chỉ vẽ có hai sọc dài từ trên xuống dưới y như hai “bức tranh” mà họa sĩ dâng vua ngày nào! Thấy thế, nhà vua suy nghĩ, tần ngần nhìn mãi, nhìn lâu thấy hai lằn vẽ ấy hóa ra hai con rồng đang bay lượn trên lụa. Vua lắc đầu, thở dài ngao ngán cho sự kém hiểu biết của mình!

Từ đó, người ta mới hiểu thêm rằng, cái NGU không chỉ có ở hàng dân giả mà còn hiện diện ở nhiều giai tầng khác trong xã hội con người.

Thái Quốc Mưu

User avatar
Dau Do
Posts: 445
Joined: Sat Dec 11, 2004 3:00 am

Post by Dau Do »

Sài Gòn và Tuổi Thơ Tôi
Tôi xa quê hương ở vào tuổi không quá trẻ dại để dễ quên và cũng không quá già để chỉ dành toàn thời giờ cho một điều mất mát, rồi đau đớn. Tôi ở vào tuổi mà khi bước đến vùng đất mới, đời sống đã như lôi tôi đi trong một cơn lốc trên những con đường khác nhau trước mặt, hầu như không ngưng nghỉ. Tôi chóng mặt, nhưng tôi vẫn biết tôi là ai và tôi ở đâu trên quê người, nên những lúc tôi phải ngưng lại để thở là những lúc hồn quê nôn nao thức dậy trong tôi.

Mỗi lần nhớ đến quê nhà là nhớ đến Sài Gòn trước tiên. Sài Gòn không phải là phần đất dành riêng cho người miền Nam nữa, đối với người miền Bắc di cư vào Nam năm 1954, người Trung chạy giặc năm 1968 thì Sài Gòn chính là phần đất quê nhà đáng nhớ nhất.

Tôi lớn lên, sống cả một thời niên thiếu ở Sài Gòn. Đi học, dậy thì, yêu đương, mơ mộng, làm việc, lấy chồng, khóc, cười rồi chia ly với Sài Gòn.

Tôi nhớ lại hồi bé theo bố mẹ di cư vào Sài Gòn. Ba tôi làm việc ở Nha Địa Chánh, nên từ những căn lều bạt trong trại tiếp cư Tân Sơn Nhất, gia đình tôi được dọn vào ở tạm một khu nhà ngang trong sở của Ba ở số 68 đường Paul Blancy( Hai Bà Trưng,) sau lưng Bưu Điện. Tôi đi học, đi bộ băng qua hai con đường là tới trường Hòa Bình, bên hông nhà thờ Đức Bà. Tôi vào lớp Ba. Ngày đầu tiên cắp sách đến lớp, ma sơ dĩ nhiên là người Nam, hồi đó còn mặc áo dòng trắng, đội lúp đen. Sơ đọc chính (chánh) tả:

Hoa hường phết (phết là dấu phẩy)

Cái tai của con bé con Bắc kỳ không quen với phát âm miền Nam nên “hoa hường” thành “qua tường” và phết thành một chữ nữa. tôi viết: Qua tường phết.
Bài chính tả dài một trang của tôi chắc chắn là ăn một con số 0 mầu đỏ to tướng vì nguyên bài bị gạch xóa bằng mực đỏ lè. Tôi như một người ngoại quốc nghe tiếng Việt. Nhưng tôi học thuộc lòng trong sách thì giỏi và thuộc nhanh lắm. Khi khảo bài tôi được điểm tốt, mặc dù bạn học chung lớp khó hiểu con nhỏ Bắc kỳ đọc cái gì. Ma sơ cứ nhìn sách, nghe tôi đọc làu làu, biết là tôi có thuộc bài. Tôi nhớ một bài học thuộc lòng về thành phố Sài Gòn như thế này:

Sài Gòn vòi nước bùng binh
Này bảng báo hiệu này vòng chỉ tên
Trụ đèn, giây thép, tượng hình
Lính canh, cảnh sát giữ gìn công an
Mặc dầu đường rộng thênh thang
Ngựa xe đi lại luật hành phải thông
Mặc dầu đường rộng mênh mông
Mũi tên chỉ rõ bảng trông dễ tìm
Trần Hưng, Lê Lợi, Chu Trinh…


Trần Hưng là đường Trần Hưng Đạo, Chu Trinh là đường Phan Chu Trinh, viết tắt trong bài học thuộc lòng. Từ bài học đó, tôi hiểu được hai chữ “bùng binh” là gì.

Ngôi trường đó tôi chỉ học hết lớp ba, sau đó Ba Mẹ tôi tìm được nhà ở bên Thị Nghè, tôi được đi học lớp nhì, lớp nhất ở trường Thạnh Mỹ Tây, có rất nhiều bạn cũng Bắc kỳ di cư như tôi.

Kỷ niệm về Sài Gòn tôi nhớ nhất là lần đầu tiên con bé Bắc kỳ tròn xoe mắt, nhìn thấy đồng bạc xé làm hai, nếu chỉ muốn tiêu một nửa. Mua cái bánh, gói kẹo nào cũng chỉ xé hai đồng bạc. Xé rất tự nhiên, tiền mới hay tiền cũ gì cũng xé. Người mua xé, mua; người bán xé để trả (thối) lại. Tôi đã biết bao lần, vào những buổi tối mùa hè, mẹ cho một đồng, hai chị em mua ngô (bắp) nướng của người đàn bà, ngồi dưới chân cột đèn điện trước cửa sở Địa Chánh với cái lò than nhỏ xíu, bán bắp nướng quẹt hành mỡ. Dưới ánh sáng hắt lờ mờ của bóng đèn từ trên cao xuống, cái lò than nhỏ xíu, thơm lừng mùi bắp non. Gọi là lò, thực sự chỉ có mấy cục than hồng để trong một miếng sắt cong cong, bên trên có cái vỉ bằng giây thép, rối tung, những cái bắp được xếp lên đó, bà bán hàng trở qua, lật lại. Đôi khi cũng là một cái lò gạch nhỏ đã vỡ, mẻ mất mấy miếng rồi, không thể kê nồi trên đó, bà hàng mang ra để nướng bắp. Hai chị em đứng líu ríu vào nhau (anh và chị lớn không có tham dự vào những sinh hoạt của hai đứa em nhỏ này), cầm tờ giấy bạc một đồng, đưa ra. Tôi luôn luôn ngần ngừ không dám xé, đưa cho bà bán hàng; bà cầm lấy, xé toạc làm hai, khi tôi chỉ mua một cái bắp. Bà đưa phần nửa tiền còn lại để chúng tôi có thể cất đi, tối mai lại ra mua bắp nữa. Mỗi lần thấy đồng bạc bị xé, tuy không phát ra tiếng động, tôi cũng giật mình đánh thót một cái như nghe thấy đồng bạc của mình bị bể hay bị gẫy. Cảm tưởng như mất luôn cả phần tiền đưa ra và phần giữ lại. Phải mất bao nhiêu lần nhìn đồng tiền bị xé mới quen mắt cái hình ảnh “Đồng bạc xé hai” này và tin là nửa kia vẫn dùng mua bán được.

Bẻ cái bắp làm đôi, tôi với em tôi chia nhau. Ngon ơi là ngon! Bắp dẻo, thơm mùi lửa than, thơm mùi hành mỡ. Chị em tôi ăn dè xẻn từng hạt bắp một. Ăn xong chúng tôi dắt nhau đi tìm ve sầu ở những thân cây me trong bóng tối. Buổi tối ve sầu mùa hạ, chui ở đất lên, bò lên các thân me, lột xác. Chúng tôi bắt những con chưa kịp lột cho vào cái hộp (không) bánh bích quy đã mang theo sẵn, đó là những con ve mới ngơ ngác bò lên khỏi mặt đất, mang về nhà. Thuở thơ dại những trò chơi này là cả một thế giới thơ mộng và đầy hấp dẫn. Chị em tôi mang hộp ve sầu vào giường ngủ, ban đêm những con ve này sẽ chui ra bò lên màn, lột xác. Đêm chúng tôi đi vào giấc ngủ, thì ve chui ra, lột xác xong bỏ lại những vệt dài nhựa thâm đen trên những cánh màn tuyn trắng toát. Khi chúng tôi thức dậy nhìn thấy, chưa kịp dụi mắt tìm mấy con ve, đã thấy mẹ đứng ở ngoài màn với cái chổi phất trần trên tay. Chúng tôi chưa bị roi nào thì đã có bố đứng bên, gỡ cái chổi ở tay mẹ mang đi, trong lúc những cái lông gà trên chổi còn đang ngơ ngác.

Sài Gòn còn cho tuổi thơ của chúng tôi biết thế nào là cái ngọt ngào, thơm, mát của nước đá nhận. Trong sân trường tiểu học của trường Thạnh Mỹ Tây, tôi được ăn cái đá nhận đầy mầu sắc đầu tiên. Một khối nước đá nhỏ, đặt trên một lưỡi dao bào, bào vào cái ly bên dưới, khi đầy ly, ông bán hàng ấn (nhận) nước đá ép xuống, đổ ngược ly lại, lấy cái khối nước đá xôm xốp, có hình dáng cái ly ra. Rắc si-rô xanh đỏ, có khi còn có mầu vàng và mầu xanh lá cây với vị bạc hà nữa. Gọi là nước đá nhận. Học trò trẻ con, bạn thân, sung sướng chia nhau ở sân trường, mỗi đứa mút một cái, chuyền tay nhau. Nước đá nhận, bánh kẹo ở sân trường trong những giờ ra chơi đều được mua bằng đồng bạc xé hai này.

Ba tôi bảo cầm đồng tiền xé hai một cách tự nhiên như thế quả là một điều rất dung dị, xuề xòa, dễ dãi mà chỉ người miền Nam mới có được. Xé tiền mà như xé một tờ giấy gói hàng, giấy gói bánh, như xé một tờ báo. Mảnh xé ra có giá trị lúc đó, mảnh còn lại cũng vẫn còn giá trị sau này. Người Hà Nội cầm tờ giấy bạc rách, thì vuốt cho thẳng thắn lại, có khi lấy hạt cơm dẻo miết lên chỗ rách cho dính vào nhau, rồi cẩn thận gấp lại trước khi cho vào túi. Một thời gian sau, tiền không xé nữa, được thay bằng đồng bạc 50 su bằng nhôm, hình tròn, một mặt có hình tổng thống Ngô Đình Diệm, mặt sau là hình khóm trúc. (Biểu hiệu cho:Tiết Trực Tâm Hư)
Cuộc di cư 1954 đó giúp cho người Việt hai miền Nam, Bắc hiểu nhau hơn. Người Bắc sống và lớn lên ở Sài Gòn ở thế hệ chúng tôi học được cái đơn sơ, chân phương của người miền Nam và ngược lại những bạn học người Nam của tôi cũng học được cách ý tứ, lễ phép (đôi khi đến cầu kỳ) của người miền Bắc. Tôi đã được nghe một người miền Nam nói: Sau 1975 thì chỉ có những người Bắc di cư 54 là đồng bào của người miền Nam mà thôi. Hóa ra những người Bắc sau này ở ngoài cái bọc (đồng bào) của bà Âu Cơ hay sao? Nếu thật sự như thế thì thật đáng buồn!

Sài Gòn đầu thập niên sáu mươi vẫn còn có xe ngựa, đưa những bà mẹ đi chợ. Người xà ích lúc đó chưa biết sợ hãi trên những con đường còn mù sương buổi sáng. Tiếng lóc cóc của móng ngựa chạm xuống mặt đường như đánh thức một bình minh. Tôi nhớ có chỗ gọi là Bến Tắm Ngựa, mỗi lần đi qua, hôi lắm. Sau vài mươi năm xe thổ mộ ở Sài Gòn không còn nữa, chỉ còn ở lục tỉnh.

Sài Gòn với xích lô đạp, xích lô máy, taxi, vespa, lambreta, velo, mobilette là những phương tiện di chuyển mang theo đầy nỗi nhớ. Kỷ niệm thơ mộng của một thời trẻ dại, hương hoa và nước mắt. Sài gòn với những cơn mưa ập xuống thình lình vào tháng năm tháng sáu, tiếng mưa khua vang trên những mái tôn, tắm đẫm những hàng me già, ướt sũng những lối đi vào ngõ nhà ai, Sài Gòn với mùa hè đỏ rực hoa phượng vĩ in xuống vạt áo học trò, với những hoa nắng loang loang trên vai áo bà ba của những bà mẹ là những mảng ký ức ngọt ngào trong tâm của chúng tôi.

Mỗi tuổi đời của tôi đi qua như những hạt nắng vàng rắc xuống trên những hàng me bên đường, như mưa đầu mùa rụng xuống trên những chùm hoa bông giấy. Những tên đường quen thuộc, mỗi con phố đều nhắc nhở một kỷ niệm với người thân, với bạn bè. Chỉ cần cái tên phố gọi lên ta đã thấy ngay một hình ảnh đi cùng với nó, thấy một khuôn mặt, nghe được tiếng cười, hay một mẩu chuyện rất cũ, kể lại đã nhiều lần vẫn mới. Ngay cả vệ đường, chỉ một cái bước hụt cũng nhắc ta nhớ đến một bàn tay đã đưa ra cho ta níu lại.

Âm thanh của những tiếng động hàng ngày, như tiếng chuông nhà thờ buổi sáng, tiếng xe rồ của một chiếc xích lô máy, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng chuông leng keng của người bán cà rem, tiếng gọi nhau ơi ới trong những con hẻm, tiếng mua bán xôn xao khi đi qua cửa chợ, vẻ im ắng thơ mộng của một con đường vắng sau cơn mưa… Làm lên một Sài Gòn bềnh bồng trong nỗi nhớ.

Sài Gòn mỗi tháng, mỗi năm, dần dần đổi khác. Chúng tôi lớn lên, đi qua thời kỳ tiểu học, vào trung học thì chiến tranh bắt đầu thấp thoáng sau cánh cửa nhà trường. Đã có những bạn trai thi rớt Tú Tài phải nhập ngũ. Những giọt nước mắt đã rơi xuống sân trường. Sau đó, với ngày biểu tình, với đêm giới nghiêm, với vòng kẽm gai,với hỏa châu vụt bay lên, vụt rơi xuống, tắt nhanh, như tương lai của cả một thế hệ lớn lên giữa chiến tranh.

Sài Gòn như một người tình đầu đời, để cho ta bất cứ ở tuổi nào, bất cứ đi về đâu, khi ngồi nhớ lại, vẫn hiện ra như một vệt son còn chói đỏ. Sài Gòn như một mảnh trầm còn nguyên vẹn hương thơm, như một vết thương trên ngực chưa lành, đang chờ một nụ hôn dịu dàng đặt xuống.
Sài Gòn khi đổi chủ chẳng khác nào như một bức tranh bị lật ngược, muốn xem cứ phải cong người, uốn cổ ngược với thân, nên không còn đoán ra được hình ảnh trung thực nguyên thủy của bức tranh.

Sài Gòn bây giờ trở lại, thấy mình trở thành một du khách trên một xứ sở hoàn toàn lạ lẫm. Tôi thương Sài Gòn và thương cho chính mình, đã hư hao một chốn để về.

Trần Mộng Tú
Triệu người quen có mấy người thương

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Công dân Mỹ được lãnh tiền hưu trí Social Security tại Việt Nam

Tác Giả: Nguồn: VietatColorado

Tiền hưu trí (SSB) dành cho người từ 62 tuổi trở lên và đã làm việc được 40 quarters trở lên.

Image
Các tấm ‘check’ trả tiền hưu trí cho công dân Hoa Kỳ. Nay họ có thể lãnh ‘check’ này tại Việt Nam. (Hình: AP)
Sở An Sinh Xã Hội (Social Security Administration, viết tắt là SSA) mới đây đã duyệt lại chính sách trả tiền hưu trí (social security benefits), xin đừng lộn với tiền trợ cấp SSI (tức Supplement Security Income, dành cho người cao niên và tàn tật).

Tiền hưu trí (SSB) dành cho người từ 62 tuổi trở lên và đã làm việc được 40 quarters trở lên.
Trước đây, Bộ Tài Chính Hoa Kỳ không cho phép sở SSA gửi tiền hưu cho công dân Hoa Kỳ nếu sống lâu dài tại một trong các nước Cuba, Cambodia và Việt Nam. Nghĩa là SSA sẽ giữ tiền hưu của họ và hoàn trả lại toàn bộ số tiền bị giữ lại đó khi đương sự trở về Mỹ hoặc tới một quốc gia không nằm trong danh sách bị Bộ Tài Chính yêu cầu phong tỏa.

Nay Bộ Tài Chính Hoa Kỳ đã rút Việt Nam và Cambodia ra khỏi danh sách 3 nước nói trên, nghĩa là nếu ở lại Việt Nam lâu dài thì có thể yêu cầu sở SSA gửi “check” tiền hưu của mình về một địa chỉ ở Việt Nam.

Nhưng cách nhận “check” an toàn nhất là yêu cầu SSA chuyển thẳng tiền hưu của mình vào trương mục (bank account) của mình. Có 3 ngân hàng Mỹ có chi nhánh ở Việt Nam là Citi Bank, US Far East National Bank và JP Morgan Chase Bank. Người nhận lương hưu có thể rút tiền ra từ các ngân hàng này tại Mỹ hoặc Việt Nam.
Trong khi đó người lĩnh tiền SSI (dành cho người cao niên và tàn tật), dù có quốc tịch Mỹ đi nữa, vẫn bị ràng buộc bởi luật không được tiền trợ cấp SSI trong thời gian ở ngoài Hoa Kỳ. Như thế nào bị coi là ở ngoài Hoa Kỳ?
Nếu không sống tại một trong 50 tiểu bang, hoặc thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, hay Puerto Rico, U.S. Virgin Island, Guam, Northern Mariana Islands, American Samoa 30 ngày trở lên là bị coi như ở ngoài nước Mỹ.

Do đó, nếu ai ra khỏi Mỹ quá 30 ngày trở lên là những ngày đó bị cắt tiền trợ cấp (cao niên và tàn tật) SSI, khi trở lại Mỹ phải sau 30 ngày mới được cấp SSI trở lại.

Sau đây là một số thắc mắc chung về tiền hưu trí SSB (xin nhắc lại tiền hưu trí khác với SSI, như đã nói ở trên).

- Người có quốc tịch Mỹ sống ở nước ngoài Hoa Kỳ bao nhiêu lâu cũng được và không hề mất tiền hưu trí.
- Nếu người được hưởng tiền trợ cấp vì là người góa chồng/góa vợ hay con vị thành niên của người thụ hưởng tiền hưu trí, mà không có quốc tịch Mỹ, thì phải sống ở Mỹ từ 5 năm trở lên thì tiền hưu trí “ăn theo” mới không bị cắt trong thời gian sống ở ngoài nước Mỹ.

- Khi sống ở nước ngoài phải báo cho SSA (bằng điện thoại, thư) hoặc cho sứ quán Mỹ, nếu: thay đổi địa chỉ; làm việc ở nước ngoài; kết hôn; ly dị; nhận con nuôi; con không sống với bố, mẹ; con vị thành niên sắp đủ 18 tuổi vẫn còn đi học hay trở thành tàn tật; qua đời.

Nếu hưởng tiền hưu theo chồng/vợ thì khi ly dị phải báo cho SSA biết. Ðiều đó không có nghĩa là mình sẽ bị mất tiền hưu “ăn theo vợ/chồng.”

Nếu ở 62 tuổi trở lên và hôn thú đã được 10 năm trở lên và không lập gia đình mới thi dù có ly dị vẫn không mất tiền hưu (ăn theo vợ/chồng).

Nếu lãnh tiền hưu theo vợ/chồng khi đủ tuổi hưu toàn phần thì tiền hưu ăn theo được 50% tiền hưu của người phối ngẫu.

Tuổi hưu toàn phần là 65 nếu sinh từ 1937 trở về trước. Nếu sinh từ 1938 trở về sau thì tuổi hưu toàn phần là 65+2 tháng cho mỗi năm sau đó. Nếu lấy tiền hưu khi 65 tuổi (nếu tuổi hưu toàn phần là 66 tuổi) thì chỉ được 46%, 64 tuổi : 42%; 63 tuổi 37,5% và 62 tuổi chỉ được 35%.

- Tiền trợ cấp cho con vị thành niên của người hưởng tiền hưu sẽ bị cắt khi đứa nhỏ đủ 18 tuổi ngoại trừ trường hợp nó vẫn còn độc thân và còn đi học toàn thời gian ở trường tiểu học hoặc trung học, hoặc bị tàn tật.

- Công dân Hoa Kỳ hoặc thường trú nhân thì có thể 85% tiền hưu trí bị đánh thuế. Nếu tổng số lợi tức cá nhân từ $25,000 tới $34,000 thì 50% tiền hưu của mình sẽ phải đóng thuế, trên $34,000 thì 85% tiền hưu bị đánh thuế. Nếu vợ chồng khai thuế chung, nếu tổng số lợi tức của hai vợ chồng từ $32,000 đến $44,000 thì 50% tiền hưu bị đánh thuế, trên $44,000 thì 85% tiền hưu bị đánh thuế.

- Tiền hưu tối đa của năm 2010 là bao nhiêu? Nếu quý độc giả đã 66 tuổi và lĩnh tiền hưu năm 2010 thì tiền hưu tối đa của bạn là $2,346/tháng nếu sau khi 21 tuổi năm nào cũng đóng FICA tối đa. Tiền FICA tối đa của năm 2010 là $106.800. (có nghĩa là cho dù bạn có lợi tức cả bạc triệu một năm thì bạn cũng chỉ đóng FICA cho $106.800 đầu của bạn thôi, số tiền sau $106.800 không bị đóng FICA.)

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Châm Chích Ngôn Tự hào -hãnh diện từ bàn tay trắng , ta tạo nên ... vô số nợ .
- Ai cũng tưởng em điên , chứ thực ra em điên lắm !!!
- Thất bại vì ngại thành công ...
- Đừng bi quan , trong cái rủi nó còn có cái xui ...
- Đẹp trai , nhà giàu , có ... xe đạp riêng .
- Đánh nhau là tinh thần thể thao . Đạp nhau xuống ao lại là tinh thần bơi lội ...
- Không cần mình đẹp ... Chỉ cần người khác xấu .
- Có khi nào trên đường đời tấp nập . tui zô tình vấp phải bịch KIM CƯƠNG .
- Ngu không phải là cái tội, mà cái tội là không biết mình ngu !
- Sống là phải cho đi ! Hãy cho đi tất cả những gì bạn có , rồi hối hận nhận ra đòi lại sẽ rất khó !
- Không bao giờ bán đứng bạn bè khi chưa được giá

Phụ nữ giống như người dự báo thời tiết: Chỉ nhận là mình đoán thiếu chính xác chứ không sai.
Phụ nữ giống như cuốn tiểu thuyết: có mở đầu chứ không có kết thúc.
Phụ nữ giống như bức tranh trừu tượng mà mãi 300 năm sau cũng chẳng ai hiểu được.

Phụ nữ giống như chiếc tháp có rất nhiều lối vào, nhưng không tìm được lối ra.
Phụ nữ là một bản nhạc dài không có các nốt trầm.
Phụ nữ do Thượng đế sáng tạo ra nhưng chính Người cũng không hiểu được tác phẩm của mình.
Một người phụ nữ toàn diện: sáng diện, trưa diện, chiều diện, tối diện.

sưu tầm

nuoclanh
Posts: 2
Joined: Mon Dec 06, 2004 1:54 am
Has thanked: 1 time

Post by nuoclanh »

dauden wrote:
Một người phụ nữ toàn diện: sáng diện, trưa diện, chiều diện, tối diện.
rollingonthefloor rollingonthefloor rollingonthefloor rollingonthefloor

User avatar
Dau Do
Posts: 445
Joined: Sat Dec 11, 2004 3:00 am

Post by Dau Do »


Cuối năm hàng ế ẩm nên Quán Sinh Tố tăng cường quảng cáo, ngày mai mua 1 tặng 1 mại dzô mại dzô :


Image
Triệu người quen có mấy người thương

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image
Mời Nghe nhạc phẩm bất hủ The God Father
qua hai tiếng kèn saxo và clalrinet độc đáo của Patrik Ziga và Felix Slovacek


Please open LINK

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

“Qua đình ngả nón trông đình”

Tác giả: Tương Lai

Trong sâu thẳm tâm thức người Việt, hình ảnh mái đình cây đa luôn ở vào cung bậc nhạy cảm nhất và có sức gợi nhớ mãnh liệt. Bất cứ người Việt nào cũng có, và cần có, một vùng quê để thương để nhớ. Thật bất hạnh cho ai đó không có được một “vùng thương nhớ” ấy trong hoài niệm tuổi thơ. Mà đã là hoài niệm, thì cho dù nơi ấy có cơ cực tủi nhục đến đâu, có xơ xác lam lũ thế nào, có để lại những dấu ấn buồn đau đến mấy, thì vẫn có sức gọi dậy những vang bóng một thời đầy ắp những kỷ niệm mông lung, ấm áp.

Về làng, ta về làng, hai tiếng ấy giục giã đến nao lòng những người vì cuộc mưu sinh, vì một sự nghiệp phải xa quê. "Ai về làng cũ hôm nay, Thư này đưa hộ cho thày mẹ tôi. Con đi mười mấy năm trời, Một thân bé bỏng, nửa đời gió sương... Con đi năm ấy tháng tư, Lúa chiêm xấp xỉ giỗ từ tháng ba. Con đi quạnh cửa quạnh nhà, Cha già đập lúa, mẹ già giũ rơm. Cha dậm gạo, mẹ vần cơm, Có con, con vắng, ai làm thay cho" (Nguyễn Bính).
Mà đã về làng thì làm sao có thể không nhớ, không thăm cái đình. "Trúc xinh trúc mọc bên đình, em xinh..." đấy là cái hồn cốt của làng đã thăng hoa trong cảm thức thẩm mỹ dân tộc với những hình tượng độc đáo xao động lòng người, chứ cái đình thường giữ một vị trí trang trọng trong ý thức dân làng. "Cái đình là trung tâm của làng. Làng nào cũng có đền thờ ông thần hoàng. Đình được cất cao ráo khang trang, thế tất theo phong thủy, nơi phong quang nhất làng", Tô Hoài luận về "cái đình làng" trong Chuyện cũ Hà Nội như vậy. Hãy nghe người kể chuyện cũ rất có duyên ấy nói về cái đình làng: "Ở đình... có ngai thờ ông thần hoàng thiêng liêng, uy nghi. Ông thần trông coi làng sáng soi trên đầu mọi người. Thần hoàng đã xuất hiện từ nghìn xưa, mọi triều đại thay đổi, nhưng vua đời nào cũng phong sắc cho thần hoàng làng. Các vị thượng đẳng phúc thần được tế lễ thờ phụng là nhân vật tiền sử như Thánh Gióng, có khi là những anh hùng có thật. Lý Thường Kiệt, đức thánh Trần, Phạm Ngũ Lão, bà Ỷ Lan. Có khi là người vô danh chết vào giờ linh được hiển thánh...".

Trong Việt Nam văn hóa sử cương xuất bản năm 1938, học giả Đào Duy Anh chỉ rõ: "Đối với dân làng, thần Thành hoàng là biểu hiện của lịch sử, phong tục, đạo đức, pháp lệ cùng hy vọng chung của cả làng, lại cũng là một thứ quyền uy siêu việt, một mối liên lạc vô hình, khiến cho hương thôn thành một đoàn thể có hệ thống và tổ chức chặt chịa". Chỉ riêng tục "hèm" ở khá nhiều làng quê cũng cho thấy nét độc đáo của tín ngưỡng dân gian có một sức bền vững kỳ lạ, càng thần bí, kỳ quặc bao nhiêu càng bảo lưu được những nét dáng nguyên sơ trong việc thờ thành hoàng.


Cụ Đào miêu tả hiện tượng ấy như sau: "Trong lễ vào đám hay vào hội của ít nhiều làng, có một nghi tiết đặc biệt gọi là hèm, người ta thường bày một trò để nhắc lại tình sự nghiệp hoặc sinh bình của vị thần làng thờ. Ví dụ khi vào đám lễ thần ăn trộm thì ban đêm con trai con gái trong làng đốt đuốc đi xung quanh đình giả tìm kẻ trộm, trong khi ấy người thủ từ lấy tượng thần đưa qua lỗ ngạch, có ông tiên chỉ đứng chực sẵn ở phía ngoài nắm lấy cổ tượng thần đấm ba đấm rồi bỏ lên kiệu rước lại vào đình". "Hèm" nhằm trình diễn một biểu tượng đặc trưng về cuộc đời, một nét tính cách đặc biệt của vị thành hoàng làng, vị thần bảo trợ cho cộng đồng làng, khẳng định tính riêng biệt độc đáo của cộng đồng ấy. Ẩn chìm trong màn sương hư ảo của tín ngưỡng mang tính huyền bí là bóng dáng của sức cố kết cộng đồng trong tâm lý làng xã được thăng hoa, bụi thời gian dần dà phong kín cái cốt lõi hiện thực của cuộc sống làng quê.

Trong dòng chảy thời gian ấy, với bao biến thiên của lịch sử và những đảo lộn xã hội, cái làng quê đã bị xáo động dữ dội, những lễ tục ấy rồi cũng đã nhạt nhòa, may lắm chỉ còn được gợi lại trong hồi ức của một lớp người nay đã ngày càng hiếm. Tuy nhiên, dù có chìm vào quên lãng, rồi đây lớp người "cổ lai hy" hôm nay không còn nữa, thì hồi ức ấy vẫn còn đọng lại trong nền văn hóa làng vốn là nguồn sinh khí nuôi dưỡng bản sắc văn hóa dân tộc. "Cái đình làng", dù có "trúc xinh mọc bên đình" hay không, thì "mỗi cái cây ở thôn xóm cũng như con người đều mang sự tích cuộc đời và cái hồn cốt của nó" (Tô Hoài) cho nên nói chuyện về cái đình, thật ra là để nói về chuyện nền "văn hóa làng" ấy.

"Ngày qua ngày lại qua ngày. Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng. Bảo rằng cách trở đò giang. Không sang là chẳng đường sang đã đành. Nhưng đây cách một đầu đình. Có xa xôi mấy cho tình xa xôi"! Có người cho rằng, cái quy luật tất yếu và phũ phàng của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa "ngày qua ngày lại qua ngày" dường như đã vùi dập không thương tiếc nền văn hóa làng ấy. Cho dù có muốn cưỡng lại cũng chỉ là những khát khao vô vọng: "Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa, Như hôm em đi lễ chùa, Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh".

Giờ đây không chỉ là "Hôm qua em đi tỉnh về, Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều" mà là văn minh đô thị, đúng hơn, những cặn bã của nền văn minh đó đang tràn về đầu độc các chàng trai cô gái làng cho dù họ biết "thày u mình với chúng mình chân quê" (Nguyễn Bính). Lối sống "chân quê" đó đã phần nào bớt đi sự tăm tối bùn lầy nước đọng với lũy tre làng khép kín bịt che tầm mắt, chặn hết lối ra với cơ may tìm được lối thoát và sự thăng tiến xã hội. Nhưng rồi cái thứ cặn bã văn minh đô thị nói trên lại đầu độc làng quê ta theo một kiểu khác không kém phần thảm thương để rồi, một nhà thơ thảng thốt kêu lên: "Những nền tảng của văn hóa truyền thống ở các làng quê đã biến dạng và bị phá vỡ. Cái quan hệ hàng xóm láng giềng có được trong truyền thống tốt đẹp lâu đời của văn hóa làng Việt Nam mỗi ngày một mất đi những vẻ đẹp và tính nhân văn của nó. Làng quê Việt Nam bây giờ "ông chẳng ra ông thằng chẳng ra thằng". Phố cũng không phải phố mà làng cũng không phải là làng" (Nguyễn Quang Thiều).

Một câu hỏi đặt ra: liệu có nhất thiết buộc phải đánh đổi một nông thôn xanh tươi và hài hòa với thiên nhiên, nơi ấp ủ nền văn hóa truyền thống dân tộc để đổi lấy một nông thôn tàn tạ, nham nhở, phố không ra phố, làng chẳng ra làng không? Câu hỏi đó như một điệp khúc buồn day dứt, cứ trở đi trở lại mãi khi bàn về vấn nạn nông thôn, đặc biệt khi nói về nền văn hóa làng.
Những tổn thương nặng nề trong chiến tranh, nhất là những vết thương trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức ở miền Bắc cuối những năm 50 thế kỷ XX chưa kịp kín miệng, lên da non, thì những sai lầm của chủ nghĩa giáo điều duy ý chí trong việc áp đặt mô hình kế hoạch hóa tập trung bao cấp, cùng với việc hối hả thúc đẩy quá trình tập thể hóa nông nghiệp với hợp tác xã bậc thấp rồi hợp tác xã bậc cao, tiếp tục làm cho nó lở loét thêm, thúc đẩy sự biến dạng và tàn tạ của nền văn hóa làng. Và rồi, với tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa chưa có một định hướng hợp lý đã đẩy nhanh thêm quá trình tan rã và biến dạng của nền văn hóa làng đó. Không khéo lần công phá dữ dội của làn sóng đô thị hóa và công nghiệp hóa kỳ này, nếu không có một chuyển đổi về nhận thức và đường lối, sẽ là đòn trí mạng làm sụp đổ hẳn nền văn hóa làng. Mà cần nhớ rằng, làm sụp đổ nền văn hóa làng, tức là nhổ bật cái gốc của văn hóa Việt Nam với cấu trúc chặt chẽ của ba nhân tố: văn hóa nhà, văn hóa làng và văn hóa nước, cái làm nên bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Để cảm nhận được đầy đủ điều ấy, phải ngược dòng lịch sử mà hiểu ra rằng trong cái thế kẹt của vị thế địa chính trị "trứng nằm dưới đá" Việt Nam muốn tồn tại và phát triển phải rèn cho mình bản lĩnh có cứng mới đứng được đầu gió, dám tự khẳng định mình, sớm rèn luyện bản lĩnh "dám là mình". Không có phẩm chất đó thì dân tộc này đã không thể tồn tại chứ chưa nói đến phát triển. Biết bao lần ngoại bang đã muốn biến nước ta thành quận huyện của chúng, thậm chí chỉ là một xứ thuộc mẫu quốc ở tít tắp bên kia đại dương, xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới. Để thực hiện mục tiêu đó, trước hết phải tiêu diệt ý chí đề kháng được hun đúc trong nền văn hóa vốn là nguồn sức mạnh bất tận của dân tộc Việt Nam. Ngoại bang không sao đồng hóa được dân tộc này vì chúng có thể chiếm giữ được nước (thủ đô, huyết mạch giao thông) song không sao chiếm được làng, không làm băng hoại được nền văn hóa làng. Còn làng thì còn nước, sự gắn kết làng - nước là sức sống bất tận của dân tộc ta. Cốt lõi của sức sống đó là gì, chất xi măng gắn kết mọi con người trong cộng đồng dân tộc này là gì, nếu không phải là văn hóa - sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được để không ngừng phát triển và lớn mạnh.

Ấy thế mà thật oái oăm, những cơn binh lửa tàn phá thành tựu của nền văn hóa dân tộc "...Lửa đốt sạch, than ôi vận nước, sách vở đi đời. Muốn tìm sự tích sau cơn khói lạnh tro tàn, thật rất khổ tâm về nỗi nét sai, chữ sót..." mà sử gia Ngô Sĩ Liên từng xót xa. Nhưng nếu nghiêm khắc phân tích kỹ, chiến tranh chỉ có thể thiêu hủy những thành tựu văn hóa vật thể, khi cơn binh lửa qua đi vẫn có thể trùng tu, xây dựng lại, còn những hủy hoại đã diễn ra từ sau những năm 50 thế kỷ XX trở lại đây như đã trình bày, thì không chỉ những di sản văn hóa vật thể mà cùng với chúng, những di sản văn hóa phi vật thể, đời sống tâm linh, nơi sâu thẳm của tâm hồn con người, có ý nghĩa khơi động, dẫn dắt ý nghĩ và hành động hướng thiện của con người đã bị xúc phạm dữ dội.

Trùng tu, đúng, phải trùng tu ngôi đình. Nhưng trước hết có lẽ phải "trùng tu" cái đầu còn hời hợt trong suy nghĩ về di sản của ông cha để lại.
Hãy nhìn vào ngôi đình làng, ngôi chùa làng, trừ một số ít được giữ gìn hoặc đang được trùng tu, còn lại thì đang tàn tạ, tiêu điều! Bằng nhận thức ấy mới thấy cần phải trả lại cho chúng cái chức năng văn hóa trong đời sống tinh thần của người Việt Nam. Liệu có thể đánh thức cảm quan thẩm mỹ "Qua đình ngả nón trông đình. Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu" và biết xao động với hình ảnh "Sư già quét lá sau chùa, Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông". Hoài cổ ư? Có thể.

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Đại Hạ Giá Thời buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ? Sách vở, quần áo, đồ điện tử v...v... hạ giá! Tôi cầm mảnh bằng đại học cạy cục mãi chưa tìm ra việc làm, cũng nhào ra vỉa hè bán sách đại hạ giá. Từ Victor Hugo, Lev Tolstoy, Tagore, Dostoievski... đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng... cả thảy đều bị “hạ” nằm la liệt. Lắm lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi từng “vang bóng một thời”, tôi thầm hỏi:

- Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị?
Cách đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày. Một cuốn là “Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh do Khai Trí tái bản. Cuốn kia là “Petit Larousse Illustré” in tại Paris năm 1973. Sách còn tinh tươm lắm, hẳn chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này đây, gặp loại khách biên biết, bán cũng được lời.

Ngoài bìa và một số trang ruột của mỗi cuốn, đều có ấn dấu son hình ellipse: “Bibliothèque - Đô Bi - Professeur”. À, té ra ông lão vốn từng là giáo chức. Thảo nào! Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn những tài liệu - tài sản phải đứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần rồi ông mới dắt chiếc xe đạp cà tàng đạp về. Mắt ông đỏ hoe. Lòng tôi chợt se lại!

Chiều 25 Tết. Ngồi cạnh các danh tác tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy. Qua đường không ai thấy lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ thơ Vũ Đình Liên. Nhưng bụi đường thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường như tôi. - Anh mua bánh bò, bánh tiêu?
Một chị hàng rong đến mời. Tôi lắc đầu. Bỗng chị sững người chăm chú nhìn vào hai bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến cuốn kia lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai. Ngần ngừ lúc lâu, chị nói:
- Anh có bán... trả góp không?
- Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách vở, sách đại hạ giá ai đời bán trả góp? Vả lại, tôi nào biết chị là ai, ở đâu?
- Tôi cần mua cả hai - chị nói tiếp - xin anh giữ, đừng bán cho người khác. Khi nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm làm ơn giúp tôi.

Thấy lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Đô Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong. Chị Tám (tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của thầy, bèn nảy ý chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục. Song, bán bánh bò bánh tiêu nào được bao nhiêu, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần nên chị xin trả góp.

Tôi cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám:
- Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết cho thầy. Tôi cũng xin lại đúng số vốn mà thôi, chị à.
- Nhưng...
- Đừng ngại, chị trả góp dần sau này cũng được.

Chị lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền.
- Chao ôi, quý hóa quá! Cảm ơn... cảm ơn... anh nhe!

Mai lại, chị Tám trả góp tiếp. Chị kể :
- Thầy Bi thảm lắm... Gần Tết, cô lại ngã bệnh... Thầy nhận sách, mừng mừng tủi tủi tội ghê, anh à!... Thầy cũ trò xưa khóc, khóc mãi !!!

Tôi vụt muốn nhảy cỡn lên và thét to: “Hỡi ông Victor, ông Lev, ông Dostoievski... ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô... ơi! Có những thứ không bao giờ hạ giá được! Có những người bình thường, vô danh tiểu tốt nhưng họ lại có những kiệt tác không hạ giá nổi, đó là ...‘Tấm lòng’ ”.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Đường cao tốc chọc thủng nhà cao 16 tầng Kinh ngạc tòa nhà bị đường cao tốc "chọc thủng"...
Đất nước Nhật Bản luôn luôn có những điều thú vị, độc đáo không thể tìm thấy ở nơi khác.

Một trong những tòa nhà kỳ lạ gây sửng sốt ở Nhật Bản là Gate Tower Building ở Osaka. Tầng thứ 5, 6 và 7 của tòa nhà cao 16 tầng này bị chiếm dụng để những con đường cao tốc chạy xuyên qua. Bảng thông tin ở tầng trệt ghi rõ chủ thuê của 3 tầng này là tập đoàn Đường cao tốc Hanshin. Nếu bạn có cơ hội đến tham quan ngôi nhà này thì đừng có lo, bởi vì đương nhiên thang máy sẽ tự động bỏ qua 3 tầng này và cho bạn đi thẳng các tầng khác.

Thực tế, Gate Tower Building là kết quả của một thỏa hiệp bất thường giữa chủ đất và chính phủ Nhật. Để có được công trình độc nhất vô nhị này, năm 1983 tập đoàn Đường cao tốc Hanshin đã phải thương thuyết với chủ tòa nhà. Cuối cùng, sau gần 5 năm tìm kiếm giải pháp, vào năm 1992, tòa nhà đã ra đời với 3 tầng rỗng, cho phép đường cao tốc chạy qua như bây giờ.
Image

Image

Image

Image

Image

Image

Post Reply