Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Kẻ sỹ, Tuổi trẻ và cuộc chiến truyền thông.
Bảo Giang

Viết cho Tuổi trẻ và Mạng lưới Bloggers Việt Nam.

Có một điều rất lạ, đến nay vẫn còn nhiều người chưa bươc ra khỏi cái vỏ ốc nệ cổ. Khi thấy bước chân của những người trẻ vững chải vươn lên vì tương lai của đất nước. Họ như thờ ơ, không hay, không biết, rồi nhắm mắt bảo là: Đất nước thời tang thương, dân tình khốn khổ như nô lệ, nhưng tìm không ra kẻ sỹ. Trái lại, bước ra khỏi nhà thì không biết làm cách nào để có thể tránh mặt được những Ngụy Diên, (đảng viên) tráo trở và bất lương. Chúng như bụi trên đường.!

Tôi cho rằng, cái quan niệm này là không chỉnh. Nó hoàn toàn sai ở nửa đầu và chỉ đúng ở nửa phần sau. Đành rằng, ngày này trong bước đường tranh đấu cho quê hương, chưa hề có những “đại” trí thức, ông quan to, chức lớn, quyền hành lắm, bổng lộc nhiều, dấn thân, bỏ mũ từ quan, về với dân, tranh đấu cho đất nước như những Phan dình Phùng, Nguyễn thái Học, thủ khoa Huân… và gần đây là Cụ Ngô đình Diệm đã rũ áo, bỏ chức quan trưởng bộ lại khi mới 31 tuổi vì lý do: Triều đình không thể cải tổ được gì vì bị thực dân Pháp ức chế như lời ông trình bày với vì vua cuối cùng của nhà Nguyễn:. “Ở lại chức vụ này, quả nhiên là một trò hề đau khổ cho kẻ hạ thần, mà hạ thần không thể nào kham nổi. Người Pháp đã nắm lấy hết quyền hành, họ đã cai trị trực tiếp, luôn luôn nhân danh hòa ước bảo hộ nhưng họ không lúc nào không vi phạm từng ngày, từng giờ.” Nhưng không vì thế mà thiếu kẻ sỹ vì dân vì nước. Trái lại, kẻ sỹ luôn hiện diện trong bước đi của dân tộc. Có chăng là chúng ta nệ cổ, hẹp hòi, đôi khi là ích kỷ để không nhìn ra những hy sinh của họ trước vận nước điêu linh mà thôi.

Dĩ nhiên, chẳng ai nỡ trách ai trong cái nhìn thụ động bi quan ấy. Nhưng đến lúc mọi người phải thay đổi cách nhìn tiêu cực này. Bởi vì, cái quan niệm hẹp hòi, nệ cổ ấy, xem ra là không còn hợp thời nữa. Nó không còn hợp thời vì kẻ sỹ không phải là ông quan to, quyền nhớn bỏ quan về ở ẩn, hay tìm cách phục hưng cho dân cho nước. Nhưng chính là cái sỹ khí của một con ngưòi dám đứng thẳng và nói lên lời công lý trước mặt bạo quyền! Là ngườì dám hy sinh cả sự nghiêp, tương lai đang có của mình vì lý tưởng của đồng bào. Đó mới chính là tinh thẫn của kẻ sỹ. Họ sống trong sự sống của dân. Và chết vì sự sống của đồng bào mình.

Mầu người lý tưởng này không thể có ở trong lòng chế độ cộng sản. Nghĩa là không thể có ông cán to, quyền lớn dám bỏ địa vị. danh vọng. để quay trở về với đồng bào, đề đấu tranh cho một Việt Nam Độc Lập, Tự Do, Công Lý và Nhân Quyền. Cũng chẳng có một Ngô Quyền trong hàng quân này đứng dậy chém những Kiều công Tiến, phất cờ diệt Hán để đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Quan, Lão Sơn, Bản Giốc và trục xuất tất cả những thành phần cư trú bất hợp pháp ra khỏi đất nước, đem lại thái bình ấm no cho dân cho nước. Trái lại, chỉ có những lớp ruồi trâu, chỉ có bầy đỉa bám vào đảng, vào chế độ để rúc riả máu xương người dân mà tìm sống riêng. (may ra có vài ba trường hợp bị thất sủng, cuối đời, vô quyền thì quay lại chống đảng cộng vì tiêu cực, nhưng vẩn tung hê tội đồ của dân tộc là Hồ chí Minh).

Thật ra, họ sống và chết như thế cũng không có gì lạ. Bởi vì, cộng sản sau sáu mươi năm đã xây đựng được một đế chế đảng quyền độc trị, ngồi trên đất nước, trên luật pháp, trên công quyền. Nên tất cả những thành phần nhân sự do CS đào tạo, từ trí thức, chuyên viên các ngành cho đến bần nông, chỉ biết phục dịch một cách nô lệ cho đảng quyền để được hưởng bổng lộc, quyền lợi. Ngoài ra, không hề biết đến công quyền, luân lý, nhân phẩm và phúc lợi của dân nước là gì.

Có thề nói, đó là một tập hợp bao cấp đồng sàng, giống như một công cụ là cái ống cống vô tri vô giác để chuyển nước thải. Nó chạy theo hàng ngang, hàng dọc. Phủ kín từ trên xuống dưới. Từ trung ương xuống tời tận thôn xóm, làng xã, phường khóm. Chui luồn vào trong tất cả mọi cơ sở cộng cộng, ngoài xã hội cho đến học đường, không nơi nào không có. Đặc biệt, đan kín trong hàng ngũ quân đội, công an. Ở nơi đó. họ dùng những mỹ từ “quân đội nhân dân”, “công an nhân dân” để che khuất một phương cách đào luyện, biến những người trong biên chế này thành một tập thể tuyệt đối trung thành với dối trá, với vô đạo của đảng. Sẵn sàng bán nước, tàn xát chính đồng bào của mình theo lệnh của mẫu quốc Trung cộng như HCM, PvD, TC, LD đến NVL, ĐM, LKP, LDA, NĐM… và nay là Trọng, Sang, Hùng, Dũng. Tiếp theo là những kẻ tranh công đang xếp theo thứ tự chờ thời như Hải, Nhân, Luận, Nghị, Lưu, Vịnh, Thanh, Quang, Huynh, Rúa….thì tìm đâu ra những Ngô Quyền, Ngô đình Diệm?

Trước mắt, rõ ràng là một thất vọng ghê gớm. Tuy nhiên, vận nước sẽ không mãi đi theo cái nhìn bi quan ấy. Trái lại, đất nước này không thể mãi lệ thuộc vào những thành phần “đảng sỹ” gía áo túi cơm, vô tri giác này. Trái lại, tương lai là ở trong tay người dân, những ngưòi áo vải, những kẻ sỹ sống chết vì tiền đố của đất nước. Như thế, những rào cản, những ống cống kia sớm muộn cũng bị phá vỡ, đào thải. Có còn lại, chỉ là một khối kiêu hùng Việt Nam, vĩnh viễn không bao giờ chấp nhận làm nô lệ cho CS, cho ngoại bang. Dù cái ngoại bang ấy là Tầu hay là Tây!

Thật vậy, nếu giới được gọi là sỹ phu, trí thức hôm nay chỉ là những chuyên viên nô dịch cho hệ thống đảng cộng và hoàn toàn im lặng, ăn no, ngủ yên trước những khổ đau của người dân, trước những cảnh bị Tàu răn đe, xâm lấn cõi bờ. Hay giả làm ngở trước cảnh ngoại bang giành giật thuê bao, mua đất đai, bờ biển trong nội địa Viêt Nam do chính nhà nước mà họ đang phục vụ vẽ đường, tạo ra, thì giới trẻ xem ra lại là những tinh hoa, là sức sống, đem lại nguồn an ủi, niềm tin và sức sống vào tương lai cho dân tộc Việt.

Đến nay, tuy chưa có ngày hội lớn của những người trẻ đi vì quê hương. Nhưng bóng dáng của họ đã luôn có mặt trong những sự kiện cần đến một tiếng nói trừ diệt gian dối. Nơi họ đã luôn có những tiếng “kèn loa, trống dục” như Nguyễn văn Đài, Lê thị Công Nhân, Hà Vũ , Duy Thức, Công Định, Nguyễn văn Hải, Minh Hạnh, Phong Tần, Việt Khang, Nguyễn quốc Quân, Nguyên Kha, Phương Uyên, hay 14 kiệt sỹ ở Vinh, và còn nhiều nữa. Hào khí của những ngưòi trẻ này đã tạo thành một nguồn sống rộn ràng và đáng tự hào cho đất nước. Hơn thế, từ điểm phát xuất ban đầu ấy, những Bloggers, những thế hệ trẻ Việt Nam ngày một trưởng thành trong ý thức nhân bản. Họ đi và sống vì sức sống Độc Lập của tổ quốc. Đi và sống cho sự Tự Do, Nhân Quyền, Công Lý cho đồng bào của mình. Sống và truyền đi những tiếng nói của sự thật. Đi và làm thay đổi tư duy của dân tộc sau mấy chục năm chán chường, rời rã. Đi và mở đường cho một tương lai mớí cho Việt Nam. Chính lòng hăng say, quả quyết vì quê hươg, vì dồng bào của họ là hình ảnh những kẻ sỹ của thời đại, là những tiếng nói tạo nên nghiệp cả cho quê hương mai sau. Chứ kẻ sỹ không phải là ở vài ba tiếng kêu xương ù ơ của qúy “nhà” chính trị hàng thịt!

Nói thế, không có nghĩa là chúng ta phủ nhận tinh thần kẻ sỹ trong vác vị tiền bối xưa kia. Trái lại, họ vẫn như một tấm gương còn ngàn đời soi sáng cho tuổi trẻ noi theo. Noi theo trong tinh thần phục vụ dân tộc. Nhờ họ mà những lớp ngưòi trẻ hôm nay vững chãi hơn, bền gan hơn. Nếu như không muốn nói là can trường hơn, dũng mãnh hơn trong sự nghiệp cứu quê hương thoát nạn cộng sản, thoát khỏi bàn tay xâm lược từ bắc phương.

Thật vậy, họ được sinh ra vào thời hậu chiến, trong hoàn cảnh đất nước còn đầy dẫy những tang thương, những đổ vỡ. Những đổ vỡ, tưởng rằng mau qua. Kết quả, hầu như không thể hàn gắn sau chiến tranh. Trái lại, vết thương ấy như mỗi lúc một làm cho hình ảnh Việt Nam trở nên tồi tệ hơn. Và nhân bản đạo lý Việt Nam dưới sự thống trị của CS mỗi ngày một ngày một thêm suy đồi, lụn bại. Từ đó, cuộc sinh hoạt của xã hội đã tạo ra những hướng đi như đối nghịch nhau giữa nhà cầm quyềm và dân chúng. Một bên đi theo đưòng gian trá của đảng để hôi của. Một bên thì lặng lẽ chán nản, buông xuôi, chẳng còn thiết tha gì đến ngày mai.

Chuyện nhà nước cộng sản tự tạo ra hai hướng đi nghịch chiều nhau trong xã hội Việt Nam, và làm cho nền đạo lý, nhân bản của xã hội Việt Nam bị phá sản không có gì lạ, khó hiểu. Từ sáu, bảy mươi năm trước, cộng sản đã chủ trương giáo hóa ngưòi dân, đặc biệt là các đoàn đảng viên của họ bằng sự dối trá, bá đạo qua những cái loa rỉ xét ở đầu đường, xó chợ và tin đồn. Người dân hầu như không có bất cứ một nguồn thông tin nào khác để mà xo sánh xem những lời tuyên truyền kia là gian trá hay đứng đắn. Suốt một quãng đường dài của đời người, người dân, đoàn đảng viên CS chỉ được nghe tuyên truyền về đạo đức Hồ chí Minh, mà không hề hay biết cái đạo đức ấy là đạo đức gì. Nó tử tế hay là vô đạo bất nhân? Nghe riết, nghe mãi về cái bánh vẽ của Hồ nên nhiều người lầm tưởng đó là những sự thật. Tệ hơn, có nhiều kẻ còn điên cuồng để bảo vệ những gian trá bất lương ấy bằng cách này hay cách khác.

Nếu như không có những thông tin điện toán hiện đại và nhanh chóng từ hải ngoại, từ các bloggers ( không phải là của nhà nước) từ những tấm lòng trong sáng của những người trẻ vì đất nước truyền đi, hẳn nhiên là người dân vẫn chẳng biết gì nhiều về những hệ thống bịp bợm này cua CS. Đây, quả là một điều may mắn cho vận nước, nhưng lại là điều bất hạnh cho chế độ cộng sản. Bởi vì, với trào lưu thông in mở rộng của cá nhân, blơggers, không có một gian trá, tàn ác nào của Hồ chí Minh của Trường Chinh, Lê Duẩn, của tập đoàn cộng sản đã làm trên đất nước Việt Nam trong 80 năm qua mà người dân không biết đến. Không có một hiệp ước, hiệp thương, công hàm bán nước, hay khế ươc nhưọng biển, nhượng đất hay cho ngoại bang thuê đất, thuê biển, khai thác đất rừng, hầm mỏ nào ở Việt Nam do tập thể này thực hiện, mà ngưòi dân không hay. Từ đó, dẫu chưa nói ra, người dân đã lên àn những hành động tồi bại này. Chẳng một ai còn muốn chúng tồn tai trên phần đất này. Họ chưa đồng loạt đứng dậy và Chôn Nó Đi là vì thời cơ chưa tới mà thôi. Trong khi đó, nhà nước CS vẫn tự dành cho mình quyền lãnh đạo, trâng trâng tráo tráo. Vênh vang nói đến đạo đức Hồ chí Minh và coi đó là khuôn vàng thước ngọc, là thành qủa vĩ đại nhất của nhà nước. Rồi tiếp tục dùng bạo lực, buộc người dân phải tuân phục theo cái dối trá trong hành động và lời nói của họ. Kết quả:

Từ trong lối giáo hóa bá đạo ấy của cộng sản đã tạo ra hai lối đi, hai lối sống đối nghịch nhau giữa công chúng và nhà cầm quyền. Chắc chắn hai lối đi này phải có một ngày đến điểm hẹn, một mất một còn. Bởi vì, cán đi theo đường gian trá của bác đảng, dùng thủ đoạn quyền lực, kiếm miếng ăn ngon từ máu và nước mắt của đồng loại. Dân đi theo lề yên lặng, đau đớn, uất hận vì tan nhà mất cửa. Khổ đau vì nền luân lý, đạo đức của xã hội bị suy đồi. Phần Công Lý của xã hội, Nhân Quyền nhân phẩm của con người chỉ như cái lưỡi câu với sợi cước thật chắc, thật bền, đã được cộng sản gài sẵn vào trong từng cửa miệng. Bất cứ ai, khi nói lên lời công lý, thì chẳng khác gì con cá cắn câu. Cộng sản chỉ cần kéo căng sợi dây ra là người đó không thể nào vùng vẫy, thoát khỏi bầm dập vì đòn thù của chúng. Sở dĩ có sự việc này là vi, ở dười chế độ CS, Công Lý, Nhân Quyền, Tự Do chỉ là những từ ngữ để cho đảng và nhà nước tuyên truyền, đánh bóng. Không phải là một thực tế quyền lợi để người dân “ được sinh ra trong bình đẳng” là có quyền được hưởng! Nên người đi đòi công lý ở dưới chế độ này chẳng khác gì việc tự cắn lưỡi câu độc ác của nhà nước mà chờ chết!

Theo đó, nếu đem so với người đi trước, xem ra bước đi của những bạn trẻ hôm nay khó khăn hơn xưa gấp bội phần. Trước hết, những người trí thức, những ông quan to, chức quyền lớn xưa kia luôn được đào tạo trong một nền giáo dục nhân bản, trọng lễ nghĩa, đạo lý, để biết tôn trọng nhân quần xã hội khi ra phục vụ. Họ không hề bị giáo dục trong gian dối để phục vụ cho gian dối và bất lương. Nên khi họ bỏ mũ áo từ quan, vì gặp thời vua quan bạc nhược, khiếp đảm vì sức mạnh của ngoại bang. Họ vẫn ung dung tự tại trong cuộc sống. Nếp nhà, danh dự của họ không thể bị cường quyền bôi nhọ, lấn áp. Nói trắng ra là, có từ quan như cụ Ngô đình Diệm, Phan đình Phùng thì thực dân Pháp và triều đình của An Nam cũng không thể bắt, kết án, bỏ tù hay thủ tiêu họ.

Nhưng nay, dưói chế độ “ưu việt” Việt cộng của Hồ chí Minh, xem ra chuyện luân lý ấy đã hoàn toàn bị đảo ngược, không có chỗ đứng. Qúy cụ Ngô đình Diệm, Phan đình Phùng… nếu là cán nhớn của chế độ, dám công khai cởi bỏ mũ áo, chống lại chúng giữa chốn công đường thì có khi chẳng về đến nhà. Hoặc gỉa, có về đến nhà thì cũng không ngủ qua đêm, Ấy là chưa kể đến viêc người thân của họ cũng đều bị vạ lây! Chỉ riêng về điểm này, xem ra bước đi của tuổi trẻ Việt Nam ngày nay là rất khó khăn, đầy những gian nan, trắc trở.

Trước hết, họ biết khi nói lên lời Công Lý, đòi nhà nước tôn trọng Nhân Quyền của người dân là nhà tù và đòn thù của cộng sản sẵn sàng ập xuống trên bản thân họ bất cứ lúc nào. Kế đến là phải đối diện với cuộc sống bị rình rập từng giờ từng phút. Bước ra đường là từng bầy đàn gọi là công an, nghiệp vụ, kể cả nhóm gọi là dân phòng theo đuôi. Thành phần này có thể tự ý cắn người để tranh công trưóc khi chủ nuôi ra lệnh! Khi vê nhà thì lặng lẽ, tay mở khóa cửa mà đôi mắt không ngừng dòm chừng bên phải, bên trái, bụi rậm bên hè, xem bầy quái thú có lẩn khuất rình nấp ở đâu đây không? Rồi khi lên giường, đèn vừa tắt là những lo sợ ập đến. Giấc ngủ đôi khi vì mệt mỏi hơn là một khoảng thời gian để nghỉ ngơi. Đã thế, họ còn phải đối diện với cuộc sống cô đơn. Cô đơn khi ở trong nhà tù. Cô đơn tại nơi làm viêc, trong học đướng, hay ngoai xã hội.

Bạn bè, thân nhân ư? Tự nhiên là vắng lặng, chẳng được mấy tiếng hỏi thăm nếu như không muốn nói là “người ta” đã âm thầm rút lui vì sợ “cháy thành vạ lây” từ lúc nào! Ấy là chưa kể đến những “ trỏ chơi” áp lực đốn mạt, ném bùn từ các cơ sở truyền thông cũa nhà nước. Chúng buộc cơ quan, công sở, học đường, nơi họ đang sinh hoạt, làm việc với, phát cho họ tấm giấy… thôi việc, đuổi học như trường hợp của Nguyễn đắc Kiên, Nguyễn phương Uyên. Hoặc giả, những người như Nguyễn văn Đài, Lê thị Công Nhân, Lê Công Định… sau khi bị nhà nước bức hại bằng những bản án “ chống phá và âm mưu lật đổ chính quyền” là cả đời (nếu chúng còn tồn tài) thì khó có cơ hội kiếm đưọc công ăn việc làm hợp với khả năng, tri thức của họ! Với trăm nghìn thiệt thòi cho bản thân như thế, mà họ vẫn đi. Vẫn hiên ngang mãnh liệt tranh dấu cho Tự Do, cho Công Lý cho Độc Lập của Tổ Quốc. Vẫn quyết tâm tranh đấu, ngõ hầu đem lại cho đồng bào một cuộc sống tốt đẹp hơn. Vẫn tiếp tục lên án cái bạo quyền của cộng sản. Công khai đưa ra những nhận định, đưa ra những đáp số như chỉ dẫn trước về sự kết liễu cho số phận của tập đoàn CS phải đến là:

- Họ xuất phát từ một cái văn hoá thấp kém,dùng một phương pháp đấu tranh hoàn toàn phi nhân đạo, phi nhân bản, là chuyên chính, bạo lực, vô sản để đàn áp, để trấn áp con người với một mục tiêu hoàn toàn phi đạo lý, vô chính trị và có thể nói là phi pháp nữa ( Lê thị Công Nhân)

- Phần Nguyễn Phương Uyên, như một quan toà lẫm liệt, dõng dạc, công minh, dứt khoát khi công bố bản án kết liễu cho cái chế độ và tập đoàn CS là: “Đảng cộng sản đi chết đi. Tàu khựa cút khỏi biển đông”!

- Trong khi đó, Việt Khang lịch thiệp, như kẻ trên, hỏi thẳng những tên cộng sản bán nước hại dân là: “ Xin hỏi, anh là ai, anh ở đâu sao lại ngăn bước tôi chống giặc Tàu ngoại xâm… Dân tộc anh ở đâu, sao đang tâm làm tay sai cho Tàu…”

Tôi không cho đây là những lời họ mạt xát, phỉ báng tổ chức đảng và nhà nước cộng sản, Nhưng là những nhận dịnh, những kết luận vững chắc để cho mọi ngưòi nhìn rõ bộ mặt thật của tập thể gian dối cộng sản. Không phải biết để ma xa lánh, yên lặng. Nhưng là cùng nhau đào thải nó ra khỏi xã hội. Rồi cùng nhau khơi dậy niềm tin và sức sống cho mọi ngưòi bước vào tương lai. Bởi vì, khi xã hội đã được giải phóng, thoát khỏi mọi gian dối của cộng sản, nó cũng đồng thời giải phoáng xã hội ra khỏi nhiều tai họa do sự gian dối gây ra. Đặc biệt là cứu xã hội ra khỏi cơn khủng hoảng của tội ác. Ngày nay, khi nhìn vào tờ báo, nhìn vào các bảng thống kê, ai cũng rùng mình khiếp sợ vì các loại tội phạm thuộc hàng đại ác đã tăng vọt theo việc học tập theo gương đạo đức Hồ chí Minh.

- Tại sao thế?
- Dễ hiểu thôi.

Thứ nhất về bản chất. Đúng như nhận định của Lê thị Công Nhân. Nhà cầm quyền cộng sản chỉ nhắm đến một điểm tuyên truyền chính trị cục bộ. Họ muốn khoác áo bào cho HCM làm một lãnh tụ, đưa HCM lên làm một thứ thần hoàng gỉa tạo và bấu víu vào đó để kiếm miếng lợi nhuận. Nhưng lại qúa kém cõỉ trong việc không biết phân biệt cái nào là của HCM đáng là gương mẫu cho tuổi trẻ, cái nào là tội ác đáng lên án tử hình cho Y? Nên họ đã thay nhau tạo ra một ngôn từ chung chung, gom vào một cái từ ngữ “đạo đức Hồ chí Minh” để làm tuyền truyền. Kết qủa bài tuyên truyền này phản tác dụng. Ngày nay, với những thông tin điện toán, nhanh chóng truyền đi sự thật, mọi người đều thấy được cái hình ảnh lớn nhất, vỹ đại nhất của Hồ chí Minh là:.

a. Việc nưóc. Hồ chí Minh ngay rừ năm 1919, Y đã biết đánh tráo công sức và cái tên chung của những trí thức Việt Nam như các cụ Phan chu Trinh, Phan văn Trường, Tạ thu Thâu và Nguyễn an Ninh làm của riêng mình. Khi về Việt Nam thì giải phóng chưa thấy đâu, Y đã tổ chức cuộc tổng đấu tố trên toàn đất bắc theo khuôn mẫu và xếp đặt của hai viên cố vấn Trung cộng để giết hại hơn 270000 ngàn ngưòi Việt Nam. Và làm ly tán hàng triệu gia đỉnh khác với mục đích tạo ra sợ hãi triền miên trong dân chúng để nắm quyền lực. Ấy là chưa kể việc gây ra cuộc chiến sau 1954 tại miền nam, đưa đến cái chết của hơn 3 triệu con dân Việt Nam và đậy cả nước vào đường khố đáy điêu linh, làm nô lệ cho cộng sản, phục dịch, nô lệ, xin làm chư hầu cho Trung cộng.

b. Việc nhà. Với cha mẹ, một đời Y không đốt cho họ được một nén nhang gọi là đền ơn nghĩa sinh thành? Chữ đạo hiếu của con người ở đâu? Chuyện vợ con. Y không có vợ chính thức trên giấy tờ. Nhưng thực tế lại sống vợ chồng với một thiếu nữ chưa đủ mười tám tuổi là Nông thị Xuân nhiều năm. Rồi sau khi Nông thị Xuân sinh con thì chính Y là ngưòi lệnh cho Trần quốc Hoàn xiết cổ Xuân và quăng xác ra đường, gỉa làm một tai nạn giao thông. Vậy là đạo nghĩa ư? Thú cũng không cắn xé bạn tình mình như thế! Một kẻ vô gia đình, vô tổ quốc từ bản chất và tàn độc với dồng bào như thế mà đáng được coi là gương mẫu đạo đức để buộc ngưòi khác phải noi theo ư?

Lý do thứ hai về phương thế áp dụng. Từ nền văn hóa vô đạo và lối tuyền truyền thô bạo bất lương ấy, CS đã đẫy nhiều tầng lớp tuổi trẻ Việt Nam vào đường cùng, không lối thoát, không tương lai. Trước mắt họ chỉ là một cuộc xát phạt, tranh đoạt, cậy thế lực, bao che từ tấm thẻ đoàn, thẻ đảng để có chỗ ngồi tốt, bát cơm tốt, cuộc sống phủ phê trong quyền lực. Từ một tên cán nhỏ nhất ở xóm thôn, phường khóm đã có đủ uy quyền, muốn nắng được nắng, muốn mưa có mưa. Tự tiện ra luật hành luật và mặc tình cho xã hội rên xiết trong thống khổ. Kết quả, phản ảnh từ nền văn hóa và đạo đức vô gia đình, vô tổ quốc của Hồ chí Minh sau khi được áp dụng vào xã hội là. Lớp trẻ khi lớn lên, tương lai thì không có, lối thoát cũng không, Cuộc sống là một sự khủng hoảng lớn từ công ăn cho đến việc làm. Đã thế, luân lý đạo đức nền tảng của xã hội bị phá sản, nên càng ngày càng có nhiều kẻ phạm vào tội đại ác, giết cha giết mẹ, giết vợ giết con, giết bằng hữu thân nhân theo gương HCM.

Khi thấy họa, Công sản chữa cháy, đem ra xử với những bản án tử hình thì phỏng có ích lợi gì? Có làm cho các tội phạm giảm bớt hay không? Hãy mở thống kê ra xem thế nào? Hình như càng ngày càng có nhiều tội ác nghiêm trọng xuất phát từ tuổi thanh thiếu niên. Trẻ có thể tặng cho nhau con dao mã tâu của HCM chỉ vì một cái nhìn, một câu nói thách, hay vì năm, ba chục ngàn bạc, (vài đồng đô la). Tại sao thế? Tại vì họ không được giáo hóa theo nhân bản thiện. Khi con người không còn lý tưởng sống. Chỉ nhìn cuộc sống qua cung cách hưởng thụ vội vã, chụp giựt qua ngày thì tội ác sẽ dẫn đường. Tội cho họ mà cũng là thảm họa cho đất nước!

Theo đó, những lời lẽ của những ngưòi trẻ hôm nay, điển hình là của Công Nhân, Phương Uyên, Việt Khang… phải đưọc trân trọng như một cuộc vận động lớn để kết liễu, để giải trừ gian trá ra khỏi xã hội. Việc vận động này, trước hết ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống và sự giáo hoá trong một nền văn hóa nhân bản cho con người. Giúp cho con ngưòi nhìn ra được lẽ sống khi sống, Và sống với nhân phẩm cách của mình. Một khi tuổi trẻ và những thế hệ nối tiếp sau, nhìn ra được tương lai của đất nước, của dân tộc thì họ cũng nhìn ra được tương lai của chính mình. Vì ở đó, con ngưòi được đối xử một cách công bằng, bình đẳng. Cuộc sống không còn nằm trong hay lệ thuộc vào tấm thẻ đoàn, thẻ đảng để có được địa vị, miếng ăn, thì việc tự phát triển nhân cách và đời sống sẽ đổi thay, thăng hoa. Từ đó, việc phạm những tội đại ác theo gương Hổ chí Minh, tự nhiên sẽ giảm và đi đến triệt tiêu. Triệt tiêu từ giáo hóa hơn là hình phạt (dẫu hình phạt cũng rất cần để răn đe) nhờ đó dời sống luân lý và đạo đức của xã hội được bảo đảm, an toàn giúp mọi người có thêm nhiều phương tiện để tổ chức và mưu cầu phúc lợi cho cuộc sống của riêng mình.

Đó chính là chủ đích lớn nhất, vững nhất và cao cả nhất mà tôi tin rằng những người trẻ hôm nay đang mang ở trong người khi họ đương đầu với cuộc chiến truyền thông dốt trá của cộng sản. Đây không chỉ là cuộc đối đầu, thách thức giữa những đôi tay trắng với hàng triệu triệu súng đạn bạo lực của cộng sản, Nhưng là cuộc đối đầu giữa những tâm hồn trong sáng vì đất nước vì đồng bào với những con thuồng luồng bỉ tiện cộng sản. Giữa sự thật, Công Lý với gian dối. Nói cách khác, đây là một chiến lược lâu dài nhằm tẫy xóa mọi hình ảnh giả tạo, gian dối của Hồ chí Minh và tập đoàn cộng sản đã tuyên truyền trên đất nước này từ mấy chục năm qua ra khỏi xã hội. Rõ ràng, đây không phải là công việc của một vài người và làm trong vài bữa nửa tháng, Nhưng là của mọi người cùng nỗ lực trong vài ba thế hệ mới khả dĩ hoàn tất. Như thê, bước đi của họ hôm nay chỉ là cuộc khởi đầu. Lẽ nào người Việt Nam muốn có một đất nưóc Độc Lập, ở đó, người dân có được sự Tự Do, Bình Đẳng để xây dựng đời sống và phúc lợi riêng, Và ở đó, Công Lý, Nhân Quyền của con người được bảo đảm và tôn trọng, lại thờ ơ không thể tiếp tay, dấn bước theo những bước khởi đầu của tuổi trẻ hôm nay hay sao? Tôi tin rằng, đã đến lúc mọi người phải thay đổi tư duy và hành động của mình để bắt kịp nhịp đi của những người trẻ vì đất nước hơn là ngồi chờ sung rụng.

Cách riêng, với các bạn trẻ, tôi thành thật muốn nói rằng: Các bạn đã thành nhân trên con đường tranh đấu cho Công Lý, cho Nhân Quyền của dân tộc. Đường các bạn đi, vị trí các bạn đứng trên cả những tổ chức chính trị, đảng phài. Bởi vì, khi họ nói là ra sức tranh đấu vì nhân dân, vì đất nước thì cũng là lúc họ lo cho chỗ đứng, chỗ ngồi và cả chỗ… nằm của họ nữa. Đặc biệt, các bạn đứng hẳn trên một đỉnh cao nhân bản, hoàn toàn khác biệt và đối nghịch với tập thể bá đạo cộng sản. Vì đó là một tập thể mà chính Mark, cha đẻ của thuyết cộng sản đã nhìn thấy và định nghĩa về những “đồng chí” của Mark như sau “ chỉ có loài thú mời ngoảnh mặt quay đi trước những thống khổ của đồng loại”. Quả thật, không có nhiều định nghĩa về con người, đặc biệt, về các đảng viên Việt cộng hay hơn định nghĩa Mark. Bời vì các đảng viên Cộng sản của Mark không những chỉ đáp ứng trọn vẹn định nghĩa của Mark, mà còn đi xa hơn thế nhiều. Chúng không chỉ ngoảnh mặt trước những nỗi thống khổ của đồng loại, nhưng còn quay lại cắn xé, nuốt tươi đồng loại, trong đó có cả cha mẹ, anh em, thân nhân và bằng hữu của chúng nữa!

Hỡi các bạn trẻ Việt Nam! Đừng bao giờ trông chờ cộng sản đổi thay, vì bản chất của cộng sản là gian trá và tạo ra gian trá. Cộng sản sẽ mãi mãi là cộng sản. Như gian dối sẽ mãi mãi là gian trá. Sự thay đổi của CS nếu có, thì nó chỉ đổi từ gian trá này sang một gian trá khác mà thôi. Cộng sản cũng sẽ không bao giờ có thể nhân danh gian dối để trừ gian dối. Nghĩa là, người ta không thể lấy danh nghĩa của Qủy để mà trừ qủy. Trái lại, chỉ có sự thật mới có thể diệt trừ được gian trá. Điển hình, chính Yelsin, Gobachev cũng đã nhân danh Công Lý, và Tự Do để tiêu diệt cộng sản và gian dối. Một tấm gương đáng trân trọng và cho chúng ta noi theo.

Nay các bạn đã đi vì Công Lý. Đã hành xử như những chính nhân trọng Nhân Quyền. Cả đất nước này đang trông chờ vào sự trổi vượt của các bạn. Tôi tin rằng, nền Độc Lập thịnh trị của dất nước. Sự hạnh phúc trong Tự Do, Công Lý của đồng bào đang trông chờ vào những bước đi can trường và quảng đại của các bạn.

(Bảo Giang, baogiang.wordpress.com, 12.2013)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Làm cách nào để tin được nhau

Ngô Nhân Dụng

Bài trước trong mục này kết luận, “Nước Việt Nam cần có nhiều người như Preet Bharara trong ngành tư pháp.” Bharara là một ông biện lý đang nổi tiếng ở thành phố New York, ông muốn bắt “những người phạm luật phải chịu hậu quả về những việc họ làm, dù họ là những người giầu sang, quyền lực, hay có liên hệ lớn như thế nào.”

Bài báo được một bạn đọc gửi đăng trên mạng Bauxite Việt Nam. Ban chủ biên mạng đã góp thêm ý kiến: “Trong một xã hội quan chức ngày càng giàu sụ như ở Việt Nam, 'sâu' thì bò lổm ngổm mà những kẻ có chức năng 'nhặt sâu' đều làm lơ đâu có ai dám bắt; vậy mà lại nảy nòi ra những vị biện lý công minh như ông Preet Bharara của nước Mỹ thì để mà chết cả nút à!” Và nhận xét, “Có lẽ tác giả ở nước ngoài lâu quá” cho nên mới viết như thế.

Quả thật tác giả ở nước ngoài từ năm 1975 đến nay. Ngỏ ý mong ngành tư pháp nước Việt Nam có nhiều vị biện lý công minh quả là ý kiến rất ngây thơ, mơ mộng. Thật tình, ai cũng biết tình trạng “sâu bọ” bò lổm ngổm ở nước Việt Nam bây giờ. Nhưng sẽ tới ngày chúng ta xây dựng lại một nước Việt Nam của mình, không phải của bọn sâu bọ, thì ước mong đó sẽ thực hiện được.

Dân Việt Nam có thể sinh ra những vị biện lý cương trực như Preet Bharara hay không? Tôi xin kể một kinh nghiệm bản thân. Tháng Tư năm 1975, bà mợ tôi đến nhà, khóc lóc với mẹ tôi, báo tin cậu con út của bà bị cảnh sát tỉnh Gia Ðịnh bắt giam. Thằng bé 15, 17 tuổi theo bạn bè đi phá làng phá xóm. Mợ tôi thấy ông biện lý tỉnh Gia Ðịnh cùng họ với nhà tôi, hỏi tôi có quen không, cách nào đến xin ông tha cho thằng bé hay không. Vì cô con gái của mợ đang làm cho tòa đại sứ Mỹ, đang được sở (DAO) thông báo họ có thể đưa cả gia đình cô di tản, gọi lúc nào đi lúc đó.

Cậu mợ đã nuôi tôi như cha mẹ nuôi con. Vợ chồng tôi đến tìm ông biện lý, trình bày hoàn cảnh đứa trẻ hư, ham chơi lêu lổng, theo bạn bè xấu, vì thời loạn lạc nhiễu nhương, xin ông thông cảm. Ông em họ lắng nghe, rồi hứa sẽ chú ý. Nhưng ông nói thẳng rằng chỉ vì cảm tình nên ông sẽ đích thân coi lại hồ sơ, để không ai bị oan ức. Ngoài điều đó ra, ông sẽ theo đúng luật lệ và thủ tục. Ngày hôm sau đó, ông cho biết không thể tha, vì hồ sơ cảnh sát ghi mấy cậu thanh niên bắt tại trận lúc đang phá nhà người ta. Có tang chứng, phải giam lại, chờ ngày ra tòa.

Vì cậu con út đang bị giam, bà mợ tôi đã ở lại Sài Gòn trong khi chồng và các con khác lên máy bay ra đi, rồi định cư ở Canada. Tôi không buồn, không giận ông biện lý Gia Ðịnh. Ông không vì tình riêng mà vượt qua luật pháp. Tên ông là Hà Dương Vĩ. Ở nước Việt Nam Cộng Hòa lúc đó có rất nhiều vị biện lý như ông. Họ không nổi tiếng như Preet Bharara, người đã tấn công cả đám tài phiện lẫn bọn mafia, một nhân vật xuất chúng được dư luận biết đến.

Nhưng một dân tộc không cần nhiều người nổi danh, đóng vai anh hùng trừ gian, dẹp bạo như vậy. Làm sao trong đất nước có rất nhiều vị biện lý hiền lành, thực thà, chăm chỉ, sống tầm thường nhưng thuộc lòng câu “Pháp bất vị thân,” và áp dụng hàng ngày, không thắc mắc, điều này còn quan trọng hơn nữa. Kinh nghiệm thấy ở nước mình đã có những người như vậy cho nên tôi tin chắc trong tương lai nước ta sẽ có rất nhiều vị biện lý chính trực, quang minh. Ngành tư pháp nước ta nếu có người như Preet Bharara thì quý lắm, nhưng chỉ cần dăm ba người như Bharara cũng đủ rồi. Ngược lại, mỗi dân tộc cần có nhiều người làm việc tư pháp bình thường như Hà Dương Vĩ. Trước năm 1975 đó không phải là ước mơ mà là sự thật. Cho nên có thể tin trong tương lai đất nước chúng ta sẽ thực hiện được ước mong này.

Nói đến niềm tin ở tương lai trong lúc này khó lọt tai người nghe. Nhiều người ở trong nước rất bi quan, có khi tuyệt vọng, trước cảnh quan chức gian tham, đạo lý suy đồi. Có lẽ vì hàng ngày quý vị đó thấy trước mắt những thứ mà người ở bên ngoài không thấy. Người ta không tin có công lý, vì đã chứng kiến cán cân công lý bị bẻ cong. Như phiên tòa phúc thẩm ở tỉnh Phú Yên ngày 23 tháng 12, 2013, xét xử ông Ngô Hào vì “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền Nhân Dân.” Các quan tòa xuất hiện lúc 8 giờ sáng, chưa tới 10 giờ họ đã tuyên án, ông Ngô Hào vẫn bị 15 năm tù và 5 năm quản chế. Làm sao người ta có thể tống giam một người suốt 20 năm, trong vòng chưa đầy hai tiếng đồng hồ đã quyết định xong? Có nền tư pháp một nước văn minh nào giống như vậy hay không? Theo lời kể của anh Ngô Minh Tâm, con ông Hào, gia đình bị cáo không hề được tòa thông báo phiên xử. Nhờ luật sư, họ mới biết. Không thân nhân, bạn hữu nào được được vào, phiên tòa chỉ có ba mẹ con anh dự nhưng lại có tới hơn 50 công an mặc sắc phục! Anh Ngô Minh Tâm thuật lại: “Phiên tòa diễn ra rất là chóng vánh” vì cả ông Ngô Hào và luật sư của ông không được nói câu nào cả, cũng không chấp nhận cho đưa ra các bằng chứng.

Một nền tư pháp như vậy, chẳng trách nhiều anh chị em trong nước rất bi quan. Nỗi bi quan rộng lớn hơn nữa khi tình trạng xã hội bên ngoài tòa án cũng xuống dốc, nếu không nói là sa đọa. Tết sắp tới, lại khó quên cảnh dân ta đi xem hội Xuân hoa đào rồi đua nhau hái trụi hết hoa! Không phải một lần mà hai năm liên tiếp! Tòa Ðại Sứ Hà Lan đem phát áo che mưa, bao nhiêu người nhẩy lên cướp. Tiệm ăn Nhật Bản mời ăn miễn phí, hàng ngàn người chen lấn giành giật. Người ngoại quốc họ không hiểu nổi dân Việt Nam là cái giống người gì. Vụ “hôi bia tập thể” ở Biên Hòa thì mới xẩy ra mấy tuần trước.

Nhưng có nên tuyệt vọng hay không? Chắc không nên tuyệt vọng. Người Việt Nam vẫn là người Việt Nam. Chế độ cai trị có tham ô, tàn ác và gian xảo đến mấy cũng chỉ tác hại được một thời gian, trên một thiểu số người Việt. Họ không thể phá hủy tất cả di sản tinh thần ông cha đã xây dựng mấy ngàn năm trong lòng dân tộc. Chúng ta có thể tin tưởng như vậy. Sau vụ“hôi bia” ở Biên Hòa, Blog Song Chi đã kể lại những phản ứng của đồng bào trong nước, nghe thấy ấm lòng. Một nữ sinh viên và người cha đã viết rồi treo tấm biểu ngữ tại nơi vụ cướp diễn ra: “Là dân Biên Hòa, là người Việt Nam, tôi thấy xấu hổ thay cho những ai đã ‘cướp vài lon bia’ ở đây...” Nhiều người đã quyên góp tiền tặng anh tài xế chiếc xe chở bia bị lật để bồi thường số bia bị cướp, nhưng sau cùng anh tài xế trả lại hết. Anh nói, vì công ty bia không bắt anh bồi thường, lẽ nào anh lại tham lam lấy của người ta cho.

Quả thật, trong dân tộc Việt Nam vẫn còn giữ những nền nếp tốt, không bao giờ mất. Công dậy dỗ của tổ tiên suốt mấy ngàn năm đám đệ từ của một ông Stalin hay ông Mao Trạch Ðông không thể nào phá hủy được. Chúng ta không nên quá bi quan.

Nhưng chắc cũng không nên lạc quan quá, không nên lạc quan đến mức cứ để mặc cho sự thế chuyển vần. Khi chế độ cộng sản tan rã, công việc khó khăn nhất của dân tộc mình sẽ là làm sao phục hồi được đạo lý, xây dựng được niềm tin giữa người Việt với người Việt. Không thể nghĩ mình chỉ cần cầu nguyện tổ tiên phù hộ, mọi nền nếp sẽ trở về tốt đẹp như xưa.

Một cách cụ thể, chúng ta phải làm gì để phục hồi đạo lý? Làm cách nào cho người Việt Nam tin nhau? Blog Song Chi có nhắc đến vai trò giới truyền thông tác động tâm lý đồng bào, khiến người ta biết những gì đáng hổ thẹn mà tránh. Báo chí, cũng như trường học, đều đóng vai trò giáo dục, từ người lớn đến trẻ em. Có thể nói, chúng ta đều là “dòng dõi nhà Nho,” coi giáo dục là cây đũa thần. Cũng vì thế, không kính trọng Pháp Gia lắm; ngay cả khi nói đến chống tham nhũng, người Việt cũng nói ngay đến chuyện “giáo dục” và “học tập.” Chúng ta có thể tin như ông Khổng Tử, rằng giáo dục là nền tảng xây dựng quốc gia. Nhưng còn một biện pháp khác, là tập luyện thói quen cho con người, qua hệ thống luật pháp. Giáo dục, người ta có thể gật gù nghe, rồi thấy khó quá, không theo được. Nhưng với luật pháp, không theo không được.

Chỉ khi sống trong một xã hội tự do dân chủ người ta mới có cơ hội tập luyện theo phương pháp này. Trong thế giới hiện đại, niềm tin giữa người với người có thể thành hình nhờ pháp luật. Thomas Schelling, nhà kinh tế học nổi tiếng (Nobel năm 2005) đã nêu lên mối liên hệ giữa niềm tin với kiện cáo! “The right to be sued is the power to make a promise: to borrow money, to enter a contract, to do business with someone who might be damaged.” (Quyền bị kiện cũng là quyền năng cho phép mình có thể hứa hẹn: Như khi đi vay tiền, ký hợp đồng, làm thương mại với một người mà mình có thể gây thiệt hại nếu không giữ lời hứa.) Tức là, muốn được người khác tin thì phải làm sao họ thấy họ có thể kiện mình ra tòa, nếu mình không giữ Chữ Tín.

Chế độ dân chủ tự do không bảo đảm sẽ xây dựng được lòng tin chung cho cả xã hội. Nhưng các chế độ độc tài chắc chắn phá vỡ niềm tin chung, vì họ đều đi kèm với các thủ đoạn gian trá. Mất niềm tin đưa tới tình trạng phi luân lý, tức là người ta không còn tin có những quy tắc đạo đức nên theo nữa. Ngược lại, sống trong chế độ dân chủ ít nhất mỗi người biết mình phải tôn trọng luật pháp. Vì luật pháp do các đại biểu thực sự của mình soạn ra chứ không do các nghị gật, mà guồng máy tư pháp được độc lập đáng tin cậy hơn. Tập sống theo pháp luật dần dần tạo thành thói quen, nhìn người khác thấy có thể tin rằng họ cũng tôn trọng luật pháp như mình. Một niềm tín nhiệm chung bắt đầu nẩy nở tự nhiên; mà nếu không có thì xã hội không tiến được.

Cho nên, như lời chúc cho đất nước nhân ngày Lễ Giáng Sinh, chúng tôi xin nhắc lại một điều mong ước chung cho nước Việt Nam: Nước ta cần những ông bà biện lý và các thẩm phán độc lập, chính trực quang minh.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Những nấm mộ đi tù

Nguyễn Lân Thắng
(Blog Nguyễn Lân Thắng)

Tôi vào Nam thăm gia đình và bạn bè một ngày cuối năm rực nắng. Sài Gòn vẫn hối hả như bao lần tôi đã đến. Gia đình tôi bên nội là dân Bắc, bên ngoại là dân Nam, thế nên từ bé đến giờ tôi chẳng xa lạ gì với mảnh đất này. Mọi lần đến Sài Gòn, tôi thường cố gắng bỏ thời gian về nghĩa trang thành phố để thăm mộ ông ngoại tôi. Lần này đi, tôi chợt nhớ đến đã đọc đâu đó về nghĩa trang quân đội VNCH cũng nằm tại Biên Hòa. Gia đình tôi không có người thân nào nằm ở nghĩa trang này, nhưng tôi rất tò mò muốn đến đây để mắt thấy tai nghe mọi chuyện và để thắp dù chỉ một nén nhang cho những người đã khuất.

Trên đường đi, mặc dù được bạn bè hướng dẫn tận tình qua điện thoại mọi “thủ đoạn” để có thể lọt vào nghĩa trang này dù không có người thân bên trong, nhưng tự dưng tôi nổi lên nỗi tự ái rất lớn. Tại sao chiến tranh đã qua lâu mà vào nghĩa trang này lại phải trình chứng minh thư, phải chứng minh được mình có người thân nằm trong đó, và tệ nhất là không được chụp ảnh đàng hoàng. Tôi quyết định sẽ chỉ đi vòng ngoài để quan sát và nhất là lên Ðền Tử Sĩ, một nơi hoang tàn chẳng có ai canh gác. Dù đã biết những điều tệ hại nơi đây qua Internet, nhưng quả thật chỉ khi chứng kiến tận mắt những gì ở Ðền Tử Sĩ tôi mới thấu hiểu phần nào nỗi đau của biết bao gia đình có người thân nằm lại nơi này. Ðền nằm trên một gò đất cao án ngữ ngay trước nghĩa trang, phía trước là cổng tam quan vẫn còn mờ mờ dòng chữ gì đó không đọc được nữa. Tôi về tra lại trên mạng mới biết đó là dòng chữ “Vì nước hy sinh” và “Vì dân chiến đấu”. Theo những ảnh chụp trước 1975 còn lại trên mạng thì cảnh quan nơi này thay đổi thật nhiều. Cả khu gò phủ kín một rừng cây được trồng chắc mới gần đây thôi. Lần theo những bậc bê tông phủ dày lá khô, tôi bước lên khu đền mà lòng thầm kinh ngạc vì sao những cấu trúc xây dựng này có thể bền bỉ tồn tại đến bốn mươi năm dù không có người chăm sóc.
Image
Tác giả, chụp tại Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. (Hình: Facebook Nguyễn Lân Thắng)

Bên trong đền, ngoài một cái bàn gỗ dựng tạm làm bàn thờ là đống chăn chiếu bẩn thỉu, chắc của một người vô gia cư nào đó tá túc qua ngày. Ngày xưa nơi đây từng là chỗ cử hành những nghi lễ trọng thể để tưởng nhớ người đã khuất, giờ bẩn thỉu hoang tàn không khác xó chợ hoang.

Tôi và người bạn đi cùng không dám dọn dẹp kê đặt lại gì nhiều, chỉ dâng hoa và thắp tạm nén hương mong những người còn nằm lại ngậm cười nơi chín suối.

Dẫu biết chỉ là hành động tượng trưng, nhưng thôi thì quét chút lá quanh đền cho mát lòng những người đã khuất.
Image
Thắp nhang tại Ðền Tử Sĩ, Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. (Hình: Facebook Nguyễn Lân Thắng)

Rời khỏi khu đền, chúng tôi đi một vòng vào sâu phía trong nghĩa trang. Người ta đã xây chặn giữa Ðền Tử Sĩ và khu chôn cất một nhà máy nước có tên là Bình An. Cả khu nghĩa trang được xây kín tường cao 3m, bên trên có hàng kẽm gai lởm chởm trông không khác gì trại tù. Xe đưa chúng tôi lướt qua khu kiểm soát, ngoài cổng đề tên là Nghĩa Trang Nhân Dân Bình An, phía trong thấp thoáng vài ngôi mộ. Nếu tôi cố vượt qua cổng này vào bên trong thì chắc chắn phải trình chứng minh thư, phải ghi tên vào sổ, phải chịu sự giám sát của nhân viên an ninh và sẽ không thể nào đàng hoàng nâng máy lên chụp bất cứ thứ gì. Ðó là điều tôi đã được bạn bè cảnh báo trước và tôi không thể chấp nhận được! Tôi đi thăm nghĩa trang chứ có phải đi thăm tù đâu mà phải như vậy!
Vậy mà bao năm qua, gia đình những người đã khuất vẫn phải nín nhịn, vẫn phải xin xỏ chính quyền để thực hiện những quyền rất chính đáng của mình là được ra vào để thăm nom săn sóc phần mộ người thân nằm lại nơi này. Những người nằm xuống trong nghĩa trang này dù lý tưởng của họ là đối lập với nhà nước hiện nay, nhưng họ cũng là người Việt Nam, cũng là cha là ông của biết bao gia đình, mộ phần của họ đáng được hưởng sự chăm sóc của người thân. Tôi tự hỏi một chính thể với đầy đủ sức mạnh trong tay mà sao lại sợ họ thế? Sao nỡ cầm tù kể cả khi họ đã chết? Ðến ngay cả những lính Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc năm 1979, khi chết vô danh trên đất Việt cũng được quy tập chôn cất trong bao nghĩa trang đàng hoàng khắp miền núi phía Bắc? Sao người Việt với nhau mà nỡ đối xử tàn tệ đến mức kinh hoàng như vậy? Còn nhiều câu hỏi nữa cứ luẩn quẩn trong đầu tôi trên đường về, nhưng chắc chắn một điều là chính sách hòa giải dân tộc sẽ không thể thành công nếu nhà nước cứ hành xử như thế này.
Image
Quét lá tại Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. (Hình: Facebook An Ðỗ Nguyễn)

Chiến tranh đã lùi qua lâu mà vết thương trong lòng dân tộc hình như vẫn chưa khép lại. Khi tôi đăng một số bức ảnh chuyến đi thăm nghĩa trang này lên Facebook cách đây mấy hôm thì lập tức nhận được vô số phản hồi trái chiều. Người thì rất hoan nghênh, người thì lại phê phán cho rằng tôi là thằng cộng sản con, là kẻ cơ hội làm chuyện chính trị. Tôi nghĩ các bạn có ý phản đối tôi không cần phải nặng nề như vậy. Chính thể Việt Nam Cộng Hòa dẫu gì cũng đã là quá khứ. Chiến tranh đã kết thúc gần bốn mươi năm và chúng ta vẫn phải chung sống với nhau. Ðiều quan trọng cần làm là nhìn nhận quá khứ, giải quyết tồn tại và hướng tới tương lai. Một mặt cứ sống trong hận thù, phân biệt Nam Bắc thì không thể cùng chấn hưng đất nước được. Mặt khác, phải dũng cảm bỏ qua khác biệt để bắt tay nhau cùng phá bỏ tất cả những điều phi lý, những điều đi ngược lại giá trị nhân bản của dân tộc này. Hãy đi từng bước nhỏ, từng việc cụ thể như việc phá bỏ chế độ kiểm soát nghĩa trang quân đội Biên Hòa giống một trại tù. Hãy lên tiếng, hãy làm trong khả năng mà bạn có thể chịu đựng được. Không bắt đầu thì mãi mãi chẳng bao giờ có đổi thay.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Bỏ đảng hay xóa đảng
Ngô Nhân Dụng

Lev Tolstoi mở đầu cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Anna Karenina với một câu vẫn được các người yêu văn chương nhắc lại hơn một thế kỷ qua: “Các gia đình hạnh phúc đều giống nhau, mỗi gia đình bất hạnh thì bất hạnh theo cách riêng.” Các chế độ cộng sản chiếm được chính quyền cùng một cách, nhưng khi suy tàn thì mỗi đảng tan rã theo một cách khác nhau.

Các đảng cộng sản lên nắm quyền đều dùng bạo động và thủ đoạn bất chấp đạo lý, trong khi các đối thủ của họ đều còn sống trong những quy tắc luân lý quen thuộc của cả xã hội. Giữa một đám nhiều người đang tranh đấu với nhau, kẻ nào xảo quyệt và tàn bạo nhất sẽ tiêu diệt những người thành thật và lương thiện, những người bị gọi là “ngây thơ”. Hoặc Mao nêu khẩu hiệu: “Súng đẻ ra quyền.” Lenin nói, “Chiến tranh là bà mụ đỡ cho cách mạng.”

Nhưng khi các chế độ cộng sản ở Liên Xô và Ðông Âu sụp đổ thì mỗi nơi tan hàng theo một kiểu riêng. Ðảng Cộng Sản Ba Lan tự chuyển giao chức thủ tướng cho một luật sư của Công Ðoàn Ðoàn Kết sau khi cả bộ chính trị hoàn toàn bế tắc trong cảnh kinh tế suy sụp. Cộng sản Ðông Ðức chịu thua để bức tường Berlin bị phá sập sau khi dân chúng hàng loạt kéo nhau vượt biên qua phía Tây; dân thành phố Leipzig từ nhà thờ đi ra diễn hành trong im lặng liên tiếp; cảnh sát công an ở, Dresden từ chối không bắn vào những đồng bào đi biểu tình. Cộng sản Tiệp Khắc phải nhượng bộ ý nguyện của người dân, sau các cuộc biểu tình thủ đô. Hungary đã bắt đầu thay đổi từ thời năm 1980, đợi đến năm 1989 chế độ sụp đổ một cách ôn hòa. Cộng sản Rumania hoàn toàn nhắm mắt bịt tai, cưỡng lại đến cùng; đưa tới cái chết thảm khốc của vợ chồng Nicolae Ceau escu, nhà lãnh tụ sau cùng. Tại Bulgaria, vừa nghe tin tường Berlin sập Bộ Chính Trị bèn họp nhau cách chức Tổng Bí Thư Todor Zhivkov, cầm quyền suốt 35 năm, rồi giải tán đảng, sửa hiến pháp, tổ chức bầu cử để vẫn được nắm chính quyền. Cộng Sản Nga tự ý bắt đầu thay đổi từ thời Gorbachev để tự cứu vãn, hy vọng nhờ thế đảng sẽ cai trị lâu dài hơn. Nhưng cuối cùng không tự cứu nổi, vì đã hết thuốc chữa. Một yếu tố quyết định tình trạng sụp đổ của các chế độ cộng sản trên là trình độ nhận thức của người dân trong các nước đó được nung nấu đến mức chín mùi. Khi chế độ sụp đổ, mọi người đều thở phào nhẹ nhõm, kể cả các đảng viên. Không một chi bộ đảng nào đưa một ngón tay ra để cứu đảng.

Ðảng Cộng Sản Việt Nam sẽ tan rã như thế nào? Cần nêu lên câu hỏi này, càng sớm càng tốt. Thứ nhất, vì điều đó chắc chắn xảy ra. Tình trạng nội bộ của họ đang tan rữa, ung thối, không thấy cách cứu chữa. Trong khi đó trình độ nhận thức của người dân Việt Nam đang dâng cao. Một cô sinh viên ngoài 20 tuổi Nguyễn Phương Uyên, đứng trước tòa án giữa đám công an chìm nổi vẫn thảnh nhiên nói: “Tôi chống đảng chứ không chống nước Việt Nam”.

Thứ hai, cần nhìn thấy trước cảnh đảng Cộng Sản tan rã để người Việt cùng nhau chuẩn bị sẵn sàng việc xây dựng chế độ dân chủ tự do sắp tới. Phải chuẩn bị sớm, nếu không sẽ lúng túng trong thời gian chuyển tiếp, càng kéo dài quá lâu càng tai hại cho tương lai dân tộc. Kinh nghiệm ở Ðông Âu và tại các nước thuộc Liên Bang Xô Viết cũ cho thấy: Thay đổi nhanh chóng thì trong 20 năm kinh tế phồn thịnh, xã hội ổn định xong rồi; còn nếu để thời kỳ chuyển tiếp kéo dài thì 30 năm sau vẫn lúng túng. Bây giờ, việc xóa bỏ chế độ cộng sản không phải là điều khó nữa, vì trước sau chính họ sẽ tan rã. Nhưng công việc xây dựng lại nền tảng mới cho đất nước sau đó sẽ khó gấp bội. Khó nhất là vì cả nền móng xã hội đã bị phá hư nát từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới. Cho nên người Việt Nam cần thảo luận với nhau ngay từ bây giờ những chuẩn bị tương lai, khi đảng Cộng Sản vẫn chưa tan hàng.

Dù đảng Cộng Sản sẽ đến ngày tan rã, nhưng chắc sẽ tan hàng theo một cách khác với các chế độ Ðông Âu hay Nga. Người Việt Nam sống trong một nền văn hóa khác các nước Âu Châu mà lại giống với dân các nước ở Á Ðông. Các nước Nam Hàn, Ðài Loan đã từng chuyển từ các chế độ độc tài sang dân chủ sau những cuộc biểu tình của sinh viên và công nhân, nhiều lần bị đàn áp đẫm máu nhưng cuối cùng vẫn thắng lợi. Nhưng Việt Nam cũng khác với hai nước này; vì chính quyền nước họ không chịu nhục khi bị ngoại bang khống chế, như ảnh hưởng của Trung Cộng đang đè nặng trên nước ta. Gần đây nhiều người đã coi Miến Ðiện như một tấm gương mà Việt Nam có thể noi theo. Nhưng nếp sống của người Miến Ðiện cũng ôn hòa hơn người Việt, mà chế độ độc tài ở đó không tàn ác và gian dối tinh vi như các chế độ cộng sản trên thế giới. Những lãnh tụ độc tài ở cả ba nước Nam Hàn, Ðài Loan và Miến Ðiện đều được giáo dục và sống theo đạo lý cổ truyền của dân tộc họ, không ai nhắm mắt theo một “tín ngưỡng” mới như các lãnh tụ cộng sản ở Châu Âu hay Châu Á. Cho nên, khó tưởng tượng Cộng sản nước ta sẽ tan theo “kịch bản” nào khi biến chuyển xảy ra, mà cũng không nên phí thời giờ ngồi tưởng tượng.

Chính trong đảng Cộng sản hiện nay cũng nhiều người nói đến một cuộc “thay máu” cho đảng, để tự cứu vãn. Nhưng một đảng đang nắm quyền với những nhóm trong nội bộ đang hưởng đủ thứ lợi lộc nhờ khai thác quyền hành thì rất khó thay máu. Nhiều đảng viên muốn thay đổi không được, đã âm thầm ngưng hoạt động hoặc rút ra khỏi đảng. Một số người còn làm đơn xin ra đảng, như vào năm 2009, nhà văn Phạm Ðình Trọng xin ra đảng, rồi sau đó bị đảng tuyên án khai trừ để triệt hết các quyền lợi của đảng viên mà ông đại tá này được hưởng. Năm nay ông Lê Hiếu Ðằng đã “tính sổ đời mình” từ lúc gia nhập đảng Cộng sản cho tới những ngày nằm trong bệnh viện có thời giờ suy nghĩ lại. Ngày 4 Tháng Mười Hai 2013 khi anh Lê Hiếu Ðằng tuyên bố rời đảng, thành lập đảng mới. Lời tuyên bố công khai bỏ đảng của Lê Hiếu Ðằng có thể tạo nên một làn sóng bỏ đảng trong thời gian tới. Sau ông Ðằng tới lượt Bác Sĩ Nguyễn Ðắc Diên. Nhà báo Phạm Chí Dũng đã nối gót hai người này. Phạm Chí Dũng đã từng đậu tiến sĩ, từng là nhân viên ngành an ninh, đã công bố việc từ bỏ đảng của mình để gây tiếng vang, và anh đã thành công. Khi đảng ủy Viện Nghiên Cứu Phát Triển họp yêu cầu anh xét lại, Phạm Chí Dũng từ chối. Ðến khi họ bỏ phiếu có 60% đảng viên dự phiên họp không đồng ý khai trừ, cho thấy họ hiểu hành động của anh có lý do chính đáng; nhưng cuối cùng nhóm lãnh đạo vẫn tuyên bố khai trừ.

Hiện tượng trên cho thấy đảng cộng sản thực sự đang tan rã, không cách nào tránh được. theo Phạm Chí Dũng, hiện nay trong ba triệu đảng viên cộng sản có chừng 30% còn gắn bó với đảng vì các quyền lợi họ đang hưởng nhờ nắm các chức vụ. Ngoài ra, một nửa là những người không dám bỏ đảng nhưng chỉ xu thời, gió chiều nào xoay chiều đó. Nếu một biến cố lớn xảy ra, họ sẽ tự tan hàng mà không nuối tiếc. Một số nhỏ đảng viên cũng muốn đảng Cộng sản trả lại quyền tự do cho người dân, chấp nhận các đảng chính trị khác, bỏ độc quyền cai quản đất nước. Những họ có khả năng làm cho đảng Cộng sản tự thay đổi để dân Việt Nam được sống trong dân chủ tự do hay không?

Những người này có thể học kinh nghiệm của Mikhail Sergeyevich Gorbachev, tổng bí thư sau cùng của Cộng Sản Liên Xô. Trong một cuộc phỏng vấn bởi phóng viên Jonathan Steele, báo The Guardian, Anh Quốc hai năm trước đây, Gorbachev nói điều ông hối hận nhất là vào những năm 1990, 91 ông vẫn cố gắng cải tổ cơ cấu chế độ, nấn ná quá lâu nhưng vô ích. Ông nói, đáng lẽ phải nhất quyết từ chức vào Tháng Tư năm 1991, rồi cùng một số người trong Trung Ương Ðảng thành lập một đảng chính trị mới.

Vào Mùa Xuân năm đó, trong nội bộ đảng Cộng Sản Liên Xô cũng có hai khuynh hướng, nhóm bảo thủ muốn ngưng ngay các chính sách đổi mới, nhóm cấp tiến muốn bước vào đường dân chủ hóa. Trong một cuộc họp của Trung Ương Ðảng, phe bảo thủ yêu cầu tuyên bố tình trạng khẩn cấp, chấm dứt chính sách cởi mở, kiểm duyệt báo chí gắt gao hơn, Gorbachev đã phản ứng lại rất mạnh, ông nói: “Tôi đã mỵ dân quá đủ rồi. Tôi sẽ từ chức.”

Trong cuộc phỏng vấn với báo The Guardian Gorbachev kể lại rằng, “Bộ Chính Trị triệu tập một phiên họp trong 3 giờ đồng hồ mà không có tôi. Ba giờ đồng hồ sau họ đến mời tôi trở lại và yêu cầu tôi rút lại quyết định từ chức.” Sau đó Gorbachev bèn rút lại quyết định từ chức và cũng không có ai muốn đưa vấn đề này ra biểu quyết. Bây giờ ông hối hận, đáng lẽ ông phải cương quyết rút lui để thành lập một đảng mới, với chủ trương tự do dân chủ. Vì trong thời gian đó đã có hàng trăm ủy viên Trung Ương Ðảng đang bàn nhau, đồng ý tách ra lập một đảng mới rồi. “Nhưng lúc đó tôi lại cảm thấy mình không có quyền ‘từ bỏ đảng,’” ông thú nhận. “Bây giờ thì tôi nghĩ là đáng lẽ tôi phải lợi dụng ngay cơ hội đó để thành lập một đảng mới và phải kiên quyết từ bỏ đảng Cộng sản bằng được.”

Trong thời gian Gorbachev đang phân vân giữa hai con đường như trên, đảng Cộng Sản Việt Nam cũng bỏ mất một cơ hội khi họ gạt bỏ các đề nghị cải cách của Trần Xuân Bách, người rút ra bài học Ðông Âu sớm nhất. Họ đã theo Nguyễn Văn Linh, quay đầu xin Trung Cộng che chở, để cùng tiếp tục “tiến lên Chủ Nghĩa Xã Hội”. Hậu quả là mối nhục Thành Ðô sẽ ghi mãi trong lịch sử.

Hiện nay trong đảng Cộng sản cũng không có người nào có tư thế và khả năng như Gorbachev. Chỉ có những đảng viên như Lê Hiếu Ðằng mới can đảm tuyên bố công khai từ bỏ đảng, và thành lập đảng mới. Khi số người can đảm như Lê Hiếu Ðằng, Phạm Chí Dũng, Phạm Ðình Trọng, vân vân, đông đúc hơn, họ sẽ không chỉ từ bỏ đảng một mình mà còn góp công xóa bỏ ách độc tài đang đè lên đầu lên cổ đồng bào.

Tháng Bảy năm 2012, mục này đã kêu gọi các đảng viên cộng sản hãy tạo một phong trào từ bỏ đảng. Khi rất nhiều đảng viên công khai bỏ đảng, guồng máy trừng phạt và trả thù sẽ hết hiệu lực. Các đảng viên khác sẽ hết sợ. Khi số đảng viên công khai bỏ đảng lên cao, đến lượt dân chúng được giải phóng về tâm lý. Người dân bị xử oan ức không còn sợ nữa, giới thanh niên, phụ nữ, trí thức, các người lãnh đạo tôn giáo, người lao động sẽ cùng mạnh dạn đứng lên đòi các quyền tự do căn bản của mình. Một phong trào phản kháng bất bạo động như thế chắc chắn sẽ làm cho guồng máy cường quyền phải chịu thua.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Nhưng chim đã gãy cánh.

Người Buôn Gió

Tôi định không viết gì về anh, mặc dù những ca từ Chút Quà Cho Quê Hương, Lời Kinh Đêm hay Mời Em Về của anh đọng sâu sắc trong tôi lúc tôi chỉ mười mấy tuổi. Lúc tôi không ý thức nhiều về chính trị, nhưng thân phận con người trong lời ca của những nhạc phẩm mà anh sáng tác thật khủng khiếp. Có lẽ tôi chưa thấy một nhạc sĩ nào vẽ những nét vẽ về thân phận con người mà sự ám ảnh ghê gớm như Lời Kinh Đêm. Nhất là câu hỏi da diết với trời xanh, biển cả đang làm giống tố quăng quật những con thuyền mong manh giữa trùng khơi.

Biển ngây ngô hay biển man rợ
Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ.

Sở dĩ tôi định không viết bởi tôi hèn. Tuy rằng trong thâm tâm tôi nếu có dịp sang Mỹ, kiểu gì tôi cũng tìm gặp để chào anh một cái bắt tay. Tôi hèn chẳng phải tôi sợ những người cộng sản đối nghịch với anh, họ làm gì tôi. Tôi hèn vì tôi sợ '' một số người '' những người đấu tranh dân chủ.

Họ sẽ chửi tôi tư cách gì viết về anh hả thằng oắt con Bắc Kỳ. Mày định lăng xê cho bản thân mày à.?

Họ chửi bạn tôi hay thằng em Nguyễn Lân Thắng của tôi như vậy. Chỉ hành động ghé thăm nghĩa trang Biên Hòa, thắp nén hương cho người đã khuất. Nguyễn Lân Thắng bị một số kẻ tự nhận là hậu duệ của quân lực VNCH chửi bới. Họ cho rằng Nguyễn Lân Thắng không đủ tư cách để thắp hương , để bén mảng đến nghĩa trang Biên Hòa nơi những chiến sĩ QLVNCH an nghỉ....Cho nên tôi cũng sợ khi nhắc đến những người như các anh.

Tôi kể sơ qua lý do vậy, chứ tôi có cách thủ rồi. Giờ viết gì tôi nhận tôi hèn, ngu, lưu manh, cơ hội...nhận một lô xích xông sẵn thế, cho một số nhà ''đấu tranh dân chủ '' khỏi lo tôi tư cách có hay không. Có chửi tôi thì chả ăn thua vì tôi tự chửi mình trước rồi.

Không biết trình tự của ba nhạc phẩm trên, nhạc phẩm nào có trước. Những cảm nhận của mình tôi sắp xếp trình tự như ở phần đầu. Nhạc phẩm Chút Quà Cho Quê Hương đắng chát, trần trụi về một sự thật tăm tối thời bấy giờ trong nước, trong nhạc phẩm ấy tình trạng đói kém và thiếu thốn về vật chất được phác họa không chút che đậy màu mè, dăm ba thước vải, chiếc nhẫn yêu thương, cây bút máy, hộp diêm nhóm lửa..thú thực khi nghe bài đó. Tôi cũng ước có thân nhân ở nước ngoài để có quà là cây bút máy hay vài chiếc kẹo để ngậm cho ngọt giữa cuộc đời đầy cay đắng vì đói khát, thèm thuồng.

Rồi đến bài Lời Kinh Đêm thật sự tôi không nghĩ đó là cùng một tác giả. Bởi sự trần trụi cay đắng của Chút Quà Cho Hương lớn quá, khiến tôi không nghĩ nổi một nhạc phẩm đầy chất triết lý về sinh tử, chia ly được ẩn sâu trong ca từ như.

Thuyền bấp bênh cuộc sống mơ hồ
Người buông xuôi về nơi đáy nước
Người có mộng một nấm mồ xanh.

Thật khủng khiếp cho những người vượt biển, người vượt biển khi buông xuôi về nơi đáy nước với ước mơ thân xác mình có một nấm mồ xanh cỏ. Như bao nhiêu người chết bình thường khác trên bờ. Người ta có vô vàn ước mơ, nhưng ước mơ chết có được nấm mồ thì mấy nhà văn, nhà thơ nào tưởng rượng nổi. Phải chăng chính sự trải nghiệm của mình qua cuộc vượt biển đã khiến cho anh thấu được ước mơ của những người chết đuối trên biển Đông như vậy.

Thế rồi đột ngột nhạc phẩm Mời Em Về tuy có dấu ấn chung về nỗi buồn thân phận lưu vong như hai bài trước, nhưng nhạc phầm này ca từ lãng mạn một cách êm đềm đến dịu ngọt. Tôi cám ơn anh , mặc dù anh chưa ra Hà Nội lần nào nhưng nét vẽ của anh về Hà Nội, về một bà mẹ Hà Nội tóc bạc ngồi đâu đó đang tụng lời kinh Phật , tiếng Nam Mô buồn..làm tôi nhớ người mẹ già của tôi vô vàn. Người mẹ già của tôi đã bao lần ngồi đâu đó ở ngồi chùa nào của Hà Nội tụng kinh khấn Phật mong cho tôi thoát được cảnh ngục tù.

Bài hát dịu dàng lắm, này Cổ Ngư chiều đổ lá, trong mưa buồn lưa thưa, này phố phường xưa những chiều mưa phủ.

Bài hát mà lời như định mệnh. Mà cả lời của ba bài hát, có bài nào lời không như định mệnh đâu.? Một định mệnh buồn của thân phận tha hương.

Nhưng chim đã gãy cánh
Nhưng mấy đã ngừng trôi
Để cho tôi còn lại nơi này.

Mong anh nằm yên bình nơi ấy, nếu có dịp mà tôi sang bên đó. Chắc chắn sẽ đến nấm mồ xanh của anh để thắp nép hương cho một trong những người nhạc sĩ Việt Nam, đã viết những nhạc phẩm về thân phận con người sâu sắc nhất.

Mong lời ca của anh sẽ khiến những con chim xa xứ không bao giờ mỏi cánh ước mơ tìm về với quê cha, đất mẹ. Để chao cánh lượn trên bầu trời Hà Nội, Sài Gòn trong một chiều say nắng.

Chia buồn với trung tâm Asia đã mất đi một người MC ưu tú, người MC quan tâm sâu sát đến từng diễn biến của những người đấu tranh trong nước, nhắc tên những người đấu tranh trên sân khấu giữa hàng nghìn khán giả. Để cho những người yêu nước bên ngoài và những người yêu nước bên trong thấy gần gũi với nhau hơn, gắn bó và hiểu biết nhau hơn. Khoảng trống của anh để lại thật lớn trên sân khấu Asia. Hy vọng những MC như Nam Lộc, Thùy Dương cập nhật tình hình trong nước nhiều hơn và cặn kẽ hơn để lấp khoảng trống mà Việt Dzũng bỏ lại, thiết nghĩ đó cũng là cách tưởng nhớ người nhạc sĩ tài hoa và đầy lòng trắc ẩn, bao dung đó.

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

TINH THẦN TRẦN VĂN BÁ
ĐÃ MỞ ĐƯỜNG CHO TUỔI TRẺ VIỆT NAM


ĐINH LÂM THANH

Phải là một thanh niên phi thường với tấm lòng yêu nước nhiệt tình, Trần Văn Bá đã can đảm từ bỏ tất cả tương lai và sự nghiệp của mình để dấn thân trở lại quê hương, hoạt động chống kẻ thù ngay giữa lòng địch trong lúc cả triệu người Việt đang tìm đường vượt biên trốn chạy Cộng sản.

Đúng vậy, sau ngày thân phụ là cựu dân biểu Trần Văn Văn bị ám sát, Trần Văn Bá đã tự túc qua Pháp tiếp tục chương trình trung học. Sau đó anh chọn khoa Chính Trị Kinh Doanh tại đại học Nanterre, nơi mà đa số giáo sư có khuynh hướng thân cộng. Dù gặp nhiều khó khăn tinh thần giữa quan niệm chính trị thầy trò nhưng anh đã tốt nghiệp và trở thành Phụ tá Giảng viên tại đây. Năm 1972, đắc cử chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Quốc Gia tại Pháp, anh đã hoạt động hăng say, dốc toàn sức xây dựng một lực lượng sinh viên hùng mạnh để đương đầu với các phong trào phản chiến tại Pháp và chương trình địch vận của Hà Nội trước bối cảnh đất nước trong cơn sốt chiến tranh với nhiều áp lực từ bên ngoài và những trận chiến khốc liệt do cộng sản đánh phá tại Miền Nam.


Phải là một thanh niên đầy nhiệt huyết trước cảnh nước mất nhà tan, Trần Văn Bá đã xả thân đứng lên kêu gọi sinh viên chống lại chế độ cộng sản ngay từ những ngày cuối tháng Tư năm 1975 và lãnh đạo tổng hội Sinh Viên Quốc Gia để đương đầu với thành phần côn đồ, đâm thuê chém mướn do sứ quán Hà Nội điều động, nhất là sau ngày cộng sản Việt Nam chính thức đặt liên hệ ngoại giao với chính phủ Pháp.

Người Việt ở Paris trong thời gian nầy đều nhớ rõ những cuộc biểu tình bỏ túi, rải truyền đơn chống cộng cũng như những đụng độ xảy ra thường xuyên giữa hai nhóm Quốc Gia và cộng sản, từ khu chợ Tàu Paris 13, khu vực Việt cộng Mauber Paris 5, trên đường phố cho đến các trạm métro. Anh chị em thuộc tổng hội sinh viên Quốc Gia phối hợp với thanh niên tỵ nạn đêm ngày dán truyền đơn kể tội Hà Nội, đôi lúc phải xung đột với nhóm thanh niên sinh viên cộng sản, Việt kiều yêu nước và đám cô hồn do sứ quán Việt Nam trả tiền để chống việc làm của anh chị em sinh viên và người tỵ nạn mới qua. Một vết son cần phải nhắc lại, thời kỳ đó, Tổng Hội Sinh Viên Quốc Gia thường tổ chức một cách công khai tại rạp hát Maubert những chương trình văn nghệ mà chủ đề hướng về quê hương tổ quốc, vinh danh tự do của chế độ Cộng Hòa…Tinh thần Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đã được Trần Văn Bá và Tổng Hội Sinh Viên Quốc Gia duy trì, phát động và làm sống lại kể từ ngày đó.



Phải là một thanh niên mang nặng tình người, Trần Văn Bá cùng Tổng Hội Sinh Viên Quốc Gia đã tổ chức tiếp đón, chăm sóc phục vụ cho người tỵ nạn trong những năm đầu tiên họ đặt chân đến Pháp.

Dù trong hoàn cảnh khó khăn về tinh thần lẫn vật chất nhưng Trần Văn Bá, Tổng Hội Sinh Viên Quốc Gia đã tận tình giúp đở những người trốn chạy cộng sản vừa chập chững đặt chân đến Pháp. Từ việc giúp đở phương diện hành chánh, học hành, kiếm người thân đến tổ chức các lớp học giúp người tỵ nạn sớm hội nhập vào xã hội mới. Cá nhân người viết bài nầy (ĐLT) đã được anh Trần Văn Bá và các anh chị em trong Tổng Hội Sinh Viên Quốc Gia mở rộng vòng tay ân cần đón tiếp trong dịp lễ Giáng Sinh đầu tiên của đời tỵ nạn, vào năm 1979 trong khuôn viên thánh đường thành phố Issy.



Phải là một thanh niên khí khái, bất khuất và liên sỉ, Trần Văn Bá đã từ chối việc chống án và chấp nhận chết cho lý tưởng và tổ quốc. Thật là hành động phi thường của một người tranh đấu vì tự do dân chủ, một gương sáng cho những người đang nối nghiệp hôm nay cũng như đối với thế hệ trẻ sau nầy.

Trần Văn Bá bị tòa án cộng sản Việt Nam tuyên án tử hình tại nhà Quốc Hội cũ ở đường Tự Do ngày 14.12.1984 cùng với hai đồng chí Hồ Thái Bạch và Lê Quốc Quân (Mai Văn Hạnh và Huỳnh Minh Sanh bị tù). Anh đã thẳng thắn từ chối việc chống án hoặc xin ân xá mà chấp nhận một cái chết thật oai hùng, thật xứng đáng của một thanh niên Miền Nam. Anh chiến đấu vì dân tộc, vì quê hương tổ quốc và đã chết cho dân tộc, cho quê hương tổ quốc. Cộng sản xử bắn Anh trong khám Chí Hòa ngày 08.01.1985 cùng với hai đồng chí Hồ Thái Bạch và Lê Quốc Quân, sự hy sinh của anh đã trở thành tấm gương sáng chẳng những cho toàn thể nhân loại mà còn cho những ai đang tiếp nối con đường giải phóng dân tộc.


Phải là một thanh niên can đảm, không hèn nhác sợ sệt trước bạo quyền cộng sản. Khi bị bắt tại Việt Nam, Trần Văn Bá không bào chữa chạy tội, không van xin, không cam kết hứa hẹn, không phản bội lý tưởng, phản bội đồng đội và tổ quốc mà chấp ra tòa lãnh án tử hình.
Phải ghi vào lịch sử tranh đấu về tinh thần yêu nước và hành động phi thường của các anh hùng Trần Văn Bá, Hồ Thái Bạch và Lê Quốc Quân để tất cả cùng suy gẫm. Tôi muốn nhắc nhở những người, những tổ chức có mưu đồ bất chính, trở về Việt Nam thăm gia đình hoặc đầu cơ chính trị để ‘được’ bị bắt ! Trước mặt kẻ thù thì cúi đầu qụy lụy, chấp nhận tội lỗi và ăn năn sám hối rồi cam kết những điều kiện ngầm. Khi được cộng sản trả tự do, trở về gia đình họ không nhìn thấy vết chàm trên trán mà bắt đầu một chương trình quảng cáo đánh bóng cá nhân, đoàn thể…


Nhân ngày giỗ thứ 23 Anh Hùng Trần Văn Bá, tôi xin gởi một vài ý tưởng thô sơ đến :

* Các bạn trẻ ở hải ngoại :


Tôi không dám mơ ước các bạn sẽ lên đường dấn thân theo gương anh hùng Trần Văn Bá mà chỉ cầu xin một điều nhỏ : các bạn hãy hướng về quê hương, tổ quốc cũng như đồng bào ruột thịt đang đau khổ dưới ách thống trị của đảng cộng sản. Với một tinh thần yêu nước thương quê hương, với một bầu nhiệt huyết sôi sục trước quân thù, các bạn trẻ là động lực chính làm nên lịch sử. Xin hãy tập trung dưới một màu cờ Vàng Ba Sọc Đỏ với các cộng đồng người Việt hải ngoại để đẩy mạnh việc tranh đấu của chúng ta chóng đến ngày thành tựu. Đã là người tỵ nạn, chạy trốn chế độ độc tài cộng sản thì không thể chấp nhận lá cờ máu đỏ sao vàng, vì đây chính là cờ của đảng cộng sản. ‘đỏ sao vàng’ không phải biểu tượng của nước Việt Nam thân yêu của chúng ta mà là cờ của một tập đoàn cộng sản độc tài khát máu, của chiến tranh chết chóc, của nô lệ ngoại bang Tàu cộng do già Hồ Chí Minh mang về.



Cờ Máu là một biểu tượng nô lệ bằng ngôi sao thứ năm trên cờ Trung Cộng. Tàu Cộng vừa thêm một ngôi sao trên cờ máu của chúng, (Cờ đã được treo lên tại Bắc Kinh gồm 5 sao vàng nhỏ vây quanh hầu 1 sao vàng lớn) có nghĩa là cộng sản Việt Nam đã chấp nhận trở thành tên nô lệ thứ năm nhưng vẫn bày trò mập mờ ra lệnh cho du sinh dùng ‘cờ máu’ biểu tình chống Tàu cộng ! Đây là trò bịp cố hữu hay một sai lầm trầm trọng khi cộng sản Việt nam ra lệnh cho du sinh cầm cờ ‘thuộc địa nô lệ’ đến các sứ quán Trung cộng chống lại ‘mẫu quốc đồng chí’ của mình !



Kể từ giờ phút nầy dân tộc Việt Nam, tổ quốc Việt Nam chỉ còn độc nhất Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, vì đỏ sao vàng của đảng Cộng sản đã trở thành cờ thuộc địa của Tàu Cộng.



Xin hãy suy nghĩ, các bạn là con cháu của một nước Việt Nam oai hùng, các bạn mang giòng máu bất khuất của tiền nhân anh dũng chống ngoại xâm phương Bắc trong hàng chục thế kỷ. Tại sao ngày nay các bạn lại cam tâm chấp nhận cúi đầu dưới cờ máu đỏ sao vàng để trở thành nô lệ của Trung cộng thêm một lần nữa ?



Các bạn thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba…nghĩa là các bạn theo gia đình chạy trốn cộng sản lúc còn bé, hoặc được chào đời và trưởng thành ở hải ngoại, các bạn không biết hoặc chưa biết nhiều về cộng sản. Các bạn dễ bị dụ dỗ và mua chuộc bằng những hình thức kiều vận tinh vi dưới nhiều khía cạnh nhằm mục đích khơi động tinh thần yêu nước, lý tưởng tuổi trẻ và lòng nhiệt thành để lôi kéo các bạn đi vào con đường phục vụ chế độ độc tài độc đảng của chúng. Trái tim các bạn đầy nhiệt huyết, tình yêu các bạn bao la và chất xám các bạn phi thường…thì hãy cùng thế hệ chúng tôi góp công góp sức tranh đấu cho Đất Nước, cho Tự Do Dân Chủ, cho Ấm No Hạnh Phúc của tám chục triệu dân Việt Nam đang đau khổ dưới bạo quyền cộng sản. Đây chính là một hình thức đền ơn các bậc sinh thành đã hy sinh suốt cuộc đời để các bạn thành công ngày nay. Các danh vị tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư hoặc của cải tài sản mà các bạn có được ngày hôm nay là chính do trí thông minh và sự hiếu học của các bạn tạo thành. Nhưng xin đừng quên một điều quan trọng, đó cũng là mồ hôi, nước mắt của cha mẹ phải thức khuya dậy sớm bỏ báo, lượm lon, quét chợ, khiêng hàng, cắt cỏ, làm việc hai ba job…trong những ngày đầu vừa đặt chân đến vùng đất tự do để lo cho các bạn ăn học. Nói xa hơn nữa cũng phải tính đến xương máu của những người đã nằm xuống trong cuộc chiến cũng như chìm sâu dưới biển cả. Chính những hình ảnh nầy đã đánh thức lương tâm nhân loại và thúc đẩy khối tự do mở rộng vòng tay để các bạn có con đường sống, học hành và thành công. Uống nước phải nhớ nguồn, đừng nghe theo những lời đường mật của cộng sản để phản bội lại cha ông và những người đã nằm xuống để cho các bạn có cơ hội đứng dậy ! Vậy hãy tiếp tay với chúng tôi, tẩy chay cờ Đỏ Sao Vàng, xuống đường hỏi tội đảng Cộng sản bán nước hại dân.



* Các bạn trẻ tại quốc nội :



Với phương tiện và kỹ thuật truyền thông hiện đại, cộng sản Việt Nam không thể bưng bít tin tức và hình ảnh trên thế giới về các vấn đề nhân quyền, chính trị, kinh tế liên quan đến Việt Nam. Sau biến cố Hoàng Sa Trường Sa, gần như toàn dân Việt Nam đã sáng mắt sau hàng chục năm bị nhà cầm quyền cộng sản bưng bít, lừa gạt, tuyên truyền và nhồi sọ bằng những hình ảnh yêu nước ( !!!) của Hồ Chí Minh cũng như cái bánh vẽ vĩ đại của đảng. Nay toàn dân đã tĩnh thức và can đảm đối diện trước rào kẽm, súng đạn để hỏi tội đảng cộng sản mà trong đó, thanh niên sinh viên học sinh là thành phần tiên phong xuống đường và cũng là nòng cốt của các cuộc nổi dậy.



Lịch sử đã chứng minh, vai trò thanh niên sinh viên học sinh chính là ngòi nổ, là tiếng súng lệnh mở đầu cho công cuộc tranh đấu và cũng chính giới trẻ tại Việt Nam sẽ kết thúc cuộc cách mạng trong vinh quang để đem hạnh phúc no ấm, tự do dân chủ cho toàn dân. Như vậy chính tay các bạn sẽ làm nên lịch sử thì hãy can đảm đứng lên theo tiếng gọi của khối óc, con tin và niềm tự hòa của tuổi trẻ Việt Nam.



Nếu các bạn thuộc thành phần hậu duệ của Việt Nam Cộng Hòa, chào đời và trưởng thành dưới chế độ cộng sản, chắc các bạn cũng biết tổ tiên và gia đình bạn đã bị phân loại làm thứ dân dưới chế độ mới, bị trù dập từ hàng chục năm qua, thì nay, chính các bạn phải lãnh nhiệm vụ vai trò đầu cầu, tích cực bên cạnh các bạn trẻ của chế độ mới, các tổ chức đòi nhân quyền, dân oan, giáo oan…để xuống đường đẩy cuộc cách mạng mau đến thành công.



Đối với các bạn là con cháu của chế độ mới, được sinh ra và lớn lên trong vòng tay của cha ông, sống nhờ ân huệ của đảng và nhà nước, thì dù sao bạn phải bảo vệ những gì đảng và nhà nước đã ban bố. Tuy nhiên chúng tôi có vài điều muốn đặt ra với trái tim và lương tâm của các bạn. Các bạn là người yêu quê hương tổ quốc, các bạn có học, thông minh, các bạn đã ra xứ ngoài nhiều dịp và chắc chắn đã có lần so sánh về hai chế độ Tự do và cộng sản hay nói một cách chính xác hơn, hình ảnh trái ngược giữa một nước Việt Nam cộng sản với một quốc gia Tây Phương Tự Do. Các bạn có đau lòng khi thấy đất nước đã 33 năm ngưng hẳn tiếng súng, hàng triệu khối óc thông minh, hàng chục triệu bàn tay lao động trong một xứ sở được thiên nhiên ưu đãi với những đồng ruộng có bay thẳng cánh, sông nước mênh mông, đất đai màu mỡ, tôm cá đầy đồng, tài nguyên trù phú…cộng với hàng trăm tỷ đóng góp từ nước ngoài, hàng chục tỷ ngoại tệ vay mượn, nhưng đảng cộng sản đã làm được gì cho quê hương, cho đất nước và dân tộc ? Các bạn là những người có kiến thức, biết nhận định, hãy thử làm những con tính để thấy cái dốt nát của nhóm lãnh đạo, cái vô trách nhiệm của giới cầm quyền cộng sản và lòng tham vô đáy của tập đoàn bán nước. Theo bảng thống kê quốc tế mới đây, mức thu nhập trung bình hằng năm của người Việt Nam được quốc tế xếp vào hạng áp chót. Thật xấu hổ khi cộng sản rêu rao rằng Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là chiếc nôi của nhân loại, đỉnh cao trí tuệ của loài người mà vẫn còn đứng sau những xứ quê mùa lạc hậu ở Phi Châu. Nhưng khi đề cập đến nhân quyền, tự do, bóc lột, đàn áp…nạn đĩ điếm, nạn buôn người, tình trạng tội phạm, tình trạng tham nhũng thì Việt Nam lại dẫn đầu thế giới !



Các bạn có xấu hổ khi toàn thế giới nhìn vào những bộ mặt Việt Cộng đang ngồi trên ghế ủy viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc ? Chiếm được ghế ngồi tại đây là một vinh dự cho đất nước, nhưng chúng ta không nên mừng, vì đảng cộng sản đã tự hủy vai trò cao quý đồng thời tự bôi tro trát bùn lên bộ mặt của chúng bằng những hành động đã và đang xảy ra dưới chế độ. Từ việc cai trị độc quyền sắt máu, lấy đất cướp của dân lành, đàn áp tự do dân chủ, bắt bớ tù đày đối lập, cướp bóc tham nhũng vô độ, xuất khẩu nô lệ ồ ạt, bán gái làm vợ năm châu, tổ chức mại dâm câu khách…đến hành động dâng đất hiến biển cho Tàu cộng, thì đối với người tự do hải ngoại, đây là một mối nhục của dân tộc Việt Nam. Vậy đối với các bạn trẻ trong nước, xin hãy dùng con tim và lý trí để phán xét sự việc, chúng tôi tin chắc các bạn sẽ tìm được lối thoát một khi tình cảm, lương tâm và tự ái trong con người các bạn tỉnh giấc và vùng dậy ?



Chúng tôi nói thật điều nầy, từ những người trong trung ương bộ chính trị đảng Cộng sản đến cha ông các bạn, cũng như chính bản thân các bạn hoàn toàn không còn tin tưởng vào sự sống còn của chế độ. Tất cả đều biết ngày tàn của đảng Cộng sản đã đến và chắc chắn các bạn đều biết, từ cán bộ trưng ương bộ chính trị xuống đến viên chức địa phương đang vội vàng tìm cách vơ vét thu góp tài sản chuyển ra ngoại quốc hầu tìm đường thoát thân. Tập đoàn lãnh đạo đảng đang tìm đường thoát thân, tìm cách chuyển tiền của đi trước, dĩ nhiên họ đã thấy trước ngày tàn của quyền lực thì tại sao các bạn lại níu kéo dài sự hiện diện của đảng cộng sản ?



Giờ đây đảng cộng sản Việt Nam chỉ là một xác chết đã rữa nát mà hồn thì đang đi tìm thiên đường tư bản để nương tựa. Một mai đổi đời, trong lúc đám cán bộ trong bộ chính trị trung ương đảng tiếp tục cuộc đời đế vương thì chính các bạn sẽ lãnh một gia tài rách nát, nợ nần. Quê hương tổ quốc là của các bạn, tương lai lãnh đạo và xây dựng đất nước đều nằm trong tay các bạn thì tại sao ngay từ giờ phút nầy không thừa cơ hội đạp đổ cái xác chết thối nát Cộng sản để lập lại thiên đường Tự Do cho một nước Việt Nam mới ?



Tôi nghĩ rằng, tinh thần Trần Văn Bá đã kịp thời khơi dậy lòng yêu nước của thế hệ các bạn trẻ. Các bạn không còn cô đơn, không phải sợ sệt vì từ hải ngoại đến quốc nội sẽ có hàng trăm hàng ngàn Trần Văn Bá cam đảm xuống đường tranh đấu chống bạo quyền cộng sản thối nát, giành lại tự do, nhân quyền, no ấm hạnh phúc cho toàn dân để chúng ta có đủ thực lực đứng lên chống Tàu cộng, đòi lại giang sơn gấm vóc đang năm trong tay quân ngoại xâm.



Nhân ngày giỗ thứ 23, tôi chân thành cúi đầu trước vong linh anh hùng Trần Văn Bá, Lê Quốc Quân, Hồ Thái Bạch, những người đã hy sinh đời mình cho đại cuộc, cho lý tưởng tự do và hạnh phúc của toàn dân. Các Anh đã chết để cho hàng triệu người được sống, và các Anh sẽ sống mãi trong tâm hồn của hàng chục triệu người đang khao khát tự do hạnh phúc. Đó có lẽ là niềm mơ ước mà các Anh hằng ấp ủ trong suốt cuộc đời tranh đấu và cũng là hành trang của một người nằm xuống vì quê hương tổ quốc.



Cuối cùng, chúng tôi nhân cơ hội nầy, xin nghiêng mình trước tinh thần yêu nước của các bạn trẻ Việt Nam đã đồng thanh vùng dậy hỏi tội cộng sản về việc bán đất dâng biển cho quan thầy Tàu cộng.



Đinh Lâm Thanh
Paris, ngày 08.01.2008



[/size]

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Cộng sản Việt Nam đi về đâu?

Đại Nghĩa
(Danlambao) - Đứng trước sự tan rã của khối XHCN, những áp lực ngoài thì của bọn bành trướng Bắc Kinh, trong thì nhân dân ngày càng chống đối, đảng CSVN thấy nguy cơ mất quyền lãnh đạo và không biết làm sao để “hạ cánh mềm” nên đảng cố tìm lấy một cái phao hầu cứu vãn tình thế, nhưng họ đang: “Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước / Chọn một dòng hay để nước trôi”. (Thơ Tố Hữu). Nếu ngã sang Mỹ thì mất đảng; còn ngã sang Tàu thì mất nước. Cộng sản Việt Nam đang giở trò bắt cá hai tay.


83 năm qua, Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam theo con đường của học thuyết của Karl Marx - Lenin đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa cộng sản vô thần, nhưng chủ nghĩa ấy đã phá sản ngay trên quê hương của nó và thần tượng Marx - Lenin đã bị hạ bệ từ lâu.

Chính cái học thuyết này đã gây tang tóc cho nhân loại suốt gần một thế kỷ qua, những dân tộc vận dụng nó phải gánh lấy tai ương, nhất là sự chia rẽ và hận thù dân tộc cho đến ngày hôm nay vẫn chưa hàn gắn được.

Ở Việt Nam, hậu quả của đấu tranh giai cấp, Hồ Chí Minh đã nghe lời quan thầy Nga-Tàu tàn sát nhân dân mình qua phong trào “cải cách ruộng đất”, cuộc thanh trừng đẫm máu trong vụ “nhân văn giai phẩm” cũng như vụ “xét lại chống đảng”, cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, còn nhiều... và nhiều nữa. Biết bao nhiêu xương máu của nhân dân Việt Nam đã đổ, biết bao nhiêu tài nguyên của đất nước đã bị hủy diệt. Những dân tộc tiến bộ đã nhận thức được sự tàn hại của chủ nghĩa cộng sản nên đã vứt đi và đoạn tuyệt duy chỉ còn vài con nhạn lạc lõng tham quyền cố vị bám trụ như Việt Nam.

Học thuyết Mac-Le:

Mác - Lenin đã lợi dụng thời cơ “mạt vận” của xã hội phong kiến và tư bản man rợ gây ra đời sống bất công đau khổ cho lớp người bị trị nên họ đã hô hào, cổ võ cho cuộc đấu tranh với chiêu bài giải phóng qua ảo tưởng giành quyền “làm chủ tập thể” những gì họ cướp được và “tiến lên” thiên đàng XHCN. Một thiên đàng mà cho đến ngày hôm nay TBT đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng cũng không biết đến bao giờ nó mới được “hoàn thiện”(?).

Đảng CSVN đã vận dụng học thuyết Mac-Lenin một cách mù quáng để rồi cả dân tộc nhận lấy hậu quả bi thương nên Đại tá công an Lê Hồng Hà, nguyên Chánh văn phòng bộ Công an CSVN nói rõ cái sai lầm và tác hại của học thuyết “lẩm cẩm” ấy như sau:

“Đối với dân tộc Việt Nam, học thuyết Mac là học thuyết ngoại nhập... không lý giải được xã hội Việt Nam với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng hoàn toàn khác với Tây Âu, rất dễ mang cách mạng Việt Nam đi chệch đường và do đó gây nên tổn thất, gây đổ vỡ, gây kìm hãm sự phát triển”. (Người Việt ngày 28-1-2001)

Bằng vào thực tế, sau bao nhiêu năm sống dưới chế độ cộng sản, tiến sĩ Hà Sĩ Phu nhận thức được đảng CSVN đã đi theo một học thuyết hoang đường nên ông đã sớm “Chia tay ý thức hệ” và ông đã nói rõ:

“Học thuyết Mac-Lenin không phải là cái gì cao xa chưa tới mà chỉ là hoài vọng đã bị vượt qua, chỉ là biến tướng mới mang cái mốt công nghiệp của chủ nghĩa phong kiến đã bị lịch sử vượt qua trước đây nhiều thế kỷ. Nó không phải là thứ cẩm nang dẫn đường đầy tính súc tích huyền bí đến mức hàng thế kỷ sau chưa có ai hiểu đúng, mà chỉ là những dự đoán lẩm cẩm không bao giờ có thực trên đời”. (Tuyển tập HSP trang 117)

Những nhà cách mạng trí thức lão thành của Việt Nam đã vạch ra sự sai lầm của chủ thuyết Mac- Lenin thì những người lãnh đảng CSVN khéo ngu ngơ cố bám và giữ lấy như là “cẩm nang dẫn đường” trong khi các dân tộc tiến bộ đã quăng nó vào sọt rác. Đảng CSVN vẫn phải bám nó như một cái phao để bảo vệ quyền lực, bảo vệ đảng dù đã gây tác hại cho dân tộc biết bao nhiêu. Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang đã mạnh mẽ kêu gọi đảng CSVN:

“Ba mươi năm qua, chủ nghĩa Mac-Lenin tàn phá đất nước này về mặt kinh tế, và tàn phá về mặt văn hóa và tư tưởng...

“Phải bỏ chủ nghĩa Mac-Lenin và phải rút ra được những nhận định một cách khách quan thẳng thắn về sự tàn hại của cái ứng dụng sai lầm chủ nghĩa Mac-Lenin”. (Người Việt ngày 11-7-2005)

Ở Liên xô, cái nôi của phong trào với chiêu bài “cách mạng giải phóng”, đã khởi xướng một cuộc chiến tranh đẫm máu dai dẳng đã giết hại cả trăm triệu mạng người trên thế giới. Dân Liên xô và các nước Đông Âu đã thức tỉnh và đã ra khỏi quỷ đạo của học thuyết diệt chủng này, họ đã lôi ngã đầu những “thần tượng” mà đảng CSVN còn tôn thờ. Mới đây nhân dân Ukraina đã làm một việc mà đài phát thanh Quốc tế RFI đã chua chát viết bài đưa tin với tựa đề: “Ukraina: Ai chặt đầu tượng Lênin?” và bức tượng này đã bị chính người dân đè đầu cỡi cổ.

“Một sáng đầu tháng 12, tin về bức tượng Lenin, nằm tại công viên “Công nhân viên ngành đường sắt” ở Kotovsk, bị cắt đôi được thông báo. Ngày hôm trước, một bức tượng Lenin tương tự tại Kiev cũng chịu cùng số phận…

“Kể từ sau vụ bức tượng Lenin đầu tiên bị lật nhào vào năm 1989, hai năm trước khi Liên xô tan rã và Ukraina tuyên bố độc lập, gần như tất cả tượng Lenin tại miền Tây Ukraina bị xóa sổ”. (RFI online ngày 27-12-2013)

Chủ nghĩa Xã hội:

Ngày nay, sau bao nhiêu năm “tiến lên” CNXH nhân loại đã nếm mùi đau thương và đã nhận lấy hậu quả nghiêm trọng về sự tác hại của nó như thế nào rồi, họ không còn bị ru ngủ với cái “thiên đường mù” ấy nữa.

Giáo sư Trần Phương, nguyên Phó thủ tướng và là Chủ tịch hội Khoa học kinh tế Việt Nam phát biểu trong lần thảo luận về cương lĩnh của đảng CSVN, ông nói:

“...những dự đoán của Mac và Lenin về cái gọi là CNXH, sai rồi, mà rõ ràng là thực thi 70 năm đã thất bại rồi”. (RFA online ngày 17-12-2010)

Hôm sau giáo sư Phương trình bày tiếp:

“Thế bây giờ CNXH của ông là cái gì đây? Thật ra mà nói, chúng ta nói và chúng ta biết là chúng ta bịp người khác. Đến tôi bây giờ, tôi cũng không biết CNXH mà chúng ta sẽ đi là CNXH gì đây?” (RFA online ngày 18-12-2010)

Trung tướng Trần Độ, một vị tướng khai quốc công thần, sớm “giác ngộ cách mạng” nhưng cũng là vị tướng sớm “thức tỉnh” cho nên ông đã bị đảng của ông khai trừ một cách nghiệt ngã, đến nỗi khi chết ông không có được một vòng hoa mang chữ “vô cùng thương tiếc” cũng như bị tước đi chữ quân hàm “trung trướng” ngay cả trên vòng hoa của “ông Võ Nguyên Giáp”. Cùng một nhận định với PTT Trần Phương, trung tướng Trần Độ đã xác nhận rằng:

“CNXH chỉ là một lý thuyết của một học thuyết chưa được chứng thực, chỉ mới có sự chứng thực của sự thất bại và đổ vỡ sau 70 năm tưởng rằng đã thành công”. (Nhật ký Rồng Rắn trang 21-22)

Trong khi toàn dân muốn sửa đổi Hiến pháp một cách một cách rốt ráo, thì Quốc hội (Đảng CSVN) lại chỉ “tráo bài ba lá” cho lấy lệ rồi thì vẫn y như cũ, trong khi Hiến pháp năm 2013 vẫn cố duy trì XHCN thì TBT đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố một cách ngu xuẩn rằng:


“Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng XHCN còn lâu lắm, đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”. (Thanh Niên online ngày 26-10-2013)

Đảng CSVN:

Gần 70 năm qua vận mạng dân tộc Việt Nam bị đặt dưới sự thống trị của một tổ chức nhân danh là Đảng Cộng sản, vậy chúng ta cần biết qua cái sự hình thành của cái tổ chức này để biết tương lai sẽ đưa dân tộc đi về đâu. Trung tá Trần Anh Kim, nguyên Chính ủy tỉnh đội Thái Bình, người hiện đang ngồi tù cộng sản cho chúng ta biết rõ chân tướng của họ ra sao:

“Khi hình thành, họ thu nạp phần lớn kẻ khố rách áo ôm, kém học vấn, rất vô văn hóa, rồi đảng dạy cho lũ cốt cán “vu oan giá họa”, “ngậm máu phun người”... Những thành phần trên được hợp lại thành một tổ chức gọi là “đảng CSVN”. (Thời Luận ngày 8-8-2008)

Vì đảng cộng sản chỉ hình thành và tập hợp những con người như thế cho nên họ đã ngu muội trung thành theo sự lừa dối mà hy sinh, quá khích nên họ đã thành công trong đấu tranh, bắn giết; nhưng đã thất bại trong xây dựng và phát triển đất nước. Họ đã không đem lại độc lập, tự do dân chủ và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho toàn dân, mà chỉ đem lại sự phồn vinh giả tạo cho bọn tư bản đỏ và nhóm “lợi ích”, gây bất mãn cho những người trước đây đã lầm nghe theo lời khuyến dụ của cộng sản. Ông Nguyễn Văn An, nguyên chủ tịch Quốc hội đã phát biểu qua lời kể lại trong bài: “Đa nguyên, đa đảng là tất yếu” của tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang như sau:

“Chính những người cộng sản chân chính cũng muốn giải tán đảng đã biến chất để xây dựng đảng mới, để sửa lỗi hệ thống, để làm lại từ đầu”. (Đàn Chim Việt online ngày 11-1-2011)

Sau hơn 38 năm hòa bình, thống nhất đất nước, cả nước Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN qua sự đánh giá thành quả của nhà báo đại tá Phạm Đình Trọng, người đã bỏ đảng nhận định như sau:

“...đảng CSVN, một tổ chức chính trị đã dùng bạo lực tàn nhẫn ứng xử với dân tộc Việt Nam văn hiến và đã đem lại cho nhân dân Việt Nam một thế kỉ cách mạng, chiến tranh đẫm máu, li tán dân tộc, tan hoang đất nước.

“Đảng cộng sản tồn tại bằng độc quyền quyền lực. Xóa bỏ độc quyền quyền lực là xóa bỏ sự tồn tại của đảng cộng sản. Hiện nay đảng cộng sản đã là một sản phẩm lỗi thời của lịch sử...

“Đảng cộng sản tự đặt vào thế đối lập với nhân dân, trở thành vật cản của dòng chảy lịch sử, kìm hãm đất nước trong trì trệ, đưa đất nước vào khủng bố, đàn áp đẫm máu, vào bạo loạn, rối ren, giam cầm nhân dân trong ngục tù, nhục hình của chuyên chính vô sản, đày ải, vô hiệu, thủ tiêu nhiều tài năng, trí tuệ và khí phách dân tộc”. (Đàn Chim Việt online ngày 7-2-2012)

Một làn sóng bỏ đảng đang gia tốc theo sau luật gia Lê Hiếu Đằng có tiến sĩ Phạm Chí Dũng, bác sĩ Nha khoa Nguyễn Đắc Kiên..., bỏ đoàn Thanh niên cộng sản như nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên và bỏ Hội cựu Chiến binh như nhà báo Nguyễn Tường Thụy... Mặc dù tiến sĩ Phạm Chí Dũng làm đơn “xin ra đảng”, nhưng ông đã được đảng ân huệ “cho Khai trừ” và ông nhận định:

“Nếu đảng không tự thay đổi bằng cách tự làm sạch mình và ngó ngàng tới dân chúng, người nghèo nhiều hơn, không chấp nhận những tiếng nói và chính kiến đa chiều, trái chiều, đảng sẽ bị chính dân chúng phủ nhận và thay đổi trong không bao lâu nữa...

“…một làn sóng thoái đảng và bỏ đảng công khai trong những năm tới, đảng sẽ làm sao có thể “hạ cánh mềm” nếu họ không tự thay đổi, và hơn nữa phải “thay máu” một cách ghê gớm. Mà thời gian để tự đổi thay lại không còn nhiều, chỉ có thể được tính theo năm...” (Bauxite Việt Nam online ngày 19-12-2013)

Theo tiến sĩ Phạm Chí Dũng thì thực trạng hiện tình của đảng CSVN đang “tan rã từ bên trong” cho nên một số đông đảng viên đã nhanh chân “bỏ đảng chạy lấy người”.

“Theo một báo cáo năm 2012 của một cơ quan đảng có tới 36-40% các đảng viên không sinh hoạt đảng. Đó là một thực trạng mà đảng phải đối phó. Bị mất lòng tin và có dấu hiệu tan rã từ bên trong”. (BBC online ngày 26-12-2013)

Ông Đào Văn Tùng (Thiện Tùng), gia nhập đảng Lao Động từ năm 1959 nhưng ông lại sớm “từ bỏ đảng” về làm dân...

“Ngay từ đầu năm 1980, tôi là một trong những người bất đồng chính kiến với đảng trong đường lối cải tạo XHCN, khi ấy không thể nào cưỡng nổi ý định của đảng, dầu đang là Phó trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy tỉnh Tiền Giang, được lãnh đạo trọng dụng, tôi đã tự ý từ nhiệm, sau đó trả thẻ đảng. Tiếp theo tôi, bốn ông...

“Theo quan sát của tôi, từ đảng không còn là cá biệt, đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra. Tùy nhận thức và tình cảm của từng người, từ đảng có nhiều cách, độ “đậm đặc” không thể giống nhau...

“Điều quan trọng mà tôi nhận thấy, gần như hầu hết những người từ đảng là họ không chấp nhận thể chế độc tài toàn trị của đảng, họ “nặng nợ” với nước với dân, muốn đảng thực hiện thể chế Dân chủ Đa nguyên về mọi mặt, nhưng đảng luôn từ chối, khiến họ phải ly khai (từ đảng)”. (Bauxite Việt Nam online ngày 22-12-2013)

Khi xưa đảng cộng sản khởi đầu dựng bá nghiệp, lúc còn phôi thai thì cần sự trợ giúp của nhân dân cho nên đảng phải tỏ ra hiền lành, dễ thương nên đảng nói dân nghe, nay bá nghiệp đã thành, đảng không còn cần dân mà trị dân bằng chính sách độc tài và do đó mà ngày nay đảng nói đảng nghe, dân không nghe. Dân với đảng trở nên đối lập, nhưng đảng CSVN nên nhớ câu nói của cụ Nguyễn Trãi “Chèo thuyền cũng là Dân, lật thuyền cũng là Dân”.

Cụ Hoàng Minh Chính đã chứng minh cho đảng CSVN thấy rằng đảng cộng sản Liên xô đã phạm vào qui luật tự nhiên mà cụ Nguyễn Trãi dạy nên đã nhận lãnh hậu quả của sự đào thải và đảng CSVN hãy lấy đó “rút kinh nghiệm” mà hành xử trước khi quá muộn.

“Liên xô đàn áp nhân dân như thế, Liên xô đi theo chủ nghĩa Mac- Lenin xây dựng một chính đảng toàn trị, thì chính nhân dân đã nổi dậy lật đổ chính cái đảng đó”. (Việt Tide số 55 ngày 2-8-2003)

Vì muốn bảo vệ XHCN, bảo vệ đảng CSVN nên những nhà lãnh đạo đảng CSVN vội vã kéo nhau sang Trung cộng tìm chỗ dựa, nhưng họ đã trao duyên lầm cho tướng cướp. Trung tướng Trần Quốc Bảo đã nói rõ như sau:

“Trung quốc tham vô đáy, không khéo ta sẽ từng bước trở thành bộ phận Trung quốc. Vì nói phải ngã về Trung quốc để được yên là chủ nghĩa đầu hàng, chủ nghĩa thất bại. Ngã theo Trung quốc thực chất là bán nước”. (Đàn Chim Việt online ngày 3-9-2009)

Đứng trước sự tan rã của khối XHCN, những áp lực ngoài thì của bọn bành trướng Bắc Kinh, trong thì nhân dân ngày càng chống đối, đảng CSVN thấy nguy cơ mất quyền lãnh đạo và không biết làm sao để “hạ cánh mềm” nên đảng cố tìm lấy một cái phao hầu cứu vãn tình thế, nhưng họ đang:


“Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước
Chọn một dòng hay để nước trôi”. (Thơ Tố Hữu)

Nếu ngã sang Mỹ thì mất đảng; còn ngã sang Tàu thì mất nước.

Cộng sản Việt Nam đang giở trò bắt cá hai tay.

Đại Nghĩa 2014

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Kịch bản khủng khiếp của chiến tranh Mỹ - Trung Vào buổi sáng hôm đó, một “cơn mưa” hơn 1.000 tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình của Trung Quốc dội xuống các mục tiêu dân sự và quân sự ở Đài Loan. Và cuộc xung đột Mỹ - Trung bắt đầu.

Trên tạp chí The Week (Anh), tác giả Eugene K. Chow "vẽ" lên kịch bản chiến tranh giữa 2 cường quốc Mỹ và Trung Quốc, một cuộc chiến mà nếu thực sự xảy ra, hậu quả có thể sẽ là khủng khiếp nhất trong lịch sử.

Trong lúc không quân Mỹ đóng tại Okinawa, Nhật Bản chuẩn bị hỗ trợ đồng minh, Trung Quốc tiến hành các cuộc tấn công mạng vào các hệ thống phòng không của Mỹ. Loạt tên lửa đạn đạo thứ hai được bắn vào không gian, phá hủy các vệ tinh quân sự trọng yếu đồng thời loạt tên lửa thứ ba bắn vào căn cứ không quân Mỹ, phá hủy máy bay chiến đấu và vô hiệu hóa đường băng.

Trong khi đó, một đội tàu sân bay tấn công của Mỹ do “siêu tàu sân bay” USS George Washington dẫn đầu khởi hành từ Nhật Bản hướng tới eo biển Đài Loan. Do không có các dữ liệu cảnh báo tiên tiến và dữ liệu khác từ vệ tinh, hệ thống phòng thủ tên lửa của nhóm tàu Mỹ rơi vào thế bất lợi trước loạt tên lửa “diệt tàu sân bay” của Trung Quốc đang lao tới. Mặc dù hệ thống phòng thủ tên lửa trên đội tàu Mỹ đã hoạt động “hết mình” nhưng một số tên lửa Trung Quốc vẫn tiến tới mục tiêu khiến bong tàu USS George Washington không thể dùng để cất cánh/hạ cánh máy bay được. Sức mạnh hải - không quân đáng sợ của Mỹ bị loại bỏ.

Image
Tàu sân bay USS George Washington của Hải quân Mỹ.
Mặc dù còn xa mới là một bức tranh hoàn chỉnh về cuộc chiến Mỹ - Trung nhưng kịch bản giả định trên đây là cơn ác mộng tồi tệ nhất của quân đội Mỹ.

Tất nhiên vào thời điểm này, mặc dù Trung Quốc không ngừng “giễu võ giương oai” ở vùng biển hoặc không phận quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư cũng như đe dọa Đài Loan, chiến tranh Mỹ - Trung gần như chắc chắn sẽ không nổ ra. Tuy nhiên, việc xây dựng một kịch bản chiến tranh giữa hai nước có thể giúp ngăn chặn một cuộc chiến thực sự.

Trên thực tế quân đội Mỹ vẫn là lực lượng chiến đấu đáng sợ nhất thế giới, có thể nói là không thể đánh bại trong một trận đánh “một đấu một”. Tuy vậy, một cuộc chiến tranh nếu kéo dài có thể sẽ dẫn tới việc sử dụng vũ khí hạt nhân quá tốn kém. Trung Quốc chắc chắn nhận thức được điều đó. Vì vậy, thay vì đẩy chính mình vào một cuộc chiến tổng lực mà nước này không thể giành chiến thắng, Trung Quốc sẽ đi theo chiến lược quân sự phục vụ cho một mục đích nhỏ hơn nhưng khôn ngoan hơn – đẩy Mỹ ra khỏi “sân sau” của Trung Quốc.

Giành lại danh dự cho người Trung Quốc

Những hành động khiêu khích của Trung Quốc về Đài Loan và quần đảo Senkaku/Điếu Ngư không phải là vì bản thân các đảo này mà chủ yếu về vấn đề danh dự quốc gia. Tuy nhiên, nổi cáu vì vụ “bẽ mặt” sau biến cố eo biển Đài Loan năm 1996 (khi đó, Tổng thống Mỹ đã điều 2 đội tàu sân bay tấn công tới khu vực này), chính phủ Trung Quốc phải tìm mọi cách thể hiện năng lực ngày càng tăng của mình bằng cách kiểm soát Thái Bình Dương, khu vực từ bấy lâu nay vẫn do Hải quân Mỹ thống trị.

Theo giáo sư Hugh White, chuyên gia về chiến lược tại Đại học quốc gia Australia, các hành động của Trung Quốc, đặc biệt là những hành động vừa qua, là thông điệp mạnh mẽ của nước này gửi tới Mỹ rằng Bắc Kinh muốn “soán ngôi” Washington để trở thành quốc gia thống lĩnh khu vực này.

“Họ (Trung Quốc) muốn nói với Mỹ rằng chúng tôi rất nghiêm túc về vấn đề này nên đã chuẩn bị sẵn sàng cho những hậu quả từ hành động khiêu khích của mình, và các anh (Mỹ) phải coi trọng mong muốn thay đổi trật tự của chúng tôi”, giáo sư Hugh White nhận định.

Để thực hiện các kế hoạch trên, các chiến lược gia Trung Quốc đã “tích lũy” một kho vũ khí truyền thống tương ứng với vũ khí của Mỹ nhằm đối trọng với sức mạnh quân sự của nước này. Mục tiêu của Trung Quốc là tạo ra

Trung Quốc và chiến lược A2/AD

Nhằm mục tiêu ngăn chặn các lực lượng Mỹ sử dụng thế mạnh vượt trội về công nghệ tấn công vào trung tâm đất liền Trung Quốc, quân đội Trung Quốc đã theo đuổi chiến lược “chống tiếp cận/chống xâm nhập” (A2/AD).

Về cơ bản, A2/AD là một chiến lược quốc phòng nhiều tầng lớp tích hợp cả các cuộc tấn công trên đất liền, trên biển, trên không, chiến tranh mạng và vũ trụ để đối phó với những lợi thế quân sự của Mỹ.

Thay vì thực hiện một cuộc tấn công trực diện, chiến lược này huy động nhiều “đợt sóng” tấn công bằng các cuộc tấn công mạng, vũ khí chống vệ tinh, tên lửa đạn đạo, tàu ngầm tàng hình và các vũ khí khác nhằm cản trở quân đội Mỹ khi lực lượng này tiến về phía bờ biển Trung Quốc.

Theo một kịch bản thành công nhất của Trung Quốc sử dụng chiến lược A2/AD, các đợt sóng tấn công liên tiếp sẽ làm suy yếu sức mạnh của kẻ thù và tới thời điểm tiếp cận mục tiêu, kẻ thù đã tiêu hao quá nhiều sinh lực, không đủ sức để thực hiện một cuộc tấn công lớn.

“Con át chủ bài” trong quốc phòng của Trung Quốc là kho tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình ngày càng lớn của nước này và những tên lửa này có tầm bắn phủ khắp phần lớn châu Á. “Đáng gờm” nhất là tên lửa “sát thủ tàu sân bay” DF-21D với tầm bắn khoảng 2.700km và được thiết kế đặc biệt nhắm tới vũ khí quyền năng của quân đội Mỹ - tàu sân bay.

Ngoài ra, Trung Quốc sở hữu lượng máy bay chiến đấu ngày càng gia tăng và đáng chú ý nhất là chiến đấu cơ tàng hình thế hệ 5 J-20 và J-31. Cùng lúc đó, Trung Quốc cũng đã sở hữu ít nhất 12 tàu ngầm lớp Kilo của Nga còn quân đội Mỹ lại đang chuyển hướng khỏi những kĩ năng chiến đấu của thời kỳ Chiến tranh lạnh trong đó có kĩ năng săn tàu ngầm.

Image
Tên lửa “sát thủ tàu sân bay” DF-21D của Trung Quốc.
Mỹ và chiến lược vô hiệu hóa A2/AD

Trong lúc giới phân tích xây dựng các kịch bản chiến tranh Mỹ - Trung về lí thuyết, trên thực tế cuộc chạy đua vũ trang giữa hai cường quốc hiện đang diễn ra hết sức quyết liệt.

Trong lúc Trung Quốc phát triển các vũ khí tương ứng nhằm giảm thiểu những lợi thế của Mỹ, Lầu Năm Góc cũng đang nghiên cứu các công nghệ để đối phó với công nghệ quân sự của Trung Quốc.

“Để giảm nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh, Mỹ và Đài Loan đã có những bước đi khiến Trung Quốc cảm thấy cái giá của chiến tranh không hề nhỏ”, nhà phân tích chính sách quan hệ quốc tế David Shlapak nhận định.

Theo Đô đốc Patrick Walsh, cựu tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Hải quân Mỹ cho rằng không có lí do gì phải lo sợ trước sức mạnh quân sự ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc nếu Mỹ vẫn tiếp tục nâng cao năng lực quân sự của mình.

“Khi chúng ta xem xét các bước phát triển này, ví dụ như tên lửa đạn đạo chống tàu, đó là những bước tiến về công nghệ mà chúng ta rất ngưỡng mộ nhưng không nhất thiết phải lo sợ”, Đô đốc Walsh nói.

“Yếu tố then chốt trong bất kỳ chiến lược phòng ngừa nào là phải khiến đối thủ sau khi đạt được một công nghệ phải hiểu rằng chúng ta có công cụ để đối phó với công nghệ đó và còn ở mức ưu việt hơn”, Đô đốc Walsh nói tiếp.

Tuy vậy, ngay cả khi Mỹ giành lợi thế tốt hơn về công nghệ quân sự, năng lực quân sự phát triển với tốc độ chóng mặt của Trung Quốc cũng khiến một cuộc xung đột với Mỹ dù là rất nhỏ cũng gây ra tổn thất lớn hơn bất kỳ cuộc chiến tranh nào trong lịch sử. Đó cũng chính là lí do một cuộc chiến như vậy sẽ không thể xảy ra.

Tùng Lâm

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Sĩ khí rụt rè


Ngô Nhân Dụng


Ðọc một bài trên mạng Bô Xít Việt Nam về câu chuyện vạch ra những lầm lẫn trong hai cuốn từ điển, bỗng nhớ đến hai câu thơ của Tú Xương tả cảnh các nhà Nho trong thời Pháp thuộc:

Sĩ khí rụt rè gà phải cáo
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi

Nhiều vị độc giả có thể chưa đọc bài “Hai quyển từ điển rất có hại cho tiếng Việt” của tác giả Lê Mạnh Chiến, cho nên xin phép tóm tắt lại. Hai cuốn từ điển được nói tới trong bài này là của Giáo Sư Nguyễn Lân, đã tạ thế năm 2003. Cuốn đầu là “Từ điển từ và ngữ Hán Việt” đã in nhiều lần, từ năm 1993, dài 867 trang (chắc tổng số trang phải là một số chẵn, 868?). Cuốn thứ nhì là “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” in lần đầu năm 2000, dùng phần lớn nội dung cuốn trước, cộng thêm phần tiếng Việt nên dài hơn, tới 2112 trang, cũng đã xuất bản lại nhiều lần.

Năm 2004, tác giả Lê Mạnh Chiến đã viết một bài nhận xét về cuốn đầu, Từ điển Hán Việt, ông nêu ra 170 chỗ giải nghĩa sai lầm. Khi viết bài, chính ông chưa biết tên tác giả và cũng không thấy tên đầy đủ của cuốn từ điển, vì tập sách ông có trong tay đã bị rách mấy trang đầu. Nghe chi tiết đó, chúng ta có thể thương cảm các học giả độc lập sống trong một nước nghèo. Nhưng ông Lê Mạnh Chiến vẫn viết bài, để giúp các giáo sư và học sinh cả nước dùng cuốn từ điển này biết mà tránh những sai lầm trong đó. Ông gửi bài cho tạp chí Thế Giới Mới để đăng nhiều kỳ. Nhưng tờ báo của Bộ Giáo Dục chỉ đăng được sáu kỳ (từ số 582 đến số 587, giữa năm 2004), thì loạt bài bị ngưng lại, không đăng nữa; các độc giả mới được thấy 67, 68 thí dụ, dưới một nửa số sai lầm mà ông Lê Mạnh Chiến tìm ra.

Tác giả sau đó có dịp gặp một nhà biên tập trong tờ báo trên, được nghe những lời giải thích. Mặc dù độc giả Tạp chí Thế Giới Mới chưa biết tên tác giả cuốn từ điển đó, nhưng những người trong cuộc biết đây là tác phẩm của Giáo Sư Nguyễn Lân, người được trao tặng giải thưởng nhà nước năm 2001 về khoa học và công nghệ. Người ta cho biết “Bài này được độc giả hoan nghênh nhiệt liệt vì đã vạch rõ những cái sai nghiêm trọng trong một cuốn từ điển từng được nhiều người ‘có tiếng’ ca ngợi.” Nhưng họ phải ngưng đăng vì Giáo Sư Nguyễn Lân được coi là một ngôi sao sáng của ngành giáo dục Việt Nam, còn tạp chí Thế Giới Mới là cơ quan thuộc Bộ Giáo dục, cho nên, nếu “vạch áo cho người xem lưng” một cách kỹ quá thì cũng có phần “bất tiện.” Ông Lê Mạnh Chiến kể: “Nghe vậy, tác giả rất thông cảm và biết ơn tạp chí Thế Giới Mới.”

Sau khi bài báo bị chấm dứt, ông Lê Mạnh Chiến kể ông đã viết những bài ngắn hơn, mỗi bài khoảng 4,000 chữ, nêu ra khoảng 20 chỗ sai lầm làm thí dụ, cho đăng trên những tờ báo khác, như báo Ðại biểu Nhân dân, tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, tạp chí Văn hóa Nghệ An, vào năm 2005. Ông Lê Mạnh Chiến cũng tiết lộ rằng ngay khi báo Ðại biểu Nhân dân đăng kỳ đầu tiên, đã có người đến phản đối; đó là một giáo sư tiến sĩ, đại biểu Quốc hội, liên hệ mật thiết với Giáo Sư Nguyễn Lân. Ông ta đến tòa báo nói rằng Giáo Sư Nguyễn Lân là một nhân vật nổi tiếng đã “thành danh,” sao dám làm mất uy tín của ông?

Giáo Sư Nguyễn Lân đã qua đời trước khi những bài báo của ông Lê Mạnh Chiến xuất hiện, cho nên chúng ta không thể biết nếu còn sống ông cụ sẽ phản ứng ra sao. Lúc in hai cuốn từ điển trên, Nguyễn Lân đã gần 80 tuổi (cụ sinh năm 1906). Ở tuổi đó, ngồi biên soạn những cuốn từ điển một, hai ngàn trang giấy, khó tránh khỏi lỗi lầm. Thường ở các nước văn minh, không ai một mình soạn từ điển, mà lúc nào cũng có hàng chục, hàng trăm người cộng tác, nhiều người chỉ làm một công việc là tìm những chỗ sai lầm mà thôi. Chỉ ở những nước nghèo khó như nước ta mới có cảnh những tác giả “một mình một ngựa” làm từ điển! Theo thói quen của những người Việt Nam được giáo dục theo lối cổ truyền, chúng ta không nên vì câu chuyện này mà xúc phạm một người đã khuất. Nhưng điều đáng nói trong cả câu chuyện trên là thái độ và cách suy nghĩ, cách nói năng của những người trong chuyện.

Thứ nhất là một tờ báo của Bộ Giáo Dục phải tránh không vạch ra những sai lầm do “một ngôi sao sáng của ngành giáo dục” vấp phải! Ðó cũng là lối lý luận của một đại biểu Quốc hội, nói rằng “một nhân vật nổi tiếng đã ‘thành danh,’ sao dám làm mất uy tín của ông?”

Thái độ và lối suy nghĩ đó sẽ làm cho nước ta chậm tiến; không bỏ đi thì sẽ lạc hậu mãi mãi. Nhất là khi câu nói xuất phát từ miệng một giáo sư tiến sĩ, một nhà khoa học, đứng đầu một cái viện nghiên cứu to lớn có tầm vóc quốc gia. Khoa học tiến bộ chính là vì người lớp sau dựa trên các công trình của người lớp trước rồi tìm cách vượt lên trên tìm ra những điều “đúng” với thực tại hơn. Nếu Newton cứ sợ sệt, không dám nói những điều trái ngược với nhân vật nổi tiếng đã 'thành danh' là Aristote, thì vật lý học vũ trụ đã giậm chân tại chỗ từ thế kỷ 16! Nếu Einstein sợ không dám làm mất uy tín của Newton thì loài người chắc vẫn chưa biết rằng trọng khối và năng lượng chỉ là hai hình thức biểu hiện của một thực tại. Chính Newton, vào lúc cuối đời, cũng công nhận rằng suốt đời ông coi thường lý thuyết vật lý lượng tử (quantum) là sai lầm.

Thứ hai, là hành động “tự kiểm duyệt” của một tờ tạp chí thuộc Bộ Giáo Dục, che lấp những sai lầm của “một ngôi sao sáng của ngành giáo dục” là một thói quen đáng xấu hổ. Bao nhiêu người đang tranh đấu đòi tự do ngôn luận, tự do báo chí, có ai chấp nhận những hành động “tự kiểm duyệt” như vậy hay không? Chắc hẳn những người phụ trách tờ báo Thế Giới Mới đã nhận được nhiều cú điện thoại gây áp lực, họ cũng lo sợ cho nồi cơm của gia đình mình, cho nên tự đục bỏ một bài viết có giá trị và rất ích lợi cho xã hội. Ðó chính là cảnh “sĩ khí rụt rè gà phải cáo” mà Tú Xương đã mô tả.

Tại sao “sĩ khí” lại “rụt rè” như gà phải cáo?

Chúng ta cũng không nên chê trách riêng những người biên tập báo Thế Giới Mới. Họ là sản phẩm của một nếp sống, một thứ “văn hóa” của thời đại; họ tập được thói quen đó vì những kinh nghiệp cuộc đời. Cho nên họ phản ứng theo những điều kiện trước mặt, như một phản xạ Pavlov. Nền nếp “văn hóa” đó được diễn tả qua câu tục ngữ “vạch áo cho người xem lưng.”

Không nên vạch áo cho người xem lưng. Nhưng nếu cái lưng đó có bệnh, cần phải chữa trị, thì có thể nào cứ khăng khăng không vạch áo cho người xem lưng mãi được chăng? Nhất là căn bệnh đó không phải chỉ tai hại cho một cá nhân, người có cái lưng cần vạch ra, mà còn tác hại trên hàng triệu sinh viên, học sinh sử dụng những cuốn từ điển đầy sai lầm. Một, hai thế hệ sử dụng các cuốn từ điển đó sẽ học sai, hiểu sai, tương lai tiếng Việt Nam sẽ ra sao?

Ðây là hậu quả của lối sống trong một chế độ độc tài chuyên chế, tác hại đến cả xã hội. Ðảng Cộng sản luôn luôn bưng bít các lỗi lầm. Ðảng có cả một bộ máy công an và tuyên truyền để che đậy, giấu giếm những sai lầm. Các cuộc họp đều bí mật, bên trong chửi bới nhau, kể tội nhau những gì người ngoài không được biết. Các lãnh tụ không bao giờ sai lầm cả, chỉ có các cấp dưới thi hành sai mà thôi. Các cán bộ không được nói đến sai lầm của cấp trên.

Tất cả chỉ vì một chế độ độc tài chắc chắn phải đi đôi với bạo lực và gian trá. Bao giờ nước Việt Nam thoát khỏi ách độc tài thì mới thoát khỏi lối sống giả dối, xóa tan nền “văn hóa” che đậy, bưng bít.

Năm 1974, nhà văn Aleksandr Solzhenitsyn đã viết một bài có tựa đề “Ðừng Sống Dối Trá” (Live Not By Lies) đúng vào ngày ông bị mật vụ đến bắt đem đi. Sau đó ông bị trục xuất, sống lưu vong cho đến ngày chế độ cộng sản sụp đổ mới về nước. Cố Tổng Thống Tiệp Khắc Václav Havel (1936-2011) viết trong cuốn “Quyền lực cho những người Bất lực” (The Power of the Powerless,) năm 1978, đã mô tả nước ông là nơi các công dân bị bắt buộc phải “sống trong một trò giả dối” (live within a lie). Năm 1984, chính ông đã kêu gọi đồng bào ông: “Hãy sống thật!” Năm năm sau, ông được mời làm tổng thống một quốc gia bắt đầu lên đường dân chủ hóa.

Nhiều nhà trí thức Việt Nam như Hà Sĩ Phu cũng đang kêu gọi đồng bào hãy “biết hổ thẹn,” hãy ngẩng đầu lên nói sự thật. Một đảng viên cộng sản lâu năm như Lê Hiếu Ðằng cũng can đảm công khai từ bỏ đảng để được sống thật. Những tấm gương đó cho thấy trong đất nước chúng ta vẫn còn rất nhiều người có sĩ khí. Hy vọng những tấm gương đó sẽ được nhiều người bắt chước. Ðể người Việt Nam có thể chúc nhau, nhân dịp Tết sắp đến, như lời Tú Xương đã chúc đồng bào phải sống ra sao để:

Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước
Sao được cho ra cái giống người.


[/B]

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Xu hướng chính trị năm 2014

Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)

Không có gì bất ngờ và khó tiên đoán bằng chính trị. Ngay cả những chuyên gia giàu kinh nghiệm và có nhiều thông tin nhất cũng không thể tiên đoán được sự sụp đổ nhanh chóng và dễ dàng của các chế độ cộng sản ở Nga và Ðông Âu vào những năm 1989-1991; cuộc khủng bố nhắm vào nước Mỹ năm 2001, từ đó, làm thay đổi hẳn cả tình hình thế giới, cũng như các cuộc nổi dậy làm sụp đổ các chế độ độc tài quân phiệt ở một số nước Trung Ðông và Bắc Phi cách đây mấy năm.

Không có ai cả.

Bởi vậy, tôi chả dại gì nhảy ra làm một tên tiên tri điên rồ cho năm 2014.

Tuy nhiên, tiên đoán là một chuyện. Phân tích các xu hướng vận động dựa trên các mâu thuẫn chính vốn có khả năng gây ra xung đột lại là một chuyện khác.

Nhìn trên phạm vi thế giới, một số bình luận gia cho mâu thuẫn chính cần được theo dõi trong năm 2014 tập trung vào một số quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Trung Ðông (chủ yếu là Iraq và Syria) và Trung Quốc; cũng như vào một số vấn đề lớn như lãnh vực an ninh mạng (cybersecurity) và đặc biệt, sự phát triển của al-Qaeda (lực lượng khủng bố của người Hồi Giáo cực đoan).

Ở phạm vi các nước Ðông Nam Á, những vấn đề cần được theo dõi là cuộc cải cách ở Miến Ðiện, các biến động chống chính phủ ở Thái Lan và Campuchia, cuộc bầu cử Quốc Hội và tổng thống ở Indonesia, vấn đề nhân quyền và hợp tác kinh tế trong khu vực, và đặc biệt, tình hình trên biển Ðông cũng như các trò chơi siêu cường (super power game) giữa Mỹ và Trung Quốc liên quan đến biển Ðông và các nước liên hệ.

Còn ở Việt Nam?

Về phương diện đối ngoại, mâu thuẫn chính chắc chắn vẫn tập trung vào mối quan hệ với Trung Quốc trên biển Ðông. Rất có nhiều khả năng là Trung Quốc sẽ thiết lập vùng nhận diện phòng không (Air Defense Identification Zone) trên con đường chữ U mà họ đã công bố từ năm 2009 như điều họ làm trên biển Hoa Ðông năm ngoái.

Dĩ nhiên, đối với biển Ðông, Trung Quốc sẽ dè dặt hơn biển Hoa Ðông. Trên biển Hoa Ðông, họ chỉ đối đầu với Nhật Bản. Trên biển Ðông, ngoài Việt Nam, Trung Quốc sẽ phải đối đầu với Ðài Loan, Malaysia, Brunei và Philippines. Thật ra, cả năm đều khá yếu và đều không phải là đối thủ của Trung Quốc. Ðiều Trung Quốc sẽ cân nhắc là sau các nước ấy là Hiệp Hội Các Quốc Gia Ðông Nam Á (ASEAN). Việc công bố vùng nhận diện phòng không trên biển Ðông có thể sẽ làm cho khối ASEAN trở thành đoàn kết hơn. Tuy nhiên, khả năng đoàn kết này sẽ bị giảm thiểu đáng kể khi Indonesia, quốc gia thường đóng vai trò lãnh đạo trong việc giải quyết các tranh chấp với Trung Quốc, đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp quyền lực do cuộc bầu cử tổng thống sẽ được tổ chức vào tháng 7, 2014. Trước ngày bầu cử, chính phủ cũ của Tổng Thống Susilo Bambang Yudhoyono không còn cái thế để tập hợp lực lượng; sau ngày bầu cử, chính phủ mới cũng sẽ chưa đủ lực để đương đầu với Trung Quốc. Có lẽ đó sẽ là thời điểm tốt nhất để Trung Quốc bộc lộ tham vọng làm bá chủ trên vùng trời ở biển Ðông.

Nếu Trung Quốc làm điều đó, chính phủ Việt Nam lại cũng sẽ tự kềm chế để không xảy ra xung đột. Việt Nam chưa sẵn sàng cho bất cứ một cuộc xung đột vũ trang nào với Trung Quốc. Họ lại tiếp tục nhịn. Nhưng việc nhịn nhục lại làm nảy ra một vấn đề khác: Họ sẽ bị dân chúng nhìn như những kẻ bán nước hoặc quá khiếp nhược và bất lực. Chắc chắn sẽ không hiếm người sẽ xuống đường biểu tình hoặc lên tiếng trên các diễn đàn xã hội chống lại Trung Quốc. Bản chất của chế độ sẽ bị thách thức nghiêm trọng trong việc đối phó với những sự chống đối chính đáng ấy. Mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ biến thành mâu thuẫn giữa chính phủ/đảng và dân chúng ở Việt Nam.

Có thể nói, ở Việt Nam, trong năm 2014, mâu thuẫn chính là những mâu thuẫn trong nội bộ, giữa những người Việt Nam với nhau.

Mâu thuẫn ấy thể hiện ở hai cấp độ: Một, giữa giới cầm quyền và dân chúng; và hai, trong nội bộ giới cầm quyền.

Thứ nhất, mâu thuẫn giữa dân chúng và giới cầm quyền vốn đã có từ lâu. Chỉ có vấn đề là càng ngày nó càng trở thành trầm trọng. Trầm trọng ở hai khía cạnh: Một, những bất mãn của dân chúng càng lúc càng lớn và hai, những sự trấn áp của nhà cầm quyền càng lúc càng mạnh. Hai xu hướng ấy chỉ dẫn đến xung đột với một số điều kiện: Một, ngoài sự bất mãn, dân chúng còn được trang bị bởi ý thức cao về quyền công dân và được hỗ trợ bởi các tổ chức xã hội dân sự. Hai, nhà cầm quyền mất khả năng kềm chế trong việc trấn áp dân chúng. Ðiều kiện thứ nhất mới chỉ manh nha, giới hạn trong giới trẻ thuộc thành phần trí thức: Nó chưa đủ rộng và mạnh để dẫn đến các cuộc nổi dậy thực sự, dĩ nhiên, trừ khi xảy ra một hiện tượng đột biến nào đó làm thức tỉnh mọi người. Ðiều kiện thứ hai khó tiên đoán hơn vì khả năng kềm chế, một mặt, tùy thuộc giới lãnh đạo cao cấp nhất; mặt khác, tùy thuộc vào một số cá nhân thừa hành (ví dụ, một số công an có thể nổ súng bừa bãi vào đám đông biểu tình làm bộc phát sự phẫn nộ của dân chúng).

Thứ hai, mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền. Ðộc tài đảng trị khác độc tài cá nhân ở chỗ: Bao giờ nó cũng chứa đựng các mâu thuẫn gay gắt trong nội bộ. Vấn đề chỉ là mức độ. Các mâu thuẫn trong nội bộ đảng Cộng sản đã xuất hiện từ lâu, ngay từ lúc mới thành lập, nhưng hầu hết đều ở mức có thể kiểm soát được, và nhờ kiểm soát được nên cũng che giấu được. Những năm gần đây, nó vượt khỏi những giới hạn bình thường, trở thành công khai hóa, ai cũng thấy. Năm 2014 này, những mâu thuẫn ấy có nguy cơ bùng nổ lớn vì hai yếu tố: Một, đây là thời điểm bắt đầu cho cuộc chạy đua quyền lực trong đại hội 12 của đảng vào năm 2016; và hai, vụ án Dương Chí Dũng đang diễn ra tại Hà Nội có thể dẫn đến những chuyển biến bất ngờ.
Dương Chí Dũng, nguyên chủ tịch hội đồng quản trị Vinalines, tập đoàn kinh tế quốc doanh về hàng hải, người gây nên các vụ vỡ nợ cả hàng tỉ đôla, bị kết tội vì hai lý do: Một, tham nhũng, và hai, bỏ trốn. Chuyện tham nhũng không quan trọng bằng chuyện bỏ trốn bởi chuyện bỏ trốn gắn liền với hai chuyện khác: Ai đã mật báo cho ông về tin ông có thể bị bắt trước khi án lệnh được công bố; và ai đã giúp ông bỏ trốn?

Các lời khai của Dương Chí Dũng đã dẫn đến việc bắt giữ Dương Tự Trọng, em ruột ông, nguyên phó giám đốc công an Hải Phòng và phó cục trưởng cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội thuộc Bộ Công An. Nhưng quan trọng hơn, nó còn tiết lộ người báo tin mật cho ông không ai khác hơn là Thượng tướng Phạm Quý Ngọ, người được ông hối lộ cả hơn nửa triệu đôla. Xin lưu ý là Phạm Quý Ngọ là thượng tướng và là ủy viên trung ương đảng. Một số nguồn tin cho biết có thể cả Ðại Tướng Trần Ðại Quang, bộ trưởng Bộ Công An và ủy viên Bộ Chính Trị, cũng tham gia vào vụ hối lộ này.

Cho đến nay, công an và tòa án Việt Nam chưa hề lên tiếng gì về sự liên quan của cả Phạm Quý Ngọ lẫn Trần Ðại Quang nhưng dư luận từ trong đến ngoài nước đã xôn xao bàn tán rất nhiều. Nhà cầm quyền không thể che giấu được. Nhưng giải quyết một cách rốt ráo vụ án Dương Chí Dũng nhất định sẽ dẫn đến sự tranh chấp quyền lực ở cấp cao nhất trong guồng máy lãnh đạo của đảng (Bộ Chính Trị) của của chính quyền (chính phủ).

Có lẽ sự tranh chấp này sẽ là đỉnh điểm của tình hình chính trị Việt Nam trong năm 2014.

Post Reply