Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Những con thú hai chân…
Lê Văn Kỳ
“Khi bạn ăn ngon, xin hãy nhớ đến những người chỉ cần ăn no”. Tôi không phải là thành phần vượt biển, nên không biết những ngày tháng lẩn tránh công an, nằm chờ đi ghe nhỏ ra ghe lớn, đói khát chen chúc chật cứng như cá hộp trong lòng tàu lênh đênh trên đại dương, như chiếc lá trong biển cả, những trường hợp bị hải tặc thay phiên nhau hãm hiếp vợ con ngay trước mặt mình. Một con số ngoài sức tưởng tượng hơn 400 ngàn người đã chết trên biển không nấm mồ. Nhiều ghe bầu, tàu nhỏ trôi tấp vào những hoang đảo chưa từng có dấu chân người. Có rất nhiều người phải đợi nhiều năm tháng mới được thanh lọc cho qua một nước thứ ba, mà thời gian chờ đợi đó cái cổ của họ tưởng chừng còn dài hơn cả cổ con cò.
Khi qua được đất nước tạm dung, bất cứ nước nào đón nhận, thì người xin Tỵ nạn cũng đều khai báo rõ ràng chi tiết “người Việt Quốc gia Tỵ nạn Cộng sản “(không ai khai “tỵ nạn kinh tế”). Và thời gian đầu không ai không gầm mặt, ngã tay xin được nhận trợ cấp nhân đạo. Thế đấy mà nay tồi đến nỗi,mấy chục năm nay,vẫn còn man khai, tìm đủ mọi cách, kẻ hở luật pháp, lợi dụng lòng nhân đạo tiếp tục “ăn” Welfare. Đã hưởng phúc lợi (hưởng tiền đóng thuế của người đi làm) không phải đóng thuế mà mỗi năm còn nhận được thêm tiền Tax refund (càng có nhiều con nhỏ càng lãnh nhiều). Ngoài ra còn gian manh đi làm “lấy” tiền mặt (trốn đóng thuế). Hoặc làm chủ tiệm Nails, Nhà hàng... nhưng người khác đứng tên. Hay lái Taxi (đuợc khai thu nhập thấp nhất theo quy định)... Đa phần đều cố bám ở Housing (có nhiều người chỉ trả có mấy chục đồng một tháng)...
Những vấn nạn đó không phải là vấn đề quan trọng, duy chỉ có một câu cần phải hỏi toàn thể Đồng hương người Việt Quốc gia Tỵ nạn Cộng sản:
- “Sau 39 năm trốn chạy Cộng sản, chúng ta có còn là người Việt Quốc gia hay không?”
-“Khi bạn ăn ngon, xin hãy nhớ đến những người chỉ cần ăn no”.
Vậy chúng ta là những người được may mắn đào thoát khỏi chế độ man rợ cộng sản, 39 năm nay được sống trên những đất nước Tự do, Dân chủ Pháp trị, chúng ta được tôn trọng giá trị làm người, sống không phập phồng lo sợ, có quyền ăn nói, đi lại, có quyền tham gia ứng cử vào bất cứ lãnh vực công quyền nào. Không biết còn có ai tự hỏi mình: - “Mình là ai? “. “Đồng bào trong nước họ là những ai?”.
Chắc chắn rằng chúng ta không ai ở không, dù bận việc sinh sống cách mấy thì trong ngày cũng còn có ít thời giờ liếc qua tờ báo, ghé mắt vào mạng... ít nhiều cũng biết về tin tức bọn Việt cộng cầm quyền man rợ, về thảm trạng tận cùng bi đát của nhân dân.
Các nhà chính trị Cộng sản thời Stalin, Mao sáng tạo ra chế độ Dân chủ Nhân dân, rồi Chủ nghĩa Xã hội theo học thuyết Marx – Lenin. Những năm gần đây một số nhà xã hội học quốc tế đã dừng lại một số khái niệm xưa cũ để chỉ một số chế độ chính trị hiện nay. Ví dụ khái niệm Kleptocracy được định nghĩa là chế độ, chính quyền tham nhũng tràn lan, rộng khắp, nặng nề. Gần đây, từ Kleptocracy được dùng để chỉ các chế độ như Saddam Hussein ở Irak, Bel Ali ở Tunisia, Muanmar Caddafi ở Libya Hosni Mubarak ở Ai Cập... tệ nạn tham nhũng hoành hành cùng khắp và cực kỳ nghiêm trọng.
Ở Việt Nam: đội ngũ ăn cắp, ăn cướp cầm quyền, lãnh đạo đất nước, nắm quyền lực đã phát triển thành những bầy giòi bọ nhung nhúc khắp cùng chúng cấu kết để bảo vệ nhau tha hồ bòn rút các nguồn viện trợ và đầu tư ODA và FDI, thậm chí chúng còn hợp tác với bọn xã hội đen, côn đồ, lưu manh miễn có lợi. Bọn trọc phú vô học ở mọi cấp, mọi ngành từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tần cơ sở. Những tên đạo tặc Trung Ương Đảng ăn cắp hàng chục, hàng trăm triệu đô la lại không bị trừng phạt nghiêm khắc tương xứng với tội ác mà chỉ “kiểm điểm”, trong khi đó những tên trộm vặt, móc túi ngoài chợ... lại phải nhận những bản án nặng nề. Chính bọn ăn cắp, ăn cướp đang thống trị đất nước đã tàn phá các giá trị văn hóa, đạo đức, tôn giáo.
Mới đây, báo chí trong nước, đưa tin bọn ăn cắp ăn cướp cầm quyền như trường hợp ở tỉnh Bến Tre, tên Trần Văn Tuyền, nguyên thanh tra chính phủ, trước ngày nghỉ hưu, ông Truyền vội ký một lèo 30 quyết định thăng cấp và lên chức cho cán bộ cấp cao (để bọn sâu mọt nầy chung tiền), vạch trần bộ mặt của một ông lớn ăn cắp quả tang, vì theo mức tiền lương, ông Truyền phải để hơn 40 năm không ăn không tiêu gì mới tích lũy được số tiền để dựng lên ngôi nhà hoành tráng như thế. Một trường hợp khác là ông Ngô Văn Khánh, phó Tổng thanh tra chính phủ, cũng ký hàng loạt quyết định bổ nhiệm cán bộ cấp cao trước khi về hưu, người ta còn tố cáo ông ta có hàng chục tỷ đồng VN (tương đương với hàng triệu đô la) gửi trong các ngân hàng.
Làm sao mà một viên chức cộng sản lại có nhiều tiền đến thế, nếu không ăn cắp của dân?.
Tội phạm tham nhũng hiện nay tại Việt Nam đưa đến nguy cơ mất nước đó là chính sách của tập đoàn mafia Bộ Chính Trị đã mở cửa đưa dân Tàu tràn vào đất nước. Bọn doanh nghiệp Trung cộng chúng lựa toàn những điểm trọng yếu về an ninh quốc phòng của ta, như thuê đất ở Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng là các tỉnh biên giới. Tại Nghệ An họ thuê ở những điểm gần đường 7 và 8 sang Lào. Chúng thuê ở Quảng Nam có đường thuận tiện lên Cao Nguyên, qua Campuchia. Như vậy là Trung cộng nắm những con đường trọng yếu của mình. Trước đây Trung cộng đã vào Tây Nguyên khai thác Bauxit, xây dựng nhà máy tại Tân Rai của Lâm Đồng, Nhân Cơ ở Đak Nông. Vừa rồi là nhà máy cán thép Chen Lee ở gần sông Cô Giang miền Trung, chúng đổ chất phế thải xuống sông gây mầm độc ung thư (đã có 12 người dân chết vì ung thư). Ngay rừng đầu nguồn bọn cầm quyền cũng cho mướn với thời hạng 50 năm, chỉ riêng Trung cộng đã chiếm trên 264, 000 ha tức 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới. Bất cứ nơi đâu Trung cộng khai thác chúng đều khoanh vùng, đưa công nhân từ Trung cộng qua, những nơi đó chúng vây 2,3 vòng kiểm soát, cấm người Việt lai vãng, ngay cả chính quyền địa phương cũng không được vào, chúng một mình một cõi, muốn làm gì trong đó thì làm, thậm chí xây dựng kho tàng, dấu vũ khí... cũng không ai biết. Điều không thể chấp nhận là chúng ngang nhiên treo cờ Trung cộng trong lãnh thổ Việt Nam. Chẳng lẻ mới năm 2014 mà Việt Nam đã trở thành Khu Tự Trị (sớm hơn, 6 năm, giao nạp được ký kết ở hội nghị Thành Đô). Hiện nay Việt Nam đã trở thành một bãi rác khổng lồ chứa rác thải củ Trung cộng, đang gieo mầm đủ thứ bệnh lan tràn trên đất nước.
Mất của cải thì còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn.
Chẳng lý người Việt Quốc gia Tỵ nạn Cộng sản nay sống bằng máu lạnh?. Hãy vào các trang mạng, youtube, các đài BBC, VOA... để mà động lòng, thương cho Đồng bào chúng ta đang như con giun bị đạp bởi bè lũ bán nước cầm quyền đang hành xử. Xin đừng quá vô cảm. Xin hãy đau nổi đau nhục của dân tộc.
Những Đồng hương sống ở hải ngoại khi ăn ngon, hãy nhớ đến nhiều Đồng bào ở trong nước chỉ cần ăn được no. Chúng ta chống cộng, trước hết phải triệt bọn ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản tại hải ngoại. Chúng ta chống dã tâm của Trung cộng, trước hết chúng ta phải giựt sập chế độ Việt cộng. Muốn giết Việt gian bán nước, chúng ta cần phải thực tế, cụ thể làm thế nào để giúp một cách thiết thực cho nhân dân đủ nghị lực, dũng khí vượt qua sợ hải để cắt cổ bọn côn đồ xã hội đen là công cụ công an đâm thuê giết mướn cho chính quyền Việt cộng, những con thú 2 chân, buôn dân bán nước cho Trung cộng./-
Lê Văn Kỳ
Lê Văn Kỳ
“Khi bạn ăn ngon, xin hãy nhớ đến những người chỉ cần ăn no”. Tôi không phải là thành phần vượt biển, nên không biết những ngày tháng lẩn tránh công an, nằm chờ đi ghe nhỏ ra ghe lớn, đói khát chen chúc chật cứng như cá hộp trong lòng tàu lênh đênh trên đại dương, như chiếc lá trong biển cả, những trường hợp bị hải tặc thay phiên nhau hãm hiếp vợ con ngay trước mặt mình. Một con số ngoài sức tưởng tượng hơn 400 ngàn người đã chết trên biển không nấm mồ. Nhiều ghe bầu, tàu nhỏ trôi tấp vào những hoang đảo chưa từng có dấu chân người. Có rất nhiều người phải đợi nhiều năm tháng mới được thanh lọc cho qua một nước thứ ba, mà thời gian chờ đợi đó cái cổ của họ tưởng chừng còn dài hơn cả cổ con cò.
Khi qua được đất nước tạm dung, bất cứ nước nào đón nhận, thì người xin Tỵ nạn cũng đều khai báo rõ ràng chi tiết “người Việt Quốc gia Tỵ nạn Cộng sản “(không ai khai “tỵ nạn kinh tế”). Và thời gian đầu không ai không gầm mặt, ngã tay xin được nhận trợ cấp nhân đạo. Thế đấy mà nay tồi đến nỗi,mấy chục năm nay,vẫn còn man khai, tìm đủ mọi cách, kẻ hở luật pháp, lợi dụng lòng nhân đạo tiếp tục “ăn” Welfare. Đã hưởng phúc lợi (hưởng tiền đóng thuế của người đi làm) không phải đóng thuế mà mỗi năm còn nhận được thêm tiền Tax refund (càng có nhiều con nhỏ càng lãnh nhiều). Ngoài ra còn gian manh đi làm “lấy” tiền mặt (trốn đóng thuế). Hoặc làm chủ tiệm Nails, Nhà hàng... nhưng người khác đứng tên. Hay lái Taxi (đuợc khai thu nhập thấp nhất theo quy định)... Đa phần đều cố bám ở Housing (có nhiều người chỉ trả có mấy chục đồng một tháng)...
Những vấn nạn đó không phải là vấn đề quan trọng, duy chỉ có một câu cần phải hỏi toàn thể Đồng hương người Việt Quốc gia Tỵ nạn Cộng sản:
- “Sau 39 năm trốn chạy Cộng sản, chúng ta có còn là người Việt Quốc gia hay không?”
-“Khi bạn ăn ngon, xin hãy nhớ đến những người chỉ cần ăn no”.
Vậy chúng ta là những người được may mắn đào thoát khỏi chế độ man rợ cộng sản, 39 năm nay được sống trên những đất nước Tự do, Dân chủ Pháp trị, chúng ta được tôn trọng giá trị làm người, sống không phập phồng lo sợ, có quyền ăn nói, đi lại, có quyền tham gia ứng cử vào bất cứ lãnh vực công quyền nào. Không biết còn có ai tự hỏi mình: - “Mình là ai? “. “Đồng bào trong nước họ là những ai?”.
Chắc chắn rằng chúng ta không ai ở không, dù bận việc sinh sống cách mấy thì trong ngày cũng còn có ít thời giờ liếc qua tờ báo, ghé mắt vào mạng... ít nhiều cũng biết về tin tức bọn Việt cộng cầm quyền man rợ, về thảm trạng tận cùng bi đát của nhân dân.
Các nhà chính trị Cộng sản thời Stalin, Mao sáng tạo ra chế độ Dân chủ Nhân dân, rồi Chủ nghĩa Xã hội theo học thuyết Marx – Lenin. Những năm gần đây một số nhà xã hội học quốc tế đã dừng lại một số khái niệm xưa cũ để chỉ một số chế độ chính trị hiện nay. Ví dụ khái niệm Kleptocracy được định nghĩa là chế độ, chính quyền tham nhũng tràn lan, rộng khắp, nặng nề. Gần đây, từ Kleptocracy được dùng để chỉ các chế độ như Saddam Hussein ở Irak, Bel Ali ở Tunisia, Muanmar Caddafi ở Libya Hosni Mubarak ở Ai Cập... tệ nạn tham nhũng hoành hành cùng khắp và cực kỳ nghiêm trọng.
Ở Việt Nam: đội ngũ ăn cắp, ăn cướp cầm quyền, lãnh đạo đất nước, nắm quyền lực đã phát triển thành những bầy giòi bọ nhung nhúc khắp cùng chúng cấu kết để bảo vệ nhau tha hồ bòn rút các nguồn viện trợ và đầu tư ODA và FDI, thậm chí chúng còn hợp tác với bọn xã hội đen, côn đồ, lưu manh miễn có lợi. Bọn trọc phú vô học ở mọi cấp, mọi ngành từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tần cơ sở. Những tên đạo tặc Trung Ương Đảng ăn cắp hàng chục, hàng trăm triệu đô la lại không bị trừng phạt nghiêm khắc tương xứng với tội ác mà chỉ “kiểm điểm”, trong khi đó những tên trộm vặt, móc túi ngoài chợ... lại phải nhận những bản án nặng nề. Chính bọn ăn cắp, ăn cướp đang thống trị đất nước đã tàn phá các giá trị văn hóa, đạo đức, tôn giáo.
Mới đây, báo chí trong nước, đưa tin bọn ăn cắp ăn cướp cầm quyền như trường hợp ở tỉnh Bến Tre, tên Trần Văn Tuyền, nguyên thanh tra chính phủ, trước ngày nghỉ hưu, ông Truyền vội ký một lèo 30 quyết định thăng cấp và lên chức cho cán bộ cấp cao (để bọn sâu mọt nầy chung tiền), vạch trần bộ mặt của một ông lớn ăn cắp quả tang, vì theo mức tiền lương, ông Truyền phải để hơn 40 năm không ăn không tiêu gì mới tích lũy được số tiền để dựng lên ngôi nhà hoành tráng như thế. Một trường hợp khác là ông Ngô Văn Khánh, phó Tổng thanh tra chính phủ, cũng ký hàng loạt quyết định bổ nhiệm cán bộ cấp cao trước khi về hưu, người ta còn tố cáo ông ta có hàng chục tỷ đồng VN (tương đương với hàng triệu đô la) gửi trong các ngân hàng.
Làm sao mà một viên chức cộng sản lại có nhiều tiền đến thế, nếu không ăn cắp của dân?.
Tội phạm tham nhũng hiện nay tại Việt Nam đưa đến nguy cơ mất nước đó là chính sách của tập đoàn mafia Bộ Chính Trị đã mở cửa đưa dân Tàu tràn vào đất nước. Bọn doanh nghiệp Trung cộng chúng lựa toàn những điểm trọng yếu về an ninh quốc phòng của ta, như thuê đất ở Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng là các tỉnh biên giới. Tại Nghệ An họ thuê ở những điểm gần đường 7 và 8 sang Lào. Chúng thuê ở Quảng Nam có đường thuận tiện lên Cao Nguyên, qua Campuchia. Như vậy là Trung cộng nắm những con đường trọng yếu của mình. Trước đây Trung cộng đã vào Tây Nguyên khai thác Bauxit, xây dựng nhà máy tại Tân Rai của Lâm Đồng, Nhân Cơ ở Đak Nông. Vừa rồi là nhà máy cán thép Chen Lee ở gần sông Cô Giang miền Trung, chúng đổ chất phế thải xuống sông gây mầm độc ung thư (đã có 12 người dân chết vì ung thư). Ngay rừng đầu nguồn bọn cầm quyền cũng cho mướn với thời hạng 50 năm, chỉ riêng Trung cộng đã chiếm trên 264, 000 ha tức 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới. Bất cứ nơi đâu Trung cộng khai thác chúng đều khoanh vùng, đưa công nhân từ Trung cộng qua, những nơi đó chúng vây 2,3 vòng kiểm soát, cấm người Việt lai vãng, ngay cả chính quyền địa phương cũng không được vào, chúng một mình một cõi, muốn làm gì trong đó thì làm, thậm chí xây dựng kho tàng, dấu vũ khí... cũng không ai biết. Điều không thể chấp nhận là chúng ngang nhiên treo cờ Trung cộng trong lãnh thổ Việt Nam. Chẳng lẻ mới năm 2014 mà Việt Nam đã trở thành Khu Tự Trị (sớm hơn, 6 năm, giao nạp được ký kết ở hội nghị Thành Đô). Hiện nay Việt Nam đã trở thành một bãi rác khổng lồ chứa rác thải củ Trung cộng, đang gieo mầm đủ thứ bệnh lan tràn trên đất nước.
Mất của cải thì còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn.
Chẳng lý người Việt Quốc gia Tỵ nạn Cộng sản nay sống bằng máu lạnh?. Hãy vào các trang mạng, youtube, các đài BBC, VOA... để mà động lòng, thương cho Đồng bào chúng ta đang như con giun bị đạp bởi bè lũ bán nước cầm quyền đang hành xử. Xin đừng quá vô cảm. Xin hãy đau nổi đau nhục của dân tộc.
Những Đồng hương sống ở hải ngoại khi ăn ngon, hãy nhớ đến nhiều Đồng bào ở trong nước chỉ cần ăn được no. Chúng ta chống cộng, trước hết phải triệt bọn ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản tại hải ngoại. Chúng ta chống dã tâm của Trung cộng, trước hết chúng ta phải giựt sập chế độ Việt cộng. Muốn giết Việt gian bán nước, chúng ta cần phải thực tế, cụ thể làm thế nào để giúp một cách thiết thực cho nhân dân đủ nghị lực, dũng khí vượt qua sợ hải để cắt cổ bọn côn đồ xã hội đen là công cụ công an đâm thuê giết mướn cho chính quyền Việt cộng, những con thú 2 chân, buôn dân bán nước cho Trung cộng./-
Lê Văn Kỳ
Việt Nam, về đâu?
Bảo Giang Có một sự thật mà ai cũng thấy là: Trong những năm gần đây, ở bất cứ nơi đâu, dù là giữa thành thị, nơi phố xá đông người qua lại hay tại những ngõ ngách vắng lặng ở thôn quê, miền thượng, nơi vắng hẳn những thông tin, truyền hình, mạng internet, nhưng không có một nơi nào mà người ta không to nhỏ với nhau về chuyện mất nước. Chuyện mất nước không còn là chuyện bi quan của riêng một ai. 40 năm về trước, nói đến mất nước là nói đến sự kiện Việt Nam rơi vào tay cộng sản. Hôm nay, nói đến mất nước là nói đến chuyện Việt Nam mất chủ quyền Độc Lập của một quốc gia, trở thành một chư hầu, một tỉnh bang của Trung cộng do công lao của tập đoàn cộng sản Hồ chí Minh dàn dựng và thực hiện.
Thật ra, chuyện cộng sản ra công ra sức dàn dựng để được làm chư hầu cho Trung cộng là diều không còn che dấu được bất cứ ai nữa. Người thì biết qua tin tức, trang mạng, chuyện trò trao đổi. Kẻ thì nhìn biêt sự việc qua cung cách đối xử của nhà nước với công chúng Việt Nam và với những người “lạ” đến trú tại địa phương. Cách riêng, đối với ngưòi từng sinh trưởng ở miền nam Việt Nam, họ đã biết chuyện này từ lâu. Bởi lẽ, cố Tổng Thống Ngô đình Diệm đã công khai hóa chuyện tồi bại của tập đoàn cộng sản Hồ chí Minh ( lúc bấy giờ chưa mấy người biết y là Hồ tập Chương, người Tàu) ra trước công luận trong bài diễn văn của ông nhân dịp khánh thành Đập Đồng Cam ở Tuy Hòa vào ngày 17 tháng Chín, 1955 là “Chúng ta hiện nay đang tiếp tục cuộc chiến đấu lớn lao để hoàn thiện nền độc lập của quốc gia chúng ta và để đảm bảo tự do của nhân dân chúng ta…. Nếu Việt Minh thắng trong cuộc đấu tranh này, quốc gia thân yêu của chúng ta sẽ biến mất và nước chúng ta sẽ chỉ được đề cập đến như là một tỉnh phía nam của Trung Cộng. Hơn nữa nhân dân Việt Nam sẽ mãi mãi sống dưới ách độc tài do Mạc Tư Khoa, Trung cộng tạo ra và sẽ bị tước mất tôn giáo, tổ quốc và gia đình.” Nguồn: Major Policy Speeches by President Ngo Dinh Diem
Nhìn lại những sự kiện và những diễn biến đã và đang xảy ra, người người lắc đầu ngao ngán và chán nản. Tuy thế, tôi cho rằng, nỗi đau tận cùng trong lòng ngưòi Việt Nam không phải vì câu chuyện mất nước. Nhưng chính là sự kiện, chúng ta không biết phải làm gì để chặn đứng việc tập đoàn CS HCM đang thu xếp những thủ tục cuối cùng để giao nước ta cho Trung quốc. Chuyện “ không biết” này là một việc đáng trách hay đáng buồn?
Đáng trách vì chúng ta không chịu hành động gì? Đáng buồn vì chúng ta đã buông xuôi?
Tôi không biết rõ câu trả lời sẽ ra sao. Tuy nhiên, có thể nói là từ sau cái chết của Tổng thống Ngô đình Diệm đến nay, chưa bao giờ ngưòi Việt Nam, kể cả những người trong hàng ngũ cán binh cộng sản còn có chút tấm lòng với tổ quốc Việt Nam, đã đặt ra câu hỏi này một cách nghiêm túc, ngõ hầu, cùng tìm ra một câu trả lời rõ nét mà định vị cho tư thế Việt Nam. Trái lại, tất cả như mơ, như hoặc, trong một giấc mộng mị “ông nói gà, bà nói vịt”, và không hề biết rằng, chúng ta không còn nhiều thời gian để đặt lại câu hõi này nửa. Bởi vì, khi đi ngủ là người Việt Nam. Sáng mai mở mắt ra, lại bị gọi bằng một cái tên lạ khác với cái cờ 6 sao treo ngay trên mảnh đất của mình đang sinh sống! Lúc đó mới chợt biết tên nước đã không còn, mới nhớ đến câu gào thét “ Việt Nam tôi đâu?”nghe tan gan, nát ruột, vỡ tim óc của Việt Khang thì đã qúa muộn!
Tôi viết ra câu chuyện này, tưởng lạ, mà không lạ. Cho là hoang tưởng mà lại rất thực. Bởi lẽ, ngay khi Putin ký sắc lệnh xát nhập Crimea vào lãnh thổ của Liên Bang Nga vào ngày 21-3-2014, thì Ukraine mất đất và người Ukraina ở Crimea thành dân Nga! Đứng trước cái “ hoang tưởng” này, cả thế giới, chẳng riêng gì Tây Âu và Mỹ, đều trắng mắt ra mà nhìn một “con cá lớn, nuốt con cá bé”. Nuốt một cách công khai, còn có thể gọi là “hợp pháp” nữa, mà chẳng có một thành viên nào của quốc tế dám nói đến chữ “can thiệp” để bảo đảm luật pháp của thế giới, ngoại trừ một vài kiểu phủi bụi ngoại giao là cấm vận năm bảy thành viên nào đó của những bên liên hệ, hoặc mời Nga ra khỏi G8 là hết chuyện.
Mời ra rồi, cấm vận rồi, vài năm sau thế nào? Thế giới lại trôi vào một dòng chảy khác, chẳng mấy ai còn nhắc đến chuyện cấm vận và Crimea hôm nay nữa. Họ lại ngồi chung một bàn! Như thế, nếu câu chuyện ngưng lại ở đây, không tiến thêm một bước nào nữa, Ukraina không mất thêm đất thì đó là điều may mắn cho Ukraina và cho thế giới. Chỉ sợ, chẳng bao lâu nửa, tỉnh phía đông , thành phố phía tây, hay khu vực trong lòng Ukraine lại bỏ phiếu đòi tự trị và xin xát nhập vào Liên Bang Nga thì mới là câu chuyện dở khóc dở cười cho thế giới trong thế kỷ này. Bởi vì, nếu chuyện ấy xảy ra, cũng sẽ không bao giờ có những “ can thiệp” dưới dạng “đưa ra trước công lý” như đã từng xảy ra ở Iraq và Afganistan trước đây.
Từ câu chuyện “hoang tưởng “ ấy, một câu hỏi như bài học vô cùng qúy gía được đặt ra cho người Việt Nam chúng ta sau sự kiện này là: Liệu “cuộc đổi thay vĩ đại” này, có là một bước đột phá cho Trung Cộng tiến bước xuôi phương nam, và số phận Việt Nam có được định đoạt theo một thời khoá biểu hẹn trước do Trung cộng và tay sai thực hiện chăng? Nếu chuyện ấy xảy ra, Việt Nam sẽ ra sao, về đâu? Ta vẫn là ta hiên ngang khí phách. Hay ta là một vùng đất được hưởng quy chế tự trị trong cái túi bọc của Trung quốc theo sách lược của đảng nhà nước CS VN? Đi tìm câu trả lời, tôi cho là bài học từ Crimea trong ván cờ của thời đại, rất có gía trị với chúng ta.
Ở Crimea, để biện minh cho ý đồ của mình, Putin nói trong bài phát biểu 18-3-2014.“ bây giờ, tôi nghe người dân Crimea kể rằng, năm 1991, họ đã bị trao đi như bao tải khoai tây”. Điều này cho thấy, chính Nga là phía không ngừng tìm đủ mọi phương cách để bành trướng cương thổ sau khi đế chế cộng sản Liên Bang Sô Viết sụp đổ vào năm 1990. Nghĩa là, sau khi gượng đứng dậy được từ cuộc sụp đổ của đế chế cộng sản vào năm1990, Liên bang Nga lại đã manh nha một cuộc thôn tính láng giềng để mở rộng biên giới của mình? Dĩ nhiên, cuộc thôn tính này phải là một diển tiến mang tính “ hợp pháp” hơn là cuộc bành trướng bằng bạo lực cách mạng của đế chế cộng sản trước kia. Từ đó, Putin không ngần ngại tạo ra những loại ngôn ngữ về tính lịch sử của sự xát nhập như: Ở nơi đó, ngoài quân hải cảng Sevastopol, một vị trí then chốt giữ biển đen của Nga. Nó còn là nơi ”đã thấm máu xương của ngươi Nga qua nhiều đời”. Và rằng, đó là nơi có nhiều người Nga sinh sống, nó là phần đất không thể bị tách rời khỏi nước Nga… Nên nó phải về với Nga?
Nếu cái tính hợp pháp chỉ đơn giản được giải quyết bằng sức mạnh của cơ bắp với đôi ba lý luận như thế, xem ra nhiều phần đất trên thế giới này sẽ có nguy cơ bị xóa tên! Bởi vì, nhiều nơi cũng có máu xương của người Mỹ, người Nga, người Tàu, người Pháp, người Đức… đã đổ xuống.
Thử hỏi, những phần đất ấy, có phải trở về với quốc gia, mà con dân của họ đã đổ máu xương xuống hay không? Có lẽ, chẳng ai có thể đưa ra câu trả lời dứt khoát, có hay là không. Bởi vì nó còn tùy thuộc vào nhiều vấn đề. Và không phải mọi trường hợp đều có thể “đưa nó ra” trưóc công lý. Đơn giản hơn, công lý đôi khi cũng phải chạy mặt trong một số trường hợp. Mà rủi Crimea hôm qua đây là một điển hình? Liệu nó có ngoại lệ trong tương lai không?
a. Chuyện máu xương đã đổ xuống!
Trở lại câu chuyện của Crimea. Tôi không biết là có bao nhiêu máu xương của quân dân Nga đã đổ xuống trên phần đất Crimea để hôm nay nó phải thuộc về Nga. Nhưng tại Việt Nam, máu xương của quan, binh và người từ bắc phương đã đổ xuống trên phần đất Việt Nam chắc chắn là nhiều hơn con số của Nga gấp bội lần, và cũng chẳng phải là mới đây mới có. Trái lại, những con số này đã có trong những cuộc chiến từ nghìn năm cũ, từ hơn hai trăm năm trưóc và mới đây, nhiều vệt máu còn tươi. Dù đã khô hay còn tươi, con số đều không thể đong đếm được. Rõ ràng máu xương của họ không thể đong đếm. Nhưng những cai tên như gò Đống Đa, kèn Ngọc Hồi, đuốc Hàm Tử, giáo Chương Dương, bến Vân Đồn, ngựa Chi Lăng… thì chưa bao giờ có thể vùi quên. Hơn thế, xem ra còn uất nghẹn trong lòng người phương bắc hơn cả người phương nam! Bởi vì, những phần đất ấy đã không bao giờ thuộc về phương bắc, dù đã có đôi ba kẻ, đôi ba lần mài quóc cầu vinh, muốn dâng cúng đất Việt cho ngoại bang. Kết qủa, tất cả đều toi mạng trước khi mộng bán nước cầu vinh thành sự. Phần tổ quốc và người dân Việt Nam vẫn kiên vững, còn đây!
b. Đường biên giới.
Nhìn trên bản đồ, Crimea không liền da với liên bang Nga. Nhưng Việt Nam ta với Tàu thì đất liền đất, sông liền sông, chỉ phân biệt bên này và bên kia bởi một lằn ranh gọi là biên giới. Lằn ranh này chẳng có tường cao, hào sâu để ngăn chặn đối phương. Tuy thế, lịch sử qua nghìn đời đã khẳng định rằng, không phải cứ đất liền đất, sông liền sông và thêm cái bụng to và đông nhân mạng là có thể nuốt trửng được đối phương, là bôi xóa được cái cái lằn ranh ngăn cách kia đi. Trái lại, sau những cuộc chui vào ống đồng, tổn hại máu xương nhiều đời, cả hai đều biết rõ về nhau và cùng nghiệm ra rằng nếu ” sấm động phương nam” thì sẽ có “ vũ qua bắc hải” nên ai giữ phận nấy.
Tuy nhiên, kể từ thời điểm 3-2-1930 và nhất là sau ngày 20-7-1954 đã khác đì. Truyền thống ấy, bất khuất ấy, lịch sử ấy đã bị bào mòn và có nguy cơ biến thành một bức tranh vô cảm treo trên tường cho người ta ngắm nhìn xuông. Nó không còn gía trị trong thực tế. Không còn sức sống, không còn tiếng nói, nếu như không muốn nói, nó chỉ còn là câu chuyện của dĩ vãng? Bởi vì tập đoàn cộng sản Hồ chí Minh ( Hồ tập Chương?) đã đưa ra một sách lược hoàn toàn đối kháng với truyền thống và lịch sử của dân tộc Việt Nam. Sách lược của họ vỏn vẹn chỉ có 8 chữ “ xin được làm chư hầu cho Trung quốc”!
Xin nhớ, tập đoàn CS tại VN đả chủ trương xin được làm chư hầu cho Trung cộng từ trước khi chúng cưóp được chính quyền tại Việt Nam, chứ không phải Trung cộng dám tự mình xóa bỏ lằn ranh giới giữa hai nước. Khi ấy, Hồ tập Chương người Tàu, còn gọi là Hồ chí Minh đã chỉ thị cho Đặng xuân Khu, tổng thư ký đảng, đồng thời thay mặt “Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Việt Nam Dân Chủ Công Hòa năm thứ VII. TTK sồ 84/LD.” , nóí lên ý chí và cương lĩnh hành động của đảng cộng sản Việt Nam trong văn thư kêu gọi đồng bào vào tháng 8 năm 1951. Đây phải được coi là bản văn chỉ đạo tối quan trọng của của đảng CSVN. Nếu không, chính Đặng xuân Khu đã bị cộng sản xóa sổ từ lâu rồi, tên tuổi của y không còn được lưu dụng cho đến hôm nay. Và làm gì có chuyện báo chí và đảng CSVN tâng bốc cái tên Đặng Xuân Khu trong kịp “ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà lãnh đạo cách mạng (vô văn hóa) Trường Chinh. giới báo chí Việt Nam cùng với toàn đảng, kính cẩn nghiêng mình trước anh linh cây bút bậc thầy lỗi (đạo) lạc” này?( nguồn laodong.com.vn). Trong bản văn chủ đạo này gồm có hai điểm chính:
- Kêu gọi đồng bào Việt Nam học chữ Tàu và bỏ chữ quốc ngữ.
- Xin được làm chư hầu cho Trung quốc.
Dĩ nhiên, những chủ điểm này không phải là một ngoa ngữ nhằm lôi kéo hoặc lừa Trung cộng giúp họ cướp chính quyền tại Việt Nam. Trái lại, nó là sách lược cột sống của tổ chức này.
Bằng chứng là, chẳng bao lâu sau ngày cướp được chính quyền, để mở đường cho Phạm văn Đồng ký công hàm công nhận chủ quyền của Trung Cộng tại Hoàng Sa, Trưòng Sa, và cho các thế hệ sau ký các hiệp ước về đường biên giới, về vịnh bắc bộ và các khế ước thuê rừng đầu nguồn, khai thác khoáng sản của Việt Nam “ngày 15 tháng 6 năm 1956, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Ung Văn Khiêm đã nói với đại biện lâm thời của lãnh sự quán Trung Quốc tại Việt Nam, Lý Chí Dân, rằng: "Căn cứ vào tư liệu của phía Việt Nam, về mặt lịch sử thì quần đảo Tây Sa và Nam Sa là một phần lãnh thổ của Trung Quốc". (wikipedia). Nên từ đó đến nay, qua tất cả những thành phần lãnh đạo kế tiếp của tập đoàn Việt cộng tứ Lê Duẫn, kẻ tuyên bố là đánh miền nam là đánh cho Trung quốc, đến Đỗ Mười, Nguyễn văn Linh, Lê khả Phiêu, Lê Đức Anh, Nguyễn mạnh Cầm… xin quy thuận Trung Cộng vô điều kiện trong hội nghị Thành Đô. Rồi Mạnh, Sang, Trọng, Hùng, Dũng, Luận… tất cả đều cúc cung khuyển mà, thực hiện triệt để chủ trương này của đảng CS bằng cách này hay cách khác. Kết quả:
1. Về nhân sự.
Bạn có biết, hay bạn có đọc được bất cứ một tài liệu nào của nhà nước CS tại Việt Nam công bố liên quan đến vần đề nhân sự, nói toạc ra là, có bao nhiều người Tàu đã nhập cư lậu vào Việt Nam kể từ sau năm 1954 đến nay hay không? Bạn có biết, hay có đọc được bất cứ một tài liệu nào của nhà nước CS tại Việt Nam công bố rõ ràng về con số những nhân công của Tàu, cùng với các nhà thầu sang Việt Nam, (chiếm thị trường lao động của người Việt Nam), làm việc có thời hạn, cũng như là không có thời hạn bằng văn bản chính thức hay không? Bạn có biết, hay có đọc được bất cứ tài liệu nào của nhà nước CS báo cho công chúng Việt Nam biết là hiện này có tất cả bao nhiêu công trình, dự án từ cơ sở hạ tầng, như cầu đường đến các nhà máy thuỷ điện, các cơ sở sản xuất ở rải rác trên toàn quốc Việt Nam mà Trung cộng đứng thầu và họ có độc quyền để đưa người sang làm công nhân dười sự quản trị của họ hay không?
Bạn có biết, hay có được nghe nhà nưóc CS công bố rõ ràng là hiện nay ở Việt Nam có bao nhiêu vùng đất được gọi là đặc khu của người Tàu ở các vùng từ Quảng Ninh, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Cao Nguyên , Tân Cơ, Đắc Nông đến Bình Dương, Hà Tiên không? Rồi ở tận rừng sâu thì có bao nhiêu vùng rừng đầu nguồn, với diện tích như thế nào đã được ký giao nộp cho người Tàu? Về phía biển đông, ngoài công hàm của Phạm văn Đồng về Hoàng Sa trường Sa và hiệp ước vịnh bắc bộ đã nhượng địa, nhượng biển cho tàu cộng ra, còn bao nhiêu vùng biển được khoanh vùng cho người Tàu thuê mướn dài hạn mà quan cán và nhân dân Việt Nam không được phép lui tới nữa? Rồi bao nhiêu cửa khẩu quan trọng mang tính chiên lược như cửa Việt ở Quảng Trị. Vũng Áng ở Đèo ngang đã được âm thầm ký giao cho Tàu cộng kiểm soát? Bạn có thể trả lời được những câu hỏi trên không?
Tôi biết chắc là chúng ta không thể trả lời và kiểm tra được những con số liên quan đến những câu hỏi trên. Điều ấy không lạ, vì chính nhà nước Việt cộng cũng bó tay nốt. Bởi vì trên lừa dưới, dưới lừa trên, nên họ cũng không có khả năng để kiểm toán được những con số này. Điển hình ở Bình Dương, ngoài đặc khu Bình Dương dành riêng cho Tàu khựa có sinh hoạt riêng, còn bao nhiêu địa điểm khác cũng có những sinh hoạt tương tự và có bao nhiêu người Tàu cư ngụ bất hợp pháp và hợp pháp ở Bình Dương đây? Hỏi và có lẽ chính viên tỉnh ủy, chủ tịch ủy ban gọi là nhân dân ở đây cũng không thể trả lời được câu hỏi này, chứ nói chi đến thành ủy Sài Gòn nắm được rõ con số! Những con số có chăng chỉ là những con số láo lếu báo cáo mà thôi. Con số thực sự, không một ai biết kể cả cấp chóp bu của đảng và
nhà nước tại Hà Nội.
Ở đây tôi chỉ võ đóan là. Có lẽ con số nhân sự của họ ở trong nước ta không thể dưới một triệu nhân danh đã ở vào tuổi trưởng thành! Con số này cho tôi một cái nhìn tiêu cực. Đó là một binh đoàn thiện chiến chưa được võ trang, nhưng đã có sẵn cơ sở sinh hoạt và nắm, biết rõ hiện tình và phương hướng hành động! Như thế, dù chưa được võ trang, tôi vẫn cho rằng những người này đã có được một hệ thống chỉ huy rất chặt chẽ từ trên xuống dưới, để bất cứ lúc nào cũng có thể đồng loạt thi hành lệnh riêng của họ một cách quyết liệt. Đã thế, bạn nên nhớ rằng, bình đoàn chưa được võ trang này còn được đảng và nhà nước Việt cộng hết sức ưu đãi và phục tùng. Họ có một ưu thế hơn
hẳn ngưòi dân tại địa phương. Bằng chứng thì bạn cứ nhìn cái lưng của Trương tấn Sang, Nguyễn phú Trọng hay Nguyễn tấn Dũng… luôn cúi gập xuống thì biết rõ sự việc. Ấy là chưa kể đến những ẩn số “nửa nạc nửa mỡ” đang sống ngay bên cạnh nhà bạn, hoặc gỉa, là cấp lãnh đạo trực tiếp của bạn nữa đấy!
- Vẽ chuyện, chỉ nói chuyện bò trắng răng!
Bạn trách tôi vẽ chuyện, lo bò trắng răng thật đấy à? Sự thật thì tôi không vẽ chuyện, cũng không lo bò trắng răng. Nhưng trước nay đã lo, sau vụ Crimea là thêm rét. Nếu chẳng may một “ vùng ” nào đó trong nước ta, do một nhúm người nói tiếng lạ đứng lên đòi tự trị thì bạn trả lời sao đây? Rồi điểm này chưa đáp ứng được đòi hỏi thì tụ điểm khác lại
trương cờ hiệu nổi lên, bạn giải quyết thế nào?
- Không còn luật phá à?
Lạ, bạn nói đến luật pháp nào thế? Luật pháp quốc tế hay là luật pháp của nhà nước Việt cộng? Luật pháp quốc tế thì xem ra không được áp dụng ở Việt Nam. Còn luật pháp của nhà nước thì chỉ bảo vệ các đoàn đảng viên Việt cộng và quyền lợi của họ thôi. Nó không bảo vệ cho quyền lợi của tổ quốc và con dân Việt Nam? Không tin à, bạn đã gặp Nguyễn chí Đức, Lê thị Công Nhân, Bùi Hằng, Phương Uyên, Nguyên Kha, Việt Khang, Cù huy Hà Vũ, Lê quốc Quân và 12 thanh niên yêu nươc ở Vinh cũng như những người tù vì nhân quyền, công lý chưa? Có phải họ là những ngưòi đã nhìn thấy trước cái họa ”tự trị “ mà lên tiếng không ? Nay họ ra sao rồi?
- Anh bảo quân đội và công an nhân dân của ta là đống… bùn à?
Nào tôi có dám vọng ngôn mà bảo họ là đống bùn đâu! Tôi chỉ thấy ban tuyên truyền của nhà nước cộng sản Việt Nam thì om xòm, vỗ tay reo mừng trong vụ Nga …. đớp Crimea. Theo “Bài báo của BBC ngày 03/3/2014 dưới nhan đề “ Báo chí VN ủng hộ Nga về Ukraina? Đưa ra vài dẫn chứng, như báo CAND dẫn lời ông Putin: “nước Nga có quyền bảo vệ lợi ích của người dân Nga và những người nói tiếng Nga” và “Nga hành động trong khuôn khổ luật pháp cho phép”. Thưa bạn, chỉ mấy hôm nữa có lẽ cũng báo chí của tập đoàn CS này sẽ lập lại nguyên văn câu viết trên và chỉ cần thay đổi vài cái tên, Nga thành Trung Quốc, Crimea thành Việt Nam thì ý bạn thế nào nhỉ?
Phần tuyên truyền họ đã sửa soạn sẵn tư tưởng và dư luận như thế. Riêng về phía quân đội sẽ có bao nhiêu tàu chiến, bao nhiêu xe tăng, bao nhiêu máy bay, bao nhiêu đại pháo, hỏa tiễn và bao nhiêu phần trăm binh lính đã sẵn sàng “can đảm” đứng lên làm cuộc xát nhập không đổ máu như lời TT Nga khen ngợi binh lính Crimea đây? Thực tình không ai biết. Nhưng nếu được 50/50 còn lo cho sự độc lập và vẹn toàn cho lãnh thổ Việt Nam thì quả là một điều vạn phúc cho nước Việt. Tuy thế, cái nguy ở đây là việc chỉ huy và nắm những chức chưởng quan trọng thì không biết là được mấy người còn nghĩ về một tương lai Độc Lập của dân tộc Việt Nam đây? Liệu có thể có một Ngô Vương Quyền hay ít ra một Trần bình Trọng hay không?
Riêng cánh công an CS, một tập thể hung tàn đối với đồng bào Việt Nam xem ra đã tỏ rõ lập trường rồi. Khi trả lời VTC News ngày 03/03/2014, Lê Văn Cương, nguyên Viện Trưởng viện nghiên cứu chiến ược của bộ Công An CSVN đã tự ý hay được chỉ đạo tuyên bố như sau: “Nga có trách nhiệm bảo vệ công dân của mình và hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế. Đây được xem là hành động bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nga tại Crưm nói riêng và Ukraine nói chung. Đây không phải là hành động gây sự của Nga như chính quyền mới của Ukraine cáo buộc, mục đích của Nga công khai và đúng luật.”( Cảnh báo Mỹ đến Crum ( Crimea), Nga không đùa). Về chuyện này, trong bài “ Bài học Ukraina…” tg Lê Thiên nhận định về sách lược của họ là “ông tướng Công an lại công khai cổ võ cho hành động xâm lược, coi đó là “hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế”, một kiểu đánh giá phù hợp với đường lối chủ trương cố hữu của CSVN: bán nước với bất cứ giá nào và ngụy biện dưới bất kỳ hình thức nào, vào bất cứ cơ hội nào!”
Thế là rõ trắng đen rồi phải không? Đoàn quân hung tàn mà Nguyễn văn Cương làm “ chiến lược gia” đã úp mở cho biết, họ không có trách nhiệm gì với đồng bào Việt Nam. Trái lại theo lời của Y, chỉ cần trong một ngày nào đó Y sẽ thay chữ Nga bằng chữ Trung Quốc. Tên Crimea thành Việt Nam là hàng hàng binh đoàn từ bên kia biên giới có quyền tràn sang phía nam để bảo vệ cho quyền lợi của ngưòi nước “lạ” đang ở đây đòi tự trị theo kiểu vô pháp vô cương? Nếu cán bộ và công an đã có sẵn một chiến lược phải hỗ trợ cho binh đoàn này tiến về phương nam theo chủ trương của CS đã đề xướng ra từ năm 1951 là ” xin được làm chư hầu cho Trung Quốc “, theo bạn, ai sẽ ra đấy mà cản, Nguyễn phú Trọng, Trương tấn Sang, hay Nguyễn tấn Dũng đây?
Rồi khi kịch bản bàn giao hoàn tất theo công thức từ trước. Bạn đoán xem, có anh hùng hào kiệt nào ở phương tây nhẩy vào “can thiệp” nỗi bất bình của dân chúng Việt Nam hay chăng? Những cuộc biểu tình phản đối của đồng bào hải ngoại có cứu nổi cái nguy này không? Hay, ít lâu sau đâu cũng vào đấy. Ván đã đóng thành thuyền và quyền lợi của phương tây cũng chẳng… mất mát gi nên chẳng một ai nhắc đến tiếng kêu uất hận của người Mông Cổ ở Tân Cương nữa. Trường hợp không có kịch bản như Crimea, Việt Nam từ đây cũng không còn nguyên vẹn truyền thống Việt Nam, nhưng là một Việt Nam bị lệ thuộc, bị ràng buộc vào phương bắc từ chính trị, văn hóa, tiền tệ, quân sự và mọi sinh hoạt xã hội. Việc học sinh từ tiểu học phải học chữ Tàu để mai sau dễ … kiếm việc trên quê hương của mình có lẽ cũng là một chuyện phải đến?
Viết ra những dòng này, bạn có cho tôi là bi quan, cực đoan chống cộng, thích suy diễn và xuyên tạc những đường lối “quang minh” lỗi đạo của đảng và nhà nước CSVN hay không ? Hy vọng là không! Phần tôi, tôi khẳng định là. Tôi không viết trong bi quan hoảng loạn. Tôi chỉ đưa ra những dẫn chứng cho thấy, cộng sản đang từng bước từng bước thực hiện chủ trương “ xin làm chư hầu cho Trung Cộng” và đây có thể là những bước sau cùng trong giai đoạn cuối. Như thế, có chăng đây chỉ là những dòng nước mắt của người Việt Nam trước khi trời tối! Nước mắt không phải vì tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam không còn, nhưng chính vì kịch bản bán nước do tập đoàn CS HCM dàn dựng, thực hiện mà chúng ta không có cơ hội để lên tiếng, chống đỡ! Bởi vì, guồng máy công quyền, mọi phương tiện kể cả quân đội, công an và các thùng phiếu đều ở trong tay chúng. Theo đó, người Việt Nam chỉ còn một chọn lựa duy nhất. Hoặc, xé bỏ cờ một sao của Phúc Kiến do Hồ chí Minh mang về. Hoặc theo chúng tiếp quản và phất cờ 6 sao của phương bắc ngay trên quê hương mỉnh!
Bảo Giang Có một sự thật mà ai cũng thấy là: Trong những năm gần đây, ở bất cứ nơi đâu, dù là giữa thành thị, nơi phố xá đông người qua lại hay tại những ngõ ngách vắng lặng ở thôn quê, miền thượng, nơi vắng hẳn những thông tin, truyền hình, mạng internet, nhưng không có một nơi nào mà người ta không to nhỏ với nhau về chuyện mất nước. Chuyện mất nước không còn là chuyện bi quan của riêng một ai. 40 năm về trước, nói đến mất nước là nói đến sự kiện Việt Nam rơi vào tay cộng sản. Hôm nay, nói đến mất nước là nói đến chuyện Việt Nam mất chủ quyền Độc Lập của một quốc gia, trở thành một chư hầu, một tỉnh bang của Trung cộng do công lao của tập đoàn cộng sản Hồ chí Minh dàn dựng và thực hiện.
Thật ra, chuyện cộng sản ra công ra sức dàn dựng để được làm chư hầu cho Trung cộng là diều không còn che dấu được bất cứ ai nữa. Người thì biết qua tin tức, trang mạng, chuyện trò trao đổi. Kẻ thì nhìn biêt sự việc qua cung cách đối xử của nhà nước với công chúng Việt Nam và với những người “lạ” đến trú tại địa phương. Cách riêng, đối với ngưòi từng sinh trưởng ở miền nam Việt Nam, họ đã biết chuyện này từ lâu. Bởi lẽ, cố Tổng Thống Ngô đình Diệm đã công khai hóa chuyện tồi bại của tập đoàn cộng sản Hồ chí Minh ( lúc bấy giờ chưa mấy người biết y là Hồ tập Chương, người Tàu) ra trước công luận trong bài diễn văn của ông nhân dịp khánh thành Đập Đồng Cam ở Tuy Hòa vào ngày 17 tháng Chín, 1955 là “Chúng ta hiện nay đang tiếp tục cuộc chiến đấu lớn lao để hoàn thiện nền độc lập của quốc gia chúng ta và để đảm bảo tự do của nhân dân chúng ta…. Nếu Việt Minh thắng trong cuộc đấu tranh này, quốc gia thân yêu của chúng ta sẽ biến mất và nước chúng ta sẽ chỉ được đề cập đến như là một tỉnh phía nam của Trung Cộng. Hơn nữa nhân dân Việt Nam sẽ mãi mãi sống dưới ách độc tài do Mạc Tư Khoa, Trung cộng tạo ra và sẽ bị tước mất tôn giáo, tổ quốc và gia đình.” Nguồn: Major Policy Speeches by President Ngo Dinh Diem
Nhìn lại những sự kiện và những diễn biến đã và đang xảy ra, người người lắc đầu ngao ngán và chán nản. Tuy thế, tôi cho rằng, nỗi đau tận cùng trong lòng ngưòi Việt Nam không phải vì câu chuyện mất nước. Nhưng chính là sự kiện, chúng ta không biết phải làm gì để chặn đứng việc tập đoàn CS HCM đang thu xếp những thủ tục cuối cùng để giao nước ta cho Trung quốc. Chuyện “ không biết” này là một việc đáng trách hay đáng buồn?
Đáng trách vì chúng ta không chịu hành động gì? Đáng buồn vì chúng ta đã buông xuôi?
Tôi không biết rõ câu trả lời sẽ ra sao. Tuy nhiên, có thể nói là từ sau cái chết của Tổng thống Ngô đình Diệm đến nay, chưa bao giờ ngưòi Việt Nam, kể cả những người trong hàng ngũ cán binh cộng sản còn có chút tấm lòng với tổ quốc Việt Nam, đã đặt ra câu hỏi này một cách nghiêm túc, ngõ hầu, cùng tìm ra một câu trả lời rõ nét mà định vị cho tư thế Việt Nam. Trái lại, tất cả như mơ, như hoặc, trong một giấc mộng mị “ông nói gà, bà nói vịt”, và không hề biết rằng, chúng ta không còn nhiều thời gian để đặt lại câu hõi này nửa. Bởi vì, khi đi ngủ là người Việt Nam. Sáng mai mở mắt ra, lại bị gọi bằng một cái tên lạ khác với cái cờ 6 sao treo ngay trên mảnh đất của mình đang sinh sống! Lúc đó mới chợt biết tên nước đã không còn, mới nhớ đến câu gào thét “ Việt Nam tôi đâu?”nghe tan gan, nát ruột, vỡ tim óc của Việt Khang thì đã qúa muộn!
Tôi viết ra câu chuyện này, tưởng lạ, mà không lạ. Cho là hoang tưởng mà lại rất thực. Bởi lẽ, ngay khi Putin ký sắc lệnh xát nhập Crimea vào lãnh thổ của Liên Bang Nga vào ngày 21-3-2014, thì Ukraine mất đất và người Ukraina ở Crimea thành dân Nga! Đứng trước cái “ hoang tưởng” này, cả thế giới, chẳng riêng gì Tây Âu và Mỹ, đều trắng mắt ra mà nhìn một “con cá lớn, nuốt con cá bé”. Nuốt một cách công khai, còn có thể gọi là “hợp pháp” nữa, mà chẳng có một thành viên nào của quốc tế dám nói đến chữ “can thiệp” để bảo đảm luật pháp của thế giới, ngoại trừ một vài kiểu phủi bụi ngoại giao là cấm vận năm bảy thành viên nào đó của những bên liên hệ, hoặc mời Nga ra khỏi G8 là hết chuyện.
Mời ra rồi, cấm vận rồi, vài năm sau thế nào? Thế giới lại trôi vào một dòng chảy khác, chẳng mấy ai còn nhắc đến chuyện cấm vận và Crimea hôm nay nữa. Họ lại ngồi chung một bàn! Như thế, nếu câu chuyện ngưng lại ở đây, không tiến thêm một bước nào nữa, Ukraina không mất thêm đất thì đó là điều may mắn cho Ukraina và cho thế giới. Chỉ sợ, chẳng bao lâu nửa, tỉnh phía đông , thành phố phía tây, hay khu vực trong lòng Ukraine lại bỏ phiếu đòi tự trị và xin xát nhập vào Liên Bang Nga thì mới là câu chuyện dở khóc dở cười cho thế giới trong thế kỷ này. Bởi vì, nếu chuyện ấy xảy ra, cũng sẽ không bao giờ có những “ can thiệp” dưới dạng “đưa ra trước công lý” như đã từng xảy ra ở Iraq và Afganistan trước đây.
Từ câu chuyện “hoang tưởng “ ấy, một câu hỏi như bài học vô cùng qúy gía được đặt ra cho người Việt Nam chúng ta sau sự kiện này là: Liệu “cuộc đổi thay vĩ đại” này, có là một bước đột phá cho Trung Cộng tiến bước xuôi phương nam, và số phận Việt Nam có được định đoạt theo một thời khoá biểu hẹn trước do Trung cộng và tay sai thực hiện chăng? Nếu chuyện ấy xảy ra, Việt Nam sẽ ra sao, về đâu? Ta vẫn là ta hiên ngang khí phách. Hay ta là một vùng đất được hưởng quy chế tự trị trong cái túi bọc của Trung quốc theo sách lược của đảng nhà nước CS VN? Đi tìm câu trả lời, tôi cho là bài học từ Crimea trong ván cờ của thời đại, rất có gía trị với chúng ta.
Ở Crimea, để biện minh cho ý đồ của mình, Putin nói trong bài phát biểu 18-3-2014.“ bây giờ, tôi nghe người dân Crimea kể rằng, năm 1991, họ đã bị trao đi như bao tải khoai tây”. Điều này cho thấy, chính Nga là phía không ngừng tìm đủ mọi phương cách để bành trướng cương thổ sau khi đế chế cộng sản Liên Bang Sô Viết sụp đổ vào năm 1990. Nghĩa là, sau khi gượng đứng dậy được từ cuộc sụp đổ của đế chế cộng sản vào năm1990, Liên bang Nga lại đã manh nha một cuộc thôn tính láng giềng để mở rộng biên giới của mình? Dĩ nhiên, cuộc thôn tính này phải là một diển tiến mang tính “ hợp pháp” hơn là cuộc bành trướng bằng bạo lực cách mạng của đế chế cộng sản trước kia. Từ đó, Putin không ngần ngại tạo ra những loại ngôn ngữ về tính lịch sử của sự xát nhập như: Ở nơi đó, ngoài quân hải cảng Sevastopol, một vị trí then chốt giữ biển đen của Nga. Nó còn là nơi ”đã thấm máu xương của ngươi Nga qua nhiều đời”. Và rằng, đó là nơi có nhiều người Nga sinh sống, nó là phần đất không thể bị tách rời khỏi nước Nga… Nên nó phải về với Nga?
Nếu cái tính hợp pháp chỉ đơn giản được giải quyết bằng sức mạnh của cơ bắp với đôi ba lý luận như thế, xem ra nhiều phần đất trên thế giới này sẽ có nguy cơ bị xóa tên! Bởi vì, nhiều nơi cũng có máu xương của người Mỹ, người Nga, người Tàu, người Pháp, người Đức… đã đổ xuống.
Thử hỏi, những phần đất ấy, có phải trở về với quốc gia, mà con dân của họ đã đổ máu xương xuống hay không? Có lẽ, chẳng ai có thể đưa ra câu trả lời dứt khoát, có hay là không. Bởi vì nó còn tùy thuộc vào nhiều vấn đề. Và không phải mọi trường hợp đều có thể “đưa nó ra” trưóc công lý. Đơn giản hơn, công lý đôi khi cũng phải chạy mặt trong một số trường hợp. Mà rủi Crimea hôm qua đây là một điển hình? Liệu nó có ngoại lệ trong tương lai không?
a. Chuyện máu xương đã đổ xuống!
Trở lại câu chuyện của Crimea. Tôi không biết là có bao nhiêu máu xương của quân dân Nga đã đổ xuống trên phần đất Crimea để hôm nay nó phải thuộc về Nga. Nhưng tại Việt Nam, máu xương của quan, binh và người từ bắc phương đã đổ xuống trên phần đất Việt Nam chắc chắn là nhiều hơn con số của Nga gấp bội lần, và cũng chẳng phải là mới đây mới có. Trái lại, những con số này đã có trong những cuộc chiến từ nghìn năm cũ, từ hơn hai trăm năm trưóc và mới đây, nhiều vệt máu còn tươi. Dù đã khô hay còn tươi, con số đều không thể đong đếm được. Rõ ràng máu xương của họ không thể đong đếm. Nhưng những cai tên như gò Đống Đa, kèn Ngọc Hồi, đuốc Hàm Tử, giáo Chương Dương, bến Vân Đồn, ngựa Chi Lăng… thì chưa bao giờ có thể vùi quên. Hơn thế, xem ra còn uất nghẹn trong lòng người phương bắc hơn cả người phương nam! Bởi vì, những phần đất ấy đã không bao giờ thuộc về phương bắc, dù đã có đôi ba kẻ, đôi ba lần mài quóc cầu vinh, muốn dâng cúng đất Việt cho ngoại bang. Kết qủa, tất cả đều toi mạng trước khi mộng bán nước cầu vinh thành sự. Phần tổ quốc và người dân Việt Nam vẫn kiên vững, còn đây!
b. Đường biên giới.
Nhìn trên bản đồ, Crimea không liền da với liên bang Nga. Nhưng Việt Nam ta với Tàu thì đất liền đất, sông liền sông, chỉ phân biệt bên này và bên kia bởi một lằn ranh gọi là biên giới. Lằn ranh này chẳng có tường cao, hào sâu để ngăn chặn đối phương. Tuy thế, lịch sử qua nghìn đời đã khẳng định rằng, không phải cứ đất liền đất, sông liền sông và thêm cái bụng to và đông nhân mạng là có thể nuốt trửng được đối phương, là bôi xóa được cái cái lằn ranh ngăn cách kia đi. Trái lại, sau những cuộc chui vào ống đồng, tổn hại máu xương nhiều đời, cả hai đều biết rõ về nhau và cùng nghiệm ra rằng nếu ” sấm động phương nam” thì sẽ có “ vũ qua bắc hải” nên ai giữ phận nấy.
Tuy nhiên, kể từ thời điểm 3-2-1930 và nhất là sau ngày 20-7-1954 đã khác đì. Truyền thống ấy, bất khuất ấy, lịch sử ấy đã bị bào mòn và có nguy cơ biến thành một bức tranh vô cảm treo trên tường cho người ta ngắm nhìn xuông. Nó không còn gía trị trong thực tế. Không còn sức sống, không còn tiếng nói, nếu như không muốn nói, nó chỉ còn là câu chuyện của dĩ vãng? Bởi vì tập đoàn cộng sản Hồ chí Minh ( Hồ tập Chương?) đã đưa ra một sách lược hoàn toàn đối kháng với truyền thống và lịch sử của dân tộc Việt Nam. Sách lược của họ vỏn vẹn chỉ có 8 chữ “ xin được làm chư hầu cho Trung quốc”!
Xin nhớ, tập đoàn CS tại VN đả chủ trương xin được làm chư hầu cho Trung cộng từ trước khi chúng cưóp được chính quyền tại Việt Nam, chứ không phải Trung cộng dám tự mình xóa bỏ lằn ranh giới giữa hai nước. Khi ấy, Hồ tập Chương người Tàu, còn gọi là Hồ chí Minh đã chỉ thị cho Đặng xuân Khu, tổng thư ký đảng, đồng thời thay mặt “Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Việt Nam Dân Chủ Công Hòa năm thứ VII. TTK sồ 84/LD.” , nóí lên ý chí và cương lĩnh hành động của đảng cộng sản Việt Nam trong văn thư kêu gọi đồng bào vào tháng 8 năm 1951. Đây phải được coi là bản văn chỉ đạo tối quan trọng của của đảng CSVN. Nếu không, chính Đặng xuân Khu đã bị cộng sản xóa sổ từ lâu rồi, tên tuổi của y không còn được lưu dụng cho đến hôm nay. Và làm gì có chuyện báo chí và đảng CSVN tâng bốc cái tên Đặng Xuân Khu trong kịp “ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà lãnh đạo cách mạng (vô văn hóa) Trường Chinh. giới báo chí Việt Nam cùng với toàn đảng, kính cẩn nghiêng mình trước anh linh cây bút bậc thầy lỗi (đạo) lạc” này?( nguồn laodong.com.vn). Trong bản văn chủ đạo này gồm có hai điểm chính:
- Kêu gọi đồng bào Việt Nam học chữ Tàu và bỏ chữ quốc ngữ.
- Xin được làm chư hầu cho Trung quốc.
Dĩ nhiên, những chủ điểm này không phải là một ngoa ngữ nhằm lôi kéo hoặc lừa Trung cộng giúp họ cướp chính quyền tại Việt Nam. Trái lại, nó là sách lược cột sống của tổ chức này.
Bằng chứng là, chẳng bao lâu sau ngày cướp được chính quyền, để mở đường cho Phạm văn Đồng ký công hàm công nhận chủ quyền của Trung Cộng tại Hoàng Sa, Trưòng Sa, và cho các thế hệ sau ký các hiệp ước về đường biên giới, về vịnh bắc bộ và các khế ước thuê rừng đầu nguồn, khai thác khoáng sản của Việt Nam “ngày 15 tháng 6 năm 1956, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Ung Văn Khiêm đã nói với đại biện lâm thời của lãnh sự quán Trung Quốc tại Việt Nam, Lý Chí Dân, rằng: "Căn cứ vào tư liệu của phía Việt Nam, về mặt lịch sử thì quần đảo Tây Sa và Nam Sa là một phần lãnh thổ của Trung Quốc". (wikipedia). Nên từ đó đến nay, qua tất cả những thành phần lãnh đạo kế tiếp của tập đoàn Việt cộng tứ Lê Duẫn, kẻ tuyên bố là đánh miền nam là đánh cho Trung quốc, đến Đỗ Mười, Nguyễn văn Linh, Lê khả Phiêu, Lê Đức Anh, Nguyễn mạnh Cầm… xin quy thuận Trung Cộng vô điều kiện trong hội nghị Thành Đô. Rồi Mạnh, Sang, Trọng, Hùng, Dũng, Luận… tất cả đều cúc cung khuyển mà, thực hiện triệt để chủ trương này của đảng CS bằng cách này hay cách khác. Kết quả:
1. Về nhân sự.
Bạn có biết, hay bạn có đọc được bất cứ một tài liệu nào của nhà nước CS tại Việt Nam công bố liên quan đến vần đề nhân sự, nói toạc ra là, có bao nhiều người Tàu đã nhập cư lậu vào Việt Nam kể từ sau năm 1954 đến nay hay không? Bạn có biết, hay có đọc được bất cứ một tài liệu nào của nhà nước CS tại Việt Nam công bố rõ ràng về con số những nhân công của Tàu, cùng với các nhà thầu sang Việt Nam, (chiếm thị trường lao động của người Việt Nam), làm việc có thời hạn, cũng như là không có thời hạn bằng văn bản chính thức hay không? Bạn có biết, hay có đọc được bất cứ tài liệu nào của nhà nước CS báo cho công chúng Việt Nam biết là hiện này có tất cả bao nhiêu công trình, dự án từ cơ sở hạ tầng, như cầu đường đến các nhà máy thuỷ điện, các cơ sở sản xuất ở rải rác trên toàn quốc Việt Nam mà Trung cộng đứng thầu và họ có độc quyền để đưa người sang làm công nhân dười sự quản trị của họ hay không?
Bạn có biết, hay có được nghe nhà nưóc CS công bố rõ ràng là hiện nay ở Việt Nam có bao nhiêu vùng đất được gọi là đặc khu của người Tàu ở các vùng từ Quảng Ninh, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Cao Nguyên , Tân Cơ, Đắc Nông đến Bình Dương, Hà Tiên không? Rồi ở tận rừng sâu thì có bao nhiêu vùng rừng đầu nguồn, với diện tích như thế nào đã được ký giao nộp cho người Tàu? Về phía biển đông, ngoài công hàm của Phạm văn Đồng về Hoàng Sa trường Sa và hiệp ước vịnh bắc bộ đã nhượng địa, nhượng biển cho tàu cộng ra, còn bao nhiêu vùng biển được khoanh vùng cho người Tàu thuê mướn dài hạn mà quan cán và nhân dân Việt Nam không được phép lui tới nữa? Rồi bao nhiêu cửa khẩu quan trọng mang tính chiên lược như cửa Việt ở Quảng Trị. Vũng Áng ở Đèo ngang đã được âm thầm ký giao cho Tàu cộng kiểm soát? Bạn có thể trả lời được những câu hỏi trên không?
Tôi biết chắc là chúng ta không thể trả lời và kiểm tra được những con số liên quan đến những câu hỏi trên. Điều ấy không lạ, vì chính nhà nước Việt cộng cũng bó tay nốt. Bởi vì trên lừa dưới, dưới lừa trên, nên họ cũng không có khả năng để kiểm toán được những con số này. Điển hình ở Bình Dương, ngoài đặc khu Bình Dương dành riêng cho Tàu khựa có sinh hoạt riêng, còn bao nhiêu địa điểm khác cũng có những sinh hoạt tương tự và có bao nhiêu người Tàu cư ngụ bất hợp pháp và hợp pháp ở Bình Dương đây? Hỏi và có lẽ chính viên tỉnh ủy, chủ tịch ủy ban gọi là nhân dân ở đây cũng không thể trả lời được câu hỏi này, chứ nói chi đến thành ủy Sài Gòn nắm được rõ con số! Những con số có chăng chỉ là những con số láo lếu báo cáo mà thôi. Con số thực sự, không một ai biết kể cả cấp chóp bu của đảng và
nhà nước tại Hà Nội.
Ở đây tôi chỉ võ đóan là. Có lẽ con số nhân sự của họ ở trong nước ta không thể dưới một triệu nhân danh đã ở vào tuổi trưởng thành! Con số này cho tôi một cái nhìn tiêu cực. Đó là một binh đoàn thiện chiến chưa được võ trang, nhưng đã có sẵn cơ sở sinh hoạt và nắm, biết rõ hiện tình và phương hướng hành động! Như thế, dù chưa được võ trang, tôi vẫn cho rằng những người này đã có được một hệ thống chỉ huy rất chặt chẽ từ trên xuống dưới, để bất cứ lúc nào cũng có thể đồng loạt thi hành lệnh riêng của họ một cách quyết liệt. Đã thế, bạn nên nhớ rằng, bình đoàn chưa được võ trang này còn được đảng và nhà nước Việt cộng hết sức ưu đãi và phục tùng. Họ có một ưu thế hơn
hẳn ngưòi dân tại địa phương. Bằng chứng thì bạn cứ nhìn cái lưng của Trương tấn Sang, Nguyễn phú Trọng hay Nguyễn tấn Dũng… luôn cúi gập xuống thì biết rõ sự việc. Ấy là chưa kể đến những ẩn số “nửa nạc nửa mỡ” đang sống ngay bên cạnh nhà bạn, hoặc gỉa, là cấp lãnh đạo trực tiếp của bạn nữa đấy!
- Vẽ chuyện, chỉ nói chuyện bò trắng răng!
Bạn trách tôi vẽ chuyện, lo bò trắng răng thật đấy à? Sự thật thì tôi không vẽ chuyện, cũng không lo bò trắng răng. Nhưng trước nay đã lo, sau vụ Crimea là thêm rét. Nếu chẳng may một “ vùng ” nào đó trong nước ta, do một nhúm người nói tiếng lạ đứng lên đòi tự trị thì bạn trả lời sao đây? Rồi điểm này chưa đáp ứng được đòi hỏi thì tụ điểm khác lại
trương cờ hiệu nổi lên, bạn giải quyết thế nào?
- Không còn luật phá à?
Lạ, bạn nói đến luật pháp nào thế? Luật pháp quốc tế hay là luật pháp của nhà nước Việt cộng? Luật pháp quốc tế thì xem ra không được áp dụng ở Việt Nam. Còn luật pháp của nhà nước thì chỉ bảo vệ các đoàn đảng viên Việt cộng và quyền lợi của họ thôi. Nó không bảo vệ cho quyền lợi của tổ quốc và con dân Việt Nam? Không tin à, bạn đã gặp Nguyễn chí Đức, Lê thị Công Nhân, Bùi Hằng, Phương Uyên, Nguyên Kha, Việt Khang, Cù huy Hà Vũ, Lê quốc Quân và 12 thanh niên yêu nươc ở Vinh cũng như những người tù vì nhân quyền, công lý chưa? Có phải họ là những ngưòi đã nhìn thấy trước cái họa ”tự trị “ mà lên tiếng không ? Nay họ ra sao rồi?
- Anh bảo quân đội và công an nhân dân của ta là đống… bùn à?
Nào tôi có dám vọng ngôn mà bảo họ là đống bùn đâu! Tôi chỉ thấy ban tuyên truyền của nhà nước cộng sản Việt Nam thì om xòm, vỗ tay reo mừng trong vụ Nga …. đớp Crimea. Theo “Bài báo của BBC ngày 03/3/2014 dưới nhan đề “ Báo chí VN ủng hộ Nga về Ukraina? Đưa ra vài dẫn chứng, như báo CAND dẫn lời ông Putin: “nước Nga có quyền bảo vệ lợi ích của người dân Nga và những người nói tiếng Nga” và “Nga hành động trong khuôn khổ luật pháp cho phép”. Thưa bạn, chỉ mấy hôm nữa có lẽ cũng báo chí của tập đoàn CS này sẽ lập lại nguyên văn câu viết trên và chỉ cần thay đổi vài cái tên, Nga thành Trung Quốc, Crimea thành Việt Nam thì ý bạn thế nào nhỉ?
Phần tuyên truyền họ đã sửa soạn sẵn tư tưởng và dư luận như thế. Riêng về phía quân đội sẽ có bao nhiêu tàu chiến, bao nhiêu xe tăng, bao nhiêu máy bay, bao nhiêu đại pháo, hỏa tiễn và bao nhiêu phần trăm binh lính đã sẵn sàng “can đảm” đứng lên làm cuộc xát nhập không đổ máu như lời TT Nga khen ngợi binh lính Crimea đây? Thực tình không ai biết. Nhưng nếu được 50/50 còn lo cho sự độc lập và vẹn toàn cho lãnh thổ Việt Nam thì quả là một điều vạn phúc cho nước Việt. Tuy thế, cái nguy ở đây là việc chỉ huy và nắm những chức chưởng quan trọng thì không biết là được mấy người còn nghĩ về một tương lai Độc Lập của dân tộc Việt Nam đây? Liệu có thể có một Ngô Vương Quyền hay ít ra một Trần bình Trọng hay không?
Riêng cánh công an CS, một tập thể hung tàn đối với đồng bào Việt Nam xem ra đã tỏ rõ lập trường rồi. Khi trả lời VTC News ngày 03/03/2014, Lê Văn Cương, nguyên Viện Trưởng viện nghiên cứu chiến ược của bộ Công An CSVN đã tự ý hay được chỉ đạo tuyên bố như sau: “Nga có trách nhiệm bảo vệ công dân của mình và hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế. Đây được xem là hành động bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nga tại Crưm nói riêng và Ukraine nói chung. Đây không phải là hành động gây sự của Nga như chính quyền mới của Ukraine cáo buộc, mục đích của Nga công khai và đúng luật.”( Cảnh báo Mỹ đến Crum ( Crimea), Nga không đùa). Về chuyện này, trong bài “ Bài học Ukraina…” tg Lê Thiên nhận định về sách lược của họ là “ông tướng Công an lại công khai cổ võ cho hành động xâm lược, coi đó là “hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế”, một kiểu đánh giá phù hợp với đường lối chủ trương cố hữu của CSVN: bán nước với bất cứ giá nào và ngụy biện dưới bất kỳ hình thức nào, vào bất cứ cơ hội nào!”
Thế là rõ trắng đen rồi phải không? Đoàn quân hung tàn mà Nguyễn văn Cương làm “ chiến lược gia” đã úp mở cho biết, họ không có trách nhiệm gì với đồng bào Việt Nam. Trái lại theo lời của Y, chỉ cần trong một ngày nào đó Y sẽ thay chữ Nga bằng chữ Trung Quốc. Tên Crimea thành Việt Nam là hàng hàng binh đoàn từ bên kia biên giới có quyền tràn sang phía nam để bảo vệ cho quyền lợi của ngưòi nước “lạ” đang ở đây đòi tự trị theo kiểu vô pháp vô cương? Nếu cán bộ và công an đã có sẵn một chiến lược phải hỗ trợ cho binh đoàn này tiến về phương nam theo chủ trương của CS đã đề xướng ra từ năm 1951 là ” xin được làm chư hầu cho Trung Quốc “, theo bạn, ai sẽ ra đấy mà cản, Nguyễn phú Trọng, Trương tấn Sang, hay Nguyễn tấn Dũng đây?
Rồi khi kịch bản bàn giao hoàn tất theo công thức từ trước. Bạn đoán xem, có anh hùng hào kiệt nào ở phương tây nhẩy vào “can thiệp” nỗi bất bình của dân chúng Việt Nam hay chăng? Những cuộc biểu tình phản đối của đồng bào hải ngoại có cứu nổi cái nguy này không? Hay, ít lâu sau đâu cũng vào đấy. Ván đã đóng thành thuyền và quyền lợi của phương tây cũng chẳng… mất mát gi nên chẳng một ai nhắc đến tiếng kêu uất hận của người Mông Cổ ở Tân Cương nữa. Trường hợp không có kịch bản như Crimea, Việt Nam từ đây cũng không còn nguyên vẹn truyền thống Việt Nam, nhưng là một Việt Nam bị lệ thuộc, bị ràng buộc vào phương bắc từ chính trị, văn hóa, tiền tệ, quân sự và mọi sinh hoạt xã hội. Việc học sinh từ tiểu học phải học chữ Tàu để mai sau dễ … kiếm việc trên quê hương của mình có lẽ cũng là một chuyện phải đến?
Viết ra những dòng này, bạn có cho tôi là bi quan, cực đoan chống cộng, thích suy diễn và xuyên tạc những đường lối “quang minh” lỗi đạo của đảng và nhà nước CSVN hay không ? Hy vọng là không! Phần tôi, tôi khẳng định là. Tôi không viết trong bi quan hoảng loạn. Tôi chỉ đưa ra những dẫn chứng cho thấy, cộng sản đang từng bước từng bước thực hiện chủ trương “ xin làm chư hầu cho Trung Cộng” và đây có thể là những bước sau cùng trong giai đoạn cuối. Như thế, có chăng đây chỉ là những dòng nước mắt của người Việt Nam trước khi trời tối! Nước mắt không phải vì tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam không còn, nhưng chính vì kịch bản bán nước do tập đoàn CS HCM dàn dựng, thực hiện mà chúng ta không có cơ hội để lên tiếng, chống đỡ! Bởi vì, guồng máy công quyền, mọi phương tiện kể cả quân đội, công an và các thùng phiếu đều ở trong tay chúng. Theo đó, người Việt Nam chỉ còn một chọn lựa duy nhất. Hoặc, xé bỏ cờ một sao của Phúc Kiến do Hồ chí Minh mang về. Hoặc theo chúng tiếp quản và phất cờ 6 sao của phương bắc ngay trên quê hương mỉnh!
Chủ trương lớn của đảng - Tai họa khủng cho dân
J.B. Nguyễn Hữu Vinh,
viết từ Hà Nội (Blog RFA)
Thông tin về việc dự án Bôxit Tây Nguyên lỗ hàng ngàn tỷ đồng đến với người dân Việt Nam đã là chuyện hiển nhiên không cần bàn cãi. Người ta đón nhận tin đó không chút nào ngạc nhiên.
Trước đó, nhà nước đã phải dừng công trình Cảng Kê Gà đã đầu tư cả ngàn tỷ, việc phá nát đường sá, đe dọa đời sống người dân, đặc biệt là nếp văn hóa vùng Tây Nguyên.
Thậm chí việc báo chí kêu gào rằng Bôxit lỗ nặng, lỗ hàng ngàn tỷ đồng, lỗ nhiều mặt, lỗ hàng chục triệu đôla mỗi năm... nhưng tận cho đến khi có con số rất cụ thể rằng: “Riêng Tân Rai năm 2013 lỗ hơn 258 tỉ đồng, Nhân Cơ dự kiến năm 2015 sẽ lỗ hơn 671 tỉ đồng...” thì ông Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Trọng Lú vẫn nhơn nhơn phát biểu: “Nói Bôxit lỗ là chưa có cơ sở” - thật “khách quan, biện chứng” và hài hước.
Chủ trương lớn - sai lầm càng lớn
Người ta không ngạc nhiên khi nghe tin Bôxit Tây Nguyên lỗ nặng, bởi lời ông thủ tướng vẫn còn đó: “Bôxit là chủ trương lớn của Ðảng, phản đối vẫn làm”. Và đã là chủ trương lớn của đảng, hẳn nhiên là sai lầm và thất bại.
Biết bao chủ trương của đảng đã thất bại thảm hại. Chủ trương càng lớn, sai lầm càng nặng. Lẽ ra, với một đảng tự xưng là trí “tuệ nhân loại” là “khoa học của mọi khoa học” thì không được để xảy ra sai lầm, hoặc chỉ là hãn hữu. Thử xem lại các chủ trương lớn xưa nay của đảng, được mấy cái thắng lợi và bao cái thất bại? Cứ đụng đâu, sai đó. Ngay từ khi mới cướp được chính quyền ít năm, cuộc cải cách ruộng đất với những sai lầm kinh hoàng để lại biết bao hậu quả cho dân tộc đến bao đời mới sửa được? Sai lầm này được đổ cho là vì Trung Quốc bắt ta nhập khẩu cách mạng của họ.
Ðiều buồn cười cho những giải thích này, là lúc bấy giờ Việt Nam được tuyên bố là một nước độc lập.
Thế rồi chủ trương lớn của đảng, đưa tất cả vào HTX nông nghiệp, cả đất nước, hàng chục triệu người dân biến thành đàn chuột bạch thí nghiệm cho những chủ trương lớn chẳng ai giống ai, để cuối cùng thì muốn trở về điểm xuất phát đã là hết sức khó khăn và nhiều khi là không thể. Liên tiếp các chủ trương khác như mô hình pháo đài cấp huyện, chủ trương cả nước là một chiến trường, chủ trương 16 chữ vàng và 4 tốt... cứ cái sau đạp cái trước.
Gần đây, các chủ trương lớn của đảng liên tiếp được đưa ra, và liên tiếp đất nước hứng chịu hậu quả. Từ “nắm đấm thép” là các tập đoàn mạnh của ty nhà nước, cho đến Vinashin, Vinaline rồi điện lực, khoáng sản...
Về mặt văn hóa, đời sống tinh thần, chủ trương cách mạng văn hóa tư tưởng... đã phá hủy biết bao nhiêu đền đài, chùa chiền, miếu mạo nhà thờ... là những sản phẩm văn hóa ngàn năm của dân tộc để “tiêu diệt tàn dư phong kiến, đế quốc” và “bài trừ mê tín dị đoan.” Ðể rồi nay lại trở lại “phục hồi” mà nhiều cái thành những thứ hổ lốn râu ông sãi cắm cằm bà sư cho đám qua chức cộng sản suốt ngày giẫm đạp xin ấn, hối lộ thần, phật.
Kết quả là sau những chủ trương đấu tố, con đấu cha, vợ tố chồng, con chửi bới vu cáo bố mẹ... thì văn hóa đất Việt nát như tương bần. Những hiện tượng bất luân, bất nghĩa, nghịch tử và phản trắc du qua nhiều mô hình xã hội không xuất hiện, thì lại nhan nhản trong chế độ cộng sản.
Chỉ có điều, thường thì sau những thất bại to lớn dưới sự lãnh đạo tuyệt đối và sáng suốt của đảng, thì thỉnh thoảng có người nhận trách nhiệm. Sau thất bại bởi những tội ác gây ra với dân tộc trong cải cách ruộng đất, không rõ ông Hồ Chí Minh có nhỏ giọt nước mắt nào không, nhưng động tác ông rút khăn mùi soa châm chấm khóe mắt để thay cho những lời tạ tội với hàng ngàn người mất mạng và hàng vạn người đã chịu hệ lụy bởi một chiến dịch do đảng của ông tiến hành lại được ca ngợi như một hành động anh hùng.
Sau những thất bại thảm hại của chiến dịch “chống tham nhũng” của những chủ trương và đường lối gần đây, có kết quả là tham nhũng từ nguy cơ, thành “quốc nạn” từ cá nhân thành tổ chức, thành “lợi ích nhóm” thì ông Trọng Lú ố tổng bí thư Ðảng Cộng Sản - đã “nghẹn ngào nhận lỗi” sau hội nghị trung ương đảng.
Chúng tôi đã có bài viết “Khi người cộng sản nhận lỗi” để nêu lên hiện tượng này, ở đó nói rõ: “Khi những người cộng sản nhận lỗi, khi đó đất nước và dân tộc đã đi qua một thảm họa và đang ở trong trạng thái kiệt quệ về tinh thần lẫn thể chất. Khi những người cộng sản nhận lỗi là khi cả đất nước phải chuẩn bị gồng mình, nghiến răng đau đớn để khắc phục những sai lầm của họ gây ra. Khi những người cộng sản nhận lỗi, cũng là khi mà đất nước, dân tộc chuẩn bị cho những cuộc phiêu lưu mới và sẵn sàng để chấp nhận những sai lầm mới của họ.”
Nhưng, thất bại này chưa thấy ai “chịu trách nhiệm.” Bởi đơn giản là trách nhiệm nằm chủ trương của đảng và bởi đảng mà ra.
Bất chấp ý nguyện người dân?
Nhiều chứng cứ cụ thể, sờ sờ ra đó, nhiều bài báo, luận cứ khoa học vạch rõ tương lai của Bôxit ngay từ khi nó mới hình thành, mới manh nha. Rồi bằng những kiến nghị của hàng ngàn nhân sĩ, trí thức, các nhà khoa học... thậm chí cả tiếng kêu của ông Võ Nguyên Giáp, một “công thần chế độ” - người có hàng vạn fan hâm mộ sau khi chết - đòi ngưng ngay dự án Bôxit Tây Nguyên vì không chỉ thiệt hại về kinh tế mà còn là vận mệnh quốc gia, là an nguy của xã tắc...
Ðể bỏ ngoài tai tất cả mọi lời khuyên ngăn, kiến nghị và những tiếng nói tâm huyết với tiền đồ đất nước, của những nhà khoa học, quản lý và mọi tầng lớp nhân dân, người đứng đầu chính phủ chỉ cần buông một câu “Bôxit là chủ trương lớn của đảng.”
Thế là, tất cả đều như tiếng kêu thất thanh trước cái gọi là “chủ trương lớn của đảng” hết sức quái gở kia.
Ngay cả cái gọi là Quốc Hội, một cơ quan được miêu tả là của dân, thể hiện ý nguyện của dân và quyết định các vấn đề của dân cũng bó tay trước chủ trương này và cứ răm rắp cúi đầu vâng lệnh. Thậm chí, ngay khi Quốc Hội còn chưa họp, người ta đã biết tỏng vụ cá độ là “Quốc Hội sẽ ủng hộ Bôxit” - Xem lại “đã có bán độ trước diễn đàn Quốc Hội.”
Câu trả lời này vừa thể hiện sự trịch thượng, hỗn láo trước những ý kiến của người dân, vừa thể hiện bản chất của cộng sản bất chấp tất cả sự thật, ý kiến và những quyền của người dân trong khi thực hiện những việc hại nước hại dân.
Thử hỏi, trên thế giới này, việc lỗ lãi do buôn bán, làm ăn, cá cược, thương mại là chuyện bình thường.
Nhưng, đào cả gia sản đi để bán, ăn luôn cả phần con cháu vẫn lỗ mà vẫn cắm đầu cắm cổ làm bằng được, bất chấp mọi lời khuyên can thì đó là bệnh khùng hay hành vi của những kẻ tâm thần?
Thấy gì qua vụ Bôxit?
Qua những hậu quả nhãn tiền của “chủ trương lớn của đảng” nhân vụ Bôxit, điều người ta rút ra, cảm nhận không chỉ là vấn đề kinh tế, lỗ, lãi hay là sự phá hoại nền kinh tế, phá hoại non sông, đất nước và tài nguyên của tổ quốc, mà qua đó, người ta rút ra nhiều vấn đề khác nhau.
Trước hết, đó là chủ trương của đảng, đi ngược ý nguyện của người dân gây bao thảm họa nhưng không ai chịu trách nhiệm. Ðiều này lặp đi lặp lại hết thời kỳ này qua thời kỳ khác và tất cả là ở “dưới sự lãnh đạo tuyệt đối và sáng suốt” của đảng. Vậy đảng đang là tổ chức nào, họ làm gì cho đất nước và chịu trách nhiệm gì với đất nước này? Liệu cái câu trong cái gọi là Hiến pháp rằng “đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật” có ý nghĩa gì trong thực tế?
Tiếp theo, đó là những tội ác gây ra ngay sau khi chủ trương lớn được phát ra. Những tiếng nói trung kiên, thẳng thắn và đầy trách nhiệm, đầy tinh thần yêu nước qua việc ngăn cản dự án đáng xấu hổ này đã phải vào tù oan ức và trái pháp luật. Những Cù Huy Hà Vũ, Ðinh Ðăng Ðịnh... là những nhân chứng về tội ác đối với nhân dân của “chủ trương lớn” này. Ai chịu trách nhiệm trước những đau khổ mà họ đã và phải chịu đựng khi rõ ràng tiếng nói của họ đã được chứng minh là đúng đắn qua thực tế?
Quốc Hội, cơ quan quyền lực cao nhất, tại sao không phản đối được những chủ trương hại nước, hại dân lại hùa theo và vâng lệnh vô điều kiện khi đã có nhiều người can ngăn việc khai thác Bôxit? Cơ quan này có tác dụng gì cho nhân dân ngoài việc tiêu tiền dân không biết xót?
Hệ thống báo chí cộng sản cũng “dưới sự lãnh đạo tuyệt đối và sáng suốt” này đã có tác dụng gì cho nhân dân. Hay chỉ nhằm để phục vụ “chủ trương” của đảng mà bất chấp lợi ích của quốc gia, của dân tộc và nhân dân? Hó có trách nhiệm gì trước những thất bại này? Nên xét xử họ như thế nào?
Các cơ quan lập dự án, xét duyệt đề nghị, ủng hộ và bảo kê cho dự án này, họ có trách nhiệm gì khi càng khai thác tài nguyên để bán thì càng lỗ?
Chừng đó câu hỏi cần được trả lời. Những điều rút ra qua vụ Bôxit để trả lời câu hỏi đó, đã thể hiện bản chất của những chủ trương lớn và cái đảng đã đẻ ra những chủ trương lớn kia đang phục vụ ai? Khi mà các chủ trương lớn của đảng là tai họa khủng khiếp cho nhân dân mà không ai phải chịu trách nhiệm?
Và câu trả lời vắn tắt nhất, gọn gàng nhất là hãy trả quyền tự quyết về cho nhân dân.
J.B. Nguyễn Hữu Vinh,
viết từ Hà Nội (Blog RFA)
Thông tin về việc dự án Bôxit Tây Nguyên lỗ hàng ngàn tỷ đồng đến với người dân Việt Nam đã là chuyện hiển nhiên không cần bàn cãi. Người ta đón nhận tin đó không chút nào ngạc nhiên.
Trước đó, nhà nước đã phải dừng công trình Cảng Kê Gà đã đầu tư cả ngàn tỷ, việc phá nát đường sá, đe dọa đời sống người dân, đặc biệt là nếp văn hóa vùng Tây Nguyên.
Thậm chí việc báo chí kêu gào rằng Bôxit lỗ nặng, lỗ hàng ngàn tỷ đồng, lỗ nhiều mặt, lỗ hàng chục triệu đôla mỗi năm... nhưng tận cho đến khi có con số rất cụ thể rằng: “Riêng Tân Rai năm 2013 lỗ hơn 258 tỉ đồng, Nhân Cơ dự kiến năm 2015 sẽ lỗ hơn 671 tỉ đồng...” thì ông Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Trọng Lú vẫn nhơn nhơn phát biểu: “Nói Bôxit lỗ là chưa có cơ sở” - thật “khách quan, biện chứng” và hài hước.
Chủ trương lớn - sai lầm càng lớn
Người ta không ngạc nhiên khi nghe tin Bôxit Tây Nguyên lỗ nặng, bởi lời ông thủ tướng vẫn còn đó: “Bôxit là chủ trương lớn của Ðảng, phản đối vẫn làm”. Và đã là chủ trương lớn của đảng, hẳn nhiên là sai lầm và thất bại.
Biết bao chủ trương của đảng đã thất bại thảm hại. Chủ trương càng lớn, sai lầm càng nặng. Lẽ ra, với một đảng tự xưng là trí “tuệ nhân loại” là “khoa học của mọi khoa học” thì không được để xảy ra sai lầm, hoặc chỉ là hãn hữu. Thử xem lại các chủ trương lớn xưa nay của đảng, được mấy cái thắng lợi và bao cái thất bại? Cứ đụng đâu, sai đó. Ngay từ khi mới cướp được chính quyền ít năm, cuộc cải cách ruộng đất với những sai lầm kinh hoàng để lại biết bao hậu quả cho dân tộc đến bao đời mới sửa được? Sai lầm này được đổ cho là vì Trung Quốc bắt ta nhập khẩu cách mạng của họ.
Ðiều buồn cười cho những giải thích này, là lúc bấy giờ Việt Nam được tuyên bố là một nước độc lập.
Thế rồi chủ trương lớn của đảng, đưa tất cả vào HTX nông nghiệp, cả đất nước, hàng chục triệu người dân biến thành đàn chuột bạch thí nghiệm cho những chủ trương lớn chẳng ai giống ai, để cuối cùng thì muốn trở về điểm xuất phát đã là hết sức khó khăn và nhiều khi là không thể. Liên tiếp các chủ trương khác như mô hình pháo đài cấp huyện, chủ trương cả nước là một chiến trường, chủ trương 16 chữ vàng và 4 tốt... cứ cái sau đạp cái trước.
Gần đây, các chủ trương lớn của đảng liên tiếp được đưa ra, và liên tiếp đất nước hứng chịu hậu quả. Từ “nắm đấm thép” là các tập đoàn mạnh của ty nhà nước, cho đến Vinashin, Vinaline rồi điện lực, khoáng sản...
Về mặt văn hóa, đời sống tinh thần, chủ trương cách mạng văn hóa tư tưởng... đã phá hủy biết bao nhiêu đền đài, chùa chiền, miếu mạo nhà thờ... là những sản phẩm văn hóa ngàn năm của dân tộc để “tiêu diệt tàn dư phong kiến, đế quốc” và “bài trừ mê tín dị đoan.” Ðể rồi nay lại trở lại “phục hồi” mà nhiều cái thành những thứ hổ lốn râu ông sãi cắm cằm bà sư cho đám qua chức cộng sản suốt ngày giẫm đạp xin ấn, hối lộ thần, phật.
Kết quả là sau những chủ trương đấu tố, con đấu cha, vợ tố chồng, con chửi bới vu cáo bố mẹ... thì văn hóa đất Việt nát như tương bần. Những hiện tượng bất luân, bất nghĩa, nghịch tử và phản trắc du qua nhiều mô hình xã hội không xuất hiện, thì lại nhan nhản trong chế độ cộng sản.
Chỉ có điều, thường thì sau những thất bại to lớn dưới sự lãnh đạo tuyệt đối và sáng suốt của đảng, thì thỉnh thoảng có người nhận trách nhiệm. Sau thất bại bởi những tội ác gây ra với dân tộc trong cải cách ruộng đất, không rõ ông Hồ Chí Minh có nhỏ giọt nước mắt nào không, nhưng động tác ông rút khăn mùi soa châm chấm khóe mắt để thay cho những lời tạ tội với hàng ngàn người mất mạng và hàng vạn người đã chịu hệ lụy bởi một chiến dịch do đảng của ông tiến hành lại được ca ngợi như một hành động anh hùng.
Sau những thất bại thảm hại của chiến dịch “chống tham nhũng” của những chủ trương và đường lối gần đây, có kết quả là tham nhũng từ nguy cơ, thành “quốc nạn” từ cá nhân thành tổ chức, thành “lợi ích nhóm” thì ông Trọng Lú ố tổng bí thư Ðảng Cộng Sản - đã “nghẹn ngào nhận lỗi” sau hội nghị trung ương đảng.
Chúng tôi đã có bài viết “Khi người cộng sản nhận lỗi” để nêu lên hiện tượng này, ở đó nói rõ: “Khi những người cộng sản nhận lỗi, khi đó đất nước và dân tộc đã đi qua một thảm họa và đang ở trong trạng thái kiệt quệ về tinh thần lẫn thể chất. Khi những người cộng sản nhận lỗi là khi cả đất nước phải chuẩn bị gồng mình, nghiến răng đau đớn để khắc phục những sai lầm của họ gây ra. Khi những người cộng sản nhận lỗi, cũng là khi mà đất nước, dân tộc chuẩn bị cho những cuộc phiêu lưu mới và sẵn sàng để chấp nhận những sai lầm mới của họ.”
Nhưng, thất bại này chưa thấy ai “chịu trách nhiệm.” Bởi đơn giản là trách nhiệm nằm chủ trương của đảng và bởi đảng mà ra.
Bất chấp ý nguyện người dân?
Nhiều chứng cứ cụ thể, sờ sờ ra đó, nhiều bài báo, luận cứ khoa học vạch rõ tương lai của Bôxit ngay từ khi nó mới hình thành, mới manh nha. Rồi bằng những kiến nghị của hàng ngàn nhân sĩ, trí thức, các nhà khoa học... thậm chí cả tiếng kêu của ông Võ Nguyên Giáp, một “công thần chế độ” - người có hàng vạn fan hâm mộ sau khi chết - đòi ngưng ngay dự án Bôxit Tây Nguyên vì không chỉ thiệt hại về kinh tế mà còn là vận mệnh quốc gia, là an nguy của xã tắc...
Ðể bỏ ngoài tai tất cả mọi lời khuyên ngăn, kiến nghị và những tiếng nói tâm huyết với tiền đồ đất nước, của những nhà khoa học, quản lý và mọi tầng lớp nhân dân, người đứng đầu chính phủ chỉ cần buông một câu “Bôxit là chủ trương lớn của đảng.”
Thế là, tất cả đều như tiếng kêu thất thanh trước cái gọi là “chủ trương lớn của đảng” hết sức quái gở kia.
Ngay cả cái gọi là Quốc Hội, một cơ quan được miêu tả là của dân, thể hiện ý nguyện của dân và quyết định các vấn đề của dân cũng bó tay trước chủ trương này và cứ răm rắp cúi đầu vâng lệnh. Thậm chí, ngay khi Quốc Hội còn chưa họp, người ta đã biết tỏng vụ cá độ là “Quốc Hội sẽ ủng hộ Bôxit” - Xem lại “đã có bán độ trước diễn đàn Quốc Hội.”
Câu trả lời này vừa thể hiện sự trịch thượng, hỗn láo trước những ý kiến của người dân, vừa thể hiện bản chất của cộng sản bất chấp tất cả sự thật, ý kiến và những quyền của người dân trong khi thực hiện những việc hại nước hại dân.
Thử hỏi, trên thế giới này, việc lỗ lãi do buôn bán, làm ăn, cá cược, thương mại là chuyện bình thường.
Nhưng, đào cả gia sản đi để bán, ăn luôn cả phần con cháu vẫn lỗ mà vẫn cắm đầu cắm cổ làm bằng được, bất chấp mọi lời khuyên can thì đó là bệnh khùng hay hành vi của những kẻ tâm thần?
Thấy gì qua vụ Bôxit?
Qua những hậu quả nhãn tiền của “chủ trương lớn của đảng” nhân vụ Bôxit, điều người ta rút ra, cảm nhận không chỉ là vấn đề kinh tế, lỗ, lãi hay là sự phá hoại nền kinh tế, phá hoại non sông, đất nước và tài nguyên của tổ quốc, mà qua đó, người ta rút ra nhiều vấn đề khác nhau.
Trước hết, đó là chủ trương của đảng, đi ngược ý nguyện của người dân gây bao thảm họa nhưng không ai chịu trách nhiệm. Ðiều này lặp đi lặp lại hết thời kỳ này qua thời kỳ khác và tất cả là ở “dưới sự lãnh đạo tuyệt đối và sáng suốt” của đảng. Vậy đảng đang là tổ chức nào, họ làm gì cho đất nước và chịu trách nhiệm gì với đất nước này? Liệu cái câu trong cái gọi là Hiến pháp rằng “đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật” có ý nghĩa gì trong thực tế?
Tiếp theo, đó là những tội ác gây ra ngay sau khi chủ trương lớn được phát ra. Những tiếng nói trung kiên, thẳng thắn và đầy trách nhiệm, đầy tinh thần yêu nước qua việc ngăn cản dự án đáng xấu hổ này đã phải vào tù oan ức và trái pháp luật. Những Cù Huy Hà Vũ, Ðinh Ðăng Ðịnh... là những nhân chứng về tội ác đối với nhân dân của “chủ trương lớn” này. Ai chịu trách nhiệm trước những đau khổ mà họ đã và phải chịu đựng khi rõ ràng tiếng nói của họ đã được chứng minh là đúng đắn qua thực tế?
Quốc Hội, cơ quan quyền lực cao nhất, tại sao không phản đối được những chủ trương hại nước, hại dân lại hùa theo và vâng lệnh vô điều kiện khi đã có nhiều người can ngăn việc khai thác Bôxit? Cơ quan này có tác dụng gì cho nhân dân ngoài việc tiêu tiền dân không biết xót?
Hệ thống báo chí cộng sản cũng “dưới sự lãnh đạo tuyệt đối và sáng suốt” này đã có tác dụng gì cho nhân dân. Hay chỉ nhằm để phục vụ “chủ trương” của đảng mà bất chấp lợi ích của quốc gia, của dân tộc và nhân dân? Hó có trách nhiệm gì trước những thất bại này? Nên xét xử họ như thế nào?
Các cơ quan lập dự án, xét duyệt đề nghị, ủng hộ và bảo kê cho dự án này, họ có trách nhiệm gì khi càng khai thác tài nguyên để bán thì càng lỗ?
Chừng đó câu hỏi cần được trả lời. Những điều rút ra qua vụ Bôxit để trả lời câu hỏi đó, đã thể hiện bản chất của những chủ trương lớn và cái đảng đã đẻ ra những chủ trương lớn kia đang phục vụ ai? Khi mà các chủ trương lớn của đảng là tai họa khủng khiếp cho nhân dân mà không ai phải chịu trách nhiệm?
Và câu trả lời vắn tắt nhất, gọn gàng nhất là hãy trả quyền tự quyết về cho nhân dân.
Những cái nón cối đi qua đời tôi
Nguyễn Bá Chổi (danlambao) - Nhiều thứ nón đã đi qua đời tôi, như Phớt, Trai, Nồi, Rừng, Trận, Nhựa, Sắt, Lá... nhưng Cối để lại trên đầu tôi nhiều dấu ấn nhất. "Hiện tượng" nhiều dấu ấn nhất về nón Cối, phải chăng cũng chỉ là lẽ tự nhiên, như nỗi lòng thiếu phụ nhớ lại mối tình đầu thuở trước, vì Cối là “người” đầu tiên đi qua đời tôi, hay vì đó là cái duyên nợ đã vận vào thân.
Ngày ấy, sau Chiến Thắng Điện Biên Phủ một thời gian không lâu, quê tôi, làng Yên Phú bên bờ Sông La, lần đầu tiên đón tiếp các chú Bộ đội Cụ Hồ về đóng quân tại nhà dân. Đó cũng là lần đầu tiên tôi được thấy tận mắt cái nón cối.
“Chiến thắng Điện Biên, Bộ đội ta kéo quân trở về, giữa mùa hoa nở”. Nghe các chú ấy hát, tôi hình dung những cái nón cối nhấp nhô trên đường phố Hà Nội giữa tiếng reo hò của đồng bào Thủ Đô, thấy oai phong lẫm liệt hùng tráng làm sao; bây giờ hồi tưởng laị cảm xúc lúc ấy, tôi chỉ biết mượn mấy chữ của nhà văn Hoàng Hải Thủy để diễn tả ra đây nỗi lòng mình: “cảm khái cách gì”.
Các chú bộ đội phân tán từng nhóm ba người, ở hẳn trong hầu hết nhà dân; nhà tôi không “được” vinh dự ấy, nhưng bù lại, nhà bác tôi bên cạnh là nơi tôi được gặp các chú hằng ngày.
Năm ấy tôi là đứa bé lên mười, nhưng có lẽ “nhờ” sớm thấm đòn máy bay Pháp thường xuyên đánh phá: phải đến trường giữa đêm khuya ; ban ngày thì luôn trong tư thế chạy xuống hầm do anh em tôi đào dưới những gốc cây cổ thụ chung quanh vườn để tránh bom đạn; phải trải qua bao kinh hoàng khi nghe tiếng khu trục cơ gầm rú, tiếng bom nổ và những đám cháy ở làng trên xóm dưới và bên kia sông; lâu lâu phải chứng kiến xác người chết do máy bay trương sình đang lềnh bềnh trôi hoặc tấp vào bờ trông thấy mà rờn rợn..., nên chi sớm “giác ngộ” công ơn các chú bộ đội đã hy sinh xương máu, chiến đấu gian lao để xứ sở được hòa bình, mọi người trở lại sinh hoạt bình thường với đầy đủ quyền làm người như lời Bác Hồ mượn của ai ghi lại trong Tuyên Ngôn Độc Lập của nước ta.
Ngoài cái công ơn ấy, cách ăn ở của các chú bộ đội khiến bọn con nít có đứa nào lại không thích. Chú này làm cho con diều dấy; chú kia đẽo cho cái vụ gỗ; chiều chiều được các chú dắt ra tắm ngoài sông, đứa thì được tập bơi, đứa được các chú cho đứng trên vai nhảy cái ùm xuống nước. "Yêu ai yêu cả tông chi họ hàng", tôi yêu chú bộ đội, nên yêu luôn cái nón Cối.
“Tình yêu nón cối” của tôi đã không qua mắt mẹ tôì dù bà luôn đi sớm về tối với đôi quang gánh trên vai lo việc buôn bán nơi chợ bên kia song. Bà đã dắt hai anh em tôi đi chợ Huyện sắm cho mỗi đứa một cái nón Cối và một đôi dép Lốp (sau này được biết còn gọi là dép Bình Trị Thiên hay dép Râu). Cái món thời trang quý hiếm này, hai anh em tôi may mắn có sớm nhất trong làng khiến những đứa khác trầm trồ càng làm tôi hãnh diện, rồi từ đó hay có cớ này cớ kia để xỏ dép râu, chụp nón cối đi xenh xang ngoài đường.
Nhưng rồi ngày vui qua mau. Làng bỗng xuất hiện một tốp người lạ cũng đội nón Cối mang dép râu, quần áo màu nâu, vai mang cái xắc cốt dây dài thượt... Rồi bổng dưng không lâu sau đó dân làng người nhìn nhau xa lạ, kẻ nói nhau xầm xì, và những cuộc đấu tố... Bữa ăn cơm phải đóng kín cửa và nghe mẹ dặn "nay con phải gọi cá bằng cà, thịt bằng dưa. Nhớ nha con, không thì chết cả nhà".
Đóng kín cửa lúc ăn cơm, ngụy trang tiếng gọi cho miếng thịt, gắp cá vẫn chưa đủ để khỏi chết cả nhà, nên thầy mẹ tôi đã giắt con cái trốn khỏi làng Yên Phú ra đi giữa đêm khuya. Trời sáng trăng, tôi nhìn sang nhà người bác lo sợ các chú bộ đội thức giấc bắt gặp, trước khi lên được thuyền bà Ph. Đang chờ ngoài bãi.
Tôi như con chim phải rời tổ bay đi, và đã tìm được chốn đất lành. Nhưng chẳng được bao lâu lại gặp “thuở trời đất nổi cơn gió bụi”. Những cái nón cối lại nhấp nhô trên đường mòn HCM. Tôi, cậu bé ngày nào mân mê cái nón cối giờ đã khôn lớn, ra trận đối đầu với đoàn quân “GPMN”, đầu óc lẫn vẩn với ý nghĩ biết đâu trong đó lại chẳng có chú bộ đội giải phóng Điện Biên một thời tôi quấn quýt.
Đội cái nón sắt made in USA trên đầu để tránh đạn AK, B,40, 41, đại pháo và hỏa tiển sản xuất từ Tiệp Khắc, Hung gia Lợi, Liên Xô... từ tay người anh em với cái nón Cối chế tạo tại Trung Quốc chụp trên đầu, đã nhiều lần tôi thèm được trở lại cậu bé năm xưa tránh bom đạn giặc Pháp bằng cách chạy xuống hầm dưới gốc cây...
Quy luật của chiến tranh là chỉ có chiến thắng trong thế công. Trong cuộc “hai mươi năm nội chiến từng ngày” trong kho tàng “Gia tài của Mẹ” vừa qua, Nón Sắt luôn ở thế thủ, nên đã thua nón Cối. Trong nhiều năm làm “Tù Binh Ngụy”, rồi đổi tên thành “Phạm Nhân”, rồi “Trại Viên”, đã bao lần tôi nhận “được” từ dưới cái nón Cối những ánh mắt gầm gừ vì đủ thứ “tội”, chẳng hạn có lần cùng hai bạn tù (Đ/Úy CVN và Đ/Úy BN) sau một ngày xách nước dưới suối lên tưới rau mệt lả, đói quá, gặp cơn mưa dông kéo đến, “cướp thời cơ”, “cải thiện linh tinh” mấy cọng rau rừng chưa kịp nuốt khỏi cổ họng thì quản giáo đội mưa đến rình bắp gặp quả tang … nay đã gần bốn chục năm rôì mà y như còn đứng đó trước mặt với đôi mắt loài ác thú hàm răng mã tấu nghiến lại như phát thành tiếng, nhưng tôi vẫn không chút ân hận trước kia mình đối xử tử tế với cán binh nón Cối từ Bắc vào bị bắt làm tù binh, mặc dầu trong trận đánh họ đã gây cho chúng tôi nhiều tổn thất sinh mạng.
Nón Cối đã đi qua đời tôi nhiều vô kể xiết. Nhưng nay giặc Tàu bên cạnh nguy hiểm hơn giặc Tây giặc Mỹ nhiều, các chú biến đi đâu cả. Chỉ thấy mấy chú đầu tóc chải láng bóng kéo nhau đi phủ phục phương bắc và hứa hẹn “hướng dẫn dư luận nhân dân Việt Nam để ổn định; và trong nước thì nón Cối của “chiến thắng Điện Biên, Bộ đội ta kéo quân trở về giữa mùa hoa nở” bị dấu nhẹm tông tích, thay bằng Băng Đỏ Dân Phòng, hay gậy gộc côn đồ để “giữ gìn hoà bình cho thủ đô”, cho anh Ba nhi nhô “bốn tốt” với “16 chữ vàng”. Hay chính các chú cũng đã bị rút ruột như ruột tượng đài chiến sĩ Điện Biên. Ruột Việt Nam?
Nguyễn Bá Chổi
(danlambao)
Nguyễn Bá Chổi (danlambao) - Nhiều thứ nón đã đi qua đời tôi, như Phớt, Trai, Nồi, Rừng, Trận, Nhựa, Sắt, Lá... nhưng Cối để lại trên đầu tôi nhiều dấu ấn nhất. "Hiện tượng" nhiều dấu ấn nhất về nón Cối, phải chăng cũng chỉ là lẽ tự nhiên, như nỗi lòng thiếu phụ nhớ lại mối tình đầu thuở trước, vì Cối là “người” đầu tiên đi qua đời tôi, hay vì đó là cái duyên nợ đã vận vào thân.
Ngày ấy, sau Chiến Thắng Điện Biên Phủ một thời gian không lâu, quê tôi, làng Yên Phú bên bờ Sông La, lần đầu tiên đón tiếp các chú Bộ đội Cụ Hồ về đóng quân tại nhà dân. Đó cũng là lần đầu tiên tôi được thấy tận mắt cái nón cối.
“Chiến thắng Điện Biên, Bộ đội ta kéo quân trở về, giữa mùa hoa nở”. Nghe các chú ấy hát, tôi hình dung những cái nón cối nhấp nhô trên đường phố Hà Nội giữa tiếng reo hò của đồng bào Thủ Đô, thấy oai phong lẫm liệt hùng tráng làm sao; bây giờ hồi tưởng laị cảm xúc lúc ấy, tôi chỉ biết mượn mấy chữ của nhà văn Hoàng Hải Thủy để diễn tả ra đây nỗi lòng mình: “cảm khái cách gì”.
Các chú bộ đội phân tán từng nhóm ba người, ở hẳn trong hầu hết nhà dân; nhà tôi không “được” vinh dự ấy, nhưng bù lại, nhà bác tôi bên cạnh là nơi tôi được gặp các chú hằng ngày.
Năm ấy tôi là đứa bé lên mười, nhưng có lẽ “nhờ” sớm thấm đòn máy bay Pháp thường xuyên đánh phá: phải đến trường giữa đêm khuya ; ban ngày thì luôn trong tư thế chạy xuống hầm do anh em tôi đào dưới những gốc cây cổ thụ chung quanh vườn để tránh bom đạn; phải trải qua bao kinh hoàng khi nghe tiếng khu trục cơ gầm rú, tiếng bom nổ và những đám cháy ở làng trên xóm dưới và bên kia sông; lâu lâu phải chứng kiến xác người chết do máy bay trương sình đang lềnh bềnh trôi hoặc tấp vào bờ trông thấy mà rờn rợn..., nên chi sớm “giác ngộ” công ơn các chú bộ đội đã hy sinh xương máu, chiến đấu gian lao để xứ sở được hòa bình, mọi người trở lại sinh hoạt bình thường với đầy đủ quyền làm người như lời Bác Hồ mượn của ai ghi lại trong Tuyên Ngôn Độc Lập của nước ta.
Ngoài cái công ơn ấy, cách ăn ở của các chú bộ đội khiến bọn con nít có đứa nào lại không thích. Chú này làm cho con diều dấy; chú kia đẽo cho cái vụ gỗ; chiều chiều được các chú dắt ra tắm ngoài sông, đứa thì được tập bơi, đứa được các chú cho đứng trên vai nhảy cái ùm xuống nước. "Yêu ai yêu cả tông chi họ hàng", tôi yêu chú bộ đội, nên yêu luôn cái nón Cối.
“Tình yêu nón cối” của tôi đã không qua mắt mẹ tôì dù bà luôn đi sớm về tối với đôi quang gánh trên vai lo việc buôn bán nơi chợ bên kia song. Bà đã dắt hai anh em tôi đi chợ Huyện sắm cho mỗi đứa một cái nón Cối và một đôi dép Lốp (sau này được biết còn gọi là dép Bình Trị Thiên hay dép Râu). Cái món thời trang quý hiếm này, hai anh em tôi may mắn có sớm nhất trong làng khiến những đứa khác trầm trồ càng làm tôi hãnh diện, rồi từ đó hay có cớ này cớ kia để xỏ dép râu, chụp nón cối đi xenh xang ngoài đường.
Nhưng rồi ngày vui qua mau. Làng bỗng xuất hiện một tốp người lạ cũng đội nón Cối mang dép râu, quần áo màu nâu, vai mang cái xắc cốt dây dài thượt... Rồi bổng dưng không lâu sau đó dân làng người nhìn nhau xa lạ, kẻ nói nhau xầm xì, và những cuộc đấu tố... Bữa ăn cơm phải đóng kín cửa và nghe mẹ dặn "nay con phải gọi cá bằng cà, thịt bằng dưa. Nhớ nha con, không thì chết cả nhà".
Đóng kín cửa lúc ăn cơm, ngụy trang tiếng gọi cho miếng thịt, gắp cá vẫn chưa đủ để khỏi chết cả nhà, nên thầy mẹ tôi đã giắt con cái trốn khỏi làng Yên Phú ra đi giữa đêm khuya. Trời sáng trăng, tôi nhìn sang nhà người bác lo sợ các chú bộ đội thức giấc bắt gặp, trước khi lên được thuyền bà Ph. Đang chờ ngoài bãi.
Tôi như con chim phải rời tổ bay đi, và đã tìm được chốn đất lành. Nhưng chẳng được bao lâu lại gặp “thuở trời đất nổi cơn gió bụi”. Những cái nón cối lại nhấp nhô trên đường mòn HCM. Tôi, cậu bé ngày nào mân mê cái nón cối giờ đã khôn lớn, ra trận đối đầu với đoàn quân “GPMN”, đầu óc lẫn vẩn với ý nghĩ biết đâu trong đó lại chẳng có chú bộ đội giải phóng Điện Biên một thời tôi quấn quýt.
Đội cái nón sắt made in USA trên đầu để tránh đạn AK, B,40, 41, đại pháo và hỏa tiển sản xuất từ Tiệp Khắc, Hung gia Lợi, Liên Xô... từ tay người anh em với cái nón Cối chế tạo tại Trung Quốc chụp trên đầu, đã nhiều lần tôi thèm được trở lại cậu bé năm xưa tránh bom đạn giặc Pháp bằng cách chạy xuống hầm dưới gốc cây...
Quy luật của chiến tranh là chỉ có chiến thắng trong thế công. Trong cuộc “hai mươi năm nội chiến từng ngày” trong kho tàng “Gia tài của Mẹ” vừa qua, Nón Sắt luôn ở thế thủ, nên đã thua nón Cối. Trong nhiều năm làm “Tù Binh Ngụy”, rồi đổi tên thành “Phạm Nhân”, rồi “Trại Viên”, đã bao lần tôi nhận “được” từ dưới cái nón Cối những ánh mắt gầm gừ vì đủ thứ “tội”, chẳng hạn có lần cùng hai bạn tù (Đ/Úy CVN và Đ/Úy BN) sau một ngày xách nước dưới suối lên tưới rau mệt lả, đói quá, gặp cơn mưa dông kéo đến, “cướp thời cơ”, “cải thiện linh tinh” mấy cọng rau rừng chưa kịp nuốt khỏi cổ họng thì quản giáo đội mưa đến rình bắp gặp quả tang … nay đã gần bốn chục năm rôì mà y như còn đứng đó trước mặt với đôi mắt loài ác thú hàm răng mã tấu nghiến lại như phát thành tiếng, nhưng tôi vẫn không chút ân hận trước kia mình đối xử tử tế với cán binh nón Cối từ Bắc vào bị bắt làm tù binh, mặc dầu trong trận đánh họ đã gây cho chúng tôi nhiều tổn thất sinh mạng.
Nón Cối đã đi qua đời tôi nhiều vô kể xiết. Nhưng nay giặc Tàu bên cạnh nguy hiểm hơn giặc Tây giặc Mỹ nhiều, các chú biến đi đâu cả. Chỉ thấy mấy chú đầu tóc chải láng bóng kéo nhau đi phủ phục phương bắc và hứa hẹn “hướng dẫn dư luận nhân dân Việt Nam để ổn định; và trong nước thì nón Cối của “chiến thắng Điện Biên, Bộ đội ta kéo quân trở về giữa mùa hoa nở” bị dấu nhẹm tông tích, thay bằng Băng Đỏ Dân Phòng, hay gậy gộc côn đồ để “giữ gìn hoà bình cho thủ đô”, cho anh Ba nhi nhô “bốn tốt” với “16 chữ vàng”. Hay chính các chú cũng đã bị rút ruột như ruột tượng đài chiến sĩ Điện Biên. Ruột Việt Nam?
Nguyễn Bá Chổi
(danlambao)
Vụ Bắc Sơn: Chế độ lung lay từ nền tảng
Ngô Nhân Dụng
Trong cuộc tranh đấu của người dân xã Bắc Sơn đang diễn ra, chúng ta thấy một hiện tượng mới: Các cán bộ cấp xã đã công khai bày tỏ nỗi bất mãn đối với “lệnh trên.” Họ phân trần rằng họ cũng chỉ là nạn nhân bị đặt vào cảnh trên đe dưới búa. Cái búa ở trên là đảng cộng sản liên kết với giới tư bản đỏ bày ra các “công trình” mà mục đích xưa nay vẫn là cướp ruộng đất của dân để rút ruột. Bên dưới là các nông dân cần bảo vệ đất nên chống lại cường quyền. Khi các cán bộ cấp dưới công khai tỏ ra bất mãn, tòa nhà chế độ bắt đầu rạn nứt từ nền móng.
Trước đây, trong các vụ dân biểu tình bảo vệ ruộng đất, báo chí không chú ý tới các cán bộ cấp xã, vì người ngoài mặc nhiên coi họ cũng là thủ phạm hoặc đồng lõa trong các âm mưu cướp ruộng, cướp đất. Nhưng trong vụ xã Bắc Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, viên xã trưởng đã nói chính mình, và có thể từ cấp huyện, bị áp lực từ trên xuống phải xúc tiến dự án làm công viên và nghĩa trang, dù họ không đồng tình. Lời bộc lộ này, xưa nay chưa ai từng nói ra trong các vụ xung đột giữa nông dân và đảng cộng sản, cho thấy một biến chuyển tâm lý đe dọa sự tồn tại của cả chế độ.
Các chế độ chuyên chế đều dựa vào một đạo quân thừa hành. Ở cấp thấp nhất là các tay chân kiểm soát từng xã, từng thôn, và các sĩ quan chỉ huy từng trung đội, đại đội công an. Khi nào chính lớp cán bộ đó ngả nghiêng, chao đảo, thì cái thang chống đỡ chế độ độc tài đang sập gẫy từ những bậc thang dưới cùng.
Tất cả những tin tức chúng ta đang biết về cuộc tranh đấu của đồng bào xã Bắc Sơn từ hơn mười ngày qua đều do các báo, mạng của đảng cộng sản phổ biến. Theo dõi các tin tức được truyền đi theo lối nhỏ giọt dưới sự chỉ huy của công an văn hóa tư tưởng, chúng ta thấy những người làm báo cũng khéo léo trình bày cho độc giả những uẩn khúc đằng sau cuộc đàn áp, để dần dần thấy được cảnh tan hàng đang diễn ra.
Nguyên ủy gây ra cuộc đấu tranh của người dân xã Bắc Sơn là một dự án xây dựng “công viên nghĩa trang” mang tên Vĩnh Hằng-Bắc Sơn, rộng trên 38ha, trị giá 386 tỉ đồng, tương đương 19.3 triệu đô la. Chính quyền đã ra lệnh “thu hồi” khoảng 30 mẫu (ha) đất trong đó có 8 mẫu là đất trồng trọt của 21 gia đình cư dân xã này để thực hiện dự án. Thu hồi, nghĩa là “lấy lại,” một hành động bề ngoài có vẻ là “hợp pháp.” Vì trong chế độ cộng sản hiện nay tất cả đất đai trên toàn quốc do đảng cộng sản kiểm soát dưới danh nghĩa “thuộc về toàn dân,” tất cả các nông dân đều chỉ được ban cho “quyền sử dụng” chứ không có quyền sở hữu, cho nên đất có thể bị nhà nước “thu hồi” lại bất cứ lúc nào. Nông dân oan ức vì ruộng đất bị cướp mất chỉ có cách duy nhất là biểu tình phản đối. Hàng ngàn vụ công an đàn áp “dân oan” đã diễn ra ở nước ta từ Nam ra Bắc, vụ xã Bắc Sơn, với hơn 3000 người dân chỉ là một biến cố gần nhất.
Tin tức sớm nhất do VietNamNet đưa ra, dẫn lời phó giám đốc Công an tỉnh Hà Tĩnh, cho biết ngày 10 Tháng Tư, sáu viên công an được cử đến thi hành “lệnh bắt đối với một đối tượng tên Trường, trú trên địa bàn xóm Trung Sơn, xã Bắc Sơn về tội gây rối trật tự công cộng.” Bản tin nghe như một vụ đàn áp bình thường, với một “đối tượng” duy nhất. Cách sử dụng từ “đối tượng” là văn chương của công an, với ẩn ý hạ thấp giá trị của người bị đàn áp, không coi đó là một con người mà chỉ là một“đối tượng!” Báo chí ở trong nước thường họa theo lối gọi tên “phi nhân hóa” này, có thể vì lười biếng không muốn tìm một từ khác, hoặc vì sử dụng những từ ngữ trong báo cáo của công an thì sẽ tránh được tai họa. Ðọc bản tin đầu tiên đó, người ta không biết “đối tượng tên Trường” này là ai.
VietNamNet sau đó loan tin một số dân tụ tập phản đối lệnh thu hồi đất, bị buộc tội “gây rối trật tự công cộng,” bị công an đến tận nhà đòi bắt giữ; lúc đó người đọc mới biết không phải chỉ một “tên Trường gây rối” mà còn những nông dân khác, và biết dân chúng đã đánh và bắt giữ bốn công an. Trong lúc người đọc còn đặt câu hỏi “Tại sao dân dám đánh công an?” thì tờ báo mạng cho biết thêm có hơn 100 công an và cảnh sát cơ động đã “được huy động để giải vây cho một tổ công tác bị người dân 'vây đánh' tại xã Bắc Sơn.” Chi tiết được nêu ra là: “Nông dân đã dùng gậy gộc, gạch đá tấn công làm bốn người bị thương; mất một tiếng rưỡi đồng hồ sau, bốn cán bộ công an mới được giải cứu khỏi vòng vây, đưa vào bệnh viện.” Bị đẩy lùi trước sức mạnh của lực lượng công an vũ trang, dân chịu thua; nhưng ngay sau đó, họ chia thành nhiều nhóm kéo đến ném đá vào nhà ông chủ tịch xã Trần Bá Hoành, và đốt phá nhà trưởng công an xã Nguyễn Khắc Sơn.
Cho tới lúc đó, người đọc vẫn chưa biết nguyên ủy tại sao dân dám liều mình đánh công an. Cho tới khi báo mạng Một Thế Giới nói rõ hơn, khi thuật lại lời của ông Trần Bá Hoành. Ông Hoành cho biết, “Cách đây một tháng, có bốn trưởng thôn và hai bí thư chi bộ thôn đã xin nghỉ việc; mà từ đó đến nay, chưa có ai thay thế. Những cán bộ trên thuộc bốn thôn chịu ảnh hưởng trực tiếp của dự án làm công viên nghĩa trang, là Ðồng Vĩnh, Trung Sơn, Kim Sơn, Xuân Sơn.” Ông Trương Văn Trường, là trưởng thôn Trung Sơn đã xin nghỉ nên bị công an tới bắt, gây ra cảnh dân đánh lại công an. Hậu quả của cuộc xung đột là hai cán bộ đứng đầu xã từ chức, trụ sở xã đóng cửa vì hầu hết các cán bộ lãnh đạo xã không dám ra đường.
Chủ tịch xã Trần Bá Hoành nói rằng, chính ông ta và chủ tịch huyện đều không biết tỉnh Hà Tĩnh quyết định chọn Bắc Sơn lấy đất làm dự án xây nghĩa địa. Riêng trong vụ này, ông và chủ tịch huyện đều không đồng tình thực hiện dự án vì khi hỏi ý kiến chỉ có 17% dân chúng đồng ý. Tuy nhiên, vì là cấp dưới, ông Hoành tâm sự, nên chỉ biết tuân thủ lệnh của cấp trên. Ông Trần Bá Hoành tự giới thiệu mình đã làm chủ tịch xã suốt 13 năm qua mà không bị dân ghét. Nay chỉ vì một dự án, mà chính ông không đồng ý, ông biến thành đối nghịch với dân. Ông Hoành còn nói thêm rằng xung đột giữa dân và chính quyền bùng nổ từ cuộc họp tại trụ sở xã hôm vào tháng 11 năm 2013. Trong cuộc họp này, nhiều người giật máy ảnh của công an huyện; đấm đá bí thư đảng ủy và trưởng ban dân vận của huyện.
Những tiết lộ của ông Trần Bá Hoành cho chúng ta thấy vết rạn nứt trong hàng ngũ những cán bộ cấp thấp nhất trong guồng máy cầm quyền thống trị của đảng Cộng sản Việt Nam. Người dân đã biết cả bộ máy đảng chỉ là một tổ chức phân chia quyền hành để kiếm. Các dự án, công trình được bầy ra để các quan chức rút ruột cùng các nhà tư bản đỏ khai thác làm giầu. Cán bộ xã, thôn làm theo lệnh của giới lãnh đạo, từ trung ương đến địa phương, chính họ cũng được chia phần. Khi người dân bị cướp đất biểu tình phản đối, thì đã có công an vũ trang đến “đánh dẹp.” Ðó là cảnh đã diễn ra từ hàng chục năm qua.
Tại xã Bắc Sơn, tình trạng đã thay đổi. Người dân Hà Tĩnh không “hiền lành” cúi đầu chịu nhục và mất cơ nghiệp, đã tấn công thẳng vào các cán bộ cấp xã. Nhà của chủ tịch, bí thư đảng ủy và trưởng công an xã bị đập phá, đốt cháy; hàng chục cán bộ khác đưa gia đình đi lánh mặt và gửi các vật dụng quý giá như xe cộ đến nơi khác để khỏi bị đốt phá.
Nhưng chính trong hàng ngũ các cán bộ thấp nhất cũng có người phản đối âm mưu cướp ruộng đất của dân. Ông trưởng thôn Trung Sơn Trương Văn Trường là một người can đảm bày tỏ thái độ bằng cách từ chức; vì vậy khi công an đến bắt thì dân bênh ông ta. Trong bốn trưởng thôn từ chức, mình ông Trường bị bắt, theo chiến thuật quen thuộc của cộng sản là chia tách các đối thủ để đánh lẻ. Có thể ông Trường bị chọn làm mục tiêu vì ông tỏ thái độ mạnh nhất, hoặc vì ông được lòng dân nhất. Khi các cán bộ khác bị dân tấn công, lúc đó mới có người, như ông Trần Bá Hoành, tỉnh ngộ thấy mình đang sống trong cảnh trên đe dưới búa. Họ phải lựa chọn: Ðứng về phía người dân bị bóc lột và bị đàn áp, hay đứng về phía đảng Cộng sản? Khi ông Trần Bá Hoành “lật tẩy” phân trần rằng mình và chủ tịch huyện không đồng ý với dự án làm công viên, ông muốn ngỏ ý đứng về phía người dân. Người Việt Nam nào cũng biết câu “Quan nhất thời, dân vạn đại.” Sau cùng, các cán bộ thôn xã sẽ phải thức tỉnh, nhận ra rằng chính họ và gia đình, con cháu họ sẽ phải sống bên cạnh người trong thôn xã, chứ không thể được guồng máy bạo lực che chở mãi mãi.
Dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh vốn nổi tiếng đấu tranh. Nông dân nổi giận chống chính quyền khi bị cướp đất, cướp cơm. Nhưng người ta cũng nổi dậy khi thấy mình bị sỉ nhục, nhất là bị nhục nhã trước ngoại bang. Ở phía Nam xã Bắc Sơn, huyện Thạch Hà, ở huyện Kỳ Anh người dân cũng đang phẫn uất trước cảnh người Trung Quốc tràn ngập trong khu kinh tế Vũng Áng. Trong khu kinh tế này có hơn 3,200 công nhân làm việc, trong đó có đến 2,000 người là “lao động chui” người Trung Quốc đang làm cho dự án Formosa của tư bản Ðài Loan. Theo báo chí trong nước, người Trung Quốc không chỉ đánh lộn, ăn cắp, mà còn ăn nhậu bừa bãi tại các khách sạn, nhà hàng, các quán karaoke mọc như nấm dọc quốc lộ 1A. Một khu giải trí mang tên “Hồng Thiên Hy” hình như chỉ dành riêng cho người Trung Quốc, tất cả các quán nhậu, nhà hàng đều có “tiếp viên” sẵn sàng phục vụ người Trung Quốc “trọn gói từ A đến Z.” Gần đây kế toán viên dự án Formosa bị đâm trọng thương ngay tại khu nội trú của người Trung Quốc.
Vụ Bắc Sơn là một tiếng chuông đánh thức tất cả nông dân trên cả nước. Khi người dân tự giành lấy quyền quyết định vận mạng của mình, thì chính các cán bộ cấp thôn, cấp xã cũng phải theo họ. Ðảng Cộng sản đang giống như một một tòa nhà sắp tan rã vì nền móng đang rạn nứt. Gần đây, ngay trong việc đàn áp dân và phá phách các cuộc biểu tình yêu nước ở Hà Nội và Sài Gòn, đảng Cộng sản đã phải thuê toàn bọn đầu gấu đến thay thế hoặc phụ lực cho công an, chứng tỏ họ không dám tin tưởng hoàn toàn vào các sĩ quan chỉ huy công an nữa. Nay tới các cán bộ thừa hành cấp xã, thôn cũng nao núng. Ðây là lúc các nhà tranh đấu dân chủ tự do ở nước ta bắt đầu nhập cuộc tranh đấu cùng giới nông dân. Ðảng Cộng sản đang bị bắt buộc trả tự do cho nhiều nhà tranh đấu, để mong được gia nhập tổ chức mậu dịch Thái Bình Dương (TTP) ngõ hầu cứu vãn nền kinh tế suy sụp. Luật Sư Nguyễn Văn Ðài nhìn thấy một “không gian chính trị an toàn hơn đã được tạo ra,” một cơ hội để giới tranh đấu dân chủ tiến tới.
Ngô Nhân Dụng
Trong cuộc tranh đấu của người dân xã Bắc Sơn đang diễn ra, chúng ta thấy một hiện tượng mới: Các cán bộ cấp xã đã công khai bày tỏ nỗi bất mãn đối với “lệnh trên.” Họ phân trần rằng họ cũng chỉ là nạn nhân bị đặt vào cảnh trên đe dưới búa. Cái búa ở trên là đảng cộng sản liên kết với giới tư bản đỏ bày ra các “công trình” mà mục đích xưa nay vẫn là cướp ruộng đất của dân để rút ruột. Bên dưới là các nông dân cần bảo vệ đất nên chống lại cường quyền. Khi các cán bộ cấp dưới công khai tỏ ra bất mãn, tòa nhà chế độ bắt đầu rạn nứt từ nền móng.
Trước đây, trong các vụ dân biểu tình bảo vệ ruộng đất, báo chí không chú ý tới các cán bộ cấp xã, vì người ngoài mặc nhiên coi họ cũng là thủ phạm hoặc đồng lõa trong các âm mưu cướp ruộng, cướp đất. Nhưng trong vụ xã Bắc Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, viên xã trưởng đã nói chính mình, và có thể từ cấp huyện, bị áp lực từ trên xuống phải xúc tiến dự án làm công viên và nghĩa trang, dù họ không đồng tình. Lời bộc lộ này, xưa nay chưa ai từng nói ra trong các vụ xung đột giữa nông dân và đảng cộng sản, cho thấy một biến chuyển tâm lý đe dọa sự tồn tại của cả chế độ.
Các chế độ chuyên chế đều dựa vào một đạo quân thừa hành. Ở cấp thấp nhất là các tay chân kiểm soát từng xã, từng thôn, và các sĩ quan chỉ huy từng trung đội, đại đội công an. Khi nào chính lớp cán bộ đó ngả nghiêng, chao đảo, thì cái thang chống đỡ chế độ độc tài đang sập gẫy từ những bậc thang dưới cùng.
Tất cả những tin tức chúng ta đang biết về cuộc tranh đấu của đồng bào xã Bắc Sơn từ hơn mười ngày qua đều do các báo, mạng của đảng cộng sản phổ biến. Theo dõi các tin tức được truyền đi theo lối nhỏ giọt dưới sự chỉ huy của công an văn hóa tư tưởng, chúng ta thấy những người làm báo cũng khéo léo trình bày cho độc giả những uẩn khúc đằng sau cuộc đàn áp, để dần dần thấy được cảnh tan hàng đang diễn ra.
Nguyên ủy gây ra cuộc đấu tranh của người dân xã Bắc Sơn là một dự án xây dựng “công viên nghĩa trang” mang tên Vĩnh Hằng-Bắc Sơn, rộng trên 38ha, trị giá 386 tỉ đồng, tương đương 19.3 triệu đô la. Chính quyền đã ra lệnh “thu hồi” khoảng 30 mẫu (ha) đất trong đó có 8 mẫu là đất trồng trọt của 21 gia đình cư dân xã này để thực hiện dự án. Thu hồi, nghĩa là “lấy lại,” một hành động bề ngoài có vẻ là “hợp pháp.” Vì trong chế độ cộng sản hiện nay tất cả đất đai trên toàn quốc do đảng cộng sản kiểm soát dưới danh nghĩa “thuộc về toàn dân,” tất cả các nông dân đều chỉ được ban cho “quyền sử dụng” chứ không có quyền sở hữu, cho nên đất có thể bị nhà nước “thu hồi” lại bất cứ lúc nào. Nông dân oan ức vì ruộng đất bị cướp mất chỉ có cách duy nhất là biểu tình phản đối. Hàng ngàn vụ công an đàn áp “dân oan” đã diễn ra ở nước ta từ Nam ra Bắc, vụ xã Bắc Sơn, với hơn 3000 người dân chỉ là một biến cố gần nhất.
Tin tức sớm nhất do VietNamNet đưa ra, dẫn lời phó giám đốc Công an tỉnh Hà Tĩnh, cho biết ngày 10 Tháng Tư, sáu viên công an được cử đến thi hành “lệnh bắt đối với một đối tượng tên Trường, trú trên địa bàn xóm Trung Sơn, xã Bắc Sơn về tội gây rối trật tự công cộng.” Bản tin nghe như một vụ đàn áp bình thường, với một “đối tượng” duy nhất. Cách sử dụng từ “đối tượng” là văn chương của công an, với ẩn ý hạ thấp giá trị của người bị đàn áp, không coi đó là một con người mà chỉ là một“đối tượng!” Báo chí ở trong nước thường họa theo lối gọi tên “phi nhân hóa” này, có thể vì lười biếng không muốn tìm một từ khác, hoặc vì sử dụng những từ ngữ trong báo cáo của công an thì sẽ tránh được tai họa. Ðọc bản tin đầu tiên đó, người ta không biết “đối tượng tên Trường” này là ai.
VietNamNet sau đó loan tin một số dân tụ tập phản đối lệnh thu hồi đất, bị buộc tội “gây rối trật tự công cộng,” bị công an đến tận nhà đòi bắt giữ; lúc đó người đọc mới biết không phải chỉ một “tên Trường gây rối” mà còn những nông dân khác, và biết dân chúng đã đánh và bắt giữ bốn công an. Trong lúc người đọc còn đặt câu hỏi “Tại sao dân dám đánh công an?” thì tờ báo mạng cho biết thêm có hơn 100 công an và cảnh sát cơ động đã “được huy động để giải vây cho một tổ công tác bị người dân 'vây đánh' tại xã Bắc Sơn.” Chi tiết được nêu ra là: “Nông dân đã dùng gậy gộc, gạch đá tấn công làm bốn người bị thương; mất một tiếng rưỡi đồng hồ sau, bốn cán bộ công an mới được giải cứu khỏi vòng vây, đưa vào bệnh viện.” Bị đẩy lùi trước sức mạnh của lực lượng công an vũ trang, dân chịu thua; nhưng ngay sau đó, họ chia thành nhiều nhóm kéo đến ném đá vào nhà ông chủ tịch xã Trần Bá Hoành, và đốt phá nhà trưởng công an xã Nguyễn Khắc Sơn.
Cho tới lúc đó, người đọc vẫn chưa biết nguyên ủy tại sao dân dám liều mình đánh công an. Cho tới khi báo mạng Một Thế Giới nói rõ hơn, khi thuật lại lời của ông Trần Bá Hoành. Ông Hoành cho biết, “Cách đây một tháng, có bốn trưởng thôn và hai bí thư chi bộ thôn đã xin nghỉ việc; mà từ đó đến nay, chưa có ai thay thế. Những cán bộ trên thuộc bốn thôn chịu ảnh hưởng trực tiếp của dự án làm công viên nghĩa trang, là Ðồng Vĩnh, Trung Sơn, Kim Sơn, Xuân Sơn.” Ông Trương Văn Trường, là trưởng thôn Trung Sơn đã xin nghỉ nên bị công an tới bắt, gây ra cảnh dân đánh lại công an. Hậu quả của cuộc xung đột là hai cán bộ đứng đầu xã từ chức, trụ sở xã đóng cửa vì hầu hết các cán bộ lãnh đạo xã không dám ra đường.
Chủ tịch xã Trần Bá Hoành nói rằng, chính ông ta và chủ tịch huyện đều không biết tỉnh Hà Tĩnh quyết định chọn Bắc Sơn lấy đất làm dự án xây nghĩa địa. Riêng trong vụ này, ông và chủ tịch huyện đều không đồng tình thực hiện dự án vì khi hỏi ý kiến chỉ có 17% dân chúng đồng ý. Tuy nhiên, vì là cấp dưới, ông Hoành tâm sự, nên chỉ biết tuân thủ lệnh của cấp trên. Ông Trần Bá Hoành tự giới thiệu mình đã làm chủ tịch xã suốt 13 năm qua mà không bị dân ghét. Nay chỉ vì một dự án, mà chính ông không đồng ý, ông biến thành đối nghịch với dân. Ông Hoành còn nói thêm rằng xung đột giữa dân và chính quyền bùng nổ từ cuộc họp tại trụ sở xã hôm vào tháng 11 năm 2013. Trong cuộc họp này, nhiều người giật máy ảnh của công an huyện; đấm đá bí thư đảng ủy và trưởng ban dân vận của huyện.
Những tiết lộ của ông Trần Bá Hoành cho chúng ta thấy vết rạn nứt trong hàng ngũ những cán bộ cấp thấp nhất trong guồng máy cầm quyền thống trị của đảng Cộng sản Việt Nam. Người dân đã biết cả bộ máy đảng chỉ là một tổ chức phân chia quyền hành để kiếm. Các dự án, công trình được bầy ra để các quan chức rút ruột cùng các nhà tư bản đỏ khai thác làm giầu. Cán bộ xã, thôn làm theo lệnh của giới lãnh đạo, từ trung ương đến địa phương, chính họ cũng được chia phần. Khi người dân bị cướp đất biểu tình phản đối, thì đã có công an vũ trang đến “đánh dẹp.” Ðó là cảnh đã diễn ra từ hàng chục năm qua.
Tại xã Bắc Sơn, tình trạng đã thay đổi. Người dân Hà Tĩnh không “hiền lành” cúi đầu chịu nhục và mất cơ nghiệp, đã tấn công thẳng vào các cán bộ cấp xã. Nhà của chủ tịch, bí thư đảng ủy và trưởng công an xã bị đập phá, đốt cháy; hàng chục cán bộ khác đưa gia đình đi lánh mặt và gửi các vật dụng quý giá như xe cộ đến nơi khác để khỏi bị đốt phá.
Nhưng chính trong hàng ngũ các cán bộ thấp nhất cũng có người phản đối âm mưu cướp ruộng đất của dân. Ông trưởng thôn Trung Sơn Trương Văn Trường là một người can đảm bày tỏ thái độ bằng cách từ chức; vì vậy khi công an đến bắt thì dân bênh ông ta. Trong bốn trưởng thôn từ chức, mình ông Trường bị bắt, theo chiến thuật quen thuộc của cộng sản là chia tách các đối thủ để đánh lẻ. Có thể ông Trường bị chọn làm mục tiêu vì ông tỏ thái độ mạnh nhất, hoặc vì ông được lòng dân nhất. Khi các cán bộ khác bị dân tấn công, lúc đó mới có người, như ông Trần Bá Hoành, tỉnh ngộ thấy mình đang sống trong cảnh trên đe dưới búa. Họ phải lựa chọn: Ðứng về phía người dân bị bóc lột và bị đàn áp, hay đứng về phía đảng Cộng sản? Khi ông Trần Bá Hoành “lật tẩy” phân trần rằng mình và chủ tịch huyện không đồng ý với dự án làm công viên, ông muốn ngỏ ý đứng về phía người dân. Người Việt Nam nào cũng biết câu “Quan nhất thời, dân vạn đại.” Sau cùng, các cán bộ thôn xã sẽ phải thức tỉnh, nhận ra rằng chính họ và gia đình, con cháu họ sẽ phải sống bên cạnh người trong thôn xã, chứ không thể được guồng máy bạo lực che chở mãi mãi.
Dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh vốn nổi tiếng đấu tranh. Nông dân nổi giận chống chính quyền khi bị cướp đất, cướp cơm. Nhưng người ta cũng nổi dậy khi thấy mình bị sỉ nhục, nhất là bị nhục nhã trước ngoại bang. Ở phía Nam xã Bắc Sơn, huyện Thạch Hà, ở huyện Kỳ Anh người dân cũng đang phẫn uất trước cảnh người Trung Quốc tràn ngập trong khu kinh tế Vũng Áng. Trong khu kinh tế này có hơn 3,200 công nhân làm việc, trong đó có đến 2,000 người là “lao động chui” người Trung Quốc đang làm cho dự án Formosa của tư bản Ðài Loan. Theo báo chí trong nước, người Trung Quốc không chỉ đánh lộn, ăn cắp, mà còn ăn nhậu bừa bãi tại các khách sạn, nhà hàng, các quán karaoke mọc như nấm dọc quốc lộ 1A. Một khu giải trí mang tên “Hồng Thiên Hy” hình như chỉ dành riêng cho người Trung Quốc, tất cả các quán nhậu, nhà hàng đều có “tiếp viên” sẵn sàng phục vụ người Trung Quốc “trọn gói từ A đến Z.” Gần đây kế toán viên dự án Formosa bị đâm trọng thương ngay tại khu nội trú của người Trung Quốc.
Vụ Bắc Sơn là một tiếng chuông đánh thức tất cả nông dân trên cả nước. Khi người dân tự giành lấy quyền quyết định vận mạng của mình, thì chính các cán bộ cấp thôn, cấp xã cũng phải theo họ. Ðảng Cộng sản đang giống như một một tòa nhà sắp tan rã vì nền móng đang rạn nứt. Gần đây, ngay trong việc đàn áp dân và phá phách các cuộc biểu tình yêu nước ở Hà Nội và Sài Gòn, đảng Cộng sản đã phải thuê toàn bọn đầu gấu đến thay thế hoặc phụ lực cho công an, chứng tỏ họ không dám tin tưởng hoàn toàn vào các sĩ quan chỉ huy công an nữa. Nay tới các cán bộ thừa hành cấp xã, thôn cũng nao núng. Ðây là lúc các nhà tranh đấu dân chủ tự do ở nước ta bắt đầu nhập cuộc tranh đấu cùng giới nông dân. Ðảng Cộng sản đang bị bắt buộc trả tự do cho nhiều nhà tranh đấu, để mong được gia nhập tổ chức mậu dịch Thái Bình Dương (TTP) ngõ hầu cứu vãn nền kinh tế suy sụp. Luật Sư Nguyễn Văn Ðài nhìn thấy một “không gian chính trị an toàn hơn đã được tạo ra,” một cơ hội để giới tranh đấu dân chủ tiến tới.

Sau cộng sản, sẽ có tự do dân chủ?
Từ Thức (Bauxit VN)
Muốn xây dựng lại một đất nước đổ vỡ, phải chấm dứt chế độ cộng sản. Sự tồn tại của một chế độ kỳ quái như vậy là một hiện tượng bất bình thường trong một quốc gia bất bình thường trong thế kỷ 21. Nhưng khi chế độ kỳ quái đó sụp đổ, có chắc chắn sẽ có tự do dân chủ? Theo nhà văn Nga Svetlana Alexievitch, dân chủ, tự do đã không thực hiện ở Nga sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ những năm 1990, vì “chúng tôi, giới trí thức tiến bộ, đã có một thái độ lãng mạn”, trong khi xây dựng dân chủ là một tiến trình lâu dài, phải chuẩn bị. Muốn có dân chủ, phải có tổ chức dân chủ, có người dân chủ (démocrates), văn hóa dân chủ.
Svetlana Alexievitch, tác giả chiếm giải Médicis-Essai 2013, trong một cuộc phỏng vấn dành cho tập sanPhilosophie, số Đặc biệt (1), nói “chúng tôi tưởng tự do nằm sau cửa sổ, muốn có, chỉ việc dẹp chế độ cộng sản. Khi chúng tôi ngồi thảo luận với nhau trong phòng ăn, chúng tôi nhìn sự việc như vậy. Những người cộng sản đã ra đi dễ dàng một cách đáng ngạc nhiên, không hề chống cự. Chỉ sau này, chúng tôi mới hiểu họ chỉ cần hoạt động ngầm cũng đủ để trở lại nắm quyền.”
Bà Alexievitch, một nhà văn có cái nhìn sắc bén, là tác giả của nhiều cuốn sách về xã hội hậu cộng sản ở Nga (2) mà những người tranh đấu cho dân chủ ở Việt Nam nên đọc, để tránh khỏi cái bi kịch dã tràng, bao nhiêu hy sinh, tù đày mà cuối cùng dân chủ vẫn chỉ là một ảo tưởng.
“Chúng tôi đã có ảo tưởng về một dân tộc chống Cộng, khao khát tự do, dân chủ. Điều đó chỉ có trong đầu chúng tôi (giới trí thức). Khi tự do rơi xuống đầu dân tộc đó những năm 1990, họ không đổ xô tìm đọc Soljenitsyne hay tìm hiểu sự thực về goulag như chúng tôi tưởng tượng. Họ muốn, trước hết, sống và tiêu thụ. Một số người, mà chúng tôi không nghĩ tới, đã lợi dụng, bám vào trào lưu này để leo lên cầm quyền, như Loukachenko ở Biélorussie năm 1994 hay Poutine ở Nga năm 2000. Tóm lại, chúng tôi đã hoàn toàn không chuẩn bị cho đời sống thực tế. Bởi vì dân chúng không muốn kinh tế tự do (libéralisme). Hãng xưởng đóng cửa, tình trạng thất nghiệp khiến chúng tôi, những người trí thức tự do, đã rất sớm trở thành thiểu số. Hơn nữa, chúng tôi không có chương trình hành động gì cụ thể, ngoài chuyện đẩy cộng sản ra khỏi chính quyền. Chúng tôi nghĩ chỉ việc dẹp cộng sản là một bảo đảm cho tự do. Chúng tôi không có một kinh nghiệm gì trong việc xây dựng một xã hội bình thường; chúng tôi chỉ có kinh nghiệm bạo lực.”
Svetlana Alexievitch giải thích tại sao ngày nay vẫn còn những người Nga tưởng nhớ chế độ cộng sản: Khi một nhóm chính trị và kinh tài cướp đoạt, vơ vét hết tài nguyên của đất nước, dân chúng trở thành tay trắng, không nghề nghiệp, không tương lai, họ mơ tưởng trở lại chế độ bao cấp của cộng sản. Nhất là từ những năm 1990, người ta không còn bị gởi đi Goulag, không còn những vụ đàn áp đẫm máu, và đa số dân Nga sống trong xã hội tương đối bình đẳng – tất cả đều nghèo như nhau, lối sống đó thích hợp với nhiều người Nga.
Theo Alievitch, vài năm sau khi chế độ cộng sản bị lật đổ, người cộng sản có thể trở lại cầm quyền nếu họ muốn. Trong cuộc bầu cử 1996, bà tin rằng đã có thỏa hiệp giữa Eltsine với những người cộng sản. Cộng sản có thể thắng cử nếu họ muốn, vì họ vẫn chiếm đa số cử tri. Nhưng họ không muốn công khai nắm chính quyền một lần nữa, họ lựa chọn đứng đằng sau để giật dây và trên thực tế vẫn nắm vận mệnh nước Nga. Đó là một chế độ cộng sản “giả dạng thường dân” communisme de seconde main, đề tài của cuốn sách La fin de l’homme rouge(3) của Alievitch. Người cộng sản không mặc áo đỏ nữa, nhưng vẫn nắm quyền.
Thực trạng nước Nga cho thấy những quan sát của Svetlana Alievitch không sai sự thực. Quyền lực nằm trong tay Poutine, một cựu trùm KGB. Tất cả sinh hoạt chính trị, kinh tế đều nằm trong tay những tay cựu KGB đồng lõa với Poutine. Dân chủ Nga chỉ là dân chủ giả hiệu. Tham nhũng cao độ, bất công xã hội cùng cực, kinh tế thị trường man rợ. Những người lợi dụng được chế độ lao đầu vào phong trào tiêu thụ, những người bị gạt ra ngoài xã hội ngồi hối tiếc một xã hội cộng sản trong đó không có thất nghiệp và những nhu cầu tối thiểu được nhà nước bao cấp. Trong bối cảnh đó, xây dựng một xã hội dân chủ, tự do là một ảo tưởng, một tiếng kêu giữa sa mạc.
Đó là hiện tượng chung ở những nước hậu cộng sản nghèo, dân trí thấp, như những quốc gia trước đây thuộc Liên bang Xô Viết. Hiện tượng đó không có ở Đức hay Ba Lan.
Hiện tượng đó không xảy ra ở Đức bởi vì Đông Đức được Tây Đức gồng mình xây dựng lại theo mô hình Tây Đức, một quốc gia tiến bộ và thịnh vượng nhất Âu Châu. Nhất là một văn hóa dân chủ cao, cao hơn nhiều nước Âu Châu khác, bởi vì họ còn ám ảnh bởi những kỷ niệm đen tối, ghê rợn của những năm độc tài phát xít, ý thức rằng dân chủ là con đường sống duy nhất. Dân tộc Đức đã đạt một thành quả vĩ đại: đưa một nửa quốc gia từ xã hội độc tài, nghèo đói tới một xã hội dân chủ đích thực.
Hiện tượng đó không xảy ra ở Ba Lan bởi vì Ba Lan, với trợ cấp khổng lồ của Cộng Đồng Âu Châu, đã xây dựng một nền kinh tế lành mạnh và có khả năng phát triển. Adam Michnik, một trí thức đấu tranh cho dân chủ Ba Lan: “nếu bạn ghé thăm Ba Lan, sẽ thấy ít có chuyện hồi tưởng chế độ cộng sản. Không có ai muốn quay lại với quá khứ” (1).
Chính mô hình Ba Lan hậu cộng sản đã khiến những người tranh đấu ở Ukraine nổi loạn.
Những gì xảy ra ở Nga có thể lặp lại ở Việt Nam. Chế độ cộng sản đổ nhưng vẫn không có dân chủ và người cộng sản vẫn nắm quyền, mặc dầu không mặc áo đỏ nữa. Việt Nam có đầy đủ những yếu tố của xã hội Nga: một giai cấp trí thức lãng mạn (cộng thêm cái thói chia rẽ khủng khiếp, bệnh hoạn độc quyền của dân tộc ta), không chuẩn bị, không tổ chức, một văn hóa dân chủ mơ hồ trong quần chúng, một hàng ngũ cộng sản có tổ chức, dư tiền bạc để lũng đoạn các sinh hoạt chính trị.
Dân chủ là một tiến trình lâu dài, đòi hỏi những điều kiện khách quan. Một trong những nguyên tắc căn bản: muốn có dân chủ (démocratie), phải có người dân chủ (démocrates). Hàng ngũ những người dân chủ phải đông đảo để bảo vệ khi dân chủ đang thành hình, để những người tranh đấu cho dân chủ không bị cô đơn, những lực lượng phản dân chủ không thể lộng hành.
Muốn có một hàng ngũ những người dân chủ, phải có một giai cấp trung lưu. Bởi vì giai cấp thượng lưu thường thường đồng loã với chính quyền để bảo vệ quyền lợi. Giai cấp bình dân chỉ nghĩ đến nhu cầu thực tiễn trước mắt là lo ăn, kiếm sống. Giai cấp trung lưu có ý thức, có nhu cầu tự do dân chủ, là rường cột cho bất cứ một xã hội dân chủ nào. Huấn luyện, đào tạo một văn hoá dân chủ trong giai cấp trung lưu là chuyện cần thiết, lâu dài và cấp bách. Vừa lâu dài vừa cấp bách. Cấp bách vì nước đã đến chân, nếu không muốn nói đã tới cổ. Lâu dài vì nếu La Mã không được xây trong một ngày, xây dựng văn hóa dân chủ còn nhiều đường đất hơn nữa. Một thí dụ: những người cổ võ cho dân chủ không thể chỉ thoả mãn với những lời hô hào suông, những khẩu hiệu rỗng tuếch đã nhắc đi nhắc lại ngàn lần. Phải có những bài, những sách mổ xẻ cụ thể dân chủ là gì, cần những điều kiện khách quan nào, phải tránh những cạm bẫy nào, tại sao không thể xây dựng lại đất nước nếu không có dân chủ…
Đó là chỉ là một thí dụ nhỏ trên mặt lý thuyết, chưa nói đến vấn đề tổ chức vốn là điểm yếu của người Việt. Nhưng lý thuyết không phải là chuyện vô bổ. Trái lại, đó là nền tảng cho việc xây dựng sau này. Làm thế nào để biến hàng ngũ trung lưu càng ngày càng đông đảo trở thành nền móng của một xã hội dân chủ sơ khai, trước khi họ trở thành những cái máy tiêu thụ.
Những nhận xét rất thực tế của những người trong cuộc như Svetlana Alexievitch khiến người Việt phải suy nghĩ. Nếu không muốn đi vào bánh xe đổ. Cộng sản đổ, chưa chắc đã có ngay dân chủ nếu không chuẩn bi, không có tổ chức, không có ý thức chính trị đứng đắn. Con đường sẽ còn nhiều chông gai.
Đó là một cái nhìn thực tiễn, không phải một cái nhìn bi quan. Dân chủ không ở trên trời rơi xuống, nhưng mặc dù dân chủ chưa thành hình, mặc dù những người cựu cộng sản sẽ còn lộng hành, điều chắc chắn là chủ nghĩa cộng sản đã chết. Svetlana Alexievitch trích dẫn một câu của sử gia Nga Serguei Averintsev: chế độ cộng sản“đã xây dựng những cái cầu trên một con sông của ngu dốt, nhưng dòng sông ngày nay đã hoàn toàn là dòng sông khác.”
(Paris, tháng 4.2014)
T. T.
Bản chất của chế độ qua việc bắt và thả người
Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)
Thời gian gần đây, chính quyền Việt Nam quyết định trả tự do cho khá nhiều người bị xem là bất đồng chính kiến, trong đó, được dư luận chú ý nhất là việc thả ông Vi Ðức Hồi và Nguyễn Tiến Trung vào ngày 12 tháng 4; trước đó gần một tuần, thả và cho phép Luật Sư Cù Huy Hà Vũ cùng vợ được sang Mỹ với lý do “chữa bệnh”; trước đó nữa, ông Nguyễn Hữu Cầu cũng được thả sau 38 năm bị giam cầm; và trước đó nữa nữa, nhà giáo Ðinh Ðăng Ðịnh cũng được thả khi sức khỏe đã hoàn toàn cạn kiệt (mấy tháng sau đó, ông mất).
Theo nhà bình luận Phạm Chí Dũng, “Ðầu năm 2014 đã chứng kiến một đợt thả tù nhân chính trị lớn nhất và mang tính 'Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước' sắc nét nhất tính từ thời điểm năm 1975 đến giờ.”
Với một sự kiện đáng chú ý như thế, không có gì lạ khi số người tham gia tranh luận, đặc biệt trên các diễn đàn mạng, rất đông. Nhiều vấn đề, đặc biệt lý do khiến chính quyền Việt Nam trả tự do cho năm “tù nhân chính trị” trong một quãng thời gian ngắn ngủi như thế, đều có tính chất phỏng đoán. Không có ai có đủ thông tin từ trong Bộ Chính Trị hoặc Trung Ương đảng để có thể khẳng định được một cách chính xác. Bởi vậy, thay vì phỏng đoán tìm nguyên nhân, tôi chỉ ghi nhận một số phân tích từ các sự kiện ai cũng thấy.
Mô tả bản chất độc tài của một chế độ, người ta có thói quen tập trung vào các vụ án. Các phiên tòa trở thành tụ điểm của sự áp bức. Tuy nhiên, phần lớn người ta chỉ chú ý đến giai đoạn đầu: giai đoạn buộc tội và kết án. Thì cũng đúng. Tất cả các phiên tòa liên quan đến chính trị ở Việt Nam đều có hai đặc điểm nổi bật: Một là bắt bớ và buộc tội một cách vô cớ hoặc, nếu có cớ, những chứng cớ ấy không có chút chính đáng gì cả. Lý do để bắt: hoặc “hai cái condom đã qua sử dụng” hoặc trốn thuế. Lý do để buộc tội thường là “tuyên truyền chống phá nhà nước,” một cái tội vô duyên không thể tìm thấy ở bất cứ một quốc gia tự do nào trên thế giới, nơi người ta hợp thức hóa và hợp pháp hóa vai trò đối lập, một hình thức “chống phá chính phủ” bất bạo động. Hai là án lệnh dành cho những người bất đồng chính kiến bao giờ cũng nặng, nặng đến mức vô nhân đạo.
Với hai đặc điểm ấy, không có gì đáng ngạc nhiên khi thế giới thường quan tâm đến các phiên tòa xét xử các nhân vật bất đồng chính kiến tại Việt Nam.
Tuy nhiên, theo tôi, khi quá chú ý vào các phiên tòa với những lời buộc tội và kết án oan ức, người ta mắc phải một sai lầm là ít chú ý đến những gì xảy ra sau các phiên tòa, trong đó, bao gồm cả việc trả tự do một cách bất bình thường.
Liên quan đến việc thả năm tù nhân chính trị vừa rồi, nhiều nhà bình luận cho nguyên nhân chính là chủ trương hòa hoãn của nhà cầm quyền Việt Nam trước yêu sách của nước ngoài, đặc biệt là Mỹ. Nếu đúng, điều đó lại có rất nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, nói theo lời của Ủy Ban Bảo Vệ Nhà Báo Quốc Tế (CPJ) mới đây, nhà cầm quyền Việt Nam đã sử dụng các nhân vật đối lập như những “con tin để đổi lấy sự nhượng bộ của cộng đồng quốc tế về kinh tế hay quân sự.”
Thứ hai, bằng những sự “trao đổi” dã man như vậy, nhà cầm quyền cũng mặc nhiên thú nhận cái gọi là tòa án, hay rộng hơn, pháp luật ở Việt Nam, không có chút giá trị gì cả: Người ta muốn bắt lúc nào thì bắt, muốn thả lúc nào thì thả, tùy theo các ý đồ chính trị chứ không phải là căn cứ vào pháp luật. Nếu những việc bắt giữ và kết tội một cách oan ức, thậm chí, vô lý, tố cáo sự tàn bạo của nhà cầm quyền, ngay cả việc trả tự do để đáp ứng một đòi hỏi của nước ngoài, tự nó, cũng là một việc làm tàn bạo: Nó không coi trọng những giá trị căn bản của con người. Nó chỉ xem con người như một phương tiện hay một món hàng.
Thật ra, đàng sau sự tàn bạo ấy là một sự yếu đuối đến hèn hạ. Trấn áp những người tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền bất bạo động, không có một vũ khí gì trong tay trừ ngôn ngữ là một sự sợ hãi bệnh hoạn. Khuất phục trước các yêu sách thả tù nhân chính trị trong nước để hy vọng nhận được một ân huệ gì đó từ nước ngoài cũng là một việc làm rất thiếu tự tin. Sự thiếu tự tin ấy lại làm phô bày bản chất bất nhân và trơ tráo của chế độ: Nó trở thành hèn hạ.
Nhưng điều quan trọng mà chúng ta cần chú ý không phải ở phạm trù đạo đức với những sự tàn bạo hay hèn hạ mà là ở phạm trù chính trị: Một chế độ sử dụng luật pháp để trấn áp dân chúng trong nước và để trao đổi với nước ngoài nhất định không phải là một chế độ dân chủ.
Một trong những đặc điểm lớn nhất trong chính trị thế giới từ nửa sau thế kỷ 20 trở lại đây là luật pháp không còn là tiêu chí để phân biệt một chế độ dân chủ với một chế độ độc tài. Bởi, mọi chế độ đều có luật pháp và đều nhân danh luật pháp cho mọi chính sách và mọi hành động của mình. Nói cách khác, mọi chế độ độc tài thời hiện đại đều mang bộ mặt dân chủ: Họ cũng có Hiến Pháp và luật pháp. Họ cũng có bầu cử và tòa án. Họ có tất cả những gì các nước dân chủ có.
Sự khác biệt giữa một chế độ dân chủ và một chế độ độc tài không phải ở những cái có mà ở những cách thức thực thi những cái có ấy. Ví dụ, liên quan đến luật pháp. Một, ở các nước dân chủ, luật pháp là tối thượng. Không có ai ở trên và/hoặc ở ngoài luật pháp. Hai, ở các nước độc tài, ngược lại, luật pháp được sử dụng như một công cụ để hợp thức hóa các hành động độc quyền và trấn áp của họ: những người hoặc nguyên cả tầng lớp lãnh đạo đều ở trên và/hoặc nằm ngoài luật pháp. Trường hợp trên được gọi là pháp quyền (rule of law); trường hợp dưới gọi là pháp trị (rule by law).
Chính quyền Việt Nam, trên mọi thứ giấy tờ chính thức, đều tự nhận là một nhà nước pháp quyền. Thực chất, họ chỉ là pháp trị: Họ sử dụng luật pháp để cai trị: Luật pháp chỉ có tác dụng đối với tầng lớp bị trị. Còn với tầng lớp thống trị thì không: Ở đó, họ chỉ có các “điều lệ đảng.” Mà các điều lệ đảng thì do họ viết và họ có thể thay đổi từ điều lệ đến cách diễn dịch các điều lệ một cách dễ dàng.
Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)
Thời gian gần đây, chính quyền Việt Nam quyết định trả tự do cho khá nhiều người bị xem là bất đồng chính kiến, trong đó, được dư luận chú ý nhất là việc thả ông Vi Ðức Hồi và Nguyễn Tiến Trung vào ngày 12 tháng 4; trước đó gần một tuần, thả và cho phép Luật Sư Cù Huy Hà Vũ cùng vợ được sang Mỹ với lý do “chữa bệnh”; trước đó nữa, ông Nguyễn Hữu Cầu cũng được thả sau 38 năm bị giam cầm; và trước đó nữa nữa, nhà giáo Ðinh Ðăng Ðịnh cũng được thả khi sức khỏe đã hoàn toàn cạn kiệt (mấy tháng sau đó, ông mất).
Theo nhà bình luận Phạm Chí Dũng, “Ðầu năm 2014 đã chứng kiến một đợt thả tù nhân chính trị lớn nhất và mang tính 'Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước' sắc nét nhất tính từ thời điểm năm 1975 đến giờ.”
Với một sự kiện đáng chú ý như thế, không có gì lạ khi số người tham gia tranh luận, đặc biệt trên các diễn đàn mạng, rất đông. Nhiều vấn đề, đặc biệt lý do khiến chính quyền Việt Nam trả tự do cho năm “tù nhân chính trị” trong một quãng thời gian ngắn ngủi như thế, đều có tính chất phỏng đoán. Không có ai có đủ thông tin từ trong Bộ Chính Trị hoặc Trung Ương đảng để có thể khẳng định được một cách chính xác. Bởi vậy, thay vì phỏng đoán tìm nguyên nhân, tôi chỉ ghi nhận một số phân tích từ các sự kiện ai cũng thấy.
Mô tả bản chất độc tài của một chế độ, người ta có thói quen tập trung vào các vụ án. Các phiên tòa trở thành tụ điểm của sự áp bức. Tuy nhiên, phần lớn người ta chỉ chú ý đến giai đoạn đầu: giai đoạn buộc tội và kết án. Thì cũng đúng. Tất cả các phiên tòa liên quan đến chính trị ở Việt Nam đều có hai đặc điểm nổi bật: Một là bắt bớ và buộc tội một cách vô cớ hoặc, nếu có cớ, những chứng cớ ấy không có chút chính đáng gì cả. Lý do để bắt: hoặc “hai cái condom đã qua sử dụng” hoặc trốn thuế. Lý do để buộc tội thường là “tuyên truyền chống phá nhà nước,” một cái tội vô duyên không thể tìm thấy ở bất cứ một quốc gia tự do nào trên thế giới, nơi người ta hợp thức hóa và hợp pháp hóa vai trò đối lập, một hình thức “chống phá chính phủ” bất bạo động. Hai là án lệnh dành cho những người bất đồng chính kiến bao giờ cũng nặng, nặng đến mức vô nhân đạo.
Với hai đặc điểm ấy, không có gì đáng ngạc nhiên khi thế giới thường quan tâm đến các phiên tòa xét xử các nhân vật bất đồng chính kiến tại Việt Nam.
Tuy nhiên, theo tôi, khi quá chú ý vào các phiên tòa với những lời buộc tội và kết án oan ức, người ta mắc phải một sai lầm là ít chú ý đến những gì xảy ra sau các phiên tòa, trong đó, bao gồm cả việc trả tự do một cách bất bình thường.
Liên quan đến việc thả năm tù nhân chính trị vừa rồi, nhiều nhà bình luận cho nguyên nhân chính là chủ trương hòa hoãn của nhà cầm quyền Việt Nam trước yêu sách của nước ngoài, đặc biệt là Mỹ. Nếu đúng, điều đó lại có rất nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, nói theo lời của Ủy Ban Bảo Vệ Nhà Báo Quốc Tế (CPJ) mới đây, nhà cầm quyền Việt Nam đã sử dụng các nhân vật đối lập như những “con tin để đổi lấy sự nhượng bộ của cộng đồng quốc tế về kinh tế hay quân sự.”
Thứ hai, bằng những sự “trao đổi” dã man như vậy, nhà cầm quyền cũng mặc nhiên thú nhận cái gọi là tòa án, hay rộng hơn, pháp luật ở Việt Nam, không có chút giá trị gì cả: Người ta muốn bắt lúc nào thì bắt, muốn thả lúc nào thì thả, tùy theo các ý đồ chính trị chứ không phải là căn cứ vào pháp luật. Nếu những việc bắt giữ và kết tội một cách oan ức, thậm chí, vô lý, tố cáo sự tàn bạo của nhà cầm quyền, ngay cả việc trả tự do để đáp ứng một đòi hỏi của nước ngoài, tự nó, cũng là một việc làm tàn bạo: Nó không coi trọng những giá trị căn bản của con người. Nó chỉ xem con người như một phương tiện hay một món hàng.
Thật ra, đàng sau sự tàn bạo ấy là một sự yếu đuối đến hèn hạ. Trấn áp những người tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền bất bạo động, không có một vũ khí gì trong tay trừ ngôn ngữ là một sự sợ hãi bệnh hoạn. Khuất phục trước các yêu sách thả tù nhân chính trị trong nước để hy vọng nhận được một ân huệ gì đó từ nước ngoài cũng là một việc làm rất thiếu tự tin. Sự thiếu tự tin ấy lại làm phô bày bản chất bất nhân và trơ tráo của chế độ: Nó trở thành hèn hạ.
Nhưng điều quan trọng mà chúng ta cần chú ý không phải ở phạm trù đạo đức với những sự tàn bạo hay hèn hạ mà là ở phạm trù chính trị: Một chế độ sử dụng luật pháp để trấn áp dân chúng trong nước và để trao đổi với nước ngoài nhất định không phải là một chế độ dân chủ.
Một trong những đặc điểm lớn nhất trong chính trị thế giới từ nửa sau thế kỷ 20 trở lại đây là luật pháp không còn là tiêu chí để phân biệt một chế độ dân chủ với một chế độ độc tài. Bởi, mọi chế độ đều có luật pháp và đều nhân danh luật pháp cho mọi chính sách và mọi hành động của mình. Nói cách khác, mọi chế độ độc tài thời hiện đại đều mang bộ mặt dân chủ: Họ cũng có Hiến Pháp và luật pháp. Họ cũng có bầu cử và tòa án. Họ có tất cả những gì các nước dân chủ có.
Sự khác biệt giữa một chế độ dân chủ và một chế độ độc tài không phải ở những cái có mà ở những cách thức thực thi những cái có ấy. Ví dụ, liên quan đến luật pháp. Một, ở các nước dân chủ, luật pháp là tối thượng. Không có ai ở trên và/hoặc ở ngoài luật pháp. Hai, ở các nước độc tài, ngược lại, luật pháp được sử dụng như một công cụ để hợp thức hóa các hành động độc quyền và trấn áp của họ: những người hoặc nguyên cả tầng lớp lãnh đạo đều ở trên và/hoặc nằm ngoài luật pháp. Trường hợp trên được gọi là pháp quyền (rule of law); trường hợp dưới gọi là pháp trị (rule by law).
Chính quyền Việt Nam, trên mọi thứ giấy tờ chính thức, đều tự nhận là một nhà nước pháp quyền. Thực chất, họ chỉ là pháp trị: Họ sử dụng luật pháp để cai trị: Luật pháp chỉ có tác dụng đối với tầng lớp bị trị. Còn với tầng lớp thống trị thì không: Ở đó, họ chỉ có các “điều lệ đảng.” Mà các điều lệ đảng thì do họ viết và họ có thể thay đổi từ điều lệ đến cách diễn dịch các điều lệ một cách dễ dàng.
Chân lý Tháng Tư
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
39 năm đã qua kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày chiến tranh kết thúc.
Sau 39 năm - bằng hơn một nửa đời người trung bình - đất nước vẫn trong tình trạng chậm tiến, công nghiệp hóa dang dở, nền giáo dục ở vị trí đèn đỏ giữa các nước Ðông Nam Á, nền y tế kém cả một số nước Bắc Phi, tự do báo chí được xếp ở vị trí 171 trên 180 nước của thế giới.
Năm 2012, nhân dịp 30 Tháng Tư, một cô giáo dạy văn năm thứ 2 tại Ðại Học Xã Hội Nhân Văn Sài Gòn ra đầu đề luận văn sau đây cho sinh viên khoa báo chí: “Cảm nghĩ về toàn thắng của nhân dân ta trong sự nghiệp chống đế quốc Mỹ xâm lược.” Nói chung các em đều viết luận văn của mình như giáo trình dạy, nghĩa là y như báo Nhân Dân hết lời ca ngợi đảng ta, quân đội ta, nhân dân ta, ca ngợi sự lãnh đạo anh minh, sáng tạo của đảng CS, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng của dân tộc,...”
Riêng có một em băn khoăn về đề tài vừa kể, suy nghĩ kỹ rồi mạnh dạn nói lên niềm lo lắng của mình: “Thưa cô em rất muốn hiểu và nói như cô dạy, như giáo trình, nhưng em đã nghĩ kỹ, và em không thể... Em thấy Hoa Kỳ không phải là đế quốc xâm lược...”
Cô giáo giật mình. Lại một em sinh viên cứng đầu, khó bảo. Cô khuyên em hãy cẩn trọng. Em là đoàn viên Ðoàn Thanh Niên CS Hồ Chí Minh. Rồi em sẽ còn phấn đấu vào đảng CS. Em hãy lên thư viện đọc nhiều tài liệu hơn để nắm bắt được lẽ phải, chân lý, để viết luận văn cho hay cho đúng...
Em sinh viên Lê Vũ Cát Ðằng vẫn tự mình đi tìm chân lý theo cách của em, suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo của mình, không để lệ thuộc vào điều gì khác, đọc nhiều sách báo, suy luận rốt ráo bằng phương pháp khoa học, khách quan, hợp lý, công bằng và ngay thẳng.
Em viết nên một bài luận văn, thực tế là một bài phản biện súc tích, sinh động, đầy tính thuyết phục (được đăng trên mạng Dân Làm Báo Tháng Tư năm 2013) do nhà báo Hoàng Thanh Trúc tóm tắt giới thiệu. Em nói lên nhận định, đánh giá của chính mình về cuộc chiến ở Việt Nam, rằng:
- Hoa Kỳ không phải là đế quốc, vì không có một tham vọng nào về lãnh thổ, về thuộc địa kiểu cũ hay kiểu mới, về tài nguyên ở Việt Nam;
- Hành động của Hoa Kỳ ở VN do đó không thể nào gọi là xâm lược;
- Chứng minh nữa của em Cát Ðằng là Hoa Kỳ ở Châu Âu sau khi tham gia đánh bại bọn phát xít Hitler đã tận lực cùng các nước đồng minh Châu Âu giúp cho Tây Ðức xây dựng lại đất nước về mọi mặt sau chiến tranh, còn hỗ trợ cho công cuộc thống nhất nước Ðức thành một cường quốc dân chủ ngày nay, được toàn dân Ðức ca ngợi và biết ơn;
- Ở Ðông Nam Á trong Thế Chiến 2, quân đội Hoa Kỳ đã chiến đấu chống quân đội Nhật Bản, tham gia giải phóng các nước Indonesia, Philippines, Ðài Loan, sau đó giúp 3 nước này xây dựng lại sau chiến tranh, phát triển kinh tế mạnh mẽ như ngày nay, được nhân dân 3 nước đó quý mến biết ơn;
Em Cát Ðằng nêu lên sự giúp đỡ đặc biệt của Hoa Kỳ đối với Nhật Bản, kẻ thù chính trong chiến tranh. Em viện dẫn tài liệu cho thấy nhân dân Nhật đã nhất trí vinh danh 12 vị anh hùng đã có công lao to lớn trong phục hồi và xây dựng lại Nhật Bản sau tàn phá kinh hoàng của chiến tranh; trong 12 vị anh hùng đó có 11 người là người Nhật, từ nhà lãnh đạo chính trị, nhà tư tưởng, nhà kinh tế - tài chính, nhà sáng chế phát minh, nhà giáo dục, nhà kinh doanh và chỉ có 1 người nước ngoài, là đại tướng Hoa Kỳ Douglas Mac-Arthur (1880-1964), tư lệnh đạo quân chiếm đóng Nhật Bản.
Vị tướng này và đạo quân Hoa Kỳ trên đất Nhật đã tận lực giúp cho Nhật Bản phục hồi nhanh chóng, toàn diện, tạo nên nét thần kỳ Nhật Bản, chỉ trong thời gian ngắn, duy trì và hiện đại hóa chế độ hoàng gia thành một cường quốc dân chủ và pháp quyền đứng đầu Châu Á, được toàn dân Nhật Bản ca ngợi, biết ơn và mãi mãi ghi công. Tướng như thế, quân như thế không thể là đế quốc xâm lược.
Nhân Tháng Tư năm nay, bộ máy tuyên truyền của nhà nước VN năm nay, sau 39 năm dài, vẫn giữ nguyên não trạng cũ kỹ, giáo điều, không tưởng, huênh hoang về cái gọi là “toàn thắng đế quốc Mỹ xâm lược,” về “lịch sử oai hùng ta đánh bại cả 3 đế quốc lớn thuộc 3 châu Á, Âu, Mỹ,” giăng khẩu hiệu khắp nơi, tổ chức mít tinh rầm rộ, nhưng thật ra là không có thực chất, tự lừa mình và lừa nhân dân, khi nhân dân đã thức tỉnh và phần lớn đã nhận ra lý lẽ xác đáng của em sinh viên Lê Vũ Cát Ðằng.
Nhân dịp này cần chỉ ra việc viếng nghĩa trang, tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh trong chiến tranh, được bày ra trong những ngày lễ Tết, ngày kỷ niệm và mỗi phiên khai mạc họp Quốc Hội hay đại hội đảng... cũng không có thực chất, không chân thành, còn ngày càng trở nên cay đắng mỉa mai. Vì hàng triệu chiến sĩ ngã xuống mỗi người đều mang theo niềm tin rằng ta hy sinh không hề tiếc thân mình vì đất nước sẽ hoàn toàn độc lập, toàn dân sẽ có tư do dân chủ đầy đủ và Tổ quốc sẽ phồn vinh, hạnh phúc, giàu có được chia cho toàn dân cùng hưởng. Hàng triệu thanh niên ưu tú nhất đã hy sinh đời mình trong niềm tin “đánh xong giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay.” Niềm tin thiêng liêng ấy đến nay rõ ràng đã bị bỏ quên, bị phản bội rõ ràng.
Chế độ độc đảng đã suy thoái đến băng hoại, phá hủy tài sản quốc gia, chia nhau thành quả phát triển do toàn dân tạo nên cho các phe nhóm lợi ích riêng tư, để cả một tầng lớp quan lại bất tài - trừ tài tham nhũng - chia nhau tùy tiện không có ai giám sát, thanh tra, kiểm soát, tạo nên khoản nợ khổng lồ hơn 50 tỷ USD đè lên lưng nhân dân, để cho hàng vài chục đại án tham nhũng không sao phá án nổi như đã hứa hẹn thề thốt với nhân dân.
Nếu như hàng triệu liệt sĩ của cả 2 bên bừng tỉnh dậy và chất vấn Bộ Chính Trị trong dịp Tháng Tư này, về vì sao để cho tình hình sa sút tệ hại đến thế này, vì sao đã quên lời hứa năm xưa, ta hình dung họ sẽ ấp úng, loay hoay, cứng hàm, không còn biết thanh minh, lý giải ra sao.
Nhân dịp 30 Tháng Tư năm nay, tất cả Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, Ban Chấp Hành Trung Ương đảng, Quốc Hội mà 90% là đảng viên CS, cũng như Mặt Trận Tổ Quốc VN do đảng CS lập ra để sai khiến, hãy lắng tai nghe cho thật rõ hai tiếng nói “Chân lý Tháng Tư.” Một là tiếng nói của một em sinh viên dám là mình, có tư duy độc lập, phản biện về cái gọi là “toàn thắng trong sự nghiệp chống đế quốc Mỹ xâm lược” điều đến nay họ vẫn còn huênh hoang. Hai là một tiếng nói âm thầm nhưng rộng khắp, quyết liệt như vang lên từ hàng triệu ngôi mộ liệt sĩ khắp nơi, “chất vấn nghiêm khắc về lời hứa của lãnh đạo CS là sẽ xây dựng nước ta trong hòa bình to đẹp gấp mười lần hơn trước, đạt tự do và hạnh phúc cho toàn dân cùng hưởng.” Một lời hứa cuội đã bay theo chiều gió, thay vào đó là thu nhập của các “đày tớ “ thường là cao gấp 10, gấp trăm, có khi gấp ngàn lần lương ba cọc ba đồng của hàng chục triệu “ông chủ” đã trắng tay, do đày tớ làm loạn mà nên. Xin quý vị hãy lắng nghe hai tiếng nói ấy để nhận ra những sự thật và tình thế nhãn tiền của đất nước.
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
39 năm đã qua kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày chiến tranh kết thúc.
Sau 39 năm - bằng hơn một nửa đời người trung bình - đất nước vẫn trong tình trạng chậm tiến, công nghiệp hóa dang dở, nền giáo dục ở vị trí đèn đỏ giữa các nước Ðông Nam Á, nền y tế kém cả một số nước Bắc Phi, tự do báo chí được xếp ở vị trí 171 trên 180 nước của thế giới.
Năm 2012, nhân dịp 30 Tháng Tư, một cô giáo dạy văn năm thứ 2 tại Ðại Học Xã Hội Nhân Văn Sài Gòn ra đầu đề luận văn sau đây cho sinh viên khoa báo chí: “Cảm nghĩ về toàn thắng của nhân dân ta trong sự nghiệp chống đế quốc Mỹ xâm lược.” Nói chung các em đều viết luận văn của mình như giáo trình dạy, nghĩa là y như báo Nhân Dân hết lời ca ngợi đảng ta, quân đội ta, nhân dân ta, ca ngợi sự lãnh đạo anh minh, sáng tạo của đảng CS, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng của dân tộc,...”
Riêng có một em băn khoăn về đề tài vừa kể, suy nghĩ kỹ rồi mạnh dạn nói lên niềm lo lắng của mình: “Thưa cô em rất muốn hiểu và nói như cô dạy, như giáo trình, nhưng em đã nghĩ kỹ, và em không thể... Em thấy Hoa Kỳ không phải là đế quốc xâm lược...”
Cô giáo giật mình. Lại một em sinh viên cứng đầu, khó bảo. Cô khuyên em hãy cẩn trọng. Em là đoàn viên Ðoàn Thanh Niên CS Hồ Chí Minh. Rồi em sẽ còn phấn đấu vào đảng CS. Em hãy lên thư viện đọc nhiều tài liệu hơn để nắm bắt được lẽ phải, chân lý, để viết luận văn cho hay cho đúng...
Em sinh viên Lê Vũ Cát Ðằng vẫn tự mình đi tìm chân lý theo cách của em, suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo của mình, không để lệ thuộc vào điều gì khác, đọc nhiều sách báo, suy luận rốt ráo bằng phương pháp khoa học, khách quan, hợp lý, công bằng và ngay thẳng.
Em viết nên một bài luận văn, thực tế là một bài phản biện súc tích, sinh động, đầy tính thuyết phục (được đăng trên mạng Dân Làm Báo Tháng Tư năm 2013) do nhà báo Hoàng Thanh Trúc tóm tắt giới thiệu. Em nói lên nhận định, đánh giá của chính mình về cuộc chiến ở Việt Nam, rằng:
- Hoa Kỳ không phải là đế quốc, vì không có một tham vọng nào về lãnh thổ, về thuộc địa kiểu cũ hay kiểu mới, về tài nguyên ở Việt Nam;
- Hành động của Hoa Kỳ ở VN do đó không thể nào gọi là xâm lược;
- Chứng minh nữa của em Cát Ðằng là Hoa Kỳ ở Châu Âu sau khi tham gia đánh bại bọn phát xít Hitler đã tận lực cùng các nước đồng minh Châu Âu giúp cho Tây Ðức xây dựng lại đất nước về mọi mặt sau chiến tranh, còn hỗ trợ cho công cuộc thống nhất nước Ðức thành một cường quốc dân chủ ngày nay, được toàn dân Ðức ca ngợi và biết ơn;
- Ở Ðông Nam Á trong Thế Chiến 2, quân đội Hoa Kỳ đã chiến đấu chống quân đội Nhật Bản, tham gia giải phóng các nước Indonesia, Philippines, Ðài Loan, sau đó giúp 3 nước này xây dựng lại sau chiến tranh, phát triển kinh tế mạnh mẽ như ngày nay, được nhân dân 3 nước đó quý mến biết ơn;
Em Cát Ðằng nêu lên sự giúp đỡ đặc biệt của Hoa Kỳ đối với Nhật Bản, kẻ thù chính trong chiến tranh. Em viện dẫn tài liệu cho thấy nhân dân Nhật đã nhất trí vinh danh 12 vị anh hùng đã có công lao to lớn trong phục hồi và xây dựng lại Nhật Bản sau tàn phá kinh hoàng của chiến tranh; trong 12 vị anh hùng đó có 11 người là người Nhật, từ nhà lãnh đạo chính trị, nhà tư tưởng, nhà kinh tế - tài chính, nhà sáng chế phát minh, nhà giáo dục, nhà kinh doanh và chỉ có 1 người nước ngoài, là đại tướng Hoa Kỳ Douglas Mac-Arthur (1880-1964), tư lệnh đạo quân chiếm đóng Nhật Bản.
Vị tướng này và đạo quân Hoa Kỳ trên đất Nhật đã tận lực giúp cho Nhật Bản phục hồi nhanh chóng, toàn diện, tạo nên nét thần kỳ Nhật Bản, chỉ trong thời gian ngắn, duy trì và hiện đại hóa chế độ hoàng gia thành một cường quốc dân chủ và pháp quyền đứng đầu Châu Á, được toàn dân Nhật Bản ca ngợi, biết ơn và mãi mãi ghi công. Tướng như thế, quân như thế không thể là đế quốc xâm lược.
Nhân Tháng Tư năm nay, bộ máy tuyên truyền của nhà nước VN năm nay, sau 39 năm dài, vẫn giữ nguyên não trạng cũ kỹ, giáo điều, không tưởng, huênh hoang về cái gọi là “toàn thắng đế quốc Mỹ xâm lược,” về “lịch sử oai hùng ta đánh bại cả 3 đế quốc lớn thuộc 3 châu Á, Âu, Mỹ,” giăng khẩu hiệu khắp nơi, tổ chức mít tinh rầm rộ, nhưng thật ra là không có thực chất, tự lừa mình và lừa nhân dân, khi nhân dân đã thức tỉnh và phần lớn đã nhận ra lý lẽ xác đáng của em sinh viên Lê Vũ Cát Ðằng.
Nhân dịp này cần chỉ ra việc viếng nghĩa trang, tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh trong chiến tranh, được bày ra trong những ngày lễ Tết, ngày kỷ niệm và mỗi phiên khai mạc họp Quốc Hội hay đại hội đảng... cũng không có thực chất, không chân thành, còn ngày càng trở nên cay đắng mỉa mai. Vì hàng triệu chiến sĩ ngã xuống mỗi người đều mang theo niềm tin rằng ta hy sinh không hề tiếc thân mình vì đất nước sẽ hoàn toàn độc lập, toàn dân sẽ có tư do dân chủ đầy đủ và Tổ quốc sẽ phồn vinh, hạnh phúc, giàu có được chia cho toàn dân cùng hưởng. Hàng triệu thanh niên ưu tú nhất đã hy sinh đời mình trong niềm tin “đánh xong giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay.” Niềm tin thiêng liêng ấy đến nay rõ ràng đã bị bỏ quên, bị phản bội rõ ràng.
Chế độ độc đảng đã suy thoái đến băng hoại, phá hủy tài sản quốc gia, chia nhau thành quả phát triển do toàn dân tạo nên cho các phe nhóm lợi ích riêng tư, để cả một tầng lớp quan lại bất tài - trừ tài tham nhũng - chia nhau tùy tiện không có ai giám sát, thanh tra, kiểm soát, tạo nên khoản nợ khổng lồ hơn 50 tỷ USD đè lên lưng nhân dân, để cho hàng vài chục đại án tham nhũng không sao phá án nổi như đã hứa hẹn thề thốt với nhân dân.
Nếu như hàng triệu liệt sĩ của cả 2 bên bừng tỉnh dậy và chất vấn Bộ Chính Trị trong dịp Tháng Tư này, về vì sao để cho tình hình sa sút tệ hại đến thế này, vì sao đã quên lời hứa năm xưa, ta hình dung họ sẽ ấp úng, loay hoay, cứng hàm, không còn biết thanh minh, lý giải ra sao.
Nhân dịp 30 Tháng Tư năm nay, tất cả Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, Ban Chấp Hành Trung Ương đảng, Quốc Hội mà 90% là đảng viên CS, cũng như Mặt Trận Tổ Quốc VN do đảng CS lập ra để sai khiến, hãy lắng tai nghe cho thật rõ hai tiếng nói “Chân lý Tháng Tư.” Một là tiếng nói của một em sinh viên dám là mình, có tư duy độc lập, phản biện về cái gọi là “toàn thắng trong sự nghiệp chống đế quốc Mỹ xâm lược” điều đến nay họ vẫn còn huênh hoang. Hai là một tiếng nói âm thầm nhưng rộng khắp, quyết liệt như vang lên từ hàng triệu ngôi mộ liệt sĩ khắp nơi, “chất vấn nghiêm khắc về lời hứa của lãnh đạo CS là sẽ xây dựng nước ta trong hòa bình to đẹp gấp mười lần hơn trước, đạt tự do và hạnh phúc cho toàn dân cùng hưởng.” Một lời hứa cuội đã bay theo chiều gió, thay vào đó là thu nhập của các “đày tớ “ thường là cao gấp 10, gấp trăm, có khi gấp ngàn lần lương ba cọc ba đồng của hàng chục triệu “ông chủ” đã trắng tay, do đày tớ làm loạn mà nên. Xin quý vị hãy lắng nghe hai tiếng nói ấy để nhận ra những sự thật và tình thế nhãn tiền của đất nước.
Khánh Ly biểu diễn tại Việt Nam? Tình, tiền và những nghịch lý
Lê Diễn Đức Trước hết khoan vội vã nghĩ về nghĩa bóng với ý xấu nào đó trong tựa đề bài viết của tôi. Những từ ngữ trong tựa đề có vẻ giật gân nhưng tôi chỉ muốn nói tới ngữ nghĩa đen đích thực của nó.
Tình...
Lên đường về Việt Nam (VN), trong hành trang của mình, Khánh Ly mang nặng chữ tình theo nghĩa rộng. Tình yêu quê hương; tình cảm với một quá khứ sống động thời tuổi trẻ ở miền Nam; tình yêu âm nhạc, nghệ thuật; tình cảm dành cho quần chúng hâm mộ trong nước; tình bằng hữu, đồng nghiệp; và những băn khoăn trước thái độ không mấy hài lòng của một bộ phận trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản (CS), mà Kánh Ly là một thành viên không thể tách rời.
Tôi chưa bao giờ có cái nhìn khắt khe với bất kỳ ai từ nước ngoài về thăm VN. Là người Việt ly hương, mong được trở về quê nhà, dù dưới bất kỳ lý do nào, làm ăn hay thăm thân, tôi đều cho là nguyện vọng chính đáng. Điều cần đánh giá là thái độ và việc làm của họ trong thời gian ở VN, cách ứng xử với nhà cầm quyền của chế độ CSVN, một chế độ mà họ đã tự nguyện trốn chạy, muốn đoạn tuyệt, dù đã phải đối diện với nhiều hiểm nguy, mất mát, thậm chí cả mạng sống.
Tôi cũng giữ quan điểm đúng mức, trung dung trong việc các ca sĩ từ nước ngoài về VN biểu diễn hay từ trong nước qua Mỹ, như là chuyện bình thường. Tôi đã chứng kiến người Việt ở Mỹ vui vẻ chào đón các ca sĩ từ miền Bắc qua như Hồng Nhung, Mỹ Linh, Thanh Lam, Thu Hà, Thu Phương, v.v... Một số người cưới vợ, lấy chồng, sống hoà hợp và bình đẳng trong cộng đồng. Những trường hợp bị chống đối dường như rất ít và thường có lý do chính đáng, như Đàm Vĩnh Hưng, hay Hồng Vân. Chỉ khi thật sự đặt mình vào hoàn cảnh của những người căm ghét chế độ CS vì chế độ này đã gây ra bao nhiêu tai ương, tội ác cho họ và thân nhân, hiện vẫn đang tiếp tục chà đạp công lý và quyền tự do ở trong nước, thì mới có thể thông cảm và chia sẻ cho sự chống đối này.
Khánh Ly không phải là người đầu tiên trong giới ca nhạc hải ngoại về VN và chắc chắn không phải là nguời cuối cùng. Trước Khánh Ly đã có Elvis Phương, Hương Lan, Chế Linh, Tuấn Ngọc, v.v... cũng là những ca sĩ đã được nhìn nhận ở đỉnh cao trong làng ca nhạc VN ở nước ngoài.
Khánh Ly thường nói "VN luôn nằm trong trái tim", chân thật và giản dị như với bao người VN khác sống xa đất nước. Trong thâm tâm, tôi mong muốn Khánh Ly bình yên, thanh thản về nước, thực hiện nguyện vọng chờ đợi từ rất lâu của mình và mang tiếng hát về VN cho những người hâm mộ.
Khi nói đến dòng tân nhạc miền Nam trước năm 1975 và của người Việt hải ngoại sau năm 1975, ca sĩ Khanh Lý phải là một trong những người nằm ở vị trí hàng đầu, có thể xem là ca sĩ số một, thể hiện xuất sắc nhất, có hồn nhất các nhạc phẩm của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Khánh Ly không chỉ nổi tiếng với người miền Nam trước và sau năm 1975, mà tên tuổi và giọng ca của Khánh Ly đã vượt không gian, thời gian đến với hàng triệu người miền Bắc yêu thích các ca khúc trữ tình, những "bài hát da vàng" của dòng nhạc Trịnh.
Bỏ qua mọi định kiến, yêu, ghét, khó ai phủ nhận được Trịnh Công Sơn là khuôn mặt tài năng nổi bật trong di sản âm nhạc hiện đại của Việt Nam. Nếu toàn bộ tác phẩm của ông là đứa con nghệ thuật, thì Khánh Ly, có thể nói, do duyên phận và định mệnh, là một nửa cơ thể của đứa con tinh thần và nghệ thuật đó.
Hạnh phúc nhất của nguời nghệ sĩ chính là lòng mến mộ và quý trọng của đông đảo công chúng. Tôi không nhìn qua lăng kính chính trị hẹp hòi để đồng nghĩa chuyến lưu diễn của Khánh Ly tại VN với cách suy diễn dễ dãi, thiếu thiện chí như là sự phục vụ, hát cho chế độ CS nghe. Trong hoàn cảnh nào người nghệ sĩ cũng hạnh phúc khi thấy tiếng hát của mình có ý nghĩa cho cuộc sống, tài năng nghệ thuật có cơ hội thể hiện, cống hiến cho những người ái mộ, dù chỉ là một số nào đó trong những hoàn cảnh nghiệt ngã.
Công chúng hôm nay đến với Khánh Ly dường như chắc chắn không phải đến với giọng ca của một nữ ca sĩ đã ở tuổi 67. Họ đến với Khánh Ly trong con người bằng da bằng thịt, trong hình ảnh của huyền thoại "Nữ hoàng chân đất", "Nữ hoàng sân cỏ" với chất giọng trời cho "không giống ai", "giọng ca thật như nói", truyền cảm đặc sắc tâm tư của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua những nhạc phẩm của ông.
Tôi tin rằng, từ Sài Gòn, Đà Nẵng, tới Hà Nội, bằng những lời ngợi khen công khai của số ít, hoặc bằng suy nghĩ của số đông thầm lặng, nhưng với tất cả công chúng, Khánh Ly là đứa con của miền Nam, là biểu tượng của một nền văn hoá và âm nhạc tự do của Việt Nam Cộng Hoà, mà nếu không có nó, sẽ đồng nghĩa với không có nghệ sĩ Khánh Ly nổi tiếng hôm nay. Nó cũng tương tự như hình ảnh của Phó thủ tướng Đức Philipp Rösler. Nếu không được trưởng thành và hưởng một nền giáo dục tốt đẹp của nước Đức dân chủ tự do, trong chế độ CSVN một cậu bé mồ côi sẽ khó vượt qua được thân phận của "con sãi ở chùa lại quét lá đa".
Một hình ảnh đẹp và tự hào như thế của Việt Nam Cộng Hoà, trước công chúng, ngay trong lòng chế độ CS, giữa Hà Nội và Sài Gòn, há chằng phải là tuyệt vời sao!
Nếu không về lúc này, khi còn có thể hát, nguyện vọng của Khánh Ly trở lại hát trên quê nhà sẽ thui chột tỷ lệ nghịch với sự tăng lên của tuổi tác, là điều đáng tiếc cho cuộc đời của một nghệ sĩ tài hoa. Ca sĩ Thanh Tuyền cũng đã nói: “Khánh Ly đã 67 tuổi rồi. Cũng mong được về nước để hát trên mảnh đất quê hương mình. Chị ấy muốn về trước khi quá muộn”- (Giaoducnet.vn).
Tiền...
Có người vội vã nhận định về chuyến lưu diễn của Khánh Ly tại Việt Nam: "Money first!".
Tôi được biết, tour diễn của Khánh Ly sẽ được công ty Đồng Dao trả tiền cát-xê rất cao. Ngoài bao ăn ở đi lại, mỗi show của Khánh Ly được trả 20 ngàn đôla. Cho cả tour diễn tại Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn, Khánh Ly sẽ thu được từ 100 ngàn tới 200 ngàn đôla, phụ thuộc vào số lượng show lớn nhỏ có thể thực hiện. Với mặt bằng cát-xê chung hiện nay, Khánh Ly nằm mơ không có được một số tiền lớn như thế ở Mỹ trên sàn diễn. Nó không chỉ hấp dẫn mạnh mẽ với Khánh Ly, một người không phải thuộc giới giàu có, mà với tất cả.
Khi đồng ý chi một số tiền lớn như trên, công ty Đồng Dao, nhà tổ chức, hẳn đã phải tính toán rất kỹ thành quả từ show diễn của Khánh Ly, ý thức rất rõ ca sĩ Khánh Ly sẽ cuốn hút số lượng người xem như thế nào. Số tiền lớn này có sức mạnh cám dỗ là đương nhiên. Có ai không thích tiền? Nhưng Khánh Ly hoàn toàn xứng đáng nhận nó, vì nó là thành quả lao động nghệ thuật mà Khánh Ly đã phải làm việc miệt mài và tích luỹ trong suốt 50 năm qua.
Cho nên, nếu nói "Money first!". Câu trả lời là: "Thì đã sao, why not!". Đồng tiền kiếm được bằng lao động lương thiện và minh bạch, thì có gì phải lăn tăn!
Nghịch lý...
Nhưng tất cả xem ra không đơn giản trong hỗn mang của các nghịch lý.
Trước hết phải nhìn nhận Khánh Ly là "persona non grata" của chế độ CSVN.
Khánh Ly đã hai lần bỏ chạy khỏi chế độ CS, lần đầu lúc còn bé theo gia đình vào Nam năm 1954, khi CSVN cai trị ở miền Bắc, và lần thứ hai di tản qua Mỹ, năm 1975, sau khi Sài Gòn bị thất thủ và CSVN cai trị trên cả nước.
Tâm trạng của Khánh Ly trong hai lần chạy trốn chế độ CS có thể mô tả qua nhạc phẩm "Xin đời một nụ cười" của nhạc sĩ Nam Lộc:
"Tôi bước đi
Vì không muốn làm kẻ tội đồ,
Vì tôi muốn lại kiếp con người
Muốn cuộc đời có những nụ cười
Tự Do ơi, Tự Do, em đổi bằng thân xác
Vì hai chữ Tự Do ta mang đời lưu vong"...
Trong thời gian sống ở Mỹ, Khánh Ly đã tham gia rất nhiều chương trình văn nghệ chống cộng của hội đoàn người Việt. Với những nhạc phẩm "Đêm Việt Nam" của Hà Thúc Sinh, "Ai trở về xứ Việt" của Phan Văn Hưng, "Đêm Chôn Dầu Vượt Biển"của Châu Đình An, "Hát trên những xác người" của Trịnh công Sơn, v.v... Khánh Ly không làm nhà cầm quyền căm ghét mới là lạ.
Khánh Ly cũng đã từng tuyên bố "Tôi chỉ về khi không còn chế độ cộng sản nữa mà thôi”, theo tờ "Giaoducnet.vn" ngày 7/8/2012 trong bài "Sự tráo trở của Khánh Ly".
Lời tuyên bố của Khánh Ly rồi cũng nhạt nhoà theo những đổi thay và các biến động của thời gian. Khánh Ly đã về VN hai lần trong năm 1996 và 2000, về chơi thăm thú, chứ không phải về biểu diễn. Nhưng Khánh Ly duờng như bị "cấm cung" tại Đệ Nhất Khách Sạn, quận Tân Bình, gần sân bay Tân Sơn Nhất, đi lại bị an ninh theo dõi, kiểm soát ngặt nghèo.
Cuối năm 1994, nhân chuyến lưu diễn Âu châu của các ca sĩ hải ngoại, trong đó Khánh Ly là nhân vật trung tâm, những bạn hữu tổ chức ở Đức đã phối hợp với chúng tôi ở Ba Lan, lần đầu tiên mời đoàn qua Ba Lan. Đại sứ quán CSVN tại Ba Lan lúc ấy đã ra chỉ thị cấm nghiên cứu sinh, đảng viên đi xem. Chúng tôi thuê Cung Văn hoá làm nơi biểu diễn, nằm ở trung tâm thủ đô Warsaw, thời cộng sản là nơi tổ chức các đại hội đảng hoặc hội nghị nhà nước. Cung Văn hoá chứa được khoảng ba nghìn chỗ ngồi hôm ấy kín hết. Bất chấp lệnh cấm của toà đại sứ quán CSVN, tôi nhìn thấy một số nghiên cứu sinh quen biết ngồi trong đám đông. Còn cộng đồng người Việt tại Ba Lan đã dành cho các ca sĩ hải ngoại sự chào đón nồng ấm lạ thường. Khánh Ly nói chưa bao giờ được hát trên một sân khấu sang trọng như thế. Khánh Ly bị khán thính giả cuồng nhiệt "hành hạ" hát theo yêu cầu liên tiếp và tặng không biết cơ man nào là hoa, đến mức ba quầy bán hoa tại chỗ hết sạch, chúng tôi đã phải chạy ra ngoài tìm nguồn cung cấp thêm.
Sự kiện này cho thấy nhà cầm quyền CSVN không ưa thích Khánh Ly không chỉ trong nước mà còn vượt ra cả ngoài biên giới VN. Nhưng bên cạnh đó cho thấy dân miền Bắc cũng rất ái mộ ca sĩ này, bỏ qua mọi khác biệt về môi trường sống và nhãn quan chính trị.
Sự chuẩn bị cho cuộc hành trình về VN lần này chẳng mấy dễ dàng. Nguyện vọng của Khánh Ly về VN biểu diễn được nói đến gần hai năm nay. Lẽ ra nếu "cơm lành canh ngọt", Khánh Ly đã có thể về cùng chuyến với ca sĩ Chế Linh hồi cuối năm 2011, nhưng Khánh Ly chưa được nhà cầm quyền chấp thuận.
Trong số những người có công vận động nhà cầm quyền cấp giấy phép biểu diễn tại VN cho Khánh Ly, trước hết phải kể đến Nguyễn Công Khế, cựu Tổng biên tập báo Thanh Niên. Ở đây cũng nói thêm, ông Khế là người được em gái của Trịnh Công Sơn, ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, trao lại bản quyền của các tác phẩm nổi tiếng của anh trai mình, trả ơn ông Khế đã cứu chồng thoát án tử hình trong một vụ án. Trong chuyến lưu diễn của Khánh Ly, Nguyễn Công Khế sẽ được công ty Đồng Dao trả một số tiền bản quyền không nhỏ. Tất nhiên để lobby cho Khánh Ly, ông Khế không chỉ múa may bằng tay và nước miếng với các quan chức CS có thẩm quyền. Thế là ơn nghĩa sòng phẳng, có đi có lại, trong sự ràng buộc của cả cuộc chơi.
Với những nghịch lý nêu trên, từ việc nhà cầm quyền CSVN đồng ý cho Khánh Ly về VN biểu diễn, xuất hiện nhiều giả thiết, những ý kiến ủng hộ, chống đối cũng là hiển nhiên.
Giống như các trường hợp của Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Duy, những người đã làm cho rất nhiều người trong cộng đồng tị nạn CS trên thế giới thất vọng, sự có mặt của nghệ sĩ Khánh Ly trên sân khấu tại Việt Nam, mặc nhiên nằm trong mong muốn của nhà cầm quyền CSVN cho chính sách tuyên truyền "đoàn kết dân tộc", "cởi mở" và nghị quyết 36 lừa mị và dối trá.
Khánh Ly về nước đúng vào thời điểm nhà cầm quyền CSVN đang sử dụng bàn tay sắt bóp nghẹt dã man nhất quyền tự do tư tưởng và bày tỏ chính kiến ôn hoà, bằng bản án 39 năm tù và quản chế cho ba bloggers Điều Cày, Tạ Phong Tần, Anh Ba Sài Gòn, trong ngày 24/9 vừa qua. Một đồng nghiệp miền Nam của Khánh Ly, nhạc sĩ Việt Khang, đang ngồi tù chỉ vì viết những khúc ca yêu nước, chống bành trướng xâm lược Trung Quốc và lên án sự đàn áp tàn nhẫn, côn đồ của công an CSVN đối với những người tham gia biểu tình yêu nước. Hơn 150 ngàn chữ ký của cộng đồng người Việt gửi Tổng thống Barack Obama kêu gọi can thiệp trả tự do cho Việt Khang và các nhà tranh đấu dân chủ khác đang bị giam cầm, cũng như lời kêu gọi của chính ông và nhiều chính phủ các nước, của các tổ chức bảo vệ tự do báo chí, nhân quyền, đã chẳng mảy may động lòng trắc ẩn của những tên đao phủ CS Ba Đình.
Lời kết
Trong ngổn ngang của tình, tiền và những nghịch lý, về VN biểu diễn, ca sĩ Khánh Ly phải đối diện với bộ máy kiểm duyệt của chế độ, bên cạnh những mưu đồ, cạm bẫy khó lường khác, chắc chắn không bao giờ Khánh Ly có thể sống và thể hiện như một nghệ sĩ của tự do - nguồn cảm hứng quan trọng nhất của người nghệ sĩ. Tôi chia sẻ tâm tình của Khánh Ly rằng, "nhập gia tuỳ tục", vì chẳng thể nào khác, nhưng muốn hay không, mặc nhiên đây là sự thoả hiệp trên thế yếu, chấp nhận tinh thần tự do, khai phóng của nguời nghệ sĩ bị cầm tù!
Dù thế nào đi nữa, kể cả trên thế yếu, tôi mong rằng, Khánh Ly sẽ cố gắng giữ toàn vẹn hình ảnh của mình, hình ảnh cao đẹp của một biểu tượng văn hoá, nghệ thuật tự do của miền Nam, của Việt Nam Cộng Hoà, một quốc gia tuy không còn trên thực tế, nhưng đã tạo nên đứa con âm nhạc Khánh Ly. Rất nhiều người lính đã hy sinh xương máu cho sự tự do ấy, trong đó có người yêu của Khánh Ly. Nếu khác đi, môt bên sẽ là sự hả hê của những kẻ đã thành công lợi dụng hình ảnh Khánh Ly cho mục đich tuyên truyền bịp bợm, một bên khác là hàng triệu con tim trong cộng đồng người Việt tị nạn CS trên thế giới, đau buồn vì vết thương sau 37 năm chưa lành bị khoét sâu thêm.
Là người của công chúng, Khánh Ly giờ đây không thể thay đổi quá khứ và rũ bỏ nó, càng không thể cho phép bản thân chỉ sống cho riêng mình!
Lucius Seneca, nhà hiền triết La Mã, nghệ sĩ hài đương thời, một tên tuổi lớn của văn học La Mã, đã nói: "Nhiều người quan tâm đến danh tiếng, nhưng ít người chú trọng tới lương tâm".
Hy vọng rằng Khánh Ly sẽ đứng vào số nhiều vế trước và cả số ít vế sau của câu danh ngôn.
Xin cho tôi được bỏ vào hành trang của Khánh Ly lời ca của nhạc phẩm "Ai trở về xứ Việt":
"Ai trở về xứ Việt
Ta gửi về theo một ít tự do
Tự do, tự do và nhiều lắm, nhiều nhớ thương tha thiết
Đến cửa ngục tù chia bớt chút buồn lo"...
Được biết Khánh Ly là tay chơi phé có hạng ở California. Ván bài về VN kỳ này khó khăn và phức tạp hơn hai kỳ trước nhiều. Tôi hy vọng và tin rằng Khánh Ly không để hở bài và sẽ thắng.
Đừng ngộ nhận về bản chất độc ác, dối trá và cách cư xử tráo trở, bạc như vôi của chế độ CS và cũng đừng ảo tưởng về bất kỳ sự thay đổi bản chất nào của nó! Đừng để phạm sai lầm để rồi hối tiếc khi đã ở vào mùa Thu của cuộc đời, ca sĩ Khánh Ly ạ!
Lê Diễn Đức - RFA Blog
Lê Diễn Đức Trước hết khoan vội vã nghĩ về nghĩa bóng với ý xấu nào đó trong tựa đề bài viết của tôi. Những từ ngữ trong tựa đề có vẻ giật gân nhưng tôi chỉ muốn nói tới ngữ nghĩa đen đích thực của nó.
Tình...
Lên đường về Việt Nam (VN), trong hành trang của mình, Khánh Ly mang nặng chữ tình theo nghĩa rộng. Tình yêu quê hương; tình cảm với một quá khứ sống động thời tuổi trẻ ở miền Nam; tình yêu âm nhạc, nghệ thuật; tình cảm dành cho quần chúng hâm mộ trong nước; tình bằng hữu, đồng nghiệp; và những băn khoăn trước thái độ không mấy hài lòng của một bộ phận trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản (CS), mà Kánh Ly là một thành viên không thể tách rời.
Tôi chưa bao giờ có cái nhìn khắt khe với bất kỳ ai từ nước ngoài về thăm VN. Là người Việt ly hương, mong được trở về quê nhà, dù dưới bất kỳ lý do nào, làm ăn hay thăm thân, tôi đều cho là nguyện vọng chính đáng. Điều cần đánh giá là thái độ và việc làm của họ trong thời gian ở VN, cách ứng xử với nhà cầm quyền của chế độ CSVN, một chế độ mà họ đã tự nguyện trốn chạy, muốn đoạn tuyệt, dù đã phải đối diện với nhiều hiểm nguy, mất mát, thậm chí cả mạng sống.
Tôi cũng giữ quan điểm đúng mức, trung dung trong việc các ca sĩ từ nước ngoài về VN biểu diễn hay từ trong nước qua Mỹ, như là chuyện bình thường. Tôi đã chứng kiến người Việt ở Mỹ vui vẻ chào đón các ca sĩ từ miền Bắc qua như Hồng Nhung, Mỹ Linh, Thanh Lam, Thu Hà, Thu Phương, v.v... Một số người cưới vợ, lấy chồng, sống hoà hợp và bình đẳng trong cộng đồng. Những trường hợp bị chống đối dường như rất ít và thường có lý do chính đáng, như Đàm Vĩnh Hưng, hay Hồng Vân. Chỉ khi thật sự đặt mình vào hoàn cảnh của những người căm ghét chế độ CS vì chế độ này đã gây ra bao nhiêu tai ương, tội ác cho họ và thân nhân, hiện vẫn đang tiếp tục chà đạp công lý và quyền tự do ở trong nước, thì mới có thể thông cảm và chia sẻ cho sự chống đối này.
Khánh Ly không phải là người đầu tiên trong giới ca nhạc hải ngoại về VN và chắc chắn không phải là nguời cuối cùng. Trước Khánh Ly đã có Elvis Phương, Hương Lan, Chế Linh, Tuấn Ngọc, v.v... cũng là những ca sĩ đã được nhìn nhận ở đỉnh cao trong làng ca nhạc VN ở nước ngoài.
Khánh Ly thường nói "VN luôn nằm trong trái tim", chân thật và giản dị như với bao người VN khác sống xa đất nước. Trong thâm tâm, tôi mong muốn Khánh Ly bình yên, thanh thản về nước, thực hiện nguyện vọng chờ đợi từ rất lâu của mình và mang tiếng hát về VN cho những người hâm mộ.
Khi nói đến dòng tân nhạc miền Nam trước năm 1975 và của người Việt hải ngoại sau năm 1975, ca sĩ Khanh Lý phải là một trong những người nằm ở vị trí hàng đầu, có thể xem là ca sĩ số một, thể hiện xuất sắc nhất, có hồn nhất các nhạc phẩm của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Khánh Ly không chỉ nổi tiếng với người miền Nam trước và sau năm 1975, mà tên tuổi và giọng ca của Khánh Ly đã vượt không gian, thời gian đến với hàng triệu người miền Bắc yêu thích các ca khúc trữ tình, những "bài hát da vàng" của dòng nhạc Trịnh.
Bỏ qua mọi định kiến, yêu, ghét, khó ai phủ nhận được Trịnh Công Sơn là khuôn mặt tài năng nổi bật trong di sản âm nhạc hiện đại của Việt Nam. Nếu toàn bộ tác phẩm của ông là đứa con nghệ thuật, thì Khánh Ly, có thể nói, do duyên phận và định mệnh, là một nửa cơ thể của đứa con tinh thần và nghệ thuật đó.
Hạnh phúc nhất của nguời nghệ sĩ chính là lòng mến mộ và quý trọng của đông đảo công chúng. Tôi không nhìn qua lăng kính chính trị hẹp hòi để đồng nghĩa chuyến lưu diễn của Khánh Ly tại VN với cách suy diễn dễ dãi, thiếu thiện chí như là sự phục vụ, hát cho chế độ CS nghe. Trong hoàn cảnh nào người nghệ sĩ cũng hạnh phúc khi thấy tiếng hát của mình có ý nghĩa cho cuộc sống, tài năng nghệ thuật có cơ hội thể hiện, cống hiến cho những người ái mộ, dù chỉ là một số nào đó trong những hoàn cảnh nghiệt ngã.
Công chúng hôm nay đến với Khánh Ly dường như chắc chắn không phải đến với giọng ca của một nữ ca sĩ đã ở tuổi 67. Họ đến với Khánh Ly trong con người bằng da bằng thịt, trong hình ảnh của huyền thoại "Nữ hoàng chân đất", "Nữ hoàng sân cỏ" với chất giọng trời cho "không giống ai", "giọng ca thật như nói", truyền cảm đặc sắc tâm tư của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua những nhạc phẩm của ông.
Tôi tin rằng, từ Sài Gòn, Đà Nẵng, tới Hà Nội, bằng những lời ngợi khen công khai của số ít, hoặc bằng suy nghĩ của số đông thầm lặng, nhưng với tất cả công chúng, Khánh Ly là đứa con của miền Nam, là biểu tượng của một nền văn hoá và âm nhạc tự do của Việt Nam Cộng Hoà, mà nếu không có nó, sẽ đồng nghĩa với không có nghệ sĩ Khánh Ly nổi tiếng hôm nay. Nó cũng tương tự như hình ảnh của Phó thủ tướng Đức Philipp Rösler. Nếu không được trưởng thành và hưởng một nền giáo dục tốt đẹp của nước Đức dân chủ tự do, trong chế độ CSVN một cậu bé mồ côi sẽ khó vượt qua được thân phận của "con sãi ở chùa lại quét lá đa".
Một hình ảnh đẹp và tự hào như thế của Việt Nam Cộng Hoà, trước công chúng, ngay trong lòng chế độ CS, giữa Hà Nội và Sài Gòn, há chằng phải là tuyệt vời sao!
Nếu không về lúc này, khi còn có thể hát, nguyện vọng của Khánh Ly trở lại hát trên quê nhà sẽ thui chột tỷ lệ nghịch với sự tăng lên của tuổi tác, là điều đáng tiếc cho cuộc đời của một nghệ sĩ tài hoa. Ca sĩ Thanh Tuyền cũng đã nói: “Khánh Ly đã 67 tuổi rồi. Cũng mong được về nước để hát trên mảnh đất quê hương mình. Chị ấy muốn về trước khi quá muộn”- (Giaoducnet.vn).
Tiền...
Có người vội vã nhận định về chuyến lưu diễn của Khánh Ly tại Việt Nam: "Money first!".
Tôi được biết, tour diễn của Khánh Ly sẽ được công ty Đồng Dao trả tiền cát-xê rất cao. Ngoài bao ăn ở đi lại, mỗi show của Khánh Ly được trả 20 ngàn đôla. Cho cả tour diễn tại Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn, Khánh Ly sẽ thu được từ 100 ngàn tới 200 ngàn đôla, phụ thuộc vào số lượng show lớn nhỏ có thể thực hiện. Với mặt bằng cát-xê chung hiện nay, Khánh Ly nằm mơ không có được một số tiền lớn như thế ở Mỹ trên sàn diễn. Nó không chỉ hấp dẫn mạnh mẽ với Khánh Ly, một người không phải thuộc giới giàu có, mà với tất cả.
Khi đồng ý chi một số tiền lớn như trên, công ty Đồng Dao, nhà tổ chức, hẳn đã phải tính toán rất kỹ thành quả từ show diễn của Khánh Ly, ý thức rất rõ ca sĩ Khánh Ly sẽ cuốn hút số lượng người xem như thế nào. Số tiền lớn này có sức mạnh cám dỗ là đương nhiên. Có ai không thích tiền? Nhưng Khánh Ly hoàn toàn xứng đáng nhận nó, vì nó là thành quả lao động nghệ thuật mà Khánh Ly đã phải làm việc miệt mài và tích luỹ trong suốt 50 năm qua.
Cho nên, nếu nói "Money first!". Câu trả lời là: "Thì đã sao, why not!". Đồng tiền kiếm được bằng lao động lương thiện và minh bạch, thì có gì phải lăn tăn!
Nghịch lý...
Nhưng tất cả xem ra không đơn giản trong hỗn mang của các nghịch lý.
Trước hết phải nhìn nhận Khánh Ly là "persona non grata" của chế độ CSVN.
Khánh Ly đã hai lần bỏ chạy khỏi chế độ CS, lần đầu lúc còn bé theo gia đình vào Nam năm 1954, khi CSVN cai trị ở miền Bắc, và lần thứ hai di tản qua Mỹ, năm 1975, sau khi Sài Gòn bị thất thủ và CSVN cai trị trên cả nước.
Tâm trạng của Khánh Ly trong hai lần chạy trốn chế độ CS có thể mô tả qua nhạc phẩm "Xin đời một nụ cười" của nhạc sĩ Nam Lộc:
"Tôi bước đi
Vì không muốn làm kẻ tội đồ,
Vì tôi muốn lại kiếp con người
Muốn cuộc đời có những nụ cười
Tự Do ơi, Tự Do, em đổi bằng thân xác
Vì hai chữ Tự Do ta mang đời lưu vong"...
Trong thời gian sống ở Mỹ, Khánh Ly đã tham gia rất nhiều chương trình văn nghệ chống cộng của hội đoàn người Việt. Với những nhạc phẩm "Đêm Việt Nam" của Hà Thúc Sinh, "Ai trở về xứ Việt" của Phan Văn Hưng, "Đêm Chôn Dầu Vượt Biển"của Châu Đình An, "Hát trên những xác người" của Trịnh công Sơn, v.v... Khánh Ly không làm nhà cầm quyền căm ghét mới là lạ.
Khánh Ly cũng đã từng tuyên bố "Tôi chỉ về khi không còn chế độ cộng sản nữa mà thôi”, theo tờ "Giaoducnet.vn" ngày 7/8/2012 trong bài "Sự tráo trở của Khánh Ly".
Lời tuyên bố của Khánh Ly rồi cũng nhạt nhoà theo những đổi thay và các biến động của thời gian. Khánh Ly đã về VN hai lần trong năm 1996 và 2000, về chơi thăm thú, chứ không phải về biểu diễn. Nhưng Khánh Ly duờng như bị "cấm cung" tại Đệ Nhất Khách Sạn, quận Tân Bình, gần sân bay Tân Sơn Nhất, đi lại bị an ninh theo dõi, kiểm soát ngặt nghèo.
Cuối năm 1994, nhân chuyến lưu diễn Âu châu của các ca sĩ hải ngoại, trong đó Khánh Ly là nhân vật trung tâm, những bạn hữu tổ chức ở Đức đã phối hợp với chúng tôi ở Ba Lan, lần đầu tiên mời đoàn qua Ba Lan. Đại sứ quán CSVN tại Ba Lan lúc ấy đã ra chỉ thị cấm nghiên cứu sinh, đảng viên đi xem. Chúng tôi thuê Cung Văn hoá làm nơi biểu diễn, nằm ở trung tâm thủ đô Warsaw, thời cộng sản là nơi tổ chức các đại hội đảng hoặc hội nghị nhà nước. Cung Văn hoá chứa được khoảng ba nghìn chỗ ngồi hôm ấy kín hết. Bất chấp lệnh cấm của toà đại sứ quán CSVN, tôi nhìn thấy một số nghiên cứu sinh quen biết ngồi trong đám đông. Còn cộng đồng người Việt tại Ba Lan đã dành cho các ca sĩ hải ngoại sự chào đón nồng ấm lạ thường. Khánh Ly nói chưa bao giờ được hát trên một sân khấu sang trọng như thế. Khánh Ly bị khán thính giả cuồng nhiệt "hành hạ" hát theo yêu cầu liên tiếp và tặng không biết cơ man nào là hoa, đến mức ba quầy bán hoa tại chỗ hết sạch, chúng tôi đã phải chạy ra ngoài tìm nguồn cung cấp thêm.
Sự kiện này cho thấy nhà cầm quyền CSVN không ưa thích Khánh Ly không chỉ trong nước mà còn vượt ra cả ngoài biên giới VN. Nhưng bên cạnh đó cho thấy dân miền Bắc cũng rất ái mộ ca sĩ này, bỏ qua mọi khác biệt về môi trường sống và nhãn quan chính trị.
Sự chuẩn bị cho cuộc hành trình về VN lần này chẳng mấy dễ dàng. Nguyện vọng của Khánh Ly về VN biểu diễn được nói đến gần hai năm nay. Lẽ ra nếu "cơm lành canh ngọt", Khánh Ly đã có thể về cùng chuyến với ca sĩ Chế Linh hồi cuối năm 2011, nhưng Khánh Ly chưa được nhà cầm quyền chấp thuận.
Trong số những người có công vận động nhà cầm quyền cấp giấy phép biểu diễn tại VN cho Khánh Ly, trước hết phải kể đến Nguyễn Công Khế, cựu Tổng biên tập báo Thanh Niên. Ở đây cũng nói thêm, ông Khế là người được em gái của Trịnh Công Sơn, ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, trao lại bản quyền của các tác phẩm nổi tiếng của anh trai mình, trả ơn ông Khế đã cứu chồng thoát án tử hình trong một vụ án. Trong chuyến lưu diễn của Khánh Ly, Nguyễn Công Khế sẽ được công ty Đồng Dao trả một số tiền bản quyền không nhỏ. Tất nhiên để lobby cho Khánh Ly, ông Khế không chỉ múa may bằng tay và nước miếng với các quan chức CS có thẩm quyền. Thế là ơn nghĩa sòng phẳng, có đi có lại, trong sự ràng buộc của cả cuộc chơi.
Với những nghịch lý nêu trên, từ việc nhà cầm quyền CSVN đồng ý cho Khánh Ly về VN biểu diễn, xuất hiện nhiều giả thiết, những ý kiến ủng hộ, chống đối cũng là hiển nhiên.
Giống như các trường hợp của Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Duy, những người đã làm cho rất nhiều người trong cộng đồng tị nạn CS trên thế giới thất vọng, sự có mặt của nghệ sĩ Khánh Ly trên sân khấu tại Việt Nam, mặc nhiên nằm trong mong muốn của nhà cầm quyền CSVN cho chính sách tuyên truyền "đoàn kết dân tộc", "cởi mở" và nghị quyết 36 lừa mị và dối trá.
Khánh Ly về nước đúng vào thời điểm nhà cầm quyền CSVN đang sử dụng bàn tay sắt bóp nghẹt dã man nhất quyền tự do tư tưởng và bày tỏ chính kiến ôn hoà, bằng bản án 39 năm tù và quản chế cho ba bloggers Điều Cày, Tạ Phong Tần, Anh Ba Sài Gòn, trong ngày 24/9 vừa qua. Một đồng nghiệp miền Nam của Khánh Ly, nhạc sĩ Việt Khang, đang ngồi tù chỉ vì viết những khúc ca yêu nước, chống bành trướng xâm lược Trung Quốc và lên án sự đàn áp tàn nhẫn, côn đồ của công an CSVN đối với những người tham gia biểu tình yêu nước. Hơn 150 ngàn chữ ký của cộng đồng người Việt gửi Tổng thống Barack Obama kêu gọi can thiệp trả tự do cho Việt Khang và các nhà tranh đấu dân chủ khác đang bị giam cầm, cũng như lời kêu gọi của chính ông và nhiều chính phủ các nước, của các tổ chức bảo vệ tự do báo chí, nhân quyền, đã chẳng mảy may động lòng trắc ẩn của những tên đao phủ CS Ba Đình.
Lời kết
Trong ngổn ngang của tình, tiền và những nghịch lý, về VN biểu diễn, ca sĩ Khánh Ly phải đối diện với bộ máy kiểm duyệt của chế độ, bên cạnh những mưu đồ, cạm bẫy khó lường khác, chắc chắn không bao giờ Khánh Ly có thể sống và thể hiện như một nghệ sĩ của tự do - nguồn cảm hứng quan trọng nhất của người nghệ sĩ. Tôi chia sẻ tâm tình của Khánh Ly rằng, "nhập gia tuỳ tục", vì chẳng thể nào khác, nhưng muốn hay không, mặc nhiên đây là sự thoả hiệp trên thế yếu, chấp nhận tinh thần tự do, khai phóng của nguời nghệ sĩ bị cầm tù!
Dù thế nào đi nữa, kể cả trên thế yếu, tôi mong rằng, Khánh Ly sẽ cố gắng giữ toàn vẹn hình ảnh của mình, hình ảnh cao đẹp của một biểu tượng văn hoá, nghệ thuật tự do của miền Nam, của Việt Nam Cộng Hoà, một quốc gia tuy không còn trên thực tế, nhưng đã tạo nên đứa con âm nhạc Khánh Ly. Rất nhiều người lính đã hy sinh xương máu cho sự tự do ấy, trong đó có người yêu của Khánh Ly. Nếu khác đi, môt bên sẽ là sự hả hê của những kẻ đã thành công lợi dụng hình ảnh Khánh Ly cho mục đich tuyên truyền bịp bợm, một bên khác là hàng triệu con tim trong cộng đồng người Việt tị nạn CS trên thế giới, đau buồn vì vết thương sau 37 năm chưa lành bị khoét sâu thêm.
Là người của công chúng, Khánh Ly giờ đây không thể thay đổi quá khứ và rũ bỏ nó, càng không thể cho phép bản thân chỉ sống cho riêng mình!
Lucius Seneca, nhà hiền triết La Mã, nghệ sĩ hài đương thời, một tên tuổi lớn của văn học La Mã, đã nói: "Nhiều người quan tâm đến danh tiếng, nhưng ít người chú trọng tới lương tâm".
Hy vọng rằng Khánh Ly sẽ đứng vào số nhiều vế trước và cả số ít vế sau của câu danh ngôn.
Xin cho tôi được bỏ vào hành trang của Khánh Ly lời ca của nhạc phẩm "Ai trở về xứ Việt":
"Ai trở về xứ Việt
Ta gửi về theo một ít tự do
Tự do, tự do và nhiều lắm, nhiều nhớ thương tha thiết
Đến cửa ngục tù chia bớt chút buồn lo"...
Được biết Khánh Ly là tay chơi phé có hạng ở California. Ván bài về VN kỳ này khó khăn và phức tạp hơn hai kỳ trước nhiều. Tôi hy vọng và tin rằng Khánh Ly không để hở bài và sẽ thắng.
Đừng ngộ nhận về bản chất độc ác, dối trá và cách cư xử tráo trở, bạc như vôi của chế độ CS và cũng đừng ảo tưởng về bất kỳ sự thay đổi bản chất nào của nó! Đừng để phạm sai lầm để rồi hối tiếc khi đã ở vào mùa Thu của cuộc đời, ca sĩ Khánh Ly ạ!
Lê Diễn Đức - RFA Blog
Putin đề cao CIA
Ngô Nhân Dụng Khi đọc hàng chữ này trên Người Việt Online, xin bạn đọc hết sức thận trọng, đề cao cảnh giác. CIA đang theo dõi quý vị. Họ có thể nhìn từng hàng chữ quý vị đang đọc, biết rõ quý vị đọc bài báo trong bao nhiêu phút, đã ngưng lại đi đâu đó mấy lần, vân vân. Chính ký giả này cũng không biết CIA có âm mưu như vậy, cho tới khi nghe lời tiết lộ của ông Vladimir Putin, tổng thống Cộng Hòa Nga.
Ngày hôm qua, Ngân Hàng Trung Ương Nga tăng lãi suất lần nữa, kể từ khi Nga chiếm Crimea đến giờ lãi suất căn bản đã tăng từ 5.5% lên 7.5% (lãi suất đó ở Mỹ và khối Tây Âu vẫn chỉ trên dưới 2%). Mục đích của việc này là bảo vệ giá trị đồng Rúp, vì đồng tiền Nga đã mất giá 10% kể từ Tháng Ba đến nay. Công ty Standard & Poor's hạ thấp điểm tín nhiệm của nước Nga xuống một cấp, tức là Nga sẽ khó vay nợ nước ngoài hơn. Nhưng ông Putin không nói gì về tình trạng kinh tế nước ông đang trên đà suy thoái. Ông lại dành thời giờ báo tin rằng tất cả mạng lưới Internet nối các máy vi tính trên khắp thế giới là một chương trình của CIA, Cơ quan Tình báo Trung ương của chính phủ Mỹ. Bài nói chuyện với cho một số nhà báo trẻ được chiếu trên ti vi ở Nga. Ðóng vai một ông bác dạy dỗ các ký giả còn non dại, ông Putin nói: “Ðời là thế đấy. Bọn Mỹ như thế đấy. Các cháu cũng biết rồi, từ lúc bắt đầu Internet là một dự án đặc biệt của CIA. Chúng vẫn tiếp tục mở rộng nó ra thêm...” Ông Putin cảnh cáo những ai vào Google tìm thông tin và tài liệu: “Tất cả đều đi qua những ‘máy chuyển’ (servers) nằm ở nước Mỹ; làm cái gì cũng bị chúng theo dõi hết.”
Ðiều ông Putin tiết lộ sẽ không chỉ áp dụng cho mạng Google của Mỹ, mà cho cả Baidu, phổ thông nhất trong giới công dân mạng Trung Quốc, và Yandex, mạng tìm kiếm được 60% người Nga dùng. Dù phát xuất từ nước nào, cả ba mạng “máy tìm kiếm” trên và những mozbot hay Qwant ở Pháp, đều đi qua Internet cả. Nghĩa là ai vô trong đó đều bị CIA theo dõi từng bước, từng cái nháy, cái bấm. Thí dụ, có ngày mở email của mình ra, bạn thấy có người gửi cho một “điểm nối” (link) lạ. Vô tình bạn bấm vào, thấy trong đó toàn hình ảnh khiêu dâm. Bạn tắt nó ngay, nhưng nó cứ bám chặt không dứt ra được; có khi phải tắt máy, bắt đầu lại. Trong mấy phút đó, bọn CIA chúng đều theo dõi và biết hết! Kể từ đó, lâu lâu bạn mở Internet ra lại thấy hiện lên những quảng cáo phim cấm trẻ em dưới 9 tuổi, mời vào coi, miễn phí! Có khi còn quảng cáo hình các cô gái (hoặc cậu trai) sẵn sàng chia sẻ tâm tình với bạn và “phục vụ từ A đến Z,” cho biết địa chỉ các cô ở ngay trong vùng bạn ở, trong vòng 30 cây số! Làm sao họ biết nhà mình ở đâu và mình đang thích coi cái gì? Theo ông Putin, đó là cả một âm mưu to lớn của CIA!
Ông Putin chỉ nói nhầm một điều. Internet không do CIA khai sinh, mà do sáng kiến của các nhà khoa học ở các đại học như UCLA, Stanford, và Berkerley. Mà những người này đều ký hợp đồng với Bộ Quốc Phòng Mỹ chứ không phải CIA, hai cái đó khác nhau và thường xuyên tranh giành nhau cùng một ngân sách. Lúc đầu, họ chỉ, tìm cách làm sao cho các máy vi tính có thể liên lạc với nhau để trao đổi các sáng kiến kỹ thuật nhanh chóng hơn việc gửi thư. Cho đến ngày, có người chợt nghĩ ra có thể dùng mạng lưới này để gửi thư tình, lúc đó mới thấy hệ thống này có thể được thương mại hóa, kiếm ra tiền! Sáng kiến bày ra “World Wide Web” làm nảy sinh ra phong trào sử dụng Internet toàn thế giới cũng không bắt đầu ở Mỹ, mà ở Thụy Sĩ, một nước trung lập chưa bị Mỹ đô hộ ngày nào. Nhưng các nhà báo trẻ ở Nga chắc không để ý chi tiết đó. Họ có thể chỉ nghe và tin tưởng khi bác Putin giải thích lý do tại sao sắp đặt thêm rào cản trên hệ thống tìm kiếm Yandex; giống như các bác ở Bắc Kinh đang thắt chặt vòng kiểm soát trên Baidu và Wibo.
Nhưng lời cảnh báo của ông Vladimir Putin sẽ tạo một tác dụng quan trọng trên nước Mỹ. Nó tăng thêm mầu sắc cho huyền thoại về Cơ quan Tình báo Trung ương; trong lúc chính dân chúng và Mỹ đang thất vọng về khả năng của CIA. Giới chính trị ở Washington đã than rằng CIA chỉ tiêu phí tiền mà chẳng được tích sự gì cả. Những biến cố lớn nhất trên thế giới, sau khi xảy ra người ta mới biết CIA hoàn toàn không biết. Thí dụ, năm 1978, CIA vẫn tin rằng nước Iran còn nằm trong tay ông “Sa hoàng” vĩnh viễn, năm sau thì dân chúng Iran theo ông Khomenei lật đổ nhà vua. Cho tới khi cả khối cộng sản Ðông Âu rồi Liên Xô sụp đổ, CIA vẫn cung cấp cho chính quyền Mỹ một hình ảnh nước Nga mạnh mẽ, hùng cường! Năm 1991, trước khi quân Mỹ sang giải phóng Kuwait, CIA báo trước đạo quân của ông Saddam Hussein rất mạnh, ít nhất 600,000 người, hỏa lực hùng hậu, với hàng ngàn xe thiết giáp, và các đội cao xạ bắn máy bay và hỏa tiễn SCUD có mặt khắp nơi, bảo vệ cả bầu trời. Quân đội Mỹ đã vội vã đi đặt hàng 30,000 cái túi ni lông để chở thi hài binh sĩ tử trận; trước khi cuộc chiến chấm dứt đã có 15,000 cái túi được trao hàng. Như sách vở đã ghi lại, trong cả cuộc chiến Iraq năm 1991, chỉ có 390 quân nhân Mỹ tử trận, và 458 người bị thương.
Trong hành động, tình báo CIA còn nuôi ong tay áo trong thời gian quân Nga chiếm đóng Afghanistan. Trong hàng chục năm, họ giúp các toán quân kháng chiến Afghanistan đánh Nga; nhưng chính những người được họ giúp đã huấn luyện hàng chục ngàn “cảm tử quân” sau này quay lại đánh bom các tòa đại sứ Mỹ, rồi khủng bố ngay tại nước Mỹ. CIA đưa 2,300 hỏa tiễn nhỏ Stingers sang cho quân du kích có thể đeo trên vai mà bắn máy bay Nga. Sau khi quân Nga rút về nước, CIA biết vẫn còn 600 chiếc chắc chắn chưa dùng, đang giấu kín đâu đó. Phải làm một kế hoạch “mua lại.” Nhân viên CIA đi tìm mua, với giá từ 75,000 đến 150,000 đô la một chiếc Stinger, gây ra cả một “chợ đen” mua hỏa tiễn Stingers để bán lại. Nhưng khi gặp các thủ lãnh Taliban, họ từ chối không bán! Chắc bây giờ Taliban vẫn còn giữ nhiều hỏa tiễn!
Một thất bại gần đây nhất của CIA là không biết trước một chút nào về hiện tượng “Mùa Xuân Á Rập” bắt đầu từ Tunisie rồi lan sang Ai Cập. Mà các thanh niên phát động cuộc cách mạng này đều liên lạc với nhau và tổ chức các cuộc biểu tình bằng Facebook bằng Twitter, kể cả các máy điện thoại di động; và tất cả đều chuyển qua mạng Internet! Nếu CIA làm chủ cả hệ thống Internet trên thế giới, tại sao họ không biết trước?
Ông Vladimir Putin chắc chắn biết khả năng của CIA trong việc sử dụng Internet như thế nào; vì chính ông đang chứa chấp Edward Snowden, một người đã đánh cắp bao nhiêu tài liệu mật của chính phủ Mỹ! Một cá nhân Edward Snowden cũng chứng tỏ “huyền thoại CIA” nghe thì lớn lắm nhưng sự thật khả năng rất khiêm tốn! Trong khi những người thành lập các công ty eBay, Facebook, Amazon kiếm hàng tỉ bạc nhờ Internet, thì chính CIA chẳng được hưởng đồng nào; thế mà ông Putin vẫn quảng cáo cho họ!
Cuối cùng sau khi ông Putin tiết lộ CIA làm trùm Internet, ai được lợi nhất? Chắc là chính cơ quan CIA. Trong mấy chục năm qua, họ liên tiếp bị Quốc Hội Mỹ cắt bớt ngân sách. Có đại biểu Quốc Hội còn đề nghị xóa bỏ cơ quan cơ quan tình báo dân sự Mỹ này, vì không cần thiết. Ông Putin đã đề cao CIA, coi như là nơi bắt đầu cuộc cách mạng Internet. Ông còn coi tất cả các phát minh sáng kiến sau đó đều do CIA đóng vai chủ động. Chắc ông muốn kể tên Facebook, Youtube, Google, và hàng trăm ngàn áp dụng khác dùng Internet trên các máy điện di động. Tất cả đều được ông Putin ghi công cho CIA hết! Ðó là ông chưa nhắc tới việc sử dụng GPS, hệ thống bản đồ tìm đường qua vệ tinh nhân tạo! Ngày xưa chỉ có các điệp viên mới có một cái máy như vậy trong tay. Bây giờ, cứ đi mua xe hơi là người ta hỏi có muốn gắn GPS luôn trong đó hay không!
Sau những lời quảng cáo cho CIA của Tổng Thống Vladimir Putin, năm nay chắc Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ hy vọng sẽ được Quốc Hội Mỹ tăng ngân sách. Ðối với họ, đó mới là chuyện quan trọng nhất.
Ngô Nhân Dụng Khi đọc hàng chữ này trên Người Việt Online, xin bạn đọc hết sức thận trọng, đề cao cảnh giác. CIA đang theo dõi quý vị. Họ có thể nhìn từng hàng chữ quý vị đang đọc, biết rõ quý vị đọc bài báo trong bao nhiêu phút, đã ngưng lại đi đâu đó mấy lần, vân vân. Chính ký giả này cũng không biết CIA có âm mưu như vậy, cho tới khi nghe lời tiết lộ của ông Vladimir Putin, tổng thống Cộng Hòa Nga.
Ngày hôm qua, Ngân Hàng Trung Ương Nga tăng lãi suất lần nữa, kể từ khi Nga chiếm Crimea đến giờ lãi suất căn bản đã tăng từ 5.5% lên 7.5% (lãi suất đó ở Mỹ và khối Tây Âu vẫn chỉ trên dưới 2%). Mục đích của việc này là bảo vệ giá trị đồng Rúp, vì đồng tiền Nga đã mất giá 10% kể từ Tháng Ba đến nay. Công ty Standard & Poor's hạ thấp điểm tín nhiệm của nước Nga xuống một cấp, tức là Nga sẽ khó vay nợ nước ngoài hơn. Nhưng ông Putin không nói gì về tình trạng kinh tế nước ông đang trên đà suy thoái. Ông lại dành thời giờ báo tin rằng tất cả mạng lưới Internet nối các máy vi tính trên khắp thế giới là một chương trình của CIA, Cơ quan Tình báo Trung ương của chính phủ Mỹ. Bài nói chuyện với cho một số nhà báo trẻ được chiếu trên ti vi ở Nga. Ðóng vai một ông bác dạy dỗ các ký giả còn non dại, ông Putin nói: “Ðời là thế đấy. Bọn Mỹ như thế đấy. Các cháu cũng biết rồi, từ lúc bắt đầu Internet là một dự án đặc biệt của CIA. Chúng vẫn tiếp tục mở rộng nó ra thêm...” Ông Putin cảnh cáo những ai vào Google tìm thông tin và tài liệu: “Tất cả đều đi qua những ‘máy chuyển’ (servers) nằm ở nước Mỹ; làm cái gì cũng bị chúng theo dõi hết.”
Ðiều ông Putin tiết lộ sẽ không chỉ áp dụng cho mạng Google của Mỹ, mà cho cả Baidu, phổ thông nhất trong giới công dân mạng Trung Quốc, và Yandex, mạng tìm kiếm được 60% người Nga dùng. Dù phát xuất từ nước nào, cả ba mạng “máy tìm kiếm” trên và những mozbot hay Qwant ở Pháp, đều đi qua Internet cả. Nghĩa là ai vô trong đó đều bị CIA theo dõi từng bước, từng cái nháy, cái bấm. Thí dụ, có ngày mở email của mình ra, bạn thấy có người gửi cho một “điểm nối” (link) lạ. Vô tình bạn bấm vào, thấy trong đó toàn hình ảnh khiêu dâm. Bạn tắt nó ngay, nhưng nó cứ bám chặt không dứt ra được; có khi phải tắt máy, bắt đầu lại. Trong mấy phút đó, bọn CIA chúng đều theo dõi và biết hết! Kể từ đó, lâu lâu bạn mở Internet ra lại thấy hiện lên những quảng cáo phim cấm trẻ em dưới 9 tuổi, mời vào coi, miễn phí! Có khi còn quảng cáo hình các cô gái (hoặc cậu trai) sẵn sàng chia sẻ tâm tình với bạn và “phục vụ từ A đến Z,” cho biết địa chỉ các cô ở ngay trong vùng bạn ở, trong vòng 30 cây số! Làm sao họ biết nhà mình ở đâu và mình đang thích coi cái gì? Theo ông Putin, đó là cả một âm mưu to lớn của CIA!
Ông Putin chỉ nói nhầm một điều. Internet không do CIA khai sinh, mà do sáng kiến của các nhà khoa học ở các đại học như UCLA, Stanford, và Berkerley. Mà những người này đều ký hợp đồng với Bộ Quốc Phòng Mỹ chứ không phải CIA, hai cái đó khác nhau và thường xuyên tranh giành nhau cùng một ngân sách. Lúc đầu, họ chỉ, tìm cách làm sao cho các máy vi tính có thể liên lạc với nhau để trao đổi các sáng kiến kỹ thuật nhanh chóng hơn việc gửi thư. Cho đến ngày, có người chợt nghĩ ra có thể dùng mạng lưới này để gửi thư tình, lúc đó mới thấy hệ thống này có thể được thương mại hóa, kiếm ra tiền! Sáng kiến bày ra “World Wide Web” làm nảy sinh ra phong trào sử dụng Internet toàn thế giới cũng không bắt đầu ở Mỹ, mà ở Thụy Sĩ, một nước trung lập chưa bị Mỹ đô hộ ngày nào. Nhưng các nhà báo trẻ ở Nga chắc không để ý chi tiết đó. Họ có thể chỉ nghe và tin tưởng khi bác Putin giải thích lý do tại sao sắp đặt thêm rào cản trên hệ thống tìm kiếm Yandex; giống như các bác ở Bắc Kinh đang thắt chặt vòng kiểm soát trên Baidu và Wibo.
Nhưng lời cảnh báo của ông Vladimir Putin sẽ tạo một tác dụng quan trọng trên nước Mỹ. Nó tăng thêm mầu sắc cho huyền thoại về Cơ quan Tình báo Trung ương; trong lúc chính dân chúng và Mỹ đang thất vọng về khả năng của CIA. Giới chính trị ở Washington đã than rằng CIA chỉ tiêu phí tiền mà chẳng được tích sự gì cả. Những biến cố lớn nhất trên thế giới, sau khi xảy ra người ta mới biết CIA hoàn toàn không biết. Thí dụ, năm 1978, CIA vẫn tin rằng nước Iran còn nằm trong tay ông “Sa hoàng” vĩnh viễn, năm sau thì dân chúng Iran theo ông Khomenei lật đổ nhà vua. Cho tới khi cả khối cộng sản Ðông Âu rồi Liên Xô sụp đổ, CIA vẫn cung cấp cho chính quyền Mỹ một hình ảnh nước Nga mạnh mẽ, hùng cường! Năm 1991, trước khi quân Mỹ sang giải phóng Kuwait, CIA báo trước đạo quân của ông Saddam Hussein rất mạnh, ít nhất 600,000 người, hỏa lực hùng hậu, với hàng ngàn xe thiết giáp, và các đội cao xạ bắn máy bay và hỏa tiễn SCUD có mặt khắp nơi, bảo vệ cả bầu trời. Quân đội Mỹ đã vội vã đi đặt hàng 30,000 cái túi ni lông để chở thi hài binh sĩ tử trận; trước khi cuộc chiến chấm dứt đã có 15,000 cái túi được trao hàng. Như sách vở đã ghi lại, trong cả cuộc chiến Iraq năm 1991, chỉ có 390 quân nhân Mỹ tử trận, và 458 người bị thương.
Trong hành động, tình báo CIA còn nuôi ong tay áo trong thời gian quân Nga chiếm đóng Afghanistan. Trong hàng chục năm, họ giúp các toán quân kháng chiến Afghanistan đánh Nga; nhưng chính những người được họ giúp đã huấn luyện hàng chục ngàn “cảm tử quân” sau này quay lại đánh bom các tòa đại sứ Mỹ, rồi khủng bố ngay tại nước Mỹ. CIA đưa 2,300 hỏa tiễn nhỏ Stingers sang cho quân du kích có thể đeo trên vai mà bắn máy bay Nga. Sau khi quân Nga rút về nước, CIA biết vẫn còn 600 chiếc chắc chắn chưa dùng, đang giấu kín đâu đó. Phải làm một kế hoạch “mua lại.” Nhân viên CIA đi tìm mua, với giá từ 75,000 đến 150,000 đô la một chiếc Stinger, gây ra cả một “chợ đen” mua hỏa tiễn Stingers để bán lại. Nhưng khi gặp các thủ lãnh Taliban, họ từ chối không bán! Chắc bây giờ Taliban vẫn còn giữ nhiều hỏa tiễn!
Một thất bại gần đây nhất của CIA là không biết trước một chút nào về hiện tượng “Mùa Xuân Á Rập” bắt đầu từ Tunisie rồi lan sang Ai Cập. Mà các thanh niên phát động cuộc cách mạng này đều liên lạc với nhau và tổ chức các cuộc biểu tình bằng Facebook bằng Twitter, kể cả các máy điện thoại di động; và tất cả đều chuyển qua mạng Internet! Nếu CIA làm chủ cả hệ thống Internet trên thế giới, tại sao họ không biết trước?
Ông Vladimir Putin chắc chắn biết khả năng của CIA trong việc sử dụng Internet như thế nào; vì chính ông đang chứa chấp Edward Snowden, một người đã đánh cắp bao nhiêu tài liệu mật của chính phủ Mỹ! Một cá nhân Edward Snowden cũng chứng tỏ “huyền thoại CIA” nghe thì lớn lắm nhưng sự thật khả năng rất khiêm tốn! Trong khi những người thành lập các công ty eBay, Facebook, Amazon kiếm hàng tỉ bạc nhờ Internet, thì chính CIA chẳng được hưởng đồng nào; thế mà ông Putin vẫn quảng cáo cho họ!
Cuối cùng sau khi ông Putin tiết lộ CIA làm trùm Internet, ai được lợi nhất? Chắc là chính cơ quan CIA. Trong mấy chục năm qua, họ liên tiếp bị Quốc Hội Mỹ cắt bớt ngân sách. Có đại biểu Quốc Hội còn đề nghị xóa bỏ cơ quan cơ quan tình báo dân sự Mỹ này, vì không cần thiết. Ông Putin đã đề cao CIA, coi như là nơi bắt đầu cuộc cách mạng Internet. Ông còn coi tất cả các phát minh sáng kiến sau đó đều do CIA đóng vai chủ động. Chắc ông muốn kể tên Facebook, Youtube, Google, và hàng trăm ngàn áp dụng khác dùng Internet trên các máy điện di động. Tất cả đều được ông Putin ghi công cho CIA hết! Ðó là ông chưa nhắc tới việc sử dụng GPS, hệ thống bản đồ tìm đường qua vệ tinh nhân tạo! Ngày xưa chỉ có các điệp viên mới có một cái máy như vậy trong tay. Bây giờ, cứ đi mua xe hơi là người ta hỏi có muốn gắn GPS luôn trong đó hay không!
Sau những lời quảng cáo cho CIA của Tổng Thống Vladimir Putin, năm nay chắc Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ hy vọng sẽ được Quốc Hội Mỹ tăng ngân sách. Ðối với họ, đó mới là chuyện quan trọng nhất.

