Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

Biển cảnh báo trộm cắp in cờ CS Việt Nam tại Nhật

Biển cảnh báo được ghi hẳn bằng tiếng Việt cùng một dòng chữ tiếng Nhật với nội dung: Trộm cắp, Stop. Lao động là vinh quang.
Không những vậy, trên tấm biển này còn vẽ hẳn lá cờ đỏ sao vàng, quốc kỳ Việt Nam

Thông tin trực tiếp từ một bạn học viên KYODAI tại Nhật Bản...

Sáng nay, một biển báo mới được dán tại khuôn viên Học viện Matsuyama, thành phố Matsudo, Chiba.

Biển cảnh báo được ghi hẳn bằng tiếng Việt cùng một dòng chữ tiếng Nhật với nội dung: Trộm cắp, Stop. Lao động là vinh quang.
Không những vậy, trên tấm biển này còn vẽ hẳn lá cờ đỏ sao vàng, quốc kỳ Việt Nam


Image
Biển cảnh báo trộm cắp in quốc kỳ Việt Nam tại Nhật

Chỉ vì một số thành phần người Việt có những hành động ăn cắp ăn trộm tại Nhật mà làm ảnh hưởng đến nỗi nước sở tại phải đưa ra lời cảnh báo
bằng tiếng Việt và thậm chí còn làm cả biển cảnh báo trộm cắp in quốc kỳ Việt Nam để chỉ đích danh.
Rất nhiều các du học sinh tại đây cảm thấy vô cùng xấu hổ khi thấy hình ảnh này.

Ảnh: Phan Hằng - Học viên Kyodai tại Nhật Bản

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

[img]http://www.vietthuc.org/wp-content/uplo ... VN-300.jpg[/img]

VNCS Vận Động Thoát Trung


Vi Anh

Thất bại lớn nhứt của TC trong vấn đề xâm lấn biển đảo của Việt Nam, là khơi động lại mối thù 1000 năm giặc Tàu xâm chiếm Việt Nam trong lòng dân chúng Việt Nam. Đau đớn và phẫn nộ nhứt của TC là thấy những người Cộng sản Việt Nam thế hệ thứ hai đang nắm Nhà Nước theo dân VN, đã phủi ơn của “quan thầy TC”, lặng lẽ nhưng cố gắng thoát khỏi vòng tay của TC. Điều này bộc lộ rõ qua những việc làm của Nhà Nước VNCS đã uốn mình qua ngỏ hẹp của Đảng CSVN, vượt truông nhà Hồ để liên minh với Tây Phương, Liên Ậu và Mỹ và liên kết với Nhựt và Ấn để tạo một thế đứng cho VN trên trường quốc tế hầu kềm chế không cho TC lấn chiếm thêm biển đảo, áp đặt thêm vòng vây kinh tế, chánh tri, văn hoá xã hội lên VN nữa.

Trong thời kỳ CS Bắc Việt buộc cả nước “tiến nhanh, tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa, kinh tế tập trung”, VNCS kiệt quệ sắp phá sản, đột quị như Liên xô, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng là một con cọp rừng ngập mặn U Minh Thượng, Hạ ở Cà mau, Rạch Giá nằm trong nhóm CS Tây Nam bộ “bắc tiến”. Suốt thời chiến tranh nhóm này như Thủ Tướng Võ văn Kiệt, Chủ Tịch Nước Nguyễn minh Triết, Trương tấn Sang, và TT Nguyễn tấn Dũng chỉ biết chiến đấu sanh tử trong lòng địch và sống bằng kinh tế tự do của VN Cộng hoà ở Miền Nam Việt Nam. Và khi thống nhứt đất nước CS Bắc Việt bắt buộc áp dụng chủ nghĩa kinh tế tập trung cứng rắn trên toàn quốc. Bất cần chủ nghĩa kinh tế tập trung của Hà nội, với bản tánh thực tế của người Việt di dân Nam Tiến đợt ba “ra đi gặp vịt cũng lùa, gặp giặc cũng đánh, gặp chùa cũng tu”, và tinh thần thực tế của người du kích “đánh Mỹ cứ đánh, đồ Mỹ tốt cứ xài”, những người CS “Nam Kỳ cục” này mới ra Bắc chiếm Nhà Nước, vận động trả ruộng lại cho dân cày, chuyển hệ tư duy sang kinh tế thị trường để cứu dân không phải ăn độn, một quốc nạn “dị hợm” mà người dân Miền Nam chưa bao giờ gặp, chỉ bị trong thời CS Bắc Việt buộc “tiến nhanh, tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa” mà dân Miền Nam kêu ngạo gọi là “xếp hàng cả ngày” để mua gạo sổ trộn bông cỏ hay thay bằng bo bo, khoai mì ngoài Bắc gọi là “sắn”.

Nhờ thế mà kinh tế VNCS không phá sản, khiến VNCS không bị đột quị như Liên xô phải đột quị, chết yểu vì kinh tế phá sản lôi sang phá sản chánh trị, dù không có một quân nhân Mỹ nào tiến vào Điện Cẩm Linh. Và nhờ vậy dân chúng VN cũng dễ thở hơn và nông dân VN đặc biệt là ở Miền Tây Nam Việt, vựa lúa của cả nước mới có thể biến VN thành nước xuất cảng gạo hạng nhì của thế giới.

Và nhờ định luật kinh tế chánh trị, ai nắm hầu bao người đó có quyền, nên những người Nam ra làm thủ tướng mấy trào, nắm giềng mối Nhà Nước suốt thời kỳ “đổi mới kinh tế” cả gần 15 năm, ba đời thủ tướng liên tục. Nhờ biết làm kinh tế qua kinh nghiệm sống trong lòng địch VN Cộng Hoà với kinh tế tự do, nên quyền hành chánh của Nhà Nước dần dần “mạnh vì gạo, bạo vì tiền hơn” và phát triển nhiều tương quan với ngoại quốc hơn bên Đảng. Tập tục ngoại giao của ngoại quốc, các nước ngoại giao và giao thương với chánh quyền nhà nước, chớ không với đảng cầm quyền.

Và trong thời TC tăng cường chiến lược, chiến thuật bành trướng, lấn chiếm biển đảo của các nước Á châu Thái bình dương, VN bị nặng nhứt, cũng chính TT Nguyễn tấn Dũng con cọp Cà Mau, của rừng U Minh ngập mặn, biển ven bồi là người CS liều mạng vận dụng guồng máy Nhà Nước để hoá giải vòng lệ thuộc của TC nhiều nhứt. Ba Dũng nhiều khi bất kể đảng quyền nghe lịnh của CS Bắc Kinh buộc “định hướng” dư luận, cấm không đề cập đến vấn đề biển đảo. Ba Dũng tuyên bố công khai bảo vệ giang sơn gấm vóc. Ba Dũng không tiếp Dương khiết Trì sang VN bàn về quan hệ song phuơng giữa Hà nội và Bắc Kinh. Ba Dũng công du Ấn Độ suốt hai ngày Dương khiết Trì đến VN.

Nói chung hành động bảo vệ biển đảo cũa người cầm đầu chánh phủ VNCS được hầu như cả thế giới ủng hộ. Mỹ Hành Pháp, Lập pháp, quân đội nới lỏng lịnh cấm vận, hứa bán vũ khí sát thương, huấn luyện hải quân bảo vệ biển đảo giúp VN. Liên Âu bán vũ khí cho VN, phát triễn đối tác kinh tế, quốc phòng, giảm lệ thuộc kinh tế cho VN đối với TC. Nhựt ở miền đông bắc, Ấn ở Tây Nam TC, liên kết với VN về quốc phòng, an ninh hàng hải. Trong chuyến công du của TT Dũng kết thúc vào 28/10/2014, Ấn công khai giúp đỡ Việt Nam hiện đại hóa quân đội bằng việc huấn luyện thủy thủ tầu ngầm và phi công lái chiến đấu cơ, bán tàu tuần tra và có dấu hiệu sẵn sàng cung cấp tên lửa siêu thanh chống hạm BrahMos cho Việt Nam, tất cả các phương tiện này đều có thể được dùng để đối phó với Trung Quốc. Ấn tháo khoáng 100 triệu Đô la cho VN vay để mua tàu tuần duyển của Ấn độ. Ấn độ bất chấp phản đối của TC, liên kết thăm dò và khai thác dầu khí với VN trên Biển Đông của VN.

Giáo sư Carl Thayer, một phân tích gia quốc phòng của Úc am tường sâu sắc vấn đề TC bành trướng khen «Việt Nam vẫn khéo dùng các mối quan hệ đa phương với các cường quốc để tránh bị áp lực từ bất cứ cường quốc nào.” Ông nói trong khi ông Dương Khiết Trì đang ở Việt Nam thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mở chuyến viếng thăm Ấn Độ từ ngày 27/10 đến 29/10… Cả New Dehli và Hà Nội có chung quan ngại về an ninh trước thế lực quân sự ngày càng mạnh của Trung Quốc... Mối quan hệ đối tác của VN mở rộng với Nhật Bản và Ấn Độ càng buộc Bắc Kinh phải tranh đua giành ảnh hưởng lên Hà Nội.”

Trước đó VN đã ký được hiệp ước đối tác chiến lược sâu rộng với Nhựt về an ninh hàng hải và kinh tế giữa hai nước Việt-Nhật nhơn khi Chủ tịch VNCS Trương tấn Sang công du Nhật Bản từ ngày 16 đến 19/3. Nhựt đã dành cho Chủ Tịch Nước VNCS một cuộc tiếp đón vô cùng trọng thể. Nhựt Hoàng hội kiến, đãi quốc yến. Quốc Hội dành cho Chủ Tịch VNCS một danh dự ít có. Quốc Hội Nhựt, một năm chỉ dành cho hai quốc khách đọc diễn văn trước khoáng đại. Chủ Tịch Sang được Quốc Hội mời đọc bài diễn văn ngày 18/3, trong một phiên họp khoáng đại trọng đại. TT Nguyễn tấn Dũng cũng từng gặp Thủ tướng Nhật Abe cũng về vấn đề hợp tác an ninh hàng hải giữa hai nước.

Tóm lại, thời sự và sự kiện quốc tế và VN cho thấy Nhà Nước VNCS mở rộng ngoại giao, phát triễn đối tác chiến lược đa phương, đa cực với các nước, kể cả hoà dịu lại với TC là một chiến lược hoá giải vòng lệ thuộc TC mà những người CS đi trước đã sa vào. Qui trình này TC không thể đảo ngược vì là lập trường của một số người CS không nhỏ đang nắm chánh quyền Nhà Nước và được đa số nhân dân ủng hộ, đa số siêu cường thế giới yễm trợ./.(Vi Anh)

__._,_.___[/size][/color][/size]

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Nhà văn…không là ai?

Nguyễn Hưng Quốc
Liên quan đến chuyện "viết cho ai?", tôi nghĩ, có một vấn đề khác cũng cần được đặt ra: Nhà văn là ai?

Câu trả lời chắc chắn không đơn giản. Khái niệm nhà văn thay đổi theo thời gian: ngày xưa, ở Việt Nam, bất kể ở những tài năng lớn hay nhỏ, tư cách nhà văn đều bị chìm khuất, thật mờ nhạt, đằng sau tư cách của những ông quan, ông đồ, ông cử hay ông tú. Khái niệm nhà văn cũng thay đổi theo thể loại: trong ý nghĩa này, nhà văn chỉ là tên gọi chung cho nhiều loại người khác nhau, từ một nhà thơ đến một nhà tiểu thuyết, một nhà tuỳ bút, một nhà viết kịch hoặc một nhà phê bình và lý luận văn học. Khái niệm nhà văn còn thay đổi theo phương pháp sáng tác người ta sử dụng: một nhà cổ điển, một nhà lãng mạn, một nhà hiện thực, một nhà siêu thực, một nhà hiện đại chủ nghĩa hoặc một nhà hậu hiện đại chủ nghĩa... Khái niệm nhà văn cũng thay đổi theo những mục tiêu mà người ta, qua động tác viết, nhắm tới: có người viết để độc giả tiêu khiển, có người viết để tuyên truyền cho một quan điểm và để kích động tâm lý của quần chúng, có người viết để thoả mãn lòng say mê đối với chữ nghĩa, cũng có người viết để chỉ gửi lòng mình vào thiên cổ, với hy vọng, may ra...

Lặn sâu vào những sự đa dạng và phức tạp ấy để tìm hiểu vấn đề "nhà văn là ai?" hẳn là một điều vô cùng thú vị. Tuy nhiên, trong bài này, tôi chọn một góc độ khác không kém thú vị nhưng lại thực tế hơn: nhà văn không là ai?

Cái không là cái vô hạn. Ở đây, tôi chỉ dừng lại ở một số nét chính.

Như, nhà văn không phải là nhà báo, chẳng hạn.

Về phương diện lý thuyết, sự phân biệt giữa nhà văn và nhà báo thật vô cùng đơn giản. Nhà báo trước hết là tình nhân của các vấn đề thời sự, trong khi nhà văn, trước hết, là tình nhân của nghệ thuật. Nhà báo đuổi theo các sự kiện, trong khi nhà văn đuổi theo cái đẹp. Với nhà báo, chữ nghĩa là phương tiện; với nhà văn, chữ nghĩa là cứu cánh. Tiêu chuẩn để đánh giá các nhà báo là tính chính xác và tính kịp thời, trong khi tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá một nhà văn là sự nhạy cảm và sự độc đáo. Đại khái thế.

Sự khác biệt khá rõ ràng. Ít ai có thể lẫn lộn được. Có điều, ở Việt Nam thì khác. Ranh giới giữa nhà văn và nhà báo, cho đến nay, vẫn rất nhập nhằng.

Đầu tiên là nhập nhằng về phương diện sinh hoạt: cả nhà văn lẫn nhà báo đều sử dụng một sân chơi chung: các tờ báo. Hầu hết các nhà văn chuyên nghiệp đều ít nhiều là các nhà báo chuyên nghiệp. Nguồn thu nhập chính của họ không đến từ sách mà là từ báo. Đăng trên báo thì gọi là bài báo; in lại dưới hình thức sách thì thành ra chương sách. Tính chất thông tin và giải trí vốn là đặc trưng của báo chí dần dần trở thành đặc trưng nổi bật của vô số các tác phẩm được gọi là văn học, đặc biệt dưới nhãn phê bình và tiểu luận.

Hậu quả của điều này là sự nhập nhằng trong phong cách viết lách của nhà văn và của nhà báo: khi viết báo, người ta vẫn thích chút văn vẻ sang cả của văn chương, và khi làm văn chương thật, người ta lại không dứt bỏ được thói vội vàng đến cẩu thả của những người đưa tin.

Từ hai sự nhập nhằng trên dẫn đến sự nhập nhằng khác, nhập nhằng trong danh xưng: không hiếm người làm báo, hoàn toàn làm báo, thích mạo nhận là nhà văn và hay lẩn quẩn vào sân chơi văn chương để giành ghế của người này và đòi cụng ly với người khác. Tính chất xô bồ và nhếch nhác trong sinh hoạt văn học Việt Nam lâu nay, trong cũng như ngoài nước, theo tôi, phần lớn xuất phát từ đám người mạo danh ấy.

Trong ba sự nhập nhằng trên, sự nhập nhằng đầu tiên hầu như không thể giải quyết được trong tình hình kinh tế và xã hội hiện nay khi số người đọc sách quá ít và, hơn nữa, quá thấp; sự nhập nhằng thứ ba rất khó giải quyết một phần vì không thể có cá nhân hay tổ chức nào đủ quyền lực để ngăn chận tình trạng mạo danh; phần khác, quan trọng hơn, vì chính giới nhà văn cũng chưa đủ sức để tạo hẳn cho mình một diện mạo và một thế giá riêng, nhờ đó, có thể tự phân biệt mình và những kẻ ăn theo. Nói cách khác, nguyên nhân chính của tình trạng xô bồ và nhếch nhác trong sinh hoạt văn học Việt Nam lâu nay không phải chỉ do sự hiện diện của những kẻ mạo danh mà còn vì, nếu không muốn nói chủ yếu là vì sự bất tài của những kẻ được xem là nhà văn.

Chỉ có sự nhập nhằng thứ hai là có thể giải quyết được. Chỉ cần chút nỗ lực và nhất là, chút tự giác. Nỗ lực giữ ngòi bút của mình không bị trượt vào sự dễ dãi, không bị cuốn theo thói quen, và nhất là, không bị biến thành thứ phương tiện chỉ xài một lần rồi bị vứt bỏ; nỗ lực biến mỗi bài viết thành một công trình kiến trúc hoàn chỉnh bằng ngôn ngữ. Nhưng muốn thế, người ta cần phải, trước hết, tự giác về những đặc điểm và những chuẩn mực của văn chương để có thể, ít nhất, biết được khi nào mình còn ở trong lãnh thổ của văn chương và khi nào thì không; khi nào mình đang làm văn chương và khi nào mình chỉ thải ra chữ.

Cái ý thức tự giác ấy thật ra là một tài năng: đó là sự nhạy cảm về độ, về ngưỡng, về giới hạn, về sợi chỉ mong manh căng qua ranh giới giữa cái đẹp và cái đèm đẹp. Cái ý thức tự giác ấy cũng là một biểu hiện của văn hoá: đó chính là ý thức về giá trị và kỷ luật, ở đây chủ yếu là giá trị văn chương và kỷ luật của nghề làm văn chương. Hai khía cạnh này có quan hệ chặt chẽ với nhau: ý niệm về độ hay ngưỡng bao giờ cũng gắn liền với ý niệm về giá trị và kỷ luật. Bởi vậy, tôi cho điều quan trọng nhất trong việc tách nhà văn ra khỏi nhà báo là các nhà văn, chính các nhà văn, phải xây dựng và phải tôn trọng bảng giá trị và kỷ luật của văn chương: họ có thể sống như một nhà báo và viết như một nhà báo, nhưng khi đã có ý định làm văn chương thì phải quyết tâm làm văn chương thực sự, phải chấp hành những kỷ luật của văn chương và phải nhắm tới những giá trị văn chương chứ không phải bất cứ một thứ giá trị gì khác; nghĩa là, nói cách khác, phải tích cực đẩy mạnh quá trình chuyên nghiệp hoá văn học.

Biện pháp này, nghĩ cho cùng, cũng có thể áp dụng cho sự nhầm lẫn giữa tư cách nhà văn và tư cách cán bộ.

Đúng ra, đó không phải là một sự nhầm lẫn. Đó là một sự cố tình đồng nhất tư cách nhà văn và tư cách cán bộ để tạo thành một thứ nhà-văn-cán-bộ như cái điều vẫn phổ biến tại Việt Nam từ năm 1945 đến nay. Sự đồng nhất này nằm trong âm mưu hành chính hoá và chính trị hoá văn học, biến văn học thành một bộ phận trong guồng máy nhà nước, ở đó, mỗi người cầm bút là một viên chức được trả lương và phải có nhiệm vụ chấp hành mọi mệnh lệnh từ giới lãnh đạo.

Khi văn hoá văn học bị khống chế bởi văn hoá hành chính, những cái được xem là giá trị không phải là tinh thần sáng tạo mà là sự vâng phục; không phải sự độc đáo mà là sự bình thường; không phải cá tính mà là ý thức tập thể; không phải cái riêng mà là cái chung. Từ văn hoá hành chính, nhà văn xem việc thực hiện trách nhiệm đối với tổ chức quan trọng hơn trách nhiệm đối với văn học, xem cái đẹp không bằng cái có ích, xem việc trung thành đối với các quan điểm và chính sách của đảng là một yêu cầu đạo đức cũng như xem tính hiệu quả trong việc phục vụ cho các quan điểm và các chính sách ấy là thước đo tài năng.

Điều đáng lưu ý là khi văn hoá văn học bị khống chế bởi văn hoá hành chính, không phải chỉ có nhà-văn-cán-bộ mà còn có cả những độc-giả-cán-bộ.

Độc-giả-cán-bộ ở đây không phải là những cán bộ đóng vai độc giả mà là những độc giả đóng vai cán bộ, đọc trong tinh thần của một cán bộ, dù độc giả ấy, trên thực tế, không phải là cán bộ và cũng không phải là người ăn lương của nhà nước, thậm chí, có khi đã di tản hẳn ra nước ngoài.

Đọc trong tinh thần cán bộ là đọc với tâm thế tự nguyện chấp hành kỷ luật và với ý thức bảo vệ những tôn ti trật tự đang có. Một độc-giả-cán-bộ đánh giá tác phẩm trước hết dựa theo cái tên của tác giả: nếu đó là tác phẩm của một người thuộc giới lãnh đạo, họ sẽ đọc với thái độ cung kính của một thuộc hạ; nếu đó là tác phẩm của một người được xã hội xếp vào bậc thầy, họ sẽ đọc với thái độ ngoan ngoãn của một tên học trò; nếu đó là tác phẩm của một người không có chức vị gì đáng kể, họ sẽ đọc với thái độ phê phán có khi khắc nghiệt, có khi suồng sã của một kẻ bề trên hoặc ngang hàng; nếu đó là tác phẩm của một người bị xem là thù nghịch, họ sẽ đọc với thái độ hoàn toàn phủ định và đầy ác ý.

Hơn nữa, khi đọc, điều một độc-giả-cán-bộ cần tìm kiếm nhất bao giờ cũng sự tái khẳng định những điều vốn đã được xem là chân lý bất biến. Họ không bao giờ cảm thấy chán khi đọc đi đọc lại những trích dẫn trùng lặp từ các tác phẩm được gọi là kinh điển hoặc từ các loại sách báo phổ thông. Ngược lại, điều làm họ dị ứng nhất chính là những cái mới lạ: trong tâm lý của một cán bộ, cái mới lạ bao giờ cũng hàm chứa một nguy cơ gây đảo lộn cái trật tự hiện có và cũng chính là cái trật tự họ muốn bảo vệ.

Xuất phát từ văn hoá chính trị, sáng tác là để tập hợp lực lượng, hay nói như ai đó, một cách "gọi đàn". Điều người cầm bút quan tâm nhất là được đồng tình, đồng ý và được chấp nhận. Muốn thế, người ta thường tránh xa mọi sự thách đố. Người ta phải tự mài mòn cá tính của mình, tự bóp chết những giấc mơ tìm tòi và thử nghiệm. Văn hoá chính trị bao giờ cũng là văn hoá của đại chúng: nó đề cao những cái chung chung và những cái tầm tầm. Nó xem phản ứng của quần chúng như một thứ nhiệt kế văn học: tác phẩm được quần chúng hiểu, thích và nhớ là thành công; ngược lại, là thất bại, hoặc thất bại về nghệ thuật (chưa đủ trình độ để chinh phục người đọc), hoặc thất bại về đạo đức (cố tình làm ra vẻ cao vĩ để dối gạt hay hù doạ quần chúng).

Tự bản chất, một thứ văn hoá như thế rất xa lạ với văn hoá văn học.

Khác với các lãnh vực khác, văn học là thế giới của sự riêng tây. Văn học không làm người ta tụ lại với nhau mà làm cho mỗi người tách ra một cõi riêng. Từ cả việc viết lẫn việc đọc, người ta đều một mình. Chức năng cao cả nhất của văn học, theo tôi, là nuôi dưỡng cái "một mình" ấy: một mình mình đối diện với chính mình; một mình mình lắng nghe những tiếng thì thầm của ngôn ngữ; một mình mình đi vào thế giới mênh mông vô cùng vô tận của sự sáng tạo. Trong những cuộc hành trình một mình đi vào cõi riêng tây như thế, chỉ có những khám phá mới mẻ hoặc những cách thể hiện mới mẻ mới thực sự có ích: chúng làm cuộc hành trình đẹp hơn và làm cõi riêng giàu có hơn.

Chính vì vậy, với tư cách là một công việc sáng tạo, mọi cái viết chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó thách đố lại với thói quen và định kiến, khi nó gây hấn với mọi lối mòn và mọi quy ước. Một nhà văn lớn là người, bằng tác phẩm của mình, góp phần mở ra những biên giới mới hoặc đưa ra định nghĩa mới cho các khái niệm văn học hoặc thể loại văn học. Cũng chính vì vậy, văn học có thể đi liền với cách mạng nhưng lại rất khó song hành với chính trị: khi các lực lượng cách mạng đã giành được chính quyền thì cũng là lúc văn học bị lâm nguy.

Nói tóm lại, trong phạm vi bài này, tôi chưa dám khẳng định nhà văn là ai, nhưng tôi biết chắc một điều: dù là ai đi nữa thì nhà văn, ít nhất là lúc cầm bút làm văn chương, nhất định không phải là một nhà báo, kẻ chỉ xem chữ nghĩa như một phương tiện để rượt đuổi theo các sự kiện không ngừng diễn ra và không ngừng bị vùi lấp. Nhà văn cũng nhất thiết không phải là một cán bộ, kẻ chỉ biết phục tùng; một nhà chính trị, kẻ chơi trò mị dân, chỉ thích đầu tư trên cái vốn chung và cũ của tập thể; một nhân viên xã hội, kẻ đầy tinh thần trách nhiệm đối với xã hội và vì tinh thần trách nhiệm ấy, sẵn sàng hy sinh cả nghệ thuật.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »



Nghĩ gì nhân vụ trục xuất Điếu Cày qua Mỹ ???


Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận
số 206 (01-11-2014)
Một tên vô lại vừa cướp được một món đồ quý giá từ trong kho. Hắn gói ngay món đồ ấy trong mớ giẻ rách để bán vội bán vã cho một ông nhà giàu. Đó là hình ảnh nhà cầm quyền Hà Nội vừa trục xuất blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, một trong những người tù nổi tiếng nhất và được đòi thả nhất tại VN, trong bộ quần áo và đôi dép nhựa xuềnh xoàng khốn khổ. Anh cũng đã phải ra đi lưu đày sang Mỹ đang đêm mà không được một lời từ giã gia đình thân thuộc. Thiệt là đẹp mặt!

Toàn bộ sự việc này khiến cho công luận dấy lên nhiều suy nghĩ liên quan đến nhà cầm quyền Hà Nội, chính phủ Hoa Kỳ và phong trào tranh đấu của người Việt Nam.

1- Nhà cầm quyền Hà Nội.

Trong buổi tiếp xúc báo chí hàng tuần hôm 23-10-2014, phó phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao tuyên bố: “Nhà nước VN đã quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với Nguyễn Văn Hải và cho phép Nguyễn Văn Hải xuất cảnh đi Mỹ vì lý do nhân đạo” và rằng “tại Việt Nam không có cái gọi là ‘tù nhân lương tâm’” khi bình luận việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ gọi ông bằng danh hiệu như thế. Đúng là giọng điệu trâng tráo thường thấy mà nếu không có thì chả phải là cộng sản!

Thật ra, từ lâu ai cũng biết chế độ và các lãnh đạo Ba Đình chưa bao giờ nhân đạo với nhân dân cả, trái lại coi mọi người dân như con cái để thường xuyên lên giọng dạy dỗ (đứa nào cãi là nhốt tù), như con ở để tha hồ hành hạ bóc lột hay đem bán cho thiên hạ (sức dân là vô tận, lời Hồ Chí Minh), như con tin và con bài để mặc cả và trao đổi với quốc tế khi cần đạt được những mối lợi về kinh tế hay chính trị cho riêng đảng (nhất là các tù nhân lương tâm).

Vì thường xuyên thất bại về mặt kinh tế tài chánh mà khủng hoảng nợ công và nợ xấu hiện thời là bằng chứng (do mù quáng đeo đuổi cái học thuyết Mác-Ănghen chết tiệt, do ngu dốt -xét trên quan điểm trị nước- trong việc quản lý điều hành quốc gia và do gian tham ích kỷ một cách vô độ), Cộng sản luôn tìm cách bán đi những gì nó cướp được từ Tổ quốc và Nhân dân. Nào là bán đất liền (như Tây Nguyên, Bình Dương, Vũng Áng…), bán biển đảo (như Hoàng Sa, Trường Sa, vịnh Bắc bộ…), bán tài nguyên (mỏ than, mỏ vàng, mỏ bô-xít…), bán mặt nước (ở những vùng giàu cá), bán bờ biển (tại các địa điểm du lịch), bán đường đi (các tuyến cao tốc), bán rừng phòng hộ…

Rồi là bán dân nghèo qua chính sách xuất khẩu lao động, bán thiếu nữ qua dịch vụ môi giới hôn nhân và bán các tù nhân lương tâm qua các cuộc thương thảo chính trị. Hà Nội đem blogger Điếu Cày trao cho Mỹ mới đây là để đổi lấy súng (mua vũ khí sát thương, để đánh ngoại thù hay bắn nội dân thì chưa rõ) và đổi lấy tiền (gia nhập Hiệp ước Đối tác xuyên Thái Bình Dương hầu thoát khỏi vực thẳm suy sụp kinh tế và suy kiệt tài chánh đang đe dọa chế độ). Kiểu cách đem con dân mình đổi chác như thế, trên thế giới này hầu như không nước nào sử dụng cả, vì nó làm sỉ nhục quốc gia, tổn hại quốc thể. Nhưng đối với Cộng sản làm gì có quốc gia và quốc thể!

Việc trục xuất Điếu Cày cũng như nhiều nhân vật khác trước đây ra hải ngoại hay chỉ định cư trú, quản thúc tại gia đối với nhiều nhà đối kháng dân chủ còn chứng tỏ đám lãnh đạo CS không tôn trọng quyền tự do cư trú của người dân. Chính sách trục xuất những người muốn bảo vệ chủ quyền quốc gia hay xây dựng xã hội ra khỏi đất nước như thế còn vô cùng ngu tối và tai hại cho tương lai của cả Dân tộc. Nhưng đối với Cộng sản, tương lai Dân tộc có đáng gì so với tương lai của đảng! Và dĩ nhiên, sau việc thả một vài người tù như thế, các các luật lệ áp bức của Hà Nội vẫn tiếp tục không thay đổi và kho tù nhân lương tiếp tục được bổ sung thêm hàng!

2- Chính phủ Hoa Kỳ

Phải nói ngay rằng việc cứu các tù nhân lương tâm, đưa họ vừa ra khỏi nhà tù nhỏ vừa ra khỏi nhà tù lớn là quốc gia Cộng sản để sang định cư tại nước Mỹ, điều này tốt thôi, cũng đáng hoan nghênh lắm. Đây là việc mà Hoa Kỳ tùng làm xưa nay đối với hạng tù nhân đặc biệt đó tại các quốc gia độc tài đủ kiểu, cụ thể bên Đông Âu thế kỷ rồi. Mục sư Richard Wurmbrand (1909–2001), một trong những tù nhân lương tâm kiệt xuất tại Rumani (từng bị CS nhốt 14 năm trời), cho biết ông đã bị bán qua Mỹ với giá 10.000 đôla. Nhiều bạn bè ông trong giới chính trị, văn hóa còn bị bán với giá cao hơn nữa (20.000 đôla/đầu người) thời Rumani kinh tế kiệt quệ.

Tuy nhiên, vấn đề quan trọng không phải là cứu vài tù nhân khỏi nhà tù nhỏ, để rồi cho Hà Nội có quyền lợi này quyền lợi nọ. Xét như một quốc gia dân chủ hàng đầu và luôn cổ vũ tinh thần dân chủ khắp thế giới, Hoa Kỳ phải thấy rằng cứu toàn thể nhân dân VN khỏi nhà tù lớn tức chế độ CS mới là điều cơ bản. Thật ra đòi hỏi này sẽ có thể chỉ được thỏa mãn với điều kiện phong trào đấu tranh trong nước đủ mạnh và có triển vọng lật đổ chế độ. Điều ấy đã từng xảy ra khi Hoa Kỳ -qua tổng thống Ronald Reagan- mạnh mẽ ủng hộ Công đoàn Đoàn Kết tại Ba Lan thập niên 80 của thế kỷ trước vì thấy đó là một lực lượng đấu tranh có thực chất và thực lực mà cuối cùng đã tống cổ đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan (tức đảng Cộng sản) ra khỏi ghế quyền lực (1989), tạo nên vụ sụp đổ dây chuyền các quốc gia Hiệp ước Vác-sa-va, làm chập mạch toàn bộ hệ thống Cộng sản Đông Âu và Liên Xô. (Lech Walesa, thủ lãnh Công đoàn Đoàn kết là một thợ điện!).

Việc Hoa Kỳ giải cứu và bằng lòng với những vụ giải cứu cá nhân đơn lẻ như thế (thay vì đưa ra những biện pháp chế tài mạnh mẽ và hữu hiệu cũng như lấy vấn đề nhân quyền toàn diện như điều kiện bang giao) sẽ đẩy Hà Nội tiếp tục bắt thêm tù nhân để thương lượng, và sẽ gây khó khăn cho phong trào tranh đấu tại VN. Về điều này, thiết tưởng nên nhắc lại lời bà Dương Thị Tân, vợ cũ của anh Điếu Cày, nhân cuộc phỏng vấn của đài Tiếng nói Hoa Kỳ ngày 19-10: “Về mặt cá nhân, về mặt gia đình, tôi đại diện ông Hải gửi lời cảm ơn chính phủ Hoa Kỳ. Nhưng với cách can thiệp của chính phủ HK thì hầu như họ cứ bật đèn xanh để cho chính phủ VN làm những việc tương tự trong tương lai. Con đường đấu tranh chắc còn gian nan nhiều lắm. Ủng hộ chúng tôi thì phải bằng những cách khác như giám sát, chế tài và làm những việc quyết liệt hơn chứ không phải là mang đi từng người, từng người một. Nhưng trước mắt, về khía cạnh gia đình, tôi có lời tri ân đến chính phủ HK vì đã giúp đỡ một hoàn cảnh rất khắc nghiệt, rất đau thương là thân nhân gia đình tôi thoát khỏi những nơi chốn như vậy. Nhưng về vấn đề chung thì thật sự cũng không mấy vui”.

3- Phong trào đấu tranh của người Việt

Đồng bào Việt Nam trong lẫn ngoài nước đã hết sức vui mừng vì thấy một tù nhân lương tâm hàng đầu như anh Nguyễn Văn Hải được tự do. Cuộc đón tiếp anh tại phi trường Los Angeles mới đây là bằng chứng. Đó là kết quả vận động lâu ngày và rộng rãi trong đó có sự đóng góp lớn lao của phong trào đấu tranh quốc nội lẫn hải ngoại.

Tuy nhiên, sa đà vào và bằng lòng với những cuộc đấu tranh đòi giải thoát cho người này người nọ khỏi nhà tù nhỏ mà xao lãng cuộc đấu tranh cấp bách và toàn diện là giải thoát toàn thể dân tộc khỏi nhà tù lớn, không khéo lại mắc vào âm mưu của CS. Về điều này, nhà báo Đoan Trang có nhận định trong bài “Đòi quyền ư? Đòi cái gì?”: “Điều đáng nói là giới đấu tranh dân chủ cả trong và ngoài nước đều đi đúng vào hướng mà chính quyền mong muốn: Tất cả đều sa vào những cuộc đấu tranh đòi “free Nguyễn Tiến Trung”, “free Lê Quốc Quân”, “free Điếu Cày”, v.v... tóm lại là vận động trả tự do cho tù nhân lương tâm, mà xao lãng những vấn đề khác, những vấn đề thực sự là mấu chốt của cải cách chính trị, mà chính quyền luôn tìm cách lờ đi”.

Quả vậy, ngoài việc đấu tranh có tổ chức, có liên kết như các tổ chức chính trị đảng phái và các tổ chức xã hội dân sự trong lẫn ngoài nước đang nỗ lực thực hiện, còn cần đấu tranh có định hướng. Trước hết, đó là đấu tranh và tiếp tục đấu tranh trên bình diện lý thuyết, luật lệ. Chẳng hạn đòi sửa đổi cái Hiến pháp trời đánh thoát thai từ Cương lĩnh đảng mà Quốc hội gia nô với các đảng biểu phê chuẩn hôm 28 tháng 11 năm ngoái. Lúc nó bắt đầu được đưa ra để lấy ý kiến (tháng 11 năm kia), nhiều tổ chức dân sự và tôn giáo đã kiến nghị những nguyên tắc soạn thảo theo tinh thần dân chủ, riêng Khối 8406 còn phản đối nó khi nó tiến dần đến dự thảo cuối cùng (13-11-2013). Nhưng đến nay, xem ra nó được mặc nhiên chấp nhận (vì được nhiều văn bản đấu tranh trích dẫn) thay vì phải bị tiếp tục phản đối hoặc tẩy chay. Rồi phải đòi sửa đổi Bộ luật Hình sự, Luật Báo chí, Luật Đất đai, Luật Giáo dục, Pháp lệnh tôn giáo tín ngưỡng… (Về Pháp lệnh này cùng với nghị định áp dụng nó, Hội đồng Liên tôn tại VN có Bản lên tiếng tẩy chay ngày 4-10-2013). Đòi hủy bỏ tất cả những luật lệ và quy định “siết chặt quản lý” thay vì bảo vệ quyền tự do của công dân, như hàng loạt điều khoản vi phạm nhân quyền và dân quyền trong các bộ luật, pháp lệnh, nghị định, chỉ thị, thông tư… đầy rẫy những điều vi hiến, vô luật pháp, phi lý lẽ… Tuyên bố về quyền tự ứng cử của công dân vừa được bốn hội đoàn dân sự đưa ra (trong đó có yêu cầu xóa bỏ sự bất công hoặc làm rõ giá trị công bằng đối với hai hình thức ứng cử trong văn bản luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội, cụ thể điều 34, 35) là một nỗ lực mới trong cuộc đấu tranh trên bình diện pháp lý, luật lệ.

Rồi còn phải đấu tranh cho những lợi ích cụ thể, rõ ràng trước mắt người dân, chẳng hạn quyền tư hữu đất đai, quyền được đền bù công bằng khi bị “thu hồi” ruộng cày đất ở; quyền có môi sinh an lành, được dùng nước sạch, không khí sạch, thực phẩm sạch, không ăn phải đồ ăn độc, uống phải bia rượu giả; quyền có một nền giáo dục nhân bản, khai phóng, tiến bộ, không gánh phải vô số học phí và phụ phí oằn lưng, chịu phải vô số điều dối trá đầu độc trí óc, thấy phải vô số chuyện xấu xa tàn hại tâm hồn; quyền thoát khỏi thảm trạng lạm phát, gánh nặng nợ công đang đe dọa ngân sách và cuộc sống từng gia đình…

Có đấu tranh cho những điều cụ thể, sát sườn như thế mới mong toàn thể nhân dân, nhất là các giới lao động và trí thức, nhập vào phong trào dân chủ hóa đất nước và xã hội. Vì chính họ là lực lượng cần thiết, mà một khi được các tổ chức tranh đấu hướng dẫn, sẽ trở thành ngọn triều, cuồng phong quét sạch chế độ cộng sản để xây dựng một đất nước mới.

BAN BIÊN TẬP

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »


Hai đảng Mỹ ganh đua quyết liệt trong bầu cử giữa nhiệm kỳ


Đảng Cộng hòa đang hy vọng có được những bước tiến lớn và giành lại quyền kiểm soát Thượng viện Mỹ
từ tay đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ lãnh đạo của Tổng thống Barack Obama.


Image
Cử tri xếp hàng đợi tại một điểm bỏ phiếu ở thị trấn Jamestown, bang Bắc Carolina. Ảnh: AFP.


Hàng triệu người dân Mỹ hôm nay đi bỏ phiếu để bầu ra 36 thượng nghị sĩ, 36 thống đốc bang và toàn bộ 435 thành viên trong Hạ viện. Cuộc bầu cử diễn ra trong bối cảnh Mỹ đang phải đối mặt với nhiều vấn đề như dịch Ebola, nhóm khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS), chương trình Obamacare, số lượng trẻ em di cư vào Texas gia tăng, bê bối tại Bộ Cựu chiến binh và bạo loạn sắc tộc ở Ferguson, Missouri.

Theo Reuters, đảng Cộng hòa kỳ vọng giành được các vị trí trong Thượng viện, nhưng kết quả thăm dò cho thấy có 8 đến 10 cuộc đua vẫn chưa ngã ngũ. Hiện vẫn chưa rõ đảng này có thể lần đầu tiên giành được 6 ghế cần thiết, kể từ lần bầu cử năm 2006, để kiểm soát 100 thành viên trong viện hay không.

Cuộc chiến giành quyền kiểm soát Thượng viện còn có thể kéo dài vượt tối nay. Các cuộc đua với nhiều ứng viên ở bang Louisiana và Georgia, nơi người thắng cuộc cần có tỷ lệ bầu quá bán, có thể phải tổ chức thêm lần bỏ phiếu tiếp theo, tương ứng vào tháng 12 và tháng 1/2015.

Việc nắm giữ Thượng viện cho phép đảng Cộng hòa chiếm ưu thế, kiểm soát hoàn toàn lưỡng viện của Quốc hội. Điều này sẽ tạo nên thay đổi chính trị lớn nhất kể từ khi Tổng thống Mỹ Barack Obama đặt chân vào Nhà Trắng và khiến hai năm cuối nhiệm kỳ của ông trở nên phức tạp.

Trong khi đó, Nhà Trắng đang cố giảm nhẹ những thay đổi đột ngột có thể trong chiến lược của ông Obama sau cuộc bầu cử. Phát ngôn viên Nhà Trắng Josh Earnest lưu ý rằng những bang đảng Dân chủ gặp rắc rối đều là nơi ông Obama thua ứng viên đảng Cộng hòa Mitt Romney trong cuộc bầu cử năm 2012.

"Sẽ không khôn ngoan khi đưa ra kết luận về kết quả của cuộc bầu cử lần này chỉ dựa trên bản đồ như vậy", Earnest nói.

Các thượng nghị sĩ đảng Dân chủ cũng tìm cách tái đắc cử trong các cuộc đua ở bang Alaska, Arkansas, Louisiana và Bắc Carolina, những bang đảng Cộng hòa chiếm ưu thế trong năm 2012. Trong khi đó, đảng Cộng hòa lại gặp khó ở bang Georgia và Kansas.

Tổng thống Obama sẽ phải đối mặt với áp lực thay đổi tại Nhà Trắng nếu đảng Dân chủ của ông thua đảng Cộng hòa trong Thượng viện. Kết quả một cuộc thăm dò của Reuters/Ipsos cho thấy 75% người được hỏi tin rằng chính quyền Mỹ cần "suy nghĩ lại" cách tiếp cận những vấn đề lớn. 64% cho rằng Obama cần thay một số vị trí trong nhóm quan chức cấp cao của ông sau cuộc bầu cử.

Như Tâm

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

Tổng Thống Obama sau bầu cử giữa kỳ 2014
Wednesday, November 05, 2014 7:18:36 PM

Nguyễn Văn Khanh


Mãi đến hơn 12 giờ khuya Thứ Ba, phòng làm việc của Tổng Thống Barack Obama mới tắt đèn.
Những giờ đồng hồ trước đó, người đang lãnh đạo nước Mỹ cùng với các viên chức thân cận như ông Chánh Văn Phòng Denis McDonough,
bà Cố Vấn Ðặc Trách Chính Sách Ðối Nội Valerie Jarrett, cùng dàn phụ tá kẻ ngồi người đứng theo dõi kết quả cuộc bầu cử giữa kỳ 2014.

Image
Khuôn mặt đầy lo lắng của Tổng Thống Barack Obama tối Thứ Ba. (Hình: Mark Wilson/Getty Images)

Tin tức đi kèm với hình ảnh được phổ biến qua truyền hình cho thấy tình huống không sáng sủa, các ứng cử viên Cộng Hòa lần lượt thành công ở hết tiểu bang này đến tiểu bang khác, báo hiệu những khó khăn mà tổng thống phải đối phó trong 2 năm trời cuối cùng trước ngày ông cùng gia đình rời Tòa Bạch Ốc để về lại Chicago.

Hai ngày trước đó, ông quyết định xuất hiện ở những tiểu bang từng giúp ông thành công trong 2 cuộc bầu cử tổng thống, kêu gọi mọi người nhớ đi bầu để ủng hộ các chính sách ông đã đề ra và ủng hộ các ứng cử viên Dân Chủ đang gặp khó khăn chỉ vì họ từng bỏ phiếu ủng hộ ông hoặc là người cùng đảng với ông. “Các bạn đã 2 lần đứng chung với tôi hồi 2008 và 2012, bây giờ tôi muốn các bạn đi bầu để chúng ta có thể tiếp tục con đường chúng ta đã đi,” để ngăn chận những kể hoạch “tệ hại” và “tầm nhìn sai lầm về tương lai của quốc gia” mà đảng Cộng Hòa “sẽ đưa ra nếu họ làm chủ Thượng và Hạ Viện.”

Khi có mặt trong cuộc vận động tại Michigan, ông còn bảo dù đảng Cộng Hòa “là những người tốt, yêu tổ quốc và gia đình,” nhưng ngay sau đó ông nhấn mạnh tới điểm cánh Cộng Hòa “theo đuổi chủ trương giảm thuế cho người giầu chứ không cho tập thể dân trung lưu, không giúp cho người dân cơ hội có tiền để dành, cũng chẳng hề nghĩ đến chuyện thông qua chính sách bình đẳng để giúp cho nữ giới được hưởng quyền lợi lương bổng như nam giới.” Ðảng Cộng Hòa, theo ông, là đảng “không chủ trương bảo vệ môi trường, lúc nào cũng đòi hỏi và tìm đủ mọi cách để nới lỏng luật lệ về ngân hàng, tài chánh.” Ông tìm đủ mọi cách để vẽ nên một hình ảnh không mấy sáng sủa cho quốc gia, nhắc nhở mọi người đừng quên đi bỏ phiếu “vì chỉ có các bạn mới thay đổi được tình hình, thay đổi được những điều mà tôi đã nói, giúp tôi cơ hội để làm rất nhiều điều tôi muốn làm trong 2 năm tới, giúp tôi tiếp tục đẩy mạnh kế hoạch phát triển kinh tế, tiếp tục kế hoạch tạo thêm việc làm vững chắc cho người dân.”

Rất tiếc, lời kêu gọi tha thiết của ông không được cử tri Dân Chủ đáp ứng đúng mức, nếu không muốn nói là không được những người từng hết lòng ủng hộ ông lắng nghe. Bức tranh ảm đạm ông vẽ ra chính là bức tranh mà ông phải trực diện hàng ngày trong 24 tháng sắp tới, trước khi cử tri toàn quốc chọn người thay thế ông vào năm 2016.

Trong cuộc họp báo sau ngày bầu cử, ông từ chối không đưa ra bất kỳ dự đoán nào cho tương lai, ngoại trừ điều được nhắc đi nhắc lại nhiều lần với cùng nội dung “sẵn sàng bắt tay làm việc với đảng Cộng Hòa,” lực lượng đối lập sẽ điều khiển cả Thượng lẫn Hạ Viện. Ông nói đùa “sẵn sàng ngồi uống chung ly rượu với Thượng Nghị Sĩ Mitch McConnell” (người được dự đoán sẽ được các đồng viện cùng đảng chọn làm Chủ Tịch Khối Ða Số) hay “sẵn sàng chấp nhận để ông (Chủ Tịch Hạ Viện) John Boehner thắng tôi ở sân golf” miễn làm sao hai bên có thể làm việc chung với nhau. Khi nói điều này, có lẽ ông không quên ông Boehner là người từng nói câu “chúng ta không thể tin vào ông Obama” và ông McConnell là người từng dõng dạc tuyên bố bằng mọi giá “chỉ để ông ta (Obama) làm tổng thống một nhiệm kỳ thôi.” Những điều đó đủ để cho mọi người thấy chuyện hành pháp-lập pháp cùng bắt tay làm việc là điều khó có thể xảy ra.

Khó khăn đó không phải chỉ mình ông nhìn thấy.

Nói với mọi người sau ngày thành công, Thượng Nghị Sĩ McConnell cho biết kết quả cuộc bầu cử cho thấy “người dân muốn quốc gia có một hướng đi mới,” không chấp nhận “lối làm việc không hữu hiệu của chính phủ (Obama),” gọi đó “là một chính quyền chẳng những không biết làm việc mà còn là một chính quyền chỉ biết đổ lỗi cho người khác.” Dù vị nghị sĩ quyền uy nhất của đảng Cộng Hòa hứa hẹn sẽ làm việc chung với hành pháp Dân Chủ, “không phải vì chúng ta có hệ thống chính trị lưỡng đảng nên phải đối đầu với nhau” sẵn sàng cùng Tòa Bạch Ốc tìm những điểm đồng thuận “để giải quyết những điều người dân trông chờ,” nhưng ông McConnell cũng nói “những điểm đồng thuận đó không đi ngược với đường lối (mà đảng Cộng Hòa đã đề ra.” Tại Hạ Viện, ông Chủ Tịch John Boehner hãnh diện với chiến thắng chính trị mới tạo được, “nhưng đây không phải là lúc ăn mừng chiến thắng mà là lúc biết trách nhiệm phải làm gì,” báo trước sẽ không cho hành pháp cơ hội “tự ý làm những gì ông Obama muốn làm” như lúc đảng Dân Chủ còn nắm Thượng Viện.

Chỉ vài năm trước đây, hình ảnh người dân Hoa Kỳ trông thấy là hình ảnh của một chính trị gia trẻ tuổi, năng động, là người được tin là có tầm nhìn để “đoàn kết nước Mỹ làm một” (One America), là nhà lãnh đạo với lời cam kết “muốn làm vị tổng thống của mọi người, không phân biệt Dân Chủ hay Cộng Hòa, không phân biệt màu da hay chủng tộc, tôn giáo.” Bây giờ, chính ông - người nói những câu đó - cũng biết trong 2 năm tới, ông không còn phải là người đọc những bài diễn văn nảy lửa trước công chúng, mà chỉ là một nhà lãnh đạo rất bình thường, hàng tuần ngồi trước bàn hội nghị để đàm phán với những người không hài lòng với ông và với chính sách của ông ngay từ lúc ban đầu.

Và có thể trong những cuộc tranh luận đó, ông chợt nghĩ phải chi chỉ làm một nhiệm kỳ thì hay hơn, hoặc phải chi được về lại Chicago ngay lúc này thay vì phải đối phó với không khí chính trị nóng bức của thủ đô Washington D.C. Cũng có thể ông nhớ đến thời vàng son của những ngày đầu khi mới đặt chân vào Tòa Bạch Ốc, và cũng có thể ông chợt nhớ đến cảnh mới vài ngày trước, một nhân viên dưới quyền vừa lắc đầu, vừa than với đồng nghiệp “họ (Cộng Hòa) bỏ ra tới 2 tỷ dollars để quảng cáo tranh cử, chủ đích là những lời chỉ trích nặng nề mà họ nhắm vào Tổng Thống Obama, thế mà không ai lên tiếng bênh vực ông một câu!”

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Ô nhục này dành cho ai?

Huy Phương



Ngày 9 Tháng Mười Một mỗi năm, kể từ năm 1989, cả thế giới chào mừng ngày Bức Tường Berlin sụp đổ. Không phải chỉ là những phiên bản,
mà bức tường này được cắt từng mảnh, vận chuyển đến nhiều nơi trên thế giới, lắp đặt lại xem như một di tích cần ghi nhớ, bài học của
một giai đoạn ô nhục của chế độ Cộng Sản. Một đoạn của bức tường này được để tại Thư Viện Tổng Thống Ronald Reagan ở Simi Valley, California.

Image
Tác giả đứng bên một đoạn Bức Tường Berlin hồi năm 2000.
(Hình: Huy Phương cung cấp)

Sau khi Thế Chiến 2 kết thúc, Cộng Hòa Dân Chủ Đức (Đông Đức) được thành lập tại vùng quản lý của quân đội Liên Xô tại Đức ngày 7 Tháng Mười, 1949, sau khi Cộng Hòa Liên Bang Đức (Tây Đức) ra đời tại phần phía Tây trong khu vực Pháp, Anh và Hoa Kỳ quản lý. Vì lý do còn sự chiếm đóng của quân đội Liên Xô, mặc dù thành lập từ 1949, mãi đến năm 1955, Đông Đức mới tuyên bố đầy đủ quyền tự trị của một quốc gia. Sau gần nửa thế kỷ theo đuổi một nền kinh tế lạc hậu, với một không khí chính trị nô lệ, áp bức, khi nước Đức thống nhất, tổng sản lượng quốc gia (GDP) của Đông Đức chỉ góp được 7% của cả nước Đức so với 93% của Tây Đức dù dân Tây Đức chỉ chiếm 1/3 dân số cả nước. Suốt một thời gian dài sau khi thống nhất, Tây Đức đã hy sinh, chia sẻ để cả hai miền đều no ấm, thịnh vượng bằng nhau.

Tại sao phía Cộng Sản phải dựng lên Bức Tường Berlin? Ông Mikhail Pervukhin, Đại Sứ Liên Xô tại Đông Đức, đã trả lời câu hỏi này, “Nếu không có bức tường người dân sẽ thấy được sự yếu kém của phía Đông so với phía Tây.” Bức tường Berlin phải được dựng lên, nếu không một ngày kia, không còn một người dân nào ở lại với chế độ Cộng Sản, kể cả binh lính. Chỉ trong vòng sáu năm, từ năm 1945 đến 1961, sau khi rơi vào tay Cộng Sản, 20% dân số Đông Đức (3 triệu rưỡi người) đã vượt thoát sang Tây Đức.

Bức tường Berlin còn được gọi là “Bức Tường Ô Nhục” do chính phủ Đông Đức dựng nên từ ngày 13 Tháng Tám, 1961 được gọi là “tường thành bảo vệ chống Phát Xít,” nhưng rõ ràng không thấy một người Phát Xít nào leo ngược bức tường đi tìm hạnh phúc trong thế giới Cộng Sản. Bức tường này là một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất của Chiến Tranh Lạnh và của việc chia cắt nước Đức.

Mặc dù với hàng rào bê tông, cốt sắt có hệ thống báo động tự động, chó săn, 12,000 công an lùng sục ngày đêm, tháp canh, roi điện, hố sâu cản xe tăng và cơ giới, cho đến ngày bức tường sụp đổ đã có hơn 5,000 người dân Đông Đức bất chấp hiểm nguy vượt qua bức tường này thành công đến Tây Đức. Ngoài ra, cũng có 200 người dân Đông Đức bị bắn hạ khi tìm cách vượt qua vùng tự do.

Bài học của Bức Tường Berlin chưa đủ để thức tỉnh lương tri của những chế độ Cộng Sản, nhất là Cộng Sản Việt Nam. Sau Hiệp Định Geneva 1954, sông Bến Hải được làm ranh giới chia cắt hai miền Việt Nam, một triệu người miền Bắc không chờ “bộ đội cụ Hồ” vào tiếp thu Hà Nội đã khăn gói di cư vào Nam. Sau đó hơn 20 năm, cũng chưa thấy ai ở miền Nam bơi qua sông để ra Bắc tìm tự do, no ấm mà chỉ thấy những người bến Bắc, dưới mạng lưới công an dày đặc, tìm đường vào Nam.

Sau Tháng Tư, 1975, khi Bắc Việt lấp được sông Bến Hải thì hơn một triệu người không muốn “được giải phóng” đã bồng bế nhau ra đi, và sau đó, hơn nửa triệu người lại tìm đường vượt biên, vượt biển và cứ hai người tìm cách ra đi thì có một người thiệt mạng. Giá như có một cây cầu có thể nối liền Việt Nam với các nước tự do, hay có tàu bè đến cảng Sài Gòn hay Hải Phòng rước người ra đi vô thời hạn, thì Việt Nam không còn lại được một cái cột đèn để soi sáng “lăng Bác âm u.”

Cho đến 39 năm sau ngày “giải phóng,” vì sao còn cảnh người Việt đóng tàu vượt biển sang Úc, và chuyện đi lấy chồng ngoại, chuyện cầm cố nhà đất để được đi lao động nước ngoài, chuyện cho con du học mà mong con đừng nghĩ chuyện về, chuyện chuyển vốn ra ngoại quốc để lập “đầu cầu” cho mai hậu, phải chăng tất cả điều đó đã nói lên sự “ưu việt” của chế độ Cộng Sản, một chế độ bị chán ghét, đã xô đẩy mọi người phải rời bỏ quê hương, đất nước ra đi.

Nếu Cuba, Bắc Hàn mở cổng biên giới, việc gì sẽ xảy ra.

Nếu biên giới giữa Hoa Kỳ và Mexico bỏ ngỏ thì nước Mỹ sẽ tràn ngập di dân Nam Mỹ bất hợp pháp.

Chính phủ Mỹ đã bỏ ra hàng tỷ đô la để xây vài nghìn cây số tường cao tại biên giới hai nước không phải để ngăn người Mỹ chạy sang lập nghiệp bên đất Mexico. Trước đây, Hoa Kỳ đã không tiên liệu được chuyện hằng năm có khoảng 600,000 dân gốc Hispanic vượt biên vào Hoa Kỳ.
Đông Đức xây bức tường để ngăn dân của họ chạy ra, Hoa Kỳ xây hàng rào biên giới để ngăn dân ở ngoài nước chạy vào. Tị nạn chính trị hay kinh tế thì cũng là do sự lỗi lầm, ngu dốt của một chế độ.

Lúc 11 giờ 30 phút đêm 9 Tháng Mười Một, 1989, một trung tá công an biên phòng Đông Đức, ông Harald Jager, đã khóc sau khi ra lệnh mở cửa Tường Berlin, trong đêm hàng nghìn người đã ồ ạt chạy sang phía Tây. Một năm sau, nước Đức thống nhất trong tự do mà không đổ một giọt máu. Việt Nam “thống nhất” trong một hoàn cảnh khốn nạn nhất, tù đày, kỳ thị, chia lìa, đói nghèo, oan khuất, thù hận ngút trời, mà “đống xương vô định đã cao bằng đầu!”

Bây giờ có một bức tường, không phải xây bằng xi măng cốt sắt nhưng 40 năm nay vẫn còn tồn tại giữa những con người Việt Nam, mà phần ô nhục dành cho phía Cộng Sản.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Đảng CSVN Nứt Bể

Vi Anh

Image
3X cầu nguyện còn đảng còn mình

Trong đảng có phe, trong phe có nhóm, là qui luật bất biến của đảng phái. Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng là một đảng chánh trị, lại là một đảng đang cầm quyền chuyên chính nên dễ phân hoá, chia rẽ, tách đôi ba hơn nữa. Nhứt là Việt Nam là một nước rất dài, sự khác biệt địa phương về địa lý, kinh tế, nhân văn khá nặng nên những người trong đảng cầm quyền dễ khác nhau về nguồn gốc, tư tưởng, suy nghĩ, hành động. Miền Nam Việt Nam tiếp xúc nhiều với ngoại quốc trong lịch sử cận đại. Nam Việt Nam thời nào kinh tế cũng phồn thịnh hơn Miền Trung và Bắc. Thời CSVN đổi sang kinh tế thị trường, những Thủ Tướng Phan văn Khải, Võ văn Kiệt, Nguyễn tấn Dũng, những Chủ tịch Nước Nguyễn minh Triết, Trương tấn Sang nắm Nhà Nước đều là người gốc Miền Nam, đa số sống và chiến đấu ở Miền Nam. Đó là những người vận động đưa VNCS sang chế độ kinh tế thị trường, mở cửa cho đầu tư nước ngoài vào, cứu nền kinh tế VN không bị chính sách kinh tế qui hoạch, tập trung cứng rắn của những người CS Bắc Việt làm cho dân nghèo “ăn độn”, nước mạt sắp phá sản, đột quị khi mất viện trợ của Liên xô. Phàm trong kinh tế chánh trị, ai nắm hầu bao, ai làm ra tiền của thì người đó sẽ nắm quyền, bằng cách này hay cách khác, sớm muộn thôi. Cuộc đấu đá toàn diện đối nội lẫn đối ngoại, của hai phe, phe nắm chánh quyền tức Nhà Nước, đứng đầu là Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng và phe nắm đảng quyền đứng đầu là Tổng bí Thư Nguyễn phú Trọng, có thể thấy qua tin tức, thời sự tiêu biểu sau đây..

Đối nội, Nguyễn phú Trọng Tổng Bí Thư Đảng CSVN hồi năm 2013 dùng cả thế lực Đảng để hạ Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng trong đại hội triệu tập rầm rộ, sớm hơn hạn kỳ mà không hạ nỗi Ba Dũng. Kết quả “trớt qướt” không làm rụng được một sợi lông “chưn” của Ba Dũng, mà còn làm trò cười cho bàng dân thiên hạ, chứng tỏ thế yếu của Đảng. Sau mấy ngày họp kín, Trọng báo cáo trước đại hội trung ương Đảng, rằng Bộ Chánh Trị đứng lên xin nhận “kỷ luật” mà đại hội trung ương Đảng không chấp nhận kỷ luật Bộ Chánh Trị trong đó có “ một đồng chí X” -- không nói ra tên -- nhưng cả nước đều biết là Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng đối thủ không “khoang nhượng” của Trọng.

Thua keo này bày keo khác, Tổng Trọng nhờ một “đại biểu nhân dân” “học giả học thiệt” gì đó trong cái gọi là Quốc Hội “Đảng cử Dân bầu” kêu gọi Ba Dũng tạo ra “văn hoá từ chức”. Ba Dũng tỉnh bơ trả lời, kẹt cứng cho Đảng. Ba Dũng nói mấy chục năm theo Đảng, Ba Dũng chưa bao giờ xin điều gì, Đảng bảo gì làm nấy, Đảng bảo sao làm vậy, chưa bao giờ Ba Dũng từ chối nhiệm vụ Đảng giao hay “bỏ cù” việc Đảng giao.

Ngay sau đó người “Nam kỳ cục” này của Cà Mau Rạch Giá, người CS của Khu Uỷ Tây Nam bộ này “nổi quạo, cọc lên”,”chơi sát ván” Nguyễn bá Thanh, một đồ đệ của Tổng Trọng được Tổng Trọng kéo từ Đà nẵng ra Hà Nội làm Trưởng Ban Nội Chính. Vừa ra nhận chức, Nguyễn bá Thanh theo thói quen CS Bắc Việt “nổ” tá lả bồn binh, tuyên bố chinh đông, chinh tây bài trừ tham nhũng dưới mọi hình thức. TT Dũng không nói mà “cười mím chi cọp”, và hành động, cho Ban Thanh tra của chánh phủ phanh phui hồ sơ chính TT Dũng trước đây đóng dấu mật, liên quan đến một trong các vụ tham nhũng của thành phố Đà Nẵng dưới thời ông Nguyễn Bá Thanh từng làm Chủ Tịch Ủy Ban, Chủ Tịch Hội Đồng Nhân dân và Bí Thư Thành Uỷ, đã làm thất thu trên 3.4 ngàn tỷ đồng, tức trên 170 triệu Mỹ kim.TT Dũng còn giao Bộ công an “bồ nhà” của Ba Dũng điều tra và chỉ thị cho Bộ phải cử cả đoàn công an tức tốc vào ngay sào huyệt của Nguyễn bá Thanh để bươi móc, vạch lá tìm sâu thêm. Chưa đủ Ba Dũng còn “dằn mặt” Đảng trên phương diện luật pháp và “tổ chức chánh quyền” nữa. Ba Dũng tự tiện ký quyết định thành lập Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tội Phạm trực thuộc chính phủ, mà Ba Dũng là người nắm cán lẫn lưởi. Coi như liệt bại, Trưởng Ban Nội Chính của Tổng Trọng một thời gian im lìm rồi âm thầm xuất ngoại, người con trai cho biết là đi chữa bịnh bên Mỹ, chưa nghe nói ngày về.

Đối ngoại, trước tình hình TC xâm lấn biển đảo của VN ngày càng mạnh và nhiều dân chúng càng ngày càng phẫn nộ Đảng CSVN quá nhu nhược như thông đồng với Trung Cộng, TT Dũng đứng đầu chánh phủ, lên tiếng, điều hành Nhà Nước vận động ngoại giao kềm chế đà bành trướng của TC trên biển đảo VN. Nổi bật là hành động Nhà Nước VNCS chống TC đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế VN. Ba Dũng xuất tướng lấy lòng dân và dằn mặt phe thân Trung Cộng trong Đảng. Một số dấu chỉ cho thấy trên phương diện ngoại giao, bên ngoài có một số nước công khai giúp cho Nhà Nước VN. Mỹ Hành Pháp, Lập pháp, quân đội nới lỏng lịnh cấm vận, hứa bán vũ khí sát thương, huấn luyện hải quân bảo vệ biển đảo giúp VN. Liên Âu bán vũ khí cho VN, phát triễn đối tác kinh tế, quốc phòng, giúp giảm lệ thuộc kinh tế cho VN đối với TC. Nhựt ở miền đông bắc, Ấn ở Tây Nam TC, liên kết với VN về quốc phòng, an ninh hàng hải và khai thác, thăm dò dấu khí của và với VN.

Đấu đá, phân hoá, chia rẽ phe đảng trong lời ăn tiếng nói. Tam đầu chế Trọng, Sang, Dũng thường hay kẻ nói gà, người nói vịt. Về thời sự nợ công nóng hổi của VNCS, Sang nói “nguy ngập”, Dũng nói “trong giới hạn cho phép".

Ngày 24 tháng 10, 2014, Ông Đặng Xương Hùng, Vụ Phó Bộ Ngoại Giao của chính phủ VNCS, gần đây chính thức tuyên bố bỏ đảng, tỵ nạn chính trị tại Thụy Sĩ, có nói trên RFA, những trống đánh xuôi kèn thổi ngược về đảng phái CSVN. TT Dũng “khi đề cập đến vấn đề cải cách thể chế, hay các vấn đề nhân quyền, tự do dân chủ, điều được dư luận cho là trái ngược với chính sách và chủ trương của Đảng CSVN từ trước đến nay.” Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phùng Quang Thanh nói tại Quốc Hội rằng: "Khi trao đổi với bạn [TC], nói chung bạn ghi nhận ý kiến của phía Việt Nam". Còn “Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng – Tổng Tham mưu trưởng lại nói “Âm mưu thực hiện hóa đường lưỡi bò, độc chiếm biển Đông của Trung Quốc là không thay đổi. Chỉ có điều chuyển sang giai đoạn đấu tranh khác, thậm chí quyết liệt hơn, phức tạp hơn”. Ô Hùng nhận định, “Những phát biểu của ông Nguyễn Tấn Dũng vừa qua theo tôi là đều không thông qua Bộ Chính trị, mà là phát biểu với tính cách cá nhân nhằm mục đích tạo hình ảnh cá nhân của ông ấy cho ở trong và ngoài nước. Tức là ông ấy muốn cho thấy ông ấy đã độc lập với Bộ Chính trị, ông ấy có đủ sức mạnh và thẩm quyền để đối phó với sự lãnh đạo tập thể hiện nay của Bộ Chính trị, vì lợi ích của cá nhân. Theo tôi đấy mới là vấn đề.”

“Trong Đảng CSVN đang ngấm ngầm tồn tại hai phái theo hai trục trong Đảng, tức là một trục theo Đảng còn một trục theo Chính phủ. Mà nguyên nhân chính theo tôi là do các phe đang tranh giành, đối chọi nhau về lợi ích để giành quyền chi phối của Đảng và nhà nước, giành cái lợi thế trong cuộc đấu tranh vì quyền lực.”“Nguyên nhân là trong nội bộ của họ đã có sự phân hóa, sự tập trung quyền lực thống nhất quyền lực từ trung ương đến địa phương hay tư tưởng của các quan chức không còn như trước đây nữa. Đây là hậu quả của sự phân hóa theo ê kíp, phe nhóm thậm chí là ở ngay cùng một cơ quan hay tổ chức.”./.(Vi Anh)

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

VÀI NHẬN XÉT SAU KHI XEM HỘI LUẬN KHI ĐIẾU CÀY NGUYỄN VĂN HẢI ĐẾN CALI.

Đại-Dương

Ấn tượng đầu tiên khá chua xót vì "người Việt chẳng nhớ những điều không đáng quên và dễ quên những thứ phải nhớ".

Chúng ta bị lừa đi, bịp lại đến thất điên bát đảo mà chẳng rút
được bài học nào.

Lực lượng Thứ ba tại Sài Gòn gồm toàn đại trí thức hoá ra chỉ là cánh tay nối dài, hoặc chịu sự chỉ đạo của cán bộ Cộng sản khi màn kịch đã kết thúc.

Nguyễn Văn Nuôi, HuỳnhTấn Mẫm, anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường... chống độc tài gia hay dẫn đường cho độc tài đảng trị?

Vũ Ngọc Nhạ, Cố vấn phủ tổng thống, Đại tá Phạm Ngọc Thảo, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh ... chẳng những đứng dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ mà còn hô hào chống Cộng quyết liệt. Chúng đã hiện nguyên hình cán bộ nằm vùngđáng kinh tởm.

Khống chế, điều khiển cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản đã thành quốc sách của Bắc Bộ Phủ. Các lãnh tụ cộng sản từng tuyên bố "chúng ta phải nắm chặt ngọn cờ dân chủ".

Vì thế, chúng đã dùng trăm phương ngàn kế và cũng gặt hái được vài thành quả đối với một số người nhẹ dạ cả tin mà lại ngậm miệng khi biết bị lừa.

Khi cao trào dân chủ dâng cao trong hệ thống cộng sản quốc tế, Bắc Bộ Phủ không thể chối bỏ nên chặn đứng bằng cách "nắm ngọn cờ dân chủ đa nguyên" qua các trí thức xã hội chủ nghĩa như Lữ Phương, Nguyễn Kiến Giang, Hà Sĩ phu ...

Năm 1997, Hà Sĩ Phu viết "cái sự chuyển hoá phải do người cộng sản ly khai, giác ngộ mới có xung lực mạnh nhất ... là ngọn cờ, trung tâm, hạt nhân làm nổ ra". Từ bấy đến nay, sao vẫn tịt ngòi!

Những bài biện giải, tham luận được hải ngoại bốc lên tận mây xanh về các thành tích phản kháng, tù đày của họ.


Tiếc thay, trong vụ bóc mẽ năm 2005, Dương Thu Hương tố "các ông chính là những tù nhân chính trị đầu tiên được hưởng chính sách: CỦ CÀ RỐT ... ông Nguyễn Thanh Giang cũng như ông Hà Sĩ Phu được ngủ giường nệm, ăn 50.000 đồng một ngày, toilete hiện đại, ti vi xem thoả thuê".

Dương Thu Hương viết cho Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang "tôi đã tuyên bố thẳng thừng với tất thảy mọi người ông chính là con chim mồi của tổng cục 1".

Bùi Tín trốn lại ở Pháp, Dương Thu Hương ở trong nước rồi cũng xin ở lại Ba Lê, Vũ Thư Hiên ở Đông Âu đều ra sức chạy tội cho Hồ Chí Minh

bằng cách cáo buộc cặp bài trùng Lê Duẩn-LêĐức Thọ là thủ phạm mọi tội ác đối với dân tộc.

Nhưng, bài "Địa chủ ác ghê" của Hồ Chí Minh ký bút hiệu C.B. để mở màn cho chiến chiến dịch cải cách ruộng đất ghê rợn nhất trong lịch sử Việt Nam. Hồ Chí Minh đã sử dụng ít nhất 51 bút hiệu. Được một số người Việt hải ngoại tâng bốc như nhà đấu tranh cho dân chủ Việt Nam mà năm 2008, Dương Thu Hương viết cho các đồng chí trong nước lý do rứt khoát ly khai với cộng đồng hải ngoại "Thứ tình cảm bầy đàn: đồng chí, bạn hữu ... các nhà cách mạng

sa-lông này có một phần thiếu hụt,cái phần thiếu hụt này là thực thi một cuộc phẩu thuật để buồng gan của họphình to lên chút ít".

Chu choa, buồng gan của vị nữ sĩ này chắc to lắm nên chẳng còn dám mồm loa mép dãi ở quốc nội nữa!!!

Thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt Dự án phát triển ra hải ngoại với ngân sách 20 triệu USD từ 2015-2020 nhằm chinh phục khối người Việt hải ngoại, đặc biệt với 2 triệu ngườiViệt ở Hoa Kỳ.

Phải chăng đang cầnmột điều phối viên trung thành tuyệt đối với đảng cộng sản trong võ bọc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền Việt Nam.

Việt Nam đang cần viện trợ. Hoa Kỳ muốn kéo Việt Nam ra khỏi ảnh hưởng của Trung Cộng. Hai bên tạo ra một kịch bản thế nào để khỏi bị chống đối nên có màn Phụ tá Ngoại trưởng của Mỹ thừa nhận Việt Nam có tiến bộ về nhân quyền, tự do tôn giáo nên xuất cảng Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Hải sang Hoa Kỳ?

Chẳng lẻ các chính trị gia, nhà ngoại giao Mỹ có thể kém cỏi đến độ tin rằng Điếu Cày Nguyễn Văn Hải đủ khả năng tập họp người Việt trong và ngoài nước đứng lên lật đổ chế độ cộng sản hay sao?

Tại cuộc Hội luận, Điếu Cày công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ đại diện cho tự do, dân chủ và nhân quyền, nhưng, cần được 90 triệu người trong nước chấp nhận. Mấy năm trước, tổ chức thăm dò dư luận PEW ở Mỹ cho biết người Việt Nam hạnh phúc nhất thế giới nghe như chuyện phong thần. Vậy làm sao để người Việt quốc nội chấp nhận lá cờ vàng 3 sọc đỏ như biểu tượng đấu tranh khi còn bị cai trị bằng súng đạn và dùi cui bởi những đầy tớ mẫn cán của dân?

Điếu Cày hô hào truyền thông nội ngoại kết hợp thành sức mạnh.

Từ khi có internet đến nay, không cần bất cứ một cơ quan trung gian nào, bài vỡ vẫn lưu thông và nhỡn nhơ khắp các trang mạng ngoại trừ hệ thống lề phải. Hay Điếu Cày ngụ ý đến một "cơ quan lọc tin" trước khi loan tải tới dư luận?

Điếu cày tuyên bố sẽ đích thân đấu tranh cho các tù nhân lương tâm ở trong nước chưa được tự do vì quá kiêu ngạo hay chưa am tường phương thức vận động hành lang tại Hoa Kỳ.

Chỉ có một số tổ chức quen thuộc ở hải ngoại mới có thể tiếp cận với giới chính trị gia Mỹ chứ chẳng phái ai đơn

phương cũng làm được. Vài năm trước, Luật sư khiếm thị Trần Quang Thành ở Hoa Lụcđược đưa sang Mỹ và cho học bổng gây xôn xaodư luận một thời nay đã im hơi lặng tiếng.

Điếu cày nói khá nhiều tới thời gian bị giam giữ như một thành tích đấu tranh. Thực tế, dưới chế độ cộng sản Việt Nam, số người bị tù khắc nghiệt dài ngày hơn Điếu Cày kể cả triệu người. Họ chết trong tù vì đói rét, bệnh tật, hành hạ, bị kiên giam dài hạn, bị nhốt trong connex như con vật. Khoe khoang trước những nạn nhân của cộng sản chẳng phải quá cường điệu và lố bịch lắm sao?

Người Việt tị nạn cộng sản từng hiểu đúng ý nghĩa dân chủ phổ cập và đã góp công xây dựng suốt 20 năm tại Việt Nam Cộng Hoà. Bây giờ được bổ khuyết nhờ sống trong các quốc gia có nền dânchủ chín mùi chẳng lẽ phải ngóc đầunghe một người được đào tạo trong nền"dân chủ xã hội chủ nghĩa" giảng dạy?

Kiểm điểm lại hoạt động của những cựu đảng viên cộng sản Việt Nam, cán binh cộng sản đã có mặt ở hải ngoại có thể thấy ba điều chính.

Một là, họ không thuyết phục được "đồng chí" ở trong nước đứng lên chống lại đảng Cộng sản như từng rêu rao.

Hai là, họ gây quá nhiều tranh cãi và chia rẽ trong cộng đồng người Việt hải ngoại.

Ba là, họ không muốn hợp lực với các tổ chức đoàn thể có lịch sử đấu tranh chống thực dân Pháp, chống cộngsản bằng cả lý luận lẫn xương máu.

Vậy, họ hay người Việt tị nạn cộng sản cần phải thay đổi trên con đường đấu tranh cho một nước Việt Nam Tự do, Dân chủ, Phú cường?


Đại-Dương

kalua
Posts: 848
Joined: Sun Apr 22, 2012 5:26 pm

Post by kalua »

VỊ THẾ CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA TẠI THƯƠNG ĐỈNH APEC-22 TẠI BẮC KINH
Đào Như

Image
Tập Cận Bình và phu nhân đón tiếp Barck Obama-APEC-22-Anh VOA.

Xoay Trục Về Châu Á Thái Bình Dương’, một trong những chính sách đối ngoại của Tổng thống Barack Obama được coi là thích đáng nhất trong việc đương đầu với sự vươn lên của Trung Quốc trong chiều hướng bành trướng và khống chế quân sự và kinh tế khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Sự trỗi dậy kinh tế và quân đội Trung Quốc xuyên qua 3 thập niên qua, ngày càng hiện rõ như là một thách đố cho nền an ninh khu vực và thế giới. Hiểm họa bùng nổ chiến tranh khu vực và toàn cầu trong thập niên tới không phải đến từ cuộc chiến Hồi giáo Trung Cận Đông, mà đến từ Trung Quốc. Nước này đang có tham vọng lớn lao tái định hình địa chính trị tại châu Á-Thái Bình Dương và Toàn cầu.


Tại thượng đỉnh APEC-22, Trung Quốc đang cố gắng che đậy mưu đồ này, nhất là việc TQ xâm chiếm và thay đổi hiện trạng của vùng biển Hoa Đông và Biển Đông, bằng cách phô trương với thế giới một nước ‘Trung Quốc hùng mạnh phồn vinh tiến bộ và có trách nhiệm’ qua những chiêu bài phát triển kinh tế, ổn định hòa bình khu vực và toàn cầu. Tập Cận Bình tại APEC-22, trong buổi gặp gỡ với các lãnh đạo tập đoàn và doanh nhiệp đã kêu gọi các nước khu vực Châu Á Thái Bình Dương hãy cùng TQ thực hiện giấc mơ về ”một châu Á hoà bình ” thông qua những lợi ích to lớn mà kinh tế TQ có thể mang lại. Tập Cận Bình cũng thông báo: Để kết nối các quốc gia dọc tuyến đường Tơ lụa cũ, TQ sẽ thành lập Quỷ Đầu Tư Cơ Sở Hạ Tầng Á Châu có số vốn 40 tỷ USD do TQ tài trợ.

Mặt khác, đối với nhà lãnh đạo Hoa Kỳ, Tổng thống Barack Obama, các nhà lãnh đạo của Cộng Sản TQ đã đặc biệt trọng thị đón tiếp.

1-Ngoại trưởng Trung Quốc, Vương Nghị, đã ra tận chân cầu thang máy bay tại phi trường Bắc Kinh để đón tiếp Tổng thống Obama khi ông đến tham dự Diễn Đàn KInh Tế Á Châu lần thứ 22.

2- Ngay tại buổi lễ khai mạc APEC-22, Tập Cận Bình và Đệ nhất phu nhân TQ, Bành Lệ Viện, ân cần và kính cẩn đón tiếp Tổng thống Obama, với nụ cụ cười hòa nhã hiếm thấy trên gương mặt của ông Tập trong suốt thương đỉnh APEC tại Bắc Kinh.

3- Đêm 11-Nov Tập Cận Bình và Obama gặp nhau tại nhà riêng của ông Tập tại Trung Nam Hải. Hai người cùng bước ra ngoài thân mật bên nhau, vừa đàm đạo vừa đi dạo trong đêm thuộc khu Trung Nam Hải, đặc khu cư trú tại Bắc Kinh dành riêng cho các cấp lãnh đạo nhà nước Trung Quốc.


4- Obama, Tập Cận Bình có buổi ăn tối hôm 12-Nov kéo dài 5 giờ liền tại đặc khu Trung Nam Hải, có sự tham dự của quan chức cao cấp của cả hai bên, về phía Mỹ có ngoại trưởng John Kerry và Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ, bà Susan Rice.

Buổi ăn tối này được coi là buổi đối thoại rất hữu ích, cần thiết và đáng giá. Trong buổi gặp này, Tổng thống Obama nói rằng ông mong muốn quan hệ giữa hai nước được nâng lên một tầng cao mới. Khi Mỹ và TQ hợp tác với nhau tốt, thì không những chỉ có Mỹ và TQ mà có cả thế giới cùng có lợi. Tổng thống Obama cũng hết lời khen ngợi Chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình, đã quản lý tốt các sự kiện trong suốt thời kỳ ông viếng thăm Bắc Kinh. Đáp lại Chủ Tịch Tập bày tỏ muốn hợp tác với Mỹ chặt chẽ hơn.

Mặc dầu được trọng thị nghinh tiếp như vậy, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, một mặt ông ghi nhận thái độ hòa hoãn và khiêm cung của TQ, một quốc gia đang đi lên. Mặt khác ông vẫn quyết chí lôi kéo Bắc Kinh đi vào con đường đúng đắn, giảm đối đầu quân sự với Mỹ và cùng Mỹ xây dựng và củng cố hòa bình để cùng hợp tác phát triển kinh tế. Chuyến công du tham dự APEC-22 của Tổng thống Obama đúng vào thời điểm căng thẳng giữa Bắc Kinh và Washington đang tăng lên. Trong khi Mỹ muốn mở rộng lợi ích của mình tại Châu Á Thái Bình Dương thì TQ ngày càng muốn gia tăng sự chi phối của họ tại khu vực này. Mỹ đã có cuộc vân động hành lang ngăn ngừa sự thành lập Ngân Hàng Đầu Tư Hạ Tầng Đa Phương châu Á- Asian Investment Infrastructure Bank -do TQ tài trợ $40 tỷ USD. Dầu vậy, hôm 10 tháng 11, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama khẳng định trong buổi họp báo tại Bắc Kinh, Mỹ và thế giới mong muốn TQ thành công, nhưng Bắc Kinh phải trở thành một đối tác giúp đảm bảo trật tự quốc tế, cùng bảo vệ gìn giữ hoà bình an ninh khu vực và thế giới, chứ không phải gây tổn hại cho các trật tư đó. Ông cũng khuyến khích TQ tạo ra sân chơi bình đẳng cho mọi công ty. Ông cũng kêu gọi Bắc kinh tạo ra một thị trường công bằng cho các doanh nghiệp nước ngoài. Trong buổi gặp gỡ với các lãnh đạo doanh nghiệp tại thương đỉnh APEC-22, ông Obama nói rằng: Chúng tôi trông đợi TQ trở thành một nền kinh tế hiện đại, biết đề cao giá trị của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và từ chối hành động đánh cắp qua mạng các bí mật kinh doanh vì lợi ích thương mại.

Trong những ngày qua tại Bắc Kinh, có nhiều người cho rằng Mỹ đã thất bại vì Mỹ không thể kết thúc vòng đàm phán TPP tại bên lề thượng đỉnh APEC tại Bắc Kinh vì Nhật bản không nhượng bộ thông qua hồ sơ “Chính phủ có quyền trợ giá nông sản xuất khẩu”. Và sức mạnh của TPP cũng bị lấn át và suy giảm bởi tổ chức kinh tế do TQ vừa công khai đề xuất tại APEC lần này: Vùng Tự Do Mậu Dịch Châu Á- FTAAP. Hơn thế nữa Mỹ dường như thất bại trong việc vận động hành lang chống lại việc TQ thiết lập “Á Châu Ngân Hàng Đầu Tư Hạ Tầng Cơ Sở -Asian Investment Infrastructure Bank-”. Trong thực tế Hoa Kỳ cũng nhìn thấy trước có thể thất bại trong việc kết thúc vòng đàm phán trước cuối năm 2014 như Tổng thống Obama mong muốn. Ngân hàng “Asian Investment Infrastructure Bank” do Tập Cận Bình đề xuất hôm 10-Nov tại buổi lễ khai mạc APEC tại Bắc Kinh vẫn còn là thuần khiết một đề xuất. Còn việc tiến hành đặt viên đá đầu tiên cho ngân hàng này vẫn còn là một giả thiết tùy thuộc nhiều yếu tố khác nhau, tùy thuộc vào tầm nhìn của mỗi thành viên APEC về chủ đích của ngân hàng này, nhất là những đồng minh của Mỹ trong hàng ngũ thành viên APEC: Nam Hàn, Nhật bản, Australia, New Zealand, Philippines…

Trong tình hình hiện tại, dưới cái nhìn của báo chí và các nhà quan sát quốc tế, thượng đỉnh APEC tại Bắc Kinh là cơ hội cho Chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình, phô trương với thế giới một Trung Quốc hùng mạnh về vũ khí chính trị, phồn vinh về kinh tế. Nhưng cũng tại thượng đỉnh APEC tại Bắc Kinh Tổng thống Hoa kỳ Barack Obama đã xuất hiện như là một nhà lãnh đạo thế giới tìm kiếm mọi phương sách hóa giải, và kiến tạo an ninh, hòa bình, ổn định cho khu vực và tòan cầu. Do đó, ai còn dám bảo TQ là kẻ thắng và Hoa Kỳ là kẻ bại tại thượng đỉnh APEC lần thứ 22 tại Bắc Kinh?

Đào Như

Post Reply