Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Từ Trường Sa Đến Tây Nguyên

Trần Hùng

Image
Quần đảo Trường Sa của Việt Nam đang bị nhiều nước chiếm giữ.
Vào dịp đầu Xuân năm nay, cộng đồng người Việt ở nhiều nơi đã tổ chức những buổi lễ trọng thể để tưởng niệm các chiến sĩ VNCH đã hy sinh trong trận hải chiến với Trung cộng tại quần đảo Hoàng Sa, diễn ra cách đây vừa đúng 35 năm. Thời nào cũng vậy, người chiến sĩ bỏ mình nơi sa trường chính là những vị anh hùng đích thực, và luôn được hậu thế tôn vinh mãi mãi về sau.

Trong cuộc hải chiến diễn ra ngày 19-1-1974 tại quần đảo Hoàng Sa, 58 chiến sĩ VNCH đã anh dũng hy sinh, gửi xác trong lòng biển Đông để dân tộc Việt Nam mãi mãi tự hào về lòng yêu nước dạt dào và quyết tâm bảo vệ lãnh thổ không có gì lay chuyển nổi của những người con yêu của Tổ Quốc. Dù tương quan lực lượng có yếu thế, nhưng họ vẫn hiên ngang xấn tới. Dù địch quân đông đảo và hung hãn, nhưng họ không một giây phút sờn lòng. Máu của những chiến sĩ anh hùng này đã tô thắm hình ảnh Hoàng Sa trên tấm bản đồ nước Việt. Tên tuổi của anh hùng Ngụy Văn Thà và những chiến hữu của anh mãi mãi nằm trên những trang sử xanh.

Nói đến Hoàng Sa, người ta không thể quên Trường Sa. Trên sóng nước biển Đông, 2 quần đảo này là những phần máu thịt Việt Nam không thể chia cắt được. Những gì đã xẩy ra tại Hoàng Sa vào đầu năm 1974 lại được lập lại sau đó 14 năm khi Trung cộng đem quân đánh chiếm Trường Sa, và nước biển Đông lại một lần nữa hoà máu của con dân Việt. Đó là ngày 14-3-1988, cách đây vừa đúng 21 năm.

Như lịch sử còn ghi lại sau này, tình hình giữa 2 nước cộng sản "vừa là đồng chí vừa là anh em" Trung cộng và Việt cộng vào cuối thập niên 80 đang ở trong tình trạng hết sức căng thẳng. Cuộc tranh chấp kéo dài gần một thập niên với nhiều trận giao tranh đẫm máu đã biến 2 chế độ cùng tôn thờ một chủ nghĩa ngoại lai này, nay trở thành thù địch, không đội trời chung. Vốn vẫn coi CSVN như là một chư hầu, đặc biệt trước thái độ khiếp nhược của Hà Nội đối với vấn đề lãnh thổ, qua công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng năm 1958, hay việc Việt cộng nhắm mắt khi Trung cộng đánh chiếm Hoàng Sa, Bắc Kinh tiếp tục đẩy mạnh nỗ lực xâm chiếm Việt Nam. Một sĩ quan cao cấp của hải quân CSVN đã từng tham dự trận hải chiến Trường Sa sau này tiết lộ trong bài bút ký mang tựa đề "Một Trang Sử Anh Hùng, Một Thời Kỳ Nhục Nhã" dưới bút hiệu "Phạm Trung Trực" cho biết "Ngay từ cuối năm 1986, tình hình vùng biển Đông, đặc biệt là khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam có những diễn biến phức tạp do các hoạt động do thám, khiêu khích của lực lượng Hải quân Trung Quốc. Đến đầu năm 1987, Trung Quốc vừa đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao bịp bợm, vừa tăng cường đưa tàu chiến vào gần các đảo của Quần đảo Trường Sa, trong đó có những đảo bộ đội ta đang chiếm giữ. Chúng trắng trợn đặt bia kỷ niệm ở đảo Ma-i- xi-Ti, cho tàu qua lại các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa, Trường Sa đông, Song Tử Tây… có lúc chỉ cách quân ta có một vài hải lý. Trắng trợn hơn chúng còn đưa lực lượng chiếm giữ 2 đảo Kỳ Vân và Kiệu Ngựa ở phía nam Quần đảo Trường Sa".

Mặc dù Trung cộng đe dọa như vậy, lãnh đạo Hà Nội vẫn một mực câm nín. Tác giả Phạm Trung Trực tiết lộ thêm trong bài bút ký nói trên: "Bộ Tư Lệnh hải quân liên tục báo cáo lên trên xin ý kiến chỉ đạo. Một trong những nội dung đề nghị cấp trên giải đáp ngay: Trung Quốc là bạn hay thù. Chúng đánh ta, ta có đánh trả không? Cấp trên vẫn im lặng hoặc trả lời không rõ ràng. Đau đớn thay cho Tổ Quốc ta, chính vào thời điểm đó, trong lúc bọn bành trướng Bắc Kinh đã lộ rõ dã tâm xâm lược thì lãnh đạo đất nước với sự thao túng của Lê đức Anh, Ủy viên Bộ Chính Trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đang tìm cách bắt tay với lãnh đạo Trung Quốc để âm mưu thực hiện cái gọi là “Giải pháp đỏ” ở Căm pu Chia".
Image
Bản đồ do Trung cộng ấn hành năm 2007 công bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.
Thái độ đớn hèn đó rõ ràng đã làm tăng thêm dã tâm của Trung cộng. Ông Phạm Trung Trực tường thuật chi tiết trận đánh như sau: "6 giờ ngày 14-3-1988, bọn Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo. Bọn Trung Quốc dựa vào thế quân đông tiến đến giật cờ ta. Lập tức thiếu úy Trần Văn Phương, hạ sỹ Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội anh dũng xông lên giành lại cờ. Bọn lính Trung Quốc láo xược, hung hãn đã dùng lưỡi lê đâm và bắn Nguyễn Văn Lanh bị thương. Thiếu úy Trần Văn Phương xông vào cứu bạn lập tức bị bọn lính Đại Hán bắn chết. Trần Văn Phương đã anh dũng hy sinh. Đây là liệt sỹ đầu tiên của bộ đội hải quân Việt Nam hy sinh trên vùng biển Đông của Tổ Quốc, bảo vệ quần đảo Trường Sa. Trước lúc hy sinh, Trần Văn Phương đã hô to ’Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng hải quân anh hùng. Tổ quốc Việt Nam muôn năm’. Tiếng hô của anh vang vọng trên sóng biển Đông xa xôi. Những người lãnh đạo ở Hà Nội có nghe được tiếng hô thống thiết này không? Tiếng hô mà lẽ ra bằng tâm linh của những con người có lương tri phải nghe được, cảm được. Vì chính họ là những người phải chịu trách nhiệm về sự hy sinh này".

Những người lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội có nghe được những tiếng hô thống thiết này, nhưng họ không có lương tri để nhận thức được sự việc. 64 chiến sĩ bộ đội hải quân đã bỏ mình trong trận hải chiến Trường Sa. Trung cộng đã chiếm thêm một số đảo. Nhưng những sự hy sinh này đã bị tập đoàn lãnh đạo cộng sản phản bội. Bằng chứng là những hiệp ước trên đất liền và trên biển mà Hà Nội đã ký kết lén lút với Bắc Kinh để dâng nạp thêm những phần đất của Tổ Quốc, ở Bản Giốc, ở Nam Quan, ở Tục Lãm, ở Biển Đông… Tác giả Phạm Trung Trực đã nói thay cho 64 chiến sĩ đã hy sinh ở Trường Sa, cũng như những chiến sĩ khác đang tiếp tục bị phản bội: "Thật kỳ lạ, đúng 20 năm sau, lịch sử lại lập lại một trang bi thảm trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta. Năm 2008 này, khi nhân dân ta đặc biệt là tầng lớp thanh niên, sinh viên biểu tình tỏ thái độ phản đối bọn Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa - Trường Sa thì ban lãnh đạo Đảng vẫn như vô cảm, thậm chí còn cho công an đàn áp dã man, bắt bỏ tù nhiều thanh niên yêu nước dám hy sinh vì Tổ quốc thân yêu".

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết "Trong tháng 12/2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường". Trung cộng không phải mới chỉ xâm chiếm những phần đất ở biên giới phiá Bắc, hay những hải đảo ở biển Đông xa xôi, mà đã lấp ló ngay trên miền Tây nguyên. Dư luận hiện nay đang quan tâm đến hình thức xâm thực mới, lồng dưới nhãn hiệu khai thác quặng bauxite ở miền đất chiến lược này. Đã có rất nhiều giới chức thuộc lãnh vực khoa học cũng như quân sự đã lên tiếng cảnh báo, và tiếng nói mới nhất là của tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu đại sứ VNCS tại Bắc Kinh. Thư của ông Vĩnh viết rằng: "Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào ?!".
Image
Những đồi thông và vườn chè ở Tây nguyên đã bị san bằng để khai thác bauxite.
Tin tức cho biết một số đơn vị quân đội đã bị điều động đến Tây nguyên để "bảo vệ" cho những khu vực khai thác bauxite. Những chiến sĩ bộ đội sẽ nghĩ gì về nhiệm vụ này? Các anh cầm súng để bảo vệ đất nước thân yêu, hay là để giữ vững ngai vàng cho một thiểu số cầm quyền đang cam tâm cúi đầu trước ngoại bang?. Câu trả lời cần được mỗi người tự tìm lấy, xuất phát từ trái tim yêu nước và lương tri chân thật của mình, chứ không dưới bất cứ một áp lực nào hay nhân danh bất cứ chủ nghĩa nào. Chỉ có một chủ nghĩa duy nhất cho người Việt Nam, đó là "chủ nghĩa yêu nước" chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản ngoại lai, và chỉ có một nhiệm vụ duy nhất cho mọi con dân Việt, đó là "bảo vệ đất nước" chứ không bảo vệ cho một tập đoàn, đảng phái hay chế độ nào. Nhân 21 năm tưởng niệm những chiến sĩ đã bỏ mình trong trận hải chiến Trường Sa, hàng ngũ bộ đội cần xác định mạnh mẽ những điều nói trên, để không phản bội lại sự hy sinh của anh hùng Trần Văn Phương hay Nguyễn Văn Lanh, và cũng để sự hy sinh của chính mình không trở nên vô nghĩa.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Phải chấm dứt lối im lặng hèn nhát

Ngô Nhân Dụng

Tại sao tầu Trung Quốc cố ý đụng độ tầu Mỹ ở Biển Ðông nước Việt vào cuối tuần vừa qua? Có người giải thích là giới lãnh đạo Bắc Kinh muốn thử coi ông tổng thống mới của nước Mỹ sẽ phản ứng thế nào. Có giả thuyết coi vụ gây rối xẩy ra vì ông đô đốc chỉ huy hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ tới thăm Hà Nội. Gây ra vụ rắc rối này là bắn một mũi tên nhắm 2 con chim, Mỹ và Việt Nam.

Năm 2001 chính quyền Trung Quốc đã từng thử trắc nghiệm cựu Tổng Thống George W. Bush một lần, ba tháng sau khi ông Bush nhậm chức. Phi cơ chiến đấu Trung Quốc đã bay sát một chiếc máy bay thám thính của hải quân Mỹ, phi công Mỹ phải xin phép hạ cánh khẩn cấp xuống một phi trường ở đảo Hải Nam, trong Vịnh Bắc Việt. Năm đó 24 nhân viên phi hành đoàn chỉ được thả sau 11 ngày ăn cơm Tầu, sau khi chính phủ Mỹ tỏ ý ân hận, mặc dù không chính thức xin lỗi. Từ đó, mối bang giao giữa Bắc Kinh và Washington thắm thiết suốt 8 năm trời và máy bay Trung Quốc không bao giờ lượn ép gần phi cơ thám thính của Mỹ nữa.

Năm nay, tân Tổng Thống Mỹ Barack Obama mới tuyên thệ chưa được 7 tuần, năm chiếc tàu Trung Quốc đã vây bủa, ngăn chặn, phá đám công việc thăm dò biển của một chiếc tầu thám thính Mỹ trong vùng biển quốc tế cách đảo Hải Nam 75 dặm. Tầu Mỹ dùng vòi rồng phun nước đuổi các tầu Trung Quốc đi, nhưng các thủy thủ Trung Hoa đã cởi quần áo ngoài và tiếp tục lướt sóng xông tới. Khi tầu Impeccable báo hiệu xin mở đường để tránh đi nơi khác, vẫn còn chiếc tầu Trung Quốc chặn ngang đường, cách nhau chỉ có 8 mét. Trước khi xẩy ra vụ này, tầu Hải quân Trung Quốc đã quấy nhiễu một tầu thăm dò đáy biển khác của Mỹ trong vùng Hoàng Hải ở phía Bắc.

Vào cuối tuần, Bộ Quốc Phòng Mỹ ngỏ lời than phiền về những hành động bất thân thiện và nguy hiểm trên. Ðầu tuần này Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã đáp lại, họ tố cáo tầu Mỹ vi phạm công ước quốc tế về luật biển, xâm phạm ranh giới 200 dặm thuộc vùng kinh tế độc quyền trên biển (exclusive economic zone, EZZ) của họ. Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc nói rất mạnh, gọi hành động của tầu thủy Mỹ là “không thể chấp nhận được.”

Công ước năm 1982 của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS) ấn định lãnh hải của các nước là 12 hải lý, nhưng xác định mỗi nước có quyền khai thác tài nguyên trong vòng 200 hải lý, gọi là EEZ. Công ước này cho phép tầu thủy các nước được đi vào vùng kinh tế của nước khác, trong đó có quyền thám thính; nhưng không nói gì đến các tầu quân sự. Trung Quốc ký vào bản công ước này năm 1996, còn chính phủ Mỹ chưa ký, mặc dù vẫn tự nguyện tôn trọng phần lớn các quy định trong 320 điều khoản và 8 bản phụ đính trong công ước này.

Ngày Thứ Tư, Ngoại Trưởng Dương Khiết Trì đã tới gặp Ngoại Trưởng Hillary Clinton tại Bộ Ngoại Giao Mỹ, hai bên tuyên bố sẽ cố gắng tạo không khí hòa dịu. Ông Dương Khiết Trì tuyên bố cuộc bang giao hai nước đang bắt đầu những bước tốt đẹp. Trong chuyến đi Bắc Kinh tháng trước, bà Clinton đã không lên án những vụ Trung Quốc vi phạm nhân quyền, mà nhấn mạnh vào liên hệ kinh tế, đề cao trách nhiệm chung của hai nước phải cùng giúp thế giới thoát cơn suy thoái.

Nếu bà Clinton đã mở đường hòa hiếu như vậy thì tại sao tầu Trung Quốc lại quấy rối tàu Mỹ ở ngoài Biển Ðông nước Việt Nam? Họ có thể nhắm vào cả nước Mỹ lẫn Việt Nam.

Ðây có thể là một hành động do giới quân nhân lãnh đạo Bộ Quốc Phòng Bắc Kinh xướng xuất, Bộ Chính Trị cộng sản Trung Quốc có thể biết, nhưng cũng có thể không biết trước. Ở nước nào cũng vậy, các tướng lãnh có thể gây ra những rắc rối nhỏ để cho các nhà chính trị phải biết kính nể vai trò quan trọng của họ. Giới quân sự vẫn coi là họ chịu trách nhiệm về an ninh quốc gia, một vấn đề phức tạp và nặng nề mà những người dân sự không hiểu nổi.

Trong hành động gây rối với tầu Mỹ, giới quân sự Trung Quốc muốn thông báo cho thế giới biết rằng vùng biển Nam Hải là “ao nhà” của họ, đừng ai tính xía vô (cũng như người Mỹ vẫn coi Tây Bán cầu là sân sau của mình). Quan niệm Châu Mỹ là chuyện riêng của nước Mỹ sẽ được người Trung Hoa áp dụng ở miền Ðông Á Châu, đặc biệt là trong vùng biển phía Nam nơi nhiều quốc gia đang tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Mặt khác, giới quân sự Trung Quốc cũng muốn dằn mặt nhóm cầm quyền cộng sản Việt Nam, cho họ biết rằng người Trung Quốc không nể nang gì Mỹ cả (bị phun nước nhưng vẫn cởi trần xông tới). Do đó, họ nhắn bảo cộng sản Việt Nam hãy ngưng lén lút bàn chuyện “dan díu” với Mỹ qua cuộc gặp gỡ đô đốc Robert Willard. Báo chí ở Việt Nam, do đảng cộng sản kiểm soát, đã loan tin đô đốc Willard thảo luận hợp tác trong nhiều lãnh vực, trong đó có cả những vấn đề an ninh và quốc phòng ở Biển Ðông.

Ðiều đáng tiếc là trước một biến cố xẩy ra trong vùng biển của nước mình, thái độ của chính quyền cộng sản Việt Nam quá rụt rè, có thể nói là nhu nhược. Khi được hỏi về hành động của thủ tướng Mã Lai Á bay tới thăm đảo Ðá Hoa Lau trong quần đảo Trường Sa, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hà Nội chỉ nhắc lại những quy tắc đại cương như việc tôn trọng chủ quyền các nước theo luật biển và Công ước 1982, để “không làm tình thình thêm phức tạp.”

Ðáng lẽ ra, nhân những biến cố xẩy ra giữa tàu Hải quân Mỹ và Trung Quốc, người cầm quyền ở Việt Nam phải lợi dụng cơ hội này xác nhận lại chủ quyền của nước mình trên vùng biển xẩy ra những vụ rắc rối đó.

Vì vụ tầu Impeccable cũng xẩy ra trong “vùng kinh tế trên biển, EZZ” của Việt Nam, nằm trong khoảng 200 hải lý cách bờ biển nước ta ở Hoàng Sa. Trong khi Trung Quốc nhân cơ hội này xác định vùng EZZ của họ, Việt Nam không nên để lỡ cơ hội mà không nhắc lại Hoàng Sa là một quần đảo thuộc nước Việt mặc dù đã bị Trung Quốc đánh chiếm từ năm 1974.

Khi hai quốc gia có những tranh chấp về lãnh thổ và lãnh hải, bổn phận của chính quyền là luôn luôn tìm cơ hội nhắc lại chủ quyền bất khả xâm phạm của mình trên những vùng tranh chấp đó. Nhất là khi Hải quân Trung Quốc cố ý phô bầy cho cả thế giới biết là vùng Biển Ðông nước ta là “ao nhà” của họ, không cho ai xía vào, thì bất cứ chính quyền Việt Nam nào cũng phải tìm cách phản bác bản thông điệp ngấm ngầm như vậy. Thái độ im lặng của đảng cộng sản Việt Nam cho thấy họ vẫn theo một đường lối ngoại giao tránh né nếu không phải là sợ sệt dối với nước cộng sản đàn anh phương Bắc.

Trong một bài tham luận về vấn đề tranh chấp các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mới được phổ biến trên mạng lưới của các cựu sinh viên Quốc Gia Hành Chánh Việt Nam Cộng Hòa, kỹ sư Trần Văn Khởi đã lên án đảng cộng sản Việt Nam là nhu nhược, nếu không nói là hèn nhát, khi tránh né nêu lên vấn đề chủ quyền này.

Một thái độ nhu nhược lộ rõ nhất là suốt hai chục năm qua đảng cộng sản Việt Nam đã không công khai lên tiếng để làm cho minh bạch vụ bức thư của Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958. Như đã trình bày trong mục này nhiều lần, bất cứ chính quyền Việt Nam nào, bây giờ và trong tương lai, đều có thể giải thích bức thư “oan nghiệt” đó theo cách khác với Bắc Kinh, để bênh vực quyền lợi đất nước, bác bỏ cách giải thích của chính quyền Trung Quốc.

Như chúng ta đã biết, vào Tháng Chín năm 1958, chính phủ Trung Quốc đưa ra bản tuyên bố về hải phận 12 hải lý của họ. Tuy bản tuyên bố này nhắm vào việc xác định chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo Ðài Loan, Bành Hồ, Kim Môn, Mã Tổ, vân vân, nhưng trong đoạn số 4 có nhắc tới các quần đảo Ðông Sa, Tây Sa (tức Hoàng Sa của nước ta), Nam Sa (tức Trường Sa). Lúc đó, vì đang phải xin Trung Quốc giúp xâm chiếm miền Nam Việt Nam, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã dại dột cho ông Phạm Văn Ðồng viết lá thư công khai tán thành bản tuyên bố của chính phủ Trung Quốc. Từ đó tới nay, Bắc Kinh đã vin vào lá thư đó để coi là cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn chấp nhận chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhưng, như kỹ sư Trần Văn Khởi giải thích, người Việt Nam có thể giải thích cách khác, nói rằng lá thư Phạm Văn Ðồng chỉ công nhận quan điểm lãnh hải 12 cây số đối với các đảo đã thuộc Trung Quốc mà thôi, chứ không bàn đến vấn đề chủ quyền trên các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa. Một điều quan trọng hơn nữa là kỹ sư Trần Văn Khởi cho biết năm 1979, đảng cộng sản Việt Nam cũng đã nêu lên vấn đề này một lần rồi.

Như chúng ta đều biết, Tháng Hai năm 1979, quân Trung Quốc xâm chiếm và tàn phá các tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn của nước ta rồi rút về. Ngày 30 Tháng Bẩy năm đó, chính phủ Bắc Kinh đã đưa ra một bản tuyên bố nói về chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, dựa trên lá thư của Phạm Văn Ðồng. Nhưng một tuần sau, Bộ Ngoại Giao Hà Nội đã đưa ra những lời tuyên bố phản bác ý kiến đó.

Nhưng từ khi cộng sản Việt Nam chịu quay đầu khuất phục trước cộng sản Trung Quốc trở lại, không bao giờ họ lên tiếng nhắc lại những lời phản bác trên. Tại sao họ lại chọn thái độ im lặng nhu nhược như vậy? Ngay cả trong cuộc họp của Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc với quân chủng hải quân Việt Nam gần đây, đã được báo Lao Ðộng ở Hà Nội loan tin, mọi người cũng chỉ nói chung chung về chủ quyền trên các quần đảo và khuyến cáo nên giáo dục thanh thiếu niên Việt Nam về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (một đề nghị của thi sĩ Bùi Minh Quốc) nhưng tất cả vẫn hoàn toàn im lặng không nhắc tới lời giải thích chính thức năm 1979 về lá thư của Phạm Văn Ðồng!

Chỉ có thể nghĩ rằng các lãnh tụ cộng sản Việt Nam đang phải quỵ lụy cộng sản Trung Quốc vì họ đã “há miệng mắc quai.” Giới cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam bị ràng buộc trong nhiều vấn đề khác, mà vì quyền lợi của đảng, họ phải im lặng. Họ tự bào chữa là đường lối ngoại giao của họ là bên ngoài tỏ vẻ thân thiện, bên trong vận động ngầm có thể hữu hiệu hơn. Nhưng lối tự biện hộ đó chỉ để che giấu một thái độ khuất phục hèn nhát.

Bởi vì khi hai quốc gia có những tranh chấp về lãnh thổ hoặc lãnh hải thì nước nhỏ không thể nào tạo sức ép trên nước lớn nếu chỉ vận động ngầm bên trong. Làm như vậy là mang tính cách xin xỏ, năn nỉ, giống như chịu phận đàn em cúi đầu mong đàn anh thông cảm. Chính quyền nước lớn họ không bao giờ hy sinh quyền lợi của nước họ để thỏa mãn một thứ tình “đồng chí anh em” mà ai cũng biết là giả dối.

Muốn ép chính quyền một nước lớn phải chú ý và tôn trọng quyền lợi của dân tộc mình, thì nước nhỏ phải trông cậy vào sức ép quốc tế. Phải đặt vấn đề quyền lợi của nước mình vào trong khung cảnh quyền lợi chung của tất cả các nước khác, nhất là những nước lớn khác. Phải chứng tỏ đó là một vấn đề quốc tế, cho nên phải làm lớn câu chuyện lên. Ông thủ tướng Mã Lai Á đã làm công việc đó khi ông bay tới thăm những hòn đảo trong quần đảo Trường Sa mà nước ông coi là của họ.

Cho nên, nhân dịp xẩy ra vụ đụng độ giữa hải quân Trung Quốc và Mỹ ở vùng Biển Ðông, chính quyền Việt Nam cần phải lên tiếng để xác nhận vùng biển này nằm trong vùng khai thác kinh tế EEZ của Việt Nam. Ðó là một dịp để xác nhận lại chủ quyền của nước ta trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đặc biệt là Hoàng Sa, nơi mà năm 1974 các chiến sĩ Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã đổ máu bảo vệ tổ quốc.

Nếu đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục giữ im lặng thì mọi người dân Việt Nam phải lên tiếng, và yêu cầu họ từ bỏ thái độ hèn nhát đó. Mọi người Việt Nam đều có quyền lên tiếng bảo vệ tổ quốc, không thể phó mặc cho một nhóm lãnh tụ cộng sản tự tung tự tác mãi được.

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Thời sự kinh tế: Ông Ôn Gia Bảo lo lắng cho Mỹ

Ngô Nhân Dụng

Nhiều vị độc giả Người Việt còn nhớ thuở nào Mao Trạch Ðông vẫn chửi đế quốc Mỹ là một “Con cọp bằng giấy,” hoặc “Con cọp có răng bằng giấy.” Ý Mao khuyên dân Trung Hoa đừng sợ nếu phải đánh nhau với Mỹ. Dân chúng Trung Hoa nghe sướng tai, hoan hô Mao Chủ Tịch rồi tiếp tục chịu cúi đầu cho ông Mao bảo sao nghe vậy. Mỗi chiến dịch “nhẩy vọt” hay “cách mạng văn hóa” của ông làm mươi triệu người chết, phần lớn vì đói.

Thời đó xa rồi. Bây giờ cuộc cạnh tranh giữa các nước trên thế giới tập trung trên mặt trận kinh tế. Mà kinh tế hai nước Mỹ và Trung Hoa hiện nay liên quan mật thiết theo đúng hình ảnh “môi và răng,” môi hở thì răng lạnh. Nếu kinh tế Mỹ cứ tiếp tục đi xuống thêm một năm nữa, thì kinh tế Trung Quốc sẽ gian nan. Chính phủ hai nước vẫn không ngại công khai bầy tỏ những bất đồng ý kiến, nhưng phần lớn cũng là để cho dân chúng trong nước họ nghe cho sướng tai. Chính phủ Mỹ thì thường than phiền Trung Quốc không chịu tăng giá đồng tiền của họ như Mỹ yêu cầu. Ngược lại, Bắc Kinh hay than phiền Mỹ không chịu bắt dân tiết kiệm, để ngân sách khiếm hụt nhiều quá. Nhưng chính sách của mỗi nước chỉ tuân theo các điều kiện kinh tế trong nước họ, chứ không phải vì họ cần nghe lời nước kia.

Ngày hôm qua, Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo mới tuyên bố mối lo lắng của ông về tình trạng tài chánh nước Mỹ. Ông nói một cách gián tiếp: “Chúng tôi cho Mỹ vay tiền rất nhiều, tất nhiên chúng tôi phải quan tâm về sự an toàn của những món nợ đó. Nói thẳng thắn, chúng tôi có hơi lo ngại.”

Ông Ôn Gia Bảo không nói thẳng mối lo ngân sách chính phủ Mỹ khiếm hụt, mà chỉ nói về những món tiền chính phủ Bắc Kinh cho chính phủ Mỹ và các ngân hàng ở Mỹ vay. Nhưng ai biết làm tính cộng trừ cũng biết là hai vấn đề đó liên hệ chặt chẽ. Nếu chính phủ Mỹ vung tay quá trán, chi tiêu quá nhiều hơn số thu, thì họ sẽ phải in thêm tiền và đi vay nợ, sinh ra một hoặc hai hậu quả. In tiền thêm thì sinh lạm phát, giá trị đồng đô la Mỹ sẽ xuống so với đồng tiền các nước khác. Ði vay mãi thì Bộ Tài Chánh Mỹ phải phát hành thêm trái phiếu công, bán ra nhiều quá thì giá công trái Mỹ sẽ xuống.

Cả hai hậu quả trên đều làm cho Trung Quốc bị thiệt, vì họ đang giữ trong nhà những công trái Mỹ trị giá gần 700 tỷ đô la. Nếu giá công trái Mỹ xuống, tài sản đó sẽ bị giảm giá. Dù giá công trái Mỹ không xuống nhưng đồng đô la bị mất giá so với đồng Euro của Âu Châu hay đồng Yen của Nhật Bản, thì 700 tỷ đô la cũng kém giá trị. Tóm lại, nếu chính phủ Mỹ tiếp tục để cho ngân sách khiếm hụt thì Trung Quốc bị thiệt hại rất nhiều. Mà hiện nay, nước Mỹ đang ngồi trên 1.3 ngàn tỷ khiếm hụt do Tổng Thống Bush để lại, ông Obama lại đang tung thêm tiền ra kích thích kinh tế, số khiếm hụt sẽ tăng thêm hàng ngàn tỷ nữa. Ông Ôn Gia Bảo lo là phải.

Trung Quốc đang có gần 2,000 tỷ đô la dự trữ, nhờ bao nhiêu năm xuất cảng nhiều hơn nhập cảng. Khoảng 70% số tiền đó là đô la Mỹ, số còn lại là vàng hoặc các ngoại tệ mạnh khác. Ngoài số 700 tỷ đô la cho chính phủ Mỹ vay, Trung Quốc cũng cho các xí nghiệp và ngân hàng tư ở Mỹ vay một khoản tương tự. Nếu bạn đang sống ở một nước Á Châu, không ở Mỹ, và bạn có 1,400 đô la trong nhà, khi thấy giá đô la xuống 1% thì bạn biết mình vừa mới “mất” 14 đô la. Số tiền vẫn như cũ, nhưng giá trị, tức là “khả năng mua” mới giảm 1%. Nếu tài sản của bạn lại là 1,400 tỷ đô la, bạn chỉ việc nhân lên thành 14 tỷ. Mười bốn tỷ đô la, cũng khối tiền.

Sau khi nghe về mối quan ngại của Thủ Tướng Ôn Gia Bảo, nhiều người phát lo. Vì khi một nhà lãnh đạo Trung Hoa, mỗi năm mới họp báo một lần nhân dịp Quốc Hội họp xong; ông ta nói một lời trước công chúng, lời nói đó phải nhắm vào một hậu quả nào đó.

Ðây là câu hỏi làm mọi người suy nghĩ: Có phải ông Ôn Gia Bảo có ý báo động chính phủ Mỹ hay không? Nếu Mỹ không thay đổi chính sách thì Trung Quốc có rút bớt số đầu tư của họ vào các trái phiếu của ngân hàng và công trái của chính phủ Mỹ hay không? Nếu Trung Quốc làm thật, thì hậu quả trên đồng đô la, trên hệ thống tài chánh Mỹ và nền kinh tế Mỹ sẽ ra sao?

Ngày hôm qua, khi mới loan tin này hãng AP đã cho biết sau khi nghe lời tuyên bố của Thủ Tướng Ôn Gia Bảo, giá trị đồng đô la và giá công trái Mỹ đã xuống trong các thị trường ở Á Châu, như Tokyo, Hồng Kông, Hán Thành.

Nhưng khi các thị trường Tokyo, Hồng Kông và Thượng Hải đóng cửa thì mới là bảnh sáng ở London, và mặt trời chưa mọc ở New York. Cho nên mọi người phải chờ xem phản ứng tại các thị trường Âu Châu và Mỹ thì mới biết những lời tuyên bố của Thủ Tướng Ôn Gia Bảo gây ra những cơn bão lớn thế nào.

Cuối ngày hôm qua, sau khi thị trường New York không thấy gì cả. Ðồng đô la Mỹ lên giá dưới một xu so với đồng Euro, và lên cao một chút so với đồng Yen của Nhật Bản. Còn ảnh hưởng trên thị trường các công trái Mỹ thì hầu như không có. Những công trái với thời hạn 10 năm giá không đổi, còn những tín phiếu 2 năm lại lên giá chứ không xuống. Thị trường có vẻ bình tĩnh. Tức là có những yếu tố khác ảnh hưởng trên giá đồng đô la Mỹ cũng như giá công trái chính phủ Mỹ, những lời cảnh báo của ông Ôn Gia Bảo coi như không gây ảnh hưởng nào. Có những tin kinh tế lạc quan trong ngày hôm qua. Một chỉ số tin tưởng của người tiêu thụ tăng lên chút đỉnh, một tin rất bất ngờ. Số khiếm hụt trong cán cân thương mại của Mỹ đã giảm liên tiếp trong 6 tháng, vào Tháng Giêng năm nay đã giảm 10%. Số hàng xuất cảng của Mỹ giảm bớt 5.7% nhưng số tiền nhập cảng còn giảm nhiều hơn, 6.7%. Mỹ vẫn nhập nhiều hơn xuất, cho nên số khiếm hụt trong cán cân mậu dịch càng giảm mạnh.

Thị trường có vẻ quan tâm đến những tin tức khác hơn là những lời tuyên bố của Thủ Tướng Ôn Gia Bảo. Không phải vì người ta nghĩ ông cũng chỉ là một con cọp giấy; nhưng bởi vì ai cũng biết Mỹ và Trung Quốc đang dính dáng quá nhiều trong đời sống kinh tế, không dễ gì buông ra được.

Chính những người lãnh đạo Trung Quốc không muốn đồng đô la Mỹ xuống. Họ cũng không thể ngưng không cho chính phủ và các ngân hàng Mỹ vay tiền. Thị trường khắp thế giới hiểu như vậy, cho nên dù ông Ôn Gia Bảo nói gì thì nói, ông cũng không thay đổi được mối quan hệ kinh tế và tiền tệ giữa hai nước. Mối quan hệ đó đã được ông tổng thống Nga, Vladimir Putin, nói thẳng là, “Một bên cứ in tiền ra đi mua đồ, bên kia dùng nhân công rẻ sản xuất thật nhiều để bán.”

Trung Quốc không thể nào bán tống bán tháo các công trái chính phủ Mỹ, vì chỉ cần bán một lố chừng mươi tỷ Mỹ kim thôi thì giá công trái Mỹ xuống, chính họ đã bị thiệt hại rồi. Coi như Trung Quốc sẽ phải ôm lấy những giấy nợ bằng đô la đó. Nhưng khi giữ như vậy, thì họ có thể được lợi. Nếu đô la Mỹ lên giá, họ được lợi. Nếu lãi suất trên thị trường giảm, giá các công trái sẽ tăng lên, những người đang cầm các công trái Mỹ trong tay đều có lợi. Hiện nay các nước từ Âu sang Mỹ đều cắt lãi suất cơ bản xuống tới gần số không. Ðó chính là lúc chính phủ Trung Quốc đang thấy 700 tỷ công trái Mỹ, tài sản của họ lên giá!

Trung Quốc cũng sẽ không có nhiều cách đầu tư khác, ngoài việc mua công trái Mỹ. Những người nắm tiền của quốc gia trong tay thì không thể đem đầu tư nhiều rủi ro được. Phải chọn những món nào an toàn nhất. Trên thế giới, không ai lo rằng chính phủ Mỹ đi vay rồi sẽ không trả được nợ, rất an toàn. Một tiêu chuẩn khác là tiền tiết kiệm là tiền dự trữ để khi cần thì quốc gia có thể đem dùng ngay, cần đầu tư vào những món nào dễ bán, tiếng chuyên môn gọi là “có thị trường.” So với việc mua vàng thì mua công trái Mỹ dễ bán, có tính lưu hoạt cao hơn nhiều. Ðó là chưa kể giá vàng lên xuống thất thường, không thể mang tiền của quốc gia đánh liều được.

Còn những ngoại tệ mạnh khác như đồng Yen, đồng Euro thì sao? Trung Quốc có thể đem đổi tiền Mỹ lấy hai đồng tiền này, không nên giữ quá nhiều đô la Mỹ trong nhà. Nhưng phương pháp đó có một giới hạn, không thể làm mãi được. Nền kinh tế vùng Euro và của Nhật Bản không đủ sức hấp thụ một số tiền quá lớn đem vào, mà không gây các hậu quả tai hại.

Một hậu quả là khi nhiều đồng đô la Mỹ xin đổi lấy Yen hoặc Euro, giá trị hai đồng tiền này sẽ tăng lên. Các chính phủ ở Âu Châu và Nhật Bản sẽ không thể nào chấp nhận điều đó, vì hàng hóa họ xuất cảng sẽ tăng giá. Nếu các nước trên giảm bớt xuất cảng thì kinh tế của họ sẽ nguy. Mà chính người Trung Hoa cần bán hàng cho họ, chính phủ Trung Hoa cũng không muốn kinh tế các nước đó lâm nguy!

Tóm lại, kinh tế thế giới bây giờ liên hệ chặt chẽ với nhau, mỗi nước lớn không thể làm gì có thể thiệt hại cho nước khác mà không làm hại kinh tế cả thế giới, trong đó có chính mình. Hội nghị G-20 của bộ trưởng tài chánh 20 quốc gia đang họp ở London nhằm tìm các giải pháp cho cơn khủng hoảng toàn cầu hiện nay. Mỹ và Âu Châu đang bất đồng ý kiến về điểm ưu tiên mà hội nghị cần giải quyết. Mỹ muốn các nước trên thế giới phải dành 2% Tổng Sản Lượng Nội Ðịa để kích thích kinh tế. Pháp và Ðức muốn phải bàn vấn đề cải tổ hệ thống tài chánh quốc tế trước. Họ sẽ phải cãi cọ và tìm cách thỏa hiệp với nhau. Trung Quốc sẽ ngả về phía Mỹ trong dự án tung tiền ra kích thích kinh tế, nhưng sẽ đứng về phía Âu Châu khi đòi bàn ngay vấn đề cải tổ Quỹ Tiền Tệ Quốc tế, cho các nước như Ấn Ðộ, Brazil và Trung Hoa có tiếng nói mạnh hơn! Các nước sẽ phải cộng tác với nhau. Nhưng không phải vì thế mà họ không tiếp tục tranh cãi, theo quyền lợi của quốc gia mình!

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Nhận diện sự thật

(Lữ Giang)



Ngày 27.2.2009, bà Katia Bennett, Tham Tá Chính Trị tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã đến vấn an và trao đổi về tình hình Việt Nam và Phật Giáo với Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Tăng Thống GHPGVNTN, tại Thanh Minh Thiền Viện ở Saigon. Sau đó, bà Ỷ Lan, đại diện đài Á Châu Tự Do (RFA) đã phỏng vấn Hoà Thượng về cuộc gặp gỡ này. Cuộc phỏng vấn đã được đài RFA phát đi trong cùng ngày.

Hòa Thượng Quảng Độ cho biết ngài đã nói với bà Katia Bennett hai điều quan trọng: Điều thứ nhất là không hài lòng với lời tuyên bố vừa qua của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tại Bắc Kinh. Lời tuyên bố này đã xem nhẹ vấn đề nhân quyền trong quan hệ ngoại giao Trung - Mỹ. Điều thứ hai là quá trình thất bại của nhà cầm quyền Hà Nội trong 6 bước tấn công nhằm tiêu diệt GHPGVNTN qua các năm 1977, 2000, 2005, 2006, 2007 và 2008. Hoà Thượng nhấn mạnh rằng Hà Nội đã xử dụng lá bài Sư Ông Nhất Hạnh và hai năm qua dùng chiêu bài “Về Nguồn” của nhóm các Sư ở Úc Châu, Âu Châu, Canada và Hoa Kỳ nhưng tất cả đều that bại.

Điều đáng chú ý là qua cuộc nói chuyện với bà Katia Bennett, Hoà Thượng đã công khai nói lên mặt trái của lá bài dân chủ và nhân quyền mà Hoa Kỳ thường đưa cao. Hy vọng tiếng nói của Hoà Thượng sẽ làm cho nhiều người Việt chống cộng ở hải ngoại nhìn rõ vấn đề hơn.

Mặc dầu một số website đã đăng toàn văn bài phỏng vấn nói trên, trước khi góp một vài ý kiến vào những vấn đề mà Hoà Thượng Quảng Độ đã nêu ra, chúng tôi xin mời độc giả đọc kỹ lại một lần nữa phần Hoà Thượng Quảng Độ chỉ trích Hoa Kỳ về vấn đề dân chủ và nhân quyền.

TRÍCH BÀI PHỎNG VẤN

Ỷ Lan: Kính chào Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ. Được biết bà Katia Bennett, Tham tán Chính trị tại tòa Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ vừa đến vấn an Hòa thượng tại Thanh Minh Thiền viện, Saigon. Kính xin Hòa thượng hoan hỉ cho thính giả được biết sự kiện này và Hòa thượng đã nói gì khi gặp gỡ?

HT Quảng Độ: Chào cô Ỷ Lan, lúc 9 giờ ngày hôm qua tức ngày 26.2.2009, bà Katia Bennett, Tham tán Chính trị tại tòa Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ ở Saigon có đến thăm tôi ở Thanh Minh Thiền viện. Sau khi chào hỏi và trao đổi mấy câu có tính cách xã giao thường lệ, tôi bắt đầu ngay vào vấn đề chính mà tôi muốn trình bày trong cuộc gặp gỡ đúng lúc này.

Đó là vấn đề lời tuyên bố của bà Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tại Bắc Kinh ngày 21.2.2009, rằng Hoa Kỳ sẽ không để vấn đề Dân chủ, Nhân quyền gây ảnh hưởng và cản trở bước phát triển trong mối quan hệ song phương giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Tôi nói với bà Bennett rằng, khi tôi nghe lời tuyên bố ấy tôi có cảm tưởng như người Việt Nam thường nói, bị dội gáo nước lạnh lên đầu. Như vậy tôi hiểu từ nay Hoa Kỳ sẽ coi vấn đề Dân chủ, Nhân quyền là thứ yếu trong chính sách ngoại giao, và vấn đề kinh tế, thương mại tức vấn đề làm ăn được đặt lên hàng đầu. Điều chúng tôi quan ngại là lời tuyên bố trên đây của bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton không những rất bất lợi đối với những nhà đang tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ ở Trung Quốc mà còn rất tai hại cho những người đang cố gắng hết sức mình bất chấp khó khăn, tù ngục, đọa đày, ngay cả mạng sống, đấu tranh để vứt bỏ gông cùm xiềng xích của các chế độ độc tài toàn trị, độc tài quân phiệt ở Việt Nam, Tây Tạng và Miến Điện. Bởi vì bản chất các chế độ độc tài ở đâu cũng giống nhau. Rồi đây các chính quyền phi pháp, tàn bạo ở các nước nói trên sẽ thẳng tay đàn áp, bắt bớ, bỏ tù những người đấu tranh đòi quyền sống, quyền làm người, tự do, dân chủ và công bằng xã hội. Vì chẳng còn chướng ngại nào trên con đường áp bức của họ.

Ỷ Lan: Bạch Hòa Thượng, bà Katia Benneth phản ứng ra sao trước lời phê bình của Hòa thượng?

HT Quảng Độ: Sau đó thì bà Bennet cũng có cố gắng biện minh. Bà nói rằng là ở Bắc Kinh bà ấy cũng có nói như thế, tuyên bố như thế. Nhưng mà trong các cuộc họp riêng tư, các cuộc phỏng vấn, bà vẫn cứ đặt vấn đề dân chủ, nhân quyền hàng đầu. Đó là chính sách của Hoa Kỳ, chính sách truyền thống của Hoa Kỳ. Và nhất là bà đưa bản Tường trình về Nhân quyền trên toàn thế giới trong ấy có Việt Nam của Bộ Ngoại giao mới phát hành hôm qua hôm kia gì đó. Bà có nói để chứng minh rằng trước sau như một, Hoa Kỳ vẫn lấy vấn đề dân chủ và nhân quyền làm căn bản. Trong chính sách ngoại giao thì tôi cũng hiểu bà cố nói để biện minh vậy thôi. Chứ còn không thể nào làm hơn.

Nhưng tôi có nói với bà, tôi thưa thật tôi thấy vấn đề ấy nó hơi quan trọng liên quan đến người Việt Nam chúng tôi, cho nên tôi nói thế thôi. Chứ thực ra tôi cũng ý thức rằng, vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự người Việt Nam chúng tôi phải lo lấy. Còn sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, của Liên Âu, bất cứ gì ở bên ngoài, đó chỉ là phụ thôi. Theo nhà Phật cái nhân là chính, cái duyên là phụ. Tuy nhiên cái phụ cần phải có thì cái chính, cái nhân mới phát triển được. Chẳng hạn hạt thóc mà vứt xuống ruộng thì cũng phải nhờ gió, nhờ nước, nhờ đất tốt thì nó phát triển. Thì chúng tôi cũng vậy, nhân quyền thì chúng tôi tranh đấu, đòi hỏi. Nhưng dưới chế độ độc tài toàn trị thế này rất là khó khăn. Nếu không có sự hỗ trợ truyền thông bên ngoài thì không ai biết đến. Do đó chúng tôi hy vọng ở Hoa Kỳ nói riêng, và các nước dân chủ tiên tiến nói chung trên thế giới, nhất là Liên Âu, hỗ trợ chúng tôi. Tôi có nói an ủi bà như thế, chứ bà cũng tỏ ra buồn, vì bà Ngoại Trưởng đã phát biểu rồi. Người Việt Nam thì nói sẩy chân còn đỡ được, sẩy miệng khó đỡ lắm! Cổ nhân Việt Nam hay là Trung Quốc ngày xưa cũng thế, trước khi nói phải uốn lưỡi ba lần mới nói là vì thế.

TUYÊN BỐ CỦA BÀ HILLARY CLINTON

Trước khi lên máy bay từ Seoul đi Bắc Kinh hôm 20.2.2009, Bà Hillary Clinton nói:

''Các chính quyền Mỹ liên tiếp cũng như các chính phủ Trung Quốc đều bị vấn đề nhân quyền khuấy động. Chúng ta cần phải tiếp tục gây áp lực. Thế nhưng không nên để điều này chi phối các cuộc thảo luận về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, về biến đổi khí hậu và về an ninh".

Đài RFI của Pháp ngày 23.2.2009 có phổ biến một bài dưới đầu đề “Ưu tiên cho kinh tế, ngoại trưởng Mỹ quên hồ sơ nhân quyền”, tường thuật lại một bài báo trên tờ Libération của Pháp dưới hàng tựa «Bà Clinton tán tỉnh Bắc Kinh», nhấn mạnh rằng Washington mải lo cho món nợ của mình đã «quên mất» hồ sơ nhân quyền. Tờ Le Figaro cũng nói đến một bà Hallary Clinton ra sức quyến rũ Trung Quốc và đã gạt qua một bên vấn đề nhân quyền để có thể đẩy mạnh, một cách hữu hiệu hơn, sự hợp tác kinh tế giữa hai quốc gia.

Trong bài “Hoa Kỳ chỉ trích TQ về nhân quyền” phổ biến ngày 26.2.2009, đài BBC tường thuật rằng trong chuyến thăm của bà Clinton tới Trung Quốc, một số nhân vật hoạt động cho nhân quyền đã chỉ trích bà khi người đứng đầu ngành ngoại giao Mỹ không nêu “vấn đề nhân quyền” với giới chức Trung Quốc.

Tuy nhiên nữ Bộ Trưởng Ngoại Giao Mỹ nói rằng bà có các buổi trao đổi ý kiến thẳng thắn với người đương nhiệm phía Trung Quốc. Báo cáo của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nói năm 2008 giới chức Trung Quốc đã thực hiện các vụ “giết người không nêu lý do, tra tấn, ép cung tù nhân, và dùng lao động cưỡng bức.” Đàn áp về văn hóa và tôn giáo trở nên tồi tệ hơn, xảy ra chủ yếu tại vùng Tân Cương có đông người Hồi giáo sinh sống. Và vùng Tây Tạng.

Bài tường thuật nói rằng Hoa Kỳ cần tiếp tục chính sách ngoại giao mạnh mẽ, vừa lên tiếng trước các vụ vi phạm nhân quyền, vừa yêu cầu hành động.

ĐỐI DIỆN VỚI SỰ THẬT
Vấn đề liên hệ giữa GHPGVNTN và Đảng CSVN và sau đó “cuộc chiến” kéo dài giữa hai bên, chúng tôi đã viết khá nhiều và đầy đủ. Hôm nay chúng tôi chỉ đề cập đến chính sách của Hoa Kỳ đối với vấn đề dân chủ và nhân quyền.

Thật ra, việc tố cáo chính sách của Hoa Kỳ về dân chủ và nhân quyền không phải là một chuyện mới mẻ gì. Trong gần 20 năm qua, kể từ khi chiến tranh lạnh chấm dứt và Hoa Kỳ bắt đầu áp dụng chiến thuật “diễn biến hoà bình”, các nhà tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền, các nhà phân tích, các dân biểu và nghị sĩ Hoa Kỳ... đã nhiều lần nêu lên vấn đề mà Hoà Thượng Quảng Độ đã đề cập đến. Chúng tôi cũng đã nhiều lần nói rõ về vấn đề này, nhất là trong các bài “Đừng quên Anh Hai”, “Lại chuyện Anh Hai”, “Anh Hai Cán Bộ”, v.v. Nhưng đa số người Việt chống cộng ở hải ngoại vẫn tưởng rằng Hoa Kỳ đang ở trong thời kỳ chiến tranh lạnh, sẽ dùng dân chủ và nhân quyền để đánh sập chế độ cộng sản Việt Nam hiện tại, lời phê phán của Hoà Thượng Quảng Độ một lần nữa đòi hỏi chúng ta phải đối diện với sự thật. Đây là một vấn đề không đơn giản.

1.- Sự thật phủ phàng

Chúng ta nhớ lại, sau khi Thứ Trưởng Ngoại Giao Mỹ Eric G. John thăm Hòa Thượng Thích Quảng Độ tại Việt Nam hôm 12.4.2007, thông tín viên Matt Steinglass của đài VOA đã tường thuật lại lời tuyên bố của ông ta như sau:

“Tôi không bị hạn chế dưới bất cứ hình thức nào khi đi gặp ông Thích Quảng Độ. Cơ bản là chúng tôi đã lái xe thẳng vào khuôn viên thiền viện.”

“Các nhà ngoại giao Hoa Kỳ đồng ý rằng tự do tôn giáo ở Việt Nam không hoàn chỉnh. Theo luật, mọi tổ chức tôn giáo phải đăng ký với nhà nước. Nhưng đối với đa số người Việt, Việt Nam đang được tự do tôn giáo nhiều hơn...”

Ông nói tiếp: "Chúng ta đã thấy các biến chuyển đáng kể. Tôi nghĩ rằng là có tiến bộ về tự do tôn giáo ở Việt Nam".

Ông cho biết: “Hoa Kỳ sẽ tiếp tục khuyến cáo Việt Nam cho phép có tự do tôn giáo nhiều hơn. Nhưng, Hoa Kỳ sẽ không quan tâm đến lời kêu gọi của Hòa Thượng Thích Quảng Độ đề nghị dùng thương mại như một cái cần để thúc đẩy Cộng sản Việt Nam cởi mở hơn về các vấn đề nhân quyền.”

Sau đó, thông tín viên Matt Steinglass còn đá giò lái GHPGVNTN: “Giáo hội được thành lập ở Nam Việt Nam vào năm 1964. Khi đó, giáo hội phản đối Hoa Kỳ can dự vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam và đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình lớn chống Mỹ.”

Tuy nhiên, bảo rằng Hoa Kỳ quan tâm đến vấn đề thương mại hơn vấn đề dân chủ và nhân quyền cũng không hoàn toàn đúng vì hai vấn đề thường đi song song với nhau. Thỉnh thoảng Hoa Kỳ đã dùng chiêu bài dân chủ và nhân quyền để làm áp lực về thương mại đối với nước đối tác, nhưng Hoa Kỳ cũng chủ trương xây dựng dần dần dân chủ và nhân quyền ở quốc gia đối tác để hổ trợ cho việc phát triển kinh doanh.

2.- Chấp nhận “mô thức xám xập”

Tưởng cần nhắc lại: Bà cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Condoleeza Rice đã từng thúc giục cả Miền Điện lẫn Bắc Hàn noi gương Việt Nam (The American Secretary of State, Condoleezza Rice urged Burma and North Korea to follow the example set by Vietnam). Hôm 27.11.2007, ông Ibrahim Gambari, Đại Sứ Đặc Mệnh Toàn Quyền của Liên Hiệp Quốc lại thúc giục Việt Nam tiếp tay trong các nỗ lực quốc tế nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng chính trị tại Miến Điện! Sau đó, trong cuộc viếng thăm Hà Nội ngày 3.3.2008, Trợ Lý Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Christopher Hill lại tuyên bố Bắc Hàn và nhiều nước khác có thể học nhiều bài học quý giá từ Việt Nam. Ông nói:

"Tôi không rõ Bắc Triều Tiên có hỏi kinh nghiệm của Việt Nam hay không, nhất là kinh nghiệm phát triển kinh tế. Thế nhưng tôi rất mong họ hỏi câu hỏi đó vì trong 5 năm gần đây Việt Nam đã có những tiến triển thần kỳ."

Như chúng tôi đã nói, sở dĩ các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ thúc giục Miến Điện và Bắc Hàn nói gương (example) của Việt Nam vì theo họ Việt Nam đã hội đủ ba yếu tố sau đây để có thể giao thương bền vững: (1) Đoạn tuyệt với quá khứ, (2) ổn định tình hình và (3) phát triển kinh tế.

Khi muốn lập quan hệ thương mại với bất cứ nước nào, Hoa Kỳ thường làm áp lực đòi nước đó phải nới rộng dân chủ và nhân quyền đến mức nào đó để việc giao thương có thể phát triển được.

Các nhà phân tích cho rằng trong một nước chậm tiến, trình độ dân trí còn thấp, một chế độ độc tài theo “mô thức xám xập”, tức 30% dân chủ và 70% độc tài, chế độ đó có thể tồn tại được. Trái lại, nếu tiến tới “mô thức ứng xập”, tức 50% độc tài và 50% dân chủ, tình trạng bất ồn rất dễ xẩy ra và chế độ đó sớm muộn gì rồi cũng sụp đổ. Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam biết rất rõ điều đó, nên để bảo vệ chế độ, họ không bao giờ cho phép vượt qua “mô thức xám xập”, dù bị áp lực.

Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy nhà cầm quyền CSVN tìm mọi cách để phân hoá hay ngăn chận không cho GHPGVNTH hoạt động ở trong nước vì sợ giáo hội này sẽ gây bất ổn cho chế độ như dưới thời VNCH.

Hôm 9.3.2009, trong bài diễn văn đọc tại phiên họp của Quốc Hội Nhân Dân Trung Quốc, ông Ngô Bang Quốc, Chủ Tịch Quốc Hội, tuyên bố:

"Chúng ta phải học hỏi từ thành công của tất cả các nền văn hóa. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không bao giờ đơn giản chỉ đi sao chép hệ thống của các nước phương Tây hay đưa ra một hệ thống đa đảng luân phiên nắm quyền".

Chắc chắn các nhà đầu tư sẽ không bao giờ đầu tư vào một quốc gia sáng đình công, chiều biểu tình, ngày hôm sau đảo chánh... như tình trạng của miền Nam Việt Nam sau năm 1963. Các nhà kinh tế nói rằng đầu tư vào một tình trạng như thế chẳng khác chi “chùm hai chân nhảy vào bóng tối”.

Trong thực tế rõ ràng là Hoa Kỳ đã đồng ý “mô thức xám xập” có thể giúp cho việc phát triển kinh doanh ổn định, nên đã biện hộ cho cả Đảng Cộng Sản Trung Quốc lẫn Việt Nam, và kêu gọi Bắc Hàn và Miến Điện noi gương Việt Nam.

Cũng vì chấp nhận “mô thức xám xập”, các cường quốc đang đổ khá nhiều tiền của vào Việt Nam với hy vọng biến Việt Nam thành một đầu cầu phát triển kinh doanh ở Đông Nam Á. Họ tiếp tục tăng viện trợ ODA (Official Development Assistance), tức viện trợ phát triển cho Việt Nam, và đẩy mạnh các chương trình xây dựng hạ tầng.

Vốn ODA dành cho Việt Nam liên tục tăng lên, từ 4,45 tỷ USD cam kết cho năm 2007 lên 5,426 tỷ USD cho 2008. Ngân Hàng Phát Triển Á Châu (ADB) đứng đầu danh sách các tổ chức tài trợ cho Việt Nam, với 1,35 tỷ USD, chiếm 25% tổng số cam kết năm 2008. Chiều 5.12.2008 mức cam kết ODA được nhóm các nhà tài trợ quốc tế quyết định dành cho Việt Nam trong năm 2009 là 5,014 tỷ USD, thấp hơn mức cam kết năm 2008 là 8%, vì tình hình kinh tế thế giới đang suy thoái, nhưng như thế cũng là quá nhiều.

Với Nhật Bản, mặc đầu có vụ PCI, Nhật đã cam kết dành 83 tỷ 200 triệu Yen, tương đương với 900 USD, cho chương trình trợ giúp Việt Nam phát triển. Sự kiện này đã làm Nhật trở thành nước cấp viện trợ nhiều nhất cho Việt Nam.

Hoa Kỳ và các cường quốc cũng đang thúc đẩy và giúp Việt Nam hoàn tất đường xe lửa cao tốc xuyên Việt và xuyên Á để có thể mở rộng kinh doanh. Chỉ riêng tuyến đường sắt cao tốc nối Hà Nội với Sài Gòn dài 1600km đã tốn đến 40 tỉ USD, tương đương GDP của Việt Nam trong một năm.

Phương án thiết kế đoạn đường sắt từ ga Sài Gòn đến Lộc Ninh, biên giới Cambodia, dài 140 km trong tuyến đường sắt xuyên Á với phí tổn được dự trù là 438 triệu USD. Tuyến đường sắt xuyên Á này dài 5.500km, bắt đầu từ Côn Minh, Trung Quốc, chạy qua Việt Nam, Cam Bốt, Lào, Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai Á và ga cuối cùng ở Singapore. Tuyến đường này do Mã Lai Á khởi xướng vào năm 1995 và dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2015.

Nhìn những công trình mà Hoa Kỳ và các cường quốc đang thực hiện ở Việt Nam, chúng ta có thể tin rằng họ đang tính chuyện làm ăn lâu dài với Việt Nam. Nhật Bổn đã viện trợ cho Việt Nam nhiều nhất nhằm ưu tiên chiếm lãnh thị trường tại đây trong tương lai.

DÂN CHỦ PHỤC VỤ KINH DOANH

Khi tạm thời chấp nhận một “mô thức xám xập” như đã nói trên, không có nghĩa là Hoa Kỳ và các cường quốc muốn duy trì mãi tình trạng đó. Họ sẽ dùng “diễn biến hoà bình” để làm thăng tiến chế độ, giúp cho việc kinh doanh ngày càng mở rộng.

Muốn thăng tiến chế độ, công việc đầu tiên là nâng cao dần cuộc sống và dân trí của người dân trong nước lên. Nếu mức sống và dân trí như hiện nay còn được tiếp tục duy trì, rất khó thoát ra khỏi “mô thức xám xập”.

Trong vụ nhà cầm quyền Việt Nam định khai thác mỏ bauxite ở Cao Nguyên, đài BBC đã phỏng vấn thầy giáo Y Long, một thầy giáo dạy cấp ba duy nhất người M'Nong ở tỉnh Đắk Nông, nơi dự án bauxite sẽ được thực hiện. Theo thầy Y Long người M'Nong chiếm gần 40% dân số Đắk Nông (tổng số dân trong tỉnh khoảng 500.000 người) và sống trên 90% diện tích đất đai của tỉnh. Người M'Nong không mặn mà lắm đối với những cái lợi do việc khai thác bauxite sẽ đem lại. Hiện nay việc đào tạo kỹ sư rồi đào tạo nhân lực chuẩn bị cho việc khai thác quặng bauxite thì người địa phương bản địa không hề biết gì hết. Người địa phương cũng khó có thể cạnh tranh trong việc kinh doanh thương mại phục vụ cho công trình khai thác vì họ quá nghèo và kinh tế thị trường vẫn còn là điều xa lạ đối với họ. Có hộ thu nhập hàng tháng chỉ tính bằng vài chục đô, có hộ không đủ gạo để ăn. Với họ, tốt nhất là không nên làm.

Tại Hà Nội, người ta mới khám phá ra xứ Quèn Gianh - Gò Mu thuộc huyện Mỹ Đức, cách trung tâm Hà Nội chỉ hơn 50 km về phía tây nam, chỉ có 2 học sinh lớp 6 là cao nhất, 3 học sinh lớp 5, 4 học sinh lớp 3 và lớp 1!

Với mức sống và trình độ dân trí như thế, dân chủ và nhân quyền đối với họ chẳng có một ý nghĩa gì cả.

Các cường quốc tin rằng khi cuộc sống và dân trí của người dân ngày càng được nâng cao, nền dân chủ sẽ được phát triển từ từ trong ổn định, và sự kiện này sẽ giúp cho việc phát triển kinh doanh của họ ngày càng tốt đẹp hơn.

Liên Hiệp Quốc và các cường quốc đã thiết lập kế hoạch kiến tạo “xã hội dân sự” ở Việt Nam qua từng giai đoạn. Họ tính cả việc xử dụng các đoàn thể quần chúng do Đảng CSVN lập ra.

Biết được điều này, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy nhân dịp lễ Vesak Nhà Nước được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 5 năm 2008, ngày 28.5.2008, ông Judd Birdsall – Văn Phòng Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế - Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, đã tới thăm và làm việc tại Văn Phòng I Trung Ương GHPGVN, tức Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước. Tại cuộc gặp gỡ, ông Judd Birdsall đã bày tỏ sự cảm kích và ngưỡng mộ đối với GHPGVN qua việc tổ chức Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc 2008 trong thời gian qua. Ông mong muốn GHPGVN ngày càng phát triển hưng thịnh, giúp xã hội được thịnh vượng và hạnh phúc.

Mới nhìn qua, chúng ta cho rằng Hoa Kỳ đang chơi trò bắt cá hai tay, nhưng nhìn vào chương trình phát triển “xã hội dân sự” ở Việt Nam, chúng ta thấy Hoa Kỳ và các cường quốc đang thực hiện chiến dịch “diễn biến hoà bình”.

Đại Sứ Hoa Kỳ Michael Michalak đã từng nói: “Hai mươi năm sau, chúng ta sẽ không nói Mỹ đã vào Việt Nam để kiếm tiền, mà chúng ta sẽ nói rằng hơn 75% thành phần Nội Các Việt Nam là những người đã du học Mỹ." Còn ông Aloisi, Phó Đại Sứ Hoa Kỳ tiên đoán: “Việt Nam có thể ở trong lộ trình của chế độ dân chủ đa đảng trong 15 hay 20 năm tới”!

Các nhà phân tích cho rằng sự ước tính của ông Aloisi hơi quá lạc quan.

Trước đây, Đại Hàn và Đài Loan là hai nước chống cộng hàng đầu ở Á Châu, luôn sát cánh với VNCH. Nhưng khi Hoa Kỳ từ bỏ chiến tranh lạnh và thay thế bằng chiến dịch “diễn biến hoà bình”, cả hai nước này đã đi theo, và có khi còn qua mặt Hoa Kỳ, nhờ vậy hai nước này đã biến thành hai con rồng Á Châu.

Các nhà phân tích lưu ý rằng cái gạnh nối giữa phát triển kinh tế và dân chủ không phải luôn luôn là điều tất yếu. Nhiều chế độ độc tài cho thấy rằng họ có thể làm cho đất nước phát triển kinh tế nhưng vẫn dìm được dân chủ. Trường hợp của Trung Quốc là một thí dụ điển hình. Nhưng các chuyên gia Mỹ tin tưởng rằng thế hệ tới do họ đào tạo sẽ làm thay đổi.

VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG

Trong bất cứ chế độ nào, kể cả tại Hoa Kỳ, lúc nào cũng cần có những ý kiến khác biệt được đưa ra để thúc đẩy chế độ phải xét lại các chủ trương và hành động của mình, nhận ra những sai lầm và sửa chữa. Khi tiếng nói ở trong nước bị giới hạn, tiếng nói từ bên ngoài rất cần thiết.

Nhưng điều quan trọng là phải nghiên cứu tường tận những vấn đề muốn chỉ trích hay góp ý để có thể điểm trúng “huyệt” mới có tác dụng. Nếu chỉ đánh khơi khơi, đánh dựa trên hư cấu, lập luận một chiều hay chỉ đánh để thỏa mãn lòng thù hận..., chắc chắn sẽ không có tác dụng gì.

Hiện nay có ba cơ quan truyền thông Việt ngữ quốc tế đã đóng góp rất nhiều vào việc làm thay đổi lối suy tư và hành động của người dân trong nước, kể cả các đảng viên và viên chức chính quyền, đó là đài BBC, đài RFI và đài RFA. Những cơ quan này đã dùng những tin tức chính xác và những quan điểm khác nhau của các chuyên gia để giúp người dân cũng như chính quyền trong nước suy nghĩ về những gì đã hay đang xẩy ra. Chúng tôi tin rằng đây là một phương cách tốt để nâng cao dân trí và đổi mới đất nước.

Lữ Giang

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Thời sự kinh tế: 165 triệu là nhỏ
Tuesday, March 17, 2009

Ngô Nhân Dụng

Cả Tòa Bạch Ốc lẫn Quốc Hội Mỹ đều nổi giận trước tin công ty AIG quyết định trả 165 triệu đô la tiền thưởng cho nhân viên, sau khi công ty này đã được chính phủ Mỹ giúp bằng tiền của người dân Mỹ đóng thuế. Ða số những nhân viên này lại làm việc trong phân bộ thua lỗ nặng nhất của công ty này. Chính vì vụ thất bại đó nên từ thời Tổng Thống George W. Bush chính phủ phải cứu trợ AIG ngay với 80 tỷ Mỹ kim, rồi leo lên tới 170 tỷ; và chính phủ Barack Obama đang chuẩn bị đưa thêm 30 tỷ nữa.

Việc cứu cấp công ty bảo hiểm AIG vào Tháng Chín năm 2008, được thi hành ngay sau khi ngân hàng đầu tư Lehman phá sản khiến cả thị trường thế giới rung động. Ai cũng biết cơn khủng hoảng về tín dụng địa ốc ở Mỹ đang ảnh hưởng đến các đại ngân hàng, nhưng chưa ai rõ ảnh hưởng nặng nề tới đâu. Lúc đó tất cả mọi người đều đồng ý phải cứu ngay AIG (American International Group, đọc giống chữ Ách trong tiếng Việt, như trong câu “cái ách giữa đàng đem quàng vào cổ”). Vì đại công ty này ra đời trước đây hàng trăm năm, có 100,000 nhân viên khắp thế giới, liên hệ với hàng ngàn ngân hàng cùng các công ty tài chánh và bảo hiểm quốc tế, với hàng trăm ngàn người mua bảo hiểm với họ. Chính phủ Mỹ đã nói chuyện trực tiếp với các nhà lãnh đạo tài chánh quốc tế, kể cả chính phủ Trung Quốc, trước khi công bố việc cứu cấp, để giải thích và trấn an họ. Nếu AIG phá sản thì cả một mạng lưới nhiều ngân hàng và công ty tài chánh trên thế giới bị cuốn theo vào một cơn bão lốc.

Sau món nợ đầu tiên 80 tỷ Mỹ kim, chính phủ và Ngân Hàng Trung Ương Mỹ (Fed, tức Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang) đã đưa thêm tiền cho AIG vay để qua cơn thiếu thốn tiền mặt, cũng gọi là thiếu “thanh khoản.” Cựu Bộ Trưởng Tài Chánh Henry Paulson đã bổ nhiệm ông Edward Liddy làm chủ tịch tổng giám đốc AIG, mặc dầu đó vẫn là một công ty tư nhân. Nhưng sau mấy tháng, sự thật lộ rõ hơn, người ta biết AIG không chỉ kẹt tiền mặt. Công ty này đang mất tiền, thua lỗ nặng. Tháng Hai vừa qua, AIG công bố riêng ba tháng cuối năm 2008 đã lỗ trên 62 tỷ Mỹ kim, trong lịch sử kinh doanh nước Mỹ chưa có công ty hay ngân hàng nào bị lỗ cỡ đó. AIG không còn tiền, cho nên các món nợ vay chính phủ được hoán chuyển thành cổ phiếu để khỏi phải trả tiền lãi. Bỗng dưng, toàn dân Mỹ trở thành chủ nhân ông, với 80% số cổ phần, của công ty đang thua lỗ này.

Ðến bây giờ nhiều người vẫn đặt câu hỏi không biết quyết định đầu tiên cấp cứu AIG có khôn ngoan hay không. Nếu không cứu thì công ty này chỉ việc khai phá sản, chính phủ không phải dùng tiền của người dân Mỹ đóng thuế đưa cho họ. Mặc dù một phần lớn số tiền đó hy vọng sẽ lấy lại được sau này, khi công ty ổn định thì chính phủ sẽ bán dần các cổ phiếu trên thị trường, nhưng người Mỹ không yên tâm. Họ chỉ nhìn thấy cảnh nhà nước đem tiền của dân cứu các chủ ngân hàng thôi.

Vì vậy, các nhà chính trị đã bầy tỏ cơn tức giận của họ khi nghe tin AIG đã trả 90 tỷ Mỹ kim cho nhiều ngân hàng ngoại quốc và trả 450 triệu Mỹ kim tiền thưởng cho nhân viên thuộc phân bộ đã gây ra cảnh thua lỗ. Trong số đó có 22 nhân viên được thưởng 72 triệu Mỹ kim, ai cũng được hơn 2 triệu, người lãnh nhiều nhất được 6.4 triệu. Một trong 11 nhân viên đã nghỉ việc lãnh hơn 4 triệu rưỡi! Ngoài ra, còn số tiền 90 tỷ Mỹ kim mà AIG trả cho nhiều ngân hàng vào ngày cuối cùng năm 2008 khiến các đại biểu Quốc Hội đặt câu hỏi tại sao tiền của dân chúng Mỹ lại phải đưa cho AIG để “cứu trợ” luôn những ngân hàng quốc tế này? Trong danh sách các ngân hàng đó, ngân hàng Thụy Sĩ UBS nhận được 2 tỷ rưỡi đô la, sau khi chính họ mới bị chính phủ Mỹ tố cáo giúp nhiều nhà giầu người Mỹ trốn thuế, và phạt gần 800 triệu đô la. Ngân hàng Pháp Société Générale và Deutsche Bank của Ðức đều được trả gần 12 tỷ, và Barclay của Anh được trả 8.5 tỷ. AIG cũng trả cho Goldman Sachs gần 13 tỷ, Merrill Lynch gần 7 tỷ; mà chính hai ngân hàng này cũng đã được chính phủ Mỹ cứu giúp rồi!

Nhưng cơn thịnh nộ của các nhà chính trị, từ Tổng Thống Barack Obama đến các đại biểu Quốc Hội thuộc cả hai đảng, chỉ có tác dụng trong “thị trường” chính trị mà thôi. Vì những món tiền mà AIG trả cho nhân viên của họ cũng như các ngân hàng làm ăn với họ, hầu hết đã trả xong cả rồi. Hơn nữa, những món tiền này là do các hợp đồng bắt buộc AIG phải trả, những hợp đồng đó đã ký từ trước khi AIG nhận tiền do nhà nước Mỹ cứu trợ. Một quy tắc “thiêng liêng” trong kinh tế thị trường là mọi người phải tôn trọng những hợp đồng đã ký kết. Dù AIG còn thuộc tư nhân hay do chính phủ Mỹ làm chủ như bây giờ, quy tắc đó không thay đổi. Bộ Tài Chánh Mỹ cũng như ông Liddy, chủ tịch công ty không thể làm gì khác, trừ khi nước Mỹ có những đạo luật mới.

Sau khi ông Obama nói lên nỗi giận dữ của ông trước những món tiền thưởng 165 triệu Mỹ kim cho nhân viên của AIG, Tòa Bạch Ốc rất dè dặt không xác định chính phủ Mỹ sẽ làm cách nào thu lại những món tiền đó. Nhiều đại biểu Quốc Hội đã dọa sẽ lấy lại bằng cách làm luật đánh thuế thật nặng (trên 90%) những món tiền thưởng này. Nhưng Quốc Hội không thể “đánh riêng” nhân viên của AIG bằng một đạo luật. Họ sẽ phải viết luật mới áp dụng thuế nặng trên tiền thưởng của nhân viên các công ty nhận trợ giúp của chính phủ Mỹ, và sẽ ảnh hưởng trên cả chương trình “kích thích kinh tế” mà chính phủ mới ban hành. Sẽ phải tránh không làm cho các xí nghiệp khác sợ, tránh xa không nhận tiền chính phủ giúp nữa, trong lúc nhà nước đang cần họ tham gia để vực dậy nền kinh tế. Sẽ phải ấn định số tiền trợ giúp lớn đến cỡ nào, cho các công ty lớn cỡ nào thì mới áp dụng luật mới; sẽ phải xác định số tiền thưởng trên mức nào mới đánh thuế mới. Sẽ phải tìm ra hàng trăm trường hợp có thể được miễn áp dụng, và mở cửa cho các nhà chính trị vận động đưa những trường hợp của tiểu bang mình vào trong luật. Hiển nhiên, đây không phải là một đạo luật giản dị. Và nhiều đại biểu Quốc Hội sẽ chống, trên nguyên tắc là phải chống tăng thuế trong lúc kinh tế thoái trào. Rồi người dân Mỹ sẽ tự hỏi các đại biểu Quốc Hội Mỹ có nên dùng thời giờ và tâm lực chỉ để đòi lại mấy trăm tỷ Mỹ kim của các nhân viên AIG hay không?

Có vị dân biểu còn dậy ông bộ trưởng tài chánh rằng bây giờ chính phủ Mỹ là chủ nhân công ty AIG với 80% số cổ phần, do đó với tính cách chủ nhân, chính phủ có thể thay đổi hợp đồng trả tiền thưởng nhân viên. Vị đại biểu này không tính rằng những nhân viên đó có quyền đưa chính phủ ra tòa, và nhiều phần là chính phủ sẽ thua kiện! Vụ tiền thưởng của AIG sẽ qua đi sau cơn bão chính trị này.

Cho nên trong ngày hôm qua, trong lúc các đại biểu Quốc Hội đua nhau lên ti vi tuyên bố mình nổi giận ra sao, thì thị trường chứng khoán New York vẫn bình tĩnh tăng thêm 179 điểm, tính ra là 2.5%. Ðây là lần thứ năm chỉ số chứng khoán tăng lên trong 6 ngày. Tính từ Thứ Hai trước, thị trường đã tăng thêm được 13%. Một dấu hiệu đáng chú ý nhất là giá các cổ phần tăng lên vì nhiều công ty và định chế tài chánh là những người mua cổ phiếu. Ðó là những nhà đầu tư tính toán thiệt hơn kỹ nhất và có nhiều tiền nhất. Người ta sẽ chờ coi họ quyết định trở lại với thị trường thật, hay là chỉ thử nhúng chân xuống nước coi lạnh hay ấm để tính toán thêm sau. Chỉ số chứng khoán là một dấu hiện tiên đoán cho cả nền kinh tế. Nếu thị trường cứ lên đều đều trong tháng tới thì đó là báo hiệu kinh tế có triển vọng khả quan trong vòng 6 tháng đến một năm.

Nếu chính phủ và Quốc Hội Mỹ đành chịu không thể lấy lại tiền thưởng cho nhân viên AIG cũng như chịu thua trong việc AIG trả hàng chục tỷ Mỹ kim cho các ngân hàng Anh, Ðức, Pháp và Thụy Sĩ, thì một câu hỏi cũ sẽ được nhắc lại: Hành động cấp cứu công ty AIG bắt đầu từ Tháng Chín năm 2008 có khôn ngoan hay không?

Khi trao tiền cho AIG, chính phủ Mỹ biết rằng số tiền đó cũng giúp AIG trả cho các ngân hàng khác, khi AIG đóng vai bảo hiểm cho những trái khoán của các ngân hàng này. Bảo hiểm tức là trả tiền cho những người mua bảo hiểm, khi họ gặp nạn. Phần lớn các trái khoán đó dựa trên những món nợ địa ốc tiêu chuẩn thấp ở Mỹ, cho nên khi cơn khủng hoảng địa ốc bắt đầu từ năm như thì ai cũng có thể biết trước AIG sẽ tốn tiền trả cho các thân chủ. Nghĩa là việc chính phủ Mỹ cứu cấp AIG tức là cũng cứu các thân chủ của AIG, trong đó có các ngân hàng ngoại quốc.

Nếu tôn trọng các quy tắc thị trường triệt để, thì người ta sẽ khuyến cáo chính phủ Mỹ hãy mặc cho AIG phá sản. Trong thị trường, mọi quyết định kinh tế đều có may có rủi. Ai quyết định rồi phải chịu những hậu quả của quyết định mình làm. Khi UBS mua các trái khoán địa ốc, cũng như khi AIG đứng bảo hiểm cho các trái khoán đó, họ đều biết có may có rủi. Bây giờ tình trạng không may diễn ra, cả UBS lẫn AIG bị mất tiền, ai mất nhiều quá thì bị phá sản tức là mất hết; đó là quy luật thị trường.

Nhưng vào Tháng Chín năm 2008 không người nào đang cầm quyền ở nước Mỹ dám quyết định để mặc cho AIG phá sản. Thế giới tài chánh có thể sẽ “loạn to!” Người ta gọi đó là “mối rủi ro của cả hệ thống” (systemic risk). Khi đó cũng chưa ai biết rằng cơn khủng hoảng địa ốc sẽ trầm trọng tới mức nào. Nhưng biết rằng nếu không cứu AIG thì “loạn to” còn nếu cứu thì có hy vọng sẽ “loạn nhỏ!”

Cho nên, đây là lúc các nhà chính trị Mỹ không nên bỏ phí thời giờ vào những chuyện “nhỏ nhặt” như 165 triệu tiền thưởng! Mối quan tâm lớn nhất mà giới lãnh đạo Mỹ phải chú ý là tu sửa các luật lệ và định chế giám sát tài chánh để có thể bắt mạch và ngăn chặn những “mối rủi ro trên cả hệ thống” trong tương lai. Nước Mỹ đã trải qua một phần tư thế kỷ đề cao tự do của các nhà kinh doanh, của các nhà đầu tư tài chánh. Nhiều luật lệ được nới lỏng, thuế suất được giảm bớt, với mục đích khích lệ những người này kiếm lời, do đó, những người khác cũng được hưởng vì kinh tế phát triển. Chủ trương đó rất hay nhưng một hậu quả là chính những người đó khi tự làm mình thua lỗ thì cũng kéo theo cả hệ thống tài chánh vào cơn khủng hoảng. Mà chính xã hội chung quanh lại phải đóng thuế cứu giúp các cơ sở làm ăn tư của họ! Cho nên phải thay đổi cả hệ thống, tuy vẫn giữ chủ trương căn bản cũ nhưng phải đặt ra những quy luật giám sát chặt chẽ hơn. Ðể tránh cảnh tư nhân có những quyết định đầy may rủi, nếu may thì họ được hưởng lợi to, còn nếu rủi ro thì cả xã hội phải gặp họa nặng nề.

dacung
Posts: 409
Joined: Tue Dec 13, 2005 6:26 am
Location: USA
Contact:

Post by dacung »

Mất Nước, Mất Đảng

Việt Báo Thứ Năm, 3/19/2009, 12:00:00 AM
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Trung Quốc muốn cải thiện bang giao với Mỹ nên đã phái Ngoại trưởng Dương Khiết Trì đến Washington để chuẩn bị cho cuộc hội kiến giữa Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và TT Barack Obama vào tháng tới khi họ Hồ đến viếng thăm Mỹ. Nhưng xui xẻo làm sao, vào lúc họ Dương đến Mỹ, giữa chính phủ Mỹ và chính quyền Cộng sản Bắc Kinh lại xảy ra hai chuyện rắc rối lớn. Trước hết là vào dịp kỷ niệm 50 năm nổi dậy của dân chúng Tây Tạng đưa đến vụ đàn áp đẫm máu của Trung Cộng, khiến Đức Đạt Lai Lạt Ma phải chạy qua Ấn Độ. Vụ thứ hai nghiêm trọng hơn là 5 chiến hạm Trung Cộng vây chặn và hăm dọa một tàu Hải quân Mỹ trong vùng biển ở phía Nam đảo Hải Nam ngoài khơi bờ biển Trung phần Việt Nam, phía Tây quần đảo Hoàng Sa, tức bên trong hải phận Việt Nam nơi Bắc Kinh vẫn tự nhận là lãnh thổ và lãnh hải của họ.

Vụ đàn áp Tây Tạng đã khiến Bộ Ngoại giao Mỹ ngay từ tuần trước lên tiếng nhắc nhở Bắc Kinh rằng Mỹ vẫn quan tâm đến những vụ Trung Cộng vi phạm nhân quyền. Nhưng trước mắt vẫn là việc chiến hạm của Trung Cộng bao vây và hăm dọa chiếc tầu của Hải quân Mỹ. Tầu này, có tên là Impeccable vốn là tầu không võ trang. Mỹ nói tầu này chỉ có nhiệm vụ thăm dò các hoạt động của tầu ngầm dưới biển (ngụ ý của Trung Cộng) và quả quyết tầu Mỹ hoạt động trong vùng biển quốc tế. Còn Bắc Kinh cãi lại, nói đó là vùng biển của họ. Vậy tại sao tầu Mỹ dù không võ trang lại đến phía nơi gần Hoàng Sa để thăm dò? Các giới chức bộ Quốc phòng Mỹ nói vì vùng đó là nơi có tranh cãi về quyền hải phận nên Mỹ phải quan tâm và sẽ tiếp tục làm nữa, bất chấp sự phản đối của Bắc Kinh. Đến tuần này vẫn không có việc gì đáng tiếc xẩy ra, nhưng vụ cãi cọ gay go đã tạo ra một một đám mây u ám trước khi họ Hồ đến Mỹ. Xét ra muốn cải thiện bang giao với Mỹ cũng không phải chuyện dễ.

Ở đây chúng tôi muốn nhìn đến khía cạnh của Việt Nam vì đó hiển nhiên là hải phận của nước này. Vậy chế độ Cộng sản Hà nội nói sao? Năm xưa khi chỉ mới chiếm được mảnh đất miền Bắc, chính quyền Cộng sản chưa vững chắc, Phạm Văn Đồng đã ký công văn mặc nhiên nhìn nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của "người anh em phương Bắc". Nhưng về sau khi đã chiếm đươc cả miền Nam, Cộng sản Hà Nội đã "đổi mới" để mở cửa đón đô-la, bằng cách công khai nói các đảo nhỏ đó là của Việt Nam. Khi sự rắc rối về vụ tầu Impeccable của Mỹ xẩy ra tuần trước, theo tin đài BBC, phát ngôn nhân bộ Ngoại giao Hà nội tuyên bố: "Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử về chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Mọi hành động của các bên liên quan đến vụ này mà không có sự đồng ý của Việt Nam đều là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị pháp lý". Phía Bắc Kinh, phát ngôn nhân bộ Ngoại giao, trong một cuộc họp báo thường kỳ tuyên bố: "Các đảo Hoàng Nham (tức Hoàng Sa) và Nam Sa (tức Trường Sa) luôn luôn là lãnh thổ của Trung Quốc. Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi đối với các đảo này và và bất cứ tuyên bố chủ quyền nào của nước khác cũng là bất hợp pháp và vô giá trị". Câu này hiển nhiên ám chỉ lời tuyên bố của Hà Nội, kèm theo một sự hăm dọa trắng trợn.

Thế nhưng chính Bắc Kinh đã có một tham vọng quá lớn đi ngược lại luật lệ quốc tế về vùng biển. Với các nước ở ven biển ngoài lãnh hải thường lệ, các nước đó còn được hưởng một vùng kinh tế đặc biệt khai thác tài nguyên dưới biển, chạy dọc theo bờ biển với chiều rộng là 200 hải lý. Nếu nước nào có thềm lục địa xa hơn nữa, vùng khai thác tài nguyên cũng xa hơn. Tài nguyên ở đây là những mỏ dầu mỏ khí nằm ở dưới đáy biển. Có lẽ vì thế mà tầu Impeccable của Mỹ cần phải thăm dò khá kỹ hơn về khoản này và còn thăm dò nhiều nơi khác ở Nam Hải. Khi có "hơi hám vàng đen" ai mà chẳng mê, chờ đến lúc thấy rồi là tranh dành nhau và đánh nhau chí mạng. Mỹ phải đo lường trước để tránh hậu họa, sợ cũng giống như lò lửa ở như Trung Đông.

Hãy nhìn bản đồ do Bắc Kinh ấn hành, đường lãnh hải Trung Quốc tự nhận ở Nam Hải bắt đầu từ dưới đảo Hải Nam chạm cả vào đường vạch của vùng kinh tế đặc biệt Việt Nam, từ đó kéo dài xuống phía Nam theo dọc đường hình chữ S của hải phận Việt Nam thu gọn nhóm đảo Hoàng Sa vào hải phận Trung Quốc, rồi chạy xuống đến gần Mã Lai Á, bao trùm cả nhóm đảo Trường Sa, kế đó chạy vòng lên bám sát hải phận Phi Luật Tân đến gần hải phận Đài Loan. Như vậy là tất cả miền Đông của Nam Hải đều thuộc Trung Quốc của mấy anh Tầu Cộng. Và họ còn cao ngạo nói "bất cứ tuyên bố chủ quyền nào của nước khác cũng là bất hợp pháp và vô giá trị". Nhưng người ta cũng nhìn thấy rõ lời tuyên bố của Bắc Kinh chỉ là lời của một phát ngôn nhân bộ Ngoại giao, rõ rệt để chọi lại lời của Hà Nội cũng do phát ngôn nhân bộ Ngoại giao nói ra. Tóm lại đây chỉ là lời mấy anh Bắc Kinh dằn mặt mấy anh Hà Nội.

Trong các cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, đã có câu loan truyền về tình hình rất thực tế mà mấy anh lãnh đạo CSVN đã lâm phải từ lâu. Đó là câu: "Đi với Tầu thì mất nước, đi với Mỹ thì mất đảng". Cố nhiên nếu đi với Mỹ, mấy anh lãnh đạo Cộng sản Việt Nam làm sao còn giữ được đảng. Một khi đã mở của rước tư bản vào nhà, đảng Cộng sản chỉ còn cái vỏ như cái thùng rỗng, đánh thì kêu lớn nhưng bên trong chẳng còn cái gì. Rồi đến khi dân trí lên cao, tuổi trẻ nhìn ra thế giới bên ngoài và đòi hỏi, cái thùng rỗng chẳng bao lâu sẽ bị liệng bỏ nốt. Nếu đi với Tầu thì mất nước, vậy còn giữ được đảng chăng? Hãy quên đi cái ảo tưởng đó.

Mất nước là vì nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa sẽ không còn, mà biến thành một chư hầu của Nhân dân Trung Quốc, y hệt các chư hầu của Liên Sô trước đây. Dù vậy vẫn còn đảng của mấy anh lãnh đạo Hà Nội chăng? Cái ảo tưởng này còn lớn hơn và nguy hiểm hơn nữa. Lúc đó đảng Cộng sản Việt Nam chỉ còn cái tên, thực tế nó sẽ là một chi bộ của Trung ương đảng Trung Cộng. Còn các anh lãnh đạo đảng Cộng sản VN hiện nay, may lắm là được cho về hưu đuổi gà, nuôi heo, tiền của bị lột sạch băng, bọn bành trướng Bắc Kinh không quên thái độ của mấy đồng chí Việt Nam khi các đồng chí có quyền trong tay. Còn nếu không may, các đồng chí có thể còn mất cả chỗ đội nón. Bởi vậy chớ dại ôm lấy đảng mà bỏ nước.

SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH

dacung
Posts: 409
Joined: Tue Dec 13, 2005 6:26 am
Location: USA
Contact:

Post by dacung »

Du Lịch Mỹ Hay Việt Nam

Việt Báo Thứ Sáu, 3/20/2009, 12:00:00 AM
Vi Anh

Du lịch là một nhu cầu của cá nhân và là một kỹ nghệ không khói của một quốc gia. Nhưng du lịch cũng là một chọn lựa. Du lịch khôn ngoan, thích thú không có nghĩa du lịch xa hay du lịch gần.

Cuối tháng Ba và tháng Tư ở Mỹ là đầu mùa hè, người Mỹ gốc Việt hay đi du lịch. Năm nay là năm thứ 34 của ngày 30 tháng Tư Đen. Nhiều đoàn thể đang kêu gọi không đi VN, không gởi tiền về VN trong tháng Tư Đen năm 2009. Nước Mỹ đang gặp khó khăn kinh tế tài chánh. Người Mỹ gốc Việt có thể đứng trước một chọn lựa: du lịch Mỹ hay du lịch VN.

Người Mỹ gốc Việt, công dân hay thường trú nhân hợp pháp lớn tuổi, dư thời giờ, lợi tức khiêm tốn, được hưởng tiền trợ cấp xã hội, bảo hiểm y tế công Medicare, Medicaid ở Cali gọi là MediCal, đi du lịch nước Mỹ bao lâu cũng được hưởng. Chớ đi ngoại quốc như đi VN thì không được hưởng Medicare, Medicaid và nếu qua bốn tuần sẽ bị mất tiền trợ cấp xã hội, xin lại rất phiền.

Người Mỹ gốc Việt du lịch VN là chở củi về rừng. Du lịch VN quá tốn kém. Nội tiền máy bay không thôi đã gần cả ngàn Đô rồi. Cả mưới mấy tiếng đồng hồ ngồi bó gối, chỉ thấy mây xanh. Danh lam thắng cảnh VN đã quá quen thuộc lại còn bị biến đổi quá nhiều, trở thành chỗ ăn chơi Tây không ra Tây, Mỹ chẳng ra Mỹ. Không khí và môi sinh quá ô nhiễm. Ở thành phố ra đường ai cũng mang "khẩu trang" che mũi, che miệng, đi một chút bụi đóng đầy. An ninh khi ra đường không bảo đảm vì nhiều mánh khoé cướp giựt. Kiểu nói đánh đầu của Hải quan ở phi trường, bộ mặt hình sự của công an đầy đường đầy chợ gây bực bội, mất hứng đi chơi. An toàn giao thông quá kém, VNCS theo thống kê mới nhứt là nước có tỷ lệ tai nạn giao thông cao nhứt thế giới. Cũng theo thống kê cứ 10 du khách ngoại quốc đến VN, thì chỉ có 2 người trở lại.

Cảm nghĩ người Mỹ gốc Việt, CS gọi là “Việt Kiều" đi du lịch VN là áo gấm mặc về làng hay đi tìm bò lạc cỏ non là sai. Cán bộ đảng viên CS hầu hết tham nhũng và những người ăn theo bóc lột mồ hôi nước mắt người lao động VN bây giơ là những trọc phú, giàu nứt đố đổ vách. Một dêm nhậu rượu Pháp toàn Cordon Bleu, Cordon Rouge của họ hơn một năm lãnh tiền già của người Mỹ gốc Việt thế hệ thứ nhứt ở Mỹ. Bò lạc cỏ non bây giờ đa số là giả dạng; VN là nước nhận tiền trị và phòng bịnh HIV/ Aids của Mỹ nhiều nhứt Á châu. Đụng vào bịnh thế kỷ này kể như đời tàn khi về Mỹ, vợ con sợ bị lây xa lánh, bè bạn không ai dám đến gần. Vệ sinh an toàn thực phẩm ở VN rất kém, một năm không biết bao nhiêu vụ trúng độc. Ô nhiễm môi trường, ô nhiễm không khí ở VN rất đáng sợ. Nước sạch thiếu trầm trọng ở Saigon.

Nước Mỹ chiếm một phần tư Trái Đất, danh lam thắng cảnh các hiện tượng và các vùng địa lý nhân văn của thế giới đều có đủ ở Mỹ. Đường sá từ xa lộ tiểu bang liên bang đến nội ô xe chạy như ngồi trên ghế nệm ở nhà. Cảnh sát có khi đi cả ngày không gặp. Du lịch bình dân, ngủ motel một đêm khoảng 45 Đô là tối đa, tiện nghi, sạch sẽ không thua gì ở nhà Mỹ. Trên đường thì có tiệm ăn nhanh quen thuộc. Trong thành phố thì có nhà hàng có món đặc sản của địa phương. Xã hội Mỹ đa văn hoá, đa sắc tộc, đi du lịch để biết những nét đặc thù của nhiều sắc dân như cộng đồng Nhân Loại thu gọn ỡ Mỹ. Nhưng sướng một cái là tiếng Anh là chuyễn ngữ nên giao tế nhân sự dễ dàng như sống trong cộng đồng địa phương mình.

Nhơn khi các đoàn thể kêu gọi Tháng Tư Đen không gởi tiền về VN và không đi VN, người viết bài này thử làm một chuyến du lịch Mỹ xem sao. Vốn thích du lịch từ nhỏ, thời trai trẻ may mắn được đi công du Mỹ, biết được một số nước và một số tiểu bang Mỹ. "Tôi có lần đi lại đó đây, Du hành Bắc Mỹ, viếng Au Tây. Paris, La mã nhìn say đắm, Nhựt bổn, Hoa kỳ ngấm ngất ngây". 14 năm được tỵ nạn chánh trị ở Mỹ, mãi theo cái nghiệp truyền thông đại chúng, chúi mũi vào Việt Báo, dán mắt vào truyền hình SBTN, mà không đi đâu xa được ở Mỹ. Nhơn đầu hè năm 2009, một người bạn trẻ là một kỹ sư Pháp gốc Việt, chuyên ngành điện tử đến Little Saigon muốn đi một vòng miền Tây Nam Mỹ. Thế là chuyến đi được anh bạn vốn là Chủ Tịch Hội đồng tỉnh Kiến Hòa tuy nay đã thất thập cỗ lai hi mà còn lái xe rất giỏi và rất thích đi du lịch bằng xe hơi. Còn người vợ của Ong là một trưởng bếp của một tiệm phở cùng đi lo thủ quỹ và ăn uống.

Thật là một chuyến đi vô cùng hứng thú mà rẻ tiền, 4 người mỗi người chia ra chỉ tốn có 200 Đô. Đi qua 4 tiểu bang Nevada, Arizona, Utah, Cali suốt từ Bắc chí Nam. Máy dẫn đường bây giờ đóng vai trò tuyệt mỹ, tìm con đường ngắn nhứt để đi, báo thời tiết, báo trạm xăng, nhà hàng thuận tiện, giá mua ở Mỹ chưa tới 100 Đô. Anh bạn kỹ sư mê như điếu đổ, gài nói tiếng Pháp giọng Parisienne chính thống. Trên đường ở TB Utah, đường vắng, tốt, xe lên tốc độ, cảnh sát công lộ bật đèn bảo xe vào lề. Cảnh sát cho biết xe chạy quá tốc độ, máy báo 93 miles. Sau khi trình bày người lái xe ở Pháp qua, quen dùng kilomet và xe xuống dốc, nên không chú ý tốc độ, cảnh sát cười thông cảm, bảo chỉ cảnh cáo thôi.

Còn danh lam thắng cảnh, tuy ít thì giờ không xem đủ như những chuyến du lịch do các cơ sở chuyên nghiệp tổ chức. Nhưng được một cái đi riêng thì xem thư thả, tùy ý thích. Cảnh tuyết rơi khi xe chạy, hai bên là đồng và núi đầy tuyết trắng phau tạo cảm giác vừa thích thú đi dưới tuyết vừa bồn chồn lo xe trợt. Cảnh xe chạy đêm dưới bầu trời lạnh của miền trung nước Mỹ sao sáng rất nên thơ. Còn danh lam thắng cảnh dù được bố trí để ngồi xe mà ngấm vì quá lớn nhưng giữ dược phong cảnh nguyên trinh của thiên nhiên hoang dã. Công viên quốc gia vùng bảo tồn văn minh người Mỹ thổ dân Zion ở TB Utah, qua hang động, đường hầm, với đồi núi trập trùng, đá đỏ đưa du khách vào hồng hoang, thời Viễn Tây ít người của Mỹ. Cô gái Mỹ có duyên và đẹp, cười chào và cấp cho chiếc xe có thẻ Handicap được vào và còn nhắc có thẻ này tất cả các công viên quốc gia được miển phí, khỏi trả 25 Đô.

Hồ muối, đồng muối ở Salt Lake City muối nước, muối khô kết tinh như tinh thể rộng bằng Địa Trung Hải của Au Châu làm người bạn trẻ kỷ sư Pháp từng du lịch Kenya, Ai cập đứng ngây người, ánh mắt diệu vợi như những dãy núi mập mờ bao quanh, khiến địa danh Salt Lake thành thủ phủ Salt Lake City của TB Utah.
Xa lộ 80 nối liền Đông và Tây của Mỹ xe hàng chạy ngày đêm, được Tướng Eisenhower người điều quân khiển tướng chiến thắng Hitler, giải phóng Au châu, khi lên làm Tổng Thống Mỹ gọi là đường chuyển quân của nước Mỹ.

Vùng Napa xứ rượu chát của Cali, vườn nho thẳng tấp ngút ngàn. Hãng rượu như những lâu đài thời trung cổ ở Au châu mở cửa cho người vào nếm rượu chạy dài đến TP Santa Helena. Chỉ cần một hãng rượu ghé nếm một hớp thôi, cuối đưòng trở lại là quắc cần câu nên TP có đường xe lửa chở người đi nếm rượu. Rượu chát Napa ngon, rẻ đã trở thành rượu các hãng máy bay quốc tế chọn để phục vụ hành khách trên máy bay đường xa.

Sau chuyến đi du lịch Mỹ này, ba ngưòi Mỹ gốc Việt và một người Pháp gốc Việt trên xe đều kết luận. Mỹ chiếm một phần tư Địa Cầu, tất cả những hiện tượng đia lý, nhân văn đều có đủ, đi chơi rất rẻ mà có nhiều thứ cần xem, tại sao du lịch VN làm gì cho bực mình với CS.

VI ANH

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Các sinh viên đã biểu tình
Thursday, March 19, 2009

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua có một tin nhỏ nhưng lạ: Các sinh viên Ðại học Hồng Bàng ở Tân Bình, Sài Gòn biểu tình phản đối việc tăng học phí, và họ đã thành công. Ðiều lạ không phải việc sinh viên biểu tình. Trước đây các sinh viên đại học Hà Nội đã từng biểu tình phản kháng ban giám đốc về những vấn đề chỗ ăn ở trong trường. Hiện tượng lạ là phản ứng của giới lãnh đạo trường. Ngay sau khi một trăm sinh viên họp nhau trương biểu ngữ và hô khẩu hiệu phản kháng việc tăng tiền học ngày 18 Tháng Ba thì ban giám đốc trường này chịu thua ngay. Họ rút lại quyết định tăng học phí và trả lại tiền số tiền dư cho những sinh viên đã đóng rồi. Hoan hô tinh thần tranh đấu của các bạn sinh viên. Ở đời, không tự mình đứng lên thì người ta cứ coi thường mình mãi!

Nhưng xưa nay những người nắm quyền hành ở Việt Nam chưa bao giờ lại nhượng bộ lẹ như thế! Tại sao ông hiệu trưởng đại học này nhanh chóng nhượng bộ các sinh viên biểu tình, những sinh viên mà chính ông chủ tịch trung tâm hỗ trợ sinh viên của nhà trường công khai bêu xấu! Cái ông trùm “hỗ trợ sinh viên” đã tố các người biểu tình chỉ là những sinh viên “học yếu kém” và “chỉ ham tụ tập và đi chơi,” “điểm chỉ có 4 phẩy” (gọi là “dưới trung bình”). Tóm lại, theo ông ta đó là những sinh viên vừa dốt vừa lười, mà những đại học đứng đắn thường không ai thèm thu nhận, trừ khi chỉ nhận vào để thu tiền học phí!

Nhưng tại sao ông hiệu trưởng lại chịu lùi bước “một cách khẩn trương” trước những sinh viên vừa dốt vừa lười mà lại thiếu tiền đóng học phí như vậy? Bình thường, giới lãnh đạo ở Việt Nam sẽ tìm cách xoa vuốt những người biểu tình, tìm cách cho họ thỏa mãn một phần nào, vừa nhu cầu thực tế, vừa tự ái của họ. Rồi sau đó công an sẽ “làm việc” tiếp với những người khởi xướng. Nhưng lần này, ông hiệu trưởng đã chịu thua tức khắc!

Cho nên đây là một dấu hiệu cho thấy đảng Cộng Sản Việt Nam đang run. Họ rất lo sợ trước cảnh các bạn trẻ biểu tình phản kháng, dù phản kháng về bất cứ vấn đề lớn hay nhỏ nào, có lý do đúng hay không. Vì Ðảng Cộng Sản chỉ muốn các thanh niên này chấm dứt ngay, không kéo dài việc biểu tình. Cứ biểu tình mãi, sẽ tập thành thói quen nguy hiểm.

Cuối năm 2007 có những cuộc biểu tình “chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa,” công an đã phải dùng đủ mọi thủ đoạn từ mềm đến cứng mới tạm yên được. Hiện giờ giới trẻ trong nước lại đang sôi máu lên vì những biến động mới ngoài biển Ðông. Ðảng Cộng Sản phải ngăn ngừa trước không cho ngọn lửa yêu nước đó bùng lên trở lại.

Ðảng có thể ra lệnh cho đại học này hay không? Ðại học Hồng Bàng tuy được lập nên với tính cách một trường tư, nhưng đã được biến thành một trường của đảng. Cho nên, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, trường đại học này đã khoe thành tích tổ chức thi hoa hậu sinh viên vào năm ngoái. Trong mạng lưới của trường còn có cả mục “Tìm hiểu tử vi” quan trọng không kém gì các phân khoa; quý vị cứ gửi ngày sinh tháng đẻ vô đó, có các vị “giáo sư tiến sĩ” xem bói cho. Cũng trong mạng lưới đó có phần khoa học huyền bí, mở ra thấy chuyện một vị đi tìm mộ người em đã chết nhờ khoa học huyền bí. Ngoài ra, trường cũng quảng cáo cả chương trình MBA, cộng tác với các đại học Mỹ và Âu Châu nữa.

Nhưng nếu quý vị nhìn vào cơ cấu tổ chức trong địa chỉ mạng lưới của trường này thì thấy Ðảng Bộ nhà trường ngồi trên đầu tất cả các bộ phận, các chức trưởng. Dưới đó, hai cơ quan của đảng đứng ngang hàng hiệu trưởng, là công đoàn trưởng và đoàn Thanh Niên Cộng Sản. Tất cả các hiệu phó, các trưởng phòng, các khoa nằm bên dưới. Trong các phân khoa một đầu thấy Khoa Tin học, đầu kia thấy Khoa Mác Lênin. Ở giữa có một khoa tên là Nhật-Trung-Hàn. Không có khoa nào học về Việt Nam. Nhưng rõ ràng là tất cả phải răm rắp nghe lệnh đảng. Cho nên, nếu đảng cảm thấy “bức xúc” trước vấn đề sinh viên biểu tình, nhà trường phải chịu thua ngay. Tức là chuyển cuộc tranh đấu của sinh viên sang bên công an giải quyết theo phương pháp của công an!

Tuy nhiên, cuộc biểu tình của sinh viên thành công nhanh chóng cũng là một hiện tượng tốt. Nó khuyến khích những người khác, trẻ cũng như già, nhìn thấy rằng khi muốn những kẻ cầm quyền phải lắng nghe nguyện vọng của mình thì chính mình phải đứng dậy và lên tiếng. Những người bị ép bán nhà, bán đất, những người phải đút lót quan chức để chạy chọt giấy tờ, những người bị đuổi đường, đuổi chợ, tất cả, ai có nỗi oan khuất nào, thì phải lên tiếng tập thể. Các sinh viên đã mở đầu một cuộc phản kháng, họ không hát nhưng ai cũng nghe thấy: Dậy mà đi, hỡi đồng bào ơi!

Trong một nước Việt Nam có hàng triệu người bị oan khuất, hàng ngàn vấn đề dân đang tranh đấu với nhà nước. Trong số đó chỉ có một số người, một số vấn đề đủ nóng để gây nên những cuộc biểu tình. Ðảng Cộng Sản có thể theo lối cũ, làm thỏa mãn hoặc mua chuộc từng nhóm một, có khi từng người một, để dẹp yên, rồi đâu lại vào đó, kéo dài năm này sang năm khác.

Nếu người dân một nước muốn cải thiện đời sống chung, của tất cả mọi người, về lâu về dài, thì không thể chỉ theo phương pháp “van xin” như vậy. Dù cứ biểu tình và “làm đơn khiếu nại” mãi, rồi mai mốt lại tiếp tục khiếu nại và biểu tình, cũng không bao giờ thay đổi được quy chế “xin, cho” mà người Việt Nam đã chán ngán. Làm như vậy là theo lối sống thời quân chủ, phong kiến. Vào thế kỷ 19 ở nước ta, một người dân thường như bà Bùi Hữu Nghĩa dám đi từ Nam ra Huế, tới tận cửa triều đình gõ trống khiếu nại, vì chồng bà bị kết tội oan. Bà đã thành công, nhưng không vì thế mà giảm được những cảnh oan khuất cho những người dân khác; mà không phải ai cũng can đảm như bà.

Ðiều phân biệt giữa lối sống văn minh trên thế giới bây giờ, khác với chế độ quân chủ chuyên chế ngày xưa cũng như chế độ độc đảng chuyên chế ở Việt Nam, là các công dân một nước tự do dân chủ có quyền tham dự vào việc nước, trước khi nhà nước quyết định, chứ không phải chờ các vua quan quyết định rồi bị oan thì khiếu nại!

Cho nên người Việt chúng ta cần làm thế nào để mọi người dân Việt được “tham dự” vào những quyết định chung, trước khi những người cầm quyền quyết định. Một phương pháp tham dự giản dị là chính người dân được tự do chọn những người quyết định việc chung. Phải có bầu cử tự do. Việc góp ý kiến phải diễn ra một cách tự nhiên, giống như một công việc bình thường ai cũng phải làm, chứ không cần phải tổ chức biểu tình hoặc vác đơn đi khiếu oan. Muốn vậy thì phải có tự do phát biểu, tự do báo chí. Và việc tham dự phải thực hiện từ dưới lên trên, một cách cụ thể. Dân một xã phải được góp ý kiến về công việc xây dựng đường sá trong xã mình. Dân một nước phải được góp ý kiến vào việc quản trị tài nguyên nước mình, co nên cho người ngoài vào khai thác khoáng sản như bô xít hay không. Phải có những “kênh” cho các ý kiến khác nhau được cơ hội bầy tỏ. Ðó là những hội đoàn tự do và tự nguyện, các sinh hoạt của xã hội công dân, những mạng lưới và báo chí, truyền thanh truyền hình độc lập. Tất cả tạo ra lối sống tự do dân chủ.

Cho nên sau khi đã thành công trong việc đòi ngưng tăng học phí, các bạn sinh viên Ðại học Hồng Bàng có cơ hội nhìn xa hơn các quyền lợi thiết thực của mình, nhìn tới những nhu cầu của cả dân tộc. Các sinh viên học là để đi làm. Tại sao nước Việt Nam chậm tiến so với các nước Á Ðông khác? Quốc nạn tham nhũng vì chế độ độc tài là một chướng ngại ngăn cản phát triển kinh tế, có ai không biết? Tại sao những năm thời 1970 sinh viên Hàn Quốc và Ðài Loan phải biểu tình liên tiếp năm này sang năm khác để đòi tự do dân chủ? Cơ cấu chính trị độc đảng ở Việt Nam hiện nay có giải phóng cho các lực lượng sản xuất trong nước được tự do phát triển để tạo thêm công việc làm hay không?

Chúng ta cần đào tạo những chuyên viên giỏi để xây dựng nước Việt Nam. Ðây là một vấn đề các sinh viên phải quan tâm. Cơ cấu giáo dục do một đảng độc quyền cai trị hiện nay có nâng cao được trình độ học vấn của các thanh thiếu niên theo nhu cầu phát triển kinh tế hay không? Ông Barck Obama ở Mỹ đang tìm cách buộc những người giầu nhất nước Mỹ phải đóng thêm thuế để cải tổ y tế và nâng cao giáo dục. Nước Mỹ mà nó còn lo cải tổ như vậy. Còn ở nước ta, các đại gia giầu nhất nước có biết nhiều người Việt không bao giờ biết đến nhà thương bao giờ hay không? Một đại gia ở Việt Nam mới cho nhật báo Wall Street biết mỗi năm ông ta tiêu tốn 400,000 đô la Mỹ riêng trong việc sử dụng chiếc máy bay của ông ta mà thôi. Số tiền 400 ngàn Mỹ kim sẽ nuôi, dạy và chích ngừa bệnh được bao nhiêu học sinh tiểu học ở thôn quê? Người có tiền thì được phép tự do tiêu tiền, không ai cấm. Nhưng ông ta hiện đóng bao nhiêu thuế cho công quỹ, và phải góp bao nhiêu tiền hối lộ bỏ vào túi riêng của các quan chức? Nếu những người Việt khá giả như ông muốn làm việc thiện như ông Bill Gates ở Mỹ thì họ có quyền tự do lập hội thiện độc lập với đảng Cộng Sản hay không?

Cuối cùng, các bạn sinh viên nên nhớ: Nhu cầu chung lớn nhất của nước ta là thay đổi cơ cấu tổ chức cả xã hội cho hợp lý và công bằng. Trước hết là phân bố lại quyền chính trị. Không thể tập trung quyền hành vào tay một nhóm người, nhất là những người đã nổi tiếng là bất lực và tham nhũng!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Hưởng ứng chiến dịch "Không về Việt Nam Tháng Tư Đen 2009"
là thiết thực yểm trợ cuộc đấu tranh quốc nội



Nếu phải trả lời câu hỏi, “bạn có sẵn sàng yểm trợ cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền trong quốc nội không?” tôi tin là 99% người Việt hải ngoại sẽ trả lời “sẵn sàng”, dù có phải đóng góp tiền bạc, sức lực.

Chúng ta cần yểm trợ vì Việt Cộng đàn áp đồng bào ruột thịt của chúng ta, những người chỉ võ trang bằng đức tin và lòng hy sinh ngồi cầu nguyện dưới sức roi điện, lựu đạn cay của công an Việt Cộng; chúng ta còn cần yểm trợ vì Việt Cộng đàn áp hàng vạn dân oan mất đất lên Sài Gòn, Hà Nội nằm ngồi lê lết trên lể đường, chịu đựng cảnh màn trời chiếu đất.

Phương tiện yểm trợ chúng tôi vận động với quý bạn chính là sức mạnh của đồng mỹ kim; nhưng chúng tôi không xin quý bạn phải đóng góp vào một quỹ nào cả; quý bạn cũng không phải tiêu một đồng nào, mà chỉ cần kế hoạch hóa nhu cầu giúp đỡ gia đình tại Việt Nam .

Chúng tôi xin quý bạn không gởi một đồng nào về Việt Nam trong tháng Tư năm nay để hưởng ứng phong trào tạo sức mạnh cho “tháng Tư đen”; phô trương tiềm năng của khối 3 triệu người Việt hải ngoại chúng ta: tiềm năng lớn lao của ý thức, và của đoàn kết.

Chúng ta phải làm cho tháng Tư Ðen trở thành tháng thất thu, tháng nghèo túng của các quan chức Việt Cộng; vì không những không gửi tiền, chúng ta còn không về nước thăm viếng gia đình trong tháng Tư năm nay.

Dĩ nhiên mỗi gia đình một cảnh, nhưng quý bạn không cần phải vĩnh viễn không gởi tiền về giúp đỡ thân nhân, cũng không cần dứt khoát từ bỏ thông lệ về thăm gia đình. Quý bạn chỉ cần kế hoạch hoá những số tiền gửi, những cuộc thăm viếng.

Số tiền đáng lẽ gửi vào tháng Tư, quý bạn có thể gửi vào tháng trước, hay tháng sau; chuyến đi Việt Nam đáng lẽ đi vào tháng Tư, xin quý bạn đi sớm hơn, hay trể hơn.

Tháng Tư thất thu sẽ là một chỉ dấu cho sự phẫn uất của chúng ta, và sẽ là sức phản đối rất mạnh của chúng ta; Việt Cộng sẽ phải hiểu, phải nể nang và phải nhượng bộ lực lượng người Việt hải ngoại, mà đến giờ này chúng chỉ ve vuốt.

Số tiền “kiều hối”, tiền chúng ta gửi về, và số tiền chúng ta đem về nước tiêu xài, hàng năm lên đến 6 tỉ bạc, mỗi tháng nửa tỉ -- 500 triệu mỹ kim-- số tiền đủ lớn để Việt Cộng nhận ra ngay, hiểu ngay thái độ của chúng ta để nhanh chóng đáp ứng.

Một tiền lệ cho thấy Việt Cộng rất “nhậy cảm” trong vấn đề tiền bạc là thái độ ngụy quyền Việt Cộng bấn lên vì Nhật ngưng không cấp 100 triệu mỹ kim ngân khoản xây đại lộ Ðông Tây xuyên ngang Sài Gòn. Nguyễn Tấn Dũng vội vàng ve vuốt đại sứ Nhật, và hứa hẹn sửa sai, truy tố những tham quan ô lại, trong số có Huỳnh Ngọc Sỹ, bàn tay bẩn nhận tiền giùm cho toàn đảng Việt Cộng mafia.

Chúng sẽ còn bấn đến đâu nếu số tiền thất thu trong tháng tư đen lên đến 500 triệu mỹ kim, nhiều gấp 5 lần kinh phí xây đại lộ Ðông Tây.

Trong 33 năm nay Việt Cộng chỉ ve vuốt chúng ta mà chưa có một nhượng bộ nhỏ nào cả, vì chúng biết chúng ta có nhu cầu gửi tiền về giúp đỡ gia đình. Có thể năm nay với phong trào “Tháng Tư Ðen”, số tiền 6 tỉ mỹ kim vẫn không ít hơn, nhưng khoảng thời gian một tháng thất thu sẽ làm chúng e ngại trước ý chí của khối người Việt hải ngoại, e ngại chúng ta còn có thể đi xa hơn nữa trong chiến thuật “cúp viện trợ.”

Tại sao chúng ta không làm một việc không khó khăn tí nào cả để yểm trợ cuộc đấu tranh oai hùng nhưng cô đơn của bao nhiêu chiến sĩ dân chủ đang đói, lạnh trong lao tù Việt Cộng. Linh mục Nguyễn Văn Lý, hai luật sư Lê thị Công Nhân, Nguyễn Văn Ðài và bao nhiêu người nữa sẽ âm thầm nở một nụ cười mát ruột khi nghe đến sức mạnh của phong trào “Tháng Tư Ðen.”

Ðặc tính của phong trào là tinh thần tự giác, chúng ta tự ý thực hiện kỷ luật chung mà vẫn không ảnh hưởng gì đến mức chi tiêu của thân nhân tại Việt Nam .

Xin quý vị trả lời “sẵn sàng chấp nhận kỷ luật tự giác.”

Nguyễn Ðạt Thịnh

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Thời sự kinh tế: Cải tổ kinh tế tư bản
Friday, March 20, 2009

Ngô Nhân Dụng
Trước vụ tiền thưởng 165 triệu ở công ty AIG, dư luận dân Mỹ và các nhà báo đều coi đó là một bọn tham lam vô độ, họ đang nhận tiền chính phủ giúp đỡ mà lại đem tưởng thưởng cho nhau, thưởng cho cả những người ở trong phân bộ gây ra tai họa cho công ty này, bắt người dân đóng thuế tốn tiền trợ giúp. Các đại biểu quốc hội phản ảnh dư luận dân, cho nên tranh nhau đòi trừng phạt những con người tham lam đó. Có ông còn nói đáng lẽ những kẻ làm nên tội ác này nên “tự sử” theo lối các võ sĩ Nhật Bản; nói xong rồi vội vàng cải chính.

Ngày Thứ Năm, Hạ Viện Mỹ đã bỏ phiếu làm luật đánh thuế tới 90% những người lãnh tiền thưởng tại các ngân hàng và công ty đang được chính phủ Mỹ trợ giúp. Một nửa các dân biểu Cộng Hòa bỏ phiếu thuận theo các đồng viện Dân Chủ, và chỉ có 6 dân biểu Dân Chủ bỏ phiếu chống.

Ngày hôm qua, đã có nhiều nghị sĩ tỏ ý dè dặt, đặc biệt là các nghị sĩ Cộng Hòa. Ai cũng biết các ông bà Cộng Hòa nghe nói đánh thuế nặng là dị ứng rồi. Nhưng dự luật của Hạ Viện còn đánh thuế với tính cách hồi tố, tức là những người đã lãnh tiền từ trước khi đạo luật ra đời cũng phải đóng thuế mới. Hơn nữa, quốc hội không có quyền làm luật đánh thuế nhắm vào một số người nhất định; điều này có thể bị kiện vì trái với hiến pháp Mỹ. Cho nên, dự luật mà Thượng Viện sẽ bàn sẽ nhẹ hơn dự luật mà Hạ Viện đã thông qua. Chưa chắc hai bên sẽ bàn với nhau trước ngày các đại biểu quốc hội đi nghỉ. Khi họ trở lại họp, thì dư luận dân Mỹ có thể cũng chẳng thèm chú ý tới vụ 165 triệu ở AIG nữa. Vì nước Mỹ còn nhiều vấn đề quan trọng hơn, sẽ còn nhiều biến cố tài chánh lớn hơn nữa.

Nhưng có dân biểu và nghị sĩ còn báo trước là khi nào quốc hội bàn tới công việc cải tổ cả hệ thống tài chánh (một việc ai cũng đồng ý phải làm), thì họ sẽ đưa ra luật để quy định cả chính sách trả tiền thưởng trong các ngân hàng và công ty nữa. Làm như vậy thì nước Mỹ còn theo “kinh tế tư bản” nữa hay không?

Lo lắng như vậy, không phải vì chính sách trả lương và tiền thưởng trong giới kinh doanh, ngân hàng ở Mỹ đang hoàn hảo. Chúng ta sẽ bàn tới những nhược điểm trong hệ thống tưởng thưởng mà nhiều ngân hàng và xí nghiệp ở Mỹ vẫn mắc phải, một phần là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay.

Mục đích của lương bổng và tiền thưởng cho nhân viên, từ cao xuống thấp, là để khích lệ người ta cố gắng làm việc, tạo thêm lợi ích cho xí nghiệp. Khi các xí nghiệp, các ngân hàng đều cố đạt được hiệu quả cao nhất, thì kinh tế chung cả xã hội cùng tiến.

Khi kinh tế các nước cộng sản suy yếu đưa tới sự sụp đổ cả khối xô viết, mọi người giải thích một cách dễ dàng tại sao nó hỏng. Vì căn bệnh cha chung không ai khóc. Nói theo ngôn ngữ kinh tế học là “cơ cấu tưởng lệ không thích hợp.” Chế độ cộng sản không khích lệ người ta làm việc hết sức vì kinh tế bị chính trị can thiệp. Những người đáng lẽ đáng tưởng thưởng vì làm việc với hiệu quả cao thì họ không được thưởng; những người khéo luồn cúi các cấp ủy thì được hưởng nhiều hơn.

Phân tích như vậy rồi, nhìn lại nền kinh tế tư bản, thì mọi người thấy rằng cơ cấu tưởng lệ (incentive) trong kinh tế tư bản có vẻ thích hợp. Quyền tư hữu được pháp luật bảo đảm, ai làm người đó hưởng. Các xí nghiệp tuyển người làm do khả năng chứ không do thành phần, lý lịch hoặc đảng phái. Trong các xí nghiệp giới quản đốc được trả thù lao cao hay thấp tùy theo thành quả của công việc tốt hay xấu, các hợp đồng về thù lao được đại diện các cổ đông ký với người quản đốc. Mà kết quả công việc họ làm thì được đo lường một cách khách quan, là giá cổ phiếu của công ty trao đổi trên thị trường. Giá cổ phần lên, tức là cả thị trường tán thưởng công việc của công ty, giá xuống là họ trừng phạt. Cơ cấu tưởng lệ này được coi là hay, vì nó khiến cho “quyền lợi của cá nhân những người quyết định cho một công ty cũng phù hợp với quyền lợi của công ty,” tức là quyền lợi của các cổ đông.

Nhưng niềm tin vào cơ cấu tưởng lệ của kinh tế tư bản đang bị nghi ngờ, vì cuộc khủng hoảng tài chánh bắt đầu từ năm 2007 đến nay. Trong thực tế, có những hợp đồng tưởng thưởng không đúng cách, tức là không khích lệ những người quyết định cho công ty chọn những dự án, những kế hoạch tốt nhất cho công ty.

Thí dụ, một công ty có thể phát cổ phần cho ban giám đốc làm tiền thưởng, hoặc những hứa phiếu (call option) cho phép người quản đốc được mua cổ phiếu với giá cố định, nếu giá cổ phiếu lên thì người đó đem thi hành sẽ được lợi. Nhìn qua thì thấy đây là một phương pháp tưởng lệ khiến quyền lợi của người quản lý phù hợp với quyền lợi các cổ đông, vì các cổ đông cũng chỉ mong giá cổ phiếu tăng lên.

Nhưng ngay trong phương pháp tưởng lệ này cũng lộ rõ khuyết điểm. Các vị quản đốc ở Mỹ thường thay đổi nơi làm việc rất nhiều, chỉ những người cũng làm chủ xí nghiệp mới ở lại lâu. Những người điều khiển công ty có thể quyết định những kế hoạch mang lại lợi ích nhất thời, thí dụ làm tăng giá cổ phiếu trong vòng 6 tháng hoặc một, hai năm; nhưng trong tương lai dài, 5 năm, 10 năm, có thể nhiều rủi ro, nguy hiểm. Người quản đốc đó sẽ được tưởng tưởng ngay vào lúc cuối năm, rồi nhờ thành tích tốt có thể được một xí nghiệp khác tuyển mộ, sẽ ra đi. Sau đó 5 năm, những quyết định cũ đưa tới những rủi ro làm công ty thua lỗ, nhưng người quản đốc đã bỏ tiền vào túi và đi xa rồi.

Trong thời gian xẩy ra cuộc khủng hoảng tài chánh này, người ta nhìn vào những vị quản đốc như ông Maurice “Hank” Greenberg đã điều khiển công ty AIG suốt bốn thập niên, bị ép buộc phải từ chức năm 2005. Ông nắm vận mệnh công ty này trong thời gian lập ra phân bộ chuyên về các hợp đồng bảo hiểm trái khoán, mà nay là nơi làm cho công ty lỗ hàng trăm tỷ Mỹ kim. Nhưng chính ông Greenberg đang kiện công ty AIG vì đã làm cho giá cổ phần xuống khiến ông và bà vợ mất hàng tỷ Mỹ kim. Trong số các ngân hàng gặp nạn hiện nay chỉ có ngân hàng UBS của Thụy Sĩ đang đòi lại những tiền thưởng phát cho các vị cựu quản đốc, vì coi là những quyết định trong quá khứ của họ gây ra tai họa cho ngân hàng.

Làm cách nào để tránh mối tai hại vì quyền lợi nhất thời của các quản đốc không phù hợp với quyền lợi lâu dài của xí nghiệp? Nhiều người đã nhìn thấy vấn đề này, và đề nghị các xí nghiệp hãy vẽ ra những quy tắc tưởng lệ khiến người quản đốc phải quan tâm tới “quyền lợi lâu dài” của công ty, chứ không phải chỉ trong ngắn hạn. Một phương cách là các xí nghiệp tặng thưởng cổ phần cho các vị quản đốc nhưng họ chỉ được bán các cổ phần đó dần dần, trong một thời hạn, thí dụ 5 năm. Những hứa phiếu cho quyền mua cổ phần cũng chỉ được thi hành dần dần, mua từng đợt một trong thời hạn lâu dài. Một hợp đồng như vậy sẽ buộc người điều khiển công ty phải nghĩ đến lợi nhuận của công ty trong nhiều năm chứ không tập trung vào những thành quả ngắn hạn.

Nhưng trên đây chỉ là một thí dụ nhỏ về sự xung khắc giữa quyền lợi người quản đốc và quyền lợi công ty. Trong hệ thống tưởng lệ hiện nay còn có một lỗ hổng rất thông thường, là nhiều ngân hàng và xí nghiệp bị phá sản chỉ vì các vị quản đốc “làm liều” nhưng chính họ không bị mất gì hết khi xẩy ra tai họa đó.

Thí dụ, một vị quản đốc đứng trước một lựa chọn. Nếu theo kế hoạch A thì trong 10 năm ngân hàng (hoặc công ty) có thể sinh lợi lớn, hoặc có thể phá sản. Nếu theo kế hoạch B thì công ty sẽ đạt được lợi nhuận bình thường, thấp hơn, nhưng chắc chắn hơn, khó lòng bị phá sản. Người quản đốc có thể chọn kế hoạch A, tức là đánh cá trên thời vận của công ty. Nếu 10 năm sau mà công ty gặp may mắn, thì chính người quản đốc sẽ được tưởng thưởng hậu hĩ. Còn nếu thời vận xấu tới, công ty bị phá sản, thì người quản đốc cùng lắm chỉ nghỉ việc mà không bị mất thêm gì cả. Ðây giống như một vụ đánh cá bằng tiền của người khác. Các ngân hàng và xí nghiệp Mỹ biết cơ cấu tưởng lệ có thứ lỗ hổng này, nhưng lâu nay người ta không tìm cách ngăn chặn, vì chuyện phá sản là chuyện rất xa vời, không nghĩ sẽ xẩy ra. Cho tới khi cuộc khủng hoảng tài chánh hiện nay, cả hệ thống kinh tế tư bản ở Mỹ sẽ phải suy tính lại, chữa trị căn bệnh này.

Nhưng điều quan trọng đối với mọi người là khi một ngân hàng lớn bị cháy, cả xã hội chung quanh phải cứu, nếu không cơn cháy sẽ lan ra khắp làng khắp xóm! Ông Robert Rubin, cựu bộ trưởng tài chánh trong chính phủ Clinton sau khi về hưu làm việc trong hội đồng quản trị ngân hàng Citigroup. Năm nay ông đã nghỉ và được tưởng thưởng 115 triệu Mỹ kim. Nhưng ngân hàng Citi gặp nạn, và chính phủ cùng ngân hàng trung ương Mỹ phải cứu giúp. Ông Rubin chỉ là một trong nhiều vị quản đốc Citi, và không ai có thể buộc họ phải trả lại tiền cho các cổ đông, hay cho người dân đóng thuế đang bỏ tiền cứu ngân hàng này!

Cho nên, hệ thống kinh tế gọi là tư bản được coi là có hiệu quả hơn các hệ thống kinh tế quốc doanh trên mọi mặt, chính nó cũng còn đầy lỗ hổng. Trên đây chỉ là vài thí dụ trong phạm vi cơ cấu tưởng thưởng những người làm việc. Hiện các nước Âu Châu thiết tha hơn nước Mỹ về việc cải tổ hệ thống tài chánh, vì khi Mỹ ngã bệnh thì Âu Châu cũng bị đau! Trong những tháng tới, chính phủ và quốc hội Mỹ sẽ phải cải tổ cả hệ thống. Phải làm sao cơ cấu tưởng thưởng khích lệ người ta cố gắng làm việc nhưng không làm liều để cho người khác chịu hậu quả.

Post Reply