Đời Sống Quanh Ta

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Xin mời xem...Nụ cười và ánh mắt một Thiên Thần !

This is Extremely emotional - - -

After watching this video I should not complain of my situation - - -
This young girl is just grateful to be alive!- - - Share this with others.



User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

 Image

Nguy cơ ung thư từ thuốc bắc
Phần lớn, quan niệm của người dân cho rằng nấm mốc trong thực phẩm khô nói chung và trong thuốc bắc nói riêng đơn giản chỉ là một dạng vi sinh vật vô hại, có thể rửa sạch mà không ảnh hưởng gì đến chất lượng. Tuy nhiên theo cảnh báo của các chuyên gia, chính những nấm mốc này lại mang cho con người nhiều chứng bệnh kể cả bệnh ung thư
Video:

Nấm mốc trong thuốc bắc sinh độc

Thuốc bắc là tên gọi còn thực chất đó chỉ là các loại cây cỏ, thành phần chính là sợi cenlulo nên dễ hút ẩm. Nấm mốc có đặc điểm là thích sống ký sinh, dễ sinh sản trên các vật liệu ẩm, đặc biệt chúng sống và ăn các sợi cenlulo nên thuốc bắc dễ bị nấm mốc. Nếu thuốc bị mốc mà vẫn sắc uống không những không mang lại hiệu quả mà còn mang thêm mầm bệnh vì các độc tố của nấm mốc.

Trong môi trường có nhiều loại nấm mốc khác nhau, chúng sẽ tạo ra độc tố rất nguy hiểm cho con người, điển hình là Aflatoxin , một loại chất cực độc đối với sức khỏe con người. Aflatoxin được sản sinh trong quá trình trao đổi chất của nấm Aspergillus flavus. trong các thực phẩm như sen, táo tàu, thục…Có nhiều tài liệu cho rằng sự nguy hiểm của Aflatoxin B1 là do nó có khả năng gây hại chỉ với liều lượng rất nhỏ khoảng 2mg cũng đã đủ làm hỏng gan . Chất Aflatoxin là một trong các chất cực độc nên chỉ tính bằng lượng microgram tức là 1 phần triệu gram

Nguy cơ ung thư cao

Con người có thể nhiễm Aflatoxin qua đường tiêu thụ thực phẩm bị nhiễm nấm. Thậm chí, Aflatoxin có khả năng gây độc cấp tính và mãn tính ở các loài động vật và con người. Độc tính nguy hiểm nhất là khả năng gây xơ gan và ung thư gan nguyên phát. Các nhà khoa học đã gây được ung thư gan nguyên phát trên thực nghiệm bằng cách cho các con vật ăn thức ăn có Aflatoxin. Từ năm 1988, Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Quốc tế đã liệt Aflatoxin B1 vào nhóm độc chất gây ung thư với những bằng chứng cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa chất độc này trong cơ thể với ung thư gan. Theo nghiên cứu của Đại học Cornell (Hoa Kỳ), loại độc chất này có thể gây nên những ảnh hưởng bất lợi cho con người qua một thời gian dài tích tụ Aflatoxin từ thực phẩm, dù với hàm lượng rất thấp. Những hội chứng ngộ độc cấp tính có thể nhận thấy là nôn ói, đau bụng, sưng phổi, co giật, hôn mê, và tử vong do phù não, tim gan thận tích mỡ.
Aflatoxin gây ung thư rất mạnh, đặc biệt là tác động đến gan..
Videohttp://www.youtube.com/watch?v=Sixtgi-2RFE


Sư an toàn của thuốc tây so với thuốc Bắc, thuốc Nam

Nguyen van Hoang (bài do bạn KimAnh giới thiệu)
Kính thưa quý vị, một hôm, có một bệnh nhân đến phòng mạch, yêu cầu chúng tôi thử máu tổng quát. Là bác sĩ, trước khi thử máu thì cần phải biết tại sao bệnh nhân có yêu cầu này, vì nhiều khi bệnh nhân có những căn bệnh mà cuộc thử nghiệm tổng quát không phải là thử nghiệm thích hợp nhất. Sau khi được hỏi bệnh cẩn thận, bệnh nhân dứt khoát là không bị bệnh gì cả, chỉ muốn khám nghiệm tổng quát. Thấy bệnh nhân trong độ tuổi giữa 45 và 49, cũng là tuổi mà bộ y tế muốn các BS làm một cuộc khám nghiệm tổng quát, chúng tôi đồng ý cho bệnh nhân thử máu.

Thật tình cờ, khi kết quả trở về thì cho thấy bệnh nhân bị suy gan khá trầm trọng. Tất nhiên tiếp theo đó những thử nghiệm khác được tiến hành, để tìm hiểu thêm nguyên nhân của sự suy gan, mà người Việt mình thường gọi là nóng gan, như thử các bệnh viêm gan do siêu vi khuẩn gây ra, siêu âm gan, và hỏi lại thật cặn kẻ việc ăn uống cùng thuốc men của bệnh nhân. Nên biết, rượu hay thuốc làm giảm mỡ (cholesterol) cũng thường là nguyên nhân làm cho "nóng gan".

Kết quả là không một nguyên nhân nào được tìm thấy, nhưng chính trong lần khám nghiệm thứ ba này, bệnh nhân tiết lộ đang dùng thuốc Bắc, mặc dù trong những lần khám nghiệm trước, đã được hỏi về những thuốc men mà bệnh nhân sử dụng. Sau một thời gian ngưng uống liều thuốc Bắc này, gan bệnh nhân trở lại bình thường..

Kính thưa quý vị, chúng tôi lớn lên ở VN, tuy không học qua Đông y, nhưng cũng nghe lõm bõm về khái niệm âm dương ngũ hành, thổ sinh kim, thủy khắc hỏa vân vân. Khi ở VN thì chúng tôi học 4 năm đại học ngành hóa học, thấy người Tây phương chia vạn vật ra làm hàng tỉ tỉ hợp chất khác nhau, mà thành phần đơn chất căn bản để cấu tạo nên những hợp chất này là nguyên tố, như oxygen, carbon, sắt, đồng, nitrogen vân vân. Té ra đời không thể nhìn đơn giản với kim mộc thủy hỏa thổ mà đủ (quan niệm của Hy Lạp cách đây mấy ngàn năm cũng tương tự như vậy, nhưng nay người ta đã tiến rất xa rồi). Khi sang Úc, học ngành y, thì chúng tôi được biết thêm cách thức Tây phương nghiên cứu thuốc men.

Xin được vắn tắt về cách Tây y nghiên cứu một môn thuốc trước khi thuốc này được đưa ra thị trường cho người bệnh dùng.

Một liều thuốc Tây căn bản, thường chỉ bao gồm một hợp chất (hoặc cao lắm là vài hợp chất) trộn với chất bột không có tính thuốc. Sau khi thử trên loài vật có hệ thống sinh lý tương đối giống con người và đã xác định được hiệu quả của thuốc, người ta mới bắt đầu thử trên con người.

Ở giai đoạn thử trên con người này, hầu như luôn luôn người ta sử dụng phương pháp gọi là "double blinded study".


Xin đưa một thí dụ. Các bệnh nhân có cùng một căn bệnh, sẽ được chia làm 2 nhóm. Một nhóm sẽ được cho uống thuốc thật và một nhóm được cho uống thuốc giả (placebo), tức là viên thuốc chỉ có chất bột mà không có hợp chất thuốc.

Bác sĩ cho thuốc cũng không hề biết viên thuốc mình cho bệnh nhân uống là thực hay giả, và tất nhiên bệnh nhân cũng không biết luôn. Do đó, người ta gọi là "double blinded", cả hai, thầy lang và con bệnh, đều bị "bịt mắt". Người biết ai uống thuốc thật, ai uống thuốc giả là những nhân viên hành chánh, chưa hề gặp mặt các bệnh nhân.

Sau một thời gian dùng thuốc, bệnh nhân được kiểm tra lại. Thí dụ như trong trường hợp thử nghiệm loại thuốc giảm áp huyết, người ta sẽ đo lại áp huyết của bệnh nhân, và so sánh với áp huyết trước khi dùng thuốc.

Cùng lúc, người ta hỏi bệnh nhân về các phản ứng phụ, như buồn nôn, chóng mặt vân vân, và đo đạc những thay đổi khách quan khác như thử máu xem gan có bị "nóng" (bệnh) hay không, công năng thận ra sao vân vân. Sau đó người ta đưa sang thống kê để phân tích.

Nếu trường hợp 99% người uống thuốc thật khỏi bệnh, còn chỉ có 1% người uống thuốc giả khỏi bệnh, thì ta có thể kết luận là thuốc này công hiệu. Ngược lại, nếu chỉ có 5% người uống thuốc thật hết bệnh và có 4% người uống thuốc giả cũng khỏi bệnh, thì có thể ta cũng thấy được uống thuốc hay không cũng không khác gì nhau, tức là thuốc không nhiệu nghiệm.
Nhưng thông thường, kết quả không rõ rệt như vậy, mà có thể là 563/1000 người dùng thuốc thật sẽ khỏi bệnh, 230/1000 người dùng thuốc giả hết bệnh. Như vậy thì thuốc thật có công hiệu không? Và thuốc giả thì sao, vì cũng có người hết bệnh đó mà

Đến đây, vai trò của toán thống kê vô cùng quan trọng. Toán thống kê cuối cùng sẽ cho ta một kết luận, kết luận rằng có thể nào vì "rùa" (tình cờ) mà có nhiều người uống thuốc thật khỏi bệnh hơn người uống thuốc giả không. (chỉ số dùng để kết luận này được gọi là "p value", và nếu nó nhỏ hơn 0.05 thì kể như không thể nào thuốc thật "chó ngáp phải ruồi" được). Song song đó, người ta cũng phải bảo đảm những bệnh nhân tham gia cuộc thử thuốc không có những bệnh khác, hoặc không có uống những thuốc khác.

Sở dĩ người ta phải so sánh người uống thuốc thật và thuốc giả là để loại đi vai trò của tâm lý ảnh hưởng lên người bệnh (hiệu ứng tâm lý này rất quan trọng, gọi là placebo effect), vì nhiều người chỉ nhờ tin tưởng mà hết bệnh, nhất là đối với những chứng bệnh mà ta không thể đo lường một cách khách quan được, thí dụ như bệnh nhức đầu. (Nhức, đau, ngứa là những triệu chứng vô cùng chủ quan, chỉ có bản thân bệnh nhân mới định lượng được thôi).

Và, sở dĩ người ta chú ý đến những yếu tố khác của bệnh nhân là vì những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến căn bệnh. Thí dụ như một người nghĩ rằng vì nhờ uống hà thủ ô mà tóc trở nên đen, nhưng không chừng trong thời gian đó, người này ăn nhiều rau giấp cá, mà chính rau giấp cá mới có tác dụng làm đen tóc thì sao (chỉ thí dụ như vậy mà thôi). Chắc chúng ta không biết được trong 1000 người uống hà thủ ô thì có bao nhiêu người tóc bạc trở thành đen (e rằng không có đến 1 người, nhờ vậy mà thuốc nhuộm tóc vẫn bán chay re re).

Kính thưa quý vị, đó là quá trình thử nghiệm và thực nghiệm của Tây y, mà theo chúng tôi, y học cổ truyền của chúng ta không có. Y học cổ truyền dựa trên kinh nghiệm tích lũy, nhưng không có thống kê rõ ràng.

Chúng tôi được biết có rất nhiều bệnh nhân tin rằng uống thuốc Bắc sẽ khỏi một số bệnh nan y, tốn tiền rất nhiều, nhưng cuối cùng trong một ngàn người dùng thuốc này có bao nhiêu người khỏi bệnh và bao nhều người... quy tiên, ta cũng không biết. Một số người do nhìn thấy một vài trường hợp cá biệt rồi khái quát hóa, cho rằng liều thuốc đông y ấy có hiệu nghiệm trên mọi người. Có lẽ là vì Đông y thiếu thực nghiệm và thống kê.

Thứ đến, rất nhiều bệnh nhân than phiền về phản ứng phụ của Tây y.

Kính thưa quý vị, trong khi một viên thuốc Tây chỉ có một hay hai hợp chất, thì một khúc rễ cây, một túi mật, có hàng chục đến hàng trăm hợp chất trong đó. Như vậy thì "phản ứng không mong muốn" (unwanted effects) ắt phải nhiều hơn rất nhiều. Một viên Morphine chỉ chứa có chất Morphine mà thôi, trong khi đó nếu ăn một cây á phiện thì ta cho vào cơ thể biết bao nhiêu tạp chất khác. Vấn đề nằm ở hai chữ: LIỀU LƯỢNG.

Kính thưa quý vị, chắc chắn một số thuốc Ta, thuốc Bắc, thuốc Nam cũng có hiệu lực, nên mới lưu truyền cả ngàn năm, nhưng sự nghiên cứu của những loại thuốc này thực thua kém thuốc Tây rất xa. Nói đến thuốc Bắc thuốc Nam thì chắc có lẽ vua Càn Long, Tần Thủy Hoàng, các đại quan, phú hộ của Tàu là người uống nhiều nhất, cũng được toàn các danh y, Hoa Đà, Biển Thước chẩn trị. Nhưng kết quả các vị ây ra sao, chết lúc bao nhiêu tuổi, có mạnh khỏe hơn tổng thống Bush hay không, ta cũng thấy rồi.
Các vị ngày xưa thường nói, nhân sinh thất thập cổ lai hy, bây giờ với Tây y thì nhân sinh thất thập mà "die", thì là... hơi yểu mệnh đó. Ngày nay, có rất nhiều cô chú bác đã xấp xỉ thất thập, nhưng vẫn còn mạnh cuồi cuội, đi shop, đi du lịch, đi biểu tình rần rần, so với các vị quan lớn, vua chúa ngày xưa thì khỏe và thọ hơn nhiều, dù không uống sâm nhung, dù không dùng cao hổ cốt, lộc nai, sừng tê giác.

Bài tâm tình về thuốc này không nhằm việc bài bác Đông y, mà chỉ để chúng ta thấy được sự khác biệt trong nghiên cứu giữa Đông và Tây y. Là một người theo ngành khoa học, nhìn đời qua cặp mắt thống kê, cá nhân của chúng tôi chỉ được thuyết phục khi nào thuốc Bắc, thuốc Nam, Đông y, Trung Y, có những nghiên cứu tinh tế, chi tiết, với sự chứng minh của thống kê mà thôi.

Nhiều bệnh nhân khi gặp bác sĩ Tây y, thường hỏi thuốc này có những phản ứng phụ gì. Hầu như lúc nào BS cũng biết, nếu không biết thì mảnh giấy hướng dẫn trong hộp thuốc cũng có ghi. Quý vị vẫn có thể dùng thuốc Bắc, thuốc Nam, nhưng khi gặp các Đông y sĩ, hay Trung y sĩ, nên hỏi xem thuốc ấy có tạo phản ứng phụ gì không. Điều này sẽ hữu ích cho hiểu biết và sức khỏe của chúng ta.

Vài nét về cách chữa trị trong ngành Đông y

Đông y khám bệnh theo bát cương để tìm sự mất quân bình về âm-dương, hư thực, hàn nhiệt, biểu lý của khí hay huyết, ở tang phủ nào. Và khi chữa là tìm phương pháp lập lại sự bất quân bình trở thành quân bình bằng huyệt hay bằng thuốc.

Về thuốc, đông y không biết phân chất theo dược tính tây y, và hiện nay tây y cũng còn nhiều thiếu sót trong việc phân tích tính dược và các công dụng của một vị thuốc cây cỏ, cho nên khi những thầy thuốc tây y học về đông y chỉ dựa theo sự phân tích khoa học thí nghiệm của tây y để tìm ra vị thuốc chữa bệnh thì không thấy nói đến công dụng, thế mà đông y vẫn dùng để chữa bệnh lại có kết qủa. Tại sao lại có điều khác biệt ?
Bởi vì các bác sĩ chỉ áp dụng những kết qủa thử nghiệm của ngành dược đã cho, dặn sao làm vậy, không dám có những công thức sáng tạo thuộc phạm vi của những nhà nghiên cứu. Còn thầy thuốc đông y kiêm cả dược sĩ bào chế dược liệu, thường chú trọng đến tính- khí -vị của một vị thuốc, và thầy thuốc phải tìm ra vị thuốc nào phù hợp điều kiện bệnh trạng để tái lập lại quân bình cho cơ thể.

Thầy thuốc đông y không cần biết thuốc đó tây y gọi là gì, thành phần hóa chất ra sao, mà chỉ cần biết thật rõ ràng tính-khí-vị của vị thuốc gồm có những yếu tố sau :


1-Tính của vị thuốc : Hàn hay nhiệt hay ôn .

Khi lập lại quân bình thì bệnh hàn phải cần cho thuốc có tính nhiệt, bệnh nhiệt phải cho dùng thuốc hàn. Đôi khi bệnh nan y hàn giả nhiệt hay nhiệt giả hàn thì cách uống thuốc cũng phải khác.

Thí dụ bệnh hàn giả nhiệt :
Người nóng, môi khô nhưng không bón mà ra phân lỏng .Nếu thầy thuốc cho uống thuốc có tính hàn thì bệnh nặng thêm, phải cho thuốc có tính nhiệt mới đúng. Tuy nhiên khi uống thuốc có tính nhiệt vào bệnh nhân bị ói nôn thuốc ra nên thầy thuốc không dám cho uống tiếp sợ sai lầm, nhưng nếu nấu thuốc xong, để cho nguội lạnh mới uống thì bệnh nhân sau khi uống vào thấy dễ chịu ..

Kinh nghiệm sách đông y kể rằng : Có một bệnh nhân ho ra máu, mời một thầy lang vườn đến nhà xem mạch cho toa, uống xong, bệnh nhân ọc ra máu nhiều hơn, thầy bó tay, mời thêm một thầy khác đến hội chẩn, thầy thứ hai ra toa, thầy thứ nhất hỏi rằng : ông cho vị thuốc nào làm quân, thầy trả lời Địa hoàng, tôi cũng đã cho địa hoàng 1 lạng, hai thầy bàn nhau như vậy bệnh nhân quá nhiệt mới ói ra máu, đồng ý với nhau cho 2 lạng địa hoàng .

Uống toa này vừa xong bệnh nhân ọc máu nhiều hơn. Cả hai lại thỉnh thêm thầy thứ ba, cũng hội chẩn và tăng 3 lạng địa hoàng, Uống xong, bệnh nhân ói máu càng nhiều .


Có một thư sinh đang nghiên cứu đông y và tính dược ở cạnh nhà ngóng nghe, theo dõi và biết bệnh tình của bệnh nhân này thuộc bệnh nan y hàn giả nhiệt, anh ta mới tội nghiệp cho bệnh nhân bị 3 thầy lang vườn chẩn bệnh sai nên mới ra nông nỗi, bèn góp ý hỏi : Ba thầy chẩn đoán bệnh này thuộc hàn hay nhiệt ? Cả ba thầy trả lời : nhiệt .

Thư sinh nói : Tôi cho rằng bệnh do hàn làm ra, phải chữa bằng quế tâm mới đúng .Không tin, tôi có đem theo trong mình một miếng quế, hãy lấy nước lã mài trong chén một ít rồi cho uống thử xem sao ? Bệnh nhân sau khi uống chén nước lã có quế, bệnh nhân mừng quá kêu lên : Mát qúa, thấy dễ chịu trong người. Cả ba thầy mới hỏi thư sinh : Thế thì tiên sinh cho uống bao nhiêu quế thì khỏi . Thư sinh trả lời : 1 lạng quế .
Nếu phân tích quế theo tây y, trong quế không có vitamine K làm sao cầm máu được Điều đó vô lý đối với tây y nhưng đối với đông y là quân bình hàn nhiệt vẫn đúng .

Trường hợp nhiệt giả hàn, ngoài lạnh trong nóng, táo bón, thì phải cho uống thuốc có tính hàn, nhưng phải cho uống nước thuốc thật nóng.

2-Vị của vị thuốc :

Chọn vị thuốc mặn vào thận, ngọt vào tỳ, chua vào gan, cay vàp phế, đắng vào tim . Nếu chọn vị thuốc làm quân phải cho nhiều và đậm gọi là vị hậu, nếu làm sứ dẫn thuốc thì cho nhạt gọi là vị bạc. Cho nên thuốc tây y Magnésium chữa bao tử nếu có vị ngọt thì thuốc dẫn vào tỳ vị thì đúng, Malox là chất cam thảo vị ngọt nên chữa đau bao tử có kết quả, nhưng phản ứng phụ sẽ làm tăng áp huyết. Nhưng nếu một hãng tây dược khác chế thuốc đau bao tử cũng bằng Magnésium nhưng đổi vị chua thuốc dẫn vào gan sẽ không có kết qủa mặc dù hàm lượng Magnésium cao hơn


3-Khí của vị thuốc :

Có nhiều vị thuốc có 1 loại khí, có 2 hay nhiều loại khí, thầy thuốc phải biết chọn loại nào thích hợp với tình trạng bệnh, và trong khí có tính tả, tính bổ :
Các loại khí trong thuốc theo kinh nghiệm của đông y gồm có :
Khí thăng : Như Thăng ma đưa thuốc lên đầu.
Khí giáng : Như Ngưu tất dẫn thuốc xuống đầu gối.
Khí liễm, cầm giữ lại : là những chất chát chứa tanin như lá ổi để cầm tiêu chảy…
Khí xuất : Cho ra mồ hôi như : Lá tía tô dùng để xông
Khí hạ hãm : Hạ hơi và giữ lại như gừng hạ khí chống buồn nôn và giữ hơi ấm cho bao tử..
Có những loại khí vừa giáng khí vừa xuất như Ngô thù du

Bài của ông Đỗ đức Ngọc

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Đau tim...

Nhiều người tưởng rằng, đau tim là bệnh của ai khác, chứ không phải họ. Lầm to, ai cũng có thể chết bất thần vì đau tim, mà không có một triệu chứng nào báo trước cả. Đau tim, một trong những bệnh giết chết nhiều người nhất tại nước Mỹ. Nhờ khoa học tiến bộ, biết đích danh chết vì bệnh tim. Chứ bên Việt Nam mình thì cứ gọi là “trúng gió”, trúng gió mà chết, nhiều lắm. Bị trúng gió, thì cạo gió, và xoa bóp huyệt đạo lung tung, cũng cứu được rất nhiều người. Đó cũng là một cách kích động cho trái tim đập lại, cho máu lưu thông, mà thoát chết. Cái gì cũng là “trúng gió” cả.

Câu chuyện “trúng gió” tại Mỹ cũng rất nhiều. Trong sở tôi, có một ông chưa được 60 tuổi, buổi trưa gục đầu trên bàn và chết mà không ai biết. Ông bạn ngồi bên cạnh đến lay nhẹ và nói: “Dậy, dậy, trong giờ làm việc mà ngủ, người ta thấy kỳ lắm”. Ông nầy chết trong khi đang làm việc. Đâu phải công việc khó khăn, mệt nhọc và căng thẳng thần kinh lắm cho cam. Công việc cũng nhàn nhã, thong dong, không ai thúc hối, thế mà vẫn chết. Một ông khác, tuổi trên 50, còn độc thân, đi ăn trưa về, vừa buớc vào thang máy, thì quỵ xuống. Bạn đồng nghiệp kêu xe cấp cứu, đến bệnh viện thì đã chết rồi. Nhiều người ngạc nhiên, vì ông nầy trông trẻ trung, dáng vóc khỏe mạnh, lanh lẹ và độc thân, không có ai mè nheo, cằn nhằn đến độ bực mình mà chết.

Một ông bạn, suốt đời không có triệu chứng gì về đau tim cả. Chỉ có bà vợ hay la mắng rầy rà làm ông buồn mà thôi. Một hôm ông ngồi đọc báo chờ vợ trước siêu thị. Bà vợ đẩy xe ra cửa, và nạt ông chồng: “Còn ngồi đó nữa sao? Không phụ tôi đẩy xe ư? Đàn ông gì mà lười biếng quá”. Ông vội vã đến đẩy xe cho vợ, mới đi được mấy bước thì quỵ xuống. Bà vợ nạt: “Già rồi mà đi đứng còn hấp tấp, không ý tứ gì cả. Sao không đứng dậy, mà còn định nằm vạ đến bao giờ?” Thấy chồng nằm vạ lâu, bà cúi xuống kéo áo ông, thấy hai con ngươi đứng tròng. Bà hốt hoảng la lên. Nhưng không kịp nữa. Ông đã bị đứng tim chết rồi. Chính bà kể lại và khóc lóc.

Báo đăng, có ba ông bác sĩ gây mê, chưa đến 50 tuồi, đều chết vì bịnh tim. Cả ba ông đều không có triệu chứng gì về đau tim. Một ông vừa lái xe về nhà. Bà vợ ở phòng trên nghe tiếng ga-ra mở cửa. Chờ mãi không thấy chồng, chạy xuống ga-ra, thì thấy ông gục đầu trên tay lái mà chết. Ông đã bị đứng tim. Một ông khác, vừa chuyển thuốc mê vào cho bệnh nhân sắp mổ, thì gục xuống, và đi luôn. Một ông khác, cũng chết đột ngột tương tự. Đau tim mà chết. Không biết nghề bác sĩ gây mê nầy có lo lắng lắm không, mà giết chết nhiều người tuổi còn khá trẻ. Ngày nay, 50 tuổi được xem là còn trẻ, chứ ngày xưa, vua Khải Định đã ăn mừng “tứ tuần thượng thọ” rồi đó (nhưng vừa mừng thượng thọ 40 tuổi xong thì nhà vua ngã bệnh chết ). Thời nầy, 40 tuổi thì xem như còn xuân xanh lắm, nhiều anh chưa chịu lấy vợ, nhiều chị chưa chịu lấy chồng, vì còn trẻ mà, vội chi?

Bạn tôi, đi làm việc về, đút chìa vào ổ khóa cửa mãi mà không được, cứ trật ra ngoài hoài. Rồi bỗng nhiên quỵ xuống trước cửa nhà. Trong phút nguy cấp đó, anh biết không phải bị “trúng gió”, vội vã mò điện thoại cầm tay, kêu số cấp cứu 911. Anh được chở kịp vào bệnh viện, và đêm đó, bác sĩ đè ra mổ tim ngay. Cứu anh sống. Nhưng không làm việc được, tay yếu không lái xe, trí óc không còn sáng suốt. Vẫn sống bình thường. Hai năm sau, trong khi đang tắm, qụy xuống, và chết vì tim. Có người phỏng đoán, anh chết vì tắm nước quá mát. Máu dồn ra ngoài da để bảo vệ thân thể, tim không còn máu, nên “đi” luôn.

Ông bạn ngồi cạnh tôi, người Mỹ, tuổi chưa được 50, dáng người gầy, thon thả, mỗi chiều sau khi tan sở, chạy bộ ven bờ sông. Một hôm nọ, vợ ông không thấy ông không về, điện thoại hỏi thăm khắp nơi. Hôm sau điện thoại vào sở xem ông có đi làm không. Đi tìm mãi, cảnh sát báo cho bà biết, tìm ra xác ông bên bờ sông. Ông chết vì bị đứng tim.

Một ông bác sĩ mổ tim, tập thể dục mỗi ngày. Cũng không có triệu chứng gì trước về căn bệnh tim. Hôm đó ra sân quần vợt. Vừa đưa vợt lên, thì té qụy xuống, và chết luôn. Không cứu kịp. Một ông khác, trưa nào cũng lái xe đến sở của cô con gái, để cha con cùng đi ăn, và chuyện trò cho vui. Một hôm, trên đường đi, ông thấy đau trong ngực, và biết cần cấp cứu ngay. Ông rán hết sức, lái xe đến thẳng phòng cấp cứu của bệnh viện và khai là đau tim. Nhân viên bệnh viện thấy ông còn lái xe được, và để ông chờ. Chờ lâu quá, ông chết ngay trong phòng làm hồ sơ tiếp nhận cấp cứu. Đáng ra, ông phải dừng lại, và kêu xe cấp cứu ngay. Bởi lái xe, nguy hiểm cho người khác nếu ngất xỉu trên tay lái. Hơn nữa, nếu đi xe cấp cứu, bệnh viện sẽ cứu ông ngay khi mới vào. Nhiều người rất sợ vào nằm chờ trong phòng cấp cứu của bệnh viện. Vì trên đường thì xe hú còi ầm ỹ, gấp gáp lắm, nhưng khi đến bệnh viện, thì để cho người bệnh nằm chờ dài cổ ra, chờ cho chán chê, mà chẳng ai dòm ngó đến. Rồi chán nản quá, họ đứng dậy, ra về mà không cần báo cho bệnh viện biết.

Bạn tôi, buổi tối ngồi xem truyền hình với đứa con trai. Khi hết phim, cháu đến thức bố dậy đi ngủ: “Bố ơi, hết phim rồi, vào đi ngủ.” Lay hoài không thấy bố dậy. Cháu bé khóc: “Bố đừng làm con sợ.” Và bạn tôi đã chết tự bao giờ mà không biết. Chỉ có hai bố con sống với nhau. Tội nghiệp thằng bé, không biết phải làm gì trong tình thế đó.

Nhiều trường hợp khác nữa, thấy tận mắt, nghe tận tai, nhiều quá không kể hết được. Thế mà, tôi cũng như mọi người khác, cứ tưởng bệnh tim là bệnh của ai, chứ không phải của mình. Y hệt chuyện chết chóc, ai đó chết, chứ mình thì không, như sống mãi muôn đời.

Nhiều năm trước, khi đi ra ngoài trời lạnh, tôi cảm thấy nhói nhói trong tim. (nói theo bạn tôi, là cảm thấy đau nhè nhẹ như khi bị phụ tình). Tôi cũng không cần báo cho bác sĩ biết. Một hôm đi khám bệnh, trong lúc nói chuyện đùa cho vui, tôi tiết lộ cái “nhói nhói như bị phụ tình” đó. Ông bác sĩ nầy tử tế, đưa tôi đi đo tâm động đồ. Không biết sao hôm đó, tâm động đồ của tôi bất thường, lặng đi hai nhịp. Nhiều người cho biết, bình thường thì cảm thấy tim đau, nhưng khi đo nhịp tim, thì tim đập bình thường, nên không có dấu hiệu nào cả, bác sĩ cho là tim đập bình thường. Sau đó, tôi được đưa đi thử nghiệm nhiều cách khác nữa. Làm luôn cả thử nghiệm “phóng xạ” (nuclear scanning), bơm chất cản quang vào máu, và soi xem các cơ tim hoạt động ra sao. Tôi được nằm và chuồi vào một cái máy, như sắp phóng tôi vào trong không gian, ở các phim giả tưởng. Sau đó, được xét nghiệm bằng siêu âm xem các van tim hoạt động có bình thường không. Bác sĩ gia đình nói cho tôi biết, có một mạch máu rất nhỏ dưới đáy nhọn của tim bị nghẹt nhẹ. Về sau, tôi nói điều nầy với ông bác sĩ chuyên môn bệnh tim, ông cười và mĩa mai tôi. Vì các thử nghiệm đó, không thể kết luận nghẹt mạch máu tim. Chỉ khi nào làm thử nghiệm soi mạch máu (angiography) mời biết rõ có nghẹt hay không.

Bác sĩ gia đình cho tôi uống thuốc trừ mỡ trong máu (cholesterol), uống mỗi ngày, uống đều đều. Một hôm tôi đọc được tài liệu cho biết, uống thuốc trị mỡ lâu ngày, có thể đưa đến bệnh gan trầm trọng. Bạn tôi cũng dọa tôi về bệnh gan, đưa cho tôi nhiều thống kê đáng sợ về những người bị hư gan vì uống thuốc đau tim. Có lẽ tôi thiên vị, thương lá gan hơn thương trái tim, cho nên tôi ngưng uống thuốc trừ mỡ. Sau đó, tôi thường nghĩ, đâu cần uống thuốc trừ mỡ, không uống, tôi vẫn sống nhăn răng ra đây, có can gì đâu.

Cho đến một hôm, tôi thấy cánh tay trái mỏi trong bắp thịt, hơi tê tê, nhói nhói. Tôi tưởng vì cắt tỉa mấy cây hường mà ra. Nếu đau tay vì tỉa hoa, thì phải đau tay mặt mới đúng, nhưng tôi cố giải thích sao cho tự yên tâm mình. Nghĩ rằng, rồi bắp thịt sẽ hết đau. Nhưng sau đó, nhiều hôm đang tập thể dục nữa chừng, thì mệt dữ dội, phải ngưng tập năm bảy phút mới tập lại được. Sau đó, mỗi lần xách cái gì nặng, cũng mau mệt khủng khiếp. Những lúc đi ra ngoài trời lạnh, thì mệt ngất, đi không được, phải quay về. Thêm vào các triệu chứng đó, là thỉnh thoảng nghe nhói trong tim, ở ngực, nhưng không xác định được chắc chắn đau chỗ nào. Có đêm đang ngủ, nghe nhói tim thức giấc dậy. Những lúc nầy, là tim đau, nếu được “thăng” ngay, thì khỏe khoắn và nhẹ nhàng lắm. Không đau đớn chi nhiều cả.

Với những lời khai bệnh như trên, ông bác sĩ gia đình vẫn cười, cho rằng chưa đáng chuyển qua bác sĩ chuyên môn, và chỉ cho uống thuốc. Dù ông nầy rất tử tế, rất tốt. Khi tôi khai có ngày bị đau nhói trong ngực và mệt đến hai ba lần, ông mới chuyển qua bác sĩ chuyên môn về tim. Qua lời khai, ông bác sĩ nầy biết ngay là tôi bị nghẽn mạch máu tim. Ông giải thích, và cho tôi biết có 3 cách chữa trị. Thứ nhất là uống thuốc để cầm cự. Thuốc không chữa được bệnh, mà chỉ làm mạch máu giãn to ra, cho máu dễ lưu thông hơn, khi nào không uống thuốc, thì mạch máu không gĩan, và lúc đó có cơ nguy. Cách thứ hai là đút vào chỗ nghẽn một cái ống kim loại như cái lò xò lưới, rồi cho ống phình ra, ép chất mỡ vào thành mạch máu, để máu có thể lưu thông qua “ống cống” đó. Cách thứ ba, là lấy ống tĩnh mạch ở chân, rồi nối bắc cầu băng qua chổ nghẽn, cho máu lưu thông theo đường mới. Cả ba cách, chất mỡ vẫn còn nằm đó, nguồn bệnh vẫn còn đó, nhưng máu huyết được lưu thông, thì bớt đau, hoặc bớt nguy hiểm cho tính mạng. Ông hẹn ngày, và nói sẽ đút cái “ống cống” vào mạch máu cho tôi, dễ lắm, chưa đầy nữa tiếng thì xong. Chỉ nằm bệnh viện một hôm rồi về nhà. Tôi yên chí lớn. Sá gì một hai cái ống kim loại nằm trong thân thể.

Đúng ngày hẹn, ông bác sĩ cho đè tôi ra, cắt mạch máu ở háng, đút cái ống thông lên tận tim. Thật lạ, tôi không thấy đau đớn chi cả. Chỉ khi ông bơm thuốc nhuộm vào mạch máu qua cái ống, thì cảm thấy nóng nóng, ấm ấm. Tôi nhìn vào màn truyền hình, thấy màu đen tỏa ra nhiều nhánh như hệ thống thượng nguồn của sông rạch. Ông bác sĩ chỉ cho tôi chỗ mạch máu bị nghẹt. Ông nói, mạch nầy đã nghẹt 100% nếu không thì sẽ thấy máu đi vòng qua bên kia. Ông cho biết hai mạch bị nghẹt nặng, một mạch khác bị nghẹt 60%. Không thể đặt “ống cống” thông (sten) được. Ông cắt cử bác sĩ giải phẩu cho tôi, và định luôn ngày mổ banh ngực. Tôi cũng hơi ngạc nhiên, và không ngờ tình trạng trái tim của mình tệ đến thế. Rồi tôi làm đủ các thủ tục. Được dặn dò điều gì phài làm trước ngày lên bàn mỗ. Cho tài liệu đọc, để biết sơ sơ về mổ cái gì, mổ ra làm sao, và làm cái gì trong lúc mổ.

Để biết lý lịch và kinh nghiệm của ông bác sĩ sắp giải phẩu cho tôi, tôi mở internet ra, vào Google, rồi đánh máy tên ông bác sĩ vào. Mở cái web có tên ông ấy ra, tôi sẽ biết rõ năm sinh, học trung học ở đâu, đại học ở đâu, tốt nghiệp năm nào, làm ở nhà thương nào bao nhiêu năm, làm gì, được huy chương, tưởng thưởng nào. Tôi không ngờ, ông bác sĩ sẽ mổ cho tôi, là trưởng khoa tim ở bệnh viện tôi sắp nằm, và ông nầy có rất nhiều kinh nghiệm trong việc mổ tim.

Tôi về nhà, lục internet xem về mổ tim. Qua mạng lưới Google, tôi tìm mục mổ tim (open heart surgery), tìm ra được rất nhiều bài viết, phim chiếu rất rõ ràng, hay. Có nhiều mục chiếu video cuộc mổ tim. Chiếu từ khi rạch ngực, cưa đôi cái xương sụn nối với các xương lồng ngực, banh lồng ngực ra, và khâu vá, mổ, đóng lại. Xem thì hơi ớn, vì thấy ghê quá, banh toác bộ xương sườn ra, mà mằn mò, khâu vá như một ông thợ may vụng về tập may, trong khi trái tim vẫn đập thoi thóp co bóp. Nếu không “cóc cần” mọi sự, thì e cũng lo lắm. Ai sắp mổ ngực, nếu sợ chết, thì đừng xem các video nầy mà sợ. Không thấy, không biết, thì yên tâm hơn. Đỡ sợ.

Trước khi mổ tim mấy ngày, bệnh viện dặn dò tôi làm phải giữ gìn sức khỏe kỹ lưỡng, đừng để bị ho hen, cảm cúm, Vì nếu bị bệnh khác, thì cuộc mổ sẽ hoãn lại, hoặc bị nhiểm trùng trong khi nổ, rất khó bình phục và nguy hiểm. Họ phát cho tôi khá nhiều tài liệu để đọc, nhiều giấy tờ dặn dò làm việc gì trước, việc gì sau, phải ghi xuống giấy để nhớ theo thứ tự. Cái bàn của tôi, vung vải giấy tờ lộn xộn. Biết là có thể “đi đong” cái mạng già trong cuộc giải phẩu, tôi làm một bảng liệt kê nhắc nhở và dặn dò bà xã phài làm gì, làm gì, nếu tôi không còn nữa. Điều cần nhất là đừng có khóc lóc, buồn bả, vì chết cũng là một tiến trình của đời sống. Đừng có làm đám tang um sùm, đừng tụng kinh gõ mõ cầu siêu, cũng đừng cáo phó, đừng vòng hoa, đừng hòm tốt. Giản dị đem thiêu, rồi lấy tro. Sau đó, làm gì với mớ tro đó cũng được.

Trước khi mổ mấy hôm, tôi giữ gìn vệ sinh kỹ lắm. Mặc thật ấm áp, ăn uống điều độ, ăn chất hiền lành, ngủ nghê đầy đủ. Ít dám đi ra ngoài, tránh đám đông. Thế mà trước khi mổ hai hôm, gia đình đứa cháu kêu điện thoại, nói là còn chừng bốn mươi lăm phút nữa thì sẽ ghé thăm. Họ đi xa bốn trăm dặm để thăm tôi, lẽ nào từ chối được. Họ nói là nghe cậu sắp đi mổ, đến thăm và chúc may mắn. Tôi và vợ vôi vã dọn dẹp lại căn phòng khách bừa bãi, lộn xộn, quét nhà, lau chùi, đang bệnh mệt, lại mệt thêm, giữa mùa đông mà mồ hôi vã ra. Mấy lần vợ chồng mệt quá, gắt nhau. Cả gia đình đưá cháu gồm năm người, vừa ho hen, vừa hít mũi sụt sịt. Họ ngồi trong phòng khách mà nhảy mũi lia lịa, làm bà xã tôi sợ hải, tái mặt. Tôi cũng ngại mình bị nhiễm bệnh, chỉ cười mà không dám nói ra. Họ ngồi chơi chừng một tiếng đồng hồ. Tôi cũng mệt lắm, nhưng không dám đi nằm. Sau khi gia đình đứa cháu đi rồi, chúng tôi vội vàng bày lại giấy tờ cần thiết ra bàn lại, và nhất định không bốc điện thoại. Ai kêu cũng không bắt. Bệnh viện có gì khẩn cấp thì nhắn lại trong máy. Bây giờ, tôi mới có cái kinh nghiệm là đừng đi thăm ai trước khi họ sắp lên bàn mổ, và đừng thăm họ sau khi họ mổ xong về nhà. Vì thời gian nầy, sức khoẻ của họ rất mong manh, rất dễ bị nhiễm trùng từ người khác. Vã lại, họ đang mệt, đừng làm họ mệt thêm, mình thì vì thương mến họ, đến thăm viếng, nâng đỡ tinh thần, và nếu không thăm, thì sợ bị trách là vô tình. Nhưng nếu chờ họ bình phục rồi đến thăm thì tốt hơn, vui hơn.

Bệnh viện hẹn tôi 5 gờ sáng. Tôi phải dậy lúc 3 sáng giờ sửa soạn, 4 giờ thì anh bạn hàng xóm lái xe đưa tôi đi. Đến nơi, bệnh viện còn đóng cửa. May nhà tôi không xa bệnh viện, có nhiều bệnh nhân phải ngủ tại khách sạn đêm trước đó, để kịp giờ hẹn.

Những y tá, nhân viên làm thủ tục giấy tờ trước khi lên bàn mổ rất dịu dàng, vồn vã, tử tế. Cũng làm cho tôi cảm thấy vui trước khi lên bàn mỗ. Nhắc tôi rằng, đời còn có nhiều người dễ thương lắm. Một ông y-tá già, cầm cái dao cạo điện, hỏi han tôi ngọt ngào, và ông bắt đầu cạo lông lá cho tôi, cạo từ dưới háng cạo lên bụng, ngực. Trơn tru, sạch sẽ. Ông vừa cạo vừa mĩm cười. Sau đó, tôi được đẩy vào phòng mỗ. Trên đường vào phòng mỗ, tôi nghĩ rằng, mình đã về hưu được đúng hai năm, đã được nghỉ ngơi, thong dong, đi chơi, vui thú, làm biếng, không lo lắng, không bận rộn, nhàn nhã, thảnh thơi. Thế thì hôm nay, nếu cuộc giải phẩu thất bại, cái thân nầy được chở xuống nhà xác, thì cũng khỏe, không có gì để tiếc nuối cả. Nghĩ thế, tôi sướng quá, và cười thành tiếng. Ông y-tá đẩy xe ngạc nhiên, chắc chưa thấy một “thằng điên” nào vui vẻ cười tươi như vậy trước khi được mổ tim, nguy hiểm đến tính mạng. Ông hỏi tôi cười cái gì, giờ nầy mà còn cười được, không lo lắng hay sao. Tôi cho ông biết lý do tại sao tôi cười sung sướng, ông vỗ vào chân cái bộp, và khen tôi chí lý. Thực tâm mà nói, thì sống chết đối với tôi, cũng không quan trọng lắm. Không chết trẻ, thì chết gìa. Không chết bây giờ, thì sau nầy cũng chết. Con người phải già, phải chết, để cho các thế hệ trẻ lớn lên thay thế, thế giới sung sức hơn. Cứ thử giả dụ như, con người không chết, thì bây giờ, cả thế giới đầy cả người già lụ khụ, già chiếm chín phần, trẻ chỉ một phần. Thế giới nây toàn ông bà già mấy trăm tuổi, chống gậy lê từng bước, xe lăn đầy phố phường, đường xá. Thế thì lấy ai mà sản xuất, nuôi nấng nhân loại.

Bởi vậy, tôi bình tỉnh, và nghĩ rằng được sống cũng vui, mà được chết, cũng vui không kém.

Vào phòng mỗ, từng y tá tự đến giới thiệu tên tuổi, và cho tôi biết phần hành của họ. Tôi cũng vui vẻ chào, nói vài lời xả giao bình thường. Khi bác sĩ gây mê đến, xưng danh, và nói cho tôi biết, ông sẽ chuyền thuốc mê cho tôi. Tôi chỉ kịp chào xã giao, và sau đó, mê man ngay, không còn biết trời trăng chi nữa cả. Giá như, có chết khi đó, thì cũng được nhẹ nhàng, êm thấm, mau và tiện lắm.

Tôi hoàn toàn không biết việc gì đã xẫy ra. Chừng mười giờ sau, tôi mơ màng tỉnh dậy trong phòng “hồi sinh”. Nghe tiếng bà y tá kêu lớn, và vặn nhạc lớn, kêu tôi mở mắt ra, đừng nhắm mắt lại. Tôi cố gắng hết sức, mà hai mí mắt cứ kéo trì xuống, cứ he hé chút xíu, lại bị nhắm lại. Tôi cũng nhớ là mình đang qua cuộc giải phẩu tim. Nghe tiếng bà xã tôi phụ kêu với bà y tá, tôi cố gắng mĩm cười cho vợ yên lòng. Nhưng không biết miệng có cười được hay không. Khi tôi mở mắt đưọc, tôi thấy bà y tá, bà chị tôi và bà xã đang đứng bên giường lo lắng. Tôi đếm được hai mươi mấy cái ống nối vào ngực, vào họng, vào tay, vào mũi, và có tiếng xì xèo của cái máy bơm nào đó, mà tôi tưởng đâu bên cạnh giường có cái hồ nuôi cá, máy bơm nước đang chạy. Tôi thầm nghĩ, thế là cũng chưa “đi đong” cái mạng già được. Thuốc mê làm tôi hơi buồn nôn và chóng mặt.

Suốt đêm hôm đó, một bà y tá da den, mập ú, thức và chăm sóc tôi. Chừng mươi phút, mười lăm phút, bà vào châm thêm thuốc vào bình dang treo, châm thêm máu, xem lại biểu đồ nhịp tim, ghi chú vào sổ. Công việc liên miên, không biết thủ tục bắt buộc, hay bà là người có lương tâm, nên làm việc hết lòng. Rồi rút máu tôi, tiêm thêm thuốc, nhiều lần kê lại gối nằm sau lưng tôi, hỏi han tôi rất tử tế, dịu dàng. Cổ tôi khô như đốt. Bà cho tôi cục nước đá nhỏ như viên kim cương, ngậm trong miệng cho đỡ khát. Khi đó, đúng là quý viên kim cưong ngậm trong miệng. Không được uống nước. Tôi khôi hài, tự ví bà y tá là Đức Bà Quan Âm đang ban giọt cam lồ (cục nước đá) cho người khổ nạn. Suốt một đêm, bà không ngủ, loay hoay quanh giường tôi. Tôi thật tình cảm động. Có những người vì nghề nghiệp, chỉ làm cho xong bổn phận, làm vừa phài thôi. Bà y tá nầy, làm với cả tấm lòng, tưởng như tôi là thân nhân ruột thịt trong gia đình.

Vừa mổ xong chiều hôm qua, mà sáng nay, lúc 5 giờ sáng, y tá đã bắt tôi ngồi dậy trên ghế, dây nhợ lòng thòng hơn hai chục sợi dính từ mũi, miệng, ngực, bụng, chim. Tôi không thể tưởng tượng được, có là muốn hành hạ bệnh nhân chắc. Mệt và chóng mặt lắm. Bà y tá bảo tôi phải ngồi như vậy trong một giờ đống hố. Ngồi được chừng 25 phút, hết sức chịu đựng, tôi xin bà cho mằm, vì mệt quá.

Nằm phòng hồi sinh được hai đêm, sáng hôm sau họ đẩy tôi xuống phòng bệnh thường, và bắt tôi tập đi bộ mỗi ngày và tắm. Khiếp, vết thương dài hơn hai tấc, còn rỉ máu còn tươi , và nhiều cái lỗ trên ngực, có ống lớn bằng ngón tay nối từ trong tim, trong phổi lòng thòng ra ngoài, dính với cái máy, cái bình. Thế mà bắt tôi tắm vòi sen, tắm xong y tá dùng khăn chậm khô ngực, không dám lau.

Trước khi đi mổ, bà xã tôi ép ăn, để có đủ sức khỏe mà qua cuộc giải phẩu. Tôi ăn cho vợ vui. Nhưng sau khi mổ xong, bị bón. Cái ruột già căng cứng như muốn nổ ra. Ba bốn ngày không đi tiêu được. Không được rặn, vì sợ các mối chỉ may tại nơi mổ bung ra. Hai y tá cho tôi uống nước trái mân đen, cũng không hiệu quả. Tôi phải dùng đến thủ thuật đề cho phân ra, mà cũng vô hiệu. Cái bụng cứng ngắt, rất đau đớn, khó chịu. Y tá cũng không giúp tôi được gì. Đêm nằm trên giường, tôi nghĩ thầm, chắc mình không chết vì bệnh tim, mà chết vỉ vỡ ruột già. Cứ lăn lộn mãi, có khi thiếp đi chừng năm phút. Tôi gần như mê sảng. Trong thời gian đau ốm, bịnh hoạn, khi nào tôi cũng giữ được tinh thần khôi hài, ngạo nghễ, xem thường, thế mà hôm nầy, tinh thần tôi xuống lắm. Khi nữa đêm, tôi hé mắt ra, trong bóng mờ, thấy một bà y tá da đen. Lúc nầy là đổi phiên trực gác của các y tá chăm sóc con bệnh. Ngọn đèn phiá sau người y tá làm thành một vòng hào quang trên đầu bà. Tôi vốn không tin theo một tôn giáo nào, và cũng chẳng tin vào thần thánh, nhưng buột miệng thều thào hỏi: “Có phải bà là thiên thần mà Thượng Đế gởi xuống để giúp tôi không?” Bà cười, nhẹ nhàng đặt tay lên trán tôi, và hỏi, bà có thể làm gì để giúp tôi không. Tôi nói với bà, là tôi có cảm tưởng cái ruột già của tôi sắp nổ tung vì bón mấy hôm nay. Bà mau mắn cho tôi thuốc nhét hậu môn. Không kết quả. Bà bảo tôi nằm nghiêng, co chân, và trải nhiếu khăn ra giường, quấn nhiều khăn làm vòng đai bao quanh vùng khăn trải. Rồi bà đưa ngón tay vào hậu môn, mà móc phân ra từ từ, từng chút một. Cẩn thận, nhẹ nhàng. Khi phần cứng của phân moi ra hết, thì phần bên trong chạy phọt ra. Tôi thấy người nhẹ như đang bay bổng lên không trung. Như trên vai mọc cánh, đang bay lượn giữa trời. Khỏe hẵn. Bà y tá dọn giường, và cho tôi viên thuốc ngủ. Tôi cám ơn bà. Nụ cười trên môi bà hiền từ làm tôi liên tưởng đến những bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi nắm lấy tay bà mà cám ơn. Dù đã được uống viên thuốc ngủ, nhưng khi bà đi rồi, tôi vẫn cảm động thao thức mãi. Nằm không yên, tôi lấy giấy bút, trong cơn xúc động vì lòng tử tế, vì tình người lai láng, tôi viết một bài thơ, nhan đề là “Belinda”, tên của bà y tá. Có lẽ cũng là loại thơ con cóc. E rằng, lời lẽ cũng ngô nghê như một ông ngoại quốc làm thơ bằng tiếng Việt. Viết xong bài thơ, tôi yên tâm ngủ một giấc dến sáng. Đêm hôm sau, tôi đưa cho bà. Đọc xong, bà cảm động, ôm tôi mà khóc. Bà nói riêng cho tôi biết, bà là nữ Mục Sư đang điều hành một nhà thờ tin lành trong thành phố nầy. Đúng là bà có trái tim của một nữ Thánh. Có lẽ, trước khi đi mổ lớn, chỉ nên ăn thức ăn lỏng, đừng ăn chất đặc, chất xơ, vì thế nào cũng bị bón.

Ông bác sĩ giải phẩu cho tôi cũng rất tử tế. Nhiều hôm sau ca mổ, đã 9 giờ đêm, ông còn ghé thăm tôi, hỏi han kỹ lưỡng, dịu dàng. Cái lưng ông còng xuống, có lẽ do cứ cúi xuống lâu trên bàn mổ mải thành còng lưng. Tôi nghĩ, đa số những người làm việc trong bệnh viện nầy, ngoài mục đích mưu sinh, còn cả một say mê nghề nghiệp, và cả tấm lòng nhân từ.

Sau khi mổ, vết cắt lớn, mà tôi không thấy đau đớn, nhức nhối gì cả. Hồi phục rất mau, vết thương kéo da cũng nhanh, làm các y tá và bác sĩ ngạc nhiên. Cũng nhờ một ông bà con có kinh nghiệm dặn, khi nào cảm thấy đau nhức sơ sơ, thì xin thuốc giảm đau ngay, đừng để cho đau quá, vì phải có thời gian, thuốc mới hiệu nghiệm. Trong thời gian dưỡng bệnh, tôi ráo riết ôn lại tiếng Pháp để chuẩn bị đi chơi Âu Châu, nên cũng không có thì giờ nghĩ đến bệnh, đến đau đớn.

Dẫm lên chân bác sĩ, tôi viết sơ về các bệnh dau tim, như múa một đường quyền hoang dại. Sách viết rằng, bệnh liên quan đến tim, rất nhiều khi là “những bước chân âm thầm”, không báo trước. Bệnh tim có nhiều loại khác nhau. Thông thường nhất là suy tim, nghĩa là tim không chuyển vận máu đủ cho nhu cầu. Cứ 100 ngưòi Mỹ, thì có 1 người bị bệnh nầy. Nước Mỹ có hơn 2 triệu người suy tim. Tốn phí bệnh viện rất lớn. Trong một năm, những người bị suy tim chết đến 15%, Kế dến dau tim bẩm sinh, sinh ra đã bị đau tim rồi, vì cấu tạo tim mạch không được bỉnh thường. Cứ 1000 em bé sinh ra, có đến 6 đến 8 em bị đau tim bẩm sinh. Bệnh nầy chữa được, bác sĩ sẽ mổ và điều chỉnh lại. Sau nữa là nghẽn mạch máu tim và động tim. Một năm có hơn 1.5 triệu người Mỹ bị bệnh nầy. Sẽ có hơn 500 ngàn ngưòi chết, và khoảng 300 ngàn người đưọc mổ tim. Kế đến là bệnh tim đập sai nhịp và bất tỉnh. Sau đến là van tim bị hư hỏng, rồi đến bệnh mạch máu bị thương tật, bị phình, teo. Cuối cùng là màng bao tim bị bệnh. Ai muốn biết rõ hơn, xin vào thư viện mượn cuốn “Mayo Clinic Heart Book” mà đọc, rất hay, viết cho người thường đọc.

Kinh nghiệm của những người đau tim cho biết, khi có ít hay nhiều triệu chứng sau đây, thì đừng nên coi thường: đau ngực, thở gấp, hay mệt, sưng, bất tỉnh, nhức đầu lâm râm, nhịp đập tim bất thường, tê tay hay chân, màu da không bình thường, té xỉu, thay dổi bất chợt về thị giác, nói năng, và cảm xúc.

Khi nào thì nên đi bác sĩ? Khi triệu chứng đau tim mới có, triệu chứng càng lúc càng nặng, triệu chứng trở nên trầm trọng, triệu chứng làm thành lo lắng, triệu chứng tái diễn.

Những người yêu nhiều thì thường bị nhói tim, không biết có chuyển qua bệnh đau tim không. Nhưng những người ăn nhiều chất béo bổ, chắc chắn sẽ đau tim, cho nên có rất nhiều người sợ các chất béo, ngọt, mặn, như sợ thuốc độc. Lo lắng, bị áp lực, muộn phiền nhiều cũng sinh ra đau tim.

Bởi vậy, có ông Mỹ đau tim nằm chung bệnh viện với tôi, nói đùa rằng: “Bà nào muốn làm goá phụ sớm, thì cứ cằn nhằn ông chồng cho nhiều vào, rồi thế nào cũng được mãn nguyện sớm.” Mấy bà nghe, háy nguýt ông sắc như dao chém./.

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Đổ xô ăn côn trùng để "tăng cường bản lĩnh đàn ông"
Ve sữa non, mối chúa, bổ củi… đã và đang trở thành món ăn thời thượng của nhiều người dân địa phương và du khách khi đến vùng Bảy Núi - An Giang với niềm tin sẽ “tăng cường bản lĩnh đàn ông”.

Từ lâu, khu vực bán côn trùng ở chợ biên giới Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên - An Giang đã trở thành địa chỉ quen thuộc của nhiều người dân địa phương và du khách vì được xem là nơi cung cấp “sung dược” giúp tăng “bản lĩnh” của cánh đàn ông. Để đáp ứng nhu cầu của quý ông và không ít quý bà, nhiều loài như ve sầu, bổ củi, mối chúa… ở vùng Bảy Núi đã và đang bị săn lùng theo kiểu tận diệt.

Ve sữa non cực thịnh

Những cơn mưa đầu mùa trút xuống vùng Bảy Núi đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài côn trùng sinh sôi, phát triển. Không biết nghe ngóng ở đâu, vài người bạn của tôi ở TPHCM đã tìm xuống An Giang và nằng nặc đòi tôi dẫn đến các đại lý côn trùng ở chợ biên giới Tịnh Biên.

Image
Ve sữa non được xem là loài giúp “tăng cường sức mạnh đàn ông”


“Nghe nói ở đó có nhiều hàng “độc”, công dụng hết sức tuyệt vời”- một người bạn tôi háo hức. Tôi vốn ngán những loài côn trùng kia nhưng vì chìu ý bạn nên đành dẫn họ đi.

Tôi gọi điện thoại báo trước cho một người quen là anh N.C.L, chủ một “đại lý” côn trùng thuộc loại lớn ở khu chợ biên giới Tịnh Biên. L. đón chúng tôi ở thị trấn Nhà Bàn, huyện Tịnh Biên.

Trên đoạn đường gần chục cây số từ Nhà Bàn ra chợ biên giới, tiếng ve sầu kêu vang dội. L. bảo mùa mưa đến, loài ve sầu bắt đầu lột xác réo gọi mùa hè đến. Khi còn nhỏ, ve chưa mọc cánh, mình tròn múp, căng đầy sữa và ẩn náu trong hang dưới lòng đất.

“Ve sữa non là đặc sảnđang cực thịnh ở vùng Bảy Núi đó. Con nào con nấy tròn bóng, bụng đầy sữa non, mềm và ngọt, làm món chiên giòn hay chiên bột đều hết ý, “uy lực” tăng gấp đôi, gấp ba lần bình thường” - L. “ru” khách.

Chiếc ô tô vừa đỗ trước căn nhà tường ở khúc cua 15 thuộc thị trấn Tịnh Biên, anh L. đã hối thúc người trong nhà chuẩn bị đồ nghề đi lùng ve sữa. Từ trong nhà, một thanh niên tên Duy xách vội cây cuốc và chiếc thùng đựng nước đá ra khu vườn phía sau nhà.

Vừa bước vào khu vườn, chúng tôi đã nghe tiếng ve kêu inh ỏi. Duy không đến nơi có tiếng ve kêu mà tìm những gốc cây xoài, mít có bóng râm mát mẻ. “Nơi đất tơi xốp, mềm thì ve mới đào hang ẩn náu”- Duy giải thích.

Duy dùng cuốc dọn đám lá khô quanh gốc cây xoài, để lộ ra những cái hang tròn cỡ ngón tay cái rồi bổ mạnh vài nhát, bứng đất lên. Lẫn trong lớp đất xốp mềm ấy là vài chú ve mập ú, tròn múp. L. thành thục tóm lấy những chú ve non bỏ vào thùng nước đá để ướp lạnh.

“Con ve này ở hang cạn là loại sắp trưởng thành nên mập hơn những con ở hang sâu. Sau khi được nở từ ấu trùng, ve sữa sẽ đào hang ở trong lòng đất độ một tuần rồi dần dần trồi lên mặt đất. Bởi vậy, muốn tìm ve sữa thì phải xới tung lòng đất lên mới bắt được”- Duy giải thích.

Nhìn mặt đất chi chít những hang ve, L. bảo phen này trúng đậm. Anh liên tục nhặt ve sữa cho vào thùng nước đá. Dường như đã quá quen thuộc với việc này, cứ 3 nhát cuốc là Duy lại lôi lên một chú ve non tròn múp. Hơn một giờ sau, chiếc thùng đựng nước đá nặng trịch, bên trong có cả trăm con ve sữa.

“Bây nhiêu đây dư sức chiên giòn, chiên bột lai rai bứt cả thùng Heiniken. Nếu chịu khó đào xới xung quanh những gốc cây mát mẻ, có đất xốp mềm thì còn bắt được nhiều hơn nữa. Dạo này mới vào mùa nên quán sá đặt hàng ve sữa dữ lắm, có bao nhiêu họ mua hết ráo. Rồi mấy cậu xem, chén xong sẽ thấy trong người “phơi phới” ngay cho coi”- L. hào hứng.

Mối chúa: “Đệ nhất sung dược”!

Trong lúc nhóm bạn tôi đang thích thú xơi ve sữa non chiên bột, anh L. lôi ra một chiếc hủ đựng những con vật trông như con sâu to bằng ngón tay cái, toàn thân trắng múp. Anh cho biết đó là mối chúa – “đệ nhất sung dược” trong các loài côn trùng ở vùng Bảy Núi.
Image
Mối chúa được nhiều người xem là “đệ nhất sung dược” và săn lùng


“Mối chúa là “thần dược” bổ dưỡng nhất của quý ông đó. Chỉ cần xơi một con mối chúa đã có thể cải thiện “chuyện ấy” ngay tức khắc” – L. quả quyết.

Theo các “đại lý” côn trùng ở chợ biên giới Tịnh Biên, mối chúa loại trung bình (nhỏ hơn ngón tay) dùng ngâm rượu giá 40.000 đồng/con, loại nhỏ hơn từ 15.000 đến 20.000 đồng. Một hủ rượu ngâm 10 con mối chúa ở đây được rao bán với giá 400.000 đồng.

L. cho biết anh chuyên gom hàng từ cánh thợ săn côn trùng khắp vùng Bảy Núi. “Bổ nhất là ăn mối chúa sống, “chuyện ấy” có thể nói là muốn gì được đó” – L. quả quyết.

Tại vùng Bảy Núi, ông Tư Cương ở khu núi Dài Năm Giếng (Ngũ Hồ sơn) là một thợ săn côn trùng chuyên nghiệp với hơn 10 năm trong nghề. Ông Cương biết rõ nơi nào trong ngọn núi này có tổ mối.

“Mối thường làm tổ ở chân và triền núi, ít khi trên đỉnh cao vì xa nguồn nước. Những nơi có mạch nước mát mẻ, đất xốp mềm là sẽ có tổ mối. Mỗi tổ mối có hàng ngàn con nhỏ li ti làm các nhiệm vụ kiếm mồi, xây tổ, chăm sóc, bảo vệ và cung phụng một con mối chúa. “Vua mối” chỉ có mỗi nhiệm vụ là sinh sản để duy trì nòi giống”- ông Cương tỏ ra am hiểu.

Dẫn chúng tôi men theo vạt rừng còn xanh dưới chân núi Dài Năm Giếng, ông Cương chỉ một gò mối to tướng: “Chắc chắn là có mối chúa to tướng trong đó”- ông Cương khẳng định rồi vung len đào thoăn thoắt.

Khi đã chọc thủng được gò mối, ông Cương lôi ra chiếc tổ dành riêng cho mối chúa rồi dùng leng chẻ đôi khối đất. Bên trong, một con mối chúa to bằng ngón tay cái đang ngọ nguậy.

Chuyến đi săn mối chúa của ông Cương còn có 3 người khách lạ. Ông Cương cho biết họ đặt hàng ông lùng mối chúa để “ăn tươi, nuốt sống” vì muốn tẩm bổ, cường dương.

Từ khi xuất phát, 3 vị khách lạ đều không nói một lời, chỉ đến khi nhìn con mối chúa to tướng thì họ mới reo lên khoái trá. Ông Sơn, trạc 40 tuổi, một trong 3 người khách, thản nhiên há miệng bỏ mối chúa vào và “ực” một cái đã nuốt gọn nó vào bụng.

Dừng một lát dường như để cảm nhận tác dụng của “sung dược”, ông Sơn móc bóp lấy ngay 100.000 đồng đưa cho ông Cương rồi tiếp tục cuộc săn lùng…

Mạnh như… bổ củi!

Thấy xe chúng tôi chạy chầm chậm trước sân chợ biên giới Tịnh Biên, cánh bạn hàng buôn bán côn trùng liền nhao nhao sấn đến chào mời.

Một thanh niên chìa ra chiếc túi lưới đựng cả ngàn con bổ củi đang búng mình tanh tách bên trong, miệng dẻo quẹo: “Thấy sức mạnh của con bổ củi chưa? Loài côn trùng này mạnh ác lắm, là “sung dược” bổ dưỡng, làm tăng uy lực của đàn ông tức thì”.
Image
Bổ củi


Thấy chúng tôi chần chừ, anh ta tiếp tục “nổ” bằng một câu chuyện khẳng định công dụng của loài côn trùng này.

“Có bà khách sồn sồn ở Long Xuyên ghé chợ tìm loại rượu nào có tác dụng cường dương, hồi phục sinh lực để về tẩm bổ cho chồng. Lần đó gặp tôi, tôi đưa bình rượu thuốc ngâm 50 con bổ củi, bà ta còn mua thêm 50 con rang sẵn về ngâm chung. Mấy tháng sau ghé lại chợ, bà ấy đã gom toàn bộ số bổ củi của những người bán ở đây về để chia cho phụ nữ cả xóm. Bà ta khoe đám phụ nữ gần nhà khi nghe bà tiết lộ đã nhao nhao nhờ mua giúp bổ củi về ngâm rượu để dành cho chồng dùng”.

Thần dược “Dâm Dương Quá”!

Không chỉ bán đủ loại côn trùng, khu chợ biên giới Tịnh Biên còn bán cả “thuốc đông y” trôi nổi. Đưa cho chúng tôi một gói lá cây được cột chặt bằng dây màu, không ghi rõ tên thuốc, công dụng hay cách dùng, anh H., một người bán côn trùng, nói đó là “Dâm Dương Quá” dùng để ngâm rượu.

Khi chúng tôi thắc mắc, H. cắt nghĩa: “Đây là loại lá cây ở bên Trung Quốc. Anh có coi phim Tàu không, biết Dương Quá trong Thần điêu đại hiệp không? Hồi xưa, Dương Quá chuyên dùng loại lá cây này để trị thương và bồi bổ sinh lực để gần gũi với Tiểu Long Nữ nên người ta gọi cây này là “Dâm Dương Hóa” đó”!

Tôi đem tên vị thuốc “Dâm Dương Hóa” hỏi những lương y tại các cơ sở mua bán dược liệu ở thị trấn Nhà Bàn, nhiều người liền cười ngất. Thì ra, tên đúng của nó là “Dâm dương hoắc”. Loại thảo mộc này được suy tôn là “Mị dược chi vương” vì giúp tăng mạnh dục năng, kích thích tình dục cao.

Theo các lương y, thành phần chủ yếu trong Dâm dương hoắc là Incaritine, có tác dụng tăng kích thích tố nam, làm tinh dịch tăng về số lượng và nồng độ, dùng sắc uống hoặc ngâm rượu có tác dụng chữa liệt dương.

Song, các lương y khuyến cáo: “Không nên mua hàng trôi nổi được rao bán như rau ở chợ này. Ngay cả tên của thuốc mà người bán còn không biết chính xác thì chắc gì đó đúng là thảo dược? Hơn nữa, bất kỳ loại thuốc nào cũng có hai mặt của nó, dùng sai, không đúng liều lượng thì “thần dược” cũng thành “độc dược”, nguy to đấy!”.

Theo NLĐ

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Huế trăm nhớ ngàn thương
Những ai sinh ra ở Huế, lớn lên ở Huế và trưởng thành ở Huế, thì không thể một sớm một chiều quên Huế được. Tôi là một người như thế. Tôi đã sinh ra tại làng Dương-Xuân-Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên của xứ Huế đầy thơ mộng này.

Song thân tôi gốc Quảng Trị, vào làm việc ở Huế và sanh hạ tôi ra tại vùng Nam Giao, nơi có thông xanh vi vút suốt đêm ngày. Cho nên, thời thơ ấu của tôi cứ quanh quẩn Huế và Quảng Trị. Chính vì vậy dù qua bao nhiêu thời gian sống không biết bao nhiêu mái nhà, đến không biết bao nhiêu thành phố, ngủ không biết bao nhiêu nơi, quốc nội cũng như hải ngoại, thế mà tôi không thể nào quên được nhà hàng Charfanjon, nơi nổi tiếng bán những ổ bánh mì Tây ngon lành, nhà hàng Morin frères, thanh lịch nhất của Huế thuở nào. Trường Chaiglleau (Écoles Primaires), Trường Tiểu Học ngày xưa của thời tuổi trẻ .

Người ta thường bảo, lúc nhỏ ốm đau mà mẹ cho ăn món gì thì lớn lên, món ăn đó không bao giờ quên được. Tôi cũng vậy ngoài những món mẹ tôi cho ăn, bây giờ già rồi tôi không quên đã đành, mà cái vị dòn tan, thơm phưng phức của ổ bánh mì Tây mà tôi mua từ nhà hàng Charfanjon ngày xưa, đến bây giờ ở Los Angeles rồi mà tôi vẫn thèm ăn. Ngay ổ bánh mì Tây của xứ Huế ngày xưa mà tôi quên không được, thì làm sao bảo tôi quên được xứ Huế của bao nhiêu hình ảnh và khí vị thơ mộng?

Huế và Quảng Trị, hai tỉnh khác nhau nhưng thời tiết của hai tỉnh nầy giống nhau như một. Nếu Huế mưa, bạn đi ra Quảng Trị vẫn thấy mưa. Nhưng ngược lại, Huế mưa mà bạn vào Đà Nẵng thì bạn sẽ thấy ngược lại: Đà Nẵng nắng ấm đẹp vô cùng. Đến Huế vào mùa mưa, nhà thơ Nguyễn Bính quên mất hai câu thơ đầy ý nghĩa:

“Mưa chiều nắng sớm người ta bảo
Cả đến ông trời cũng đổi thay...

“Mà lại vẽ ra hai câu thơ khác, nói lên nỗi buồn mênh mông, man mác và xao xuyến của tâm hồn con người xứ Huế.

“Trời mưa xứ Huế sao buồn thế?
Cứ kéo dài ra suốt mấy ngày..."

Nỗi vui bao giờ cũng qua mau, nhưng nỗi buồn của con người chẳng dễ gì qua mau được. Chính vì vậy, những người Huế ở ngoại quốc, mỗi lần nghĩ tới quê cha đất tổ, chốn chôn nhau cắt rún, Huế đúng là trăm nhớ ngàn thương. Nỗi buồn xót xa, lắng đọng và như mãi ray rức trong người?

Sau này, dân Huế tản mác vào Nam, sống nhiều ở Sài Gòn thì thiếu đi cảnh mưa lụt dầm dề suốt ngày đêm của xứ Huế. Miền Nam thường được gọi là xứ mưa nắng hai mùa. Còn Huế của tôi thì có đủ cả bốn mùa. Bắt đầu tháng Giêng âm lịch là mùa Tết Việt Nam, nên ông Trời cũng bớt mưa dầm dề. Mùng một Tết của năm mới trở đi, trời chỉ còn mưa bay bay, lanh lạnh để thiên hạ ngồi ở nhà ăn Tết. Nói “ăn” Tết thật đúng ở đây. Ngoài táo mứt, hạt dưa... gần như nhà nào cũng có bánh tét bánh chưng. Hai thứ bánh này làm bằng nếp, nấu suốt đêm ba mươi để khuya Mùng Một vớt ra cúng ông Bà Tổ Tiên. Sau khi cúng xong rồi, từ Mùng Một đến Mùng Bảy Tết, khách khứa lại nhà, ngoài mứt gừng mứt bí ra, đều được đãi bánh tét hay bánh chưng, ăn với sà lách hay loại cải cay vải vung quanh nhà. Sau này sang Nhựt học, đêm Giao Thừa thấy người Nhựt quây quần trong nhà với cối bánh Mochi, tôi nhớ nhà vô cùng. Từ ngày Tết cho đến hết tháng Hai âm lịch, thời tiết Quảng Trị và Huế sao mà giống nhau như hệt.

Ngoài những cánh mai vàng tươi nở mùa Xuân, ngoài những bông thược dược, hoa hồng, hoa sói, thơm ngát để cho mọi người thưởng thức Xuân ra, cái không khí lành lạnh và mưa bay thực dễ làm đầy tâm hồn con người đến thế. Mùa Xuân thực sự đến với Huế vào tháng Ba âm lịch. Tháng này hình như ông Trời chuyển mình để tiến dần sang mùa Hạ nên chi Trời đã có nắng để mùa Hạ thì nắng hanh vàng cả con mắt. Gió Nam từ dãy Trường Sơn từ xứ Lào thổi xuống, gió thổi qua đâu như lửa thổi đến đó, làm cho khí hậu trở nên oi bức vô cùng. Nóng oi bức nhất là tháng Năm âm lịch Những chiều trời muốn đổ mưa dông nhưng mưa không được, nên cái tức tối của khí trời làm cho con người như bị nung đốt. Bù với những khí hậu oi bức đó, Huế có những đóa hoa sen nở từ hồ Tỉnh Tâm trong Thành Nội, mang cái hương vị mát dịu về cho thành phố. Và trên miền Nam Giao, tức vùng gần núi, về đêm thì hoa ngọc lan, hoa lài, hoa sứ và nhứt là hoa cau thơm ngát cả núi đồi, làng xóm, làm cho mọi người như dễ chịu ra về đêm. Riêng tôi, sau này trong những tháng gần mùa Hè ra dạy ở Văn Khoa Huế, có những chiều sau giờ dạy học xong, anh chị em sinh viên đưa tôi lên đồi Vọng cảnh để nhìn xuống đầu nguồn sông Hương từ Trung Tâm Liễu Quán lên đến gần trường Luật Khoa, đi như thế để cảm nghe chút gió thoang thoảng thì cũng đủ làm mát dịu cái nóng oi bức của ngày Hạ. Mùa Hè của xứ Huế bắt đầu từ tháng 4 âm lịch và chấm dứt vào cuối tháng 6 âm lịch. Đầu tháng 7 âm lịch là mùa Thu, mùa của Nguyễn Khuyến với Ao Thu, của Tản Đà với Cảm Thu, Tiểu Thu, của Tương Phố với Giọt Lệ Thu ... dù những phương trời Thu ấy có khác, Huế thì có câu ngạn như: Tháng Bảy nước nhảy lên bờ, có nghĩa là mùa của lụt lội, mưa ngâu. Ngày xưa học trò xứ Huế mưa không có áo đi mưa. Lúc mưa chỉ mang tơi đọt hay tơi cá. Tơi đọt chằm bằng lá đọt, còn tơi cá chằm bằng lá thường. Tơi đọt có màu vàng sang trọng và quý phái, để dành cho con nhà giàu. Con nít gặp trời mưa, mang một cái tơi đọt từ Nam Giao về tận trường Chaigneau mà học, trên đường đi nó ấm lạ lùng. Sau này, học trò và sinh viên mặc áo mưa ni-lông nên không có cái ấm thú vị của chiếc tơi đọt hay tơi cá ngày xưa.

Nói về thời tiết thì Huế không giống như ở Nhựt nhưng cái phong vị của cuộc sống con người thì chưa chắc ai hơn ai. Bốn mùa của Nhựt đều có cái sắc thái đặc biệt: mùa Xuân đi các công viên xem hoa anh đào nở; mùa Hè đi trên núi hay đi tắm biển cho đen người, mùa Thu đi vào rừng xem lá vàng đổ xuống và mùa Đông thì thiên hạ đua nhau đi trượt tuyết.

Còn Huế thì mùa Đông về cầu Đông Ba ăn bánh khoái với nâm mối, mùa Hè xuống Cồn Hến để ăn chè bắp và nghe nhạc Trịnh Công Sơn... Tôi nghĩ những thưởng thức đó của người Huế cũng thú vị có thua gì người Nhựt đâu? Nhưng thôi, Huế của tôi là Huế của trước chiến tranh Pháp-Nhật.

Ngày đó, đàn Nam Giao rợp bóng thông xanh, có thành trong thành ngoài bao phủ. Bên cạnh có sân đá ba-lông, mà mỗi ngày thứ Năm và Chủ Nhật lũ trẻ chúng tôi tha hồ đá bóng. Cũng ngày thơ ấu đó, tôi không bao giờ quên được ông Thị Lược, cứ mỗi lần có hoa quỳnh nở thì ông không muốn thưởng thức một mình, mà ông lại cho mời bà con lối xóm làng lân cận lại để cùng xem hoa quỳnh nở. Lúc hoa quỳnh sửa soạn nở cũng chính là lúc tôi sắp muốn ngủ tới nơi, nhưng khi pháo nổ, rượu chúc mừng được rót ra, lũ con nít chúng tôi vỗ tay reo cười vang dậy cả trời Nam Giao. Ngày đó bây giờ không còn nữa. Ngày đó đi qua cũng như hàng hàng lớp lớp thông xanh của đài Nam Giao đêu bị đốn hạ sau năm 1945.

Cảnh thơ mộng của xứ Huế đã mất đi rất nhiều từ núi Ngự Bình, từ sông Hương, cái thơ mộng hiền hoà êm ả của xứ Huế. Tuổi trẻ của tôi đã từng hít thở cái không khí rêu phong cổ kính, trầm lặng của lăng tẩm, đền đài. Tôi đã nhiều lân nhìn cảnh hùng vĩ của lăng Gia Long, đã say sưa hái rau hái lá lốt tại lăng Minh Mạng, đã từng ăn hoài ăn mãi bún chợ Quán mà không thấy chán và sau này, đã từng ngắm mãi lăng Thiệu Trị, lăng Tự Đức để thưởng thức tâm hồn thơ mộng của người xưa. Mùa Hè đến lăng Thiệu Trị thì cái hương của hoa sứ đã làm ngây ngất, đến ngồi nhà Thủy Tạ của Lăng Tự Đức thì hương sen đã mang lại những giày phút thoát tục, quên chuyện trở về nhà. Tôi cũng đã từng trèo lên tận đỉnh núi cao của núi Thiên Thai, ngồi dưới gốc của chồm cây dương liễu để nhìn về thành phố, hay lên tận đỉnh núi Ngự Bình để nhìn về Thành Nội im lìm hay Thuận An nhấp nhô sóng nước. Đó chưa kể đến những ngôi chùa đẹp như trong tranh, ai có cơ hội đến một lần trong các ngày Tết thì trọn đời không quên được. Chùa Từ Hiếu nằm giữa một rừng thông, trước Tam Quan Chùa là một hồ bán nguyệt, nước trong veo với bầy cá lội sáng ngời. Sau lưng chùa là một rừng mai vàng nở rực trời. Hương của hoa mai bay ngát cả vùng. Chùa nằm giữa một lô đất rộng chừng hơn 5 mẫu, nào là hoa, nào mít, nào tiêu. Chùa Tây Thiên, Chùa Trúc Lâm, Chùa Báo Quốc, Chùa Thuyền Tôn... Mỗi chùa có một vẽ đẹp riêng, một sắc thái riêng. Chùa Từ Hiếu ở làng Dương-Xuân-Thiện hay chùa Trà Am ở sau núi Ngự Bình là những ngôi chùa giống như chùa Long Giáng trong Hồn Bướm Mơ Tiên. Riêng chùa Linh Mụ, nếu bạn có dịp ở lại vào một đêm trăng, nhứt là trăng sau cơn mưa vừa tạnh hiện ra vào khoảng 4 hoặc 5 giờ sáng thì cái không khí trong lành của đêm khuya sẽ mang lại cho bạn những giờ phút giải thoát. Chính vào lúc này, Thầy Mật Thể đã sáng tác bốn câu thơ bất hủ:

Trăng sáng sau khi trời mới tạnh
Hiên ngoài thoang thoảng gió hương đưa
Tiếng chuông ngân ngợi trong đêm vắng
Thử hỏi hồn ai đã tỉnh chưa?

Huế với tôi như vậy. Ngoài Huế ra, nhứt là Huế Phật Giáo, không ai có 4 câu thơ đẹp như thế. Chính vì vậy, trong những tháng ngày sống ở Los Angeles dù thị thành rực rỡ đến đâu, nhưng mỗi lần nghĩ đến Huế, thì đúng là: Huế, trăm nhớ ngàn thương. Huế là một thành phố cổ kính, một thành phố hâm ấm cái linh hồn của dân tộc với những đền đài cũ rêu phong, với những nếp chùa cổ kính im lìm giữa ngàn xanh và với ngay cả những chiều mưa, tháng nắng hay chỉ là một cơn gió thoảng. Để rồi ở phương trời xa, cảnh đó, người đó có rộn ràng, tấp nập bao nhiêu thì Huế vẫn đúng là Huế, trăm nhớ ngàn thương.

Huyền Không

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Trà , Rượu , Đàn Bà

Trong đời sống con người, nhất là nam giới thường mắc phải vài thói hư tật xấu. Tứ đổ tường thường dính phải một, hai. Có nhiều người còn tự hào về những thói hư tật xấu của mình.

Xin đọc câu chuyện vui sau đây:“Một người đàn ông đi làm việc về thấy một gã lạ mặt, quần áo rách rưới đứng trước sân nhà, liền hỏi:- Ông là ai mà đứng trước nhà tôi?

Gã lạ mặt trả lời:- Thưa ông, tôi lỡ đường, lại đói quá, xin ông vui lòng giúp tôi ít tiền để tôi có được buổi ăn chiều.Người đàn ông từ chối:

- Tôi có thể giúp anh nhưng tôi biết cho anh tiền anh sẽ đi uống rượu hoặc đánh bạc.

Gã lạ trả lời:

- Tôi thề với ông, đời tôi chẳng biết tứ đổ tường là gì, thì khi nào tôi lại đi uống rượu hay đánh bạc.

Mắt người đàn ông sáng lên, vui vẻ nói:

- Vậy thì mời anh bước vào nhà uống miếng nước rồi tôi giúp anh chút tiền ăn cơm chiều

Gã lạ mặt ngạc nhiên:

- Sao lại phải bước vào nhà, áo quần tôi rách rưới, dơ bẩn.

Người đàn ông nói:

- Tôi chỉ muốn vợ tôi nhìn thấy một người không có thói hư tật xấu nó như thế nào. Vậy thôi!

Như ông Tú Vị Xuyên:

“Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ. Rượu chè, trai gái đủ tam khoanh.”

Thế mà ông Tú chẳng ngại miệng đời, ngông nghênh làm thơ nói ra cho thiên hạ biết đời người có tứ khoái: Ăn, ngủ, ấy, ể.

Những cái khoái của ông Tú là:
“Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được thứ nào hay thứ nấy
Hoạ chăng chừa rượu với chừa trà.”

Vậy ta hãy tán gẫu về những thứ mà ông Tú là Vị Xuyên vướng phải cho vui:


1- MỘT TRÀ:

Chẳng được bao lâu. Một lần sau buổi cơm chiều, bà vợ đang rửa chén sau nhà thì nghe chồng gọi: “Bà nó ơi! Vào xơi chè với tôi.”

Trà là thức uống thanh nhã của người Á đông. Trà, tiếng miền Bắc gọi là chè.

Có cặp vợ chồng, chồng Bắc, vợ Nam , cưới nhau

Bà vợ ngạc nhiên la lên: “Mới ăn cơm xong no muốn chết, bụng dạ đâu ăn chè cho nổi.” Ba miền Bắc, Trung , Nam có nhiều tiếng khiến dân ba miền hiểu lầm nhau. Có lần người viết bài nầy đến thăm cô bạn gái người Huế, thuộc dạng hoàng tộc, cũng là người trong giới cầm bút. Vừa mở cổng, có hai con chó chạy ào ra sủa toáng lên làm tôi sợ hãi. Lúc đó, người bạn từ trong nhà chạy ra vừa xua đuổi hai con chó vừa trấn an tôi: “Không răng mô! Không răng mô!” Tôi vừa sợ vừa giận, nói lớn: “Chó nhà em răng chơm chởm thế kia, sao bảo không răng?”

Trở lại chuyện uống trà. Uống trà tinh thần sảng khoái, quên cả mệt nhọc.Trong trà có chất thebaine, giống như chất cafeine có tác dụng giúp cho tỉnh ngủ. Thuở xưa các dân du mục bên Tàu, mỗi lần đi săn hay chinh chiến về, thấy loài ngựa mệt nhọc, thường hay tìm một thứ lá cây để ăn. Ăn xong loài ngựa như khoẻ ra. Loài người thấy vậy bèn lấy lá nấu nước, uống thử, thấy nước có vị hơi đắng và chát nhưng hậu ngọt. Uống vào một lát sau thấy người khoẻ khoắn. Từ đó người ta tìm ra được một thức uống mới và mỗi ngày một cố gắng cải tiến để trà uống được ngon hơn.

Trà uống có nhiều cách. Có người tính tình giản dị, đun nước cho sôi, bỏ trà vào bình rồi châm nước vào đợi một lúc cho ra trà, rót vào chén lớn uống ừng ực đến đã thì thôi. Uống như vậy gọi là “ngưu ẩm.”

Có nhiều người cách uống cầu kỳ. Họ không nấu trà bằng nước mưa mà bằng nước giếng khơi ở trên núi hoặc bằng nước suối. Các cụ bảo: “Tuyền dĩ trà vi hữu.” Suối là bạn của trà. Còn nước giếng thì phải trong, ngọt và không có phèn.

Bậc vua chúa uống trà còn cầu kỳ hơn nữa. Mỗi sáng các cung phi ra vườn, hứng những giọt sương đêm đọng trên lá sen rồi đem đước đun sôi trên cái lò than nhỏ. Than phải đốt đến lúc đỏ rực để không còn khói mới bắc ấm nước lên. Nước sôi, châm nước vào cái bình bằng đất nung màu đồng vỏ cua để tráng ấm. Rồi mới châm nước vào trà. Nước đầu tiên cốt để rửa trà cho sạch, gọi là nước Khất Cái. Kế đó châm nước lần thứ hai, đậy nắp bình lại giữ nóng cho ra trà. Nước nầy gọi là nước Hoàng đế. Xong đổ ra chén tống rồi chuyển sang chén quân, mới uống.

Loại bình trà tốt có màu như gan gà. Thứ nhứt Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội thứ ba Mạnh Thần.

Uống trà phải uống thong thả để tận hưởng hương vị trà. Nhiều người chỉ uống một mình vào buổi sáng tinh mơ, vừa uống vừa suy nghĩ chuyện đời.

Uống như vậy gọi là độc ẩm. Nếu có thêm một tri kỷ ngồi uống với mình gọi là đối ẩm.

Trà có nhiều loại không sao biết hết. Loại trà Bạch Mao Hầu, trà Thiết Quan Âm, trà Trảm M. thường thấy ở Việt Nam . Vùng Thái Hồ, huyện Bích La bên Tàu có trà Bích La Xuân nước trà màu xanh biếc, rất thơm có vị đắng nhưng hậu ngọt. Vùng Vân Nam có thứ sơn trà danh tiếng được mệnh danh là Điền Trà, màu vàng sậm. đắt tiền nhất là trà Mạn Đà. Trà nầy chỉ có bậc vua chúa hoặc rất giàu có mới dùng nổi. Ngoài ra còn trà Mạn Nguyệt, trà Hồng Trang Tố Lữ, trà Thập Bát Học Sĩ có mười tám bông màu sắc đều khác nhau. Trà Phong Trấn Tam Hiệp có ba bông. Trà Nhị Kiều có hai bông và còn nhiều nữa.

Người Tàu và người Việt Nam , không ai không biết uống trà. Miếng trà đậm đà câu chuyện. Có lẽ vì vậy, mỗi lần khách đến, chủ nhà vội vàng nấu nước pha trà ngay. Có một ông khách đến thăm ngay lúc nhà bà bạn đang sửa ống nước. Ống nước chính dẫn vào nhà bị khoá. Trong nhà không còn nước để nấu trà. Bà chủ hoảng quá, chạy vội vào phòng tắm vét hết số nước còn lại trong một cái xô” đem nấu trà đãi khách. Khi khách uống, bỗng thấy ở cổ vương vướng một vật gì, cố gắng khạc ra thì là một sợi lông. Ông khách là người thiếu tế nhị, đưa sợi lông ra hỏi: “Sao trong trà lại có lông?” Bà chủ nhà đỏ mặt, ấp úng đáp: “Thưa, đó là trà Ô Long.” Ông khách thầm nghĩ Ô Long là con rồng đen đâu phải sợi lông đen nhưng ông khách im lặng. Lúc ra về ông ghé qua khắp các tiệm trà trong phố, hỏi xem thì không có loại trà nào là Ô Lông cả..

Còn một thứ trà rất rẻ tiền, người nghèo cũng có thể uống được. Hương trà rất thơm ngon, tên là trà Thái Đức. Uống vào thức đái suốt đêm.

II- MỘT RƯỢU:

Rượu chữ nho gọi là tửu. “ Nam vô tửu như kỳ vô phong.” Cờ không gặp gió, lá cờ rũ xuống, xem chẳng oai hùng chút nào đàn ông thiếu rượu, giống như lá cờ rũ, kim đồng hồ thường chỉ sáu giờ, trông phát nản.

Rượu cất bằng gạo nếp, nấu xong, dùng men ủ, vài ngày sau mới đem ra cất. Rượu ngon hay dở còn tuỳ vào bí quyết và kinh nghiệm nấu. Rượu là lộc Trời cho.

Bậc vua chúa ngày xưa, đã biết dùng rượu để di dưỡng thiên hạ, dùng vào việc tế Trời, lễ đất, cầu phúc, cầu lợi. Vô tửu bất thành lễ.

Các bậc thánh nhân ngày xưa không ai không uống rượu. Lưu Bang Hán Cao Tổ nhân lúc rượu say, cầm gươm chém rắn bạch, khởi nghĩa, lập nên cơ đồ nhà Hán. Phàn Khoái dự tiệc Hồng Môn Phàn, lấy cao cắt thịt, uống rượu, thi đua múa gươm, mưu đồ đại sự. Khổng Tử lúc hứng uống cả ngàn chung. Tử Lộ uống như hũ chìm. Lã Bạch càng uống, làm thơ càng hay. Nhiều người không quen mùi rượu, đọc xong thơ của Lã Bạch cũng lăn quay ra say khước. Một lần Kinh Kha rượu đã ngà ngà, uống thêm một chén rượu tiễn đưa, rút gươm chỉ xuống dòng sông Dịch chửi thề: - Mẹ kiếp! Chuyến nầy không thành công thì ông đíu thèm qua sông nầy nữa.

Và lần đó Kinh Kha đã hát bài nhạc Pháp “Aller Sans Retour,” mua tấm vé tàu suốt rong chơi miền tiên cảnh.

Người tài hoa phải biết đủ cầm, kỳ, thi, hoạ, nhưng chưa sành sọi về rượu thì chưa trọn vẹn. Người sành rượu không phải chỉ biết vị, biết hương của rượu mà còn phải nhập vào linh hồn của rượu nữa.

Rượu giúp con người thêm can đảm. Nếu không say rượu thì có cho kẹo, Lưu Bang cũng không khi nào dám chơi dại cầm gươm chém rắn. Chỉ nhờ lúc có rượu làm liều mà dựng nên sự nghiệp. Rượu gây thêm hào hứng cho kẻ anh hùng đàn ông có rượu vào, khí thế oai minh, thái độ hùng dũng như cờ gặp gió, như lân gặp pháo.
Thứ nhứt rượu đã ngà ngà,
Thứ nhì chàng ở phương xa mới về.

Chàng ở phương xa mới về thì phải biết đá liên tu bất tận nhưng nói nào ngay đá chẳng được bền. Còn rượu đã ngà ngà thì không thể chê vào đâu được đá mạnh, đá bền bĩ, đá đến lúc các bà ngả nón chào thua mới thôi.
Lờ rằng lờ chẳng sợ ai
Sợ thằng say rượu ấy dai đau lờ.
Đấy, thằng say rượu nó hung hăng đến như thế. Vì vậy các bà có kinh nghiệm sống lại thích có một ông chồng say.

Thấy chồng đôi ba ngày không uống rượu thì tìm cách làm thức ăn ngon bày ra trước mắt. Dân nhậu thấy thức ăn ngon thì chém chết cũng đòi rượu mà đòi rượu coi như sụp bẫy các bà.

Đốt than nướng cá cho vàng
Lấy tiền mua rượu cho chàng nhậu chơi.

Dân nhậu có tính thảo ăn. Có thức ăn ngon thì nghĩ ngay đến bạn hiền. Nếu trong lòng tâm sự đa mang, có được người bạn hiền để chén chú, chén anh, nỉ non tâm sự thì còn gì bằng:
Một ly nhâm nhi tình bạn
Hai ly uống cạn lòng sầu
Ba ly mũi chảy tới râu
Bốn ly ngồi đâu gục đó
Năm ly cho chó ăn chè
Sáu ly vợ đè cạo gió.
Giai thoại về rượu rất nhiều, không sao kể xiết. Mỗi quốc gia có vài thứ rượu đặc biệt. Rượu Pháp nổi tiếng nhất thế giới như rượu vang Champagne . Ai cũng biết Champange là loại rượu sủi bọt (Sparkling wine) thường dùng trong các cuộc vui như đám cưới, sinh nhật v...v... Napoléon, Hoàng đế nước Pháp đã nói một câu để đời về rượu Champange:

- Khi thắng trận ta uống Champange để mừng chiến thắng.

- Khi bại trận ta càng cần phải uống Champange để giải sầu.

Nho để làm rượu Champange phải là loại Chardonnay (chát trắng) và loại Pinot noir (chát đỏ) của vùng Bourgonge mới số dzách. Mở Champagne cũng là một nghệ thuật. Mở thế nào cho rượu nổ một tiếng pop khá lớn mà rượu không vọt ra ngoài do áp suất của khí carbonique trong chai. Lan man về Champange đã hơi nhiều, người viết xin nói tiếp về rượu Pháp. Ngoài Champange còn rượu khai vị như Cointreau, Grand Marnier, rượu mạnh có Martell, Hennessy, Courvoisier, Remy Martin, thứ nào cũng hết xảy nhưng phải loại XO mới tuyệt cú mèo. Đó là rượu Tây.

Người Tàu coi trọng vấn đề ăn uống. Gặp nhau câu hỏi đầu tiên là: - Lứ chía pừng b.i? hay Nị xực phàn m.? hoặc Nị sứ phán mĩ dầu? có nghĩa là Anh ăn cơm chưa? Vì quí trọng miếng ăn nên người Tàu chủ trương miếng ăn, thức uống phải ngon và bổ nên người Tàu nghĩ ra rượu thuốc như: Nhứt dạ lục giao sinh ngũ quỷ. Một đêm lâm trận với sáu bà sinh ra năm thằng quỷ sống, hoặc nhứt long quần ngũ hổ, một con rồng quần với năm chị cọp cái.

Ngoài ra còn Mai Quế Lộ, Ngũ Gia Bì. Thứ nào cũng cường dương, cũng số dzách.

Nhật bản có Sa-kê. Nga có Vodka, Việt Nam có Whiskyson. Nói lái hai âm ky-song là công xi Rượu công xi Bạc Liêu thì hết xảy. Rượu đế Phước Long rất nổi tiếng. Chất rượu trong như nước mưa, rót ra, bọt nổi vòng quanh miệng ly, uống vào nóng muốn cháy cổ. Thở ra nếu ngồi gần vách lá có thể làm cháy nhà như chơi. Ngoài ra còn rượu Bình tây, rượu nếp than. Sau năm 19 75 , Việt Cộng mang vào Nam loại rượu cà-phê, rượu chanh, uống như đồ bỏ.

Tôi có một người bạn là Công tử Bạc Liêu, tự pha chế một loại rượu thuốc và đặt tên là Phu ẩm phụ hoà hài tửu. có nghĩa là rượu chồng uống vợ khen. Nếu có văn thi hữu nào viếng nhà Công tử Bạc-liêu, nếm thử vài chung xem đức phu nhân có khen không cho biết.

Rượu ngon, thức nhấm ngon, chỗ ngồi nhậu thoải mái, lại có thêm bạn hiền thì uống ngàn chung cũng còn quá ít.
“Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua là tại không tiền không mua.”
III- MỘT ĐÀN BÀ:

Như trên đã nói, thời tiết có bốn mùa, con người có tứ khoái. Người ta thắc mắc không hiểu tại sao cái khoái thứ ba thường

làm người ta điên đảo thần hồn, khốn khổ đến chết lên chết xuống mà vẫn muốn tìm hưởng cho bằng được lại bị xếp vào hàng thứ ba, sau ăn và ngủ? Thật ra cũng chẳng khó khăn gì để thắt mắc. Ca dao có câu:
Còn ăn, còn ngủ, còn gân,
Hết ăn, hết ngủ, có mần được chi?
Ăn không được, ngủ không được làm gì có xí quách mà hưởng cái khoái thứ ba. Ăn không được thì thác, ngủ không được cũng đi đong. Không hưởng được cái khoái thứ ba tuy có buồn nhưng vẫn sống phây phây, lại không bị đau lưng nhức mỏi. Con người vốn yếu đuối, thường làm nô lệ cho thói quen. Nghiện rượu, nghiện trà muốn bỏ không phải chuyện dễ nhưng theo cụ Tú Xương nghiện rượu, trà gì cũng có thể bỏ được, còn món đàn bà thì vô phương: Hoạ chăng chừa rượu với chừa trà. Thế mới biết món đàn bà khó mà thiếu được.

Trà, rượu là sản phẩm của con người. Đàn bà là tác phẩm của Thượng Đế: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời làm cho Adam ngủ mê bèn lấy xương sườn rồi lắp thịt thế vào. Giê-hô-va Đức Chúa Trời dùng xương sườn đã lấy nơi Adam làm nên một người nữ, đưa đến cùng Adam. (Sáng Thế K. 2: 21, 22.)

Từ lúc Adam có thêm bà Eve để đêm đêm đem gà ra chọi chơi cho đỡ buồn thì bao nhiêu chuyện khốn nạn xảy ra cho Adam và cũng từ đó bọn đàn ông thất điên bát đảo luôn cho tới bây giờ. Thế mà cũng không ai tởn.
Nhìn lại đời xưa, nụ cười của Đắc Kỷ làm sụp đổ nhà Thương, Bao Tự làm tiêu tan nhà Chu , Dương Quí Phi chỉ mỉm cười cũng đủ làm Đường Huyền Tôn són đái đó là chuyện xưa.

Còn ngày nay, xếp Edward Kennedy cũng vì nàng Mary Jo mà thân bại danh liệt. Chú nhỏ Gary Hart cũng vì cái “ lima ” của chị Donna Rice mà tiêu tùng sự nghiệp. Cả đến các bậc tu hành Jim Baker, Oral Robert, Marvin Gorman và Jimmy Swaggart cũng vì “cái sự đời” mà sự nghiệp tiêu ma. Thế mới biết, cổ nhân ngày xưa đã nói: Sắc bất ba đào dị nịch nhân. Nhan sắc đàn bà không có sóng mà đánh chìm được con người.

Nhưng cứ đem đàn bà ra tố khổ là điều bất công. Đàn bà cũng trăm thứ đàn bà. Đàn bà của cụ Tú Xương thuộc loại:

“Đàn bà lặn lội bờ sông. Gánh gạo nuôi chồng, tiếng khóc nỉ non” nên Tú Xương không bỏ được, lại còn được sống trong chế độ ba nuôi:

Nhỏ cha mẹ nuôi, lớn vợ nuôi, già con nuôi.
“Nhỏ thì nhờ mẹ nhờ cha,
Lớn lên nhờ vợ về già nhờ con.”
Đàn bà như vậy ngu sao mà bỏ. Cái đau là gặp phải loại đàn bà cột tìm trâu, tối ngày mò tới đàn ông, chằn ăn, trăn quấn:
“Chữ trinh đáng giá ngàn vàng
Từ anh chồng cũ đến chàng là năm
Còn như yêu vụng nhớ thầm
Họp chợ trên bụng có trăm con người.”
Gặp loại đàn bà như vậy mà vẫn không sao bỏ được mới là tai hoạ. Đời sống tị nạn gặp phải cảnh gái thiếu trai thừa, cộng thêm cái hoạ là phong tục xứ người nữ trọng nam khinh. Lộ trình của các ông cứ dần dần đi xuống cực tiểu, trong khi lộ trình của các bà thênh thang như xa lộ không đèn.

Nếu may mắn chớp được một bà dù đẹp, dù xấu, dù hư, dù nên chắc cũng phải khư khư giữ lấy và cũng bắt chước cụ Tú Xương mà ngâm nga:

Hoạ chăng chừa rượu với chừa trà.

QUÁCH TỐ VƯƠNG

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Phụ nữ cao dễ mắc ung thư hơn

Image
Phụ nữ cao có nguy cơ mắc ung thư lớn hơn những chị em thấp. Ảnh minh họa: Geocities.ws.
Những chị em cao dễ mắc một số bệnh ung thư phổ biến và nguy hiểm như ung thư vú, buồng trứng... Kết quả nghiên cứu với 97.000 phụ nữ cho thấy.
Người ta từng biết chiều cao có ảnh hưởng tới nguy cơ mắc ung thư, nhưng tới nghiên cứu mới nhất trên tạp chí y tế Lancet Oncology (Anh) mới chứng minh được những phụ nữ cao có nhiều nguy cơ mắc 10 loại ung thư, bao gồm ung thư vú, ruột, buồng trứng, da, bạch cầu và u hắc tố ác tính...

Nghiên cứu trên 97.000 phụ nữ cao 1,5m-1,8m cho thấy, cứ 100.000 chị em thì chỉ có 750 người cao 1,5 m mắc ung thư mỗi năm, trong khi con số này ở người có chiều cao trung bình là 850, còn người có chiều cao 1,8m là 1.000 người.

Trưởng nhóm nghiên cứu, Tiến sĩ Jane Green, khoa Ung thư, Đại học Oxford, Anh, cho biết, cứ mỗi 12 cm chiều cao tăng thêm thì nguy cơ mắc ung thư vú của phụ nữ tăng 17%, nguy cơ mắc ung thư buồng trứng tương tự, còn ung thư tử cung là 19%.

Lý do chính xác cho mối liên quan giữa chiều cao và nguy cơ mắc ung thư chưa rõ ràng.

Tuy nhiên, theo Guardian, nhóm nghiên cứu của tiến sĩ Green đưa ra hai cách giải thích: Thứ nhất, hoóc môn liên quan đến sự tăng trưởng ở trẻ em có thể dẫn đến nguy cơ ung thư cao hơn trong những năm sau đó; Và, đơn giản là người cao thì nhiều khả năng bị ung thư hơn vì cơ thể họ có nhiều tế bào hơn.

"Cách lý giải hợp lý nhất là sự thay đổi nội tiết tố liên quan đến chiều cao ở phụ nữ có thể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng bất thường, đặc biệt là ở ngực, dẫn tới ung thư", giáo sư Karol Sikora, giám đốc một trung tâm trị liệu ung thư ở Anh cho biết. "Chế độ ăn uống cũng quan trọng, nhất là với ung thư đại trực tràng ở phụ nữ", ông nói thêm.

Tuy nhiên, theo chuyên gia Sara Hiom, Trung tâm nghiên cứu ung thư Anh, những người cao không cần lo ngại bởi kết quả nghiên cứu này. Hầu hết mọi người không vượt quá chiều cao trung bình bao nhiêu và thật ra yếu tố này chỉ đóng vai trò rất nhỏ trong việc họ có thể mắc ung thư.

Minh Thùy

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Cái ghen của phụ nữ, ai chế ngự được?
Hà Giang/Người Việt


Vụ bà Catherine Kieu Becker, người Mỹ gốc Việt, bị bắt giam và cáo buộc là đã đầu độc, cắt đứt “của quý” của chồng, bỏ vào máy xay thức ăn (garbage disposal), bật nút lên, rồi gọi 911, đã làm xôn xao dư luận, không chỉ riêng tại quận Cam, tiểu bang California, mà còn khắp nơi trên thế giới.
Image Bác Huê, khoảng 60 tuổi, nhà ở cùng đường và sát với khu chung cư nơi vợ chồng bà Kiều cư ngụ, nhận định:

“Bà này bình tĩnh lắm, cắt xong còn bỏ vào xay, để chắn chắn không gắn lại được nữa.”

Ông Trung, khoảng 45 tuổi, ở khu đối diện với nhà nạn nhân, chép miệng than:

“Thật là không tưởng tượng nổi, đúng là Hoạn Thư tân thời!”

“Trời ơi, sao độc ác thế?”, “chắc điên mới làm vậy!” “chắc bị tù chung thân quá, sao dại thế!” Ða số khắt khe lên án.

Nhưng cũng có một số người rộng lượng, từ bi hơn, cho rằng khi một người đàn bà phải làm như vậy, “có lẽ phải đau khổ lắm.”

Nhà chức trách cho biết chưa xác định được nguyên nhân thúc đẩy bà Kiều có hành động này, vì còn “đang điều tra,” nhưng ai cũng cho rằng vụ án này liên quan đến ghen tuông.

“Chẳng cần điều tra thì cũng biết là vì ghen. Không ghen thì ai làm thế!” Người ta lập luận.

Ghen tuông là cái gì mà có thể khiến con người làm những việc kinh hoàng như thế?

Nhà nghiên cứu hàng đầu về ghen, tiến sĩ tâm lý học Paul Mullen, cây bút quen thuộc trên tạp chí nghiên cứu tâm thần của Anh (British Journal Psychiatry), cho biết ghen tuông là những cảm xúc mạnh bắt nguồn từ sự cảm thấy bị đe dọa về một mất mát trong liên hệ tình cảm quan trọng.

Những cảm xúc này mạnh đến nỗi có thể đẩy người đang ghen vào những trạng thái tâm lý khốc liệt như khổ đau, tuyệt vọng, hận thù, căm ghét, cuồng nộ, căm phẫn v.v...

“Khía cạnh tâm lý nguy hiểm nhất của cái ghen là sự mất tự chủ, khiến con người có những hành động kinh hoàng mà lúc thường họ không bao giờ nghĩ đến.” Tiến Sĩ Mullen nói.

Cũng theo Tiến Sĩ Paul Mullen, ở phụ nữ, cái ghen không bốc lửa và bộc phát như ở đàn ông, mà cứ cháy âm ỉ, cứ nung nấu âm thầm, cho đến khi họ “không chịu nổi nữa.”

Theo ông, ghen phụ nữ sẽ trải qua nhiều tâm trạng, như thấy mình già đi, mất đẹp, không còn hấp dẫn, cảm thấy bị đe dọa về quan hệ mới của đối tượng, bị đẩy vào hố sâu của tuyệt vọng, nơi họ càng vùng vẫy càng lún xuống, và chỉ có sự yêu thương hay ít nhất là trấn an của đối tượng mới có thể kéo họ lên khỏi vực thẳm đó.

Và trong trường hợp đối tượng chẳng những không trấn an, mà còn muốn bỏ đi (như nộp đơn ly dị) thì, theo Tiến Sĩ Paul Mullen, có khi người phụ nữ đang ghen phải dựa chính vào sự phẫn nộ của mình để “lấy lại thế quân bình.”

“Nhưng tiếc thay, cơn ghen cũng như cơn say,” ông nói, “càng hoảng loạn, thì khi tỉnh lại càng thấy mình trống rỗng, mất mát!”

Có thật khi ở vào trạng thái ghen cùng cực, phụ nữ trở nên nguy hiểm và tội nghiệp đến thế không?

Sử sách đầy rẫy những thí dụ.

Thần thoại Hy Lạp kể lại cơn ghen khốc liệt kết thúc bằng nhiều xác chết của nàng Mêđê.

Nàng Mêđê bị chồng ruồng bỏ vì mê say một người con gái trẻ đẹp. Vì ghen, Mêđê thề phải giết chồng, giết người yêu của chồng và cả hai đứa con của mình với chồng để báo thù.

Bị dày vò bởi ghen tuông, Mêđê phải liên tục phấn đấu với những tình cảm mâu thuẫn trong lòng: Một bên là lòng ghen tuông và sự thù ghét với tất cả những gì thuộc về người chồng phụ bạc, bên kia là tình thương sâu sắc đối với con.

Cuối cùng thì sự căm phẫn đã thắng được đầu óc tỉnh táo, và kéo theo nó hàng loạt cái chết, của những người mà Mêđê yêu thương nhất.

Trong kho tàng văn học Việt Nam, chuyện Kiều của Nguyễn Du kể lại cái ghen thâm độc của Hoạn Thư, trong việc cho người bắt Thúy Kiều mang về làm đầy tớ và bị bắt quỳ dâng rượu cho hai vợ chồng, khiến Thúc Sinh và Thúy Kiều ở vào hoàn cảnh dở khóc dở cười mà không dám hé răng.

Cũng ở Việt Nam, tại Sài Gòn, vào cuối thập niên 60s, vụ ghen nổi tiếng một thời của vợ một sĩ quan cao cấp thời đó, đã khiến người tình ca sĩ xinh đẹp của chồng bị tạt axít vào mặt nhan sắc hoàn toàn bị hủy hoại.

Còn ở Mỹ, vào khoảng năm 1993, vụ cô vợ Lorena Bobbit cắt “của quý” ông chồng là Bobbitt, làm cho tiếng Anh có thêm một động từ mới là “bobbitt.”

So sánh với Bobbitt, giới ghiền kỹ thuật công nghệ cao gọi đùa vụ và Catherine Kiều Becker là “Bobbitt version 2,” vì bà Kiều chu đáo hơn, bỏ “của quý” chồng vào máy xay, bật nút cho chạy trước, rồi mới gọi 911.

Sau khi “trừng phạt” rồi, bà Kiều vẫn chưa hả giận, mà còn nói với toán cảnh sát đến nhà bà để cấp cứu là “đáng đời ổng.”

Giới phân tích cho rằng chính câu nói đó, sau này sẽ gây khó khăn cho các luật sự đảm nhận việc bào chữa cho bà.

Nhưng bào chữa cho bà Kiều là việc của luật sư, không nằm trong phạm vi bài viết này.

Vấn đề của chúng ta là, lỡ khi ở vào trường hợp bị ghen điên lên, thì có cách gì để không làm mất sự tự chủ không?

Hay hơn nữa, có cách gì để ngăn ngừa không cho mình rơi vào tình trạng ghen tuông không?

Theo các nhà phân tích tâm lý học thì có!

Trong tạp chí In Psychology Today, Tiến Sĩ Craig Malkin, đưa ra một số đề nghị để giúp phụ nữ chế ngự, và điều khiển cơn ghen của mình.

“Ðiều đầu tiên là cần phải phân biệt “cảm giác ghen” và “hành động ghen!” Tiến Sĩ Malkin nói.

Ông giải thích, trong đời sống lứa đôi thể nào cũng có lúc phụ nữ (hay cả đàn ông) thấy mình có cảm giác ghen, khi cảm thấy đối tượng của mình có thể đang bị một người khác phái nào đó thu hút.

Trong trường hợp đó, Tiến Sĩ Malkin khuyên nên thủ thỉ tâm sự với đối tượng, cùng nhau hâm nóng tình cảm, để đối tượng được nhắc nhở đến những gì đang có mà không để bị lún sâu vào một phiêu lưu tình cảm mới.

“Ðiều tối kỵ là hạch hỏi, tra vấn đối tượng, vì những động thái này tạo thêm sự xa cách và mâu thuẫn giữa đôi bên.” Tiến Sĩ Malkin nhắc nhở.
Image Cũng theo Tiến Sĩ Malkin, cảm giác ghen là sự kiện bình thường, vấn đề là hành động khi ghen như thế nào để đạt được kết quả mong muốn.

“Chẳng sự ghen tuông lồng lộn nào có thể kéo người kia đến gần lại với bạn, nếu chính con người và sự cư xử của bạn không thu hút được anh ta.” Ông nói.

Trong khi đó, tiến sĩ xã hội học Jeff Bell Bryson, giảng dạy môn tâm lý xã hội tại Universitat Potsdam, Germany, thì cho rằng hiểu được tại sao người ta ghen là bí quyết then chốt để ngăn ngừa cơn ghen bùng phát.

Ông quan niệm rằng người ghen thường cảm thấy mình có uy thế thấp hơn so với sự hấp dẫn của đối phương, do đó những phụ nữ tự tin thường ít ghen hơn người có mặc cảm.

Cũng theo Tiến Sĩ Bryson thì điều người phụ nữ khôn ngoan luôn luôn biết lo cho chính bản thân mình trước, và không bao giờ bị lôi cuốn vào công việc, bổn phận hay bất cứ gì gì mà quên không trau dồi cho kiến thức, và con người của mình.

“Phụ nữ quên rằng chính sự tự tin của họ làm cho họ hấp dẫn.” Ông nói.

Rồi giải thích thêm:

“Hãy biết mình là ai, đam mê và sở thích của mình là gì, mình có mục đích gì trong cuộc sống, vì đàn ông không chỉ mê say một phụ nữ vì nhan sắc mà còn về cả sự dịu dàng, săn sóc, và cả con người của họ nữa.”

Và nếu chẳng may đã làm hết mọi điều đó mà đối tượng mình vẫn cứ phản bội?

“Thì rõ ràng là anh chàng đó không xứng đáng với tình yêu của mình, vậy hãy dẹp hắn qua một bên, và xét đơn một người khác!” Ông nói.

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image
Tan Do, the man who opened fire at the Forum Roller World in Grand Prairie on July 23, 2011, killing his wife, himself and four others.

Texas: Bắn Chết Vợ, 4 Em Vợ, Sát Thủ Gốc Việt Tự Sát

Image
Hai chị em bị anh rể giết cùng với chị, từ trái: Lynn Tạ, Michelle Tạ.

GRAND PRAIRIE, Texas (VB) -- Chuyện xảy ra tại Texas trong một gia đình Mỹ gốc Việt: người chồng bắn chết vợ, giết thêm 4 người em vợ và rồi chĩa súng bắn vào đầu tự sát.

Người cô của một phụ nữ bị chồng giết trong vụ bắn giết ở một sân trượt băng Texas kể rằng 2 vợ chồng này cãi nhau hoài, thường là về chuyện tiền bạc, mặc dù cả gia tộc đều khuyên can hòa giải.

Janice Trần kể rằng Tân Đỗ, 35 tuổi, yêu thương vợ là cô Trini Đỗ, 29 tuổi, nhưng tính của Tân Đỗ quá nóng.

Image
Janice Trần nói về cháu của bà là cô Trini Đỗ, rằng cuối cùng bà cũng không khuyên được họ cái gì nữa.

Tân Đỗ bắn chết vợ (cô Trini Đỗ) và 4 người thân của vợ hôm Thứ Bảy trong buổi tiệc sinh nhật đứa con trai 11 tuổi của họ. Tân Đỗ bảo các trẻ em bước ra ngoài tòa nhà sân băng trước khi y nổ súng, nhưng vẫn còn vài trẻ em trong nơi đó, vào lúc y bắn vợ và gia đình vợ.

Trini Đỗ bị bắn chết cùng với 2 cô em gái, Lynn Tạ, 16 tuổi, và Michelle Tạ, 28 tuổi; cùng với em trai là Hiền Tạ, 21 tuổi; và cô em dâu là Thuỷ Nguyễn, 25 tuổi. Sau đó, sát thủ Tân Đỗ nổ súng tự sát.

Trini Đỗ đã từng nộp đơn xin ly dị năm 2008, nhưng vài tháng ra lại rút đơn, vì Tân Đỗ năn nỉ.

Bên cạnh cậu con trai, họ còn có một cô con gái 3 tuổi.

Ông cụ Hội Tạ, người cha của cô Trini Tạ, kể với đài Fox rằng ông và vợ ông cũng trúng đạn bị thương. Ông cụ kể rằng lúc sát thủ chĩa súng vào vợ là cô Trini Đỗ, cậu bé trong buổi tiệc sinh nhật đã năn nỉ cha đừng bắn mẹ, nhưng Tân Đỗ vẫn nã đạn vào vợ.

Trong khi cô Trini Đỗ nằm hấp hối, ông cụ Hội Tạ kể rằng những lời cuối cùng của cô là dặn dò xin nuôi giùm 2 con nhỏ của cô -- cô muốn cha mình chăm sóc giùm các con của cô.

Cụ Hội Tạ nói, bây giờ thì 2 con của cô Trini Đỗ và sát thủ Tân Đỗ cứ hỏi rằng mẹ ở đâu, nhưng ông cụ nói là ông ngoại không biết trả lời làm sao.

Điều tra viên nói vợc hồng này có vấn đề từ lâu, và có thể cãi nhau trước khi nổ súng. Cô Trini Đỗ đã được một lệnh tòa bảo vệ hồi tháng 12-2010 đối với Tân Đỗ, nhưng rút lại trong năm nay, bất kể lời can của một công tố viên, bởi vì cô muốn cho chồng thêm một cơ hội làm hòa.

Khi Trini Đỗ xin lệnh tòa bảo vệ, cô nói vì Tân Đỗ bạo lực quá, và có nhiều lời đe dọa. Cô nói 2 vợ chồng ngưng sống chung từ tháng 12, sau “một năm tệ nhất nhất trườc giờ,” theo lời kể lại.

Đầu năm 2010, Tân Đỗ chĩa súng bắn lên trần nhà, và dọa bắn vợ khi cô nói là tính nộp đơn ly dị lại, theo hồ sơ cảnh sát.

Janice Trần, sống ở Fort Smith, Ark., nói rằng bà bảo lãnh Trini Đỗ, ba mẹ cô này và các em cô này từ VN sang định cư ở Arkansas năm 1994.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Cua Rang Muối
Hà Lan

Vật liệu:

6 con cua thịt (khoảng 1.5 kg)
1 củ hành đỏ
2 củ tỏi
1 muỗng soup muối hột
1 muỗng soup dầu mè
1 muỗng soup xì dầu
1 cup dầu chiên
1 bó salad xoong
2 quả cà chua
2 trái ớt
1 lọ dưa kiệu
1 củ carrot


Image

Cách làm:

Cua: làm sạch, chặt miếng, ướp với tiêu, muối (hột), bột ngọt, hành tỏi bằm nhỏ
Bắc chảo dầu nóng, cho cua vào chiên vừa chín.

Bắc chảo dầu khác, phi hành tỏi thơm, cho gạch cua vào xào đều, cho giấm, bột ngọt, tiêu, xì dầu, dầu mè vào nêm vừa ăn.

Múc 1/2 ra làm nước chấm, còn lại cho cua vào xào đều cho thấm khô.

Trình bày:

Xếp rau ra dĩa, cho hành tây ngâm giấm đường lên. Cho cua ra dĩa, xếp thành hình con cua, đặt mai cua lên trên, cắm hoa cà, ớt. Chung quanh dĩa xếp hoa carrot tỉa hoa, dưa kiệu.

Post Reply