Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Nhạc sĩ Nguyễn Hiền,
một dung hợp điển hình giữa tài năng và nhân cách


Du Tử Lê
Trong chừng mực nào đó, dường như đám đông, dân tộc nào, cũng dành cho giới văn nghệ sĩ một cái “lề”, một đường biên rộng, đủ cho họ sống một đời sống tương đối phóng khoáng hơn người bình thường.

Tại sao?

Có thể từ lòng yêu mến tác phẩm hay, tài năng một văn nghệ sĩ mà đám đông đã mặc nhiên có cái nhìn bao dung, rộng lượng với các văn nghệ sĩ.
Image
Nhạc sĩ Nguyễn Hiền. (Nguồn: tranquanghai.com)
Cũng vẫn thuộc về đám đông, có người lý trí hơn cho rằng, để giới văn nghệ sĩ có thể cung ứng những sản phẩm tinh thần giá trị, hay để họ phát huy được rực rỡ hơn tài năng trời cho họ, xã hội nên dành cho họ một vài biệt lệ, miễn không quá đáng...

Có người còn nhiệt tình hơn, khi lý luận rằng: Nếu bắt nhà thơ A, nhà văn B, nhạc sĩ C, phải là có đời sống của một công chức chính ngạch, thuộc loại “thượng hạng ngoại hạng”, hay một nhà đạo đức, một nhà mô phạm gương mẫu... thì làm sao họ có thể cho chúng ta những tác phẩm thơ mộng, lãng mạn như chúng ta đã từng được thụ hưởng?

Chẳng biết có phải từ những cái nhìn ưu ái đặc biệt vừa kể mà, người Việt Nam dường đã có chung một kết luận mang đầy tính thông cảm, rằng: “Có tài, có tật”.

Tóm gọn lại, trong sinh hoạt xã hội, đôi khi bạn có một vài hành vi vượt ngoài khuôn khổ đời thường, thí dụ cờ bạc, hút xách, trai gái, sống bừa bãi, cẩu thả... nhưng, nếu được đám đông “phê” cho mấy chữ, đại loại “văn nghệ sĩ mà”... thì kể như bạn đã được tha thứ hoặc, chí ít cũng được giảm khinh.

Lời phê ấy, giống như một thứ giấy phép “đi trong giờ giới nghiêm” vậy.

Nhìn vào sinh hoạt của giới văn nghệ sĩ thời tiền chiến, người ta thấy có nhiều nhà văn, nhà thơ nghiện thuốc phiện, mê đi hát cô đầu...

Thế hệ kế tiếp, tính từ điểm mốc 1954, ở miền Nam Việt Nam, số văn nghệ sĩ nghiện thuốc phiện không nhiều. Nhưng số người thích đỏ đen và, những cuộc phiêu lưu tình ái... lại có phần gia tăng...

Nói như thế, không phải tất cả những văn nghệ sĩ được đám đông công nhận tài năng, tên tuổi đều là những người “sử dụng” cái giấy phép “đi trong giờ giới nghiêm” mà xã hội đã ưu ái ban, cấp cho họ.

Chẳng những thế, trong số này, còn có nhiều văn nghệ sĩ vẫn sáng tác được những tác phẩm giá trị mà, đời riêng của họ, lại rất nghiêm chỉnh, mẫu mực. Phẩm chất đời sống xã hội của họ, có phần cao hơn người bình thường nữa.

Một trong những văn nghệ sĩ có được cùng lúc hai mặt tưởng chừng đối chọi nhau kia, là cố nhạc sĩ Nguyễn Hiền.

Lần đầu tiên tôi được gặp nhạc sĩ Nguyễn Hiền vào khoảng đầu năm 1965 ở tiệm phở 44, trước đài phát thanh Saigòn, cuối đường Phan Ðình Phùng, cùng với thi sĩ Ðinh Hùng. (Tiệm lấy số nhà 44, làm tên.)

Thời gian đó, tôi đang viết cuốn “Năm sắc diện, năm định mệnh” mà cố thi sĩ Ðinh Hùng là 1 trong 5 người tôi chọn, nên chúng tôi thường gặp nhau.

Tôi muốn mở một cái ngoặc ở đây, để nói rõ hơn rằng: Trong số những văn nghệ sĩ miền Nam không bao giờ lái xe, dù xe hai bánh hay xe hơi, không phải là cố nhà văn Mai Thảo.

Thời gian tham gia kháng chiến nhà văn Mai Thảo đã từng phải đạp xe từ khu này qua khu khác. Thời gian chủ trương tạp chí sáng Tạo ở Saigòn, ông có xe hơi riêng và tự lái. Chỉ sau khi bán đi chiếc Austin, lúc đó tác giả “Ðêm giã từ Hà Nội” mới dùng tới phương tiện xích lô...

Riêng thi sĩ Ðinh Hùng thì tuyệt đối không.

Thời gian ở trong vùng kháng chiến, tác giả “Mê hồn ca” cũng chưa một lần đạp xe đạp. Di cư vào miền Nam, ông cũng chưa một lần tự lái xe. Dù cho công việc buộc ông phải thường xuyên xê dịch.

Phương tiện di chuyển quen thuộc nhất của tác giả “Mộng dưới hoa” là taxi, xích lô...

Trở lại với tiệm phở 44, giữa khi chúng tôi đang ăn thì nhạc sĩ Nguyễn Hiền bước vào. Ðó là một người đàn ông nho nhã, trắng trẻo. Ông có dáng dấp một nhà giáo nhiều hơn một nghệ sĩ đã có nhiều năm chơi nhạc cho một số dancing nổi tiếng ở Hà Nội cũng như Saigòn.

Là bạn thân của nhau, nên khi thấy bạn, thi sĩ Ðinh Hùng gọi, như reo:

“Lại đây. Lại đây. Nguyễn Hiền.”

Rất từ tốn, người nhạc sĩ nổi tiếng từ khi còn rất trẻ ở Hà Nội, với nhạc phẩm “Người em nhỏ”, phổ thơ Thiệu Giang, bước lại bàn. Ông bắt tay chúng tôi. Ngồi xuống.

(Qua một bài viết của tác giả VDA, gần đây, tôi mới biết họ Nguyễn sáng tác ca khúc “Người em nhỏ” nhằm tặng người bạn đời sau này của ông.)

Sau khi nghe thi sĩ Ðinh Hùng giới thiệu về tôi, họ Nguyễn bảo, ông tin cuộc đời có cái gọi là “hữu duyên”!

Ông nhìn tôi, giải thích:

“Mấy ngày qua tôi có ý tìm anh. Tôi vừa xin được địa chỉ và số điện thoại nơi làm việc của anh qua Mai Trường...”

Số là ông mới phổ nhạc xong bài thơ “Khi người về” của tôi. Ông muốn đổi tên nó thành “Tiếng hát ru tôi”.

Ông nhấn mạnh, ông giữ được gần như nguyên vẹn lời thơ và, kết luận nếu tôi cũng đồng ý thì bản nhạc sẽ được trình bày nay mai trên đài phát thanh với nhan đề ấy.

Tôi nói, nhan đề ông chọn cho ca khúc có phần thơ hơn nhan đề chính. Tôi thích lắm, và:

“Chắc anh không biết, anh là người thứ hai sau anh Mai Trường phổ nhạc thơ của tôi...”

Từ đấy, họ Nguyễn nói về thơ, nồng nhiệt như một thi sĩ.

Ông kể:

“Có anh Ðinh Hùng ở đây, anh ấy biết tôi rất thích thơ. Thơ trên báo hay thơ in thành sách... Hễ đến tay tôi là tôi đều đọc hết. Tôi đọc rất kỹ những bài tôi thích... Tôi có thói quen chú ý nhiều tới những động từ và tĩnh từ trong thơ...”

Thi sĩ Ðinh Hùng chăm chú nghe với những cái gật gù, như đắc ý về những nhận định của bạn ông.

Trước khi chia tay, để hai người ngồi lại với nhau, tôi nói:

“Thưa anh, nếu được xin anh làm ơn cho tôi biết trước giờ phát bản nhạc để tôi đón nghe!”

Tác giả “Hoa bướm ngày xưa” gật đầu. Ông rút trong túi miếng giấy nhỏ, đọc lại số điện thoại nơi tôi làm việc...

Tôi không biết có phải tính nghiêm túc, cẩn trọng (nhưng vẫn cởi mở của ông,) hay do chiếc cầu nối là thi sĩ Ðinh Hùng mà chúng tôi đã có được một tình thân trong tương kính khá mau chóng.

Ðúng như những gì tôi cảm nhận được về ông, từ gặp gỡ thứ nhất, mỗi lần ca khúc “Tiếng hát ru tôi” được thu thanh, hoặc phát lại, ông đều tìm cách cho tôi biết.

Là một nhạc sĩ nổi tiếng, nhưng họ Nguyễn cũng là con người của đời sống gia đình. Có thể vì thế, dù ở cùng một thành phố với nhau, tôi chớ gặp ông ở những quán café, nhà hàng chúng tôi hay la cà, thuở ấy. Mỗi khi muốn gặp ông để nói một chuyện gì đó, tôi phải điện thoại trước và, điểm hẹn thường là phở 44, trước giờ ông thu thanh.

Tuy nhiên, tác giả “Lá thư gửi mẹ”, phổ từ thơ của Thái Thủy, cuối cùng đã cho tôi một kỷ niệm vô cùng ý nghĩa.

Tôi nhớ kỷ niệm này tới mức mỗi khi bị hỏi về chuyện nhuận bút hay bản quyền tác phẩm, những ngày đầu cuộc đời làm văn nghệ của mình, tôi đều nhắc lại cũng như đã từng viết xuống.

Ðó là sự kiện, bẵng đi một thời gian không gặp tác giả “Mái tóc dạ hương” (thơ Ðinh Hùng,) một buổi trưa, nhà văn Nguyễn Ðình Toàn nhờ tôi chở ông từ café La Pagode về Ðài Saigòn. Ngay khi vừa cặp chiếc xe sát lề đường, trước cửa đài, tôi nhác thấy nhạc sĩ Nguyễn Hiền từ phía phở 44 băng qua.

Ông dơ tay nửa như chào, nửa như muốn bảo đợi...

Bước lên lề, trước mặt Nguyễn Ðình Toàn, ông rút từ túi sau một khoản tiền, bọc trong một miếng giấy trắng (giống như đã chuẩn bị sẵn,) đưa cho tôi.

Ông nói:

“Một trung tâm băng nhạc nó mới thu bài ‘Tiếng hát ru tôi’. Ðây là phần tác quyền của anh”.

Ông không nói, tôi cũng không hỏi số tiền tác quyền ông chia cho tôi là bao nhiêu. Ðiều đó, với tôi thực sự không quan trọng. Ðiều tôi cảm khích, tôi nhớ mãi tựa hồ mới xẩy ra, chính là cái cung cách cư xử, ăn ở của ông.

Cung cách như một truyền thống văn hóa có tự bao đời của những người trí thức làm văn nghệ.

Không biết có phải vì sự việc xẩy ra bất ngờ, hay vì một nguyên nhân nào khác, khiến tôi không nói thêm được với ông lời nào, ngoài ba chữ “Cám ơn anh.”

Kể lại chuyện này, tôi chỉ muốn nói tới nhân cách của họ Nguyễn. Một nhân cách đáng kể đi đôi cùng tài năng.

Nhiều năm trước đây, nhà hàng Tài Bửu (khi còn tọa lạc ở ngã tư đường Magnolia và Bolsa, thuộc thành phố Westminster,) là nơi sinh thời tác giả ca khúc “Anh cho em mùa xuân” (thơ Kim Tuấn,) hay có những buổi sáng ngồi uống café với bằng hữu.

Trong những gặp gỡ này, mỗi khi có dịp tôi lại kể kỷ niệm trên, (trước mặt ông,) như một cố tình bày tỏ lòng quý trọng của cá nhân tôi đối với ông. Người nhạc sĩ tài hoa, tới cuối đời, vẫn giữ được cho mình, một nhân cách cao. Quý.

Du Tử Lê,

(Thứ Năm 17 tháng 6-2010: “Nguyễn Hiền, người tình chung thủy của thi ca miền Nam 20 năm.”)

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Gái Hà Thành và Bữa Tiệc "Ké" Xa Hoa
Không có tiền để lên sàn bar đắt đỏ, nhiều teen girl thích đua đòi bèn tìm cách “moi” tiền của các đại gia già nhưng giàu, hoặc công tử ngây thơ... nhằm trang trải cho những chuyến “chơi bằng tiền của người khác".

Tiệc "triệu"

Nếu ghé thăm FB của một vài cô gái “ăn chơi” có tiếng ở Hà Nội bây giờ, có lẽ bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên vì cuộc sống khá vương giả, chỉ ăn với chơi “quên tháng ngày”. Ngày nào trên wall của những FB này cũng đưa thêm các bộ ảnh khoe tiệc ăn uống ở nhà hàng 5 sao, rồi đồ Nhật, bò Mỹ, tôm hùm với con số hàng triệu cho mỗi thực đơn.

Sau đó là cảnh tiệc tùng tràn lan, nhảy múa ở những sàn bar nổi nhất Hà thành. Phần kết bao giờ cũng là các hot girl “pose” ảnh bên cạnh xe đắt tiền như Bentley, Audi, “bét” cũng phải Mec C230.

Lại có cô nàng khoe toàn ảnh đi du lịch, mua đồ hiệu không tiếc tay. Người ta thầm nghĩ, cuộc sống của các teen girl nhà giàu bây giờ thật sướng, chỉ có ăn với chơi mà lại toàn chơi ở chỗ đắt đỏ.

Thế nhưng, không phải cô nàng nào cũng đang trưng ra hiện thực của mình trên FB. Cơn sốt khoe ảnh, thể hiện cuộc sống vương giả đã khiến không ít teen girl phải “đú” bằng được với teen nhà giàu khác.

Hoàn cảnh không làm họ “chùn bước” chơi bời, mà tìm cách “vượt khó” bằng việc làm quen với các anh hơi già nhưng giàu có, hoặc các công tử thừa tiền thiếu bạn.

Có thể là yêu, hoặc chỉ làm “anh em”, nhưng mục đích chung đều là để có người trả tiền “chùa” cho những buổi ăn chơi cấp độ cao.

Thế cho nên, có những cô nàng gia cảnh rất bình thường, vậy mà tối nào cũng xuất hiện trên New Square (Daewoo), bar Face, bar Angelina..., ăn đêm ở khách sạn Hà Nội, khách sạn Hoàng Gia, cứ thả phanh, chụp choẹt bét nhè và hôm sau đã có ảnh up lên FB khoe. Giống như hội của P (sinh năm 1990), cũng khá nổi trong cộng đồng teen Hà thành.

Những cuộc chơi “tiền của người khác”

Tuy sinh năm 1990, nhưng ít ai “dám” đọc đúng tuổi của P nếu xem ảnh trên FB hoặc gặp ngoài đời. Để tóc nối xoăn tít, gương mặt trang điểm cầu kỳ cùng những bộ váy “thiếu trên, hở dưới”, và lúc nào cũng đượm vẻ mệt mỏi của những buổi party muộn, P dễ bị nhầm với các “đàn chị” sinh năm 86 trở lên. Hội của P gồm 5, 6 cô gái đều sinh năm 90, 91 và cô nào cũng giống nhau.

Nếu chỉ xem ảnh, chắc ai cũng nghĩ rằng các teen girl này sống trong nhung lụa, thừa tiền nên suốt ngày vui chơi chốn đắt đỏ. Mỗi tấm ảnh, P lại “pose” cùng một chiếc xế hộp đời mới, ăn uống ở nhà hàng... Tưởng thế mà không phải thế, các teen girl thích đua đòi thời nay rất khéo che giấu sự thực, mà thường lu loa những gì... không phải của mình.

Một vài anh đại gia giàu có hay công tử thừa tiền mới là chủ chi thực sự của những buổi party P đang khoe, nhưng lại không bao giờ được xuất hiện trên ảnh. Phải thể hiện sao cho người ta tưởng chính các cô gái sành điệu kia đang bỏ tiền túi ra chơi, thế mới là “play dân”!

“Câu” được một “chú” đại gia chứng khoán, P nhận luôn làm “chú nuôi”. Chú này dễ tính, tâm sự rằng muốn đi chơi cùng các cháu trẻ trung cho vui, quý P cũng như các thành viên trong nhóm thực sự.

Thế nhưng cô nàng chỉ mong chú chủ chi cho những chuyến ăn chơi xa xỉ chứ thực lòng chẳng quý mến gì lắm.

Nhờ có vị đại gia này mà P cùng các cô cậu bạn bè tối nào cũng được xe sang đưa đón, ăn uống và chơi bời ở những nơi “có mơ cũng chẳng có tiền mà đi”.

Được bao từ A-Z, nhưng chưa bao giờ P cho cái mặt chú đại gia xuất hiện trên ảnh, mặc dù luôn miệng “chú cháu” thân thiết lắm.

Điều cô nàng này cần là có người chi trả để tha hồ ăn chơi nhảy múa, chứ “cho chú lên ảnh, sợ “nhàu” lắm!”, P thường nói với bạn thế!

Với list dài dằng dặc những người có xe đẹp, có tiền và hào phóng bao P cùng cả hội đi chơi, cô nàng tuyên bố “Không bao giờ phải buồn! Các cuộc vui luôn được “triển”. (!??)

Còn H.M thì tháng nào cũng up ảnh khoe đi Hongkong, Macau hay Singapore với gia đình, mua toàn đồ hiệu. Bạn bè thầm ghen tỵ, khen M sướng vì nhà giàu mà bố mẹ lại chiều. Phong thái của M cũng luôn thể hiện mình là con nhà khá giả, nên chẳng ai nghi ngờ cả.

Cho đến khi một cô bạn tình cờ đưa M về tận nhà mới biết cả nhà M đều trông chờ vào gánh chè đầu ngõ của mẹ M, thì sự thực về những chuyến du lịch đắt đỏ mới dần được hé lộ...

Hóa ra cô nàng đang yêu một thiếu gia bằng tuổi, và tất cả những bức ảnh chụp bên xe đẹp, đồ hiệu, những chuyến du lịch đắt giá đều là... của nhà chàng.

M đứng chụp bên cạnh mẹ người yêu mà thân thiết như mẹ mình vậy, chẳng trách ai cũng nhầm đó là gia đình M. Được cái gia đình người yêu M cũng dễ tính, vì chiều con trai nên đi đâu cũng cho M đi theo.

Khi biết được sự thật, chàng thiếu gia lẳng lặng chia tay M vì cho rằng cô nàng muốn “đi du lịch và mua sắm... chùa” nên mới yêu cậu, lợi dụng cả gia đình bạn trai rồi trưng lên FB khoe khoang. Ở tình cảnh này, rõ ràng là nếu có trong sạch thì M cũng khó mà giải thích nổi.

Thật "bó tay" với những cuộc chơi tiền “chùa” của một bộ phận các teen girl thời nay!

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Nghẹn vì "Trăng Nghẹn"

Trần Việt Trình

Mẹ sinh tôi vào một đêm rằm mưa gió ngày xưa,
Lúc chào đời đã lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn.
Vùng tản cư hồi nầy ruộng hoang nhà trống,
Rước được bà mụ vườn, ngoại cực trần thân.
Tôi lớn trong quê mùa như cây tạp vườn hoang,
Bảy tuổi biết leo lưng trâu, không từng ngồi xe đạp.
Không biết lời bải buôi để mua lòng người khác,
Nên thua thiệt cả đời vì không thể dối lừa ai.
Ngơ ngác buổi ra thành, trước cuộc sống đua chen,
Mười năm sau chưa gội rửa cho mình thành dân chợ.
Lớp phèn hết bám chân, nhưng chất chân quê vẫn còn đó,
Tôi tranh thủ những tháng hè, thích về lại thăm quê.
Bè bạn theo đuôi trâu một thời, mơ ước nhìn tôi,
Tưởng tôi thoát kiếp ngài, nhởn nhơ hóa bướm.
Tôi nhìn vẻ hồn nhiên của đám bạn xưa thèm quá,
Cộng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn.
Mỗi lần về quê bè bạn cũ lại vắng hơn,
Gái mười bảy đã lấy chồng, trai hai mươi đòi vợ.
Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu,
Đôi mắt ướt một thời bẽn lẽn ngó bàn chân.
Xóm bên sông nhiều cô gái rời quê,
Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu.
Vài căn nhà xây, đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu,
Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi.
Đồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi:
Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất,
Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất,
Và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa.
Chập tối buồn ra nhìn bến nước cô đơn,
Vầng trăng vừa lên đã bị mây mưa vần vũ.
Tôi chợt nhớ lần lỗi hẹn đầu đời, trăng cũ,
Vầng trăng nghẹn hoài, chưa tỏa sáng một vùng quê.
Trên đây là bài thơ Trăng Nghẹn của Hoài Tường Phong. Bài thơ được chấm giải nhất mà không được lãnh giải đã gây xôn xao dư luận trong nước thời gian gần đây. Đó là cuộc thi thơ do Liên Hội Văn Học Nghệ Thuật (VHNT) các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long phối hợp tổ chức luân phiên 3 năm 1 lần. Cuộc thi năm 2009 do thành phố Cần Thơ đăng cai. Trong thời gian phát động kéo dài 9 tháng, từ ngày 1 tháng 2 đến ngày 31 tháng 10 năm 2009, đã có 915 bài của 255 tác giả gửi dự thi. Kết quả bài Trăng Nghẹn của Hoài Tường Phong ở Cần Thơ đoạt giải nhất. Bài thơ Trăng Nghẹn đã làm cho chính quyền … mắc nghẹn!

Image
Tác giả Hoài Tường Phong. Ảnh: Sáu Nghệ.
“Lúc chào đời đã lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn” là sao? “Đồng bằng quê hương tôi … Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất, và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa” nghe sao bi quan thế? Chưa hết, “Vầng trăng nghẹn hoài, chưa tỏa sáng một vùng quê” tác giả muốn ám chỉ gì đây? Không! Không được! “U ám quá!”. “Tối tăm quá!”. “Giới thẩm quyền” của Cần Thơ bèn yêu cầu ban giám khảo loại bài này và chọn bài khác để trao giải Nhất. Họ cho rằng “Trăng thì phải sáng, thậm chí rất trong sáng chớ không thể nào nghẹn được”. Ban giám khảo quyết định không chấm lại. Thấy không được, “giới thẩm quyền” quay sang tác giả. Ông Hoài Tường Phong cho biết Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Thành phố Cần Thơ Phan Huy yêu cầu ông làm đơn từ chối giải thưởng với lý do “Tác giả không có gởi thơ dự thi”. Hoài Tường Phong giữ vững lập trường khẳng định “Tôi đã gửi dự thi”. Thấy cũng không xong, Chủ tịch Hội lại yêu cầu ông làm đơn xin từ chối giải thưởng với lý do “Bài thơ có nhiều câu chữ không phù hợp với tiêu chỉ cuộc thi”. Ông trả lời “Đó là việc thẩm định của Ban Giám khảo”.

Ông Hoài Tường Phong cho biết, một lần ông được “giới thẩm quyền” cho xem tờ giấy ghi ý kiến của một nhà thơ ở Hà Nội đề nghị ông sửa lại bốn câu cuối. Sửa bốn câu thì ông không chịu nên lại được đề nghị sửa một chữ ở câu cuối, sửa chữ “chưa” thành chữ “sẽ” hoặc “chờ”, “chưa tỏa sáng” thành “sẽ tỏa sáng” hoặc “chờ tỏa sáng” để “thể hiện ý chí phấn đấu và lòng tin”. Ông Hoài Tường Phong nói thẳng với Chủ tịch trao giải thì ông nhận, không trao thì thôi, ông không bỏ giải. Có nhiều người gọi điện thoại ủng hộ quyết định của ông, ông chân chất thổ lộ “Bài thơ được một vài người nhận xét là có cảm xúc chân thành, chứ không phải xuất sắc gì”. Ông ngao ngán tiếp lời “Thơ là làm cho mình, ai chia sẻ hay không là quyền của người ta”.

Đọc bài Trăng Nghẹn chúng ta thấy những câu thơ rất chân chất, thật đơn sơ, mộc mạc như hương đồng gió nội của miền đồng bằng sông Cửu Long. Bài thơ nói lên được một thực trạng và từ thực trạng đời sống ấy bộc lộ được tâm trạng của tác giả .Tác giả sinh năm 1945, vào một đêm mưa gió thật sự nên không thể viết là trăng sáng được, nó cũng báo hiệu cuộc đời vất vả của ông sau này. Nghề làm răng giả hiện nay của ông chỉ đủ sống qua ngày. Vợ ông bán thức ăn ở chợ. Ba đứa con thì hai đứa lớn đã ra riêng, còn con gái út ở chung cũng chỉ buôn bán lặt vặt. Ngày trước vì ở quê nghèo ông phải bôn ba lên Sài Gòn kiếm sống. “Ngơ ngác buổi ra thành, trước cuộc sống đua chen” là tâm trạng của ông. Ngày nay, “Mười năm sau chưa gội rửa cho mình thành dân chợ. Lớp phèn hết bám chân ... tranh thủ những tháng hè ... về lại thăm quê” để thấy “Đồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi:Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất, Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất, và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa”.

Phê phán bài Trăng Nghẹn là bi quan, đen tối, nói xấu Đồng bằng sông Cửu Long ư? Bài thơ không có gì u ám, đen tối như người ta vu cho nó. Sự thật là vậy! Ngày trước miền Đồng bằng sông Cửu Long “Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất”, ngày nay dân ở nhiều xã bị đói phải ăn cháo thay cơm, thanh niên phải vay nợ đi làm công, thiếu nữ phải đi làm đầy tớ ở nước người, các em bé gái bị ép buộc làm nô lệ tình dục ở các động bên Kampuchia, phụ nữ phải rời bỏ quê nhà đi làm vợ, làm điếm khắp nơi trên thế giới, bệnh HIV lan rộng, thì tại sao chính quyền địa phương lại không dám nhìn thẳng vào vầng trăng u ám đó, vào chính cái nghèo đói tả tơi của cả vùng đồng bằng đang đẩy con người rời bỏ quê hương? Tại sao chính quyền CSVN họ vẫn trơ tráo che đậy, không cho ai nói lên sự thật? Mà che đậy làm gì? Thế giới đâu còn lạ lùng gì nữa! Trăng Nghẹn đã làm giới chức có thẩm quyền “mắc nghẹn”, đã làm cho họ mất ăn mất ngủ vì sợ mất ghế, mất chỗ ăn trên ngồi tróc. Họ mắc nghẹn vì Trăng Nghẹn đã phơi bày ra sự thật quá đỗi đau đớn, quá sức xót xa của một vùng quê từng vang bóng là vựa lúa của cả nước.

Chiều ngày 3 tháng 3, bất chấp sự phản đối của giới văn học trong nước, ban thường vụ Liên Hội VHNT thành phố Cần Thơ đã họp và chính thức quyết định loại bỏ giải nhất của bài thơ Trăng Nghẹn. Điểm đáng chú ý đây là giải thưởng của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, vậy mà một Hội văn nghệ địa phương đã lộng quyền áp chế cả một khu vực. Rõ ràng đây là một sự lạm quyền và lộng quyền thô bạo chưa từng có của một hội văn nghệ địa phương. Thật không còn gì để nói! Thật đáng ghê sợ và ghê tởm sức mạnh cùng sự thô bỉ của “giới thẩm quyền”!
Sáng ngày 14 tháng 4, sau những xôn xao kéo dài trong dư luận, Liên hiệp các hội VHNT thành phố Cần Thơ cuối cùng đã tổ chức lễ trao giải cho các tác giả tham gia cuộc thi thơ. Kết quả chỉ có 2 giải nhì, 3 giải ba và 5 giải khuyến khích. Không có giải nhất. Tác phẩm Trăng Nghẹn của tác giả Hoài Tường Phong được ban giám khảo cuộc thi chấm giải nhất ngày 20 tháng 2 đã bị loại, không được trao giải.

Trước nay, ở trong nước, các cuộc thi văn học nghệ thuật đều bị chính quyền khống chế và thường thì bị can thiệp ngay từ đầu, chẳng hạn như đề nghị tác giả rút khỏi danh sách dự giải, nếu không chính quyền cũng không ngần ngại làm công việc tự loại bỏ. Còn một khi kết quả đã công bố rồi mà còn lấy lý do này lý do nọ để gạt đi thì là chuyện chưa từng có. Một khi ban giám khảo đã chọn trao giải cho một tác phẩm, mọi người cần phải tôn trọng sự đánh giá ấy. Ban giám khảo đã làm theo quy trình văn học nhưng rõ ràng họ chịu áp lực phi văn học. Trăng Nghẹn đã được chấm theo qui trình của một giải thưởng văn học, dù chỉ là giải thưởng cấp tỉnh, chính quyền sau đó lại dùng một qui trình khác, phi văn học để giải quyết vấn đề văn học thì quả là phản nghệ thuật, phản văn học, và bỉ ổi! Sức mạnh phi văn học (và vô văn hoá) đã đánh bật văn học!

Văn học phải được phát triển bởi tự thân nó chứ không thể có cơ quan nào định hướng và khống chế. Đó là ở các nước Tự Do. Ở Việt Nam, hội nhà văn hoạt động do ngân sách Nhà nước cấp nên nhiệm vụ chủ yếu là phải tuyên tuyền cổ động cho các chủ trương của Nhà nước. Hội trung ương thì tuyên truyền cho Chính phủ, các bộ các ngành, hội địa phương thì tuyên truyền cho ủy ban tỉnh và thành phố. Các giải thưởng cũng không ngoài mục đích đó. Hội nhà văn VN không phải sinh ra để trao các giải thưởng văn học mà để trao các giải tuyên truyền cổ động. Phải là một bài nào đó ca ngợi cuộc sống trong thời kỳ đổi mới. Phải viết về công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, về phát triển và hội nhập của đất nước.

Sau 20 năm “đổi mới” văn học, nhiều người nhẹ dạ cứ lầm tưởng những sự can thiệp của chính quyền không còn nữa, nhưng điều đó vẫn xảy ra! Dưới chế độ cộng sản, văn học tuyên truyền là mục tiêu hàng đầu và là vũ khí tối cần thiết nên CSVN không bao giờ nhân nhượng một lề thói tư duy nào có hại cho con đường đi tới của họ. Nếu như những người có trách nhiệm ở địa phương biết xấu hổ vì sự kém cỏi ở địa phương và nếu như những người có trách nhiệm trên bình diện quốc gia biết xấu hổ vì sự kém cỏi của họ thì tình hình nước nhà đã đổi khác. Chế độ CSVN mang nợ rất lớn đối với tổ tiên và dân tộc. Đó là món nợ đã vùi dập bao thế hệ văn nghệ sĩ bằng chính sách kiểm soát điên cuồng ở miền Bắc, và cái tội thiêu hủy cả một nền văn học 20 năm muôn màu vạn trạng của miền Nam qua phong trào đốt sách năm 1975 khi họ chiếm được miền Nam, và treo bút, vùi dập, tù đầy, đầy đoạ những văn nghệ sĩ miền Nam còn kẹt lại.

Trần Việt Trình (4 tháng 6 năm 2010)

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Nhân ngày Father's Day mời đọc truyện ngắn của Duyên Anh:

Đại Dương Trong Lòng Con Ốc Nhỏ

Bến đò Đồng Đức càng ngày càng nhiều khách tới lui. Bây giờ không còn mùa đông mưa phùn rây mờ sông nước, không còn họ hàng lũ ruồi nhặng sợ rét, lười biếng đâu trên sợi dây lòng thòng để treo chuối, treo ngãn bám vào liếp, vào tường tròn ba tháng rét mướt đìu hiu. Dân thành phố tản cư về đồng ruộng. Họ mang theo niềm vui và cuộc sống mới mẻ khiến quê ngoại nhà tôi tấp nập, ồn ào. Nằm nghe tiếng chim cu gáy buổi trưa, tôi cảm thấy bớt buồn tẻ. Kỷ niệm tràn lụt đầu óc tôi bằng những bộ mặt sáng sủa, những điệu cười hồn nhiên của đám trẻ nhỏ thành thị trạc tuổi em Mai. Tôi nghĩ, giá anh em tôi không phải sống hẩm hiu ở quê ngoại thì lúc này đây, chúng tôi cũng biết tung tăng dắt tay nhau chuyện trò dưới ánh trăng đồng nội. Chứ đâu chịu lạc lõng trong đêm tối, nhìn bóng mẹ gầy yếu run rẩy cơ hồ chiếc lá sắp lìa cành. Bất giác, tôi nhớ cha tôi và nước mắt phủ mờ…

Mẹ tôi bảo thoạt tiên cha tôi đánh đàn thập lục cho ban hát cải lương lưu động. Dạo ấy danh từ nghệ sĩ còn xa lạ nên ông bầu coi cha tôi ngang chức anh lao công. Làm việc từ tám giờ tối tới hai giờ khuya. Tiền thù lao dè xẻng mới đủ nuôi một vợ, một con. Trong gánh hát, cha bị bạn đồng nghiệp chê bai tài đàn non nớt hay tâu hót với ông bầu vài điều lầm lẫn của cha tôi. Thì cha tôi hậm hực nguyền rủa thói đời đen bạc. Chán rồi, cha tôi trách ông phó Nhị. Giá ông phó truyền đủ ngón trứ danh, chắn chắn sự nghiệp cha tôi đỡ méo mó. Tôi cố mường tượng cái cảnh hậu trường sân khấu giữa mùa hè nóng nực, cha tôi cởi trần biểu diễn tài nghệ, dìu điệu ca cho đào kép ngọt giọng. Mồ hôi, có khi cả nước mắt, rơi rụng trên mười sáu sợi tơ đồng đổi miếng cơm hẩm manh áo thô. Về sau có lần giận đời, cha tôi đập đàn giải nghệ.

Khi tôi hiểu biết, thấy đời cha tôi lẩn quẩn trong hai câu thơ của bài hát nói cha tôi khai bút nhân dịp năm mới: “Ông Lái thuốc bắt đầu, ông Phó, ông Ký, ông Chủ, ông Thầu, ông Lang… ” Mỗi chuỗi nghề nghiệp quàng vào cổ cha tôi. Lên voi xuống chó, xuống chó lên voi… Tội nghiệp cha tôi, người còn chút tâm hồn để không nỡ gọi tài đánh đàn là nghề kiếm cơm.

Từ ông lái thuốc bắc đến ông lang băm chế thuốc cao đan hoàn tán. Chao ôi, tôi phải viết thế nào đây cho thật linh động từng cảnh cha tôi ngồi chế thuốc cam bằng thuyền gang, ngồi thái thuốc sống bằng dao cầu, ngồi xao thuốc bổ bằng nồi rang đất và hoàn và viên thuốc tễ? Làm sao ai chứa chất được trọn vẹn ngần kia mẫu đời. Thế mà cha tôi, trời ơi! Tôi muốn làm một khán giả vô tư nhỏ lệ tiếc thương gã nghệ sĩ sinh nhầm xứ sở.

Có bận túng bấn quá, cha mẹ tôi phải chia nhau mỗi người một chợ đem thuốc hoàn, thuốc tán trị các bệnh cam sài thai đẹn, ho hen, giun sán ra bày ngổn ngang trên manh chiếu hẹp dưới quán chợ. Mẹ tôi bán quanh quẩn mấy chợ gần miền bể như chợ Tiểu Hoàng… Sáng sớm mẹ đi, xế chiều mẹ về săn sóc anh em tôi. Còn cha tôi xách chiếc va ly lớn lễ mễ sang mãi tận Thần đầu, Thần huống. Cha tôi đi hàng tuần mới trở lại, nói là vừa bán thuốc vừa thăm dò xem bên sông Trà Lý có dễ kiếm ăn thì cho gia đình sang.

Những chuyến cha tôi vắng nhà, mẹ tôi xuôi ngược tần tảo, anh em tôi nương bóng nhau cầu nguyện. Nghe mẹ tôi bảo sóng sông Trà dữ tợn. “Sóng cửa Trà, mà cửa Hộ”, em Mai chỉ sợ phà đắm.Tôi dỗ dành em tôi rằng cha tôi sống tới tám mươi tuổi để xem anh em tôi khôn lớn. Em Mai thường khóc tỏ vẻ lo ngại. Khốn nạn, cha mẹ tôi nghèo nàn, còn tình thương mến nhưng tình thương mến không nuôi sống được con nên muốn con no lành đã phải xa con, cực nhọc. Tôi cứ nghĩ đến lúc cha mẹ tôi ngồi dọn hàng khi chợ chiều tan vắng. Ánh nắng vàng vọt quê mùa chiếu vào khuôn mặt thê thảm vì nhớ con, vì ế hàng của cha tôi chắc đau thương lắm.

Ít tháng sau cha tôi bỏ nghề lang thuốc. Cha tôi sắm ít dụng cụ chữa xe đạp. Người ta đặt tên mới cho cha tôi: ông Phó. Cha tôi sửa chữa, lau dầu, vá chín, vá sống săm lốp xe đạp, xe tay. Nếu ai cần tô điểm xe mình thì cha tôi cũng biết sơn xì, sơn hấp, mạ kền bằng… ngân nhũ. Nhiều lần nhìn cha tôi nghiến răng vặn cái ốc lâu ngày thiếu dầu mỡ, lòng tôi thắt lại. Tay cha tôi mạch máu nổi bật, chằng chịt. Có khi “lắc lê” nhờn, tuột mạnh bật tay ra. Cha tôi mất đà, chúi về một bên. Thường thường, tay cha tôi bị xước da, máu chảy ri rỉ. Cha tôi mải mê công việc không để ý, đưa tay vuốt mấy sợi tóc lòa xòa trên trán. Máu ở vết thương được dịp hòa với mồ hôi… Nhưng cha tôi nín lặng không kêu ca, không than vãn, không kể lể với vợ con. Sự nín lặng đó tôi đã khổ tâm học hỏi song tôi thấy tôi thất vọng. Vì, cho tới ngày nay, hễ gặp bất cứ con rắn độc cuộc đời nào, dù lớn dù nhỏ, cắn đau hay cắn hụt, tôi vẫn thích tìm người băng bó hộ.

Tò mò, tôi hỏi cha tôi học nghề sửa xe bao giờ, cha tôi mỉm cười: “Cái khó sinh ra cái không con ạ!”. Tôi nghi ngờ rồi phỏng chừng cha tôi học lỏm hay cha đã từng làm thợ phụ cơm nhà việc người. Lại thêm hình ảnh thui chột của chú “học nghề” nữa!

Hồi gia đình tôi ở Hà Nội về Thái Bình rồi dọn xuống miền bể, em Mai bé bỏng nên em chưa cảm được nỗi buồn biển động cuối mùa đông. Dường như, bể giận dữ tận ngoài khơi bãi Đồng Châu. Tiếng gầm gừ vọng tới nghe ghê rợn. Cha tôi khởi nghiệp chữa xe tại đây, tại ngã ba chợ huyện Tiền Hải, dưới gốc cây gạo to lớn, sù sì, gai góc. Những buổi chiều rét mướt, cha tôi ngồi co ro khâu mép lốp đứt “tanh” hay phồng mang trợn mắt thổi than hồng trong lò máy vá chín. Cha tôi nhặt nhạnh từ năm hào bơm thuê cho anh phu xe tay, chẳng nề hà việc dầu mỡ. Bởi vậy, cả sau lúc ngưng làm để vuốt ve anh em tôi, tay cha tôi, dẫu rửa sà phòng, vẫn còn đầy vết dầu lem luốc. Em Mai hay kéo đôi tay cha tôi đùa bỡn:

- Tay cha tôi đen như nhọ nồi.

Cha tôi cười:

- Trắng như bông mà con dám bảo đen. À, đố con biết tại sao tay phải cha dài hơn tay trái?

- Con chịu.

- Tại tay phải cha vặn “lắc lê”. Cha vặn mạnh quá nên xương nó giãn ra.

Em Mai ngớ ngẩn:

- Con không thích tay phải cha dài đâu, cha làm cho nó ngắn bằng tay trái đi cha. Có được không hở, cha?

Cha tôi suy nghĩ giây lát, đoạn vỗ về em:

- Khó gì, rồi cha bỏ vặn “lắc lê” thì nó hết dài.

Tôi thương cha tôi, dĩ nhiên, nhưng thương bao nhiêu mới vừa? Cha tôi ít nói. Chắc chắn nỗi ray rứt vì mẹ con nheo nhóc ám ảnh cha tôi, làm cha tôi uất nghẹn: sự uất nghẹn của người không câm song không nói được. Dạo ấy, gạo kém, mẹ tôi phải chạy vay đong từng bữa một. Thoạt đầu, sáng ăn cầm dạ, chiều ăn no. Sau, sáng cha mẹ tôi nhịn chỉ thổi niêu nhỏ cho anh em tôi. Em Mai ăn xong còn thòm thèm. Cha tôi nhìn em, mắt đỏ ngầu. Mẹ tôi chạy vội xuống bếp. Tôi thương hại em, tập nhịn để em được ăn nhiều. Hôm thứ nhất, em bảo tôi:

- Sao anh không ăn?

Tôi nói dối:

- Tại anh đau bụng.

Em tôi tưởng thật:

- Thế em để phần anh vậy nhé?

Tôi cười xua tay:

- Đau bụng ăn cơm nguội thế nào được. Em ăn đi, ăn nhiều chóng lớn.

Hôm thứ hai, tôi cũng bỏ bữa sáng ân huệ của con nhà nghèo. Em tôi hỏi han vớ vẩn. Tôi phải trả lời tôi ăn sáng với em thì trưa ăn mất ngon. Nghĩ sao, em tôi giận tôi, em chẳng thèm ăn nữa. Em bắt chước nhịn đến trưa. Mẹ tôi mắng em. Em khóc, em kêu đau bụng. Như thế, em tôi hiểu chuyện rồi. Em tôi rủ tôi ra đường cái, ghé sát vào tai tôi thì thầm:

- Thật anh nhỉ, ăn bữa sáng, trưa ăn mất ngon.

Chúng tôi nhìn nhau. Chua xót. May mắn là tình cảnh ăn đong thiếu thốn rất ngắn ngủi. Gạo dần dần hơn. Nhà tôi lại tiếp tục hai bữa no nê. Đấy là những câu chuyện buồn của gia đình tôi. Nhưng chuyện khiến tôi nhớ mãi là chuyện sau đây:

Hôm cha tôi đang đánh nháp miếng lốp nổ thì một bà sang trọng tới gần. Bà ta nhìn cha tôi lúc lâu rồi mới ngại ngần hỏi:

- Bác làm ơn chỉ giùm tôi ông lang…

Bà ta quên tên ông lang. Cha tôi ngừng tay, lễ phép nói:

- Thưa bà, bà cho biết tên ông lang là gì ạ?

Móc trong túi mảnh giấy nhỏ ghi bút chì lờ mờ, bà ta lẩm nhẩm đọc:

- Ông Mai Viên bác phó ạ! Bà bạn tôi mách rằng ông Mai Viên chữa bệnh giỏi. Tôi từ phủ Kiến Xương xuống xin ông cái đơn. Bà bạn tôi trước là chỗ quen thân ông Mai Viên.

Như cái lò xo, cha tôi đứng thẳng dậy, trịnh trọng giới thiệu tựa hồ anh hề trên sân khấu giây phút sắp mở màn.

- Thưa bà… tôi là Mai Viên…

Bà khách lạ tròn xoe mắt. Bây giờ, cha tôi mới kịp để ý cái hình hài tiều tụy của lão phó chữa xe đạp dưới gốc cây gạo ngã ba chợ huyện Tiền Hải. Quần đùi đen, áo sơ mi ngắn tay nham nhở dầu mỡ mồ hôi. Chân tay sần sùi, thô lỗ… Còn giữ được đôi mắt, vầng trán rộng. Nhưng xấu hổ quá, tê tái quá, đôi mắt vội mờ đi và vầng trán lâm râm những giọt mồ hôi, những giọt mồ hôi tình cờ toát ra một buổi trời lạnh nhất. Cha tôi cúi xuống, nói rất nhỏ:

- Thưa bà tôi giải nghệ… lang thuốc rồi. Song nếu bà…

Cha tôi muốn nói thêm “nếu bà bỏ qua hình ảnh bác thợ chữa xe thì tôi sẵn lòng tiếp bà”. Khốn nỗi, dù đã từng phen trầy trụa với cuộc đời, cha tôi vẫn tự ái để cứu vãn chút liêm sĩ tuy chẳng cần cứu vãn. Bà khách hình như cảm thông sự lên bổng xuống trầm của kiếp người, bà ta ngượng ngùng mãi mới thốt gọn ba tiếng “xin lỗi ông”. Cha tôi mời bà ta vào nhà.

- Bà ở phủ Kiến chắc quen gia đình ông Phán Lâm?
- Thưa ông, bà Phán chỉ đường tôi mới rõ, chứ dễ chi.
- Trước kia…
- Vâng ạ! Bà Phán đã nói nhiều về ông. Tôi xin lỗi ông lần nữa vì cử chỉ vô lễ ban nãy.

- Thưa bà không hề gì ạ! Bà đừng bận tâm.

Cha tôi kê tặng bà khách ấy đơn thuốc bổ theo đúng lời viết quảng dán tường ngày xưa “xem mạch kê đơn không lấy tiền”. Khi về, bà khách rút tiền cho tôi. Tôi từ chối, bỏ chạy mất. Đêm ấy, dưới ánh đèn dầu lạc tẩm bấc thắp đĩa, đêm dầy đặc, suy tư. Tôi nghe từng hơi thở dài sầu hận của cha tôi. Bất giác, tôi òa lên khóc khiến em Mai cũng khóc. Cha tôi xoa đầu anh em tôi an ủi:

- Nín ngay con, rồi các con sẽ sung sướng.

Tôi gục đầu xuống đùi cha tôi, ôm chầm lấy thân thể gầy yếu, ôm chầm lấy tấm lòng thương mến bao la mà rên xiết.

- Cha ơi! Con thương cha.

Giọng cha tôi tha thiết, bao giờ cha tôi cũng tha thiết với vợ con:

- Thương cha thì ngủ đi, sau này đừng giống cha nhé con, giống cha khổ lắm. Nhất nghệ tinh con ạ!

Nhưng anh em tôi không ngủ. Ngọn đèn gió thổi tắt rồi. Căn nhà tối om. Anh em tôi ngồi sát nhau hơn. Chúng tôi cùng im lặng nhìn ngày mai bằng bốn con mắt mờ lệ trong đêm vắng. Khổ thân em tôi, lớn dần để xem cuộc đời cha xuống dốc thảm hại. Em tôi nắm chặt lấy tay tôi như thầm nhủ, như trao gửi niềm tin. Tôi nghe rõ tiếng nước nhỏ giọt xuống chiếu.

Một sớm tháng hai, hoa gạo nở đỏ ối và bắt đầu rụng. Cha tôi vẫn co ro ngồi dưới gốc cây. Trên đầu cha tôi đủ các loài chim thi nhau ca inh ỏi. Chợt một con bậy bạ trúng giữa mái tóc cha tôi trắng xóa. Cha tôi nhìn lên xem có phải phân quạ. Vì nếu phân quạ sẽ gặp niềm rủi ro. Khốn nạn, cha tôi vừa ngẩng mặt nhìn lên thì chiếc hoa gạo to hơn nắm tay rơi giữa mặt. May mắn, cuống hoa ngược chiều nên những cánh hoa nát bét trên khuôn mặt của cha tôi như thể cha tôi bị đạn bắn vỡ mặt. Anh em tôi chạy lại quỳ xuống, cuống quít:

- Cha có đau không hở, cha?
- Cha có mở được mắt không?

Cha tôi nói:

- Đau gì mà đau, cái hoa đó mà…

Giọng em Mai run run:

- Con thấy nó kêu đánh “bốp”. Chắc cha đau, cha nói dối. Con thì con khóc rồi. Cha đau thật hở, cha?

- Cái hoa nhẹ như bấc thì đau nỗi gì. Cha chỉ đau vì…

Tôi hỏi gặng:

- Vì sao cơ ạ?
- Vì… các con khổ sở!

Cha tôi rươm rướm nước mắt. Anh em tôi cúi đầu.

Mặc dù bé bỏng, anh em tôi cũng nhận ra hình ảnh cuộc đời cha tôi. Một hình ảnh bằng bao nhiêu hình ảnh nham nhở khắc khoải, què quặt. Tôi cầm tay cha tôi, nói nhỏ:

- Con sung sướng chứ có khổ đâu?

Em Mai cũng hối hả:

- Con chả khổ gì cha ạ!

Cha tôi mỉm cười gượng gạo:

- Các con nói dối.

Tôi nắm chặt tay cha tôi hơn:

- Lúc nào gần cha mẹ là các con sung sướng rồi.

Em Mai ôm đầu cha thủ thỉ:

- Con yêu cha.
- Yêu cha thì phải chăm học các con nhé, Hữu nhé! Nhất nghệ tinh…

Luôn luôn cha tôi nói “nhất nghệ tinh”… Tôi nhìn cha tôi, thấy má bên trái con dính chút máu hoa gạo. Đưa vạt áo lau sạch vết nhơ ấy, tôi giục:

- Cha vào gội đầu kẻo bẩn.
- Điềm may đấy con ạ! Hoa rơi là sang năm cha con mình giàu. Cha sẽ tậu nhà ngói trên tỉnh, con có cái xe đạp nhỏ đi học.

- Thế mẹ con?
- Mẹ con thì.. Ờ, ờ, khó nghĩ quá. Con chọn quà biếu mẹ xem nào.
- Mẹ con thôi bán xôi chè này, mẹ Ở nhà khâu vá quần áo với lại kể chuyện ma này. Cha cho tiền con mua cái tráp đựng trầu biếu mẹ con nhá! Em Mai muốn mua biếu mẹ xâu tràng hạt để mẹ niệm Phật cha ạ!

- Ừ, ừ con muốn gì cũng được.

- Em Mai có búp bê, có ô tô, có tàu thủy, có nhiều thứ lắm. Em Mai không phải chơi đồ chơi bằng vỏ hến, nút chai…

Em tôi thích chí cười hớn hở. Đôi má núm đồng tiền xinh xinh tệ. Em làm nũng:

- Áo con rách rồi, cha mua áo cho con trước nhất cha nhé.

Cha tôi bỗng giật mình. Đôi mắt đang sáng rực mộng ước, phút chốc mờ đi, buồn. Cha tôi ngắm anh em tôi rồi khẽ gật đầu nói nhỏ:

- Ừ, mai cha mua áo cho con.

Hôm sau, nhằm ngày phiên chợ, cha tôi bỏ việc dẫn anh em tôi đi mua áo. Chợ phiên đông đúc, cha con dắt díu nhau chỉ sợ lạc. Qua hàng nước dừa, cha tôi cho mỗi đứa uống một cốc nhỏ năm hào. Hết quán này, quán khác mà chẳng thấy cha tôi nhắc chuyện áo làm em Mai thấp thỏm. Mãi cha tôi mới kéo anh em tôi đến hàng quần áo may sẵn có vô số người xúm lại mặc cả. Anh em tôi len lọt được vào. Em Mai nhìn những chiếc áo cánh trắng rồi nhặt vài chiếc để ướm thử. Mắt em long lanh nhưng cha tôi thì nét mặt tự nhiên tái chợt, đôi tay run run cơ hồ như sốt rét. Cha tôi hỏi giá, người bán trả lời. Thêm thêm bớt bớt chán chê, rốt cuộc, cha tôi không dám nhất định vì sợ hớ. Em tôi trống ngực đánh thình thịch, nửa mừng nửa lo. Tôi biết giá có manh áo kia, em tôi hả hê vô vàn. “Già được bát canh, trẻ manh áo mới” mà. Cha tôi cũng biết thế, song người bán hàng chẳng thèm biết. Cha tôi đứng tần ngần. Tôi phỏng chừng cha tôi thiếu tiền.

Vuốt mái tóc em Mai, cha tôi an ủi:

- Hai anh em ra kia chờ cha nhé! Ra kia kẻo nó bắt bí. Thế nào cha cũng mua cho con.

Em tôi nuốt nước bọt ừng ực. Cha tôi đưa chúng tôi khuất khỏi hàng quần áo. Dặn dò xong, cha vội vàng đi. Trông theo cha, lòng tôi bâng khuâng tê tái. Anh em tôi đợi hàng nửa giờ mà cha tôi vẫn chưa trở lại. Chợ càng đông, tiếng ồn ào huyên náo. Anh em tôi không nghe rõ nữa. Tâm hồn em Mai hướng về manh áo, còn tâm hồn tôi thì không hiểu vì sao bối rối vô cùng. Em Mai cứ luôn miệng hỏi khiến tôi nóng ruột quá. Nắng mùa xuân hừng hực trên đầu chúng tôi. Nắm chặt tay em, tôi dìu em về phía hàng áo.

Bỗng anh em tôi thấy từ các hàng áo ban nãy người ta xô nhau giãn lối. Người bán hàng tức giận đỏ mặt lên, hét lớn:

- Ăn cắp, ăn cắp! Gớm nhanh như chớp, vừa mới quay đi mà nó đã thó mất rồi.

Tôi hoảng hồn, mắt lơ láo tìm cha. Song cha tôi không có trong đám đông trước mặt. Em Mai khóc bù lu bù loa, dỗ mãi em mới nín. Trong khi đó, người bán hàng quai mồm ra chửi bới hết lời. Hắn dọa nếu tóm được cổ kẻ cắp, sẽ đánh róc xương. Tôi chờ, chờ gần xế trưa thì ngờ rằng cha tôi lo kiếm anh em tôi và chắc chắn, đợi anh em tôi ở nhà. Tôi lớn không sợ lạc nữa nên cha tôi cũng có thể về trước. Nghĩ vậy, Tôi trở lại nhà. Anh em tôi buồn thiu, thẫn thờ bước như hai đứa trẻ ăn mày.

Về nhà, mẹ tôi bảo cha tôi bị cảm đang nằm đắp chăn rên hừ hừ. Anh em tôi xúm tới hỏi han. Cha tôi nín thinh không đáp. Em Mai sợ cha phật ý nên không hỏi đến chuyện áo mới nữa. Cả buổi chiều hôm ấy, không khí gia đình tôi nặng nề, khó thở. Đến tối, cha tôi bớt sốt, cha gọi anh em tôi tới gần xoa đầu, nắm tay như thường lệ. Cha tôi nói mua áo xong thì cha tôi cảm thấy choáng váng mặt mày, quên mất chỗ anh em tôi chờ đợi. Rồi cha tôi cắm cổ chạy về. Nghe cha kể chuyện anh em tôi vui mừng, sung sướng. Em Mai tôi hỏi:

- Cha mua áo cho con rồi hở cha?
- Ừ, đây này.

Cha tôi lật chiếu đầu giường nhấc chiếc áo ra. Em Mai vồ lấy ướm thử. Em thay áo cũ mặc áo mới vào. Em khoe tôi:

- Đẹp không anh Hữu?
- Đẹp lắm.
- Đẹp không cha?

Em Mai chợt nhớ điều gì, khuôn mặt ngây thơ nhí nhảnh phút chốc thoáng buồn. Em nói:

- Áo anh Hữu rách lưng cha ạ!
- Để phiên sau cha mua.

Tôi vội nói:

- Áo con vá được, cha đừng mua tốn tiền.

Giữa lúc ấy, mẹ tôi ở dưới bếp bước lên, em Mai níu mẹ, nũng nịu:

- Cha mua áo cho con mẹ ạ!

Mẹ tôi ngạc nhiên hỏi cha tôi:

- Tiền đâu mà cha mua áo cho con?

Cha tôi thản nhiên:

- Vay của bác Cẩm sáng sớm nay.
- Bác Cẩm đi Thái Ninh từ hôm kia cơ mà!

Cha tôi lặng thinh. Mẹ tôi không hiểu gì cũng lặng thinh. Tôi nhìn cha tôi. Cha tôi nhìn mẹ con tôi. Mắt cha tôi long lanh. Bóng cha tôi gầy gò in hình trên bức tường vôi loang lở. Có ai ngờ cái thân thể gầy gò kia lại bọc nổi tình thương yêu rộng lớn như con ốc nhỏ thu gọn cả đại dương trong lòng mà vẫn câm nín. Câm nín suốt đời. Tôi muốn ôm cha tôi, muốn xé rách làn da ngực để được nói vào trái tim cao cả của cha tôi rằng “Cha ơi! Cha vì anh em con mà phải như thế… Con sẽ làm gì cho xứng đáng sự hy sinh đó của cha!” Nhưng làm sao mà nói? Cảm xúc đã nghẹn cả lời. Tôi òa lên khóc. Cha tôi giật mình hỏi:

- Sao con khóc?
- Con thương cha.
- Nín đi… để dành nước mắt chứ chú bé. Khóc nhiều hết thì sao?

Tôi chưa nín. Vì nghĩ tới suối sầu bắt nguồn từ túp lều tranh bên gốc chuối tiêu chảy róc rách, róc rách qua hồn anh em tôi. Suối sầu này còn chảy mãi. Và còn chảy, nước mắt còn rơi, không lo khô cạn.

Sau đấy, cha tôi bị ám ảnh bởi chiếc áo ăn cắp ngoài chợ, trừ tôi, không ai rõ, cha tôi đau ốm liên miên. Tuy nhiên, cha tôi vẫn vẽ bao ước mộng. Anh em tôi mong ngày tháng lụn dần, sang năm chóng đến. Song sang năm chưa kịp đến với nhà ngói ở tỉnh, với búp bê, với tàu thủy, với xe đạp thì cha tôi nhuốm bệnh thương hàn. Tôi cố nghiến răng giữ kín chuyện nên khi cha tôi chết cha tôi vẫn tưởng sự bí mật theo cha xuống lòng mộ.

Cha tôi chết, mẹ con tôi nheo nhóc bơ vơ. Mẹ tôi năm tháng ngồi đan nỗi buồn ở bến đò Đồng Đức. Anh em tôi nhìn đám trẻ thành thị rồi vội vàng cúi gầm mặt qua sân nhà ông ngoại, làm rơi mất tuổi thơ.

Duyên Anh

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Yoga và Nhậu

[flash width=480 height=385][/flash]

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

World Cup rạo rực khắp thế giới

Từ nước Đức nổi tiếng kỷ luật sắt đến Somalia, nơi người ta có thể bị giết chỉ vì xem bóng đá,
không gì có thể ngăn cản người hâm mộ hướng tới giải đấu thể thao lớn nhất hành tinh: World Cup.

Image
Một cổ động viên Argentina đội chiếc mặt nạ hình tiền đạo Lionel Messi trước trận Argentina gặp Hàn Quốc hôm qua tại sân vận động Soccer City, ở Johannesburg. Ảnh: AFP.



Trước khi World Cup khai mạc, Diego Maradona - "Cậu bé vàng" của bóng đá Argentina, người đang đảm nhiệm chức huấn luyện viên trưởng - thề sẽ khỏa thân và chạy trên đường phố Buenos Aires nếu đội tuyển nước này vô địch. Có vẻ như nhiều fan sẵn sàng tham dự cuộc chạy này sau chiến thắng 4-1 của Argentina trước Hàn Quốc hôm qua.

"Nếu Maradona chạy khỏa thân, tôi cũng sẽ làm thế. Tôi sẽ sơn mình màu xanh và trắng", Leonardo Munoz, đội một mái tóc giả xanh trắng, tuyên bố.

Argentina trải qua một thập kỷ bất ổn về chính trị, kinh tế. Họ cũng không giành được cúp vàng nào trong hơn 20 năm qua. Nhưng sau chiến thắng mới đây, người hâm mộ có thêm niềm tin rằng đội tuyển của họ sẽ đăng quang.

"Đây là một thời khắc quan trọng đối với Argentina, cả về chính trị và kinh tế, và giải đấu đã khiến mọi người khuây khỏa", Eva Garcia, 56 tuổi, chủ một tiệm giày, nói.

Daniel Roman đã xem trận đấu với 1.000 fan khác ở màn hình lớn tại khu thương mại Plaza San Martin. Anh cho rằng tình yêu bóng đá đã kết nối mọi người trong đất nước của anh hơn bất cứ thứ gì khác.

"Niềm đam mê này đã đem những người Argentina lại với nhau", Roman nói.

Tại Brazil, khoảng 10.000 người tập trung ở bờ biển Copacabana hôm 15/6 để theo dõi trận đấu với Bắc Triều Tiên. Brazil thắng sát sao 2-1. Họ uống bia, thổi kèn trên bãi biển.

"Đây là sự kết hợp giữa bóng đá và Carnival", Rodrigo Nobre, 26 tuổi, giải thích trong khi quần áo lấm lem đầy cát. "Chúng tôi đến với nhau, bỏ lại mọi lo lắng để cổ vũ cho đội tuyển quốc gia".

Brazil hiện vẫn giữ ngôi vương trong nền bóng đá thế giới với 5 lần vô địch World Cup và chưa bỏ lỡ một vòng chung kết nào. Đất nước của những vũ công sam ba sẽ đăng cai tổ chức World Cup kế tiếp, diễn ra vào 2014.

Trong khi đó, ở Somalia, tổ chức chiến binh đạo Hồi Hizbul cấm xem bóng đá ở khu vực mà nhóm này kiểm soát, phía trung và nam.

"Chúng tôi không muốn người của mình bị phân tâm vì mấy gã điên khùng chạy lên chạy xuống, đuổi theo một vật được bơm phồng", Sheik Mohamed Osman Arus, người đứng đầu tổ chức này, phát biểu. "Chúng tôi không muốn họ phí thời gian và của cải vào những trận bóng, đặc biệt là vào giờ cầu nguyện".

Hôm 12/6, thành viên của tổ chức này đột nhập vào một ngôi nhà ở gần thủ đô Mogadishu khi mọi người trong nhà đang xem trận đấu giữa Nigeria và Argentina. Hai người bị giết tại chỗ, 10 người khác bị bắt.

Nhiều fan bóng đá Somalia ở Mogadishu tạm thời chuyển đến những vùng khác của đất nước trong thời gian diễn ra World Cup. Một số người khác thì vẫn mạo hiểm tính mạng để xem bóng đá. Một người đàn ông sống tại một khu chợ của thành phố cho biết ông đã xem trận đấu giữa Algeria và Slovenia cùng gia đình tại nhà riêng. "Một mắt tôi nhìn lên TV còn mắt kia thì hướng ra cửa. Âm thanh được giảm xuống tối đa", ông cho biết.

Ở Mexico City, thủ đô Mexico, công chức đi những đôi giày đen bóng loáng đứng quanh một quầy bánh. Chủ tiệm ở đây đã đặt một chiếc TV ở gốc cây gần đó để phục vụ khách hàng xem trận Mexico gặp Pháp hôm qua (Mexico thắng 2-0).

Những người đàn ông đứng trên vỉa hè đầy nắp chai bia, vừa nhai bánh vừa dán mắt vào màn hình.

"Ôi lạy Chúa, không, không, không. Không dám xem cảnh này mất", Leticia Gonzalez, nhân viên tiệm bánh, hét lên trong một pha tấn công và suýt ghi bàn của đội Pháp.

Nhưng đứa con trai của cô là Eric, 11 tuổi, thì không hề tỏ ra lo lắng. Khi được hỏi liệu đội bóng nước cậu có thể tiến vào các vòng trong, cậu đáp lia lịa: "Có, có, có".
Image
Fan Mexico thổi kèn vuvuzela trước trận mở màn bảng A của World Cup 2010 giữa Pháp và Mexico
tại sân vận động Peter Mokaba, ở Polokwane. Ảnh: AFP.
Có lẽ không nước nào thay đổi nhiều như Iraq kể từ lần World Cup trước. Năm 2006, nước này vẫn chìm trong những cuộc chiến sắc tộc đẫm máu. Năm nay, khoảng 50 người đàn ông nằm ườn trên những chiếc ghế nhựa, hút thuốc và uống trà khi theo dõi trận Brazil tại một quán cafe ở trung tâm Baghdad.

Những máy phát điện làm việc tăng năng suất để chạy các TV và quạt điện trong khi thời tiết ban đêm lên tới 32 độ C. Có một lúc, tín hiệu vệ tinh bị nhiễu và mọi người mất 10 phút đầu của trận đấu. "Chúng tôi ngồi ôm đầu cho đến khi họ sửa xong", Ali Hatem, 24 tuổi, cười nói. "Nhưng cũng đáng, ở đây còn tốt hơn ngồi nhà không có điện".

4 năm trước, khi Iraq bị cuốn vào cuộc chiến sắc tộc, người dân thường tránh đến những nơi công cộng, do lo sợ bị đặt bom hoặc bị phục kích. "Mọi người giờ đây có thể thở nhẹ nhõm và theo dõi những chuyện xảy ra bên ngoài đất nước", Emad al-Zubaidi, 54 tuổi, nói.

Bạo lực ở Iraq đã giảm mạnh, dù vậy mối nguy hiểm vẫn còn với sự hiện diện của lực lượng an ninh đứng gác gần đó. "Không phải lo lắng", Hatem nói. "Một ngày nào đó Iraq sẽ có mặt tại World Cup, và hơn thế chúng tôi sẽ đăng cai nó".

Fan của Triều Tiên cuối cùng đã có cơ hội nhìn thấy đội nhà của họ ở World Cup lần đầu tiên trong vòng 44 năm. Tuy vậy, họ đã phải chờ gần một ngày sau khi trận đấu ra quân diễn ra.

Trận Triều Tiên gặp Brazil bắt đầu vào trưa hôm 15/6 giờ Nam Phi (3h30 sáng 16/6 ở Triều Tiên). Do đó đài truyền hình quốc gia nước này quyết định hoãn phát sóng đến giờ cao điểm là tối ngày 16.

Suốt trận đấu, hai bình luận viên của Triều Tiên chỉ đưa ra những lời bình luận khô cứng song họ không giấu được sự vui sướng khi một cầu thủ ghi bàn trong hiệp hai và nói rằng đội của họ chơi ngang cơ với Brazil. Nhóm thực khách buổi tối tại một nhà hàng của Bình Nhưỡng reo hò và vỗ tay khi Ji Yun Nam của Triều Tiên ghi bàn thắng duy nhất cho đội. (Triều Tiên chỉ thua Brazil 1-2).

Bán đảo Triều Tiên vốn đã chia rẽ sau cuộc chiến 1950-1953. Trong bối cảnh căng thẳng đang leo thang sau khi Seoul buộc tội Bình Nhưỡng đánh đắm tàu của họ, World Cup năm nay có một ý nghĩa đặc biệt: Đây là lần đầu tiên đội bóng của hai miền cùng có mặt trong một kỳ World Cup.

Tờ báo Choson Sinbo của Nhật đưa tin người Triều Tiên đã cổ vũ một cách nhiệt tình khi đội Hàn Quốc thắng Hy Lạp 2-0. Bên kia biên giới, cảnh sát Hàn Quốc ước tính 1,5 triệu fan trên toàn quốc đã tập trung ở các quảng trường, sân vận động trong trận đội nhà thua Argentina hôm qua.

Tiếng reo hò vang dội khắp Seoul, thành phố với hơn 10 triệu dân, khi Hàn Quốc ghi bàn thắng duy nhất. "Chúng tôi chỉ không gặp may", doanh nhân Kim Jong-hwan phát biểu. (Hàn Quốc thảm bại 1-4 trước Argentina)
Image
Một cổ động viên Hàn Quốc cười tươi trước trận mở đầu bảng B của World Cup giữa Hàn Quốc và Argentina hôm qua. Ảnh: AFP.
Ở Đức, đất nước nổi tiếng về sự chăm chỉ và kỷ luật làm việc, các ông chủ cũng đưa ra những ngoại lệ cho nhân viên trong mùa World Cup.

Một số công ty thuộc tập đoàn GRG Services cho biết họ sẽ để nhân viên xem trận bóng hôm nay giữa Đức và Serbia và thậm chí còn chiếu trận đấu trên màn hình treo trong phòng họp.

"Những ai không quan tâm bóng đá, tất nhiên, vẫn được hoan nghênh tiếp tục làm việc", Stephan Schwarz, đứng đầu GRG Services, phát biểu.

Thậm chí trường JFK danh tiếng của Berlin cũng tổ chức những tụ điểm cho sinh viên xem World Cup, miễn là họ hoàn thành bài tập.

Người dân Berlin còn có thể theo dõi các trận cầu trên hệ thống giao thông công cộng. Giới chức giao thông thủ đô Đức tuyên bố sẽ áp dụng đối với xe buýt và tàu điện ngầm, các trận bóng sẽ được chiếu trên các biển hiệu đặt tại bến xe buýt và nhà ga.

Hải Minh (theo AP)

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

California Sẽ Dẹp Bỏ Các Máy
Chụp Hình Đèn Đỏ ở Ngả Tư?


Tom Huỳnh, J.D.
Hôm 21 tháng Năm 2010 vừa qua, một hội đồng gồm 3 thẩm phán của tòa kháng cáo thuộc tòa án quận Cam (Orange County Superior Court, Appellate Division) tại miền Nam California vừa ra phán quyết hủy bỏ giấy phạt của một người lái xe đã bị tòa án giao thông xử là vi phạm luật giao thông vì bị máy thâu hình trong lúc vượt đèn đỏ tại một ngả tư trong thành phố Santa Ana (California v. Khaled – Case No. 30-2009-304893).

Theo hồ sơ tòa án thì hồi đầu tháng tám năm 2008, người lái xe trong vụ này nhận được một ticket từ sở cảnh sát Santa Ana vì đã chạy xe qua ngả tư trong lúc đèn đỏ và bị máy thâu được hình ảnh rõ ràng. Trong phiên tòa giao thông xét xử nội vụ, phía công tố đã xin chứng minh sự vi phạm của người lái xe bằng cách trình tòa những tấm hình chụp được bởi máy thâu hình cho thấy đương sự đang chạy xe qua ngả tư trong lúc đèn đỏ, cùng với tờ khai của một cảnh sát viên thành phố Santa Ana với mục đích hậu thuẩn cho việc đệ trình những tấm hình đó để làm chứng cớ vi phạm. Phía người lái xe đã phản đối việc đệ trình những tấm hình nói trên và tờ khai của người cảnh sát với lý do không đủ yếu tố pháp định để được xem là chứng cớ, và vi phạm quyền được đối chất của người bị giấy phạt. Tuy nhiên, tòa giao thông đã bác bỏ mọi phản đối của phía người lái xe, và chấp nhận các hình chụp và tờ khai của viên cảnh sát như là bằng chứng của sự vi phạm để kết tội người lái xe đã vượt đèn đỏ. Người lái xe sau đó đã làm thủ tục chống án lên tòa kháng cáo.

Và như đã đề cập bên trên, hội đồng thẩm phán của tòa kháng cáo quận Cam sau khi tái xét án lệnh của tòa giao thông, đã ra phán quyết hủy bỏ giấy phạt của người lái xe. Phán quyết của tòa kháng cáo được đưa ra với kết luận rằng trong phiên tòa giao thông xét xử nội vụ trước đó, những tấm hình chụp người lái xe chạy qua ngả tư trong lúc đèn đỏ và tờ khai của cảnh sát đã không hội đủ yếu tố pháp định để được xem là chứng cớ trình tòa, và tòa án giao thông vì vậy đã lạm quyền khi đồng ý chấp nhận các bằng chứng ấy trong phiên xử.

Với những lý giải và phân tích ghi trong bản phán quyết dài 10 trang được chứng thực cho phổ biến để dùng làm án lệ, hội đồng thẩm phán của tòa kháng cáo quận Cam nhận định rằng đã không có viên cảnh sát nào chứng kiến sự vi phạm của người lái xe. Thay vào đó, một cảnh sát viên của thành phố Santa Ana đã khai cách tổng quát tại phiên tòa giao thông về những gì mô tả và chứa đựng trong những tấm hình chụp từ máy thâu hình đặt tại một ngả tư trong thành phố. Một công ty tư nhân đã hợp đồng với thành phố để thiết đặt, bảo trì, và lưu trữ các hình ảnh này. Và những hình ảnh đó được gửi về ty cảnh sát theo định kỳ để xác định các trường hợp vi phạm.

Cũng theo nhận định của tòa kháng cáo, những tấm hình chụp người lái xe chạy qua ngả tư trong lúc đèn đỏ chứa đựng một hình thức chứng cớ do sự nghe thấy (hearsay evidence) về những gì đã mô tả trong hình, kể cả ngày giờ và các thông tin khác. Viên cảnh sát ra khai trước tòa đã không hội đủ tiêu chuẩn là một nhân chứng thích đáng, và không có đủ hiểu biết cần thiết về cách vận hành, bảo trì hay lưu trữ hồ sơ của công ty tư nhân đã thiết đặt máy thâu hình. Người chuyển tãi các thông tin ấy vào hệ thống điện toán của máy thâu hình đã không ra khai trước tòa giao thông. Người đó cũng đã không ra tòa để trả lời chất vấn của người lái xe về các thông tin liên hệ. Người bảo trì máy thâu hình cũng không ra khai trước tòa. Không có lời khai của người nào biết gì về lịch trình bảo quản máy thâu hình. Không có lời khai của người nào hiểu biết về lịch trình và cách thức phối kiểm hay điều chỉnh ngày giờ ghi trên máy thâu hình. Tòa kháng cáo đã đi đến kết luận rằng những tấm hình chụp người lái xe chạy qua ngả tư trong lúc đèn đỏ chỉ là chứng cớ nghe thấy, và không đủ tiêu chuẩn ngoại lệ theo luật bằng chứng để được chấp nhận trước tòa.

Do các hình chụp và tờ khai của cảnh sát đã không hội đủ yếu tố pháp định để được xem là chứng cớ trình tòa, hội đồng thẩm phán của tòa kháng cáo quận Cam xét thấy rằng tòa giao thông đã hoàn toàn không đủ chứng cớ cụ thể để hậu thuẩn cho sự vi phạm luật giao thông của người lái xe trong vụ này, và quyết định vô hiệu hóa án lệnh của tòa giao thông kèm theo lệnh hủy bỏ mọi sự truy tố.

Nói tóm lại một cách dễ hiểu thì từ trước đến nay mỗi khi người lái xe bị ticket vì vượt đèn đỏ và bị máy chụp hình, các tòa án giao thông đã dựa vào những tấm hình chụp được từ máy thâu hình để làm chứng cớ của sự vi phạm. Trong trường hợp vừa kể trên đây, người lái xe bị ticket đã làm thủ tục chống án sau khi một tòa giao thông tại quận Cam dùng những tấm hình chụp để làm bằng chứng kết tội đương sự đã vượt đèn đỏ. Kết cuộc là tòa kháng cáo quận Cam đã không đồng ý việc tòa giao thông trước đó đã chấp nhận sử dụng các tấm hình chụp để làm chứng cớ vi phạm người lái xe, và vì vậy mà ticket của đương sự phải được hủy bỏ.

Tại California trong những năm vừa qua, việc sử dụng những máy thâu hình ở các ngã tư do các công ty tư nhân thiết kế và bảo quản để ghi ticket cho người lái xe đã thường xuyên bị chỉ trích bởi các tòa kháng cáo vì có quá nhiều khiếm khuyết và vi phạm một số quy định của tiểu bang. Trong năm 2008 và 2009, tòa kháng cáo quận Cam cũng đã hai lần cho hủy ticket của người lái xe vì thành phố Santa Ana đã dời địa điểm máy thâu hình mà không cảnh báo 30 ngày trước theo đúng luật tiểu bang. Tháng 11 năm 2008, tòa kháng cáo quận Cam đã cho hủy bỏ ticket của một người lái xe tại thành phố Fullerton vì hợp đồng ký kết giữa thành phố với công ty tư nhân gắn máy thâu hình không hợp lệ theo quy định của tiểu bang (California v. Franco – Case No. 30-2008-9357). Tháng 3 năm 2009, tòa kháng cáo quận Sacramento đã ra án lệnh hủy ticket của một người lái xe vì xét thấy những tấm hình chụp không đủ khả tín để dùng làm bằng chứng vi phạm (California v. Graham – Case No. 2008049021). Gần đây, chánh quyền của vài thành phố tại California có gắn máy thâu hình vi phạm vượt đèn đỏ ở các ngã tư đã quyết định cho ngưng sử dụng hệ thống này. Có thành phố như Anaheim trong quận Cam mặc dầu chưa bao giờ dùng máy thâu hình để ghi ticket giao thông, còn dự định sẽ ra luật vĩnh viễn không cho phép sử dụng các máy này trong tương lai. Hiện nay tại California có khoảng 60 thành phố đang dùng hệ thống chụp hình xe vượt đèn đỏ ở ngả tư, và tổng số tiền phạt của một ticket khi bị chụp hình đã lên đến gần $500.

Nhìn chung, phán quyết vừa kể trên đây của tòa kháng cáo quận Cam đã tạo nên câu hỏi rất quan trọng về sự hợp lệ trong cách xét xử những trường hợp vi phạm vượt đèn đỏ bị thâu hình bởi máy đặt tại các ngả tư trong một số thành phố, và từ đó có thể dẫn đến sự chấm dứt toàn bộ việc sử dụng hệ thống chụp hình này tại tiểu bang California. Trong những ngày trước mắt, phán quyết này cũng sẽ thành một án lệ mà người lái xe bị chụp hình lúc vượt đèn đỏ ở ngả tư trong các thành phố thuộc quận Cam Cali, có thể dựa vào đó để yêu cầu tòa giao thông cho hủy ticket.

Muốn nhận được toàn văn bản phán quyết của hội đồng thẩm phán tòa kháng cáo quận Cam liên quan đến nội vụ trên đây để làm tài liệu tham khảo, hoặc cần biết thêm chi tiết trong vấn đề này, có thể liên lạc với tác giả qua điện thoại số (949) 943-4396.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Phẩm chất cuộc sống

Trần Bình Nam

Image
Một khu phố ở Queens, New York. (Hình: Getty Images)

“...Tổ chức xã hội càng máy móc tinh vi, sự thúc bách của cuộc sống càng mạnh, luật lệ ràng buộc càng nhiều, con người càng đánh mất bản chất nguyên thủy ‘nhân chi sơ tánh bản thiện’ và trở nên ít quan tâm đến đồng loại...”

Hôm 11 tháng 5 năm 2010 một bài báo do bà Tina Susman, phóng viên của tờ New York Times thuật lại chuyện một thanh niên tên là Hugo Alfredo Tale-Yax, 31 tuổi gốc Guatemala nằm chết bên lề đường ở quận Queens thuộc thành phố New York.

Chuyện xảy ra ngày 18 tháng 4 năm 2010. Theo tường trình của cảnh sát, ông Hugo Alfredo Tale-Yax từ nước Guatemala, Trung Mỹ di cư đến Hoa Kỳ cách đây 6 năm. Hôm 18 tháng 4 đang lang thang ngoài phố Queens trong một khu của người lao động ở có nhiều người qua lại, Tale-Yax thấy một người phụ nữ (không rõ gốc gác) và một người đàn ông cãi vã nhau. Máy ghi tự động trên đường phố (được thiết đặt sau vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001) ghi người phụ nữ tóc nâu dài, mặc váy ngắn và một áo khoác ngắn có tay. Người đàn ông mặc sơ mi ngắn tay đầu đội một chiếc nón loại vải mềm không vành. Khi thấy người đàn ông hành hung người phụ nữ Hugo Tale-Yax nhảy vào bênh vực và bị người đàn ông dùng dao đâm vào ngực. Tale-Yax gục xuống trước cổng một cư xá.

Người đàn bà cũng như người đàn ông đâm Tale-Yax biến mất. Người ta nghi ngờ giữa 3 ba người có một quan hệ nào đó và câu chuyện còn nhiều khúc mắc, cảnh sát New York đang điều tra.

Nhưng phần câu chuyện cả thế giới biết và bàn tán là chuyện ông Hugo Alfredo Tale-Yax bị thương nằm ôm ngực đầy máu rên rỉ hơn một giờ đồng hồ tại một góc phố đông đúc mà không một ai đoái hoài giúp đỡ. Máy ghi hình cho thấy có người đứng lại nhìn, có người lấy điện thoại cầm tay ra chụp hình, có người đến vỗ nhẹ vào vai Tale-Yax, lật người nhận diện thấy vết thương rồi bỏ đi. Chín mươi phút sau, khi xe cứu thương đến thì Hugo Alfredo Tale-Yax đã chết.

Vụ này xảy ra đúng 13 ngày trước ngày 1 tháng 5, khi Faisal Shahzad, một tên khủng bố người Mỹ gốc Pakistan định đặt bom tại Time Squares trong khu Manhattan. Vụ nổ bom bất thành nhờ một người bán hàng rong nghi ngờ báo cho cảnh sát.

Tòa lãnh sự Guatemala đã yêu cầu giữ xác Hugo Alfredo Tale-Yax ở nhà quàn khi cảnh sát đang điều tra, và giúp thân nhân của nạn nhân trả chi phí tổ chức một buổi thăm viếng quan tài Tale-Yax trong 6 giờ vào ngày 28 tháng 4 để những ai quan tâm có thể đến quan sát.

Xác Hugo được đặt trong một quan tài để mở với dòng chữ “Descance en Paz” (Yên Giấc Ngàn Thu) trang nghiêm. Nhiều người Mỹ không quen biết đã thân hành đến nơi chào Hugo lần cuối.

Bà Rosa Akidil, cư dân thành phố New York, thắc mắc một cách đơn giản: “Người phụ nữ đó bây giờ ở đâu? Có thể bà ấy không còn sống đến giờ này nếu không có người đàn ông này can thiệp và chết thay!”

Ông Kevin Dotson cũng dân New York triết lý: “Cứ mỗi người đi qua nơi Hugo Alfredo Tale-Yax đang hấp hối mà không phản ứng gì là lòng nhân đạo của con người đối với con người bị tổn thương thêm một chút”.

Và Mục Sư Luis Fernandez giận dữ: “Chúng ta đến đây để làm việc”. Ông nhắc đến luật di cư bang Arizona vừa ban hành có tính chất kỳ thị người gốc Nam Mỹ và đang là một đề tài sôi nổi toàn quốc và một số hành động kỳ thị trước đây tại thành phố New York và kết luận: “Qua lăng kính của Phoenix (thủ đô bang Arizona), người dân ở đây xem Hugo là một tội phạm chứ không phải một con người”.

Người nước ngoài tự hỏi tại sao ở thành phố New York, nơi có một hệ thống kiểm soát an toàn đường phố chu đáo nhất, một việc như vậy có thể xảy ra. Mỗi góc đường đều có bảng viết và máy phóng thanh nhắc nhở người đi đường báo cáo cho cảnh sát mọi sự bất thường trên đường phố.

Và vụ Hugo Alfredo Tale-Yax làm người ta nhớ đến vụ cô Kitty Genovese năm 1964. Cô Genovese 25 tuổi bị hiếp dâm và bị đâm chết ngay trên đường phố của quận Queens. Cô kêu cứu, nhiều người nghe nhưng không ai can thiệp hay gọi cảnh sát giùm. Vụ này gây sôi nổi và một số nhà tâm lý tại các đại học đã mở nhiều cuộc nghiên cứu tìm hiểu sao con người New York có thể vô cảm như vậy.

Nhưng có phải người Mỹ hay con người thành phố New York vô cảm không? Hay còn có những nguyên nhân sâu xa khác?

Bác Sĩ Paul Fink, giáo sư tâm thần tại đại học Temple ở Philadelphia và từng là chủ tịch của Hiệp Hội Bác Sĩ Tâm Thần của Hoa Kỳ nói rằng khi con người không cảm thấy mình bị đe dọa trực tiếp người ta không bị thúc bách hành động. Và chuyện vô cảm đối với cô Genovese hay với Hugo Alfredo Tale-Yax có thể xảy ra ở đâu chứ không riêng gì ở New York.

Nhiều người đến tiễn biệt Hugo thành thật nói rằng khi tự hỏi mình phản ứng như thế nào nếu đã thấy Hugo Alfredo Tale-Yax nằm trên vỉa hè thành phố hôm đó nói họ cũng có thể bỏ đi vì nghĩ có phần chắc Hugo là một kẻ vô gia cư (homeless).

Hugo Alfredo Tale-Yax thuộc một gia đình khá giả tại Guatemala gồm 7 anh chị em, 5 trai 2 gái và bằng cách này cách khác, hợp pháp và không hợp pháp đã lần lượt di cư đến Hoa Kỳ. Byron, 24 tuổi, em của Hugo Alfredo Tale-Yax nói chúng tôi cũng như nhiều người trên thế giới đã đi tìm đất hứa.

Sau vụ cô Genovese năm 1964, không biết các cuộc nghiên cứu dẫn đến kết luận gì, tôi không có tài liệu để thuật lại. Nhưng có hai điều để chúng ta quan tâm.

Tháng 6 năm 1978 nhà văn Nga Solzhenitsin sau 4 năm tị nạn tại Hoa Kỳ, ông được mời đọc diễn văn tại Ðại Học Harvard. Ông miêu tả lối sống xuống dốc của con người trong cả hai khung xã hội Ðông Tây, đặc biệt tại Tây phương. Ông nhận xét luật lệ xã hội phức tạp máy móc làm cho con người không thể sống với nhau bằng trái tim một cách tự nhiên.

Thứ hai, con người càng thắng thiên nhiên để cung cấp cho mình một đời sống đầy đủ tiện nghi con người hủy hoại môi trường sống trong khi tinh thần trở nên căng thẳng vì mối lo vật chất. Con người bỗng nhiên thấy phẩm chất cuộc sống mất dần.

Qua câu chuyện cô Genovese năm 1964 và Hugo Alfredo Tale-Yax đều xảy ra tại New York Hoa Kỳ, nếu người ta nghĩ người Mỹ hay đặc biệt người dân sống ở thành phố New York là vô cảm thì không có gì nhầm lẫn hơn.

Sự vô cảm là sản phẩm của con người và do con người. Nó có bất cứ ở đâu trên trái đất nếu có cùng điều kiện. Tại sao chúng ta hay nghe nói nhiều ở Mỹ mà ít khi nghe thấy ở nơi khác? Chỉ vì Hoa Kỳ có một trình độ vật chất và luật lệ ràng buộc phức tạp tròng tréo hơn các nước khác. Ðơn giản chỉ là vậy.

Tổ chức xã hội càng máy móc tinh vi, sự thúc bách của cuộc sống càng mạnh, luật lệ ràng buộc càng nhiều, con người càng đánh mất bản chất nguyên thủy “nhân chi sơ tánh bản thiện” và trở nên ít quan tâm đến đồng loại.

Trên đường phố New York người dân Mỹ có quá nhiều lo âu thúc bách về cuộc sống. Họ không có thì giờ, và nói như Bác Sĩ Fink họ chỉ còn phản ứng tự vệ chứ không còn phản ứng bênh vực người khác. Luật lệ phức tạp cho họ biết rằng nếu thông báo cho cảnh sát họ sẽ được mời ra tòa ngày này qua ngày khác để làm chứng và ảnh hưởng đến sự làm ăn sinh sống của họ.

Hủy hoại cuộc sống tinh thần, hủy hoại khung cảnh thiên nhiên là cái giá của đời sống văn minh vật chất. Và sự tìm về với đời sống nguyên thủy là một nhu cầu.

Ðiều này giải thích hiện tượng hình thành những môn pháp tu hành đặc biệt như nhóm Mục Sư James Jones (đưa gần 1,000 con chiên sang sống biệt lập theo sách vở tẩy não tại Guana, Nam Mỹ, và sau khi giết một dân biểu Quốc Hội Hoa Kỳ sang điều tra, Mục Sư Jones thuyết phục tất cả 912 con chiên uống thuốc độc pha chế bằng cyanide tự sát tập thể ngày 18 tháng 11 năm 1978). Hiện tượng môn phái mục sư Sun Myung Moon hoạt động tại Hoa Kỳ thập niên 1970 và 80 với những lễ cưới tập thể cho tín đồ của ông. Và nó giải thích hiện tượng Vô Thượng Sư Thanh Hải trong cộng đồng người Việt. Nhiều bác sĩ, kỹ sư thành công từ bỏ cuộc sống gia đình lên đường theo chân Cô vô điều kiện. Họ chịu hết nổi áp lực của vật chất và luật lệ xã hội nên theo Thầy, theo Cô để mưu tìm một đời sống tâm linh thoải mái.

Cho nên câu chuyện của Hugo Alfredo Tale-Yax không phải chỉ xẩy ra tại đường phố New York. Nó có thể xẩy ra bất cứ nơi nào Âu hay Á nếu có cùng điều kiện sống của xã hội Hoa Kỳ. Ðoạn phim 90 phút ghi hình ảnh bao nhiêu người qua kẻ lại bên cạnh thân mình rỉ máu chờ chết của Hugo Alfredo Tale-Yax một cách vô cảm là tiếng chuông báo động chung cho nhân loại, không phải chỉ riêng cho cư dân thành phố New York.

Như một người phu đi đẵn cây, con người phấn khởi đi vào rừng vừa phá rừng vừa hưởng bao nhiêu hoa thơm cỏ lạ của rừng. Cho đến khi đẵn quá nhiều, đi quá xa, ngoài cảnh vật hoang tàn con người còn gặp thú dữ chờ chực bên gốc cây hay trong bụi rậm.

Cảm thấy mối nguy muốn ra nhưng không biết có còn nhớ đường về!

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Image

Đại Dương Trong Lòng Con Ốc Nhỏ

Bến đò Đồng Đức càng ngày càng nhiều khách tới lui. Bây giờ không còn mùa đông mưa phùn rây mờ sông nước, không còn họ hàng lũ ruồi nhặng sợ rét, lười biếng đâu trên sợi dây lòng thòng để treo chuối, treo ngãn bám vào liếp, vào tường tròn ba tháng rét mướt đìu hiu. Dân thành phố tản cư về đồng ruộng. Họ mang theo niềm vui và cuộc sống mới mẻ khiến quê ngoại nhà tôi tấp nập, ồn ào. Nằm nghe tiếng chim cu gáy buổi trưa, tôi cảm thấy bớt buồn tẻ. Kỷ niệm tràn lụt đầu óc tôi bằng những bộ mặt sáng sủa, những điệu cười hồn nhiên của đám trẻ nhỏ thành thị trạc tuổi em Mai. Tôi nghĩ, giá anh em tôi không phải sống hẩm hiu ở quê ngoại thì lúc này đây, chúng tôi cũng biết tung tăng dắt tay nhau chuyện trò dưới ánh trăng đồng nội. Chứ đâu chịu lạc lõng trong đêm tối, nhìn bóng mẹ gầy yếu run rẩy cơ hồ chiếc lá sắp lìa cành. Bất giác, tôi nhớ cha tôi và nước mắt phủ mờ…

Mẹ tôi bảo thoạt tiên cha tôi đánh đàn thập lục cho ban hát cải lương lưu động. Dạo ấy danh từ nghệ sĩ còn xa lạ nên ông bầu coi cha tôi ngang chức anh lao công. Làm việc từ tám giờ tối tới hai giờ khuya. Tiền thù lao dè xẻng mới đủ nuôi một vợ, một con. Trong gánh hát, cha bị bạn đồng nghiệp chê bai tài đàn non nớt hay tâu hót với ông bầu vài điều lầm lẫn của cha tôi. Thì cha tôi hậm hực nguyền rủa thói đời đen bạc. Chán rồi, cha tôi trách ông phó Nhị. Giá ông phó truyền đủ ngón trứ danh, chắn chắn sự nghiệp cha tôi đỡ méo mó. Tôi cố mường tượng cái cảnh hậu trường sân khấu giữa mùa hè nóng nực, cha tôi cởi trần biểu diễn tài nghệ, dìu điệu ca cho đào kép ngọt giọng. Mồ hôi, có khi cả nước mắt, rơi rụng trên mười sáu sợi tơ đồng đổi miếng cơm hẩm manh áo thô. Về sau có lần giận đời, cha tôi đập đàn giải nghệ.

Khi tôi hiểu biết, thấy đời cha tôi lẩn quẩn trong hai câu thơ của bài hát nói cha tôi khai bút nhân dịp năm mới: “Ông Lái thuốc bắt đầu, ông Phó, ông Ký, ông Chủ, ông Thầu, ông Lang… ” Mỗi chuỗi nghề nghiệp quàng vào cổ cha tôi. Lên voi xuống chó, xuống chó lên voi… Tội nghiệp cha tôi, người còn chút tâm hồn để không nỡ gọi tài đánh đàn là nghề kiếm cơm.

Từ ông lái thuốc bắc đến ông lang băm chế thuốc cao đan hoàn tán. Chao ôi, tôi phải viết thế nào đây cho thật linh động từng cảnh cha tôi ngồi chế thuốc cam bằng thuyền gang, ngồi thái thuốc sống bằng dao cầu, ngồi xao thuốc bổ bằng nồi rang đất và hoàn và viên thuốc tễ? Làm sao ai chứa chất được trọn vẹn ngần kia mẫu đời. Thế mà cha tôi, trời ơi! Tôi muốn làm một khán giả vô tư nhỏ lệ tiếc thương gã nghệ sĩ sinh nhầm xứ sở.

Có bận túng bấn quá, cha mẹ tôi phải chia nhau mỗi người một chợ đem thuốc hoàn, thuốc tán trị các bệnh cam sài thai đẹn, ho hen, giun sán ra bày ngổn ngang trên manh chiếu hẹp dưới quán chợ. Mẹ tôi bán quanh quẩn mấy chợ gần miền bể như chợ Tiểu Hoàng… Sáng sớm mẹ đi, xế chiều mẹ về săn sóc anh em tôi. Còn cha tôi xách chiếc va ly lớn lễ mễ sang mãi tận Thần đầu, Thần huống. Cha tôi đi hàng tuần mới trở lại, nói là vừa bán thuốc vừa thăm dò xem bên sông Trà Lý có dễ kiếm ăn thì cho gia đình sang.

Những chuyến cha tôi vắng nhà, mẹ tôi xuôi ngược tần tảo, anh em tôi nương bóng nhau cầu nguyện. Nghe mẹ tôi bảo sóng sông Trà dữ tợn. “Sóng cửa Trà, mà cửa Hộ”, em Mai chỉ sợ phà đắm.Tôi dỗ dành em tôi rằng cha tôi sống tới tám mươi tuổi để xem anh em tôi khôn lớn. Em Mai thường khóc tỏ vẻ lo ngại. Khốn nạn, cha mẹ tôi nghèo nàn, còn tình thương mến nhưng tình thương mến không nuôi sống được con nên muốn con no lành đã phải xa con, cực nhọc. Tôi cứ nghĩ đến lúc cha mẹ tôi ngồi dọn hàng khi chợ chiều tan vắng. Ánh nắng vàng vọt quê mùa chiếu vào khuôn mặt thê thảm vì nhớ con, vì ế hàng của cha tôi chắc đau thương lắm.

Ít tháng sau cha tôi bỏ nghề lang thuốc. Cha tôi sắm ít dụng cụ chữa xe đạp. Người ta đặt tên mới cho cha tôi: ông Phó. Cha tôi sửa chữa, lau dầu, vá chín, vá sống săm lốp xe đạp, xe tay. Nếu ai cần tô điểm xe mình thì cha tôi cũng biết sơn xì, sơn hấp, mạ kền bằng… ngân nhũ. Nhiều lần nhìn cha tôi nghiến răng vặn cái ốc lâu ngày thiếu dầu mỡ, lòng tôi thắt lại. Tay cha tôi mạch máu nổi bật, chằng chịt. Có khi “lắc lê” nhờn, tuột mạnh bật tay ra. Cha tôi mất đà, chúi về một bên. Thường thường, tay cha tôi bị xước da, máu chảy ri rỉ. Cha tôi mải mê công việc không để ý, đưa tay vuốt mấy sợi tóc lòa xòa trên trán. Máu ở vết thương được dịp hòa với mồ hôi… Nhưng cha tôi nín lặng không kêu ca, không than vãn, không kể lể với vợ con. Sự nín lặng đó tôi đã khổ tâm học hỏi song tôi thấy tôi thất vọng. Vì, cho tới ngày nay, hễ gặp bất cứ con rắn độc cuộc đời nào, dù lớn dù nhỏ, cắn đau hay cắn hụt, tôi vẫn thích tìm người băng bó hộ.

Tò mò, tôi hỏi cha tôi học nghề sửa xe bao giờ, cha tôi mỉm cười: “Cái khó sinh ra cái không con ạ!”. Tôi nghi ngờ rồi phỏng chừng cha tôi học lỏm hay cha đã từng làm thợ phụ cơm nhà việc người. Lại thêm hình ảnh thui chột của chú “học nghề” nữa!

Hồi gia đình tôi ở Hà Nội về Thái Bình rồi dọn xuống miền bể, em Mai bé bỏng nên em chưa cảm được nỗi buồn biển động cuối mùa đông. Dường như, bể giận dữ tận ngoài khơi bãi Đồng Châu. Tiếng gầm gừ vọng tới nghe ghê rợn. Cha tôi khởi nghiệp chữa xe tại đây, tại ngã ba chợ huyện Tiền Hải, dưới gốc cây gạo to lớn, sù sì, gai góc. Những buổi chiều rét mướt, cha tôi ngồi co ro khâu mép lốp đứt “tanh” hay phồng mang trợn mắt thổi than hồng trong lò máy vá chín. Cha tôi nhặt nhạnh từ năm hào bơm thuê cho anh phu xe tay, chẳng nề hà việc dầu mỡ. Bởi vậy, cả sau lúc ngưng làm để vuốt ve anh em tôi, tay cha tôi, dẫu rửa sà phòng, vẫn còn đầy vết dầu lem luốc. Em Mai hay kéo đôi tay cha tôi đùa bỡn:

- Tay cha tôi đen như nhọ nồi.

Cha tôi cười:

- Trắng như bông mà con dám bảo đen. À, đố con biết tại sao tay phải cha dài hơn tay trái?

- Con chịu.

- Tại tay phải cha vặn “lắc lê”. Cha vặn mạnh quá nên xương nó giãn ra.

Em Mai ngớ ngẩn:

- Con không thích tay phải cha dài đâu, cha làm cho nó ngắn bằng tay trái đi cha. Có được không hở, cha?

Cha tôi suy nghĩ giây lát, đoạn vỗ về em:

- Khó gì, rồi cha bỏ vặn “lắc lê” thì nó hết dài.

Tôi thương cha tôi, dĩ nhiên, nhưng thương bao nhiêu mới vừa? Cha tôi ít nói. Chắc chắn nỗi ray rứt vì mẹ con nheo nhóc ám ảnh cha tôi, làm cha tôi uất nghẹn: sự uất nghẹn của người không câm song không nói được. Dạo ấy, gạo kém, mẹ tôi phải chạy vay đong từng bữa một. Thoạt đầu, sáng ăn cầm dạ, chiều ăn no. Sau, sáng cha mẹ tôi nhịn chỉ thổi niêu nhỏ cho anh em tôi. Em Mai ăn xong còn thòm thèm. Cha tôi nhìn em, mắt đỏ ngầu. Mẹ tôi chạy vội xuống bếp. Tôi thương hại em, tập nhịn để em được ăn nhiều. Hôm thứ nhất, em bảo tôi:

- Sao anh không ăn?

Tôi nói dối:

- Tại anh đau bụng.

Em tôi tưởng thật:

- Thế em để phần anh vậy nhé?

Tôi cười xua tay:

- Đau bụng ăn cơm nguội thế nào được. Em ăn đi, ăn nhiều chóng lớn.

Hôm thứ hai, tôi cũng bỏ bữa sáng ân huệ của con nhà nghèo. Em tôi hỏi han vớ vẩn. Tôi phải trả lời tôi ăn sáng với em thì trưa ăn mất ngon. Nghĩ sao, em tôi giận tôi, em chẳng thèm ăn nữa. Em bắt chước nhịn đến trưa. Mẹ tôi mắng em. Em khóc, em kêu đau bụng. Như thế, em tôi hiểu chuyện rồi. Em tôi rủ tôi ra đường cái, ghé sát vào tai tôi thì thầm:

- Thật anh nhỉ, ăn bữa sáng, trưa ăn mất ngon.

Chúng tôi nhìn nhau. Chua xót. May mắn là tình cảnh ăn đong thiếu thốn rất ngắn ngủi. Gạo dần dần hơn. Nhà tôi lại tiếp tục hai bữa no nê. Đấy là những câu chuyện buồn của gia đình tôi. Nhưng chuyện khiến tôi nhớ mãi là chuyện sau đây:

Hôm cha tôi đang đánh nháp miếng lốp nổ thì một bà sang trọng tới gần. Bà ta nhìn cha tôi lúc lâu rồi mới ngại ngần hỏi:

- Bác làm ơn chỉ giùm tôi ông lang…

Bà ta quên tên ông lang. Cha tôi ngừng tay, lễ phép nói:

- Thưa bà, bà cho biết tên ông lang là gì ạ?

Móc trong túi mảnh giấy nhỏ ghi bút chì lờ mờ, bà ta lẩm nhẩm đọc:

- Ông Mai Viên bác phó ạ! Bà bạn tôi mách rằng ông Mai Viên chữa bệnh giỏi. Tôi từ phủ Kiến Xương xuống xin ông cái đơn. Bà bạn tôi trước là chỗ quen thân ông Mai Viên.

Như cái lò xo, cha tôi đứng thẳng dậy, trịnh trọng giới thiệu tựa hồ anh hề trên sân khấu giây phút sắp mở màn.

- Thưa bà… tôi là Mai Viên…

Bà khách lạ tròn xoe mắt. Bây giờ, cha tôi mới kịp để ý cái hình hài tiều tụy của lão phó chữa xe đạp dưới gốc cây gạo ngã ba chợ huyện Tiền Hải. Quần đùi đen, áo sơ mi ngắn tay nham nhở dầu mỡ mồ hôi. Chân tay sần sùi, thô lỗ… Còn giữ được đôi mắt, vầng trán rộng. Nhưng xấu hổ quá, tê tái quá, đôi mắt vội mờ đi và vầng trán lâm râm những giọt mồ hôi, những giọt mồ hôi tình cờ toát ra một buổi trời lạnh nhất. Cha tôi cúi xuống, nói rất nhỏ:

- Thưa bà tôi giải nghệ… lang thuốc rồi. Song nếu bà…

Cha tôi muốn nói thêm “nếu bà bỏ qua hình ảnh bác thợ chữa xe thì tôi sẵn lòng tiếp bà”. Khốn nỗi, dù đã từng phen trầy trụa với cuộc đời, cha tôi vẫn tự ái để cứu vãn chút liêm sĩ tuy chẳng cần cứu vãn. Bà khách hình như cảm thông sự lên bổng xuống trầm của kiếp người, bà ta ngượng ngùng mãi mới thốt gọn ba tiếng “xin lỗi ông”. Cha tôi mời bà ta vào nhà.

- Bà ở phủ Kiến chắc quen gia đình ông Phán Lâm?
- Thưa ông, bà Phán chỉ đường tôi mới rõ, chứ dễ chi.
- Trước kia…
- Vâng ạ! Bà Phán đã nói nhiều về ông. Tôi xin lỗi ông lần nữa vì cử chỉ vô lễ ban nãy.

- Thưa bà không hề gì ạ! Bà đừng bận tâm.

Cha tôi kê tặng bà khách ấy đơn thuốc bổ theo đúng lời viết quảng dán tường ngày xưa “xem mạch kê đơn không lấy tiền”. Khi về, bà khách rút tiền cho tôi. Tôi từ chối, bỏ chạy mất. Đêm ấy, dưới ánh đèn dầu lạc tẩm bấc thắp đĩa, đêm dầy đặc, suy tư. Tôi nghe từng hơi thở dài sầu hận của cha tôi. Bất giác, tôi òa lên khóc khiến em Mai cũng khóc. Cha tôi xoa đầu anh em tôi an ủi:

- Nín ngay con, rồi các con sẽ sung sướng.

Tôi gục đầu xuống đùi cha tôi, ôm chầm lấy thân thể gầy yếu, ôm chầm lấy tấm lòng thương mến bao la mà rên xiết.

- Cha ơi! Con thương cha.

Giọng cha tôi tha thiết, bao giờ cha tôi cũng tha thiết với vợ con:

- Thương cha thì ngủ đi, sau này đừng giống cha nhé con, giống cha khổ lắm. Nhất nghệ tinh con ạ!

Nhưng anh em tôi không ngủ. Ngọn đèn gió thổi tắt rồi. Căn nhà tối om. Anh em tôi ngồi sát nhau hơn. Chúng tôi cùng im lặng nhìn ngày mai bằng bốn con mắt mờ lệ trong đêm vắng. Khổ thân em tôi, lớn dần để xem cuộc đời cha xuống dốc thảm hại. Em tôi nắm chặt lấy tay tôi như thầm nhủ, như trao gửi niềm tin. Tôi nghe rõ tiếng nước nhỏ giọt xuống chiếu.

Một sớm tháng hai, hoa gạo nở đỏ ối và bắt đầu rụng. Cha tôi vẫn co ro ngồi dưới gốc cây. Trên đầu cha tôi đủ các loài chim thi nhau ca inh ỏi. Chợt một con bậy bạ trúng giữa mái tóc cha tôi trắng xóa. Cha tôi nhìn lên xem có phải phân quạ. Vì nếu phân quạ sẽ gặp niềm rủi ro. Khốn nạn, cha tôi vừa ngẩng mặt nhìn lên thì chiếc hoa gạo to hơn nắm tay rơi giữa mặt. May mắn, cuống hoa ngược chiều nên những cánh hoa nát bét trên khuôn mặt của cha tôi như thể cha tôi bị đạn bắn vỡ mặt. Anh em tôi chạy lại quỳ xuống, cuống quít:

- Cha có đau không hở, cha?
- Cha có mở được mắt không?

Cha tôi nói:

- Đau gì mà đau, cái hoa đó mà…

Giọng em Mai run run:

- Con thấy nó kêu đánh “bốp”. Chắc cha đau, cha nói dối. Con thì con khóc rồi. Cha đau thật hở, cha?

- Cái hoa nhẹ như bấc thì đau nỗi gì. Cha chỉ đau vì…

Tôi hỏi gặng:

- Vì sao cơ ạ?
- Vì… các con khổ sở!

Cha tôi rươm rướm nước mắt. Anh em tôi cúi đầu.

Mặc dù bé bỏng, anh em tôi cũng nhận ra hình ảnh cuộc đời cha tôi. Một hình ảnh bằng bao nhiêu hình ảnh nham nhở khắc khoải, què quặt. Tôi cầm tay cha tôi, nói nhỏ:

- Con sung sướng chứ có khổ đâu?

Em Mai cũng hối hả:

- Con chả khổ gì cha ạ!

Cha tôi mỉm cười gượng gạo:

- Các con nói dối.

Tôi nắm chặt tay cha tôi hơn:

- Lúc nào gần cha mẹ là các con sung sướng rồi.

Em Mai ôm đầu cha thủ thỉ:

- Con yêu cha.
- Yêu cha thì phải chăm học các con nhé, Hữu nhé! Nhất nghệ tinh…

Luôn luôn cha tôi nói “nhất nghệ tinh”… Tôi nhìn cha tôi, thấy má bên trái con dính chút máu hoa gạo. Đưa vạt áo lau sạch vết nhơ ấy, tôi giục:

- Cha vào gội đầu kẻo bẩn.
- Điềm may đấy con ạ! Hoa rơi là sang năm cha con mình giàu. Cha sẽ tậu nhà ngói trên tỉnh, con có cái xe đạp nhỏ đi học.

- Thế mẹ con?
- Mẹ con thì.. Ờ, ờ, khó nghĩ quá. Con chọn quà biếu mẹ xem nào.
- Mẹ con thôi bán xôi chè này, mẹ Ở nhà khâu vá quần áo với lại kể chuyện ma này. Cha cho tiền con mua cái tráp đựng trầu biếu mẹ con nhá! Em Mai muốn mua biếu mẹ xâu tràng hạt để mẹ niệm Phật cha ạ!

- Ừ, ừ con muốn gì cũng được.

- Em Mai có búp bê, có ô tô, có tàu thủy, có nhiều thứ lắm. Em Mai không phải chơi đồ chơi bằng vỏ hến, nút chai…

Em tôi thích chí cười hớn hở. Đôi má núm đồng tiền xinh xinh tệ. Em làm nũng:

- Áo con rách rồi, cha mua áo cho con trước nhất cha nhé.

Cha tôi bỗng giật mình. Đôi mắt đang sáng rực mộng ước, phút chốc mờ đi, buồn. Cha tôi ngắm anh em tôi rồi khẽ gật đầu nói nhỏ:

- Ừ, mai cha mua áo cho con.

Hôm sau, nhằm ngày phiên chợ, cha tôi bỏ việc dẫn anh em tôi đi mua áo. Chợ phiên đông đúc, cha con dắt díu nhau chỉ sợ lạc. Qua hàng nước dừa, cha tôi cho mỗi đứa uống một cốc nhỏ năm hào. Hết quán này, quán khác mà chẳng thấy cha tôi nhắc chuyện áo làm em Mai thấp thỏm. Mãi cha tôi mới kéo anh em tôi đến hàng quần áo may sẵn có vô số người xúm lại mặc cả. Anh em tôi len lọt được vào. Em Mai nhìn những chiếc áo cánh trắng rồi nhặt vài chiếc để ướm thử. Mắt em long lanh nhưng cha tôi thì nét mặt tự nhiên tái chợt, đôi tay run run cơ hồ như sốt rét. Cha tôi hỏi giá, người bán trả lời. Thêm thêm bớt bớt chán chê, rốt cuộc, cha tôi không dám nhất định vì sợ hớ. Em tôi trống ngực đánh thình thịch, nửa mừng nửa lo. Tôi biết giá có manh áo kia, em tôi hả hê vô vàn. “Già được bát canh, trẻ manh áo mới” mà. Cha tôi cũng biết thế, song người bán hàng chẳng thèm biết. Cha tôi đứng tần ngần. Tôi phỏng chừng cha tôi thiếu tiền.

Vuốt mái tóc em Mai, cha tôi an ủi:

- Hai anh em ra kia chờ cha nhé! Ra kia kẻo nó bắt bí. Thế nào cha cũng mua cho con.

Em tôi nuốt nước bọt ừng ực. Cha tôi đưa chúng tôi khuất khỏi hàng quần áo. Dặn dò xong, cha vội vàng đi. Trông theo cha, lòng tôi bâng khuâng tê tái. Anh em tôi đợi hàng nửa giờ mà cha tôi vẫn chưa trở lại. Chợ càng đông, tiếng ồn ào huyên náo. Anh em tôi không nghe rõ nữa. Tâm hồn em Mai hướng về manh áo, còn tâm hồn tôi thì không hiểu vì sao bối rối vô cùng. Em Mai cứ luôn miệng hỏi khiến tôi nóng ruột quá. Nắng mùa xuân hừng hực trên đầu chúng tôi. Nắm chặt tay em, tôi dìu em về phía hàng áo.

Bỗng anh em tôi thấy từ các hàng áo ban nãy người ta xô nhau giãn lối. Người bán hàng tức giận đỏ mặt lên, hét lớn:

- Ăn cắp, ăn cắp! Gớm nhanh như chớp, vừa mới quay đi mà nó đã thó mất rồi.

Tôi hoảng hồn, mắt lơ láo tìm cha. Song cha tôi không có trong đám đông trước mặt. Em Mai khóc bù lu bù loa, dỗ mãi em mới nín. Trong khi đó, người bán hàng quai mồm ra chửi bới hết lời. Hắn dọa nếu tóm được cổ kẻ cắp, sẽ đánh róc xương. Tôi chờ, chờ gần xế trưa thì ngờ rằng cha tôi lo kiếm anh em tôi và chắc chắn, đợi anh em tôi ở nhà. Tôi lớn không sợ lạc nữa nên cha tôi cũng có thể về trước. Nghĩ vậy, Tôi trở lại nhà. Anh em tôi buồn thiu, thẫn thờ bước như hai đứa trẻ ăn mày.

Về nhà, mẹ tôi bảo cha tôi bị cảm đang nằm đắp chăn rên hừ hừ. Anh em tôi xúm tới hỏi han. Cha tôi nín thinh không đáp. Em Mai sợ cha phật ý nên không hỏi đến chuyện áo mới nữa. Cả buổi chiều hôm ấy, không khí gia đình tôi nặng nề, khó thở. Đến tối, cha tôi bớt sốt, cha gọi anh em tôi tới gần xoa đầu, nắm tay như thường lệ. Cha tôi nói mua áo xong thì cha tôi cảm thấy choáng váng mặt mày, quên mất chỗ anh em tôi chờ đợi. Rồi cha tôi cắm cổ chạy về. Nghe cha kể chuyện anh em tôi vui mừng, sung sướng. Em Mai tôi hỏi:

- Cha mua áo cho con rồi hở cha?
- Ừ, đây này.

Cha tôi lật chiếu đầu giường nhấc chiếc áo ra. Em Mai vồ lấy ướm thử. Em thay áo cũ mặc áo mới vào. Em khoe tôi:

- Đẹp không anh Hữu?
- Đẹp lắm.
- Đẹp không cha?

Em Mai chợt nhớ điều gì, khuôn mặt ngây thơ nhí nhảnh phút chốc thoáng buồn. Em nói:

- Áo anh Hữu rách lưng cha ạ!
- Để phiên sau cha mua.

Tôi vội nói:

- Áo con vá được, cha đừng mua tốn tiền.

Giữa lúc ấy, mẹ tôi ở dưới bếp bước lên, em Mai níu mẹ, nũng nịu:

- Cha mua áo cho con mẹ ạ!

Mẹ tôi ngạc nhiên hỏi cha tôi:

- Tiền đâu mà cha mua áo cho con?

Cha tôi thản nhiên:

- Vay của bác Cẩm sáng sớm nay.
- Bác Cẩm đi Thái Ninh từ hôm kia cơ mà!

Cha tôi lặng thinh. Mẹ tôi không hiểu gì cũng lặng thinh. Tôi nhìn cha tôi. Cha tôi nhìn mẹ con tôi. Mắt cha tôi long lanh. Bóng cha tôi gầy gò in hình trên bức tường vôi loang lở. Có ai ngờ cái thân thể gầy gò kia lại bọc nổi tình thương yêu rộng lớn như con ốc nhỏ thu gọn cả đại dương trong lòng mà vẫn câm nín. Câm nín suốt đời. Tôi muốn ôm cha tôi, muốn xé rách làn da ngực để được nói vào trái tim cao cả của cha tôi rằng “Cha ơi! Cha vì anh em con mà phải như thế… Con sẽ làm gì cho xứng đáng sự hy sinh đó của cha!” Nhưng làm sao mà nói? Cảm xúc đã nghẹn cả lời. Tôi òa lên khóc. Cha tôi giật mình hỏi:

- Sao con khóc?
- Con thương cha.
- Nín đi… để dành nước mắt chứ chú bé. Khóc nhiều hết thì sao?

Tôi chưa nín. Vì nghĩ tới suối sầu bắt nguồn từ túp lều tranh bên gốc chuối tiêu chảy róc rách, róc rách qua hồn anh em tôi. Suối sầu này còn chảy mãi. Và còn chảy, nước mắt còn rơi, không lo khô cạn.

Sau đấy, cha tôi bị ám ảnh bởi chiếc áo ăn cắp ngoài chợ, trừ tôi, không ai rõ, cha tôi đau ốm liên miên. Tuy nhiên, cha tôi vẫn vẽ bao ước mộng. Anh em tôi mong ngày tháng lụn dần, sang năm chóng đến. Song sang năm chưa kịp đến với nhà ngói ở tỉnh, với búp bê, với tàu thủy, với xe đạp thì cha tôi nhuốm bệnh thương hàn. Tôi cố nghiến răng giữ kín chuyện nên khi cha tôi chết cha tôi vẫn tưởng sự bí mật theo cha xuống lòng mộ.

Cha tôi chết, mẹ con tôi nheo nhóc bơ vơ. Mẹ tôi năm tháng ngồi đan nỗi buồn ở bến đò Đồng Đức. Anh em tôi nhìn đám trẻ thành thị rồi vội vàng cúi gầm mặt qua sân nhà ông ngoại, làm rơi mất tuổi thơ.

Duyên Anh

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Nụ hôn nổi tiếng nhất lịch sử, qua đời
LOS ANGELES (AFP) - Người nữ y tá xuất hiện trong tấm hình vốn trở thành biểu tượng của Thế Chiến Thứ Hai, trong đó bà đang hôn thắm thiết một thủy thủ, vừa mới qua đời, cái chết này được gia đình xác nhận hôm Thứ Tư.

Edith Shain, 92 tuổi, từ trần tại nhà riêng ở Los Angeles hôm Chủ Nhật, sáu mươi lăm năm sau ngày bà ôm hôn say đắm một lính thủy, để mừng Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt. Bức hình này trở thành một trong những bức hình nổi tiếng nhất trong lịch sử.
Image
Bà Edith Shain đứng ở Time Squares, New York, lúc 86 tuổi vào năm 2005, cầm bức hình lịch sử mà mình chính là người nữ y tá,
phía sau là bức tượng mô phỏng theo trong hình. (Hình: Mario Tama/Getty Images)
Ngày 14 tháng 8, 1945, bà Shain còn là một sinh viên ngành y tá ở New York, đúng vào lúc hệ thống truyền thanh loan tin quân Nhật đầu hàng.

Bà hồi tưởng lại, ngay sau khi nghe tin ấy, bà tìm ra Times Square để cùng ăn mừng với mọi người. Tại đây bà để mặc cho một người đàn ông trong quân phục hải quân choàng tay qua người, ôm vật xuống để hôn. Giây phút ấy được nhiếp ảnh gia Alfred Eisenstadt ghi nhận được, và liền sau đó xuất hiện trên tạp chí Life.

Ông Eisenstadt về sau nhớ lại tấm hình mà ông chụp được, rằng lúc ấy ông nhìn thấy một người thủy thủ đi lẫn trong đám đông, gặp ai hôn được là hôn ngay.

Ông Eisenstadt nói, “Phụ nữ nào anh ta cũng chộp lấy và hôn cả, già trẻ đều không chừa một ai.

“Thế rồi tôi chú ý đến một nữ y tá, đứng nổi bật giữa đám đông. Tôi lấy tầm nhắm trước và ngay lúc tôi còn đang nuôi hy vọng thì người lính thủy bước đến, chộp lấy cô, vật người ra sau và hôn. Thử nghĩ nếu cô này không là y tá, và nếu cô ta mặc màu sẫm thì chắc hẳn tôi không lấy được bức hình vừa ý.

“Sự tương phản giữa bộ đồ trắng của cô với bộ đồng phục màu sẫm của người thủy thủ, mang lại tác động mạnh hơn cho tấm hình.”

Trong suốt nhiều năm, bà Shain giữ bí mật danh tính cho đến khi liên lạc được với ông Eisenstadt vào cuối thập niên 70, để tiết lộ về chính mình. Danh tính của người lính thủy đến nay vẫn chưa được rõ.

Mặc dù qua nhiều năm, có biết bao phụ nữ khác tự nhận mình là người phụ nữ trong bộ đồ y tá ấy, nhưng chỉ có bà Shain là người được ông Eisenstadt nhận ra mặc dù sau nhiều thập niên. Bà Shain sau đó tham dự các cuộc diễn hành ở Manhattan, đánh dấu 50 năm và 60 năm ngày chiến thắng V-J Day của Thế Chiến Thứ Hai.

Bà Shain làm giáo viên trường mẫu giáo trong suốt 30 năm và làm y tá trực đêm trước khi về hưu ở Los Angeles. (TP)

Post Reply