Bình Luận Thời Sự
G-20 và bên lề
Ngô Nhân Dụng
Sau hội nghị G20 ở London, Tổng Thống Barack Obama sẽ tới Praha, thủ đô Cộng Hòa Tiệp để họp với các đồng minh ở Âu Châu. Sau khi nói chuyện kinh tế ở nước Anh, các nhà lãnh đạo Mỹ và Âu Châu sẽ bàn vấn đề an ninh ở một nước nhỏ nằm giữa hai “vùng ảnh hưởng” của Nga và Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương, cho chuyến du hành đầu tiên của ông tổng thống Mỹ mới đầy đủ.
Tuy được quảng cáo rầm rộ, nhưng kết quả của Hội Nghị G20 chỉ có 1,100 tỷ đô la do Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và các ngân hàng quốc tế sẽ đem cho vay; ngoài ra là những điều thỏa thuận đại cương đã được mọi người dự đoán. Lời kêu gọi các chính phủ tăng chi tiêu để kích thích kinh tế mà chính phủ Mỹ đưa ra đã không được nhắc tới; mặc dù các “đồng minh kinh tế” của Mỹ là Nhật Bản và Trung Quốc đều sẽ làm đúng như điều mà ông Obama cùng vị bộ trưởng tài chánh của ông vẫn hô hào.
Ngược lại, Pháp và Ðức được hài lòng, Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy và Thủ Tướng Ðức Angela Merkel đều tuyên bố “thắng lợi” khi bản thông cáo chung nêu lên những điều mà họ cương quyết đòi hỏi là tăng cường các luật lệ kiểm soát hệ thống tài chánh quốc tế: Mở rộng việc áp dụng các luật lệ về tiền vốn tối thiểu để kiểm tra các quỹ đầu tư loại “đối trọng” (hedge funds) mà xưa nay không ai ngó tới; tăng việc giám sát các công ty tài chánh không phải ngân hàng; đặt luật lệ kiểm tra các công ty thẩm lượng tín dụng (credit rating) xưa nay vẫn làm công việc cho điểm các ngân hàng và các công ty; và hỗ trợ tổ chức OECD (trụ sở đặt tại Pháp) bài trừ những “đảo trốn thuế” của những người giầu ở các nước giầu. Hai nhà lãnh đạo Ðức và Pháp đã bầy tỏ cho cả thế giới thấy họ đoàn kết với nhau ra sao, trước ngày họp hội nghị; ông Sarkozy còn dọa sẽ bỏ ra về nếu các đòi hỏi trên không được chú ý (Ông dùng hình ảnh “chiếc ghế trống” giống như Tướng De Gaule năm xưa không đến họp khối NATO, chiếc ghế được bỏ trống).
Nhưng các thắng lợi của ông Sarkozy và bà Merkel cũng giống như người ta đẩy được một cánh cửa đã mở sẵn. Vì hầu như tất cả mọi người có trách nhiệm tại các thị trường tài chánh, trong lãnh vực tư cũng như trong chính quyền, ở Mỹ và khắp các nước, ai cũng thấy là phải làm tất cả những điều mà các nhà lãnh đạo hai nước lớn nhất Âu Châu đã đòi hỏi. Các công ty thẩm lượng tín dụng lâu nay vẫn nghiên cứu rồi cho điểm A, B, C trên các trái khoán, tức là những giấy nợ của các công ty, các ngân hàng, hoặc các chính phủ, họ đã nhắm mắt suốt mấy năm nên cho điểm cao những “trái khoán nhiễm độc” đang tác hại trên các ngân hàng Mỹ. Một nguyên nhân là gần đây chính các nhà phát hành trái khoán lại là người thuê và trả công cho những người thẩm lượng trái khoán của họ. Chẳng khác gì một nước để cho các người tập lái xe đi thuê ông giám khảo chấm coi mình có đậu bằng lái xe hay không! Ai cũng đồng ý là tình trạng đó phải chấm dứt, không cần ông Sarkozy và bà Merkel lên tiếng yêu cầu.
Các quỹ đối trọng nhiều tiền quá, di chuyển tiền từ nước này sang nước khác dễ dàng quá, nhiều khi đầu tư liều lĩnh, lắm lúc chỉ đầu cơ ngắn hạn kiềm lời, ai cũng thấy phải khép họ vào vòng kỷ luật chặt chẽ hơn. Các nước nhỏ (thường ở các hòn đảo) cho lập ngân hàng dễ dãi và đánh thuế nhẹ để thu hút giới tư bản hoàn cầu tới bỏ vốn, nhưng được giữ kín mà không nêu danh; các đảo quốc này có thể trở thành những ổ trốn thuế vĩ đại, ai cũng thấy cần kiềm hãm.
Nhưng một điều không ai nhắc ông Sarkozy và bà Merkel là cơn khủng hoảng tín dụng từ năm 2007 cho đến hiện nay hoàn toàn không phải vì các quỹ đối trọng cũng như các hòn đảo trốn thuế gây ra. Mà hội nghị G20 họp mấy bữa nay là để đối phó với cơn khủng hoảng đó. Nhìn kỹ lại, ai cũng đồng ý là cuộc khủng hoảng bắt đầu từ các hành động liều lĩnh của chính các ngân hàng, trên nguyên tắc ngân hàng là những định chế đã được chính quyền các nước kiểm soát bằng luật lệ rất chặt chẽ. Cứ nhìn danh sách những ngân hàng ở Mỹ, hãng bảo hiểm AIG, và hai đại công ty tài chánh Fannie và Freddie chuyên về địa ốc, đó toàn những cơ sở đáng lẽ ra phải “an toàn” vì nằm trong vòng luật lệ của chính phủ cả. Chính những luật lệ và các định chế kiểm soát các ngân hàng phải được tăng cường. Nhưng ai cũng biết một hội nghị G20, gồm 19 nhà lãnh đạo các quốc gia cộng thêm tổ chức Liên hiệp Âu châu (EU) trong một ngày không thể nào bàn được chuyện phải kiểm soát các ngân hàng chặt chẽ hơn như thế nào. Các chuyên viên về tài chánh và về luật pháp sẽ phải làm việc hàng năm, hoặc nhiều năm, mới có đủ ý kiến, mà chưa chắc các nước đã thỏa thuận được với nhau.
Cho nên Tổng Thống Sarkozy và Thủ Tướng Merkel phải vui mừng tuyên bố thắng lợi với những lời hứa hẹn rất tổng quát. Người hoan hỉ nhất sau hội nghị có lẽ là Thủ Tướng Anh Quốc Gordon Brown. Ông đã dành rất nhiều thời giờ đi gặp gỡ, tham khảo, cổ động, làm trung gian tìm thỏa hiệp giữa các nước có ý kiến đối nghịch (đi dây giữa Mỹ và Ðức-Pháp mặc dù lập trường Anh giống Mỹ như hệt), nhiều người đùa rằng bây giờ ông Brown đang đóng vai bộ trưởng tài chánh của cả thế giới. Nay ông có thể tuyên bố là hội nghị đã thành công. Pháp và Ðức không lầu bầu nữa. Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào đã tự ý kích thích kinh tế giống như Mỹ vậy, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế sẽ đóng vai trò bơm tiền vào các nước với 750 tỷ, trong đó các nước nghèo cũng được khoảng 5 tỷ đô la. Trung Quốc sẽ giúp nền ngoại thương nhiều nước nhỏ bằng cách cho vay, chắc chắn là sẽ dễ dãi cho những nước nào mua hàng của họ vay tiền, dù có hội nghị này hay không. Một thắng lợi khác mà ông Brown có thể kể lại khi viết hồi ký sau này, là hai ông Obama và Medvedev đã gặp nhau ở London, và đã có những bước đầu thỏa thuận về giảm bớt vũ khí hạt nhân.
Ðây là một chuyện chẳng ăn thua gì với khủng hoảng kinh tế và hội nghị G20 cả. Nhưng ông Barack Obama có thể sẽ kiếm được điểm tốt với dân chúng Mỹ, qua công việc bên lề hội nghị này. Chứng tỏ rằng chưa tới 100 ngày sau khi nhận sở làm ở Tòa Bạch Ốc, ông tổng thống mới đã đặt nền móng cho những nước cờ ngoại giao sắp tới.
Hai ông tổng thống Mỹ và Nga đã đồng ý mỗi nước sẽ giảm bớt một phần ba số vũ khí hạt nhân trong kho. Hiệp Ước Giảm Vũ Khí Chiến Lược (viết tắt là START) sẽ hết hiệu lực vào năm tới, và hai nước sẽ phải ký một hiệp ước mới. Trong hàng chục năm qua, hai nước không nói chuyện được với nhau vì không khí căng thẳng bởi các chuyện bên ngoài: Mỹ muốn mở rộng khối NATO cho các nước “chư hầu cũ” của Liên Xô gia nhập; và Nga thì cố xác định ảnh hưởng của mình trên các nước đó. Năm 2002 Mỹ và Nga đã thỏa thuận sẽ giảm số đầu đạn nguyên tử xuống chỉ còn 2,200 (Mỹ) và 1,700 (Nga).
Trong cuộc gặp gỡ ngày Thứ Tư ở London, Medvedev và Obama đã đồng ý sẽ giảm nữa, xuống chỉ còn mỗi bên 1,500; đồng thời sẽ tăng cường việc giám sát. Hai bên vẫn lên lớp nhau như cũ, Nga không muốn NATO mở rộng đến biên thùy của họ, còn Mỹ nhất định không công nhận các vùng ly khai khỏi Cộng Hòa Georgia do quân Nga hỗ trợ. Vẫn dùng lối nói như khi đi tranh cử, ông Obama bảo ông Medvedev rằng khái niệm “vùng ảnh hưởng” của Nga đã lỗi thời, không còn thích hợp với thế kỷ 21.
Tuy hiệp ước Start từ đầu chỉ liên quan đến hai nước Nga và Mỹ, nhưng việc hai ông tổng thống bàn với nhau chuyện này có thể được đưa lên thành một thông điệp gửi cho các nước khác, đặc biệt là Bắc Hàn và Iran.
Ông Obama có thể gửi một lời nhắn tới hai nước có tham vọng làm bom nguyên tử (Bắc Hàn đã có rồi, Iran đang luyện) là các chính phủ Mỹ và Nga đang giảm bớt vũ khí hạt nhân, và trong tương lai, có thể đi tới việc hủy bỏ tất cả các vũ khí hạt nhân, nếu tất cả các nước đều đồng ý. Như vậy thì những nước nhỏ không có lý do gì làm thêm bom nguyên tử, nhất là một nước để hàng triệu dân chết đói như Bắc Hàn.
Trong khi chờ đợi tiến tới việc hủy bỏ vũ khí hạt nhân, chính phủ Mỹ có thể đề nghị Nga cùng ngưng luyện các chất có thể làm bom hạt nhân. Ðây là một ý kiến đã được nhiều nhà chính trị lão thành cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ ở Mỹ nêu lên trong hai năm qua, có thể kể tên các cựu Bộ Trưởng George Shultz và Henry Kissinger (Cộng Hòa), William Perry (Dân Chủ). Nước Mỹ sẽ bớt tốn tiền mà không sợ thiệt hại nếu Nga qua mặt.
Trong khi tới Praha, Cộng Hòa Tiệp, ông Barack Obama có thể sẽ đưa ra những ý kiến hòa dịu với Nga để thúc đẩy tới những thỏa hiệp khác sau cuộc gặp gỡ với ông Medvedev. Vì ai cũng biết ông tổng thống Nga không phải người quyết định, phải ngỏ lời sao cho ông Thủ Tướng Putin cũng được nghe, sau khi ông Medvedev về báo cáo. Một trở ngại là nước Nga sẽ bị thiệt khi hủy bỏ hết vũ khí hạt nhân. Vì hiện nay lực lượng quân sự không hạt nhân của Nga rất yếu, không đủ tiền; bỏ bom hạt nhân đi thì không còn ai sợ Nga nữa.
Nhưng thời kỳ cần tích trữ bom hạt nhân đã hết rồi. Trước đây, Mỹ theo chủ thuyết MAD (mutually assurred destruction), hai bên cùng tận diệt nếu tấn công nhau bằng bom nguyên tử, vì không bên nào đủ sức hủy diệt hết kho vũ khí nguyên tử của bên kia. Chủ thuyết MAD chỉ có giá trị khi Mỹ, hoặc Nga, biết “địa chỉ” của người đánh mình bằng bom nguyên tử, để gửi bom trả lại. Bây giờ mối lo bom nguyên tử có thể nằm ở những tổ chức khủng bố, không có địa chỉ rõ ràng, nhưng có đủ tiền để mua bom nguyên tử trong thị trường chợ đen!
Cho nên con đường phải tiến tới là kiểm soát tất cả việc tinh luyện uranium hay plutonium có thể biến thành bom nguyên tử. Và trong công việc này, Mỹ cần Nga hợp tác, việc ký kết lại hiệp ước Start là một bước đầu.
Ngô Nhân Dụng
Sau hội nghị G20 ở London, Tổng Thống Barack Obama sẽ tới Praha, thủ đô Cộng Hòa Tiệp để họp với các đồng minh ở Âu Châu. Sau khi nói chuyện kinh tế ở nước Anh, các nhà lãnh đạo Mỹ và Âu Châu sẽ bàn vấn đề an ninh ở một nước nhỏ nằm giữa hai “vùng ảnh hưởng” của Nga và Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương, cho chuyến du hành đầu tiên của ông tổng thống Mỹ mới đầy đủ.
Tuy được quảng cáo rầm rộ, nhưng kết quả của Hội Nghị G20 chỉ có 1,100 tỷ đô la do Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế và các ngân hàng quốc tế sẽ đem cho vay; ngoài ra là những điều thỏa thuận đại cương đã được mọi người dự đoán. Lời kêu gọi các chính phủ tăng chi tiêu để kích thích kinh tế mà chính phủ Mỹ đưa ra đã không được nhắc tới; mặc dù các “đồng minh kinh tế” của Mỹ là Nhật Bản và Trung Quốc đều sẽ làm đúng như điều mà ông Obama cùng vị bộ trưởng tài chánh của ông vẫn hô hào.
Ngược lại, Pháp và Ðức được hài lòng, Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy và Thủ Tướng Ðức Angela Merkel đều tuyên bố “thắng lợi” khi bản thông cáo chung nêu lên những điều mà họ cương quyết đòi hỏi là tăng cường các luật lệ kiểm soát hệ thống tài chánh quốc tế: Mở rộng việc áp dụng các luật lệ về tiền vốn tối thiểu để kiểm tra các quỹ đầu tư loại “đối trọng” (hedge funds) mà xưa nay không ai ngó tới; tăng việc giám sát các công ty tài chánh không phải ngân hàng; đặt luật lệ kiểm tra các công ty thẩm lượng tín dụng (credit rating) xưa nay vẫn làm công việc cho điểm các ngân hàng và các công ty; và hỗ trợ tổ chức OECD (trụ sở đặt tại Pháp) bài trừ những “đảo trốn thuế” của những người giầu ở các nước giầu. Hai nhà lãnh đạo Ðức và Pháp đã bầy tỏ cho cả thế giới thấy họ đoàn kết với nhau ra sao, trước ngày họp hội nghị; ông Sarkozy còn dọa sẽ bỏ ra về nếu các đòi hỏi trên không được chú ý (Ông dùng hình ảnh “chiếc ghế trống” giống như Tướng De Gaule năm xưa không đến họp khối NATO, chiếc ghế được bỏ trống).
Nhưng các thắng lợi của ông Sarkozy và bà Merkel cũng giống như người ta đẩy được một cánh cửa đã mở sẵn. Vì hầu như tất cả mọi người có trách nhiệm tại các thị trường tài chánh, trong lãnh vực tư cũng như trong chính quyền, ở Mỹ và khắp các nước, ai cũng thấy là phải làm tất cả những điều mà các nhà lãnh đạo hai nước lớn nhất Âu Châu đã đòi hỏi. Các công ty thẩm lượng tín dụng lâu nay vẫn nghiên cứu rồi cho điểm A, B, C trên các trái khoán, tức là những giấy nợ của các công ty, các ngân hàng, hoặc các chính phủ, họ đã nhắm mắt suốt mấy năm nên cho điểm cao những “trái khoán nhiễm độc” đang tác hại trên các ngân hàng Mỹ. Một nguyên nhân là gần đây chính các nhà phát hành trái khoán lại là người thuê và trả công cho những người thẩm lượng trái khoán của họ. Chẳng khác gì một nước để cho các người tập lái xe đi thuê ông giám khảo chấm coi mình có đậu bằng lái xe hay không! Ai cũng đồng ý là tình trạng đó phải chấm dứt, không cần ông Sarkozy và bà Merkel lên tiếng yêu cầu.
Các quỹ đối trọng nhiều tiền quá, di chuyển tiền từ nước này sang nước khác dễ dàng quá, nhiều khi đầu tư liều lĩnh, lắm lúc chỉ đầu cơ ngắn hạn kiềm lời, ai cũng thấy phải khép họ vào vòng kỷ luật chặt chẽ hơn. Các nước nhỏ (thường ở các hòn đảo) cho lập ngân hàng dễ dãi và đánh thuế nhẹ để thu hút giới tư bản hoàn cầu tới bỏ vốn, nhưng được giữ kín mà không nêu danh; các đảo quốc này có thể trở thành những ổ trốn thuế vĩ đại, ai cũng thấy cần kiềm hãm.
Nhưng một điều không ai nhắc ông Sarkozy và bà Merkel là cơn khủng hoảng tín dụng từ năm 2007 cho đến hiện nay hoàn toàn không phải vì các quỹ đối trọng cũng như các hòn đảo trốn thuế gây ra. Mà hội nghị G20 họp mấy bữa nay là để đối phó với cơn khủng hoảng đó. Nhìn kỹ lại, ai cũng đồng ý là cuộc khủng hoảng bắt đầu từ các hành động liều lĩnh của chính các ngân hàng, trên nguyên tắc ngân hàng là những định chế đã được chính quyền các nước kiểm soát bằng luật lệ rất chặt chẽ. Cứ nhìn danh sách những ngân hàng ở Mỹ, hãng bảo hiểm AIG, và hai đại công ty tài chánh Fannie và Freddie chuyên về địa ốc, đó toàn những cơ sở đáng lẽ ra phải “an toàn” vì nằm trong vòng luật lệ của chính phủ cả. Chính những luật lệ và các định chế kiểm soát các ngân hàng phải được tăng cường. Nhưng ai cũng biết một hội nghị G20, gồm 19 nhà lãnh đạo các quốc gia cộng thêm tổ chức Liên hiệp Âu châu (EU) trong một ngày không thể nào bàn được chuyện phải kiểm soát các ngân hàng chặt chẽ hơn như thế nào. Các chuyên viên về tài chánh và về luật pháp sẽ phải làm việc hàng năm, hoặc nhiều năm, mới có đủ ý kiến, mà chưa chắc các nước đã thỏa thuận được với nhau.
Cho nên Tổng Thống Sarkozy và Thủ Tướng Merkel phải vui mừng tuyên bố thắng lợi với những lời hứa hẹn rất tổng quát. Người hoan hỉ nhất sau hội nghị có lẽ là Thủ Tướng Anh Quốc Gordon Brown. Ông đã dành rất nhiều thời giờ đi gặp gỡ, tham khảo, cổ động, làm trung gian tìm thỏa hiệp giữa các nước có ý kiến đối nghịch (đi dây giữa Mỹ và Ðức-Pháp mặc dù lập trường Anh giống Mỹ như hệt), nhiều người đùa rằng bây giờ ông Brown đang đóng vai bộ trưởng tài chánh của cả thế giới. Nay ông có thể tuyên bố là hội nghị đã thành công. Pháp và Ðức không lầu bầu nữa. Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào đã tự ý kích thích kinh tế giống như Mỹ vậy, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế sẽ đóng vai trò bơm tiền vào các nước với 750 tỷ, trong đó các nước nghèo cũng được khoảng 5 tỷ đô la. Trung Quốc sẽ giúp nền ngoại thương nhiều nước nhỏ bằng cách cho vay, chắc chắn là sẽ dễ dãi cho những nước nào mua hàng của họ vay tiền, dù có hội nghị này hay không. Một thắng lợi khác mà ông Brown có thể kể lại khi viết hồi ký sau này, là hai ông Obama và Medvedev đã gặp nhau ở London, và đã có những bước đầu thỏa thuận về giảm bớt vũ khí hạt nhân.
Ðây là một chuyện chẳng ăn thua gì với khủng hoảng kinh tế và hội nghị G20 cả. Nhưng ông Barack Obama có thể sẽ kiếm được điểm tốt với dân chúng Mỹ, qua công việc bên lề hội nghị này. Chứng tỏ rằng chưa tới 100 ngày sau khi nhận sở làm ở Tòa Bạch Ốc, ông tổng thống mới đã đặt nền móng cho những nước cờ ngoại giao sắp tới.
Hai ông tổng thống Mỹ và Nga đã đồng ý mỗi nước sẽ giảm bớt một phần ba số vũ khí hạt nhân trong kho. Hiệp Ước Giảm Vũ Khí Chiến Lược (viết tắt là START) sẽ hết hiệu lực vào năm tới, và hai nước sẽ phải ký một hiệp ước mới. Trong hàng chục năm qua, hai nước không nói chuyện được với nhau vì không khí căng thẳng bởi các chuyện bên ngoài: Mỹ muốn mở rộng khối NATO cho các nước “chư hầu cũ” của Liên Xô gia nhập; và Nga thì cố xác định ảnh hưởng của mình trên các nước đó. Năm 2002 Mỹ và Nga đã thỏa thuận sẽ giảm số đầu đạn nguyên tử xuống chỉ còn 2,200 (Mỹ) và 1,700 (Nga).
Trong cuộc gặp gỡ ngày Thứ Tư ở London, Medvedev và Obama đã đồng ý sẽ giảm nữa, xuống chỉ còn mỗi bên 1,500; đồng thời sẽ tăng cường việc giám sát. Hai bên vẫn lên lớp nhau như cũ, Nga không muốn NATO mở rộng đến biên thùy của họ, còn Mỹ nhất định không công nhận các vùng ly khai khỏi Cộng Hòa Georgia do quân Nga hỗ trợ. Vẫn dùng lối nói như khi đi tranh cử, ông Obama bảo ông Medvedev rằng khái niệm “vùng ảnh hưởng” của Nga đã lỗi thời, không còn thích hợp với thế kỷ 21.
Tuy hiệp ước Start từ đầu chỉ liên quan đến hai nước Nga và Mỹ, nhưng việc hai ông tổng thống bàn với nhau chuyện này có thể được đưa lên thành một thông điệp gửi cho các nước khác, đặc biệt là Bắc Hàn và Iran.
Ông Obama có thể gửi một lời nhắn tới hai nước có tham vọng làm bom nguyên tử (Bắc Hàn đã có rồi, Iran đang luyện) là các chính phủ Mỹ và Nga đang giảm bớt vũ khí hạt nhân, và trong tương lai, có thể đi tới việc hủy bỏ tất cả các vũ khí hạt nhân, nếu tất cả các nước đều đồng ý. Như vậy thì những nước nhỏ không có lý do gì làm thêm bom nguyên tử, nhất là một nước để hàng triệu dân chết đói như Bắc Hàn.
Trong khi chờ đợi tiến tới việc hủy bỏ vũ khí hạt nhân, chính phủ Mỹ có thể đề nghị Nga cùng ngưng luyện các chất có thể làm bom hạt nhân. Ðây là một ý kiến đã được nhiều nhà chính trị lão thành cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ ở Mỹ nêu lên trong hai năm qua, có thể kể tên các cựu Bộ Trưởng George Shultz và Henry Kissinger (Cộng Hòa), William Perry (Dân Chủ). Nước Mỹ sẽ bớt tốn tiền mà không sợ thiệt hại nếu Nga qua mặt.
Trong khi tới Praha, Cộng Hòa Tiệp, ông Barack Obama có thể sẽ đưa ra những ý kiến hòa dịu với Nga để thúc đẩy tới những thỏa hiệp khác sau cuộc gặp gỡ với ông Medvedev. Vì ai cũng biết ông tổng thống Nga không phải người quyết định, phải ngỏ lời sao cho ông Thủ Tướng Putin cũng được nghe, sau khi ông Medvedev về báo cáo. Một trở ngại là nước Nga sẽ bị thiệt khi hủy bỏ hết vũ khí hạt nhân. Vì hiện nay lực lượng quân sự không hạt nhân của Nga rất yếu, không đủ tiền; bỏ bom hạt nhân đi thì không còn ai sợ Nga nữa.
Nhưng thời kỳ cần tích trữ bom hạt nhân đã hết rồi. Trước đây, Mỹ theo chủ thuyết MAD (mutually assurred destruction), hai bên cùng tận diệt nếu tấn công nhau bằng bom nguyên tử, vì không bên nào đủ sức hủy diệt hết kho vũ khí nguyên tử của bên kia. Chủ thuyết MAD chỉ có giá trị khi Mỹ, hoặc Nga, biết “địa chỉ” của người đánh mình bằng bom nguyên tử, để gửi bom trả lại. Bây giờ mối lo bom nguyên tử có thể nằm ở những tổ chức khủng bố, không có địa chỉ rõ ràng, nhưng có đủ tiền để mua bom nguyên tử trong thị trường chợ đen!
Cho nên con đường phải tiến tới là kiểm soát tất cả việc tinh luyện uranium hay plutonium có thể biến thành bom nguyên tử. Và trong công việc này, Mỹ cần Nga hợp tác, việc ký kết lại hiệp ước Start là một bước đầu.
Ai thắng ai bại?
Ngô Nhân Dụng
Hôm qua Nhật Báo Người Việt đã đăng một “thư độc giả” phản ứng trước bài “Một chính quyền thối nát” của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy. Thực ra đây không phải là phản ứng từ một “độc giả bình thường” đọc bài của Trần Khải Thanh Thủy, mà rõ ràng từ một cán bộ văn hóa tư tưởng của chính quyền Cộng Sản được bà nói tới trong bài này. Ông công an văn hóa tư tưởng này viết rằng “...Tụi mày thua trận rồi thì im cái mồm lại đi nghe. Ký tên: TAO.”
Có một nhầm lẫn lớn trong một dòng chữ này. Tác giả bức thư coi tất cả những người chỉ trích chế độ Cộng Sản đang cai trị nước ta đều là những người thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975. Cho nên anh ta (hay chị ta) mới gọi là “tụi mày thua trận rồi...” để yêu cầu “im cái mồm lại.”
Nhưng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy không sống một ngày nào trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Cô không thuộc hàng ngũ những “ngụy quân, ngụy quyền,” hay “ngụy dân” đã từng thất bại trên chiến trường vào năm 1975 và sau đó bị những người thắng trận đầy đọa bằng nhà tù lớn, nhà tù nhỏ khi áp đặt chủ nghĩa xã hội của họ trên miền Nam. Những người kể trên là những người thua trận thật, còn Trần Khải Thanh Thủy thì khác. Cô là một cô gái trưởng thành trong chế độ Cộng Sản, được uốn nắn theo lối giáo dục của Cộng Sản, đã làm việc trong chế độ đó. Chính vì vậy nên bản thân cô có kinh nghiệm về những tai họa mà chế độ Cộng Sản gây ra trên đất nước ta. Chính vì vậy nên cô đã nêu lên những ý kiến phải thay đổi chế độ tai hại đó, hậu quả là bây giờ cô bị cả bộ máy của đảng và nhà nước Cộng Sản khủng bố. Bài “Một chính quyền thối nát” cô viết đăng trên Nhật Báo Người Việt trong mấy ngày qua chỉ tả lại những hành động khủng bố của các tay chân của chế độ Cộng Sản (công an đến dân phòng, bảo vệ...) đối với gia đình cô trong đêm trước ngày các giáo dân Thái Hà ra tòa phúc thẩm. Guồng máy công an chỉ tìm cách ngăn cản không cho cô tới coi phiên tòa được mà thôi. Cô gửi cho cả hình ảnh những uế khí mà các tay khủng bố này đổ ra đầy trước cửa nhà cô vào lúc ba giờ sáng; và thuật lời chồng cô kể “chúng nó... không dám xách xô phân trộn dầu đổ như cũ (như lần trước) mà đứng cách một mét hất thẳng vào rồi bỏ chạy.”
Bài văn của Trần Khải Thanh Thủy rất trào lộng. Ba giờ sáng cô ra cửa, “Trước mắt tôi nhoe nhoét tư tưởng Hồ Chí Minh trải khắp bậc cửa nhà, không còn một chỗ để đặt chân.”
Có lẽ mấy ông công an tư tưởng văn hóa đọc tới đây thấy Trần Khải Thanh Thủy ví những xú uế với tư tưởng Hồ Chí Minh cho nên giận quá mất khôn. Họ theo đúng bài bản mà ban tư tưởng văn hóa của đảng soạn sẵn, cho nên coi cô cũng là “thành phần phản động nặng” rồi chửi như thường lệ, “tụi mày thua trận rồi... im cái mồm lại.”
Trần Khải Thanh Thủy cũng giống như những nhà trí thức Việt Nam khác, những người trẻ tuổi như Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Ðỗ Nam Hải, vân vân; họ là những người đã sống trong chế độ gọi là “xã hội chủ nghĩa.” Họ đã nhìn rõ những sai lầm tai hại trong cuộc sống mà đảng Cộng Sản ép dân ta phải theo từ hơn nửa thế kỷ nay. Lực lượng đối kháng tiềm tàng nguy hiểm nhất đối với đảng Cộng Sản hiện nay là những người dân đã sống hoàn toàn trong chế độ đó. Những thanh niên trí thức yêu nước đã sống trong chế độ của họ nên biết rõ chế độ đó như thế nào có khả năng kết hợp các nông dân, công nhân bị bạc đãi để gây một phong trào đòi thay đổi. Chính quyền Cộng Sản không biết cách đối phó với phong trào mới này ra sao nên mới khủng bố từng người một, và gán cho những người đó thuộc vào phe những người “thua trận,” giống như mọi người lính, người dân sống trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975.
Nhưng tới đây chúng ta thấy một câu hỏi lớn hơn: Thực sự thì ai là những người thua trận?
Câu trả lời tùy thuộc cách chúng ta nhìn mặt trận đó là trận tranh đấu nào.
Quý vị có thể định nghĩa trong giới hạn một trận chiến tranh, bắt đầu từ năm 1958 khi đảng Cộng Sản ở miền Bắc bắt đầu xâm nhập, đánh phá, rồi tiếp tục đem quân tấn công miền Nam cho đến năm 1975 thì kết thúc. Nói về cuộc chiến tranh đó, thì phe Việt Nam Cộng Hòa đã thua trận.
Nhưng tại sao có cuộc chiến tranh Nam Bắc trong 17 năm đó? Cuộc chiến này cũng chỉ là một giai đoạn trong một cuộc tranh chấp lớn hơn và lâu dài hơn, giữa những người Việt Nam theo chủ nghĩa Quốc Gia và những người Cộng Sản theo một chủ nghĩa quốc tế. Trước năm 1930, những người làm cách mạng chống Pháp ở nước ta đã có hai khuynh hướng khác biệt. Nhiều người chủ trương đuổi bọn thực dân đi rồi xây dựng một quốc gia độc lập, thiết lập một chế độ tự do dân chủ. Tiêu biểu cho phong trào này là những Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, cho tới Nguyễn Thái Học, truyền xuống tới các đảng phái quốc gia sau này như Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, Duy Dân, và đảng Dân Chủ Xã Hội do Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ lập ra ở miền Nam, vân vân.
Ðối nghịch với khuynh hướng đó là những người theo chủ nghĩa Cộng Sản, chủ trương đặt cuộc tranh đấu của người Việt Nam vào trong một cuộc cách mạng lớn khắp thế giới, họ theo một chủ nghĩa quốc tế. Trong phe quốc tế này, nhóm Ðệ Tam đã tìm cách tiêu diệt những người Ðệ Tứ như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, rồi tấn công tới những người theo khuynh hướng quốc gia.
Cuộc chiến giữa hai khuynh hướng quốc gia và quốc tế bắt đầu từ 1930 trước hết là một cuộc tranh chấp về tư tưởng lập quốc. Xóa bỏ chế độ vua quan phong kiến, đánh đuổi thực dân rồi, người Việt Nam sẽ sống với nhau theo mô hình chính trị, kinh tế nào? Ðó là câu hỏi căn bản phân biệt giữa các đảng phái quốc gia và phe Cộng Sản đệ tam. Ðó là nguyên nhân gây ra những vụ đổ máu ngay trong lúc người Việt còn đang lo đánh Pháp giành độc lập. Khi Hồ Chí Minh theo ý kiến các cố vấn Trung Cộng làm cải cách ruộng đất, ông ta vẫn không quên nhân cơ hội đó tiêu diệt tất cả những người không thuộc thành phần mà đảng Cộng Sản có thể tin cậy. Những người góp công lao vào cuộc kháng chiến rất nhiều cũng bị sát hại, nhiều người đã bỏ Cộng Sản để về theo chính quyền quốc gia, tới năm 1954 đã mở ra một giai đoạn mới, Việt Nam bị chia thành hai miền sống trong hai thể chế khác nhau. Ðến năm 1975 phe quốc gia thua trận, điều này không ai chối cãi.
Nhưng cuộc tranh chấp thực sự giữa hai phe không bắt đầu bằng vũ khí và cũng không phải chỉ nằm trong mặt trận quân sự. Khi cụ Phan Bội Châu lên tiếng bài bác chủ trương làm “cách mạng vô sản” ở Việt Nam, cụ đã vạch rõ nước ta lúc đó không hề có giai cấp tư bản cũng không có giai cấp vô sản. Những nhà ái quốc đã bị Cộng Sản ám hại như Trương Tử Anh, Lý Ðông A, Huỳnh Phú Sổ cũng đều lấy dân tộc làm căn bản, chống lại chủ trương đấu tranh giai cấp của đảng Cộng Sản.
Cho nên, cuộc tranh chấp giữa hai phe Quốc Gia và Cộng Sản đầu tiên là một cuộc đấu tranh về tư tưởng chính trị. Nói theo lối Cộng Sản, đó là một cuộc chiến tranh ý thức hệ. Cho nên cuộc tranh chấp đó cũng không được giới hạn trong biên giới một nước, không quyết định qua một cuộc chiến tranh ở một đất nước, dù đó là một cuộc chiến đã làm chết mấy triệu người Việt Nam. Cuộc đấu tranh giữa những người Quốc Gia và những người Cộng Sản ở Việt Nam nằm trong một cuộc chiến toàn cầu giữa trào lưu tư tưởng tự do dân chủ đối nghịch với phong trào Cộng Sản thế giới.
Từ những năm trong thập niên 1940, 50 trên thế giới đã nhiều người nhìn thấy chế độ Cộng Sản không thể tồn tại lâu dài được, vì nó đi ngược lại với bản chất con người và xã hội loài người. Nhiều người đã nhìn thấy chế độ Cộng Sản không hề giải phóng loài người như họ vẫn hứa hẹn, mà ngược lại còn nô lệ hóa con người. Nhưng các phong trào Cộng Sản vẫn bành trướng được vì những nước lớn như Nga và Trung Quốc thấy có thể lợi dụng các phong trào Cộng Sản ở từng nước nhỏ khác mà xây dựng đế quốc của họ, tiếp tục tham vọng của những hoàng đế Nga và Trung Hoa đời trước.
Ðến năm 1975, có thể coi là phong trào Cộng Sản thế giới đã lên tới đỉnh cao nhất. Nhưng trong nội bộ các nước Nga và Trung Quốc, chế độ Cộng Sản đã tàn hại chính các dân tộc này. Vụ sụp đổ của các nước Cộng Sản từ năm 1989 cho thấy từ căn bản chủ nghĩa Cộng Sản đã thất bại. Cộng Sản thất bại khắp trên thế giới, ngay tại những nước vẫn còn mang nhãn hiệu Cộng Sản như Trung Quốc, Việt Nam, thì chính các đảng Cộng Sản ở đó cũng đã quay đầu đi ngược về hướng kinh tế tư bản, trở thành những chế độ độc tài dựa trên độc quyền về kinh tế và chính trị, trống rỗng về mặt tư tưởng.
Trong trận chiến đấu quan trọng nhất là tranh chấp tư tưởng và ý thức hệ, khối Cộng Sản đã thua, hoàn toàn phá sản. Bây giờ những người mang tên đảng Cộng Sản ở Việt Nam chỉ là mạo danh một chủ nghĩa lỗi thời, lợi dụng những thần tượng đã tan vỡ, để bảo vệ những quyền lợi thủ đắc của một giai cấp tư bản mới. Khi nhìn lại cuộc tranh chấp giữa hai phe Quốc Gia và Cộng Sản ở nước ta, cho tới giờ thì phải công nhận là cuối cùng là phe Cộng Sản đã “thua trận.” Chính họ đang tự cởi bỏ chủ nghĩa Cộng Sản, và không biết có gì để thay thế nên chỉ biết chạy theo chủ nghĩa kim tiền!
Cho nên bà Trần Khải Thanh Thủy chắc không lo ngại gì khi bị công an tư tưởng văn hóa của chế độ Cộng Sản quấy rối, phá phách. Vì bà biết mình đang đứng trong hàng ngũ những người thắng trận. Một ngày mai dân Việt Nam sẽ phải được sống trong một chế độ dân chủ tự do lành mạnh, khi đó người Việt sẽ ghi giai đoạn nước ta sống dưới chế độ Cộng Sản như một cơn ác mộng ngắn trong lịch sử dân tộc. Và trong một hai thế hệ nữa, mọi người sẽ quên cả chủ nghĩa Cộng Sản lẫn đảng Cộng Sản. Vì trong mỗi con người cũng như trong lịch sử một dân tộc, không ai muốn nhớ những cơn ác mộng.
Ngô Nhân Dụng
Hôm qua Nhật Báo Người Việt đã đăng một “thư độc giả” phản ứng trước bài “Một chính quyền thối nát” của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy. Thực ra đây không phải là phản ứng từ một “độc giả bình thường” đọc bài của Trần Khải Thanh Thủy, mà rõ ràng từ một cán bộ văn hóa tư tưởng của chính quyền Cộng Sản được bà nói tới trong bài này. Ông công an văn hóa tư tưởng này viết rằng “...Tụi mày thua trận rồi thì im cái mồm lại đi nghe. Ký tên: TAO.”
Có một nhầm lẫn lớn trong một dòng chữ này. Tác giả bức thư coi tất cả những người chỉ trích chế độ Cộng Sản đang cai trị nước ta đều là những người thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975. Cho nên anh ta (hay chị ta) mới gọi là “tụi mày thua trận rồi...” để yêu cầu “im cái mồm lại.”
Nhưng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy không sống một ngày nào trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Cô không thuộc hàng ngũ những “ngụy quân, ngụy quyền,” hay “ngụy dân” đã từng thất bại trên chiến trường vào năm 1975 và sau đó bị những người thắng trận đầy đọa bằng nhà tù lớn, nhà tù nhỏ khi áp đặt chủ nghĩa xã hội của họ trên miền Nam. Những người kể trên là những người thua trận thật, còn Trần Khải Thanh Thủy thì khác. Cô là một cô gái trưởng thành trong chế độ Cộng Sản, được uốn nắn theo lối giáo dục của Cộng Sản, đã làm việc trong chế độ đó. Chính vì vậy nên bản thân cô có kinh nghiệm về những tai họa mà chế độ Cộng Sản gây ra trên đất nước ta. Chính vì vậy nên cô đã nêu lên những ý kiến phải thay đổi chế độ tai hại đó, hậu quả là bây giờ cô bị cả bộ máy của đảng và nhà nước Cộng Sản khủng bố. Bài “Một chính quyền thối nát” cô viết đăng trên Nhật Báo Người Việt trong mấy ngày qua chỉ tả lại những hành động khủng bố của các tay chân của chế độ Cộng Sản (công an đến dân phòng, bảo vệ...) đối với gia đình cô trong đêm trước ngày các giáo dân Thái Hà ra tòa phúc thẩm. Guồng máy công an chỉ tìm cách ngăn cản không cho cô tới coi phiên tòa được mà thôi. Cô gửi cho cả hình ảnh những uế khí mà các tay khủng bố này đổ ra đầy trước cửa nhà cô vào lúc ba giờ sáng; và thuật lời chồng cô kể “chúng nó... không dám xách xô phân trộn dầu đổ như cũ (như lần trước) mà đứng cách một mét hất thẳng vào rồi bỏ chạy.”
Bài văn của Trần Khải Thanh Thủy rất trào lộng. Ba giờ sáng cô ra cửa, “Trước mắt tôi nhoe nhoét tư tưởng Hồ Chí Minh trải khắp bậc cửa nhà, không còn một chỗ để đặt chân.”
Có lẽ mấy ông công an tư tưởng văn hóa đọc tới đây thấy Trần Khải Thanh Thủy ví những xú uế với tư tưởng Hồ Chí Minh cho nên giận quá mất khôn. Họ theo đúng bài bản mà ban tư tưởng văn hóa của đảng soạn sẵn, cho nên coi cô cũng là “thành phần phản động nặng” rồi chửi như thường lệ, “tụi mày thua trận rồi... im cái mồm lại.”
Trần Khải Thanh Thủy cũng giống như những nhà trí thức Việt Nam khác, những người trẻ tuổi như Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Ðỗ Nam Hải, vân vân; họ là những người đã sống trong chế độ gọi là “xã hội chủ nghĩa.” Họ đã nhìn rõ những sai lầm tai hại trong cuộc sống mà đảng Cộng Sản ép dân ta phải theo từ hơn nửa thế kỷ nay. Lực lượng đối kháng tiềm tàng nguy hiểm nhất đối với đảng Cộng Sản hiện nay là những người dân đã sống hoàn toàn trong chế độ đó. Những thanh niên trí thức yêu nước đã sống trong chế độ của họ nên biết rõ chế độ đó như thế nào có khả năng kết hợp các nông dân, công nhân bị bạc đãi để gây một phong trào đòi thay đổi. Chính quyền Cộng Sản không biết cách đối phó với phong trào mới này ra sao nên mới khủng bố từng người một, và gán cho những người đó thuộc vào phe những người “thua trận,” giống như mọi người lính, người dân sống trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975.
Nhưng tới đây chúng ta thấy một câu hỏi lớn hơn: Thực sự thì ai là những người thua trận?
Câu trả lời tùy thuộc cách chúng ta nhìn mặt trận đó là trận tranh đấu nào.
Quý vị có thể định nghĩa trong giới hạn một trận chiến tranh, bắt đầu từ năm 1958 khi đảng Cộng Sản ở miền Bắc bắt đầu xâm nhập, đánh phá, rồi tiếp tục đem quân tấn công miền Nam cho đến năm 1975 thì kết thúc. Nói về cuộc chiến tranh đó, thì phe Việt Nam Cộng Hòa đã thua trận.
Nhưng tại sao có cuộc chiến tranh Nam Bắc trong 17 năm đó? Cuộc chiến này cũng chỉ là một giai đoạn trong một cuộc tranh chấp lớn hơn và lâu dài hơn, giữa những người Việt Nam theo chủ nghĩa Quốc Gia và những người Cộng Sản theo một chủ nghĩa quốc tế. Trước năm 1930, những người làm cách mạng chống Pháp ở nước ta đã có hai khuynh hướng khác biệt. Nhiều người chủ trương đuổi bọn thực dân đi rồi xây dựng một quốc gia độc lập, thiết lập một chế độ tự do dân chủ. Tiêu biểu cho phong trào này là những Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, cho tới Nguyễn Thái Học, truyền xuống tới các đảng phái quốc gia sau này như Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt, Duy Dân, và đảng Dân Chủ Xã Hội do Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ lập ra ở miền Nam, vân vân.
Ðối nghịch với khuynh hướng đó là những người theo chủ nghĩa Cộng Sản, chủ trương đặt cuộc tranh đấu của người Việt Nam vào trong một cuộc cách mạng lớn khắp thế giới, họ theo một chủ nghĩa quốc tế. Trong phe quốc tế này, nhóm Ðệ Tam đã tìm cách tiêu diệt những người Ðệ Tứ như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, rồi tấn công tới những người theo khuynh hướng quốc gia.
Cuộc chiến giữa hai khuynh hướng quốc gia và quốc tế bắt đầu từ 1930 trước hết là một cuộc tranh chấp về tư tưởng lập quốc. Xóa bỏ chế độ vua quan phong kiến, đánh đuổi thực dân rồi, người Việt Nam sẽ sống với nhau theo mô hình chính trị, kinh tế nào? Ðó là câu hỏi căn bản phân biệt giữa các đảng phái quốc gia và phe Cộng Sản đệ tam. Ðó là nguyên nhân gây ra những vụ đổ máu ngay trong lúc người Việt còn đang lo đánh Pháp giành độc lập. Khi Hồ Chí Minh theo ý kiến các cố vấn Trung Cộng làm cải cách ruộng đất, ông ta vẫn không quên nhân cơ hội đó tiêu diệt tất cả những người không thuộc thành phần mà đảng Cộng Sản có thể tin cậy. Những người góp công lao vào cuộc kháng chiến rất nhiều cũng bị sát hại, nhiều người đã bỏ Cộng Sản để về theo chính quyền quốc gia, tới năm 1954 đã mở ra một giai đoạn mới, Việt Nam bị chia thành hai miền sống trong hai thể chế khác nhau. Ðến năm 1975 phe quốc gia thua trận, điều này không ai chối cãi.
Nhưng cuộc tranh chấp thực sự giữa hai phe không bắt đầu bằng vũ khí và cũng không phải chỉ nằm trong mặt trận quân sự. Khi cụ Phan Bội Châu lên tiếng bài bác chủ trương làm “cách mạng vô sản” ở Việt Nam, cụ đã vạch rõ nước ta lúc đó không hề có giai cấp tư bản cũng không có giai cấp vô sản. Những nhà ái quốc đã bị Cộng Sản ám hại như Trương Tử Anh, Lý Ðông A, Huỳnh Phú Sổ cũng đều lấy dân tộc làm căn bản, chống lại chủ trương đấu tranh giai cấp của đảng Cộng Sản.
Cho nên, cuộc tranh chấp giữa hai phe Quốc Gia và Cộng Sản đầu tiên là một cuộc đấu tranh về tư tưởng chính trị. Nói theo lối Cộng Sản, đó là một cuộc chiến tranh ý thức hệ. Cho nên cuộc tranh chấp đó cũng không được giới hạn trong biên giới một nước, không quyết định qua một cuộc chiến tranh ở một đất nước, dù đó là một cuộc chiến đã làm chết mấy triệu người Việt Nam. Cuộc đấu tranh giữa những người Quốc Gia và những người Cộng Sản ở Việt Nam nằm trong một cuộc chiến toàn cầu giữa trào lưu tư tưởng tự do dân chủ đối nghịch với phong trào Cộng Sản thế giới.
Từ những năm trong thập niên 1940, 50 trên thế giới đã nhiều người nhìn thấy chế độ Cộng Sản không thể tồn tại lâu dài được, vì nó đi ngược lại với bản chất con người và xã hội loài người. Nhiều người đã nhìn thấy chế độ Cộng Sản không hề giải phóng loài người như họ vẫn hứa hẹn, mà ngược lại còn nô lệ hóa con người. Nhưng các phong trào Cộng Sản vẫn bành trướng được vì những nước lớn như Nga và Trung Quốc thấy có thể lợi dụng các phong trào Cộng Sản ở từng nước nhỏ khác mà xây dựng đế quốc của họ, tiếp tục tham vọng của những hoàng đế Nga và Trung Hoa đời trước.
Ðến năm 1975, có thể coi là phong trào Cộng Sản thế giới đã lên tới đỉnh cao nhất. Nhưng trong nội bộ các nước Nga và Trung Quốc, chế độ Cộng Sản đã tàn hại chính các dân tộc này. Vụ sụp đổ của các nước Cộng Sản từ năm 1989 cho thấy từ căn bản chủ nghĩa Cộng Sản đã thất bại. Cộng Sản thất bại khắp trên thế giới, ngay tại những nước vẫn còn mang nhãn hiệu Cộng Sản như Trung Quốc, Việt Nam, thì chính các đảng Cộng Sản ở đó cũng đã quay đầu đi ngược về hướng kinh tế tư bản, trở thành những chế độ độc tài dựa trên độc quyền về kinh tế và chính trị, trống rỗng về mặt tư tưởng.
Trong trận chiến đấu quan trọng nhất là tranh chấp tư tưởng và ý thức hệ, khối Cộng Sản đã thua, hoàn toàn phá sản. Bây giờ những người mang tên đảng Cộng Sản ở Việt Nam chỉ là mạo danh một chủ nghĩa lỗi thời, lợi dụng những thần tượng đã tan vỡ, để bảo vệ những quyền lợi thủ đắc của một giai cấp tư bản mới. Khi nhìn lại cuộc tranh chấp giữa hai phe Quốc Gia và Cộng Sản ở nước ta, cho tới giờ thì phải công nhận là cuối cùng là phe Cộng Sản đã “thua trận.” Chính họ đang tự cởi bỏ chủ nghĩa Cộng Sản, và không biết có gì để thay thế nên chỉ biết chạy theo chủ nghĩa kim tiền!
Cho nên bà Trần Khải Thanh Thủy chắc không lo ngại gì khi bị công an tư tưởng văn hóa của chế độ Cộng Sản quấy rối, phá phách. Vì bà biết mình đang đứng trong hàng ngũ những người thắng trận. Một ngày mai dân Việt Nam sẽ phải được sống trong một chế độ dân chủ tự do lành mạnh, khi đó người Việt sẽ ghi giai đoạn nước ta sống dưới chế độ Cộng Sản như một cơn ác mộng ngắn trong lịch sử dân tộc. Và trong một hai thế hệ nữa, mọi người sẽ quên cả chủ nghĩa Cộng Sản lẫn đảng Cộng Sản. Vì trong mỗi con người cũng như trong lịch sử một dân tộc, không ai muốn nhớ những cơn ác mộng.
Bạo lực bị khoá tay tại phiên toà bên ngoài Toà Án Hà Nội
Tác giả: Đinh Tấn Lực
Bên trong toà án là một phiên xử phúc thẩm 8 giáo dân Thái Hà kháng án. Bên ngoài toà án đó là một phiên xử chung thẩm toàn bộ chế độ này. Nhân dân là chánh thẩm tối cao, mỗi người cầm trên tay một cành thiên tuế. Cư dân mạng toàn cầu là nhân chứng, mỗi người bấm một con chuột vi tính. Lời tuyên sau cùng: Bạo Lực Bị Khoá Tay.
Martha Ann Overland, tác giả bài viết
“Người Việt Nam phản công chống lại công an tham nhũng”
quả là tinh quái khi chọn bức ảnh minh họa cho chủ đề này. Đó là hình ảnh một viên cảnh sát giao thông trơ trọi giữa dòng xe chảy xiết, với dáng vẻ xem chừng như là một pha trộn giữa bất động, bất định, bất cập, bất an, bất trắc, bất kham, bất lương, và bất lực.
Đó cũng chính là bức tranh toàn cảnh cực kỳ sinh động của bạo lực CSVN ngày nay:
1. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước quyết định bí mật di dời phiên toà phúc thẩm ra tận ngoại thành Hà Nội mới, thuộc địa phận Hà Đông cũ, với một niềm hy vọng cực lớn là sẽ giảm thiểu được số người tham dự. Âm mưu trốn chạy này bất thành, vì đã có nhiều ngàn người diễu hành bằng chân với những nụ cười rạng rỡ như trẫy hội từ hàng chục cây số về đây tham dự.
2. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước dồn sức tuyên truyền nhiều ngày trước phiên xử phúc thẩm về một bản án sơ thẩm rừng rú, lại công khai khống chế nhân dân chung quanh khu vực toà án bằng nhiều kiểu đe nẹt, và cả lệnh cấm các sinh hoạt thường nhật tại đây bằng các biện pháp ngăn sông, cấm chợ, bãi trường, đóng cửa nhà khách… nhưng có được đâu!
3. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước cô lập một “phiên toà công khai” bằng cách huy động hàng trăm ngựa sắt, chó nghiệp vụ, công an cơ động và các loại công an trá hình khác làm rào cản, như một thứ biểu dương lực lượng trấn áp gây sợ hãi. Các rào cản còn nguyên nhưng ước vọng đó bị gãy, khi phiên toà được nhân dân mệnh danh là Kẻ Cướp Xử Giáo Dân.
Phiên toà bên ngoài toà án…
4. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước ra tay hành xử kiểu du đảng hầu ngăn chận Ls Lê Trần Luật cùng các cộng tác viên của ông từ Sài Gòn ra Hà Nội để bào chữa cho 8 giáo dân kháng án, và cả một số bloggers quan tâm. Để trả lời cho màn kịch thủ tục pháp lý cực vụng và cực trơ này, các giáo dân kháng án đã có 2 luật sư khác biện hộ bằng những luận điểm không thể cãi.
5. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước bị đặt vào thế bị động, lúng túng đến bế tắc, tiến không được mà lùi cũng không xong trước Bài Ca Ngàn Trùng của một ca đoàn tuần hành dài cả cây số, và tức tối dán nhãn cho bài Kinh Hoà Bình là “Kinh Đòi Đất”, hiển hiện rõ nét cùn lụt của một hệ thống lý luận từng cấp dưỡng hàng chục vạn cán bộ khắp nước bằng tiền thuế của dân.
6. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước áp án “phá rối trật tự công cộng” thì được nhân dân trả lời cho cả thế giới chiêm ngưỡng toàn cảnh ôn hoà nhưng quyết liệt của một Hà Nội Đi Trong Tiếng Hát. Đây cũng là câu trả lời trực tiếp đối với bàn tay bạo lực bịt miệng linh mục trước vành móng ngựa, với đôi nét thấp thoáng của một bức tường Bá Linh trước ngày sụp đổ.
7. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước ra công trá hình cò mồi đấu tố trà trộn vào đám đông hầu kích động đoàn người tuần hành vào thế phản ứng nóng vội. Tiếc thay, các đầu gấu và nỗ lực “phá rối trật tự công cộng” này của nhà nước đã hoàn toàn bại lộ trước những cành thiên tuế xanh tươi, những biểu ngữ đòi Công Lý-Sự Thật kẻ thẳng, và những lời kinh Hoà Bình êm ái.
8. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước tập trung mọi phương tiện áp đảo vào phiên toà phúc thẩm, và để hở sườn cho những dòng nhạc Bài Ca Ngàn Trùng cùng những tiếng thét đòi Công Lý-Sự Thật vang dội cả thành phố, vào đến tận nội thất Sở CA Hà Nội và văn phòng Thị uỷ Hà Đông, đến mức CA phải “đổ ra chạy như vịt”.
9. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước nỗ lực thực hiện một phiên toà phúc thẩm dưới hình thức “cưới chạy tang” trong một thời gian kỷ lục là 6 tiếng đồng hồ. Đó là đám cưới giữa thú rừng với luật rừng, cũng là đám tang của nanh vuốt bị cắt cụt. Hội đồng xét xử đã trân trọng nhấn mạnh tội danh “nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả nghiêm trọng” là dành độc cho nhà nước.
Ai là quan toà ? ai là bị cáo?
10. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước không dám huênh hoang “các bị cáo đã cúi đầu nhận tội” như đã từng tùy tiện trước đây trên dàn báo đài của đảng, kể cả trong phiên sơ thẩm của cùng vụ án. Người cúi đầu duy nhất được ghi hình là một công an viên, ở bên ngoài toà án, trong phiên xử chung thẩm của nhân dân dành riêng cho chế độ.
11.Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước phát động chiến dịch nhục mạ trên báo và rút giấy phép hoạt động của Văn phòng Luật sư Pháp Quyền, dồn sức cô lập, tách rời những con người kiên cường ra khỏi một tập thể bất khuất, thì ngược lại, đã tự để lộ sự sợ hãi và khiến cho đám đông yêu chuộng Lẽ Phải càng gắn bó keo sơn hơn nữa, với nhau và với cả đại khối quốc dân thầm lặng.
12. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước phải liên tục tự đánh bóng mình bằng loại bút mỡ “Nhân dân tuyệt đối tin tưởng vào đảng và nhà nước”, và đánh đổi biết bao công sức, của cải xã hội cho một biện pháp trấn áp chỉ mang thiệt hại về cho chính nó, khởi đầu là câu trả lời bằng hành động công khai: Nhân Dân Chỉ Tin Tưởng Tuyệt Đối Vào Sự Thật Và Công Lý.
13. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước dày công tổ chức những cuộc họp giao ban, những buổi soạn thảo các “chỉ đạo” từ thượng tầng của đảng, một mặt là để tuyên truyền bôi bẩn, mặt khác là để hướng dẫn cách ứng xử che dấu mọi sự thô bạo đàn áp, từ bút mực cho tới dùi cui, chỉ để nhận lại những bức ảnh phản biện để đời của nhân dân tự chụp lấy.
14. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước hạ mình và tiếp tục ăn mày quá khứ bằng các viện dẫn hoang tưởng “thế lực thù địch”, “lợi dụng dân chủ”, “lợi dụng niềm tin” v.v… Đau đớn thay, tất cả những nỗ lực “truy động cơ” đó đã bị xoá sạch chỉ bằng một câu trả lời cực ngắn ở trong toà là: Chúa, và một biểu ngữ Công Lý cầm ngược ở bên ngoài toà án.
15. Bạo lực đã bị khoá tay khi nhà nước chẳng thể ngờ rằng nhân dân chưa bao giờ trông đợi một kết quả phúc thẩm nào khác hơn kịch bản viết sẵn “y án sơ thẩm” của cái hệ thống độc đảng cày nát pháp luật ở đây, trong lúc mục tiêu của việc kháng án là nhằm bật hết công suất để rọi đèn chế độ rừng rú này cho cả thế giới nhận diện.
16. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước bị nhân dân lùa vào sân chơi dân chủ pháp quyền, phải chấp nhận nhập vai pháp lý, và hứng chịu hệ quả thê thảm là phô bày trọn vẹn trần truồng trước dư luận quốc tế một hệ thống lãnh đạo ngu tối tham lam phi nhân tính đang cố kéo dài những ngày cuối đời bằng thể chế công an trị.
Phiên toà đòi công lí và sự thật
17. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước bị đẩy lùi vào tình thế “đánh vào gió”, và hoàn toàn bất lực trước mục tiêu PR của vụ kháng án đối với dư luận toàn quốc, thậm chí trên toàn thế giới, về một đất nước Đói Công Lý-Thèm Sự Thật. Mọi hình thái diệu võ giương oai, càng “sẵn sàng chiến đấu” lại càng hẫng vào túi không khí, và lún sâu vào vũng bùn đỏ đầy chất thải của chính bạo lực.
18. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước tung tiền mua được đôi ba phóng viên lề phải viết vài bài phóng sự theo đơn đặt hàng, trong lúc các trang mạng Công giáo và làng Dân Báo Bloggers loan tải tràn ngập tin tức cập nhật hằng mỗi nửa giờ, với số lượng hình ảnh nhiều hơn gấp bội, kể cả hình ảnh những công an chìm đi thu hình giáo dân.
19. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước bất ngờ thấy ra sức mạnh hiệp thông giữa các giáo xứ khắp nơi, ở trong và ngoài Việt Nam, và cả sức mạnh hiệp thông giữa các tôn giáo. Công Lý-Sự Thật chính là mẫu số chung kết nối, còn Hoà Bình chính là phương pháp vận động của người Việt Nam để đòi bằng được khát vọng Công Lý và Sự Thật đó.
20. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước đứng nhìn hàng vạn giáo dân tổ chức thánh lễ Tạ Ơn ngay sau phiên toà chung thẩm ở bên ngoài toà án xử phiên phúc thẩm ô nhục đó. Họ có lý do để tạ ơn Thượng đế, tạ ơn niềm tin bất diệt, và cả tạ ơn nhau về những hiệp thông đã đưa họ đến những thắng lợi rạng ngời của ngày 27 tháng 3.
Lời cuối của Bao Thanh Thiên mỗi khi tuyên án vẫn thường là: “Xử thế này phục không?”
Tại phiên toà chung thẩm xử tội cả chế độ ở bên ngoài toà án Hà Nội lần này, câu trả lời là những nụ cười tươi tắn của cả sự tâm phục và khẩu phục. Kể cả nụ cười của người công an có trách nhiệm đàn áp.
Xin nghiêng mình kính phục và hết lòng vinh danh các tấm gương ôn hoà nhưng dũng cảm vì sự thật và công lý sáng ngời của bà con Thái Hà đã khoá tay bạo lực.
07 tháng 4, 2009
Đinh Tấn Lực
Tác giả: Đinh Tấn Lực
Bên trong toà án là một phiên xử phúc thẩm 8 giáo dân Thái Hà kháng án. Bên ngoài toà án đó là một phiên xử chung thẩm toàn bộ chế độ này. Nhân dân là chánh thẩm tối cao, mỗi người cầm trên tay một cành thiên tuế. Cư dân mạng toàn cầu là nhân chứng, mỗi người bấm một con chuột vi tính. Lời tuyên sau cùng: Bạo Lực Bị Khoá Tay.
Martha Ann Overland, tác giả bài viết
“Người Việt Nam phản công chống lại công an tham nhũng”
quả là tinh quái khi chọn bức ảnh minh họa cho chủ đề này. Đó là hình ảnh một viên cảnh sát giao thông trơ trọi giữa dòng xe chảy xiết, với dáng vẻ xem chừng như là một pha trộn giữa bất động, bất định, bất cập, bất an, bất trắc, bất kham, bất lương, và bất lực.
Đó cũng chính là bức tranh toàn cảnh cực kỳ sinh động của bạo lực CSVN ngày nay:
1. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước quyết định bí mật di dời phiên toà phúc thẩm ra tận ngoại thành Hà Nội mới, thuộc địa phận Hà Đông cũ, với một niềm hy vọng cực lớn là sẽ giảm thiểu được số người tham dự. Âm mưu trốn chạy này bất thành, vì đã có nhiều ngàn người diễu hành bằng chân với những nụ cười rạng rỡ như trẫy hội từ hàng chục cây số về đây tham dự.
2. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước dồn sức tuyên truyền nhiều ngày trước phiên xử phúc thẩm về một bản án sơ thẩm rừng rú, lại công khai khống chế nhân dân chung quanh khu vực toà án bằng nhiều kiểu đe nẹt, và cả lệnh cấm các sinh hoạt thường nhật tại đây bằng các biện pháp ngăn sông, cấm chợ, bãi trường, đóng cửa nhà khách… nhưng có được đâu!
3. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước cô lập một “phiên toà công khai” bằng cách huy động hàng trăm ngựa sắt, chó nghiệp vụ, công an cơ động và các loại công an trá hình khác làm rào cản, như một thứ biểu dương lực lượng trấn áp gây sợ hãi. Các rào cản còn nguyên nhưng ước vọng đó bị gãy, khi phiên toà được nhân dân mệnh danh là Kẻ Cướp Xử Giáo Dân.
Phiên toà bên ngoài toà án…
4. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước ra tay hành xử kiểu du đảng hầu ngăn chận Ls Lê Trần Luật cùng các cộng tác viên của ông từ Sài Gòn ra Hà Nội để bào chữa cho 8 giáo dân kháng án, và cả một số bloggers quan tâm. Để trả lời cho màn kịch thủ tục pháp lý cực vụng và cực trơ này, các giáo dân kháng án đã có 2 luật sư khác biện hộ bằng những luận điểm không thể cãi.
5. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước bị đặt vào thế bị động, lúng túng đến bế tắc, tiến không được mà lùi cũng không xong trước Bài Ca Ngàn Trùng của một ca đoàn tuần hành dài cả cây số, và tức tối dán nhãn cho bài Kinh Hoà Bình là “Kinh Đòi Đất”, hiển hiện rõ nét cùn lụt của một hệ thống lý luận từng cấp dưỡng hàng chục vạn cán bộ khắp nước bằng tiền thuế của dân.
6. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước áp án “phá rối trật tự công cộng” thì được nhân dân trả lời cho cả thế giới chiêm ngưỡng toàn cảnh ôn hoà nhưng quyết liệt của một Hà Nội Đi Trong Tiếng Hát. Đây cũng là câu trả lời trực tiếp đối với bàn tay bạo lực bịt miệng linh mục trước vành móng ngựa, với đôi nét thấp thoáng của một bức tường Bá Linh trước ngày sụp đổ.
7. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước ra công trá hình cò mồi đấu tố trà trộn vào đám đông hầu kích động đoàn người tuần hành vào thế phản ứng nóng vội. Tiếc thay, các đầu gấu và nỗ lực “phá rối trật tự công cộng” này của nhà nước đã hoàn toàn bại lộ trước những cành thiên tuế xanh tươi, những biểu ngữ đòi Công Lý-Sự Thật kẻ thẳng, và những lời kinh Hoà Bình êm ái.
8. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước tập trung mọi phương tiện áp đảo vào phiên toà phúc thẩm, và để hở sườn cho những dòng nhạc Bài Ca Ngàn Trùng cùng những tiếng thét đòi Công Lý-Sự Thật vang dội cả thành phố, vào đến tận nội thất Sở CA Hà Nội và văn phòng Thị uỷ Hà Đông, đến mức CA phải “đổ ra chạy như vịt”.
9. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước nỗ lực thực hiện một phiên toà phúc thẩm dưới hình thức “cưới chạy tang” trong một thời gian kỷ lục là 6 tiếng đồng hồ. Đó là đám cưới giữa thú rừng với luật rừng, cũng là đám tang của nanh vuốt bị cắt cụt. Hội đồng xét xử đã trân trọng nhấn mạnh tội danh “nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả nghiêm trọng” là dành độc cho nhà nước.
Ai là quan toà ? ai là bị cáo?
10. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước không dám huênh hoang “các bị cáo đã cúi đầu nhận tội” như đã từng tùy tiện trước đây trên dàn báo đài của đảng, kể cả trong phiên sơ thẩm của cùng vụ án. Người cúi đầu duy nhất được ghi hình là một công an viên, ở bên ngoài toà án, trong phiên xử chung thẩm của nhân dân dành riêng cho chế độ.
11.Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước phát động chiến dịch nhục mạ trên báo và rút giấy phép hoạt động của Văn phòng Luật sư Pháp Quyền, dồn sức cô lập, tách rời những con người kiên cường ra khỏi một tập thể bất khuất, thì ngược lại, đã tự để lộ sự sợ hãi và khiến cho đám đông yêu chuộng Lẽ Phải càng gắn bó keo sơn hơn nữa, với nhau và với cả đại khối quốc dân thầm lặng.
12. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước phải liên tục tự đánh bóng mình bằng loại bút mỡ “Nhân dân tuyệt đối tin tưởng vào đảng và nhà nước”, và đánh đổi biết bao công sức, của cải xã hội cho một biện pháp trấn áp chỉ mang thiệt hại về cho chính nó, khởi đầu là câu trả lời bằng hành động công khai: Nhân Dân Chỉ Tin Tưởng Tuyệt Đối Vào Sự Thật Và Công Lý.
13. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước dày công tổ chức những cuộc họp giao ban, những buổi soạn thảo các “chỉ đạo” từ thượng tầng của đảng, một mặt là để tuyên truyền bôi bẩn, mặt khác là để hướng dẫn cách ứng xử che dấu mọi sự thô bạo đàn áp, từ bút mực cho tới dùi cui, chỉ để nhận lại những bức ảnh phản biện để đời của nhân dân tự chụp lấy.
14. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước hạ mình và tiếp tục ăn mày quá khứ bằng các viện dẫn hoang tưởng “thế lực thù địch”, “lợi dụng dân chủ”, “lợi dụng niềm tin” v.v… Đau đớn thay, tất cả những nỗ lực “truy động cơ” đó đã bị xoá sạch chỉ bằng một câu trả lời cực ngắn ở trong toà là: Chúa, và một biểu ngữ Công Lý cầm ngược ở bên ngoài toà án.
15. Bạo lực đã bị khoá tay khi nhà nước chẳng thể ngờ rằng nhân dân chưa bao giờ trông đợi một kết quả phúc thẩm nào khác hơn kịch bản viết sẵn “y án sơ thẩm” của cái hệ thống độc đảng cày nát pháp luật ở đây, trong lúc mục tiêu của việc kháng án là nhằm bật hết công suất để rọi đèn chế độ rừng rú này cho cả thế giới nhận diện.
16. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước bị nhân dân lùa vào sân chơi dân chủ pháp quyền, phải chấp nhận nhập vai pháp lý, và hứng chịu hệ quả thê thảm là phô bày trọn vẹn trần truồng trước dư luận quốc tế một hệ thống lãnh đạo ngu tối tham lam phi nhân tính đang cố kéo dài những ngày cuối đời bằng thể chế công an trị.
Phiên toà đòi công lí và sự thật
17. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước bị đẩy lùi vào tình thế “đánh vào gió”, và hoàn toàn bất lực trước mục tiêu PR của vụ kháng án đối với dư luận toàn quốc, thậm chí trên toàn thế giới, về một đất nước Đói Công Lý-Thèm Sự Thật. Mọi hình thái diệu võ giương oai, càng “sẵn sàng chiến đấu” lại càng hẫng vào túi không khí, và lún sâu vào vũng bùn đỏ đầy chất thải của chính bạo lực.
18. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước tung tiền mua được đôi ba phóng viên lề phải viết vài bài phóng sự theo đơn đặt hàng, trong lúc các trang mạng Công giáo và làng Dân Báo Bloggers loan tải tràn ngập tin tức cập nhật hằng mỗi nửa giờ, với số lượng hình ảnh nhiều hơn gấp bội, kể cả hình ảnh những công an chìm đi thu hình giáo dân.
19. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước bất ngờ thấy ra sức mạnh hiệp thông giữa các giáo xứ khắp nơi, ở trong và ngoài Việt Nam, và cả sức mạnh hiệp thông giữa các tôn giáo. Công Lý-Sự Thật chính là mẫu số chung kết nối, còn Hoà Bình chính là phương pháp vận động của người Việt Nam để đòi bằng được khát vọng Công Lý và Sự Thật đó.
20. Bạo lực đã bị khoá tay kể từ khi nhà nước đứng nhìn hàng vạn giáo dân tổ chức thánh lễ Tạ Ơn ngay sau phiên toà chung thẩm ở bên ngoài toà án xử phiên phúc thẩm ô nhục đó. Họ có lý do để tạ ơn Thượng đế, tạ ơn niềm tin bất diệt, và cả tạ ơn nhau về những hiệp thông đã đưa họ đến những thắng lợi rạng ngời của ngày 27 tháng 3.
Lời cuối của Bao Thanh Thiên mỗi khi tuyên án vẫn thường là: “Xử thế này phục không?”
Tại phiên toà chung thẩm xử tội cả chế độ ở bên ngoài toà án Hà Nội lần này, câu trả lời là những nụ cười tươi tắn của cả sự tâm phục và khẩu phục. Kể cả nụ cười của người công an có trách nhiệm đàn áp.
Xin nghiêng mình kính phục và hết lòng vinh danh các tấm gương ôn hoà nhưng dũng cảm vì sự thật và công lý sáng ngời của bà con Thái Hà đã khoá tay bạo lực.
07 tháng 4, 2009
Đinh Tấn Lực
Quyền được thông tin
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua có một cuộc hội thảo về vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên Việt Nam, do Bộ Công Thương tổ chức tại Hà Nội, do một ông phó thủ tướng chủ trì. Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam đóng vai nghiên cứu và thuyết trình. Tuy người ta có cảm tưởng liên hội này là một tổ chức tư nhân nhưng trong thực tế các thứ hội trên đều do đảng Cộng Sản nắm đầu, qua hệ thống Mặt Trận Tổ Quốc. Nghĩa là các ý kiến và đề nghị của họ nhiều phần phải được “ở trên” duyệt trước.
Tuy nhiên, cho bàn luận về vấn đề khai thác bauxite là một điều tiến bộ. Dư luận dân Việt Nam đã bàn tán sôi nổi về đề tài này, nhất là trong giới thanh niên và trí thức. Người ta đã bàn từ khi những hoạt động khai thác bắt đầu, sau cả năm trời mới thấy chính quyền cho phép đem bàn công khai. Tuy chậm, nhưng vẫn hơn là tiếp tục bịt tai, bịt miệng không cho ai nói, không cho ai nghe.
Nhưng các tin tức về nội dung các cuộc thảo luận rất tổng quát. Tựu chung người dân Việt không thể biết tại sao trước đây mấy chục năm các cố vấn Nga đã khuyến cáo không nên khai thác bauxite (vì lo việc khai mỏ sẽ tác hại đến tài nguyên thiên nhiên khác và hủy hoại môi trường sống của người dân) mà bây giờ đảng Cộng Sản lại làm ngược lại. Tại sao chính quyền cộng sản, từ Bộ Chính Trị trở xuống lại quyết định cho người nước ngoài vào khai thác bauxite một cách vội vàng và kín đáo như thế? Tại sao trong số các công ty nước ngoài thì Trung Quốc lại đóng vai trò chính? Có ai biết bao nhiêu nhân viên người Trung Quốc đã vào làm việc ở Tây Nguyên, họ có giấy phép làm việc tạm thời hay theo quy chế nào hay không? Và bao nhiêu câu hỏi khác.
Không biết sau cuộc hội thảo này chính quyền cộng sản có thay đổi gì trong chương trình khai thác bauxite, được ông Nguyễn Tấn Dũng nói là một “chính sách đường lối lớn của Ðảng” hay không? Thay đổi lớn hay chỉ thay đổi son phấn đủ cho dân Việt Nam tưởng là nhà nước đã lắng nghe và đã đổi mới? Những câu hỏi trên đây có hy vọng bao giờ được trả lời hay không?
Thông tin là một quyền của người dân mỗi nước. Ở những nước Dân Chủ, báo chí được tự do như ở xứ Mỹ, chính quyền chẳng giữ được thứ bí mật nào cả. Không những người dân có quyền tìm hiểu mà những người nắm quyền hành tự coi có bổn phận phải để cửa ngỏ cho dân tha hồ nhìn vào, bên trong làm gì dân có quyền thấy hết. Không phải chỉ có chuyện chính trị, ngay cả những quyết định chuyên môn về kinh tế, tài chánh cũng vậy.
Ngày Thứ Tư vừa qua, Ngân Hàng Trung Ương Mỹ, gọi là Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang (Fed) mới công bố biên bản buổi họp gần đây nhất của Ủy Ban Chính Sách Tiền Tệ (tên gọi là Open Market Committee) trước đó ba tuần. Chính sách tiền tệ là một vấn đề mọi người kinh doanh quan tâm để đặt kế hoạch làm ăn. Các cụ thống đốc Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang Trung Ương cùng với năm vị chủ tịch Quỹ Dự Trữ Liên Bang Ðịa Phương (luân phiên trong số 12 vị) họp nhau trong phòng mật để quyết định về số phận đồng tiền trong túi của 280 triệu dân Mỹ. Cho nên người dân bình thường cũng quan tâm. Vì những quyết định của họ, như mua nhà, mua xe, mua trả góp hay trả tiền mặt, để dành tiền cho con đi học sau này, để dành tiền cưới vợ, đều có thể chịu ảnh hưởng của chính sách về lãi suất, về số tiền lưu hành trong xã hội. Ủy Ban Tiền Tệ của Ngân Hàng Trung Ương quyết định chính sách đó, cho nên ba tuần lễ sau khi họp xong, người ta cho dân Mỹ, tất cả mọi người dân được biết trong phiên họp các cụ đã bàn thảo với nhau như thế nào.
Cứ một vài tháng các nhà kinh doanh, giới đầu tư, và các nhà báo lại chờ đợi phiên họp Ủy Ban Thị Trường của Fed. Trước ngày họp bình thường đã có bao nhiêu người bàn ra tán vào. Kỳ họp vừa qua ai cũng biết các cụ sẽ không tăng lãi suất, vì kinh tế đang xuống; nhưng cũng không giảm, vì nó xuống gần sát số zero rồi, nhưng ai cũng vẫn hồi hộp chờ đợi, coi các cụ trong Ủy Ban Thị Trường họp xong thì kết quả ra sao. Và khi các quyết định được công bố, Fed sẽ bơm thêm hơn một ngàn tỷ đô la vào thị trường bằng cách in 300 tỷ đô la mua công trái, và mua những trái khoán về địa ốc khác, thì thị trường chứng khoán tăng lên ngay lập tức.
Nhưng tại sao quý vị trong ủy ban lại đi tới quyết định tăng số tiền lưu hành lớn như thế? Ngày hôm qua các báo đều loan tin chi tiết về những ý kiến được thảo luận trong phiên họp ngày 18 Tháng Ba vừa qua. Những cuộc thảo luận trong Quỹ Dự Trữ Liên Bang được công bố trễ để cho thị trường nguội bớt trước khi đọc các ý kiến dị biệt; nếu đọc sớm quá nhiều người có thể bị ảnh hưởng do mấy lời bàn cãi, rồi mò đoán mà phản ứng vội vàng. Nhưng sau một thời gian ngắn, mọi người đều có quyền được biết các tin tức gây ảnh hưởng đến đời sống của họ. Chúng tôi không thuật lại các ý kiến khác biệt trong biên bản phiên họp, vì tính chất chuyên môn mà nhiều độc giả không hiểu hết. Trong biên bản phiên họp không những các ý kiến do 12 thành viên của Hội Ðồng Tiền Tệ nói được nêu rõ, mà cả những ý kiến của các chuyên gia trong ngân hàng trung ương nêu lên cũng được kê ra. Các vị trong hội đồng phải biết ý kiến của các chuyên gia, vì họ nghiên cứu các dữ kiện cụ thể, khách quan, và họ đưa ra các đề nghị dựa trên hiểu biết về kinh tế học. Dân Mỹ cũng cần biết điều nào là những kết luận của các chuyên gia, điều nào là ý kiến, phán đoán của các thành viên trong hội đồng. Ðiều quan trọng là việc bàn luận đưa tới những quyết định có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống người dân phải được công bố chi tiết, để dân phê phán. Và để những người đóng vai quyết định chịu trách nhiệm trước công chúng. Trách nhiệm lớn nhất là uy tín của mỗi người, danh dự nghề nghiệp và tương lai của mỗi người đều tùy thuộc vào các ý kiến đó; cho nên không nên giữ bí mật.
Quý vị trong Ủy Ban Tiền Tệ nước Mỹ không do dân chúng bầu ra. Không có luật lệ nào bắt buộc họ phải công bố các biên bản phiên họp về chính sách tiền tệ. Nhưng họ ý thức là họ chịu trách nhiệm với người dân. Ở nước Mỹ chuyện kinh tế là chuyện trọng đại hạng nhất. Những quyết định của Ngân Hàng Trung Ương ảnh hưởng tới đồng tiền trong túi tất cả mọi người dân. Họ có thể làm cho đồng tiền xuống giá (vì gây lạm phát cao) hay lên giá (khi lạm phát xuống thấp). Ðó là chuyện quan trọng, dân phải biết lý do của những quyết định đã ban hành.
Ở Mỹ, những quyết định ảnh hưởng đến đời sống người dân là dân họ muốn biết, họ còn muốn biết rõ các ông nghĩ ngợi thế nào, bàn bạc ra sao mà đi quyết định như vậy. Cho nên các phiên họp của Quốc Hội phải công khai. Ngay cả khi họp bàn những chuyện đại sự như chiến tranh hay hòa bình, cũng phải họp công khai. Có thể nói các phiên họp của Quỹ Dự Trữ Liên Bang, tức Ngân Hàng Trung Ương Mỹ, đối với 280 triệu dân Mỹ nó cũng quan trọng không khác gì các phiên họp của Bộ Chính Trị ở Hà Nội đối hơn 84 triệu dân Việt Nam! Khi các giới chức thuộc Ngân Hàng Trung Ương Mỹ đem biên bản cuộc thảo luận của họ ra công bố cũng chẳng khác gì Bộ Chính Trị của một đảng Cộng Sản đang cầm quyền tiết lộ biên bản các phiên họp của họ.
Nhưng không biết bao giờ thì người Việt Nam mới biết lý do tại sao Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản lại quyết định nhanh chóng việc cho Trung Quốc vào khai thác bauxite ở núi Trường Sơn nước ta? Họ có đọc lại những khuyến cáo của các chuyên gia Nga bác bỏ việc khai thác bauxite trước đây 20, 30 năm không? Khi quyết định cho khai thác, có ông bà nào trong Bộ Chính Trị tỏ ý ngần ngại, còn ông bà nào thì hăng hái ủng hộ việc mở cửa Trường Sơn cho người Trung Quốc vào làm việc? Sau này sử sách sẽ phê phán quyết định của quý vị như thế nào? Có ai chịu trách nhiệm về quyết định đó chăng, hay là lại đổ tội tất cả lên đầu “tập thể?”
Những câu hỏi trên đây cho thấy sự khác biệt giữa những xã hội dân chủ và độc tài. Người dân một nước dân chủ có quyền biết tin tức. Họ được phép giám sát những người nắm quyền, trong những quyết định có ảnh hưởng trên đời sống của họ, dù đó là người do họ trực tiếp bầu lên hay được những người dân cử bổ nhiệm. Nếu không biết tin tức nào cả thì làm sao mà giám sát? Báo chí độc lập và tự do là khí cụ để người dân giám sát. Các định chế cân bằng kiểm soát lẫn nhau giúp người dân dễ giám sát. Và các cơ quan chính quyền tự nguyện mở cửa cho dân vào coi các quyết định của họ, để dễ làm việc giám sát.
Trong các chế độ độc tài thì không như vậy. Những người cầm quyền chẳng cần cho thằng dân biết gì cả. Các cụ quyết định cái gì cũng làm trong bí mật. Sau khi gây tai họa cho đất nước rồi thì các cụ vẫn được về nghỉ hưu an nhàn, để các đống rác lại cho đám tới sau lo.
Thấy vậy chúng ta mới cảm thương những người dân sống dưới chế độ độc tài!
Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua có một cuộc hội thảo về vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên Việt Nam, do Bộ Công Thương tổ chức tại Hà Nội, do một ông phó thủ tướng chủ trì. Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam đóng vai nghiên cứu và thuyết trình. Tuy người ta có cảm tưởng liên hội này là một tổ chức tư nhân nhưng trong thực tế các thứ hội trên đều do đảng Cộng Sản nắm đầu, qua hệ thống Mặt Trận Tổ Quốc. Nghĩa là các ý kiến và đề nghị của họ nhiều phần phải được “ở trên” duyệt trước.
Tuy nhiên, cho bàn luận về vấn đề khai thác bauxite là một điều tiến bộ. Dư luận dân Việt Nam đã bàn tán sôi nổi về đề tài này, nhất là trong giới thanh niên và trí thức. Người ta đã bàn từ khi những hoạt động khai thác bắt đầu, sau cả năm trời mới thấy chính quyền cho phép đem bàn công khai. Tuy chậm, nhưng vẫn hơn là tiếp tục bịt tai, bịt miệng không cho ai nói, không cho ai nghe.
Nhưng các tin tức về nội dung các cuộc thảo luận rất tổng quát. Tựu chung người dân Việt không thể biết tại sao trước đây mấy chục năm các cố vấn Nga đã khuyến cáo không nên khai thác bauxite (vì lo việc khai mỏ sẽ tác hại đến tài nguyên thiên nhiên khác và hủy hoại môi trường sống của người dân) mà bây giờ đảng Cộng Sản lại làm ngược lại. Tại sao chính quyền cộng sản, từ Bộ Chính Trị trở xuống lại quyết định cho người nước ngoài vào khai thác bauxite một cách vội vàng và kín đáo như thế? Tại sao trong số các công ty nước ngoài thì Trung Quốc lại đóng vai trò chính? Có ai biết bao nhiêu nhân viên người Trung Quốc đã vào làm việc ở Tây Nguyên, họ có giấy phép làm việc tạm thời hay theo quy chế nào hay không? Và bao nhiêu câu hỏi khác.
Không biết sau cuộc hội thảo này chính quyền cộng sản có thay đổi gì trong chương trình khai thác bauxite, được ông Nguyễn Tấn Dũng nói là một “chính sách đường lối lớn của Ðảng” hay không? Thay đổi lớn hay chỉ thay đổi son phấn đủ cho dân Việt Nam tưởng là nhà nước đã lắng nghe và đã đổi mới? Những câu hỏi trên đây có hy vọng bao giờ được trả lời hay không?
Thông tin là một quyền của người dân mỗi nước. Ở những nước Dân Chủ, báo chí được tự do như ở xứ Mỹ, chính quyền chẳng giữ được thứ bí mật nào cả. Không những người dân có quyền tìm hiểu mà những người nắm quyền hành tự coi có bổn phận phải để cửa ngỏ cho dân tha hồ nhìn vào, bên trong làm gì dân có quyền thấy hết. Không phải chỉ có chuyện chính trị, ngay cả những quyết định chuyên môn về kinh tế, tài chánh cũng vậy.
Ngày Thứ Tư vừa qua, Ngân Hàng Trung Ương Mỹ, gọi là Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang (Fed) mới công bố biên bản buổi họp gần đây nhất của Ủy Ban Chính Sách Tiền Tệ (tên gọi là Open Market Committee) trước đó ba tuần. Chính sách tiền tệ là một vấn đề mọi người kinh doanh quan tâm để đặt kế hoạch làm ăn. Các cụ thống đốc Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang Trung Ương cùng với năm vị chủ tịch Quỹ Dự Trữ Liên Bang Ðịa Phương (luân phiên trong số 12 vị) họp nhau trong phòng mật để quyết định về số phận đồng tiền trong túi của 280 triệu dân Mỹ. Cho nên người dân bình thường cũng quan tâm. Vì những quyết định của họ, như mua nhà, mua xe, mua trả góp hay trả tiền mặt, để dành tiền cho con đi học sau này, để dành tiền cưới vợ, đều có thể chịu ảnh hưởng của chính sách về lãi suất, về số tiền lưu hành trong xã hội. Ủy Ban Tiền Tệ của Ngân Hàng Trung Ương quyết định chính sách đó, cho nên ba tuần lễ sau khi họp xong, người ta cho dân Mỹ, tất cả mọi người dân được biết trong phiên họp các cụ đã bàn thảo với nhau như thế nào.
Cứ một vài tháng các nhà kinh doanh, giới đầu tư, và các nhà báo lại chờ đợi phiên họp Ủy Ban Thị Trường của Fed. Trước ngày họp bình thường đã có bao nhiêu người bàn ra tán vào. Kỳ họp vừa qua ai cũng biết các cụ sẽ không tăng lãi suất, vì kinh tế đang xuống; nhưng cũng không giảm, vì nó xuống gần sát số zero rồi, nhưng ai cũng vẫn hồi hộp chờ đợi, coi các cụ trong Ủy Ban Thị Trường họp xong thì kết quả ra sao. Và khi các quyết định được công bố, Fed sẽ bơm thêm hơn một ngàn tỷ đô la vào thị trường bằng cách in 300 tỷ đô la mua công trái, và mua những trái khoán về địa ốc khác, thì thị trường chứng khoán tăng lên ngay lập tức.
Nhưng tại sao quý vị trong ủy ban lại đi tới quyết định tăng số tiền lưu hành lớn như thế? Ngày hôm qua các báo đều loan tin chi tiết về những ý kiến được thảo luận trong phiên họp ngày 18 Tháng Ba vừa qua. Những cuộc thảo luận trong Quỹ Dự Trữ Liên Bang được công bố trễ để cho thị trường nguội bớt trước khi đọc các ý kiến dị biệt; nếu đọc sớm quá nhiều người có thể bị ảnh hưởng do mấy lời bàn cãi, rồi mò đoán mà phản ứng vội vàng. Nhưng sau một thời gian ngắn, mọi người đều có quyền được biết các tin tức gây ảnh hưởng đến đời sống của họ. Chúng tôi không thuật lại các ý kiến khác biệt trong biên bản phiên họp, vì tính chất chuyên môn mà nhiều độc giả không hiểu hết. Trong biên bản phiên họp không những các ý kiến do 12 thành viên của Hội Ðồng Tiền Tệ nói được nêu rõ, mà cả những ý kiến của các chuyên gia trong ngân hàng trung ương nêu lên cũng được kê ra. Các vị trong hội đồng phải biết ý kiến của các chuyên gia, vì họ nghiên cứu các dữ kiện cụ thể, khách quan, và họ đưa ra các đề nghị dựa trên hiểu biết về kinh tế học. Dân Mỹ cũng cần biết điều nào là những kết luận của các chuyên gia, điều nào là ý kiến, phán đoán của các thành viên trong hội đồng. Ðiều quan trọng là việc bàn luận đưa tới những quyết định có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống người dân phải được công bố chi tiết, để dân phê phán. Và để những người đóng vai quyết định chịu trách nhiệm trước công chúng. Trách nhiệm lớn nhất là uy tín của mỗi người, danh dự nghề nghiệp và tương lai của mỗi người đều tùy thuộc vào các ý kiến đó; cho nên không nên giữ bí mật.
Quý vị trong Ủy Ban Tiền Tệ nước Mỹ không do dân chúng bầu ra. Không có luật lệ nào bắt buộc họ phải công bố các biên bản phiên họp về chính sách tiền tệ. Nhưng họ ý thức là họ chịu trách nhiệm với người dân. Ở nước Mỹ chuyện kinh tế là chuyện trọng đại hạng nhất. Những quyết định của Ngân Hàng Trung Ương ảnh hưởng tới đồng tiền trong túi tất cả mọi người dân. Họ có thể làm cho đồng tiền xuống giá (vì gây lạm phát cao) hay lên giá (khi lạm phát xuống thấp). Ðó là chuyện quan trọng, dân phải biết lý do của những quyết định đã ban hành.
Ở Mỹ, những quyết định ảnh hưởng đến đời sống người dân là dân họ muốn biết, họ còn muốn biết rõ các ông nghĩ ngợi thế nào, bàn bạc ra sao mà đi quyết định như vậy. Cho nên các phiên họp của Quốc Hội phải công khai. Ngay cả khi họp bàn những chuyện đại sự như chiến tranh hay hòa bình, cũng phải họp công khai. Có thể nói các phiên họp của Quỹ Dự Trữ Liên Bang, tức Ngân Hàng Trung Ương Mỹ, đối với 280 triệu dân Mỹ nó cũng quan trọng không khác gì các phiên họp của Bộ Chính Trị ở Hà Nội đối hơn 84 triệu dân Việt Nam! Khi các giới chức thuộc Ngân Hàng Trung Ương Mỹ đem biên bản cuộc thảo luận của họ ra công bố cũng chẳng khác gì Bộ Chính Trị của một đảng Cộng Sản đang cầm quyền tiết lộ biên bản các phiên họp của họ.
Nhưng không biết bao giờ thì người Việt Nam mới biết lý do tại sao Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản lại quyết định nhanh chóng việc cho Trung Quốc vào khai thác bauxite ở núi Trường Sơn nước ta? Họ có đọc lại những khuyến cáo của các chuyên gia Nga bác bỏ việc khai thác bauxite trước đây 20, 30 năm không? Khi quyết định cho khai thác, có ông bà nào trong Bộ Chính Trị tỏ ý ngần ngại, còn ông bà nào thì hăng hái ủng hộ việc mở cửa Trường Sơn cho người Trung Quốc vào làm việc? Sau này sử sách sẽ phê phán quyết định của quý vị như thế nào? Có ai chịu trách nhiệm về quyết định đó chăng, hay là lại đổ tội tất cả lên đầu “tập thể?”
Những câu hỏi trên đây cho thấy sự khác biệt giữa những xã hội dân chủ và độc tài. Người dân một nước dân chủ có quyền biết tin tức. Họ được phép giám sát những người nắm quyền, trong những quyết định có ảnh hưởng trên đời sống của họ, dù đó là người do họ trực tiếp bầu lên hay được những người dân cử bổ nhiệm. Nếu không biết tin tức nào cả thì làm sao mà giám sát? Báo chí độc lập và tự do là khí cụ để người dân giám sát. Các định chế cân bằng kiểm soát lẫn nhau giúp người dân dễ giám sát. Và các cơ quan chính quyền tự nguyện mở cửa cho dân vào coi các quyết định của họ, để dễ làm việc giám sát.
Trong các chế độ độc tài thì không như vậy. Những người cầm quyền chẳng cần cho thằng dân biết gì cả. Các cụ quyết định cái gì cũng làm trong bí mật. Sau khi gây tai họa cho đất nước rồi thì các cụ vẫn được về nghỉ hưu an nhàn, để các đống rác lại cho đám tới sau lo.
Thấy vậy chúng ta mới cảm thương những người dân sống dưới chế độ độc tài!
Tham gia, dù không được tham dự
Nguyễn Ðạt Thịnh
Chúng ta không được tham dự buổi kiểm điểm nhân quyền toàn cầu của Liên Hiệp Quốc tổ chức vào ngày mùng 8 tháng 5 sắp tới, nhưng chúng ta không thể không tham gia vào buổi kiểm điểm này, vì đây là cơ hội 4 năm chỉ đến có một lần, và đây là lần đầu tiên Việt Cộng tham dự kiểm điểm. Không thể bỏ lỡ cơ hội chất vấn chúng trước cử tọa thế giới bằng những câu hỏi nghiêm túc, xác đáng, xoáy thẳng vào cốt lõi của vấn đề và ngăn chặn trước được những lập luận trả lời lươn lẹo của chúng.
Nhưng làm cách nào tham gia cuộc kiểm điểm này, khi chúng ta đã không có quyền tham dự?
Thưa quý vị, cách tham gia là trực tiếp gửi câu hỏi cho đại sứ tại LHQ của các quốc gia hội viên LHQ; tại Hoa Kỳ chúng ta có thể gửi, gọi, hay email cho:
United States Commission on International Religious Freedom
(Ủy Ban Quốc Tế Tự Do Tôn Giáo của chính phủ Hoa Kỳ)
800 N. Capitol Street, N.W., Suite 790
Washington, D.C. 20002
Phone: (202) 523-3240
Fax: (202) 523-5020
Email: communications@ uscirf.gov
This e-mail address is being protected from spam bots, you need JavaScript enabled to view it.
Chúng ta phải viết lên những câu hỏi này, vì có nhiều góc cạnh phức tạp, tế nhị và lối bào chữa, giải thích lươn lẹo của Việt Cộng khiến người ngoại quốc không hiểu được thực trạng.
Một thí dụ: việc chúng tạo ra một Giáo Hội Việt Nam khác để giúp chúng biện minh việc đặt Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất ra ngoài vòng pháp luật, quản thúc Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ.
Một việc khác: thế giới biết việc Việt Cộng ngăn cấm tự do báo chí, nhưng chưa ai “kiểm điểm” để chúng phải trả lời hai câu hỏi (1) có phải toàn bộ mấy trăm tờ báo xuất bản tại Việt Nam là của nhà nước không? và (2) tổng trưởng Thông Tin Việt Cộng khuyến cáo báo chí đi trên lề đường bên phải, như vậy thông tin trung thực có được phép không?
Có thể nhiều chính trị gia biết những điều này nhưng không phải mọi người đều biết; và cũng có thể câu trả lời của Việt Cộng sẽ tạo ra một trò cười mới.
Tiến sĩ Scott Flipse, chuyên gia cao cấp về phân tích chính sách, kiêm giám đốc các chương trình Đông Á của Ủy ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế, nói với cô Trà Mi đài phát thanh RFA là chính quốc hội Hoa Kỳ cũng tổ chức một buổi họp ngày mùng 1 tháng Tư để bàn bạc kế hoạch, chuẩn bị cho buổi Kiểm điểm nhân quyền toàn cầu định kỳ.
Ông còn nói không chỉ riêng Mỹ mà tất cả mọi quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến tình hình vi phạm nhân quyền của Hà Nội, vì nhân quyền là vấn đề mang tính toàn cầu, không thể nào làm ngơ.
Ông Flipse cho là, vì đây là lần đầu tham gia cuộc kiểm điểm của LHQ, Việt Cộng sẽ phải đối phó với những chất vấn do các quốc gia trên thế giới đặt ra. Flipse cũng nói quốc tế hóa những mối quan tâm về thực trạng nhân quyền tại Việt Nam là điều cần phải làm.
Thế giới quan tâm đến tình hình vi phạm nhân quyền của Hà Nội, vì nhân quyền là vấn đề mang tính toàn cầu, không thể nào làm ngơ.
“Chúng tôi muốn các nước thành viên của LHQ nêu lên những câu hỏi chất vấn Việt Nam trong các lĩnh vực như tự do ngôn luận, tự do internet, tự do tôn giáo, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do nghiệp đoàn, và quyền công dân được tự do phê bình chính phủ một cách ôn hòa,” Flipse nói. “Đây là những điều được bảo vệ trong tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế, nhưng lại là những vấn đề khó khăn tại Việt Nam.”
Flipse nguyên là giáo sư dạy lịch sử tại University of Notre Dame, và cũng là một chuyên gia về chính sách của Hoa Kỳ tại Ðông Á và Ðông Nam Á. Tháng Tư năm 2003 ông gia nhập vào Ủy Ban Quốc Tế Tự Do Tôn Giáo của chính phủ Hoa Kỳ.
Ông nói vấn đề nhân quyền của Việt Nam được đặt ra trong các mối quan hệ song phương giữa Mỹ, Úc, Liên hiệp Châu Âu, Thụy Sĩ, Na-uy với Việt Nam. Tất cả đều có các cuộc đối thoại nhân quyền với Việt Nam. Nhưng kiểm điểm nhân quyền quốc tế định kỳ lại là bước giúp đảm bảo các cuộc đối thoại nhân quyền song phương ấy trong tương lai sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn và đó là yếu tố quan trọng. Đây chỉ là một trong hàng loạt các phương thức để tiếp tục bày tỏ sự quan tâm của quốc tế đối với nhân quyền Việt Nam để tìm kiếm những thay đổi tích cực từ Hà Nội.
Người Việt hải ngoại không chỉ hiện diện tại những quốc gia đang có đối thoại nhân quyền với Việt Cộng mà thôi, chúng ta còn có mặt tại Pháp, Ðức, Anh, Nhật, Nam Hàn, Ấn Ðộ để viết thư cho những đại sứ của những quốc gia này tại LHQ và đề nghị với họ những câu hỏi nói lên tình trạng chà đạp nhân quyền tại Việt Nam hiện nay.
Xin quý vị chủ trương mạng lưới điện tử giúp vận động đồng bào chúng ta trên khắp thế giới tham gia cuộc kiểm điểm “4 năm một thủa” này.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nguyễn Ðạt Thịnh
Chúng ta không được tham dự buổi kiểm điểm nhân quyền toàn cầu của Liên Hiệp Quốc tổ chức vào ngày mùng 8 tháng 5 sắp tới, nhưng chúng ta không thể không tham gia vào buổi kiểm điểm này, vì đây là cơ hội 4 năm chỉ đến có một lần, và đây là lần đầu tiên Việt Cộng tham dự kiểm điểm. Không thể bỏ lỡ cơ hội chất vấn chúng trước cử tọa thế giới bằng những câu hỏi nghiêm túc, xác đáng, xoáy thẳng vào cốt lõi của vấn đề và ngăn chặn trước được những lập luận trả lời lươn lẹo của chúng.
Nhưng làm cách nào tham gia cuộc kiểm điểm này, khi chúng ta đã không có quyền tham dự?
Thưa quý vị, cách tham gia là trực tiếp gửi câu hỏi cho đại sứ tại LHQ của các quốc gia hội viên LHQ; tại Hoa Kỳ chúng ta có thể gửi, gọi, hay email cho:
United States Commission on International Religious Freedom
(Ủy Ban Quốc Tế Tự Do Tôn Giáo của chính phủ Hoa Kỳ)
800 N. Capitol Street, N.W., Suite 790
Washington, D.C. 20002
Phone: (202) 523-3240
Fax: (202) 523-5020
Email: communications@ uscirf.gov
This e-mail address is being protected from spam bots, you need JavaScript enabled to view it.
Chúng ta phải viết lên những câu hỏi này, vì có nhiều góc cạnh phức tạp, tế nhị và lối bào chữa, giải thích lươn lẹo của Việt Cộng khiến người ngoại quốc không hiểu được thực trạng.
Một thí dụ: việc chúng tạo ra một Giáo Hội Việt Nam khác để giúp chúng biện minh việc đặt Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất ra ngoài vòng pháp luật, quản thúc Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ.
Một việc khác: thế giới biết việc Việt Cộng ngăn cấm tự do báo chí, nhưng chưa ai “kiểm điểm” để chúng phải trả lời hai câu hỏi (1) có phải toàn bộ mấy trăm tờ báo xuất bản tại Việt Nam là của nhà nước không? và (2) tổng trưởng Thông Tin Việt Cộng khuyến cáo báo chí đi trên lề đường bên phải, như vậy thông tin trung thực có được phép không?
Có thể nhiều chính trị gia biết những điều này nhưng không phải mọi người đều biết; và cũng có thể câu trả lời của Việt Cộng sẽ tạo ra một trò cười mới.
Tiến sĩ Scott Flipse, chuyên gia cao cấp về phân tích chính sách, kiêm giám đốc các chương trình Đông Á của Ủy ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế, nói với cô Trà Mi đài phát thanh RFA là chính quốc hội Hoa Kỳ cũng tổ chức một buổi họp ngày mùng 1 tháng Tư để bàn bạc kế hoạch, chuẩn bị cho buổi Kiểm điểm nhân quyền toàn cầu định kỳ.
Ông còn nói không chỉ riêng Mỹ mà tất cả mọi quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến tình hình vi phạm nhân quyền của Hà Nội, vì nhân quyền là vấn đề mang tính toàn cầu, không thể nào làm ngơ.
Ông Flipse cho là, vì đây là lần đầu tham gia cuộc kiểm điểm của LHQ, Việt Cộng sẽ phải đối phó với những chất vấn do các quốc gia trên thế giới đặt ra. Flipse cũng nói quốc tế hóa những mối quan tâm về thực trạng nhân quyền tại Việt Nam là điều cần phải làm.
Thế giới quan tâm đến tình hình vi phạm nhân quyền của Hà Nội, vì nhân quyền là vấn đề mang tính toàn cầu, không thể nào làm ngơ.
“Chúng tôi muốn các nước thành viên của LHQ nêu lên những câu hỏi chất vấn Việt Nam trong các lĩnh vực như tự do ngôn luận, tự do internet, tự do tôn giáo, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do nghiệp đoàn, và quyền công dân được tự do phê bình chính phủ một cách ôn hòa,” Flipse nói. “Đây là những điều được bảo vệ trong tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế, nhưng lại là những vấn đề khó khăn tại Việt Nam.”
Flipse nguyên là giáo sư dạy lịch sử tại University of Notre Dame, và cũng là một chuyên gia về chính sách của Hoa Kỳ tại Ðông Á và Ðông Nam Á. Tháng Tư năm 2003 ông gia nhập vào Ủy Ban Quốc Tế Tự Do Tôn Giáo của chính phủ Hoa Kỳ.
Ông nói vấn đề nhân quyền của Việt Nam được đặt ra trong các mối quan hệ song phương giữa Mỹ, Úc, Liên hiệp Châu Âu, Thụy Sĩ, Na-uy với Việt Nam. Tất cả đều có các cuộc đối thoại nhân quyền với Việt Nam. Nhưng kiểm điểm nhân quyền quốc tế định kỳ lại là bước giúp đảm bảo các cuộc đối thoại nhân quyền song phương ấy trong tương lai sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn và đó là yếu tố quan trọng. Đây chỉ là một trong hàng loạt các phương thức để tiếp tục bày tỏ sự quan tâm của quốc tế đối với nhân quyền Việt Nam để tìm kiếm những thay đổi tích cực từ Hà Nội.
Người Việt hải ngoại không chỉ hiện diện tại những quốc gia đang có đối thoại nhân quyền với Việt Cộng mà thôi, chúng ta còn có mặt tại Pháp, Ðức, Anh, Nhật, Nam Hàn, Ấn Ðộ để viết thư cho những đại sứ của những quốc gia này tại LHQ và đề nghị với họ những câu hỏi nói lên tình trạng chà đạp nhân quyền tại Việt Nam hiện nay.
Xin quý vị chủ trương mạng lưới điện tử giúp vận động đồng bào chúng ta trên khắp thế giới tham gia cuộc kiểm điểm “4 năm một thủa” này.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nhận Định về Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975
Bùi Tín
(Nhân ngày 30-4, trả lời phỏng vấn một số báo trong và ngoài nước, nhà báo tự do Bùi Tín hiện sống ở Pháp, 33 năm trước từng có mặt tại dinh Độc lập Sàigòn, phát biểu như sau):
* Không, không có giải phóng, thống nhất
* Cuộc ăn cắp khổng lồ
* Những ngộ nhận vô duyên
* Chung vui cùng Lịch sử và Thời đại
33 năm đã qua, theo tôi, với khoảng cách thời gian dài để có thể suy ngẫm sâu sắc và nhận ra sự thật lịch sử, mọi người Việt nam, kể cả những người Cộng sản, cần đính chính một nhận thức sai lầm nguy hiểm đã bị những người lãnh đạo cộng sản áp đặt theo kiểu cưỡng hiếp mọi người dân phải thừa nhận. Họ buộc mọi người công nhận rằng việc họ chủ trương đưa quân từ miền Bắc vào miền Nam chiến đấu từ 1960 đến 1975 là chính nghĩa nhằm giải phóng và thống nhất đất nước, và ngày 30-4 là ngày Toàn thắng Vĩ đại.
Hôm nay tôi sẵn sàng nói to cho mọi người nghe rõ: đất nước Việt nam ta sau ngày 30-4-1975 không hề được giải phóng, cũng không hề được thống nhất. Ngày 30-4, đảng cộng sản thắng, toàn dân vẫn thua, vẫn bị thống trị bới độc quyền đảng trị.
Đảng cộng sản đã thực hiện chính sách chiếm đóng và thống trị miền Nam, bỏ tù và quản thúc hàng triệu người dân, tước đoạt của cải của dân qua đổi tiền và cải tạo, thải loại ngay Mặt trận dân tộc giải phóng, gây thảm cảnh hàng triệu thuyền nhân. Như thế mà là giải phóng, là thống nhất ư ?
Sau 30-4-1975, chỉ riêng đảng cộng sản cầm quyền, không cho ai lập hội, không cho một tư nhân nào ra báo, không có tự do ứng cử và bầu cử, thế mà gọi là giải phóng dân tộc ư ? là tự do ư ?
Còn nay thì đảng giàu, giàu sụ, dân nghèo, nghèo rớt. Thống nhất kiểu gì vậy? phát triển kiểu gì vậy?
Một nước ''độc lập'' mà buộc phải ký những hiệp ước bất bình đẳng, để bị mất đất, mất biển hàng trăm, hàng nghìn kilômét vuông, mất đảo, mất vô vàn tài nguyên hải sản; rồi người nước ngoài muốn đuốc của họ đến nước ta, vào lúc nào, ở đâu là do họ quyết định; bộ trưởng ngoại giao của họ lại còn sang thủ đô ta để giao nhiệm vụ cho bộ trưởng ngoại giao, cho thủ tướng và cho chủ tịch quốc hội phải bảo vệ đuốc của họ cho triệt để, và còn cho an ninh vũ trang của họ vào tham gia đàn áp nhân dân nếu có biểu tình ôn hòa......thì thử hỏi nước ấy độc lập ở chỗ nào? có chủ quyền ở chỗ nào ? những người lãnh đạo của ta có còn chút thực quyền, có còn chút tự hào dân tộc gì nữa đâu ! Người Việt chân chính tự trọng không xử sự như thế.
Đây là điều mỗi người Việt ta ở trong hay ngoài nước hãy suy nghĩ cho kỹ nhân ngày 30-4 năm nay.
Tôi mong tuổi trẻ trong nước trau dồi tư duy độc lập, tập suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo của chính mình, và đọc bài luận văn ngắn của nhà triết học Pháp trứ danh Jean - François REVEL: ''Hồ Chí Minh: sự tước đoạt lòng yêu nước ''. Bài luận văn sắc sảo chỉ thẳng ra sự thật phũ phàng, là ông Hồ và đảng CS đã lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân Việt nam để phục vụ cho mưu đồ phe đảng của ông ta, để thỏa mãn mục tiêu thống trí thế giới của Quốc tế Cộng Sản III. Chữ ''détournement' ' theo tiếng Pháp có ý nghĩa khá rộng là ''tước đoạt'', ''lấy trộm, lấy cắp '', '' của người khác xoáy làm của mình'','' chuyển thành, biến thành của mình ''.
Đọc xong, tôi ngấm sâu ý nghĩa của từ ''tước đoạt'', và cảm thấy mình như bị mất cắp, mà mất cắp cái gì quý lắm, vô giá. Cả tuổi trẻ đầy lý tưởng và nghị lực, cả mấy chục năm bị đánh lừa, bị móc túi, bị gạ gẫm, để đến gần cuối đời mới tỉnh ra, mà thương hại, mà tiếc thay cho bao nhiêu người vẫn chưa tỉnh! Giả thử trong cuộc đời thường, một người bị mất cắp chiếc xe máy, chiếc đồng hồ đắt tiền, chiếc nhẫn vàng kỷ niệm ngày cưới ... hẳn là tiếc, tiếc nuối vô cùng, xót xa hàng tháng. Thế mà biết bao người bị lừa cả cuộc đời, có khi mất cả mạng sống, và hàng triệu triệu anh chị em, dòng họ, đồng bào mình cùng bị lừa hàng nửa thế kỷ ! một cuộc ăn cắp, lường gạt khổng lồ. Hãy chỉ cho nhau kịp thấy đi, để mà tiếc, mà xót xa, mà đòi lại quyền sống tự do cho mỗi người, mở ra cuộc đấu tranh mới dành lại độc lập thật sự và thống nhất thật sự cho Tổ quốc.
30-4- năm nay, tôi vui vẻ nhẹ nhàng lắm. Tôi có thêm biết bao bạn quý, từ khi là nhà báo tự do 18 năm nay. Bạn trong nước, ngoài nước, bạn già, bạn trẻ, bạn rất trẻ. Tôi viết không theo lệnh ai, không phải đưa ai duyệt, chỉ có theo lương tâm và trí tuệ, không sùng bái ai, chỉ sùng bái sự thật. Tuổi già tự do thế này thật đáng sống. Khó khăn vật chất mà sướng vô kể.
Tôi bỏ hết danh vọng hão, chức tước phù du, huân chương mai mỉa, tự hổ thẹn từng cao ngạo vô duyên về chuyện vào dinh Độc lập sớm, xế trưa 30-4, vớ vẩn, lạc điệu cả, cá nhân lầm lạc, ngộ nhận hết.
Để làm gì cơ chứ ? để đất nước ra nông nỗi này ư? độc lập, không ! tự do, không ! chủ quyền, không ! về mặt nào cũng đứng dưới 100 nước khác!
30 tháng 4 năm nay, tự thâm tâm, tôi chỉ có một lời kêu gọi với các bè bạn và đông chí cũ của tôi: hãy quý trọng lòng yêu nước thương dân của chính mình, nếu bạn thấy lòng yêu nước ấy đã bị ai đó '' xoáy'' mất để dùng vào mục đích đáng nghi ngờ và đen tối, thi hãy lên tiếng tố cáo và tự tách mình khỏi trò lừa bịp và đánh cắp trắng trợn ấy !
Bạn hãy tự phục hồi lòng yêu nước thương dân trọn vẹn của mình để cùng mọi người Việt nam tỉnh táo và tử tế đấu tranh cho một Tổ quốc Việt nam thật sự độc lập, thật sự tự do, dựa vững vào Lịch sử Dân tộc và Thời Đại.
Bùi Tín
Bùi Tín
(Nhân ngày 30-4, trả lời phỏng vấn một số báo trong và ngoài nước, nhà báo tự do Bùi Tín hiện sống ở Pháp, 33 năm trước từng có mặt tại dinh Độc lập Sàigòn, phát biểu như sau):
* Không, không có giải phóng, thống nhất
* Cuộc ăn cắp khổng lồ
* Những ngộ nhận vô duyên
* Chung vui cùng Lịch sử và Thời đại
33 năm đã qua, theo tôi, với khoảng cách thời gian dài để có thể suy ngẫm sâu sắc và nhận ra sự thật lịch sử, mọi người Việt nam, kể cả những người Cộng sản, cần đính chính một nhận thức sai lầm nguy hiểm đã bị những người lãnh đạo cộng sản áp đặt theo kiểu cưỡng hiếp mọi người dân phải thừa nhận. Họ buộc mọi người công nhận rằng việc họ chủ trương đưa quân từ miền Bắc vào miền Nam chiến đấu từ 1960 đến 1975 là chính nghĩa nhằm giải phóng và thống nhất đất nước, và ngày 30-4 là ngày Toàn thắng Vĩ đại.
Hôm nay tôi sẵn sàng nói to cho mọi người nghe rõ: đất nước Việt nam ta sau ngày 30-4-1975 không hề được giải phóng, cũng không hề được thống nhất. Ngày 30-4, đảng cộng sản thắng, toàn dân vẫn thua, vẫn bị thống trị bới độc quyền đảng trị.
Đảng cộng sản đã thực hiện chính sách chiếm đóng và thống trị miền Nam, bỏ tù và quản thúc hàng triệu người dân, tước đoạt của cải của dân qua đổi tiền và cải tạo, thải loại ngay Mặt trận dân tộc giải phóng, gây thảm cảnh hàng triệu thuyền nhân. Như thế mà là giải phóng, là thống nhất ư ?
Sau 30-4-1975, chỉ riêng đảng cộng sản cầm quyền, không cho ai lập hội, không cho một tư nhân nào ra báo, không có tự do ứng cử và bầu cử, thế mà gọi là giải phóng dân tộc ư ? là tự do ư ?
Còn nay thì đảng giàu, giàu sụ, dân nghèo, nghèo rớt. Thống nhất kiểu gì vậy? phát triển kiểu gì vậy?
Một nước ''độc lập'' mà buộc phải ký những hiệp ước bất bình đẳng, để bị mất đất, mất biển hàng trăm, hàng nghìn kilômét vuông, mất đảo, mất vô vàn tài nguyên hải sản; rồi người nước ngoài muốn đuốc của họ đến nước ta, vào lúc nào, ở đâu là do họ quyết định; bộ trưởng ngoại giao của họ lại còn sang thủ đô ta để giao nhiệm vụ cho bộ trưởng ngoại giao, cho thủ tướng và cho chủ tịch quốc hội phải bảo vệ đuốc của họ cho triệt để, và còn cho an ninh vũ trang của họ vào tham gia đàn áp nhân dân nếu có biểu tình ôn hòa......thì thử hỏi nước ấy độc lập ở chỗ nào? có chủ quyền ở chỗ nào ? những người lãnh đạo của ta có còn chút thực quyền, có còn chút tự hào dân tộc gì nữa đâu ! Người Việt chân chính tự trọng không xử sự như thế.
Đây là điều mỗi người Việt ta ở trong hay ngoài nước hãy suy nghĩ cho kỹ nhân ngày 30-4 năm nay.
Tôi mong tuổi trẻ trong nước trau dồi tư duy độc lập, tập suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo của chính mình, và đọc bài luận văn ngắn của nhà triết học Pháp trứ danh Jean - François REVEL: ''Hồ Chí Minh: sự tước đoạt lòng yêu nước ''. Bài luận văn sắc sảo chỉ thẳng ra sự thật phũ phàng, là ông Hồ và đảng CS đã lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân Việt nam để phục vụ cho mưu đồ phe đảng của ông ta, để thỏa mãn mục tiêu thống trí thế giới của Quốc tế Cộng Sản III. Chữ ''détournement' ' theo tiếng Pháp có ý nghĩa khá rộng là ''tước đoạt'', ''lấy trộm, lấy cắp '', '' của người khác xoáy làm của mình'','' chuyển thành, biến thành của mình ''.
Đọc xong, tôi ngấm sâu ý nghĩa của từ ''tước đoạt'', và cảm thấy mình như bị mất cắp, mà mất cắp cái gì quý lắm, vô giá. Cả tuổi trẻ đầy lý tưởng và nghị lực, cả mấy chục năm bị đánh lừa, bị móc túi, bị gạ gẫm, để đến gần cuối đời mới tỉnh ra, mà thương hại, mà tiếc thay cho bao nhiêu người vẫn chưa tỉnh! Giả thử trong cuộc đời thường, một người bị mất cắp chiếc xe máy, chiếc đồng hồ đắt tiền, chiếc nhẫn vàng kỷ niệm ngày cưới ... hẳn là tiếc, tiếc nuối vô cùng, xót xa hàng tháng. Thế mà biết bao người bị lừa cả cuộc đời, có khi mất cả mạng sống, và hàng triệu triệu anh chị em, dòng họ, đồng bào mình cùng bị lừa hàng nửa thế kỷ ! một cuộc ăn cắp, lường gạt khổng lồ. Hãy chỉ cho nhau kịp thấy đi, để mà tiếc, mà xót xa, mà đòi lại quyền sống tự do cho mỗi người, mở ra cuộc đấu tranh mới dành lại độc lập thật sự và thống nhất thật sự cho Tổ quốc.
30-4- năm nay, tôi vui vẻ nhẹ nhàng lắm. Tôi có thêm biết bao bạn quý, từ khi là nhà báo tự do 18 năm nay. Bạn trong nước, ngoài nước, bạn già, bạn trẻ, bạn rất trẻ. Tôi viết không theo lệnh ai, không phải đưa ai duyệt, chỉ có theo lương tâm và trí tuệ, không sùng bái ai, chỉ sùng bái sự thật. Tuổi già tự do thế này thật đáng sống. Khó khăn vật chất mà sướng vô kể.
Tôi bỏ hết danh vọng hão, chức tước phù du, huân chương mai mỉa, tự hổ thẹn từng cao ngạo vô duyên về chuyện vào dinh Độc lập sớm, xế trưa 30-4, vớ vẩn, lạc điệu cả, cá nhân lầm lạc, ngộ nhận hết.
Để làm gì cơ chứ ? để đất nước ra nông nỗi này ư? độc lập, không ! tự do, không ! chủ quyền, không ! về mặt nào cũng đứng dưới 100 nước khác!
30 tháng 4 năm nay, tự thâm tâm, tôi chỉ có một lời kêu gọi với các bè bạn và đông chí cũ của tôi: hãy quý trọng lòng yêu nước thương dân của chính mình, nếu bạn thấy lòng yêu nước ấy đã bị ai đó '' xoáy'' mất để dùng vào mục đích đáng nghi ngờ và đen tối, thi hãy lên tiếng tố cáo và tự tách mình khỏi trò lừa bịp và đánh cắp trắng trợn ấy !
Bạn hãy tự phục hồi lòng yêu nước thương dân trọn vẹn của mình để cùng mọi người Việt nam tỉnh táo và tử tế đấu tranh cho một Tổ quốc Việt nam thật sự độc lập, thật sự tự do, dựa vững vào Lịch sử Dân tộc và Thời Đại.
Bùi Tín
Cấm vận, phong toả?
Tác giả: Trần Khải
Có nên cấm vận các nước như Việt Nam, Miến Điện, Bắc Hàn, Cuba nữa hay không? Có nên kêu gọi ngăn sông cấm chợ tạị các nước hung thần nhân quyền này hay không? Hay là nên kêu gọi du khách quốc tế đổ bộ vào các nước này đông thêm để sẽ diễn biến hòa bình?
Đó là các câu hỏi đã được suy xét đối với Mỹ từ nhiều thập niên rồi. Thực tế, không dễ trả lời. Như trường hợp Hoa Kỳ đã giao thương và đầu tư tại Trung Quốc và Việt Nam, nhưng các bước tiến nhân quyền vẫn chưa thực sự ở các tốc độ như ý. Nhưng nếu cấm vận trở lại, cũng chưa hẳn có lợi, và cũng không có cớ nào đủ mạnh.
Một trường hợp “gân gà” của Mỹ là Miến Điện. Báo Washington Post hôm 13-4-2009 viết rằng Hoa Kỳ đang duyệt xét lại chính sách cấm vận Miến Điện. Báo này nhắc rằng Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton khi thăm Châu Á hồi tháng 2-2009 có nói như thế, vì “cấm vận không ảnh hưởng gì tới chính phủ quân phiệt Miến Điện. Nhưng chìa tay ra để lôi kéo họ làm việc cũng không được”.
Báo này nói, trong 12 năm qua, Mỹ đã cấm vận nghiêm ngặt Miến Điện, ngăn chận nhập cảng, đầu tư, mọi quan hệ tài chánh... trong khi Khối ASEAN linh động hơn, mời gọi Miến gia nhập ASEAN từ năm 1997 để lèo lái Miến cởi mở. Hai cách đều hỏng. Lãnh tụ dân chủ Aung San Suu Kyi vẫn bị quản thúc tại gia.
Chỉ được chút điểm sáng: Sean Turnell, chuyên gia Úc Châu về Miến Điện, nói gỡ cấm vận thực ra có lợi cho xã hội Miến hơn, ít nhất là chính phủ Miến đã chịu thả 2,100 tù nhân chính trị sau khi có áp lực ASEAN.
Thant Myint-U, tác giả cuốn sách về lịch sử Miến Điện nhan đề The River of Lost Footsteps, ông cũng là cháu của cựu Tổng Thư Ký LHQ U Thant, nói rằng cấm vận hiện nay chỉ làm hại người dân Miến Điện bình thường thôi, không làm hại ông tướng Miến Điện nào.
Còn một thực tế nữa, báo Washington Post nói rằng tình hình Mỹ cấm vận đã đẩy Miến Điện lệ thuộc nhiều vào giao thương với Trung Quốc hơn, và về lâu dài sẽ thiệt hại cho quyền lợi Hoa Kỳ và Tây Phương ở Châu Á.
Thực tế, điều đó cũng đã thấy rõ ở Việt Nam. Và bây giờ không thấy ai kêu gọi Mỹ cấm vận Việt Nam nữa.
Đó cũng là lý do Tổng Thống Barack Obama hôm Thứ Hai 13-4-2009 chỉ thị cho các gia đình Mỹ gốc Cuba được tự do viếng thăm, không giới hạn và gửi tiền về cho gia đình họ ở Cuba, Và “sẽ có thêm các bước nới lỏng các hạn chế của Mỹ đối với Cuba”, theo lời phát ngôn nhân Bạch Ốc Robert Gibbs.
Nếu chúng ta nhớ rằng, khi cựu Tổng Thống George Bush tái tranh cử Tổng thống năm 2004, viếng thăm Miami, nơi có đông dân gốc Cuba, tuyên bố rằng chế độ Fidel Castro sẽ sụp đổ trước khi ông Bush hết nhiệm kỳ. Nhưng TT Bush xuống rồi, anh em Castro vẫn còn đó, và chế độ độc tài này vẫn vững vàng. Thế nên, TT Obama phải đổi nứớc cờ. Tình hình này thực ra cũng vì suy nghĩ của dân Mỹ gốc Cuba đã đổi chiều. Không phải là họ ủng hộ chế độ Castro, hay họ lưng chừng xôi đậu. Mà vì phong trào dân chủ Cuba cần giao lưu mạnh với hải ngoại. Tất cả mọi sự cô lập, giai đoạn này đều sẽ bất lợi cho dân Cuba và chỉ làm lợi cho anh em Castro.
Hiện thời có 1.5 triệu dân Mỹ có thân nhân tại Cuba. Bản tin AP nói rằng Obama hy vọng sự cởi mở, gỡ cấm vận, gửi tiền về ào ạt và cho dân Mỹ gốc Cuba đổ bộ về Cuba sẽ “tạo thêm không gian mới cho dân tộc Cuba trong nỗ lực đòi tự do chính trị và một chính phủ dân chủ, một phần bằng cách làm cho họ bớt lệ thuộc vào chế độ Castro”.
Bản tin AP cũng nói là Obama cho phép gửi quà về Cuba, và cấp giấy phép cho các công ty muốn kinh doanh truyền thông tại Cuba.
Chuyện này không có gì bất ngờ. Obama đã nói từ tháng 5-2008 khi vận động tranh cử tại Miami, “Không có các đại sứ nào cho tự do xuất sắc hơn dân Mỹ gốc Cuba. Đã tới lúc để dân Mỹ gốc Cuba về thăm mẹ cha của họ, thăm anh chị em của họ. Đã tới lúc hãy để người Mỹ gốc Cuba gửi tiền về cho gia đình của họ bớt lệ thuộc vào chế độ Castro”.
Lúc đó, Obama đã chỉ trích TT Bush, khi Obama hứa sẽ rời bỏ chính sách phong tỏa Cuba. Obama năm ngoáí nói, “Họ đi tới Miami, họ nói giọng cứng rắn, họ lại trở về Washington, và không có gì thay đổi tại Cuba”.
Obama cũng hứa sẽ ngoạị giao trực tiếp với Cuba, “không điều kiện tiên quyết,” nhưng là với “sự sửa soạn cẩn trọng” và “một nghị trình minh bạch”.
Lúc đó, Obama nói, “Chưa bao giờ, trong trọn đời tôi tới giờ, dân Cuba biết tới tự do. Chưa bao giờ, trong hai thế hệ dân Cuab tới giờ, dân Cuba biết tới tự do. Tình trạng ngưng đọng bi thảm này chúng ta đã thấy nưả thế kỷ rồi -- về những cuộc bầu cử không có tự do chút nào ở Cuba; về các nhà bất đồng chính kiến bị giam trong ngục tối chỉ vì nói lên sự thật. Tôi không đứng với bất công, quý vị không đứng với bất công; và cùng nhau, chúng ta sẽ đứng lên bênh vực cho tự do tại Cuba”.
Cấm vận, phong tỏa, ngăn sông cấm chợ, thấy rõ là chỉ làm cho anh em Castro và Kim Jong-Il mạnh hơn, tàn bạo hơn, và làm người dân đói nghèo hơn. Nhưng nếu gỡ cấm vận, thế nào là sự “sửa soạn cẩn trọng” và “một nghị trình minh bạch” để sớm có dân chủ tự do cho người dân các nứớc bất hạnh này?
Đó không phải là câu hỏi riêng cho người Cuba và người Mỹ gốc Cuba, mà cả cho người Việt Nam và người Mỹ gốc Việt Nam.
Trần Khải
Tác giả: Trần Khải
Có nên cấm vận các nước như Việt Nam, Miến Điện, Bắc Hàn, Cuba nữa hay không? Có nên kêu gọi ngăn sông cấm chợ tạị các nước hung thần nhân quyền này hay không? Hay là nên kêu gọi du khách quốc tế đổ bộ vào các nước này đông thêm để sẽ diễn biến hòa bình?
Đó là các câu hỏi đã được suy xét đối với Mỹ từ nhiều thập niên rồi. Thực tế, không dễ trả lời. Như trường hợp Hoa Kỳ đã giao thương và đầu tư tại Trung Quốc và Việt Nam, nhưng các bước tiến nhân quyền vẫn chưa thực sự ở các tốc độ như ý. Nhưng nếu cấm vận trở lại, cũng chưa hẳn có lợi, và cũng không có cớ nào đủ mạnh.
Một trường hợp “gân gà” của Mỹ là Miến Điện. Báo Washington Post hôm 13-4-2009 viết rằng Hoa Kỳ đang duyệt xét lại chính sách cấm vận Miến Điện. Báo này nhắc rằng Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton khi thăm Châu Á hồi tháng 2-2009 có nói như thế, vì “cấm vận không ảnh hưởng gì tới chính phủ quân phiệt Miến Điện. Nhưng chìa tay ra để lôi kéo họ làm việc cũng không được”.
Báo này nói, trong 12 năm qua, Mỹ đã cấm vận nghiêm ngặt Miến Điện, ngăn chận nhập cảng, đầu tư, mọi quan hệ tài chánh... trong khi Khối ASEAN linh động hơn, mời gọi Miến gia nhập ASEAN từ năm 1997 để lèo lái Miến cởi mở. Hai cách đều hỏng. Lãnh tụ dân chủ Aung San Suu Kyi vẫn bị quản thúc tại gia.
Chỉ được chút điểm sáng: Sean Turnell, chuyên gia Úc Châu về Miến Điện, nói gỡ cấm vận thực ra có lợi cho xã hội Miến hơn, ít nhất là chính phủ Miến đã chịu thả 2,100 tù nhân chính trị sau khi có áp lực ASEAN.
Thant Myint-U, tác giả cuốn sách về lịch sử Miến Điện nhan đề The River of Lost Footsteps, ông cũng là cháu của cựu Tổng Thư Ký LHQ U Thant, nói rằng cấm vận hiện nay chỉ làm hại người dân Miến Điện bình thường thôi, không làm hại ông tướng Miến Điện nào.
Còn một thực tế nữa, báo Washington Post nói rằng tình hình Mỹ cấm vận đã đẩy Miến Điện lệ thuộc nhiều vào giao thương với Trung Quốc hơn, và về lâu dài sẽ thiệt hại cho quyền lợi Hoa Kỳ và Tây Phương ở Châu Á.
Thực tế, điều đó cũng đã thấy rõ ở Việt Nam. Và bây giờ không thấy ai kêu gọi Mỹ cấm vận Việt Nam nữa.
Đó cũng là lý do Tổng Thống Barack Obama hôm Thứ Hai 13-4-2009 chỉ thị cho các gia đình Mỹ gốc Cuba được tự do viếng thăm, không giới hạn và gửi tiền về cho gia đình họ ở Cuba, Và “sẽ có thêm các bước nới lỏng các hạn chế của Mỹ đối với Cuba”, theo lời phát ngôn nhân Bạch Ốc Robert Gibbs.
Nếu chúng ta nhớ rằng, khi cựu Tổng Thống George Bush tái tranh cử Tổng thống năm 2004, viếng thăm Miami, nơi có đông dân gốc Cuba, tuyên bố rằng chế độ Fidel Castro sẽ sụp đổ trước khi ông Bush hết nhiệm kỳ. Nhưng TT Bush xuống rồi, anh em Castro vẫn còn đó, và chế độ độc tài này vẫn vững vàng. Thế nên, TT Obama phải đổi nứớc cờ. Tình hình này thực ra cũng vì suy nghĩ của dân Mỹ gốc Cuba đã đổi chiều. Không phải là họ ủng hộ chế độ Castro, hay họ lưng chừng xôi đậu. Mà vì phong trào dân chủ Cuba cần giao lưu mạnh với hải ngoại. Tất cả mọi sự cô lập, giai đoạn này đều sẽ bất lợi cho dân Cuba và chỉ làm lợi cho anh em Castro.
Hiện thời có 1.5 triệu dân Mỹ có thân nhân tại Cuba. Bản tin AP nói rằng Obama hy vọng sự cởi mở, gỡ cấm vận, gửi tiền về ào ạt và cho dân Mỹ gốc Cuba đổ bộ về Cuba sẽ “tạo thêm không gian mới cho dân tộc Cuba trong nỗ lực đòi tự do chính trị và một chính phủ dân chủ, một phần bằng cách làm cho họ bớt lệ thuộc vào chế độ Castro”.
Bản tin AP cũng nói là Obama cho phép gửi quà về Cuba, và cấp giấy phép cho các công ty muốn kinh doanh truyền thông tại Cuba.
Chuyện này không có gì bất ngờ. Obama đã nói từ tháng 5-2008 khi vận động tranh cử tại Miami, “Không có các đại sứ nào cho tự do xuất sắc hơn dân Mỹ gốc Cuba. Đã tới lúc để dân Mỹ gốc Cuba về thăm mẹ cha của họ, thăm anh chị em của họ. Đã tới lúc hãy để người Mỹ gốc Cuba gửi tiền về cho gia đình của họ bớt lệ thuộc vào chế độ Castro”.
Lúc đó, Obama đã chỉ trích TT Bush, khi Obama hứa sẽ rời bỏ chính sách phong tỏa Cuba. Obama năm ngoáí nói, “Họ đi tới Miami, họ nói giọng cứng rắn, họ lại trở về Washington, và không có gì thay đổi tại Cuba”.
Obama cũng hứa sẽ ngoạị giao trực tiếp với Cuba, “không điều kiện tiên quyết,” nhưng là với “sự sửa soạn cẩn trọng” và “một nghị trình minh bạch”.
Lúc đó, Obama nói, “Chưa bao giờ, trong trọn đời tôi tới giờ, dân Cuba biết tới tự do. Chưa bao giờ, trong hai thế hệ dân Cuab tới giờ, dân Cuba biết tới tự do. Tình trạng ngưng đọng bi thảm này chúng ta đã thấy nưả thế kỷ rồi -- về những cuộc bầu cử không có tự do chút nào ở Cuba; về các nhà bất đồng chính kiến bị giam trong ngục tối chỉ vì nói lên sự thật. Tôi không đứng với bất công, quý vị không đứng với bất công; và cùng nhau, chúng ta sẽ đứng lên bênh vực cho tự do tại Cuba”.
Cấm vận, phong tỏa, ngăn sông cấm chợ, thấy rõ là chỉ làm cho anh em Castro và Kim Jong-Il mạnh hơn, tàn bạo hơn, và làm người dân đói nghèo hơn. Nhưng nếu gỡ cấm vận, thế nào là sự “sửa soạn cẩn trọng” và “một nghị trình minh bạch” để sớm có dân chủ tự do cho người dân các nứớc bất hạnh này?
Đó không phải là câu hỏi riêng cho người Cuba và người Mỹ gốc Cuba, mà cả cho người Việt Nam và người Mỹ gốc Việt Nam.
Trần Khải
CSVN: Đừng rước voi về dày mả tổ!
Lâm Thế Nguyên Sau mấy mươi năm chiến tranh và đối kháng, cuối cùng thì người Việt đã bắt đầu có được sự đồng thuận lớn qua vấn đề Hoàng sa - Trường Sa và Bô-xít. Sự đe doạ nghiêm trọng về chủ quyền quốc gia ở biển Đông và dự án khai thác bô-xít ở vùng Tây Nguyên đã đưa mọi thành phần dân tộc đến gần với nhau. Vấn đề đang được đặt ra là nhà nước Việt Nam (NNVN), qua sự lãnh đạo của đảng CSVN, sẽ đặt quyền lợi đất nước lên trên sự khác biệt chính kiến hay không?
Sự tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa không phải là vấn đề riêng của các đoàn thể đối lập với NNVN. Vô số người trí thức, đảng viên đảng CSVN và người dân ở trong nước đã mạnh dạn lên tiếng cảnh báo NNVN về tình trạng chủ quyền bị xâm phạm. Vấn đề này không còn là một nguy cơ, mà đang hiện thực hoá từng phần một cách chính thức bởi nhà cầm quyền Trung Cộng. Trong vị trí cầm quyền, đảng CSVN có quyền chọn thái độ và đối sách thích hợp cho vấn đề này, nhưng thái độ và đối sách đó không thể đi ngược lại ý kiến và nguyện vọng chung của nhân dân.
NNVN có quyền chọn chính sách đối ngoại mềm dẻo với Trung Cộng qua con đường thương thảo, nhưng mềm dẻo không có nghĩa là chấp nhận tình trạng chủ quyền đất nước bị xâm phạm. Là một nuớc nhỏ đứng cạnh Trung Hoa, tổ tiên chúng ta đã luôn khiêm nhường trong việc đối ngoại, chấp nhận cả việc triều cống ngay sau khi đánh thắng một cuộc xâm lăng. Nhưng khi đụng đến lãnh thổ nước nhà, ông cha ta đã quyết tâm bảo vệ bằng mọi giá, ngay cả tuyên chiến đối đầu với đế quốc phong kiến. Dân tộc ta thẳng thắn lên án các triều đại phong kiến đã xâm lăng nước Việt nhưng người Việt ta không giữ lòng thù hằn với người Trung Hoa. Người Việt chúng ta luôn hiếu hoà và trọng tình hữu nghị, nhưng tinh thần đó cần phải đi song song với ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Chúng ta đủ khôn ngoan để không tự đặt nước Việt trở thành kẻ thù của Trung Hoa, nhưng vì danh dự dân tộc và tiền đồ Tổ Quốc, chúng ta nhất định không chấp nhận thái độ của nhà cầm quyền Trung Cộng là coi thường nước Việt và người Việt. Chúng ta muốn duy trì tình hữu nghị với nhân dân Trung Hoa nhưng chúng ta phải giữ gìn lãnh thổ, lãnh hãi và chủ quyền quốc gia bằng mọi giá khi cần thiết – ngay cả phải chứng tỏ bằng thái độ mạnh nhất.
Trong tinh thần đó, chúng ta muốn NNVN phải thể hiện ý chí bảo toàn chủ quyền đất nước một cách rõ ràng, mạnh mẽ và dứt khoát. Chúng ta hoan nghênh sự lên tiếng của NNVN mỗi khi chủ quyền quốc gia có vấn đề đe doạ, nhưng chỉ lên tiếng suông rồi âm thầm chấp nhận quyền lợi đất nước bị thua thiệt là một thái độ không thể chấp nhận được. Nếu đảng CSVN không thể có thái độ cứng rắn về chủ quyền đất nước, giải pháp tốt nhất là tạo điều kiện để nhân dân ở trong nước và cộng đồng kiều bào ở ngoài nước đồng thanh phản ứng. Thái độ chung của người Việt sẽ giúp cho những người lãnh đạo nhà nước Việt Nam có sức mạnh để có phản ứng kịp thời và hợp lý, nếu như họ nhận thức được nguy cơ vong quốc.
Đối với kế hoạch khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, vấn đề không phải là tiến hành như thế nào, mà là phải huỷ bỏ ngay toàn bộ kế hoạch đang có. Cho đến nay, bên cạnh sự nghiên cứu và ý kiến của tập thể người Việt ở ngoài nước, giới trí thức có uy tín trong nước đã có những sự báo động rõ ràng. Sự lên tiếng của một số chuyên gia trong bộ máy nhà nước Việt Nam và nhiều cán bộ, sĩ quan cao cấp tương ứng với tiếng nói của giới trí thức ở trong và ngoài nước càng cho thấy tính chất đe doạ xác thực của vấn đề.
Nói chung, kế hoạch khai thác bô-xít ở Tây Nguyên không thể tiếp tục dù là có được điều chỉnh khoa học hay được bổ sung bởi các kế hoạch bảo vệ môi trường hay cải thiện dân sinh cho người dân địa phương. Nhu cầu bảo vệ an ninh quốc phòng và bảo đảm an toàn môi trường sinh thái cho các tỉnh liên hệ cần được đặt ưu tiên hơn bất cứ lý do gì khác.
Chấp nhận cho Trung Cộng khai thác bô-xít ở Tây Nguyên là một quyết định sai lầm chiến lược trong việc phòng thủ quốc gia và bảo vệ môi sinh. Nhà nước Việt Nam cần lắng nghe ý kiến của những người trí thức ở trong và ngoài nước để không đặt quốc gia vào cảnh lâm nguy rất khó để tháo gỡ. Nhà nước Việt Nam hãy mở một cuộc hội thảo sâu rộng, dân chủ và tự do về ảnh hưởng của việc khai thác bô-xít để lượng định lại vấn đề trước khi quá muộn. Nhà nước Việt Nam cũng cần tổ chức trưng cầu dân ý để thấy được ý kiến cụ thể của nhân dân toàn quốc, và của cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Trước sự đe doạ về chủ quyền và an ninh quốc gia, Nhà nước Việt Nam, nói đúng hơn là Bộ Chính Trị đảng CSVN, đang đứng trước một sự chọn lựa lớn là vì quyền lợi riêng tư của đảng, hay vì dân, vì nước. Sai lầm trong các quyết định chiến lược này, đảng CSVN sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử cho hành động mang tính “rước voi về dày mả tổ”.
Đảng CSVN hãy lắng nghe tiếng báo động và nguyện vọng của nhân dân trước khi quá muộn./.
Lâm Thế Nguyên (ĐVDVN)
(Trích Tập san Hoa-Mai #36 -- Phát hành tháng 04/2009)
Lâm Thế Nguyên Sau mấy mươi năm chiến tranh và đối kháng, cuối cùng thì người Việt đã bắt đầu có được sự đồng thuận lớn qua vấn đề Hoàng sa - Trường Sa và Bô-xít. Sự đe doạ nghiêm trọng về chủ quyền quốc gia ở biển Đông và dự án khai thác bô-xít ở vùng Tây Nguyên đã đưa mọi thành phần dân tộc đến gần với nhau. Vấn đề đang được đặt ra là nhà nước Việt Nam (NNVN), qua sự lãnh đạo của đảng CSVN, sẽ đặt quyền lợi đất nước lên trên sự khác biệt chính kiến hay không?
Sự tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa không phải là vấn đề riêng của các đoàn thể đối lập với NNVN. Vô số người trí thức, đảng viên đảng CSVN và người dân ở trong nước đã mạnh dạn lên tiếng cảnh báo NNVN về tình trạng chủ quyền bị xâm phạm. Vấn đề này không còn là một nguy cơ, mà đang hiện thực hoá từng phần một cách chính thức bởi nhà cầm quyền Trung Cộng. Trong vị trí cầm quyền, đảng CSVN có quyền chọn thái độ và đối sách thích hợp cho vấn đề này, nhưng thái độ và đối sách đó không thể đi ngược lại ý kiến và nguyện vọng chung của nhân dân.
NNVN có quyền chọn chính sách đối ngoại mềm dẻo với Trung Cộng qua con đường thương thảo, nhưng mềm dẻo không có nghĩa là chấp nhận tình trạng chủ quyền đất nước bị xâm phạm. Là một nuớc nhỏ đứng cạnh Trung Hoa, tổ tiên chúng ta đã luôn khiêm nhường trong việc đối ngoại, chấp nhận cả việc triều cống ngay sau khi đánh thắng một cuộc xâm lăng. Nhưng khi đụng đến lãnh thổ nước nhà, ông cha ta đã quyết tâm bảo vệ bằng mọi giá, ngay cả tuyên chiến đối đầu với đế quốc phong kiến. Dân tộc ta thẳng thắn lên án các triều đại phong kiến đã xâm lăng nước Việt nhưng người Việt ta không giữ lòng thù hằn với người Trung Hoa. Người Việt chúng ta luôn hiếu hoà và trọng tình hữu nghị, nhưng tinh thần đó cần phải đi song song với ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Chúng ta đủ khôn ngoan để không tự đặt nước Việt trở thành kẻ thù của Trung Hoa, nhưng vì danh dự dân tộc và tiền đồ Tổ Quốc, chúng ta nhất định không chấp nhận thái độ của nhà cầm quyền Trung Cộng là coi thường nước Việt và người Việt. Chúng ta muốn duy trì tình hữu nghị với nhân dân Trung Hoa nhưng chúng ta phải giữ gìn lãnh thổ, lãnh hãi và chủ quyền quốc gia bằng mọi giá khi cần thiết – ngay cả phải chứng tỏ bằng thái độ mạnh nhất.
Trong tinh thần đó, chúng ta muốn NNVN phải thể hiện ý chí bảo toàn chủ quyền đất nước một cách rõ ràng, mạnh mẽ và dứt khoát. Chúng ta hoan nghênh sự lên tiếng của NNVN mỗi khi chủ quyền quốc gia có vấn đề đe doạ, nhưng chỉ lên tiếng suông rồi âm thầm chấp nhận quyền lợi đất nước bị thua thiệt là một thái độ không thể chấp nhận được. Nếu đảng CSVN không thể có thái độ cứng rắn về chủ quyền đất nước, giải pháp tốt nhất là tạo điều kiện để nhân dân ở trong nước và cộng đồng kiều bào ở ngoài nước đồng thanh phản ứng. Thái độ chung của người Việt sẽ giúp cho những người lãnh đạo nhà nước Việt Nam có sức mạnh để có phản ứng kịp thời và hợp lý, nếu như họ nhận thức được nguy cơ vong quốc.
Đối với kế hoạch khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, vấn đề không phải là tiến hành như thế nào, mà là phải huỷ bỏ ngay toàn bộ kế hoạch đang có. Cho đến nay, bên cạnh sự nghiên cứu và ý kiến của tập thể người Việt ở ngoài nước, giới trí thức có uy tín trong nước đã có những sự báo động rõ ràng. Sự lên tiếng của một số chuyên gia trong bộ máy nhà nước Việt Nam và nhiều cán bộ, sĩ quan cao cấp tương ứng với tiếng nói của giới trí thức ở trong và ngoài nước càng cho thấy tính chất đe doạ xác thực của vấn đề.
Nói chung, kế hoạch khai thác bô-xít ở Tây Nguyên không thể tiếp tục dù là có được điều chỉnh khoa học hay được bổ sung bởi các kế hoạch bảo vệ môi trường hay cải thiện dân sinh cho người dân địa phương. Nhu cầu bảo vệ an ninh quốc phòng và bảo đảm an toàn môi trường sinh thái cho các tỉnh liên hệ cần được đặt ưu tiên hơn bất cứ lý do gì khác.
Chấp nhận cho Trung Cộng khai thác bô-xít ở Tây Nguyên là một quyết định sai lầm chiến lược trong việc phòng thủ quốc gia và bảo vệ môi sinh. Nhà nước Việt Nam cần lắng nghe ý kiến của những người trí thức ở trong và ngoài nước để không đặt quốc gia vào cảnh lâm nguy rất khó để tháo gỡ. Nhà nước Việt Nam hãy mở một cuộc hội thảo sâu rộng, dân chủ và tự do về ảnh hưởng của việc khai thác bô-xít để lượng định lại vấn đề trước khi quá muộn. Nhà nước Việt Nam cũng cần tổ chức trưng cầu dân ý để thấy được ý kiến cụ thể của nhân dân toàn quốc, và của cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Trước sự đe doạ về chủ quyền và an ninh quốc gia, Nhà nước Việt Nam, nói đúng hơn là Bộ Chính Trị đảng CSVN, đang đứng trước một sự chọn lựa lớn là vì quyền lợi riêng tư của đảng, hay vì dân, vì nước. Sai lầm trong các quyết định chiến lược này, đảng CSVN sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử cho hành động mang tính “rước voi về dày mả tổ”.
Đảng CSVN hãy lắng nghe tiếng báo động và nguyện vọng của nhân dân trước khi quá muộn./.
Lâm Thế Nguyên (ĐVDVN)
(Trích Tập san Hoa-Mai #36 -- Phát hành tháng 04/2009)
"Chủ trương lớn của Đảng" hay con đường bán nước hại dân
Tác giả: Minh Tâm
Câu nói nổi tiếng của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng "Đây là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước" về việc khai thác boxit tại Tây Nguyên đã gây nên một trận cuồng phong bất bình trong dân chúng từ trong ra ngoài nước.
Giọt nước đã tràn ly
Dù các báo đã được lệnh cấm đưa tin, nhưng rồi Đảng đã không thể dùng tay che nổi mặt trời khi xã hội thông tin đã phát triển mạnh mẽ.
Vì thế, cái "chủ trương lớn" này đã được mang ra mổ xẻ, phản đối khi ồn ào quyết liệt, khi âm thầm râm ran nhưng sức nóng của nó thì quá lớn đã làm cho Đảng và Nhà nước hết sức lúng túng, bị động và có nguy cơ phơi trần bộ mặt phản động của mình.
Đó là sức nóng của lòng yêu nước trong nhân dân, dù đã qua gần 2/3 thế kỷ được Đảng lãnh đạo tuyệt đối, được giáo dục cẩn thận theo phương sách ‘Đảng bảo cho là cho, Đảng bảo bán là bán’ nhưng không thể mất đi mà vẫn âm ỉ cháy trong lòng dân Việt.
Ngay cả khi Đảng cho đội quân lâu la của mình ra trấn áp thẳng tay những người yêu nước đòi lại giang sơn Tổ quốc thì nỗi sợ hãi Đảng cố tình tạo nên nhằm bịt miệng người dân đã không có tác dụng.
Sở dĩ vậy là bởi người dân đã quá hiểu những "chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước" sẽ dẫn dân tộc này đi đến đâu.
Nhìn lại vài "Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước" trong quá khứ và hiện tại, nhân dân không khỏi rùng mình vì có nhiều bài học quá lớn, hậu quả nặng nề trăm năm không hàn gắn nổi.
- Chủ trương lớn: Cải cách ruộng đất
Nắm được cốt lõi của vấn đề sống còn cho Đảng là ruộng đất, tư liệu, công cụ sản xuất của nhân dân. Từ khi mới manh nha cứng cáp do được người dân nuôi dưỡng sau cuộc cách mạng mùa thu của toàn dân tộc mà Đảng đã chơi trò tháu cáy giành lấy thành công lao của mình, Đảng liền tiến hành một "chủ trương lớn" là Cải cách ruộng đất vào những năm giữa thập niên 50 của thế kỷ trước.
"Chủ trương lớn" này của Đảng đã làm thay đổi xã hội Việt Nam đến tận từng cơ sở nhỏ nhất là cá nhân và gia đình. Số người chết oan uổng dưới bàn tay của Đảng vì tội biết làm ăn, biết làm giàu đến nay Đảng vẫn giấu nhẹm nhưng là một con số khủng khiếp.
Hậu quả không chỉ là tư liệu sản xuất trong xã hội bị phá hoại, là những người đã tức tưởi chết bởi ơn của Đảng, Bác. Hệ thống đạo đức xã hội đã đảo lộn và cứ thế theo đà trượt dốc cho đến ngày nay khi Đảng dạy con tố cha, vợ tố chồng trong bài học đấu tranh giai cấp và cướp chính quyền như một ngón nghề riêng muôn thuở của nòi Cộng sản.
- Chủ trương lớn Đảng "Cải tạo tư sản" sau khi miền Nam đất nước rơi vào tay những người Cộng sản. Cuộc "Cải tạo" này của Đảng đã đập nát toàn bộ cơ bản nền kinh tế thị trường miền Nam sau ngày đất nước thống nhất để áp dụng khuôn mẫu của nền "kinh tế kế hoạch Xã hội Chủ nghĩa hơn hẳn".
Hậu quả của "chủ trương lớn" này là hàng loạt người đã bị tước đoạt thành quả lao động tích luỹ từ nhiều năm. Hàng loạt người vào nhà tù, hàng ngàn gia đình ly tán, những cuộc vượt biển giao tính mạng trong tay hải tặc và vùi dưới đáy biển khơi đã nhấn chìm cả miền Nam đất nước vào cơn tang tóc. Hậu quả nhãn tiền là đẩy đất nước đến suy sụp đói kém, kiệt quệ vào những năm 80 sau đó, để rồi sau này mới "xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN".
- "Chủ trương lớn" của Đảng và Nhà nước tiếp theo là cuộc chiếm đóng đất nước Campuchia một thời gian dài, đặt đất nước vào thế phi nghĩa và bị cô lập trên thế giới. Cuộc bao vây, cấm vận của các nước kéo dài sau những nghị quyết lên án của Liên Hợp Quốc mà Đảng bỏ ngoài tai. Hậu quả là đất nước chìm trong sự tối tăm, lạc hậu, người dân tiếp tục sống cuộc sống của những con vật hai chân, chậm tiến và bị coi rẻ. Kinh tế hầu như chẳng có gì ngoài khả năng xin viện trợ, quốc phòng hầu như chỉ dựa vào ngoại bang. Chính trị bị cô lập trên toàn thế giới.
- Thêm một "chủ trương lớn của Đảng" trong thời kỳ đó, là xây dựng lăng Hồ Chí Minh hoành tráng, vĩ đại cho "kịp các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa". Việc này hoàn toàn nằm ngoài những lợi ích của đất nước, của dân tộc và ngay cả ý nguyện của người đã chết. Dù Đảng đã cố tình bao biện rằng đó là nguyện vọng của nhân dân, nhưng nhân dân chưa bao giờ được Đảng thèm để ý đến nguyện vọng của họ là gì.
Hậu quả của "chủ trương lớn" này là cả đất nước đói nghèo cùng cực vẫn phải xài sang, vẫn phải chi số tiền khổng lồ hàng năm cho "chủ trương lớn" này.
Thử làm con số tính toán đơn giản: Với diện tích 14 ha vùng lăng và Quảng trường 3,2 ha. Giá trị đất khu vực này tính rẻ nhất khoảng 100.000.000 đồng/m2, con số đó sẽ là 17,2 ngàn tỷ đồng. Với lãi suất ngân hàng 10%/năm, mỗi năm riêng tiền đất nhân dân ta thất thu vì "chủ trương lớn" này là 1,72 ngàn tỷ đồng. Nên nhớ rằng cây cầu Thanh Trì bắc qua Sông Hồng dài 12 km, rộng 33 m, lớn nhất Việt Nam hiện nay cũng chỉ có 5,7 ngàn tỷ đồng, nghĩa là riêng tiền đất dành cho lăng Hồ Chí Minh, cứ ba năm thì mất một cây cầu Thanh Trì.
Ngoài hệ thống lăng và biết bao công trình phụ trợ được xây dựng tốn kém như bảo tàng, nơi đón tiếp, nghỉ ngơi… Một Bộ tư lệnh bảo vệ lăng với đầy đủ quân cán, một hệ thống duy trì bảo dưỡng tốn kém vô cùng về tiền bạc và nhân lực hàng năm là một gánh nặng đặt lên đầu lên cổ nhân dân. Tất cả nhân dân phải cắn răng chịu đựng biết đến bao giờ. Số tiền đó nếu được dùng "xoá đói giảm nghèo" thì con số dân được hưởng sẽ là bao nhiêu người?
Những năm gần đây, nhiều vấn đề của đất nước đã tiến hành một cách âm thầm, đầy sự ngờ vực của dân chúng. Tất cả những vấn đề đó, đều là "Chủ trương lớn của Đảng". Cũng chính vì chủ trương lớn này mà nhân dân cứ thế câm miệng mà làm, cắn răng mà chịu.
Điển hình là vấn đề đàm phán biên giới Việt–Trung, Đảng đã thì thụt với Trung Quốc và ký toẹt từ bao giờ. Biên giới được hoạch định không minh bạch, rõ ràng. Nhiều nguồn tin cho biết Đảng đã cúng không cho nước ngoài số đất đai khổng lồ. Điển hình nhìn thấy được là Ải Nam Quan và Thác Bản Giốc - những địa điểm có kiểm chứng được thì rõ ràng đã mất đất.
Rồi vấn đề biển đảo, Đảng đã thi hành "Chủ trương lớn" từ ngay những năm 1958 bằng công văn của Phạm Văn Đồng công nhận hải phận của Trung Quốc, nghĩa là từ bỏ hải phận của Việt Nam. Rồi vấn đề phân chia Vịnh Bắc Bộ, khu vực đánh cá chung nhưng khi người dân Việt Nam vào đánh cá thì tàu Trung Quốc bắn chết không thương tiếc, Đảng lại bắt nhân dân phải im lặng không được kêu…
Những vấn đề này đã dẫn đến nhiều tiếng nói bất bình, nhà tù đã phải chứa thêm những người chủ đất nước cần biết sự thật.
Những sự việc đó buộc nhân dân phải chấp nhận, không được có tiếng nói trở lại hay phản ứng, vì đó là "Chủ trương lớn của Đảng".
Việc xa thì thế, việc gần thì mới đây thôi, khu Hoàng thành Thăng Long – một dấu tích ngàn năm của lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông - đã bị Đảng dùng máy đào thuỷ lợi để ‘khai quật’ và phá nát hàng năm trời báo chí mới mò ra được.
Đó cũng là "Chủ trương lớn" của Đảng nên Đảng cứ làm. Nhân dân không cần biết, vì rằng giữ lại khu Hoàng thành Thăng Long, thì Đảng sẽ trả lời ra sao với dân khi dân được biết Hoàng Thành không chỉ là mấy trăm mét vuông hiện đã khai quật. Cả nhiều triều đại lịch sử đã nằm trong khu vực xây dựng lăng Hồ Chí Minh, Quảng trường Ba Đình và những công trình lân cận. Vậy khi làm lăng Hồ Chí Minh, Đảng đã xử lý thế nào với khu Hoàng Thành dưới đó? Hay Đảng đã đào đổ đi đâu dấu tích của cha ông đất Việt? Thôi đã chót thì phải chét, đành đào tất cả đổ đi cho nhẹ tội.
"Chủ trương lớn của Đảng" phá nát Hội Trường Ba Đình cũng không nằm ngoài mưu tính này. Ngay sát bên khu vực khai quật Hoàng Thành Thăng Long, hội trường Quốc hội mới sẽ góp phần xoá dấu tích Hoàng Thành càng nhanh càng tốt, giống như cách rửa tay của một tên tội đồ trước khi mặt trời mọc.
Rồi mở rộng thủ đô Hà Nội, chắc chắn người dân biết tỏng tòng tong cái mẹo vặt của mấy tay cộm cán trong Đảng muốn mở nhanh, mở gấp Hà Nội hết đất Hà Tây để nhằm mục đích gì, đâu phải để được cái Thủ đô lớn thứ hai thế giới cho oai. Nhưng nếu không mở rộng, đất Hà Tây không lên giá, thì các ngân hàng do con ông cháu cha dựng lên đã đầu tư mua đất trong đó sẽ bán cho ai.
Vấn đề này cũng nhằm trong "chủ trương lớn của Đảng" nên Quốc hội dù muốn hay không vẫn được chỉ thị phải giơ tay. Thế là xong, "chủ trương lớn của Đảng" đã thành công tốt đẹp.
Chuyện bauxite Tây Nguyên được Đảng âm thầm cho thực hiện từ lâu, khi quân Tàu đua nhau rầm rập kéo vào Tây Nguyên – mái nhà Đông Dương - nhân dân vẫn không được biết. Mãi đến khi ngộ ra được nguy cơ rắn vào tận chuồng gà, nhân dân tá hoả tam tinh, thì Đảng lại phán "Đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước"(!)
Những tưởng rằng với cách ra uy doạ dẫm đó, nhân dân sẽ chẳng thằng nào dám mở mồm, dại gì mà chống lại "chủ trương lớn" nếu không muốn mất mạng?
Nhưng, thời thế đã khác. Những người còn tâm huyết với giang sơn, lãnh thổ đất nước và dân tộc đã không thể ngồi im cho những Lê Chiêu Thống và Trần Ích Tắc thời hiện đại mặc sức phá nát cơ đồ, đưa dân tộc ta một lần nữa vào vòng nô lệ Bắc thuộc.
Tất cả đã đồng thanh lên tiếng. Đến đây thì Đảng hoảng, công tác trấn an được bộ sậu được đưa ra khẩn cấp thi hành. Báo chí nhà nước được lệnh im ắng từ lâu, nhưng trước sức ép của lòng dân bất bình, Đảng buộc phải để cho vài lời lên tiếng.
Nhớ lại bộ máy tuyên truyền này của Đảng, đã không thiếu cách để Đảng bịt miệng những người muốn có tiếng nói theo lương tri. Điển hình là ngày hôm nay, Đảng cho đình bản tạp chí Du lịch vì tội dám cổ vũ cho tiếng nói yêu nước thương nòi, cổ vũ những người đã thể hiện tinh thần ái quốc mà không biết rằng chỉ có Đảng mới được có độc quyền yêu nước – yêu nước theo cách của Đảng.
Thế mới hay, các bộ luật Đảng cho dựng lên loè thiên hạ nhưng Đảng lại ngồi xổm lên nó – Đảng chỉ quen xài luật rừng mà thôi.
Thời thế đã đổi thay, vận nước đang hồi suy vi, cơn bão dữ dội của làn sóng đỏ Cộng sản tác oai tác quái một thời gian dài nay đã lộ mặt. Những người tâm huyết với đất nước, với giang sơn dù đã bị nhồi sọ bao nhiêu năm dưới họng súng đã không còn tin vào những lời đường mật. Nhân dân Việt Nam đã bước qua sự cuồng tín về một chủ nghĩa hư vô nhằm lừa mị để đem lại quyền lợi và chức tước cho một nhóm người ngồi xổm trên lợi ích toàn dân tộc.
Vì vậy, những "Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước" đã bị nhân dân vạch trần, đó chỉ là con đường bán nước, hại dân.
Minh Tâm 16/4/2009
Nguồn: DCCT
Tác giả: Minh Tâm
Câu nói nổi tiếng của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng "Đây là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước" về việc khai thác boxit tại Tây Nguyên đã gây nên một trận cuồng phong bất bình trong dân chúng từ trong ra ngoài nước.
Giọt nước đã tràn ly
Dù các báo đã được lệnh cấm đưa tin, nhưng rồi Đảng đã không thể dùng tay che nổi mặt trời khi xã hội thông tin đã phát triển mạnh mẽ.
Vì thế, cái "chủ trương lớn" này đã được mang ra mổ xẻ, phản đối khi ồn ào quyết liệt, khi âm thầm râm ran nhưng sức nóng của nó thì quá lớn đã làm cho Đảng và Nhà nước hết sức lúng túng, bị động và có nguy cơ phơi trần bộ mặt phản động của mình.
Đó là sức nóng của lòng yêu nước trong nhân dân, dù đã qua gần 2/3 thế kỷ được Đảng lãnh đạo tuyệt đối, được giáo dục cẩn thận theo phương sách ‘Đảng bảo cho là cho, Đảng bảo bán là bán’ nhưng không thể mất đi mà vẫn âm ỉ cháy trong lòng dân Việt.
Ngay cả khi Đảng cho đội quân lâu la của mình ra trấn áp thẳng tay những người yêu nước đòi lại giang sơn Tổ quốc thì nỗi sợ hãi Đảng cố tình tạo nên nhằm bịt miệng người dân đã không có tác dụng.
Sở dĩ vậy là bởi người dân đã quá hiểu những "chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước" sẽ dẫn dân tộc này đi đến đâu.
Nhìn lại vài "Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước" trong quá khứ và hiện tại, nhân dân không khỏi rùng mình vì có nhiều bài học quá lớn, hậu quả nặng nề trăm năm không hàn gắn nổi.
- Chủ trương lớn: Cải cách ruộng đất
Nắm được cốt lõi của vấn đề sống còn cho Đảng là ruộng đất, tư liệu, công cụ sản xuất của nhân dân. Từ khi mới manh nha cứng cáp do được người dân nuôi dưỡng sau cuộc cách mạng mùa thu của toàn dân tộc mà Đảng đã chơi trò tháu cáy giành lấy thành công lao của mình, Đảng liền tiến hành một "chủ trương lớn" là Cải cách ruộng đất vào những năm giữa thập niên 50 của thế kỷ trước.
"Chủ trương lớn" này của Đảng đã làm thay đổi xã hội Việt Nam đến tận từng cơ sở nhỏ nhất là cá nhân và gia đình. Số người chết oan uổng dưới bàn tay của Đảng vì tội biết làm ăn, biết làm giàu đến nay Đảng vẫn giấu nhẹm nhưng là một con số khủng khiếp.
Hậu quả không chỉ là tư liệu sản xuất trong xã hội bị phá hoại, là những người đã tức tưởi chết bởi ơn của Đảng, Bác. Hệ thống đạo đức xã hội đã đảo lộn và cứ thế theo đà trượt dốc cho đến ngày nay khi Đảng dạy con tố cha, vợ tố chồng trong bài học đấu tranh giai cấp và cướp chính quyền như một ngón nghề riêng muôn thuở của nòi Cộng sản.
- Chủ trương lớn Đảng "Cải tạo tư sản" sau khi miền Nam đất nước rơi vào tay những người Cộng sản. Cuộc "Cải tạo" này của Đảng đã đập nát toàn bộ cơ bản nền kinh tế thị trường miền Nam sau ngày đất nước thống nhất để áp dụng khuôn mẫu của nền "kinh tế kế hoạch Xã hội Chủ nghĩa hơn hẳn".
Hậu quả của "chủ trương lớn" này là hàng loạt người đã bị tước đoạt thành quả lao động tích luỹ từ nhiều năm. Hàng loạt người vào nhà tù, hàng ngàn gia đình ly tán, những cuộc vượt biển giao tính mạng trong tay hải tặc và vùi dưới đáy biển khơi đã nhấn chìm cả miền Nam đất nước vào cơn tang tóc. Hậu quả nhãn tiền là đẩy đất nước đến suy sụp đói kém, kiệt quệ vào những năm 80 sau đó, để rồi sau này mới "xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN".
- "Chủ trương lớn" của Đảng và Nhà nước tiếp theo là cuộc chiếm đóng đất nước Campuchia một thời gian dài, đặt đất nước vào thế phi nghĩa và bị cô lập trên thế giới. Cuộc bao vây, cấm vận của các nước kéo dài sau những nghị quyết lên án của Liên Hợp Quốc mà Đảng bỏ ngoài tai. Hậu quả là đất nước chìm trong sự tối tăm, lạc hậu, người dân tiếp tục sống cuộc sống của những con vật hai chân, chậm tiến và bị coi rẻ. Kinh tế hầu như chẳng có gì ngoài khả năng xin viện trợ, quốc phòng hầu như chỉ dựa vào ngoại bang. Chính trị bị cô lập trên toàn thế giới.
- Thêm một "chủ trương lớn của Đảng" trong thời kỳ đó, là xây dựng lăng Hồ Chí Minh hoành tráng, vĩ đại cho "kịp các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa". Việc này hoàn toàn nằm ngoài những lợi ích của đất nước, của dân tộc và ngay cả ý nguyện của người đã chết. Dù Đảng đã cố tình bao biện rằng đó là nguyện vọng của nhân dân, nhưng nhân dân chưa bao giờ được Đảng thèm để ý đến nguyện vọng của họ là gì.
Hậu quả của "chủ trương lớn" này là cả đất nước đói nghèo cùng cực vẫn phải xài sang, vẫn phải chi số tiền khổng lồ hàng năm cho "chủ trương lớn" này.
Thử làm con số tính toán đơn giản: Với diện tích 14 ha vùng lăng và Quảng trường 3,2 ha. Giá trị đất khu vực này tính rẻ nhất khoảng 100.000.000 đồng/m2, con số đó sẽ là 17,2 ngàn tỷ đồng. Với lãi suất ngân hàng 10%/năm, mỗi năm riêng tiền đất nhân dân ta thất thu vì "chủ trương lớn" này là 1,72 ngàn tỷ đồng. Nên nhớ rằng cây cầu Thanh Trì bắc qua Sông Hồng dài 12 km, rộng 33 m, lớn nhất Việt Nam hiện nay cũng chỉ có 5,7 ngàn tỷ đồng, nghĩa là riêng tiền đất dành cho lăng Hồ Chí Minh, cứ ba năm thì mất một cây cầu Thanh Trì.
Ngoài hệ thống lăng và biết bao công trình phụ trợ được xây dựng tốn kém như bảo tàng, nơi đón tiếp, nghỉ ngơi… Một Bộ tư lệnh bảo vệ lăng với đầy đủ quân cán, một hệ thống duy trì bảo dưỡng tốn kém vô cùng về tiền bạc và nhân lực hàng năm là một gánh nặng đặt lên đầu lên cổ nhân dân. Tất cả nhân dân phải cắn răng chịu đựng biết đến bao giờ. Số tiền đó nếu được dùng "xoá đói giảm nghèo" thì con số dân được hưởng sẽ là bao nhiêu người?
Những năm gần đây, nhiều vấn đề của đất nước đã tiến hành một cách âm thầm, đầy sự ngờ vực của dân chúng. Tất cả những vấn đề đó, đều là "Chủ trương lớn của Đảng". Cũng chính vì chủ trương lớn này mà nhân dân cứ thế câm miệng mà làm, cắn răng mà chịu.
Điển hình là vấn đề đàm phán biên giới Việt–Trung, Đảng đã thì thụt với Trung Quốc và ký toẹt từ bao giờ. Biên giới được hoạch định không minh bạch, rõ ràng. Nhiều nguồn tin cho biết Đảng đã cúng không cho nước ngoài số đất đai khổng lồ. Điển hình nhìn thấy được là Ải Nam Quan và Thác Bản Giốc - những địa điểm có kiểm chứng được thì rõ ràng đã mất đất.
Rồi vấn đề biển đảo, Đảng đã thi hành "Chủ trương lớn" từ ngay những năm 1958 bằng công văn của Phạm Văn Đồng công nhận hải phận của Trung Quốc, nghĩa là từ bỏ hải phận của Việt Nam. Rồi vấn đề phân chia Vịnh Bắc Bộ, khu vực đánh cá chung nhưng khi người dân Việt Nam vào đánh cá thì tàu Trung Quốc bắn chết không thương tiếc, Đảng lại bắt nhân dân phải im lặng không được kêu…
Những vấn đề này đã dẫn đến nhiều tiếng nói bất bình, nhà tù đã phải chứa thêm những người chủ đất nước cần biết sự thật.
Những sự việc đó buộc nhân dân phải chấp nhận, không được có tiếng nói trở lại hay phản ứng, vì đó là "Chủ trương lớn của Đảng".
Việc xa thì thế, việc gần thì mới đây thôi, khu Hoàng thành Thăng Long – một dấu tích ngàn năm của lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông - đã bị Đảng dùng máy đào thuỷ lợi để ‘khai quật’ và phá nát hàng năm trời báo chí mới mò ra được.
Đó cũng là "Chủ trương lớn" của Đảng nên Đảng cứ làm. Nhân dân không cần biết, vì rằng giữ lại khu Hoàng thành Thăng Long, thì Đảng sẽ trả lời ra sao với dân khi dân được biết Hoàng Thành không chỉ là mấy trăm mét vuông hiện đã khai quật. Cả nhiều triều đại lịch sử đã nằm trong khu vực xây dựng lăng Hồ Chí Minh, Quảng trường Ba Đình và những công trình lân cận. Vậy khi làm lăng Hồ Chí Minh, Đảng đã xử lý thế nào với khu Hoàng Thành dưới đó? Hay Đảng đã đào đổ đi đâu dấu tích của cha ông đất Việt? Thôi đã chót thì phải chét, đành đào tất cả đổ đi cho nhẹ tội.
"Chủ trương lớn của Đảng" phá nát Hội Trường Ba Đình cũng không nằm ngoài mưu tính này. Ngay sát bên khu vực khai quật Hoàng Thành Thăng Long, hội trường Quốc hội mới sẽ góp phần xoá dấu tích Hoàng Thành càng nhanh càng tốt, giống như cách rửa tay của một tên tội đồ trước khi mặt trời mọc.
Rồi mở rộng thủ đô Hà Nội, chắc chắn người dân biết tỏng tòng tong cái mẹo vặt của mấy tay cộm cán trong Đảng muốn mở nhanh, mở gấp Hà Nội hết đất Hà Tây để nhằm mục đích gì, đâu phải để được cái Thủ đô lớn thứ hai thế giới cho oai. Nhưng nếu không mở rộng, đất Hà Tây không lên giá, thì các ngân hàng do con ông cháu cha dựng lên đã đầu tư mua đất trong đó sẽ bán cho ai.
Vấn đề này cũng nhằm trong "chủ trương lớn của Đảng" nên Quốc hội dù muốn hay không vẫn được chỉ thị phải giơ tay. Thế là xong, "chủ trương lớn của Đảng" đã thành công tốt đẹp.
Chuyện bauxite Tây Nguyên được Đảng âm thầm cho thực hiện từ lâu, khi quân Tàu đua nhau rầm rập kéo vào Tây Nguyên – mái nhà Đông Dương - nhân dân vẫn không được biết. Mãi đến khi ngộ ra được nguy cơ rắn vào tận chuồng gà, nhân dân tá hoả tam tinh, thì Đảng lại phán "Đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước"(!)
Những tưởng rằng với cách ra uy doạ dẫm đó, nhân dân sẽ chẳng thằng nào dám mở mồm, dại gì mà chống lại "chủ trương lớn" nếu không muốn mất mạng?
Nhưng, thời thế đã khác. Những người còn tâm huyết với giang sơn, lãnh thổ đất nước và dân tộc đã không thể ngồi im cho những Lê Chiêu Thống và Trần Ích Tắc thời hiện đại mặc sức phá nát cơ đồ, đưa dân tộc ta một lần nữa vào vòng nô lệ Bắc thuộc.
Tất cả đã đồng thanh lên tiếng. Đến đây thì Đảng hoảng, công tác trấn an được bộ sậu được đưa ra khẩn cấp thi hành. Báo chí nhà nước được lệnh im ắng từ lâu, nhưng trước sức ép của lòng dân bất bình, Đảng buộc phải để cho vài lời lên tiếng.
Nhớ lại bộ máy tuyên truyền này của Đảng, đã không thiếu cách để Đảng bịt miệng những người muốn có tiếng nói theo lương tri. Điển hình là ngày hôm nay, Đảng cho đình bản tạp chí Du lịch vì tội dám cổ vũ cho tiếng nói yêu nước thương nòi, cổ vũ những người đã thể hiện tinh thần ái quốc mà không biết rằng chỉ có Đảng mới được có độc quyền yêu nước – yêu nước theo cách của Đảng.
Thế mới hay, các bộ luật Đảng cho dựng lên loè thiên hạ nhưng Đảng lại ngồi xổm lên nó – Đảng chỉ quen xài luật rừng mà thôi.
Thời thế đã đổi thay, vận nước đang hồi suy vi, cơn bão dữ dội của làn sóng đỏ Cộng sản tác oai tác quái một thời gian dài nay đã lộ mặt. Những người tâm huyết với đất nước, với giang sơn dù đã bị nhồi sọ bao nhiêu năm dưới họng súng đã không còn tin vào những lời đường mật. Nhân dân Việt Nam đã bước qua sự cuồng tín về một chủ nghĩa hư vô nhằm lừa mị để đem lại quyền lợi và chức tước cho một nhóm người ngồi xổm trên lợi ích toàn dân tộc.
Vì vậy, những "Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước" đã bị nhân dân vạch trần, đó chỉ là con đường bán nước, hại dân.
Minh Tâm 16/4/2009
Nguồn: DCCT
Thư gửi Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam
Của Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế
Sài Gòn ngày 18-4-09
Gửi các ông:
- Nông Đức Mạnh
- Nguyễn Minh Triết
- Nguyễn Tấn Dũng
- Nguyễn Phú Trọng
và Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam
Thưa các ông,
Mặc dầu không đồng ý với đường lối và không công nhận vai trò lãnh đạo đất nước của qúy ông, tôi buộc lòng phải gửi thư này, vì quyền lợi thiết yếu của Tổ Quốc, nhắc nhở và đòi hỏi qúy ông phải kịp thời đăng ký quyền sở hữu thềm lục địa của Viêt Nam nới rộng ra 350 hải lý với Liên Hiệp Quốc, trước ngày hết hạn 13-5-2009.
Mọi công dân Việt Nam (trong đó có các ông -- tự phong cho mình vai trò lãnh đạo đất nước, chứ không do dân bầu) đều có trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng bảo vệ lãnh thổ/ lãnh hải/thềm lục địa do tiền nhân dầy công gìn giữ và để lại. Nếu vì áp lực của Trung Quốc mà không dám đăng ký, tức là các ông đã một mặt tự chứng tỏ không đủ khả năng hành sử trách nhiệm của mình, và mặt khác bị toàn dân kết tội thông đồng với ngoại bang để mưu cầu tư lợi, đưa tới hậu quả thiệt hại cho quyền lợi Tổ Quốc. Trong trường hợp đó, chúng tôi - những công dân bình thường của Tổ Quốc Việt Nam hôm nay - sẽ tìm đủ mọi cách, kể cả thông qua các Tổ Chức Phi Chính Phủ để Liên Hiệp Quốc phải ghi nhận lập trường chính đáng và quyền lợi tối thượng của dân tộc Việt Nam.
Cầu mong hồn thiêng sông núi soi sáng để các ông còn nhất điểm lương tâm sớm tỉnh ngộ, nhận rõ đâu là quyền lợi đích thực của Tổ Quốc, đủ can đảm đương đầu với ngoại bang, không bỏ lỡ bất cứ cơ hội nào trong nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi tối thượng của quốc gia dân tộc. Ngược lại, nếu vì lý do nào đó, các ông vẫn không thể hành sử đúng trách nhiệm của mình, thì chỉ còn một lối thoát dành cho người còn chút liêm sỉ và tự trọng, là tự ý rút lui, trả lại cho toàn dân quyền điều hành và bảo vệ đất nước.
Cùng lúc gửi cho các ông, bức thư này cũng được phổ biến trong và ngoài nước, để tường trình trước quốc dân về trách nhiệm và thái độ của các ông.
Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế,Đại Diện Cao Trào Nhân Bản Việt Nam.
Của Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế
Sài Gòn ngày 18-4-09
Gửi các ông:
- Nông Đức Mạnh
- Nguyễn Minh Triết
- Nguyễn Tấn Dũng
- Nguyễn Phú Trọng
và Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam
Thưa các ông,
Mặc dầu không đồng ý với đường lối và không công nhận vai trò lãnh đạo đất nước của qúy ông, tôi buộc lòng phải gửi thư này, vì quyền lợi thiết yếu của Tổ Quốc, nhắc nhở và đòi hỏi qúy ông phải kịp thời đăng ký quyền sở hữu thềm lục địa của Viêt Nam nới rộng ra 350 hải lý với Liên Hiệp Quốc, trước ngày hết hạn 13-5-2009.
Mọi công dân Việt Nam (trong đó có các ông -- tự phong cho mình vai trò lãnh đạo đất nước, chứ không do dân bầu) đều có trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng bảo vệ lãnh thổ/ lãnh hải/thềm lục địa do tiền nhân dầy công gìn giữ và để lại. Nếu vì áp lực của Trung Quốc mà không dám đăng ký, tức là các ông đã một mặt tự chứng tỏ không đủ khả năng hành sử trách nhiệm của mình, và mặt khác bị toàn dân kết tội thông đồng với ngoại bang để mưu cầu tư lợi, đưa tới hậu quả thiệt hại cho quyền lợi Tổ Quốc. Trong trường hợp đó, chúng tôi - những công dân bình thường của Tổ Quốc Việt Nam hôm nay - sẽ tìm đủ mọi cách, kể cả thông qua các Tổ Chức Phi Chính Phủ để Liên Hiệp Quốc phải ghi nhận lập trường chính đáng và quyền lợi tối thượng của dân tộc Việt Nam.
Cầu mong hồn thiêng sông núi soi sáng để các ông còn nhất điểm lương tâm sớm tỉnh ngộ, nhận rõ đâu là quyền lợi đích thực của Tổ Quốc, đủ can đảm đương đầu với ngoại bang, không bỏ lỡ bất cứ cơ hội nào trong nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi tối thượng của quốc gia dân tộc. Ngược lại, nếu vì lý do nào đó, các ông vẫn không thể hành sử đúng trách nhiệm của mình, thì chỉ còn một lối thoát dành cho người còn chút liêm sỉ và tự trọng, là tự ý rút lui, trả lại cho toàn dân quyền điều hành và bảo vệ đất nước.
Cùng lúc gửi cho các ông, bức thư này cũng được phổ biến trong và ngoài nước, để tường trình trước quốc dân về trách nhiệm và thái độ của các ông.
Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế,Đại Diện Cao Trào Nhân Bản Việt Nam.

