Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

'Đồ chơi tình dục' thời đồ đá Các nhà khoa học Thụy Điển vừa phát hiện một vật chạm khắc từ sừng hươu có hình dáng bên ngoài giống hệt dương vật người, và đoán rằng đó là một món đồ chơi tình dục có từ thời đồ đá.

Tuy chưa đưa ra kết luận chính xác vật đó có công dụng gì, nhưng không khó để các nhà khoa học "nhảy" đến dự đoán trên, Live Science cho biết.

"Tôi cũng như các bạn đều suy nghĩ để diễn giải xem một vật có hình dạng như thế này là thế nào - và điều đó dẫn đến hình ảnh một dương vật dựng đứng", nhà khảo cổ Gšran Gruber thuộc Hội đồng Di sản quốc gia và tham gia đoàn khai quật, nói. "Tuy nhiên, đấy có phải là cách nghĩ của người thời đồ đá hay không, thì tôi không biết".
Image
Di vật chạm khắc từ sừng hươu được các nhà khảo cổ Thụy Điển khai quật giữa tuần này. Ảnh: Live Science.
Ý nghĩ của ông về vật thể dài 10,5 cm và có đường kính 2 cm này cũng giống của một số nhà khoa học khác

"Không còn nghi ngờ gì, bất kỳ ai ở sống ở thời kỳ đó cũng dễ dàng nhận thấy sự tương đồng với một dương vật người, như chúng ta ngày nay vậy", nhà khảo cổ Thụy Điển Martin Rundkvist viết trên blog.

Hiện vật này được tìm thấy ở Motala, nơi có rất nhiều cổ vật thuộc niên đại từ 4.000 đến 6.000 trước công nguyên. Các đặc tính địa lý và thời tiết ở đây cho phép bảo tồn nhiều di vật ở tình trạng tốt qua cả thiên niên kỷ.

"Đó là một vật thể thuộc về con người, vì thế mà nó đặc biệt", Gruber phát biểu. "Thông thường chúng tôi không tìm được các vật thể liên quan đến cơ thể người. Địa điểm khảo cổ lần này của chúng tôi có điều kiện bảo quản tốt, nó nằm ở tầng lắng đọng đáy, trong các lớp đất sét của dòng sông, rất tốt".

Đây không phải lần đầu tiên một di vật liên quan đến cơ quan sinh sản của người được phát hiện. Một vật khác cũng khiến người ta nghĩ đến cơ quan này đã được khai quật ở Đức năm 2005. Di vật đó còn cổ hơn cả "món đồ chơi" ở Thụy Điển: được làm ra cách đây 28.000 năm, bằng đá.

Mai Trang

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image

Giàn mướp hương cuối mùa

Nguyên Nhung
Ðợt gió thu cuối mùa đã thả vào khu vườn sau thêm chút tiêu điều của một mùa thu rất ngắn. Năm nào cũng vậy, một đêm đang ngủ chợt giựt mình thức giấc, nghe ào ào sau vườn tiếng lá rung, không biết gió ở đâu đổ về khu vườn lá đã chuyển màu, chùm phong linh sau nhà vang lên những hồi chuông leng keng như báo hiệu mùa thu sắp ra đi rồi đó. Mùa thu ở đây ngắn quá để lá chỉ mới chớm vàng chưa kịp rụng, đợt gió lạnh tràn về làm úa đi những chiếc hoa vàng trên giàn mướp hương, những quả mướp non chưa kịp lớn sẽ là món ăn ngon cuối mùa trên mâm cơm gia đình bà nội Tý anh và Tý em.


Giàn mướp đang độ vào hè, với những trái mướp dài lủng lẳng treo trên giàn nhiều đến nỗi ăn không kịp, phải đem biếu cho hàng xóm, gọi con cái ăn hộ giờ này chỉ còn có vài quả cuối mùa co quéo lại nằm trên mặt giàn, không thả được mình xuống khoe mã như dạo đang hè. Bây giờ muốn ăn phải tìm mỏi mắt vì còn dăm quả đèo đẹt, lấp mình trong khoảng giàn xanh xanh, chen lấn trong đó nhiều loại rau khác nhau: mùng tơi, lá mơ, mướp hương. . .


Những loại rau này rất buồn cười, sống hồn nhiên như những đứa bé con nhà nghèo, tự nhiên mọc lên rồi lớn, bám vào được chỗ nào thì cứ thế mà leo, còn nhiều khi bà nội Tý anh cẩn thận gieo hột trong những cái chậu đất tốt, tưới tắm, nâng niu, cây có đâm chồi nảy lộc nhưng chỉ được vài hôm là ủ giột, mặt mày cứ sa sầm xuống như bị cầm hãm tù tội. Cái khoảng khoát khỏe mạnh của cây cỏ là được sống tự nhiên với thiên nhiên, hễ mọc được là sống khỏe, rồi sau đó tự nhiên chen lấn với các loại khác mà sống còn.


Nói đến cái cơ duyên của giàn mướp này bà nội Tý anh lại buồn cười. Thực tình thì bà có trồng đâu, cái giàn là của nhà mùng tơi tím đó chứ, sau có người hàng xóm quảng cáo về cái lá mơ trị kiết lỵ, đầy hơi, trĩ nội trĩ ngoại rồi tặng cho một cây, bà cũng dọn cho nó một chỗ mát mẻ ngay bên vệ rào, gần đám mùng tơi. Sở dĩ đa số dây leo được bò quanh vệ rào, vì chỗ này ít bị nắng gắt mùa hè chiếu cố đến, chỉ vào buổi bình minh mới lên là còn hưởng tý ánh nắng mặt trời, nhưng cứ càng xế trưa thì chỗ ấy mát dần lên, dây lá không ủ rủ héo rũ xuống vì nắng hè khắc nghiệt.


Khi đám mùng tơi phơi phới leo lên, chị lá mơ cũng ì ạch chạy theo kịp thì trên giàn những lá mơ mềm mềm hai mặt xanh và nâu tím, đầy những lông tơ cũng lẫn lộn với chị mùng tơi tím xinh xinh vẻ hiền hậu của cô gái quê không son phấn. Muốn có nồi canh mùng tơi, trước hết bà nội Tý anh đã hái những lá nằm phía dưới của hàng rào, sau chỗ nào cao hơn thì phải dùng cái thang nhỏ mới hái được. Nhà ít người thì một rổ nhỏ cũng có tô canh rồi, hai thằng Tý anh Tý em khi biết ăn cơm là cũng biết ăn canh mùng tơi, chả vì có tý rau trơn trơn dễ nuốt. Nhưng khi nào nhà có khách, ngoài những món thịt thà xào nấu công phu, bao giờ bà nội Tý anh cũng phải nấu thêm tô canh mùng tơi, ăn với món cà muối xổi thơm mùi tỏi ớt lúc nào cũng có sẵn trong tủ lạnh.


Không biết sao chứ nồi canh mùng tơi ăn với cà lại được khách chiếu cố tận tình, chẳng phải dài hơi mời mọc. Hôm nào đi chợ thấy bán cua biển còn tươi, bà nội Tý anh đã chịu khó mua về làm sạch sẽ, rồi nhờ ông xay giùm để dành từng bọc trong tủ đá. Khi muốn ăn, bỏ ra ngoài chờ hết lạnh lọc lại là có món canh cua nấu rau gì cũng ngọt. Nó hợp lạ lùng với rau đay, nhưng có đem nấu với mùng tơi và mướp hương thì cũng chẳng chê vào đâu được.


Hồi xưa đến giờ người ta hay nói đến cái duyên của mùng tơi với quả mướp, hai thứ này đi với nhau như bóng với hình. Người nội trợ khi mua rau mùng tơi nấu canh, bao giờ cũng hay nghĩ đến qủa mướp, thấp thoáng trong nồi canh là những miếng mướp mong mỏng xanh xanh màu ngọc thạch, thì lại phải điểm lên những lá mùng tơi xanh tím làm nền cho tô canh quyến rũ hơn, mùi vị hòa hợp lạ lùng. Thế mà khi không cái duyên quả mướp với mùng tơi lại đến với mảnh vườn của bà nội Tý anh. Nhà hàng xóm mùa thu năm trước dọn dẹp giàn mướp tàn, lẫn lộn những hột mướp giống với cỏ khô, dồn hết vào hông nhà ở vệ rào, năm nay khi mùa Xuân sang tự nhiên mọc lên những dây mướp thật khỏe, rồi vì nhu cầu sống cứ thế vươn lên, tìm đất đứng và tự nhiên bò qua cái hàng rào nhà hàng xóm.


Cuộc xâm lăng này không biết đối với chị mùng tơi và chị rau mơ có dễ chịu không thì chủ nhà không biết, nhưng cứ nhìn những dây mướp to khỏe, thay đổi từng ngày, lá xanh rờn to bằng hai bàn tay xoè ra, "tự nhiên như người Hà Nội" che kín cái giàn còn trống trải, tạo bóng mát cho cái hàng ba nắng mùa hè chênh chếch soi vào thì tiện lợi biết mấy. Nhất là trên cái giàn ấy đã xuất hiện những bông hoa vàng, rủ rê con ong cái bướm ở khắp nơi bay về dập dìu trên giàn mướp hương, đem đến những mảnh tình con con cho hoa lá cũng tưng bừng mở hội.


Ðó là cái tình của cây cỏ, còn cái lợi trước mắt thì nhà có thêm mướp để nấu canh mùng tơi, món canh quê mùa quốc hồn quốc túy mà chan vào bát cơm, rồi cắn thêm quả cà ròn tan trong miệng, chẳng thích lắm sao! Chủ nhân thuộc loại nhàng nhàng đủ ăn, chả có danh gì với núi sông ngoài cái giàn mướp và mùng tơi che kín cái hiên sau nhà, nên gọi cái giang sơn của mình là vườn rau quê hương, để gợi nhớ cái vườn rau quê nhà, và cũng vợi đi chút buồn xa xứ, hễ khách đến nhà thế nào cũng nấu cho được tô canh mướp , mùng tơi để đãi khách.


Bây giờ trời đã cuối thu, chỉ còn thưa thớt vài quả mướp đèo trốn tít ở trên cao, rình mãi bà nội Tý anh mới gom được ba quả mướp đèo để nấu tô canh cuối mùa. Ngó quanh cái giậu mùng tơi lá đã úa vàng, bé tẻo teo bám trên sợi dây màu tím lịm, vặt trụi đi thấy cũng tội nghiệp, chỉ con những chùm hột màu tím khô đong đưa dưới mặt giàn. Rau ăn đúng mùa, trái ăn đúng kỳ mới ngon, thôi thì làm một nồi canh mướp với nhúm tôm tươi bóc vỏ, thêm vào tý thịt nạc, vài tai nấm, một nắm bún tàu rồi nêm vào một chút hành ngò chẳng ngon lắm sao!


Nhà hôm ấy có khách. Khách từ phương Bắc mới đầu đông mà đã giá rét, trốn lạnh đi về phương Nam chơi ít lâu nên khi nhìn thấy cái vườn phương Nam, tuy đã xơ xác tiêu điều nhưng vẫn thấy lòng ấm lại. Chẳng vì mùa đông phương Bắc đến sớm từ cuối tháng chín, chưa gì vườn tược hoa cỏ đã úa màu rơi rụng hết, nay về phương Nam người xa quê như bắt gặp được một khoảnh quê hương xa tít tắp bên kia bờ đại dương. Nhất là bụi mía ven bờ rào bên khung cửa sổ thì ôi chao sao nó nhớ chi là nhớ, một cơn gió thổi qua để tất cả những thứ lá cây trong vườn rung lên xào xạc, bụi mía xào xạc, những lá mướp già vừa chớm khô cũng xào xạc, trời lại hanh hanh nắng mà vẫn hơi se lạnh, tý nữa trên mâm cơm lại có thêm tô canh mướp cuối mùa, còn giữ nguyên cái tình quê trong đó.


Không cần mời chào nài ép nhiều nhặn gì, đến bữa cơm ngoài món thịt kho trứng, đĩa cá chiên ròn chan nước mắm chua ngọt, tô canh mướp cuối mùa múc lên chỉ loáng mà đã hết. Khách vừa ăn vừa khen rối rít:

" Chả nói dấu gì, cao lương mỹ vị chúng tôi không thiếu, có tiền mua tiên cũng được, nhưng không tìm ra được hương vị thanh thanh ngọt ngào như cái tô canh mướp nhà bác. Ngày xưa hồi còn ở quê nhà...."

Thế là bao nhiêu kỷ niệm ở đâu tuôn ra như nước vỡ bờ:

" Bà cụ tôi hồi sinh tiền chỉ thích mỗi món canh mướp nấu lòng gà, ngày giỗ kỵ cũng phải để bộ đồ lòng cho cụ nấu canh mướp. Còn ngày thường thì chỉ nhúm tôm khô cũng xong, nhưng quả thật những thứ này đi với nhau lại hòa hợp một cách lạ lùng. Cái màu xanh xanh biêng biếc của lá mùng tơi, rồi điểm vào đó những lát mướp mong mỏng như ngọc thạch, úi chao, cả một nghệ thuật ẩm thực của tiền nhân trong ấy..."


Khách đúng là xính thơ văn nên khi tả món ăn cũng phải cầu kỳ hoa mỹ, chứ cứ như bà nội Tý anh, cả đời dân giả chỉ biết nồi niêu xoong chảo, cách nấu nướng cũng chỉ đơn giản miễn sao có chút thức ăn đưa cơm cho no bụng:

" Chắc các bác chưa từng được ăn đọt mướp xào tỏi bao giờ nhỉ?"

Khách ngưng húp canh, ngẩn ngơ nghĩ chưa ra là trên đời lại còn món đọt mướp xào tỏi:

" Vâng, món ấy thì chưa được ăn qua, nhưng đào đâu ra cho đủ để xào?"

Bà nội Tý anh hãnh diện khoe:
" Từ ngày sang đây đến nay, tôi cũng chửa thấy chợ nào có bán đọt mướp. Bí rợ, đậu hòa lan thì thiếu gì, nhưng tìm được đọt mướp để xào thì hiếm còn hơn cao lương mỹ vị. Gặp năm giàn xum xuê quá mà quả ăn mãi cũng chán, nhà chỉ hay hái đọt mướp để xào thôi. Ðúng là quý thật, vì mỗi lần hái chỉ được một rổ nhỏ, lấy cả lá non tước đi cái vỏ ngoài cũng chỉ được đúng một đĩa, hôm ấy nhà tôi gọi là có đại tiệc đấy, mỗi người được đúng hai gắp..."

Khách xuýt xoa:
" Tiếc nhỉ, giá đến chơi sớm vào độ hè chắc tôi đã được ăn món ấy. Ðâu chủ nhà diễn tả xem cái đọt mướp xào tỏi nó thi vị ở chỗ nào, có bằng món đọt đậu Hòa Lan trong nhà hàng Tàu không?"

Xem ra khách có vẻ chưa tin vào cái món đọt mướp "cây nhà lá vườn" này lắm, bà nội Tý anh phải vận dụng hết khả năng văn chương để cho khách phương xa thèm thuồng món ăn dân giả này, bởi chưa chắc có tiền đã mua được:
" Ấy, bác vào bất cứ nhà hàng nào ở đây không bao giờ tìm được trong " menu " món này đâu đấy! Còn so sánh với đọt đậu xào thịt bò thì hai cái khác nhau một trời một vực, hương vị mỗi thứ mỗi khác, tuy đã xào nhưng mùi hương của cái nhụy hoa vàng kia nó vẫn phảng phất trong cái miếng rau mình nhai trong miệng, bùi bùi, hơi nhân nhẩn mà không đắng, thơm thơm mà lại thanh thanh, cứ chầm chậm nhai thì mới thấy cái ngon nó thấm vào lục phủ ngũ tạng. Rau bí rợ thì dễ kiếm, nhung khi luộc hay xào, ăn nó nhàn nhạt không bao giờ có được cái vị thơm của lá mướp."

Khách cười xòa lên:
" Ui chao! Nghe tả sơ sơ thôi mà đã thấy thèm ứa nước miếng ra rồi. Xem ra chả có cái gì bỏ phí, vì lá mướp nghe nói cũng là dược thảo chữa cái bệnh gì đó...."

Chủ khách cùng cười, giá cây mướp đang bò trên giàn kia nghe được chắc cũng phổng mũi ra vì sung sướng:
" Nghiên cứu về dược thảo của rau cỏ thì nhiều, nhưng chính lá mướp cũng là một thứ thuốc chữa bịnh ngoài da hay lắm. Nó còn chữa được cả bệnh Giời ăn, mọc thành giề mà hễ nước vỡ ra đến đâu thì lan ra tới đó, cái lạ rằng chỉ nổi một nửa thôi, hễ ở lưng thì mọc một bên không bao giờ qua phía bên kia, nhưng để giáp vòng thì hết thuốc chữa. Vậy mà ngày xưa ở nhà quê người ta cứ lấy lá mướp giã nát ra đắp lên cũng khỏi. Thế tôi đố chị chỉ có người Việt mình mới biết ăn đọt mướp, hay là các dân xứ khác họ cũng biết ăn như mình?"

Khách lắc đầu:
" Ngay tôi là người Việt thế nhưng hồi ở bên nhà, cũng chưa bao giờ biết là đọt mướp ăn được."

Bà nội Tý anh tiếp lời khách:
" Chính tôi thì cũng không nghĩ rằng đọt mướp ăn được, vì khi các cụ mình trồng cho mướp ra hoa nhiều mới có quả, bất cứ giống gì hái đọt ăn lá đều không kết quả được bao nhiêu. Thế nhưng cái hôm bà hàng xóm người Phi Châu sang chơi, thấy cây mướp có nhiều đọt non, bà ấy mới bảo rằng lá mướp non ăn ngon lắm. Tôi không tin như thế, nhưng nghe vậy cũng ăn thử một bữa xem sao, mới biết người ta nói đúng."


Chỉ tiếc rằng giàn mướp vào cuối thu đã tàn, nên không thể hái được nắm đọt mơn mởn để đãi khách như độ đang hè, nhưng câu chuyện kể về quả mướp hương nó lại lan man sang vấn đề khác:

" Mình thì cứ tưởng chỉ có mỗi mình mình mặn nồng nỗi nhớ quê cha đất tổ, hóa ra dân tộc khác cũng vậy. Món ngon không phải ở chỗ đắt tiền, nhưng chính là nó hợp với cái nỗi nhớ trong lòng mình mà bỗng hóa nên ngon, nên hiếm. Ôi cái thuở còn thơ, hễ buồn buồn thì vác con dao ra vườn đốn một cây mía xuân diệu, rồi cứ thế ngồi dưới gốc mía mà gặm, sao nó ngọt nó ngon đến thế. Bây giờ nói xin lỗi bác, khéo không lại đi tuốt hết cái hàm răng..."


Hai người cứ thế rũ ra cười với nhau, hai thằng Tý anh Tý em cùng cười góp vào mà chẳng hiểu gì. Bà nội Tý anh bảo:
" Mùa này cá nục ngon và béo lắm, mai tôi đãi chị món lá mướp cuốn cá nục, nuớng lửa than rồi cuộn với bánh tráng, rau sống tuyệt trần đời. Trải ba lớp lá mướp, để cá lên rồi cuộn chặt vào mà nướng, thịt cá không tanh mà lại còn thơm cái mùi khói đồng nhờ lá mướp bao xung quanh. Muốn tìm ra cái hương quê cũng chẳng khó gì chị ạ."


Cơm nước xong, ấm trà cúc pha vừa phải đủ làm thơm miệng và mát bụng. Hình như chợt nhớ ra, bà nội Tý anh lại nói với khách:
" Xem thế nhưng không phải lúc nào cũng ăn được mướp. Người yếu tỳ yếu vị, bị cảm lạnh thì không nên ăn, mướp thuộc loại hàn ăn vào cũng khó tiêu. Nhưng hề gì, nhà tôi có một giàn lá mơ đấy, bứt vài lá dằn bụng thì ăn gì cũng chả lo!"

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

New York: Tiệm Victoria’s Secret đóng cửa vì rệp
NEW YORK (CSMonitor) - Tình trạng rệp (bed bug) hoành hành buộc cửa tiệm Victoria's Secret và Abercrombie and Fitch ở New York phải tạm thời đóng cửa trong thời gian ngắn hồi tháng này. Ðây là chỉ dấu mới nhất cho thấy sự hồi phục của rệp tại Hoa Kỳ sau khi coi như bị tận diệt hồi thập niên 50.
Image
Rệp nay tái xuất hiện nhiều nơi ở Hoa Kỳ. (Hình: Mark Rightmire/The Orange County Register/Newscom)
Sau khi được coi như bị tiêu diệt ở Hoa Kỳ nửa thế kỷ trước đây, các ổ rệp nay lại xuất hiện khắp nơi khiến thành phố New York phải thành lập một hội đồng cố vấn chống rệp năm 2009 để tập trung vào việc ngăn ngừa các ổ rệp lan ra.

Theo cơ quan điều hành và phát triển gia cư ở New York City, số vụ than phiền về có rệp trong các căn chung cư ở thành phố này tăng vọt trong năm năm qua, từ mức chỉ hơn 500 vụ năm 2004, lên đến hơn 10,000 năm 2009. Hồi tháng 6, quốc hội tiểu bang New York thông qua đạo luật buộc các chủ nhà phải thông báo cho người thuê biết về “lịch sử” rệp ở căn chung cư họ sắp vào ở.

Hoa Kỳ cũng không phải là quốc gia duy nhất thấy có sự sinh sôi nảy nở của rệp. Giáo Sư Michael Potter tại trường University of Kentucky, nói rằng đây là một hiện tượng chung trên cả thế giới.

“Chúng tôi vừa hoàn tất một cuộc thăm dò ý kiến khoảng 1,000 công ty diệt trừ rận rệp mối mọt ở 43 quốc gia,” ông Potter cho hay. “Họ cũng nhìn thấy những gì chúng ta đang nhìn thấy ở đây.”

Rệp là điều hiếm thấy ở Mỹ từ thập niên 50 đến nay. Nhờ vào hóa chất chống rệp rất mạnh và việc giáo dục quần chúng nên rệp không thể tồn tại, khiến việc thấy chúng là điều rất hiếm. Tuy nhiên, một số loại thuốc diệt rệp hiệu quả, như thuốc DDT, nay bị cấm sử dụng.

Bên cạnh đó, các con rệp sống sót nay có khả năng chống lại các loại thuốc diệt chúng bán trên thị trường. Do vậy, tiêu diệt rệp là điều rất khó ngày nay.

Việc hấp tẩy quần áo và hút bụi là các biện pháp đem lại kết quả tốt. Nhưng việc xịt thuốc sát trùng vẫn là phương cách hữu hiệu nhất. Tuy nhiên, Giáo Sư Potter nói: “Chúng ta không còn có những loại thuốc sát trùng mạnh và hữu hiệu như trước. Nghĩa là phải xịt đúng ngay vào chúng thì mới mong diệt được, một khi thuốc đã khô thì không có tác dụng gì.” (V.Giang)

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Chỉ có sự thật
mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước


Tác giả: Trần Mạnh Hảo
(Tham luận của Trần Mạnh Hảo trong Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ XIII, soạn theo thư “mời viết tham luận” của nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhờ nhà thơ Trần Đăng Khoa đọc giùm – cám ơn!)

“Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” (K.. Marx)

Kính thưa quý đồng nghiệp cầm bút,
Thưa quý vị quan khách và quý vị lãnh đạo,

Thói thường, con người sợ món gì nhất? Sợ ma quỷ ư? Không! Sợ vợ ư? Không! Sợ công an ư? Không! Sợ kẻ cầm quyền ư? Không! Sợ chết ư? Không!
Theo chúng tôi, con người trên mặt đất này sợ nhất sự thật! Vì vậy, ngạn ngữ Việt Nam từng nói: “Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”. Người Trung Hoa từ thượng cổ đã nói: “Trung ngôn nghịch nhĩ”. Người Ba Tư cổ khuyên: “Nếu nói ra sự thật, anh sẽ chết”. Người Ai Cập xưa cảnh cáo: “Khi sự thật bị bỏ quên quá lâu, một hôm nó thức dậy thành ngày tận thế”. Ngạn ngữ Tây Tạng tiền Phật giáo khuyên: “Mày chỉ được phép nói ra sự thật, nếu mày làm vua”. Thổ dân Úc bảo: “Ai nhìn thẳng vào sự thật sẽ bị mù mắt”. Lịch sử nhân loại đã ghi nhận hàng triệu con người từng dám cả gan nói lên sự thật mà bị mất mạng, bị tù tội hay bị quản thúc tại gia.

Đã có bao nhiêu lý thuyết chính trị thề bồi giải phóng con người, bao nhiêu cuộc lật đổ, cuộc cách mạng tuyên thệ giải phóng con người, giúp con người hoàn toàn tự do, sau khi đã giết hàng triệu triệu sinh mạng. Rút cuộc, con người hình như vẫn chưa được hoàn toàn giải phóng, chưa hoàn toàn được tự do, con người vẫn còn sợ hãi vì bị sự dối trá thống trị? Một số đất nước, một số dân tộc trên hành tinh vẫn còn bị nhốt trong nhà ngục có tên là dối trá. Cần phải làm một cuộc cách mạng của sự thật mới mong giải thoát cho nhân dân khỏi ngục tù kia.
Chìa khóa cuối cùng giúp con người được giải phóng, được hoàn toàn tự do, chính là sự thật, một sự thật không còn bị giấu như loài mèo giấu của quý. Karl Marx đã tôn vinh sự thật lên tột cùng của nhận thức luận và phương pháp luận: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý”: không có sự thật đi kèm, mọi kết luận, mọi lý thuyết, mọi khế ước, mọi hội kín, mọi cuộc cách mạng đều chỉ là ngụy lý, ngụy tạo, là lừa bịp. Cố Tổng thống Ba Lan Lech Kaczyński (1949-2010) người vừa bị tử nạn trong vụ rơi máy bay trên đường bay đến rừng Katyn tham dự lễ kỷ niệm 22.440 người con ưu tú của dân tộc Ba Lan bị Hồng quân Liên Xô chôn sống hồi đầu chiến tranh thế giới thứ hai; trong bài diễn văn viết sẵn mà ông không còn cơ hội để đọc, có đoạn viết như sau: “Sự thật, kể cả sự thật đau đớn nhất luôn luôn giải phóng cho con người. Sự thật gắn kết. Sự thật mang lại sự công bằng. Sự thật chỉ ra con đường hòa hợp.”

Lấy ý tưởng từ câu cách ngôn kinh điển của K. Marx và lời trăn trối thiêng liêng thống thiết lớn lao của ngài cố Tổng thống Ba Lan trên, chúng tôi viết bản tham luận theo yêu cầu của Hội Nhà văn Việt Nam này.

Dostoyevsky, nhà văn vĩ đại nhất của chủ nghĩa hiện thực Nga và thế giới, từng tuyên ngôn rất hoa mỹ, rằng: “Cái đẹp sẽ cứu chuộc thế giới”. Chúng tôi thêm: “Sự thật sẽ cứu chuộc thế giới”. Sự thật sẽ cứu chuộc nền văn học của chúng ta, cứu chuộc Tổ quốc ta, nếu chúng ta cả gan một lần cùng nhau: “Gọi sự vật bằng tên của nó” theo cách ngôn của phương Tây.

Nếu Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam thử một lần hợp tác với đất nước, với dân tộc Việt Nam mở HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG CHỐNG GIẶC NÓI DỐI để tìm ra con đường cứu nguy dân tộc đang trên đà suy vong, thì công này của quý vị rất lớn. Ông cha chúng ta đã đánh thắng giặc Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh… để bảo tồn đất nước. Tất cả các thứ giặc trên cộng lại cũng không ghê gớm bằng giặc nói dối đang tàn phá Tổ quốc ta, giống nòi ta. Lần này, nếu nhân dân ta không vùng lên đáng tan BỌN GIẶC CÓ TÊN LÀ DỐI TRÁ, chắc chắn đất nước ta sẽ bị kẻ thù phương Bắc nuốt chửng, như mấy nghìn năm trước chúng đã nuốt chửng toàn bộ các dân tộc Bách Việt từng định cư lâu dài phía nam sông Dương Tử.
Chúng tôi viết bản tham luận này cũng để nhằm hưởng ứng cuộc hội thảo “Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay” do Ban Tuyên giáo Trung ương vừa tổ chức tại Đà Lạt trong hai ngày 12-13/7/2010 với hơn hai trăm văn nghệ sĩ và các nhà lý luận phê bình hàng đầu Việt Nam tham dự. Cuộc hội thảo dũng cảm kêu gọi văn nghệ sĩ từ trên mây tỉnh giấc, quay về với hiện tình đất nước, do GS.TS. Phùng Hữu Phú (Ủy viên Trung ương Đảng, phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, chủ tịch Hội đồng Lý luận Phê bình Trung ương), chỉ đạo. Theo Đại từ điển tiếng Việt trang 803, từ “hiện thực” có nghĩa như sau: “Cái có thật, tồn tại trong thực tế” (Bộ Giáo dục & Đào tạo–Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam-NXB Văn hóa Thông tin xuất bản 1998). Như vậy, khái niệm “hiện thực” chính là sự thật đã và đang xảy ra trong thực tại trên đất nước ta. Cuộc hội thảo của Ban Tuyên giáo Trung ương vừa qua có thể được gọi bằng một cách khác: “Văn học nghệ thuật phản ánh sự thật của đất nước hôm nay”. Muốn phản ánh được sự thật của đất nước hôm nay, việc trước tiên của chúng ta là phải nhìn ra sự thật, gọi đúng tên sự vật, không phải sự thật tô hồng hay sự thật bôi đen, mà sự thật đúng như nó đang tồn tại khách quan quanh ta.
Lâu nay, vẫn nghe dân gian xì xào nửa hư nửa thực rằng: “Các thế lực thù địch (xin lỗi, tiên sư nó) nói cái gì hình như cũng đung sắc đúng, Ban Tuyên giáo Trung ương (xin lỗi) nói cái gì hình như cũng sờ ai sai…” thì quả là chưa chắc; bằng chứng là trong hoàn cảnh đất nước mà sự thật trốn biệt như hôm nay, thì việc Ban Tuyên giáo Trung ương kêu gọi nhà văn chúng ta hãy mở mắt, từ bỏ giấc nam kha vô tích sự quá dài để nhìn vào sự thật, nói lên sự thật đất nước, là một việc làm quá đúng.

Tất nhiên, sự thật mà Ban Tuyên giáo Trung ương kêu gọi nhà văn nhìn nhận được nhìn bằng mắt thường, chứ không phải sự thật bịt mắt bắt dê, hay sự thật được nhìn bằng mắt kẻ khác, nhìn bằng những thấu kính ảo, kính lồi, kính lõm, hay chiếc gương chiếu yêu, chiếu bóng… Thâm ý của Ban Tuyên giáo Trung ương hình như muốn chúng ta tìm lại phong trào “Nói thẳng, nói thật” thời kỳ Đổi mới năm 1986 -1987 do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh phát động?

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, trong cuộc gặp mặt văn nghệ sĩ năm 1987, đã làm gương nói thẳng nói thật, khi ông đặt vấn đề rốt ráo cho văn học nghệ thuật là nhà nghệ sĩ phải có tự do sáng tác; ông nói: “Cởi trói như thế nào, cởi trói nói ở đây trước hết là Đảng phải cởi trói cho các đồng chí… Tôi cho rằng khi những sợi dây ràng buộc được cắt đi, sẽ làm cho văn học nghệ thuật như con chim tung cánh bay lên trời xanh…”.

Rõ ràng, qua lời Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Đảng đã thừa nhận từng trói văn nghệ sĩ và trí thức rất nhiều năm. Lần này, Ban Tuyên giáo Trung ương, thông qua cuộc hội thảo cấp nhà nước “Văn học nghệ thuật hướng vào sự thật của đất nước” đã khuyến khích kẻ hèn này là chúng tôi nói lên sự thật, toàn là những sự thật chết người, sự thật mà chính quyền cố tình giấu diếm vì món lợi của quyền lực, với sự ngụy biện chống lại lẽ phải, chống lại chân lý: “Nói ra sự thật lúc này không có lợi”. Chả lẽ vì cái lợi, vì miếng ăn mà chúng ta đành phải nói dối hết đời ông đến đời cha, hết đời con đến đời cháu hay sao? Vậy chừng nào nhà nước Việt Nam mới cho người dân chúng tôi công khai nói ra sự thật đây? Chúng tôi đành lấy lời dạy của K. Marx làm bùa hộ mệnh: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” để một lần cuối cùng nói ra sự thật của đất nước chúng ta, dẫu có bị bị làm phiền, thậm chí bị tù đầy cũng mặc. Một kẻ nói dối, một dân tộc nói dối “lộng giả thành chân”, là một kẻ, một dân tộc không có tự do, không có độc lập, không có dân chủ, không có chân lý và lẽ phải… Khi một kẻ, một dân tộc phải núp vào sự dối trá để tồn tại, kẻ đó, dân tộc đó là một kẻ yếu, một dân tộc yếu đang trên đường suy vong. Chỉ có kẻ mạnh, kẻ tự tin, kẻ có liêm sỉ, có đạo đức mới không sợ sự thật, dù là sự thật đau đớn nhất, khủng khiếp nhất mà thôi.

Được lời như cởi tấm lòng, chúng tôi xin kể ra SỰ THẬT ĐẤT NƯỚC qua mắt mình, cái mà nền văn học của chúng ta lâu nay lảng tránh, làm ngơ, mặc “quốc gia hưng vong”, “ thất phu” thay vì “ hữu trách” thì hầu như cánh “thất phu” nhà văn thảy đều “tắc trách”… Chúng tôi mong 700 tờ báo của lề phải, tức báo của Đảng và nhà nước, hãy hạ cố chỉ ra những sự thật mà chúng tôi gọi tên trong bài tham luận này đúng hay sai. Còn nếu quý vị dùng công an hay nhà tù để đối thoại với chúng tôi thì quý vị đã mặc nhiên thừa nhận chúng tôi nói đúng; chỉ vì đuối lý mà quý vị mới phải dùng hạ sách là làm phiền chúng tôi, đe dọa chúng tôi thì quý vị đã không chính danh quân tử, dùng nền chính trị bá đạo ứng xử với người dân, khi người dân dám nói lên sự thật để hi vọng trên đất nước đau thương và cam chịu này le lói một nền chính trị vương đạo, dựa vào sự thật, lương tri và lẽ phải. Trong hàng trăm sự thật nhãn tiền của đất nước, chúng tôi chỉ xin kể ra ba sự thật mà thôi.
SỰ THẬT MỘT Chưa bao giờ số phận dân tộc ta, đất nước ta có nguy cơ tiêu vong như hôm nay: nước nhà đang bị giặc ngoại bang xâm lấn bằng cuộc chiến tranh ngọt ngào, chiến tranh ôm hôn thắm thiết và tặng hoa, tặng quà anh anh chú chú, bằng cách chiếm dần hai quần đảo chiến lược Hoàng Sa và Trường Sa, lấn chiếm dần dần biên giới đất liền và hải đảo, khiến nguồn lợi biển vô cùng tận của ta rồi sẽ mất hết, dân tộc ta không còn đường ra đại dương, coi như tiêu. Ngoại bang dùng chiêu bài “ý thức hệ” và “16 chữ vàng” làm dây trói vô hình, trói buộc Đảng cầm quyền và nhà nước Việt Nam phải nhân nhượng kẻ xâm lược hết điều này đến điều khác. Trên đất liền, ngoại bang dùng con bài khai thác bauxite, mua đất thời hạn 100 năm của 18 tỉnh lấy cớ trồng rừng, thực chất là công cuộc chiếm đất di dân theo kiểu vết dầu loang, theo kiểu “nở hoa trong lòng địch”. Đến nỗi, khi giặc chiếm Hoàng Sa rồi đặt tên quận huyện cho quần đảo này, sinh viên thanh niên biểu tình chống giặc lại bị nhà nước Việt Nam bắt. Vậy, nhà nước chúng ta hiện nay đứng về phía ngoại bang xâm lược hay đứng về phía nhân dân ta? Cũng chưa bao giờ như hôm nay, thiên nhiên và môi trường sống trên nước ta lại bị phá hoại khủng khiếp như thế: rừng bị triệt phá gần hết, sông ngòi đồng ruộng cạn kiệt nguồn nước, lụt lội kinh hoàng, khí trời bị ô nhiễm tới mức cuối cùng, nước mặn xâm hại phá hủy các đồng bằng. Chỉ cần một trận mưa lớn là Hà Nội, Sài Gòn biến thành sông do quy hoạch xây dựng phản khoa học. Hạt lúa, củ khoai, mớ rau, tôm cá, thịt gia súc, gia cầm cũng đang bị các chất hóa học độc hại chứa trong thức ăn, các chất tăng trưởng, chất bảo quản độc hại ám sát, khiến sinh tồn của giống nòi có cơ biến dạng…

Đạo đức xã hội tha hóa tới mức cuối cùng, con người hầu như không còn biết tới liêm sỉ và lẽ phải… Một ông Chủ tịch tỉnh Nguyễn Trường Tô và rất nhiều quan chức cao cấp trong tỉnh Hà Giang chơi gái vị thành niên do ông hiệu trưởng trường trung học Sầm Đức Xương bắt các cháu nữ sinh là học sinh trong trường làm điếm, nhằm cống nạp cho các quan đầu tỉnh. Nghe nói ông Nguyễn Trường Tô, ông Sầm Đức Xương từng là những người nhiều năm liền được bằng khen vì thành tích học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh. Một sinh viên Nguyễn Đức Nghĩa từng là đoàn viên thanh niên cộng sản ưu tú, đã ra tay giết và cướp của chính người yêu cũ của mình một cách man rợ, không phải là cá biệt trong một xã hội con giết cha, vợ giết chồng, anh em giết nhau được đưa tin đầy tràn trên các trang báo lề phải. Lối sống vô đạo đức, hành vi vô luân, con người ứng xử với con người man rợ hơn dã thú đang là vấn nạn quốc gia, có thể đưa một dân tộc vốn có văn hóa, văn hiến bốn nghìn năm tới chỗ diệt vong… Không nhìn ra những nguy cơ chết người này, liệu 100 năm nữa Tổ quốc Việt Nam chúng ta còn tồn tại không? Dòng giống con Lạc cháu Hồng còn tồn tại không?

Nền giáo dục Việt Nam hôm nay là một nền giáo dục thiếu trung thực, đúng như ý kiến của ông Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã công nhận. Đạo đức trong giáo dục Việt Nam hôm nay đồng nghĩa với dối trá: thày dối trá thày, trò dối trá trò, quản lý giáo dục báo cáo láo cốt lấy thành tích, nạn mua bán bằng, bán đề thi, mua quan bán tước đang là đại họa của nền giáo dục. Hầu hết sách giáo trình, sách giáo khoa… là sách đạo văn. Cán bộ có chức có quyền đua nhau làm thạc sĩ, tiến sĩ… lấy bằng thật nhưng học giả. Nạn dùng tiền mua bằng cấp, mua học hàm học vị đang diễn ra công khai trong cái chợ trời giáo dục Việt Nam. Việc Hà Nội vừa qua đưa chỉ tiêu “xóa mù tiến sĩ” cho cán bộ công nhân viên nhà nước đã nói lên học vị tiến sĩ chẳng còn giá trị gì cả. Có lẽ trong vài năm tới, sau việc Bộ Giáo dục ra chỉ tiêu đào tạo thêm 23.000 tiến sĩ, sẽ dẫn tới chiến dịch xóa mù tiến sĩ trên phạm vi toàn dân. Nhiều ông cán bộ cấp cao có học vị tiến sĩ nhưng chưa có bằng tốt nghiệp đại học, thậm chí có vị chưa có bằng tốt nghiệp cấp 2 vẫn lấy được học vị tiến sĩ. Việc chính trị hóa môn văn, môn lịch sử, môn triết học, chính trị hóa nền giáo dục… đã tạo cơ sở cho sự dối trá làm bá chủ đất nước. Giáo dục như thế sao có thể đào tạo ra những công dân chân chính? Đây là dấu hiệu suy vong lớn nhất của dân tộc do nền giáo dục thiếu tính nhân văn, thiếu tính chân thật gây ra. Những quả bom B52 tinh thần là nền giáo dục đi chệch hướng chân thiện mỹ đang rải thảm lên tinh thần dân tộc, thì ai là người phải chịu trách nhiệm trước lịch sử đây?

Than ôi, sau những quả bom tinh thần có tên là giáo dục mà chế độ tự ném vào mình, chỉ cần ngoại bang ném bồi thêm mấy quả bom thật vào hai đập thủy điện Sơn La và Hòa Bình là đồng bằng Bắc Bộ và cả Hà Nội sẽ biến mất, dân tộc sẽ biến mất… Hai đập thủy điện khổng lồ trên nghe đâu lại nằm trên vết nứt động đất… mới hãi hùng làm sao? Đầu nguồn sông Hồng, đầu nguồn sông Mê Kông, Trung Quốc đã và đang xây hàng trăm đập thủy điện, khiến hai con sông chính của đất nước khô cạn dần, không còn đủ nguồn nước tưới cho hai đồng bằng chính nuôi sống dân tộc. Cách Móng Cái 60 km, tại Phòng Thành, Trung Quốc đang xây nhà máy điện hạt nhân rất lớn; nếu có sự cố kiểu Chernobyl vào mùa gió bấc, Hà Nội và dân đồng bằng Bắc Bộ có thể sẽ chết hết vì nhiễm phóng xạ hạt nhân…
SỰ THẬT HAI Chưa bao giờ như hôm nay, trên đất nước ta, giặc nội xâm có tên là tham nhũng lại hoành hành ngang nhiên, kinh hãi như dịch hạch đến thế. Dân có tham nhũng không? Không! Thế thì ai là giặc nội xâm, là giặc tham nhũng? Thưa, chính quyền! Chỉ kẻ có chức có quyền mới tham nhũng được mà thôi. Vụ tham nhũng mới nhất như một đòn hiểm ác đánh một cú chí tử vào đất nước là tập đoàn Vinashin – một nấm đấm thép của chính phủ – đã cướp đi của nhân dân số tiền khổng lồ là 80.000 tỷ đồng. Cứ thử làm tròn dân số nước ta là 90 triệu người (thực ra dân số Việt Nam mới chỉ trên 85 triệu dân), vị chi mỗi người dân vừa bị tập đoàn quốc doanh Vinashin cướp đi gần 9.000.000 đ. Chín triệu đồng với người nông dân là một nguồn vốn lớn: một gia đình nông dân có bốn nhân khẩu chẳng hạn, đã vừa bị Vinashin cướp đi nhãn tiền 36.000.000 đ. Đã có bao nhiêu tập đoàn Vinashin cướp hết tiền của nhân dân trong quá khứ, trong hiện tại chưa bị phát hiện? Những nấm đấm thép của chính phủ như các tập đoàn kinh tế: tập đoàn Than, tập đoàn Điện, tập đoàn Khoáng sản… đã và đang đấm chí tử vào hầu bao dân nghèo Việt Nam. Theo kiểm toán nhà nước, năm 2008, các tập đoàn kinh tế – nắm đấp thép – đã làm thất thoát 10 tỷ đô la. Năm 2009, số thất thoát (đổ tội cho lỗ vốn) cũng không nhỏ hơn số 10 tỷ đô la năm trước. Các tập đoàn kinh tế quốc doanh, các công ty quốc doanh đang là đại họa cho quốc gia; chứng tỏ thành phần kinh tế rường cột của mô hình xã hội chủ nghĩa này đã hoàn toàn thất bại. Về quốc nạn tham nhũng, bà Phạm Chi Lan, chuyên viên kinh tế cao cấp của chính phủ đã phải cay đắng thừa nhận “bọn nắm đấm thép – chúng nó ăn hết tiền của dân rồi” như sau: “Một khi vẫn còn các ông lớn chủ đạo vẫn ngốn hết nguồn lực của đất nước và thâu tóm hết quyền thiết kế chính sách có lợi cho mình, thì làm sao thằng nhỏ động lực kinh tế tăng tốc được” (Tuần Việt Nam 22/07/2010).

Tại sao nhà nước ta hiện nay vốn có hai chính quyền cồng kềnh, chồng chéo nhau, giẫm đạp lên nhau: một chính quyền theo hệ Đảng và một chính quyền theo hệ nhà nước với hàng vạn ban thanh tra, hàng vạn chi bộ bốn năm sáu tốt, với hầu hết mấy triệu đảng viên gương mẫu đều đã học tập tốt đạo đức Bác Hồ, mà giặc tham nhũng lại ngang nhiên hoành hành trắng trợn từ vi mô đến vĩ mô đến như vậy? Quan tham nhìn từ xã trở lên không thấy lao động chân tay, không thấy lao động trí óc, chỉ sử dụng một thứ lao động có tên là LAO ĐỘNG LÃNH ĐẠO mà ai ai cũng giàu có hơn dân thường hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn, hàng triệu, hàng tỉ lần là sao? Chung quy lại, có phải là do thể chế sai, mô hình chính trị sai: VỪA ĐÁ BÓNG VỪA THỔI CÒI, VỪA ĐI THI, CHẤM GIẢI VỪA PHÁT GIẢI VỪA ĐƯỢC LÃNH GIẢI. NHÀ NƯỚC – ĐẢNG MỘT MÌNH MỘT CHỢ: VỪA THAM NHŨNG VỪA CHỐNG THAM NHŨNG? Xin hỏi: tay phải tham nhũng, liệu tay trái có dám cầm dao chặt được tay phải hay không?

Linh hồn triết học duy vật biện chứng Marxism nằm ở câu kinh mà đảng viên cộng sản nào cũng phải thuộc làu làu: “Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất”. Chỉ trừ nền chính trị của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam không hề nằm trong quy luật vận động này của Marx, vì nó triệt tiêu đối lập chính trị!

Nền chính trị độc đảng, độc quyền của nước ta hôm nay đang chống lại biện chứng pháp Marxism. Trong phép biện chứng do Hegel sáng tạo, Marx tiếp thu, có ba nhịp như sau: xuất đề, phản đề và tổng đề. Phản đề hay đối lập chính là linh hồn của biện chứng pháp Marxism. Chối bỏ đối lập, triệt để cấm phản đề, cấm đối lập chính trị, nền chính trị của nước ta ngày nay đang chống lại chính cái lý thuyết chủ nghĩa cộng sản mà nó thề nguyền đi theo, thành ra một nền chính trị thoái bộ, rất giống với các nền chính trị thần quyền thời Trung cổ bên châu Âu.

Hãy xem khẩu hiện rất duy tâm, hoàn toàn chống lại thuyết Marxism của Đảng cầm quyền: “Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh MUÔN NĂM”. Marx từng giải thích tại sao loài người thống khổ: vì loài người còn phân chia giai cấp. Mục đích của Marx là làm cho nhân loại tiến đến đại đồng, tức tiến đến thiên đường cộng sản. Muốn đến thế giới cộng sản, phải xóa bỏ các giai cấp: xóa bỏ giai cấp tư sản, xóa bỏ giai cấp vô sản, xóa bỏ nhà nước, xóa bỏ công an, quân đội, tất nhiên phải xóa bỏ cả Đảng Cộng sản, vì Đảng Cộng sản là đảng của giai cấp vô sản. Mà khi xóa bỏ giai cấp, thì đảng của giai cấp cũng không còn. Hô “Đảng Cộng sản Việt Nam MUÔN NĂM” cầm bằng như hô: “Xã hội loài người có giai cấp muôn năm”! Rõ ràng hô như vậy là treo cổ chủ nghĩa Marx, là không chính danh, là tự xóa bỏ tính mục đích của Đảng Cộng sản.
SỰ THẬT THỨ BA:
NÓI MỘT ĐÀNG, LÀM MỘT NẺO, HAY LÀ DANH KHÔNG CHÍNH THÌ NGÔN KHÔNG THUẬN
Đảng, Nhà nước Việt Nam nói thì rất hay, nhưng làm thường ngược lại. Những nguyên tắc, nguyên lý, luật pháp, chính sách, đường lối của Đảng cầm quyền và nhà nước Việt Nam hiện nay hầu hết đều không chính danh.

Xin chứng minh
Trong Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam người dân được hưởng tất cả các quyền: quyền sống, quyền làm người, quyền hoạt động chính trị, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, lập đảng phái, quyền biểu tình, tự do tôn giáo, tự do cư trú, tự do đi lại, tự do đủ thứ…

Chính sách hộ khẩu đã cấm tự do cư trú.

Quyền được biểu tình của dân bị cấm chỉ bởi một nghị định (do Thủ tướng Phan Văn Khải ký): cấm từ năm người trở lên tụ tập hay đi hàng dọc ngoài đường, ngoài phố. Anh bạn chúng tôi có 5 đứa con, cộng hai vợ chồng là 7 người, mỗi sáng Chủ nhật anh chị dẫn bầy con đi tập thể dục tại công viên cách nhà hơn cây số . Đoàn rồng rắn tí hon của anh chị không thể đi thành một hàng, mà phải bí mật xé lẻ thành hai tốp, anh dẫn 3 đứa con, chị dẫn 2 đứa con giả vờ không quen biết nhau, đi vào hai lề đường khác nhau, sợ đi chung sẽ bị công an bắt… Anh bạn này tâm sự: ra Quốc lộ số 1, qua một số đường phố ở các thành phố nhỏ, thấy trâu bò được ung dung đi thành bầy đàn hàng mấy chục con trên đường mà không bị công an bắt? Sao kiếp người ở Việt Nam lại tủi hổ hơn kiếp bò: con bò còn được tự do tụ tập, tự do nghênh ngang rồng rắn trên đường, được Đảng và nhà nước đối xử tử tế hơn hẳn con người… là sao hở các ông trời con?

Tự do tôn giáo bị cái rọ tôn giáo quốc doanh cấm cản. Hàng trăm sư sãi, chùa chiền vốn theo một hệ phái Phật giáo riêng từ trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam đã bị cấm hoạt động, bắt phải vào Phật giáo quốc doanh, nếu không chịu quốc doanh hóa Phật giáo sẽ bị bắt. Công giáo cũng phải thành Công giáo quốc doanh. Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành… cũng phải vào quốc doanh thì sao gọi là tự do tôn giáo? Ở một đất nước không có TÔN GIÁO TƯ NHÂN, chỉ có TÔN GIÁO QUỐC DOANH mà cứ xưng xưng toe toét: Việt Nam có tự do tôn giáo.

Điều 4 trong Hiến pháp cho phép chỉ một mình Đảng Cộng sản được nắm quyền lãnh đạo mãi mãi, đã cấm mọi công dân tự do hoạt động chính trị, trong khi quyền người dân được tự do hoạt động chính trị ghi rõ ràng trong Hiến pháp. Điều 4 của Hiến pháp là điều không chính danh.

Đảng và Nhà nước có trên 700 tờ báo giấy báo viết báo hình. Xã hội tự xưng là “nhân dân làm chủ: của dân, do dân, vì dân”, “cán bộ là đày tớ nhân dân”. Tai ngược thay, chính anh đầy tớ này được độc quyền ra báo, lại cấm ông chủ ra báo là sao? Marx – sinh thời từng ca ngợi nền tự do báo chí của chủ nghĩa tư bản. Marx lên án cay độc nhà vua Phổ kiểm duyệt báo chí theo kiểu nhà nước Việt Nam hôm nay lùa tất cả nền báo chí nước nhà vào cái rọ lề phải, đánh sập hơn ba trăm blog và website cá nhân trên Internet như lời khoe khoang của ông tổng cục phó Tổng cục An ninh Bộ Công an, trung tướng Vũ Hải Triều… Không có nền tự do báo chí tư sản, nền xuất bản tự do tư sản, không thể xuất hiện chủ nghĩa Marx. Nếu Karl Marx tái sinh xuất hiện giữa lòng Hà Nội hay Sài Gòn hôm nay, chắc chắn cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản sẽ bị lính của ông Vũ Hải Triều bắt ngay tắp lự.
Khi người dân không có quyền ra báo tư, lập nhà xuất bản tư… cũng có nghĩa người dân Việt Nam hiện nay không có quyền tự do ngôn luận.

Khi Hiến pháp đã cho công dân cái quyền thì người dân không phải đi xin. Hiến pháp bảo công dân có quyền sống, quyền làm người, vậy chả lẽ khi sống là phải thở, phải ăn, phải mặc, phải yêu vợ… thì cứ mỗi lần thở, mỗi lần ăn, mỗi lần mặc, mỗi lần yêu vợ… lại phải làm đơn xin phép công an à?

Hiến pháp của các nước dân chủ văn minh sinh ra để bảo vệ người dân, đảm bảo nhân quyền, dân quyền và mọi quyền tự do của dân, cốt yếu để ràng buộc kẻ cầm quyền. Hiến pháp nước ta hiện nay sinh ra hầu như để chỉ trói buộc người dân và tạo hàng nghìn kẽ hở cỡ lỗ thủng con voi chui lọt cho kẻ cầm quyền tự do đánh tráo Hiến pháp, tự tung tự tác, làm ngược lại Hiến pháp mà không bị luật pháp ràng buộc là sao?

Quốc hiệu nước ta hiện nay xưng là: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thực ra có đúng không? Thưa không! Vì nền kinh tế nước ta từ năm 1986 đến nay là nền kinh tế thị trường, tức nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, một chủ nghĩa tư bản hoang dã. Vậy quốc hiệu nước ta muốn sát với “sự thật của đất nước” như gợi ý của Ban Tuyên giáo, phải đặt lại là: “Cộng hòa Tư bản Chủ nghĩa Việt Nam” mới chính danh.
Chủ nghĩa xã hội nói cho cùng là một mô hình ảo, hoàn toàn không có thật. Hồi chúng tôi theo học tại Học viện Gorky bên Liên Xô năm 1988, thường nghe dân Liên Xô định nghĩa về chủ nghĩa xã hội theo mô hình Lenin-Stalin như sau: “Chủ nghĩa xã hội là con đường vòng vèo nhất, đầy máu và nước mắt nhất, khốn nạn nhất để đi lên tư bản chủ nghĩa”. Liên Xô, với mô hình xã hội chủ nghĩa trại lính (hay trại tập trung) đã phải mất 74 năm đi vòng vèo trong máu xương, ngục tù, trong đày đọa của những quần đảo Gulag hắc ám, man rợ… để năm 1991 mới tới được nền kinh tế tự do tư bản chủ nghĩa. Quốc hiệu của nước ta như vậy là không chính danh.

Cái đuôi “Định hướng xã hội chủ nghĩa” được gắn vào đít khái niệm kinh tế thị trường của nhà nước ta hiện nay là một cái đuôi giả, một cái đuôi nhựa chạy bằng cục pin sắp thối của Trung Quốc. Theo nghĩa từ điển: “định hướng” có nghĩa là xác định phương hướng, mà điểm tới đã được xác định cụ thể. Ví dụ ông A hẹn ông B qua điện thoại, rằng mai ta gặp nhau ở Hồ Con Rùa, tập kết tại đó ăn sáng, uống café, định hướng Buôn Ma Thuột mà tới Plây-ku nhé! “Xã hội chủ nghĩa” là khái niệm ảo trên giấy, chưa có thật trên đời và sẽ không thể có thật vì nó dựa trên những nguyên lý ảo tưởng, bịa đặt, phi khoa học.

Đưa đất nước đi vào chỗ không có thật, định hướng tới cõi không có thật mà đến thì than ôi, thà giết đất nước đi còn hơn! Nên khẩu hiệu “Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội” in trên đầu tờ Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, nếu theo tiêu chí “hướng về sự thật” của Ban Tuyên giáo chỉ dẫn, phải đặt tên lại cho đúng với thực chất ngữ nghĩa của từ điển là: “Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa không có thật” mới đúng. Không có sự thật đi kèm, mọi lý thuyết, mọi mô hình xã hội, mọi lời hứa đều là sai trái, ảo tưởng, hứa hão, đúng như K. Marx đã nói.

Đồng nghĩa Đảng Cộng sản là đất nước, đồng nghĩa chủ nghĩa xã hội là Tổ quốc là không chính danh. Đảng Cộng sản mới chỉ có 5 triệu đảng viên, còn nhân dân Việt Nam ngoài Đảng chiếm đa số tới hơn 80 triệu dân, có phù phép kiểu gì, Đảng Cộng sản cũng không thể biến thành đất nước Việt Nam được. Đảng nghĩa là phe phái, là một nhóm người. Một nhóm người sao có thể biến thành tất cả được, nên danh từ ĐẢNG TA dùng để gọi Đảng Cộng sản là không chính danh. Liên Xô đã bỏ ra 74 năm để tìm mà không thấy chủ nghĩa xã hội đâu, chỉ thấy trại tập trung, thấy nhà tù nhiều hơn trường học. Lenin, Stalin, Mao… đã biến nhân dân các nước Nga, Tàu, Cuba, Bắc Triều Tiên, Việt Nam, Campuchia, hàng chục nước Đông Âu… thành hàng tỉ con chuột bạch cho cuộc thí nghiệm máu cộng sản chủ nghĩa bằng bạo lực, bằng cải tạo áp đặt, bằng thuyết đấu tranh giai cấp tàn bạo nhưng đã thất bại hoàn toàn. Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, Đông Âu giờ đã đi theo tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội là một khái niệm ảo, nên khẩu hiện “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” là rất buồn cười, giống như nói “Yêu nước là yêu cái không có thật” vậy…

Quốc hội nước CHXHCN VN được Đảng Cộng sản và nhà nước phong cho là cơ quan lập pháp cao nhất của nhân dân Việt Nam là không chính danh. Vì thực tế, Quốc hội này chỉ là cơ quan ngoại vi của Đảng, do Đảng lãnh đạo; Quốc hội mà 98% dân biểu là đảng viên của một đảng duy nhất thì việc gọi Quốc hội này của dân là một trò hề, là không chính danh; Quốc hội này của Đảng, dân nào có quyền bính gì trong Quốc hội giả hiệu này?

Việc một nhóm người không ai khiến, tự nhiên nhảy phóc ra đấu trường xã hội ngót trăm năm nay, hung hãn cầm mác cầm lê cầm búa cầm liềm cấm cản những nhóm người khác lập phe đảng là không chính danh, không logic, không công bằng, không có luật hay chỉ là luật rừng?

Đảng Cộng sản Việt Nam không do nhân dân Việt Nam bầu ra, nên sự tồn tại của Đảng để tuyệt đối cầm quyền là không chính danh. Đúng như Mao nói rằng chế độ chuyên chính vô sản của ông ta là do súng đẻ ra: “Súng đẻ ra chính quyền”, tức là SÚNG BẦU RA CHÍNH QUYỀN…

Mấy chục năm nay, người ta đã cố tình gọi nhầm SÚNG là DÂN: “súng bầu lên chính quyền thì lại nói dối là dân bầu”… Cũng giống như (giả dụ thôi, hi vọng đừng biến thành sự thật!) sau bài viết này, công an gọi tên Trần Mạnh Hảo lên… dọa bắn; Hảo ta vốn là một con cáy 64 tuổi biết cầm bút, thấy súng há mồm sắp đối thoại với mình, sợ vãi đái, nghĩ mình miệng hùm gan sứa, sức đâu cãi lại miệng súng, đành phải ký vào giấy cung khai rằng: báo cáo các anh, em đã nói sai, đã nói dối, vì Đảng ta và nhà nước ta từ xưa tới nay thật thà hơn đếm, có biết nói dối là gì đâu. Thế rồi báo An ninh hôm sau hí hửng: trước lý lẽ sắc bén và thực tế sáng ngời chính nghĩa của nhân dân, tên Hảo đã không đủ lý lẽ đối thoại, đã ăn năn hối lỗi vì dám vu cáo cho Đảng ta nói dối…
Việc Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời năm 1930 theo thuyết Marxism là không chính danh.

Marx bảo: chủ nghĩa tư bản xuất hiện với đại công nghiệp. Marx lại bảo phương thức kinh tế châu Á không nằm trong chủ nghĩa Marx. Marx phán: giai cấp vô sản là hệ quả của giai cấp tư bản. Nghĩa là tư bản đẻ ra vô sản. Trung Hoa, Việt Nam và cả châu Á, thế giới Ảrập, Ấn Độ, Mỹ Latinh, Phi Châu… trong thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ thứ 20 chưa hề có chủ nghĩa tư bản. Năm 1930, Việt Nam chưa có ông bố tư bản, sao lại có đứa con tên là vô sản ra đời? Bịa ra một giai cấp vô sản ảo để thành lập ra đảng của giai cấp vô sản là Đảng Cộng sản Đông Dương là không chính danh, là trái với thuyết Marxism, là xây nhà trước, xây nền nhà sau.
Sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Đông Dương nêu khẩu hiệu “Trí, Phú, Địa, Hào đào tận gốc trốc tận rễ” là không chính danh. Diệt trí thức là diệt đi hai ông đại trí thức Marx-Engels ư? Trí thức là linh hồn của xã hội, diệt trí thức cũng có nghĩa là diệt luôn xã hội loài người.

Năm 1958 – 1960 Bắc Việt Nam (năm 1975 là cả nước) tuyên bố tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội với “mo cơm và quả cà”, không thông qua con đường tư bản chủ nghĩa theo sự xúi dại của Lenin là không chính danh. Theo Marx, linh hồn của xã hội chủ nghĩa là đại công nghiệp; chỉ có nền nông nghiệp lạc hậu mà dám thí mạng cùi tiến lên xã hội chủ nghĩa là tiến lên toàn dân cùng chết đói, hay tiến lên công xã kiểu diệt chủng như Khmer Đỏ, tiến lên “đại nhảy vọt” kiểu Mao khiến mấy chục triệu người chết đói, dân chúng phải ăn thịt cả con mình như cuốn Mao Trạch Đông ngàn năm công tội do Thông tấn xã Việt Nam vừa phát hành đã kể.

Năm 1986, theo gương Trung Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì chôn chủ nghĩa tư bản (như Marx-Engels dạy) đã quay ngược lại chôn chính học thuyết cộng sản, bằng cách xây dựng nền kinh tế tự do đa thành phần tư bản chủ nghĩa, đưa nhân dân Việt Nam thoát khỏi chết đói. Theo Marx dạy: kinh tế nào, chính trị ấy: hạ tầng cơ sở kinh tế quyết định thượng tầng kiến trúc chính trị. Nay, kinh tế Việt Nam là tư bản tự do mà chính trị vẫn giữ nền chính trị độc tài xã hội chủ nghĩa là sai quy luật, là không chính danh, là đầu chuột đuôi voi, là ông nói gà bà nói thóc lép, là hồn Trương Ba, da hàng thịt…

Marx–Engels từng công khai tuyên bố trong trước tác của mình: “Chúng tôi không có ý định đoán định tương lai một cách giáo điều mà mong muốn dùng phương pháp phê phán thế giới cũ để tìm được một thế giới mới… Việc kiến tạo và tuyên bố một lần và mãi mãi những giải đáp cho các vấn đề của mai sau không phải là việc của chúng tôi…”. Rõ ràng, chính Marx và Engels đã coi học thuyết của mình chỉ là những giả thuyết, những phép thử, những phỏng định về tương lai, tuyệt nhiên không giáo điều cho lý thuyết của mình là chân lý vĩnh hằng. Những ai đã, đang coi học thuyết Marx là chân lý bất biến là đang chống Marx, là muốn dùng Marx giả, Marx dỏm bịt mắt trí thức và nhân dân để quyết câu giờ giữ quyền lực là không chính danh.

Theo định đề: “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” của Marx, chúng ta thấy thực tế đã không chấp nhận cuộc thí nghiệm XÓA TƯ HỮU hãi hùng nhất trong lịch sử loài người của Marx-Engels- Lenin với tham vọng “XÓA TƯ HỮU, XÓA CÁ NHÂN, XÓA NHÀ NƯỚC, XÓA MÂU THUẪN, XÓA ĐẢNG CỘNG SẢN, XÓA CÁC GIAI CẤP VÀ ĐẢNG CỦA NÓ, XÓA CHÍNH BIỆN CHỨNG PHÁP ĐỂ XÂY DỰNG MỘT XÃ HỘI CỘNG SẢN ÁO TƯỞNG PHI BIỆN CHỨNG – NƠI KHÔNG CÓ CÁI DỐI TRÁ, KHÔNG CÓ CÁI ÁC ĐỘC VÀ CÁI XẤU XA, NƠI TUYỆT ĐỐI TỰ GIÁC, TUYỆT ĐỐI TỰ DO, TUYỆT ĐỐI GIÀU CÓ, TUYỆT ĐỐI KHÔNG CÓ NGOẠI TÌNH, KHÔNG CÒN HÔN NHÂN, KHÔNG CÒN GIA ĐÌNH KIỂU CŨ, KHÔNG CÒN NGÂN HÀNG, KHÔNG CÒN TIỀN TỆ…”. Đó là một xã hội bịa đặt không có thật: vì không có cái ác thì cái thiện cũng bị triệt tiêu, không có cái ngụy thì cái chân cũng biến mất, không có cái xấu thì cái đẹp cũng chẳng còn…
Một trăm sáu mươi hai năm từ khi “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” của Marx–Engels ra đời đến nay, hàng trăm triệu sinh mạng đã bị giết, hàng tỉ người bị tù đầy, bị ngược đãi để “các vị lãnh tụ kính yêu” làm cuộc thí nghiệm đẫm máu cải tạo thế giới từ TƯ HỮU sang CÔNG HỮU, từ TƯ BẢN sang VÔ SẢN, từ CÁ NHÂN sang TẬP THỂ, XÓA QUỐC GIA chỉ còn QUỐC TẾ, XÓA HOÀN TOÀN THẾ GIỚI CŨ, NHÂN LOẠI CŨ chỉ còn MỘT THẾ GIỚI MỚI TINH, NHÂN LOẠI MỚI TINH KHÔNG CÒN TRUYỀN THỐNG, KHÔNG CÒN LỊCH SỬ, KHÔNG CÒN QUÁ KHỨ, KHÔNG CÒN TÔN GIÁO…
Chao ôi, khi một con người không còn quá khứ, một dân tộc không còn lịch sử, con người ấy, dân tộc ấy sẽ biến thành tinh tinh, xã hội tinh tinh hay thành những cục bột biết ca hát?… Rút cục, cuộc thí nghiệm cộng sản kinh hồn trên phạm vi toàn thế giới đã hoàn toàn thất bại. Những nước cộng sản cứng đầu nhất như Bắc Triều Tiên, Cuba hiện nay cũng đang rục rịch thí nghiệm mô hình kinh tế tư bản chủ nghĩa, tập toẹ học lại những bước đi làm giàu vỡ lòng nhân loại đã có từ trước khi Marx ra đời. Đây là sự thật không thể nào chối cãi, dù cãi cối cãi chày bằng còng số tám hay nhà tù, họng súng v.v…

Cám ơn Marx, đã cho chúng tôi đề bài “Sự thật là tiêu chuẩn của chân lý” để làm một bài tập làm văn về sự thật này. Cám ơn ngài cố Tổng thống nước Ba Lan tự do Lech Kaczyński đã cho chúng tôi ý tưởng rất hay: chỉ có sự thật mới giải phóng con người, làm chủ đề bài tham luận. Chúng tôi cũng xin cám ơn tiêu đề của cuộc hội thảo “Văn học nghệ thuật hướng về sự thật đất nước” của Ban Tuyên giáo Trung ương đã gợi ý, khích lệ chúng tôi dám liều mạng nói lên những sự thật cay đắng nhất, khủng khiếp nhất của đất nước chúng ta hiện nay, những sự thật chết người, ai ai cũng biết mà vì sợ tù tội nên không ai dám nói ra.

Viết đến đây, chúng tôi chợt nhớ đến truyện “Bộ long bào của vị hoàng đế” của văn hào Andersen. Thằng bé trong thiên truyện đã liều mạng xé toang bộ long bào hoang tưởng của vị hoàng đế kia bằng cách hét thật to: ông vua cởi truồng! Tiếng kêu thất thanh của chân lý ấy có làm đám đông đang bị quyền lực hôn mê, luôn miệng tung hô vị hoàng đế mặc bộ long bào đẹp nhất tỉnh ra hay không? Nhưng hình như ngay sau khi gọi sự vật bằng tên của nó, thằng bé do sự thật, do tự do phái đến đã biến mất. Do đó, mới còn biết bao nhiêu ông vua triết học cởi truồng, vua chính trị cởi truồng, vua cách mạng cởi truồng, vua chủ nghĩa cởi truồng… đang đi nhông nhông ngoài xã hội, ngoài phố xá, đã và đang được những đám đông giả vờ cuồng tín hòng trục lợi xúm vào vạn tuế, ca ngợi các ngài khoác những bộ long bào tuyệt vời của trần gian…

Sự thật giản dị nhường ấy, sao bị cả đám đông lờ đi? Mới hay sự cám dỗ của dối trá có bùa ngải quỷ sứ, mê hoặc con người trong bóng tối, trong đe dọa, trong hấp lực của củ cà rốt treo trước miệng con lừa… Sự thật chỉ có thể tồn tại công khai dưới ánh sáng mặt trời. Xã hội của những hội kín vây bủa con người trong lừa mị, trong sợ hãi u u minh minh, luôn xua đuổi và cầm tù sự thật. Chối bỏ sự thật, những xã hội do băng đảng hội kín cầm quyền hầu như không bao giờ đi cùng đường với lẽ phải và công lý.

Chúng tôi không dám làm thằng bé trong thiên truyện kia của Andersen; làm vị thiên sứ của sự thật này, coi chừng khả năng biến mất là điều có thể xảy ra. Hãi quá!

Chúng tôi chỉ xin kể ra ba vị nhà văn Việt Nam hình như cũng đang thử đóng vai trò của thằng bé ấy, vai trò thiên sứ của sự thật, của tự do.
Đây là lời của nhà văn Đỗ Chu bùi ngùi, chua xót, khi ông nói về sự lãnh đạo của Đảng với nhà văn; sao nhà văn giống chú cún con ve vẩy đuôi theo ông chủ trong sân nhà thế: “Tớ yêu Đảng như yêu vợ. Vợ còn sống thì tớ nghe vợ. Vợ chết thì tớ lập bàn thờ khấn vái cho đến chết. Đảng cũng là vợ của tớ. Đảng bẩn thì tớ mua xà phòng cho Đảng tắm. Mua nước hoa cho Đảng thơm. Đảng nói thì không được cãi. Đảng bảo ăn là ăn. Đảng bảo uống là uống. Đảng bảo nằm là nằm. Đảng bảo lên giường là lên gường. Đảng bảo ra đường là ra đường…” (Trích bài “Nhà văn Đỗ Chu yêu Đảng như yêu vợ” của Nguyễn Trọng Tạo ngày 13/7/2010). Về việc này, mới thấy Nguyễn Vĩ xưa thánh thật, khi ông viết: “nhà văn An Nam khổ như chó!”.

Đây là mấy câu thơ của nhà văn, nhà thơ Nguyễn Đình Chính (con trai cố nhà văn Nguyễn Đình Thi, người rất nhiều năm trước và sau 1975 từng làm Tổng Thư ký – ngày nay gọi là Chủ tịch – Hội Nhà văn Việt Nam): “Mấy thằng bạn văn nghệ chửi đổng hát hay / Cổ họng rắn hổ mang trơn tuột liếm mồi trong các HỘI ĐOÀN / hót hít chính trị như chó hít hóng cứt…” (Trích trong bài thơ “Đêm Sài Gòn” in trong tập thơ Chẹc chẹc của Nguyễn Đình Chính, do Tân Hình thức Publishing Club ấn hành trên mạng 2010).

Đây là nhà văn đại tá công an Mai Vũ, trước Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ XIII, đã lên tiếng đòi tự do sáng tác, mặc dù từ năm 1987, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã cởi trói cho các nhà văn:
“Đây là vấn đề nhạy cảm mà không phải ai cũng có dũng khí dám nói thật. Nhằm thiết lập một trật tự xã hội tư duy đồng chiều, chúng ta đã chính trị hóa mọi đời sống xã hội. Điều đó thật tai hại, nó làm khô héo tinh thần dân tộc. Chính trị hóa khoa học đã dẫn đến phủ nhận chân lý khách quan, làm méo mó khoa học. Trong lịch sử Xô Viết trước kia, đã có thời người làm vườn Lưxenkô – Mitsurin được tôn vinh như những nhà cải cách vĩ đại, còn Mooc găng, Menđen là những kẻ phục vụ chủ nghĩa tư bản vì thuyết gen di truyền. Kết quả, nhà di truyền học thiên tài Vavilôp đã phải tự sát, còn nền di truyền học nước Nga thì lụn bại, để lại một vết nhơ đau đớn trong đời sống khoa học xã hội Xô Viết. Đó là vụ ngụy khoa học lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Chính trị hóa giáo dục cũng chỉ đẻ ra những chiến binh đánh bom tự sát, chứ không đẻ ra những công dân xây dựng tương lai.

Hội Nhà văn không phải là dàn hợp xướng để hát theo cái gậy chỉ huy của người nhạc trưởng. Nó là lãnh địa của những tư duy và sáng tạo cá nhân, nó là một tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nguyện của các nhà văn lấy sứ mạng phục vụ Tổ quốc và nhân dân trên hết.

Nhà văn viết theo mệnh lệnh của trái tim, mà trái tim nhà văn thuộc về Tổ quốc và nhân dân. Anh ta là tội đồ và đáng nguyền rủa nếu thóa mạ Tổ quốc và dân tộc. Còn khuynh hướng chính trị tùy thuộc quyền lựa chọn của mỗi nhà văn. Hãy để con ngựa Văn tung vó trên cánh đồng bát ngát của tự do” (“Về Hội nhà văn của chúng ta” của Mai Vũ, in trên website Trần Nhương ngày 11-7-2010)

Tiếp nối ba nhà văn trên, chúng tôi xin mời quý vị đọc lại bài thơ “Bài ca sự thật” của chúng tôi (Trần Mạnh Hảo) đã in trên báo Tuổi trẻ số tất niên ngày 24- 01-1987
BÀI CA SỰ THẬT

Sự thật của tôi
Sự thật của anh
Sự thật của chúng ta
Sự thật của mọi người?
Nhân loại có bao thời
Sự dối trá làm quan toà phán xử
Bru-nô ơi trái đất vẫn tròn
Mà chân lý nghìn sau còn trả giá
Nhưng đất nước vẫn đi tìm sự thật
Trong câu hát có mồ hôi nước mắt
Có con nghê đá đầu đình cười cợt các triều vua
Có thằng Bờm chẳng tin lời hứa hão
Cái quạt mo không để phú ông lừa
Vua Hùng ơi! Người đi tìm sự thật
Bằng cách ngày đầu năm xuống ruộng cày bừa
Bao triều đại xưa đổ vì ưa nói dối
“Muốn nói gian làm quan mà nói”
Sự thật giấu trong nhà dân đen
Sự thật từng vật vờ đi như ăn mày đầu đường xó chợ
Sự thật làm anh hề, chú mõ
Sự thật như nàng Thị Kính oan khiên
Sự thật trốn vào ngụ ngôn, ngạn ngữ sấm truyền
Sự thật có khi mượn Xuý Vân mà giả dại
Sự thật chiếc lá đa bay qua bao thời đại
Bay về đây trời nổi can qua
Con vua thất thế quét chùa sãi ơi!
Vĩnh biệt chú Cuội
Vĩnh biệt thành tích ma, báo cáo láo thành thần
Bệnh hình thức gọi sai tên sự vật
Người đói phải nói lời no
Vị đắng sao lại kêu là mật?
Ngục tù mang nhãn hiệu tự do!
Vĩnh biệt khái niệm quét vôi và từ ngữ nước sơn
Đạo đức dính trên đầu môi chót lưỡi
Vĩnh biệt những bóng ma cơ hội
Những cái đầu già cỗi tự bên trong
Những con mắt nhìn người bằng bóng tối
Có nhận ra tia nắng mới trong lòng ?
Tôi là người tập yêu sự thật
Tập nghe nên có lúc ù tai
Tập nhìn nên chói mắt
Đất nước đổi thay
Cơn đau đẻ những dòng sông quằn quại!
Hạt thóc và hạt máu có bao giờ nói dối?
Bốn nghìn năm dân tộc tôi
Đi từ bờ bên kia
Đến bờ bên này của sự thật
Để mỗi con người hôm nay trên mặt đất
Được cầm trong tay một tia nắng mặt trời…

Sài Gòn ngày 15-1-1987

Trần Mạnh Hảo

Để kết thúc bản tham luận, xin kính mời quý vị cùng chúng tôi hô 3 khẩu hiệu sau:
Khẩu hiệu một:
KHÔNG CÓ SỰ THẬT, KHÔNG CÓ LẼ PHẢI VÀ CHÂN LÝ
(xin hô ba lần: không có, không có, không có)
Khẩu hiệu hai:
CHỈ CÓ SỰ THẬT MỚI GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI
(xin hô ba lần: chỉ có, chỉ có, chỉ có)
Khẩu hiệu thứ ba:
SỰ THẬT LÀ TIÊU CHUẨN CỦA CHÂN LÝ
(xin hô ba lần: tiêu chuẩn, tiêu chuẩn, tiêu chuẩn)
Xin cám ơn quý vị.
Viết tại Sài Gòn 26-08-2010

© 2010 Trần Mạnh Hảo

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Xứ Úc Thòi Lòi đi dễ khó về
Tác giả: Trịnh Thanh Thủy

Tôi không biết tại sao người Việt ở Úc lại đặt tên cho xứ này là Xứ Thòi Lòi. Có lẽ tại xứ này có nhiều cá thòi lòi, một loại cá bống trắng, hay sao đó mà ngay hôm đến Úc, ghé thăm nhà bạn tôi, trong bữa cơm đầu tiên, trên bàn ăn, tôi đã thấy có mặt đĩa cá thòi lòi tẩm bột chiên. Cái tên Xứ Thòi Lòi nghe sao mà tình tự dân tộc, đậm đà ruộng lúa, nương dâu, đồng chua, nước mặn vô kể. Úc còn có cái tên là Miệt Dưới hay Miệt Vườn, gợi nhớ tới bóng dừa, hoa cau, con đò, mái chèo thênh thang sóng nước rập rờn một miền Nam nắng cháy. Nó khiến tôi thấy mến, tự nhủ lòng, mình phải đi Úc một chuyến. Nhân đứa cháu lấy chồng mời tôi qua dự đám cưới, thế là mình có cớ “qua bên ấy xem thử” cái Xứ Thòi Lòi có quê như cái tên không?

Nghe tôi đi chơi Úc, bạn bè ai cũng háo hức. Họ nhắn, nhớ kể chuyện xứ Down Under cho họ nghe. Mấy đứa cháu thì nhắc, đem về cho tụi nó con Kangaroo hay con Koala. Tôi không hào hứng lắm khi nghĩ tới đường bay dài 23 tiếng đồng hồ từ Mỹ tới Brisbane mà phải ghé tới hai trạm Melbourne và Sydney để lấy thêm khách. Có lẽ nỗi trở ngại về địa dư quá xa xôi mà dân Mỹ ít ai đi du lịch Úc châu chăng? Hơn nữa, thời tiết hai nơi lại trái ngược hẳn nhau, nên mỗi mùa Hè vừa dự định đi Úc tôi bỗng đổi ý vì sợ qua Úc trúng phải mùa Đông, mà tôi rất ghét đi du lịch trong mùa lạnh.

Cuối cùng tôi cũng được cỡi Kangaroo qua Úc. Nói đùa chứ tôi được ngồi máy bay có hình con “gà rù” (Kangaroo) của hãng Qantas mà bay rề rề đến 23 tiếng qua Úc. Vì mua vé trễ nên tôi bị hai chuyến bay chuyển tiếp thành hơi lâu, chứ nếu bay thẳng chỉ phải ngồi 14 tiếng.

Tôi đến Brisbane buổi sáng. Vừa xuống máy bay, tôi đã cảm được làn gió mơn man từ đâu thổi đến báo hiệu một ngày mát trời, không nhiều nắng. Brisbane là một thành phố nổi tiếng với những cánh buồm, biển xanh và cát trắng. Nó cũng là thủ phủ và là thành phố đông nhất bang Queensland của Úc. Queensland quanh năm nắng ấm, lại có Bờ Biển Vàng (Gold Coast) là nơi có vùng san hô Great Barrier Reef. Dãy san hô ngầm lớn nhất thế giới này đã được UNESCO xếp vào hàng di sản thiên nhiên hiếm quý của nhân loại.

Tôi được chở đi thăm thành phố biển nên thơ. Cái khác biệt đầu tiên đập vào mắt tôi là hình dáng bên ngoài của người Úc. Họ ăn mặc ít chạy theo thời trang như người Âu châu nhưng nét mặt và lối cư xử tôi thấy mài mại dân Ăng-lê, theo đúng cái câu “lạnh và phớt tỉnh như Ăng-lê” vậy. Nhìn chung người Úc khoẻ mạnh, ít có người mập phì, tôi để ý (ngay tại Sydney cũng vậy) có nhiều tiệm bán dụng cụ thể thao hay cắm trại ngoài trời. Tôi đoán dân Úc chuộng thể thao và thiên nhiên nên họ trông cân đối hơn người Mỹ. Ngay đến trong công viên gần bãi biển Sunshine Coast, chính phủ cũng cho đặt một số dụng cụ tập thể thao với mục đích khuyến khích người dân năng tập thể thao.

Bờ Biển Vàng (Gold Coast) dập dìu du khách. Cũng giống những bãi biển du lịch khác, Gold Coast đầy những cửa tiệm bán quà lưu niệm và thức ăn nhanh. Tôi thấy không những ở đây, phi trường và Sydney (còn nơi khác ở Úc mà tôi không rõ) có rất nhiều những tiệm bán thức ăn nhanh. Kỹ nghệ fast food của Mỹ xâm chiếm thị trường Úc mạnh mẽ không biết từ hồi nào mà tôi thấy các hiệu ăn nhanh như McDonald, Hungry Jack’s (chi nhánh của Burger King), KFC có mặt ở khắp nơi. Trẻ em xứ này hệt như Mỹ, mê ông Mac ngày đêm. Tính đến nay McDonald (theo cách viết trên bảng hiệu ở Úc – McDonald’s) đã có khoảng 780 tiệm, thuê mướn 85.000 nhân viên trên toàn nước Úc.

Du khách ghé Bờ Biển Vàng ai cũng bị thu hút bởi hình ảnh tươi mát rất đẹp của các cô Meter Maids mặc đồng phục bikini đi vòng quanh khu du lịch. Theo định nghĩa nguyên thủy, Meter Maids là những người cảnh sát đi phạt các chiếc xe đậu quá giờ ở các meter. Nhưng để thu hút du khách, các tay doanh thương quanh khu này, bỏ tiền thuê các cô gái tóc vàng, có hình dáng tuyệt mỹ đi diễu hành dọc theo con phố biển. Mấy cô mang các túi đựng bạc cắc đến gần các meter “cứu bồ” du khách bằng cách bỏ thêm bạc cắc vào các meter bị quá hạn giờ. Du khách hay chạy lại chụp hình với các cô, nhất là nam giới. Tuyệt chiêu câu khách này của các tay doanh thương chỉ có tại đây.

Ngoài ra, Úc còn nổi tiếng với những bãi biển nude rất đẹp, những bãi biển của người giàu tiền mà nghèo quần áo.

Meter Maids (Nguồn: http://www.goldcoastaustralia.com)


Vài điều lạ ở Brisbane mà ở Mỹ không có, đi đâu tôi cũng thấy tấm bảng để trước nhà “Rainwater tank in use”. Hỏi ra mới biết dân chúng hưởng ứng chương trình khuyến khích dùng nước mưa của chính phủ vì nạn hạn hán. Ngoài vấn đề khan hiếm nước, tôi nghĩ chắc điện cũng mắc nên dân Úc ít dùng máy để sấy quần áo. Tôi thấy hầu như sân sau của nhà nào cũng có dây phơi và mọi thứ cứ tự nhiên phất phới như cờ lau tập trận. Số người dùng máy sấy có lẽ ít, theo người bạn tiết lộ, chắc chỉ trên dưới 30 % dân số toàn nước Úc. Ở Mỹ hầu như nhà nào cũng dùng máy sấy quần áo.

Một điều nữa, tôi cũng nghiệm ra dân Úc không thích nhận những bích chương quảng cáo thương mại cho lắm nên trên hộp thư của phần lớn các nhà tư nhân đều có ghi “No junk mail please”.

Rời Brisbane, tôi bay qua Sydney thăm bạn bè và thành phố cảng lớn và lâu đời nhất nước Úc. Tôi được bạn dắt đi xem Nhà hát Opera Sydney và Cầu Cảng (Harbour Bridge) vào một ngày mưa gió sụt sùi. Người bạn say sưa nói về kiến trúc rất đẹp và độc đáo của nhà hát hình vỏ sò này. Có người gọi nó là Nhà hát Con Sò, người gọi là Nhà hát Ngao Hóng Gió. Nó không những đẹp vì hình tượng nghệ thuật bên ngoài trông như những cánh buồm căng trong gió hay những cánh sò đang chen nhau mở rộng giữa lòng đại dương mà còn là một sân khấu nghệ thuật lớn nổi tiếng của thế giới. Anh bạn tôi đã từng ra vào nhà hát này nhiều lần, không những để thưởng ngoạn mà còn trình tấu.

Tôi loanh quanh ở khu nhà hát và hải cảng ẩm ướt, gió lồng lộng thổi khiến tôi gây lạnh. Tôi ghé bên anh thổ dân Úc chụp hình với cây kèn độc đáo Didgeridoo của anh. Người Úc rất yêu âm nhạc và nghệ thuật, nên Nhà hát Opera Sydney bận rộn quanh năm. Trong khi thổ dân Úc biết duy trì và phát huy âm nhạc cổ truyền của họ với sự sáng tạo và cách làm mới chúng bằng những kỹ thuật tân tiến nên những vở trình diễn của họ ở nhà hát rất gây ấn tượng.

Lưu lại Úc vài ngày tôi mới thấm thía cái khổ của du khách Mỹ phải đương đầu với vật giá Úc. Mức sinh hoạt của hàng hoá, thực phẩm và giá cả ở Úc đắt hơn Mỹ tới hai, ba lần. Tôi hỏi ra mới biết lương tối thiểu ở Úc bây giờ là $14.31, trong khi ở Mỹ có $8.00. Có thế chứ, nhưng đi sâu vào các ngành nghề, mức lương bổng của các kỹ sư, bác sĩ, y tá v.v… ở Úc so với Mỹ thì tôi thấy không chênh lệch bao nhiêu, đôi khi còn thấp hơn Mỹ nữa. Tuy nhiên dân Úc được chính phủ lo toàn bộ về chi phí y tế, lệ phí khám bác sĩ, bệnh viện, chính phủ trả 100%. Hầu hết các loại thuốc đặc trị cần phải sử dụng lâu dài đều được chính phủ trả phụ cho bệnh nhân từ 70% – 90% giá bán qua chương trình PBS (Pharmaceutical Benefits Scheme) do Bộ Y tế ban hành. Toàn dân Úc đều được hưởng quyền lợi này, không cần phải mua bảo hiểm gì hết. Một người nếu có bảo hiểm chỉ thêm quyền được chọn bác sĩ và bệnh viện (tư) mình muốn mà thôi. Trong khi dân Mỹ phải mua bảo hiểm y tế với một giá rất cao.

Hơn thế nữa, chính phủ Úc còn lồng trong sự đãi ngộ của an sinh xã hội là một chính sách cưỡng bách giáo dục. Tất cả trẻ em tại xứ Kangaroo đều là tài nguyên của nước Úc, cha mẹ chỉ là người nuôi giùm đứa trẻ này cho nước Úc mà thôi. Bất kể cha mẹ giàu hay nghèo, mỗi đứa trẻ sinh ra chính phủ cho ngay bà mẹ một số tiền, gia giảm tùy theo tình trạng kinh tế của từng thời điểm, hiện nay là $5000 đô Úc. Ngoài ra cứ hai tuần, Bộ Xã hội sẽ tự động gửi (không cần phải đơn từ xin lãnh gì hết) vào tài khoản của cha mẹ một số tiền “family allowance” mà người Việt ở Úc hay gọi là “tiền sữa”, cho đến khi đứa bé được 18 tuổi. Tất cả học phí cho các nhà trẻ mẫu giáo, tiểu học, trung học, chính phủ trả 100%, cha mẹ chỉ phụ thêm tiền sách vở, dụng cụ học đường v.v… Nhưng đứa trẻ cũng “bị” cưỡng bách phải chích ngừa đầy đủ theo lịch, và đến trường học đủ buổi. Bộ Xã hội liên kết với trường học, nơi gửi các báo cáo về đứa trẻ. Nếu cha mẹ không đem con chích ngừa đúng lịch, không cho con đi học, là trọn bộ “tiền sữa” sẽ bị cắt ngay, chừng nào đi học lại đàng hoàng mới phát lại. Có nhiều bà mẹ Việt Nam, Tết dẫn mấy đứa nhỏ về Việt Nam chơi, ham vui qua trễ, mấy đứa nhỏ bỏ học có khi cả tháng, Bộ Xã hội tự động cắt tiền sữa khi mấy đứa nhỏ đang ở ngoài nước Úc. Nếu nặng nề hơn, như chính phủ cảm thấy đứa trẻ bị bạc đãi về tinh thần (học hành không ổn định) hay thể xác (bị cha mẹ hay bất cứ ai đánh), thì nó sẽ bị “tịch thu”, cha mẹ không được quyền nuôi nó nữa, nhà nước sẽ giao cho nơi khác nuôi để nó được ăn học đàng hoàng hơn… Điều này làm cho nước Úc ngày nay có tỷ lệ zero phần trăm trẻ em mù chữ.

Lên bậc đại học, chính phủ lại giúp đỡ sinh viên học lên cao bằng những tài trợ tài chánh (trả một phần lớn học phí đại học) hoặc cho vay. Việc này không những nâng cao dân trí mà còn là một đầu tư to lớn vào chất xám quốc gia, mang lại một tương lai giàu mạnh cho đất nước. Đất rộng, người thưa, tài nguyên phong phú, Úc còn có nhiều ngân quỹ tài trợ cho những chương trình bảo tồn văn hoá nghệ thuật mà nhiều nước tiên tiến đang cố gắng làm, nhưng vì thiếu tiền không đeo đuổi nổi.

Ngoài ra, nước Úc còn là nơi rất chú trọng về cơ hội bình đẳng cho mọi người. Người thất nghiệp hay lợi tức thấp có việc phải đáo tụng đình, chính phủ trợ cấp 100% chi phí luật sư qua chương trình hỗ trợ luật pháp của Bộ Xã hội. Điều này giúp cho người nghèo không dễ bị người giàu… ăn hiếp bằng kiện tụng.

Bàn tay khéo léo đỡ đầu của chính phủ Úc cũng không quên đến dân tị nạn Việt Nam. Thảo nào ở Sydney, đi đâu tôi cũng nghe tiếng Việt líu lo, đúng là “đất lành chim đậu”. Tôi được dắt đi thăm ba khu chợ Việt Nam ở Sydney. Tôi thích cấu trúc hợp quần của phố Việt ở đây. Nó tập trung các cửa tiệm vào vài con đường chính hơn là rải ra như lối phát triển dân cư của người mình ở khu Little Sài Gòn ở Cali, Hoa Kỳ. Đi dọc theo một con đường chúng ta có thể vào tất cả các hàng ăn, tiệm tạp hoá, nhà thuốc tây hay nhà băng, chợ búa mà không phải lái xe vì chúng nằm san sát cạnh nhau.

Tôi phát hiện ra một điều rất logic là điạ dư càng gần Việt Nam, khu phố Việt mình càng đượm nét quê hương hơn. Tôi thấy có những cửa hiệu thịt tươi, cửa hàng trái cây lộ thiên (bên Mỹ ít có) và những tiệm cà phê với nhiều khách hàng ngồi giải khát ngoài trời ngắm người qua lại trông thật nhàn du. Nhất là tiếng mời chào inh ỏi khi tôi bước vào chợ, gợi tôi nhớ chợ Bến Thành. “Chế ơi, mua giùm ký hồng, ký nho đi chế”. Tôi hơi ngạc nhiên khi bị gọi là “chế”. Tôi chợt nhận ra rằng phần lớn những người buôn bán ở đây là người Việt gốc Hoa nên họ gọi tôi là “chế”, nghĩa là “chị” hay “cô”. Nhìn những trái na (mãng cầu dai) đẹp và to như trái bưởi, tôi mê quá. Trái cây ở Úc loại nào cũng to hơn ở Mỹ, những con cua cũng lớn gấp ba, gấp bốn, giống cua Canada ở Mỹ. Ngay đến những cái nấm nút (button musrooms) cũng to lớn dị thường làm tôi trố mắt. Hiệu vải thì rất nhiều, trong khi ở Mỹ không còn ai tự may để mặc nữa, nên có rất ít tiệm vải. Bạn tôi cho biết, phụ nữ Việt ở Úc hầu như đều tự may quần áo để mặc. Người Việt ở Úc ít bon chen, se sua chạy theo vật chất mà sống thoải mái, an nhàn hơn người Việt ở Bolsa, Hoa Kỳ.

Có một chuyện khá đặc biệt liên quan đến người Việt tỵ nạn mà dường như chỉ có ở Úc mà thôi. Đó là các cựu quân nhân Việt Nam Cộng hòa của miền Nam Việt Nam trước 75 đều được chính phủ và người dân Úc công nhận y như cựu quân nhân của Úc. Họ được tất cả các quyền lợi đãi ngộ của chính phủ và dân chúng dành cho cựu quân nhân Úc. Từ trợ cấp bằng tiền mặt (lương cựu quân nhân) đến các ưu đãi của xã hội như miễn phí, giảm giá với hầu hết các dịch vụ liên quan đến đời sống như tàu xe, điện, nước. Nói chung là hầu hết các loại hóa đơn, những thứ đè nặng trên vai con người ở những nước tiên tiến, các cựu quân nhân Việt Nam Cộng hòa đều được miễn giảm hoặc chiết giảm, y như chính các cựu quân nhân Úc.

Việc đó được chấp nhận từ người dân đóng thuế của Úc dành những đãi ngộ xã hội (bằng tiền thuế của họ) cho cựu quân nhân Việt Nam trước 75, tôi thiết nghĩ là một vinh dự và vinh danh cho tập thể cựu quân nhân Việt Nam Cộng hòa tại Úc. Điều này nói lên tấm lòng của chính phủ và nhân dân Úc đến hôm nay vẫn nhìn nhận công trạng của những quân nhân đứng ở chiến tuyến phía Nam cùng với cha anh của họ trong thời điểm của cuộc chiến Việt Nam năm xưa. Những cựu quân nhân Việt Nam Cộng hòa này cũng xứng đáng được hưởng những gì mà người Úc đang đãi ngộ cha anh của họ.

Tất cả những điều tôi biết được về Úc đều do bạn bè kể lại.

Hơn một tuần ở Xứ Thòi Lòi, tôi hòa nhập vào dòng chảy hài hoà và êm dịu của đời sống dân Úc. Tôi thấy lòng mình cũng trầm xuống, ít bon chen và ồn ào hơn. Duy có tình bạn bè thì càng lúc càng đậm đà, so với sự giao tình chỉ bằng email qua lại xưa nay. Khi lên phi trường Sydney về Mỹ, tôi tự nhủ, trời còn thương dân tị nạn Việt Nam mình quá đi. Từ thuở tạo thiên lập địa, ông trời nặn ra năm châu, còn nhớ nặn ra cái châu Úc đất rộng, người thưa này nằm gần Việt Nam, để khi hữu sự dân mình có chỗ chạy qua lánh nạn. Đã vậy còn được dân Úc đãi ngộ ân cần, đối xử tử tế, không phân chủ khách, ai cũng sống nhàn nhã, thong dong như người trong nhà. Điều này khiến du khách Mỹ như tôi khi rời Úc, lòng vẫn ngậm ngùi với câu “Xứ Úc Thòi Lòi đi dễ khó về”.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Người giàu TQ di cư sang phương Tây

Chris Hogg
BBC News

Image
Một mẫu xe hơi mới nhắm vào tầng lớp có thu nhập trung cao ở đô thị Trung Quốc.
Ngày càng có nhiều người giàu ở Trung Quốc nộp đơn xin cơ chế thường trú nhân ở các nước phương Tây trong khuôn khổ các chương trình cho phép các nhà đầu tư với tài lực kinh tế cao được "mua" quyền công dân.
Con số các nhà đầu tư Trung Quốc được cấp quy chế thường trú tại Canada đã tăng gấp đôi trong hai năm.
Ottawa hiện dừng tất cả các đơn gửi tới chương trình nhập cư liên bang dành cho nhà đầu tư trong khi đang tham vấn các kế hoạch tăng gấp đôi mức tài chính cần thiết để có được một thị thực.
Tuy nhiên, người nộp đơn vẫn được phép đệ đơn cho một chương trình cùng loại ở tỉnh Quebec.
Và tại các cuộc hội thảo do công ty tư vấn xin thị thực tại Trung Quốc, các chuyên gia tư vấn đang tiếp tục khuyến khích mọi người nạp đơn cho chương trình này trước khi Quebec cũng tăng gấp đôi yêu cầu tối thiểu của tỉnh cho phù hợp với các đề xuất của chính phủ liên bang.

Tiền mặt và kinh nghiệm


Image
Ông Vincent Chen cho biết độ tuổi di cư trung bình là từ 40-45, đang có chiều hướng trẻ hơn nữa.
Vào một chiều mưa thứ Bảy, trong một phòng họp tại một khách sạn năm sao ở Thượng Hải, hơn 30 "nhà đầu tư" di dân tiềm năng đến để nghe xem làm thế nào họ có thể 'đổi tiền mặt' để lấy được một hộ chiếu nước ngoài.
Nhiều người đang trong độ tuổi 30. Có nhiều cặp vợ chồng trẻ. Phần lớn là những người làm ăn chuyên nghiệp. Một số trong đó mặc quần áo rất sang trọng. Họ có vẻ là đại diện của tầng lớp trung lưu lắm tiền nhiều của ở Thượng Hải.
Họ được cho xem một đoạn video mà công ty làm visa thực hiện để quảng bá cho việc nhập cư vào Canada cũng như cho dịch vụ xin cấp thị thực của nước này.
"Bạn không phải lo lắng về việc hội nhập," lời bình trong video nói. "Bạn thậm chí không cần phải nói được tiếng Anh."
Sau đó, các nhà tư vấn đi vào các chi tiết.
Quy định của Quebec yêu cầu các ứng viên chứng tỏ họ có một tài lực thực sự ở mức 800.000 dollar Canada (hay 776.000USD hoặc 502.000 bảng) và họ phải bỏ ra khoản đầu tư tới 400.000 dollar Canada.
Họ cũng cần chứng minh đã có hai năm kinh nghiệm trong quản lý.
Yêu cầu khác nhau

Image
TQ vừa là quốc gia phát triển ở mặt này, nhưng lại là đang phát triển ở mặt khác.
Mức quy định này rẻ hơn đáng kể, như họ chỉ ra, so với yêu cầu ở Anh, là nơi người ta yêu cầu các nhà đầu tư phải bỏ ra 1 triệu bảng Anh (1,5 triệu USD) trong 5 năm.

Có những mặt ưu điểm và nhược điểm của từng quy định ở mỗi quốc gia.

Nộp và xét đơn vào Canada phải mất khoảng hai năm rưỡi, nhưng các yêu cầu tài chính là thấp nhất trên thế giới.
Hoa Kỳ đòi hỏi ứng viên phải đầu tư lên đến 1 triệu USD trong một doanh nghiệp tạo ra ít nhất 10 việc làm mới. Thời gian từ khi nộp đơn mất một năm rưỡi.
Thủ tục xét đơn của Anh là nhanh nhất. Nó có thể được hoàn thành chỉ trong ba tháng, vẫn theo các chuyên gia tư vấn tại hội thảo về thị thực, và không có phỏng vấn.
Nhưng Anh là nước yêu cầu tốn kém nhất.
"Thông thường, người nộp đơn là chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc nhà quản lý cao cấp", theo giải thích của Vincent Chen, chuyên gia tư vấn cao cấp cho công ty Visa Consulting Group.
"Độ tuổi trung bình là 40-45, nhưng người nộp đơn ngày càng trẻ hơn."

Dễ dàng đạt được

Image
Canada đang điều chỉnh chính sách nhập cư với người có nhiều tiền từ TQ theo hướng chặt chẽ hơn.
Canada không thay đổi các yêu cầu của chương trình "nhập cư để đầu tư" từ năm 1991.
"Lúc đó, 800.000 dollar Canada là một số tiền rất lớn," ông Chen nói.

"Nhưng bây giờ, với sự tăng giá bất động sản ở các thành phố như Thượng Hải, người ta không nghĩ rằng mức đó quá khó để đạt được.
"Đó là lý do vì sao bạn thấy con số những người được cấp cơ chế thường trú nhân tăng gấp đôi."
Các yếu tố khác cũng có vai trò ở đây.
Và có một xu thế là nhiều người đến hội thảo là những người đã có bạn bè di cư xong.
Lý do di cư

Image
Cuộc sống ở các đô thị phát triển phương Tây có sức hút với một số người giàu TQ
David Lu, 38 tuổi, nhà quản trị tại một công ty viễn thông, đến hội thảo để tìm hiểu thêm về cách nộp đơn để di cư tới Canada.
Vào cuối hội thảo, ông lập tức hăm hở điền đơn.
Ông Lu có các lý do tích cực để di cư. Một số thân nhân của ông hiện sinh sống ở Canada. Và trong những kỳ nghỉ tại đó, ông đã thích thú khi được hưởng thụ cuộc sống với các mức độ ô nhiễm thấp hơn.
Ngoài ra, ông còn nói người Canada "thoải mái hơn rất nhiều" so với Trung Quốc.
Mặc dầu vậy, có nhiều lý do khác lý giải tại sao ông muốn rời khỏi Trung Quốc.
"Mọi người [ở đây] ghét anh nếu anh có tiền, và người giàu hay bắt nạt người nghèo," ông nói.
"Một vấn đề khác đối với tôi là chăm sóc y tế, sức khỏe," ông Lu nói thêm.
"Tôi không nghĩ bất cứ ai quan tâm tới việc di cư ra nước ngoài phải lo lắng về chi phí. Chúng tôi muốn có được chất lượng chăm sóc y tế tốt hơn của họ."
Chảy máu chất xám

Image
Người di cư TQ muốn sang phương Tây còn do nghĩ tới tương lai của con cháu họ.
Fabio Xu, 30 tuổi, đang điều hành một công ty sơn ở Thượng Hải.

Ông nói ông muốn tới Mỹ định cư "vì chăm sóc y tế ở đó tốt hơn, và cơ hội học hành ở đó cũng tốt hơn cho con tôi".
"Ở Trung Quốc, tất cả tiền bạc của tôi đều đổ vào tiền nhà, chi phí cho thực phẩm, quần áo và đi lại", ông nói, "nhưng ở Hoa Kỳ nhìn chung có nhiều tự do hơn. Tôi có thể phát triển bản thân một cách sáng tạo hơn và thu được nhiều điều có ý nghĩa hơn cho cuộc sống của tôi."
Một số học giả Trung Quốc lo lắng rằng Trung Quốc đang mất dần các công dân ưu tú của mình cũng như những khoản tiền khổng lồ.
Năm ngoái, 1.823 nhà đầu tư đã được cấp quyền công dân tại Canada theo chương trình nhập cư dành cho nhà đầu tư.
Ngay cả khi họ chỉ đầu tư với mức vốn tối thiểu theo yêu cầu, cũng có nghĩa là gần 700 triệu USD đã được đưa ra khỏi đất nước.
"Trung Quốc đang mất dần nhân tài thực sự mà nó cần", tiến sĩ Wang Huiyao,Tổng giám đốc Trung tâm Trung Quốc và Toàn cầu hoá nói.
"Trong lúc Trung Quốc đang cố gắng phát triển nền kinh tế và thay đổi từ 'made in China' (sản xuất tại Trung Quốc) sang 'sáng tạo tại Trung Quốc', cần có những con người này để xây dựng đất nước."

Liên lạc với Trung Quốc

Image
Nhiều người TQ muốn có hộ chiếu nước ngoài là để đi lại quốc tế dễ dàng hơn
Tiến sĩ Wang tin rằng nhiều người muốn có một hộ chiếu nước ngoài vì rất khó đi lại tự do trên khắp thế giới bằng các giấy tờ, hộ chiếu của Trung Quốc.
Thật vậy, một phụ nữ tại hội thảo chỉ muốn biết làm thế nào cô có thể nhanh chóng nhận được hộ chiếu Canada, để cô có thể sớm trở về nhà ở Trung Quốc.
Đối với cô, có vẻ động cơ không phải là để có được một ngôi nhà mới ở nước ngoài, mà là để có được một hộ chiếu làm cho cuộc sống thuận tiện hơn.
Một nhà ngoại giao phương Tây tại Thượng Hải đưa ra lời giải thích về xu hướng gia tăng của việc nhiều người xin thị thực theo dạng này.
Ông nói Internet ngày nay có nghĩa là bạn có thể sống ở nước ngoài, nhưng không bao giờ rời khỏi Trung Quốc.
"Bạn có thể thức dậy vào buổi sáng và đọc tin của tờ Nhân dân Nhật báo hàng ngày trong bữa ăn sáng. Bạn cũng có thể giao dịch cổ phiếu của bạn trên thị trường chứng khoán Thượng Hải bằng một cú nhấp chuột", ông nói.
"Bạn cũng có thể trò chuyện cả ngày với người thân miễn phí trên Skype, hoặc điều hành việc kinh doanh của bạn từ xa."
Lập luận của ông là việc di cư nay không nhất thiết gây ra những đau buồn như đã từng xảy ra đối với mọi người.
Nhu cầu hòa nhập người nhập cư tại đất nước tiếp nhận họ vì những lý do cơ bản giờ không còn cao như trước đây - mà điều này lại đang đặt ra những thách thức cho chính các xã hội phương Tây tiếp nhận họ.

User avatar
dauden
Posts: 576
Joined: Mon Aug 24, 2009 6:09 pm

Post by dauden »

Đám cưới xa hoa của con gái Bill Clinton trước giờ G

Theo ước tính, chi phí cho đám cưới của con gái cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton có thể lên đến gần 5 triệu USD.

Image
Chelsea Clinton và chồng sắp cưới.


Lễ cưới của cựu đệ nhất tiểu thư Nhà trắng Chelsea Clinton và Marc Mezvinsky, giám đốc một ngân hàng đầu tư sẽ diễn ra tại khu biệt thự Aster Court ở Rhinebeck, cách trung tâm thành phố New York 140km, vào ngày 31/7 tới.

Donnie Brown, nhà tổ chức tiệc cưới hàng đầu cho biết, đám cưới này “hoành tráng” hơn bất cứ đám cưới nào của các nhân vật nổi tiếng, và đây sẽ có thể là đám cưới lớn nhất trong năm nay.
Image
Khu biệt thự Aster Court, nơi sẽ diễn ra lễ cưới.

Khoảng 624.000 USD đã được chi vào việc sửa sang, tu bổ khu dinh thự. 110.000 USD được chi cho chén đĩa và ly tách. 499.000 USD là số tiền dành cho hoa cưới và hoa trang trí trong bữa tiệc.

Con gái cưng của Bill Clinton sẽ mặc trang phục cưới của các nhãn hiệu lừng danh như Oscar de la Renta hay Vera Wang. Theo một số nguồn tin, chiếc váy cưới của Chelsea Clinton sẽ có giá khoảng 25.000 USD. Trang sức mà cựu đệ nhất tiểu thư nhà Trắng sẽ đeo cũng có giá lên đến 250.000 USD.
Image

Image
Nội thất sang trọng của khu biệt thự.

Image


Riêng chiếc bánh cưới cũng là cả một gia tài với giá là 11.000 USD. Tiền thuê dịch vụ an ninh cũng khiến người khác phải giật mình với giá 202.000 USD.

Tổng cộng tất cả các chi phí cho đám cưới rình rang này tuy chưa có con số chính xác nhưng sẽ ở trong mức khoảng từ 3 đến 5 triệu USD.
Image
Ngoại trưởng Mỹ, Hilary Clinton đến New York để chuẩn bị cho đám cưới của con gái.
Phụ tá của bà đang khệ nệ xách chiếc váy bà Clinton sẽ mặc trong tiệc cưới.

Image
Chelsea Clinton trên đường phố New York.


Đám cưới sẽ có khoảng 500 khách mời, bao gồm cả những nhân vật đình đám như nữ hoàng truyền hình Oprah Winfrey, ca sĩ Barbra Streisand, đạo diễn Steven Spielberg, cựu Thủ tướng Anh John Major, ông trùm truyền thông Ted Turner… Tuy nhiên, một điều khá ngạc nhiên là đương kim Tổng thống Obama lại không được mời đến dự đám cưới.

Trong chương trình "The View" của kênh ABC, khi người dẫn chương trình về việc có tham dự đám cưới con gái của Bill Clinton hay không, Tổng thống Obama đã trả lời rằng "Có lẽ bạn không muốn thấy hai Tổng thống trong một đám cưới đâu!".

Obama cũng thừa nhận rằng mình không được mời đến dự đám cưới của Chelsea Clinton "Tôi không nhận được thiệp mời đám cưới. Tôi nghĩ rằng Hillary và Bill muốn giữ đám cưới như một sự kiện riêng của Chelsea và chồng sắp cưới của cô ấy".
Image
Những câu chúc mừng đám cưới của Chelsea được giăng khắp phố phường.

Image

Chính người dân Mỹ cũng rất mong chờ đám cưới này, trên khắp các cửa hàng, quán cà phê và nhiều nơi công cộng khác đã treo những băng rôn chúc mừng đám cưới của cô gái danh giá.

An Bình
Theo DailyMail

User avatar
doluoi
Posts: 829
Joined: Sun Nov 01, 2009 10:11 pm

Post by doluoi »

Image

Sự thật trong hậu cung của lãnh chúa Hồi giáo



Hậu cung dưới thời các lãnh chúa Thổ Nhĩ Kỳ được xây dựng theo các quy tắc của đạo Hồi và là một nơi vô cùng cấm kỵ. Nó là nơi tuyệt mật đối với nam giới nhưng cũng là nơi ẩn chứa nhiều khao khát nhất đối với những người phụ nữ. Có nhiều vợ đẹp là thước đo quyền lực: Hậu cung cũng có hệ thống cấp bậc và mỗi cấp bậc đều có tên gọi riêng cho những người sống trong đó.

Trong hậu cung của các Sultan ở Constantiople, thủ phủ của nhiều đế chế suốt thời Trung Cổ, quyền lực cao nhất thuộc về mẹ của Sultan hay còn được gọi là Walid. Sultana có thể là tên gọi chung của một bà mẹ, các chị em và các con gái của Suntal. Cấp bậc thứ hai dành cho 7 bà vợ chính của Sultan, những người được gọi là Kadin. Dưới họ là các Gediklik, những người con gái luôn sẵn sàng phục vụ Sultan và những cô gái còn lại được gọi là Odalik.
Dưới Kadin một bậc trong hệ thống phân cấp là một nhóm phụ nữ đặc biệt. Họ cũng là những người được sủng ái trong hậu cung và được gọi là những Iqbal. Họ không thể bước lên vị trí của Kadin nhưng được chu cấp tiền bạc, có phòng và người hầu riêng. Họ không chỉ là những "tình nhân" xinh đẹp giỏi chuyện chăn gối mà còn là những "lá bài" thông minh và xinh đẹp của các chính trị gia. Thông qua những Iqbal này mà nhiều quan lại tham ô trong quá khứ của Thổ Nhĩ Kỳ có thể làm hài lòng các Sultan để đạt được mục đích cũng như tham vọng của mình.

Những phụ nữ trong hậu cung Thổ Nhĩ Kỳ xưa lại rất thạo những việc triều chính và họ cũng đóng một vai trò quan trọng trong các quyết định của lãnh chúa, nhưng vai trò của họ luôn được ẩn giấu ở phía sau để tránh con mắt tò mò của mọi người.

Dưới sự cai trị của đế chế Caliphate, người Hồi giáo coi việc một người đàn ông có nhiều vợ đẹp là thước đo của sự giàu có cũng như quyền lực. Còn về mặt tôn giáo, nhà tiên tri Mohammed không cho phép đàn ông có quá 4 vợ để giảm thiểu chế độ đa thê.

Thị nữ - Những vật mua vui

Các thị nữ sống trong hậu cung ở Thổ Nhĩ Kỳ thường được mua từ những khu chợ nô lệ hoàng gia rồi sau đó được đưa vào hoàng cung. Tuy nhiên, chỉ những người con gái còn trinh tiết mới được bước chân vào khu vực này. Trong số các Odalik cũng có rất nhiều người xuất thân từ tầng lớp quý tộc. Họ được dạy cách để trở thành người nổi bật trong đám đông như cách nháy mắt gợi tình hay có những cử chỉ lời nói thu hút được sự chú ý giữa hàng ngàn phụ nữ, vì Sultan sẽ không thể nhận ra một ai đó nếu họ không đặc biệt.

Sultan cũng có thể nhận những cô gái đẹp như một món quà bày tỏ lòng kính trọng đối với mình. Trong đó có trường hợp lãnh chúa Algeria Mohammed bin Osman đã dâng lên Sultan Selim III một phụ nữ người Pháp tên là Emma de Beauharnais, bà chính là em họ của vợ Napoleon Bonaparte đã bị những kẻ cướp biển bắt cóc.

Để được đặt chân vào hoàng cung của Thổ Nhĩ Kỳ, một nữ nô lệ buộc phải hoàn thành một bài kiểm tra sự trong trắng ngây thơ bằng cách bị bắt buộc phải ôm hôn một người đàn ông Hồi giáo. Các thị nữ (Odalik) được tuyển chọn từ tuổi 13, độ tuổi những bé gái bắt đầu dậy thì, trở nên xinh đẹp và đã đủ sức thu hút sự chú ý của các Sultan.

Chính từ các Odalik mà người chủ hậu cung sẽ chọn ra 7 người làm vợ (gọi là Kadin). Họ sẽ là người gánh trọng trách sinh con trai nối dõi. ở khía cạnh nào đó có thể hiểu việc bước chân vào một hậu cung cũng giống như trở thành một nữ tu, nơi những người phụ nữ sẽ dồn hết tâm trí trong quãng đời còn lại để phục vụ cho người người đàn ông của mình. Các Kadin và Odalik buộc phải cắt đứt mọi mối liên hệ với thế giới bên ngoài, được đặt tên mới và học cách sống biết vâng lời. Họ sẽ sống và sẽ chết ở chính nơi này.

Cuộc chiến trong hậu cung

Các Odalik còn lại không có nhiều đặc ân từ Sultan và mỗi người trong số họ đều có ước vọng được trở thành Kadin. Để đạt được điều đó cũng không phải là không thể. Tất cả đều phụ thuộc vào tài năng và tính cách của các cô gái để giúp họ có thể leo lên bậc thang quyền lực cao hơn trong hệ thống phân cấp thứ bậc ở hậu cung. Nó không chỉ cần tới diện mạo đẹp đẽ mà còn cần tới trí thông minh, sự quyết tâm và sự khôn ngoan của các Odalik. Tuy nhiên, sự cạnh tranh ở mọi nơi đều giống nhau, ở hậu cung Hồi giáo cũng vậy. Những người phụ nữ Hồi giáo cũng bước vào một cuộc cạnh tranh với nhau một cách nghiêm túc và họ có thể dùng bất kỳ một thủ đoạn nào giúp họ đạt chiến thắng.

Mặc dù các Odalik là cấp bậc cao hơn nô lệ nhưng họ vẫn chỉ được xem là phương tiện giải trí của các Sultan. Mọi chuyện chỉ thay đổi kể từ triều đại của Sultan Bayezid II (1481-1512) là người đã đưa một trong số các Odalik của mình lên hàng Kadin. Tuy nhiên trên thực tế, người phụ nữ này vẫn không có nhiều quyền lực so với 7 người Kadin (vợ) chính thức. Về mặt lý thuyết, một Odalik cũng có cơ hội được leo lên bậc thang danh vọng nếu sinh được một đứa con trai. Với đứa con, các Odalik sẽ được hưởng những đặc quyền cao quý khác. Nhưng cơ hội như thế không nhiều.

Các cung nữ thường được dạy đàn, hát.

Bởi nguyên nhân đầu tiên là, nếu sống trong hậu cung cùng 1.000 Odalik khác thì cơ hội được chú ý và được quan hệ với Sultan không phải là nhiều. Thứ hai, một khi nếu Sultan có đoái hoài tới họ thì xác suất mang thai chỉ trong một lần quan hệ cũng không lớn và hơn nữa cũng không tránh khỏi khả năng có thể bị sảy thai. Và dù nếu may mắn có con trai đi nữa thì những "hòn máu" của các thị nữ sẽ rất khó được lên ngôi bởi chúng phải xếp hàng sau những hoàng tử chính thất. Ngoài ra, còn có một bảng xếp hạng dành riêng cho các Odalik nữa và nó có thể thay đổi bất kỳ lúc nào phụ thuộc vào tâm trạng của Sultan. Hậu cung lớn nhất trong lịch sử Hồi giáo là hậu cung Dar-ul-Seadet ở Istanbul, nơi từng có tới hơn 1.000 cung tần mỹ nữ cùng sinh sống.

Mặc dù phải đối mặt với rất nhiều âm mưu, nhưng những Odalik mang thai sẽ được bảo vệ cho tới khi sinh nở thành công. Họ sẽ nhận được sự phục vụ tốt nhất bởi những nô lệ là thái giám và những kẻ hầu cận khác.

Tuy nhiên, những người phụ nữ ở bậc dưới trong hậu cung rất ít được hưởng hạnh phúc. Ví dụ như họ chỉ có rất ít quyền hạn và sau nhiều năm phục vụ cũng như tôn thờ chồng, một số rất ít có thể được trả tự do với một số tiền chỉ tạm đủ sống.

Khi Sultan chết, tất cả các phi tần sẽ được sắp xếp lại vị trí theo giới tính của con cái họ. Mẹ của một công chúa có thể tái giá nhưng mẹ của hoàng tử thì nhất quyết được giữ lại để tiếp tục phục vụ cho chủ nhân mới của gia đình Sultan. Vì vậy sẽ lại nảy sinh một cuộc chiến mới. Các bà mẹ có thể dùng thuốc độc trộn vào thức ăn để hạ gục đối thủ cũng như con trai của họ.

Nhật Minh
Thế giới bí mật "Hậu cung" trong tiếng ả Rập là haram, có nghĩa là "cấm". Chỉ có những chủ nhân của cung điện, người được gọi là Sultan, và các con trai của họ mới được phép đặt chân tới khu vực này. Còn đối với tất cả những người đàn ông và phụ nữ bình thường khác, đó là một điều cấm kỵ.

Sự cấm ky nghiêm ngặt tới mức một nhà chép sử người Thổ Nhĩ Kỳ có tên là Dursun Bay đã ghi lại rằng: "Nếu mặt trời là một người đàn ông thì thậm chí nó cũng bị cấm soi sáng vào hậu cung". (Trong tín ngưỡng của người Thổ Nhĩ Kỳ, mặt trời là thực thể cái). Dưới đế chế Ottoman, một đế chế hùng mạnh tồn tại từ thế kỷ 11 tới đầu thế kỷ 20 ở Thổ Nhĩ Kỳ, cung điện được gọi là Serail. Theo truyền thống của những người Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ, những người đặt chân đầu tiên vào hậu cung không ai khác chính là vợ, con gái cùng các con trai của Sultan.

Trong hậu cung, họ được học múa, học nhạc và thơ Hồi giáo cùng những loại hình nghệ thuật khác. Tất cả các thê thiếp của Sultan bất kể nguồn gốc xuất thân đều phải chuyển sang đạo Hồi khi nhập cung. Sau khi đọc 3 lần câu: "Không có vị thiên Chúa nào ngoài Thánh Allah và nhà tiên tri Mohammed của tôi", họ sẽ trở thành một nô lệ, được đặt tên gọi mới và sẽ phải quên đi hoàn toàn cuộc sống trước kia.

( Bài Do VHP chuyển )

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Trên Mười Ngàn Người Dự Đại Nhạc Hội ‘Cám Ơn Anh Kỳ 4’
Image GARDEN GROVE (VB) - Trên mười ngàn người gồm các cựu Quân Dân Cán Chính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đại diện các đoàn thể, tổ chức, hội đoàn, các vị dân cử, các cơ quan truyền thanh, truyền hình, báo chí và đồng hương Việt tị nạn đã tham dự Đại Nhạc Hội "Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH Kỳ 4," do Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh Và Quả Phụ VNCH cùng Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam California, với sự yểm trợ của nhiều hội đoàn, và các cơ quan truyền thông hải ngoại, tổ chức tại Sân Vận Động Trường Trung Học Bolsa Grande thuộc Thành Phố Garden Grove, California, Hoa Kỳ, vào chiều Chủ Nhật, ngày 1-8-2010.
Image Chương trình bắt đầu đúng vào lúc 12 giờ trưa, với phần rước Quốc Quân Kỳ VNCH vào trước lễ đài để cử hành nghi thức chào quốc kỳ và hát quốc ca Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và phút mặc niệm tưởng nhớ công ơn tiền nhân dựng nước và giữ nước, tưởng nhớ các anh hùng tử sĩ quân dân cán chính VNCH đã hy sinh để bảo vệ tổ quốc trước hiểm họa xâm lăng của CS Bắc Việt, do ông Nguyễn Đình Khuôn điều hợp.
Phái đoàn gồm vài chục chiếc xe mô tô của Câu Lạc Bộ Motors của Luật Sư Đỗ Phủ đã diễn hành qua trước khán đài để chào mừng quan khách và khán giả. Trong dịp này, đại diện cho Câu Lạc Bộ, LS Đỗ Phủ cũng đã trao cho Ban Tổ Chức Đại Nhạc Hội ngân phiếu $12,000 đô la hiến tặng vào quỹ cứu trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH.
Image Cựu Nữ Trung Tá QLVNCH Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, 83 tuổi, Chủ Tịch Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH, Trưởng Ban Tổ Chức Đại Nhạc Hội "Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH Kỳ IV," trong phần phát biểu khai mạc, đã nói rằng, "Mỗi lần tổ chức Đại Nhạc Hội là mỗi lần chúng tôi đón nhận biết bao nhiêu ân tình của quý vị đã nồng nhiệt gửi tiền đóng góp cho anh em Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH, thể hiện tấm lòng rộng mở trước những mảnh đời oan trái đầy tủi nhục với những thương tật mà an hem đang phải gánh chịu cho đến cuối đời. Hành động đó chứng tỏ rằng chúng ta không quean ơn các an hem Thương Binh và Tử Sĩ đã hy sinh cho chúng ta được sống an lành cho đến ngày hôm nay."

Image Bà Hạnh Nhơn nhân đó cũng đọc lá thư của một Thương Phế Binh gửi ra từ Sài Gòn ngày 26 tháng 7 năm 2010. Lá thư có đoạn viết rất cảm động rằng, "Nhờ sự giúp đỡ của đồng bào hải ngoại đã kịp thời hồi phục cuộc sống nhiều cay nghiệt khó khăn dành cho an hem Thương Phế Binh." Bức thư cũng bày tỏ niềm biết ơn sâu xa đến sự giúp đỡ của đồng bào hải ngoại.
Cựu Trung Úy VNCH Trần Thi Vân, người đã vận động thành lập Hội Thương Phế Binh VNCH từ những năm đầu thập niên 1980s tại Nam Cali, thay mặt các anh em Thương Phế Binh trong và ngoài nước phát biểu nói lên lòng cám ơn đồng hương đã giúp đỡ từ bấy lâu nay.

Thay mặt cho giới trẻ Việt Nam, ông Ngô Thiện Đức đã phát biểu với lời lẽ chân thành, trong đó có đoạn ông nói rằng, "Vinh dự cho giới trẻ để được nói lên lòng biết ơn sâu xa của giới trẻ đối với những người đã hy sinh cho chúng ta được sống." Ông đề nghị giới trẻ hãy ủng hộ bằng cách dành tất cả số tiền làm được trong ngày Chủ Nhật này cho các Thương Phế Binh VNCH. Và ông không quên bày tỏ tâm nguyện sống xứng đáng và đóng góp cho cộng đồng.
Image Đại diện cho Nhóm Quân Nhân Mỹ gốc Việt, Thiếu Tá Quân Y Triết Bùi phát biểu rằng ông rất ngưỡng mộ những chiến tích của người lính Quân Lực VNCH khi xem các phim tài liệu về cuộc chiến Việt Nam và những chiến tích đó đã ghi sâu vào ký ức ông. Ông Bùi nói rằng đối với người lính Quân Lực VNCH "Tuy không cùng chiến trường nhưng cảm thông nhau qua đời lính." Ông cho biết vào ngày 8 tháng 8 năm 2010, hội sẽ tổ chức gây quỹ cho Thương Phế Binh chiến trường Iraq và Afghanistan tại thành phố Houston, Texas.
Cựu Thiếu Tá Phan Tấn Ngưu, Chủ Tịch Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam California, trong phần phát biểu, trình bày hoàn cảnh bi thương của các anh em Thương Phế Binh VNCH trong đất nước bị CS cai trị qua hình ảnh của một người mù cõng một người cụt chân. Và ông đặt câu hỏi: Họ là ai? Ông khẳng định rằng họ là những Thương Phế Binh VNCH, sống lây lất qua ngày và đang chờ đón sự giúp đỡ của đồng hương hải ngoại. Ông nhấn mạnh rằng, "Chúng ta không thể không làm điều gì cho họ cũng như gia đình họ."

Tham dự trong Đại Nhạc Hội "Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH Kỳ 4," gồm có Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, Cựu Chuẩn Tướng Võ Dinh, Nghị Viên Thành Phố Westminster Tạ Đức Trí, Cựu Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia Trần Quang An, Ủy Viên Hội Đồng Giáo Dục Thành Phố Westminster Andrew Nguyễn, Thượng Tọa Thích Viên Huy từ Chùa Điều Ngự, đại diện Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang California Lou Correa là cô Julie Nguyễn, Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Miền Quảng Đức Tâm Hòa Lê Quang Dật, Cựu Đại Tá Tạ Thái Bình, phái đoàn Ban Tổ Chức Đại Nhạc Hội "Cám Ơn Anh" Bắc Cali gồm 30 người, đại diện Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez là cô LIly Hiếu Nguyễn, Ứng Cử Viên Dân Biểu Tiểu Bang Địa Hạt 68 Phú Nguyễn, Ứng Cử Viên Nghị Viên Thành Phố Fountain Valley Võ Đức Minh, Chủ Tịch Ban Đại Diện Cộng Đồng Nam Cali Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa, Dân Biểu Tiểu Bang California Trần Thái Văn, v.v…
Image Ông Tô Kỳ Nghiã, một cựu quân nhân Quân Lực VNCH trong ngành công binh, đang sinh sống tại Canada, cho phóng viên Việt Báo biết rằng nhân chuyến viếng thăm bà con tại Nam California nên ông cùng gia đình và bà con đến đây tham dự Đại Nhạc Hội. Được hỏi cảm nghĩ lần đầu tham dự Đại Nhạc Hội "Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH Kỳ 4," ông Tô Kỳ Nghĩa nói rằng, "Đây là chuyện nhân đạo rất vĩ đại, bởi vì những người Thương Phế Binh và Tử Sĩ sau khi miền Nam sụp đổ không còn ai giúp đỡ, nên việc tổ chức gây quỹ giúp đỡ cho họ là việc làm đáng ủng hộ." Ông Nghĩa cho biết ông định cư tại Canada từ năm 1982 sau khi vượt biên đến Indonesia.

Image Các thành viên của Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam California đã đồng hát bài "Xuất Quân," để mở đầu cho chương trình văn nghệ đặc biệt trong Đại Nhạc Hội "Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH Kỳ IV," với phần điều hợp của 8 MC như Nam Lộc, Việt Dzũng, Minh Phượng, Diệu Quyên, Thùy Dương, Giáng Ngọc, Orchid Lâm Quỳnh, và Đỗ Tân Khoa (Ứng Cử Viên Nghị Viên TP Westminster), qua 5 ban nhạc The Asia Band, Y2K, The Soldier, Moon Flowers, Tù Ca Xuân Điềm, và hàng chục ca nhạc sĩ nổi tiếng như Thanh Thúy, Trung Chỉnh, Giang Tử, Mai Lệ Huyền, Sơn Ca, Ngọc Minh, Tuấn Vũ, Lâm Thúy Vân, Ngọc Huyền, Tâm Đoan, Ánh Minh, Hồ Hoàng Yến, Lê Anh Quân, Đặng Thế Luân, Thùy Dương, Thiệu Kỳ Anh, Nguyên Khang, Lâm Nhật Tiến, Hồng Nhung, v.v…

Nguon VIET BAO

muoiot
Posts: 100
Joined: Sat Sep 19, 2009 6:52 pm

Post by muoiot »

Thế nào là sung sướng?
Ngạn ngữ cổ Trung Hoa có câu: Biết đủ là đủ, Không biết Đủ thì Thế nào mới là Đủ. Ngạn ngữ Việt Nam có câu "(Đùng) Đứng núi này trông núi nọ" vì nghĩ rằng núi đó cao hơn, Mỹ, Anh có câu "Cỏ nhà hàng xóm luôn luôn xanh hơn" cũng là có y khuyên ta biết đủ, chẳng nên "Mơ cây cao bóng dài" mà than thở.

Chàng thanh niên nọ lúc nào cũng than vãn số mình không tốt, không thể giàu có được. Một ngày, một ông lão đi qua, nhìn thấy vẻ mặt ủ ê của anh bèn hỏi :

- Chàng trai, sao trông cậu buồn thế, có việc gì không vui à?
- Cháu không hiểu tại sao cháu làm việc chăm chỉ, vất vả mà vẫn nghèo. Chàng trai buồn bã nói.
- Nghèo ư, cháu là một người giàu đó chứ ?
- Chưa ai nói với cháu như vậy cả, cháu rất nghèo.
- Giả như ta chặt ngón tay cái của cháu, ta trả cháu 3 đồng tiền vàng cháu có đồng ý không?
- Không ạ.
- Giả như ta chặt một bàn tay của cháu, ta trả 30 đồng tiền vàng, cháu có chịu không?
- Không bao giờ.
- Vậy ta muốn lấy đi đôi mắt của cháu, ta trả cháu 300 đồng tiền vàng, cháu thấy thế nào?
- Cũng không được.
- Vậy ta trả cháu 3000 đồng tiền vàng để cháu trở thành ông lão như ta, già cả, lú lẫn được không?
- Đương nhiên là không.
- Cháu muốn giàu. Vậy ta sẽ đưa cho cháu 30,000 đồng tiền vàng để lấy đi mạng sống của cháu, cháu thấy thế nào?
- Cháu cảm ơn ông! Cháu đã hiểu cháu cũng là một người giàu có.

Trong cuộc sống, rất nhiều người thường than thân trách phận mà không thực sự hiểu ra mình còn hạnh phúc hơn rất nhiều người khác. Bạn hãy xem :

- Nếu sáng mai tỉnh dậy, cảm thấy mình khỏe mạnh, thì bạn đã hạnh phúc hơn rát nhiều người không còn cơ hội sống đến ngày mai.
- Nếu bạn còn cảm nhận được vẻ đẹp của một ngày nắng mới, thì bạn đã hạnh phúc hơn hàng triệu người khác không may mắn được nhìn những vẻ đẹp giản dị của đời thường.
- Nếu bạn chưa bao giờ phải trải qua sự tàn phá của chiến tranh, sự đơn độc, lạnh lẽo trong nhà tù, chưa bị đói rét rình rập, thì bạn đã hạnh phúc hơn 500 triệu người trên trái đất.
- Nếu trong tủ lạnh nhà bạn có thức ăn, bạn có quần áo để mặc, có tiền để tiêu xài, thì bạn đã hạnh phúc hơn rất nhiều người nghèo đói vô gia cư trên thế giới.
- Nếu bạn có tài khoản trong ngân hàng, thì bạn đã được xếp vào nhóm 8% những người giàu nhất thế giới.
- Nếu bố Mẹ bạn vẫn còn sống, và sống vui vẻ hạnh phúc bên nhau, thì bạn thuộc số ít nhóm người hạnh phúc nhất trên thế giới.
- Nếu trên khuôn mặt bạn lúc nào cũng nở nụ cười tươi tắn, bạn luôn cảm thấy lạc quan yêu đời, thì bạn là người vô cùng hạnh phúc bởi trên thế giới có rất nhiều người muốn lạc quan như bạn mà không được.
- Nếu bạn được ôm người thân vào lòng hay được chia sẻ cùng họ những tâm sự của mình, thì bạn đã là người hạnh phúc hơn nhiều người khác không bao giờ nhận được tình yêu thương từ người khác.
- Nếu bạn vẫn còn nhận được những lời chúc phúc từ những người xung quanh, thì bạn đã hạnh phúc hơn rất nhiều người cô đơn, không người thân thuộc.
- Nếu bạn đọc được những dòng chữ này, thì bạn đã hạnh phúc hơn 2 tỷ người không thể đọc được trên thế giới.

Sau khi bạn đọc xong những dòng chữ này, bạn có thể nhìn lại mình qua gương và mỉm cười :" Hóa ra, mình cũng là một người giàu có và hạnh phúc".

Ngô Hiếu

Post Reply