QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

CHUYỆN TÌNH MỘT SĨ QUAN TQLC
VÀ NGƯỜI NỮ CHIẾN BINH VC .


Lê Văn Nguyên.


Sau 3 ngày quần thảo ác liệt với địch quân, chúng tôi mới chiếm được mục tiêu, đơn vị chủ lực miền của địch thuộc tỉnh Bến Tre đã bị xóa sổ, nhưng tiểu đoàn của chúng tôi cũng bị thiệt hại khá cao. Trung đội 4 của tôi được lệnh bung rộng ra kiểm soát từng hầm hố, từng công sự của địch. Cảnh vật hoang tàn đổ nát, những thân cây dừa bị mảnh đạn pháo binh băm nát lỗ chỗ. Hầu như không còn chỗ nào nguyên vẹn, mùi thuốc súng nồng nặc khó chịu vẫn còn vương lại nơi đây. Tôi với Kính, người mang máy truyền tin, cẩn thận từng bước trên bờ mương nhỏ. Chợt Kính nói nhỏ:
- Ông thầy! Coi chừng hình như có người trong lùm cây đàng kia.
- Tản rộng ra, theo dõi kỹ chung quanh và coi chừng đồ chơi của tụi nó.
Tôi ra lệnh cho Kính xong là lom khom phóng qua những thân cây nằm ngổn ngang trên mặt đất, khẩu M16 lên đạn sẳn sàng, Kính theo kế bên hông. Tiếng rên nho nhỏ của phụ nữ văng vẳng ra từ trong lùm cây rậm rạp.
- Một đồng chí nữ nhà ta đấy. Kính reo nho nhỏ.
Kinh nghiệm chiến trận cho tôi biết không bao giờ hấp tấp trước mọi tình huống, có thể địch gài mìn bẫy xung quanh, hoặc gỉa vờ bị thương để dẫn dụ đối phương tới gần rồi sát hại. Dơ ngón tay ra hiệu lệnh và chỉ vào lùm cây, tôi quan sát lần nữa rồi rón rén bước nhẹ, đằng kia thằng Kính lăm le khẩu súng trên tay trông chừng. Tôi lấy mũi súng vạch đám lá, một cô gái trạc độ 18,19 tuổi nằm gối đầu lên chiếc ba-lô mầu “cứt ngựa”, vai trái bị trúng đạn máu tuôn ra ướt đẫm, mắt nhắm nghiền nhưng miệng vẩn không ngớt rên rỉ:
- Nước...Nước..cho tôi miếng nước”.
Trước tình trạng nguy hiểm đến tính mạng của “cô” địch quân sau khi ngừng tiếng súng, việc đầu tiên là phải cầm máu, tôi lấy băng cá nhân lau nhẹ trên vết thương, đoạn dùng lưỡi lê cắt khoảng áo trên vai, đỡ cô ngồi dựa vào người tôi đoạn bảo Kính:
- Mày băng dùm cho tao, nhớ nhẹ tay.
- Ông nhân từ quá, gặp em con nhỏ này tiêu đời. Kính vừa băng vừa cằn nhằn.
Tôi im lặng không nói gì, Kính nói đúng, những người lính của tôi đã ngã xuống, máu của họ đổ ra cho sự Tự do, người Cộng Sản có nhân từ với người anh em của tôi không?
- Nước... Cho tôi xin miếng .....nước.
- Đ. Mẹ ... Câm miệng lại.
Kính quát tháo giận dữ, tôi lừ mắt nhìn người đệ tử ra vẻ không hài lòng.
- Mày đừng nói như vậy, với một người sắp sửa chết mình đừng nuôi thù hận nữa. Thôi mày ra ngoài trông chừng cho tao đi.
Tôi lấy cái khăn màu tím cột trên vai áo, dấu hiệu nhận diện của đơn vị, thấm chút nước rót từ bình tông lau nhẹ trên mặt cô gái. Tôi ngẩn người trong giây lát vì sắc đẹp của cô, khuôn mặt thanh tú với hàng mi cong vút nhất là sống mũi cao nôm cô phảng phất như minh tinh màn bạc dù trắng xanh vì mất máu nhưng cô ta vẫn có nét thu hút đặc biệt. Ghé bình tông nước vào miệng cô gái, tôi nói nhỏ:
- Cô uống đi, nhớ từ từ từng chút một.
Cô ngoan ngoãn nghe lời như một em bé.
- “Cám ơn ông nhìều”. Giọng nói yếu ớt và mệt mỏi.
- Tôi sẽ tiêm cho cô 2 mũi thuốc trụ sinh và cầm máu, cố chịu đau nghe.
- Không cần đâu, làm phiền ông nhiều rồi, vả lại tôi cũng sắp chết đến nơi.
- Bậy bạ, vết thương này đâu có gì nguy hiểm.
- Đừng an ủi như vậy, hồi nãy ông nói tôi sắp chết đừng nuôi hận thù nữa.
- Tại vì...Tại vì...Tôi không muốn lính của mình ăn nói kỳ cục như vậy.
Cô gái mở mắt nhìn tôi với vẻ cám ơn, trong đáy mắt chứa nhiều điều muốn nói, lâu lắm cô nói thều thào:
- Bây giờ ông sẽ làm gì với tôỉ...Bắn một phát súng có lẽ nhẹ nhàng hơn là giao tôi cho cơ quan điều tra.
Thật tình tôi không biết trả lời sao với cô, chưa kịp phản ứng thì cô tiếp:
- Tôi sinh ra ở miền đất mênh mông sông nước, hãy để thân xác này vùi dập nơi đây. Xin ông đừng giao cho ai hết. Tôi van xin ông.
- Thôi được rồi, tôi sẽ làm theo lời yêu cầu của cô. Nhưng trước nhất hãy để tôi tiêm thuốc cái đã đừng bướng bỉnh như vậy.
Cô gật nhẹ đầu mà không nói lời nào. Kéo ống tay áo lên, lộ làn da trắng nõn nà, tôi chăm chú chích mũi Penicilline mà không thấy má của cô thoáng đỏ vì hổ thẹn mà chỉ thấy cô nhăn nhó suýt soa vì đau, tôi bật cười:
- Đi lính bị thương, bị bắn không đau, chỉ có mũi kim bé tí tẹo mà cô nhăn nhó, rên rỉ như….
- Sao không đau, ông ăn nói… như khỉ chứ gì?
Cô cướp lời, tôi cười trừ, đỡ cô gái nằm xuống ngay ngắn trên mấy tầu lá chuối, rồi tôi đứng dậy cầm cây súng lên đạn .. rồi lấy trong ba-lô mấy hộp lương khô, bình nước đầy và cuộn băng cứu thương, tất cả đặt bên cạnh cô rồi nghiêm nghị nói:
- Đơn vị tôi sẽ di chuyển đi nơi khác bất cứ lúc nào để tìm các đồng chí của cô, nhưng những thứ nầy cần thiết cho cô, tôi hy vọng người của cô sẽ trở lại tìm và cứu sống đồng đội của mình.
Tôi lấy khăn nhúng nước lau mặt cho cô đoạn cẩn thận lấy mấy tàu lá dừa che kín lại.
- Này... Ông tên là gì vậỷ
- Có quan trọng lắm không?
- Ít ra sống hay chết tôi còn biết tên người đã đối xử tốt với mình chứ.
- Vậy thì cô nói với Diêm Vương gã đó là Lam, Trần Hoài Lam, và cô xin với ổng cho tôi tai qua nạn khỏi trong chiến tranh này.
Tôi nghe tiếng cô cười nhỏ cùng tiếng nói thật nhẹ:
- Dạ, Quyên đêm nào cũng sẽ cầu nguyện cho ông Lam tai qua nạn khỏi.
Quyên, người con gái mà tôi gặp gỡ một lần, và chỉ một lần duy nhất trong cuộc đời kế từ đó. Bước chân người lính như tôi đã qua mọi đoạn đường đất nước, những trận đánh đẫm máu bằng cái chết của đôi bên lên rất cao. Vài lần bị thương nặng nhẹ nhưng tính mạng vẫn còn giử được, phải chăng Quyên hằng đêm cầu nguyện cho tôi được tai qua nạn khỏi như nàng đã hứa.
Đất nước thanh bình, tiếng súng lặng im, nhưng những người được gọi là sĩ quan QLVNCH như tôi và bạn bè khác không được thở hít không khí hòa bình ấy, sau bao năm trăn trở với chiến tranh, tất cả đi vào trại “cải tạo”, một danh từ mỹ miều nhưng thực chất là đầy đọa, là giết lần mòn chúng tôi. Tôi bất lực nhìn bạn bè ngã xuống, đói, bệnh hoạn, đày đọa, khủng bố, đánh đập!
Thân xác anh em chúng tôi bị vùi dập ở nơi núi rừng hiu quạnh, ở hốc núi đen tối ngàn trùng. Tôi lặng lẽ sống như cái bóng tinh thần vững vàng, nhưng thể xác thì suy sụp nặng nề, bám víu ý nghĩ duy nhất “Trả nợ oan gia binh nghiệp”. Phải, sinh ra người lính thì chấp nhận mọi gian nguy may rủi về mình.
Ngày hôm ấy, trại Bù Gia Mập, nơi tôi đang “lao động là vinh quang” có cơn bão rừng rất lớn, mọi người được phép nghỉ tại lán. Anh Đan, khối trưởng nhận thư từ quản giáo phân phát cho anh em. Là một kẻ không thân nhân, không họ hàng, tôi lảng đi nơi khác cho đỡ tủi thân.
- Trần Hoài Lam có thư.
Cả phòng xôn xao ngạc nhiên vì ai cũng biết tôi là thằng “mồ côi”, là “con bà Phước”, danh từ ám chỉ những kẻ không có ai thăm viếng lẫn thư từ. Rất ngạc nhiên tôi nghĩ thầm trong bụng có lẽ trùng tên với một người nào đó nên im lặng.
- Trần Hòai Lam có thư.
Người khối trưởng lập lại với vẻ khó chịu.
Tôi dè dặt bước tới trong trạng thái hoang mang.
- Có thật là của tôi không anh Đan?
- Tên anh rành rành trên phong bì làm sao sai được, thôi nhận đi cho tôi còn làm việc, nếu có sai thì cho tôi biết.
Cầm lá thư tôi lật qua lật lại, xem kỹ có phải đúng tên mình không. Hoàn toàn đúng nhưng tuồng chữ lạ hoắc và cái tên cũng chưa bao nghe qua, nhưng một điều chắc chắn người viết là phái nữ, nét chữ mềm mại thẳng đứng nhưng rõ ràng. Trần Hoài Quyên, thật là lạ, trùng họ, trùng chữ lót, chỉ khác tên. Tôi tứ cố vô thân làm gì có họ hàng. Tôi đọc:
“Anh Lam!
Có lẽ anh ngạc nhiên lúc nhận thư của Quyên, người con gái xa lạ gởi đến cho mình, nhưng khi em nói câu này chắc chắn anh hình dung Quyên là ai:
“Đi lính bị thương, bị bắn không đau, chỉ mủi kim bé tí teo này mà nhăn nhó rên rỉ như...”.
Đọc mấy dòng chữ trên, tôi lặng người rất lâu, bàng hoàng và xúc động hơn bao giờ hết khi nhớ lại trong trận đánh ấy, một nữ VC khuôn mặt bê bết sình đất, tóc tai rũ rượi gối đầu trên ba lô nhỏ, ánh mắt thất thần khi tôi đến gần rồi nhẹ nhàng lấy khăn lau cho cô, khuôn mặt thiên thần trong sáng hiện ra. Cô viết tiếp:
- Đúng như anh nói, đêm hôm ấy đồng đội đã mang em ra khỏi nơi mù mịt khói lửa và chữa trị ở bệnh viện Trung Ương, sau khi rời khỏi bệnh viện, em xin về đơn vị ngành để họat động, không còn muốn tham gia vào nơi lửa đạn nữa. Từng là chiến sĩ xuất sắc trong khu, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, vậy mà thoái lui về hậu phương, kỳ lạ quá phải không anh Lam? Chính anh đã làm thay đổi lập trường của em. Những người đối đầu không hẳn đều tàn ác, bằng chứng là anh. Anh đối xử thật tốt, thật nhân đạo với kẻ thù, dù rằng thuộc hạ của anh nói đúng, không biết bao người đã ngã xuống vì những viên đạn của kẻ địch, mà có thể trong đó có cả em bắn ra.
Hòa Bình tái lập em không vui vì còn hận thù, vay nợ máu phải trả, phương châm của bạn bè, cấp lãnh đạo đề ra. Em rất buồn vì biết anh đang đi vào ngõ cụt, không lối thoát, con đường đi đến cái chết. Như đã nói, từ sau ngày bị thương, em ra khỏi cuộc chơi, không muốn dính líu đến thù hận nữa, bàng quan trước mọi việc, nhưng không thể nào quên anh, em đã cậy cục, tìm kiếm tin tức của anh qua các trại học tập. Trời không phụ lòng người, rốt cục em cũng tìm ra anh. Anh Lam! Còn nhớ những gì em đã nói trước khi anh từ giã ra đi không?
“Quyên đêm nào cũng sẽ cầu nguyện cho ông Lam tai qua nạn khỏi”.
Em đã cầu nguyện như vậy mỗi đêm để ơn trên ban mọi điều lành đến cho anh tai qua nạn khỏi đúng như lời đã hứa. Em đang thu xếp công việc để đến thăm anh kỳ tới. Mong được găp lại anh. Hy vọng đừng làm mặt lạ với Quyên.

Từ đó tôi không còn là người cô độc nữa, Quyên thăm đều đặn, lần nào cũng khóc, giọt nước mắt long lanh trên má làm tôi xúc động muốn khóc theo. Ân tình của em làm sao tôi báo đáp cho nổi! Thôi thì chỉ còn cách là...

Trên đất tị nạn, Quyên bây giờ là mẹ của bầy con 3 đứa kháu khỉnh, xinh đẹp. Em chu toàn nhiệm vụ của người vợ hiền, người mẹ nhân ái. Sống ở xứ người văn minh tân tiến nhưng Quyên vẫn là của tôi dạo nào, vẫn áo bà ba và sợi thung buộc trên tóc. Những đêm con cái ngon giấc, em qua nằm kế bên tôi thủ thỉ trò chuyện tâm sự:
- Quyên à, em thương anh từ lúc nào.
- Kỳ cục, ai mà nhớ, hỏi bậy bạ không à”. Em mắc cở phụng phịu.
- Vậy thì thôi anh không hỏi nữa. Tôi làm bộ giận dỗi quay mặt đi nơi khác. Cô lật đật nắm lấy tay tôi năn nỉ:
- Thôi đừng giận nữa, em nói, nhưng cấm không được cười à nha...

Quyên bắt tôi thề thốt đủ mọi điều rồi mới nói:
- Em yêu từ lúc anh kéo tay áo lên để tiêm thuốc. Mắc cở muốn chết, đã vậy còn ghẹo người ta này nọ. Anh biết không, cái khăn màu tím ngày đó anh lau mặt cho em, em giữ mãi trong người, đi đâu cũng xếp lại bỏ vào túi áo, lâu lâu mở ra xem sợ rớt mất.

Cảm động tôi hôn lên trán vợ, không ngờ cô yêu thương tôi đến như vậy.
- Anh biết không, có một hôm em giặt xong phơi ở hàng rào gió thổi mất tiêu.
Trời đất, em khóc mấy ngày trời, bỏ ăn, bỏ ngủ, đi tìm nó. Không hiểu sao nó lại về với em, đứa bạn nhặt được mang trả lại. Nó nói cái khăn này bay tới tận khu ủy, cách đó gần 5 cây số. Em tin rằng anh luôn luôn bên cạnh để giúp em vượt qua nguy hiểm. Hôm bị thương nếu gặp người khác có lẽ cuộc đời của em không biết ra sao. Có lẽ bị chết không chừng.

Quyên ngủ say bên vai tôi, tiếng thở nhẹ nhàng êm ái. Một điều huyền diệu khó tin nhưng thật sự là vậy. Phải chăng duyên số đưa đẩy để tôi gặp em trong hoàn cảnh đó. Đúng như Quyên nói, nếu gặp người khác em có thể bị bắn chết hoặc chết vì vết thương. Hôn lên trán vợ, tôi thì thầm:
- Duyên nợ trời định em ạ.

Bên vai tôi, Quyên ngủ ngon lành khuôn mặt thiên thần không gợn chút bụi trần.

Mũ Xanh Hắc Long Lê Văn Nguyên
Chicago, 26- 6 -2010.

cuoigia
Posts: 255
Joined: Thu Aug 06, 2009 6:57 pm

Post by cuoigia »

Dòng thời gian và những âm giai của một người lính TQLC
(VienDongDaily.Com - 29/09/2011)

Băng Huyền/Viễn Đông

Image
Ông Huỳnh Văn Trạch và phu nhân tại tư gia của anh, với những giây phút
trải lòng cùng âm nhạc - ảnh: Băng Huyền/Viễn Đông
Người đàn ông ngoài năm mươi, tóc hớt cao, lấm tấm sợi bạc, hình dáng gầy gò, gương mặt khắc khổ với những đường vẽ xô lệch của thời gian. Đôi tay ôm đàn guitar. Vừa dạo đàn. Vừa thủ thỉ như tâm tình. Kể lại chuyện đời ly hương, trong ca khúc “Mười năm biệt xứ” do chính ông sáng tác. Đây là phần nhạc dạo đầu, cho chuyện kịch “Gia đình ông bà Nam”, trong chương trình hội kịch “Nẻo Nguồn Hồi Tưởng”, một đề tài luận án tiến sĩ của tiến sĩ dự bị Nguyễn Hữu Quỳnh Trâm (đại học University of Tilburg, Hòa Lan) đến từ Seattle, tiểu bang Washington, tại Thư Viện Việt Nam, vào tháng 8 vừa qua.

Tên ông là Huỳnh Văn Trạch, là một cựu quân nhân Thủy Quân Lục Chiến, thuộc tiểu đoàn 2 Trâu Điên. “Mười năm biệt xứ” là một sáng tác, được ông viết vào năm 1990. Sau 10 năm vượt biên thành công và đến định cư Hoa Kỳ. Ca khúc này ông dành tặng cho cha của mình (còn kẹt lại Việt Nam) nhân ngày Father’s Day.

Qua điện thoại phóng viên hẹn gặp ông. Ông nói, ông chỉ là người viết nhạc nghiệp dư, ông chỉ viết ra những ca khúc ghi lại những khúc ngoặt trong cuộc đời mình. Ông không muốn phổ biến rộng rãi. Nhưng rồi vẫn có một ngoại lệ. Và khi cảm thấy sự phiền phức, nỗi ngại ngùng đã qua, thì ông lại rất nhiệt tình với câu chuyện.

Từ ký ức của ông, cả quãng đời, với tuổi xuân phơi phới khi bước chân vào quân trường. Những giờ phút khắc nghiệt nơi chiến trận, đối diện tử-sinh. Những tháng năm tủi nhục của một người lính bại trận. Những chặng đường lênh đênh vượt biển, tìm đến bến bờ tự do. Những tháng năm vất vả mưu sinh nơi xứ người… Tất cả hiển hiện, như âm bản của một cuốn phim đã mất, nay lại trở về….

* Niềm đam mê âm nhạc

Ông Huỳnh Văn Trạch đã có cả tuổi thơ khá êm đềm gắn bó với vùng quê Rạch Sỏi (tỉnh Rạch Giá, quận Kiên Thành). Cha ông là ông Huỳnh Văn Chước, từng hướng dẫn ban hát trong nhà thờ, và chuyên đặc trách về âm nhạc cùng đoàn truyền giảng Tin Lành đường thủy ở Miền Tây Nam Bộ. Từ nhỏ, tiếng đàn Accordion ngọt ngào của cha đã đi vào ký ức của cậu bé Huỳnh Văn Trạch trở nên thân quen, đã truyền đam mê âm nhạc cho cậu đến lúc trưởng thành.

Nhưng, cha ông đã từ chối dạy đàn cho ông. Với lý do ông không có khiếu về nhạc. Nhưng sau này, chính ông cụ đã tiết lộ cho ông biết, ông cụ nhìn thấy con trai nhỏ của mình có tánh đa sầu đa cảm mê thơ, nhạc. Ông sợ hướng con vào con đường nghệ thuật, con sẽ dấn thân hoàn toàn vào văn nghệ. Sẽ “hư người”. Bởi quan niệm “xướng ca vô loài” bao đời nay vẫn hiện diện trong suy nghĩ của cụ.

Dù không được cha khuyến khích, nhưng từ lúc 14 tuổi, bằng số tiền dành dụm từ việc đặt lờ, nôm cá. Ông đã mua cho mình cây guitar và tự mày mò học đàn qua những cuốn sách dạy học đàn guitar của Lan Đài, Nam Phong, Hoàng Bửu… Ông kể, “mà nhiều khi tôi xem đằng trước, quên đằng sau… nhưng vẫn cặm cụi học”.

Và chính những nốt nhạc đầu đời ấy đã trở thành vốn liếng quý giá, giúp ông ghi lại những xúc cảm của mình bằng nốt nhạc, qua 18 ca khúc, lưu lại những mảnh vụn đớn đau trong suốt cuộc đời nhiều thăng trầm của mình.

* Cuộc đời binh nghiệp ngắn ngủi và
những tiếng lòng thổn thức của một nhạc sĩ nghiệp dư

Là thanh niên sinh ra trong thời chiến, cũng như bao thanh niên và bè bạn, ông đã sớm tham gia vào Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, để làm tròn nghĩa vụ với non sông.

Từ năm 1970, khi tròn 18 tuổi, ông đã ghi danh vào đơn vị Thủy Quân Lục Chiến. Trải qua thời gian huấn nhục khắc nghiệt ở quân trường Rừng Cấm (thuộc trung tâm huấn luyện của TQLC tại phía tây bắc thị xã Thủ Đức, giáp ranh quân Dĩ An, Biên Hòa), ông trở thành một tân binh thuộc tiểu đoàn 2 Trâu Điên của TQLC quân lực VNCH.

Xúc động đầu đời mà ông Huỳnh Văn Trạch đã ghi lại thành ca khúc, không phải do một giai nhân nào, mà là trong một “Chuyến bay đêm” về lại đơn vị, sau một tuần nghỉ phép trong chiến dịch mùa hè đỏ lửa 1972.

Ôm cây guitar, tự đệm đàn cho mình theo thể điệu Rumba, cái giọng ồ ồ, là lạ của ông, nhè nhẹ hát:
“…Tôi thấy nao nao khi bước hành quân còn dài. Thành đô xa hoa khuất dần sau lưng tôi… Tuy bước hành quân chưa dài, nhiều đêm gối mòn nơi sườn đèo cao heo hút. Tôi thương tóc mẹ bạc phơ trong những chiều bơ vơ. Mẹ tôi lo âu khi mỗi lần nghe tiếng súng, rồi thầm nguyện cho tôi sẽ trở về trong yên vui, khi non nước mình không còn lửa khói đao binh…”.

Giọng bùi ngùi, ông kể: “Lúc đó tình hình quân sự rất căng thẳng. Khi ấy, cả hai bên Quốc Gia và Việt Cộng đều thiệt hại rất nặng. Khi đó, tôi chỉ mới 20 tuổi. Trong chuyến bay lần đó chở các tử sĩ từ chiến trường miền Trung về lại phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi và những anh em khác sau chuyến nghỉ phép, đã bước lên máy bay đó, bay ngược ra miền Trung, để trở lại đơn vị, tiểu đoàn 2 Trâu Điên, sư đoàn TQLC, đang đóng quân tại Quảng Trị.

“Lúc ngồi trong máy bay, tôi nhìn ra cửa sổ, ánh đèn rực sáng của Sài Gòn chìm nhanh trong màn đêm. Khi đó máy bay mới bay ngang qua cầu xa lộ để đi ra Vùng 1. Tự dưng một cảm xúc bất chợt và cả những cảm xúc được tích lũy từ lâu trong tâm hồn, đã vang lên trong đầu tôi những ca từ và giai điệu của bài nhạc này. Và trong 18 ca khúc tôi viết, đa phần đều đến với tôi trong những giây phút xuất thần như vậy, và được tôi lưu nhớ trong đầu, chứ không phải do tôi ngồi sáng tác ra giấy như các nhạc sĩ chuyên nghiệp”.

Cái chất bình dân trong nhạc của Huỳnh Văn Trạch được ông lý giải: “Vì khả năng âm nhạc của tôi có hạn, nên hầu hết ca khúc tôi sáng tác đều theo thể điệu nhạc Rumba, một vài bài theo thể điệu Boston, hoặc Slow. Vì thể điệu này dễ cho tôi gửi gắm tâm sự của mình và dễ đặt giai điệu cho ca từ. Nhưng cũng có những bài theo thể điệu Tango, Cha cha cha, hoặc New Wave.

“Tôi không dám nhận tôi là nhạc sĩ. Vì người sáng tác nhạc phải học qua trường lớp ký âm pháp, tôi không có bài bản này. Tôi chỉ viết ra những ca khúc về cuộc đời tôi mà thôi”.

Quãng đời chinh chiến của một binh nhất Huỳnh Văn Trạch trước khi Sài Gòn thất thủ, đã được ông lưu lại vài ca khúc. Trong đó có những bài nhạc dành cho mối tình đầu với người em gái hậu phương, với “Thư gửi người tình” có đoạn: “Em ơi, nơi chiến tuyến xa xôi, nhiều đêm anh ngủ ngồi. Những lúc lại băng đồi, nhiều đêm mưa anh lội suối. Dù bao hiểm nguy đến cùng với đời trai, nhưng anh vẫn không màng…”.

Hay những cảm xúc ông ghi lại trong một ca khúc, ra đời sau biến cố tháng 3 năm 1975. Khi đó ông đang trú đóng ngoài tỉnh Quảng Trị, được lệnh đi về Quảng Nam, đồi 1062 để thế cho tiểu đoàn 5 và 2 nhảy dù về trấn phía bắc ở Sài Gòn.

“Ca khúc này tôi kể lại câu chuyện người trai theo nghiệp đao binh, nhưng đành chấp nhận số phận của một người lính thua trận ngay trên quê hương mình”.

Sau biến cố 1975, một số ca khúc tình ca thời hậu chiến lại ra đời. Lúc này là những tủi nhục, đớn đau của người lính thua trận, dù không bị đi học tập cải tạo, vì cấp bậc thấp, nhưng ông phải tham gia lao động “công ích” tại địa phương, dọn chợ cá… một thời gian. Vất vả mưu sinh bằng nhiều việc khác nhau, từ lơ xe đò trên tuyến đường Sài Gòn - Rạch Giá, hay rong ruổi theo tàu đánh cá ngoài biển khơi.

Và chuyện tình yêu tưởng đẹp đã tan vỡ, khi người yêu bỏ ông để lấy chồng, là một thân nhân của bên phe chiến thắng.

Tất cả những “đổ nát” ấy đã đi vào những bản nhạc sầu thảm, như một cách để ông chép lại nhật ký đời mình qua những khúc ngoặt tủi, hờn.

* Âm nhạc đã nối kết tình nghĩa vợ chồng

“… Tôi chẳng cần giải phóng, nên tôi phải đành mang kiếp người ly hương. Thuyền hỡi thuyền ơi. Mặt nước màu xanh đã che kín quê hương rồi. Kiên Giang ơi, một phút quay đi, dặm ngàn xa cách. Việt Nam ơi, một lần ra đi, là trùng dương đành cách trở. Tàu vẫn nhả khói lướt trùng dương, tìm ra khơi. Quê hương ơi, ta đã xa rồi bao kỷ niệm, nơi quê hương cũ, quê hương ơi…”.

Đây là ca khúc “Tâm sự thuyền nhân” được ông cảm tác trong chuyến tàu đưa người vượt biển đầu tiên của ông, vào năm 1977. Ông kể: “Đêm đó, khi 353 người đã lên hết trên tàu lớn rồi, để sẵn sàng ra khơi, đã hơn 9 giờ tối, mà vẫn chưa thấy bà chủ tàu cùng những người đi theo ghe nhỏ của bà ra. Tôi nói với anh tài công, cũng là con trai của bà chủ tàu, rằng sẽ đợi bác Tư cùng anh, nhưng đúng 12 giờ đêm, thì phải nhổ neo, vì nếu cứ neo đậu hoài, công an biên phòng phát hiện sẽ bắt hết mọi người vào tù. Lúc đó tiền bạc của người dân vượt biển cũng sẽ mất trắng vào tay công an biên phòng, và sẽ bắt luôn bà chủ tàu… Tôi hứa, sau khi đưa mọi người đến đảo rồi. Tôi sẽ cùng quay về với anh, để đón bác Tư. Và sau đó, tôi đã quay về. Dẫu biết hiểm nguy lắm, bị bắt có thể tù mục xương như chơi. Nhưng tôi vẫn quyết giữ lời đã hứa. Cho mãi đến cuối năm 80, tôi mới ra đi thật sự tìm đến bến bờ tự do”.

Ánh mắt xa xăm, bồi hồi nhớ lại, ông tâm sự: “Lúc đó, khoảng 12 giờ đêm, chúng tôi quyết định nổ máy, rời đi. Khi đó, tôi đã nhìn lại thành phố Rạch Giá của mình, đen mờ mờ, chìm dần xuống sóng nước.

“Bài nhạc đã ra đời trong cảm xúc như vậy, giai điệu và ca từ cứ thế vang lên bằng cảm xúc thật của tôi”.

Vì muốn giữ sự riêng tư, phu nhân của ông Huỳnh Văn Trạch xin không tiết lộ tên, kể rằng: “Tôi vượt biên cuối năm 1980, đã đến được đảo Pulau Bidong, Malaysia, trước anh Huỳnh Văn Trạch 20 ngày. Lúc đó, tôi và anh biết nhau, vì cùng là con cái Chúa, cùng đi lễ nhà thờ chung trên đảo, nhưng chưa hề nói chuyện yêu đương gì hết.

“Tôi nhớ, anh được chú Nguyễn Long Giáp (hình như là bà con của ca sĩ Chung Tử Lưu) bầu anh làm trưởng ban văn nghệ trong cộng đồng người Việt trên đảo. Anh đã đàn và hát cho mọi người nghe trong nhà thờ và trong những chương trình tiễn người rời đảo đến bến bờ tự do.


“Lúc ấy, anh hay hát bài nhạc do anh sáng tác. Có bài ‘Tâm sự thuyền nhân’. Cũng cùng một tâm trạng là thuyền nhân, tôi rất cảm động khi nghe lời hát do anh sáng tác, nghe riết rồi, thì lại thấy hay hay…”.

Và rồi nhờ những ấn tượng ban đầu ấy, mà sau khi đến Mỹ, dù ông ở tiểu bang Oregon, bà ở vùng Los Angeles, Nam California, nhưng cả hai đã thư từ thăm hỏi nhau, và sau một năm định cư tại Hoa Kỳ, ông bà đã nên duyên chồng, vợ.

Hiện nay, ông bà có 4 người con gái, tất cả đều học hành thành đạt, người thì chuẩn bị tốt nghiệp bác sĩ thú y, người là cô giáo, người học thương mại, người chuẩn bị học trở thành bác sĩ chuyên khoa mắt.

Và dẫu nhìn lại chặng đường đã qua của mình, ông Trạch cho rằng nó có quá nhiều biến cố, nhưng với mái ấm hiện nay và 4 con ngoan, thảo hiền, chính là món quà quý giá Chúa Trời đã ban tặng cho ông.

* Những ca khúc viết nơi đất khách và trăn trở cùng quê hương

Ngoài ca khúc viết tặng cha, kể lại chặng đường “Mười năm biệt xứ” đã được một người quen biết giới thiệu cho nữ tiến sĩ dự bị Nguyễn Hữu Quỳnh Trâm, để làm nhạc nền của phần mở đầu hội thoại kịch “Nẻo Nguồn Hồi Tưởng”, là một phần trong luận án tiến sĩ của cô Quỳnh Trâm. Ông còn có những bài “Mùa xuân nhớ mẹ”, khi ông nghe tin bà qua đời tại Việt Nam, ngay trong ngày xuân ông ở trên đất khách. Hoặc những nỗi buồn của kiếp người ly hương, vất vả mưu sinh thưở ban đầu được ông cảm tác thành “Vợ chồng share phòng”, hay những ngậm ngùi khi về thăm quê nhà với “Về lại quê xưa”, “Chiều trên bến sông”, “Việt kiều về quê”….

Ông Huỳnh Văn Trạch tâm sự: “Giống như phần lớn các ca khúc của tôi mà giai điệu và ca từ được vang lên trong đầu khi hồn đầy xúc động, bài ‘Mùa xuân trên thành phố Sài Gòn’, tôi sáng tác nhân dịp về thăm nhà vào năm 1993, sau khi mẹ tôi mất 1 năm. Vào ngày trước khi về lại Mỹ, tôi có đi dọc theo con đường có Dinh Độc Lập. Và đường Lê Thánh Tôn, là nơi từng đóng quân của sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Nay, nơi con đường này, ăn mày tụ tập nhiều lắm. Chính nghĩa nào mà lại để ra điều này trên quê hương tôi?…

“Chân ta bước lê trên đường phố Sài Gòn. Lòng ngẩn ngơ buồn tênh như thể xác không hồn. Khi lặng nhìn bên vỉa hè, biết bao người đang rách rưới tanh hôi. Chính nghĩa nào đã giẫm nát dân tôi….

“Những ca khúc tôi viết, thường là chuyện thật hết. Đó toàn là những chuyện dâu biển trong cuộc đời. Chỉ là những chuyện buồn, được tôi lưu lại bằng âm nhạc, và trong những lần gặp gỡ bạn bè, chiến hữu xưa, tôi lại ôm đàn ngân nga hát tặng mọi người”.

Bởi với ông, những ký ức đớn đau mà ông trải qua, là một trong những nỗi đau mà thế hệ ông và trước đó không thể nào quên. Chúng cần được truyền lại cho con, cháu sau này. Để các em, các cháu hiểu hơn vì sao cha ông chúng phải bỏ nước ra đi. Để những bạn trẻ lớn lên trong hạnh phúc nơi quê người, biết trân quý giá trị của tự do, mà phấn đấu hơn trong cuộc sống. Và để sau này, các bạn trẻ có thể làm được nhiều điều hữu ích, giúp cho quê hương Việt Nam thật sự an bình, tự do, khi không còn chế độ cộng sản bạo tàn! - (BH)

Nguồn: http://www.viendongdaily.com/dong-thoi- ... ECxIu.html

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Đại Kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Một Bảo Vật Lịch Sử.

Đinh Lâm Thanh
Một cơ hội đặc biệt vì đây là lần đầu tiên, hai bảo vật của Việt Nam Cộng Hòa xuất hiện cùng lúc trong ngày Liên Hiệp Quốc kiểm điểm tình trạng nhân quyền của cộng sản Việt Nam tại Genève. Đó là lá Quốc Kỳ lớn treo trên chiến hạm của Hải Quân Việt Nam trước năm 1975 và Đại Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa, bảo vật của Tòa Đại Sứ VNCH tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn (Mỹ) đã xử dụng đến ngày cuối cùng 30.4.1975.
Image Bảo vật Đại Quốc Kỳ chiều ngang 15 Ft (5 mét), chiều dài 25 Ft (8 mét), cân nặng khoảng gần 7 Kg và được dệt bằng một loại lụa đặc biệt. Đại Quốc Kỳ nầy được một nhân viên tòa Đại Sứ cất giữ từ 33 năm qua kể từ ngày cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam. Mãi đến ngày 07.3.2008, Đại Kỳ đã được trao lại cho Bảo Tàng Viện Fresno Discovery Museum ở California, USA.

Đại Kỳ VNCH lịch sử đại diện cho Chính Phủ và Nhân Dân Việt Nam tại Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ trước ngày 30.4.1975, đã được xử dụng trong đại lễ, tiếp đón nhiều vị quốc khách, nhiều chính khách tên tuổi trên thế giới. Đại Kỳ đã một thời biểu trưng cho sức mạnh hào hùng, ý chí bất khuất và tinh thần yêu chuộng Tự Do Dân Chủ của nhân dân miền Nam trước 1975.

Đây là một báu vật của dân tộc Việt Nam, của cộng đồng người Việt xuất hiện lần đầu tại Âu-Châu, chúng tôi kêu gọi các đoàn thể, tổ chức cũng như cộng đồng dành ngày 08.5.2009, đến biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc để:

1. Cùng đứng chung dưới Đại Kỳ lịch sử để chứng minh cho thế giới biết rằng nước Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tồn tại trên hành tinh nầy và người Việt hải ngoại ngày đêm đang tranh đấu để mai kia sẽ cùng Đại Kỳ trở về kiến thiết quê hương.

2. Cùng đứng chung dưới Đại Kỳ lịch sử để đặt vấn đề Nhân Quyền với đảng cộng sản cũng như đỏi hỏi LHQ phải có biện pháp với nhà nước Việt Nam hiện nay là một tập đoàn đang chà đạp lên quyền sống, quyền làm người của 80 triệu dân trong nước.
Đáp lời mời của Hội Văn Hóa Người Việt Tự Do, một phái đoàn thanh niên từ Hoa Kỳ sẽ rước Đại Kỳ qua Genève cùng tham dự ngày kiểm điểm nhân quyền trước trụ sở Liên Hiệp Quốc.
Image Chúng tôi xin chân thành cảm tạ các bạn trẻ, bảo tàng viện Fresno Discovery Museum California đã chấp thuận yêu cầu của chúng tôi.

Cầu xin hồn thiêng sông núi và vong linh những anh hùng đã xả thân dưới màu cờ, hãy phù hộ cho cuộc tranh đấu của chúng ta chóng đến ngày thành công.

YUP! Đã đến lúc Tem Cờ Vàng VNCH lại xuất hiện thêm lần nửa trên toàn lãnh thổ của Hoa Kỳ và được nhân dân Hoa Kỳ tôn trọng xử dụng tem một cách công khai và chính nghĩa để trả lại sự thật cho VNCH!

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Kính Mời Buổi Ra Mắt Sách Đầy Ắp
Tình chiến Hữu. Của Thời Binh Lửa!


Thứ bảy 8 tháng 10 năm 2011 vào lúc 1:30 PM tại
Trung tâm VIVO. 2260 Quimby Rd, San Jose , CA 95122.


Trân trọng kính mời Quý Vị đến tham dự buổi ra mắt sách "Nhớ Về Người Lính Năm Xưa" đẻ nghe chính tác gỉa Đoàn-Phuơng-Hải ,cựu Thiếu-Ta Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn 11.
Dù kể lại trận đánh khốc liệt tại Đồi Charlie và cuối cùng cả đơn vị đành gạt nước mắt khi phải đẻ lại thân xác người anh cả của Tiểu Đoàn
đã anh dũng hy sinh đó là cố Đại Tá Nguyễn-Đình-Bảo.

Image

Image
Đại Úy Đoàn Phương Hải và Bộ Chỉ huy Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù tại Kompong Cham ( Kampuchia ) 1970.
Từ trái: Trung Úy Y sĩ Trọng, Đại Úy Nguyễn Viết Thanh ( tự Thanh Tây lai ), Thiếu Tá Phạm Kim Bằng,
Thiếu Tá Lê Minh Ngọc ( Tiểu đoàn trưởng ) Đại Úy Đoàn Phương Hải

Image
Từ trái :Đại Úy Đoàn Phương Hải và Trung Tá Nguyễn Đình Bảo tại căn cứ Charlie ( Pleiku ) 1972

Image
Trung Tá Duffy, cố vấn liên lạc Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Le Saint Michel 2011 tai Paris

01-10-2011 lễ Saint Michel (Thánh Tổ binh chủng Nhảy Dù) đã được UNP "Hội Nhảy Dù Pháp" và UEP "Hội Nhảy Dù Âu Châu" tổ chức trọng thể tại Paris.
Sau phần diễn hành trên đại lộ Champs Elysées là phần đặt vòng hoa trước mộ những chiến sĩ vô danh tại Khải Hoàn Môn và ký sổ lưu niệm.
Buổi lễ có sự hiện diện của Tổng Trấn vùng Paris và đại diện chính phủ Pháp cũng như các cựu Nhảy Dù VNCH, Ba Lan, Anh Quốc, Đức, Bỉ, Mỹ, Liên Sô v.v....

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Sau 36 năm, tìm thấy hài cốt Chuẩn Tướng Ðiềm, Ðại Tá Võ Toàn

Sĩ quan Sư Ðoàn 1 Bộ Binh lâm nạn tháng 3/75 trên đường bay từ Ðà Nẵng
Huy Phương & Nam Phương

- Suốt nhiều năm tìm kiếm, gia đình của cố Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm và cố Ðại Tá Võ Toàn đã tìm thấy hài cốt của họ với các tấm thẻ bài đầy đủ họ tên và số quân.

Image
Di ảnh Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm khi còn mang cấp bậc đại tá. (Hình: Gia đình cung cấp)

Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm là tư lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh. Ðại Tá Võ Toàn là trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 1 Sư Ðoàn 1 Bộ Binh. Cả hai sĩ quan này thiệt mạng trong một chuyến bay vào đêm 28 tháng 3, 1975 từ Ðà Nẵng dự trù về Qui Nhơn chuẩn bị phòng tuyến mới để cầm cự khi Ðà Nẵng thất thủ và Quảng Nam không còn an toàn.

Theo nguồn tin của gia đình Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm và Ðại Tá Võ Toàn, tìm ra địa điểm hài cốt của họ mới cách đây khoảng 3 tuần lễ tại một địa điểm sát bờ biển thuộc làng Lá Ngái, thôn An Hải, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Ðược sự giúp đỡ của người dân địa phương đã chôn cất những tử thi này, gia đình đã dễ dàng kiếm ra địa điểm. Trước đó, gia đình Chuẩn Tướng Ðiềm đã tổ chức rất nhiều lần tìm kiếm nhưng không thành công.

Khi khai quật lên, ngoài hài cốt của Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm (còn thẻ bài và một lá bùa trong túi áo- được gia đình xác nhận), Ðại Tá Võ Toàn (còn thẻ bài và một nhẫn cưới), còn có hài cốt một thiếu úy (có cấp bậc trên cổ áo), một phi công (mặc đồ bay), một phụ nữ và một em bé.
Image
Thẻ bài của Chuẩn Tướng Ðiềm. (Hình: Gia đình cung cấp)

Ðiều này trùng hợp với ký ức của cựu Trung Tá Lê Ngọc Bình, người lái chiếc máy bay bị rớt, cho biết trong số người trên máy bay ngoài hai sĩ quan Sư Ðoàn 1 còn có nhiều người quá gian tránh pháo kích.

Trong cuộc nói chuyện với báo Người Việt trưa ngày 7 tháng 10, ông Lê Ngọc Bình nói rằng máy bay do ông lái bay trong sương mù dày đặc, chở nặng (khoảng 16 người gồm cả quân và một vài người là thân nhân không quân chạy nạn) không bay cao được và bay dọc theo bờ biển. Tới một khu vực thuộc tỉnh Quảng Ngãi thì bị bắn và máy bay rơi xuống biển.

Ông Bình, nguyên phi đoàn trưởng phi đoàn trực thăng 275 của Sư Ðoàn 1 Không Quân VNCH, kể rằng buổi tối 28 tháng 3 năm 1975, phi trường Ðà Nẵng bị pháo kích dữ dội. Ông được lệnh dời phi đoàn sang một phi trường nhỏ ở Non Nước lâu nay không sử dụng, để tránh pháo kích và “đợi êm quay lại chứ không định đi đâu”. Ðược một ít lâu thì có mấy xe díp chạy tới, ngừng lại. Ông thấy có Chuẩn Tướng Ðiềm, Ðại Tá Toàn và một số sĩ quan cao cấp khác.

Dịp này, Tướng Ðiềm liên lạc với tỉnh trưởng Bình Ðịnh thì được cho hay nơi đây vẫn còn an toàn nên ông muốn được vào đó để lập tuyến phòng thủ mới. Ông Bình trình bày rằng trời mưa và sương mù nặng nên bay rất khó khăn, nguy hiểm. Trong khi đang thảo luận thì “dân trong làng gần đó túa ra nói xe tăng Cộng Sản đang đi về hướng này”.

Vì vậy mọi người cùng lên máy bay và quyết định bay dọc biển về hướng Qui Nhơn ở phía Nam.

“Trên máy bay có một y tá, một phụ nữ với 4 đứa con nhỏ là những người quá giang tránh pháo kích ở Ðà Nẵng, tất cả ngồi đầy máy bay tới 16 người. Máy bay bay thấp vì nặng”. Ông Bình kể.
Image
Thẻ bài và nhẫn cưới của Ðại Tá Võ Toàn. (Hình: Gia đình cung cấp)

Máy bay bay ngang qua Chu Lai bị bắn, may không bể bình xăng, nên không mất cao độ. “Nhưng khi chưa tới Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, thì bị bắn lên. Nghe tiếng súng nhỏ bắn rồi máy bay không còn điều khiển được và rớt xuống nước”.

Theo lời ông Bình kể “Ðụng nước, máy bay trực thăng lật ngửa. Tôi cố sức ra được, trồi lên mặt nước, mang giày nặng không bơi được nên lặn xuống cởi giày. Trồi lên lại thì thấy ông Ðiềm cũng nổi lên, còn mang áp giáp. Tôi la lớn kêu ông cởi áo giáp. Cũng thấy ông Toàn nổi lên.”

Lúc này, ông nói đã uống rất nhiều nước biển, rất mệt lại đêm tối không nhìn thấy gì, “sóng đánh rầm rầm, mạnh ai nấy đi”. Ông ráng bơi được vào bờ, rất mệt, bám được mô đá nhưng lại bị sóng đánh dạt ra ba lần mới bám được một chỗ, tay sứt móng máu chảy rất nhiều. Ông không thấy ai bơi vào như ông, lúc này ông đoán khoảng 11 tới 12 giờ đêm.

Ông Bình kể tiếp là ông đi dọc biển một hồi thì thấy một máy bay trực thăng trước mặt. Ông chạy tới, may nhờ một người trong nhóm người này là trung úy thuộc cấp cũng thuộc phi đoàn của ông nhìn ra ông nên đã không bị bắn.

Chiếc máy bay này đã đáp xuống vì sương mù dày đặc không bay nổi.

Khi họ đang bàn tính và chờ bớt sương mù thì bị một nhóm quân cộng sản tới tấn công. Nhóm của ông đã bắn trả, rút lên máy bay và bay đi kịp. Cố gắng lên được cao độ 2,000 feet, trời bớt sương mù và lúc này cũng đã khoảng 7 giờ sáng ngày hôm sau. Máy bay ra khỏi mây và bay về được tới phi trường Phù Cát.

“Tôi nghĩ là ông Chuẩn Tướng Ðiềm và những người kia đều đã chết đuối. Họ đã uống nhiều nước biển” nên mất sức, không thể chống chọi với sóng biển.

“Hai đêm qua tôi đã không ngủ được khi nghĩ đến chuyến bay hôm đó”. Ông Bình nói.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

TĐ4/TQLC -
Đêm Hạ Lào ! Đêm sao dài quá!


MX Trần Vệ
Suốt cuộc chiến ở Cambodia, từ lúc vượt biên giới đổ bộ ở Neak-Luong cho đến khi tiến chiếm Prey-Veng, rồi về đóng quân ở Ban-Nam, Tiểu đoàn 4 Kình Ngư như dẫm chân hết khu phía Đông của sông Mekong. Lúc bấy giờ tôi giữ chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 4. Cuối cuộc chiến, Tiểu đoàn 4 được lệnh hành quân lục soát dọc bờ sông Mekong hướng về phía Nam. Trong một trận chiếm mục tiêu ở cuối làng thì tôi bị thương vì mảnh lựu đạn gài. Tôi được tải thương về Hồng Ngự, sau đó chuyển về hậu cứ Vũng Tàu. Vì vết thương nhẹ nên chỉ một tuần sau tôi được xuất viện. Sống cuộc đời lính, đôi khi cái rủi lại là cái may. Tôi được nghĩ dưỡng thương gần 3 tuần lễ, phất phơ lên xuống Vũng Tàu - Sài Gòn thăm gia đình, mấy khi có được một cái phép ngon lành như thế trong khi Tiểu đoàn phải đi hành quân xa.

Hôm ấy, trong khi đang thưởng thức gió biển mát mẻ ở Bãi Sau Vũng Tàu thì tôi được Đại úy Đặng Văn Học, chỉ huy hậu cứ Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến chạy ra báo Tiểu đoàn đã về hậu cứ. Sau một ngụm bia, Học vỗ vai tôi:

- Ông già dẫn Tiểu đoàn về rồi, ông cho gọi mày gấp.

Tôi vội hỏi:

- Ổng có khỏe không, Tiểu đoàn mình có khá không?.

Học cười ha hả:

- Ông già kỳ này đen thui à, có lẽ bắt màu của mấy em Cambodia, ông hỏi bộ mày bị mấy em Vũng Tàu cầm chân sao không thấy ra hành quân ?.

Tôi cũng cười:

- Mình là thương binh mà.

Ông già là Thiếu tá Võ Kỉnh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến. Ông tuy lớn tuổi (hồi ấy đã gần 5O trong khi bọn tôi chỉ từ 25 đến 3O tuổi) nhưng rất trẻ trung. Chúng tôi hay đùa ông già chịu chơi, khi hành quân thì rất gan dạ, khi về hậu cứ hễ chúng tôi đâu thì ông đó. Ngoài ra ông có ngón nhảy Tango, đưa em “ter” rất sát, chúng tôi cố học mãi nhưng không theo kịp.

Không khí ở Tiểu đoàn hôm nay có vẻ nhộn nhịp, lính tráng ra vào tấp nập trông như ngày Tết. Tôi bước vào Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn thì thấy ông già đang đứng nói chuyện với các sĩ quan Đại đội trưởng. Tôi chưa kịp chào thì ông đã đưa tay ngoắc:

- À thằng Vệ đây rồi ! Sao, đã chưa mày, có em nào mới không ?.

Tôi chào ông xong, xoa hai tay:

- Thưa Đại bàng đâu có, bị thương phải dưỡng bệnh suốt mấy tuần.

Hòa râu tức Nguyễn Đăng Hòa, Tiểu đoàn phó, đứng bên cạnh cười nói:

- Đâu mày đưa vết thương tao xem.

Tôi vén ống quần lên, chỉ thấy mấy vết lấm chấm nhỏ do mảnh đạn đã lành. Từ Đức Thọ, Đại đội trưởng Đại đội 3 xuýt xoa:

- Chà, vết thương nặng dữ, xin ông già cho Vũng Tàu nghĩ thêm hai tháng nữa !.

Tất cả đều cười ồ, tôi không biết làm sao hơn đành cười theo. Đợi cho tất cả dứt tiếng cười, ông già lấy giọng nghiêm:

- Thôi được rồi, kỳ này cho chú về giữ Trưởng ban 3 thay cho Đại úy Trần Văn Chí. Đại úy Chí coi Đại đội chỉ huy, tôi đã ra lệnh cho Ban 1 rồi, ngày mai bàn giao.

Tôi hỏi:

- Thưa Đại bàng, kỳ này Tiểu đoàn nghỉ lâu không?.

Ông già lắc đầu:

- Đâu có nghỉ gì, Tiểu đoàn chỉ về hậu cứ 2 tuần để bổ sung, chuẩn bị hành quân. Tôi đã ra lệnh cấm trại 1OO% rồi.

Thế là Tiểu đoàn chuẩn bị quân số và vũ khí. Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn và các Đại đội làm việc suốt ngày. Hai tuần sau, Tiểu đoàn được không tải ra Huế. Thời tiết của Huế đang vào mùa nắng, mà cái nắng ở Huế thì rất gắt. Tiểu đoàn lại được di chuyển bằng quân xa ra Đông Hà, một quận ở phía Bắc tỉnh Quảng Trị. Lệnh hành quân kỳ này rất bí mật , chúng tôi cũng chưa biết đi hành quân ở vùng nào, lại được lệnh huấn luyện binh sĩ đổ bộ cho nên có người đoán sẽ đổ bộ miền Bắc. Do đó ai cũng bàn tán xôn xao, vẻ mặt người nào cũng lộ vẻ nôn nao. Thủy Quân Lục Chiến là lực lượng Tổng trừ bị, đi khắp 4 vùng chiến thuật, nếu kỳ này có đổ bộ miền Bắc thì cũng không sao, lại thêm một chuyến vui chơi mà thôi. Chúng tôi lại nói chuyện tiếu lâm về miền Bắc, nào là dịp này được làm quen gái Bắc, có người lại nói sẽ đi 36 phố phường...

Hôm ấy tôi đang ngồi thảo kế hoạch huấn luyện đợt 2 thì có lệnh lên Lữ đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến lãnh bản đồ. Tôi sắp bản đồ thì thấy trải dài theo quốc lộ 9 lên Khe Sanh, Lao Bảo và một lô bản đồ qua đến Tchépone thuộc Nam Lào, dọc theo sông Tchépone. Tuy nhiên vẫn chưa có lệnh hành quân, chỉ nhận được lệnh ngày N giờ G sẽ di chuyển bằng quân xa lên Khe Sanh.

Con đường quốc lộ mang số 9 do Pháp làm hồi trước, trải đá chạy dọc theo các triền núi, qua thung lũng, vì đất núi nên khi xe chạy bụi đỏ mịt mù, chúng tôi phải lấy khăn quấn quanh mặt, nhưng khi tới nơi thì ai cũng lấm lem hết. Tiểu đoàn đến Khe Sanh thì trời sắp tối, được trú ngụ ở một căn cứ cũ của quân lực Hoa Kỳ để lại. Khe Sanh là một làng nhỏ cách Lao Bảo giáp giới với Lào khoảng 6-7 cây số. ở đây có 2 đồn điền cà phê của người Pháp để lại, giờ đây bỏ hoang vì chủ đã về nước. Vào năm 1968, Khe Sanh nổi tiếng vì những trận đánh giữa quân lực Hoa Kỳ và Bắc Việt. Nay quân đội Mỹ đã rút khỏi Khe Sanh, để lại những căn cứ hoang tàn đổ nát. Sau khi đi họp với Tiểu đoàn trưởng ở Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 147 tôi được biết lực lượng Thủy Quân Lục Chiến làm trừ bị cho Sư đoàn 1 Bộ binh đang tiến chiếm Tchépone.

Kế hoạch của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa là tiến chiếm Tchépone, tiêu diệt địch và rút lui chứ không chiếm đóng. Nổ lực chính là Sư đoàn 1 Bộ binh, Dù và Biệt Động Quân án ngữ hướng Tây và Tây Bắc. Vì là lực lượng trừ bị cho nên trong giai đoạn đầu chúng tôi được thong dong ở Khe Sanh tắm suối và nếm những trái cà phê đỏ chín nặng trĩu ở các cành cây cà phê. Tuy nhiên với chức vụ trưởng Ban 3 Tiểu đoàn, mỗi sáng tôi phải đi bay C&C quan sát, khi thì đi máy bay của Không quân Việt Nam, khi đi máy bay Mỹ. Tôi và Chính rỗ (người lính Truyền tin mang máy cho tôi) sáng nào cũng lên Lữ đoàn chờ máy bay rồi đến gần tối mới trở về Tiểu đoàn. Cũng nhờ đi bay với cố vấn Mỹ, tôi mới rõ lối đánh giặc của anh mũi lõ. Rất chán! Theo hiệp ước không biết ký ở đâu, máy bay quan sát của Mỹ chỉ bay đến dãy núi Koroc mà thôi, tức là chỉ qua khỏi Lao Bảo độ vài cây số. Tôi cự nự với thằng cố vấn hoài:

- Máy bay đến đây thì thấy cái đếch gì ? Việt cộng nó ở tuốt bên kia!.

Thằng Mỹ cười hề hề:

- Sorry, tao nhận được lệnh không được qua bên đó .

Chỉ có máy bay của Không quân ta, tôi mới thoải mái để quan sát. Lúc ngồi trên máy bay tôi không thấy ngán nhưng về rồi nghĩ lại thấy ớn da gà. Bởi vì rừng Hạ Lào rậm rạp, cây cối xanh dờn, bay chập chờn giữa cảnh trời bao la chẳng khác nào máy bay giấy, chỉ một phát phòng không của Việt cộng là rồi đời. Phe ta lại chơi bạo, hễ thấy phòng không bắn lên thì đảo xuống để quan sát cho rõ.

Sáng hôm đó, tôi lên Bộ Chỉ huy Lữ đoàn thì được nghe tin một Tiểu đoàn của Sư đoàn 1 Bộ binh do Thiếu tá Trần Ngọc Huế, khóa 18 Võ bị Đà Lạt chỉ huy đã đặt chân lên Tchépone và đang quần với địch. Trong khi đó Lữ đoàn 2 Nhảy Dù của Đại tá Thọ đụng mạnh với một Sư đoàn Cộng sản Bắc Việt. Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân ở Tây Bắc chạm địch cấp Trung đoàn. Tôi nhận được lệnh: Lữ đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến gồm các Tiểu đoàn 4, 2 và 7 chuẩn bị trực thăng vận cùng Bộ Chỉ huy Lữ đoàn và Tiểu đoàn 2 Pháo binh đến án ngữ cho các đơn vị Bộ binh, Biệt Động Quân và Nhảy Dù rút quân. Lại được tin Bộ Tư lệnh Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến sẽ từ Sài Gòn không vận ra đóng bản doanh tại Khe Sanh để chỉ huy hành quân. Ngoài ra còn có Bộ Tư lệnh Tiền phương của Quân đoàn 1, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh, Sư đoàn Dù, Liên đoàn 21 Biệt Động Quân và Lữ đoàn 1 Thiết kÿ.

Lực lượng đổ quân của Thủy Quân Lục Chiến do Đại tá Hoàng Tích Thông, Lữ đoàn trưởng chỉ huy với thành phần như sau:

- Tiểu đoàn 2 Pháo binh do Thiếu tá Đặng Bá Đạt làm Tiểu đoàn trưởng.

- Tiểu đoàn 2 Trâu Điên của Thiếu tá Nguyễn Xuân Phúc.

- Tiểu đoàn 4 Kình Ngư của Thiếu tá Võ Kỉnh.

- Tiểu đoàn 7 của Thiếu tá Phạm Nhã.

Các đợt đổ quân đều tiến hành tốt đẹp, có lẽ địch chưa phát hiện được vị trí của ta. Sau khi đáp xuống đồi 55O của Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến, Tiểu đoàn 4 Kình Ngư chúng tôi tiến về hướng Đông Bắc. Trên đường di chuyển chúng tôi phát hiện được nhiều đường mòn chằng chịt. Nói là đường mòn chứ thật ra là những con đường đất đỏ lớn cỡ xe Molotova của quân Bắc Việt di chuyển. Đồng thời đường lên các núi cao đều có bậc cấp để đi cho dễ dàng, chứng tỏ Cộng sản Bắc Việt thiết lập để Bộ đội và dân công dùng. Các nơi đóng quân của Thủy Quân Lục Chiến vẫn yên tĩnh, nhưng qua thông tin của Lữ đoàn chúng tôi được biết Sư đoàn 1 Bộ binh và Thiết kÿ bị Bắc Việt truy kích nặng nề khi rút lui theo đường số 9. Trong khi đó Bộ Chỉ huy Lữ đoàn Dù của Đại tá Thọ bị địch tràn ngập, đồng thời Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân cũng bị tấn công dữ dội. Bộ Tư lệnh Tiền phương phải xin B.52 trải thảm để ngăn các đợt tiến quân của Cộng sản Bắc Việt.

Sáng hôm sau, khi Tiểu đoàn 2 Pháo binh khởi sự bắn yểm trợ và các điểm nghi ngờ thì đại pháo 13O ly của địch cũng hướng về phía ta. Đạn rớt trên các triền núi của Bộ Chỉ huy Lữ đoàn, địch đã đánh hơi được các điểm đóng quân của Thủy Quân Lục Chiến. Tôi đang liên lạc với Lữ đoàn thì nghe trên đầu có tiếng máy bay, tôi vội qua tần số không trợ để liên lạc thì biết đó là máy bay quan sát của Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Tôi vội báo là đừng bay lên hướng Bắc vì hôm qua khi đổ quân tôi thấy phòng không địch ở hướng đó bắn lên. Nhưng đã trễ, máy bay đã vượt qua đầu chúng tôi, chưa kịp quay trở lại thì phòng không đã bắn lên rồi. Nhìn chiếc máy bay lượn qua lượn lại giữa những lằn đạn, tôi lắc đầu ái ngại cho số phận của các đồng đội. Quả nhiên qua tần số không trợ, tôi biết tin Trung úy Pháo binh (tôi không còn nhớ tên) bị thương. Cũng may máy bay đã trở lại kịp và bay về hướng Khe Sanh.

Tôi đang còn nhìn theo chiếc L.19 thì âm thoại viên đến báo:

- Trình Đại úy, Trung úy Thọ, Đại đội trưởng Đại đội 3 muốn gặp.

Tôi cầm máy hỏi:

- Cái gì đó Tango ?.

- Trình Vũng Tàu, con đầu của tôi quan sát thấy địch, xin Vũng Tàu cho mấy tô phở.

- OK, muốn ăn phở ở đâu cho biết.

Tôi gọi pháo bắn vào các điểm Thọ vừa cho, phía bên trái Đức, Đại đội trưởng Đại đội 4 cũng xin pháo. Tôi chuyển bớt pháo qua điểm Đại đội 4 xin. Các đợt pháo của ta vừa ngưng thì có tiếng “tong tong” qua đầu, tôi la lên “Pháo kích” để tất cả chui hầm. Rồi 2 tiếng nổ ở sau lưng chúng tôi, tôi nhìn qua đồi 55O của Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 147 thấy 2 cột khói bốc lên. Địch đã phát hiện điểm pháo của ta. Suốt ngày hôm đó, ta và địch đều dùng pháo để thăm dò nhau. Sau này tôi được biết pháo địch đặt trong lòng núi, ở các hốc đá lớn nên rất khó phát hiện và tiêu diệt. Còn căn cứ hỏa lực của ta thì trống trải, lại ở trên cao nên rất dễ thấy mà còn không di chuyển được nên càng dễ ăn pháo địch. Rút kinh nghiệm này, trong các trận đánh sau như Quảng Trị Bộ Chỉ huy Lữ đoàn không đóng chung với Pháo đội nữa mà để Pháo đội ở riêng và di chuyển khi cần. Trời tờ mờ sáng thì Đại đội 3 báo cáo địch đã tiến sát, tôi cho gọi Pháo và báo cáo với Đại bàng Kỉnh. Tiểu đoàn trưởng ra lệnh tác xạ và yểm trợ 81 ly cho Đại đội 3. Vừa nói chuyện với Thọ xong thì Đức báo cáo nghe tiếng động cơ nổ, tôi vội la lên trong máy:

- Coi chừng chiến xa địch đó, cho ông già 72 sẵn sàng. Tiếng Đức trả lời:

- Vũng Tàu yên tâm, chúng tôi đã sẵn sàng.

Nói xong thì tôi nghe tiếng M.72 nổ rầm rầm từ phía Đại đội 4. Tiểu đoàn trưởng bảo tôi xin pháo thêm và nhắc:

- Vũng Tàu nhớ kéo pháo sát một chút.

Pháo binh bắn rất chính xác và gần, nhiều lúc mảnh đạn còn văng đến chỗ chúng tôi nữa.

Sau đợt pháo thứ hai thì Đức báo cáo với giọng hổn hển:

- Vũng Tàu ơi! tôi hạ được một con cua rồi.

- OK, tôi báo Đại bàng thưởng cho.

Tôi trình lại với Tiểu đoàn trưởng và báo cáo về Lữ đoàn. Ta và địch quần nhau suốt ngày, Đức hạ thêm 2 chiến xa nữa, trong khi đó bên Thọ địch bám rất sát. Đến 5 giờ chiều thì tình hình bắt đầu găng, bất chấp pháo binh của ta, chiến xa địch cùng bộ binh của chúng tấn công liên hồi nhưng bên ta đều chận đứng được. Phía Bộ Chỉ huy Lữ đoàn bị pháo kích liên miên, ta bị hỏng mất 2 khẩu 1O5 ly. Tôi và Chính rỗ cả ngày ngồi dưới hố, mà cái hố quá chật nên chân chúng tôi phải đan lấy nhau. Trong tiếng đạn nổ của súng thường và pháo, tôi bỗng nghe hai ba tiếng nổ rất gần, hình như ngay trên đầu của Đại đội 3. Tôi check lại với Bộ Chỉ huy Lữ đoàn để xác nhận pháo của ta hay địch thì vừa lúc đó có tiếng nổ dồn dập trên đầu chúng tôi, bên trái rồi bên phải. Tôi la lên trong máy:

- Đại bàng Tango, đừng bắn trên đầu chúng tôi, ngưng tác xạ đi.

Tiểu đoàn trưởng Võ Kỉnh cũng la bên tôi:

- Vũng Tàu, mày bảo Pháo binh ngưng bắn ngay!. Trưởng ban 3 Lữ đoàn cũng la lên trong máy:

- Tao đã ngưng rồi, pháo địch đó!.

Thôi rồi, đúng là pháo 13O ly của địch với tiếng nổ ầm ầm chát chúa trên đầu chúng tôi, nghe long cả óc. Bỗng tôi nghe bên tai:

- Đại úy ơi, em bị thương rồi!.

Tôi vội quay lại Chính rỗ máu me đầy mình, văng cả lên người tôi, hình như chân nó cũng bị mà chân hai đứa lại đan nhau nên tôi không rõ mình có bị hay không ? Trong khi đó thì Đại đội 3 và 4 đều bị địch tràn lên, ta và địch đang bắn tay đôi, gần nhau trong gang tấc. Một loạt 13O ly nữa lại nổ, tình hình không tốt rồi. Chúng tôi được lệnh “cho chó ăn chè” nghĩa là rút lui về Bộ chỉ huy Lữ đoàn. Trong bóng tối, vừa cố né mảnh đạn pháo tôi vừa thì thào bên tai Chính rỗ:

- Mày chạy được không, ta rút đi thôi.

Chính rỗ lắc đầu:

- Đại úy đi đi, em không đi được nữa.

Tôi cố kéo Chính rỗ lên khỏi hố nhưng không được, vừa lúc đó pháo lại nổ liên tục, cuối cùng đành xách cái máy truyền tin vọt đi, để nó ở lại. Đến đây, tưởng cũng nên để vài hàng nói về Chính rỗ, người giữ máy truyền tin của tôi, kẻ đã ở lại vĩnh viễn tại Hạ Lào:

Chính rỗ con nhà nghèo, cha mất sớm, mẹ phải đi bán chè nuôi con cho nên Chính thất học. Nó đi bụi đời rất sớm nhưng rất có hiếu với mẹ, kiếm được đồng nào là đưa về cho mẹ. Đến năm 18 tuổi Chính đăng lính Thủy Quân Lục Chiến, vào lính nó lại rất kỹ luật, thi hành lệnh cấp trên răm rắp nên được thương cho đi học Truyền tin. Sau khóa Truyền tin nó về mang máy cho tôi và thường tâm sự là mẹ già rồi nó phải nuôi mẹ nên không lấy vợ, dù có con nhỏ bán nước mía ở đầu chợ Vũng Tàu rất thương nó. Nó bảo:

- Đại úy à, đời lính nay đây mai đó, lấy vợ thêm khổ.

Tôi an ủi:

- Khổ gì mày, vậy mày để con gái ở giá thì họ không khổ à ?.

Nó cười hề hề:

- Đại úy nói cũng có lý, phen này về, em đem con nhỏ ra mắt bà già xem sao.

Thôi rồi, Chính rỗ ơi! Đã muộn rồi! mày không còn cơ hội để đạt giấc mộng cỏn con đó nữa. Thôi hãy an giấc ngàn thu ở xứ Hạ Lào xa lạ chết chóc này. Và cuộc chiến còn kéo dài thì rồi con gái họ cũng ở giá mà thôi !

Lên đến Bộ Chỉ huy Lữ đoàn, cảnh tượng còn thương tâm hơn: các khẩu pháo bị hỏng nằm nghiêng ngã, khắp nơi bề bộn những thùng đạn và bao cát. Tôi vào hầm chỉ huy nhận lệnh thì thấy toàn thể Bộ Chỉ huy cũng đã chuẩn bị gọn gàng. Đại tá Lữ đoàn trưởng nói rất bình tỉnh:

- Ta chỉ án ngữ cho các đơn vị bạn rút, giờ ta cũng rút về thôi, các anh gắng chu toàn con cái.

Tôi bước ra cửa hầm thì gặp Chuẩn úy Phạm Hiệp Sĩ, nó mừng rỡ ôm chầm lấy tôi. Sĩ học cùng khóa 19 với tôi nhưng vì kỹ luật nên bị ra trường sớm với cấp bậc Trung sĩ, mặc dù nó học rất giỏi. Ra trường rôi cũng vẫn cái tính ngang tàng đi hai ba binh chủng, sau cùng về Thủy Quân Lục Chiến và vào Tiểu đoàn 4. Ông già thấy Sĩ và tôi học cùng khóa nên cho nó về Đại đội 4 của tôi hồi tôi chưa bị thương. Vẫn chứng nào tật ấy, đi hành quân thì rất giỏi, mà về hậu cứ thì lại say sưa, vô kỹ luật. Tôi cho Sĩ giữ chức vụ Trung đội trưởng, trong khi Sĩ chỉ mang cấp bậc Trung sĩ. Cuối cùng tôi xin ông già cho Sĩ đi học khóa Sĩ quan và đã ra Chuẩn úy về Đại đội Viễn thám. Sau cái bắt tay, tôi bảo Sĩ:

- Tình hình này chắc phải rút quân, và có lẽ sẽ lộn xộn đó, mày nhớ chạy theo hướng Koroc, có đơn vị bạn đón ở đó. (Theo kế hoạch rút lui, Tiểu đoàn 3 Sói Biển của Thiếu tá Nguyễn Năng Bảo để nằm ở dãy Koroc để đón phe ta với sự yểm trợ của Tiểu đoàn 3 Pháo binh của Thiếu tá Trần Thiện Hiệu).

Tôi chưa kịp nói gì nhiều thì pháo địch đã tới tấp nổ trên đồi. Lính ở đâu ùn ùn kéo tới làm tôi cũng dạt theo. Chiến xa địch cũng bám sau lưng ta để tránh B.52 vì lúc đó bom nổ rất gần. Trời tối nên chẳng thấy đường, nhiều lúc ngã lăn, tôi bị trượt theo sườn đồi. Đến khi xuống tới đất bằng mới thấy toàn là rừng cây rậm rạp, cây nào cây nấy to cả người ôm. Lúc bấy giờ binh sĩ ta rất đông, cả hơn trăm người, tôi không nhận diện được đơn vị nào. Kẻ nói người la inh ỏi, người bảo đi hướng này, kẻ chỉ đi lối kia, không ai nghe ai cả. Thấy thế tôi la lớn lên:

- Tôi là Đại úy Trần Vệ, trưởng Ban 3 Tiểu đoàn 4 đây, tất cả hãy im lặng để nghe tôi nói.

Tất cả đều im, tôi dặn dò:

- Vì trời tối , tất cả hãy bám theo nhau mà đi, không được nói chuyện. Tuyệt đối giữ im lặng khi di chuyển, không được bắn bừa bãi. Ai có máy truyền tin lên đây đi bên cạnh tôi.

Hai ba người có máy truyền tin chạy lên , vừa lúc đó tôi nghe có tiếng nói bên cạnh:

- Chết rồi, tay Đại úy bị thương, đưa em băng cho.

Tôi vội nhìn lại bàn tay trái của mình mới biết mảnh đạn ở ngón áp út nên vội đưa tay cho anh lính y tá băng giúp . Có tiếng nổ phía sau, tôi ra lệnh đoàn quân di chuyển, nhưng không thấy ai nhúc nhích cả, có lẽ người đứng đầu không biết đi hướng nào và đi về đâu. Tôi đành lên dẫn đầu đoàn quân, dùng địa bàn định hướng đi về phía Koroc. Cứ thế chúng tôi lần bước trong đêm, lúc đó khoảng 9 giờ tối. Chúng tôi như đoàn quân ma, chập chờn im lặng lên đồi, vượt suối. Đi độ một tiếng đồng hồ, vừa lên đỉnh một ngọn đồi tôi bỗng nghe có tiếng xôn xao ở đồi bên phải. Tôi cho tất cả dừng lại bố trí cẩn thận, một người mang máy bò lại cạnh tôi:

- Đại úy, có người nói trong máy. Tôi cầm ống liên hợp thử lên giọng:

- Cọp Biển, Cọp Biển! Đây Rằn ri gọi.... Bỗng bên kia trả lời:

- Có phải Vẻ Vang đó không ?.

Tôi nhận ra tiếng của Trần Văn Hợp, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2 Trâu Điên, là bạn khóa 19 Đà Lạt nên vội lên tiếng:

- Hồng Hà, Hồng Hà ! Vẻ Vang đây, có phải mày đang ở bên cạnh tao không? Mày thử bắn một phát súng xem.

Một phát súng nổ ở đồi bên phải, cách tôi chừng một cây số. Tôi đáp nhận và 2 bên ước hẹn cùng đi về Koroc để tránh ngộ nhận nhau. Chúng tôi lại tiếp tục đi hết rừng cây lại đến rừng tranh. Đằng sau, tôi nghe B.52 nổ từng loạt một, tôi đoán đồi 55O đã thành bình địa. Chợt nghĩ tới Chính rỗ chắc giờ này đã tan thành mây khói mà lòng quặn đau. Tôi quên hẳn chính mình cũng đang mò mẫm trong rừng sâu, chưa biết phận mình sẽ ra sao nữa. Chúng tôi vừa băng qua một con suối thì có hai ba người lính bò lên gần tôi thì thầm:

- Đại úy, em thấy tụi nó cứ lò dò sau đuôi mình, chúng bám kỹ quá. Đại úy để tụi em dợt một cái.

Tôi suy nghĩ một chút rồi gật đầu:

- Ừ, tụi mày lấy độ 1O người ẩn nấp lại. Trên này sẽ lục tục đi cho chúng tưởng mình đi hết, diệt tụi nó xong nhớ dọt ngay nhé. Tao sẽ chờ ở cánh rừng trước mặt.

Một lát sau tôi nghe phía sau súng nổ dữ dội, có cả tiếng M.79, lựu đạn. Tôi vừa cho bố trí dừng lại xong thì nghe có tiếng thở hổn hển đằng sau:

- Đại úy, Đại uý! tụi em chơi tụi nó hết rồi. Thịt cũng được chục tên.

Tôi khen rồi cho lệnh tiếp tục đi, ở đầu máy tôi nghe tiếng Hợp:

- Vẻ Vang, Vẻ Vang! Mày bắn gì thế?.

Tôi vui vẻ trả lời:

- Hồng Hà yên tâm, tao vừa zu-lu thịt tụi nó xong. Đang zu-lu tiếp đây!.

Chúng tôi đi được một lúc lâu, nhìn đồng hồ đã 5 giờ sáng. Tôi ước lượng đi khoảng 3 cây số đường rừng nữa sẽ đến Koroc, vừa lúc đó tôi nghe tiếng “bục” trên không. Một cánh dù nhỏ, một trái sáng chiếu lơ lững và tôi cũng bắt được truyền tin của Tiểu đoàn 3 Sói Biển cho biết Tiểu đoàn 3 Pháo binh của Trung tá Trần Thiện Hiệu bắn soi sáng cho các đơn vị rút quân. Tôi thấy yên lòng và đốc thúc đoàn quân đi nhanh hơn. Đến 6 giờ rưỡi sáng thì chúng tôi đến chân núi Koroc, tôi cũng thấy lác đác những toán khác, mọi người trở lại với hàng ngũ của đơn vị mình. Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến sẽ cho trực thăng đến bốc chúng tôi về Khe Sanh. Tôi cho tập họp cứ 1O người một toán và ưu tiên cho những người bị thương. Độ nửa giờ sau máy bay đến, chuyến bốc đầu tiên an toàn nhưng qua đợt thứ hai thì địch bắt đầu pháo kích. Tình hình trở nên lộn xộn, cho nên hễ máy bay xuống là chạy ra ngay. Địch lại pháo 13O ly, chứng tỏ chúng đã bám sát ta rất kỹ. Tuy nhiên trước lằn đạn địch, máy bay cũng cố bốc cho hết binh sĩ. Có chuyến vừa đáp xuống là gặp pháo kích lại bay lên, binh sĩ chưa kịp vào lòng máy bay phải đeo càng trực thăng rất nguy hiểm. Gần đến chuyến chót tôi chạy ra vọt lên và bấy giờ mới cảm thấy nhức nhối ở bàn tay bị thương. Về đến Khe Sanh, toán Quân y lựa thương liền xin trực thăng tải thương cho tôi ra bệnh viện Quảng Trị ngay. Cũng tại Khe Sanh, tôi được biết đáng lẽ chúng tôi phải lội bộ về nhưng Đại tá Bùi Thế Lân, Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn TQLC đã bắt buộc Bộ tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 1 phải cho máy bay bốc Lữ đoàn 147 về với bất cứ giá nào.

Trong thời gian chữa trị vết thương, tôi nghe đài phát thanh tổng kết thiệt hại đôi bên, mới biết đó là một cuộc thử lửa vô tiền khoáng hậu. Quân lực ta đã nhảy vào một khu trận địa sắp sẵn của địch, như một ổ kiến lửa thì làm sao không thiệt hại cho được. Tuy nhiên ta cũng đã phá vỡ biết bao kho tàng, đường dây giao liên của địch và khám phá chỗ dấu vũ khí, đạn dược, các ổ pháo của địch. Làm cho chúng phải mất khả năng tấn công miền Nam ít nhất một thời gian dài mới cũng cố lại được lực lượng chuyển tiếp vũ khí đạn dược.

Chiến sĩ ta bao gồm các lực lượng như Sư đoàn 1 Bộ binh, Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến đã hy sinh cho chiến trường Hạ Lào khá nhiều. Một số bỏ thây lại chiến trường làm người chiến sĩ vô danh, trong đó có Chính rỗ, người lính truyền tin hiền hòa và dũng cảm của tôi. Một số bị bắt trong lúc rút lui như Phạm Hiệp Sĩ và Hiển của Đại đội Viễn Thám mà sau này khi gặp lại nhau ở trại cải tạo Sơn La, chúng tôi đã ôm nhau khóc, khóc cho phận mình, cho binh chủng và cho đất nước. Số anh em bị bắt ở Hạ Lào đã nói với chúng tôi là trong thời gian bị giam cầm từ 71-76, họ cứ hy vọng miền Nam sẽ chiến thắng. Họ không tin biến cố 75 mà cho là Cộng sản lừa bịp... cho đến khi gặp lại chúng tôi. Ngoài ra tôi còn gặp các chiến hữu đơn vị bạn như Đại tá Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 2 Dù bị bắt ở phía Bắc Tchépone. Cả Trần Ngọc Huế, Tôn Thất Mãn, Nguyễn Văn Thuế là các Tiểu đoàn trưởng gan lì của Sư đoàn 1 Bộ binh bị bắt ở Tchépone khi rút lui trên quốc lộ 9.

Tuy nhiên những người anh hùng đó cũng đã để lại một trang sử vẻ vang cho hậu thế và thế giới biết về sức mạnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa qua cuộc thử lửa mà chính Quân đội Hoa Kỳ phải đánh giá rất cao.

MX Trần Vệ

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Image

Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù ( 1965 - 1966 )

Tháng 9 năm 1965, Thiếu Tá Nguyễn Khoa Nam được đề cử đảm nhiệm chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù thay thế Thiếu Tá Hồ Trung Hậu qua nắm Chiến Đoàn 1 Dù. Được thành lập vào tháng 9 năm 1953, TĐ5ND là tiểu đoàn nổi tiếng và vất vả nhất của Sư Đoàn Nhảy Dù. TĐ5ND là tiểu đoàn độc nhất của Việt Nam nhảy xuống Điện Biên Phủ dù rằng lúc đó các sĩ quan chỉ huy còn là người Pháp. Bị thiệt hại gần hết, tiểu đoàn được tái thành lập sau hiệp định Genève mà các cấp chỉ huy nổi tiếng như Nguyễn Chánh Thi, Ngô Xuân Soạn, Hồ Tiêu, Ngô Quang Trưởng, Hồ Trung Hậu.

Tiểu Đoàn Phó là Đại Úy Nguyễn Viết Cần, bị thương vào đầu năm 1966 và được thay thế bởi Đại Úy Nguyễn Vỹ. Một trong những đại đội trưởng thâm niên là Đại Úy Ngô Lê Tỉnh.

Hành quân An Dân 564 tại Hậu Nghĩa

Hành quân An Dân 564 khai diễn ngày 30 tháng 12 năm 1965 tại vùng tiếp giáp biên giới Miên-Việt thuộc tỉnh Hậu Nghĩa. Đơn vị địch là tiểu đoàn D9 thuộc Công Trường 9, quân số khoảng hơn 200 tên trang bị 2 súng cối 61 ly, 1 DKZ 57 ly, súng phòng không, đại liên và 3 thượng liên cùng các vũ khí cá nhân. Nhiệm vụ của chúng là yểm trợ cho đoàn hậu cần thu gom lúa gạo và các thực phẩm tại vùng này. Địch đặt các chốt rải rác quanh vùng để kịp thời báo động và chặn đánh khi QLVNCH hành quân vào vùng này. Tại khu trung tâm, địch đào các công sự kiên cố và đặt các ổ phòng không chống trực thăng vận.

TĐ5ND được sử dụng như là đơn vị xung kích, trực thăng vận xuống khu trung tâm của địch sau khi phi cơ đã oanh kích và pháo binh đã tác xạ vào khu này. TĐ1ND đổ quân sát biên giới Miên-Việt để chặn đánh đường rút lui của địch đồng thời ngăn chặn không cho địch tăng cường tiếp viện từ biên giới qua.

TĐ5ND đổ quân ngoài đồng trống đã bị địch sử dụng các loại súng cộng đồng bắn xối xả chế ngự mặc dù trước đó phi pháo đã xạ kích vào mục tiêu. Tình trạng rất nguy hiểm, vừa hoàn tất việc đổ quân, tiểu đoàn đã có khoảng 20 chiến sĩ bị thương. Không trù trừ, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng ra lệnh cho tiền sát viên pháo binh đi theo tiểu đoàn gọi pháo binh bắn đạn khói trước mặt mục tiêu đồng thời cho toàn bộ chuẩn bị xung phong vì nếu chậm trễ tình trạng thương vong sẽ gia tăng.
Trong khoảnh khắc, các khẩu 155 ly và 105 ly đã tạo được màn khói dày đặc trước tuyến phòng thủ của địch. Nhờ màn khói che mắt địch quân, các chiến sĩ TĐ5ND nhanh nhẹn băng đồng ruộng, xung phong tràn vào vị trí địch quân khiến chúng ngơ ngác, hoảng hốt chạy tứ tán. Một số lợi dụng hầm hố kiên cố, cố gắng cầm cự hy vọng lúc màn đêm xuống sẽ dễ dàng lẩn trốn. Nhưng các chiến sĩ ta đâu để chúng yên, từng trái lựu đạn lần lượt tung xuống các hầm còn địch và nhanh chóng khai tử tiểu đoàn D9 Việt Cộng trong đó có viên thủ trưởng.

Kết quả gần 100 địch quân chết tại trận cùng toàn bộ vũ khí nặng. Lúc bấy giờ là 4 giờ chiều, nắng vẫn còn gắt và trải vàng trên đồng lúa vừa chín tới. Tiểu đoàn tiếp tục tung rộng ra để lục soát và kiếm vị trí đóng quân qua đêm cũng như lo bảo vệ bãi đáp để trực thăng xuống di tản các chiến sĩ bị thương và hy sinh, đồng thời nhận tiếp tế đạn dược bổ sung.

TĐ1ND từ hướng biên giới tiến về hướng TĐ5ND. Trên đường tiến quân qua khu đồng ruộng lúa đã gặt rồi, chỉ còn lại những ụ rơm rạ nhỏ rải rác khắp nơi, TĐ1ND đã gặp toán tàn quân của địch đang cố gắng rút lui về biên giới Việt-Miên. Có lẽ trước đó, từ đằng xa, chúng đã thấy quân Nhảy Dù đang tiến về phía chúng. Ruộng trống, địch biết khó có thể lẩn tránh được nên tên chỉ huy ra lệnh gom những đống rơm rạ lại thành một cây rơm lớn giữa đồng và tất cả chun vào trong đó núp. Khi đại đội trưởng đại đội dẫn đầu tiến gần khu có cây rơm, thấy khả nghi, cho toán khinh binh lên xem xét. Bị lộ, địch tung rơm bỏ chạy. Chiến sĩ ta đuổi theo tiêu diệt được 14 tên cùng tất cả vũ khí.

Ngày hôm sau, khoảng giữa trưa thì TĐ1ND từ biên giới giao tiếp được với TĐ5ND. Hai tiểu đoàn tiếp tục ở lại vùng hành quân để bảo vệ cho dân chúng đến gặt lúa và đưa về vùng an ninh. Trong trận này, hai đại đội trưởng có công nhất của TĐ5ND được ân thưởng Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương và thiếu tá tiểu đoàn trưởng cũng được ân thưởng Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu.

Hành quân Liên Kết 62 - 66 tại Quảng Ngãi

Khoảng cuối năm 1965, vào dịp lễ Giáng Sinh và Tết Nguyên Đán, tình hình quân sự tại Vùng 1 Chiến thuật tương đối yên tĩnh. Đến cuối tháng 1 năm 1966, Cộng Sản pháo kích vào phi trường Đà Nẳng và phi trường Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tại Non Nước bằng súng cối 120 ly. Đây là lần thứ hai Cộng Sản dùng loại súng lớn này để pháo kích các căn cứ quân sự của ta. Sư Đoàn 2 Bộ Binh bắt đầu tăng cường các cuộc hành quân lùng và diệt địch qua các cuộc hành quân Liên Kết. Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã phóng ra cuộc hành quân qui mô Double Eagle gồm 4 tiểu đoàn TQLC lục soát khu vực giữa Quảng Ngãi và Bình Định trong gần 3 tuần lễ để truy lùng dấu vết của Sư Đoàn 325C Bắc Việt nhưng không có kết quả.



Ngay sau đó, dấu vết của một trung đoàn thuộc Sư Đoàn 2 Bắc Việt được ghi nhận trong vùng Tây Bắc của thành phố Quảng Ngãi. Vào ngày 3 tháng 3, cuộc hành quân liên quân Liên Kết 62/Utah được khởi diễn ngay lập tức với các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, Sư Đoàn 2 Bộ Binh Việt Nam với sự tăng cường của 2 Tiểu Đoàn 1 và 5 Dù. Các pháo đội 155 ly và 105 ly của Hoa Kỳ được di chuyển ngay lập tức vào các vị trí yểm trợ và 3 phi đội chiến đấu cơ TQLC/HK sẵn sàng để yểm trợ tiếp cận.

Mặc dù các bãi đáp đã bị oanh tạc tơi bời, đợt trực thăng vận đầu tiên chở hai đại đội của TĐ1ND đã gặp hỏa lực phòng không 12 ly 8 dày đặc của địch quân. Một phản lực cơ F-4 bị bắn rơi và 4 trực thăng vũ trang bị hư hại. Tuy nhiên, đợt đổ quân thứ hai cũng được hoàn tất vào 11 giờ sáng ở ngay chân đồi mà trên đỉnh đồi đó địch đã đào các giao thông hào chằng chịt để bố trí các súng phòng không. Các đại đội của TĐ1ND đã nương theo vùng cây cối rậm rạp, xung phong chiếm được cao điểm 50, tịch thu 2 đại liên phòng không 12 ly 8 và một súng cối 61 ly. Tiểu đoàn 2/7 TQLC/HK cũng được đổ xuống các ngọn đồi cách đó một cây số về phía Nam.

Trong suốt 5 tiếng đồng hồ sau đó, hai tiểu đoàn Việt-Mỹ đánh bật các đợt tấn công liên tiếp của địch từ các ruộng mía dày đặc. Đến chiều thì đạn dược và lựu đạn đã gần cạn. Phía TĐ1ND đã có gần 20 binh sĩ tử thương và hơn 60 bị thương mà chưa tản thương được. Tiểu đoàn 2/7 TQLC/HK bị thiệt hại nặng hơn. Trực thăng tản thương và tiếp tế đạn không đáp xuống được phải thả từ trên cao, đạn dược rơi xuống bị hư hại khá nhiều. TĐ1ND phải tái phối trí các vũ khí và đạn dược tịch thu được của địch cho cuộc phòng thủ đêm. Đến tối, hai tiểu đoàn bạn thiết lập được tuyến phòng thủ với sự yểm trợ của các pháo đội 105 ly để chờ viện binh. Suốt đêm, pháo binh từ Bình Sơn liên tục nã đạn vào các vị trí địch với mức độ 1,000 quả một giờ. Đạn tiêu thụ cấp bách đến nỗi lần đầu tiên, hai đoàn công voa chở đạn dược từ Chu Lai phải khởi hành trong đêm để tiếp tế đạn cho các pháo đội, đạn đưa từng viên từ xe xuống thẳng các khẩu đại bác. Khoảng 11 giờ đêm và rồi lần nữa lúc 3 giờ sáng, địch pháo kích dữ dội và mở hai đợt tấn công ác liệt vào các vị trí của 2 tiểu đoàn 2/7 TQLC/HK và TĐ1ND. Nhờ sự yểm trợ tiếp cận của pháo binh, nhiều khi chỉ cách công sự phòng thủ 200-300 thước, hai đơn vị này giữ vững được vị trí trước các đợt tấn công liên tiếp của địch trong đêm.

Tờ mờ sáng 4 tháng 3, Tướng Jonas M. Platt, Tham Mưu Trưởng Quân đoàn III TQLC/HK điều động thêm một pháo đội 155 ly xuống Bình Sơn, đổ tiểu đoàn 3/1 TQLC/HK xuống cao điểm phía Bắc và tiểu đoàn 2/4 TQLC/HK đổ xuống phía Nam trận địa. Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh Việt Nam điều động Tiểu Đoàn 37 BĐQ và Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn 5 Bộ Binh án ngữ dọc theo đường xe lửa phía Đông đồng thời trực thăng vận TĐ5ND do Thiếu Tá Nguyễn Khoa Nam chỉ huy chỉ huy xuống giữa vị trí 2 tiểu đoàn 2/7 TQLC/HK và TĐ1ND. Địch quân xem như đã bị vây hãm cả ba phía. Các tiểu đoàn tăng viện bắt đầu tiến quân từ ba mặt vào khu vực ruộng mía để giải tỏa áp lực cho hai tiểu đoàn bạn. Bom Napalm được sử dụng tối đa ... Đến trưa, cuộc chiến giảm dần cường độ, những ruộng mía tình nghi là vị trí của địch bị bom Napalm thiêu rụi. Đến đêm, các đại đội địch quân với sự yểm trợ của súng cối và đại liên, cố gắng tấn công các vị trí phòng thủ đêm của TQLC/HK nhưng không đạt được kết quả. Cuộc hành quân xem như chấm dứt vào ngày 6 tháng 3 khi các đơn vị Việt-Mỹ làm chủ các cao điểm, còn tàn quân địch phân tán mỏng rút về vùng rừng núi phía Tây. Sau 4 ngày ác chiến, địch để lại 600 binh sĩ tử trận, liên quân Việt-Mỹ có khoảng 500 người vừa chết vừa bị thương trong đó có 98 TQLC/HK tử trận.

TĐ1ND và TĐ5ND thay vì được về hậu cứ ở Sài Gòn để chỉnh bị và bổ quân quân số thì lại được điều động ngay ra Đà Nẳng rồi Huế vì biến cố Phật Giáo tại miền Trung. Tình hình tại Huế tạm yên, thì hai tháng sau đó TĐ5ND lại được điều động khẩn cấp trở lại Quảng Ngãi vì tin tình báo cho biết một trung đoàn mới của Cộng Sản Bắc Việt, lợi dụng tình hình lộn xộn tại miền Trung, bắt đầu xâm nhập khu vực phía Tây quận Sơn Hà.

Cuộc hành quân Liên Kết 66 khai diễn với Bộ Chỉ Huy nhẹ của SĐ2BB đặt tại núi Tròn, khoảng 10 cây số Tây Bắc Quảng Ngãi. Trong khi bay quan sát với cố vấn trưởng Hoa Kỳ khoảng 15 cây số phía Tây núi Tròn để quyết định vị trí đổ quân, Thiếu Tá Nam đã phát hiện những đám cỏ lau bị rạp xuống, điều này chứng tỏ có đơn vị địch vừa mới di chuyển qua vùng. Sáng sớm hôm sau, toàn bộ TĐ5ND được trực thăng vận xuống các khu đồi thấp phía Tây quận Sơn Hà với mục đích chặn đánh hậu quân của địch trong khi các tiểu đoàn của SĐ2BB được sẵn sàng để tiếp viện khi cần. Năm đại đội liên tiếp đổ xuống trận địa, dẫn đầu bởi hai đại đội 52, 53 do Đại Úy Ngô Lê Tỉnh chỉ huy. Vượt quá sự dự liệu của tình báo, TĐ5ND đụng độ ngay với đơn vị súng nặng và phòng không đang di chuyển. Suốt ngày hôm đó, những trận đánh cận chiến ác liệt đã xảy ra giữa các đơn vị bảo vệ của địch và các chiến sĩ TĐ5ND với sự yểm trợ liên tục của không quân. Trận chiến kết thúc vào buổi chiều và TĐ5ND tịch thu toàn bộ súng nặng và phòng không của địch. Trung đoàn địch, rút kinh nghiệm về sự tổn thất nặng trong cuộc Hành Quân Liên Kết 62 sau khi thấy mất đơn vị súng nặng yểm trợ, đã quyết định phân tán vào vùng núi phía Tây.

Sau các trận này, TĐ1ND và TĐ5ND được tuyên dương trước Quân Đội, Thiếu Tá Nguyễn Khoa Nam được ân thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, thăng cấp Trung Tá đặc cách tại mặt trận và lên nắm Chiến Đoàn 3 Dù, giao TĐ5ND cho Tiểu Đoàn Phó là Thiếu Tá Nguyễn Vỹ.

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Image
Theo Chân Người Pháo Thủ SÐ23BB
Từ Đức Tài
Kính Thưa các Bác, Chú, Cô

Cháu tên là Tăng Ngọc Thanh muốn biết thêm về cha cháu là Tăng Thanh Tâm thuộc Sư đoàn 23 Bộ Binh Tiểu đoàn 231 Pháo binh trước 75 đóng quân ở Ban Mê Thuột. Cháu không biết ba cháu đã chết hoặc mất tích ở đâu. Có người thì nói đã chết v.v.v. nhưng chưa bao giờ thấy xác. Các Bác,Chú, Cô ai biết được lúc cha cháu còn sống xin gửi cho cháu vài lời cháu muốn biết rõ thêm về cha mình. Cháu xin cảm ơn Xin gửi về địa chỉ e-mail
thanhtang71@hotmail.com

Ưu ái gửi cháu Tăng Ngọc Thanh, thứ nam cố Ðại úy Pháo binh Tăng Thanh Tâm, Pháo đội trưởng Pháo Ðội B thuộc Tiểu Ðoàn 231 Pháo binh đã kiên cường chiến đấu đến giây phút cuối cùng tại căn cứ hỏa lực Ðức Lập, Quảng Ðức vào ngày 7 và ngày 8 tháng Ba năm 1975.

TỪ ÐỨC TÀI
Portland

Cháu Thanh thân ái:

Cháu chào đời vài năm trước ngày tàn cuộc chiến, đi đứng nói năng chưa thành thạo, cả tiếng kêu ba thân yêu còn ngọng nghịu, và cháu đã sớm mất cơ hội bập bẹ thêm tiếng ba ngọt ngào trên đầu môi. Ba cháu đã từ giã các cháu trong lúc các cháu còn nhỏ dại. Ba cháu đã vĩnh viễn ra đi, thân xác tả tơi tan nát theo đoàn quân VNCH, theo đất nước miền Nam thân yêu vào ngày 7 và 8 tháng Ba năm 1975. Các cháu dần dần trưởng thành trong tình thương yêu đùm bọc của người mẹ đầy bất hạnh, đã sớm thành quả phụ trong lúc tuổi còn thanh xuân. Mẹ các cháu, bà mẹ hiền thêm nặng gánh làm cha dạy dỗ nuôi nấng các con nên người. Thật vô vàn trân quý!

Bác lớn hơn ba cháu vài tuổi, ba cháu nhập ngũ trước bác một khóa, cùng đi Pháo binh. Ðơn vị ba cháu Tiểu Ðoàn 231 PB đóng ở Ðà Lạt, bác ở Bộ chỉ huy PBSÐ23BB (Ban Mê Thuột). Bác liên lạc với ba cháu vài lần qua điện thoại và đã gặp ba cháu môt lần tại Ban Mê Thuột. Từ đó hai người quen biết nhau 3, 4 năm sau, đến năm 1974 tình cờ bác gặp ba cháu tại Pleiku. Ba cháu đi với một người bạn; dường như Ðại úy Bùi Minh Ngọc, Phan Thiết. Cuộc tao ngộ trong chớp nhoáng, chỉ nhìn nhau thăm hỏi vài câu rồi chia tay vĩnh viễn. Bác đi với người bạn về lại đơn vị đang đóng ở Hàm Rồng, Pleiku. Bác ở Pleiku cho đến ngày tàn cuộc chiến. Mọi việc tưởng như đã chìm trong dĩ vãng. Kẻ mất để lại bao thương nhớ đau buồn cho gia đình, vợ con và người thân, người còn cũng trải qua những năm tháng dài đắng cay chua chát&Bây giờ vợ con người đồng đội năm xưa đã làm trỗi dậy một thời khói lửa trong lòng bác, biết bao hình ảnh của những chàng trai trẻ, đầy ước mơ mộng đẹp cho tương laị Tất cả đều trôi theo dòng định mệnh của dân tộc.

Mới đây bác có điện thoại hỏi người bạn năm xưa. Quách Văn Ðại, San Jose, còn nhớ buổi chiều trên phố Pleiku gặp Ðại úy Tăng Thanh Tâm. Mọi chuyện xảy ra gần 40 năm cho nên ai cũng còn lờ mờ trong tâm trị Ông bạn nói : “Còn nhớ lúc đó Ð/úy Tâm đẹp trai, hào hoa, và phong độ tướng tá giống như đại ca nhưng đại ca ngày ấy hơi ốm hơn.” Lúc nào bác cũng nhớ đế n ba con, và nhớ cả tên họ rõ ràng. Ngày mới vào trại tù cải tạo, gặp ai người Ðà Lạt bác cũng hỏi thăm ba con. Bác có hỏi Ð/úy Nho, Ðà Lạt, cùng đơn vị với ba con : “ Không biết anh Tâm, sau trận Ðức Lập có về lại Ðà Lạt không? Chiến tranh vốn đã phũ phàng! Trận chiến Ðức Lập quá ác liệt. Không nghe thấy ai được trở về!

Những ngày tháng cuối cùng của cuộc chiến ba cháu có mặt tại Ðức Lập chỉ huy pháo đội trừ (-) 4 khẩu 105 ly. Pháo đội của ba cháu được phối trí bên trong Chi khu Ðức Lập, và 2 khẩu tại Núi Lửa cách Ðức Lập vài cây số thuộc Pháo binh Diện Ðịa Quảng Ðức. Chắc chắn hôm đó ba cháu có mặt tại hầm chỉ huy vừa là Ðài tác xạ của Pháo đội bên trong khuôn viên Chi khu Ðức Lập. Phía trên đồi cách Bộ chỉ huy Chi khu khoảng nửa cây số đường chim bay là Căn cứ hỏa lực của Chiến đoàn 53 (-).Dĩ nhiên đều có hầm hố kiên cố phòng thủ vững vàng. Ðại úy Bùi Minh Ngọc, bạn của ba cháu là Sĩ quan liên lạc Pháo binh (SQLL/PB) cạnh Trung tá Trần Nguyên Khoa, Trung đoàn phó Tr. Ð53. Căn cứ hỏa lực còn có một Chi đội Thiết giáp 4 chiếc M41 trang bị đại bác 76 mm và một Tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 53.


Quận Ðức Lập, thuộc tỉnh Quảng Ðức, nằm trên quốc lộ 14 đường Ban Mê Thuột đi Quảng Ðức. Ðức Lập cách Ban Mê Thuột từ 45 đến 50 cây số về hướng Tây nam và cách biên giới Cam Bốt từ 6 đến 7 cây số, và xa hơn nữa gần tới Quảng Ðức có chỗ chỉ cách Cam Bốt 3 cây số. Có ngã ba Tam biên, ranh giới giữa Trung phần, Nam phần của Việt Nam và Cam Bốt. Dân chúng phần lớn là người Bắc di cư sống bằng nghề trồng cà phê, ngũ cốc hoa màu. Có những vườn cà phê ngút ngàn xa tít tận chân núi. Rừng có nhiều gỗ quý.

Bác cũng có mặt trên vùng Ðức Lập vài lần. Mỗi lần độ 2 hay 3 tháng, theo Bộ Tư Lệnh nhẹ, Sư Ðoàn hành quân. Lần mới nhất trước ba cháu độ nửa năm. Lúc đó các trận chạm súng giữa đôi bên còn chưa tới cấp Tiểu đoàn. Quốc Lộ 14 chạy dài từ Bắc xuống Nam: lần lượt qua các tỉnh Kontum, Pleiku, Darlac, Quảng Ðức & Phước Long. Vào khoảng thập niên 1950 bọn thổ phỉ Fulro thường xuất hiện chặn xe đò, xe taxi chở khách để cướp bóc, bắn giết và hãm hiếp; gây bao tang tóc cho dân lành trên đoạn đường từ Ðức Lập đi Quảng Ðức. Và cũng trên quốc lộ 14 này vào thời Pháp thuộc đã xảy ra nhiều trận đánh đẩm máu và ác liệt. Chiến tích được ghi lại bằng các tên gọi: ÐỒI ÔNG HOÀNG, và ÐÈO TỬ SĨ. Có đoạn rừng già mọc lấn ra đường, cây lá um tùm bao phủ cả con đường. Khúc đường từ Ðức Lập tới quận Nghi Xuân sắp đến Quảng Ðức, hai bên đồi cát chập chùng nối tiếp nhau nhấp nhô đến tận biên giới Cam Bốt, đường hẹp quanh co khúc khuỷu, dễ bị phục kích. Chiến tích được truyền miệng: Ðồi Ông Hoàng. Ngược lại đoạn từ Ban Mê Thuột đi Pleiku, ra khỏi Buôn Hô chừng hơn chục cây số, xe vừa lên tới đầu dốc, ai đó đã dựng một bia đá bên đường: Ðèo Tử Sĩ. Chắc chắn nơi này là nấm mồ chung của cả hai bên. Dân tộc ta triền miên đau khổ!

Chiến tranh xảy ra từ ngàn xưa, bao thế hệ cha ông đã tiếp nối nhau nằm xuống cho quê hương được trường tồn.

Thưở xưa bác là lính, một đời Pháo thủ “trấn thủ lưu đồn”, theo chân người lính bộ binh Sư đoàn 23, “Nam bình, Bắc phạt, Cao nguyên trấn”, gót giầy một thời cũng xuyên rừng vượt suối khắp cả cao nguyên. Có lúc bác theo doàn quân hộ tống đoàn xe xuôi ngược trên Quốc lộ 14 và Quốc lộ 21 đường về Nha Trang. Ðời chiến binh mấy người đi trở lại!

Bác may mắn còn lại sau cuộc chiến, hôm nay làm người bạn vong niên của các cháu, ba người con trai của cố Ðại úy Tăng Thanh Tâm. Bác là người trong cuộc, bác ghi lại vài địa danh, và phác họa một vài hình ảnh. Hy vọng các cháu sẽ hình dung được đôi nét những nơi ba các cháu đã đến, đã đi để người thân chờ mãi không thấy về!

Ðêm ngày 9 rạng 10 tháng Ba năm 1975 vào khoảng 2 đến 3 giờ sáng, giữa đêm trường tịch mịch cả thị xã Ban Mê Thuột bừng tỉnh dậy trong kinh hoàng, hoảng hốt, và lo sợ nhốn nháo khác thường với những tiếng nổ long trời vỡ đất. Tiếng đạn pháo vèo vèo xé nát không gian, tóe lửa làm sáng rực cả bầu trời. Bom đạn khô khan, chát chúa vô tình cày nát một phần mảnh đất quê hương. Mảnh đạn tung tóe xé nát da thịt người vô tội thành trăm mảnh. Quân đội Bắc Việt đã khai pháo bất ngờ, rót hàng trăm hàng ngàn quả đạn pháo vào Ban Mê Thuột, vào tổng hành dinh của Bộ Chỉ Huy Sư Ðoàn 23 Bộ Binh.

Tiếng thét, tiếng kêu đau thương vì mảnh bom đạn của cả hai bên. Tiếng gọi nhau ơi ới tìm nhau trong hỗn loạn. Xác người, lớp chết lớp bị thương nằm la liệt bên đường. Dòng người tìm nơi an toàn; xa lánh vùng giao tranh ác liệt.

Cảnh tượng hãi hùng và kinh hoàng đã diễn ra trước mắt của Bác gái và hai người con trai của Bác lúc ấy độ 10-13 tuổi. Hơn 30 năm trôi qua gia đình có dịp nhắc lại vẫn còn bị ám ảnh hãi hùng. Lúc đó bác đang ở Pleiku và vài ngày sau theo cả Sư đoàn trực thăng vận về Phước An, cách Ban Mê Thuột 30 cây số, định giải tỏa Ban Mê Thuột.

Bác gái và hai người con của bác, nhà sát bên Bộ Tư Lệnh Sư đoàn nên đã trải qua mấy ngày sống trong vùng lửa đạn và gánh chịu bao nhiêu hiểm nguy như người lính chiến. Phập phồng, lo sợ, và số mệnh rủi may phó thác cho Trời Ðất. Gia đình mất hết tất cả, chịu đựng khổ cực và nguy hiểm còn hơn 10 năm tuổi lính của bác. Gia đình tan tác, không tin tức, đến hai tháng sau mới đoàn tụ đầy đủ tại quê hương Phan Thiết. Nhờ Phật Trời phù hộ, may mắn tất cả đều an toàn nguyên vẹn!

Cháu Thanh thương mến! Các cháu thiếu tình thương yêu của cha trong tuổi còn thơ dại. Khi trưởng thành và tương đối đầy đủ điều kiện vẫn không biết cha được chôn cất nơi nào, để đi thăm mộ, thắp cho cha một nén huơng. Hài cốt cha bây giờ ở đâu?. Không nghe ai kể chuyện cha mình trong những giây phút lâm chung, trước khi từ giã cõi đời có trăn trối nhắn nhủ với bạn bè cùng cảnh ngộ chuyển cho vợ con điều gì không?. Trường hợp của gia đình cháu là trường hợp của trăm ngàn gia đình Việt Nam đau thương khác. Nhiều khi bất hạnh hơn bác cháu mình, còn ở lại bên nhà giờ này đang sống lây lất qua ngạy

Mọi gia đình Việt Nam đều bị cuốn theo giòng lịch sử đau thương của dân tộc, vận nước lúc đó đã đến hồi suy yếu, như ánh tà dương trong buổi bóng xế chiều tà dần dần nhường lại cho đêm đen dầy đặc. Chiến tranh phũ phàng, tàn nhẫn đã gây bao tang tóc cho nhiều gia đình bị phân chia ly tán, mất mát do con người tàn ác gây ra. Chúng ta cùng chung số phận. Gia đình bác ai ai cũng đã trải qua những giờ phút hãi hùng trong những ngày hấp hối của miền Nam, và sau đó còn bị ảnh hưởng, chịu đựng thêm những năm dài gian nan vất vả của gần 8 năm tù cải tạo của bác. Cháu Thanh! Cuộc đời như đám phù vân dễ tan biến, đầu hôm sớm mai thành mây khọi

Trong những ngày khói lửa Ban Mê Thuột, có một cô giáo dạy cùng trường với bác gái, vợ của một Thiếu tá Bác sĩ, gia đình giàu có. Trong lúc chạy loạn gặp bác gái hỏi: “Chị Tài có dư cái áo, cái quần nào, tôi xin một cái.

” Ðời vô thường, không có gì vĩnh cửu cả; vạn vật đều thay đổi.

Cháu Thanh, cháu đã cho bác biết không rõ từ trại tù nào đã gửi cho gia đình một tờ giấy viết tay sơ sài, không con dấu chứng nhận ba cháu đã chết vào ngày 1 tháng 7 năm 1975. Như vậy, ba cháu là tù binh, bị bắt tại mặt trận. Tiếc thay! Quy chế tù binh cũng trôi theo nước.

Bác phác họa đôi nét về cuộc đời của những người chung số phận như ba cháu vào những ngày tháng đầu tiên trong trại tù cải tạo. Gia đình cháu có thể hình dung được phần nào hình ảnh của người cha quá cố. Chắc chắn ba cháu cũng đã trải qua cái buổi giao thời đầy ác mộng đó. Ðời tù cải tạo nơi nào cũng giống nhau “Nhất nhật tại tù, Thiên thu tại ngoại.”

Vào đầu tháng 5 năm 1975 bác đi “trình diện học tập” tại Phan Thiết. Bác gặp một số bạn bè cũ hồi còn ở bậc Tiểu học, Trung học& “Sĩ quan ngụy” cấp Thiếu tá trở xuống, kể cả Bác sĩ. Cả trăm cả ngàn người được đưa vào rừng Cà Tót, chỗ mật khu của họ ngày xưa cách Phan Thiết độ 15-20 cây số về hướng Tây Bắc. Rừng thiêng nước độc! Họ bắt tất cả cởi giầy nhà binh, tịch thu mùng mền, những gì thuộc “Mỹ Ngụy”&Gạo, sữa, kể cả thuốc men, muối mè, chà bong, cá khô, nuớc mắm, xì dầu cũng đều bị tập trung. Trong thoáng mắt tất cả thành vô sản. Mỗi bữa ăn một chén cơm độn (khoai nhiều hơn gạo, em bé lên 5 ăn chưa thấy no) với nước trà pha muối cho giống nước mắm, chút ớt bột nổi lềnh bềnh, “canh toàn quốc” với vài con cá khô trơ xương chìm đáy nược

Có người lúc “đi cải tạo” mập mạp khoảng 60 kg, vài ngày sau ốm thấy rõ và chừng một tháng sau đã có người chống gậy lê từng bước&đi không nỗi! Người bị bệnh sốt rét nằm la liệt. Mới gần hai tháng đi tù đã thấy có người chết vì bệnh không thuốc chữa. Chính bác khiêng một người bạn ra góc rừng đào lỗ chôn. Người chết được cuốn tròn trong manh chiếu, kẹp bảy thanh tre, vùi nong một nấm, chẳng nhang đèn bia mộ gì cả. Anh em xin bộ đội cho làm thủ tục quân đội tiễn biệt người chiến binh một thời về cõi vĩnh hằng. “Nghiêm! Chào tay. Vĩnh biệt anh ở lại với núi rừng, an giấc nghìn thu.” Bác cũng bị bệnh sốt rét, nhưng may mắn cả trại lần lượt được chuyển ra khỏi rừng sang trại khác. Bác mượn tiền, nhờ mua thuốc uống khỏi bệnh và đi tiếp quảng đời cải tạo đầy nghiệt ngã còn lại.

Ngày mới vào trại tù cải tạo, người trại trưởng biết bác là Pháo binh đã nói: “Nhất Phi, nhì Pháo, không có chính sách khoan hồng, ta làm ráo.” Khiếp!

Cháu Thanh, ngày xưa ba cháu đường đường là một sĩ quan Pháo binh QLVNCH, đầy đủ phong độ. Binh chủng Pháo binh hào hoa thông thái, vừa là sát thủ chiến trường. Dân gian thường khôi hài: “Ai ơi đừng lấy pháo binh, đêm đêm súng nổ rung rinh cửa nhà.”

Kể từ khi Ðồng Minh Hoa Kỳ phản bội bỏ rơi miền Nam Việt Nam bằng cách rút quân và cắt viện trợ, VNCH phải một mình đương đầu chiến đấu với cả khối Cộng Sản. Quân Lực VNCH cạn nguồn tiếp liệu, thiếu đạn dược, thuốc men, xăng dầu&Quân đội phải phân chia mỏng để bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ. Trong khi đó CS Bắc Việt được cả hai siêu cường CS Nga Tàu hậu thuẩn, ủng hộ triệt để. Họ viện trợ súng đạn tối đa để quân Bắc Việt ồ ạt xâm nhập vào Nam, hầu thanh toán sớm chiến trường Việt Nam. Cán cân lực lượng giữa hai miền Nam Bắc đã nghiêng hẳn về phía Quân đội Bắc Việt. VNCH như con bệnh ngày một yếu, không thuốc chữa, chờ chết và tử thần đã vung lưỡi hái từ Căn cứ Hỏa lực Ðức Lập-Quãng Ðức.

Cháu Thanh! Bác nhớ rất rõ trước khi tấn công vào Ban Mê Thuột, vào Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 BB, trước đó hai ngày vào ngày 7 và 8 tháng 3 năm 1975, Bộ đội Bắc Việt đã ồ ạt tấn công Ðức Lập.

Quận Ðức Lập đang trong đêm trường tĩnh mịch vụt bừng bừng rực lửa chiến tranh. Tiếng còi báo động, tiếng đạn nổ dồn dập, những chiến sĩ VNCH đang ngon giấc bỗng giật mình choàng dậy, phút chốc tại các hầm hố chiến đấu những tay súng đã sẵn sang tác chiến hờ địch. Những tiếng nổ sấm sét long trời vỡ đất của đại bác, hỏa tiển hòa cùng những tràng đại liên súng to, súng nhỏ tứ phía của toàn vùng Ðức Lập đã xé tan bầu không khí hiền hòa yên tĩnh của vùng rừng núi cao nguyên Ðức Lập. Tiếng đạn pháo kinh thiên động địa của cả hai bên đã làm rung chuyển một vùng trời. Ðến nỗi người con trai lớn của bác ở Ban Mê Thuột còn nhớ đêm đó có nghe tiếng đại bác từ xa vọng về. Có thể từ Ðức Lập hay một nơi nào khác cũng đang có chạm súng lớn.

Với quyết tâm chiếm trọn miền Nam Việt Nam, Cộng Sản Bắc Việt bằng mọi giá bất ngờ tấn công Ðức Lập, chiếm Ðức Lập làm bàn đạp, làm mồi lửa châm ngòi tiến đánh Ban Mê Thuột và toàn miền Nam. Họ sử dụng một lực lượng hùng hậu gồm mấy sư đoàn bộ binh, pháo binh, thiết giáp T54 tấn công vào Ðức Lập và Ban Mê Thuột, trong đó có Sư Ðoàn 320 Thép. Trước đó 3 năm, vào mùa hè đỏ lửa năm 1972 SÐ 320 đã đụng độ nảy lửa với SÐ 23 BB tại chiến trường Kontum. Bác theo SÐ23 vào khoảng hạ tuần tháng 4 năm 1972, có mặt suốt cuộc chiến tại Kontum. Chiến trường Kontum cũng đầy máu lửa, sự sống và cái chết kề nhau trong gang tấc, sinh mạng con người rất mong manh!. T54 của Cộng quân đã xâm nhập vào doanh trại của TÐ 69 PB, ven thị xã. Anh em binh sĩ PB đã hợp đồng tác chiến với bộ binh “bắt sống” một chiếc còn mới toanh. Anh em thiết giáp lái qua Bộ Tư Lệnh/Hành Quân , tướng Lý Tòng Bá, Tư Lệnh SÐ có lên ngồi lái thử, và sau đó đưa về Sài Gòn triển lãm. Có một khu dân cư trong thị xã, bom đạn đã cày nát thành bình địa. Bác không nhớ ba các cháu vào thời điểm đó có mặt ở Kontum hay không?.

Bác còn nhớ trên chiếc áo trận của người lính SÐ23 còn đính thêm phù hiệu “Kontum Kiêu Hùng”. Lúc đó còn trẻ bác thấy mình cũng “ngầu” lắm! Ba năm sau vào thời kỳ suy thoái của miền Nam, khởi đi từ mặt trận Ðức Lập, SÐ23 phải trả đủ món nợ cũ đã tạo ra ngày trước; chưa đánh đã tan rã và cuốn theo đôi chân mềm của toàn dân miền Nam.

Bộ đội Bắc Việt áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung, dũng mãnh và ác liệt, lợi dụng đêm trường tịch mịch vạn vật đều chìm trong bóng đêm, bất ngờ nã những tràng đạn pháo 130 mm, hỏa tiễn 122 mm từ phía bên kia biên giới Việt Miên liên tục phủ đầy trận địa Ðức Lập hầu làm tê liệt sức kháng cự và uy hiếp tinh thần chiến đấu của QLVNCH. Không một sinh vật nào có thể tồn tại trong đêm đó, sắt thép cũng không chịu nổi! Sau đó T54 và bộ đội Bắc Việt ào ạt xung phong vào trận địa. QLVNCH sử dụng toàn bộ hỏa lực : pháo đội (-) 4 khẩu 105 mm kể cả hai khẩu tại Núi Lửa hợp đồng với 4 khẩu pháo 76 mm đặt trên thiết giáp M41 cùng với súng lớn nhỏ của lực lượng phòng thủ căn cứ và Chi khu đã bắn gục ngã và chận đứng nhiều đợt xung phong của địch. Những tiếng mìn bẫy nổ ngoài hàng rào phòng thủ, và những xác người tung lên khỏi mặt đất. Một trận cận chiến bằng súng cá nhân và lựu đạn đã diễn ra. Máu đổ thịt rơi, thây phơi nơi chiến địa của cả hai bên. Lực lượng quân Bắc Việt ngay đêm đó rất hùng hậu có thể gấp 5-10 lần bên QLVNCH, cho nên dù có gan trời cũng đành thất thủ thành người bại trận. Người bị thương hay còn sống sót, theo lệnh của lưỡi lê, họng súng của người chiến thắng. Hận thù, chiến tranh tự cổ chí kim phủ phàng và tàn bạo. Mạnh được, yếu thua.

Ðồi Ðức Lập kể từ ngày 7 và ngày 8 tháng 3 năm 1975 thành “Ðồi Tử Sĩ”, chiến tích thứ ba trên Quốc lộ 14, mồ chung của người Việt Nam, kể cả bộ đội Bắc Việt, sanh Bắc tử Nam. Chết, hết hận thù!

Cháu Thanh!
Mấy ngày qua bác cháu mình lần theo dấu chân của người lính Pháo binh SÐ 23 BB xuyên suốt gần hết Quốc Lộ 14, từ Kontum, Pleiku, Darlac (Ban Mê Thuột), Quảng Ðức (Ðức Lập)&vào thời điểm chiến trường nơi nơi đếu sôi động. Bác đưa cháu đi qua những vùng toàn máu, lửa và nước mắt. Ðưa cháu đi thăm chiến trường xưa -Mặt trận Ðức Lập- ít người biết đến nhưng nơi đó ba các cháu, Ðại úy Tăng Thanh Tâm, bạn của bác Ðại úy PB Bùi Minh Ngọc (Phan Thiết) và những chiến sĩ QLVNCH đã kiên cường, dũng cảm chiến đấu mất còn với Bắc quân đến sức tàn, lực tận. Con cháu hãnh diện với tinh thần kiên cường bất khuất của Cha Ông.

Khi Nỏ Thần hết linh nghiệm thì thành An Dương Vương một thời oanh liệt đã làm kinh tâm tán đởm quân thù cũng bị thất thủ phải rơi vào tay giặc Triệu Ðà (207-107 trước Công nguyên)
Than ôi!

***
Từ Ðức Tài Ðầu Thu Oregon 2008

Kính gửi Quý Sư Phụ Lê Ðình Ninh và Trần Văn Hiệp
Thân tặng Quý Ðồng Môn Khóa 22 SQ PB Thủ Ðức

Thư của cháu Thanh:
Con Kinh gửi bác Tài:
Ðọc những dòng chữ của bác, con như người trong cuộc. Tất cả những gì bác diễn tả, con thấy như rõ từng chi tiết. Con cứ đọc đi đọc lại mãi.

Con đã đọc rất nhiều sách báo, bài viết về cuộc chiến này, nhưng những gì bác viết gây cho con sự xúc động đến tột cùng. Con không hiểu sao? Có lẽ đó là vì bác viết về những giây phút cuối cùng của cuộc đời ba con chăng?
Con xin cảm ơn bác nhiều lắm. Bác đã làm sống lại hình ảnh người cha trong con...
Má con nói có biết về Ðại úy Nho. Má con gửi lời cảm ơn bác.

Tăng Ngọc Thanh

Các cháu thân thương!
Bác kể thêm vài người bạn cùng chiến đấu với ba các cháu. Trước cuộc chiến Ðức Lập, ba các cháu và Ðại úy Bùi Minh Ngọc (Phan Thiết), rất thâm tình và thường gặp Trung tá Nguyễn Cao Vực, khóa 13 Ðà Lạt, Quận trưởng Ðức Lập, nguyên là Tiểu Ðoàn trưởng TÐ 230 PB (BMT). Trong chiến đấu, mỗi người mỗi nơi, đều có trách nhiệm riêng.

* Trung tá Vực thoát ra khỏi vùng tử địa &3, 4 ngày sau được trực thăng bốc về Quảng Ðức rồi về Ðà Lạt. Trước 30/4 vài ngày trong khi bác chờ bổ nhiệm đơn vị mới, bác và Tr. Tá Vực có thoáng thấy nhau trên đường phố Sài Gòn. Khoảng năm 1962-1963, bác Vực là Trung úy Pháo đội trưởng Biệt khu Bình Lâm. Lúc đó bác là giáo sư toán vài trường Trung học tư thục tại Phan Thiết; bác quen biết và thân với bác Vực từ đó. Khi bác còn ở TÐ 232 PB (BMT), năm 1969 Ðại úy Vực về giữ chức TÐ phó, sau đó lên Thiếu tá, và Trung tá TÐ trưởng TÐ 230 PB. Trung tá Vực có mặt ở mặt trận Kontum trước khi được bổ nhiệm làm Quận trưởng Ðức Lập. Hình như ông lập gia đình sau năm 1972, ông có hỏi bác thủ tục lập hôn thú Tr. Tá Nguyễn Cao Vực, người đôn hậu, vui vẻ, khí khái, tánh tình phóng khoáng, thẳng thắn, và tiêu xài rất rộng rãi. Người thích uống rượu và hút thuốc liên miên. Khi bác được tin bác Vực thì bạn bè cho biết ông đã mất trước đó vài năm; chắc tại hút thuốc nhiều quá!

* Ðại úy Ngọc bị thương rất nặng cùng với Tr. Tá Khoa gãy gần lìa cánh tay vì đạn pháo 130 mm trúng hầm chỉ huy trong những giờ đầu cuộc chiến tại Ðức Lập. Tr. Tá Khoa bị thương nhưng còn đi được. Anh em binh sĩ dìu ra khỏi vùng lửa đạn và sau đó bị bắt. Bác Khoa có thể bị nhốt cùng trại với ba cháu. Ông đang sống ở Hoa Kỳ; chúng ta có thêm hy vọng

* Ðại úy Tánh, Phú Long, Phan Thiết, Chi đội trưởng Thiết giáp bị thương và chết tại mặt trận.

* Trung tá Nguyễn Cao Vực, Ðại úy Bùi Minh Ngọc, Ðại úy Tăng Thanh Tâm, “Ba chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” “Les trois Mousque taires”, một thời “hô phong hoán vũ”, kẻ trước người sau vào ba thời điểm, ba hoàn cảnh khác nhau, cùng hội ngộ tại miền miên viễn, nơi đó không có đau thương và không hận thù.

* Chúng tôi, bạn bè, đồng đội vô cùng đau xót mong được chia sẻ niềm thương tiếc, nổi nhớ nhung với gia đình các chị và các cháu thân thương.

Trân trọng

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Đại Hội Thủ Đức Orange County 2011
Quân Trường Cũ, Tình Chiến Hữu , Nợ Nước Non

Image
Toán hầu kỳ danh dư Thủ Đức San Jose

Image
Toán thủ quốc quân kỳ Thủ Đức Orange County

Image
Đồng Ca Đáp Lới Sông Núi

Image
Cứ an Tư Nguy San Diego & San Jose

Image
Phái đoàn Thủ Đức San Diego

Image
Cư An Tư Nguy San Diego

Image
Những bóng hồng San Jose

Image
Anh em Khoá 9/73 trong Đêm Hội Ngộ

Image
Anh em cùng chung đơn vị trước 1975 Tiểu Khu Phú Yên

Image
Tiếng hát ngọt ngào Văn Khoa đến từ San Jose

Image
Đấu giá gây quỹ sinh hoạt TĐ Orange County.

Image
Nụ cười tươi của người thắng cuộc đấu giá

Image
Tặng hoa chiến hữu giúp vui văn nghệ

Image
Ông bà niên tưởng Cổ Tấn Tinh Châu cùng anh em SD

Image
Người đẹp San Jose

Image
Bạn cùng đơn vị sau 43 năm gặp nhau

Image
Ngô Kỷ và anh em San Jose

Image
Chương trình dạ vũ

Image
Nhiệt liệt biểu dương Ban Tổ Chức Đại Hội Thủ Đức Orange County năm nay

Post Reply